Với Nam Nữ Tu Sĩ trong Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến tại Đền Thờ Thánh Phêrô 2/2/2008
Cùng Các Phần Tử Pháp Ṭa Rota Roma 26/1/2008
Với Đại Học Rôma La Sapienza ngày Thứ Năm 17/1/2008
Huấn Từ Ngỏ Cùng Các Phần Tử Pháp Ṭa Rota Roma 26/1/2008
Quí Huynh Giáo Phẩm Giám Sát Viên,
Quí Viên Chức và Cộng Tác Viên Pháp Ṭa Rota Roma thân mến,
Biến cố đệ nhất bách niên việc phục hồi Pháp Đ́nh Ṭa Thánh Rota Roma, được Đức Piô X phê chuẩn vào năm 1908 bằng Tông Hiến Sapienti Consilio là những ǵ vừa được nhắc đến trong lời thân ái mở đầu của vị Trưởng Pháp Đ́nh của anh chị em, Giám Mục Antoni Stankiewicz. Cơ hội này càng tăng thêm ư nghĩa cho việc cảm nhận và ḷng tri ân tôi cảm thấy khi gặp gỡ anh chị em đây, đă tới lần thứ ba rồi. Tôi gửi lời chào thân ái đến mỗi và mọi người trong anh chị em. Tôi thấy hiện thân nơi anh chị em, các vị Giáo Phẩm Giám Sát Viên cũng như nơi tất cả những ai tham dự vào những phận sự khác nhau vào việc của Pháp Ṭa này, một cơ cấu của Ṭa Thánh có nguồn gốc sâu xa nơi truyền thống giáo luật đă từng cho thấy được một nguồn sinh động vô tận. Chính công việc của anh chị em đă giữ cho truyền thống này tồn tại, với niềm xác tín rằng anh chị em nhờ đó cung cấp một dịch vụ luôn hợp thời cho việc điều hành chung về công lư trong Giáo Hội.
Biến cố bách niên này là một cơ hội thuận lợi để suy nghĩ về một khía cạnh nền tảng của hoạt động Pháp Ṭa Rôta này, đó là giá trị của khoa luật pháp có tính cách luân phiên nơi toàn bộ của việc điều hành về công lư trong Giáo Hội. Nó là một khía cạnh đă được nhấn mạnh đến trong chính lời diễn giải về Pháp Ṭa Rôta của Tông Hiến Pastor Bonus: “Pháp Ṭa Rôta Rôma là một ṭa án xét xử cao cấp ở Ṭa Thánh, thường ở vào giai đoạn khiếu nại, với mục đích để bảo toàn quyền lợi trong Giáo Hội; nó nuôi dưỡng mối hiệp nhất về khoa luật pháp, và bằng những phán quyết của ḿnh, nó hỗ trợ cho các ṭa có thẩm quyền thấp hơn” (khoản 126). Trong các bài huấn từ hằng năm của ḿnh, các vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi thường cảm nhận và tin tưởng nói về khoa pháp luật của Pháp Đ́nh Rôta Rôma, một cách vừa tổng quan vừa liên quan tới những vấn đề thực tế nhất là đến các đề tài về hôn nhân.
Nếu thật là thích hợp để nhớ đến thừa tác vụ công lư do Pháp Ṭa Rôta hành sử qua việc hiện hữu cả bao thế kỷ – nhất là trăm năm qua – th́ cơ hội này cũng thích đáng để nỗ lực xem xét đến cái ư nghĩa của dịch vụ ấy, một khối lượng phán quyết hằng năm cho thấy rằng nó là một phương tiện thực tiễn. Chúng ta có thể đặc biệt nghĩ rằng tại sao các pháp quyết luân phiên mang một tầm quan trọng về pháp lư vượt ra ngoài môi trường trực tiếp của những nguyên nhân từ đó chúng xuất phát. Bất kể đến giá trị chính yếu có thể cống hiến cho các vụ kiện trước đó của mọi tiến tŕnh pháp lư b́nh thường, chắc chắn một điều là những phán quyết từng lần ấy có liên quan tới toàn thể xă hội. Thật vậy, chúng tiếp tục khẳng định những ǵ được tất cả mọi người mong đợi nơi các pháp đ́nh là những nơi thật sự là ảnh hưởng tới chiều hướng của đời sống xă hội. Bất cứ một hệ thống pháp lư nào cũng phải t́m cách để cống hiến những giải quyết, trong đó, cùng với việc khôn ngoan thẩm định các trường hợp riêng biệt, những nguyên tắc giống nhau và những qui tắc phổ quát về công lư được áp dụng. Chỉ có thế hoạt động của pháp đ́nh mới tạo nên được bầu khí tin tưởng và tránh được tính chất độc đoán của các tiêu chuẩn chủ quan. Ngoài ra, trong mỗi một tổ chức pháp lư, vấn đề cấp trật hiện hữu giữa những ṭa án khác nhau cũng giúp vào mối hiệp nhất về khoa pháp luật nơi việc t́m đến với những pháp ṭa cao cấp hơn.
Những cứu xét được đề cập tới trên đây cũng hoàn toàn có thể áp dụng cho các ṭa án trong Giáo Hội. Thật vậy, v́ các tiến tŕnh giáo luật liên quan tới các khía cạnh về pháp lư của những thiện ích cứu độ hay của những thiện ích trần thế khác là những tiến tŕnh giúp vào sứ vụ của Giáo Hội, mà vấn đề đ̣i hỏi hiệp nhất trong các qui tắc thiết yếu về công lư và nhu cầu có thể hữu lư thấy được chiều hướng mà các phán quyết về pháp lư thực hiện, trở thành một thiện ích chung của Giáo Hội có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống nội bộ của Dân Chúa cũng như với việc làm chứng có tính cách cơ cấu tổ chức của Giáo Hội trên thế giới. Ngoài cái giá trị nội tại của tính cách hữu lư chất chứa nơi hoạt động của một Pháp Ṭa thường quyết định những vụ ở vụ kiện trước đó, quả thực giá trị của khoa pháp luật của Pháp Ṭa Rôta Rôma lệ thuộc vào bản chất của nó khi có một vụ kiện nại đến Ṭa Thánh. Những biện pháp về pháp lư nh́n nhận giá trị này (cf. can. 19, Code of Canon Law; Apostolic Constitution Pastor Bonus, art. 126) là những ǵ không tạo nên, mà là công bố giá trị ấy. Nó xuất phát trên hết từ nhu cầu quản trị công lư theo những yếu tố như nhau nơi tất cả những ǵ xác đáng với nó một cách tương đương chính yếu.
Như thế, cái giá trị của khoa pháp luật luân phiên không phải là một vấn đề tính cách xă hội học cụ thể, v́ nó có một tính chất pháp lư thích đáng trong việc phục vụ cho công lư chính yếu. Bởi thế thật là không thích hợp khi công nhận là có một cái ǵ đó tương phản giữa khoa pháp luật luân phiên và những phán quyết của các ṭa án địa phương được kêu gọi để đóng một vai tṛ bất khả thiếu trong việc làm khả dĩ trực tiếp vấn đề quản trị công lư, cũng như trong việc có thể điều tra và giải quyết các trường hợp cụ thể ở vào những thời điểm liên quan tới các nền văn hóa và tâm thức của dân chúng. Dù sao th́ tất cả mọi phán quyết bao giờ cũng cần phải căn cứ vào những nguyên tắc và qui tắc chung của công lư. Đ̣i hỏi này, áp dụng chung cho bất cứ cấp độ tư pháp nào, có một tầm quan trọng đặc biệt trong Giáo Hội tới độ gây nguy hiểm cho những đ̣i hỏi về mối hiệp thông. Vấn đề này bao gồm việc bảo vệ những ǵ chung đối với Giáo Hội hoàn vũ, những ǵ được đặc biệt ủy thác cho Thẩm Quyến Tối Thượng cũng như cho các cơ cấu dự phầnvào thẩm quyến linh thánh của Giáo Hội ad normam iuris.
Trong lănh vực hôn phối, khoa pháp luật học luân phiên đă hoạt động rất đáng chú ư trong 100 năm qua. Nó đặc biệt thực hiện những đóng góp quan trọng được thể hiện nơi việc soạn thảo luật lệ đang có hiệu lực. V́ thế người ta không thể nghĩ rằng tầm quan trọng này của việc dẫn giải lề luật theo khoa pháp luật học của Pháp Đ́nh Rôta đă bị suy giảm. Thật thế, việc áp dụng giáo luật hiện hành thật sự đ̣i hỏi là nó phản ảnh cái ư nghĩa thực sự của công lư, cái ư nghĩa trước hết liên quan tới chính yếu tính của hôn nhân. Pháp Đ́nh Rôta Rôma liên lỉ được kêu gọi thi hành một công việc gay go có một tầm ảnh hưởng mănh liệt trên công việc của tất cả mọi ṭa án: một công việc hiểu được việc hiện hữu hay không hiện hữu về thực tại hôn phối, một thực tại tự bản chất có tính cách nhân loại học, thần học và luật học. Để hiểu hơn vai tṛ của pháp luật học, tôi muốn nhấn mạnh đến những ǵ tôi đă nói cùng anh chị em năm ngoái liên quan tới “chiều kích pháp lư nội tại của hôn nhân” (cf. Address to Roman Rota, 27 January 2007). Luật lệ không thể trở thành một thứ thuần túy tổng hợp các thứ qui tắc tích cực buộc các ṭa án phải áp dụng. Cách duy nhất để đặt nền tảng vững chắc cho công việc của luật pháp học đó là nghĩ về nó như là một việc hành sử thực sự cái prudential iuris. Sự khôn ngoan này hoàn toàn trái ngược với cái độc đoán của chủ nghĩa tương đối, v́ nó cho phép các biến cố tỏ hiện sự hiện diện hay vắng bóng ở mối liên hệ đặc biệt của công lư nơi hôn nhân với ư nghĩa nhân loại và cứu độ thực sự. Có thế những câu châm ngôn của khoa luật học mới chiếm được giá trị đích thực của ḿnh mà không trở thành một đống những qui luật trừu tượng và lập đi lập lại, những qui luật có thể được dẫn giải cách chủ quan hay chuyên chế.
Việc thẩm định khách quan về các sự kiện theo chiều hướng Huấn Quyền và luật lệ của Giáo Hội bởi thế là những ǵ cấu tạo nên một khía cạnh rất quan trọng nơi hoạt động của Pháp Ṭa Rôta Rôma và là những ǵ gây ảnh hưởng lớn trên những thừa tác viên công lư ở những ṭa án thuộc Giáo Hội địa phương. Luật pháp học của Pháp Ṭa Rôta cần phải được coi như là sự khôn ngoan mẫu mực về pháp lư được hành sử bằng thẩm quyền của một Pháp Đ́nh được Vị Thừa Kế Thánh Phêrô thường trực thiết lập cho thiện ích của toàn thể Giáo Hội. Nhờ công cuộc này mà thực tại về các nguyên cớ hủy hôn được phán quyết một cách khách quan theo các tiêu chuẩn liên lỉ tái khẳng định thực tại bất khả phân ly của hôn nhân, hướng con người nam nữ về dự án của Thiên Chúa Hóa Công và Cứu Độ. Cần phải liên lỉ nỗ lực để đát tới mối hiệp nhất nơi các tiểu chuẩn về pháp lư là những ǵ chính yếu làm nên đặc tính cho ư niệm về pháp luật học và là một ước định nồng cốt cho hoạt động của nó. Trong Giáo Hội, chính v́ tính chất phổ quát và đa đạng của ḿnh về các nền văn hóa theo pháp lư mà Giáo Hội được kêu gọi để hoạt động mà bao giờ cũng gặp nguy cơ xẩy ra “các h́nh thức địa phương về pháp luật học”, sensim sine sensu, càng ngày càng xa rời với việc dẫn giải chung về luật lệ xác thực cũng như với giáo huấn về hôn nhân của Giáo Hội. Tôi mong thấy thực hiện việc nghiên cứu về các cách thức thích đáng để làm sao cho vấn đề pháp luật học luân phiên càng ngày càng trở nên thống nhất một cách rơ ràng hơn, cũng như có thể hiệu nghiệm chạm tới tất cả những ai hành sử công lư, để bảo đảm việc áp dụng đồng loạt ở tất cả mọi ṭa án của Giáo Hội.
Cái giá trị của những vụ can thiệp của Huấn Quyền Giáo Hội về các vấn đề hôn phối và pháp lư, bao gồm những Bào Diễn Từ của Giáo Hoàng Rôma ngỏ cùng Pháp Đ́nh Rôta Rôma, cũng cần phải được nh́n theo chiều kích thực tiễn ấy. Chúng là một bản hướng dẫn trong tay cho hoạt động của tất cả mọi ṭa án của Giáo Hội. Trong bài Diễn Từ cuối cùng của ḿnh ngỏ với Pháp Đ́nh Rôta Rôma, vị Tiền Nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II của tôi cảnh giác con người trước cái tâm thức thực tiễn trong việc hiểu biết về lề luật, một thứ tâm thức có khuynh hướng phân biệt giữa các luật lệ và phương sách pháp luật học với tín lư của Giáo Hội. Ngài đă khẳng định rằng: “Thật vậy, việc dẫn giải Lời Chúa mộït cách đích thực, được Huấn Quyền Giáo Hội thi hành, có một giá trị pháp lư ở chỗ nó liên quan tới nội dung của luật lệ, mà không đ̣i hỏi bất cứ một phương án chính thức nào mới có hiệu lực về pháp lư và về luân lư. Để có được một dẫn giải lành mạnh về luật pháp th́ không thể nào thiếu được việc hiểu biết toàn bộ các giáo huấn của Giáo Hội và đặt mọi sự khẳng định về hệ thống theo chiều hướng truyền thống. Nhờ đó mới có thể tránh được những dẫn giải tùy ư và méo mó cũng như những b́nh phẩm chẳng có lợi ǵ cả” (John Paul II, Address to Roman Rota, 29 January 2005).
Biến cố bách niên đây không phải chỉ là việc trang trọng tưởng niệm vậy thôi. Nó sẽ là một cơ hội cho một việc suy nghĩ cần phải kiên cường việc dấn thân của anh chị em, làm cho cơ hội này bừng lên cái ư nghĩa về công lư sâu xa hơn bao giờ hết của giáo hội đó là cái ư nghĩa của một việc thực sự phục vụ cho mối hiệp thông cứu độ. Tôi khuyến khích anh chị em hăy n guyện cầu hằng ngày cho Pháp Đ́nh Rôta Rôma cũng như cho tất cả những ai đang làm việc ở lănh vực quản trị về pháp lư trong Giáo Hội. Bằng việc chạy đến với việc chuyển cầu của Mẹ Maria Rất Thánh, Speculum iustitiae. Lời mời gọi này dường như chỉ thuần túy là những ǵ tôn sùng và là một cái ǵ đó ở bên lề thừa tác vụ của anh chị em; thế nhưng chúng ta không được quên rằng hết mọi sự trong Giáo Hội đều được hoàn thành nhờ quyền lực của việc nguyện cầu, một quyền lực biến đổi toàn thể cuộc đời của chúng ta và làm cho chúng ta tràn đầy niềm hy vọng được Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta. Việc nguyện cầu không thể tách biệt được việc hằng ngày dấn thân hệ trọng và chuyên môn của chúng ta này, sẽ mang lại ánh sáng và sức mạnh, ḷng trung thành và việc canh tân thực sự cho đời sống của Cơ Cấu khả kính của anh chị em đây, nhờ đó, ad normam iuris, Vị Giám Mục Rôma hành sử mối quan tâm của ḿnh đối với việc quản trị công lư toàn thể Dân Chúa. Bởi vậy, chớ ǵ Phép Lành của tôi hôm nay, đầy cảm mến và tri ân, bao gồm cả anh chị em hiện diện nơi đây cũng như tất cả những ai trên thế giới đang phục vụ Giáo Hội và tất cả tín hữu nơi lănh vực này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2008/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20080126_roman-rota_en.html
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Với Nam Nữ Tu Sĩ trong Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến tại Đền Thờ Thánh Phêrô 2/2/2008
Anh Chị Em thân mến,
Tôi rất vui mừng được gặp gỡ anh chị em nhân dịp Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến, một cuộc gặp gỡ truyền thống theo ư nghĩa phụng vụ của Ngày Lễ Dâng Chúa trong Đền Thánh. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Franc Rodé, vị đă cử hành Thánh Lễ cho anh chị em, và cùng với ngài là vị Thư Kư cùng với các vị cộng tác viên của ngài thuộc Thánh Bộ Các Tu Hội Sống Đời Tận Hiến và Các Hội Sống Đời Tông Đồ. Tôi thân ái gửi lời chào các vị Bề Trên Tổng Quyền hiện diện và tất cả anh chị em làm nên một hội đồng chuyên biệt này, một thể hiện của kho tàng khác nhau của Đời Sống Tận Hiến trong Giáo Hội.
Trong tŕnh thuật Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, ít là 3 lần Thánh Kư Luca đă nhấn mạnh rằng Mẹ Maria và Thánh Giuse đă làm theo “Luật Chúa” (x Lk 2:22,23,39), ngoài ra, các vị luôn tỏ ra chuyên chú lắng nghe Lời Chúa. Thái độ này là một mẫu gương sống động cho anh chị em tu sĩ nam nữ; và cho cả anh chị em là phần tử của những Tu Hội Đời và những thể thức khác của Đời Tận Hiến. Thượng Nghị Giám Mục Thường Lệ tới đây sẽ chú trọng tới chủ đề Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội: anh chị em thân mến, tôi xin anh chị em hăy góp phần của ḿnh vào quyết tâm này của Giáo Hội, làm chứng cho tầm quan trọng, đặc biệt đối với những ai như anh chị em là thành phần được Chúa gọi tới một “sequela” thân t́nh hơn, của việc lấy Lời Chúa làm tâm diểm của tất cả mọi sự. Thật vậy, Đời Tận Hiến được bắt nguồn từ Phúc Âm. Qua các thế kỷ, Phúc Âm – thực sự là qui luật tối hậu của nó – đă tiếp tục tác động nó và Đời Tận Hiến được kêu gọi liên lỉ sống theo Phúc Âm, tiếp tục sống động và nẩy nở, sinh hoa trái cho phần rỗi của các linh hồn.
Ở tận nguồn của những thể hiện khác nhau nơi Đời Sống Tận Hiến là cái thần hứng mạnh mẽ của Phúc Âm. Tôi nghĩ về Thánh Antôn Đan Viện Phụ, vị đă cảm kích khi nghe thấy lời của Chúa Kitô: “Nếu anh muốn nên trạn lành th́ hăy về bán đi những ǵ ḿnh có mà cho kẻ khó và anh sẽ được kho báu trên trời rồi hăy đến mà theo Tôi” (Mt 19:21) (x Vita Antonii, 2,4). Thánh Antôn đă lắng nghe những lới ấy như thể chúng được Chúa ngỏ riêng với ngài. Về phần Thánh Phanxicô Assisi ngài đă xác nhận rằng chính Thiên Chúa là Đấng đă tỏ cho ngài rằng ngài phải sống theo thể thức của Phúc Âm thánh (Testament, 17; Franciscan Omnibus 116). Thomas of Celano đă viết: “Phanxicô, vị đă nghe thấy rằng các môn đệ của Chúa Kitô không được có vàng bạc hay tiền bạc hoặc túi bị; cũng chẳng có bánh ăn hay gậy cầm; hay có giầy đi và hai áo… hân hoan trong Thánh Linh mà nói: ‘Đó là những ǵ tôi muốn! Đó là những ǵ tôi xin! Đó là những ǵ tôi muốn làm từ đáy ḷng tôi!” (I Celano 83; Franciscan Omnibus 670, 672).
Bản Hướng Dẫn Bắt Đầu Lại Từ Chúa Kitô nhắc nhở rằng: “Chính Thánh Linh là Đấng khơi động Lời Chúa bằng một ánh sáng mới cho các vị Nam Nữ Sáng Lập. Hết mọi đoàn sủng và hết mọi Qui Luật đều xuất phát từ Thánh Linh và t́m cách trở thành một thể hiện của Thánh Linh” (số 24). Thật vậy, Thánh Linh lôi cuốn một số người sống Phúc Âm cách sâu xa và chuyển dịch Phúc Âm thành một lối sống theo đuổi cách quảng đại. Bởi vậy mới phát sinh một công cuộc, một gia đ́nh tu tŕ mà với sự hiện diện của ḿnh nó trở thành một thứ sống động “dẫn giải” Lời Chúa. Công Đồng Chung Vaticanô II nói rằng việc kế thừa của những đoàn sủng nơi Đời Sống Tận Hiến bởi đó có thể được thấy như là một tỏ hiện Chúa Kitô qua các thế hệ, như là một Phúc Âm sống động được hiện thực nơi những h́nh thức hằng mới mẻ (cf. Dogmatic Constitution Lumen Gentium, n. 46). Mầu Nhiệm của Chúa Kitô được phản ảnh nơi những công cuộc của các vị Nam Nữ Sáng Lập, một thứ lời nói của Người, một tia sáng chiếu tỏ Dung Nhan rạng ngời của Người, ánh huy hoàng của Cha (cf. Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata, n. 16).
Trong gịng lịch sử, lời khuyên theo Chúa Kitô một cách trọn vẹn, như được bày tỏ cho chúng ta thấy trong Phúc Âm, v́ thế đă tạo nên một qui luật tối hậu và cao cả cho đời sống tu tŕ (cf. Perfectae Caritatis, n. 2). Trong Lề Luật của ḿnh, Thánh Biển Đức đă coi Thánh Kinh như là “qui luật chính xác nhất của đời sống con người” (73:2-5). Thánh Đaminh, vị có những lời nói và việc làm nói lên cho thấy ngài là một con người của Phúc Âm ở mọi thời đại (cf. Libellus de Principiis Ordinis Praedicatorum, 104: in P. Lippini, San Domenico visto dai suoi contemporanei, Ed. Studio Dom., Bologna, 1982, 110) đă mong muốn anh em giảng thuyết của ḿnh cũng trở thành “những con người của Phúc Âm” (First Constitutions or Consuetudines, 31). Thánh Clara thành Assisi đă bắt chước tất cả cảm nghiệm của Thánh Phanxicô. Ngài viết: “Thể thức của đời sống thuộc Hội Ḍng Chị Em Nghèo là thế này, đó là tuân giữ Phúc Âm Thánh của Chúa Giêsu Kitô của chúng ta” (Rule, I, 1-2; Franciscan Omnibus, n. 2750). Thánh Vinh Sơn Pallotti đă nói: “V́ đời sống của Chúa Kitô là qui luật nồng cốt của Hội Ḍng nhỏ bé chúng ta… chúng ta cần phải nhắm đến những ǵ trọn lành nhất luôn măi và trong hết mọi sự” (cf. Complete Works, II, 541-546; VIII, 63, 67, 253, 254, 466). Và Thánh Luigi Orione đă viết: “Qui Luật thứ nhất và cuộc sống của chúng ta đó là tuân giữ Phúc Âm thánh, một cách hết sức khiêm nhượng cùng dịu dàng yêu mến và thiết tha nhiệt thành với Thiên Chúa” (Letters of Don Orione, Rome, 1969, Vol. II, 278).
Truyền thống phong phú này chứng thực rằng Đời Sống Tận Hiến “sâu xa đâm rễ vào gương lành và giáo huấn của Chúa Kitô” (Vita Consecrata, n. 1) và có thể được so sánh với “một cây có nhiều cành cắm rễ vào Phúc Âm và sinh nhiều hoa trái ở mọi mùa trong đời sống Giáo Hội” (ibid, n.5). Sứ vụ của nó đó là nhắc lại rằng tất cả mọi Kitô hữu được Lời Chúa qui tụ lại với nhau để sống Lời Chúa và được Lời Chúa chi phối. Bởi vậy con người tu sĩ nam nữ có nhiệm vụ đặc biệt trong việc “nhắc nhở thành phần đă lănh nhận phép rửa những giá trị nồng cốt của Phúc Âm” (Vita Consecrata, n. 33). Làm như thế, chứng từ của họ làm cho Giáo Hội thấm đẫm “một tác lực rất cần thiết đối với ḷng trung thành mạnh mẽ hơn bao giờ hết với Phúc Âm” (ibid, n.3) và chúng ta thực sự có thể nói là “một thứ loan báo Phúc Âm, cho dù thường thầm lặng” (ibid số 25). Đó là lư do tại sao, trong hai bức Thông Điệp của ḿnh cũng như ở các dịp khác, tôi đă không thôi trích dẫn một loạt gương lành của các vị Thánh và Chân Phước thuộc về các Tu Hội Sống Đời Tận Hiến.
Anh chị em thân mến, hăy nuôi dưỡng ngày sống của ḿnh bằng việc nguyện cầu, suy niệm và lắng nghe Lời Chúa. Chớ ǵ anh chị em, thành phần quen biết với việc thực hành lectio dinina xa xưa, giúp cho tín hữu biết cảm nhận Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày của họ nữa. Và chớ ǵ anh chị em biết thể hiện những ǵ Lời Chúa đề ra, để cho ḿnh được Lời Chúa uốn nắn hầu anh chị em sinh nhiều hoa trái, như một hạt giống rơi xuống mảnh đất tốt. Nhờ đó anh chị em sẽ luôn trở nên dễ dạy với Thần Linh và anh chị em sẽ càng hiệp nhất với Thiên Chúa hơn, anh chị em sẽ vun trồng mối hiệp thông huynh đệ giữa anh chị em, và sẽ sẵn sàng quảng đại phục vụ anh chị em ḿnh, nhất là những ai cần thiết. Chớ ǵ dân chúng thấy được các việc lành anh chị em làm, hoa trái của Lời Chúa sống trong anh chị em, mà ngợi khen Cha trên trời của anh chị em (cf Mt 5:16)! Trong việc kư gửi những chia sẻ này cho anh chị em, tôi xin cám ơn anh chị em về việc phục vụ quí báu của anh chị em giành cho Giáo Hội và, trong khi kêu cầu Mẹ Maria phù tŕ cùng với các Thánh và Chân Phước, những Vị Sáng Lập Tu Hội của anh chị em, tôi hết ḷng ban Phép Lành Ṭa Thánh cho anh chị em cùng gia đ́nh tu tŕ của anh chị em, đặc biệt là những con người nam nữ trẻ trung đang được đào luyện cũng như anh chị em bị bệnh, già yếu hay gặp khốn khó. Tôi hứa nhớ nguyền cầu cho tất cả anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2008/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20080202_vita-consacrata_en.html
Với Đại Học Rôma La Sapienza ngày Thứ Năm 17/1/2008
‘Tôi không đồng ư với bạn những ǵ bạn nói, nhưng tôi sẽ bênh vực cho đến cùng quyền được nói của bạn’
Theo thông báo của văn pḥng báo chí Ṭa Thánh tối ngày 15/1/2007 th́ ĐTC Biển Đức XVI quyết định tŕ hoăn chuyến viếng thăm Đại Học Rôma La Sapienza để khai mạc năm học mới. Bản thông báo viết như thế này:
“Theo sau những biến cố được phổ biến rộng răi trong mấy ngày vừa qua liên quan tới việc Đức Thánh Cha viếng thăm Đại Học ‘La Sapienza’ Rôma theo lời mời của vị viện trưởng được ấn định vào ngày Thứ Năm 17/1, th́ biến cố này được thấy rằng thích đáng để hoăn lại. Tuy nhiên, ĐTC sẽ gửi bài nói ngài định tŕnh bày”.
Biến cố này xẩy ra là v́ có một bản thỉnh nguyện gửi cho vị viện trưởng, với chữ kư của 67 vị giáo sư yêu cầu đ́nh chỉ việc viếng thăm của Đức Thánh Cha, và v́ có những phản đối của các nhóm sinh viên vào ngày hôm qua đă trấn đóng ở văn pḥng viện trưởng để đ̣i hỏi quyền được xuống đường trong khuôn viên đại học vào ngày viếng thăm của Đức Thánh Cha.
Những vị giáo sư kư tên vào bản thỉnh nguyện trích dẫn moat bài nói của ĐHY Ratzinger năm 1990, nhất là một câu ngài nói vào lúc ấy là “trong thời đại của Galileo Giáo Hội vẫn trung thành với lư trí hơn cả chính Galileo nữa. Bản án chống lại Galileo là những ǵ hợp lư và chính đáng”. Những nhận định của vị Giáo Hoàng tương lai này, một lời trích dẫn từ một tác phẩm của vị triết gia về khoa học là Paul Feyerabend người Áo, đă được sử dụng trong tương quan của bài nói về cuộc khủng hoảng về niềm tin tưởng vào khoa học, một cuộc khủng hoảng mà ngài đă sử dụng một trường hợp điển h́nh về việc thay đổi những thái độ đối với vụ Galileo. Thành phần chống đối không đề cập tới chi tiết là ĐHY Ratzinger đă tiếp tục nói rằng ngài không đồng ư với vị triết gia ấy.
Viện trưởng của Đại Học này là Renato Guarini đă cho biết rằng ông đă chờ đợi ĐTC Biển Đức XVI, một thần học gia kiêm giáo sư và là “sứ giả của ḥa b́nh”, để sống “một giây phút văn hóa cao độ” và một “cuộc trao đổi tư tưởng sẽ mang lại hoa trái cho toàn thể cộng đồng đại học đây”.
Nhà toán học kiêm giáo sư ở đại học này là Giorgio Israel, người Do Thái, đă nhận định trong tờ L’Osservatore Romano rằng bài nói 1990 ấy thật ra bênh vực Galileo. ĐHY Ratzinger lúc ấy đă nói rằng: “Đức tin không tăng tiến từ một thứ bất măn và chối bỏ chủ nghĩa duy lư, mà là từ việc công nhận căn bản về nó”.
Giáo sư Israel đă than tiếc cái mâu thuẫn của những ai chống lại cuộc viếng thăm của Đức Biển Đức XVI, thành phần chủ ư bênh vực tính cách trần thế của khoa học, thế nhưng lại phủ nhận quyền tự do ngôn luận. Bài viết này trong tờ L’Osservatore Romano được phổ biến trước khi Ṭa Thánh Vatican tuyên bố rằng Đức Giáo Hoàng sẽ tŕ hoăn chuyến viếng thăm.
Nhà toán học này viết: “Thật lạ lùng khi những người chấp nhận câu nói của Voltaire như là một khẩu hiệu ‘tôi không đồng ư với bạn những ǵ bạn nói, nhưng tôi sẽ bênh vực cho đến cùng quyền được nói của bạn’ lại là những người tự ḿnh chống lại vị Giáo Hoàng bày tỏ một bài nói ở đại học đường Rôma này”.
Sau đây là nguyên văn bài viết được ĐTC Biển Đức XVI soạn dọn để chia sẻ với đại học đường Rôma như được mời, nhưng v́ sự vụ xẩy ra ngoài ư muốn, ngài đă bản văn đến đại học ấy, nguyên văn
"Vị Giáo Hoàng có thể và cần phải nói ǵ trong cuộc gặp gỡ với viện đại học của thành phố của ḿnh đây?"
“La Sapienza – Viện Đại Học Rôma … thuộc vào số những đại học đường nổi tiếng nhất trên thế giới.”
Kính Vị Viện Trưởng,
Quí Quan Chức Chính Trị và Dân Sự,
Quí Vị Giáo Sư và Nhân Viên Điều Hành,
Quí Bạn Trẻ Sinh Viên thân mến!
Thật là một nguồn vui rất lớn cho tôi được hội ngộ với cộng đồng La Sapienza – Viện Đại Học Rôma – nhân dịp khai mạc cho năm học này. Cho đến nay, qua nhiều thế kỷ, đại học này đă đánh dấu cuộc hành tŕnh và sự sống của thành phố Rôma đây, khi làm cho những sinh lực về trí tuệ hảo hạng nhất trổ sinh hoa trái nơi hết mọi lănh vực kiến thức.
Cho dù ở vào giai đoạn nó trực thuộc vào quyền bính của giáo hội sau khi nó được thành lập theo chỉ thị của Đức Bonifacio VIII, hay cho dù sau đó cơ cấu “Studium Urbis” này được triển phát thành một học viện của quốc gia Ư quốc, th́ cộng đồng hàn lâm của quí vị vẫn giữ được một mức độ cao về khoa học và văn hóa, một mức độ làm cho nó thuộc vào số những đại học đường nổi tiếng nhất trên thế giới.
Giáo Hội ở Rôma bao giờ cũng nh́n tới trung tâm đại học này bằng một niềm ưu ái và mến phục, qua việc nh́n nhận việc nó dấn thân – đôi khi gian khổ và gay go – trong việc nghiên cứu cũng như trong việc h́nh thành các thế hệ mới. Cũng không thiếu những thời điểm hợp tác và đối thoại trong những năm gần đây. Tôi muốn đặc biệt nhắc lại Cuộc Họp Quốc Tế của các Vị Viện Trưởng nhân dịp Mừng Lễ Kỷ Niệm của những Đại Học Đường được cộng đồng của quí vị đảm trách, không phải chỉ ở việc nghênh tiếp và tổ chức, mà trên hết là việc làm có tính cách ngôn sứ và phức tạp để công phu soạn ra “một nhân bản thuyết mới cho ngàn năm thứ ba”.
Nhân cơ hội này, tôi hân hoan bày tỏ ḷng biết ơn của tôi về việc quí vị mời tôi đến với đại học đường của quí vị để cống hiến cho quí vị một bài diễn từ. Về vấn đề này, trước hết tôi tự hỏi ḿnh rằng: Một vị Giáo Hoàng có thể và cần phải nói ǵ vào dịp như thế này đây? Trong bài diễn từ của tôi ở Đại Học Đường Regensburg, tôi thực sự đă nói với tư cách là Giáo Hoàng, nhưng trên hết tôi nói như là một nguyên giáo sư của đại học đường của tôi ấy, khi cố gắng qui tụ những hồi niệm và các biến cố hiện đại lại với nhau. Tuy nhiên, ở La Sapienza, một viện đại học cổ kính của Rôma, tôi được mời chính là v́ tư cách của một vị Giám Mục Rôma, nên bởi thế tôi cần phải nói với tư cách này. Thật sự th́ La Sapienza đă từng là viện đại học của Giáo Hoàng, song ngày nay nó là một đại học đời có quyền biệt lập, một quyền mà căn cứ vào chính ư niệm h́nh thành của nó, bao giờ cũng là một yếu tố thuộc đại học đường, một yếu tố cần phải hoàn toàn gắn liền với thẩm quyền của sự thật. Với tính cách tự do không lệ thuộc vào các thẩm quyền đạo và đời, đại học đường nắm giữ phần hành riêng biệt của ḿnh, một phần hành thực sự cho xă hội tân tiến ngày nay, một xă hội bao giờ cũng cần đến một thứ cơ cấu tổ chức ấy.
“Chính v́ là mục tử của cộng đồng của ḿnh, Giáo Hoàng càng ngày càng trở thành một tiếng nói cho lư trí nhân loại về đạo lư”
Xin trở lại với câu hỏi đầu tiên của tôi: Vị Giáo Hoàng này có thể và cần phải nói ǵ trong cuộc gặp gỡ với viện đại học của thành phố của ḿnh đây? Suy nghĩ về câu hỏi này, tôi cho rằng nó bao gồm cả hai câu hỏi khác nữa mà vấn đề làm sáng tỏ chúng chắc chắn sẽ cống hiến được câu trả lời. Thật vậy, vấn đề cần phải đặt ra ở đây là: Bản chất và sứ vụ của vai tṛ Giáo Hoàng là ǵ? Và xa hơn nữa: Đâu là bản chất và sứ vụ của một đại học đường? Ở nơi đây, tôi không muốn cầm chân quí vị và tôi vào những bàn luận về bản chất của vai tṛ Giáo Hoàng. Chỉ cần một nhận định ngắn cũng đủ rồi.
Trươc hết Giáo Hoàng là vị Giám Mục Rôma, và bởi thế, với tư cách thừa kế Tông Đồ Phêrô, có một trách vụ giáo phẩm liên quan tới toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Chữ “giám mục” – theo tiếng Hy Lạp là “episkopos”, chính yếu nghĩa là “giám thị”, trong Tân Ước đă được liên kết với ư niệm về mục tử theo thánh kinh: Ngài là vị trông coi toàn thể từ một vị thế cao cả, tỏ ra quan tâm tới đường lối đúng đắn cũng như tới t́nh trạng liên kết của toàn thể. Như thế, cái nội dung nơi công việc của ngài như thế hướng ngài trước hết tới tính cách toàn diện của cộng đồng tính hữu. Vị giám mục này – tức vị mục tử – là người coi sóc cộng đồng ấy; vị bảo tŕ mối hiệp nhất của nó và giúp cho cộng đồng ấy tiến bước trên con đường hướng tới Thiên Chúa, một con đường, theo đức tin, được vạch vẽ bởi Chúa Giêsu – chẳng những bởi Chúa Giêsu mà chính Chúa Giêsu là đường lối cho chúng ta.
Thế nhưng, cộng đồng được vị giám mục đích thân quan tâm ấy – dù lớn hay nhỏ – lại sống trong thế gian; t́nh trạng của nó, gương mẫu của nó và ngôn từ của nó chắc chắn ảnh hưởng tới toàn thể cộng đồng nhân loại. Nó càng lớn th́ t́nh trạng tốt lành hay suy thoái khả dĩ của nó càng gây âm vang cho toàn thể nhân loại. Ngày nay, chúng ta thấy rất rơ ràng về cách thức mà những điều kiện của các tôn giáo cũng như về cách thức mà t́nh h́nh của Giáo Hội – những khủng hoảng của Giáo Hội và những canh tân của Giáo Hội – ảnh hưởng tới toàn thể nhân loại ra sao. Thế nên, vị Giáo Hoàng, chính v́ là mục tử của cộng đồng của ḿnh, càng ngày càng trở thành một tiếng nói cho lư trí nhân loại về đạo lư.
“Lư trí là ǵ? Làm thế nào một chủ trương – nhất là một tiêu chuẩn về luân lư – lại cho thấy là ‘có lư’?”
Tuy nhiên, đến đây liền xuất hiện một phản kháng, một phản kháng cho rằng Giáo Hoàng không thực sự nói theo căn cứ lư trí đạo lư mà nêu lên những phán đoán theo đức tin mà thôi, và v́ thế ngài không thể cho rằng chúng có giá trị đối với những ai không có cùng một niềm tin ấy. Chúng ta cần phải trở lại với vấn đề này sau, v́ ở đây câu hỏi cốt yếu trên hết được đặt ra đó là: Lư trí là ǵ? Làm thế nào một chủ trương – nhất là một tiêu chuẩn về luân lư – lại cho thấy là “có lư”?
Ở đây, tôi chỉ xin vắn tắt ghi nhận là John Rawls, mặc dù đối với toàn bộ những tín điều về đạo giáo chối bỏ tính chất của thứ lư trí “công khai”, nhưng ít là lại thấy nơi lư trí “không công khai” của những tín điều ấy một thứ lư trí không thể, v́ một thứ hữu lư nặng trần tục, bị dễ dàng coi thường bởi những ai bênh vực nó.
Ông ta thấy được, ngoài những điều khác, một tiêu chuẩn cho tính cách hữu lư này ở chỗ, những tín điều tương tự xuất phát từ một truyền thống hữu trách và vững chắc, một truyền thống mà, qua một thời gian dài, đă phát triển được một lập luận tốt đẹp đủ để củng cố cho tín điều tương ứng. Điều tôi cảm thấy quan trọng nơi việc xác nhận này đó là việc nh́n nhận rằng kinh nghiệm và việc bày tỏ qua các thế hệ, tức bối cảnh lịch sử của sự khôn ngoan loài người, cũng là một dấu hiệu cho thấy tính cách hữu lư của nó và tầm quan trọng bền bỉ của nó. Trước một thứ lư trí có tính cách lịch sử đang cố gắng tự h́nh thành nơi tính cách hữu lư về lịch sử, th́ sự khôn ngoan của nhân loại như thế – một sự khôn ngoan của những đại truyền thống tôn giáo – cần phải được trân trọng như là một thực tại không thể nào bị quẳng một cách vô trách phạt vào thùng rác của lịch sử tư tưởng.
Chúng ta hăy trở lại với câu hỏi đầu tiên. Vị Giáo Hoàng nói như là một đại diện của một cộng đồng tín hữu, một cộng đồng qua các thế kỷ sinh tồn, đă chín mùi một thứ khôn ngoan quyết liệt về đời sống; ngài nói với tư cách là vị đại diện của một cộng đồng chất chứa một kho tàng kiến thức và kinh nghiệm về đạo lư đang trở thành những ǵ quan trọng đối với toàn thể nhân loại: như thế là ngài nói như là một đại diện cho lư trí đạo lư vậy.
“Đại học đường là ǵ? Đâu là công việc làm của nó?” – “Nơi lănh giới của đức tin Kitô giáo, nơi thế giới Kitô giáo, đại học đường mới có thể – hay đúng hơn cần phải – được phát sinh”.
Thế nhưng, giờ đây chúng ta cần phải tự hỏi rằng: Vậy đại học đường là ǵ? Đâu là công việc làm của nó? Đây là một câu hỏi to tướng mà, một lần nữa, tôi cố gắng giải đáp một cách vắn tắt nhất mà thôi, với một số nhận định. Tôi nghĩ rằng nguồn gốc chân thực nội tại của đại học đường có thể nói ở nơi ước muốn hiểu biết là những ǵ bẩm sinh đối với con người. Họ muốn biết những ǵ chung quanh họ. Họ muốn sự thật. Như thế, chúng ta có thể thấy rằng việc tự vấn của Socrates là động lực phát sinh ra đại học đường Tây phương vậy.
Tôi nghĩ đến, chẳng hạn – chỉ cần đề cập tới một bản văn thôi – cuộc tranh căi với Euthyphro, người bênh vực tôn giáo có tính cách huyền thoại và việc đạo đức của ḿnh trước Socrates. Ngược lại, Socrates đă đặt vấn đề như thế này: “Anh có thực sự tin rằng các vị thần linh đánh đấm nhau hay chăng, và có những cuộc căi lộn cùng những cuộc chiến tranh kinh khủng hay chăng?... Hỡi Euthyphro, phải chăng chúng ta thực sự cần phải nói rằng tất cả những điều ấy có thật?” ("Euthyphro," 6b-c). Nơi cái vấn nạn hiển nhiên là vô tín ngưỡng này – một vấn nạn nơi Socrates xuất phát ra một thứ tính cách tôn giáo sâu xa hơn và tinh tuyền hơn, một việc t́m kiếm Vị Thiên Chúa thực sự là thần linh – Kitô hữu thuộc các thế kỷ đầu tiên đă nhận ra chính bản thân ḿnh và đường lối của ḿnh. Họ không hiểu đức tin của họ một cách thực chứng, hay như là một thứ thoát lư khỏi những ước vọng bất thành tựu; họ đă hiểu đức tin như là một thứ làm tan biến đi sương mù của thứ đạo giáo có tính cách huyền thoại hoang đường, để nhường chỗ cho việc khám phá thấy một Vị Thiên Chúa là Lư Trí sáng tạo và đồng thời là T́nh Yêu – Lư Trí.
V́ thế, việc lư trí tự vấn về Vị Thiên Chúa cao cả hơn, như việc nó vấn nạn về bản tính chân thực cùng ư nghĩa thật sự của con người, không phải là một h́nh thức mơ hồ về việc thiếu tính chất đạo giáo đối với các Kitô hữu thời sơ khai ấy, mà thuộc về yếu tính của cách thức họ sống đạo. Bởi vậy họ không cần tống khứ hay gạt đi việc tự vấn kiểu Socrate, mà có thể – hay đúng hơn cần phải – chấp nhận nó như thuộc về căn tính riêng của họ việc t́m kiếm khó khăn của lư trí để đạt tới sự hiểu biết được tất cả chân lư. Như thế, nơi lănh giới của đức tin Kitô giáo, nơi thế giới Kitô giáo, đại học đường mới có thể – hay đúng hơn cần phải – được phát sinh.
“Sự thật làm cho chúng ta thiện hảo và sự thiện hảo là những ǵ chân thực: Đó là tính cách lạc quan sống động nơi niềm tin Kitô giáo” – “đại học đường thời trung cổ với 4 phân khoa”
Cần phải thực hiện thêm một bước nữa. Con người muốn biết sự thật – họ muốn sự thật. Sự thật trước hết là một cái ǵ thấy được, hiểu được, “theoria” được, như truyền thống Hy Lạp quan niệm. Thế nhưng, sự thật không bao giờ chỉ là những ǵ lư thuyết. Thánh Âu Quốc Tinh, khi thực hiện việc tương quan giữa các phúc đức của Bài Giảng Trên Núi với những tặng ân của Thần Linh được đề cập trong Sách Tiên Tri Isaia đoạn 11, đă khẳng định có một sự hỗ tương giữa “scientia” và “tristitia”: ngài nói, việc hiểu biết thuần túy làm cho con người ta buồn bă. Thật thế, những ai chỉ thấy và hiểu mọi sự đang xẩy ra trên thế giới này đều tiến đến chỗ trở thành buồn thảm. Thế nhưng, sự thật không phải chỉ có nghĩa là hiểu biết, ở chỗ, việc hiểu biết sự thật nhắm đến việc hiểu biết sự thiện. Đó cũng là ư nghĩa của việc tự vấn kiểu Socrate: Đâu là sự thiện làm cho chúng ta trở thành chân thực? Sự thật làm cho chúng ta thiện hảo và sự thiện hảo là những ǵ chân thực: Đó là tính cách lạc quan sống động nơi niềm tin Kitô giáo, v́ nó chất chứa một quan niệm về Logos, về Lư Trí sáng tạo, nơi việc nhập thể của Thiên Chúa, một Lư Trí đă tỏ ḿnh ra là Sự Thiện, là Đích Thân Thiện Hảo.
Vào thời thần học trung cổ đă xẩy ra một cuộc tranh căi chính yếu về mối liên hệ giữa lư thuyết và thực hành, về mối liên hệ xác đáng giữa việc hiểu biết và việc tác hành – một cuộc tranh căi chúng ta không thể khai triển nơi đây. Thật vậy, đại học đường thời trung cổ, với 4 phân khoa của nó, cho thấy mối tương quan này. Chúng ta hăy bắt đầu với phân khoa, theo sự hiểu biết vào thời bấy giờ, là phân khoa thứ tư, tức là y khoa. Cho dù nó được coi là một “nghệ thuật” hơn là một khoa học, nhưng, việc nó được đưa vào thế giới của các “universitas” hiển nhiên cho thấy rằng nó được đặt vào môi trường của tính cách hữu lư, rằng nghệ thuật chữa trị ở dưới sự hướng dẫn của lư trí, và thoát khỏi môi trường pháp thuật. Việc chữa trị là một công việc càng cần đến lư trí giản dị hơn nữa, song chính v́ thế mà nó mới cần đến mối liên hệ giữa việc hiểu biết và quyền lực, nó cần thuộc về lănh giới của “ratio”.
Nơi phân khoa luật học, vấn đề liên hệ giữa thực hành và lư thuyết, giữa việc hiểu biết và việc hành động, chắc chắn phải xẩy ra. Nó là một vấn đề của việc cống hiến h́nh thức đúng đắn cho tự do của con người, một thứ tự do bao giờ cũng là một thứ tự do của mối hiệp thông hỗ tương: Luật lệ là những ǵ giả định của tự do, chứ không phải là đối thủ của tự do. Đến đây nẩy lên ngay một vấn đề là: Chúng ta làm thế nào nhận ra được những qui chuẩn của công lư giúp cho tự do có thể khả dĩ sống chung và phục vụ phúc hạnh của con người. Đến đây lại nẩy lên một vấn nạn nữa, đó là vấn đề làm thế nào có thể thiết lập được một thứ qui chuẩn về pháp lư kiến tạo nên một cấp trật của tự do, của phẩm giá con người và của các quyền lợi của con người. Nó là vấn đề liên quan tới chúng ta ngày nay nơi những tiến tŕnh có tính cách dân chủ trong việc h́nh thành ư nghĩ, đồng thời cũng khiến cho chúng ta lo âu như là một vấn đề về tương lai của nhân loại.
Theo quan niệm của tôi th́ Jurgen Habermas bày tỏ một sự đồng thuận rộng lớn của luồng tư tưởng hiện nay, khi ông nói rằng tính cách hợp lư của một bản hiến chương pháp định, như một thứ giả định của hợp pháp tính, có thể xuất phát từ hai nguồn mạch: từ việc tham dự chính trị quân b́nh của tất cả mọi người công dân và từ h́nh thức hữu lư nhờ đó giải quyết được những xung khắc về chính trị. Về “h́nh thức hữu lư” này, ông ghi nhận rằng nó không thể chỉ là một cuộc đối chọi để chiếm được những ǵ là đa số theo toán học, mà nó cần phải có đặc tính của một “tiến tŕnh luận chứng nhậy cảm với sự thật” ("wahrheitssensibles Argumentationsverfahren"). Điều n ày nói th́ hay, song khó ḷng để có thể biến thành một thứ thực hành về chính trị.
Thành phần đại diện cho “tiến tŕnh luận chứng” chung ấy – như chúng ta biết – phần lớn là những đảng phái như thể họ có trách nhiệm h́nh thành ư muốn chính trị. Thật vậy, họ lúc nào cũng nhắm tới trước hết việc chiếm được những ǵ là đa số và do đó khó ḷng mà tránh nổi việc bận tâm đến những lợi lộc được họ hứa hẹn làm thoả đáng; song những lợi lộc như thế thường là những ǵ riêng biệt và không thực sự phục vụ toàn thể. Tính cách nhậy cảm đối với sự thật cứ bị dập dụi đi bởi cảm thức về các thứ lợi lộc. Tôi thấy được tính cách quan trọng được Habemas nói đến tính chất nhậy cảm đối với sự thật như là một yếu tố cần thiết cho tiến tŕnh của việc luận chứng chính trị, nhờ đó đưa ư niệm về sự thật vào lại cuộc tranh luận về triết lư cũng như cuộc tranh căi về chính trị.
Thế nhưng vấn nạn của Philatô bởi vậy xuất hiện: Chân lư là ǵ? Làm sao nhận ra chân lư? Nếu nơi câu trả lời cho những vấn nạn này, người ta nói tới “lư trí chung”, như Rawls làm, th́ một lần nữa vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Đâu là những ǵ hợp lư? Làm thế nào lư trí cho thấy ḿnh là lư trí đích thực? Dù sao đi nữa, theo đó vấn đề trở nên hiển nhiên là trong việc t́m kiếm luật lệ cho tự do, t́m kiếm sự thật của đời sống chung chân chính, th́ cần phải lắng nghe cả những tiếng nói không phải của các đảng phái và của những nhóm quan tâm nữa, song không v́ thế đối chọi với tầm quan trọng của những đảng phái và những nhóm quan tâm ấy. Chúng ta hăy trở về với cấu trúc của đại học đường thời trung cổ.
“Chân lư là ǵ? Làm sao nhận ra chân lư? … Đâu là những ǵ hợp lư? Làm thế nào lư trí cho thấy ḿnh là lư trí đích thực?” – “Phân khoa triết học và thần học”
Song song với phân khoa luật học là các phân khoa triết học và thần học, những phân khoa được trao phó cho việc nghiên cứu về toàn diện hữu thể con người, theo đó, cả công việc giữ ǵn cho cái cảm quan về sự thật được tồn tại. Thậm chí có thể nói rằng đó là ư nghĩa vĩnh viễn và đích thực của cả hai phân khoa này: đó là làm quản viên cảm thức về sự thật, không để cho con người bị cản trở việc t́m kiếm chân lư. Thế nhưng, làm sao hai phân khoa ấy có thể hoàn thành công việc này được đây? Đó là một câu hỏi cần phải bàn đi bàn lại chi tiết, và là một câu hỏi không bao giờ được v ĩnh viễn nêu lên hay giải quyết. Bởi thế, ở đây tôi cũng không thể thích hợp để đưa ra một câu trả lời, mà là một lời mời gọi hăy tiến bước trên con đường với vấn nạn ấy – một con đường mà dọc theo đó có những con người cao cả đă tranh đấu và t́m kiếm suốt gịng lịch sử, với những câu trả lời của họ cùng với niềm khắc khoải chân lư của họ, một sự thật tiếp tục cho thấy vượt ra ngoài bất cứ một câu trả lời duy nhất nào.
V́ thế, thần học và triết học làm nên một cặp song sinh đặc biệt, không phân khoa nào có thể hoàn toàn tách khỏi nhau, song mỗi một phần khoa vẫn phải bảo tŕ công việc thích đáng và căn tính thích đáng của ḿnh. Đó là công nghiệp về lịch sử của Thánh Tôma Aquinas – so sánh với những đáp ứng khác nhau của các vị Giáo Phụ tùy theo môi trường lịch sử của các ngài – đă làm sáng tỏ tính cách biệt lập của triết học, và theo đó, cái quyền thích đáng và trách nhiệm của lư trí được tự vấn căn cứ vào khả năng của ḿnh. Khác với những thứ triết lư Tân Plato là những triết lư tôn giáo và triết lư quyện lấy nhau bất khả phân ly, các vị Giáo Phụ đă tŕnh bày đức tin Kitô giáo như là một thứ triết lư đích thực, cũng nhấn mạnh là đức tin này thích hợp với những nhu cầu khẩn trương của lư trí trong việc t́m kiếm sự thật; đức tin là “đáp ứng” sự thật, so sánh với các tôn giáo huyền thoại là những ǵ đă trở thành thuần túy tục lệ.
Thế rồi, tuy nhiên, với việc xuất hiện của đại học đường, những thứ tôn giáo ấy không c̣n tồn tại nơi Tây phương, mà chỉ c̣n duy Kitô giáo, bởi thế, cần phải nhấn mạnh một cách mới mẻ trách nhiệm thích đáng của lư trí, một thứ lư trí không bị đức tin nuốt mất. Thánh Tôma đă chứng tỏ việc làm của ḿnh vào một thời điểm đặc biệt: V́ lần đầu tiên toàn bộ các bản văn triết lư của Aristotle được phổ biến; các triết gia Do Thái và Ả Rập hiện diện như là những sở hữu và tiếp tục đặc biệt cho nền triết lư Hy Lạp. Nhờ đó, Kitô giáo, bằng việc đối thoại cách mới mẻ với lư trí của các tôn giáo khác, với những ǵ Kitô giáo giao tiếp với, đă phải đấu tranh cho cái hợp lư của ḿnh.
Phân khoa triết lư, một phân khoa, vốn được gọi là “phân khoa nghệ thuật”, cho đến bấy giờ mới chỉ làmột thứ propedeutic cho thần học, bấy giờ trở thành một phân khoa thực sự và thích đáng, một đồng bạn biệt lập của thần học và của đức tin nơi phản ứng ấy. Chúng ta không thể dừng lại nơi đây để thấu triệt cuôc chạm trán bởi đó mà ra. Tôi có thể nói rằng tư tưởng của Thánh Tôma về mối liên hệ giữa triết lư và thần học có thể được diễn tả theo công thức về Kitô học của Công Đồng Chalcedon thế này: triết lư và thần học cần phải liên hệ với nhau “mà không lẫn lộn cũng không tách biệt”. “Không lẫn lộn” nghĩa là cả hai vẫn bảo tŕ được căn tính thích đáng của ḿnh. Triết lư cần phải thực sự tiếp tục công việc của lư trí theo tính cách tự do thích đáng của ḿnh cũng như theo trách nhiệm thích đáng của nó; nó cần phải nhận thức được những giới hạn của ḿnh, và chính theo chiều hướng ấy cũng nh́n nhận cả tính cách cao sang và bao rộng của nó. Thần học cần phải tiếp tục rút ra từ kho tàng của kiến thức không phải tự nó sáng chế, một kho tàng kiến thức luôn luôn vượt lên trên nó và, v́ không bao giờ hoàn toàn triệt thấu được bằng việc suy tư, mà chính v́ thế mới gợi ư để suy nghĩ.
Song song với việc “không lẫn lộn” cần phải hiệu lực hóa việc “không tách biệt”, ở chỗ, triết lư không bắt đầu lại từ số không nơi chủ thể suy tư riêng lẻ, mà là liên quan tới một cuộc đối thoại cả thể với sự khôn ngoan của lịch sử, một sự khôn ngoan tiếp tục vừa khôn ngoan vừa chân thành lănh nhận và phát triển; thế nhưng nó cũng không được khép ḿnh khỏi những ǵ các tôn giáo, đặc biệt là đức tin Kitô giáo, đă lănh nhận và truyền lại cho nhân loại như là một dấu chỉ đường. Những ǵ khác nhau được các thần học gia nói trong gịng lịch sử và cũng là những ǵ được truyền đạt trong thực hành bởi các thẩm quyền của giáo hội, đă được lịch sử chứng tỏ là sai lầm và ngày nay những điều ấy làm cho chúng ta bối rối. Thế nhưng, đồng thời cũng đúng nữa, đó là lịch sử của các thánh nhân, lịch sử của chủ nghĩa nhân bản đă tăng trưởng trên nền tảng đức tin Kitô giáo, là những ǵ cho thấy sự thật của đức tin này nơi nguyên tố thiết yếu của nó, nhờ đó, làm cho nó trở thành một thứ mô phạm cho lư trí quần chúng. Thật sự là nhiều điều thần học và đức tin nói chỉ có thể được chấp nhận trong đức tin và bởi đó nó không thể tỏ ḿnh ra như là một thứ nhu cầu khẩn trương đối với những ai vẫn chưa thể chấp nhận đức tin ấy. Tuy nhiên, cũng xác đáng nữa khi sứ điệp của đức tin Kitô giáo lại không bao giờ chỉ là một “tín điều đạo giáo toàn diện” theo chiều hướng của Rawls, nhưng là một quyền lực thanh tẩy đối với chính lư trí, một quyền lực giúp cho lư trí trở thành lư trí hơn. Sứ điệp Kitô giáo, căn cứ vào nguồn gốc của ḿnh, bao giờ cũng là một thứ phấn khích hướng tới chân lư và nhờ đó là một khả năng chống lại những áp đảo của quyền lực và những thứ lợi lộc.
“Ngày nay cái nguy hiểm của thế giới Tây phương đó là ở chỗ con người, chính ở vào lúc họ cho rằng kiến thức và quyền năng của ḿnh là cao cả, lại đầu hàng trước vấn đề về sự thật”.
Vậy là tôi mới đang nói về đại học đường thời trung cổ, dù sao cũng cố gắng để làm sáng tỏ cái bản chất vĩnh viễn của đại học đường cùng với công việc của nó. Trong những thời đại tân tiến, những chiều kích mới về kiến thức đă được phát hiện, những chiều kích đă được coi trọng nơi đại học nhất là nơi hai lănh vực lớn: trước hết nơi các khoa học tự nhiên, những ngành khoa học đă phát triển được phát triển theo mối liên kết giữa việc thí nghiệm và tính chất hữu lư giả định về vật chất; tiếp theo là nơi các khoa học về lịch sử và nhân bản, những khoa học mà con người, khi cẩn thận xem xét tấm gương của lịch sử ḿnh và làm sáng tỏ những khía cạnh về bản tính của ḿnh, cố gắng hiểu biết về ḿnh hơn nữa. Nơi việc phát triển ấy, mở ra trước nhân loại chẳng những cả một tầm mức mênh mông về kiến thức và năng lực; mà c̣n tăng triển cả tầm hiểu biết và việc nh́n nhận các thứ quyền lợi và phẩm vị của con người, làm chúng ta chỉ biết cảm tạ về điều này.
Thế nhưng, cuộc hành tŕnh của con người không bao giờ tự cho ḿnh là đă đi đến tận cùng, và mối nguy hiểm bị rơi vào những ǵ là phi nhân sẽ chẳng bao giờ dễ dàng thắng vượt nổi – như chúng ta thấy được nơi tất cả lịch sử hiện đại đây! Ngày nay cái nguy hiểm của thế giới Tây phương – xin chỉ nói theo bối cảnh này thôi – đó là ở chỗ con người, chính ở vào lúc họ cho rằng kiến thức và quyền năng của ḿnh là cao cả, lại đầu hàng trước vấn đề về sự thật. Như thế đồng thời cũng có nghĩa là lư trí, cuối cùng, phải cúi ḿnh trước áp lực của các thứ lợi lộc cùng với cái mê hoặc của những ǵ là thực lợi, một lư trí phải bó buộc nh́n nhận áp lực ấy như là một qui chuẩn tối hậu. Áp dụng điều này vào quan điểm cấu trúc của đại học đường th́ mối nguy hiểm là ở chỗ triết học, v́ không c̣n cảm thấy ḿnh có khả năng làm được công việc thực sự của ḿnh nữa, đă bị suy thoái thành chủ nghĩa thực chứng; ở chỗ thần học, qua những ǵ nó nói với lư trí, đă bị giam hăm vào lănh vực tư riêng của một nhóm lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, nếu lư trí – khi chú ư tới cái tinh tuyền cần phải có của nó – trở thành điếc lác trước sứ điệp cao cả xuất phát từ đức tin Kitô giáo cũng như từ sự khôn ngoan của đức tin này, th́ nó sẽ tàn úa đi như một thứ cây mà rễ của nó không c̣n vươn tới những gịng nước cung cấp cho nó sự sống nữa. Nó sẽ mất đi ḷng can đảm đối với sự thật và v́ thế nó sẽ không trở nên cao cả hơn mà là thấp hèn hơn. Áp dụng vào nền văn hóa Âu Châu của chúng ta th́ điều này có nghĩa là: Nếu châu lục này chỉ muốn kiến tạo ḿnh trên nền tảng của lănh vực lập luận riêng của ḿnh và là những lập luận thu phục nó vào lúc này đây – khi tỏ ra lo toan về tính cách trần thế của nó – th́ nó sẽ bị bật những gốc rễ làm cho nó sống c̣n; thế rồi nó sẽ không trở nên hữu lư hơn và tinh tuyền hơn, mà là đổ bể và tan ră.
Theo đó, tôi trở về với điểm khởi đầu. Giáo Hoàng cần phải làm hay phải nói những ǵ với đại học đường đây? Chắc chắn là ngài không được áp đặt đức tin trên kẻ khác theo thẩm quyền, v́ đức tin chỉ có thể được ban tặng cách tự do mà thôi. Không kể đến vai tṛ là Mục Tử của Giáo Hội, và căn cứ vào bản chất nội tại của vai tṛ mục vụ này, ngài có nhiệm vụ phải ǵn giữ cho cái cảm quan trước sự thật được tồn tại, phải tiếp tục kêu gọi lư trí t́m kiếm vị Thiên Chúa chân thực, thiện hảo, và theo đó, thôi thúc lư trí trong việc làm thoáng hiện lên những luồng ánh sáng hữu ích đang soi chiếu nơi lịch sử của đức tin Kitô giáo, nhờ đó, thấy được Chúa Giêsu Kitô là Ánh Sáng chiếu soi lịch sử và giúp chúng ta t́m thấy con đường cho tương lai.
Tại Vatican ngày 17/1/2008
Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu của Ṭa Thánh Vatican
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2008/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20080117_la-sapienza_en.html
(những tiểu đề do người dịch tự phân định)
“Tôi khuyến khích tất cả các sinh viên đại học hăy tỏ ra tôn trọng ư nghĩ của người khác và hăy t́m kiếm sự thật và sự thiện bằng tinh thần tự do và hữu trách”.
(Sau Kinh Truyền Tin Chúa Nhật II Thường Niên 20/1/2008, ĐTC nhắn nhủ thành phần sinh viên như sau:)
Trước hết, tôi muốn gửi lời chào tới các bạn sinh viên trẻ, các vị giáo sư cùng tất cả mọi anh chị em đông đảo đến Quảng Trường Thánh Phêrô để tham dự việc nguyện Kinh Truyền Tin cũng như để tỏ t́nh đoàn kết của anh chị em; tôi cũng gửi lời chào đến rất nhiều người liên kết thiêng liêng với chúng ta. Tôi chân thành cám ơn các bạn thân mến; tôi xin cám ơn đức hồng y đại diện đă đích thân phát động cuộc gặp gỡ này.
Như các bạn biết, tôi hân hoan chấp nhận lời mời nhă nhặn muốn tôi thực hiện một bài diễn giảng vào ngày Thứ Năm vừa rồi nhân dịp khai mạc cho năm học ở Đại Học Rôma La Sapienza. Tôi quá quen biết câu lạc bộ văn học này, tôi trân trọng và cảm mến những sinh viên học ở đây: hằng năm, có một số trường hợp nhiều người trong họ đă đến gặp tôi ở Vatican, cùng với bạn bè của họ thuộc những đại học đường khác. Tiếc thay, như các bạn đă biết, bầu khí đă xẩy ra khiến cho việc hiện diện của tôi trở thành bất tiện. Tôi đă dời lại cuộc viếng thăm của tôi, song dầu sao tôi cũng muốn gửi bản văn tôi đă soạn cho dịp này.
Tôi yêu thích thực hiện việc t́m kiếm chân lư, việc so sánh, việc chân thành và trân trọng đối thoại giữa những chủ trương hỗ tương nơi môi trường đại học là môi trường đă từng là thế giới của tôi trong nhiều năm. Tất cả những điều ấy cũng là sứ vụ của Giáo Hội nữa, một Giáo Hội trung thành dấn thân theo Chúa Giêsu là chủ tể của sự sống, sự thật và yêu thương. Là một giáo sư hồi hưu, có thể nói như thế, người đă từng gặp gỡ nhiều sinh viên trong cuộc đời của ḿnh, tôi khuyến khích tất cả các sinh viên đại học hăy tỏ ra tôn trọng ư nghĩ của người khác và hăy t́m kiếm, bằng tinh thần tự do và hữu trách, sự thật và sự thiện. Tôi muốn lập lại cùng tất cả các bạn và từng bạn việc bày tỏ niềm tri ân của tôi, với ḷng cảm mến và nguyện cầu của tôi.