Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL,
Tổng Hợp và Chuyển Dịch
"Ư nghĩa đời sống của Mẹ là ở chỗ Mẹ là người tỳ nữ của Thiên Chúa"
Vai Tṛ Của Maria Trong Việc Lấy Lại T́nh Trạng Quân B́nh Đức Tin Công Giáo
Viếng Thăm: Cuộc Cung Nghinh Thánh Thể Tiên Khởi
Ca Vịnh Ngợi Khen: Chân Dung Đức Maria
Maria: Cửa Ngơ Thiên Chúa Vào Trần Gian
Maria Gánh Vác Chúa là Đấng Gánh Vác Maria
Mẹ Maria loan báo Ơn Cứu Chuộc
Mẹ Maria Gắn Liền Với Lịch Sử Cứu Độ
Chiều Kích Thánh Mẫu (ân sủng, tu đức) bao gồm Chiều Kích Phêrô (quyền bính, mục vụ)
Mẹ Maria là Nơi Trú Ngự của Thiên Chúa
Mẹ Maria diễm phúc bởi tin tưởng và kính sợ Chúa
Vai Tṛ Trung Gian Ân Sủng của Mẹ Maria hay Việc Chuyển Cầu Thần Thế của Mẹ
“Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa”
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu Thứ Tư 15/8/2007 ở Giáo Xứ Thánh Thomas Villanova, Castel Gandolfo
Ai có thể đứng lên chống lại quyền lực toàn năng dường như có thể chiếm đoạt được hết mọi sự ấy? Thế nhưng, chúng ta biết rằng cuối cùng chính người đàn bà yếu đuối bất lực ấy lại là kẻ chiến thắng chứ không phải thần tôi hay hận thù; t́nh yêu Thiên Chúa đă chiến thắng và Đế Quốc Rôma đă hướng về đức tin Kitô Giáo.
Những lời của Thánh Kinh bao giờ cũng là những ǵ vượt trên giai đoạn này của lịch sử. Bởi thế, con rồng này chẳng những cho thấy quyền lực chống lại Kitô Giáo của thành phần bách hại Giáo Hội bấy giờ, mà c̣n cho thấy những chế độ độc tài chống lại Kitô Giáo thuộc tất cả mọi giai đoạn lịch sử nữa.
Chúng ta thấy quyền lực này, quyền lực của con rồng đỏ, một lần nữa xuất hiện nơi các chế độ độc tài hạng nặng của thế kỷ vừa qua: chế độ độc tài Nazi và chế độ độc tài Stalin đă độc trị tất cả mọi quyền lực, thấm nhập hết mọi hang cùng ngơ hẻm, dù là đáy tận của hang cùng ngỏ hẻm. Dường như về lâu về dài đức tin không thể nào tồn tại được trước con rồng quá hung tợn đến nỗi không thể nào không chờ để nuốt đi vị Thiên Chúa đă trở thành một Con Trẻ, cũng như người đàn bà. Thế nhưng, cả trong trường hợp này nữa, cuối cùng t́nh yêu đă mạnh hơn thù ghét.
Cả cho đến ngày hôm nay nữa, con rồng này vẫn hiện hữu bằng những đường lối mới mẻ và khác lạ. Nó hiện diện nơi h́nh thức của những ư hệ duy vật nói với chúng ta rằng thật là ngu xuẩn khi nghĩ về Thiên Chúa; thật là ngu đần khi giữ các giới luật của Thiên Chúa: chúng là những thứ thừa thăi của một thời đă qua. Đời sống chỉ đáng sống v́ nó. Hăy chiếm lấy hết mọi sự chúng ta có thể chiếm được trong giây phút ngắn ngủi của đời sống. Chủ nghĩa hưởng thụ, vị kỷ và vui chơi mới là những ǵ đáng giá. Đó là đời sống. Đó là cách chúng ta cần phải sống. Và một lần nữa nó dường như là những ǵ ngu dại, bất khả, khi chống lại với năo trạng chủ chốt này cùng với tất cả phương tiện truyền thông và quyền lực tuyên truyền của nó. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, dường như không thể nào nghĩ tưởng được về một Vị Thiên Chúa đă dựng nên con người và đă đích thân trở thành một Con Trẻ và là Đấng thực sự cai trị thế giới.
Thậm chí cho tới nay, con rồng này vẫn dường như bất khả bại, song ngày nay cũng rất thực là Thiên Chúa mạnh hơn con rồng, là chính t́nh yêu mới chiến thắng chứ không phải vị kỷ.
Bởi vậy, sau khi đă xem xét một số h́nh thức lịch sử khác nhau về con rồng, giờ đây chúng ta hăy nh́n đến một h́nh ảnh khác, đó là người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên 12 tinh tú. Đây cũng là một h́nh ảnh đa phương.
Chắc chắn ư nghĩa thứ nhất của nó đó là Đức Mẹ, là Mẹ Maria, mặc mặt trời là Thiên Chúa, một cách trọn vẹn; Mẹ Maria hoàn toàn sống trong Thiên Chúa, được bao bọc và thẩm thấu bởi ánh sáng của Thiên Chúa. Đội triều thiên 12 tinh tú là 12 chi tộc Yến Duyên, là toàn thể Dân Chúa, là toàn thể Cuộc Hiệp Thông Thánh Nhân; và chân đạp mặt trăng là h́nh ảnh của sự chết và tử tính.
Mẹ Maria đă xa rời sự chết; Mẹ hoàn toàn mắc lấy sự sống, Mẹ được hưởng vinh quang Thiên Chúa cả xác lẫn hồn, nhờ đó, được ở trong vinh quang sau khi chế ngự sự chết, Mẹ nói với chúng ta rằng: Hăy yên tâm, cuối cùng t́nh yêu sẽ thắng!
Ư nghĩa đời sống của Mẹ là ở chỗ Mẹ là người tỳ nữ của Thiên Chúa, cuộc sống của Mẹ từng là một cuộc hiến thân cho Thiên Chúa cũng như cho tha nhân của Mẹ. Và cuộc sống phục vụ ấy giờ đây đă đạt được sự sống thực sự. Chớ ǵ cả các con nữa hăy tin tưởng và can trường sống như thế, đương đầu với tất cả mọi thứ đe dọa của con rồng.
Đó là ư nghĩa đầu tiên về người đàn bà mà Mẹ Maria là tiêu biểu. “Người nữ mặc áo mặt trời” là điềm lạ vĩ đại cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu, cho cuộc chiến thắng của sự thiện, cho cuộc chiến thắng của Thiên Chúa; một điềm lạ vĩ đại của niềm ủi an.
"Ư nghĩa đời sống của Mẹ là ở chỗ Mẹ là người tỳ nữ của Thiên Chúa"
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu Thứ Tư 15/8/2007 ở Giáo Xứ Thánh Thomas Villanova, Castel Gandolfo
Anh Chị Em thân mến,
Trong đại tác phẩm Về Thành Đô của Thiên Chúa- De Civitate Dei, Thánh Âu Quốc Tinh có chỗ đă nói rằng toàn thể lịch sử nhân loại, lịch sử thế giới, là một cuộc đối chọi giữa hai thứ t́nh yêu: t́nh yêu Thiên Chúa đến độ đánh mất bản thân ḿnh, hoàn toàn hiến thân ḿnh, và t́nh yêu bản thân cho đến độ coi thường Thiên Chúa, ghét bỏ người khác. Lời giải thích tương tự về lịch sử như là một cuộc đối chọi giữa hai thứ t́nh yêu, giữa yêu thương và vị kỷ, cũng hiện lên ở bài đọc trích từ Sách Khải Huyền chúng ta vừa nghe.
Ở đây, hai thứ t́nh yêu này hiện lên nơi hai h́nh ảnh cả thể. Trước hết là có một con khổng long đỏ dũng mănh tỏ ra quyền năng hung hăn và lũng đoạn, không ân huệ, chẳng yêu thương, hoàn toàn vị kỷ, dữ dằn và bạo động.
Vào thời điểm của Thánh Gioan viết cuốn Sách Khải Huyền th́ con rồng này đối với ngài tiêu biểu cho quyền lực của các vị Hoàng Đề Rôma chống lại Kitô Giáo, từ Nero tới Domitian. Quyền lực này dường như vô hạn; quân quốc, quyền lực chính trị và tuyên truyền của Hoàng Đố Rôma là những ǵ mà đức tin, Giáo Hội, dường như là một người đàn bà yếu đuối không thể tự vệ để sống c̣n chứ chưa nói tới việc chiến thắng.
Ai có thể đứng lên chống lại quyền lực toàn năng dường như có thể chiếm đoạt được hết mọi sự ấy? Thế nhưng, chúng ta biết rằng cuối cùng chính người đàn bà yếu đuối bất lực ấy lại là kẻ chiến thắng chứ không phải thần tôi hay hận thù; t́nh yêu Thiên Chúa đă chiến thắng và Đế Quốc Rôma đă hướng về đức tin Kitô Giáo.
Những lời của Thánh Kinh bao giờ cũng là những ǵ vượt trên giai đoạn này của lịch sử. Bởi thế, con rồng này chẳng những cho thấy quyền lực chống lại Kitô Giáo của thành phần bách hại Giáo Hội bấy giờ, mà c̣n cho thấy những chế độ độc tài chống lại Kitô Giáo thuộc tất cả mọi giai đoạn lịch sử nữa.
Chúng ta thấy quyền lực này, quyền lực của con rồng đỏ, một lần nữa xuất hiện nơi các chế độ độc tài hạng nặng của thế kỷ vừa qua: chế độ độc tài Nazi và chế độ độc tài Stalin đă độc trị tất cả mọi quyền lực, thấm nhập hết mọi hang cùng ngơ hẻm, dù là đáy tận của hang cùng ngỏ hẻm. Dường như về lâu về dài đức tin không thể nào tồn tại được trước con rồng quá hung tợn đến nỗi không thể nào không chờ để nuốt đi vị Thiên Chúa đă trở thành một Con Trẻ, cũng như người đàn bà. Thế nhưng, cả trong trường hợp này nữa, cuối cùng t́nh yêu đă mạnh hơn thù ghét.
Cả cho đến ngày hôm nay nữa, con rồng này vẫn hiện hữu bằng những đường lối mới mẻ và khác lạ. Nó hiện diện nơi h́nh thức của những ư hệ duy vật nói với chúng ta rằng thật là ngu xuẩn khi nghĩ về Thiên Chúa; thật là ngu đần khi giữ các giới luật của Thiên Chúa: chúng là những thứ thừa thăi của một thời đă qua. Đời sống chỉ đáng sống v́ nó. Hăy chiếm lấy hết mọi sự chúng ta có thể chiếm được trong giây phút ngắn ngủi của đời sống. Chủ nghĩa hưởng thụ, vị kỷ và vui chơi mới là những ǵ đáng giá. Đó là đời sống. Đó là cách chúng ta cần phải sống. Và một lần nữa nó dường như là những ǵ ngu dại, bất khả, khi chống lại với năo trạng chủ chốt này cùng với tất cả phương tiện truyền thông và quyền lực tuyên truyền của nó. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, dường như không thể nào nghĩ tưởng được về một Vị Thiên Chúa đă dựng nên con người và đă đích thân trở thành một Con Trẻ và là Đấng thực sự cai trị thế giới.
Thậm chí cho tới nay, con rồng này vẫn dường như bất khả bại, song ngày nay cũng rất thực là Thiên Chúa mạnh hơn con rồng, là chính t́nh yêu mới chiến thắng chứ không phải vị kỷ.
Bởi vậy, sau khi đă xem xét một số h́nh thức lịch sử khác nhau về con rồng, giờ đây chúng ta hăy nh́n đến một h́nh ảnh khác, đó là người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên 12 tinh tú. Đây cũng là một h́nh ảnh đa phương.
Chắc chắn ư nghĩa thứ nhất của nó đó là Đức Mẹ, là Mẹ Maria, mặc mặt trời là Thiên Chúa, một cách trọn vẹn; Mẹ Maria hoàn toàn sống trong Thiên Chúa, được bao bọc và thẩm thấu bởi ánh sáng của Thiên Chúa. Đội triều thiên 12 tinh tú là 12 chi tộc Yến Duyên, là toàn thể Dân Chúa, là toàn thể Cuộc Hiệp Thông Thánh Nhân; và chân đạp mặt trăng là h́nh ảnh của sự chết và tử tính.
Mẹ Maria đă xa rời sự chết; Mẹ hoàn toàn mắc lấy sự sống, Mẹ được hưởng vinh quang Thiên Chúa cả xác lẫn hồn, nhờ đó, được ở trong vinh quang sau khi chế ngự sự chết, Mẹ nói với chúng ta rằng: Hăy yên tâm, cuối cùng t́nh yêu sẽ thắng!
Ư nghĩa đời sống của Mẹ là ở chỗ Mẹ là người tỳ nữ của Thiên Chúa, cuộc sống của Mẹ từng là một cuộc hiến thân cho Thiên Chúa cũng như cho tha nhân của Mẹ. Và cuộc sống phục vụ ấy giờ đây đă đạt được sự sống thực sự. Chớ ǵ cả các con nữa hăy tin tưởng và can trường sống như thế, đương đầu với tất cả mọi thứ đe dọa của con rồng.
Đó là ư nghĩa đầu tiên về người đàn bà mà Mẹ Maria là tiêu biểu. “Người nữ mặc áo mặt trời” là điềm lạ vĩ đại cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu, cho cuộc chiến thắng của sự thiện, cho cuộc chiến thắng của Thiên Chúa; một điềm lạ vĩ đại của niềm ủi an.
Tuy nhiên, người đàn bà này chịu khổ, đă phải thoát thân, người đàn bà quằn quại sinh con, cũng là Giáo Hội, Giáo Hội lữ hành của mọi thời đại. Qua mọi thế hệ, Giáo Hội đă hạ sinh Chúa Kitô cách mới mẻ, mang Người đến cho thế giới một cách hết sức đau thương, hết sức khổ ải. Bị bách hại qua mọi thời đại, hầu như thể, bị con rồng săn đuổi, Giáo Hội đă phải chạy đi sống trong nơi hoang địa.
Tuy nhiên, trong mọi thời đại, Giáo Hội, Dân Thiên Chúa, cũng sống bởi ánh sáng của Thiên Chúa và như Phúc Âm nói được dưỡng nuôi bởi Thiên Chúa, dinh dưỡng ḿnh bằng Bánh Thánh Thể. Bởi vậy, trong tất cả mọi cuộc thử thách ở các trường hợp khác nhau của Giáo Hội qua các thời đại ở những phần đất khác nhau trên thế giới, Giáo Hội vẫn đang chiến thắng bằng khổ đau. Và Giáo Hội là sự hiện diện, là bảo đảm của t́nh yêu Thiên Chúa trước tất cả mọi ư hệ thù hằn và vị kỷ.
Dĩ nhiên là chúng ta thấy cả ngày nay nữa, con rồng này muốn nuốt đi vị Thiên Chúa ḥa thân thành một Con Trẻ. Đừng sợ vị Thiên Chúa có vẻ mỏng ḍn này; cuộc chiến này đă giành được phần thắng. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, vị Thiên Chúa yếu đuối này là Đấng dũng mănh: Ngài thực sự quyền năng.
Bởi vậy, Lễ Mông Triệu là một lời mời gọi hăy tin tưởng vào Thiên Chúa và cũng mời gọi bắt chước Mẹ Maria nơi những ǵ chính Mẹ đă nói: Này tôi là nữ tỳ Chúa; xin sử dụng tôi tùy theo ư Chúa.
Bài học là ở chỗ này, đó là người ta cần phải hành tŕnh theo đường lối riêng của ḿnh; con người cần phải trao ban sự sống chứ không chiếm lấy nó. Và chính nhờ đó mà con người hành tŕnh trên con đường yêu thương là cuộc hành tŕnh đánh mất bản thân ḿnh, song việc mất mát bản thân ấy thực sự là con đường duy nhất để t́m thấy được chính ḿnh, t́m thấy được sự sống thật.
Chúng ta hăy nh́n lên Mẹ Maria, được mộng triệu về Trời. Chúng ta hăy hứng khởi cử hành lễ vui mừng này bằng đức tin là Thiên Chúa đang chiến thắng. Đức tin, một đức tin có vẻ yếu đuối, là quyền năng thực sự của thế giới này. T́nh yêu mạnh hơn thù hận.
Cùng với bà Isave chúng ta hăy nói rằng: Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Chúng ta hăy cầu nguyện cùng với toàn thể Giáo Hội rằng: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
Cần phải trở về với Mẹ Maria
Ngay từ khi c̣n là thần học gia Joseph Ratzinger, như ngài tự thú trong cuốn
“Ratzinger’s Report”, (Ignatius Press, 1985), trang 105, tự bản chất ngài vốn
không thiên về hay hào hứng về Thánh Mẫu cho lắm, thậm chí cả trong thời gian
tham dự Công Đồng Chung Vaticanô II. Tuy nhiên, cũng chính v́ nhờ tham dự Công
Đồng này, trước khuynh hướng tôn tụng của Công Đồng đối với Mẹ Maria, trong một
thời đại đầy những biến động về đức tin, ngài đă có được một nhận thức Thánh Mẫu
rất đặc biệt đối với vai tṛ hết sức quan trọng và cấp thiết của Mẹ trong Giáo
Hội và thế giới ngày nay. Sau đây là nguyên văn lời của ngài:
“Là một thần học gia trẻ ở vào thời điểm trước (cũng như trong) Công Đồng, tôi
đă đặt vấn đề về một số những công thức cổ xưa, chẳng hạn như câu nổi tiếng De
Maria nunquam satis, ‘nói về Mẹ Maria không bao giờ cùng’. Câu này có vẻ quá
đáng đối với tôi. Bởi thế sau này tôi khó ḷng mà hiểu được ư nghĩa thực sự của
lời diễn tả danh tiếng khác (đang lưu hành trong Giáo Hội từ các thế kỷ đầu tiên,
thời mà sau cuộc tranh căi đáng ghi nhớ, Công Đồng Êphêsô năm 431 đă công bố
Maria là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa). Việc công bố này tức là việc nh́n nhận Đức
Trinh Nữ là ‘Vị Chiến Thắng tất cả mọi lạc thuyết’. Bởi vậy, trong giai đoạn lẫn
lộn này, khi mà hết mọi thứ sai lạc thực sự dường như đang áp đảo ngưỡng cửa đức
tin chân thực, th́ tôi mới hiểu được rằng nó không phải là vấn đề quá trớn của
ḷng đạo đức, mà là vấn đề của những chân lư ngày nay có hiệu lực hơn bao giờ
hết”.
“Phải, cần phải trở về với Mẹ Maria nếu chúng ta muốn trở lại với ‘sự thật về
Chúa Giêsu Kitô’, ‘sự thật về Giáo Hội’, và ‘sự thật về con người’ là những ǵ
được Đức Gioan Phaolô II đề ra như một chương tŕnh thực hiện cho toàn thể Kitô
Giáo vào năm 1979, thời điểm ngài khai mạc hội đồng giám mục Mỹ Châu Latinh ở
Puebla. Các vị giám mục đă đáp lại dự án này của vị Giáo Hoàng ấy bằng việc bao
gồm trong các bản văn kiện đầu tiên (những văn kiện đă được một số người đọc một
cách thiếu sót) ước muốn và mối quan tâm nhất trí của các vị, đó là: ‘Hơn bao
giờ hết Mẹ Maria cần phải trở thành một khoa sư phạm để loan báo Phúc Âm cho con
người ngày nay’. Thật vậy, chính ở châu lục này là nơi ḷng tôn sùng Thánh Mẫu
theo truyền thống nơi dân chúng đă bị sa sút, một t́nh trạng trống rỗng xẩy ra
được thay thế bằng những ư hệ chính trị. Nó là một hiện tượng có thể nhận thấy
hầu như ở khắp nơi với một mức độ nào đó, cho thấy tầm quan trọng của một thứ
ḷng tôn sùng không chỉ thuần túy tôn sùng mà thôi”. (những chỗ in ngả đậm là do
người dịch tự ư nhấn mạnh).
Đọc cuốn The Ratzinger’s Report, người viết có cảm tưởng nội dung của tác phẩm
này hơi giống cuốn “Hồi Niêm và Căn Tính” của Đức Gioan Phaolô II, ở chỗ, cả hai
tác phẩm đều có tính cách “ôn cố nhi tri tân”: một cuốn “ôn cố nhi tri tân” với
thế giới và về thế giới, đó là cuốn của Đức Gioan Phaolô II, và một cuốn “ôn cố
nhi tri tân” với Giáo Hội và về Giáo Hội. Cả hai cuốn đều là thành quả của cuộc
phỏng vấn với những thức giả thời đại.
Thật vậy, có thể chia cuốn The Ratzinger’s Report với 13 chương (trừ chương đầu
liên quan tới cá nhân Hồng Y Ratzinger, c̣n 12) ra làm hai phần, phần đầu gồm 6
chương có tính cách “ôn cố”, (bao gồm các chương như chương 2: Một Công Đồng Cần
Phải Tái Nhận Thức, chương 3: Căn Gốc Của Cuộc Khủng Hoảng Đó Là Ư Nghĩ Về Giáo
Hội, chương 4: Nơi Các Vị Linh Mục Và Giám Mục, chương 5: Những Dấu Hiệu Nguy
Hiểm, chương 6: Màn Thảm Kịch Luân Lư, chương 7: Thành Phần Nữ Giới, Một Nữ Nhân),
và phần sau gồm 6 chương thiên về tính cách “tri tân”, (đặc biệt là chương 8:
Một Linh Đạo Cho Ngày Nay; chương 9: Phụng Vụ Giữa Cũ Và Mới, chương 12: Một
Cuộc ‘Giải Phóng’; chương 13: Loan Báo Chúa Kitô Một Lần Nữa).
Tuy nhiên, giữa hai phần “ôn cố” và “tri tân” này, có một khoảng đặc biệt về Mẹ
Maria, một khoảng như để chuyển tiếp, như để thực hiện việc “tống cựu nghinh tân”.
Khoảng đặc biệt về Mẹ Maria này ở ngay trong chương cuối cùng của phần “ôn cố”,
là chương thứ 7, chương về “Thành Phần Nữ Giới, Một Nữ Nhân – Women, A Woman”.
Thành Phần Nữ Giới đây là thành phần cũng đang gặp khủng hoảng, (đó là lư do
Hồng Y Ratzinger đă nói đến các vấn đề về họ qua những tiểu mục đặc biệt như
‘phong trào nữ giới trong tu viện’ và ‘một tương lai thiếu vắng nữ tu’), và Một
Nữ Nhân đây, Một Nữ Nhân trong Thành Phần Nữ Giới đây chính là nhân vật cứu văn
t́nh thế, một nhân vật đă được The Ratzinger’s Report bàn đến dưới tiểu mục:
‘Một Phương Dược: Đức Maria – A Remedy: Mary’. Vị hồng y trở thành Giáo Hoàng
Biển Đức XVI 20 năm sau này đă chia sẽ cảm nhận của ḿnh về phương dược Maria là:
“Một phương dược chữa trị nổi tiếng này ngày nay dường như bị lu mờ đi bởi một
số người Công Giáo, song lại là một phương dược thích đáng hơn bao giờ hết” (trang
104).
Theo Hồng Y Ratzinger th́ chính Công Đồng Chung Vaticanô II đă đề cao Phương
Dược Maria này:
“Bằng việc đưa mầu nhiệm về Mẹ Maria vào mầu nhiệm Giáo Hội, Công Đồng Chung
Vaticanô II đă thực hiện một quyết định quan trọng là quyết định cần phải cống
hiến một tác lực mới cho việc nghiên cứu về thần học. Trái lại, trong giai đoạn
mới sau công đồng đă xẩy ra t́nh trạng đột ngột sa sút về chiều hướng này, hầu
như là sụp đổ, mặc dù hiện nay (biệt chú: ngài nói câu này vào năm 1985, sau
Công Đồng 20 năm) có một số dấu hiệu sinh động mới… (trang 104).
“Nếu vị thế của Mẹ Maria từng là những ǵ thiết yếu cho t́nh trạng quân b́nh về
Đức Tin, th́ ngày nay, cũng như ở một số giai đoạn khác của lịch sử Giáo Hội,
rất cần phải tái nhận thức vị thế này” (trang 105).
Có đọc được những cảm nhận Thánh Mẫu của Hồng Y Ratzinger trên đây, chúng ta mới
cảm thấy hết sức ư vị khi đọc được những cảm nhận Thánh Mẫu của ngài với tư cách
là Giáo Hoàng sau đây.
Vai Tṛ Của Maria Trong Việc Lấy
Lại T́nh Trạng Quân B́nh Đức Tin Công Giáo
Trong cuốn The Ratzinger’s Report, ở chương 7, về “Thành Phần Nữ Giới, Một Người
Nữ”, ở trang 106-109, Vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, khi c̣n là Hồng Y
Ratzinger 20 năm trước đă nêu lên 6 lư do cho thấy tại sao vai tṛ quan trọng
của Mẹ Maria trong việc làm quân b́nh Đức Tin Công Giáo hay để cứu văn cuộc
khủng hoảng đức tin như sau (những chỗ in ngả đậm là do người dịch cố ư nhấn
mạnh):
1. “Khi người ta nh́n nhận vị thế được tín điều và truyền thống qui định cho Mẹ
Maria là họ đâm rễ một cách vững chắc vào khoa Kitô học đích thực. (Theo Công
Đồng Chung Vaticanô II th́ ‘mộ mến suy niệm về Mẹ và chiêm ngưỡng Mẹ theo chiều
hướng Lời nhập thể là Giáo Hội cung kính đi sâu hơn nữa vào mầu nhiệm Nhập Thể
trọng đại và càng trở nên giống như vị hôn phu của ḿnh hơn nữa’ [Hiến Chế Ánh
Sáng Muôn Dân, khoản 65). Ngoài ra, chính v́ việc trực tiếp phục vụ niềm tin
tưởng vào Chúa Kitô, chứ không phải hoàn toàn chỉ v́ ḷng tôn sùng Người Mẹ này,
mà Giáo Hội đă tuyên bố các tín điều Thánh Mẫu: trước hết là tín điều Mẹ trọn
đời đồng trinh và vai tṛ Thiên Mẫu, rồi sau đó, qua một thời gian dài chín mùi
và suy tư, đến những tín điều Mẹ Hoài Thai Vô Nhiễm và Mông Triệu hiển vinh
thiên đ́nh. Những tín điều này là những ǵ bảo vệ niềm tin nguyên tuyền nơi Đứca
Kitô, Đấng là Thiên Chúa thật và là người thật, Đấng có hai bản tính trong một
Ngôi Vị duy nhất. Những tín điều Thánh Mẫu ấy cũng bảo đảm chiều kích cánh chung
bất khả thiếu, khi cho thấy việc Mông Triệu của Mẹ Maria như là một định mệnh
bất tử đang đợi chờ tất cả chúng ta. Những tín điều này cũng bảo vệ niềm tin –
bị đe dọa ngày nay – nơi Thiên Chúa Hóa Công, Đấng có thể tự do nhúng tay can
thiệp vào cả vấn đề thể chất (và đây là một trong những vấn đề liên quan tới ư
nghĩa về sự thật trọn đời đồng trinh của Mẹ Maria, một vấn đề mà hơn bao giờ hết
ngày nay không hiểu được). Sau hết, Mẹ Maria, như Công Đồng nhắc nhở: ‘đă tiến
sâu vào lịch sử cứu độ,… ở chỗ các mầu nhiệm Đức Tin quan trọng nhất được liên
kết và âm vang nơi bản thân Mẹ’ (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, đoạn 65)”.
2. “Khoa thánh mẫu học của Giáo Hội bao gồm mối liên hệ chân thực, việc hội nhập
cần thiết giữa Thánh Kinh và truyền thống. Bốn tín điều Thánh Mẫu có nền tảng rơ
ràng trong Thánh Kinh. Thế nhưng nền tảng này trong Thánh Kinh giống như một mầm
mống mọc lên và sinh hoa kết trái trong đời sống của truyền thống, cũng như được
bày tỏ thể hiện nơi phụng vụ, nơi nhận thức của thành phần tín hữu và nơi suy tư
thần học theo chiều hướng của Huấn Quyền”.
3. “Mẹ Maria liên kết với nhau, nơi chính bản thân của ḿnh là một thiếu nữ Do
Thái được trở nên Mẹ của Đấng Thiên Sai, một cách sống động và bất khả phân ly,
thành phần Dân Chúa cả cựu lẫn tân, Dân Do Thái và Dân Kitô Giáo, hội đường và
thánh đường. Mẹ thực sự là cái móc nối liên kết mà nếu thiếu vắng th́ Đức Tin (như
đang xẩy ra ngày nay) có nguy cơ bị mất quân b́nh, hoặc bằng việc bỏ Tân Ước đi
lấy Cựu Ước hay bằng việc không cần đến Cựu Ước nữa. Trái lại, nơi Mẹ, chúng ta
có thể sống mối hiệp nhất hoàn toàn này của Thánh Kinh”.
4. “Việc tôn sùng Thánh Mẫu đúng đắn bảo đảm cho đức tin về việc đồng hiện hữu
giữa ‘lư trí’ bất khả thiếu với ‘những lư lẽ của con tim’ cũng bất khả châm
chước, như Pascal nói. Đối với Giáo Hội, con người không thuần lư trí cũng chẳng
thuần cảm t́nh, họ là khối hiệp nhất của cả hai chiều kích này. Cái đầu cần phải
tỏ ra sáng suốt, nhưng con tim cần phải cảm thấy nồng nàn: như thế, việc tôn
sùng Mẹ Maria mới bảo đảm được chiều kích hoàn toàn nhân bản của đức tin (như
Công Đồng Chung Vaticanô II thúc giục ‘một mặt tránh đi hết mọi thứ thái quá sai
lầm, mặt khác tránh đi tính cách quá thiển can trong việc chiêm ngắm phẩm vị
trổi vượt của Mẹ Thiên Chúa’)”.
5. “Nếu sử dụng chính các mẫu thức của Công Đồng Chung Vaticanô II th́ Mẹ Maria
là ‘h́nh dạng’, ‘h́nh ảnh’ và ‘mẫu thức’ của Giáo Hội. Nh́n ngắm Mẹ, Giáo Hội
được bảo vệ cho khỏi kiểu mẫu nam tính hóa là kiểu mẫu coi Mẹ như là một dụng cụ
cho một chương tŕnh hoạt động chính trị xă hội. Nơi Mẹ Maria, như h́nh dạng và
nguyên mẫu của ḿnh, Giáo Hội thấy lại được bộ mặt của ḿnh là một Người Mẹ, và
không thể thoái hóa thành tính cách phức tạp của một đảng phái, của một tổ chức
hay của một nhóm áp đặt phục vụ các lợi ích của nhân loại cho dù là những lợi
ích cao quí nhất. Nếu Mẹ Maria không c̣n chỗ đứng nơi nhiều thứ thần học và giáo
hội học nữa th́ lư do cũng hiển nhiên thôi, đó là v́ những thứ khoa học này biến
đức tin trở thành một cái ǵ đó trừu tượng. Và đă trừu tượng th́ không cần ǵ
đến một Người Mẹ nữa”.
6. “Với thân phận của ḿnh, một lúc vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Mẹ Maria tiếp tục
chiếu tỏa trên những ǵ được Đấng Hóa Công ấn định cho nữ giới ở mọi thời đại,
kể cả thời đại của chúng ta đây, hay nói đúng hơn, có lẽ cho chính thời đại của
chúng ta, một thời đại mà, như chúng ta biết, chính bản chất của nữ tính đang bị
đe dọa. Nơi tính cách trinh nguyên và vai tṛ làm mẹ của Người, mầu nhiệm của nữ
giới có được một định mệnh rất cao cả khiến họ không thể bị phân mảnh. Mẹ Maria
hiên ngang xướng lên bài ca vịnh Magnificat – Ngợi Khen, thế nhưng Mẹ cũng là
một con người làm cho việc thinh lặng và ẩn dật sinh hoa kết trái. Mẹ là một con
người không sợ đứng dưới Cây Thập Tự Giá cũng là vị hiện diện ở cuộc Giáo Hội
được hạ sinh. Thế nhưng, Mẹ cũng là vị, như thánh kư nhấn mạnh mấy lần là ‘lưu
giữ và suy niệm trong ḷng’ những ǵ được tỏ ra cho Mẹ. Là một tạo vật can
trường và tuân phục, Mẹ đă và vẫn c̣n là một mẫu gương cho hết mọi Kitô hữu nam
nữ có thể và cần phải bắt chước noi theo”.
Viếng Thăm: Cuộc Cung Nghinh Thánh Thể Tiên Khởi
(Huấn Từ ngày Thứ Ba 31/5 ở Vườn Vatican Kết Thúc Tháng Hoa 2005)
“Quí bạn thân mến, anh chị em đă vất vả đến với Hang Lộ Đức để lần hạt Mân Côi, như muốn đáp ứng lời mọi gọi của Đức Trinh Nữ này trong việc hướng tinh thần của anh chị em về Trời. Đức Mẹ đồng hành với chúng ta mọi ngày ở những lời nguyện cầu của chúng ta. Trong Năm Thánh Thể đặc biệt chúng ta đang sống đây, Mẹ Maria trước hết giúp cho tất cả chúng ta nhận thức hơn nữa bí tích Thánh Thể cao cả này.
“Trong bức Thông Điệp cuối cùng của ḿnh là Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia de Eucharistica, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta đă cho thấy Mẹ như là ‘Người Nữ Thánh Thể’ suốt cuộc đời của Mẹ (khoản 53). ‘Người Nữ Thánh Thể’ suốt cuộc đời, bắt đầu với nội tâm xứng đáng của Mẹ: từ biến cố Truyền Tin, lúc Mẹ hiến ḿnh cho mầu nhiệm Nhập Thể của Lời Thiên Chúa, cho tới Thập Tự Giá và Phục Sinh; ‘Người Nữ Thánh Thể’ ở giai đoạn sau biến cố Hiện Xuống, khi Mẹ lănh nhận nơi Bí Tích này Thân Thể được Mẹ thụ thai và cưu mang trong ḷng của Mẹ.
“Hôm nay, chúng ta đặc biệt dừng lại suy niệm về mầu nhiệm của việc Đức Trinh Nữ viếng thăm Thánh Isave. Mẹ Maria, cưu mang Chúa Giêsu vừa được thụ thai, đi để thăm người chị họ luống tuổi Isave của ḿnh, người mà mọi người nói rằng son sẻ những lại được Chúa cho cưu mang sáu tháng rồi (x Lk 1:36), Mẹ là một người con gái trẻ trung nhưng Mẹ không sợ, v́ Thiên Chúa ở cùng Mẹ, ở trong Mẹ.
“Một cách nào đó chúng ta có thể nói rằng cuộc hành tŕnh của Mẹ – chúng ta muốn nhấn mạnh trong Năm Thánh Thể này – là ‘cuộc cung nghinh Thánh Thể’ đầu tiên trong lịch sử. Mẹ Maria, Nhà Tạm sống động của Thiên Chúa hóa thành nhục thể, là Ḥm Bia Giao Ước ở đó Chúa đến viếng thăm và cứu chuộc dân của Người. Việc hiện diện của Chúa Giêsu làm cho Mẹ tràn đầy Thánh Thần.
“Khi Mẹ tiến vào nhà của bà Isave, lời chào của Mẹ tràn đầy ân phúc: Gioan đă nhẩy mừng trong ḷng mẹ của em, như thể em nhận thức được Đấng một ngày kia em loan báo cho dân Yến Duyên đă đến. Hai con trẻ hơn hở, hai bà mẹ hân hoan. Cuộc gặp gỡ này, thấm đậm niềm vui mừng của Thánh Linh, được bày tỏ ra nơi Ca Vịnh Ngợi Khen.
“Đây cũng không phải là niềm vui của Giáo Hội hay sao, một Giáo Hội không ngừng đón nhận Chúa Kitô nơi Thánh Thể và mang Người vào thế giới bằng chứng từ của một đức bác ái chủ động đầy tin tưởng và hy vọng? Phải, việc đón nhận Chúa Giêsu và mang Người đến cho kẻ khác thực sự là niềm vui của Kitô hữu vậy!
“Anh Chị Em thân mến, chúng ta hăy theo gương bắt chước Mẹ Maria, một tâm hồn sâu xa Thánh Thể, và cả cuộc sống của chúng ta có thể trở thành một bài Ca Vịnh Ngợi Khen (x Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, khoản 58), bài chúc tụng Thiên Chúa. Chớ ǵ điều này là ân sủng chúng ta xin Trinh Nữ Rất Thánh trong tối hôm nay ở vào lúc kết tháng Năm này. Tôi chúc lành cho tất cả mọi anh chị em”.
Ca Vịnh Ngợi Khen: Chân Dung Đức Maria
(Bài Giảng Lễ Đức Mẹ Mông Triệu 15/8/2005)
“Trong Phúc Âm, chúng ta đă nghe bài ca vịnh Ngợi Khen Magnificat, một bài thơ cao cả được Thánh Thần linh ứng phát xuất từ môi miệng của Mẹ Maria, thật sự là từ tâm can của Mẹ Maria. Bài ca vịnh tuyệt vời này phản ảnh toàn thể linh hồn, toàn thể con người của Mẹ Maria. Chúng ta có thể nói rằng bài thánh ca này của Mẹ là chân dung của Đức Maria, là h́nh ảnh thực sự nhờ đó chúng ta có thể thấy Mẹ một cách xác đáng. Tôi xin nhấn mạnh đến hai điểm trong bài đại ca vịnh này.
“Bài ca vịnh này được bắt đầu bằng chữ ‘Magnificat – Ngợi Khen’: Linh hồn tôi ‘magnifies – ngợi khen’ Chúa, tức là ‘tuyên xưng sự cao cả’ của Chúa. Mẹ Maria muốn Thiên Chúa cao cả trên trế giới này, cao cả trong đời sống của Mẹ và hiện diện giữa tất cả chúng ta. Mẹ không sợ là Thiên Chúa có thể là ‘một đối thủ’ trong đời sống của chúng ta, là với sự cao cả của ḿnh Ngài xâm lấn tự do của chúng ta, xâm lấn cái khoảng đời để sống động của chúng ta. Mẹ biết rằng Thiên Chúa cao cả, chúng ta cũng cao cả nữa…..
“Nhận định thứ hai đó là bài thi ca của Mẹ Maria – bài Ngợi Khen – hoàn toàn là của Mẹ; song đồng thời nó cũng là một ‘tấm vải’ được thêu dệt bằng những ‘giây sợi’ của Cựu Ước, bằng những lời Chúa.
“Bởi thế, chúng ta có thể nói rằng Mẹ Maria ‘quen thuộc’ với lời Chúa, Mẹ sống bằng những lời của Chúa, Mẹ thấm thía những lời của Chúa. Cho đến độ Mẹ nói bằng những lời của Chúa, Mẹ nghĩ theo lời Chúa, tư tưởng của Mẹ là những tư tưởng của Chúa, những lời nói của Mẹ là những lời nói của Chúa. Mẹ được ánh sáng thần linh thấm nhập và đó là lư do tại sao Mẹ rất rạng ngời, rất thiện hảo, rất sáng chói yêu thương và thiện hảo.
“Mẹ sống bằng Lời Chúa, Mẹ thấm nhập Lời Chúa. Sự kiện Mẹ ch́m ngập trong Lời Chúa và hoàn toàn quen thuộc với Lời Chúa, cũng phú bẩm cho Mẹ sau này cái minh tri khôn ngoan nội tâm…….
“Mẹ Maria được mang cả hồn lẫn xác về trời hiển vinh, rồi với Chúa và trong Chúa, Mẹ là Nữ Vương trời đất. Phải chăng Mẹ thực sự xa cách chúng ta?
“Ngược lại là đằng khác. Chính v́ Mẹ ở với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa mà Mẹ rất gần với mỗi người chúng ta.
“Trong khi Mẹ c̣n sống trên thế gian này, Mẹ chỉ có thể ở gần gũi với ít người. Ở trong Thiên Chúa, Mẹ gần với mỗi người, thực sự là ‘ở trong’ tất cả chúng ta, Mẹ Maria thông phần vào mối gần gũi này của Thiên Chúa. Ở trong Thiên Chúa và ở với Thiên Chúa, Mẹ rất gần với mỗi một người chúng ta, biết được tâm can của chúng ta, có thể nghe lời nguyện cầu của chúng ta, có thể giúp chúng ta bằng sự thiện hảo từ mẫu, và đă được ban cho chúng ta, như Chúa nói, như là một ‘người mẹ’, vị chúng ta có thể chạy đến lúc nào cũng được.
“Mẹ luôn nghe lời chúng ta, Mẹ luôn gần gũi chúng ta, và là Mẹ của Người Con, Mẹ dự phần vào quyền năng của Người Con cũng như vào sự thiện hảo của Người. Chúng ta luôn có thể kư thác tất cả cuộc sống của chúng ta cho Người Mẹ này, vị không xa cách với mỗi một người trong chúng ta.
“Vào ngày lễ này, chúng ta hăy tạ ơn Chúa về tặng ân Thánh Mẫu này, và chúng ta hăy cầu cùng Mẹ Maria để giúp chúng ta thấy được con đường ngay thẳng hằng ngày. Amen”.
Maria: Cửa Ngơ Thiên Chúa Vào Trần Gian
(Bài Giảng Giờ Kinh Phụng Vụ Tối Áp Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng 26/11/2005)
“Chúng ta phải tự hỏi ḿnh ‘việc Chúa đến’ có nghĩa là ǵ? Theo Hy ngữ có nghĩa là ‘parousia’, theo La ngữ là ‘adventus’, là ‘vọng’, là ‘đến’. ‘Việc đến’ này là thế nào? Nó có liên hệ với chúng ta hay chăng?
“Vậy để hiểu được ư nghĩa của lời này, của lời Thánh Tông Đồ nguyện cầu cho cộng đồng này và các cộng đồng trong mọi thời đại – cả cho chúng ta nữa – chúng ta cần phải nh́n đến một con người đă làm cho việc đến của Chúa được hiện thực một cách đặc biệt, đó là Trinh Nữ Maria.
“Mẹ Maria thuộc về thành phần dân chúng Yến Duyên, trong thời điểm Chúa Giêsu, đang hết ḷng mong đợi Đấng Cứu Thế tới. Và căn cứ vào những lời lẽ và tác hành được thuật lại trong Phúc Âm, chúng ta có thể thấy được cách thức Mẹ thực sự đă sống thấm nhuần các lời tiên tri; Mẹ hoàn toàn đợi trông Chúa tới.
“Tuy nhiên, Mẹ đă không thể nào ngờ được việc đến này diễn ra ra sao. Có lẽ là Mẹ đă mong đợi một việc đến trong vinh quang. Lúc mà Tổng Thần Gabiên vào nhà của Mẹ và nói cho Mẹ biết rằng Chúa, Đấng Cứu Tinh, muốn mặc lấy xác thịt trong ḷng Mẹ, muốn thực hiện việc Ngài đến qua Mẹ, chắc chắn đă là tất cả những ǵ làm cho Mẹ lại càng bàng hoàng ngỡ ngàng.
“Chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi e dè của vị Trinh Nữ này. Mẹ Maria, bằng một tác động mănh liệt của đức tin và ḷng tuân phục, đă thưa ‘xin vâng’: ‘Tôi là tôi tớ của Chúa’. Nhờ đó, Mẹ đă trở thành ‘nơi cư trú’ của Chúa, là ‘đền thờ’ thực sự trên thế giới và là ‘cửa ngơ’ Chúa tiến vào thế gian”.
(Bài Giảng Kỷ Niệm 40 Năm Bế Mạc Công Đồng Chung Vaticanô II 8/12/2005)
“Tôi không thể nào quên được lúc mà khi nghe thấy những lời của ngài: ‘Mariam Sanctissimam declaramus Matrem Ecclesiae’ – ‘Chúng tôi tuyên bố Maria là Mẹ Rất Thánh của Giáo Hội’, th́ các Vị Nghị Phụ liền tự động đứng lên để tỏ ḷng tôn kính Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta, Mẹ của Giáo Hội, một cử chỉ đứng lên vỗ tay hoan nghênh.
“Thật vậy, bằng tước hiệu này, vị Giáo Hoàng ấy đă tóm tắt giáo huấn Thánh Mẫu của Công Đồng và đă cung cấp cái mấu chốt để có thể hiểu được công đồng. Mẹ Maria chẳng những có liên hệ đặc thù với Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng, là người, đă muốn trở nên Con của Mẹ. V́ Mẹ hoàn toàn được liên kết với Chúa Kitô mà Mẹ cũng hoàn toàn thuộc về chúng ta. Phải, chúng ta có thể nói rằng Mẹ Maria gần gũi với chúng ta hơn bất cứ một con người nào khác, v́ Chúa Kitô đă trở nên con người cho tất cả mọi con người nam nữ, và toàn hữu thể của Người là ‘hữu thể cho chúng ta trên đời này’.
“Các Vị Giáo Phụ đă nói rằng Chúa Kitô là Đầu bất khả phân ly với Thân Thể của Người là Giáo Hội, có thể nói cùng với Giáo Hội làm thành một chủ thể sống động duy nhất. Mẹ của Đầu cũng là Mẹ của toàn Giáo Hội; có thể nói bản thân Mẹ hoàn toàn trống rỗng; Mẹ đă trọn vẹn hiến ḿnh cho Chúa Kitô và cùng với Người hiến ḿnh như một tặng vật cho tất cả mọi người chúng ta. Thật vậy, con người càng hiến ḿnh th́ càng là ḿnh.
“Công Đồng này đă có ư nói với chúng ta là: Mẹ Maria được đan kết với đại mầu nhiệm Hội Thánh, đến nỗi Mẹ và Giáo Hội bất khả phân ly, như Mẹ và Chúa Kitô bất khả phân ly vậy. Mẹ Maria phản ảnh Giáo Hội, báo trước Giáo Hội nơi bản thân Mẹ, và trong tất cả mọi cuộc biến loạn ảnh hưởng tới một Giáo Hội chiến đấu khổ đau th́ Mẹ bao giờ cũng vẫn là Ngôi Sao cứu độ. Nơi Mẹ chất chứa một tâm điểm đích thực cho chúng ta tin tưởng, dù những thứ ngoại vi của cái tâm điểm này rất thường là những ǵ gây tác dụng trên linh hồn của chúng ta…..
“Tuy nhiên, chiều kích “Phêrô” của Giáo Hội lại được bao gồm trong chiều kích “Thánh Mẫu” ấy. Nơi Mẹ Maria, Vị Vô Nhiễm Tội, chúng ta thấy được yếu tính của một Giáo Hội không bị méo mó lệch lạc. Chính chúng ta phải học nơi Mẹ để trở nên ‘hồn sống của giáo hội’, như các Vị Giáo Phụ đă nói, nhờ đó, cả chúng ta nữa cũng có thể, theo lời Thánh Phaolô, tỏ ḿnh ‘một cách tinh tuyền’ trước nhan Chúa, như Chúa muốn chúng ta như thế ngay từ thuở ban đầu (x Col 1:21; Eph 1:4).
“Thế nhưng, giờ đây chúng ta cần phải tự hỏi ḿnh rằng: ‘Maria, Vị Vô Nhiễm Tội’ đây nghĩa là ǵ? Phải chăng tước hiệu này có một cái ǵ đó muốn nói cho chúng ta? Hôm nay, phụng vụ chiếu tỏ nội dung của những lời này cho chúng ta nơi hai h́nh ảnh lớn lao.
“Trước hết là tŕnh thuật tuyệt vời về biến cố truyền tin cho Mẹ Maria là Vị Trinh Nữ Nazarét biết đến việc Đấng Thiên sai tới. Lời chào của Vị Thiên Thần được đan kết với những chi tiết của Cựu Ước, nhất là của Tiên Tri Zephaniah. Tiên tri này cho thấy rằng Mẹ Maria, người thôn nữ tầm thường xuất thân từ một gịng dơi tư tế và mang nơi ḿnh gia sản tư tế cao cả của dân Yến Duyên, là ‘truyền nhân thánh hảo’ của dân Yến Duyên, thành phần được các tiên tri nói tới trong tất cả mọi giai đoạn thử thách và tăm tối.
“Nơi Mẹ hiện diện một Sion đích thực là chốn cư ngụ tinh tuyền, sống động của Thiên Chúa. Chúa cư ngụ nơi Mẹ, Ngài t́m thấy nơi Mẹ chốn nghỉ ngơi của Ngài. Mẹ là gia cư sống động của Thiên Chúa, Đấng không cư trú ở các dinh thự bằng đá nhưng ở trong ḷng trí của con người sống động. Mẹ là chồi nẩy lên gốc Đavít trong một đêm đông tăm tối của lịch sử. Những lời của Thánh Vịnh đă được nên trọn nơi Mẹ: ‘Mặt đất đă sản sinh ra hoa trái của nó’ (Ps 67:7).
“Mẹ là cái chồi từ đó mọc lên cây cứu chuộc và thành phần được cứu chuộc. Thiên Chúa đă không thất bại, như thể trước đây đă xẩy ra vào lúc mở màn lịch sử với Adong và Evà, hay như trong giai đoạn lưu đầy ở Babylon, và như được tái diễn vào thời của Mẹ Maria, lúc mà dân Yến Duyên đă trở thành một dân chẳng có giá ǵ ở trong một vùng bị chiếm cứ, với rất ít dấu hiệu cho thấy thánh đức của dân này.
“Thiên Chúa đă không thất bại. Trong cảnh hèn mạt của ngôi nhà ở Nazarét có một con người Yến Duyên thánh hảo, một truyền nhân tinh tuyền. Thiên Chúa đă cứu độ và đang cứu độ dân của Ngài. Từ một thân cây đổ xuống, lịch sử của Yến Duyên đă lại chiếu ngời, trở thành một quyền lực sống động hướng dẫn và thấm nhập thế giới. Mẹ Maria là nhân vật Yến Duyên thánh hảo: Mẹ thưa ‘vâng’ cùng Chúa, Mẹ hoàn toàn phó ḿnh cho Ngài sử dụng, nhờ đó trở thành đền thờ sống động của Thiên Chúa……
“Một người càng gần Thiên Chúa họ càng gần với con người. Chúng ta thấy điều này nơi Mẹ Maria. Sự kiện Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa là lư do tại sao Mẹ rất gần gũi với con người. V́ thế mà Mẹ có thể là Mẹ của mọi niềm ủi an và mọi sự trợ giúp, một Người Mẹ mà bất cứ ai cũng có thể nói đến bất cứ loại nhu cầu nào về yếu đuối và tội lỗi, v́ Mẹ hiểu biết mọi sự và, đối với mọi người, Mẹ là thứ quyền năng cởi mở của sự thiện hảo sáng tạo.
“Nơi Mẹ, Thiên Chúa đă in ấn h́nh ảnh của Ngài, h́nh ảnh của Đấng theo con chiên lạc của ḿnh cho tới tận các đồi núi và giữa các bụi gai tội lỗi trên thế giới này, để ḿnh bị xâu xé bởi mạo gai những tội lỗi ấy hầu vác chiên trên vai mang về nhà.
“Là một người mẹ xót thương, Mẹ Maria là h́nh ảnh tiền thân và là bức chân dung vĩnh viễn của Người Con. Như thế, chúng ta thấy rằng h́nh ảnh của Người Trinh Nữ Sầu Thương, của Người Mẹ, vị chia sẻ khổ đau của ḿnh và t́nh yêu của ḿnh, cũng là h́nh ảnh thực sự của Mẹ Vô Nhiễm. Trái tim của Mẹ đă được nới rộng bằng việc Mẹ cùng với Thiên Chúa hiện hữu và cảm nhận. Nơi Nẹ, sự thiện hảo của Thiên Chúa trở nên rất gần gũi với chúng ta.
“Vậy Mẹ Maria đứng trước chúng ta như một dấu hiệu của niềm ủi an, phấn chấn và hy vọng. Mẹ hướng về chúng ta mà nói: “Hăy can đảm thách thức Thiên Chúa! Hăy thử làm như thế! Đừng sợ Ngài! Hăy can đảm liều ḿnh sống đức tin! Hăy can đảm liều ḿnh sống thiện hảo! Hăy can đảm liều ḿnh sống bằng một con tim tinh tuyền! Hăy dấn thân cho Thiên Chúa th́ các con sẽ thấy rằng chính nhờ làm thế mà cuộc sống của các con mới trở nên nẩy nở và nhẹ nhàng, không tẻ nhạt mà tràn đầy vô vàn những hào hứng phấn khởi, v́ sự thiện hảo vô cùng của Thiên Chúa không bao giờ hao ṃn!”
“Vào ngày lễ này đây, chúng ta hăy cảm tạ Chúa về dấu hiệu cả thể của sự thiện hảo Người đă ban cho chúng ta nơi Mẹ Maria, Mẹ của Người và Mẹ của Giáo Hội. Chúng ta hăy cầu xin Người hăy đặt Mẹ Maria trên con đường chúng ta đi như một thứ ánh sáng cũng giúp chúng ta trở thành ánh sáng và chiếu ánh sáng này vào đêm tối lịch sử. Amen”.
Maria Gánh Vác Chúa là Đấng Gánh Vác Maria
(Bài Giảng Chúa Nhật IV Mùa Vọng 18/12/2005 cho Giáo Xứ “Santa Maria Consolatrice” Giáo Phận Rôma)
“Chữ thứ hai tôi muốn suy niệm là một lời khác của Thiên Thần nói: ‘Hỡi Maria, đừng sợ’. Thật vậy, Mẹ có lư để mà sợ, v́ đó là một gánh rất nặng phải mang vác thế giới trên ḿnh, là làm Mẹ của Vị Vua hoàn cầu, là làm Mẹ của Con Thiên Chúa: thật là một gánh nặng biết bao! Đó là một gánh quá nặng đối với sức chịu đựng của loài người! Thế nhưng Thiên Thần nói: ‘Đừng sợ! Phải, cô là người gánh vác Thiên Chúa song Thiên Chúa lại là Đấng gánh vác cô. Chớ có lo âu sợ hăi!’.
“Những lời ‘Đừng sợ’ phải là những lời sâu xa thấu nhập vào ḷng Mẹ Maria. Chúng ta có thể mường tượng thấy Mẹ đă phải nghe lại những lời ấy ra sao nơi các trường hợp khác nhau bắt Mẹ phải suy nghĩ về những lời này.
“Vào lúc ông Simêon nói cùng Mẹ rằng: ‘Con trẻ này là mục tiêu cho nhiều người trong dân Yến Duyên sa ngă và chỗi dậy, là một dấu hiệu chống đối – và chính cô sẽ bị một lưỡi gưỡm đâm thâu’, là chính lúc Mẹ không thể nào không sợ hăi này, Mẹ Maria đă nhớ lại những lời của Thiên Thần và cảm thấy những lời ấy âm vang trong ḷng Mẹ: ‘Đừng sợ, Thiên Chúa là Đấng gánh vác cô’. Thế rồi, khi xẩy ra những phản khắc chống lại Chúa Giêsu trong cuộc đời công khai của Người và khi nhiều người nói “Hắn là một thằng khùng”, th́ một lần nữa ḷng Mẹ lại nghĩ tới những lời của Thiên Thần ‘Đừng sợ’ để tiến bước. Sau hết, trong cuộc gặp gỡ trên đường lên đồi Canvê và sau đó ở dưới chân cậy Thập Giá, khi mà tất cả dường như bị hủy hoại, th́ một lần nữa Mẹ lại nghe thấy những lời của Thiên Thần vang lên trong ḷng Mẹ ‘Đừng sợ’. Bởi thế Mẹ đă can đảm đứng bên Người Con đang hấp hối của ḿnh, và được đức tin nâng đỡ, Mẹ đă hướng tới Phục Sinh, tới Hiện Xuống, tới việc thành lập tân gia Giáo Hội”.
Mẹ Maria loan báo Ơn Cứu Chuộc
(Bài Giảng Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến Tu Tŕ 2/2/2006)
“Con người đầu tiên được liên kết với Chúa Kitô trên con đường tuân phục, con đường chứng tỏ niềm tin và thông phần đau khổ là Maria Mẹ của Người. Bài Phúc Âm phác tả Mẹ nơi tác động hiến dâng Con của Mẹ: một việc vô tư hiến dâng liên quan tới chính bản thân Mẹ.
“Mẹ Maria là Mẹ của Đấng là ‘vinh hiển của Yến Duyên dân Người’ và là ‘ánh sáng chiếu soi Dân Ngoại’, thế nhưng, cũng là ‘dấu hiệu chống đối’ (x Lk 2:32,34). Và nơi linh hồn vô nhiễm của ḿnh, chính Mẹ đă bị lưỡi gươm sầu thương đâm thâu, bởi thế cho thấy rằng vai tṛ của Mẹ nơi lịch sử cứu độ không chấm dứt ở mầu nhiệm Nhập Thể mà được hoàn tất nơi việc tham dự yêu thương lẫn sầu thương vào cuộc tử nạn và Phục Sinh của Con Mẹ.
“Mang Con ḿnh lên Giêrusalem, Người Trinh Mẫu này đă hiến dâng Người lên Thiên Chúa như là một Con Chiên thực sự xóa tội trần gian. Mẹ trao Người cho ông Simêon và bà Anna như tác động loan báo ơn cứu chuộc; Mẹ trao tặng Người cho tất cả mọi người như ánh sáng cho cuộc hành tŕnh an toàn trên con đường chân thật và yêu thương”.
Mẹ Maria Gắn Liền Với Lịch Sử Cứu Độ
(Buổi Triều Kiến Chung hằng Tuần Thứ Tư 15/2/2006 về bài Ca Vịnh Ngợi Khen)
“Linh hồn của lời nguyện cầu này là việc cử hành ân sủng thần linh được ban cho tâm can và cuộc đời của Mẹ Maria, biến Mẹ trở thành Mẹ của Chúa Kitô. Chúng ta thực sự nghe thấy tiếng của Vị Trinh Nữ này nói về Đấng Cứu Độ Mẹ như thế, Đấng đă làm nơi hồn xác Mẹ những điều cao trọng.
“Cấu trúc sâu xa nơi bài ca vịnh nguyện cầu này của Mẹ đó là lời ngợi khen chúc tụng, tri ân cảm tạ, hân hoan biết ơn. Thế nhưng, việc chứng từ cá nhân này không phải là những ǵ lẻ loi và tư riêng, hoàn toàn cá nhân, v́ Trinh Nữ Maria ư thức rằng Mẹ có một sứ vụ cần phải thực hiện cho nhân loại, và cuộc sống của Mẹ được gắn liền với lịch sử cứu độ. Bởi thế Mẹ mới nói: ‘Ḷng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia đối với những ai kính sợ Ngài’ (câu 50). Bằng lời ca ngợi Chúa này, Vị Trinh Nữ lên tiếng thay cho tất cả mọi tạo vật được cứu chuộc sau tiếng ‘Xin Vâng’ của Mẹ, thành phần được Thiên Chúa xót thương qua h́nh ảnh của Chúa Giêsu do Vị Trinh Nữ này hạ sinh”.
Chiều Kích Thánh Mẫu (ân sủng, tu đức) bao gồm Chiều Kích Phêrô (quyền bính, mục vụ)
(Bài Giảng Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy ngày 25/3/2006)
Chúng phải được h́nh thành bởi Chúa Kitô, Lời nhập thể của Thiên Chúa. Chính Người là Đấng chúng ta liên lỉ chúc tụng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng mà nhờ Người ư muốn cứu độ của Thiên Chúa Ngôi Cha được hoàn tất. Tuy nhiên, ngày của mọi ngày hôm nay đây chúng ta chiêm ngưỡng khía cạnh này của mầu nhiệm ấy – khía cạnh suối nguồn thần linh tuôn chảy qua một mạch nước đặc biệt đó là Trinh Nữ Maria. Thánh Bênađô đă nói về điều này bằng h́nh ảnh ‘aquaeductus’ sống động (cf. "Sermo in Nativitate B.V. Mariae": PL 183, 437-448). Thế nên, khi cử hành việc nhập thể của Người Con, chúng ta không thể không tôn vinh Mẹ của Người.
Lời thiên thần loan báo cho Mẹ, Mẹ đă chấp nhận, và khi Mẹ đáp lại bằng tất cả tâm hồn của ḿnh là ‘Này tôi… xin vâng như lời ngài truyền’ (Lk 1:38), th́ Lời hằng hữu bắt đầu hiện hữu như là một con người trong thời gian.
Mầu nhiệm khôn lường này không ngừng trở thành những ǵ là bàng hoàng ngỡ ngàng từ đời nọ đến đời kia. Thánh Âu Quốc Tinh tưởng tượng ra một cuộc đối thoại giữa ngài và vị thiên thần Truyền Tin, khi đặt vấn đề là: ‘Ôi Thiên Thần, xin hăy nói cho tôi hay là tại sao điều này đă xẩy ra nơi Mẹ Maria?’ Câu trả lời được vị thiên sứ đáp lại chất chứa chính những lời chào kính: ‘Kính mừng đầy ơn phúc’ (x Sermo 291.6). Thật vậy, vị thiên thần, ‘khi hiện ra với Mẹ’, đă không gọi Mẹ theo tên trần gian của Mẹ là Maria, mà bằng tên thần linh của Mẹ, ‘Đầy ơn phúc – gratia plena’, một tên theo nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là ‘yêu dấu’ (x Lk 1:28) v́ Mẹ luôn được Thiên Chúa biết đến và mang dấu vết Thiên Chúa. Giáo phụ Origen đă nhận định rằng không có danh xưng nào như thế được ban cho bất cứ một con người nào, và là một danh xưng duy nhất trong toàn bộ Thánh Kinh (cf ‘In Lucam’ 6:7).
Nó là một danh hiệu ở thể thụ động, thế nhưng ‘cái thụ động’ này của Mẹ Maria, Vị luôn được và đang được Chúa măi măi ‘yêu thương’, bao gồm việc tự do ưng thuận của Mẹ, việc đáp ứng cá nhân và nguyên vẹn của Mẹ: Khi được yêu thương, Mẹ Maria hoàn toàn chủ động, v́ Mẹ chấp nhận một cách quảng đại làn sóng yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên Mẹ. Cả ở việc này nữa, Mẹ cũng là người môn đệ trọn hảo của Con Mẹ, Đấng hiện thực tất cả tự do của ḿnh qua việc tuân phục Chúa Cha.
Trong bài đọc thứ hai, chúng ta nghe một đoạn tuyệt vời được tác giả của bức Thư gửi Do Thái viết khi dẫn giải Thánh Vịnh 39 theo ư nghĩa nhập thể của Chúa Kitô: “Khi Chúa Kitô vào trần gian, Người đă thưa… ‘Này Con đây, Con xin đến để làm theo ư Cha, Ôi Thiên Chúa’” (10:5-7). Trước mầu nhiệm của hai lời ‘Này con đây’ của Chúa Kitô và Vị Trinh Nữ, lời này phản ảnh trong lời kia, làm nên câu Amen duy nhất dâng lên ư muốn yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy đầy những ngỡ ngàng và tri ân cảm tạ, và chúng ta cúi ḿnh xuống tôn thờ.
Chư huynh thân mến, thật là một ân huệ cao cả biết bao khi thực hiện việc cử hành ư nghĩa này vào Lễ Trọng Truyền Tin đây! Chúng ta có thể nhận được dồi dào ánh sáng biết bao từ mầu nhiệm này cho đời sống chúng ta làm thừa tác viên của Giáo Hội đây! Nhất là các vị tân hồng y thân mến, chư huynh có thể lănh nhận nhiều bổ dưỡng là chừng nào cho sứ vụ làm ‘Nghị Viên’ cao cả của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô! Cơ hội thích đáng này giúp chúng ta coi biến cố hôm nay đây, một biến cố nhấn mạnh đến nguyên tố Phêrô của Giáo Hội, theo chiều hướng của một nguyên tố khác, đó là nguyên tố Thánh Mẫu, một nguyên tố thậm chí c̣n quan trọng hơn nữa. Tầm vóc quan trọng của nguyên tố Thánh Mẫu trong Giáo Hội, sau công đồng chung Vaticanô II, được đề cao một cách đặc biệt bởi Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm yêu dấu của tôi, hợp với khẩu hiệu của ngài ‘Totus tuus’.
Trong linh đạo của ngài, cũng như trong thừa tác vụ liên lỉ của ngài, sự hiện diện của Mẹ Maria như là Người Mẹ và là Nữ Vương của Giáo Hội đă trở thành hiển nhiên trước mắt mọi người. Nhất là ngài đă quảng bá sự hiện diện từ mẫu của Mẹ nơi vụ ám sát ngày 13/5/1981 ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Để tưởng nhớ biến cố bi thương này, ngài đă đặt một bức ảnh Đức Trinh Nữ bằng vi thạch ghép trên cao Tông Dinh Giáo Hoàng, nh́n xuống Quảng Trường Thánh Phêrô, để hỗ trợ những giây phút chính yếu và diễn tiến hằng ngày cho giáo triều dài lâu của ngài. Đúng một năm từ khi giáo triều của ngài đi vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn vượt qua đầy khổ đau nhưng thực sự là vinh thắng. Tấm h́nh Truyền Tin, hơn bất cứ tấm h́nh nào khác, giúp chúng ta thấy rơ lư do tại sao hết mọi sự trong Giáo Hội trở về với mầu nhiệm Mẹ Maria chấp nhận Lời thần linh, nhờ đó, qua tác động của Thánh Linh, giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại mới được hoàn toàn niêm ấn.
Hết mọi sự trong Giáo Hội, hết mọi cơ cấu và thừa tác vụ, bao gồm cả thừa tác vụ của Thánh Phêrô và của các vị thừa kế ngài, đều được ‘bao gồm’ trong áo choàng của Vị Trinh Nữ này, trong chân trời đầy ân phúc của lời Mẹ ‘xin vâng’ theo ư muốn của Thiên Chúa. Mối liên hệ này với Mẹ Maria tự nhiên khơi lên trong tất cả chúng ta một âm hưởng rất mến thương, thế nhưng, trước hết nó có một giá trị khách quan. Giữa Mẹ Maria và Giáo Hội thực sự có một mối liên hệ tự nhiên, được Công Đồng Chung Vaticanô II nhấn mạnh qua quyết định khéo léo của ḿnh, trong việc đưa phần về Đức Trinh Nữ vào đoạn kết của hiến chế ‘Ánh Sáng Muôn Dân’ về Giáo Hội.
Đề tài về mối liên hệ giữa nguyên tố Phêrô và nguyên tố Thánh Mẫu cũng được thể hiện nơi biểu hiệu chiếc nhẫn mà tôi sắp sửa trao cho chư huynh. Chiếc nhẫn này luôn là dấu hiệu của hôn ước. Hầu hết tất cả chư huynh đă được một chiếc nhẫn vào ngày được tấn phong lên hàng giáo phẩm, như biểu lộ ḷng trung thành và việc dấn thân của chư huynh trong vấn đề trông coi Hội Thánh là hiền thê của Chúa Kitô (x. Nghi Thức Tấn Phong Giám Mục). Chiếc nhẫn tôi trao cho chư huynh hôm nay đây, chiếc nhẫn hợp với phẩm tước hồng y, là để xác nhận và củng cố việc dấn thân ấy, việc dấn thân cũng xuất phát từ tặng ân hôn ước, từ việc nhắc nhở cho chư huynh nhớ rằng trước hết và trên hết chư huynh cần phải mật thiết kết hợp với Chúa Kitô để hoàn thành sứ vụ của chư huynh là thành phần phù rể của Giáo Hội.
Chớ ǵ việc chư huynh chấp nhận chiếc nhẫn này, đối với chư huynh, là việc chư huynh lập lại tiếng ‘xin vâng’ của ḿnh, tiếng ‘này con đây’ của chư huynh, ngỏ cả cùng Chúa Giêsu là Đấng đă chọn chư huynh và ủy nhiệm chư huynh, lẫn Giáo Hội, một Giáo Hội chư huynh được kêu gọi để phục vụ bằng t́nh mến yêu của một người bạn đời. Bởi vậy mà hai chiều kích của Giáo Hội là Thánh Mẫu và Phêrô, gặp nhau ở giá trị cao cả của ‘đức ái’ là đức làm trọn mỗi nguyên tố. Thánh Phaolô nói rằng đức ái là đặc sủng ‘cao trọng nhất’, là ‘đường lối tuyệt hảo nhất’ (1Cor 12:31,13:13).
Hết mọi sự trên thế giới này sẽ qua đi. Trong cơi vĩnh hằng chỉ có t́nh yêu mới tồn tại mà thôi. V́ lư do này, Chư Huynh thân mến, lợi dụng dịp thuận lợi của mùa Chay này, chúng ta hăy quyết tâm bảo đảm là hết mọi sự trong đời sống riêng tư của ḿnh, cũng như trong hoạt động của Giáo Hội chúng ta tham phần, đều được tác động bởi đức ái và dẫn tới đức ái. Cả về khía cạnh này nữa, chúng ta được chiếu soi bởi mầu nhiệm chúng ta đang cử hành hôm nay đây. Thật vậy, việc đầu tiên Mẹ Maria làm sau khi lănh nhận sứ điệp của Thiên Thần là ‘vội vă’ lên đường tới nhà của người chị họ Isave để phục vụ người chị này (x Lk 1:39).
Động tác của Vị Trinh Nữ này là một động tác của đức ái chân thực, một động tác khiêm tốn và can đảm, được tác động bởi niềm tin tưởng vào lời Chúa và được Thánh Linh động viên trong ḷng. Những ai yêu thương th́ quên ḿnh và dấn thân phục vụ tha nhân.
Ở đây chúng ta có được h́nh ảnh và mô phạm của Giáo Hội! Hết mọi cộng đồng giáo hội, như Người Mẹ của Chúa Kitô, đều được kêu gọi hoàn toàn quảng đại chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa là Đấng đến ngự trong Mẹ và dẫn Mẹ bước đi trên con đường yêu thương. Đó là con đường tôi đă chọn để khai triều của ḿnh, khi mời gọi mọi người, bằng bức thông điệp đầu tiên của ḿnh, trong việc xây dựng Giáo Hội trong đức ái như một ‘cộng đồng yêu thương’ (x Thiên Chúa Là T́nh Yêu, phần 2).
Mẹ Maria là Nơi Trú Ngự của Thiên Chúa
(Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo)
Trong ca vịnh Ngợi Khen, một bản đại thánh ca của Đức Mẹ chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số lời lạ lùng. Mẹ Maria nói: ‘Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’.
Người Mẹ này của Chúa Kitô đă nói tiên tri về việc Giáo Hội măi măi sau này sẽ ca ngợi Thánh Mẫu, việc tôn sùng Thánh Mẫu của dân Chúa cho đến ngày cùng tháng tận.
Trong việc ngợi khen Mẹ Maria, Giáo Hội không sáng chế ra một cái ǵ đó ‘thêm vào’ Thánh Kinh: Mẹ đă đáp ứng lời tiên tri được Mẹ lên tiếng vào lúc ân sủng ấy.
Và những lời lẽ của Mẹ Maria không phải chỉ là những lời lẽ riêng tư, có thể là những lời độc đoán. Bà Isave, được tràn đầy Thánh Thần như Thánh Luca cho biết, đă vang tiếng kêu lên rằng: ‘Phúc cho em là người đă tin tưởng’. Và Mẹ Maria, cũng được tràn đầy Thánh Linh, tiếp tục và hoàn tất những ǵ bà Isave nói, khi xác quyết rằng: ‘Mọi thế hệ sẽ khen em diễm phúc’.
Đây thực sự là một lời tiên tri được Thánh Linh tác động, nên khi tôn kính Mẹ Maria, là Giáo Hội đáp lại mệnh lệnh của Thánh Thần; Giáo Hội làm những ǵ Giáo Hội cần phải làm.
Chúng ta không chúc tụng Thiên Chúa một cách đầy đủ khi câm nín về các thánh nhân của Ngài, nhất là về Mẹ Maria, ‘một vị thánh’ đă trở thành nơi trú ngụ của Ngài trên trái đất này.
Thứ ánh sáng đơn thuần và muôn mầu vain thể này của Thiên Chúa xuất hiện trước mắt chúng ta chính ở nơi tính cách khác nhau và phong phú của nó chỉ trên dung nhan của các vị thánh, thành phần thực sự phản ảnh ánh sáng của Ngài.
Và chính lúc nh́n lên dung nhan của Mẹ Maria mà chúng ta có thể thấy rơ ràng hơn bất cứ một cách nào khác vẻ đẹp, sự thiện hảo và t́nh xót thương của Thiên Chúa. Nơi dung nhan của Mẹ chúng ta thực sự thấy được ánh sáng thần linh.
‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’. Chúng ta có thể chúc tụng Mẹ Maria, chúng ta có thể tôn kính Mẹ Maria v́ Mẹ là vị ‘diễm phúc’, Mẹ được diễm phúc đến muôn đời. Và đó là chủ đề của thánh lễ này. Mẹ được diễm phúc v́ Mẹ được liên kết với Thiên Chúa, Mẹ sống với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa.
Vào tối vọng cuộc khổ nạn của ḿnh, khi từ giă các môn đệ của ḿnh, Chúa Kitô đă nói: ‘Trong nhà Cha của Thày có nhiều chỗ… Thày đi để dọn chỗ cho các con’.
Khi thưa ‘Này tôi là tỳ nữ Chúa; tôi xin vâng như lời sứ thần truyền’, Mẹ Maria đă thực hiện việc sửa dọn cho Thiên Chúa một chỗ trú ngự trên trần gian này; với thân xác và linh hồn của ḿnh, Mẹ đă trở nên nơi trú ngự và do đó đă hướng trái đất về trời cao.
Trong bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Thánh Luca, bằng những ám chỉ khác nhau, làm cho chúng ta hiểu rằng Mẹ Maria là Ḥm Bia Giao Ước thực sự, rằng mầu nhiệm về đền thờ – nơi Thiên Chúa trú ngự trên trái đất – đă được hoàn tất nơi Mẹ Maria. Thiên Chúa, Đấng trở nên hữu h́nh trên trái đất này, thực sự trú ngự nơi Mẹ Maria. Mẹ Maria trở nên lều tạm của Ngài. Những ǵ được tất cả mọi nền văn hóa ước mong – đó là việc Thiên Chúa ngự giữa chúng ta – đă được thể hiện nơi đây.
Thánh Âu Quốc Tinh nói rằng: ‘Trước khi thụ thai Chúa Kitô trong thân thể của ḿnh Mẹ đă thụ thai Ngài nơi tâm hồn của Mẹ’. Mẹ đă giành chỗ cho Chúa nơi tâm hồn của Mẹ, nhờ đó thực sự trở thành đền thờ đích thực, nơi Thiên Chúa đích thân nhập thể, nơi Ngài trở nên hữu h́nh trên trái đất này.
Bởi vậy, là nơi trú ngự của Thiên Chúa trên trái đất này, mà chỗ trú ngự đời đời đă được dọn sẵn nơi Mẹ; nó đă được dọn sẵn cho đến muôn đời. Và điều này đă tạo nên tất cả nội dung của tín điều mông triệu của Mẹ Maria, tín điều cả xác lẫn hồn hiển vinh lên trời, một tín điều được diễn tả ở đây bằng những lời ấy. Mẹ Maria được ‘diễm phúc’ v́ – trọn vẹn cả xác lẫn hồn cho tới muôn đời – Mẹ đă trở nên nơi trú ngự của Chúa.
Mẹ Maria diễm phúc bởi tin tưởng và kính sợ Chúa
(Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo)
Nếu điều ấy đúng thực như thế th́ Mẹ Maria không chỉ mời gọi chúng ta ca ngợi và tôn kính, mà Mẹ c̣n hướng dẫn chúng ta, tỏ cho chúng ta biết con đường sống, tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta được diễm phúc, làm thế nào để t́m thấy con đường dẫn đến hạnh phúc.
Chúng ta hăy lắng nghe lại một lần nữa những lời của bà Isave đă được nên trọn nơi ca vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria: ‘Phúc cho em v́ đă tin tưởng’. Tác động đầu tiên và cốt yếu để trở thành nơi trú ngự của Thiên Chúa, nhờ đó t́m được hạnh phúc vĩnh viễn đó là tin tưởng: đó là niềm tin, tin tưởng vào Thiên Chúa, vài vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô và làm cho ḿnh được nghe thấy nơi lời thần linh của Thánh Kinh.
Tin tưởng không phải là vấn đề thêm thắt ư nghĩ này với những ư nghĩ khác. Và niềm xác tín, niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa hiện hữu, không phải là một thứ tín liệu như bất cứ tín liệu nào khác. Đối với hầu hết các tín liệu th́ chẳng có ǵ khác đối với chúng ta về tính cách thực hư của nó; nó không thay đổi ǵ cuộc đời của chúng ta hết. Thế nhưng, nếu Thiên Chúa không hiện hữu th́ đời sống này rỗng tuyếch, tương lai chẳng có ǵ. Song nếu Thiên Chúa hiện hữu th́ hết mọi sự đều biến đổi, sự sống là ánh sáng, tương lai của chúng ta ánh sáng và chúng ta được hường dẫn để biết cách sống. Bởi vậy mà tin tưởng là những ǵ tạo nên hướng đi nống cốt cho đời sống chúng ta.
Tin tưởng tức là thưa ‘Vâng, con tin rằng Chúa là Thiên Chúa, con tin rằng Chúa Chúa đang hiện diện giữa chúng con nơi Người Con nhập thể của Chúa’, xin hướng dẫn đời sống của con, xin thúc đẩy con sống gắn bó với Thiên Chúa, kết hiệp với Thiên Chúa nhờ đó con có thể t́m được nơi cư ngụ của con và đường lối để sống động.
Tin tưởng chẳng những là đường lối suy nghĩ hay là một tư tưởng; như nó đă được đề cập tới, nó c̣n là đường lối hành động, là một cách thế sống. Tin tưởng nghĩa là đi theo con đường được lời Chúa vạch vẽ ra cho chúng ta. Ngoài tác động đức tin trọng yếu này, một tác động của cuộc đời, một chủ trương được duy tŕ cho cả cuộc sống, Mẹ Maria c̣n thêm những lời khác nữa, đó là ‘Ngài xót thương những ai kính sợ Ngài’.
Cùng với toàn thể Thánh Kinh, Mẹ Maria nói đến ‘ḷng kính sợ Chúa’. Có lẽ đây là một câu chúng ta ít quen thuộc và không thích lắm. Thế nhưng, ‘ḷng kính sợ Chúa’ không phải là những ǵ khổ ải; nó là một cái ǵ đó hoàn toàn khác hẳn. Là con cái, chúng ta không băn khoăn lo lắng về Cha nhưng chúng ta kính sợ Thiên Chúa, một mối quan tâm không hủy hoại t́nh yêu làm nền tảng cho cuộc sống của chúng ta.
Ḷng kính sợ Chúa chính là cảm quan trách nhiệm mà chúng ta buộc phải có, trách nhiệm đối với phần thế giới đă được trao phó cho chúng ta trong cuộc đời của chúng ta. Nó là một trách nhiệm đối với việc quản trị cho đàng hoàng tốt đẹp cái phần thế giới và lịch sử ấy, và nhờ đó con người giúp vào việc xây dựng thế giới chính trực, góp phần vào cuộc chiến thắng của sự thiện và b́nh an.
‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’: Điều này có nghĩa là tương lai, những ǵ sẽ tới, đều thuộc về Thiên Chúa, trong bàn tay của Thiên Chúa, nghiă là chính Thiên Chúa là Đấng chiến thắng.
Ngài không chiến thắng con mănh long được bài đọc một hôm nay nói tới, một con rồng biểu hiệu cho tất cả những ǵ là quyền năng bạo động trên thế giới này. Những quyền năng ấy dường như là những ǵ bất khả khống chế nhưng Mẹ Maria nói với chúng ta rằng chúng không phải là là những ǵ vô địch đâu.
Người nữ – như bài đọc thứ nhất và Phúc Âm cho chúng ta thấy – là nhân vật mạnh mẽ hơn, v́ Thiên Chúa là Đấng quyền năng hơn. Dĩ nhiên, so với con rồng, được trang bị rất dữ dội, th́ người nữ là Mẹ Maria này, là Giáo Hội đây, dường như yếu thế hay bất lực.
Và Thiên Chúa thực sự yếu thế trên thế gian này, v́ Ngài là t́nh yêu và t́nh yêu là những ǵ dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, Ngài nắm trong tay tương lai: chính t́nh yêu, chứ không phải hận thù, là những ǵ chiến thắng; chính b́nh an là những ǵ cuối cùng sẽ chiến thắng vậy.
Đó là một niềm an ủi lớn lao nơi tín điều mông triệu hiển vinh về trời cả hồn lẫn xác của Mẹ Maria. Chúng ta hăy tạ ơn Chúa về niềm an ủi này, nhưng chúng ta cũng thấy nơi niềm an ủi ấy như là một cuộc chúng ta cần phải quyết tâm đứng về bên thiện hảo và b́nh an. Chúng ta hăy nguyện cầu cùng Mẹ Maria, nữ vương ḥa b́nh, giúp cho ḥa b́nh được chiến thắng hôm nay đây: ‘Nữ Vương ban sự bằng an, cầu cho chúng con! Amen!
Vai Tṛ Trung Gian Ân Sủng của Mẹ Maria hay Việc Chuyển Cầu Thần Thế của Mẹ
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Tông Du Đức Quốc 9-14/9/2006 – Bài giảng Thánh Lễ Thứ Hai ngày 11 tại Kapellplatz, Altotting
Trong bài Phúc Âm, Mẹ Maria đă thay cho một số thân hữu đang cần giúp đỡ yêu cầu Con Mẹ ra tay. Thoạt tiên th́ đây có thể trở thành một cuộc đối thoại hoàn toàn về nhân loại giữa một Người Mẹ và Con ḿnh, và nó thực sự là một cuộc đối thoại phong phú theo nhân loại. Tuy nhiên, Mẹ Maria không nói với Chúa Giêsu như thể Người là một con người thuần túy có khả năng và sự trợ giúp làm Mẹ có thể cậy nhờ. Mẹ trao phó nhu cầu của con người cho quyền năng của Người, một quyền năng vượt trên năng khiếu và khả năng của con người. Trong cuộc đối thoại này với Chúa Giêsu, chúng ta thực sự thấy Mẹ như là một Người Mẹ kêu xin, một Người Mẹ chuyển cầu. Khi chúng ta lắng nghe đoạn Phúc Âm này, cũng cần phải đi sâu hơn một chút, không những để hiểu Chúa Giêsu và Mẹ Maria hơn nữa, mà c̣n học nơi Mẹ Maria cách thức cầu nguyện xác đáng. Mẹ Maria không thực sự xin một điều ǵ đó nơi Chúa Giêsu: Mẹ chỉ nói với Người rằng: ‘Họ hết rượu rồi’ (Jn 2:3). Những đám cưới ở Thánh Địa được cử hành cả tuần lễ; cả tỉnh đều tham dự và v́ thế mà cần phải có nhiều rượu uống. Bấy giờ cô dâu chú rễ cảm thấy bối rối, và Mẹ Maria chỉ nói về t́nh trạng ấy với Chúa Giêsu thôi. Mẹ không xin bất cứ một điều ǵ đặc biệt hết, lại càng không xin Chúa Giêsu tỏ ra quyền phép của Người, thực hiện một phép lạ, làm cho có rượu. Mẹ chỉ trao vấn đề cho Chúa Giêsu và tùy Người quyết định về những ǵ cần phải làm. Bởi thế, nơi những lời lẽ b́nh thường của Mẹ Chúa Giêsu, chúng ta có thể thấy được hai điều: một đàng là tấm ḷng quan tâm tŕu mến của Mẹ đối với con người, một ḷng cảm mến từ mẫu làm cho Mẹ nhận ra những vấn đề nơi kẻ khác. Chúng ta thấy được sự tốt lành chân thật của Mẹ và việc Mẹ sẵn sàng giúp đỡ. Đó là một Người Mẹ được các thế hệ dân chúng đă từng đến Altotting để viếng thăm. Chúng ta kư thác cho Mẹ các việc chăm sóc của chúng ta, các nhu cầu của chúng ta và các gian nan khốn khó của chúng ta. Thái độ từ mẫu sẵn sàng giúp đỡ của Mẹ được chúng ta tin tưởng xuất hiện ở nơi đây lần đầu tiên trong Thánh Kinh. Thế nhưng, ngoài khía cạnh thứ nhất này, khía cạnh mà tất cả chúng ta đều quen thuộc, c̣n một khía cạnh khác, khía cạnh chúng ta có thể dễ dàng lướt qua: Mẹ Maria để hết mọi sự cho việc phán quyết của Chúa. Ở Nazarét, Mẹ đă trao phó ư muốn của ḿnh, thuận phục vào ư muốn của Thiên Chúa: ‘Này tôi là tôi tớ Chúa; tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền’ (Lk 1:38). Và điều ấy tiếp tục là thái độ chính yếu của Mẹ. Đó là cách thức Mẹ dạy chúng ta cầu nguyện: không phải bằng việc t́m cách tỏ ra ư muốn của ḿnh và ước muốn của ḿnh trước Thiên Chúa, dù chúng có quan trọng đến đâu chăng nữa, dù chúng ta có thấy chúng hợp t́nh hợp lư mấy chăng nữa, mà là mang chúng đến trước Ngài và để Ngài quyết định những ǵ Ngài muốn thực hiện. Nơi Mẹ Maria chúng ta học được ḷng ưu ái và sẵn sàng giúp đỡ, thế nhưng chúng ta cũng học được ḷng khiêm nhượng và quảng đại trong việc chấp nhận ư muốn của Thiên Chúa, với ḷng tin tưởng rằng, bất cứ ư của Ngài ra sao, ư ấy sẽ là ư của chúng ta, và là sự thiện thực sự của tôi.
Tôi nghĩ, chúng ta có thể hiểu rất rơ thái độ và lời lẽ của Mẹ Maria, tuy nhiên, chúng ta vẫn c̣n cảm thấy rất khó hiểu câu ttrả lời của Chúa Giêsu. Trước hết, chúng ta không thích cách Người nói với Mẹ là ‘Hỡi Bà’. Tại sao Người không nói rằng ‘Thưa Mẹ’? Thế nhưng tước hiệu ấy thực sự diễn tả vị trí của Mẹ Maria nơi lịch sử cứu độ. Nó hướng về tương lai, đến giờ khắc khổ giá, khi Chúa Giêsu nói với Người là: ‘Hỡi Bà, này là con Bà – Hỡi con, này là mẹ của con’ (Jn 19:26-27). Nó ngưỡng vọng tới giờ khắc Người sẽ làm cho người nữ này, Mẹ của Người, làm Mẹ của tất cả mọi môn đệ của Người. Ngoài ra, danh xưng ‘Hỡi Bà’ nhắc lại tŕnh thuật tạo dựng nên Evà: Adong, được vây quanh bởi tạo vật đầy những uy nghi tráng lệ, cảm thấy cái lẻ loi làm người. Thế rồi Evà được tạo dựng nên, và nơi Evà, Adong thấy được người bạn đời Adong trông mong; để rồi Adong đă đặt tên cho Evà là ‘đàn bà’. Vậy, theo Phúc Âm Thánh Gioan, Mẹ Maria tiêu biểu cho một nữ giới mới, một nữ giới dứt khoát, một đồng bạn của Chúa Cứu Thế, một Người Mẹ của chúng ta: danh xưng này, một danh xưng có vẻ thiếu cảm mmến thực sự lại diễn tả được cái cao cả nơi vai tṛ trường kỳ của Mẹ Maria.
Tuy nhiên, chúng ta lại càng không thích những ǵ Chúa Giêsu bấy giờ nói với Mẹ Maria ở Cana: ‘Hỡi Bà, Tôi đâu có can dự ǵ với bà? Giờ của Tôi chưa tới’ (Jn 2:4). Chúng ta muốn phản đối, ở chỗ: Chúa có nhiều thứ liên hệ với Mẹ chứ! Chính Mẹ Maria đă hiến cho Chúa máu thịt, Mẹ đă hiến cho Chúa thân thể của Chúa, và chẳng những là thân thể của Chúa: với tiếng ‘xin vâng’ xuất phát từ đáy ḷng của Mẹ mà Mẹ đă cưu mang Chúa trong ḷng dạ của Mẹ, và với t́nh yêu của Mẹ, Mẹ đă hiến cho Chúa sự sống và đem Chúa vào cộng đồng dân Yến Duyên. Thế nhưng, nếu đó là những ǵ chúng ta nói cùng Chúa Giêsu, th́ chúng ta đă đi đúng hướng đến chỗ hiểu được câu trả lời của Người. V́ tất cả những điều ấy nhắc nhở chúng ta rằng đă có hai cuộc đối thoại xẩy ra vào lúc nhập thể của Chúa Giêsu; hai cuộc đối thoại này đi với nhau và ḥa nhập thành mộït. Trước hết, có một cuộc đối thoại của Mẹ Maria với Tổng Lănh Thần Gabiên, khi Mẹ thưa: ‘Xin hăy thực hiện nơi tôi như lời ngài truyền’ (Lk 1:38). Thế nhưng, cũng có một đoạn tương đương với đoạn này, có thể nói, nơi chính Thiên Chúa, đoạn chúng ta đọc trong Thư gửi Do Thái, đoạn viết về những lời của bài Thánh Vịnh 40 trở thành một thứ đồi thoại giữa Cha và Con, một cuộc đối thoại mở đường cho cuộc Nhập Thể. Người Con Hằng Hữu thưa cùng Cha rằng: ‘Hy xinh và lễ vật th́ Cha chẳng ưng, song Cha đă ban cho Con một thân xác… Này đây Con đến để làm theo ư Cha’ (Heb 10:5-7; x Ps 40:6-8). Tiếng ‘xin vâng’ của Người Con: ‘Con đến để làm theo ư Cha’, và tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria: ‘Tôi xin vâng như lời thiên thần truyền’ – tiếng ‘xin vâng’ nhị trùng này trở thành một tiếng ‘xin vâng’ duy nhất, nhờ đó Lời đă hóa thành nhục thể nơi Mẹ Maria. Nơi tiếng ‘xin vâng’ nhị trùng này được hiện thân nơi việc vâng lời của Người Con, và bởi tiếng ‘xin vâng’ của ḿnh Mẹ Maria đă hiến cho Người thân xác ấy. ‘Hỡi Bà, Tôi đâu có can chi với Bà?’ Cuối cùng, những ǵ mỗi người chúng ta liên hệ với keẻkhác đều được chất chứa nơi tiếng ‘xin vcâng’ nhị trùng này, một tiếng ‘xin vâng’ mang lại việc Nhập Thể. Câu trả lời của Chúa Kitô hướng tới điểm hiệp nhất sâu xa ấy. Chính v́ điều này mà Người chỉ về Người Mẹ của Người. Ở đây, trong tiếng ‘xin vâng’ chung của hai Người trước ư muốn của Chúa Cha mới có được một câu trả lời. Cả chúng ta bao giờ cũng cần phải học hỏi một cách mới mẻ về cách thuưc để tiến tới chỗ ấy; nơi chúng ta sẽ t́m thấy được câu trả lời cho các vấn nạn của chúng ta.
Nếu chúng ta lấy điều này như khởi điểm của ḿnh th́ giờ đây chúng ta cũng có thể hiểu được phần thứ bhai nơi câu trả lời của Chúa Giêsu: ‘Giờ của Tôi chưa đến’. Chúa Giêsu không bao giồ hành động hoàn toàn lẻ loi một ḿnh hết, và không bao giờ làm để làm hài ḷng người khác. Chúa Cha bao giờ cũng là khởi điểm cho các hành động của Người, và đó là những ǵ liên kết Người với Mẹ Maria, v́ Mẹ muốn thực hiện việc yêu cầu của Mẹ trong cùng mối hiệp nhất ư muốn này với Chúa Cha. Bởi vậy mà thật là ngỡ ngàng ở chỗ, sau khi nghe thấy câu trả lời của Chúa Giêsu, một câu trả lời rơ ràng là từ chối lời yêu cầu của Mẹ, thế mà Mẹ vẫn thản nhiên nói cùng thành phần phục dịch rằng: ‘Các anh hăy làm những ǵ Người bảo’ (Jn 2:5). Chúa Giêsu không phải là một tay làm sự lạ, Người không giỡn chơi với quyền năng của ḿnh nơi những ǵ chỉ là tư vụ. Không, Người ban cho một dấu hiệu, một dấu hiệu Người dùng để loan báo giờ của Người, giờ của một cuộc lễ cưới, giờ của việc hiệp nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Người không chỉ nguyên ‘hóa’ rượu mà c̣n biến đổi cuộc lễ cưới của con người thành h́nh ảnh của cuộc lễ cưới thần linh, một lễ cưới được Chúa Cha mời gọi chúng ta nơi Người Con và là một lễ cưới Ngài ban cho chúng ta mọi sự tốt đẹp được tiêu biểu nơi tính cách dồi dào rượu uống. Lễ cưới này trở thành một h́nh ảnh của giây phút Chúa Giêsu yêu thương cho tới cùng, giây phút Người để cho xác thân của ḿnh bị xâu xé, nhờ đó vĩnh viễn ban ḿnh cho chúng ta, hoàn toàn trở nên một với chúng ta – một đám cưới giữa Thiên Chúa và con người. Giờ của Cây Thập Tự Giá, giờ khắc này là nguồn mạch của Bí Tích, một bí tích Người thực sự ban ḿnh cho chúng ta nơi thịt và máu, đặt Thân Thể của Người vào bàn tay của chúng ta và tấm ḷng của chúng ta, đó là giờ khắc của cuộc lễ cưới này. Bởi vậy, một nhu cầu nhất thời được giải quyết một cách thực sự thần linh và lời yêu cầu ban đầu đă được dồi dào đáp ứng. Giờ của Chúa Giêsu chưa tới, thế nhưng, nơi dấu hiệu nước hóa thành rượu, nơi dấu hiệu của một tặng ân mừng rỡ này, Người bấy giờ đă ngưỡng vọng tới giờ khắc ấy rồi vậy.
“Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối 31/12/2006 Vọng Tân Niên 2007
Giáo Hội được kêu gọi để sống những giờ phút này, bằng cách mặc lấy những cảm thức của Trinh Nữ Maria. Cùng với Mẹ, Giáo Hội được mời gọi để gắn mắt vào Hài Nhi Giêsu, một tân Vầng Dương mọc lên từ chân trời nhân loại, và được ánh sáng của Người soi dẫn, lo dâng lên cho Người ‘niềm vui mừng và hy vọng, nỗi khổ đau và sầu thương của con người của thời đại chúng ta, nhất là những ai nghèo khổ và đau thương’ (‘Vui Mừng và Hy Vọng’, đoạn 1).
Như thế, hai thẩm định khác nhau về chiều kích ‘thời gian’ đối địch nhau, một chiều kích th́ thiên về lượng, một chiều kích thiên về phẩm.
Một đàng là chu kỳ thái dương hệ theo nhịp điệu của nó; c̣n một đàng là những ǵ được Thánh Phaolô gọi là ‘thời điểm viên trọn’ (x Gal 4:4), tức là giây phút tuyệt đỉnh của lịch sử vũ trụ này cũng như của loài người khi mà Con Thiên Chúa được hạ sinh vào trần gian. Thời điểm của những lời hứa đă được nên trọn, và khi việc mang thai của Mẹ Maria đến hạn kỳ của ḿnh th́, như một bài Thánh Vịnh nói, ‘mặt đất đă trổ sinh hoa trái’ (Ps 67[66]:7[6]).
Việc Đấng Thiên Sai đến, được các vị Tiên Tri tiên báo, là biến cố về phẩm quan trọng nhất trong tất cả lịch sử, một lịch sử được biến cố này cống hiến cho cái ư nghĩa tối hậu và trọn vẹn. Không phải là những điều hợp về lịch sử và chính trị là những ǵ tạo điều kiện cho việc quyết định này của Thiên Chúa, trái lại, biến cố Nhập Thể là những ǵ làm cho lịch sử ‘trọn vẹn’ có giá trị và ư nghĩa.
Chúng ta, thành phần xuất hiện sau 2 ngàn năm biến cố ấy, có thể khẳng định đó cũng thực sự là một biến cố hậu diễn, sau khi chúng ta đă biết được toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu, cho đến khi Người tử nạn và Phục Sinh. Chúng ta đồng thời cũng là những nhân chứng về vinh quang của Người và về sự khiêm hạ của Người, về giá trị lớn lao của việc Người đến và về việc Thiên Chúa vô cùng trân trọng đối với loài người chúng ta cũng như đối với lịch sử của chúng ta.
Người đă không làm cho thời gian trở thành viên trọn bằng việc tuôn đổ chính bản thân ḿnh từ trời xuống trên thời gian, mà biến ḿnh thành một hạt giống nhỏ xíu để dẫn nhân loại đến chỗ hoàn toàn trưởng thành của họ.
Kiểu cách của Thiên Chúa đ̣i phải có một thời gian dài sửa soạn để tiến từ Abraham đến Chúa Giêsu Kitô, và sau khi Đấng Thiên Sai xuất hiện, lịch sử vẫn chưa kết thúc mà vẫn tiếp tục diễn tiến theo gịng lịch sử của ḿnh, rơ ràng cũng vẫn là lịch sử ấy song thực sự đă được Thiên Chúa viếng thăm và hướng tới việc Đến lần thứ hai cũng là lần cuối cùng của Chúa Kitô khi ngày cùng tháng tận. Chúng ta có thể nói rằng Vai Tṛ Mẫu Thân của Mẹ Maria thật sự là một biểu hiệu và là một bí tích cho tất cả những sự ấy, một biến cố vừa có tính cách nhân loại vừa có tính cách thần linh.
Trong đoạn Thư gửi giáo đoàn Galata chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đă nói: ‘Thiên Chúa đă sai Con Ngài, hạ sinh bởi một người nữ’ (Gal 4:4). Giáo phụ Origen đă dẫn giải như sau: ‘Hăy chú ư là ngài không nói ‘được hạ sinh nhờ một người nữ’, mà ‘được hạsinh bởi một người nữ’” (Comment on the Letter to the Galatians, PG 14, 1298).
Nhận định chính xác này của vị đại dẫn giải thánh kinh và là cây viết về Giáo Hội có một tính cách quan trọng: thật vậy, nếu Con Thiên Chúa đă được sinh ra chỉ ‘nhờ’ một người nữ , th́ Người thực sự không mặc lấy nhân tính của chúng ta, một điều mà trái lại Người đă thực hiện bằng việc mặc lấy xác thịt ‘của’ Mẹ Maria. Vai tṛ mẫu thân, bởi đó, thực sự và hoàn toàn có tính cách nhân loại.
Chân lư nền tảng này về Chúa Giêsu như là một Ngôi Vị thần linh, Đấng hoàn toàn mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta, là những ǵ được cô đọng nơi câu: ‘Thiên Chúa đă sai Con Ngài đến, hạ sinh bởi người nữ’. Người là Con Thiên Chúa, Người được nhiệm sinh bởi Thiên Chúa và đồng thời cũng là con của một người nữ Maria. Người đă xuất thân từ Mẹ. Ngài là Đấng bởi Thiên Chúa và bởi Mẹ Maria.
Đó là lư do người ta có thể và phải gọi Mẹ của Chúa Giêsu là Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng này, theo tiếng Hy Lạp được gọi là ‘Theotokos’, có lẽ danh xưng này đă xuất hiện đầu tiên ở chính vùng Alexandria Ai Cập, ngay nơi giáo phụ Origen đă sống vào tiền bán thế kỷ thứ ba. Tuy nhiên, Mẹ chỉ được định tín như thế sau đó hai thế kỷ, vào năm 431, bởi Công Đồng Chung Êphêsô, tên của một thành phố tôi lấy làm vui khi được đến hành hương trong Chuyến Tông Du Thổ Nhĩ Kỳ một tháng trước đây.
Thật vậy, nghĩ lại cuộc Viếng Thăm không thể quên được ấy, làm sao tôi lại không bày tỏ tất cả niềm tri ân con cái của tôi đối với Người Mẹ Thánh của Thiên Chúa về việc Mẹ đă đặc biệt bảo vệ tôi trong những ngày ân sủng ấy chứ?
‘Theotokos’, Mẹ Thiên Chúa: mỗi lần chúng ta đọc ‘Kính Mừng Maria’ là chúng ta xưng hô với Vị Trinh Nữ này tước hiệu ấy, van xin Mẹ cầu ‘cho chúng con là kẻ có tội’.
Vào lúc kết thúc một năm đây, chúng ta cảm thấy đặc biệt cần đến việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria Rất Thánh cho thành Rôma, cho Ư quốc, cho Âu Châu và cho toàn thế giới. Chúng ta hăy kư thác cho Mẹ Maria, Vị là Mẹ của T́nh Thương nhập thể, đặc biệt những trường hợp mà chỉ có một ḿnh ơn Chúa mới có thể mang lại an b́nh, ủi an và công lư mà thôi.
Vị Trinh Nữ này đă nghe Thiên Thần loan báo vai tṛ Mẫu Thân thần linh cho Mẹ rằng: ‘Chẳng có ǵ là bất khả đối với Thiên Chúa hết’ (Lk 1:37). Mẹ Maria đă tin tưởng như thế và bởi vậy mà Mẹ được gọi là có phúc (x Lk 1:45). Những ǵ loài người bất khả th́ đều khả dĩ với những ai tin tưởng (x Mk 9:23).
Bởi vậy, trong lúc năm 2006 đang khép lại và b́nh minh năm 2007 đă thoáng hiện, chúng ta hăy xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta chiếm được tặng ân có được một đức tin chín chắn: một đức tin làm chúng ta có thể nên giống như Mẹ bao nhiêu có thể, một đức tin sáng ngời, chân thực, khiêm hạ đồng thời dũng cảm, sâu xa niềm hy vọng và nhiệt thành với Vương Quốc của Thiên Chúa, một đức tin phi tất cả mọi thứ định mệnh thuyết và hoàn toàn cộng tác với ư muốn thần linh, bằng một đức tuân phục trọn vẹn và hân hoan, cũng như bằng một niềm tin tưởng tuyệt đối rằng Thiên Chúa măi măi không muốn ǵ khác cho hết mọi người ngoài yêu thương và sự sống.
Ôi Maria, xin cầu cho chúng ta được một đức tin chân thực, tinh tuyền. Chớ ǵ Mẹ luôn được cảm tạ và chúc tụng ngợi khen, hỡi Mẹ Thiên Chúa Thánh Hảo! Amen!
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng Đầu Năm, Lễ Mẹ Thiên Chúa và Ngày Ḥa B́nh Thế Giới Thứ Hai 1/1/2007
Chúng ta bắt đầu một tân niên dương lịch là một khoảng thời gian thêm nữa được Đấng Quan Pḥng thần linh cống hiến cho chúng ta liên quan tới ơn cứu độ do Chúa Kitô khai mở. Thế nhưng không phải là Lời hằng hữu đă đi vào thời gian thực sự là qua Mẹ Maria hay sao? Ở Bài Đọc Thứ Hai chúng ta vừa nghe, Thánh Tông Đồ Phaolô đă nhắc lại điều này khi nói rằng Chúa Giêsu được hạ sinh ‘bởi một người nữ’ (Gal 4:4)
Ở phụng vụ hôm nay, nổi bật là h́nh ảnh Mẹ Maria, Người Mẹ thực của Chúa Giêsu, Vị Thiên Chúa làm người. Bởi vậy mà Lễ Trọng hôm nay không phải là để cử hành một ư tưởng trừu tượng mà là một mầu nhiệm và một biến cố lịch sử, đó là Chúa Giêsu Kitô, một Ngôi Vị thần linh, được hạ sinh bởi Trinh Nữ Maria, vị là Mẹ của Người theo đúng nghĩa nhất.
Ngoài vai tṛ làm mẹ, hôm nay nữa cũng đề cao tới đức trinh nguyên của Mẹ Maria. Đây là hai đặc ân bao giờ cũng được loan báo chung với nhau, bất khả phân ly, v́ chúng bổ khuyến và định phẩm cho nhau. Mẹ Maria là Mẹ nhưng lại là một Người Mẹ Đồng Trinh; Mẹ Maria là một Trinh Nữ, nhưng là một Trinh Nữ Thân Mẫu. Nếu gạt đi một trong hai khía cạnh này th́ mầu nhiệm Mẹ Maria như được các Phúc Âm cho chúng ta thấy về Mẹ không thể nào được hiểu một cách chính xác.
Là Mẹ của Chúa Kitô, Mẹ Maria cũng là Mẹ của Giáo Hội, một tước hiệu đă được vị Tiền Nhiểm khả kính của tôi là Đầy Tớ Chúa Phaolô VI công bố ngày 21/11/2964 tại Công Đồng Chung Vaticanô II. Sau hết, Mẹ Maria là Người Mẹ Thiêng Liêng của toàn thể nhân loại, v́ Chúa Giêsu trên câp thập giá đă đổ máu ra cho tất cả chúng ta và từ Cây Thập Giá này Người đă kư thác tất cả chúng ta cho việc chăm sóc từ mẫu của Mẹ.
Bởi thế, chúng ta hăy bắt đầu tân niên này bằng việc nh́n lên Mẹ Maria là vị chúng ta đă lănh nhận từ bàn tay của Thiên Chúa như là một ‘khả năng’ quí hóa để làm cho sinh hoa kết trái, một cơ hội thuận lợi để góp phần vào việc làm cho Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến.