(xin xem tiếp các bài giáo lư từ 10 trở đi ở mục Giáo Lư Về Giáo Hội trong phần Chía Khóa Nước Trời)
Thứ Tư 24/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 9: “Phêrô Tông Đồ” (tiếp)
Thứ Tư 17/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 8: “Tông Đồ Phêrô”
Thứ Tư 10/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 7: “Thừa Kế Tông Đồ”
Thứ Tư 3/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 6: “Truyền Thống Tông Đồ”
Thứ Tư 26/4/2006 bài 5 - về Vấn Đề Truyền Thống là Hiện Thực Sự Hiện Diện Sống Động của Chúa Kitô
Thứ Tư 29/3/2006 tiếp tục chủ đề Mối Liên Hệ Giữa Chúa Kitô và Giáo Hội: bài 3 - Tặng Ân Hiệp Thông
Thứ Tư 22/3/2006 tiếp tục chủ đề Mối Liên Hệ Giữa Chúa Kitô và Giáo Hội: bài 2 - Chứng Nhân Tông Đồ
Thứ Tư hằng tuần 24/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 9: “Phêrô Tông Đồ” (tiếp)
Anh Chị Em thân mến,
Trong các buổi giáo lư này chúng ta đang suy niệm về Giáo Hội. Chúng ta đă nói rằng Giáo Hội sống trong dân và v́ thế ở buổi giáo lư vừa rồi chúng ta đă bắt đầu suy niệm về h́nh ảnh của từng vị tông đồ, bắt đầu là Thánh Phêrô. Chúng ta đă thấy được hai giai đoạn quyết liệt nơi đời sống của ngài, đó là giai đoạn ngài được kêu gọi trên bờ Hồ Galilêa, sau đó là đoạn ngài tuyên xưng đức tin: ‘Thày là Đức Kitô, là Đấng Thiên Sai’. Một lời tuyên xưng, như chúng ta đă nói, vẫn c̣n thiếu, dù khai mở nhưng mới sơ khởi.
Thánh Phêrô đă thực hiện một cuộc hành tŕnh theo đuổi. Bởi thế mà việc tuyên xưng sơ khởi này tự bản chất, giống như một hạt giống, chất chứa đức tin mai hậu của Giáo Hội. Hôm nay, chúng ta muốn xét tới hai biến cố khác nơi đời sống của Thánh Phêrô, đó là biến cố bánh hóa nhiều. Chúng ta vừa nghe trong đoạn về việc Chúa Kitô hỏi và Thánh Phêrô trả lời, rồi tới đoạn Chúa Kitô gọi Thánh Phêrô trở thành vị mục tử chăn dắt Giáo Hội hoàn vũ.
Chúng ta bắt đầu với biến cố hóa bánh ra nhiều. Anh chị em biết rằng dân chúng đă nghe Chúa giảng mấy tiếng đồng hồ. Cuối cùng Chúa Giêsu nói rằng họ meat rồi, họ đói rồi, chúng ta cần phải cho họ một cái ǵ đó bỏ bụng. Các vị tông đồ hỏi Người phải làm cách nào? Và Anrê là người anh em của Phêrô đă tŕnh cho Chúa Giêsu biết có một bé trai mang theo năm ổ bánh và hai con cá. Thế nhưng, các tông đồ ngẫm nghĩ rằng bằng ấy th́ có nghĩa ǵ đối với một con số quá đông dân chúng như vậy?
Bấy giờ Chúa Kitô đă bảo dân chúng ngồi xuống và cho phân phát năm ổ bánh và hai con cá. Và tất cả đều no nê. Chưa hết, Chúa Kitô đă yêu cầu các tông đồ, trong đó có Phêrô, hăy thu những mẩu bánh vụn c̣n dư, đó là 12 thúng bánh (x Jn 12-13). Sau đó, dân chúng, thấy được phép lạ này, một phép lạ như thể tái diễn thứ tân ‘manna’ rất được trông đợi, thứ bánh trời ban, muốn tôn Người làm vua.
Thế nhưng Chúa Giêsu đă không chấp nhận điều ấy và đă lên núi cầu nguyện một ḿnh. Ngày hôm sau, ở bờ hồ bên kia, trong hội đường ở Capernaum, Chúa Giêsu đă giải thích phép lạ này – không theo chiều hướng vương quyền đối với dân Yến Duyên với một quyền lực của thế giới này như cách thức được dân chúng mong đợi, mà là theo ư nghĩa của việc ban tặng bản thân ḿnh: ‘Bánh Tôi sẽ ban cho thế gian sự sống là thịt của Tôi’ (Jn 6:51). Chúa Giêsu đă loan báo thập giá và với thập giá việc thực sự hóa bánh ra nhiều, bánh Thánh Thể – đường lối làm vua hoàn toàn mới của Người, một đường lối hoàn toàn khác với những ǵ dân chúng mong đợi.
Chúng ta có thể hiểu rằng những lời này của Vị Sư Phụ ấy – vị không muốn thực hiện việc hóa bánh ra nhiều hằng ngày, vị không muốn cống hiến cho Yến Duyên một thứ quyền lực của thế giới này – thực sự là những ǵ khó nghe, thậm chí bất khả chấp nhận đối với dân chúng. ‘Ban thịt của Người’ – nghĩa là ǵ vậy? Thậm chí đối với cả các môn đệ th́ những điều Chúa Giêsu nói vào lúc ấy đều là những ǵ bất khả chấp. Đối với ḷng của chúng ta, với tâm thức của chúng ta, th́ đó đă là và đang là những lời ‘khó nghe’ gây thử thách đức tin (x Jn 6:60). Nhiều môn đệ đă rút lui. Họ muốn người nào đó phải thực sự canh tân nước Yến Duyên, dân tộc Yến Duyên, chứ không phải là người nói rằng: ‘Tôi ban thịt Tôi’.
Chúng ta có thể nghĩ rằng những lời lẽ của Chúa Giêsu cũng khó nghe đối với cả Phêrô nữa, vị ở Caesarea Philiphi đă cự lại lời tiên báo về thập giá. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu hỏi 12 Vị: ‘Các con có muốn bỏ đi hay chăng?’, Phêrô liền bộc phát phản ứng theo ḷng quảng đại của ḿnh được tác động bởi Thánh Linh. Nhân danh tất cả mọi người, ngài đă đáp lại bằng những lời nói bất hủ, những lời lẽ cũng của cả chúng ta nữa: ‘Lạy Chúa, chúng con c̣n biết theo ai nữa đây? Thày có những lời ban sự sống đời đời; và chúng con tin tưởng và nhận biết rằng Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa’ (x Jn 6:66-69).
Ở đây, cũng như ở Caesarea, Phêrô đột khởi những lời lẽ tuyên xưng niềm tin Kitô học của Giáo Hội và cũng trở nên tiếng nói của các vị tông đồ khác cũng như của tín hữu qua mọi thời đại. Điều này không có nghĩa là ngài đă hiểu được mầu nhiệm của Chúa Kitô một cách sâu xa. Đức tin của ngài vẫn c̣n là một đức tin sơ khởi, một đức tin hành tŕnh. Nó sẽ đi đến chỗ thực sự viên trọn chỉ nhờ cảm nghiệm các biến cố vượt qua mà thôi.
Thế nhưng, tuy đă là đức tin, cởi mở trước một thực tại cao cả hơn – cởi mở, trước hết là v́ nó không phải là tin tưởng vào một điều ǵ đó mà là tin tưởng vào Một Đấng Nào Đó: vào Người là Đức Kitô. Bởi vậy mà đức tin của chúng ta cũng chỉ là một đức tin sơ khởi và chúng ta cần phải trải qua một cuộc hành tŕnh dài. Tuy nhiên, vấn đề thiết yếu đó là một đức tin cởi mở để được Chúa Giêsu hướng dẫn, v́ Người chẳng những biết đâu là dường lối mà chính Người c̣n là đường lối nữa.
Tuy nhiên, ḷng hăng say quảng đại của Phêrô vẫn không phải là những ǵ bảo vệ ngài khỏi những hiểm nguy liên quan tới nỗi yếu hèn của con người. Đó là những ǵ chúng ta cũng cần phải nhận thấy nơi cuộc sống của chúng ta. Phêrô đă hăng say theo Chúa Giêsu; ngài đă vượt qua cuộc thử thách đức tin, bằng cách phó ḿnh cho Người. Thế nhưng có lúc ngài cũng tỏ ra sợ hăi và sa ngă, ở chỗ ngài đă phản bội Thày (x Mk 14:66-72). Học đường của đức tin không phải là một cuộc diễn hành chiến thắng, mà là một cuộc hành tŕnh rải rắc những khổ đau và yêu thương, những thử thách và ḷng trung thành, là những ǵ được tái diễn hằng ngày.
Phêrô, người đă hứa tuyệt đối trung thành, đă cảm thấy sót xa và nhục nhă của việc chối Thày: Tính cao ngạo đă biết khiêm tốn trước cái giá phải trả của ngài. Cả Phêrô nữa cũng phải biết rằng ngài là một con người yếu đuối và cần được thứ tha. Khi chiếc mặt nạ cuối cùng bị rơi xuống, và ngài hiểu được sự thật về tấm ḷng yếu hèn của một tội nhân tin tưởng như ngài th́ ngài đă tuôn ra những giọt lệ giải thoát của ḷng thống hối ăn năn. Sau việc than khóc này, bấy giờ ngài mời sẵn sàng thực hiện sứ mệnh của ngài.
Vào một buổi sáng mùa xuân, sứ mệnh này được Chúa Giêsu phục sinh kư thác cho ngài. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trên bờ Hồ Tiberia. Chính Thánh Kư Gioan nhắc tới cuộc đối thoại xẩy ra trong hoàn cảnh đó giữa Chúa Giêsu và Phêrô. Người ta nhận thấy có một cái ǵ đó rất ư là ư nghĩa nơi vấn đề ngôn từ ở đây. Theo Hy Lạp th́ chữ ‘filéo’ bày tỏ t́nh yêu thân hữu, dịu dàng nhưng không hoàn toàn, trong khi đó chữ ‘agapáo’ nghĩa là yêu thương không tiếc xót, trọn vẹn và vô tư.
Chúa Giêsu hỏi Phêrô lần đầu tiên rằng: ‘Hỡi Simon… con có yêu mến Thày hay chăng (‘agapâs-me’)’ bằng t́nh yêu trọn vẹn và vô tư này (x Jn 21:15)? Trước cảm nghiệm của việc phản bội, vị tông đồ này đáng lẽ đă phải thưa rằng ‘Con yêu mến Thày (‘agapô-se’) một cách vô tư’. Thế mà ngài đă cảm thấy cái buồn đau của việc bất trung, cái thảm trạng của nỗi yếu hèn của ḿnh, ngài đă khiêm nhượng thưa: ‘Lậy Thày, tôi yêu mến Thày (‘filô-se’)’, tức là ‘con yêu mến Thày bằng một t́nh yêu nhân loại yếu hèn’. Chúa Kitô nhấn mạnh: ‘Simon, con có yêu mến Thày với tất cả t́nh yêu mà Thày mong muốn hay chăng?’ Và Phêrô đă lập lại câu trả lời bằng t́nh yêu nhân loại hèn kém của ḿnh rằng: ‘Kyrie, filô-se’ – ‘Lạy Thày, con yêu mến Thày như con biết làm thế nào để mến yêu’.
Lần thứ ba Chúa Giêsu chỉ nói với Phêrô rằng: ‘Filei^s-me?’ – ‘Con có yêu mến Thày hay chăng?’ Simon hiểu được rằng đối với Chúa Giêsu th́ t́nh yêu hèn yếu của ngài, một t́nh yêu duy nhất ngài có thể th́ vẫn không đủ, nên ngài đă cảm thấy buồn là Chúa Kitô đă phải nói tới t́nh yêu này với ngài như thế. Bởi vậy, ngài đă đáp rằng: ‘Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự; Chúa biết rằng con yêu mến Chúa (‘filiô-se’)’.
Dường như Chúa Giêsu đă phải thích ứng ḿnh với Phêrô hơn là Phêrô thích ứng ngài với Chúa Giêsu! Chính v́ cuộc thích ứng thần linh này là những ǵ đă làm cho người môn đệ này cảm thấy hy vọng, người đă cảm thấy được nỗi khổ đau của sự bất trung. Từ đó đă xuất phát ḷng tin tưởng làm cho ngài có thể theo đuổi cho tới cùng: ‘Người nói điều này để cho thấy rằng ngài sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Và sau khi nói như vậy th́ Người nói cùng ngài rằng: Hăy theo Thày’ (Jn 21:19).
Từ lúc ấy, Phêrô ‘đă theo” Thày với một ư thức tỏ tường về nỗi yếu hèn của ḿnh; thế nhưng cái nhận thức này không khiến cho ngài cảm thất thất đảm. Ngài thực sự biết rằng ngài có thể cậy dựa vào sự hiện diện của Đấng Phục Sinh ở bên ngài. Từ ḷng nhiệt thành chân chất của việc gắn bó nguyên khởi này, nhờ cảm nghiệm đau thương của việc chối Thày và nước mắt của ḷng thống hối, Phêrô đă đi đến chỗ phó ḿnh cho Chúa Giêsu là Đấng đă thích ứng ḿnh với khả năng yêu thương hèn kém của ngài. Nên Người cũng tỏ cho chúng ta thấy đường đi nước bước bất chấp tất cả những nỗi yếu hèn của chúng ta.
Chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đă thích ứng bản thân Người với nỗi yếu hèn của chúng ta. Chúng ta theo Người, bằng khả năng thấp kém của chúng ta trong việc yêu mến và chúng ta biết rằng Chúa Giêsu là Đấng nhân lành và Người chấp nhận chúng ta. Cuộc hành tŕnh dài này đối với Phêrô đă làm cho ngài trở thành một chứng nhân sáng giá, thành ‘tảng đá’ của Giáo Hội, liên lỉ cởi mở trước tác động của Thần Linh Chúa Giêsu. Phêrô cho thấy ḿnh là ‘chứng nhân những khổ đau của Chúa Kitô và là tham dự viên với vinh quang tỏ hiện’ (1Pt 5:1).
Khi ngài viết những lời này th́ ngài đă già, đă tiến đến giai đoạn cuối đời của ngài, một giai đoạn ngài được niêm ấn bằng cuộc tử đạo. Bấy giờ ngài mới có thể diễn tả niềm vui đích thực và cho thấy niềm vui này có thể chiếm được ở nơi đâu: Nguồn mạch của niềm tin này đó là Chúa Kitô được tin tưởng và yêu mến bằng niềm tin tưởng yếu kém song chân thành của chúng ta, cho dù nỗi mỏng ḍn của chúng ta. Đó là lư do tại sao ngài viết cho các Kitô hữu của cộng đồng ngài, và ngài cũng nói như thế với cả chúng ta nữa: ‘Không thấy Người nhưng anh chị em vẫn yêu mến Người; cho dù anh chị em giờ đây không trông thấy Người anh chị em vẫn tin tưởng nơi Người và hân hoan bằng một niềm vui khôn tả hỉ hoan. Anh chị em đạt tới phần rỗi của linh hồn của ḿnh như thành quả đức tin của anh chị em’ (1Pt 1:8-9).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
24/5/2006
Thứ Tư 17/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 8: “Tông Đồ Phêrô”
Anh Chị Em thân mến:
Trong loạt bài giáo lư mới, chúng ta đă cố gắng t́m hiểu, trước hết, về vấn đề Giáo Hội là ǵ, về ư nghĩ của Chúa Kitô ra sao về gia đ́nh mới này. Đoạn chúng ta nói rằng Giáo Hội hiện diện nơi dân, và chúng ta thấy rằng Chúa Kitô đă trao phó thực thể mới là Giáo Hội này cho 12 Vị Tông Đồ. Giờ đây chúng ta muốn nh́n ngắm từng vị một, để qua các vị, chúng ta hiểu được ư nghĩa thế nào là việc sống trong Giáo Hội, thế nào là việc theo Chúa Kitô. Chúng ta bắt đầu từ Thánh Phêrô.
Sau Chúa Giêsu th́ Thánh Phêrô là nhân vật được biết đến và được trích dẫn nhiều nhất trong Tân Ước, ở chỗ, ngài được nhắc đến 154 lần với tên hiệu là ‘Petros’, ‘viên đá’, ‘tảng đá’, những tên hiệu theo bản dịch Hy Lạp từ danh hiệu theo tiếng Aramaic được Chúa Giêsu đích thân goị ngài ‘Kefa’, một danh hiệu xuất hiện 9 lần, đặc biệt là trong các thư của Thánh Phaolô. Ngoài ra, c̣n có tên gọi ‘Simon’ cũng thường được sử dụng (75 lần), một danh xưng theo tiếng Hy Lạp từ danh xưng theo nguy6en gốc Do Thái của Người là Simeon (twice Acts 15:14; 2Pet 1:1).
Con của Gioan (x Jn 1:42), hay theo kiểu ngôn ngữ Aramaic là ‘Bar-Jona’, con của Jonas (x Mt 16:17), xuất thân từ Bethsaida (Jn 1:44), một tỉnh ở về phía đông Biển Galilêa, cũng là nơi xuất thân của Philiphê và dĩ nhiên của cả Anrê an hem của Simon. Giọng nói của ngài là người xứ Galilêa.
Như người an hem Anrê của ḿnh, ngài cũng là một tay đánh cá: cùng với gia đ́nh Giêbêđê, cha của Giacôbê và Gioan, ngài qui tụ làm nghề tiểu thương đánh cá ở Hồ Gênnêsaret (x Lk 5:10). Nhờ đó ngài chắc hẳn được hoan hưởng cái thoải mái về tài chính và sống theo ḷng đạo đức chân t́nh là những ǵ khiến ngài cùng với người an hem của ngài tới Giuđêa lắng nghe lời giảng của Gioan Tẩy Giả (Jn 1:35-42).
Ngài là một người Do Thái thành tín, tin vào sự hiện diện chủ động của Thiên Chúa nơi lịch sử của dân Người, và đă cảm thấy khổ đau khi không thấy tác động quyền năng của Người tỏ ra nơi những biến cố mà ngài được chứng dự. Ngài là người có gia đ́nh, và bà mẹ vợ của ngài một ngày nọ được Chúa Giêsu chữa lành bệnh, sống ở thành Capernaum, trong cùng một ngôi nhà với Simon khi ngài c̣n sống ở thành phố đó (x Mt 8-14ff; Mk 1-29ff; Lk 4:38ff).
Những cuộc khai quật khảo cổ gần đây đă làm sáng tỏ vấn đề là ở bên dưới sàn nhà bằng vị thạch ghép theo h́nh thù bát giác của một ngôi nhà thờ nhỏ thuộc nghi lễ Byzantine, những di tích của một ngôi nhà thờ cổ hơn, được xây cất trong ngôi nhà ấy, được chứng thực bởi những tấm bảng nguyện cầu cùng Thánh Phêrô. Phúc Âm cho chúng ta biết rằng Phêrô là một trong bốn vị môn đệ đầu tiên ở Nazarét (x Lk 5:1-11), thành phần cần có thêm một người thứ năm nữa theo đúng tục lệ của một vị tôn sư thu thập môn đệ (x Lk 5:27: đoạn Chúa gọi Mathêu). Việc Chúa Giêsu đi từ 5 đến 12 môn đệ cho thấy tính cách mới mẻ về sứ vụ của Người, ở chỗ Người chẳng những là một trong nhiều tôn sư, mà c̣n đến để qui tụ 1 dân Yến Duyên cánh chung, được tiêu biểu nơi con số 12 ám chỉ con số 12 chi tộc Do Thái.
Simon xuất hiện trong các Phúc Âm như là một nhân vật có cá tính hăng máu và linh hoạt; ngài lúc nào cũng bộc trực, thậm chí bằng cả vơ lực nữa (ngài đă sử dụng gươm trong vườn Oliu – x. Jn 18:10ff). Ngài đồng thời đôi khi lại có vẻ như ngây ngô và tỏ ra khiếp sợ, song chân t́nh và biết thành tâm hối cải (x Mt 26:75). Các Phúc Âm giúp chúng ta có thể theo dơi từng bước cuộc hành tŕnh thiêng liêng của ngài.
Khởi điềm là lời mời gọi của Chúa Giêsu đă đến với ngài vào một ngày như mọi ngày, khi Phêrô đang bận bịu với công việc chài lưới của ngài. Chúa Giêsu bấy giờ đang ở Hồ Gennesarét, và đoàn lũ dân chúng vây quanh nghe Người giảng dạy. Con số những người tuốn đến nghe Người đă gây khó khăn cho Người. Vị Sư Phụ ấy bấy giờ thấy có hai chiếc thuyền ở bờ Hồ. Các tay chài lưới đă lên bờ giặt lưới. Người xin họ cho Người lên 1 trong 2 chiếc thuyền ấy, chiếc thuyền của Phêrô, và xin ngài chéo ra xa bở một chút. Người đă ngồi trên ngai ṭa bất ngờ ấy mà giảng dạy dân chúng từ trên chiếc thuyền này (x Lk 5:1-3).
Như thế, chiếc thuyền của Phêrô đă trở thành ngai toà của Chúa Giêsu. Khi giảng dạy xong, Người đă bảo Simon rằng: ‘Hăy ra chỗ nước sâu để thả lưới bắt cá’. Và Simon thưa với Người rằng: ‘Lạy Thày, chúng tôi đă vất vả thâu đêm mà chẳng bắt được ǵ hết! Song vâng lời Thày chúng tôi thả lưới’ (Lk 5:5). Chúa Giêsu, một con người làm thợ mộc, không phải là một tay chuyên nghiệp đánh cá, song Phêrô là tay đánh cá đă tin tưởng nơi vị tôn sư ấy, vị tôn sư đă chẳng đáp ứng ngài ǵ cả ngoài việc đ̣i hỏi ḷng tin tưởng nơi ngài.
Phản ứng của ngài trước mẻ cá lạ là một phản ứng bàng hoàng ngỡ ngàng và run sợ: ‘Lạy Chúa, xin hăy xa tôi ra v́ tôi là một con người tội lỗi’ (Lk 5:8). Chúa Giêsu đă đáp lại bằng việc mời gọi ngài hăy tin tưởng và cởi mở trước một dự án vượt quá tất cả mọi mong đợi, đó là ‘Đừng sợ, từ đây, con sẽ trở thành tay chài lưới người’ (Lk 5:10). Phêrô không thể nghĩ được rằng một ngày kia ngài sẽ đến thành Rôma và ở đó ngài sẽ trở thành ‘tay chài lưới người’ cho Chúa. Ngài đă chấp nhận lời mời gọi ngỡ ngàng này để dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm ấy: ngài là một con người quảng đại; ngài nhận thấy những hạn hữu của ngài nhưng tin tưởng vào Đấng đă kêu gọi ngài để đáp ứng tấm ḷng của Người. Ngài đă xin vâng và trở thành một người môn đệ của Chúa Kitô.
Phêrô đă trải qua một thời điểm quan trọng khác nơi cuộc hành tŕnh thiêng liêng của ngài ở gần Cesarê Philiphê, khi Chúa Giêsu đặt câu hỏi đặc biệt với các môn đệ của Người, đó là ‘Người ta bảo Thày là ai?’ (Mk 8:27). Đối với Chúa Giêsu, câu trả lời theo lời đồn đại cũng chưa đủ. Người muốn ai đă chấp nhận dấn thân theo Người phải có một chủ trương riêng. Đó là lư do Người8 đă nhấn mạnh rằng: ‘Song các con cho Thày là ai?’ (Mk 8:29). Thánh Phêrô đă trả lời thay cho các người khác rằng: ‘Thày là Đức Kitô’ (ibid), tức Thày là Đấng Thiên Sai.
Câu trả lời này, câu trả lời ‘không do bởi huyết nhục’ mà là Cha trên trời (x Mt 16:17), chất chứa mầm mống lời tuyên xưng đức tin của Giáo Hội sau này. Tuy nhiên, Phêrô đă chưa hiểu được bản chất sâu xa nơi sứ vụ thiên sai của Chúa Giêsu, như rơ ràng thấy được là, sau đó chút xíu, khi ngài tỏ ra rằng Đấng Thiên Sai được ngài t́m kiếm theo mộng ước của ngài rất khác với dự định của Thiên Chúa. Trước lời loan báo về cuộc khổ nạn, ngài đă kêu lên và tỏ phản ứng khiến Chúa Giêsu phải tỏ thái độ nghiêm thẳng (x Mk 8:32-33).
Phêrô muốn Đấng Thiên Sai là một ‘con người thần linh’ làm thỏa măn những niềm trông đợi của con người, bằng việc áp đặt vơ lực trên mọi người: chúng ta cũng muốn Chúa Kitô ra tay quyền phép và lập tức biến đổi thế giới; nhưng Chúa Giêsu lại tỏ ra ḿnh là một vị ‘Thiên Chúa phàm nhân’, Đấng đảo ngược những trông đợi của quần chúng, bằng việc đi theo con đường khiêm tốn và khổ đau. Đó là một việc chuyển thay lớn lao mà chúng ta cần phải học biết một lần nữa, ở chỗ, thiên về những niềm mong đợi của chúng ta mà loại bỏ Chúa Giêsu, hay là chấp nhận Chúa Giêsu theo đúng sự thật về sứ vụ của Người mà loại bỏ đi tất cả mọi trông đợi theo kiểu trần gian nữa.
Phêrô, con người bốc đồng, không ngần ngại kéo Người sang một bên mà trách cứ Người. Phản ứng của Chúa Giêsu đă hủy hoại đi tất cả mọi trông đợi sai lầm, kêu gọi ngài hăy hoán cải và theo Người: ‘Đồ Satan, hăy xéo đi! V́ ngươi không thuộc về Thiên Chúa mà thuộc về con người’ (Mk 8:33). Đừng có mà chỉ cho Thày đường đi nước bước, Thày theo đường lối của Thày và con hăy bước đi theo Thày.
Thế là Thánh Phêrô đă biết được thế nào là thực sự theo Chúa Giêsu. Đó là lời kêu gọi thứ hai, như Abraham trong Sáng Thế Kư, Đoạn 22, sau Sáng Thế Kư, Đoạn 12. ‘Nếu ai muốn theo Thày th́ hăy từ bỏ chính bản thân ḿnh và hăy vác thập tự giá mà theo Thày. V́ ai mất sự sống ḿnh v́ Thày và v́ Phúc Âm sẽ giữa được nó’ (Mk 8:34-35). Đó là qui luật đ̣i hỏi trong việc theo Người: cần phải từ bỏ chính bản thân ḿnh, nếu cần, cả thế gian nữa để giữ lấy những giá trị chân thực, để cứu lấy linh hồn, để giữ được sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế gian (x Mk 8:36-37). Và bất chấp khó khăn, Thánh Phêrô đă chấp nhận lời mời gọi ấy và đă tiếp tục con đường theo bước chân Thày của ngài.
Tôi nghĩ rằng những cuộc hoán cải khác nhau ấy của Thánh Phêrô và toàn thể việc tính toán của ngài là một động lực an ủi lớn lao mà là một bài học quan trọng cho chúng ta. Chúng ta cũng ước mong Thiên Chúa, chúng ta cũng muốn sống quảng đại, thế nhưng chúng ta mong Thiên Chúa trở nên oai hùng trên thế gian này và muốn rằng Người biến đổi thế gian ngay tức khắc, theo ư nghĩ của chúng ta cũng như theo nhu cầu chúng ta cảm thấy cần thiết.
Thiên Chúa đă chọn lựa đường lối khác. Thiên Chúa đă chọn đường lối biến đổi tâm can bằng khổ đau và khiêm tốn. Và chúng ta, như Thánh Phêrô, hằng phải hoán cải. Chúng ta cần phải theo Chúa Giêsu chứ đừng đi trước Người. Người tỏ cho chúng ta đường đi nước bước. Thánh Phêrô đă nói với chúng ta rằng: Anh chị em nghĩ rằng anh chị em có phương cách và anh chị em cần phải biến đổi Kitô Giáo, thế nhưng Chúa Kitô là Đấng biết đâu là đường lối. Chính Người nói với tôi, Đấng nói cùng anh chị em đây rằng ‘Hăy theo Thày!’ Và chúng ta cần phải can đảm và khiêm tốn theo Chúa Giêsu, v́ Người là đường, là sự thật và là sự sống.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
17/5/2006
Thứ Tư 10/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 7: “Thừa Kế Tông Đồ”
Anh Chị Em thân mến,
Trong những buổi triều kiến vừa rồi chúng ta đă suy niệm về Truyền Thống của Giáo Hội và chúng ta đă thấy rằng nó là sự hiện diện thường trực của lời nói và đời sống của Chúa Giêsu nơi dân của Người. Thế nhưng, để hiện diện, Giáo Hội cần một con người, một chứng nhân. Như thế mới xuất phát ra tính cách hỗ tương, ở chỗ, một mặt th́ lời cần đến con người, đàng khác, con người, chứng nhân, lại gắn liền với lời được kư thác cho họ, lời không do họ sáng tạo ra. Tính cách hỗ tương này giữa nội dung – Lời Chúa, đời sống của Chúa Kitô – với thành phần con người truyền đạt là một đặc tính của cấu trúc xă hội, mà hôm nay tôi muốn suy niệm về khía cạnh thành phần con người truyền đạt này của Giáo Hội.
Chúa Kitô, như chúng ta thấy, đă bắt đầu đă bắt đầu Giáo Hội khi kêu gọi 12 Vị, thành phần đại diện cho tương lai của Dân Chúa. Trong việc trung thành với sứ mệnh được lănh nhận từ Chúa Kitô, thành phần 12 Vị nguyên thủy, sau khi Người Thăng Thiên, đă hoàn tất con số của ḿnh bằng việc chọn Matthias thay cho Giuđa (x Acts 1:15-26), rồi sau đó họ các vị tuần tự liên kết những người khác với các vai tṛ được kư thác cho các vị để tiếp tục thừa tác vụ của các vị.
Chính Đấng Phục Sinh đă kêu gọi Phaolô (x Gal 1:1), thế nhưng Phaolô, mặc dù xẩy ra sự kiện là ngài được Chúa Kitô kêu gọi như là một tông đồ, đă so sánh Phúc Âm do ngài rao giảng với Phúc Âm của 12 Vị rao giảng (x ibid 1:18), đă quan tâm tới việc truyền đạt những ǵ ngài đă lănh nhận (x 1Cor 11:23,15:3-4), và trong việc phân phối các công việc truyền giáo đă liên kết ḿnh với những vị tông đồ khác, cùng với những vị tông đồ khác, chẳng hạn như với Barnabas (x Gal 2:9).
Như ngay từ ban đầu, điều kiện để làm một tông đồ đó là được Đấng Phục Sinh kêu gọi và sai đi thế nào th́ cũng phải xẩy ra việc kêu gọi và mời gọi sau đó đối với những người khác bằng quyền năng của Thần Linh, bởi năng quyền của vị đă được thiết lập để thực hiện thừa tác vụ tông đồ. Đó là đường lối tiếp tục thừa tác vụ này, một thừa tác vụ sau đó lại được bắt đầu bởi thế hệ thứ hai và được gọi là thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, ‘episcopé’.
Có lẽ cũng cần phải giải thích một cách vắn tắt ư nghĩa của chữ giám mục. Nó là h́nh thức của tiếng Ư (‘vescovo’) từ tiếng Hy Lạp ‘epícopos’. Chữ này ám chỉ vị có một cái nh́n từ trên cao, vị nh́n bằng con tim cơi ḷng. Bởi vậy mà trong bức thư thứ nhất của ḿnh, chính Thánh Phêrô đă gọi Chúa Giêsu là vị canh giữ và là mục tử của các linh hồn; thành phần thừa kế của các vị tông đồ sau này được gọi là ‘giám mục’, ‘epíscopoi’. Họ được ủy thác cho vai tṛ của ‘episcopé – hàng giáo phẩm / giám mục’. Vai tṛ đặc biệt này của vị giám mục được thực hiện tuần tự từ ban đầu cho tới khi nó được mặc h́nh thức của một vai tṛ tam cấp là giám mục, linh mục và phó tế, như đă được Thánh Ignatio thành Antiokia chứng thực rơ ràng, vào đầu thế kỷ thứ hai (cf. "Ad Magnesios," 6,1: PG 5,668). Nó là một việc tiến triển được Thần Linh Thiên Chúa dẫn đưa, Đấng hỗ trợ Giáo Hội trong việc nhận thức được các h́nh thức chân thực của việc thừa kế tông đồ, một việc thừa kế được xác định thậm chí tốt đẹp hơn nữa giữa tính cách đa dạng về kinh nghiệm cùng đặc sủng, với những h́nh thức thừa tác vụ vốn có trong cộng đồng nguyên khởi.
Bởi vậy mà việc thừa kế vai tṛ của hàng giáo phẩm được hiện hữu như là việc tiếp tục của thừa tác vụ tông đồ, như là việc bảo đảm cho ḷng kiên trung với Truyền Thống tông đồ, với lời nói và cuộc đời đă được Chúa Kitô ủy thác cho chúng ta. Mối liên hệ giữa Giám Mục Đoàn và cộng đồng nguyên khởi các vị tông đồ, trước hết, được hiểu theo chiều hướng liên tục về lịch sử. Như chúng ta thấy, được liên kết với 12 Vị trước tiên là Matthias, rồi tới Phaolô, sau đó đến Barnabê rồi tới các vị khác, cho đến khi h́nh thành thừa tác vụ của giám mục ở thế hệ thứ hai và thứ ba. Bởi vậy mà việc liên tục này mới được thể hiện nơi mối giây liên kết lịch sử này.
Và sự bảo đảm liên tục của vấn đề thừa kế ấy được thể hiện qua ḷng kiên trung nơi cộng đồng giáo hội, nơi tông đồ Đoàn được Chúa Kitô qui tụ lại quanh Người. Thế nhưng, việc liên tục này, một việc liên tục như chúng ta đă thấy trước nơi việc liên tục về lịch sử của các thừa tác viên, cũng cần phải được hiểu theo ư nghĩa thiêng liêng nữa, như việc thừa kế tông đồ nơi thừa tác vụ này được coi như đóng một vị trí đặc biệt của việc Thánh Thần tác động và truyền đạt vậy.
Một âm vang rơ ràng cho thấy những niềm xác tín này, chẳng hạn, ở trong văn bản của Thánh Irênêô thành Lyon (ở hạ bán thế kỷ thứ hai): ‘Truyền Thống của các Vị Tông Đồ đă được bộc lộ cho thế giới toàn cầu của cả Giáo Hội, và chúng ta có thể liệt kê những ai đă được tấn phong làm giám mục và làm thành phần thừa kế các vị Tông Đồ cho tới chúng ta đây […]. Các vị Tông Đồ muốn những ai các vị lưu lại như thành phần thừa kế của các vị phải ‘trọn hảo và vô trách cứ’ trong hết mọi sự (1Tim 3:2; Tit 1:6-7), để các vị kư thác Huấn Quyền cho họ ở vào tư thế của các vị: nếu họ tác hành đúng đắn th́ thật là ích lợi, bằng không, th́ cả là một tai họa’ ("Adversus Haereses," III, 3, 1: PG 7,848).
Thế rồi, Thánh Irênêô, khi tŕnh bày hệ thống thừa kế tông đố ấy như là việc bảo đảm nhất trong việc trung kiên với lời Chúa, cũng chú trọng tới Giáo Hội, một ‘Giáo Hội được thành lập và h́nh thành ở Rôma bởi hai vị Tông Đồ hiển vinh nhất là Phêrô và Phaolô’, đề cao Truyền Thống đức tin được loan báo, một Truyền Thống đến tới chúng ta qua các vị tông đồ cũng như qua những cuộc liên tục thừa kế của các vị giám mục.
Như thế, đối với Thánh Irênêô cũng như đối với Giáo Hội hoàn vũ th́ việc thừa kế của hàng giáo phẩm nơi Giáo Hội Rôma trở thành dấu hiệu, tiêu chuẩn và bảo đảm cho việc truyền đạt liên tục đức tin tông đồ: ‘Mọi Giáo Hội cần phải ḥa hợp với Giáo Hội này, một Giáo Hội có một nền tảng bảo đảm nhất - tôi có ư nói tới tất cả mọi tín hữu ở khắp mọi nơi, v́ trong Giáo Hội này tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều giữ Truyền Thống tông đồ’ ("Adversus Haereses," III, 3, 2: PG 7,848).
Việc thừa kế tông đồ, một việc được chứng thực bởi mối hiệp thông với việc thừa kế tông đồ của Giáo Hội Rôma, bởi đó, là tiêu chuẩn vĩnh viễn của mỗi một Giáo Hội theo Truyền Thống của đức tin tông đồ chung, một đức tin nhờ đường lối ấy mới có thể truyền tới chúng ta từ nguyên thủy: ‘Nhờ thứ tự và việc thừa kế này mà Truyền Thống là những ǵ đă được truyền đạt tới chúng ta từ các Tông Đồ. Và điều này hoàn toàn cho thấy rằng đức tin duy nhất và tồn tại xuất phát từ các vị Tông Đồ đă được tuân giữ và truyền đạt trong Giáo Hội cho tới ngày nay’ (ibid., III, 3,3: PG 7,851).
Theo những chứng từ này của Giáo Hội cổ xưa, th́ tông đồ tính của mối hiệp thông giáo hội là ở chỗ trung thành với giáo huấn và việc thực hành của các vị tông đồ là thành phần qua các vị mối hiệp nhất về lịch sử và thiêng liêng của Giáo Hội với Chúa Kitô được bảo đảm. Việc thừa kế tông đồ nơi thừa tác vụ giám mục là đường lối bảo đảm việc trung thành truyền đạt chứng từ tông đồ vậy.
Những ǵ các vị tông đồ tiêu biểu cho mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với Giáo Hội nguyên khởi là những ǵ được tiêu biểu một cách tương tự bởi việc kế vị thừa tác vụ nơi mối liên hệ giữa Giáo Hội nguyên khởi với Giáo Hội ngày nay. Nó không phải là một thứ móc nối thuần thể lư; trái lại, nó là một phương tiện về lịch sử được Thần Linh sử dụng để hiện diện hóa Chúa Giêsu là đầu của dân Người, Đấng bởi Người họ được thụ phong thi hành thừa tác vụ nhờ việc đặt tay và nguyện cầu của vị giám mục.
Như thế, nhờ
việc thừa kế tông đồ, Chúa Kitô đến với chúng ta: Người nói với chúng ta qua lời
của các vị tông đồ và thành phần thừa kế các vị; Người hành động nơi các bí tích
qua bàn tay của họ; ánh mắt của chúng ta được ánh mắt Người thu hút và chúng ta
cảm thấy được yêu thương, được ấp ủ trong trái tim Thiên Chúa. Cả ngày nay cũng
thế, như thuở ban đầu, chính Chúa Kitô là vị mục tử chân thực và là vị canh giữ
linh hồn của chúng ta, Đấng chúng ta hết ḷng tin tưởng, tri ân và hoan lạc theo
đuổi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/5/2006
Thứ Tư 3/5/2006 - Giáo Lư về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 6: “Truyền Thống Tông Đồ”
Anh Chị Em thân mến,
Trong bài giáo lư này, chúng ta muốn hiểu hơn chút nữa về bản chất của Giáo Hội. Lần vừa rồi chúng ta đă suy nghĩ về đề tài Truyền Thống tông đồ. Chúng ta đă thấy rằng truyền thống này không phải là một tổng hợp những điều hay những lời, như một cái hộp đựng các thứ vô hồn. Truyền thống là một con sông chảy sự sống mới xuất phát từ mạch nguồn, từ Chúa Kitô tới chúng ta, và làm cho chúng ta được tham dự vào lịch sử của Thiên Chúa đối với nhân loại. Đề tài về Truyền Thống quan trọng đến nỗi tôi muốn chia sẻ một lần nữa về vấn đề này hôm nay đây. Thật vậy, Truyền thống có một tầm vóc rất quan trọng đối với đời sống của Giáo Hội.
Công Đồng Chung Vaticanô II đă nói về vấn đề này rằng Truyền Thống tự nguồn gốc trước hết là những ǵ thuộc về tông đồ: ‘Theo ḷng nhân lành ưu ái của ḿnh, Thiên Chúa đă ân cần coi sóc để những ǵ Ngài đă mạc khải cho phần rỗi muôn dân được vĩnh viễn nguyên vẹn và truyền đạt cho mọi thế hệ. Bởi thế, Chúa Kitô, Đấng nơi Người tất cả mạc khải của Thiên Chúa tối cao được nên trọn (x 2Cor 1:20,3:13,4:6), đă sai các Tông Đồ đi rao giảng cho tất cả mọi người rằng Phúc Âm là nguồn mạch của tất cả sự thật cứu độ và giáo huấn luân lư, và truyền thụ cho họ các tặng ân thiên quốc’ (Hiến Chế Tín Lư ‘Dei Verbum’, đoạn 7).
Công Đồng tiếp tục cho thấy rằng ‘Việc ủy thác này được các vị Tông Đồ trung thành hoàn trọn, thành phần, nhờ việc giảng dạy bằng lời nói, nhờ gương sáng, và nhờ việc tuân giữ đă truyền đạt những ǵ các vị đă lănh nhận từ môi miệng của Chúa Kitô, từ việc sống với Người, cũng như từ những ǵ Người làm, hay những ǵ các vị biết được bởi tác động của Thánh Linh. Việc ủy thác ấy cũng được hoàn thành bởi các Vị Tông Đồ và những con người thời tông đồ được linh ứng bởi cùng một Thánh Thần đă viết lại sứ điệp cứu độ’.
Các vị lănh đạo của thành phần dân Yến Duyên cánh chung – họ cũng có 12, như các chi tộc của Dân Tuyển Chọn – các vị tông đồ đă tiếp tục ‘cuộc gặp gỡ’ được Chúa Kitô khởi đầu và trước hết các vị đă làm như thế bởi việc trung thành truyền đạt tặng ân được lănh nhận là Tin Mừng của Nước Trời đến với con người qua Chúa Giêsu Kitô. Con số của họ chẳng những thể hiện việc liên tục với nguồn gốc thánh hảo là dân Yến Duyên 12 chi tộc, nhưng cũng có mục đích phổ quát nơi thừa tác vụ của họ, một thừa tác vụ mang ơn cứu độ đến tận cùng trái đất. Nó được thể hiện bằng một giá trị tiêu biểu nơi con số ở thế giới Semitic: 12 là tổng số từ việc nhân 3, một con số hoàn toàn, nhân cho 4, một con số ám chỉ tới 4 điểm chính, do đó bao gồm cả thế giới.
Cộng đồng này, xuất phát từ việc loan truyền Phúc Âm, cảm thấy được kêu gọi bởi lời của thành phần tiên khởi cảm nghiệm được Chúa Kitô và là thành phần được Người sai đi. Cộng đồng này biết rằng ḿnh có thể tin cậy vào việc hướng dẫn của Nhóm 12, cũng như vào việc hướng dẫn của những ai sau đó liên kết với Nhóm này như là những người kế vị thi hành thừa tác vụ rao giảng Lời và thi hành việc phục vụ mối hiệp thông.
Bởi thế cộng đồng này cảm thấy được ủy thác cho việc truyền đạt cho những người khác ‘tin vui’ của việc thực sự hiện diện của Chúa cũng như của mầu nhiệm vượt qua của Người là mầu nhiệm được sinh động trong Thần Linh. Việc truyền đạt này được nhấn mạnh trong một số đoạn của các bức thư Thánh Phaolô: ‘V́ tôi truyền lại cho anh chị em thuộc những ǵ quan trọng nhất điều tôi cũng đă lănh nhận’ (1Cor 15:3). Và đó là những ǵ hệ trọng.
Như đă rơ, Thánh Phaolô, nguyên thủy được Chúa Kitô kêu gọi bằng một ơn gọi cá biệt, là một vị tông đồ thực sự, tuy nhiên, cũng trong trường hợp của ngài, cái chính yếu đó là ḷng trung thành với những ǵ ngài đă lănh nhận. Ngài không muốn ‘sáng tạo’ ra một thứ, có thể nói là, Kitô Giáo kiểu ‘Phaolô’. Bởi thế, ngài nhấn mạnh là ‘Tôi truyền cho anh chị em những ǵ tôi cũng đă lănh nhận’. Ngài đă truyền lại tặng ân nguyên thủy do Chúa Kitô ban, v́ nó là sự thật cứu độ. Sau đó, vào cuối đời của ḿnh, ngài đă viết cho Timothêu rằng: ‘Con hăy canh chừng sự thật đă được trao phó cho con bởi Vị Thánh Linh là Đấng ngự trong chúng ta’ (2Tim 1:14).
Vấn đề cũng được chứng tỏ cho thấy một cách hiệu nghiệm bởi chứng từ cổ thời của đức tin Kitô Giáo này, một chứng từ được Tertullian viết vào khoảng năm 200, đó là: ‘Sau khi thoạt tiên làm chứng cho đức tin vào Chúa Giêsu Kitô khắp Giuđêa, và tổ chức các giáo hội ở đấy, các vị đă đi vào thế giới và rao giảng cùng một tín lư của cùng một đức tin cho các dân nước. Các vị tông đồ bấy giờ thực hiện một cách tương tự việc thành lập các giáo hội ở mỗi thành phố, từ đó tất cả mọi giáo hội khác, theo nhau, đă được xuất phát từ truyền thống đức tin này, cũng như từ những hạt giống tín lư, và hằng ngày đang xuất phát từ chúng, để các giáo hội khác ấy cũng trở thành giáo hội. Thật vậy, chính v́ điều này mà tự bản chất các giáo hội khác ấy được coi là có tông đồ tính, với tư cách như là con cái của các giáo hội thời tông đồ” ("De praescriptione Haereticorum," 20: PL: 2, 32).
Công Đồng Chung Vaticanô II nhận định rằng: ‘Vậy những ǵ đă được các Tông Đồ truyền đạt bao gồm hết những ǵ góp phần vào đời sống thánh thiện và làm gia tăng đức tin của dân Chúa; mà do đó Giáo Hội, nơi giáo huấn, đời sống và việc thờ phượng của ḿnh, kéo dài và truyền đạt cho tất cả mọi thế hệ tất cả những ǵ là bản chất của Giáo Hội, tất cả những ǵ Giáo Hội tin tưởng’ (Dei Verbum, 8). Giáo Hội truyền đạt tất cả những ǵ Giáo Hội là và tất cả những ǵ Giáo Hội tin tưởng; Giáo Hội truyền đạt tất cả những điều ấy nơi việc thờ phượng, nơi đời sống, nơi tín lư.
Bởi thế mà Truyền Thống là Phúc Âm sống động, được các tông đồ trọn vẹn loan báo, với đầy những cảm nghiệm đặc thù và bất khả tái diễn của ḿnh: Bằng việc làm của Giáo Hội, đức tin được truyền đạt đi, cho tới chúng ta, đến tận cùng trái đất. V́ vậy, Truyền Thống là lịch sử của Thần Linh là Đấng tác động trong lịch sử của Giáo Hội qua vai tṛ trung gian môi giới của các Tông Đồ cùng với thành phần thừa kế của các vị, một cách liên tục trung thành với cảm nghiệm từ ban đầu.
Đó là những ǵ Thánh Giáo Hoàng Clementê ở Rôma đă giải thích vào cuối thế kỷ thứ nhất. Ngài viết: ‘Các Tông Đồ đă loan báo Phúc Âm cho chúng ta, những vị được Chúa Giêsu Kitô sai; Chúa Giêsu Kitô được Thiên Chúa sai. Bởi thế, Chúa Kitô từ Thiên Chúa mà đến, và các Tông Đồ từ Chúa Kitô mà đến: Cả hai đều xuất phát một cách thứ tự từ ư muốn của Thiên Chúa. Các vị Tông Đồ của chúng ta được biết qua Chúa Giêsu Kitô của chúng ta rằng sẽ xẩy ra những tranh luận về vai tṛ giáo phẩm. Thế nên, thấy được đích xác tương lai như vậy, các vị đă thiết lập thành phần được chọn lựa và truyền chức cho họ để khi các vị qua đi th́ những người khác có năng quyền đảm nhận việc phục vụ của các vị’ [Ad Corinthios," 42.44: PG 1, 292.296].
Sợi giây xích phục vụ này tiếp tục diễn tiến cho tới thời đại của chúng ta đây; nó sẽ tiếp tục cho tới tận thế. Thật vậy, sứ vụ Chúa Giêsu trao phó cho các tông đồ đă được các vị truyền đạt cho thành phần thừa kế của các vị. Ngoài cảm nghiệm được giao tiếp riêng tư với Chúa Kitô, một cảm nghiệm chuyên biệt và bất khả tái diễn, các vị tông đồ đă truyền đạt cho thành phần thừa kế của các vị việc các vị được Thày ḿnh long trọng sai vào thế giới nữa. Chữ tông đồ thực sự xuất phát từ chữ Hy Lạp ‘apostellein’ nghĩa là được sai đi.
Việc sai đi của các vị tông đồ này – như câu Phúc Âm 28:19 và sau đó của Thánh Mathêu cho thấy – ‘bao gồm việc mục vụ (‘kết nạp các môn đồ từ tất cả mọi dân nước’), phụng vụ (‘rửa tội cho họ’), và ngôn sứ (‘giảng dạy cho họ tuân giữ tất cả những ǵ Thày đă truyền cho các con’), bảo đảm tính cách gần gũi với Chúa Kitô cho tới tận cùng thời gian (Thày măi măi ở cùng các con cho tới tận thế’)”.
(Trong cuốn Giáo Lư Chỉ Nam của người dịch bài này, xuất bản năm 1998, trang 218, cũng đă cảm nghiệm về câu Phúc Âm của Thánh Mathêu 28:19 như được Đức Thánh Cha phân tích trên đây. Nguyên văn như sau: ‘Các con hăy đi tuyển mộ môn đồ nơi mọi dân nước và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho các con’ (Mt.28:18-19). Căn cứ vào thứ tự của lệnh truyền phục sinh của Chúa Kitô trên đây, việc truyền bá Phúc Aâm được chia ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là việc ‘đi tuyển mộ môn đồ’; giai đoạn thứ hai là việc ‘rửa tội cho họ’; giai đoạn thứ ba là việc ‘dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền’).
Bởi vậy, mặc dù cách thức được các vị tông đồ truyền đạt khác nhau, chúng ta cũng có một cảm nghiệm chân thực và riêng tư về việc hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh. Nhờ thừa tác vụ tông đồ, chính Chúa Kitô đến với con người được kêu gọi chấp nhận đức tin, thắng vượt khoảng cách các thế hệ và hiến ḿnh, qua việc sống động và hoạt động, cho đến ngày nay trong Giáo Hội và trên thế giới.
Đó là niềm vui lớn lao của chúng ta. Trong gịng sông sống động Truyền Thống, Chúa Kitô vẫn không tách biệt chúng ta bằng một khoảng cách 2 ngàn năm, nhưng thực sự hiện diện giữa chúng ta và ban cho chúng ta Chân Lư, ban cho chúng ta Ánh Sáng, khiến chúng ta sống và t́m thấy Đường Lối tiến tới tương lai.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/5/2006
Thứ Tư 26/4/2006 về Vấn Đề Truyền Thống là Hiện Thực Sự Hiện Diện Sống Động của Chúa Kitô
Anh Chị Em thân mến:
Cám ơn ḷng cảm mến của anh chị em! Trong một loạt bài giáo lư mới mới được khởi sự cách đây ít lâu, chúng ta đă cố gắng t́m hiểu dự án nguyên thủy của Chúa về Giáo Hội để thấu triệt hơn nữa về việc tham dự của chúng ta, về đời sống Kitô hữu của chúng ta, trong mối hiệp thông cao cả của Giáo Hội. Cho đến này chúng ta đă hiểu được rằng mối hiệp thông của Giáo Hội được Thánh Linh khơi động và bảo tŕ, được thừa tác vụ tông đồ canh giữ và cổ vơ. Và mối hiệp thông này, mối hiệp thông chúng ta gọi là Giáo Hội, không chỉ vươn tới tất cả mọi tín hữu thuộc một thời điểm lịch sử nào đó, mà c̣n bao gồm tất cả mọi thời đại và tất cả mọi thế hệ nữa. Thế nên, chúng ta thấy ḿnh đứng trước một tính cách đại đồng lưỡng diện, đó là tính cách đại đồng synchronic tức là chúng ta hiệp nhất với những tín hữu khắp nơi trên thế giới, và tính cách đại đồng được gọi là diachronic, tức là tất cả mọi thời đại đều thuộc về chúng ta: Những tín hữu của quá khứ và tương lai cùng với chúng ta làm nên một mối đại hiệp thông duy nhất.
Thần Linh xuất hiện như là Vị bảo đảm cho việc hiện diện chủ động của mầu nhiệm này trong lịch sử, Vị bảo đảm việc hiện thực của nó qua các thế kỷ. Nhờ Đấng An Ủi này, cảm nghiệm về Đấng Phục Sinh, một cảm nghiệm của cộng đồng tông đồ vào thuở ban đầu của Giáo Hội, mới luôn có thể tái diễn qua các thế hệ tiếp theo nhau, ở chỗ nó được truyền đạt và hiện thực nơi đức tin, nơi việc thờ phượng và nơi mối hiệp thông của Dân Chúa, lữ hành trong thời gian. Để rồi, nhờ đó, giờ đây chúng ta, trong Mùa Phục Sinh, sống cuộc hội ngộ với Đấng Phục Sinh, chẳng những như là một điều ǵ đó thuộc về quá khứ mà c̣n trong mối hiệp thông hiện tại về đức tin, về phụng vụ và về đời sống của Giáo Hội.
Truyền Thống tông đồ của Giáo Hội là ở chỗ truyền đạt những sự thiện hảo của ơn cứu độ, một truyền đạt làm cho cộng đồng Kitô hữu vĩnh viễn hiện thực hóa, nhờ quyền năng của Thần Linh, mối hiệp thông nguyên thủy. Nó được gọi như thế là v́ nó được xuất phát từ chứng từ của các vị tông đồ cũng như của cộng đồng môn đệ trong những năm sơ khai, được cống hiến bởi sự hướng dẫn của Thánh Thần nơi các văn kiện Tân Ước, cũng như nơi đời sống bí tích, nơi đời sống đức tin, và Giáo Hội liên lỉ căn cứ vào nó – vào Truyền Thống luôn là thực tại hiện hữu của tặng ân Giêsu – như là nền tảng và qui tắc của nó nhờ việc liên tục thừa kế của thừa tác vụ tông đồ.
Trong cuộc sống về lịch sử của ḿnh, Chúa Giêsu đă giới hạn sứ vụ của Người vào Nhà Yến Duyên, thế nhưng Người đă làm sáng tỏ là tặng ân này được nhắm tới chẳng những cho dân Yến Duyên mà c̣n cho toàn thế giới và cho tất cả mọi thời đại nữa. Đấng Phục Sinh, bởi thế, đă ủy thác, cách riêng cho các tông đồ (x Lk 6:13), công việc tuyển chọn môn đệ từ mọi dân nước, với lời hứa rằng Người sẽ hiện diện và hỗ trợ cho đến tận thế (x Mt 28:19ff).
Tính cách đại đồng của việc cứu độ, trong các điều kiện của ḿnh, đ̣i phải cử hành việc tưởng nhớ Cuộc Phục Sinh trong lịch sử liên tục cho tới khi Chúa Kitô đến trong vinh quang (x 1Cor 11:26). Ai sẽ là người làm hiện thực sự hiện diện cứu độ của Chúa Giêsu, qua thừa tác vụ của các vị tông đồ, những vị lănh đạo của dân Yến Duyên cánh chung (x Mt 19:28) – cũng như của toàn thể đời sống của dân tân Ước đây? Câu trả lời đă rơ, đó là Thánh Linh. Sách Tông Vụ – một cuốn sách tiếp tục tŕnh thuật của Phúc Âm Thánh Luca – tŕnh bày kiến thức hỗ tương giữa Thần Linh, những người được Chúa Kitô sai đi và cộng đồng được các vị qui tụ lại.
Nhờ tác động của Đấng An Ủi này, các vị tông đồ và thành phần thừa kế của các vị mới có thể hiện thực trong thời gian sứ vụ các vị đă lănh nhận qua Đấng Phục Sinh: “Các con là chứng nhân của những điều này. Và này đây Thày sai đến với các con lời hứa của Cha Thày” (Lk 24:48-49). “Thế nhưng các con sẽ lănh nhận quyền lực khi Thánh Thần xuống trên các con, và các con sẽ là những chứng nhân của Thày ở Giêrusalem, khắp Giuđêa và Samaria, cho đến tận cùng trái đất” (Acts 1:8). Và lời hứa ấy, thoạt tiên không thể nào tin nổi, đă được hiện thực trong thời các tông đồ: “Chúng tôi là những nhân chứng về những điều ấy, v́ Thiên Chúa đă ban Thánh Thần cho những ai tuân phục Ngài” (Acts 5:32).
Bởi thế, chính vị Thần Linh này, qua việc đặt tay và nguyện cầu của các vị tông đồ, thánh hiến và sai các vị tân thừa sai của Phúc Âm đi (chẳng hạn ở Tông Vụ 13:3ff và 1Tim 4:14). Vấn đề đáng chú ư ở đây là trong khi ở một số đoạn viết rằng Thánh Phaolô thiết lập những vị trưởng lăo ở các Giáo Hội (x Acts 14:23), th́ có đoạn lại khẳng định là chính Thánh Thần thiết lập các vị chăn dắt đàn chiên (x Acts 20:28).
Như thế th́ tác động của Thần Linh và của Thánh Phaolô liên kết một cách sâu xa. Vào giờ khắc của những quyết định trọng thể cho đời sống của Giáo Hội th́ Thần Linh hiện diện để dẫn dắt Giáo Hội. Việc dẫn dắt hiện diện này của Thánh Linh được đặc biệt cảm nghiệm nơi Công Đồng Giêrusalem, một công đồng có những lời đúc kết vang vọng việc khẳng định ấy: “Đó là quyết định của Thánh Thần và của chúng tôi” (Acts 15:28); Giáo Hội lớn lên và tiến bước “trong sự kính sợ Chúa và nhờ ơn an ủi của Thánh Thần” (Acts 9:31).
Việc vĩnh viễn hiện thực hóa sự hiện diện chủ động của Chúa Giêsu nơi dân của Người, được Thánh Linh thực hiện và thể hiện trong Giáo Hội qua thừa tác vụ tông đồ và mối hiệp thông huynh đệ, là những ǵ được hiểu với chữ Truyền Thống theo ư nghĩa thần học: Nó không phải là việc truyền đạt thuần chất liệu của những ǵ được trao ban từ ban đầu cho các vị tông đồ, mà là sự hiện diện hiệu năng của Chúa Giêsu, Đấng tử giá và phục sinh, Đấng trong Thần Linh đồng hành và dẫn dắt cộng đồng được Người qui tụ lại.
Truyền Thống là mối hiệp thông của tín hữu quanh những vị chủ chiên hợp lệ của họ trong gịng lịch sử, một mối hiệp thông được Thánh Thần nuôi dưỡng để bảo đảm mối liên hệ giữa cảm nghiệm đức tin tông đồ là những ǵ được sinh động trong cộng đồng môn đệ ban đầu với cảm nghiệm hiện diện của Chúa Kitô trong Giáo Hội của Người.
Nói cách khác, Truyền Thống là việc tiếp tục về cơ cấu của Giáo Hội là đền thờ của Thiên Chúa Cha được xây trên nền tảng Thần Linh: “Bởi thế mà anh chị em không c̣n là thành phần xa lạ và lưu trú, nhưng anh chị em là những người công dân đồng bào với các thánh và các phần tử của gia đ́nh Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng các tông đồ và tiên tri có chính Chúa Giêsu Kitô là tảng đá gốc. Nhờ Người mà toàn thể cấu trúc được kiên cố và phát triển thành đền thờ linh thánh trong Chúa; nơi Người anh chị em cũng được cùng nhau xây dựng thành nơi cư trú của Thiên Chúa trong Thần Linh” (Eph 2:19-22).
Nhờ Truyền Thống, một truyền thống được bảo đảm bởi thừa tác vụ của các tông đồ và thành phầnh thừa kế các vị, nước sự sống tuôn ra từ cạnh sườn của Chúa Kitô và máu cứu độ của Người chảy tới con người nam nữ thuộc hết mọi thời đại. Như thế, Truyền Thống là sự hiện diện vĩnh viễn của Đấng Cứu Thế là Vị muốn đến để gặp gỡ, cứu chuộc và thánh hóa chúng ta trong Thần Linh nhờ thừa tác vụ của Giáo Hội Người cho vinh quang Chúa Cha.
Bởi thế, để kết thúc và tóm gọn, chúng ta có thể nói rằng Truyền Thống không phải là việc truyền đạt các sự vật hay những lời nói, một tổng hợp của những vật chết. Truyền Thống là một con sông sống động nối kết chúng ta với những mạch nguồn, một con sông sống động trong đó các mạch nguồn luôn hiện hữu. Một đại hà dẫn chúng ta tới cảng vĩnh hằng. Trong con sông sống động này, lời của Chúa chúng ta nghe thấy từ ban đầu từ người đọc một lần nữa được nên trọn: “Này đây, Thày ở cùng các con luôn măi cho đến tận thế” (Mt 28:20).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/4/2006
Anh Chị Em thân mến:
Trong loạt bài giáo lư mới được chúng ta bắt đầu mấy tuần trước, chúng ta muốn cứu xét tới nguồn gốc của Giáo Hội để hiểu được dự án nguyên thủy, nhờ đó hiểu được những ǵ là chính yếu nơi Giáo Hội, một Giáo Hội đang tồn tại qua gịng thời gian. Chúng ta cũng muốn hiểu được lư do tại sao chúng ta lại thuộc về Giáo Hội, nhờ đó chúng ta phải làm sao để dấn thân sống Giáo Hội vào lúc mở màn cho tân thiên kỷ Kitô Giáo này.
Suy nghĩ về Giáo Hội sơ khai, chúng ta khám phá thấy hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất được mănh liện đề cao bởi Thánh Irenaeus Thành Lyon, đại thần học gia tử đạo vào cuối thế kỷ thứ hai, vị đầu tiên lưu lại cho chúng ta một khoa thần học ở một nghĩa nào đó.
Thánh Irenaues viết: ‘Giáo Hội ở đâu th́ Thần Linh Thiên Chúa ở đó; và Thần Linh Chúa ở đâu th́ ở đó có Giáo Hội cùng với tất cả mọi ân sủng, v́ Thần Linh là chân lư’ ("Adversus Haereses," III, 24, 1: PG 7, 966). Bởi thế, có một mối liên hệ sâu xa giữa Thánh Thần và Giáo Hội. Thánh Thần xây dựng Giáo Hội và ban cho Giáo Hội chân lư, và như Thánh Phaolô nói, tuôn đổ t́nh yêu vào ḷng tín hữu (x Rm 5:5).
Thế nhưng, ngoài ra, c̣n có khía cạnh thứ hai nữa. Mối liên hệ sâu xa này với Thần Linh không loại trừ nhân tính của chúng ta, với tất cả nỗi yếu hèn của nó, bởi đó, ngay từ ban đầu, cộng đồng môn đệ chẳng những cảm nghiệm được niềm vui của Thánh Thần, ân sủng của chân lư và yêu thương, mà c̣n cả thử thách là những ǵ chính yếu bị gây ra bởi t́nh trạng tương phản giữa các chân lư đức tin với những rạn nứt xuất phát từ mối hiệp thông.
Như mối hiệp thông yêu thương đă hiện hữu ngay từ ban đầu và sẽ tiếp tục tồi tại cho tới cùng (x 1Jn1:1ff) thế nào, th́ bất hạnh thay, cũng ngay từ ban đầu, chia rẽ đă xẩy ra. Chúng ta không lạ ǵ khi thấy nó vẫn c̣n hiện hữu tới ngày nay: Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan viết: ‘Chúng từ chúng ta mà ra, nhưng chúng không thuộc về chúng ta; v́ nếu chúng từ chúng ta mà ra th́ chúng sẽ tiếp tục ở với chúng ta; song chúng đă đi khỏi để có thể nói rằng tất cả chúng không thuộc về chúng ta’ (2:19).
Bởi thế, mối hiểm nguy bao giờ cũng vẫn có đó, nơi t́nh trạng thăng trầm của thế giới cũng như nơi nỗi yếu hèn của Giáo Hội, của việc mất niềm tin, từ đó, mất yêu thương và t́nh huynh đệ. Đó là lư do những ai tin vào Giáo Hội của yêu thương và muốn sống trong Giáo Hội phải có nhiệm vụ đặc biệt để cũng nhận ra mối nguy hiểm ấy và chấp nhận rằng mối hiệp thông bất khả dĩ với những ai không ở trong tín lư cứu độ (x 2Jn 9-11).
Những ǵ Giáo Hội sơ khai nhận thấy một cách rơ ràng về những căng thẳng khả dĩ này nơi việc sống hiệp thông được chứng tỏ rất rơ nơi Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan. Không có một tiếng nói mạnh mẽ nào khác trong Tân Ước nhấn mạnh tới thực tại về nhiệm vụ sống yêu thương huynh đệ nơi Kitô hữu, ngoài cũng cùng một tiếng nói ấy ngỏ một cách nghiêm nghị cùng thành phần đối phương, thành phần đă từng là phần tử của cộng đồng này song không c̣n thuộc về cộng đồng ấy nữa.
Giáo Hội của yêu thương cũng là Giáo Hội của chân lư, trước hết được hiểu là Giáo Hội trung thành với Phúc Âm được Chúa Giêsu kư thác cho Giáo Hội riêng của Người. T́nh huynh đệ Kitô hữu được xuất phát từ sự kiện là con cái của cùng một Cha bởi Thần Chân Lư: ‘V́ tất cả những ai được Thần Chúa dẫn dắt đều là con cái Thiên Chúa’ (Rm 8:14). Thế nhưng, sống trong hiệp nhất và an b́nh, gia đ́nh con cái Chúa cần một người giữ họ trong chân lư và dẫn dắt họ một cách khôn ngoan sáng suốt có thẩm quyền: Đó là những ǵ thừa tác vụ của các vị tông đồ được kêu gọi thực hiện.
Đến đây chúng ta tiến tới một điểm quan trọng. Giáo Hội hoàn toàn bởi Thần Linh, thế nhưng Giáo Hội có một cấu trúc, đó là việc thừa kế tông đồ, một việc thừa kế có trách nhiệm để làm sao có thể bảo đảm được tính cách vĩnh viễn của Giáo Hội trong chân lư do Chúa Kitô ban bố, từ đó cũng xuất phát cả khả năng yêu thương. Câu tóm tắt đầu tiên của Sách Tông Vụ cho thấy tính cách hết sức hiệu nghiệm về việc đồng qui các thứ giá trị này nơi đời sống Giáo Hội sơ khai: ‘Họ chuyên tâm vào giáo huấn của các Tông Đồ và việc hiệp thông (‘koinonia’), vào việc bẻ bánh và cầu nguyện’ (Acts 2:42).
Mối hiệp thông được phát xuất từ niềm tin do việc rao giảng tông truyền, nó được nuôi dưỡng bằng việc bẻ bánh và nguyện cầu, và được thể hiện trong đức ái huynh đệ và phục vụ. Chúng ta đang ở trước h́nh ảnh của mối hiệp thông thuộc Giáo Hội sơ khai trong sự phong phú của những thứ năng động nội tại cùng với những thể hiện hữu h́nh: Tặng ân hiệp thông được ǵn giữ và phát triển đặc biệt bởi thừa tác vụ tông đồ, một thừa tác vụ trở thành tặng ân cho toàn thể cộng đồng.
Bởi vậy, các vị tông đồ và những vị thừa kế các ngài là thành phần bảo hộ và là những nhân chứng có thẩm quyền về kho tàng đức tin của Giáo Hội, và họ cũng là những thừa tác viên đức ái: hai khía cạnh đi với nhau. Họ bao giờ cũng phải nghĩ đến tính cách bất khả phân ly của việc phục vụ lưỡng đôi ấy, một việc phục vụ thật sự như nhau: chân lư và đức ái là những ǵ được Chúa Giêsu tỏ bày và ban tặng. Bởi thế, trước hết các vị thi hành việc phục vụ yêu thương: đức ái họ phải sống và cổ vơ không thể nào được tách khỏi sự thật họ ǵn giữ và truyền đạt.
Chân lư và yêu thương là hai mặt của cùng một tặng ân, một tặng ân xuất phát từ Thiên Chúa và là một tặng ân, nhờ thừa tác vụ tông đồ, được Giáo Hội bảo tồn và truyền đạt cho chúng ta tới ngày nay! Qua việc phục vụ của các tông đồ và thành phần thừa kế của các vị, chúng ta cũng nhận được t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong việc truyền đạt sự thật giải thoát chúng ta (x Jn 8:32)! Tất cả những điều chúng ta thấy nơi Giáo Hội sơ khai dẫn chúng ta tới chỗ nguyện cầu cho thành phần thừa kế các vị tông đồ, cho tất cả các vị giám mục, cũng như cho các vị Thừa Nhiệm Thánh Phêrô, để các vị thực sự là những người bảo quản cho chân lư đồng thời cho cả đức ái nữa, để các vị thật sự là những tông đồ của Chúa Kitô, dể ánh sáng của các vị, ánh sáng chân lư và đức ái không bao giờ bị lịm tắt trong Giáo Hội và trên thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/4/2006
Thứ Tư 29/3/2006 tiếp tục chủ đề Mối Liên Hệ Giữa Chúa Kitô và Giáo Hội: Tặng Ân Hiệp Thông
Anh Chị Em thân mến,
Qua thừa tác vụ tông đồ, Giáo Hội, một cộng đồng được Con Thiên Chúa làm người qui tụ, sẽ sống qua gịng thời gian, xây dựng và nuôi dưỡng mối hiệp thông trong Chúa Kitô và trong Thần Linh, một mối hiệp thông tất cả mọi người được kêu gọi tham phần và có thể cảm nghiệm thấy ơn cứu độ được Chúa Cha ban cho. Mười Hai Vị Tông Đồ, như vị thừa kế thứ ba của Thánh Phêrô là Giáo Hoàng Clementê đă nói vào cuối thế kỷ thứ nhất, lưu ư tới việc chọn lựa thành phần thừa kế ḿnh (cf. 1Clement 42:4), nhờ đó sứ vụ được kư thác cho các ngài được tiếp tục sau khi các ngài qua đi. Qua các thế kỷ, Giáo Hội, được kiến tạo dưới sự lănh đạo của những vị chủ chiên hợp lệ, đă tiếp tục sống trên thế giới như mầu nhiệm hiệp thông, một mầu nhiệm, ở một nghĩa nào đó, phản ảnh chính mối hiệp thông Ba Ngôi, phản ảnh mầu nhiệm của chính Thiên Chúa.
Thánh Tông Đồ Phaolô đă đề cập tới nguồn mạch Ba Ngôi cao cả này khi ngài chúc Kitô hữu của ḿnh rằng: ‘Nguyện xin ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, t́nh yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” (2Cor 13:13). Những lời này, có lẽ là tiếng vọng của việc tôn thờ của Giáo Hội sơ khai, nhấn mạnh đến cách thức tặng ân nhưng không của t́nh yêu Chúa Cha nơi Chúa Giêsu Kitô được hiện thực và thể hiện nơi mối hiệp thông do Thánh Linh thực hiện.
Việc dẫn giải này, được căn cứ trực tiếp vào mối liên hệ nơi đoạn này giữa ba sở hữu cách (“ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, t́nh yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần”), cho thấy “mối hiệp thông” như là một tặng ân đặc biệt của Thần Linh, hoa trái của t́nh yêu Chúa Cha và của ân sủng Chúa Giêsu.
Ngoài ra, khung cảnh này, được nhấn mạnh nơi mối hiệp thông huynh đệ, dẫn chúng ta đến chỗ thấy, trong ‘koinonia - mối hiệp thông’ của Thánh Thần, không những “việc thông phần” vào sự sống thần linh một cách hầu như cá vị, như thể mỗi một người được thông phần, mà c̣n cả “mối hiệp thông” về lư thuyết nơi tín hữu nữa, một mối hiệp thông được chính Thần Linh thông ban như vị tác giả và tác nhân chính của nó (x Phil 2:1).
Cần phải khẳng định là ân sủng, t́nh yêu và hiệp thông, những ǵ được ám chỉ một cách tương ứng với Chúa Kitô, Chúa Cha và Thần Linh, là những khía cạnh khác nhau của một tác động thần linh duy nhất cho phần rỗi của chúng ta, tác động kiến tạo nên Giáo Hội và làm nên bởi Giáo Hội – như Thánh Cyprian đă nói vào thế kỷ thứ ba – “một đám đông qui tụ lại với nhau bởi mối hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con cùng Thánh Linh” ("De Oratione Dominica," 23: PL 4, 536, quoted in "Lumen Gentium," 4).
Ư niệm hiệp thông như việc thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa là những ǵ được sáng tỏ một cách đặc biệt ở Phúc Âm Thánh Gioan, nơi cho thấy mối hiệp thông yêu thương liên kết Con với Cha cũng như với con người đồng thời cũng là mô phạm và là nguồn mạch của mối hiệp nhất huynh đệ, một mối hiệp nhất cần phải nối kết các môn đệ lại với nhau: ‘các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con’ (Jn 15:12; x. 13:34). ‘Để họ cũng được ở trong chúng ta’ (Jn 17:21-22), do đó, là mối hiệp thông con người với Thiên Chúa Ba Ngôi và là mối hiệp thông con người với nhau. Trong thời điểm của cuộc hành tŕnh trần thế, nhờ mối hiệp thông với Con, người môn đệ đă được tham dự vào sự sống thần linh của Người và sự sống thần linh của Cha: ‘mối hiệp thông của chúng tôi với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô” (1Jn 1:3).
Sự sống được hiệp thông với Thiên Chúa và nơi chúng ta này chính là mục tiêu của việc loan truyền Phúc Âm, là mục tiêu của việc hoán cải trở về với Kitô Giáo: ‘những ǵ chúng tôi đă thấy và đă nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em được hiệp thông với chúng tôi’ (1Jn 1:3). Bởi thế, mối hiệp thông lưỡng đôi với Thiên Chúa và nơi chúng ta này là những ǵ bất khả phân ly.
Bất cứ lúc nào mối hiệp thông với Thiên Chúa bị hủy diệt, mối hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, th́ căn nguyên và là nguồn gốc của mối hiệp thông nơi chúng ta cũng bị hủy hoại. Và bất cứ khi nào mối hiệp thông giữa chúng ta không c̣n tồn tại, th́ mối hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi cũng không thể nào sống động và chân thực, như chúng ta đă nghe.
Giờ đây chúng ta hăy tiến thêm một bước nữa. Hiệp thông – hoa trái của Chúa Thánh Thần – là những ǵ được dưỡng nuôi bởi bánh Thánh Thể (x 1Cor 10:16-17) và được thể hiện nơi những mối liên hệ huynh đệ, như một thứ ngưỡng vọng về một thế giới mai sau. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu dưỡng nuôi chúng ta, liên kết chúng ta với chính bản thân Người, với Chúa Cha và với Thánh Thần cũng như với nhau nơi chúng ta, và cơ cấu hiệp nhất bao gồm thế giới này là những ǵ ngưỡng vọng cho một thế giới mai sau nơi thời của chúng ta.
Nếu đó là những ǵ ngưỡng vọng tới tương lai th́ hiệp thông là tặng ân có những thành quả rất chân thực; nó làm cho chúng tar a khỏi những ǵ là lẻ loi cô quạnh, ra khỏi cái tâm thức hẹp ḥi của chúng ta, và làm cho chúng ta có thể tham dự vào mối t́nh yêu thương liên kết chúng ta với Thiên Chúa và với nhau. Muốn hiểu được s75 trọng đại của tặng ân này, chỉ cần nghĩ tới những chia rẽ và xung khắc là những ǵ đầy đọa các mối liên hệ giữa cá nhân, nhóm phái hay cả các quốc gia với nhau. Và nếu tặng ân hiệp nhất trong Thánh Thần ấy bị hụt hang th́ không thể nào không xẩy ra t́nh trạng chia rẽ nơi loài người.
‘Hiệp thông’ thực sự là một tin mừng, một phương dược Chúa ban cho chúng ta để chống lại với sự lẻ loi cô độc đang đe dọa tất cả mọi người ngày nay, một tặng ân quí giá làm cho chúng ta cảm thấy ḿnh được Thiên Chúa chấp nhận và yêu thương, trong mối hiệp nhất của Dân Ngài là dân được qui tụ lại với nhau nhân danh Ba Ngôi; nó là ánh sáng làm cho Giáo Hội sáng tỏ như một dấu hiệu giữa các dân nước: ‘Nếu chúng ta nói rằng chúng ta hiệp thông với Ngài trong khi chúng ta lại bước đi trong tăm tối, là chúng ta nói dối và không sống theo chân lư; nhưng nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, như Ngài ở trong ánh sáng, là chúng ta hiệp thông với nhau’ (1Jn 1:6-7).
Giáo Hội, bởi
thế, cho thấy ḿnh, bất chấp tất cả mọi yếu hèn về nhân loại làm nên tính chất
lịch sử của ḿnh, như một kiến tạo lạ lùng của t́nh yêu, được thiết lập để làm
cho Chúa Kitô gần gũi với mọi con người nam nữ, thành phần thực sự muốn gặp gỡ
Người, cho đến ngày cùng tháng tận. Và nơi Giáo Hội, Chúa vẫn tiếp tục là người
đương thời của chúng ta. Thánh Kinh không phải là cái ǵ thuộc về quá khứ. Chúa
không nói trong quá khứ mà là nói trong hiện tại, Người nói với chúng ta hôm nay
đây, ban cho chúng ta ánh sáng, cho chúng ta thấy con đường sự sống, ban cho
chúng ta mối hiệp thông, nhờ đó sửa soạn cho chúng ta và hướng chúng ta tới ánh
sáng.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 29/3/2006
Thứ Tư 22/3/2006 tiếp tục chủ đề Mối Liên Hệ Giữa Chúa Kitô và Giáo Hội: Các Tông Đồ là Chứng Nhân và Phái Viên Chúa Kitô
Anh Chị Em thân mến,
Bức Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô cho thấy Giáo Hội như là một cơ cấu ‘được xây dựng trên nền tảng tông đồ và tiên tri có chính Chúa Giêsu Kitô là tảng đá góc tường’ (2:20). Trong Sách Khải Huyền, vai tṛ của các vị tông đồ, đặc biệt là của Nhóm 12, được sáng tỏ ở viễn tượng cánh chung của một Giêrusalem thiên quốc, một Giêrusalem hiện lên như một thành đô có tường thành với ’12 nền đá làm có khắc 12 tên của 12 vị tông đồ của Con Chiên’ (21:14). Các Phúc Âm cùng thuật lại việc kêu gọi các vị tông đồ là những việc làm đầu tiên của sứ vụ Chúa Giêsu, sau khi Người lănh nhận phép rửa của Gioan Tẩy Giả ở sống Dược Đăng.
Theo tŕnh thuật của Thánh Marcô (1:16-20) và Thánh Mathêu (4:18-22) th́ Hồ Galilêa là khung cảnh cho việc kêu gọi các vị tông đồ tiên khởi. Chúa Giêsu đă bắt đầu rao giảng Vương Quốc của Thiên Chúa, thời điểm ánh mắt của Người hướng tới hai cặp an hem: Simon và Anrê, Giacôbê và Gioan. Họ là những người đánh cá, chuyên cần với việc làm hằng ngày của ḿnh. Họ hạ lưới xuống và sửa chữa lưới của ḿnh. Tuy nhiên, một việc bắt cá khác lại đang đợi chờ họ. Chúa Giêsu quyết định lên tiếng gọi họ và họ lập tức theo Người: Từ đó trở đi họ sẽ là ‘những tay đánh cá người’ (x Mk 1:17; Mt 4:19.
Mặc dù căn cứ vào cùng một truyền thống, Thánh Luca tŕnh thuật cặn kẽ hơn (5:1-11). Thánh nhân cho thấy cuộc hành tŕnh đức tin của những vị môn đệ tiên khởi này, nhấn mạnh tới việc Chúa Giêsu mời gọi họ theo Người xẩy ra sau khi họ đă nghe bài giảng đều tiên của Người, và sau khi đă cảm nghiệm được những dấu lạ đầu tiên Người thực hiện. Đặc biệt là mẻ cá lạ là những ǵ trực tiếp tạo nên môi trường ấy và cho thấy cái biểu hiệu về sứ vụ của thành phần đánh cá người được ủy thác cho họ. Từ đó, định mệnh của những con người ‘được kêu gọi’ này hoàn toàn dính liền với định mệnh của Chúa Giêsu. Một người tông đồ là một người được sai đi, thế nhưng trước đó, họ là một ‘chuyên viên’ thông thạo về Chúa Giêsu.
Khía cạnh này được Thánh Kư Gioan nhấn mạnh từ lần đầu tiên Chúa Giêsu gặp gỡ các vii tông đồ tương lai. Ở đây th́ khung cảnh lại khác đi. Cuộc gặp gỡ xẩy ra ở bờ sông Dược Đăng. Sự hiện diện của những người môn đệ tương lai ấy là những ǵ chiếu sáng thế giới thiêng liêng của họ, thành phần cũng như Chúa Giêsu đến từ Galilêa để sống cảm nghiệm phép rửa của Thánh Gioan. Họ là những con người đang đợi chờ Vương Quốc của Thiên Chúa, mong muốn nhận biết Đấng Thiên Sai là Đấng được loan báo là gần đến rồi.
Chỉ cần Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ cho biết Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa (x Jn 1:36) là họ muốn được gặp gỡ riêng tư với Vị Sư Phụ này. Cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với hai vị tông đồ tương lai ấy là những ǵ rất minh bạch. Trả lời cho câu hỏi: ‘Các anh t́m kiếm chi vậy?’, họ đă trả lời bằng một câu vấn nạn khác: ‘Rabbi – tức là Thưa Thày – Thày hiện đang ở đâu?’ Câu trả lời của Chúa Giêsu là một lời mời gọi: ‘Hăy đến mà xem’ (x Jn 1:38-39). Hăy đến hầu các anh có thể thấy.
Thế là cuộc mạo hiểm của các tông đồ bắt đầu như là một cuộc qui tụ của những con người cởi mở cho nhau một cách hỗ tương. Các vị môn đệ bắt đầu hiểu biết về Vị Sư Phụ này. Họ thấy được chỗ Người sống và bắt đầu biết về Người. Họ không cần phải trở thành những người rao giảng cho một ư tưởng, mà là chứng nhân cho một con người. Trước khi được sai đi truyền bá phúc âm hóa, họ cần phải ‘ở’ với Chúa Giêsu (x Mk 3:14), thiết lập mối liên hệ riêng tư với Người. Bởi thế, việc truyền bá phúc âm hóa không là ǵ khác ngoài việc loan truyền những ǵ được cảm nghiệm thấy và là một lời mời gọi thông dự vào mầu nhiệm hiệp thông với Chúa Kitô (x 1Jn 13).
Các tông đồ được sai đến với ai? Theo Phục Âm, Chúa Giêsu dường như giới hạn sứ vụ của các vị ở Yến Duyên: ‘Thày chỉ sai đến với chiên lạc nhà Yến Duyên thôi’ (Mt 15:24). Đồng thời Người cũng hạn chế sứ vụ được ủy thác cho Nhóm 12: “Chúa Giêsu sai nhóm 12 này đi sau khi chỉ dẫn các vị rằng ‘Đừng đến lănh địa của dân ngoại hay thôn làng của người Samaritanô. Trái laạ, hăy đến với chiên lạc của nhà Yến Duyên’ (Mt 10:5). Thành phần chủ trương duy lư đă chỉ trích những điều này là nhân vật Nazarét thiếu tâm thức phổ quan đại đồng.
Thật vậy, những lời lẽ ấy cần phải được hiểu theo chiều hướng liên hệ đặc biệt với Do Thái là cộng đồng Giao Ước, trong sự liên tục với lịch sử cứu độ. Theo sự trông mong Đấng Cứu Tinh, th́ những lời hứa hẹn thần linh, được trực tiếp truyền đạt cho Yến Duyên, sẽ được nên trọn khi chính Thiên Chúa, qua Đấng Ngài Tuyển Chọn, qui tụ dân Ngài lại như mục tử qui tụ đàn chiên của ḿnh: ‘Ta sẽ cứu chiên của Ta để chúng không c̣n bị cướp bóc…. Ta sẽ chỉ định một mục tử duy nhất để chăn dắt chúng là Đavít tôi tớ của Ta…. Va tôi tớ Đavít của Ta sẽ là hoàng vương nơi chúng’ (x Ez 34:22-24).
Chúa Giêsu là vị mục tử cánh chung, Đấng qui tụ thành phần chiên lạc nhà Yến Duyên và lên đường t́m kiếm chúng, v́ Người biết chúng và yêu thương chúng (x Lk 15:4-7; Mt 18:12-14; x. Jn 10:11 ff). Qua việc ‘qui tụ’ này, Vương Quốc của Thiên Chúa được loan báo cho tất cả mọi quốc gia. ‘Nhờ thế Ta sẽ tỏ vinh quang của Ta trước các dân nước, và tất cả mọi quốc gia sẽ thấy phán quyết Ta ban hành và bàn tay Ta trên chúng’ (Ez 39:21). Và Chúa Giêsu đă theo đúng như nội dung lời ngôn sứ ấy. Đầu tiên là ‘qui tụ’ dân Do Thái, nhờ đó tất cả mọi dân nước được kêu gọi để qui tụ lại trong mối hiệp thông với Chúa được sống động và tin tưởng.
Như thế, Nhóm 12, được kêu gọi để tham dự vào cùng một sứ vụ của Chúa Giêsu, cộng tác với Vị Mục Tử cuối thời ấy, cũng trước hết loan báo cho tất cả thành phần chiên lạc nhà Yến Duyên, tức là với dân của lời hứa, dân mà việc qui tụ của họ là dấu hiệu cứu độ của tất cả mọi dân tộc, mở đầu cho việc đại đồng hóa Giao Ước ấy. Vấn đề ở đây là việc giới hạn này chẳng những không tương phản với việc cởi mở đại đồng nơi vai tṛ thiên sai của nhân vật Nazarét ấy, mà ngay từ ban đầu sứ vụ của Người cũng như sứ vụ của các vị tông đồ c̣n là một dấu hiệu ngôn sứ tác hiệu nữa.
Sau cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, dấu hiệu ấy đă được sáng tỏ, đó là tính chất đại đồng nơi sứ vụ của các vị tông đồ trở thành hiển nhiên. Chúa Kitô đă sai các vị tông đồ ‘đi khắp thế giới’ (Mk 16:15) và ‘mọi dân nước’ (Mt 28:19; Lk 24:47) ‘và đến tận cùng trái đất’ (Acts 1:8). Sứ vụ này được tiếp tục. Lệnh truyền của Chúa trong việc qui tụ các dân nước lại nên một trong t́nh yêu thương của Người luôn là những ǵ liên tục. Đó là niềm hy vọng của chúng ta và đó cũng là giới lệnh cho chúng ta, đó là hăy góp phần vào tính cách đại đồng ấy, vào mối hiệp nhất thực sự này theo sự phong phú của các nền văn hóa, trong mối hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô thực sự của chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 22/3/2006
Anh Chị Em thân mến,
Sau giáo lư về các bài thánh vịnh và ca vịnh cho Giớ Kinh Sáng và Tối, tôi muốn giành các buổi gắp gỡ Thứ Tư tới đây cho vấn đề mầu nhiệm về mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, bằng cách tŕnh bày vấn đề này theo cảm nghiệm của các vị tông đồ theo chiều hướng sứ vụ được trao phó cho các vị.
Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng chư vị tông đồ như là một cộng đồng đức tin, đức cậy và đức mến. Nhờ các vị tông đồ mà chúng ta trờ về tới tận Chúa Giêsu.
Giáo Hội mới đầu được thành lập khi có một số người đánh cá ở Galilêa gặp được Chúa Giêsu; họ cảm thấy bị chinh phục bởi ánh mắt của Người, giọng nói của Người và lời mời gọi nồng nàn mănh liệt của Người: ‘Hăy theo Thày, để Thày làm cho các con trở nên những kẻ đánh cá người’ (Mk 1:17; Mt 4:19).
Vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Gioan Phaolô II, vào lúc mở màn cho đệ tam thiên kỷ, đă đề ra cho Giáo Hội việc chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô (x. Tông Thư ‘Novo Millennio Ineunte’, số 16 và sau đó). Tiến theo chiều hướng ấy, trong bài giáo lư tôi bắt đầu hôm nay đây, tôi muốn tŕnh bày cho thấy rằng chính ánh sáng của Dung Nhan ấy đang phản ảnh nơi dung nhan của Giáo Hội (x Hiến Chế Lumen Gentium, số 1), bất chấp những giới hạn và bóng tối của nhân tính mỏng ḍn và tội lỗi của chúng ta.
Sau Mẹ Maria là phản ảnh tinh tuyền của ánh sáng Chúa Kitô, các vị tông đồ, qua lời nói và chứng từ của ḿnh, đă truyền lại cho chúng ta sự thật về Chúa Kitô. Sứ vụ của các vị không phải là những ǵ cô lập. Nó được đóng khung trong mầu nhiệm hiệp thông và bao gồm tất cả Dân Chúa, và nó được thể hiện qua các giai đoạn từ cựu ước đến tân ước.
Theo ư nghĩa ấy, chúng ta phải nói rằng chúng ta hoàn toàn bóp méo sứ điệp của Chúa Giêsu khi chúng ta tách nó khỏi bối cảnh niềm tin và trông đợi của thành phần dân tuyển chọn. Như Thánh Gioan Tẩy Giả là vị tiền hô ngay trước khi Người đến đă làm, Chúa Giêsu cũng chính yếu ngỏ lời cùng toàn thể dân Do Thái (x Mt 15:24), để ‘liên kết họ’ vào thời cánh chung là thời đă xẩy ra khi Người tới.
Như đă xẩy ra với Gioan, việc giảng dạy của Chúa Giêsu đồng thời cũng là một lời kêu gọi của ân sủng và là một dấu hiệu của sự tương khắc và phán xét tất cả Dân Chúa. Bởi thế, từ giây phút đầu tiên của việc Người hoạt động cứu độ, Chúa Giêsu Nazarét muốn liên kết và thanh tẩy Dân Chúa. Mặc dù việc giảng dạy của Người bao giờ cũng là một lời kêu gọi hoán cải bản thân, thực tế nó tiếp tục hướng tới việc xây dựng Dân Chúa là thành phần được Người đến để qui tụ lại với nhau và cứu độ.
Đó là lư do việc dẫn giải có tính cách cá nhân về việc Chúa Kitô loan báo Vương Quốc được thần học giải phóng đề ra là những ǵ đơn phương và thiếu cơ sở. Đại thần học gia giải phóng Adolf von Harnack tóm lại các hội nghị của ḿnh về chủ đề ‘Kitô Giáo là ǵ?’, đă nói: ‘Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến ở mức độ vương quốc này trị đến với những con người riêng biệt nào đó, t́m cách tiến vào linh hồn này và được họ chấp nhận. Vương Quốc của Thiên Chúa là ‘vai tṛ chủ tể’ của Thiên Chúa, tức là, việc thống trị của Vị Thiên Chúa Thánh Hảo nơi mỗi một con tim khác nhau’ (Third Conference, 100ff).
Thật ra chiều hướng cá nhân nơi thần học giải phóng là những ǵ được đặc biệt nổi nang trong thời đại tân tiến. Theo quan điểm của truyền thống thánh kinh, cũng như theo lănh giới của Do Thái Giáo là lănh giới hoạt động của Chúa Giêsu được xếp loại bất kể tất cả tính cách mới mẻ của hoạt động này, th́ vấn đề hiển nhiên là tất cả sứ vụ của Người Con hóa thành nhục thể có mục đích hiệp thông, ở chỗ Người đến chính v́ muốn qui tụ lại với nhau một nhân loại phân tán, Người đến chính v́ muốn qui tụ Dân Chúa lại với nhau.
Một dấu hiệu rơ ràng cho thấy ư hướng của con người Nazarét này trong việc muốn qui tụ lại với nhau cộng đồng giao ước để tỏ ra nơi cộng đồng này việc viiên trọn của những lời hứa hẹn với cha ông họ, những vị luôn nói đến việc triệu tập, thống nhất và hiệp nhất, đó là việc thiết lập nhóm 12. Chúng ta vừa nghe bài Phúc Âm về việc thiết lập nhóm 12 Vị này.
Giớ đây tôi xin đọc lại đoạn chính yếu, đó là đoạn ‘Người lên núi và triệu tập những ai Người muốn, nên họ đă đến với Người. Người đă chỉ định 12 vị (thành phần được Người gọi là tông đồ) để họ có thể ở với Người và Người sai họ đi giảng dạy cùng ban quyền khu trừ ma qủi: Người đă chỉ định 12 vị…’ (Mk 3:13-16; x Mt 10:1-4; Lk 6:12-16).
Ở địa điểm của việc mạc khải này, đó là ‘ngọn núi’, bằng một sáng kiến cho thấy cái ư thức và định đoạt tuyệt đối của ḿnh, Chúa Giêsu đă thiết lập Nhóm 12 để các vị có thể trở thành những chứng nhân và những người rao giảng tin mừng với Người về việc Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến. Không có vấn đề về tính chất lịch sử của lời kêu gọi này, chẳng những v́ tính cách cổ xưa cùng tính cách dồi dào của các chứng từ, mà c̣n v́ sự kiện đơn giản là tên của Tông Đồ Giuđa là người bội phản cũng xuất hiện nữa, bất kể những khó khăn liên quan tới tên tuổi của người tông đồ này có thể chất chứa nơi cộng đồng phôi thai ấy.
Con số 12, một con số hiển nhiên liên quan tới 12 chi họ Do Thái, cho thấy ư nghĩa của hành động biểu hiệu có tính cách ngôn sứ được chất chứa nơi sáng kiến mới về việc thành lập dân thánh một lần nữa. Sau cuộc sụp đổ của cơ cấu 12 chi tộc này, Do Thái mong chờ việc tái thiết cơ cấu ấy như là một dấu hiệu của việc đến thời điểm cánh chung (điều này có thể đọc thấy trong phần cuối của Sách Êzêkiên 37:15-19, 39:23-29,40-48).
Bằng việc chọn Nhóm 12, dẫn họ vào một mối hiệp thông sự sống với Người và làm cho họ thành những người được chia sẻ cùng một sứ vụ trong việc loan báo Vương Quốc này bằng lời nói và việc làm (x Mk 6:7-13; Mt 10:5-8; Lk 9:1-6,6:13), Chúa Giêsu muốn nói rằng thời điểm tối hậu đă tới; thời điểm tái thiết Dân Chúa, thành phần dân của 12 chi tộc, thành phần giờ đây được biến thành một dân phổ quát là Giáo Hội của Người.
Chỉ bằng việc hiện hữu của ḿnh, Nhóm 12 – được kêu gọi từ những hoàn cảnh khác nhau – đă trở thành một lời hiệu triệu tất cả Do Thái hăy hoán cải và hăy để cho họ được tái liên kết trong một giao ước mới là những ǵ hoàn thành trọn vẹn và trọn hảo cựu ước. Bằng việc ủy thác cho họ công việc cử hành để tưởng nhớ đến Người trong Bữa Tiệc Ly, trước cuộc khổ nạn của ḿnh, Chúa Giêsu cho thấy rằng Người muốn chuyển đến tất cả cộng đồng này, nơi bản thân của thủ lănh họ, mệnh lệnh trở thành một dấu hiệu và dụng cụ của cộng đồng cánh chung được Người khởi sự.
Ở một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng Bữa Tiệc Ly chính là tác động thành lập Giáo Hội của Người, v́ Người ban chính bản thân ḿnh, nhờ đó, kiến tạo nên một cộng đồng mới, một cộng đồng được liên kết trong mối hiệp thông với chính bản thân Người. Theo quan điểm này, vấn đề được hiểu rằng Đấng Phục Sinh ban cho họ, bằng việc tuôn đổ Thánh Thần, quyền năng tha tội (Jn 20:23). 12 Tông Đồ như thế là dấu hiệu hiển nhiên nhất của việc Chúa Giêsu muốn liên quan đến sự kiện hiện hữu và sứ vụ của Giáo Hội Người, là việc bảo đảm rằng giữa Chúa Kitô và Giáo Hội không có vấn đề ḱnh chống: Chúa Kitô và Giáo Hội bất khả phân ly, bất kể tội lỗi của thành phần dân làm nên Giáo Hội.
Bởi vậy, không được hóa giải những ư hướng của Chúa Kitô với câu châm ngôn thời trang mấy năm trước đây ‘chấp nhận Chúa Kitô, chứ không chấp nhận Giáo Hội’. Chúa Giêsu của tính cách cá nhân chủ nghĩa là một cái ǵ đó tưởng tượng. Chúng ta không thể tím thấy Chúa Giêsu ngoài thực tại là Người đă thiết lập và nhờ đó Người thông ḿnh ra. Giữa Người Con Thiên Chúa làm người và Giáo Hội của Người có một sự liên tục sâu xa bất khả phân ly, v́ tính chất ấy mà Chúa Kitô hôm nay vẫn hiện diện nơi dân của Người.
Người bao giờ cũng đồng thời với chúng ta – đồng thời với chúng ta trong Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng các Tông Đồ. Người đang sống nơi việc thừa kế của các Vị Tông Đồ. Và việc Người hiện diện nơi cộng đồng này, một cộng đồng Người luôn ban chính ḿnh, là lư do cho niềm hân hoan của chúng ta. Phải, Chúa Kitô ở với chúng ta, Vương Quốc của Thiên Chúa đang trị đến.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/3/2006