ĐTC BIỂN ĐỨC XVI - DIỄN TỪ 2007
Diễn từ tất niên với Giáo Triều Rôma
ĐTC Biển Đức XVI kêu gọi các vị lãnh đạo Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường
“Bác Ái và Công Lý nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc”
“Kỷ Niệm Đệ Ngũ Chu Niên Hiệp Ước Rôma – Những Giá Trị và Viễn Tượng cho một Âu Châu Tương Lai”
‘Lương tâm Kitô hữu ủng hộ quyền sống’
“Hãy luôn chống đỡ sự thật về con người”
“Phẩm Chất của Hàng Giáo Sĩ Tùy Thuộc Vào Tính Cách Nghiêm Cẩn của Vấn Đề Huấn Luyện”
ĐTC Biển Đức XVI kêu gọi các vị lãnh đạo Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường
Sau đây là những lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sau buổi triều kiến chung hằng tuần ngỏ cùng thành phần lãnh đạo Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường đang tham dự Thượng Nghị của họ.
Hôm nay, ở Heiligendamm, Đức quốc, dưới quyền Chủ Tịch của Cộng Hòa Liên Bang Đức, Cuộc Thượng Nghị Hằng Năm của Các Vị Lãnh Đạo Quốc Gia cũng như của Các Vị Lãnh Đạo Chính Phủ thuộc Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường – tức là 7 quốc gia kỹ nghệ đệ nhất thế giới và Liên Bang Nga – đã bắt đầu. Vào ngày 16/12 năm ngoái tôi đã có dịp viết cho Bà Thủ Tướng Angela Merkel, nhân danh Giáo Hội Công Giáo, cám ơn bà về quyết định giữa đề tài về tình trạng nghèo khổ trên thế giới trong nghị trình của Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường, đặc biệt là ở Phi Châu. Tiến Sĩ Merkel đã thân ái trả lời cho tôi vào ngày 2/2 vừa rồi, cam đoan với tôi về quyết tâm của Nhóm Đệ Nhất Kỹ Nghệ Bát Cường trong việc chiếm đạt các Mục Tiêu Phát Triển Ngàn Năm. Giờ đây, tôi xin ngỏ lời kêu gọi nữa cùng các vị lãnh đạo đang gặp nhau ở Heiligendamm là đừng lùi bước trước những hứa hẹn của mình trong vấn đề gia tăng một cách thiết yếu nơi việc trợ giúp phát triển thiên về thành phần thiếu thốn nhất, đặc biệt những người ở Lục Địa Phi Châu.
Về vấn đề này, mục tiêu của Ngàn Năm thứ hai đã được đặc biệt chú trọng, đó là “đạt được mộït nền giáo dục căn bản – bảo đảm rằng tất cả mọi em trai em gái hoàn tất việc học vấn vào năm 2015”. Đây là một phần toàn diện của việc chiếm đạt tất cả các Mục Tiêu Ngàn Năm khác: nó là một thứ bảo đảm của việc củng cố các mục tiêu đã đạt được; nó là khởi điểm cho những tiến trình tự động và khả trợ của vấn đề phát triển.
Không được quên rằng Giáo Hội Công Giáo luôn đi tiên phong trong ngành giáo dục, tiến tới các nơi chốn, đặc biệt ở các quốc gia nghèo nhất, mà các cơ cấu Quốc Gia thường bỏ không tới. Các Giáo Hội Kitô Giáo khác, các nhóm tôn giáo cùng các tổ chức thuộc xã hội dân sự chia sẻ việc dấn thân về giáo dục này. Theo nguyên tắc phụ trợ, thực tại này cần được các Chính Quyền và các Tổ Chức Quốc Tế nhìn nhận, trân quí và nâng đỡ, bằng việc, ngoài những thứ khác, phân phối ngân quĩ đầy đủ, để bảo đảm được cái hiệu năng hơn trong việc chiến đạt các Mục Tiêu Phát Triển Ngàn Năm. Chúng ta hãy hy vọng rằng những nỗ lực nghiêm chỉnh cần phải được thực hiện để đạt thành những mục tiêu ấy.
Sau buổi triều kiến chung, chiếc tông xa của Đức Thánh Cha đang đi vòng quang Quảng Trường Thánh Phêrô để ngài chào và ban phép lành cho mọi người, thì một người vượt qua hàng rào an ninh bám vội vào chiếc tông xa của Đức Thánh Cha đang chạy, trước khi bị nhân viên an ninh bắt giữ.
Đức Thánh Cha không bị hại, và không lưu ý những gì đã xẩy ra sau long ngài, khi ngài đã chú ý chào dân chúng.
Tòa Thánh sau đó đã cho biết con người có hành động bất thường đó 27 tuổi, người Đức, bị bệnh tâm thần và không có ý hại Đức Thánh Cha, song chỉ muốn kéo chú ý của mọi người mà thôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/6/2007
Nhân dịp mừng kỷ niệm 90 Năm Biến Cố Fatima, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Bertone, nguyên Thư Ký của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin thời Hồng Y Tổng Trưởng Joseph Ratzinger phổ biến tác phẩm của ngài, với sự hợp tác của Giuseppe De Carli và được nhà xuất bản Rai Eri / Riozzoli phát hành. Sau đây là nguyên văn lời giới thiệu của Đức Thánh Cha.
Gửi Đức Hồng Y Tarsicio Bertone
Quốc Vụ Khanh Vatican
Huynh khả kính, Chị Lucia trao phó rất nhiều hồi niệm cho cuốn sách “Vị Thụ Khải Cuối Cùng của Fatima" để nói về các biến cố đã đánh dấu lịch sử của giai đoạn cuối cùng trong thế kỷ 20. Chị đã trao phó chúng cho cuốn sách này để chúng không phải tồn tại chỉ là một thứ hành lý quí báu của cảm xúc cá nhân, mà chúng được trao chuyền như một ghi niệm chung mang ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử trần thế.
Thực vậy, trong thời gian Đại Năm Thánh 2000 đáng nhớ, chúng ta đã cùng nhau trải qua giai đoạn liên quan tới việc phổ biến bí mật Fatima phần thứ ba: tôi, với tư cách là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, và huynh, với tư cách là thư ký của cùng một thánh bộ. Vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm của tôi, đầy những cảm hứng có tính cách tiên tri và tự thân xác tín rằng “bàn tay từ mẫu” của Đức Trinh Nữ đã làm lệch đi viên đạn có thể sát hại ngài, đã thấy rằng đã đến lúc vén lên bức màn mầu nhiệm đã che phủ phần cuối cùng của bí mật được Đức Trinh Nữ tỏ cho 3 em nhỏ mục đồng ở Fatima. Thánh Bộ này, một thánh bộ đã bảo trì bản văn do Chị Lucia viết, đã được trao phó trách nhiệm.
Đó là thời điểm sáng soi, chẳng những vì tất cả mọi người có thể biết được sứ điệp này, mà còn vì sự thật được tỏ lộ giữa tình trạng lầm lẫn về những giải thích và suy đoán có tính cách khải huyền được lan truyền trong Giáo Hội và đã tạo nên một nỗi lo âu sợ hãi nơi tín hữu, thay vì mời gọi họ nguyện cầu và thống hối. Tuy nhiên, đàng khác, người ta có thể thấy được việc phát triển khả quan nơi lòng tôn sùng Thánh Mẫu, một nguồn mạch đích thực của đời sống Kitô hữu, liên quan tới đền thánh mẫu Fatima nổi bật cũng như ở khắp nơi trên thế giới có lòng sùng kính Đức Trinh Nữ theo ảnh hưởng của các cuộc hiện ra ở Fatima, đã đâm rễ sâu xa vào niềm tin của dân chúng, mời gọi con người nam nữ hãy tận hiến bản thân mình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Những cuộc đàm thoại giữa vị thụ khải này, người còn lại cuối cùng trong ba trẻ chăn chiên, và huynh, một vị giám mục được Đức Giáo Hoàng sai đến, là những gì quan trọng, chẳng những để kiểm chứng về tính cách chân thực của sự kiện, mà còn là dịp để biết cái tươi sáng của tâm hồn Chị Lucia, sự hiểu biết của một tâm hồn kiểu mẫu theo nữ tính, được biến thành một niềm tin mạnh mẽ Kitô Giáo. Nơi người nữ tu khiêm tốn này chiếu tỏa vai trò của Đức Trinh Nữ Maria là vị, bằng bàn tay từ mẫu của mình, đang hỗ trợ Kitô hữu trải qua nỗi nghiệt ngã của cuộc đời.
Chính tôi đã đọc bản thảo dẫn giải theo thần học về biến cố này, sau khi đã thiết tha nguyện cầu và sâu xa suy niệm về nội dung của những trang sách do Chị Lucia viết. Tôi hết sức cảm xúc trước lời hứa an ủi của Vị Trinh Nữ Rất Thánh này, những lời giống như một thứ tổng hợp và một ấn tín quí báu, đó là: “Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng”. Những lời đã được viết lên là: “’Tiếng xin vâng’ của Mẹ Maria, lời nói của lòng Mẹ, đã làm thay đổi lịch sử thế giới, vì nó mang đến cho thế giới Đấng Cứu Thế – vì nhờ tiếng ‘ xin vâng’ này Thiên Chúa mới có thể làm người giữa chúng ta và Người sẽ mãi mãi như vậy”.
Chưa hết, “từ lúc chính Thiên Chúa có một trái tim con người và hướng tự do cỉa con người về sự thiện, về Thiên Chúa, thì tự do hành ác không phải là phán quyết cuối cùng nữa”. Sứ điệp Fatima là một xác nhận hơn nữa về điều ấy.
Tôi cầu xin cùng Vị Rất Thánh Trin h Nữ này bảo vệ tất cả những ai sẽ đọc chứng từ được tác phẩm này cống hiến, và tôi ban phép lành tòa thánh cho huynh là vị hồng y thân mến cũng như cho Tiến Sĩ Giuseppe De Carli là người thông công vào việc phổ biến cuốn hồi niệm này.
Tại Vatican ngày 22/2/2007
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/5/2007
“Bác Ái và Công Lý nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc”
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Đại Hội Thường Niên lần XIII của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học 27/4-1/5/2007
“Chỉ nguyên công lý thôi vẫn không đủ để thiết lập những mối liên hệ nhân bản và huynh đệ trong xã hội”.
Kính Gửi Bà Chủ Tịch Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học
Giáo Sư Mary Ann Glendon
Nhân dịp Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học, tôi hân hoan gửi lời chào đến bà cũng như thành phần tôn nghị viên của bà, và tôi nguyện chúc cho cuộc họp bàn của anh chị em được tốt đẹp.
Cuộc họp của Hàn Lâm Viện này cho năm nay đây giành để khảo sát đề tài: ‘Đức Ái và Công Lý nơi Các Mối Liên Hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc’. Giáo Hội không thể nào không chú trọng tới chủ đề này, vì việc theo đuổi thực hiện công lý và cổ võ nền văn minh yêu thương là những khía cạnh thiết yếu nơi sứ vụ loan truyền Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô của Giáo Hội. Việc xây dựng một xã hội công chính chắc chắn là trách nhiệm chính yếu của phạm vi chính trị, cả nơi từng Quốc Gia cũng như nơi cộng đồng quốc tế. Bởi thế, nó đòi hỏi ở mọi cấp độ một việc hành sử nghiêm chỉnh lý trí thực tiễn và một thứ trau luyện của ý chí để nhận thức và đạt tới những đòi hỏi đặc biệt của công lý hoàn toàn hợp với công ích và phẩm vị bất khả tách biệt của mỗi người. Trong bức Thông Điệp Deus Catitas Est của tôi, tôi đã tái khẳng định, vào lúc mở màn cho giáo triều của tôi, việc Giáo Hội ước mong góp phần vào việc cần thanh tẩy lý trí ấy, trong việc giúp đào luyện lương tâm cũng như trong việc phấn khích đàp ứng hơn nữa với những đòi hỏi chân thực của công lý. Đồng thời tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, thậm chí ngay ở cả những xã hội công chính nhất, bao giờ cũng cần phải giành chỗ cho đức bác ái: ‘không có một trật tự Quốc Gia nào chân chính đến nỗi nó lại có thể loại trừ đi nhu cầu phục vụ yêu thương’ (số 28).
Niềm xác tín này của Giáo Hội về tính cách bất khả phân ly giữa công lý và bác ái trước hết được xuất phát từ những gì Giáo Hội cảm nghiệm về đức công minh và tình thương vô cùng của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, và tính cách ấy được thể hiện nơi việc Giáo Hội nhấn mạnh rằng chính con người và phẩm vị bất khả biếm giảm của họ cần phải là tâm điểm của đời sống chính trị và xã hội. Bởi thế, giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn không phải chỉ được ngỏ cùng thành phần tín hữu mà còn cho tất cả mọi con người thành tâm thiện chí nữa, là những gì am hợp với lý trí đứng đắn và là một hiểu biết lành mạnh về bản tính con người khi đề ra những nguyên tắc có khả năng hướng dẫn cá nhân cũng như cộng đồng trong vấn đề theo đuổi thực hiện một trật tự xã hội thấm đậm công lý, tự do, đoàn kết huynh đệ và bình an. Theo nguyên tắc nống cốt ấy thì hết mọi sự được trái đất này sản xuất ra và tất cả những gì con người biến đổi và chế tạo, tất cả mọi kiến thức và kỹ thuật của họ, đều để phục vụ cho việc phát triển và viên trọn về vật chất cũng như tinh thần của gia đình nhân loại cũng như của tất cả mọi phần tử của gia đình này.
Từ quan điểm vẹn nguyên về nhân loại này, chúng ta có thể hiểu trọn vẹn hơn nữa vai trò thiết yếu của đức bác ái trong việc theo đuổi công lý. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tin tưởng rằng chỉ nguyên công lý thôi vẫn không đủ để thiết lập những mối liên hệ nhân bản và huynh đệ trong xã hội. Ngài chủ trương rằng: “trong hết mọi lãnh vực của các quan hệ liên cá vị, công lý có thể nói là cần phải được ‘chỉnh đốn’ cho đến nỗi nhờ đó tình yêu, như Thánh Phaolô tuyên bố, ‘thì nhẫn nại và nhân ái’, hay nói cách khác, tình yêu chiếm hữu những đặc tính của thứ tình yêu nhân hậu đầy yếu tính của Phúc Âm và Kitô Giáo” (Dives in Misericordia, 14). Tóm lại, đức bác ái chẳng những giúp cho công lý có thể trở nên sáng tạo hơn và đương đầu với những thách đố mới; nó còn phấn khích và thanh tẩy các nỗ lực của con người trong việc chiếm đạt công lý chân thực, nhờ đó xây dựng một xã hội xứng đáng với con người.
Khi nào ‘mối quan tâm đối với tha nhân vượt lên trên những giới hạn của các cộng đồng quốc gia và càng mở rộng chân trời của mình đến toàn thế giới’ (Deus Caritas Est, 30), thì mối liên hệ nội tại giữa đức ái và công lý cần phải được hiểu rõ hơn và nhấn mạnh hơn n ữa. Trong khi bày tỏ niềm tin tưởng của tôi về thành quả gặt hái được từ những cuộc bàn luận của anh chị em vào những ngày đây liên quan tới vấn đề liên hệ ấy, tôi muốn vắn gọn xin anh chị em chú trọng tới ba thách đố đặc biệt đang gây khó dễ cho thế giới của chúng ta, những thách đố tôi tin rằng chỉ có thể đương đầu bằng một cuộc mạnh mẽ dấn thân thực hiện một thứ công lý được bác ái tác động hơn nữa.
“Để đương đầu những thách đố trên đây, chỉ có tình yêu thương tha nhân mới có thể tác động trong chúng ta thứ công lý phục vụ sự sống và cổ võ nhân phẩm mà thôi”.
Thánh đố đầu tiên liên quan tới vấn đề môi trường và việc phát triển khả trợ. Cộng đồng quốc tế nhìn nhận rằng các nguồn tài nguyên của thế giới này là những gì hạn hữu, và tất cả mọi người đều phải có nhiệm vụ áp dụng các chính sác h bảo vệ môi trường, để tránh khỏi tình trạng hủy hoại cái vốn liếng thiên nhiên vẫn chất chứa những hoa trái cần thiết cho sự phúc hạnh của nhân loại. Để đáp ứng cái thách đố này, điều cần phải làm đó là một phương sách liên ngành như anh chị em đã từng sử dụng. Cũng cần phải có khả năng thẩm định và tiên liệu, thanh tra các nguyên động lực của tình trạng thay đổi về môi trường cũng như về việc phát triển khả trợ, cùng phác họa và áp dụng những giải pháp ở lãnh vực quốc tế. Đặc biệt cần phải chú ý tới sự kiện là các quốc gia nghèo khổ nhất là những nơi có thể phải trả giá mắc nhất cho tình trạng tệ hại suy thoái về môi sinh. Trong Sứ Điệp của tôi gửi cho Ngày Thế Giới Hòa Bình 2007, tôi đã vạch ra cho thấy rằng ‘việc hủy hoại môi trường, việc sử dụng môi trường một cách bất chính hay vị kỷ, và việc giành giật tích trữ các tài nguyên thiên nhiên… là hậu quả của một thứ quan niệm phi nhân bản về phát triển, thế nhưng đó là thứ méo mó một chiều sẽ đi đến chỗ làm bung tỏa các khả năng hủy hoại của con người’ (số 9). Trong việc đối đầu với những thách đố về việc bảo vệ môi trường cũng như về việc phát triển khả trợ, chúng ta được kêu gọi để cổ võ và “bảo toàn những điều kiện về luân lý cho một thứ ‘môi sinh nhân bản’ đích thực” (Thông Điệp Bách Niên, số 38). Bởi vậy điều này cần phải có một mối liên hệ hữu trách chẳng những với thiên nhiên tạo vật mà còn với cả tha nhân của chúng ta nữa, dù gần hay xa, về không gian và thời gian, cũng như với Đấng Hóa Công vậy.
Vấn đề này mang chúng ta tới cái thách đố thứ hai liên quan tới quan niệm của chúng ta về con người, và do đó liên quan tới các mối liên hệ của chúng ta với nhau. Nếu con người không được coi là những con người, nam nữ, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (x Gen 1:26), và được phú bẩm cho một phẩm vị bất khả vị phạm, thì sẽ rất ư là khó khăn trong việc chiếm đạt sự công chính trọn vẹn trên thế giới này. Mặc dù các thứ quyền lợi của con người đã được nhìn nhận trong các bản tuyên ngôn quốc tế cũng như trong các v ăn kiện pháp lý, vẫn cần phải thực hiện nhiều tiến bộ hơn nữa trong việc áp dụng việc nhìn nhận ấy vào những vấn đề toàn cầu, như vấn đề gia tăng khoảng cách giữa các quốc gia giầu và nghèo; việc phân phối và cung cấp bất quân bình các thứ tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phong phú do haọt động con người tạo được; thảm trạng đói, khát và bần cùng trên một hành tinh có dồi dào lương thực, nước nôi và thịnh vượng; tình trạng khổ đau của nhân loại nơi thành phần tị nạn và tản mạn; những thứ hận thù liên tục ở nhiều phần đất trên thế giới; vấn đề thiếu bảo vệ về pháp lý cho thành phần thai nhi; việc khai thác trẻ em; việc buôn bán quốc tế con người, vũ khí và thuốc phiện; và nhiều thứ bất chính trầm trọng khác nữa.
Thách đố thứ ba liên quan tới các thứ giá trị về tinh thần. Bị áp đảo bởi những lo âu về kinh tế, chúng ta có khuynh hướng quên đi rằng, không giống như các thứ sản vật về chất thể, những sản vật về tinh thần xứng hợp với con người là những gì vươn rộng và gia tăng khi được truyền đạt: không như các thứ sản vật khả phân, những thứ sản vật về tinh thần như kiến thức và giáo dục là những gì bất khả phân, và người ta càng chia sẻ chúng đi thì chúng càng được sở hữu. Vấn đề toàn cầu hóa đã làm gia tăng mồi liên thuộc của các dân tộc, nơi các truyền thống khác nhau của họ, nơi tôn giáo và hệ thống giáo dục của họ. Điều này có nghĩa là các dân tộc tr ên thế giới, đối với tất cả những gì là khác biệt của mình, đang liên lỉ học biết nhau và đang tiến đến chỗ giao tiếp với nhau một cách rộng lớn hơn nữa. Bởi vậy mà vấn đề hết sức quan trọng ở đây đó là nhu cầu thực hiện một cuộc đối thoại có thể giúp cho con người hiểu được các truyền thống riêng của họ qua các tuyền thống của kẻ khác, giúp cho họ phát triển việc tự thức hơn nữa trước những thách đố đối với căn tính của họ, và nhờ đó phát động việc hiểu biết cùng nhìn nhận những giá trị đích thực của con người theo chiều kích liên văn hóa. Để đáp ứng những thách đố ấy, cần phải thực hiện một thứ bình đẳng chân chính về cơ hội, nhất là nơi lãnh vực giáo dục và truyền đạt kiến thức. Tiế cthay, vấn đề giáo dục, nhất là ở bậc sơ cấp, vẫn còn thiếu hụt một cách thê thảm nơi nhiều phần đất trên thế giới.
Để đương đầu những thách đố trên đây, chỉ có tình yêu thương tha nhân mới có thể tác động trong chúng ta thứ công lý phục vụ sự sống và cổ võ nhân phẩm mà thôi. Chỉ có tình yêu thương trong gia đình được xây dựng trên một người nam và một người nữ là thành phần được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, mới có thể bảo đảm được tình đoàn kết liên thế hệ là tình đoàn kết truyền đạt yêu thương và công lý cho các thế hệ sau này. Chỉ có đức ái mới có thể phấn khích chúng ta đặt con người một lần nữa vào tâm điểm của đời sống trong xã hội cũng như vào tâm điểm của một thế giới được toàn cầu hóa dưới sự chi phối của công lý.
Các Phần Tử của Hàn Lâm Viện đây thân mến, với những cân nhắc ấy, tôi khuyến khích anh chị em tron g lúc anh chị em đang dấn thân thi hành công cuộc quan trọng của anh chị em. Tôi ưu ái xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan, hoan lạc và bình an cho anh chị em và những nhười thân yêu của anh chị em.
Tại Vatican ngày 28/4/2007
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/5/2007
ĐTC Biển Đức XVI: Thư Gửi Thủ Tướng Đức Angela Merkel nhân dịp mở màn vai trò chủ tịch Khối Hiệp Nhất Âu Châu và G8 của nước này
Kính gửi Tiến Sĩ Angela MERKEL,
Thủ Tướng Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc
Vào ngày 17/6/2006, vào lúc kết thúc Thượng Nghị Saint Petersburg, bà đã loan báo rằng dưới thời đóng vai trò Chủ Tịch của mình, Nhóm 7 quyền lực dẫn đầu về kinh tế cộng với Nga (G8) sẽ tiếp tục theo đuổi vấn đề nghèo khổ toàn cầu trong hoạt trình của nó. Sau đó, vào ngày 18/10 năm ngoái, Chính Quyền Liên Bang Đức Quốc đã nói rằng vấn đề trợ giúp cho Phi Châu sẽ là ưu tiên chính yếu ở Thượng Nghị Heiligendamm.
Bởi thế tôi viết thư này gửi đến bà để bày tỏ lòng biết ơn của Giáo Hội Công Giáo cũng như việc cảm nhận của cá nhân tôi về những điều loan báo ấy.
Tôi hoan nghênh sự kiện là vấn đề nghèo khổ, liên quan đặc biệt tới Phi Châu, giờ đây xuất hiện trong hoạt trình của Nhóm đệ nhất kinh tế bát cường; thật vậy, cần phải hết sức chú trọng và đặt ưu tiên đến quyền lợi của cả các quốc gia nghèo khổ cũng như giầu thịnh. Sự kiện vai trò Chủ Tịch của Đức quốc nơi Nhóm đệ nhất kinh tế bát cường trùng với vai trò Chủ Tịch của Khối Hiệp Nhất Âu Châu cho thấy một cơ hội đặc biệt để giải quyết vấn đề này. Tôi tin tưởng rằng Đức Quốc sẽ tích cực hành sử vai trò lãnh đạo trong tay mình đối với vấn đề quan trọng toàn cầu chi phối tất cả chúng ta này.
Ở cuộc chúng ta gặp gỡ nhau ngày 28/8 năm vừa qua, bà đã hứa quyết cùng tôi rằng Đức Quốc chia sẻ quan tâm của Tòa Thánh về sự bất lực của các quốc gia giầu thịnh trong vấn đề cống hiến cho các quốc gia nghèo khổ, nhất là các nước ở Phi Châu, những điều kiện về tài chính và thương mại có thể gia tăng việc phát triển bền bỉ của họ.
Tòa Thánh đã thường nhấn mạnh là, trong lúc các Chính Quyền của các quốc gia nghèo khổ có trách nhiệm cần phải tỏ ra thực hiện việc quản trị tốt và loại trừ đi tình trạng nghèo khổ, thì vẫn không thể nào thiếu được việc chủ động tham phần của thành phần đồng bạn quốc tế. Điều này không được coi như là một thứ ‘ngoại tại’ hay như là một sự nhượng bộ có thể trì hoãn trước những quan tâm khẩn trương của quốc gia. Nó là một trách nhiệm luân lý hệ trọng và quyết liệt, căn cứ vào mối hiệp nhất của loài người, cũng như vào phẩm giá chung và định mệnh chung của kẻ giầu lẫn người nghèo, thành phần đang được xích lại gần nhau bởi tiến trình toàn cầu hóa.
Những điều kiện giao thương thuận lợi cho các nước nghèo, bao gồm, trước hết, là điều kiện rộng mở và dễ dàng tham gia vào các thị trường, là những gì cần phải được sẵn sàng và bảo đảm bằng những đường lối bền vững và khả tín.
Cũng cần phải thực hiện việc hủy bỏ một cách mau chóng, toàn thể và vô điều kiện nợ nần hải ngoại nơi các Quốc Gia Nghèo Nặng Nợ (HIPC: Heavily Indebted Poor Countries) cũng như nơi các Quốc Gia Chậm Phát Triển Nhất (LDCs: Least Developed Countries). Cần phải chấp thuận những biện pháp để bảo đảm rằng những quốc gia ấy không bị rơi vào tình trạng vướng mắc nợ nần không thể trả một lần nữa.
Các quốc gia phát triển cũng cần phải nhìn nhận và áp dụng một cách trọn vẹn những quyết tâm mà họ đã thực hiện liên quan tới việc trợ giúp ngoại quốc này.
Ngoài ra, cũng cần phải đầu tư chính yếu vào những phương tiện cho việc nghiên cứu và phát triển về thuốc men để chữa trị Hội Chứng Liệt Kháng, lao phổi, sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác. Về vấn đề này, cái thánh đố đầu tiên và trên hết về khoa học đối với các quốc gia phát triển đó là việc khám phá ra một thứ chủng ngừa bệnh sốt rét. Cũng cần phải làm sao để cho vấn đề kỹ thuật về y khoa và dược phẩm cũng như vấn đề chuyên muôn chăm sóc sức khỏe được thuận lợi mà không áp đặt những điều kiện về pháp lý hay kinh tế.
Sau hết, cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hoạt động để giảm thiểu thật sự việc buôn bán các thứ vũ khí bất hợp pháp và hợp pháp, việc buôn bán bất hợp pháp những nguyên liệu quí giá, và vấn đề thất thoát vốn liếng của các quốc gia nghèo khổ, cũng như để loại trừ đi những việc chuyển ngân và tham nhũng của các viên chức ở các quốc gia nghèo khổ.
Những thách đố này cần phải được tất cả mọi phần tử quốc tế thực hiện, nhưng Nhóm đệ nhất kinh tế bát cường và Khối Hiệp Nhất Âu Châu cần phải dẫn đầu.
Dân chúng ở các miền đất khác nhau và các nền văn hóa khác nhau khắp thế giới tin tưởng rằng việc đạt được mục tiêu nhổ tận gốc rễ tình trạng cực bần cùng vào năm 2015 là một trong những công việc quan trọng nhất trong thế giới ngày nay. Hơn nữa, họ cũng nghĩ rằng một mục tiêu như thế là những gì gắn liền bất khả phân ly với nền hòa bình và an ninh thế giới. Họ trông đợi vào vai trò Chủ Tịch, một vai trò được Đức quốc năm giữ vào những tháng tới đây, trong việc bảo đảm rằng Nhóm đệ nhất kinh tế bát cường và Khối Hiệp Nhất Âu Châu thực hiện những biện pháp cần thiết để thắng vượt tình trạng nghèo khổ. Họ sẵn sàng thực hiện phần của mình bằng những nỗ lực như thế và họ ủng hộ việc dấn thân của bà trong tinh thần đoàn kết.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho hoạt động của Nhóm đệ nhất kinh tế bát cường và Khối Hiệp Nhất Âu Châu dưới quyền Chủ Tịch của Đức Quốc, tôi lợi dụng dịp này để lập lại cùng Bà Thủ Tướng lời hứa hết sức quan tâm của tôi.
Tại Vatican ngày 16/12/2006
Giáo Hoàng Biển
Đức XVI
(Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
23/4/2007 từ bản tiếng Đức của Tòa Thánh)
“Kỷ Niệm Đệ Ngũ Chu Niên Hiệp Ước Rôma – Những Giá Trị và Viễn Tượng cho một Âu Châu Tương Lai”
ĐTC Biển Đức XVI: Diễn Từ Thứ Bảy 24/3/2007 ngỏ cùng Tham Dự Viên Hội Nghị Mừng 50 Năm Hiệp Ước Rôma
Nhân dịp mừng kỷ niệm 50 năm Hiệp Ước Rôma, tại hội nghị được tổ chức ở thủ đô Ý quốc, do Ủy Ban thuộc Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu - COMECE (Commission of the Bishops' Conferences of the European Community), từ Thứ Sáu đến Chúa Nhật, 23-25/3/2007, ĐTC đã ngỏ lời tại Sảnh Đường Clementine trong Tông Dinh Vatican hôm Thứ Bảy 24/3/2007 cùng thành phần tham dự viên hội nghị, như sau:
Quí Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm,
Quí Vị Quốc Hội Viên Khả Kính,
Quí Bà và Quí Ông Thân Mến!
Tôi đặc biệt hân hoan tiếp đón một số đông người ở cuộc triều kiến này, một cuộc triều kiến diễn ra vào ngày áp 50 năm kỷ niệm việc ký kết Hiệp Ước Rôma, 25/3/1957.
Bấy giờ Âu Châu đã thực hiện được một bước tiến quan trọng, một Âu Châu đã kiệt quệ bởi Trận Đệ Nhị Thế Chiến và mong muốn xây dựng một tương lai hòa bình và phúc hạnh hơn về kinh tế cũng như xã hội, mà không giải thể hay chối bỏ các căn tính quốc gia khác nhau.
Tôi chào đón Đức Ông Andrianus Herman van Luyn, giám mục ở Rotterdam, chủ tịch Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục Cộng Đồng Âu Châu, và tôi cám ơn ngài về lời lẽ tốt lành ngài ngỏ cùng tôi.
Tôi gửi lời chào tới các vị giáo phẩm khác, các tôn vị thẩm quyền cùng tất cả những ai tham dự vào cuộc hội nghị được phát động vào những ngày này bởi COMECE để suy nghĩ về Âu Châu. Từ Tháng Ba 50 năm trước đây, châu lục này đã từng tiến bước trên một con đường dài, một con đường đã dẫn tới một cuộc hòa giải của hai ‘buồng phổi’ – Đông và Tây – được liên kết với nhau bằng một lịch sử chung, thế nhưng, lại bị phân chia một cách độc đoán bởi bức tường bất công.
Vấn đề thống nhất về kinh tế được khởi động bởi vấn đề thống nhất về chính trị và phấn khích việc tìm kiếm, vẫn còn tiếp tục, vấn đề cấu tạo về tổ chức thích đáng cho một Khối Hiệp Nhất Âu Châu mà, cho tới nay, bao gồm 27 quốc gia và muốn trở thành một diễn viên quốc tế trên thế giới.
Trong những năm tháng này, người ta càng ngày càng cảm thấy nhu cầu cần phải thiết lập một tình trạng quân bình lành mạnh giữa các chiều kích về kinh tế và xã hội, nhờ những vấn đề chính trị có thể mang lại giầu thịnh và làm tăng thêm việc cạnh tranh, mà không bỏ quên những niềm mong đợi hợp lý của thành phần nghèo khổ và sống bên lề xã hội. Thế nhưng, nhìn vào chiều kích nhân số của sự việc thì chúng ta cần phải lấy làm tiếc mà nhận định rằng Âu Châu dường như đang tiến bước dọc theo con đường có thể dẫn tới chỗ làm cho nó tách lìa ra khỏi giòng lịch sử.
Ngoài việc tác hại cho tình trạng tăng triển về kinh tế, điều này còn có thể tạo nên những khó khăn cả thể cho việc liên kết về xã hội, và nhất là, tỏ ra ủng hộ cá nhân chủ nghĩa nguy hiểm, quên đi những hậu quả đối với tương lai. Người ta hầu như có thể nghĩ rằng đại lục Âu Châu thật sự đang mất đi niềm tin tưởng vào tương lai của mình. Chưa hết, đối với vấn đề tôn trọng môi trường chẳng hạn, hay tôn trọng việc sử dụng đứng đắn các nguồn năng lực và đầu tư, những điều khích lệ cho tình đoàn kết, đều là những gì đang chậm xẩy ra, chẳng những nơi lãnh vực quốc tế mà còn nơi lãnh vực hoàn toàn thuộc quốc gia nữa.
Chính tiến trình hiệp nhất Âu Châu cũng là những gì rõ ràng không được tất cả mọi người đồng thuận, bởi ấn tượng về ‘những chương đoạn’ khác nhau nơi dự án Âu Châu đã được ‘viết’ chẳng màng gì tới những niềm mong đợi của thành phần công dân. Bởi tất cả những sự ấy, hiển nhiên là một ‘ngôi nhà chung’ Âu Châu thực sự không thể nào được thiết dựng nếu không để ý tới những căn tính của nhân dân thuộc châu lục này.
Căn tính này thực sự là một căn tính có tính cách lịch sử, văn hóa và luân lý trước khi nó có căn tính về địa dư, kinh tế hay chính trị; một căn tính được tạo nên bởi những giá trị chung giống nhau được Kitô Giáo góp phần hình thành, và bởi đó là căn tính đã làm cho Kitô Giáo chẳng những đóng một vai trò lịch sử mà còn cả vai trò nền tảng cho Châu Âu nữa.
Những giá trị ấy, những giá trị làm nên hồn sống của châu lục này, cần phải tồn tại ở Âu Châu của ngàn năm thứ ba như là ‘sự dậy men’ cho nền văn minh. Nếu quả thực những thứ giá trị ấy cần phải bị biến mất, thì làm sao châu lục ‘cổ’ này có thể tiếp tục tác hành như ‘men’ cho toàn thể thế giới đây? Nếu, vào dịp mừng kỷ niệm 50 năm Hiệp Ước Rôma này, các chính quyền của Khối Hiệp Nhất muốn ‘trở nên gần gũi’ hơn với thành phần công dân của mình, làm sao họ có thể loại trừ được một yếu tố thiết yếu đối với căn tính của Âu Châu như Kitô Giáo chứ, khi mà đại đa số vẫn tiếp tục chấp nhận Kitô Giáo?
Không lạ gì Âu Châu ngày nay, trong khi hy vọng được thấy như là một cộng đồng của các thứ giá trị, thì càng ngày lại càng như đối đầu với các thứ giá trị đại đồng và tuyệt đối hiện hữu? Hình thức đặc thù ‘phản lại’ bản thân mình, thậm chí ngay cả trước khi phản lại Thiên Chúa, không phải đã là những gì gây ra những ngờ vực về căn tính của mình hay sao?
Như thế, người ta tiến đến chỗ làm lan tràn niềm xác tín rằng ‘việc đặt nặng tài sản’ là đường lối duy nhất trong vấn đề nhận thức về luân lý, và công ích thì đồng nghĩa với vấn đề thỏa hiệp. Thực tế thì nếu vấn đề thỏa hiệp tạo nên một tầm mức cân bằng giữa những lợi lộc riêng biệt khác nhau, thì nó trở thành một thứ sự dữ chung ở bất cứ lúc nào nó được tạo nên bởi những thỏa hiệp tác hại đến bản tính của con người.
Một cộng đồng được xây dựng mà lại thiếu tôn trọng phẩm giá đích thực của con người, quên rằng mỗi người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, đều chẳng có ích gì cho ai hết. Đó là lý do tại sao Âu Châu cần phải để ý chống lại thái độ thực dụng đang lan tràn hiện nay này, một thái độ biện minh một cách khéo léo việc thỏa hiệp về các thứ giá trị nhân bản thiết yếu, như thể nó là việc chấp nhận bất khả tránh trước một sự dữ nhẹ.
Chủ nghĩa thực dụng này, được trình bày như là những gì quân bình và thực tiễn, thật sự thì không phải như thế, vì nó chối bỏ chiều kích của những giá trị và những ý nghĩa vốn có nơi bản tính của con người. Khi những khuynh hướng vô thần và tương đối được đan kết lại thành chủ nghĩa thực dụng này thì cuối cùng thành phần Kitô hữu cũng bị chối bỏ chính quyền được tham gia vào cuộc bàn luận công cộng, hoặc, ít là việc đóng góp của họ không được chấp nhận.
Trong thời điểm lịch sử thực sự này và đang phải đương đầu với những thử thách đánh dấu mình, Khối Hiệp Nhất Âu Châu , để trở thành một bảo đảm thực sự của tình trạng quyền lợi và trở thành một cổ động viên cho các thứ giá trị đại đồng, không thể nào không minh nhiên nhìn nhận việc hiện hữu thực sự của một bản tính loài người vững chắc và vĩnh viễn, mạch nguồn của các quyền lợi chung đối với tất cả mọi người, bao gồm cả những ai chối bỏ chúng. Theo chiều hướng ấy thì cần phải bảo vệ quyền kháng cự theo lương tâm, bất cứ khi nào các quyền lợi căn bản của con người bị vi phạm.
Các bạn thân mến, tôi biết rằng thành phần Kitô hữu khó khăn ra sao trong việc tích cực bênh vực sự thật này về con người. Tuy nhiên, xin đừng mệt mỏi về điều này và đừng chán nản! Các bạn biết rằng các bạn có nhiệm vụ góp phần xây dựng một tân Âu Châu nhờ ơn Chúa giúp, một Âu Châu thực tiễn nhưng không khinh thường, phong phú về ý nghĩa và không bị những ảo tưởng ngây ngô, một Âu Châu được sinh động bởi sự thật vĩnh tại và ban sự sống của Phúc Âm.
Bởi thế, các bạn cần phải hiện diện một cách chủ động ở cuộc tranh luận công khai thuộc tầm cấp Âu Châu, biết rằng cuộc tranh luận này hiện nay là một yếu tố toàn vẹn của cuộc tranh luận của quốc gia, và kèm theo việc dấn thân này cần phải tác hành một cách hiệu năng về văn hóa nữa. Các bạn đừng chiều theo lý lẽ của quyền lực như thể tự bản chất nó là cùng đích vậy!
Chớ gì lời trách móc của Chúa Kitô luôn là những gì tác động và hỗ trợ cho các bạn: ‘Nếu muối hết mặn (…) nó sẽ chẳng có lợi gì nữa, ngoại trừ bị đổ ra đường cho người ta chà đạp’.
Chớ gì Chúa Kitô làm cho hết mọi nỗ lực của các bạn trổ sinh hoa trái và giúp cho các bạn nhìn nhận và coi trọng những yếu tố tích cực nơi văn minh ngày nay, thế nhưng cũng biết can đảm bài bác tất cả những gì là phản nghịch lại với phẩm giá con người.
Tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ chúc lành nỗ lực quảng đại của tất cả những ai, theo tinh thần phục vụ, hoạt động để dựng xây một ngôi nhà chung Âu Châu là nơi hết mọi việc đóng góp về văn hóa, xã hội và chính trị đều nhắm đến công ích.
Cùng các bạn, thành phần đã dấn thân bằng những đường lối khác nhau nơi dự án quan trọng về nhân bản và phúc âm này, tôi bày tỏ việc tôi hỗ trợ và hết lòng khuyến khích. Trên hết, tôi hứa nhớ đến các bạn trong lời nguyện cầu, và trong khi tôi kêu cầu Mẹ Maria là Mẹ của Lời hóa thành Nhục Thể ra tay bảo vệ, tôi hết lòng ưu ái thật chúc lành cho các bạn cùng gia đình của các bạn cũng như cộng đồng của các bạn.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/3/2007
ĐTC Biển Đức XVI: Huấn Từ cùng Phong Trào Giáo Dân Hiệp Thông và Giải Phóng Thứ Bảy 24/3/2007 tại Quảng Trường Thánh Phêrô nhân dịp 25 năm phong trào này được Tòa Thánh chính thức công nhận
Anh chị em thân mến,
Tôi hết sức vui mừng được tiếp đón anh chị em hôm nay ở nơi này, tại Quảng Trường Thánh Phêrô vào dịp 25 năm Hiệp Hội Hiệp Thông và Giải Phóng được Tòa Thánh công nhận. Chúng ta có thể cho rằng mặt trời, mà ngay cả nước là dấu hiệu ân sủng và tặng ân của Chúa Thánh Thần . Tôi thân ái gửi lời chào đến từng người trong anh chị em, nhất là các vị giáo phẩm, các linh mục và các vị giám đốc hiện diện nơi đây.
Tôi đặc biệt chào Cha Julián Carrón, chủ tịch hiệp hội của anh chị em, và tôi xin cám ơn ngài về những lời lẽ tất lành và sâu xa ngỏ cùng tôi thay cho tất cả anh chị em.
Dĩ nhiên là tâm tưởng của tôi trước hết hướng về vị sáng lập phong trào của anh chị em là Đức Ông Luigi Giussani là vị tôi có rất nhiều kỷ niệm, vì ngài đã trở thành một người bạn thực sự đối với tôi. Cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi, như Cha Carrón đã đề cập tới, đã xẩy ra ở Vương Cung Thánh Đường Milan hai năm trước đây, khi vị Giáo Hoàng yêu dấu của chúng ta là Đức Gioan Phaolô II sai tôi tới để chủ sự lễ an táng trọng thể của ngài.
Qua ngài, Chúa Thánh Thần đã làm dậy lên trong Giáo Hội một phong trào – của anh chị em – để làm chứng nhân cho vẻ đẹp làm Kitô hữu trong một thời điểm lan tràn ý nghĩ cho rằng Kitô Giáo là một cái gì đó buồn chán và ngột ngạt sống. Bởi vậy mà Cha Giussani đã quyết tâm làm bừng lên nơi giới trẻ tình yêu đối với Chúa Kitô là đường là sự thật và là sự sống, lập lại rằng chỉ duy một mình Người mới là đường tiến tới chỗ hiện thực hóa c ác ước muốn sâu xa nhất của tâm can con người; và Chúa Kitô cứu độ chúng ta không phải là bất chấp nhân tính của chúng ta mà là nhờ nhân tính của chúng ta.
Như tôi đã nhắc lại trong bài giảng lễ an táng của ngài, v ị linh mục can trường này, vị đã lớn lên ở m ột ngôi nhà nghèo khổ về lương thực nhưng lại giầu về ca nhạc, như chính ngài thường nói, ngay từ b an đầu đã được đánh động, đúng hơn đã bị đả thương bởi ước muốn vẻ mỹ lệ, không phải là bất cừ vẻ mỹ lệ nào, mà là chính mỹ lệ, vẻ mỹ lệ vô cùng ngài thấy nơi C húa Kitô. Làm sao chúng ta không nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ đã xẩy ra giữa ngài và vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II của tôi?
Vào dịp kỷ niệm thân thương của anh chị em, vị Giáo Hoàng này đã vạch ra rằng việc canh tân về giáo dục căn bản là ở chỗ tái đề ra, một cách thu hút, hợp với văn hóa hiện đại, biến cố Kitô Giáo này, một biến cố được coi như là nguồn mạch của những giá trị mới và có khả năng hướng dẫn toàn thể cuộc sống. Biến cố đã làm thay đổi cuộc sống của vị sáng lập viên có thể nói đã gây thươn g tích cho các cuộc sống của rất nhiều con cái thiêng liêng của ngài, và đã làm bừng lên nhiều c ảm nghiệm đạo hành và giáo hội làm nên lịch sử của gia đình rộng lớn và chuyên về thiêng liêng của anh chị em đây.
Hiệp Thông và Giải Phóng là một cảm nghiệm cộng đồng đức tin, xuất phát trong Giáo Hội, không phải từ một thứ ý muốn thiết lập phẩm trật, mà bắt nguồn từ một cuộc gặp gỡ mới mẻ với Chúa Kitô, nhờ đó, chúng ta có thể nói, từ một động lực thật sự xuất phát từ Chúa Thánh Thần. Cho tới cả hiện nay, cảm nghiệm này vẫn cống hiến như là một cơ hội để sống đức tin Kitô Giáo một cách sâu xa và cập nhật hóa, một đàng, bằng tất cả lòng trung thành và hiệp thông với vị Thừa Kế Thánh Phêrô, cũng như với các vị mục tử muốn bảo đảm việc quản trị Giáo Hội, đàng khác, bằng tính chất tự phát cũng như bằng một niềm tự do đi đến chỗ hiện thực hóa những việc tông đồ và truyền giáo có tính cách ngôn sứ và mới mẻ.
Các bạn thân mến, phong trào của các bạn bởi thế thuộc về cuộc bừng nở lớn rộng theo quan phòng thần linh các hội đoàn và phong trào cùng với những thực thể mới của giáo hội xuất phát trong Giáo Hội do Chúa Thánh Thần tác động từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II. Hết mọi tặng ân của Thần Linh đều được bắt nguồn trong Giáo Hội và cần phải phục vụ việc xây dựng Thân Thể của Chúa Kitô, cống hiến một chứng từ bác ái bao la của Thiên Chúa cho cuộc sống của tất cả mọi người. Thực tại của các phong trào trong giáo hội bởi thế là một dấu hiệu cho thấy tình cách phong phú của Thần Linh Chúa, nhờ đó cuộc vinh thắng của Chúa Kitô phục sinh được tỏ hiện trên thế giới, và công cuộc truyền giáo được ký thác cho Giáo Hội trở thành hiện thực.
Trong sứ điệp gửi Hội Nghị Thế Giới Các Phong Trào Của Giáo Hội ngày 27/5/1998, Đức Gioan Phaolô II đã lập lại rằng trong Giáo Hội không có vấn đề trái ngược hay tương phản giữa chiều kích cơ cấu với chiều kích đoàn sủng là chiều kích làm cho các phong trào thành một biểu hiện đầy ý nghĩa, vì cả hai đều thiết yếu cho việc cấu tạo thần linh của Dân Chúa, và trong Giáo Hội thậm chí các tổ chức thiết yếu lại có tín h cách đoàn sủng, và dù sao đi nữa, chính những đoàn sủng ấy, một cách nào đó, phải được cơ cấu hóa để trở nên chặt chẽ và có tính cách liên tục.
Cả hai được bắt nguồn bởi cùng Thánh Linh cho cùng một Thân Thể Chúa Kitô cùng diễn tiến với nhau để bày tỏ cho thấy Mầu Nhiệm và công cuộc cứu độ của Chúa Kitô trên thế giới. Điều này việc chú trọng của Giáo Hoàng cũng như của các vị mục tử trong việc để ý tới tính cách phong phú cùa các tặng ân đoàn sủng vào thời buổi hiện nay.
Về vấn đề này, trong cuộc gặp gỡ mới đây với hàng giáo sũ và các linh mục giáo xứ ở Rôma, khi nhắc lại lời mời gọi của Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thessalonica về việc đừng dập tắt các đoàn sủng, tôi đã nói rằng nếu Chúa ban cho chúng ta những tặng ân mới thì chúng ta cần phải tỏ lòng tri ân, mặc dù chúng có thể là những gì không thoải mái nói chung. Đồng thời, vì Giáo Hội duy nhất mà nếu các phong trào thực sự là tặng ân của Thánh Linh, thì chúng phải tháp nhập hơn vào cộng đồng Giáo Hội, bởi thế, trong việc đối thoại nhẫn nại với các vị mục tử, chúng có thể trở thành những yếu tố xây dựng cho Giáo Hội hôm nay cũng như Giáo Hội ngày mai.
Anh chị em thân mến, vào một dịp khác rất có ý nghĩa với anh chị em, Đức Gioan Phaolô II đã ký thác cho anh chị em sứ vụ ấy, tôi xin trích lại như sau: ‘hãy đi khắp thế giới để mang sự thật, sự mỹ và an bình là những gì có được trong cuộc hội ngộ với Chúa Kitô Đấng cứu chuộc’.
Cha Giussani đã lấy những lời ấy làm chương trình cho toàn thể phong trào này, và đối với phong trào Hiệp Thông và Giải Phóng thì nó là khởi điểm của một giai đoạn truyền giáo đưa anh chị em đến 80 quốc gia. Hôm nay đây, tôi mời gọi anh chị em hãy tiếp tục tiến bước trên con đường này bằng một đức tin sâu xa được bản thân hóa, sâu xa đâm rễ vào Thân Mình sống động của Chúa Kitô là Giáo Hội, một Giáo Hội bảo đảm tính chất hiện đại của Chúa Giêsu với chúng ta.
Chúng ta hãy kết thúc cuộc gặp gỡ này bằng việc hướng tâm tưởng của chúng ta về Đức Mẹ, khi nguyện kinh Truyền Tin. Như chúng ta biết, Cha Giussani có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Mẹ, một lòng sùng kính được nuôi dưỡng bằng việc kêu cầu ‘Veni Sancte Spiritus, Veni per Mariam’, và bằng việc đọc Thánh Ca của Dante Alighieri kính vị Trinh Nữ này, một bài thánh ca được anh chị em lập lại vào sáng sớm hôm nay.
Chớ gì vị Thánh Nữ Trinh này hỗ trợ anh chị em và giúp anh chị em quảng đại thưa vâng với ý muốn của Thiên Chúa trong hết mọi hoàn cảnh. Các bạn thân mến, các bạn có thể tin tưởng vào việc tôi liên lỉ tưởng nhớ nguyện cầu cho anh chị em, tôi ưu ái ban phép lành cho tất cả các bạn hiện diện nơi đây c ũng như cho toàn thể gia đình thiêng liêng của anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/3/2007
ĐTC Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Tổ Chức Phaolô VI Brescia ngày 3/3/2007 về Đức Thánh Cha Phaolô VI
Anh Chị Em thân mến,
Tôi hân hoan được đón tiếp mỗi một người trong anh chị em là thành phần thuộc về Tiểu Ban Khoa Học cũng như Tiểu Ban Điều Hành thuộc Tổ Chức Phaolô VI, một tổ chức được bảo trợ bởi “Hội Giáo Dục Kitô Giáo” ở Brescia để khuyến khích việc học hỏi đời sống, tư tưởng và hoạt động của v ị Giáo Hoàng bất khả lãng quên này.
Tôi thân ái gửi lời chào đến tất cả anh chị em, trước hết là các vị hồng y hiện diện. Tôi đặc biệt gửi lời chào đến Tiến Sĩ Giuseppe Camadini và xin cám ơn ông về những lời lẽ ngỏ cùng tôi với tư cách là Chủ Tịch cho Tổ Chức của anh chị em.
Tôi cũng gửi lời chào đặc biệt đến Đức Giám Mục Giulio Sanguineti, V ị Chủ Chăn của Giáo Phận là nơi vị Tiền Nhiệm khả kính của tôi được sinh vào trần gian, được lãnh nhận phép rửa và được thụ phong linh mục. Tôi cũng xin cám ơn ngài về tất cả những gì ngài đã thực hiện theo thẩm quyền của mình để nâng đỡ và hỗ trợ cho hoạt động của một Tổ Chức đáng ca ngợi như thế.
Các bạn thân mến, xin cám ơn các bạn về việc trao tặng làm quà cho tôi tất cả mọi ấn bản anh chị em có cho tới nay. Đây là một loạt khổng lồ những tập sách chứng tỏ số lượng đáng kể về công việc anh chị em đã thực hiện trên 25 năm qua.
Như đã nói, tôi đã có dịp được thân quen với những hoạt động của Tổ Chức anh chị em. Tôi đã ca ngợi việc trung thành của nó đối với Huấn Quyền cũng như ý hướng của nó muốn tôn kính vị đại Giáo Hoàng này, vị giáo hoàng có niềm ước vọng tông đồ được anh chị em lấy làm công cuộc của mình trong việc đề cao hoạt động nghiên cứu nghiêm cẩn và những khởi động đầy giá trị về khoa học và về giáo hội.
Tôi cảm thấy liên hệ một cách chặt chẽ và riêng tư với Người Tôi Tớ Chúa Phaolô VI vì việc ngài tin tưởng tôi khi bổ nhiệm tôi làm TGM Munich và Freising vào năm 1977, và sau đó 3 tháng, đã liệt kê tôi vào Hồng Y Đoàn.
Ngài được Đấng Quan Phòng kêu gọi để lèo lái con thuyền Phêrô vượt qua một giai đoạn lịch sử đầy những thách đố và trục trặc.
Khi nghĩ về những năm tháng thuộc Giáo triều của ngài, cần phải nhấn mạnh tới lòng nhiệt thành truyền giáo đã tác động và thúc bách ngài thực hiện những Chuyến Tông Du cho tới tận những quốc gia xa xôi để cho thấy những cử chỉ ngôn sứ có tính cách rất quan trọng về giáo hội, truyền giáo và đại kết.
Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đã đi đến Mảnh Đất Chúa Kitô đã sinh sống và từ đó Thánh Phêrô đã thực hiện cuộc hành trình đến Rôma. Cuộc Viếng Thăm ấy, xẩy ra chỉ 6 tháng sau khi ngài được tuyển chọn làm Vị Mục Tử Tối Cao chăn dắt Dân Chúa, và trong lúc đang diễn ra Công Đồng Chung Vaticanô II, có một ý nghiã hiển nhiên tiêu biểu. Ngài đã tỏ cho Giáo Hội thấy rằng sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội cần phải theo bước chân của Chúa Kitô.
Đó chính là những gì Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tìm cách thực hiện trong khi thi hành thừa tác vụ Phêrô của mình, một thừa tác vụ ngài luôn thi hành cách khôn ngoan và sáng suốt, hoàn toàn trung thành với lệnh truyền của Chúa Kitô.
Thật vậy, cái bí mật nơi hoạt động mục vụ được Đức Phaolô VI thi hành một cách liên lỉ dấn thân, có những lúc phải chấp nhận những quyết định khó khăn và làm dân chúng không thích, chính là ở chỗ ngài mến yêu Chúa Kitô, một tình yêu sống động qua những lời cảm kích được tỏ ra nơi tất cả mọi giáo huấn của ngài. Linh hồn của một vị Mục Tử như ngài hoàn toàn được nung náu bằng lòng nhiệt thành truyền giáo, được nuôi dưỡng bằng một ước vọng chân thành muốn đối thoại với nhân loại. Lời mời gọi ngôn sứ của ngài, đôi khi được lập lại, hãy canh tân thế giới đang bị quằn quại bởi những nỗi lo âu và bạo lực bằng một nền ‘văn minh yêu thương’ xuất phát từ việc hoàn toàn ký thác bản thân mình cho Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc nhân trần.
Làm sao tôi quên được, chẳng hạn, những lời cả tôi cũng đã được nghe thấy ở Đền Thờ Vatican, khi tôi với tư cách là một chuyên viên tham dự Công Đồng Chung Vaticanô II, vào lúc mở màn cho Khóa Họp Thứ Hai hôm 29/9/1963?
Đức Phaolô VI đã hết sức cảm kích lên tiếng nói và tôi vẫn còn có thể nghe thấy tiếng của ngài rằng: “Chúa Kitô, nguyên lý của chúng ta. Chúa Kitô là Đường Lối của chúng ta và là Hướng Dẫn Viên của chúng ta! Chúa Kitô là niềm hy vọng của chúng ta và là đích điểm của chúng ta… Không có một ánh sáng nào khác chiếu soi cuộc gặp gỡ này ngoài ánh sáng của Chúa Kitô, Ánh Sáng thế gian; không có một sự thật n ào khác ngoài những lời của Chúa Kitô, vị Sư Phụ duy nhất của chúng ta, khiến lòng chúng ta phải quan tâm; không có một hứng khởi nào khác hướng dẫn chúng ta ngoài ước vọng tuyệt đối muốn trung thành với Người” (Các Giáo Huấn của Đức Phaolô VI, I [1963], 170-171). Cho tới khi ngài thở hơi cuối cùng, tư tưởng của ngài, nghị lực của ngài và hành động của ngài vẫn là những gì cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội.
Tên tuổi của vị Giáo Hoàng này, một vị giáo hoàng cao cả mà công luận đã hiểu được vào lúc ngài băng hà, tiếp tục, tiếp tục gắn liền đặc biệt với Công Đồng Chung Vaticanô II. Nếu chính Đức Gioan XXIII đã tổ chức và khai mạc Công Đồng này thì Đức Phaolô VI là vì thừa kế của ngài đã đưa công đồng này đến chỗ hoàn thành bằng một bàn tay chuyên môn, khôn ngoan và vững chắc. Việc quản trị Giáo Hội trong giai đoạn hậu công đồng này cũng đòi hỏi nỗ lực của Đức Giáo Hoàng Montini.
Ngay cả khi ngài phải chịu khổ đau và đôi khi chịu những cuộc tấn công dữ dội, ngài vẫn không để mình bị chi phối bởi việc hiểu lầm cũng như bởi việc phê bình chỉ trích, trái lại, trong mọi trường hợp, ngài vẫn là một con người lèo lái vững vàng và khôn ngoan của con thuyền Phêrô.
Ngày tháng trôi qua, tầm quan trọng của Giáo Triều ngài đối với Giáo Hội cũng như đối với thế giới, cùng với giá trị nơi Huấn Quyền cao cả của ngài đã là những gì tác động những vị Thừa Kế của ngài và cả tôi cũng tiếp tục qui chiếu, tất cả càng trở nên sáng tỏ hơn bao giờ hết.
Bởi thế hôm nay tôi muốn lợi dụng dịp này để tỏ lòng tôn kính ngài, cũng như tôi khuyến khích anh chị em, hỡi các bạn thân mến, hãy kiên trì với hoạt động được anh chị em khởi công ít lâu trước đây.
Sử dụng lời huấn dụ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngỏ cùng anh chị em, tôi xin hân hoan lập lại với anh chị em rằng: “Hãy ưu ái học hỏi Đức Phaolô VI… Hãy học hỏi ngài một cách thấu đáo theo khoa học… Hãy học hỏi ngài với niềm xác tín là gia sản thiêng liêng của ngài là những gì đang tiếp tục làm phong phú Giáo Hội và có thể dưỡng nuôi lương tâm của con người ngày nay, thành phần rất cần đến ‘những lời sự sống đời đời’” (Address to the Scientific and the Executive Committee of the Paul VI Institute, 26 January 1980; L'Osservatore Romano English edition, 4 February, p. 15).
Anh chị
em thân mến, một lần nữa cám ơn anh chị em về việc viếng thăm này của anh chị em;
tôi hứa nhớ đến anh chị em trong lời nguyện cầu và cảm mến ban phép lành cho anh
chị em, gia đình anh chị em và tất cả mọi dự án của Tổ Chức Phaolô VI ở Brescia.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của
Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/march/documents/hf_ben-xvi_spe_20070303_ist-paolo-vi_en.html
‘Lương tâm Kitô hữu ủng hộ quyền sống’
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Tham Dự Viên Tổng Nghị của Học Viện Tòa Thánh về Sự Sống Thứ Bảy 24/2/2007 tại Sảnh Đường Clementine
Anh Chị Em thân mến,
Tôi lấy làm vui mừng được tiếp các Phần Tử thuộc Học Viện Tòa Thánh về Sự Sống trong buổi Triều Kiến này, được diễn ra vào dịp Tổng Nghị lần thứ 13, cũng như những ai tham dự vào Hội Nghị này về đề tài: ‘Lương tâm Kitô hữu ủng hộ quyền sống’.
Tôi chào ĐHY Javier Lozano Barragán, các vị Tổng Giám Mục và Giám Mục hiện diện, chư huynh linh mục, các thuyết trình viên Hội Nghị cùng toàn thể anh chị em, qui tụ lại từ các quốc gia khác nhau. Tôi đặc biệt chào ĐTGM Elio Sgreccia, Chủ Tịch Học Viện Tòa Thánh về Sự Sống, vị tôi xin cám ơn về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ cùng tôi cũng như về hoạt động ngài thực hiện cùng với vị Phó Chủ Tịch, vị Chưởng Ấn và Hội Đồng Giám Đốc, thành phần thực thi những công việc tế nhị và to lớn của Học Viện Tòa Thánh này.
Đề tài anh chị em kéo chú ý của những tham dự viên, và vì thế kéo chú ý của Cộng Đồng Giáo Hội cũng như của công luận, là một đề tài quan trọng: lương tâm Kitô hữu thật sự có một nhu cầu nội tại trong việc nuôi dưỡng và kiên cường chính mình bằng muôn vàn động cơ sâu xa đang hoạt động cho quyền sống.
Nó là một quyền lợi cần phải được tất cả mọi người hỗ trợ duy trì, vì nó là quyền lợi nồng cốt đầu tiên của tất cả mọi quyền lợi con người. Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống đã mạnh mẽ khẳng định quyền lợi này: ‘Cho dù ở giữa những khó khăn và bất ổn, hết mọi người thành tâm cởi mở trước sự thật và sự thiện đều có thể, nhờ ánh sáng của lý trí cùng với tác động âm thầm của ân sủng, tiến đến chỗ nhìn nhận nơi lề luật tự nhiên được ghi khắc trong tâm can (x Rm 2:14-15) cái giá trị linh thánh của sự sống con người từ khi nó được bắt đầu cho tới khi nó kết thúc, và đều có thể xác nhận quyền lợi của hết mọi người trong việc có được sự thiện nền tảng ấy được tôn trọng cho tới mức tối đa. Hết mọi cộng đồng con người và chính cộng đồng chính trị là những cộng đồng được xây dựng trên việc nhìn nhận về quyền sống ấy’ (đoạn 2).
Cũng bức thông điệp này còn nhắc lại rằng: “thành phần tín hữu tin tưởng vào Chúa Kitô cần phải bênh vực và cổ võ quyền lợi này, nhận thức như họ thuộc về cái sự thật tuyệt vời được Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc nhở: ‘Bằng việc Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã liên kết mình một cách nào đó với hết mọi người’ (Vui Mừng và Hy Vọng, 22). Biến cố cứu độ ấy tỏ cho nhân loại thấy chẳng những tình yêu vô biên của Thiên Chúa là Đấng ‘đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của mình’ (Jn 3:16), mà còn tỏ cho thấy giá trị khôn sánh của hết mọi người nữa’ (ibid).
Bởi thế, Kitô hữu tiếp tục được kêu gọi tỉnh táo hơn bao giờ hết để đối đầu với nhiều cuộc tấn công mà quyền sống phải chịu. Về điều này họ biết rằng họ có thể dựa vào những động lực sâu xa đâm rễ nơi luật tự nhiên và vì thế nó được chia sẻ bởi mọi người sống lương tâm chân chính.
Theo chiều kích này thì trước hết, sau khi ban hành Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, đã có nhiều điều được thực hiện để làm cho vấn đề này được ý thức hơn trong cộng đồng Kitô Giáo cũng như nơi xã hội dân sự, thế nhưng, cũng phải công nhận là các cuộc tấn công quyền sống khắp thế giới vẫn lan rộng và gia tăng, cũng như mặc lấy những hình thức mới.
Những áp lực trong việc hợp thức hóa vấn đề phá thai là những gì đang gia tăng ở các quốc gia Mỹ Châu Latinh cũng như ở các quốc gia đang phát tiển, cùng với việc sử dụng vấn đề giải phóng của các hình thức mới trong việc phá thai bằng hóa chất, dưới chiêu bài bảo toàn sức khỏe sản sinh: những chính sách kiểm soát dân số đang trên đà vươn lên, bất chấp chúng đã được công nhận là nguy hiểm về lãnh vực kinh tế và xã hội.
Đồng thời còn xẩy ra tình trạng hào hứng vào việc nghiên cứu vấn đề kỹ thuật sinh chất cho tinh luyện hơn đang gia tăng ở các quốc gia phát triển để tạo nên những phương pháp tinh vi khó thấy và tăng cấp sự sống, cho dù là cuộc nghiên cứu mập mờ để tạo nên ‘một đức nhỏ toàn vẹn’, bằng việc truyền bá việc truyền sinh nhân tạo và những hình thức định bệnh khác nhau nhắm tới chỗ bảo đẻm được việc chọn lựa tốt đẹp.
Một làn sóng mới của những thứ cải sinh tạo giống được chấp nhận nhân danh những gì được cho là phúc hạnh của cá nhân, và các luật lệ được tung ra để hợp thức hóa vấn đề triệt sinh an tử đặc biệt trong một thế giới tiến triển về kinh tế này.
Tất cả những điều ấy xẩy ra thì ngược lại cũng có những nỗ lực đang gia tăng trong việc hợp thức hóa mối liên kết được coi như là một thứ thay thế cho hôn nhân và chặn đứng vấn đề sinh sản tự nhiên.
Trong những trường hợp ấy, lương tâm, đôi khi bị vây bủa bởi tập thể truyền thông mạnh liệt, không đủ cảnh giác đối với tính cách trầm trọng của vấn đề đang diễn ra, và quyền lực của thành phần mạnh n hất làm yếu kém đi và dường như làm tê liệt ngay cả con người thành tâm thiện chí. Đó là lý do cần phải kêu gọi lương tâm, nhất là lương tâm Kitô hữu. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nói với chúng ta rằng: “Lương tâm là phán đoán của lý trí nhờ đó con người nhận ra tính chất của luân lý nơi một hành động cụ thể được họ sắp sửa thi hành, đang trong tiến trình thi hành hay đã hoàn tất. Trong tất cả những gì họ nói và làm, con người bắt buộc phải trung thành theo những gì họ biết là chân chính và đúng đắn” (số 1778).
Từ định nghĩa này mới thấy rằng lương tâm luân lý, để có thể phán đoán đúng đắn tác hành của con người, trước hết cần phải căn cứ vào nền tảng vững chắc của đức tin, tức là c ần phải được soi sáng để biết được giá trị chân thực của các hành động cùng với các qui chuẩn vững chắc để thẩm định. Bởi thế, cần phải làm sao để có thể phân biệt được lành với dữ, thậm chí ngay cả lúc mà môi trường xã hội, văn hóa đa dạng và những thứ khuynh hướng đầy phỉnh gạt không giúp cho nó làm như vậy.
Việc huấn luyện c ủa một lương tâm chân thực, vì nó được bắt nguồn từ sự thật, và công chính, vì nó cương quyết theo các thứ đòi hòi không mâu thuẫn, không phản bội và không hòa hoãn của nó, là một việc thực hiện khó khăn và khéo léo ngày nay, thế nhưng vẫn là những gì bất khả châm chước. Tiếc thay, nhiều yếu tố đang làm ngăn trở cho việc thực hiện này. Trước hết, trong giai đoạn tục hóa hiện nay, được gọi là giai đoạn hậu tân tiến và được đánh dấu bằng những hình thức nhân nhượng ba phải, một giai đoạn chẳng những đang gia tăng việc loại trừ phủ nhận truyền thống Kitô giáo mà còn ngờ vực cả khả năng của lý trí trong việc nhận thức sự thật, cũng đang làm cho chúng ta tách khỏi cái hương vị của việc suy tư phản tỉnh.
Theo một số người thì để lương tâm của cá nhân con người không bị thiên lệch thì nó cần phải thoát khỏi những thứ qui chiếu theo truyền thống lẫn những thứ qui chiếu theo lý trí của con người.
Bởi vậy mà lương tâm, như một tác động của lý trí nhắm tới sự thật của sự vật, không còn chiếu sáng nữa mà trở thành một màn ảnh thuần túy để xã hội của truyền thông chiếu lên những hình ảnh cũng như những bốc đồng ngược ngạo nhất.
Người ta cần phải được tái giáo dục về lòng mong muốn trong việc biết sự thật chân chính, trong việc bênh vực quyền tự do chọn lựa của mình liên quan tới hành vi cử chỉ hỗn độn cũng như tới những thứ quyến dũ được tuyên truyền, trong việc nuôi dưỡng đam mê trước vẻ đẹp luân lý và một lương tâm trong sáng. Đó là nhiệm vụ tinh tế của cha mẹ và các nhà giáo dục là thành phần giúp họ; và đó là nhiệm vụ của cộng đồng Kitô giáo đối với tín hữu của mình.
Về vấn đề lương tâm Kitô hữu, việc nó tăng trưởng và việc nuôi dưỡng nó, người ta không được mãn nguyện với sự liên hệ thoáng qua về những sự thật chính yếu của đức tin còn đang ở trong tình trạng non dại, mà là một chương trình bổ sung cần thiết cho các giai đoạn khác nhau của đời sống, khi cởi mở tâm trí để đón nhận những nhiệm vụ cốt yếu là nền tảng cho đời sống của cá nhân cũng như của cộng đồng.
Chỉ có thế mới có thể sửa soạn cho giới trẻ thấu triệt được các giá trị của sự sống, của yêu thương, của hôn nhân và của gia đình mà thôi. Chỉ có thế họ mới có thể tiến tới chỗ cảm nhận vẻ đẹp và tính cách linh thánh của yêu thương, của niềm vui và của trách nhiệm làm cha mẹ và làm thành phần hợp tác của Thiên Chúa trong việc trao ban sự sống.
Thiếu vắng cuộc huấn luyện liên tục và chất lượng này, thì khả năng phán đoán những trục trặc gây ra bởi ngành y khoa sinh học về các lãnh vực tính dục, sự sống mới được hạ sinh, việc sinh sản, cũng như trong cả cách thức đối xử cùng chăm sóc cho các bệnh nhân và những phần tử yếu kém trong xã hội, thậm chí sẽ trở thành những gì rắc rối hơn nữa.
Chắn chắn là cần phải nói về các qui chuẩn luân lý liên quan tới những vấn đề này với thành phần chuyên nghiệp, với các vị bác sĩ và luật sư, để giúp họ có được một phán đoán khả chấp theo lương tâm, và nếu cần, cũng có được cả một lương tâm biết can đảm chống đối, thế nhưng, ở lãnh vực căn bản là gia đình và các cộng đồng giáo xứ, cũng cần phải thực hiện tiến trình huấn luyện cho giới trẻ và người lớn nữa. Về khía cạnh này, đi liền với việc huấn luyện Kitô Giáo, một việc huấn luyện có mục đích là để nhận biết Con Người Chúa Kitô, Lời của Người và các Bí Tích của Người theo tiến trình dạy đức tin cho trẻ em và thanh thiếu niên, người ta cũng cần phải nhất trí phổ biến việc diễn giải về các thứ giá trị luân lý liên quan tới thân xác, tính dục, tình yêu thương của con người, việc sản sinh, sự tôn trọng sự sống ở mọi lúc, đồng thời, căn cứ vào những lý do vững vàng và xác đáng, vạch ra cho thấy hành vi cử chỉ phản lại với những thứ giá trị căn bản ấy.
Trong lãnh vực đặc biệt này, công việc của các vị linh mục cần phải được hỗ trợ một cách thích hợp bởi việc dấn thân của thành phần giáo dục viên giáo dân, cũng như các chuyên viên, chuyên tâm với nhiệm vụ hướng dẫn thực tại giáo hội bằng kiến thức được đức tin soi dẫn của họ.
Bởi thế, tôi xin Chúa gửi đến nơi anh chị em, hỡi anh chị em thân mến, cũng như nơi những ai dấn thân cho khoa học, cho y khoa, cho luật pháp và cho chính trị, những chứng nhân được trang bị với những lương tâm chân thực và công chính để bênh vực và cổ võ ‘chân lý rạng ngời’ và bảo trì tặng ân và mầu nhiệm sự sống.
Tôi tin tưởng vào sự giúp đỡ của anh chị em là thánh phần chuyên nghiệp, triết gia, thần học gia, khoa học gia và bác sĩ thân thương nhất. Trong một xã hội có những lúc chao đảo và bạo động, với những tính chất về văn hóa của anh chị em, bằng việc giảng dạy và gương sáng, anh chị em có thể góp phần vào việc làm thức tỉnh nơi nhiều tâm can tiếng nói sống động và rõ ràng của lương tâm.
Công Đồng Chung Vaticanô II dạy chúng ta rằng ‘con người có được nơi tâm can của mình một thứ lề luật được Thiên Chúa ghi khắc. Phẩm vị của họ là ở chỗ tuân giữ lề luật này, và họ sẽ được phân xử căn cứ vào đó’ (Gaudium et Spes, n. 16). Công Đồng này đã cống hiến những điều hướng dẫn khôn ngoan nhờ đó ‘tín hữu cần phải biết phần biệt một cách cẩn thận những quyền lợi và nhiệm vụ mà họ có như phần tử thuộc về Giáo Hội, cũng như những quyền lợi và nghĩa vụ của họ nhữ là phần tử của xã hội loài người’, và ‘họ sẽ nỗ lực để liên kết cả hai thứ lại với nhau một cách hòa hợp, nhớ rằng nơi hết mọi công việc trần thế họ được hướng dẫn bởi lương tâm Kitô giáo, bởi vì bất cứ một hoạt động nào của con người, cho dù là công việc trần thế chăng nữa, lại được phép thoát khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa” (Lumen Gentium, 36).
Chính vì lý do này mà Công Đồng đã khuyên dụ thành phần tín hữu giáo dân hãy đón nhận ‘những gì được các vị Mục Tử quyết định như thày dạy và hướng đạo viên của Giáo Hội’, và khuyên nhủ là ‘các vị Chủ Chiên… cần phải công nhận và cổ võ phẩm giá cùng trách nhiệm của thành phần giáo dân trong giáo hội. Các vị cần phải sẵn sàng lợi dụng lời khuyên khôn ngoan của họ’, rồi kết luận rằng ‘có bất cứ (nhiều) thiện ích nào cho Giáo Hội đều mong được xuất phát từ mối liên hệ thân thuộc này giữa thành phần giáo dân và Chủ Chăn’ (x Lumen Gentium, 37).
Khi giá tri về sự sống con người bị nguy hiểm thì mối hòa hợp này giữa phận vụ huấn quyền và thành phần giáo dân dấn thân trở thành những gì hết sức quan trọng: sự sống là sự thiện đệ nhất được lãnh nhận từ Thiên Chúa và là nền tảng cho tất cả những gì khác; để bảo đảm quyền sống cho tất cả mọi người, cũng thế tất cả mọi người đều có nhiệm vụ xây dựng tương lai của nhân loại. Tầm quan trọng của cuộc họp học hỏi này của anh chị em cũng xuất phát từ quan điểm này.
Tôi ký thác công việc này và các thàn h quả của nó cho việc chuyển cầu của Trinh Nữ Maria, v ị được truyền thống Kitô Giáo chào kính như là ‘Mẹ của tất cả sinh sinh’. Chớ gì Mẹ hỗ trợ và hướng dẫn an h chị em! Để chứng nhận niềm ước ao này, tôi hân hoan ban cho tất cả anh chị em, cho gia đình của anh chị em và những cộng tác viên của anh chị em Phép Lành Tòa Thánh.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
ĐTC BĐXVI – Huấn Từ ngỏ cùng thành phần tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Luật Tự Nhiên được Đại Học Đường Lateranô của Tòa Thánh ở Rôma tổ chức tại Sảnh Đường Clementine ngày Thứ Hai 12/2/2007
Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Vị Giáo Sư trọng kính,
Quí Vị Nữ Nam,
Tôi đặc biệt hân hoan tiếp đón anh chị em vào lúc mở đầu cho công việc Hội Nghị được anh chị em tham gia trong những ngày tới đây về đề tài khá quan trọng cho thời điểm lịch sử hiện nay, tức là đề tài về luật luân lý tự nhiên.
Tôi cám ơn ĐGM Rino Fisichella, Viện Trưởng Đại Học Đường Lateran của Tòa Thánh, về những cảm tình ngài bày tỏ trong bài diễn văn mở đầu cho cuộc họp này.
Thật sự là chúng ta đang sống trong một thời điểm phát triển phi thường nơi khả năng của con người trong việc giải mã những luật lệ cùng những cấu trúc của vật chất, cũng như nơi việc con người nhờ đó làm chủ thiên nhiên tạo vật.
Tất cả chúng ta đều thấy được những thắng lợi lớn lao trong việc tiến bộ này, và chúng ta càng ngày càng thấy một cách rõ ràng hơn nữa mối đe dọa của việc hủy hoại thiên nhiên tạo vật do chúng ta gây ra.
Còn có một thứ nguy hiểm ít hiển nhiên hơn nhưng cũng không kém phần lo ngại, đó là cái phương pháp cho phép chúng ta có thể biết được một cách sâu xa hơn nữa những cấu trúc hợp lý của vật chất lại là phương pháp làm cho chúng ta ít nhận ra hơn bao giờ hết nguồn mạch Lý Trí sáng tạo của tính cách hợp lý này. Cái khả năng thấy được những luật lệ của hữu thể về vật chất đang là những gì làm cho chúng ta không thể thấy được cái ý nghĩa về đạo lý được chất chứa nơi hữu thể, một ý nghĩa được truyền thống gọi là lex naturalis, là luật luân lý tự nhiên.
Đối với nhiều người ngày nay thì chữ này hầu như là những gì không thể nào hiểu nổi vì quan niệm về thiên nhiên không còn tính cách siêu hình học mà chỉ còn duy tính cách thực nghiệm. Sự kiện thiên nhiên tạo vật tự mình không còn một ý nghĩa luân lý sáng tỏ nào nữa đang là những gì tạo nên một cảm quan lệch lạc khiến cho những chọn lựa của cuộc sống hằng ngày trở thành nhất thời và bấp bênh.
Dĩ nhiên là tình trạng lệch lạc này đặc biệt ảnh hưởng tới các thế hệ trẻ trung, thành phần cần phải có được những chọn lựa nền tảng cho đời sống của mình trong bối cảnh ấy.
Chính vì chiều hướng tranh luận này mà càng phải cần suy tư về đề tài luật tự nhiên và tái nhận thức được sự thật của nó hiển nhiên của nó đối với chung tất cả mọi người. Thứ luật được nói tới đây, thứ luật được Thánh Tông Đồ Phaolô nói tới (x Rm 2:14-15), là những gì được ghi khắc nơi tâm can của con người, và vì thế có thể biết được, thậm chí ngay cả cho tới ngày nay.
Nguyên tắc thứ nhất và tổng quát của luật này đó là ‘làm lành lánh dữ’. Đó là một sự thật tự mình trực tiếp chi phối hết mọi người bởi tính cách hiển nhiên của nó. Từ nguyên tắc thứ nhất và tổng quát này mới xuất phát ra những nguyên tắc đặc biệt khác liên quan tới luân thường đạo lý về các thứ quyền lợi và nghĩa vụ của hết mọi người.
Chẳng hạn nguyên tắc tôn trọng sự sống con người từ khi nó được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi, vì sự thiện sự sống này không phải là tài sản của con người mà là tặng ân nhưng không của Thiên Chúa. Ngoài ra, đó còn là nhiệm vụ cần phải tìm kiếm sự thật được cho là những gì cần thiết đối với hết mọi cuộc trưởng thành đích thực của con người.
Một áp dụng quan trọng khác về đề tài này đó là vấn đề tự do. Tuy nhiên, nếu chú ý tới sự kiện tự do của con người bao giờ cũng là một thứ tự do được chia sẻ với người khác, thì rõ ràng là việc hòa hợp của tự do chỉ có thể tìm thấy nơi những gì chung cho tất cả mọi người, đó là sự thật về con người, là ý nghĩa sâu xa về chính hữu thể, là chính luật luân lý tự nhiên – lex naturalis.
Và chúng ta làm sao lại không đề cập tới, một đàng là cái đòi hỏi của công lý được thể hiện nơi việc cho quyền đặc hữu unicuique suum, đàng khác, là niềm mong đợi về tình liên đới hằng nung nấu nơi hết mọi người, nhất là khi họ nghèo khổ, niềm hy vọng họ được thành phần may mắn hơn giúp đỡ?
Những giá trị ấy cho thấy những qui chuẩn bất khả hủy hoại và liên đới không lệ thuộc vào ý muốn của nhà lập pháp, thậm chí không lệ thuộc vào những gì Quốc Gia có thể và cần phải tỏ ra đồng ý mới được. Chúng thật sự là những qui chuẩn có trước bất cứ một luật lệ nào của loài người, bởi thế, chúng không tùy thuộc vào việc điều chỉnh của bất cứ ai. Luật lệ tự nhiên, cùng với các thứ quyền lợi căn bản, là nguồn mạch xuất phát ra những trách nhiệm về luân thường đạo lý, một nguồn mạch chỉ đáng được tôn trọng.
Nơi đạo đức học và triết lý về Luật Pháp ngày nay đang lan tràn những thứ đòi hỏi theo chiều hướng thực chứng về pháp lý. Bởi thế, pháp luật thường trở thành một thứ dung hợp thuần túy giữa các khuynh hướng khác nhau, ở chỗ nó tìm cách biến thành luật lệ những khuynh hướng hay ước muốn riêng tư tương phản với những nhiệm vụ xuất phát từ trách nhiệm xã hội.
Trong tình trạng này cần phải nhắc lại rằng hết mọi phương pháp học về pháp lý, dù ở lãnh vực địa phương hay quốc tế, vấn đề trên hết đó là việc nó cần phải rút lấy tính cách hợp lý của mình từ gốc rễ của nó nơi luật tự nhiên, nơi ý nghĩa về đạo lý được ghi khắc ở hữu thể con người thực sự.
Luật tự nhiên chắc chắn là bức tường thành vững chắc duy nhất chống lại thứ quyền lực độc đoán hay việc lừa đảo của vấn đề mạo dụng theo ý hệ. Kiến thức về thứ lề luật được ghi khắc nơi tâm can này là những gì tăng trưởng theo tầm mức tiến bộ của lương tâm về luân lý.
Nhiệm vụ đầu tiên của tất cả mọi người, đặc biệt của những ai có trách nhiệm chung, bởi thế cần phải cổ võ sự trưởng thành về thứ lương tâm luân lý ấy. Đó là thứ tiến bộ căn bản mà nếu thiếu hụt thì tất cả mọi thứ tiến bộ khác đều tỏ ra bất chân thực.
Lề luật được ghi khắn nơi bản tính của chúng ta là bảo đảm thực sự cho hết mọi người để có thể được sống tự do và được tôn trọng theo phẩm giá của mình.
Những gì đã được nói cho tới đây có những áp dụng rất cụ thể nếu người ta nghĩ tới gia đình, tức là tới ‘mối thân hữu sâu xa của sự sống và của một tình yêu làm nên đời sống hôn nhân… được Đấng Hóa Công thiết lập và được Ngài phú bẩm bằng những thứ lề luật xứng hợp của nó’ (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, 48).
Về vấn đề này, Công Đồng Chung Vaticanô II đã thích thuận nhắc lại rằng cơ cấu hôn nhân là những gì đã được ‘ấn định bởi lề luật thần linh’, bởi thế, ‘mối liên hệ linh thánh này … vì thiện ích của người phối ngẫu, của con cái và của xã hội không còn lệ thuộc vào nguyên quyết định của loài người’ (cùng nguồn vừa dẫn).
Bởi vậy, không một thứ luật lệ nào do con người làm ra có thể qua mặt qui chuẩn ấy của Đấng Hóa Công, bằng không xã hội sẽ bị tổn thương thê thảm nơi những gì làm nên cái nền tảng căn bản của mình. Bỏ qua cái qui chuẩn ấy nghĩa là làm cho gia đình trở thành suy yếu, gây bất lợi cho trẻ em và khiến cho tương lai của xã hội trở thành bấp bênh bất ổn.
Sau hết, tôi cảm thấy có nhiệm vụ cần phải khẳng định một lần nữa là không phải tất cả những gì khả dĩ theo khoa học đều hợp lý theo đạo lý. Khi biến con người thành một đối tượng cho việc thí nghiệm, kỹ thuật đi đến chỗ phó mặc thành phần chủ thể yếu kém cho việc phân xử của thành phần mạnh hơn. Việc hoàn toàn nhắm mắt phó mình cho kỹ thuật như thể nó là một bảo đảm duy nhất cho vấn đề tiến bộ, mà không đồng thời cống hiến một thứ luật lệ về đạo lý là nền tảng sâu xa của cùng một thực tại đang được nghiên cứu và phát triển, thì chẳng khác gì như tỏ ra bạo động với bản tính của con người, gây hậu quả tàn phá cho tất cả mọi người.
Việc đóng góp của các khoa học gia là những gì có một tầm vóc quan trọng chính yếu. Cùng với việc tiến bộ nơi năng lực của chúng ta trong việc làm chủ thiên nhiên tạo vật, các khoa học gia cũng cần phải góp phần vào việc giúp hiểu được chiều sâu của trách nhiệm chúng ta đối với con người cũng như đối với thiên nhiên tạo vật được ký thác cho họ.
Theo chiều hướng ấy, cần phải phát triển một cuộc đối thoại tốt đẹp giữa thành phần tín hữu và vô tín ngưỡng; giữa các thần học gia, triết gia, pháp lý gia và khoa học gia, thành phần có thể cống hiến cả cho pháp luật nữa chất liệu quí báu cho đời sống cá nhân cũng như xã hội.
Thế nên, tôi hy vọng những ngày học hỏi này sẽ mang lai chẳng những một cảm thức sâu xa hơn nơi thành phần thức giả liên quan tới luật tự nhiên về luân lý, mà còn giúp vào việc tạo nên những điều kiện nhờ đó đề tài này có thể tiến tới chỗ được nhận thức hoàn toàn hơn về cái giá trị bất khả coi thường mà luật luân lý tự nhiên có được đối với một thứ tiến bộ thực sự và liên kết giữa đời sống riêng tư với trật tự xã hội.
Với ước vọng này, tôi hứa nguyện cầu cho anh chị em cũng như cho việc dấn thân về hàn lâm của anh chị em trong vấn đề nghiên cứu và suy tư, và tôi ưu ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả anh chị em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của
Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20070212_pul_en.html
“Hãy luôn chống đỡ sự thật về con người”
ĐTC BĐXVI – Huấn Từ ngỏ cùng thành phần Đại Biểu Học Viện Các Khoa Học Về Luân Lý Và Chính Trị Ở Balê ngày Thứ Bảy 10/2/2007
Ông Bí Thư Thường Trực,
Đức Hồng Y,
Quí Bạn Hàn Lâm,
Quí Vị Nữ Nam,
Với niềm
hân hoan, hôm nay tôi được đón tiếp anh chị em là những phần tử thuộc Học Viện
Các Khoa Học Về Luân Lý Và Chính Trị. Trước hết, tôi xin cám ơn Ông Michel
Albert, vị Bí Thư Thường Trực, về những lời lẽ ông đã bày tỏ những cảm tình của
phái đoàn đại biểu của anh chị em đây, cũng như về cái huy chương nhắc nhở về
việc tôi gia nhập vào Tổ Chức cao quí của anh chị em như là một Phần Tử Thân Hữu
Ngoại Quốc.
Học Viện Các Khoa Học Về Luân Lý Và Chính Trị là một nơi trao đổi và tranh luận để chia sẻ những tâm tưởng trong việc giúp đỡ cho tất cả mọi người công dân cũng như các nhà lập pháp ‘tìm được những hình thức tổ chức chính trị thuận lợi nhất cho công ích cũng như cho việc phát triển của cá nhân con người’.
Thật vậy, những chia sẻ và những hoạt động của các Thẩm Quyền cũng như của thành phần công dân cần phải nhắm tới 2 yếu tố, đó là việc tôn trọng mỗi một con người cũng như việc tìm cầu công ích.
Trong thế giới ngày nay, hơn bao giờ hết, cần phải mời gọi những người đồng thời của chúng ta chú trọng lại hai yếu tố này. Thật thế, việc phát triển của chủ nghĩa chủ quan, một chủ nghĩa làm cho mỗi người hướng chiều về việc coi mình như là cứ điểm đối chiếu duy nhất và chủ trương rằng những gì họ nghĩ đều có tính chất chân thật, đang kêu gọi chúng ta hãy đào luyện lương tâm theo các giá trị nồng cốt bất khả coi thường kẻo đẩy cả con người lẫn xã hội tới chỗ nguy hiểm, cũng như trên những qui chuẩn khách quan cho những quyết định đưa đến hành động theo lý trí.
Như tôi đã nhấn mạnh trong Hội Nghị của tôi Về Tân Ước được tổ chức trước Học Viện của anh chị em năm 1995, con người là ‘một hữu thể liên hệ theo cấu trúc’, được kêu gọi để coi mình có trách nhiệm hơn bao giờ hết với anh chị em đồng loại của mình.
Câu hỏi Thiên Chúa đã đặt ra từ ngay ở đọan Thánh Kinh đầu tiên cần phải liên lỉ vang vọng tron g tâm can của hết mọi người, đó là vấn nạn ‘ngươi đã làm gì (cho)… người anh em của người?’.
Cảm quan về tình huynh đệ và đoàn kết cũng như cảm quan về công ích là những gì được căn cứ vào việc ân cần tỏ ra tôn trọng anh em mình cũng như cơ cấu tổ chức của xã hội, giành cho mọi người có chỗ đứng để họ có thể sống cách xứng đáng, có được một mái nhà cùng với những gì cần thiết cho cuộc sống của họ và cuộc sống của gia đình họ có trách nhiệm.
Theo tinh thần ấy người ta cần phải hiểu được bản kiến nghị được anh chị em chấp thuận vào Tháng 10 vừa qua liên quan tới các quyền lợi của con người cùng với quyền tự do phát biểu, những gì thuộc về các quyền lợi căn bản, những gì cần phải thận trọng không bao giờ được coi thường phẩm vị căn bản của con người cũng như của nhóm người và cần phải tôn trọng các niềm tin tưởng về đạo giáo của họ.
Xin cho tôi được nhắc lại cùng anh chị em hình ảnh về Andrei Dimitrijevitch Sakharov, người tôi đã thừa kế ở Học Viện này. Con người ngoại lệ này nhắc nhở chúng ta rằng, trong đời sống riêng cũng như chung, cần phải tỏ ra can đảm để nói lên sự thật và theo đuổi sự thật, để thoát khỏi cái thế giới chung quanh thường áp đặt quan điểm của nó và hành vi cử chỉ cần phải tán thành.
Tự do thật là ở chỗ tiến bước theo đường lối của chân lý theo ơn gọi của mình, nhận biết rằng mỗi một người cần phải trả lẽ về đời sống của mình trước Đấng Hóa Công và Đấng Cứu Thế.
Chúng ta cần phải biết làm cách nào để đề ra cho giới trẻ một con đường tương tự, nhắc n hở họ rằng vấn đề phát triển không phải là những gì với bất cứ giá nào, và kêu gọi họ đừng chiều theo mọi xu hướng được bày ra cho họ. Nhờ đó họ mới có thể can đảm và vững vàng nhận ra đường lối tự do và hạnh phúc, một đường lối cần phải hoàn tất một số đòi hỏi của nỗ lực, của hy sinh và của việc từ bỏ cần thiết để tác hành một cách tốt đẹp.
Một trong những thách đố cho thành phần đương thời của chúng ta, nhất là cho giới trẻ, là ở chỗ không chấp nhận sống theo bề ngoài, theo ngoại diện, mà là theo sự tiến bộ của đời sống nội tâm, một môi trường liên kết hữu thể và hành động, một nơi chốn nhận thức được phẩm vị của chúng ta là những người con trai con gái của Thiên Chúa được kêu gọi sống tự do, không tách mình khỏi nguồn sự sống mà là vẫn gắn liền với nó.
Điều làm cho tâm can con người cảm thấy hân hoan đó là việc họ nhận thấy mình là một người con trai hay con gái của Thiên Chúa; đó là một đời sống tuyệt vời và tốt lành dưới ánh mắt của Thiên Chúa, vì chúng cũng là những cuộc chiến thắng đạt được trên sự dữ và chống lại gian dối. Bằng việc giúp cho mỗi người nhận thức rằng đời sống có một ý nghĩa và họ có trách nhiệm đối với nó, là chúng ta mở đường tiến tới chỗ trưởng thành cho con người cũng như tiến tới một nhân loại hòa hợp trong việc tìm kiếm công ích.
Nhà trí thức Nga Sakharov là một thí dụ điển hình về vấn đề này; trong khi quyền tự do bên ngoài của ông ta bị trở ngại trong thời Cộng Sản, thì cái tự do nội tại của ông, một thứ tự do không ai có thể đụng tới được, đã cho phép họ mạnh mẽ lên tiếng bênh vực thành phần đồng chí của ông nhân danh công ích.
Ngày nay con người cần phải đừng để cho mình bị vướng mắc bởi những thứ xiềng xích ngoại tại, chẳng hạn như chủ nghĩa tương đối, việc tìm kiếm quyền lực và lợi lộc bất cứ giá nào, nghiện hút, những mối liên hệ lệch lạc, tình trạng hỗn độn về hôn nhân và việc không nhìn nhận con người ở tất cả mọi đoạn đời của họ từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đi, thái độ c ho rằng có những lúc con người thực sự không hiện hữu.
Chúng ta cần phải can đảm nhắc nhở thành phần đương thời của chúng ta những gì con người là và những gì nhân loại là. Tôi mời gọi các Thẩm Quyền dân sự và thành phần đóng vai trò truyền đạt các thứ giá trị hãy luôn luôn chống đỡ sự thật về con người.
Để đúc kết cuộc gặp gỡ của chúng ta đây, xin cho tôi được hy vọng rằng qua các việc làm của anh chị em, Học Viện Các Khoa Học Về Luân Lý Và Chính Trị, cùng với các tổ chức khác, có thể là những nơi bao giờ cũng giúp cho dân chúng xây đắp một đời sống tốt đẹp hơn và xây dựng một xã hội tuyệt vời để sống như anh chị em. Đó là ước vọng của tôi, với lời nguyện cầu, tôi dâng lên Chúa cho anh chị em, gia đình của anh chị em và tất cả mọi phần tử thuộc Học Viện Các Khoa Học Về Luân Lỳ Và Chính Trị vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn
cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20070210_academy-paris_en.html
ĐTC BĐXVI trao cho Tổng Thống Nam Hàn Roh Moo-hyun bức thư khi ông triều kiến ngài hôm Thứ Năm 15/2/2007
Thưa Ông Roh Moo-hyun,
Tổng Thống Nước Cộng Hòa Đại Hàn
Tôi hân hoan đón tiếp ông đến với Vatican và tôi xin cám ơn cuộc viếng thăm của ông, một cuộc viếng thăm giúp củng cố những mới liên hệ tốt đẹp giữa xứ sở của ông với Tòa Thánh. Việc ông hiện diện ở nơi đây hôm nay là dấu rõ ràng việc ông cảm mến Giáo Hội Công Giáo. Tôi xin ông hãy chuyển lời chào thân ái của tôi tới nhân dân Hàn quốc, và tôi hứa nguyện cầu cho hòa bình và ổn định ở bán đào Triều Tiên cũng như toàn vùng này.
Trên 50 năm, nhân dân Triều Tiên đã phải chịu đựng hậu quả của tình trạng phân chia. Các gia đình bị chia cắt, họ hành thân thuộc bị cách ly, Xin cho họ biết rằng tôi gắn bó về tinh thần với việc chịu khổ của họ. Với lòng cảm thương, tôi nguyện cầu cho việc mau giải quyết vấn đề ngăn trở nhiều người việc họ thông đạt với nhau.
Đáng buồn thay thế giới tân tiến này đang bị đánh dấu bằng việc gia tăng những thứ đe dọa cho phẩm vị của sự sống con người. Bởi thế tôi có lời khen tặng tất cả những ai ở xứ sở của ông đang hoạt động để ủng hộ và bênh vực tính cách linh thánh của sự sống, hôn nhân và gia đình, những lãnh vực mà, như ông biết, Giáo Hội Công Giáo ở Đại Hàn đặc biệt hoạt động. Cái nguy cơ của một cuộc chạy đua các thứ vũ khí nguyên tử ở vùng này là một nguyên cớ cần phải được quan tâm, một mối quan tâm Tòa Thánh cũng hoàn toàn cảm nhận. Tôi tha thiết xin tất cả mọi phần tử trong cuộc hãy thực hiện mọi nỗ lực để giải quyết những căng thẳng hiện tại bằng những phương tiện ổn thỏa, đừng gây ra bất cứ một hành vi nào hay khởi động nào có thể gây hại cho những vấn đề thương thảo, trong khi đó bảo đảm được thành phần yếu kém nhất trong dân chúng Bắc Hàn vẫn nhận được viện trợ nhân đạo.
Thưa Ông Tổng Thống, quốc gia của ông đã thực hiện một cuộc tăng trưởng đáng kể về kinh tế trong thời gian vừa qua, tạ ơn Thiên Chúa về những điều này. Đồng thời tôi cũng thấy rằng không phải tất cả mọi người công dân đều có thể hưởng được phúc lợi trọn vẹn từ cuộc thịnh vượng gia tăng này. Bởi thế tôi thiết tha xin chính phủ của ông hãy thực hiện hòa hợp với những ai tìm kiếm cổ võ công ích và công bình xã hội.
Trong khi chờ đợi tôi xin Thánh Anrê Kim Taegon và các thánh tử đạo Đại Hàn bảo vệ thành phần công dân thuộc xứ sở thân yêu của ông, và tôi hứa nguyện cầu và nguyện ước tốt đẹp cho tất cả nhân dân Hàn quốc.
Tại Vatican ngày 15/2/2007
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
ĐTC BĐXVI – Huấn Từ Cuối Lễ cho Ngày Thế Giới Bệnh Nhân lần XV ngày Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2/2007
Anh Chị Em thân mến,
Thật là vui mừng được gặp gỡ anh chị em ở đây, nơi Đền Thờ Vatican vào ngày Lễ Mẹ Lộ Đức và là Ngày Thế Giới Bệnh Nhân hằng năm, vào cuối Thánh Lễ được ĐHY Camilo Ruini chủ tế.
Trước hết tôi xin chào ngài, một lời chào tôi cũng muốn gửi tới tất cả anh chị em hiện diện nơi đây, đến Cha Sở Đền Thờ này là ĐTGM Angelo Comastri, đến các vị Giám Mục, linh mục cùng Tu Sĩ. Tôi chào n hững vị lãnh đạo cùng phần tử thuộc tổ chức UNITALSI, thành phần dấn thân cho việc chuyên chở và chăm sóc bệnh nhân về cuộc hành hương này cũng như những biến cố có ý nghĩa khác.
Tôi chào những vị lãnh đạo và phần tử thuộc tổ chức “Opera Romana Pellegrinaggi” và những ai sẽ tham dự vào Công Nghị Toàn Quốc về Thần Học và Mục Vụ, cả từ Ý quốc lẫn hải ngoại. Tôi gửi lời chào tới cả thành phần đại biểu đại diện của tổ chức “Cammini d’Europa”.
Thế nhưng, lời chào thân ái nhất của tôi xin hướng về anh chị em, hỡi anh chị em bệnh nhân thân mến, đến gia đình của an h chị em cũng như đến những tình nguyện viên lo việc chăm sóc cho anh chị em vàưu ái hộ tống anh chị em hôm nay đây. Cùng với tất cả anh chị em, tôi muốn liên kết mình với những ai hôm nay đang tham dự vào các biến cố khác nhau của Ngày Thế Giới Bệnh Nhân được tổ chức ở Seoul, Nam Hàn. Ở đó, ĐHY Javier Lozano Barragán, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe, thay tôi chủ sự cuộc cử hành này.
Hôm nay là Lễ Đức Trinh Nữ Maria Lộ Đức, vị mà gần 150 năm trước đây đã hiện ra với một con người trẻ quê mùa chất phác là Thánh Bernadette Soubirous, tỏ mình ra là Vị Đầu Thai Vô Nhiễm Tội.
Cũng trong cuộc hiện ra này, Đức Mẹ đã tỏ mình ra như là một người mẹ dịu dàng đối với con cái Mẹ, nhắc nhở rằng thành phần bé nhỏ, nghèo nàn là thành phần yêu dấu của Thiên Chúa và là thành phần được tỏ cho b iết mầu nhiệm về Nước Trời.
Các bạn thân mến, Mẹ Maria, vị đã lấy đức tin hộ tống với Con Mẹ ở dưới chân cây Thập Giá, vị bởi dự án mầu nhiệm đã liên kết với những khổ đau của Chúa Kitô Con Mẹ, không bao giờ thôi kêu gọi chúng ta hãy sống và chia sẻ một cách bình an tin tưởng cái cảm nghiệm sầu thương và bệnh nạn, hiến dâng nó một cách tin tưởng cho Chúa Cha, nhờ đó hoàn tất nơi xác thịt của chúng ta những gì còn thiếu nơi các khổ đau của Chúa Kitô (x Col 1:24).
Về vấn đề này, tôi muốn nhắc lại những lời được vị Tiền Nhiệm khả kính của tôi là Đức Phaolô VI sử dụng để kết thúc Tông Huấn “Marialis Cultus”: “Được chiêm ngưỡng nơi các đoạn Phúc Âm cũng như nơi cái thực tại mà Mẹ có được trong Thành Đô Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ Maria cống hiến một nhãn quan bình lặng và một lời bảo đảm cho con người tân tiến, con người thường bị xâu xé giữa buồn đau và hy vọng, con người bị xâm chiếm bởi cảm quan hữu hạn của mình và bị tấn công bởi những khát vọng vô hạn của mình, con người bị rối loạn trong trí khôn và chia cắt trong tâm hồn, mơ hồ trước cái u uẩn của chết chóc, con người bị lẻ loi cô độc đè nén nhưng lại khát mong hiệp thông, con người là mồi ngon cho buồn chán và ghê rợn. Mẹ tỏ cho thấy cái chiến thắng của niềm hy vọng trên tâm trạng buồn đau, của mối hiệp thông trên tâm trạng cô độc, của hòa bình trên lo âu, của niềm vui và diễm lệ trên buồn chán và ghê rợn, của những nhãn quan vĩnh hằng trên những nhãn quan trần tục, của sự sống trên sự chết” (số 57).
Chúng là những lời lẽ làm sáng tỏ đường lối của chúng ta, thậm chí cả vào lúc mà cảm quan hy vọng và niềm tin chữa lành dường như biến mất; chúng là những lời lẽ tôi muốn dùng để đặc biệt an ủi những ai đang bị quằn quại với các thứ bệnh nạn và đớn đau trầm kha.
Và chính vì những người anh chị em đặc biệt bị thử thách này của chúng ta mà Ngày Thế Giới B ệnh N hân hôm nay mới được chú trọng đặc biệt. Chúng ta muốn họ cảm thấy sự gần gũi về vật chất và thiêng liêng của toàn thể cộng đồng Kitô hữu.
Vấn đề cần thiết là đừng để họ cảm thấy bị bỏ rơi và cô quạnh trong khi họ đang phải cố gắng đối đầu với từng giây phút rất mong manh trong cuộc đời họ. Đáng ca ngợi cho những ai nhẫn nại và ưu ái tận dụng khả năng chuyên môn của mình cùng với tình nồng hậu con người để phục vụ họ.
Tôi nghĩ đến các bác sĩ, y tá, cán sự xã hội về sức khỏe, các tình nguyện viên, Tu Sĩ và linh mục, thành phần không quản ngại cúi mình xuống với họ như Người Samaritanô Nhân Lành, không quan tâm gì tới thân phận về xã hội của họ, mầu da hay tôn giáo, mà chỉ chú ý tới các nhu cầu của họ mà thôi. Trước mặt hết mọi người, nhất là những người bị thử thách và thất sắc bởi bệnh tật, hãy chiếu giải Dung Nhan Chúa Kitô là Đấng đã phán: “Khi các người làm điều ấy cho một trong những người hèn mọn nhất trong anh em Ta đây là các người làm điều ấy cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).
Anh chị em thân mến, trong chốc lát nữa đây, tối hôm nay, sẽ diễn ra một cuộc rước nến ý nghĩa làm bừng lên một bầu không khí được tạo nên nơi thành phần hành hương và những ai tôn sùng Lộ Đức. Tâm trí chúng ta hướng về hang Massabielle, nơi các nỗi buồn sầu và hy vọng, sợ hãi và tin tưởng gặp gỡ nhau.
Có biết bao nhiêu là những người hành hương, được an ủi bởi ánh mắt Người Mẹ này của họ, đã tìm thấy ở Lộ Đức sức mạnh để làm trọn một cách dễ dàng hơn ý muốn của Thiên Chúa, cho dù nó đòi phải từ bỏ và đau thương, với nhận thức như Tông Đồ Phaolô khẳng định là tất cả mọi sự xẩy ra đều vì lợi ích của những ai mến yêu Chúa (x Rm 8:28).
Anh chị em thân mến, chớ gì đối với anh chị em, cây nến sáng anh chị em đang cầm trong tay trở thành dấu hiệu của tấm lòng chân thành muốn bước đi với Chúa Giêsu, niềm bình an phát tỏa, Đấng chiếu soi trong tăm tối và thúc đẩy chún g ta trở thành ánh sáng và nâng đỡ những ai gần gũi với chúng ta.
Chớ gì đừng có một ai, nhất là những ai thấy mình gặp phải tình trạng khó khăn, cảm thấy lẻ loi cô độc và bị bỏ rơi.
Tôi xin ký thác tất cả anh chị em cho Trinh Nữ Maria. Mẹ, sau khi trải qua khổ đau khôn xiết, đã được mông triệu về Trời, nơi Mẹ đang đợi chờ chúng ta và là nơi cả chún g ta nữa hy vọng có thể vào một ngày kia chia sẻ vinh quang của Người Con Thần Linh của Mẹ, một niềm vui bất tận.
Với những cảm thức này, tôi ban Phép Lành của tôi cho tất cả anh chị em hiện diện nơi đây và những người thân yêu của anh chị em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của
Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20070211_messa-malati_en.html
ĐTC Biển Đức XVI – Huấn Từ ngỏ cùng Cuộc Hội Nghị Quốc Tế của Các Học Viện Đời ngày 3/2/2007 ở Sảnh Đường Clementine
Anh Chị Em thân mến,
Tôi hân hoan được ở cùng anh chị em hôm nay, những phần tử thuộc các Tổ Chức Đời lần đầu tiên tôi được gặp gỡ từ khi được tuyển chọn lên Ngai Tòa Thánh Phêrô. Tôi hết lòng quí mến chào tất cả anh chị em. Tôi chào ĐHY Franc Rodé, Tổng Trưởng Thánh Bộ Các Tổ Chức Sống Đời Tận Hiến và Các Hội Sống Đời Tông Đồ, xin cám ơn ngài đã thay mặt cho anh chị em ngỏ cùng tôi những lời lẽ bày tỏ tình con thảo và gắn bó thiêng liêng. Tôi chào ĐHY Cottier và vị Thư Ký Thánh Bộ của ngài.
Tôi chào vị Chủ Tịch của Hội Đồng Thế Giới Chư Tổ Chức Đời, vị đã bày tỏ những cảm thức và niềm mong ước của tất cả anh chị em qui tụ nơi đây từ các quốc gia khác nhau, từ mọi châu lục, để cử hành một Cuộc Hội Nghị Quốc Tế về Hiến Chế Tông Đồ Provida Mater Ecclesia.
Sáu mươi năm qua, như đã được đề cập tới, từ ngày 2/2/1947, khi mà vị Tiền Nhiệm Piô XII của tôi đã ban hành Hiến Chế Tông Đồ, nhờ đó đặt căn bản về thần học và pháp lý cho một kinh nghiệm đã được chín mùi ở những thập niên trước, và công nhận nơi Những Tổ Chức Đời một trong muôn vàn tặng ân Thánh Thần sử dụng để hỗ trợ Giáo Hội trong cuộc hành trình của Giáo Hội cũng như canh tân Giáo Hội qua tất cả các thế hệ.
Hành động pháp lý này không phải là mục tiêu mà là khởi điểm của một tiến trình nhắm đến chỗ phác ra một hình thức mới của việc tận hiến, đó là việc tận hiến của thành phần giáo dân và của các vị linh mục triều, thành phần được kêu gọi sống theo đúng tinh thần Phúc Âm cái tính cách trần đời của họ là tính cách xuất phát bởi bậc sống của họ hay bởi thừa tác mục vụ của họ.
Anh chị em hiện diện ở đây hôm nay đây là để tiếp tục thể hiện con đường đã được phác họa 60 năm trước đây, một con đường dẫn anh chị em tới chỗ càng ngày càng trở thành những sứ giả hăng say trong Chúa Giêsu Kitô về cái ý nghĩa của thế giới và của lịch sử.
Lòng nhiệt thành của anh chị em được bắt nguồn từ việc khám phá ra vẻ đẹp về Chúa Kitô cũng như về đường lối đặc thù của Người trong việc yêu thương, chữa lành và đáp ứng các nhu cầu của đời sống, và trong việc làm cho đời sống dậy men và được an ủi. Và cuộc sống của anh chị em là để ca tụng vẻ đẹp này nhờ đó việc anh chị em hiện diện trên thế gian này trở thành một dấu hiệu anh chị em ở trong Chúa Kitô.
Thật vậy, chính mầu nhiệm Nhập Thể làm cho việc anh chị em hội nhập vào các biến cố của loài người có một vị thế về thần học: (“Thiên Chúa quá yêu thế gian đến ban Con Một của mình” – Jn 3:16). Công cuộc cứu độ không được trở thành những gì phản lại lịch sử của loài người mà là trong lịch sử và qua lịch sử.
Về vấn đề này, Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái ghi nhận rằng: “Qua nhiều thể nhiều cách Thiên Chúa đã nói trong quá khứ với cha ông của chúng ta qua các vị tiên tri; thế nhưng trong những ngày này Ngài đã nói với chúng ta qua Người Con” (1:1-2a).
Tác động cứu chuộc này tự nó thể hiện trong bối cảnh thời gian và lịch sử, và bao hàm cả việc tuân theo dự án của Thiên Chúa được in ấn nơi công cuộc do tay Ngài làm ra.
Một lần nữa cũng trong cùng bản văn theo Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái, một bản văn đầy cảm ứng cho thấy rằng: “Khi Người thưa: ‘Cha không ưng nhận các hy tế và lễ vật cùng những lễ vật toàn thiêu và lễ vật đền tội – những lễ vật được hiến dâng theo lề luật – đoạn Người thêm: ‘Này Con xin đến để làm theo ý Cha’” (Heb 10:8-9a).
Những lời này của Thánh Vịnh và của Bức Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái, được diễn tả bằng cuộc đối thoại liên Ba Ngôi, là những lời của Người Con thưa cùng Cha: “Con đã đến để làm theo ý Cha”. Việc Nhập Thể xẩy ra là như thế: “Này Con đã đến để làm theo ý Cha”. Chúa Kitô bao gồm chúng ta trong những lời của Người, những lời trở thành của chúng ta: Lạy C húa, cùng với Người Con, này còn đến để làm theo ý Chúa.
Như thế, tiến trình thánh hóa được phác họa một cách rõ ràng, đó là việc tự hy hiến gắn liền với dự án cứu độ được biểu lộ nơi Lời mạc khải, nơi tình liên đới với lịch sử, nơi việc tìm kiếm ý muốn của Chúa là những gì được in ấn nơi các biến cố của con người như Ngài Quan Phòng.
Các tính chất của sứ vụ trần thế đồng thời cũng được phác họa, đó là những gì cho thấy các nhân đức nhân bản như “công chính, bình an và hân hoan” (Rm 14:17), “tác hành tốt lành” được Thánh Phêrô nói tới trong Bức Thư Thứ Nhất của ngài (x. 2:12), làm âm vang những lời của Vị Sư Phụ là “Ánh sáng của các con cần phải chiếu giãi ra trước con người để họ thấy các việc lành các con làm mà tôn vinh Cha các con ở trên Trời” (Mt 5:16).
Một phần của sứ vụ trần đời nữa đó là vấn đề dấn thân xây dựng một xã hội biết công nhận nơi các môi trường khác nhau phẩm vị của con người cùng với những giá trị bất khả châm chước cần cho tầm mức viên trọn của phẩm vị này: từ phương diện chính trị tới kin h tế, từ việc giáo dục đến việc dấn thân cho sức khỏe quần chúng, từ việc điều hành các dịch vụ tới việc nghiên cứu khoa học.
Mục đích của hết mọi thực tại đặc biệt hợp với Kitô hữu và sống bởi Kitô hữu, với bởi hoạt động của họ và với bởi những thiện ích về vật chất của họ có tính cách tương đối nhất trí, đều được thấy bao gồm bởi cùng một mục đích của việc Con Thiên Chúa vào trần gian.
Bởi thế, anh chị em có thể cảm thấy được thách đố trước mọi khổ đau, trước mọi thứ bất công và trước mọi cuộc tìm cầu sự thật, sữ mỹ và sự thiện. Đó không phải là vì anh chị em có thể có được vấn đề giải quyết cho tất cả mọi vấn đề; mà là vì hết mọi hoàn cảnh con người sống và chết đều là cơ hội để anh chị em làm chứng cho công việc cứu độ của Thiên Chúa. Đó là sứ vụ của anh chị em.
Việc tận hiến của anh chị em một mặt đề cao đặc sủng Thần Linh ban cho anh chị em để anh chị em hoàn tất ơn gọi của mình, mặt khác lại thúc đẩy anh chị em sống chân thành trong trí khôn, tâm hồn và ý muốn cho cái dự án của Thiên Chúa Cha đã tỏ ra nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng anh chị em đã được kêu gọi để triệt để theo Người.
Hết mọi cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô đều cần phải có một cuộc thay đổi sâu xa về thái độ, thế nhưng, đối với một số người, cũng như đối với anh chị em, thì điều yêu cầu này của Chúa là một cái gì đó đặc biệt là gay go, ở chỗ, anh chị em được yêu cầu phải từ bỏ hết mọi sự, vì Thiên Chúa là tất cả mọi sự và sẽ là tất cả mọi sự trong đời sống của anh chị em. Nó không phải chỉ là một vấn đề về cách thức khác nhau trong việc liên hệ với Chúa Kitô và trong việc anh chị em tỏ ra gắn bó với Người, mà là một việc Thiên Chúa chọn lựa cần anh chị em liên lỉ, tuyệt đối và hoàn toàn tin tưởng nơi Ngài.
Việc hợp nhất đời sống của mình với đời sống của Chúa Kitô bằng việc đi sâu vào những lời lẽ ấy, việc hiệp nhất của đời sống của mình với đời sống của Chúa Kitô bằng việc thực hành các lời khuyên của Phúc Âm, là một đặc tính căn bản và liên kết, theo tính cách chuyên biệt của mình, đòi phải thực hiện việc dấn thân cụ thể và cần thiết của “những tay leo núi về tinh thần”, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khả kính đã gọi anh chị em như thế (Address to Participants in the First International Congress of Secular Institutes, 26 September 1970; L'Osservatore Romano English edition [ORE], 8 October, p. 5).
Bản chất trần thế nơi việc tận hiến của anh chị em, một đàng, còn liên quan tới phương tiện được anh chị em sử dụng để hoàn trọn nó, tức là phương tiện hợp với mọi con người nam nữ sống trong những điều kiện bình thường trong thế giới này, đàng khác, tới hình thức phát triển của nó, tức là tới một mối liên hệ sâu xa liên quan tới dấu chỉ thời đại anh chị em được kêu gọi nhận ra tự bản thân mình cũng như với tư cách là một cộng đồng theo ánh sáng của Phúc Âm.
Đặc sủng của anh chị em đã được công nhận có tính cách thế giá vào một số lần chính là ở nơi việc nhận thức này để anh chị em trở thành một thứ hội thảo đối thoại với thế giới, một “thứ hội thảo về kinh nghiệm mà trong đó Giáo Hội nắm được những phương cách cụ thể cho các mối liên hệ của Giáo Hội với thế giới” (Pope Paul VI, Address to the Council of the Sacred Congregation for Religious and the International Union of Male and Female Superiors General, 6 November 1976; cf. ORE, 18 November, p. 3).
Tính cách hợp thời kéo dài nơi đặc sủng của anh chị em xuất phát ngay từ nhậnthức này, vì nhận thứ ấy không xẩy ra ở bên ngoài thực tại mà từ bên trong thực tại, qua việc hoàn toàn dấn thân. Điều này xẩy ra nơi các mối liên hệ thường nhật là những gì anh chị em có thể thêu dệt nên trong gia đình cũng như nơi các mối liên hệ về xã hội, trong hoạt động nghề nghiệp, trong cơ cấu các cộng đồng dân sự và giáo hội.
Việc gặp gỡ Chúa Kitô và tác động theo Người, tác động thúc đẩy và hướng về con người, “cần phải được phản ảnh ‘ra ngoài’ và lan tỏa một cách tự nhiên” trong một cuộc gặp gỡ một lần là tất cả, vì nếu Thiên Chúa hoàn trọn bản thân mình chỉ ở nơi mối hiệp thông thì cũng chỉ ở nơi mối hiệp thông Ba Ngôi loài người mới được nên trọn mà thôi.
Anh chị em không được kêu gọi để thiết lập những hình thức đặc biệt của việc sống động, của việc dấn thân tông đồ hay của việc can thiệp vào xã hội, mà là những hình thức có thể hiện thực bằng những mối liên hệ cá nhân, một nguồn mạch cho những kho tàng ngôn sứ. Chớ gì cuộc sống của anh chị em như men làm dậy lên cả đấu bột (x Mt 13:33), đôi khi âm thầm và kín đáo, nhưng luôn có một khả năng vươn rộng một cách tích cực và phấn khởi làm xuất phát niềm hy vọng.
Bởi thế, địa điểm cho việc anh chị em làm tông đồ là toàn thể nhân loại chứ không phải trong cộng đồng Kitô hữu – nơi mối liên hệ được hiện thực hóa bằng việc lắng nghe Lời Chúa cũng như bằng đời sống bí tích anh chị em kín múc được để nuôi dưỡng cái căn tính phép rửa của anh chị em – tôi nói là địa điểm cho việc tông đồ của anh chị em là toàn thể nhân loại, cả trong cộng đồng Kitô hữu lẫn cộng đồng dân sự, nơi hình thành những mối liên hệ trong cuộc tìm kiếm công ích, trong việc đối thoại với tất cả mọi người, thành phần được kêu gọi để làm chứng cho khoa nhân loại học Kitô Giáo là những gì tạo nên một thứ đề xuất tinh tế trong một xã hội bị hoang mang và lẫn lộn trước bối cảnh đa văn hóa và đa tôn giáo của nó.
Anh chị em đến từ các quốc gia khác nhau cũng như từ các môi trường khác nhau về văn hóa, chính trị và thậm chí về tôn giáo mà anh chị em sống, làm việc và trở thành già giặn. Trong tất cả mọi môi trường này, chớ gì anh chị em trở thành những người tìm kiếm Chân Lý, tìm kiếm việc mạc khải về loài người của Thiên Chúa trong đời sống. Chúng ta biết rằng nó là một cuộc hành trình dài, khổ sở trong giây phút hiện tại sống chắc chắn mang lại thành quả. Anh chị em hãy loan truyền vẻ đẹp về Thiên Chúa cũng như về tạo vật của Ngài.
Theo gương Chúa Kitô, anh chị em hãy tuân theo lòng yêu thương, hãy trở thành những con người nam nữ dịu dàng và xót thương, có khả năng tiến vào các nẻo đường của thế giới, chỉ biết hành thiện mà thôi. Chớ gì cuộc đời của anh chị em là một cuộc đời được tập trung vào các Mối Phúc Đức là những gì tương phản với lý lẽ của con người trong việc tỏ ra vô tư tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng muốn con người được hạnh phúc.
Giáo Hội cũng cần anh chị em giúp vào việc hoàn thành sứ vụ của Giáo Hội. Anh chị em hãy trở thành những hạt giống thánh đức được gieo vãi bởi một ít người trên những luống cầy của lịch sử. Anh chị em hãy cắm rễ vào tác động nhưng không và hiệu năng của Thần Linh Chúa trong việc dẫn dắt các biến cố của con người, chớ gì anh chị em sinh hoa kết trái đức tin chân chính, viết lên những quĩ đạo hy vọng bằng đời sống của mình và chứng từ của mình, viết lên chúng bằng những hoạt động được gợi lên bởi ‘tính cách sáng tạo theo đức ái’ (John Paul II, Apostolic Letter "Novo Millennio Ineunte," n. 50).
Với những niềm hy vọng này, tôi hứa liên lỉ cầu nguyên để hỗ trợ những dự án tông đồ và bác ái của anh chị em, và tôi ban Phép Lành Tòa Thánh đặc biệt cho anh chị em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện tốn tồn cầu của Tịa
Thánh
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Huấn Từ cho Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến lần 11 ngày Thứ Sáu 2/2/2007 tại Đền Thờ Vatican
Anh Chị Em thân mến,
Tôi hân hoan được gặp gỡ anh chị em vào cuối cuộc Cử Hành Thánh Thể là biến cố đã qui tụ anh chị em lại nơi Đền Thờ đây vào cả năm nay nữa, vào một dịp rất ý nghĩa với việc anh chị em thuộc về những Dòng Tu, Tổ Chức, Hội Sống Đời Tông Đồ cũng như các Hình Thức Mới Sống Đời Tận Hiến; anh chị em làm thành một yếu tố đặc biệt quan trọng cho Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Phụng vụ hôm nay nhắc lại việc Hiến Dâng Chúa trong Đền Thờ, một lễ được Vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II khả kính của tôi chọn làm ‘Ngày Đời Tận Hiến’.
Tôi hết sức vui mừng gửi lời chào thân ái tới mỗi một người trong anh chị em hiện diện nơi đây, trước hết là ĐHY Franc Rodé, Tổng Trưởng Phân Bộ của anh chị em, vị tôi xin cám ơn về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ cùng tôi thay cho anh chị em. Rồi tôi gửi lời chào tới vị Bí Thư cùng toàn thể phần tử thuộc Thánh Bộ đặc trách một lãnh vực quan trọng của Giáo Hội. Việc cử hành hôm nay đặc biệt thích hợp để xin Chúa ban tặng ân có được sự hiện diện liên tục và sáng ngời hơn bao giờ hết thành phần nam nữ tu sĩ và tận hiến trong Giáo Hội đang lữ hành trên các nẻo đường thế giới.
Anh chị em thân mến, ngày Lễ chúng ta đang cử hành đây nhắc nhoở chúng ta rằng chứng từ Phúc Âm của anh chị em, để thực sự tác hiệu, cần phải xuất phát từ một việc đáp ứng dứt khoát đối với việc khởi động của Thiên Chúa là Đấng đã thánh hiến anh chị em cho Ngài bằng một tác động yêu thương đặc biệt.
Như vị lão thành Simeon và Anna mong được thấy Đấng Thiên Sai trước khi chết và đã nói về Người ‘với tất cả những ai mong chờ việc cứu chuộc của Giêrusalem’ (x Lk 2:26,38) thế nào, thì cả trong thời đại của chúng ta nữa, nhất là nơi thành phần giới trẻ, đang có một nhu cầu rộng rãi muốn gặp gỡ Thiên Chúa.
Những ai được Thiên Chúa tuyển chọn sống đời tận hiến là thành phần làm cho niềm mong mỏi thiêng liêng này trở thành của riêng mình một cách quyết liệt. Thật vậy, nơi cuộc đời tận hiến ấy, họ chỉ có một niềm mong ước duy nhất, đó là Vương Quốc của Thiên Chúa, là Thiên Chúa ngự trị ý muốn của chúng ta, tâm can của chúng ta, thế giới của chúng ta. Nơi họ bừng lên một niềm khát khao yêu thương duy nhất là những gì chỉ được thỏa mãn bởi một mình Đấng Hằng Hữu mà thôi.
Bằng gương lành của mình, họ loan truyền cho một thế giới thường bị hoang mang bối rối nhưng thực sự lại đang gia tăng việc tìm kiếm ý nghĩa rằng Thiên Chúa là Chúa của sự sống và tình Ngài ‘yêu thương là những gì hơn cả sự sống’ (Ps 63[62]:4[3]).
Bằng việc chọn đời sống tuân phục, khó nghèo và thanh tịnh vì Nước Trời, họ chứng thực rằng bất cứ một quyến luyến nào hay lòng yêu thích người và vật đều không thể hoàn toàn thỏa mãn tâm can; rằng cuộc sống trần gian là một giai đoạn không dài thì ngắn đợi chờ cuộc hội ngộ ‘trực diện’ với Vị Phu Quân thần linh, một niềm mong ngóng được sống bằng một con tim hằng tỉnh thức, lúc nào cũng nhận ra Người và nghênh đón Người khi Người đến.
Bởi thế, đời tận hiến, tự bản chất, là một đáp ứng trọn vẹn và dứt khoát, vô tư và thiết tha đối với Thiên Chúa (x ‘Đời Tận Hiến – Vita Consecrata’, 17). Nhờ đó, khi con người từ bỏ mọi sự để theo Chúa Kitô, khi con người hiến dâng cho Người tất cả những gì họ trân quí nhất, bất chấp mọi hy sinh như Vị Sư Phụ thần linh đã sống, thì con người tận hiến theo chân Chúa Kitô cũng cần phải trở thành ‘một dấu hiệu xung khắc’, vì lối suy tư và sống động của họ thường là những gì ngược lại với lý lẽ của thế gian, thứ lý lẽ hầu như bao giờ cũng được hiển hiện ở lãnh vực truyền thông.
Thật thế, trong việc chọn Chúa Kitô, chúng ta để mình được Người ‘chiếm đoạt’ một cách dứt khoát. Biết bao nhiêu là con người khát khao chân lý đã cảm thấy xúc động trước lòng can đảm này và được thu hút bởi những ai không ngần ngại hiến đời mình, hiến cuộc sống riêng của mình cho niềm tin tưởng của họ.
Phải chăng đó là lòng trung thành sâu xa của phúc âm mà hết mọi con người sống đời tận hiến được kêu gọi thực hiện trong thời đại của chúng ta nữa? Chúng ta hãy tạ ơn Chúa, để nhiều Tu Sĩ nam nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới biết tiếp tục cống hiến chứng từ yêu thương cao cả và trung thành đối với Thiên Chúa cũng như với anh chị em của mình, một chứng từ thường được ghi dấu bằng máu tử đạo. Chúng ta cũng tạ ơn Thiên Chúa, để những gương sáng ấy được tiếp tục tác động nơi tâm hồn của nhiều giới trẻ niềm ước vọng theo Chúa Kitô luôn mãi một cách thân tình và trọn vẹn.
Anh chị em thân mến, đừng bao giờ quên rằng đời tận hiến là một tặng ân thần linh, và Chúa trước hết là Đấng bảo đảm việc thành đạt của nó theo dự án của Ngài. Niềm tin tưởng này là ở chỗ Chúa đưa chúng ta tới một kết thúc thành công cho dù chúng ta hèn yếu; niềm tin tưởng này cần phải trở thành niềm ủi an cho anh chị em, bảo vệ anh chị em khỏi cảm thấy chán chường trước những khó khăn bất khả tránh của đời sống cùng nhiều thách đố của thời đại tân tiến này. Thật vậy, trong giai đoạn khó khăn chúng ta đang sống đây, nhiều Tổ Chức dòng tu có thể cảm thấy mất tinh thần trước những thất bại họ nhận thấy nơi mình cũng như trước nhiều chướng ngại vật họ gặp phải khi thi hành sứ vụ của họ.
Hôm nay Con Trẻ Giêsu được hiến dâng ở Đền Thờ đang sống động giữa chúng ta và vô hình nâng đỡ chúng ta nhờ đó chúng ta có thể trung thành hợp tác với Người vào công cuộc cứu độ, và Người không bỏ rơi chúng ta đâu.
Phụng vụ hôm nay đặc biệt là những gì khơi động, vì phụng vụ này được đánh dấu bằng biểu hiểu ánh sáng. Cuộc long trọng rước nến anh chị em thực hiện ở đầu lễ là những gì ám chỉ đến Chúa Kitô, ánh sáng thực của thế giới, Đấng chiếu soi trong đêm tối tăm của lịch sử và chiếu rọi hết mọi kẻ tìm kiếm chân lý. Anh chị em sống đời tận hiến thân mến, hãy bừng lên bằng ngọn lửa này và làm cho nó rạng ngời qua đời sống của anh chị em, để luồng sáng chiếu tỏa từ Chúa Giêsu, Đấng là chân lý rạng ngời, được soi chiếu khắp mọi nơi.
Bằng việc hoàn toàn hiến mình cho Người (x Vita Consecrata, 15), anh chị em làm chứng cho sự thật có sức thu hút của Chúa Kitô và cho niềm vui xuất phát từ lòng anh chị em mến yêu Người. Trong việc chiêm niệm cũng như trong việc hoạt động, trong thinh lặng và trong tình huynh đệ, trong việc phục vụ người nghèo khổ và người thấp hèn, trong việc hướng dẫn riêng tư cũng như ở những công nghị tân thời, anh chị em hãy sẵn sàng loan truyền và làm chứng rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và mến yêu Ngài là những gì ngọt ngào êm ái.
Chớ gì Mẹ Maria, Vị là Toàn Mỹ – Tota Pulchra , dạy cho anh chị em biết truyền đạt cho con người nam nữ ngày nay cái thu hút thần linh này, một thứ thu hút cần phải được thoát ra từ những lời nói và việc làm của anh chị em. Trong khi tôi đã bày tỏ cùng anh chị em lòng cảm mến tri ân của tôi về việc anh chị em phục vụ Giáo Hội, tôi hứa luôn nhớ đến anh chị em trong lời nguyện cầu và ân cần chúc lành cho tất cả mọi anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20070202_festa-presentazione_en.html
“Phẩm Chất của Hàng Giáo Sĩ Tùy Thuộc Vào Tính Cách Nghiêm Cẩn của Vấn Đề Huấn Luyện”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Chủng Sinh và Linh Mục Chủng Viện Capranica ở Rôma tại Sảnh Đường Consistory ngày 19/1/2007 dịp mừng kỷ niệm 550 năm thành lập
Đức Hồng Y,
Chư Huynh Khả Kính,
Đức Ông Viện Trưởng,
Quí Sinh Viên Đại Học Capranica thân mến,
Tôi hân hoan tiếp đón anh em ngay trước Lễ Nữ Quan Thày Agnes của anh em. Tôi thân ái gửi lời chào đến tất cả anh em, trước hết là Đức Hồng Y Đại Diện Giáo Phận Rôma Camillo Ruini, và ĐTGM Pio Vigo, các vị làm nên Ủy Ban Giám Mục đặc trách Đại Học này. Tôi gửi lời chào tới Đức Ông Viện Trưởng Ermemegildo Mamocardi. Tôi cũng đặc biệt chào mừng anh em sinh viên thân mến, những người thuộc về cộng đồng đại học của giáo hội cổ thời nhất ở Rôma.
Năm trăm 50 năm đã qua đi từ ngày 5/1/1457, khi ĐHY Domenico Capranica, TGM Fermo, thành lập Viện Đại Học lấy tên của ngài. Ngài đã để lại cho nó tất cả tài sản của ngài và dinh thự của ngài gần Santa Maria ở Aquiro, nhờ đó nó trở thành nơi cư trú cho các sinh viên trẻ được kêu gọi làm linh mục.
Tổ chức sơ sinh này là tổ chức đầu tiên về loại của mình ở Rôma; đầu tiên được giành cho những con người trẻ Rôma và thành phần giới trẻ ở Fermo, sau đó tiếp đón cả những sin h viên ở các vùng khác thuộc Ý quốc cũng như thuộc các quốc tịch khác.
ĐHY Capranica đã chết non hai năm sau, thế nhưng nền tảng ngài đã đặt để đã bắt đầu tiếp tục tới ngày nay, trải qua 10 năm bị đóng cửa từ 1798 đến 1807 trong chế độ gọi là Cộng Hòa Rôma.
Hai vị Giáo Hoàng đã học ở Đại Học Capranica này là Giáo Hoàng Biển Đức XV, vị được anh em có lý coi là ‘Parens alter – phụ huynh khác’ vì cảm tình đặc biệt ngài giành cho ngôi nhà này của anh em, rồi tới Người Tôi Tớ Chúa Piô XII trong một thời gian ngắn hơn. Các vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, có một số đã đến viếng thăm anh em vào những dịp đặc biệt, bao giờ cũng bày tỏ lòng quí mến của các vị đối với Viện Đại Học này của anh em.
Cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay cũng diễn ra chẳng những gần Lễ Nhớ Thánh Agnes mà còn trong bối cảnh của một cuộc mừng kỷ niệm quan trọng đối với cơ cấu của anh em. Theo quan điểm lịch sử và thiêng liêng này thì thật là hữu ích để đặt vấn đề liên quan tới lý do thúc đẩy ĐHY Capranica thành lập công cuộc dự phòng này, và đâu là giá trị những động lực ấy vẫn còn cho tới ngày nay đối với anh em.
Trước hết, cần phải nhớ rằng vị sáng lập viên này đã có kinh nghiệm trực tiếp về các viện đại học thuộc những Đại Học Đường Padua và Bologna là những nơi chính ngài đã từng là sinh viên, cũng như những Đại Học Đường ở Sienna, Florence và Perugia. Những cơ cấu này đã phát triển để chất chứa thành phần học giả trẻ trung không thuộc về những gia đình giầu có.
Bằng việc du di một số những yếu tố trong những khuôn mẫu ấy, ngài đã nghĩ tới một kiểu mẫu hoàn toàn nhắm đến việc huấn luyện cho các vị linh mục tương lai mà thôi, đặc biệt chú ý tới những tuyển sinh không được sung túc cho lắm. Bởi vậy, ngài đã đi trước hơn cả một thế kỷ việc thiết lập ‘những kiểu chủng viện’ được ấn định bởi Công Đồng Chung Triđentinô.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa tập trung vào chính lý do căn bản đối với sáng kiến dự liệu này: nó là niềm xác tín rằng phẩm chất của hàng giáo sĩ là những gì tùy thuộc vào tính cách nghiệm cẩn trong việc huấn luyện họ.
Bấy giờ, vào thời điểm của ĐHY Capranica, không có vấn đề cẩn thận tuyển lựa thành phần khao khát Chứa thánh: họ đôi khi được khảo hạch về văn chương và ca hát, chứ không phải về thần học, luân lý và giáo luật, nên có những âm hưởng tiêu cực có thể dự đoán xẩy ra đối với Cộng Đồng Giáo Hội.
Đó là lý do tại sao, theo những Hiến Định của Viện Đại Học của mình, vị Hồng Y này đã áp đặt trên các sinh viên thần học kiến thức của những tác giả thượng thặng, đặc biệt là Thánh Tôma Aquinas; trên các sinh viên luật học giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Innocent III, và trên tất cả mọi sinh viên khoa đạo đức học của Aristote.
Còn nữa, chưa hài lòng với những bài vở của Studium Urbis, ngài đã muốn có cả những bài vở phụ thêm được cống hiến bởi các chuyên gia trực tiếp trong chính Đại Học này.
Học trình ấy được hội nhập vào một nội dung huấn luyện trọn vẹn tập trung ở chiều kích thiêng liêng. Nó được nâng đỡ bởi những trụ cột Bí Tích Thánh Thể – hằng ngày – và Hòa Giải – mỗi tháng ít là một lần – cùng được duy trì bởi những việc thực hành đạo đức theo qui định hay gợi ý của Giáo Hội.
Đức bác ái được đặc biệt chú trọng, cả trong cuộc sống huynh đệ thông thường và trong việc trợ giúp thành phần bệnh nhân, đồng thời cũng chú trọng tới những gì mà ngày nay được chúng ta gọi là ‘kinh nghiệm mục vụ’. Thật vậy, theo ấn định thì vào các ngày lễ, sinh viên phải phục vụ ở vương cung thánh đường cũng như ở các nhà thờ địa phương khác.
Việc huấn luyện sinh viên còn được hiệu nghiệm hỗ trợ bởi kiểu cách của chính cộng đồng này, bao gồm việc tham gia mạnh mẽ vào những quyết định liên quan tới đời sống trong Viện Đại Học đây.
Ở đây chúng ta thấy được những điều kiện căn bản giống nhau sau đó được những chủng viện thuộc giáo phận thiết lập, dĩ nhiên, đối với những chủng viện thuộc giáo phận có một ý nghĩa thuộc hoàn toàn về một Giáo Hội riêng nào đó; tức là việc chọn lựa ấy liên quan tới một thứ huấn luyện nghiêm túc về nhân bản, văn hóa và thiêng liêng, hướng tới những đòi hỏi thích hợp với thời điểm và địa điểm.
Các bạn thân mến, chúng ta hãy xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria Rất Thánh và của Thánh Agnes, cho Almo Collegio Capranica được tiếp tục theo đường lối của mình, trung thành với truyền thống lâu đời của mình cũng như với các giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II.
Các sinh viên thân mến, tôi hy vọng rằng hằng ngày anh em sẽ lập lại tận đáy lòng mình việc hiến dâng của anh em cho Thiên Chúa cũng như cho Hội Thánh, nên giống với Chúa Kitô mỗi ngày một hơn, Đấng là Vị Chủ Chiên Nhân Lành, Đấng đã kêu gọi anh em theo Người và làm việc trong vườn nho của Người.
Tôi cám ơn anh em về cuộc viếng thăm tốt đẹp này, và tôi hứa nguyện cầu cho anh em, tôi thân ái ban Phép Lành Tòa Thánh đặc biệt cho anh em và cho những người thân yêu của anh em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của
Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20070119_finland-delegation_en.html
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Giữa Giáo Hội Công Giáo Và Chính Thống Giáo Về Đối Thoại Thần Học ngày 1/2/2007
Anh Em thân mến trong Chúa Kitô,
Tôi hết sức vui tiếp đón anh em , các phần tử thuộc Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Giữa Giáo Hội Công Giáo Và Chính Thống Giáo Về Đối Thoại Thần Học, nhân dịp đại hội lần thứ 4 của anh em. Qua anh em, tôi hân hoan gửi lời chào tới Quí Huynh Khả Kính của tôi là Chư Vị Lãnh Đạo Các Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương, đó là Đức Giáo Tông Shenouda III, Đức Thượng Phụ Zakka I Iwas, Đức Thượng Phụ Karekin II, Đức Thượng Phụ Aram I, Đức Thượng Phụ Paulus, Đức Thượng Phụ Antonios I và Đức Thượng Phụ Marthoma Didymus I.
Cuộc gặp gỡ của anh em liên quan tới hiến chế và sứ vụ của Giáo Hội có một tầm quan trọng rất nhiều đối với cuộc hành trình chung của chúng ta trong việc tiến tới chỗ phục hồi mối hiệp thông trọn vẹn. Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Chính Thống chia sẻ một gia sản giáo hội xuất phát từ thời các tông đồ cũng như từ các thế kỷ đầu tiên của Kitô Giáo. ‘Cái gia sản về kinh nghiệm’ này cần phải trở thành những gì làm nên tương lai của chúng ta ‘trong việc hướng dẫn đường lối chung của chúng ta hướng tới việc tái thiết mối hiệp thông trọn vẹn’ (cf. Ut Unum Sint, 56).
Chúng ta đã được Chúa Giêsu ủy thác cho chúng ta sứ mệnh ‘đi khắp thế gian loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi tạo vật’ (Mk 16:15). Nhiều người ngày nay vẫn đang đợi chờ sự thật của Phúc Âm mang đến cho họ. Chớ gì lòng khát khao của họ đối với Tin Mừng là những gì củng cố quyết tâm của chúng ta trong việc hoạt động và thiết tha nguyện cầu cho mối hiệp nhất cần thiết cho Giáo Hội trong việc thi hành sứ vụ của mình trên thế giới, theo lời nguyện cầu của Chúa Giêsu ‘cho họ được hoàn toàn nên một, hầu thế gian biết rằng Cha đã sai Con và Cha đã yêu họ như Cha đã yêu Con’ (Jn 17:23).
Nhiều người trong anh em đến từ các xứ sở Trung Đông. Tình hình khó khăn mà cá nhân cũng như các cộng đồng Kitô Giáo đang phải đối diện ở miền này là nguyên nhân quan tâm sâu xa cho tất cả chúng ta. Thật vậy, các thành phần thiểu số Kitô hữu cảm thấy khó khăn trong việc sống còn giữa cả một chân trời địa dư chính trị bạo động và thường có khuynh hướng di dân. Trong những hoàn cảnh này, thành phần Kitô hữu thuộc tất cả các truyền thống và các cộng đồng ở Trung Đông được kêu gọi hãy can đảm và kiên cường trong quyền năng của Thần Linh Chúa Kitô (cf. Christmas Message to Catholics Living in the Middle East Region, 21 December 2006). Chớ gì lời chuyển cầu và gương sáng của nhiều vị tử đạo và thánh nhân, những vị đã cống hiến chứng từ dũng cảm cho Chúa Kitô ở những miền đất ấy, hãy bảo trì và kiên cường các cộng đồng Kitô hữu trong niềm tin của mình!
Cám ơn việc anh em hiện diện hôm nay đây và việc anh em tiếp tục dấn thân trên con đường đối thoại và hiệp nhất. Chớ gì Thánh Linh hỗ trợ anh em nơi những việc bàn luận của anh em. Tôi thân ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả anh em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
1/2/2007
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Phái Đoàn Ngoại Giao của Quốc Đô Vatican ngày 8/1/2007
Thưa Quí Vị Lãnh Sự,
Quí Vị Nữ Nam,
Hôm nay tôi hân hoan đón tiếp quí vị ở nơi đây để thực hiện nghi thức truyền thống trao đổi lời chào chúc đầu năm. Mặc dù nó là một biến cố hằng năm nhưng nó vẫn không phải là những gì thuần nghi thức; trái lại, nó là một cơ hội để củng cố niềm hy vọng của chúng ta và để kiên cường việc quyết tâm của chúng ta trong việc phục vụ hòa bình cũng như việc phát triển cho cá nhân con người cùng các dân tộc.
Trước hết tôi xin cám ơn Ông Lãnh Sự Trưởng Đoàn Giovanni Galassi về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ cùng tôi thay cho quí vị. Tôi cũng xin gửi lời chào đặc biệt tới các vị Lãnh Sự hiện diện lần đầu tiên trong cuộc gặp gỡ này. Tôi xin gửi lời chúc thân ái tốt đẹp nhất đến tất cả quí vị và hứa cầu nguyện cho quí vị để năm 2007 sẽ là năm mang lại hạnh phúc và bình an cho quí vị và gia đình quí vị, cho nhân viên của quí vị và cho tất cả mọi dân nước cùng thành phần lãnh đạo của họ.
Vào lúc mở màn cho năm này, chúng ta được mời gọi chú trọng tới tình hình thế giới, cũng như quan tâm tới những thách đố chúng ta được kêu gọi để cùng nhau giải quyết.
“Các vấn đề quan tâm”
Trong số những vấn đề chính yếu, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới hằng bao nhiêu triệu người, nhất là nữ giới và trẻ em, đang thiếu nước nôi, lương thực, hay nơi cư trú chứ? Cái ô nhục của tình trạng đói khổ càng ngày càng tệ hơn là những gì bất khả chấp trong một thế giới có những nguồn lợi, kiến thức và phương tiện sẵn trong tay để có thể chấm dứt nó. Nó thôi thúc chúng ta hãy thay đổi lối sống của mình, nó nhắc nhở chúng ta về nhu cầu khẩn trương trong việc loại trừ đi những căn nguyên cấu kết gây ra việc lệch lạc trong lãnh vực kinh tế toàn cầu, và chỉnh đốn lại những kiểu mẫu tăng trưởng dường như không có khả năng bảo đảm được vấn đề tôn trọng môi trường cùng với vấn đề phát triển nhân bản trọn vẹn, cả hiện nay lẫn mai này. Một lần nữa, tôi mời gọi các vị lãnh đạo các quốc gia giầu thịnh nhất hãy thực hiện những bước tiến cần thiết để bảo đảm là các quốc gia nghèo khổ, thường lại là những nơi dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể gặt hái được lợi ích từ hoa trái của những sản vật thực sự thuộc về họ. Theo chiều hướng ấy, việc trì trệ thi hành những quyết tâm được cộng đồng quốc tế đồng lòng trong mấy năm gần đây là một nguyên do quan tâm khác. Bởi vậy mới cần phải hy vọng rằng những gì được thương thảo về mậu dịch ở ‘Bàn Tròn Phát Triển Doha’ của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới sẽ được tái diễn, và tiến trình hủy nợ cùng giảm nợ cho các quốc gia bần cùng nhất sẽ được tiếp tục và tăng tốc. Đồng thời, những tiến trình này cũng không được đặt điều kiện đòi phải điều chỉnh về cơ cấu kẻo gây thiệt hại cho thành phần dân chúng yếu kém nhất.
Cũng thế, trong lãnh vực giải giới, những triệu chứng của một thứ khủng hoảng tràn lan đang gia tăng, liên quan tới những khó khăn trong các cuộc thương thuyết về những thứ khí giới qui ước cũng như các loại vũ khí đại công phá, và liên quan cả tới việc gia tăng chi phí quân sự toàn cầu nữa. Cần phải có một nhãn quan toàn cầu và nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề an ninh – đang được tăng bội bởi nạn khủng bố, một nạn cần phải hoàn toàn lên án.
Đối với những cuộc khủng hoảng về nhân đạo, chúng ta cần phải nhận định rằng các tổ chức đương đầu với những cuộc khủng hoảng ấy cần phải được nâng đỡ ủng hộ nhiều hơn nữa, nhờ đó họ có thể được trang bị để thực hiện việc bảo vệ và trợ giúp cho thành phần nạn nhân. Một quan tâm khác cũng đang lù lù hiện lên bao rộng hơn bao giờ hết đó là mối quan tâm về việc con người di chuyển, ở chỗ, hằng bao nhiêu triệu con người nam nữ cảm thấy bị bắt buộc phải rời bỏ nhà cửa hay mảnh đất quê hương của mình vì bạo lực hay để tìm kiếm những điều kiện sống xư ng với nhân phẩm hơn. Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng có thể dùng võ lực để ngăn chặn hay kiểm soát việc di dân. Việc di dân và các vấn đề gây ra việc di dân là những gì cần phải được giải quyết một cách nhân đạo, theo công lý và lòng cảm thương.
Ngoài ra, làm sao chúng ta lại không cảm thấy như được báo động trước các cuộc tấn công sự sống chứ, từ lúc nó được thụ thai cho tới lúc nó tự nhiên qua đi? Những cuộc tấn công như thế thậm chí không buông tha cả những miền đất có một nền văn hóa truyền thống vốn tỏ ra tôn trọng sự sống, chẳng hạn như Phi Châu, nơi đang có nỗ lực tầm thường hóa vấn đề phá thai một cách gian manh, cả qua Nghị Định Thư Maputo và qua Dự Án Tác Hành được Các Vị Bộ Trưởng Y Tế thuộc Khối Hiệp Nhất Phi Châu chấp nhận – sau đó ít lâu được trình cho Thượng Nghị Các Vị Lãnh Đạo Quốc Gia và Lãnh Đạo Chính Quyền. Cũng thế, cũng đang có những mối đe dọa gia tăng đối với việc phối hợp tự nhiên của gia đình được căn cứ vào hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, cũng như đang có những nỗ lực muốn tương đối hóa nó bằng việc làm cho nó ở vào cùng một vị thế như những hình thức kết hợp khác hoàn toàn dị biệt. Tất cả những điều ấy là những gì vi phạm và giúp vào việc làm lung lay gia đình bằng việc vuì dập đi bản chất chuyên biệt của nó và vai trò xã hội đặc thù của nó. Những hình thức khác tấn công sự sống đôi khi được thực hiện nhân danh việc nghiên cứu khoa học. Đang gia tăng một nhận thức cho rằng việc nghiên cứu chỉ tùy thuộc vào các thứ luật tùy nó chọn cho mình, và nó chỉ bị giới hạn bởi khả năng riêng của nó mà thôi. Đó là trường hợp, chẳng hạn như trong những nỗ lực muốn hợp thức hóa việc tạo sinh sao bản con người vì các mục đích được cho có tính cách trị liệu.
“Những Yếu Tố Tích Cực”
Việc tổng quan ôn lại các vấn đề cần quan tâm này không được phân tâm chúng ta khỏi những yếu tố tích cực đánh dấu thời đại tân tiến này. Tôi cần phải đề cập đến trước hết là việc gia tăng ý thức về tầm quan trọng của vấn đề đối thoại giữa các nền văn hóa và giữa các tôn giáo. Đây là một nhu cầu sống còn, đặc biệt là trước những thách đố tất cả chúng ta đang phải đương đầu đối diện liên quan tới gia đình và xã hội. Ngoài ra, tôi muốn chú trọng tới nhiều khởi động trong lãnh vực này nhắm mục đích xây dựng những nền tảng chung cho việc chung sống hợp hòa.
Cũng thật là hợp thời đúng lúc để nhận thấy có một ý thức đang gia tăng nơi cộng đồng thế giới về những thách đồ khổng lồ trong thời đại của chún g ta, và những nỗ lực được thực hiện để biến đổi ý thức này thành hành động cụ thể. Trong nội bộ Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Nhân Quyền được thiết lập năm ngoái, hy vọng rằng cơ quan này sẽ tập trung hoạt động của mình v ào việc bênh vực và cổ võ các quyền lợi căn bản của con người, nhất là quyền sống và quyền tự do tôn giáo. Nói đến Liên Hiệp Quốc, tôi cảm thấy cần phải tri ân cảm tạ nhắc tới Ông Kofi Annan về công việc thành đạt trong thời gian giữ vai trò làm Tổng Thư Ký của ông. Tôi cũng xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới vị thừa kế ông là Ban Ki-moon, vị mới đây đã đảm nhận trách vụ mới của mình.
Trong lãnh vực phát triển, có những khởi động khác nhau đã được thực hiện, những việc được Tòa Thánh không thôi tiếp tục ủng hộ nâng đỡ, đồng thời lập lại rằng những dự phóng ấy không phải là những gì thay thế cho việc quyết tâm của các quốc gia phát triển trong việc cống hiến .7% tổng sản lượng quốc gia của mình cho vấn đề cứu trợ quốc tế. Một yếu tố quan trọng khác trong cuộc tranh đấu tổng hợp để loại trừ nghèo khổ, ngoài vấn đề cứu trợ – một vấn đề người ta chỉ có thể hy vọng là sẽ gia tăng – đó là vấn đề ý thức hơn nữa về nhu cầu cần phải chiến đấu với tình trạng băng hoại và cổ võ việc quan trị tốt đep. Chúng ta cũng cần phải phấn khích và tiếp tục thực hiện những nỗ lực từng được thực hiện trong việc bảo đảm các thứ nhân quyền cho cá nhân con người cũng như cho các dân tộc, để bảo vệ một cách hữu hiệu hơn các thành phần dân sự.
“Tình hình chính trị” ở Phi Châu
Về vấn đề tình hình chính trị ở các châu lục khác nhau, chúng ta lại càng thấy lý do cần phải quan tâm hơn cùng với những lý do hy vọng. Thoạt tiên chúng ta nhận thấy rằng hòa bình là những gì thường mỏng dòn và thậm chí còn bị châm biếm mỉa mai khinh thường nữa. Chúng ta không thể quên được Phi Châu. Thảm cảnh Dafur vẫn tiếp diễn và đang lan tới các vùng biên giới của Chad và Cộng Hòa Trung Phi. Cộng đồng thế giới đã dường như cảm thấy bất lực cả gần 4 năm nay, bất chấp những khởi động nhằm mục đích giải vây cho các thành phần dân chúng đang gặp khốn khổ và đạt tới một giải pháp về chính trị. Chỉ có thực hiện việc chủ động hợp tác giữa Liên Hiệp Quốc, Khối Hiệp Nhất Phi Châu, các chính quyền và những đảng phái quan tâm mới làm cho những phương pháp ấy đạt được thành quả mà thôi. Tôi mời tất cả những ai trong cuộc hãy cương quyết hành động: chúng ta không thể chấp nhận có quá nhiều người vô tội tiếp tục chịu khổ và chết đi như thế.
Tình hình tại Horn ở Phi Châu gần đây đã trở nên trầm trọng hơn, với những hận thù lại tái diễn cùng với việc quốc tế hóa cuộc xung đột này. Trong khi kêu gọi tất cả mọi phía hãy bỏ khí giới xuống và hãy tiến đến chỗ thương thảo với nhau, tôi cần phải gợi nhớ đến Nữ Tu Leonella Sgorbati, người đã cuộc đời của mình để phục vụ thành phần bất hạnh nhất, và đã nguyện cầu xin ơn tha thứ cho những kẻ sát hại mình. Chớ gì gương sáng của nữ tu và chứng từ của vị nữ tu này tác động tất cả những ai thực sự tìm kiếm sự thiện cho Samalia. Đối với Uganda, chúng ta cần phải nguyện cầu cho việc tiến bộ nơi các cuộc thương thảo giữa các phe phái, để mau chóng tiến đến chỗ kết thúc cuộc xung đột dã man tàn bạo đã từng thậm chí chứng kiến thấy nhiều trẻ em bị ghi danh và buộc phải làm lính. Điều này cũng sẽ giúp cho nhiều người phân tán c ó thể trở về nhà và sống lại cuộc đời xứng đáng. Việc đóng góp của các vị lãnh đạo tôn giáo và việc bổ nhiệm mới đây một Đại Diện của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc là những gì cho thấy trước tốt đẹp. Tôi xin lập lại: chúng ta không được quên Phi Châu đang đầy những trường hợp chiến tranh và căng thẳng. Chúng ta cần phải nhớ rằng chỉ thực hiện những cuộc thương thảo giữa các thành phâà đóng vai chính khác nhau mới có thể mở đường cho một cuộc ổn định chính đáng đối với các cuộc xung đột, và cho thấy một thoáng tiến bộ hướng tới việc thiết lập một nền hòa bình bền vững.
Miền Đại Hồ đã từng xẩy ra nhiều máu đổ qua nhiều năm với những cuộc chiến tranh tàn bạo. Những diễn tiến tích cực mới đây đang được hào hứng và hy vọng hoan nghênh đón nhận, nhất là việc kết thúc một giai đoạn chuyển tiếp về chính trị ở Burundi, và mới đây hơn, ở Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Tuy nhiên, những quốc gia này cần phải tự quyết tâm phục hồi nhiệm vụ xứng hợp cho qui tắc luật lệ, để giải giới thành phần chủ chiến và giúp cho xã hội có thể phát triển. Ở Rwanda, tôi cầu xin để tiền trình lâu dài của việc hòa giải quốc gia sau cuộc diệt chủng cuối cùng đạt được thành quả trong công lý, nhưng trong cả chân lý và thứ tha nữa. Hội Nghị Quốc Tế về Vùng Đại Hồ, với sự tham dự của một đại biểu từ Tòa Thánh và các vị đại diện thuộc nhiều hội đồng Giám Mục quốc gia và theo vùng Trung Phi và Đông Phi, là những gì có thể cho thấy một thoáng những tia hy vọng mới lóe lên. Sau hết, tôi xin đề cập tới Ivory Coast, tha thiết xin các phe đang lâm chiến hãy tạo nên một bầu khí tin tưởng nhau có thể dẫn tới chỗ giải giới và hòa bình. Và tôi xin nói tới Nam Phi: nơi những xứ sở ở miền này, hằng bao nhiêu triệu con người đang bị đẩy vào một tình trạng đầy tổn thương đang la hoảng kêu gọi cộng đồng thế giới chú tâm và nâng đỡ.
Trong số những dấu hiệu tích cực giành cho Phi Châu đó là lòng ước mong của cộng đồng thế giới muốn tiếp tục chú tâm tới châu lục này. Cũng thế, việc củng cố các cơ cấu tổ chức ở Châu Phi theo châu và theo miền là những gì chứng tỏ lòng mong ước của các quốc gia trong cuộc muốn đảm nhận trách nhiệm của mình hơn nữa đối với thân mệnh của riêng họ. Ngoài ra, chún g ta cần phải tỏ lòng trân kính trước thái độ đáng ca ngợi của những con người muốn cương quyết dấn thân mọi ngày theo chiều hướng ấy để phát động những dự phóng góp phần vào việc phát triển và tổ chức đời sống kin h tế và xã hội.
“Tình hình chính trị” Mỹ Châu
Chuyến tông du của tôi thực hiện vào tháng 5 tới đây ở Ba Tây sẽ cống hiến cho tôi một cơ hội để tôi chú tâm tới xứ sở lớn lao này, một xứ sở đang vui mừng chờ đợi tôi, cũng như tới toàn Mỹ Châu Latinh và Caribbean. Tình trạng cải tiến cho thấy qua một số những dấu chỉ về kinh tế, việc quyết tâm c hiến đấu với nạn buôn thuốc phiện và tình trạng băng hoại, những tiến trình khác nhau của vấn đề hội nhập, những nỗ lực cải tiến đường lối giáo dục, việc chiến đấu với nạn thất nghiệp và việc giảm thiểu những thứ bất quân bình trong vấn đề phân phối số tổng lợi tức – đó là tất cả những dấu hiệu cần phải được nhận định một cách mãn nguyện. Nếu những diễn tiến ấy được củng cố kiên cường thì chúng mới có thể thực hiện việc đóng góp quan trọng trong vấn đề thắng vượt tình trạng nghèo khổ đang ảnh hưởng tới phần đông dân chúng, cũng như trong vấn đề gia tăng tình trạng bền vững của các cơ cấu tổ chức. Theo chiều hướng của các cuộc bầu cử diễn ra năm ngoái ở một số quốc gia, cần phải nhấn mạnh rằng chế độ dân chủ được kêu gọi để chú trọng tới những khát vọng của toàn thể thành phần công dân, và được kêu gọi để cổ võ việc tôn trọng hơn đối với tất cả mọi yếu tố của xã hội, theo các nguyên tắc của tình liên đới, của sự phụ trợ và của công lý. Tuy nhiên, việc hành sử dân chủ không được trở thành một thứ độc đoán của tương đối chủ nghĩa, bằng cách đề ra những mẫu thức nhân loại học không xứng hợp với bản tính và phẩm vị của con người.
Tôi đặc biệt chú trọng tới một số quốc gia riêng – đáng kể là Colombia, nơi xẩy ra một cuộc xung đột nội bộ lâu dài đã gây ra một cuộc khủng hoảng về nhân đạo, cách riêng nếu quan tâm tới thành phần dân chúng bị phân tán. Cần phải thực hiện hết mọi nỗ lực để mang lại hòa bình cho xứ sở này, trả về cho các gia đình những người thân yêu của họ đã từng bị bắt cóc, bao gồm cả những ai lôi cuốn vướng mắc vào cuộc chiến đấu võ trang ấy. Chúng ta cũng chú ý tới Cuba. Khi vang lên niềm hy vọng là tất cả mọi cư dân của nước này có thể hiện thực những khát vọng hợp lý của họ, trong mối quan tâm về công ích, tôi muốn lập lại lời kêu gọi của vị Tiền Nhhiệm khả kính của tôi, đó là: ‘Cuba hãy hướng mình về thế giới và thế giới hãy hướng mình về Cuba’. Việc hướng về nhau với các quốc gia khác là những gì duy nhất có thể mang lại thiện ích cho tất cả mọi người trong cuộc. Không xa cho lắm, đó là nhân dân Haiti vẫn tiếp tục sống trong một cảnh thật nghèo khổ bị bửa vây bởi bạo động. Tôi cầu nguyện để việc quan tâm của cộng đồng quốc tế – được biểu lộ trong số nhiều điều khác của các hội đồng thành phần tặng viên diễn ra trong năm 2006 – sẽ là những gì dẫn tới việc củng cố các cơ cấu tổ chức, và sẽ giúp cho dân chúng có thể trở thành những kiến trúc viên cho việc phát triển của riêng mình, trong một bầu khí hòa giải và hòa hợp.
“Tình hình chính trị” Á Châu
Lục địa Á Châu bao gồm những xứ sở có đặc tính rất đông dân số và phát triển khả quan về kinh tế. Tôi đang nghĩ tới Trung Hoa và Ấn Độ, những xứ sở đang mau chóng lan triển, và tôi hy vọng rằng việc hiện diện gia tăng của họ trên khấu trường quốc tế sẽ mang lại những thiện ích cho dân chúng riêng của họ và cho cả các quốc gia khác nữa. Cũng thế, tôi nguyện cầu cho Việt Nam, khi nhớ lại việc nước này vừa mới gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới. Tôi nghĩ đến các cộng đồng Kitô hữu. Ở hầu hết các quốc gia Á Châu, họ thường là những cộng đồng tuy nhỏ nhưng sinh động, với niềm ước mong hợp lý được sống và hành động trong một bầu khí tự do tôn giáo. Đây không phải chỉ là một thứ quyền nguyên sơ mà còn là một điều kiện giúp họ có thể góp phần vào việc tiến bộ về vật chất lẫn tinh thần cho xã hội, và trở thành những mạch nguồn nối kết và hòa hợp.
Ở Đông Timor, Giáo Hội Công Giáo muốn tiếp tục góp phần của mình, nhất là về lãnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe và hòa giải quốc gia. Cuộc khủng hoảng chính trị mà Quốc Gia trẻ trung này trải qua cùng với các quốc gia khác trong vùng, cho thấy một thứ mong manh làm sao ấy nơi các tiến trình dân chủ hóa. Những căn nguyên nguy hiểm cho tình trạng căng thẳng là những gì đang lấp ló ở Bán Đảo Triều Tiên. Cần phải theo đuổi trong bối cảnh của các cuộc thương thuyết mục đích của việc hòa giải nhân dân Triều Tiên và việc bảo trì Bán Đảo này như là một vùng phi nguyên tử – một việc sẽ mang lại thiện ích cho toàn vùng ấy. Cần phải tránh đi những cử chỉ có thể gây hòa hoãn các cuộc nói chuyện, và cũng cần tránh đi việc căn cứ vào những thành quả của các cử chỉ ấy như là điều kiện cần thiết cho viện trợ nhân đạo nhắm tới những thành phần yếu kém nhất của nhân dân Bắc Triều Tiên.
Tôi muốn chú ý tới hai quốc gia Á Châu khác cũng cần phải quan tâm. Ở A Phú Hãn, trong những tháng gần đây, chúng ta chỉ có thể lấy làm xót xa trước tình trạng gia tăng đáng kể về bạo lực và các cuộc khủng bố tấn công. Tình trạng khiến cho lối thoát cuộc khủng hoảng ấy càng trở nên khó khăn hơn, và nó là những gì đè nặng trên dân chúng địa phương. Ở Sri Lanka, việc thất bại của các cuộc thương thảo ở Geneva giữa Chính Phủ và Phong Trào Tamil đã đưa đến tình trạng gia tăng hóa cuộc xung đột, gây ra đầy những khổ đau cho thành phần dân sự. Chỉ có đường lối đối thoại mới là những gì có thể bảo đảm cho một tương lai tốt đẹp hơn và vững chắc hơn cho tất cả mọi người mà thôi.
Trung Đông cũng là căn nguyên cho mối quan ngại lớn. Đó là lý do tôi muốn viết một bức thư Giáng Sinh cho những người Công Giáo ở miền này, bày tỏ niềm gắn bó và sự gần gũi thiêng liêng của tôi với tất cả những người trong họ, và phấn khích họ hãy ở lại vùng này, vì tôi tin rằng chứng từ của họ sẽ là những gì trợ lực và hỗ trợ cho một tương lai hòa bình và huynh đệ. Tôi lập lại lời kêu gọi khẩn trương của tôi với tất cả mọi phía có liên quan tới bàn cờ chính trị phức tạp ở miền này, hy vọng thấy được sự củng cố từ những dấu hiệu tích cực được tỏ ra trong mấy tuần gần đây giữa những người Do Thái và Palestine. Tòa Thánh sẽ không bao giờ mệt mỏi khi cần phải lập lại rằng các giải pháp võ trang chẳng đạt được gì hết, như chúng ta đã thấy ở Lebanon vào mùa hè vừa qua. Thật vậy, tương lai của xứ sở này lệ thuộc vào việc hiệp nhất của tất cả mọi yếu tố của nó, cũng như vào những liên hệ huynh đệ giữa những phái nhóm tôn giáo và xã hội. Điều này sẽ tạo nên một sứ điệp hy vọng cho tất cả mọi người. Những giải pháp thiên vị hay đơn phương không còn là những gì khả dĩ. Để chấm dứt cuộc khủng hoảng này cũng như những khổ đau do nó gây ra trong dân chúng, cần phải có một chính sách toàn cầu, không loại trừ một ai khỏi cuộc tìm kiếm thực hiện một cuộc ổn định được thương thảo, chú trọng tới những thiện ích và khát vọng hợp lý của các dân tộc khác nhau trong cuộc. Đặc biệt là nhân dân Labanon có quyền thấy được tính cách nguyên tuyền và chủ quyền của xứ sợ họ được tôn trọng; nhân dân Do Thái có quyền sống bình an ở Quốc Gia của họ; những người Palestine có quyền có được một quê hương tự do và chủ quyền. Khi mà mỗi một thành phần dân chúng trong miền n ày thấy được rằng những niềm mong đợi của họ đưoơc quan tâm tới và vì thế cảm thấy ít bị đe dọa, thì bấy giờ việc tin tưởng lẫn nhau mới được củng cố. Niền tin tưởng này sẽ tăng trưởng nếu một quốc gia như Iran, nhất là đối với vấn đề liên quan tới chương trình nguyên tử của nước ấy, bằng lòng đồng ý đáp ứng những mối quan tâm hợp lý của cộng đồng quốc tế. Những bước tiến được thực hiện theo chiều hướng ấy chắc chắn sẽ giúp vào việc củng cố ổn định cho toàn miền, nhất là Iraq, chấm dứt cuộc bạo lực kinh hoàng đang làm biến dạng quốc gia đổ máu này, và tạo cơ hội hoạt động cho việc tái thiết và hòa giải giữa tất cả mọi dân cử của nước này.
“Tình hình chính trị” Âu Châu
Ở Âu Châu, gần chúng ta hơn là hai quốc gia mới, Bulgaria và Romania, những quốc gia có một truyền thống Kitô Giáo lâu đời, đã gia nhập Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Để cử hành mừng kỷ niệm 50 năm Hiệp Định Rôma sắp tới, thật là thích hợp để suy nghĩ về Bản Hiệp Định Hiến Pháp này. Tôi hy vọng là những giá trị nồng cốt lấy phẩm giá con người làm nền tảng sẽ hoàn toàn được bảo vệ, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo nơi tất cả mọi chiều kích của nó và những quyền về cơ cấu tổ chức của các Giáo Hội. Cũng thế, người ta không thể coi thường bỏ qua gia sản Kitô Giáo bất khả phủ nhận của châu lục này, một gia sản đã góp phần lớn lao cho việc hình thành các quốc gia Âu Châu và các dân tộc Âu Châu. Cuộc mừng kỷ niệm 50 năm cuộc nổi dậy ở Budapest, được cử hành vào Tháng 10 vừa rồi, đã là những gì nhắc nhở những biến cố thê thảm của thế kỷ 20, và nó nhắc nhở tất cả mọi người dân Âu Châu hãy xây dựng một tương lai phi áp bức và phi qui định về ý hệ, hãy thiết lập những mối liên hệ thân hữu và huynh đệ, và hãy tỏ ra quan tâm cùng liên đới với thành phần nghèo khổ và yếu kém. Cũng thế, cần phải thanh tẩy những thứ căng thẳng trong quá khứ, bằng việc cổ võ việc hòa giải ở mọi cấp độ, vì chỉ có điều này mới mở đường cho tương lại và mang lại hy vọng mà thôi. Tôi cũng kêu gọi tất cả những ai đang ở trên mảnh đất Âu Châu, thành phần bị thử thách trước nạn khủng bố, muốn chấm dứt hết mọi hoạt động như vậy: những thứ hành động này chỉ càng dẫn tới bạo lực và tạo nên sợ hãi nơi dân chúng – chúng chỉ là một ngõ cụt mà thôi. Và tôi cũng cần phải đề cập tới ‘những cuộc xung khắc đông lạnh’ khác nhau và những thứ căng thẳng ngày nay hằng tái diễn liên quan tới các nguồn năng lực, hy vọng rằng những thứ căng thẳng này sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng và dứt khoát.
Tôi cầu nguyện để miền Balkan sẽ tiền đến chỗ ổn định hết sức ước trông, nhất là bằng việc hội nhập của các quốc gia trong cuộc vào những cơ cấu của châu lục với sự hỗ trợ của cộng đồng thế giới. Việc thiết lập những mối liên hệ ngoại giao với Cộng Hóa Montenegro, một quốc gia mới đây đã gia nhập một cách êm đềm vào gia đình chư quốc, và Bản Hòa Ước Căn Bản ký kết với Bosnia-Hercegovina là những dấu hiệu c ho thấy Tòa Thánh liên lỉ quan tâm tới vùng Balkan. Trong lúc đang tiến tới chỗ xác định tình trạng của nước Kosovo, Tòa Thánh yêu c ầu tất cả mọi người trong cuộc hãy nỗ lực một cách khôn ngoan nhìn xa trông rộng, một cách uyển chuyển và điều hòa, để có thể tìm được một giải pháp tôn trọn g các thứ quyền lợi cùng các niềm trông đợi hợp lý của tất cả mọi người.
Các tình hình tôi vừa đề cập tới là những gì tạo nên một thứ thách đố đụng chạm tới tất cả chúng ta – một thách đố trong việc cổ võ và củng cố tất cả những yếu tố tích cực trên thế giới, và thắng vượt theo thiện chí, khôn ngoan và kiên trì, tất cả mọi nguyên do gây nên thương tổn, đê tiện và chết chóc. Chính nhờ biết tôn trọng con người mà hòa bình mới được cổ võ, và chính nhờ biết xây dựng hòa bình mà một chủ nghĩa nhân bản nguyên vẹn chân thực mới có nền tảng. Đó là nơi tôi tìm thấy câu trả lời cho mối quan tâm về một tương lai được rất nhiều người đương thời của chúng ta lên tiếng tranh đấu. Phải, tương lai này có thể là những gì bình an thanh thản, nếu chúng ta cùng nhau hoạt động cho nhân loại. Con người, được dựng nên theo hình ảnh Thiên C húa, có một phẩm vị khôn sánh; con người, thành phần rất đáng yêu thương trước mắt Đấng Hóa Công đến nỗi Thiên Chúa đã không ngần ngại ban tặng Con của Ngài cho họ. Đó là mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả, một mầu nhiệm chúng ta vừa cử hành, và là mầu nhiệm tiếp tục lan tỏa bầu khí hân hoan trên cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay đây. Trong việc dấn thân phục vụ nhân loại và xây dựng hòa bình, Giáo Hội đứng về bên tất cả những ai thiện chí và sẵn sàng hợp tác một cách vô tư. Cùng nhau, mỗi người trong vị thế và tặng ân riêng biệt của mình, chúng ta hãy thực hiện việc xây dựng một chủ nghĩa nhân bản trọn vẹn là những gì một mình có thể bảo đảm cho một thế giới hòa bình, công chính và đoàn kết. Trong việc bày tỏ niềm hy vọng ấy, tôi cũng cầu cùng Chúa cho tất cả quí vị, cho gia đình của quí vị, cho nhân viên của quí vị và cho dân tộc được quí vị đại diện .
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh Vatican (trừ những tiểu đề được chính người dịch tự phân đặt theo ý tứ được chính tác giả bày tỏ)
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2007/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20070108_diplomatic-corps_en.html