Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI
CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG
·
(theo Marta Largo, “BENEDICT, AS SEEN UP CLOSE” )
Một lòng yêu mến Chúa
Theo Đức Hồng Y José Saraiva Martins, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, vị Hồng Y đã từng cộng tác rất gần gũi với Đức Bênêđíctô, thì nếu chúng ta muốn hiểu được nhân vật “Joseph Ratzinger” như một người thường và như một vị Giáo Hoàng, thì “chúng ta phải để ý đến lòng yêu mến Chúa của Ngài”.
Hôm Thứ Ba ngày 20/5/2008, trong khi tham dự cuộc ra mắt cuốn sách “BENEDICTUS” do Giuseppe de Carli viết, Đức Hồng Y Martins nói: Chìa khóa để hiểu được con người và sứ vụ của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI là chính Tình Yêu Chúa; điều đó dễ nhận thấy trong Tông Thư đầu tiên “Thiên Chúa là Tình Yêu” (Deus Caritas Est, God is Love) của Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên Đức Hồng y Martins cũng nói rõ thêm là “Tình Yêu” không phải là một “trạng thái tĩnh”, nhưng là một động lực, một sức mạnh triển nở không ngừng. Thật vậy, Tình Yêu luôn đem lại những nghị lực mới. Tình Yêu đặt ra những “Vấn đề” lớn, và từ đó nảy sinh ra Triết Học và Thần Học.
Vị Giáo Hoàng của quần chúng,
Cũng theo Đức Hồng y Martins: “cuốn ‘Benedictus’ đã thu thập được những tài liệu nói lên sự hiện diện đang triển nở của Đức Giáo Hoàng trên sân khấu quốc tế của Thiên Niên Kỷ III. Cuốn sách cũng cho thấy làm thế nào, từng bước một, Đức Giáo Hoàng, một cách thận trọng, đang đi sâu vào tâm hồn của quần chúng. Rồi Đức Hồng y Martins nói thêm: “ Ngoài trình độ trí thức sáng ngời của Ngài, Đức Thánh Cha đang trở nên Vị Giáo Hoàng của quần chúng. Quần chúng càng ngày càng nhận ra được những lời nhắn nhủ của Ngài, ngay cả khi những lời đó khó chấp nhận, vì đòi hỏi phải dấn thân”.
Vị Hồng Y nói tiếp: “Đức Giáo Hoàng luôn hành động như một người Cha, một người Cha quyết tâm không để cho con cái của mình chìm vào trạng thái tầm thường. Cũng chính tình yêu của một người Cha đã thúc đẩy Ngài chiến đấu không ngừng để chống lại sự thống trị của Lý Thuyết Tương Đối hiện đang lan tràn trong xã hội của chúng ta.”
Đức Hồng y Martins còn quả quyết: “Vai trò của Đức Giáo Hoàng trên trường quốc tế không phải chỉ là một sự ‘có mặt’ mà thôi, nhưng là một ‘thực tại’. Ngay cả trước khi Ngài ngỏ lời, sự xuất hiện của Ngài đã là một sự ‘mời gọi’ mọi người hãy biết sống yêu thương và tìm kiếm chân lý. Tuy nhiên, sự ‘hiện diện’ của Ngài trong Giáo hội và trên thế giới không bao giờ là một sự ‘lấn chiếm’. Giọng nói của Ngài không mang một chút gì là ‘kiêu hãnh’, nhưng Ngài vừa thận trọng vừa khiêm tốn, vừa thân tình. Đó là cách mở rộng tâm hồn nhiều người để họ dể dàng đón nhận những lời mời gọi của Ngài”.
Tôn trọng truyền thống.
Riêng Đức Hồng Y Andrea Condero Lanza di Montezemolo, Tổng Quản Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành, thì nói : « Nhớ lại, khi mới được bầu chọn lên Ngôi Giáo Hoàng được hai ngày, chính Đức Giáo Hoàng đã gọi điện thoại bảo tôi giúp Ngài phác họa bộ phẩm phục Giáo Triều làm sao cho đúng mẫu mực truyền thống (Đức Hồng Y Lanza rất thành thạo về các kiểu phẩm phục của Giáo triều). Ngay khi đó tôi nhận ra rằng Đức Giáo Hoàng có đức tính truyền thống; một con người có tinh thần đơn sơ, nhân bản, thành thực, giàu cảm hứng, nhưng cũng rất thận trọng. Đó là do tính quả quyết và chín chắn trong suy tư của Ngài.”
Còn Đức Tổng Giám Mục Angelo Amato, Tổng Thơ ký Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin, là một trong những người cộng tác thân cận nhất với Đức Giáo Hoàng khi Ngài còn là Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ này, đã phát biểu : « Đức Giáo Hoàng vẫn sống theo cung cách y như Ngài còn là Hồng Y. Điều mà quý vị thấy nơi Đức Giáo Hoàng bây giờ cũng y như quý vị thấy trước đây khi Ngài còn là Hồng Y Bộ Trưởng Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin: Cùng một con người trí thức, có đầu óc minh mẫn; cùng một tấm lòng nhiệt thành bảo vệ Tín Lý Đức Tin; cùng một con người đơn giản trong giao tiếp; và cũng vẫn là một con người thành thật và khiêm tốn.
Nụ cười truyền cảm.
Rồi Đức Tổng Giám Mục Amato vừa mở các trang sách của cuốn “Benedictus” vừa nói: “Người ta thấy nơi Đức Giáo Hoàng bốn đức tính trổi vượt: Tươi vui, nhanh trí, quảng tâm, và có nụ cười truyền cảm! Hơn nữa Ngài còn là con người thích đối thoại. Trí óc Ngài rất già dặn qua các năm tháng dài dạy tại các Đại Học, và cũng rất sắc bén qua nhiều cuộc tiếp xúc với các Đức Giám Mục khắp nơi trên thế giới về gặp gở Ngài ở Vatican khi Ngài còn là Bộ Trưởng Bộ Tín Lý. Đúng Ngài là một con người thích đối thoại với dáng vẻ không lạnh nhạt hay lơ là, nhưng luôn niềm nở, thân thiện. Ngài cũng là một nhà trí thức có tấm lòng.
Sức mạnh truyền đạt của Ngài xuất phát từ chỗ lới nói của Ngài luôn hợp tình, hợp lý; dù khi Ngài nói về Chúa Kitô, hay khi Ngài trình bày về các chân lý Đức Tin, cũng như khi Ngài phê phán những não trạng quá nệ cổ.
Vì Đức tin và Lý trí là đôi cánh đưa chúng ta bay tới Chân Lý, cho nên rõ ràng là Chân lý, Tình yêu Chân lý và sự đề cao Chân lý là những sợi chỉ đan kết đem lại một sự ‘liên tục’ nơi con người Ratzinger, trước đây là Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin và bây giờ là Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô!”.
MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA ĐỨC BÊNÊĐÍCTÔ XVI.
(Linh Mục Trần Đức Phương. Phỏng theo Isabelle de Gaulmyn, “A day in the life of the Pope” trong Catholic Digest April 2008).
5:30 sáng: Khi công trường Thánh Phêrô còn đang yên tĩnh trong bầu khí buổi sáng sớm của thành Rôma và chờ đợi những đoàn du khách sẽ lần lượt kéo đến, trên tầng thứ ba của tòa nhà nơi Đức Gáo Hoàng cư ngụ và làm việc, người ta thấy ánh sáng đèn bắt đầu chiếu lên; đó là lúc Đức Giáo Hoàng thức dậy và bắt đầu một ngày mới với những giờ phút cầu nguyện và tĩnh tâm sáng.
7:00 sáng: Đức Giáo Hoàng dâng Thánh Lễ tại nhà nguyện riêng cùng với sự hiện diện của hai Đức Ông Goerg Gaenswein và Alfred Zuereb (hai vị Thư Ký của Đức Giáo Hoàng) và bốn người giúp việc. Thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì thường có thêm một số khách được vào cùng dâng lễ.
8:30 sáng: Đức Giáo Hoàng làm việc tại Văn phòng riêng. Nếu trời tốt, cửa sổ nhìn ra công trường Thánh Phêrô sẽ mở (chính từ cửa sổ này, vào mỗi trưa Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nguyện kinh Truyền Tin cùng với các khách hành hương tụ tập tại công trường Thánh Phêrô phía dưới). Một trong hai Đức Ông Thư ký sẽ đem đến cho Đức Giáo Hoàng tập các văn kiện, bản tóm lược các tin tức quan trọng trên thế giới, chương trình làm việc trong ngày, những người Ngài sẽ gặp và những đề tài chính sẽ đề cập đến.
11:00 Trưa : Đức Giáo Hoàng xuống phòng tiếp tân ở tầng hai để tiếp các vị thủ lãnh các quốc gia, các vị Giám Mục, các nhân vật quan trọng… đã được sắp xếp theo chương trình. Sau đó Ngài tiếp các khách đến viếng thăm tại thư viện riêng.
1:30 Trưa: Đức Giáo Hoàng dùng bữa trưa đơn giản tại phòng ăn ở tầng ba với các viên chức hoặc đôi khi có khách được mời. Sau đó Đức Giáo Hoàng thường chơi Piano, đặc biệt những bản của Mozart, rồi đi dạo một chút trước khi nghỉ trưa.
3:30 Chiều: Đức Giáo Hoàng lại làm việc tại văn phòng để duyệt lại các văn kiện và các bài diển văn.
Vào Mùa Đông từ 4:00 đến 4:45 chiều (vào mùa Hè từ 6:45 đến 7:30) Ngài ra vườn để đi dạo với hai vị thư ký.
6:00 Chiều : Ngài gặp gỡ tại văn phòng riêng, các vị cố vấn thân cận, như các Đức Hồng Y, các Giám Mục Tổng Trưởng, Tổng Thư Ký các Bộ tại Tòa Thánh.
7:30 Tối : Đức Giáo Hoàng ăn bữa tối, xem tin tức trên truyền hình. Sau đó Ngài vào Nhà Nguyện để cầu nguyện trong yên lặng ban đêm.
Khi chuông Đại Thánh Đường Thánh Phêrô điểm 11:00 giờ đêm, đèn phòng ngủ của Đức Giáo Hoàng tắt và Ngài bắt đầu nghỉ đêm.
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương, Phỏng theo Marta Largo, “BENEDICT, AS SEEN UP CLOSE” trong Zenith News Agency, ngày 23/5/2008).
SỨ GIẢ CỦA HÒA BÌNH VÀ TÌNH THƯƠNG
“Đấng
Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả…” (Lc 1, 49). Trước những lời ca
tụng của Bà Elisabet về việc Đức Maria được diểm phúc làm Mẹ sinh ra Đấng
Cứu Thế, Mẹ Maria đã khiêm tốn tạ ơn Chúa và thưa:“Đấng Toàn Năng đã làm cho
tôi những điều cao cả...”.
Ơn Gọi của Chúa thật là điều kỳ diệu đối với những người Chúa chọn để làm
các công việc đặc biệt của Chúa trong Giáo Hội. Đúng là “Không phải vì con
Chúa chọn con; nhưng là bí nhiệm tình yêu Chúa!”.
Khi Đức Gioan Phaolô II được bầu lên ngôi Giáo Hoàng (ngày 16-10-1978), cả
thế giới ngỡ ngàng. Một con người phải trải qua bao khó khăn thời niên thiếu
để tự sinh sống và việc học thật khó khăn, phải “tu chui”, lên được chức
Linh Mục là khá lắm rồi, thế mà Thiên Chúa đã dùng Ngài làm bao việc “trọng
đại” qua bao chức vụ khác nhau trong Giáo Hội cho đến ngôi vị Giáo Hoàng, và
triều đại Giáo Hoàng của Ngài thật dài lâu và thật tuyệt vời.
Áp dụng vào cuộc đời của Đức Đương Kim Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, từ thời
niên thiếu cho đến Ngôi vị Giáo Hoàng, chúng ta cũng thấy Thiên Chúa đã dẩn
dắt Ngài một cách thật kỳ diệu. Bản tiểu sử thời niên thiếu của Ngài ghi lại:
Vào một buổi sáng ngày Thứ Bảy Tuần Thánh 16 tháng 4 năm 1927, tại làng quê
Marktl am Inn( thuộc Giáo phận Passau, miền Bavaria, nước Đức), bà Ratzinger,
nhũ danh là Maria Peintner, đã sinh hạ một người con trai mà hai ông bà đặt
tên là Giuse Alois Ratzinger và được chịu phép Thánh Tẩy vào chính ngày thứ
bảy tuần thánh hôm đó. Cậu là người con thứ ba và là cậu bé út trong gia
đình. Anh đầu của cậu là George Ratzinger, và chị gái tiếp theo là Maria
Ratzinger. Hai anh em trai đều được Chúa chọn lên chức Linh Mục. Còn người
chị gái sống độc thân và đã đi theo để giúp em cho đến khi qua đời vào năm
1991. Cha của cậu là Giuse Ratzinger, Sr. Ông là một sĩ quan cảnh sát thuộc
gốc một gia đình nông dân nghèo miền quê vùng Bavaria. Mẹ cậu, trước khi kết
hôn, đã làm người nấu ăn cho một số khách sạn trong vùng. Cả hai ông bà đều
thuộc gia đình công giáo tốt.
Gia đình Ratzinger đã phải sống rất khó khăn vào thời Đức Quốc Xã. Ông
Ratzinger, Sr. chống lại chế độ này, vì thấy nó rất tàn bạo, đi ngược hẳn
với đức Bác ái Công giáo. Tuy nhiên, hai người con trai của ông bà, khi lên
14 tuổi, lần lượt vẫn phải bắt buộc ghi danh vào Đoàn Thiếu Niên của Hitler.
Nhưng theo tinh thần của bố, hai cậu bé này nhất định không hoạt động tích
cực, và không năng đi dự các cuộc họp của đoàn. Các cậu vẫn giữ vững đức tin
công giáo và nuôi ơn gọi làm Linh mục; kể cả khi phải bắt đi lính cho chế độ
Hitler. Giuse Ratzinger cũng đã bị bắt làm tù binh chiến tranh của quân đội
Hoa Kỳ khi Đồng Minh đến giải phóng nước Đức khỏi chế độ tàn bạo Đức Quốc Xã
vào năm 1945.
Sau những ngày bình an trở lại trên quê hương, hai cậu con trai đều trở vào
Chủng Viện để học và tiếp tục cuộc đời tận hiến cho Chúa. Tạ ơn Chúa, cả hai
anh em đã cùng được chịu chức Linh mục vào cùng ngày 29 tháng 6 năm 1951 tại
Freising. Lúc đó, Linh mục Joseph Ratzinger mới vừa 24 tuổi. Sau khi chịu
chức Linh mục, Cha Giuse Ratzinger được cử làm giáo sư dạy trung học và tiếp
tục học hỏi thêm, và đã đậu bằng tiến sĩ Thần học vào năm 1953, rồi tiếp tục
là Giáo sư nhiều trường Đại Học nổi tiếng ở Đức để giảng dạy về triết học và
thần học. Có một thời gian Cha đã làm Khoa trưởng phân khoa Thần học và tiếp
theo là Phó Viện trưởng Đại học Rosensburg.
Ngài có đầu óc thật thông minh và ham học hỏi, đọc sách thật nhiều; nên đã
viết nhiều bài báo và tác phẩm rất giá trị, đặc biệt về Thần học và Giáo lý
Công giáo... Cũng như Đức Giáo Hoàng Phaolô II, Ngài có khiếu sinh ngữ. Ngài
nói thành thạo tiếng Ý, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Latinh; khá rành tiếng Bồ
Đào Nha và cũng giỏi về Cổ Ngử Hy Lạp và tiếng Do Thái cổ dùng trong Kinh
Thánh. Là một nhà trí thức nổi tiếng ở Âu Châu, Ngài đã được mời vào làm
thành viên của nhiều Hàn Lâm Viện Âu Châu. Ngài cũng được kể vào số những
nhà trí thức Công giáo nổi tiếng thời đó như Karl Rahner, Hans Kung, Hans
Urs von Balthasar, Henri de Lubac... Nhiều trường Đại học đã tặng Ngài Bằng
Tiến Sĩ Danh Dự: Đại học Thánh Tôma ở Saint Paul (Minesota, 1984); Đại học
Công Giáo Lima (1986); Đại học Công giáo Eichstatt (1987); Đại học Công giáo
Lublin (1988); Đại học Công giáo Navarre (1998); Đại học Wroclaw, Balan
(2000). Ngài cũng có khiếu về âm nhạc, chơi đàn Piano, và rất thích nhạc của
Mozart và Bach.
Ngài cũng là “tư vấn” về Thần học trong Cộng đồng Vaticanô II từ 1962-1965
và giữ các vai trò quan trọng trong Hội đồng Giám Mục Đức Quốc và Ủy Ban
Thần Học Quốc Tế.
Vào ngày 25/3/1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt Ngài làm Tổng Giám Mục
Munich và Freising và ngày 27 tháng 6 cùng năm, lại ban cho Ngài phẩm chức
Hồng Y. Sau đó Ngài đã dự hai Mật nghị để bầu Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I
và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1978.
Năm 1981 Đức Giáo Hoàng Phaolo II đặt Ngài làm Tổng trưởng Thánh bộ Đức Tin
(1981-2005). Từ đó Ngài từ chức Tổng Giám Mục Munich và trở về Giáo triều
Rôma để phục vụ cho đến khi lên Ngôi Giáo Hoàng. Trong thời gian này Ngài đã
đóng góp rất nhiều vào các công việc quan trọng của Giáo hội: Chủ tịch Ủy
ban Soạn thảo Giáo lý Công giáo và sau 6 năm làm việc (1986-1992), Ủy ban đã
hoàn thành và trình lên Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cuốn Giáo Lý Công
Giáo mới. Ngài cũng được mời làm thành viên của các Bộ tại Giáo triều Rôma:
như Bộ Giáo Hội Đông Phương, Bộ Phượng tự và Kỷ Luật Bí Tích, Bộ Giám Mục,
Bộ Rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc, Bộ Giáo dục Công giáo, Bộ Giáo sĩ, Bộ
Phong Thánh, Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, Tòa Hòa Giải Tối Cao, Hội Đồng
Giáo Hoàng về Các Văn Bản Luật... Ngày 30/11/2002, Ngài được bầu làm chủ
tịch Hồng Y Đoàn.
Từ năm 1990, sức khỏe của
Ngài bị suy giảm nặng vì làm việc quá nhiều; có những lần bị trụy tim và mắt
bị mờ. Vì thế, Ngài xin về hưu với ý định trở về ngôi làng ở Bavaria để tĩnh
dưỡng và viết sách. Đã ba lần Ngài đệ đơn xin từ chức; nhưng cả ba lần Đức
Giáo Hoàng đều xin Ngài ở lại. Vì vâng lời, Ngài tiếp tục ở lại làm việc. Lạ
lùng thay, ơn Chúa lại giúp Ngài hồi phục lại sức khỏe và tiếp tục hăng hái
đảm nhiệm các công việc được trao phó. Lạ lùng hơn nữa, khi Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II băng hà, nhiều tin đồn và báo chí đã đề cập đến tên Ngài vào
những vị sẽ được chọn. Phần Ngài chẳng tin rằng mình sẽ được chọn, vì tuổi
đã già và sức khỏe không khả quan. Anh của Ngài là Đức Ông George Ratzinger,
theo như ngừơi ta kể lại, cũng đêm ngày cầu nguyện xin Chúa đừng chọn người
em của mình. Thế nhưng “Chúa đã chọn Người mà Chúa muốn!” và Ngài đã được
chọn lên Ngôi Giáo Hoàng vào ngày 19/4/2005, lúc đã 78 tuổi ( Nhớ lại Đức
Giáo Hoàng Clêmentê XII, sinh năm 1652, đựơc Chúa chọn lên ngôi Giáo Hoàng
cũng vào lúc đã 78 tuổi, và ở ngôi Giáo hoàng đựơc 10 năm, 1730-1740; Đức
Giáo Hoàng Gioan XXIII, sinh năm 1881, được Chúa chọn lên Ngôi Giáo Hoàng
lúc 77 tuổi, và ở ngôi Giáo Hoàng được 5 năm, 1958-1963). Đức Bênêđictô XVI
là vị Giáo Hoàng thứ 265 trong Giáo hội, và là vị Giáo Hoàng IX gốc người
Đức.
Khi được bầu chọn xong, Ngài đã xin vâng theo ý Chúa và đã tâm sự với các vị
Hồng y hiện diện: “Tôi đã cầu xin Chúa đừng chọn tôi... nhưng Chúa đã không
nhận lời tôi cầu xin!”. Điều trùng hợp tốt lành, là ngày 19/4 lại trùng vào
lễ Thánh Leô IX, là vị Giáo Hoàng người Đức (1049-1054), được chọn lên ngôi
Giáo Hoàng lúc mới có 47 tuổi, và là vị Giáo Hoàng rất nổi tiếng thời Trung
cổ, nổi tiếng về sự thánh thiện và lòng nhiệt thành canh tân Giáo hội; dù
Ngài chỉ ở ngôi vị Giáo Hoàng có 5 năm và qua đời vào năm 1054.
Trong lời ngỏ đầu tiên khi vừa được bầu chọn, trước cộng đồng đông đảo đang
chờ đợi tại công trường Thánh Phêrô, vị Tân Giáo Hoàng 78 tuổi đã cảm động
nói (trước khi ban phép lành đầu tiên cho Thành Rôma và toàn thế giới): “Anh
chị em thân mến, sau vị Giáo Hoàng vĩ đại Gioan Phaolô II, các Đức Hồng Y đã
chọn tôi, một người thợ đơn sơ, khiêm hạ trong vườn nho của Chúa. Tuy nhiên
tôi tự an ủi rằng Chúa biết và Chúa hành động nơi những dụng cụ bất toàn;
hơn nữa tôi hoàn toàn phó thác vào lời cầu nguyện của anh chị em. Trong niềm
vui Chúa Phục Sinh và với niềm tin mạnh mẽ vào sự trợ giúp của Chúa, chúng
ta hãy cùng nhau tiến bước. Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta. Mẹ Maria Chí Thánh của
Chúa sẽ luôn ở bên cạnh chúng ta. Xin cám ơn anh chị em!”.
Trong lời tâm tình đầu tiên với Dân Chúa vào ngày thứ Tư 27/4/2005, Đức Giáo
Hoàng nói lên lý do Ngài đã chọn danh hiệu Bênêđíctô (Trong tiếng Latinh chử
“Benedictus” có nghĩa là “người được chúc phúc” như trong câu “Benedictus
qui venit in nomine Domini! Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến!”). Đức Tân
Giáo Hoàng nói: “ Trong tâm thức vừa lo âu vừa tạ ơn Chúa, tôi xin bày tỏ
cùng quý vị tại sao tôi chọn danh hiệu Bênêđíctô: Trước là để nhớ đến Đức
Giáo Hoàng Bênêđíctô XV (1914-1922), là vị sứ giả đã rất can đảm trong sứ vụ
rao giảng Hòa Bình; Ngài đã khôn ngoan hướng dẩn Giáo Hội Chúa qua thời hỗn
loạn của chiến tranh (Thế chiến thứ nhất). Theo chân Ngài, tôi đặt trọng tâm
sứ vụ của tôi vào việc phục vụ sự hòa giải và hòa hợp giửa các dân tộc. Hơn
nữa tôi chọn danh hiệu Bênêđíctô cũng là để nhớ đến Thánh Bênêđíctô thành
Nursia, đồng bổn mạng của Âu Châu, cuộc đời Ngài nói lên cội nguồn Kytô giáo
của Âu Châu. Tôi cầu xin Ngài giúp chúng ta nắm vững được Chúa Kytô trong
trung tâm điểm đời sống Kytô hữu của chúng ta. Chớ gì Chúa Kytô luôn là điểm
quan trọng nhất trong mọi tư tưởng và hành động của chúng ta!”.
Qua Bài “Những lời tâm tình đầu tiên...” (Chúng tôi đã dịch ra và gửi đến
quý vị trước đây), chúng ta nhận thấy Ngài rất tôn trọng đường lối của Đức
Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II, tiếp tục thi hành những chỉ thị của Cộng Đồng
Vaticanô II cho Giáo Hội trong thế giới hôm nay; đặc biệt tinh thần dấn thân
phục vụ của các tầng lớp giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân; tinh thần tìm hiểu và
liên kết với các anh em “cùng tôn thờ một Chúa Kytô” (Ecumenical efforts);
tinh thần hòa hợp và hòa giải giữa các Tôn giáo (Đối thoại liên tôn). Chính
vì thế, trong ba năm trên ngôi vị Giáo Hoàng, Ngài đã tiếp tục đi đến gặp gở
và cùng cầu nguyện với các Tôn giáo bạn: Chính Thống Giáo, các ngành Tin
Lành, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo.v.v...
Tâm tình ‘Chủ Chăn’ của Ngài đặc biệt được biểu lộ trong hai ‘Tông Thư’
(Encyclicals) đã ra đời: Tông Thư ‘Thiên Chúa là Tình Yêu,’ ‘ God is
Love’(Lấy trong thơ I Gioan 4,8) ký vào dịp lễ Giáng Sinh 2005 (đặc biệt
nhấn mạnh vào tình yêu thương của Chúa với mọi người trong nhân loại ); Tông
Thư “Niềm Hy Vọng Cứu Rỗi” (Saved by Hope; lấy trong tư tưởng của Thánh
Phaolô ‘Nhờ Đức Cậy, chúng ta được cứu độ!”), đặc biệt nhấn mạnh vào niềm hy
vọng cho thế giới “đầy thất vọng” hôm nay, được gửi đi vào ngày 30 tháng 11
năm 2007. Người ta cũng đang chờ đợi Tông Thư Thứ Ba trong triều đại Giáo
Hoàng của Ngài: “Thành Thực Yêu Thương” (Charity in Truth); đó là Tông Thư
nhấn mạnh về các vấn đề toàn cầu hóa và công bằng xã hội, và tinh thần yêu
thương phục vụ.
Tiếp nối tinh thần của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm sau Công Đồng Vaticanô
II, đặc biệt Đức Gioan Phaolô II, Ngài đã dành khá nhiều thời giờ để “đến
với các Dân tộc”. Ngoài các cuộc viếng thăm mục vụ tại nhiều nơi trong nước
Ý (như Bari,2005; Manoppello ‘Pescara,’ 2006; Venora, 2006; Vigevano và
Pavia, 2007; Assisi, 2007; Loreto, 2007; Velletri, 2007; Naples, 2007;
Savona và Genoa,2008), Ngài đã thực hiện hai cuộc tông du đến Đức Quốc, một
lần để chủ tọa Đại Hội Giới TrẻThế Giới ở Cologne (18-21 tháng 8, 2005), một
lần để viếng thăm những thành phố nơi Ngài đã sống (9-14 tháng 9, 2006).
Ngài đã kính viếng Ba Lan, Quê Hương Đức Giáo Hoàng tiền nhiệm Gioan Phaolô
II (25-28 tháng 5, 2006); Valantia (Tây Ban Nha) dịp Đại Hội Thế Giới về Gia
Đình Lần Thứ Năm (ngày 8-9 tháng 7, 2006); Thổ Nhỉ Kỳ (ngày 28/11 đến ngày
01/12/2006); Brazil (ngày 9-14 tháng 5, 2007, dịp Đại hội các Giám Mục vùng
Châu Mỹ La Tinh và quần đảo Caribbê); nước Áo (ngày 7-9 tháng 9, 2007, dịp
Đại lễ kỷ niệm 850 năm Shrine of Mariazell); Hoa Kỳ và đọc diễn văn tại Trụ
sở Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (ngày 15-21 tháng 4, 2008).
Mọi cuộc Tông Du của Ngài đều có những chủ đích đặc biệt và đều rất quan
trọng, nhưng đặc biệt quan trọng và được cả thế giới chú ý là cuộc viếng
thăm Thổ Nhỉ Kỳ và cuộc viếng thăm Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.
Cuộc viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ đã gây nên mối lo lắng cho cả Giáo Hội, vì những
dọa nạt, chống đối của những nhóm Hồi Giáo quá khích. Cả Giáo Hội đã dâng
lời cầu nguyện cho Ngài và mặc dầu nhiều trở ngại, nhưng Ngài cứ lên đường
“nhân danh Chúa” và với niềm tin phó thác hoàn toàn nơi Chúa. Tạ ơn Chúa,
sau đó cả Giáo Hội đã vui mừng khôn tả khi cuộc viếng thăm được hoàn tất một
cách thật tốt đẹp và Ngài trở về Rôma bình an sau khi đã nối lại được những
tiến triển tốt đẹp với anh em Hồi Giáo tại đây (chúng tôi đã tường thuật lại
cuộc viếng thăm rất quan trọng và đầy khó khăn này trong một bài viết trước
đây: “Chiếc Thảm Thổ Nhĩ Kỳ”).
Riêng cuộc viếng thăm Hoa Kỳ và Trụ Sở Liên Hiệp Quốc cũng mang ý nghĩa
riêng và thành công thật tốt đẹp, như báo chí và giới truyền thanh, truyền
hình tại Hoa kỳ và các nơi trên thế giới đã loan tin thật đầy đủ vào dịp đó.
Trước hết, cuộc viếng thăm và đọc diễn văn tại Trụ Sở Liên Hiệp Quốc của Đức
Giáo Hoàng đã được biết đến khi ông Tổng Thơ Ký Ban Ki Moon loan báo với ký
giả vào ngày 26 -4-2007 là trong dịp viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại Vatican,
ông đã ngỏ lời mời Đức Giáo Hoàng đến thăm Liên Hiệp Quốc vào một thời điểm
nào thích hợp, và Đức Giáo Hoàng đã hân hoan nhận lời. Và thời điểm đó đã
đến, Đức Giáo Hoàng đã viếng thăm và đọc diễn văn tại trụ sờ Liên Hiệp Quốc
vào ngày 18/4/2008. Trong bài diễn văn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, Đức
Giáo Hoàng đã ngỏ lời cám ơn ông Tổng thơ ký Liên Hiệp quốc đã mời Ngài và
chào mừng toàn thể quan khách đã đến dự. Ngài nói đến Liên Hiệp Quốc như
“một Gia đình của các dân tộc”(Family of Nations) mà vai trò là bảo vệ nhân
quyền và nền công lý cho nhân loại, cũng như dấn thân để giải quyết các vấn
đề khó khăn đang xẩy ra trên thế giới. Ngài cũng bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối
với những đóng góp vô giá của các nhân viên làm việc cho Liên Hiệp quốc, và
tưởng nhớ đến bao nhân viên đã hy sinh mạng sống (nguyên trong năm 2007, đã
có 42 nhân viên hy sinh) trong khi đến các nơi để làm công tác nhân đạo và
bảo vệ hòa bình. Chúng ta nhớ lại vị Giáo Hoàng đầu tiên đến viếng thăm Liên
Hiệp Quốc là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào ngày 04-10- 1965, Ngài đã hô hào
mọi người cùng với Liên Hiệp Quốc làm sao để “không còn chiến tranh! Không
còn Thế Chiến!.. Hòa Bình, Hòa bình phải đến với nhân loại!” Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II đã viếng thăm Liên Hiệp Quốc vào ngày 5-10-1995 và đã nói
đến “Liên Hiệp Quốc như một trung tâm tinh thần mà các nước trên thế giới
coi như ngôi nhà của mình và cùng chia sẽ trách nhiệm về sự hiện hữu của
Liên Hiệp Quốc như “một Gia đình của các Dân Tộc!”
Cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Đức Đương Kim Giáo Hoàng cũng đã được trù định
rất lâu và đã được loan báo trước nhiều tháng trời. Toàn thể Giáo hội Hoa kỳ
đã tha thiết cầu nguyện cho Ngài trong cuộc viếng thăm này. Hiệp Hội Côlômbô
(Knights of Columbus) đã in một bản kinh phía sau một tấm ảnh Đức Giáo Hoàng
mặc phẩm phục màu xanh (tượng trưng “niềm hy vọng” mà Đức Giáo Hoàng sẽ đem
lại cho quê hương và Giáo hội Hoa kỳ). Khẩu hiệu nói lên điều này là “Chúa
Kitô, niềm Hy vọng của chúng ta!” (Christ, our Hope). Các nhà thờ và các nơi
hội họp cũng như tại tư gia đã đọc kinh này nhiều tháng trời và chờ đợi ngày
Ngài đến viếng thăm. Bản kinh tuy ngắn, nhưng đã nói lên đầy đủ khát vọng
của Giáo hội Hoa kỳ trong cuộc viếng thăm này của Đức Gíao Hoàng: “Lạy Cha
Toàn Năng, Đấng hằng rộng ban muôn ơn lành cho chúng con, chúng con khiêm
tốn cầu xin Cha soi sáng, hướng dẩn và che chở Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
trong cuộc viếng thăm mục vụ của Ngài trên Đất nước Hoa Kỳ. Xin chúc lành
cho Đức Thánh Cha, Ngài đến như vị “Sứ Giả của Hòa Bình và Tình Thương” cho
mọi người có niềm tin và thiện tâm. Xin cho sự hiện diện của Ngài tại Hoa kỳ
giúp xây dựng sự liên đới giữa chúng con, những con người đã được dựng nên
giống Chúa và theo hình ảnh của Chúa; xin cho lời giảng dạy của Ngài tăng
thêm sức mạnh đức tin cho Dân Chúa. Lạy Cha, chúng con xin âu yếm phó thác
cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô cho sự chăm sóc của Đức Mẹ
Guadalupe, Nữ Vương Lục địa Mỹ Châu. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ, xin cho
Đức Giáo Hoàng được gìn giữ khỏi mọi hiểm nguy, và xin cho Ngài chiếu tỏa
được Chân Lý Phúc Âm mà Ngài rao giảng, và xin cho sự hiện diện của Ngài
giữa chúng con đem lại sự canh tân cho Giáo Hội trên quê hương chúng con.
Chúng con nguyện xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen”.
Chúa đã thường chúc lành cho cuộc viếng thăm này của Đức Giáo Hoàng và đem
lại những thành quả tuyệt vời. Dù chương trình 6 ngày viếng thăm thật bận
rộn và phải di chuyển nhiều; nhưng ơn Chúa thương Đức Giáo hoàng vẫn đầy đủ
sức khỏe (dù ở tuổi 81) để hoàn thành mỹ mãn.
Cuộc đón tiếp thật long trọng tại Tòa Bạch Ốc ( và nhân dịp cũng mừng sinh
nhật 81 của Đức Giáo Hoàng), lúc đầu báo chí nói đến số người là 9 ngàn,
nhưng thực tế số quan khách tham dự đã lên đến 13, 500. Ngoài cuộc họp mặt
riêng với Tổng Thống Bush, rồi các cuộc tiếp xúc với các chính giới Hoa kỳ,
Đức Giáo Hoàng đã lần lượt tiếp xúc và nói chuyện với hàng Giám Mục Hoa kỳ
tại Vương CungThánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Washington, DC), với
các nhà gíao dục Công Giáo tại trường Đại Học Công Giáo Hoa kỳ (Catholic
University of America), cùng cầu nguyện với các đại diện các Tôn Giáo tại
John Paul II Cultural Center (Washington, DC), gặp gỡ Cộng đồng Do Thái Giáo
tại Hội Đường Park East (New York), cầu nguyện Đại kết (Ecumenical prayer
service) chung với các đại diện của các cộng đồng Kitô Giáo toàn quốc Hoa Kỳ
tại Gíao Xứ Thánh Giuse (New york), rồi những cuộc tiếp xúc với giới trẻ tật
nguyền, với các Chủng sinh, với các giới trẻ tại Đại Chủng viện Thánh Giuse
(New York), cầu nguyện cho các nạn nhân tại địa điểm bị tàn phá bình địa
(Ground Zero). Chưa kể đến những Bài giảng và những Thánh Lễ trọng thể Ngài
dâng tại Công viên quốc gia (National Park, New York, 17-4-2008), tại Nhà
Thờ Chánh Tòa Thánh Patrick (New York, 19-4-2008), đặc biệt tại Yankee
Stadium (New York, 20-4-2008) trước khi chào từ biệt trở về Tòa Thánh. Trong
mọi dịp Đức Gíao Hoàng đã cố gắng đem Phúc âm Tình thương và niềm Hy Vọng
đến cho mọi người thuộc mọi từng lớp xã hội, và mới gọi mọi người thuộc các
Chủng tộc và Tôn giáo khác nhau biết đối thoại để sống hòa hợp và yêu thương
nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
“Nói chung, cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đến với đất
nước Hoa kỳ và Liên Hiệp quốc đã đem lại nhiều thành quả tốt đẹp. Những
thành quả đó chắc chắn sẽ bền vững trên Quê hương và Giáo Hội Hoa Kỳ, và đem
lại ‘một Mùa Xuân mới’ chẳng những cho Giáo Hội Hoa Kỳ, mà cho cả dân tộc
Hoa Kỳ. Sau cuộc viếng thăm đã có những tiếng vọng rất tốt đẹp từ các tầng
lớp khác nhau tại đất nứớc đa chủng tộc, đa tôn giáo này: Trước khi Ngài đến,
nhiều người Hoa Kỳ nói họ không biết gì nhiều về Đức Giáo Hoàng này. Khi
Ngài ra về, nhiều người đã nhìn thấy được Ngài như lời Ngài đã tự diễn tả về
mình khi mới đến ‘như một người bạn, một người rao giảng Tin Mừng và như một
người đầy lòng ngưỡng mộ một xã hội rộng lớn và đa chủng này!”(Catholic news
Service).
Hiện nay mọi người lại đang chờ đợi và cầu nguyện cho cuộc tông du của Đức
Giáo Hoàng sang Úc Châu vào dịp Đại Hội Giới trẻ từ ngày 16-20 tháng 7 năm
nay (2008). Cuộc viếng thăm này cũng mang một tầm quan trọng thật đặc biệt
chẳng những cho giới trẻ thế giới mà cho bao người, đặc biệt tại Úc Châu, Á
Châu. Tiếp theo là cuộc tông du của Ngài sang Pháp ( từ ngày 12-15/9/2008)
và sang Mexicô, được dự trù vào năm tới (2009).
Đức Giáo Hoàng luôn sẳn sàng dấn thân ra đi các nơi mà Chúa muốn và làm
những gì mà Chúa muốn để đem Tin Mừng của Tình thương và niềm Hy vọng đến
cho các Dân tộc, đến cho mọi người. Ngài muốn chung tay với các nhà lãnh đạo
thế giới để xây dựng tình thương giữa các Dân tộc, giữa các Tôn Giáo, và đem
lại nền Hòa bình bền vững cho thế giới, để “trái đất này trở nên một nơi ở
tốt đẹp hơn cho mọi người!”(Thông Điệp ‘Hòa Bình Trên Trái Đất’).
Nhưng tất cả là nhờ ơn Chúa giúp. Nên ngay từ lời ngỏ đầu tiên trong ngày
nhậm chức vụ Giáo Hoàng Ngài đã nói và chúng ta nên ghi nhớ để luôn dâng các
hy sinh hàng ngày cầu nguyện cho Ngài: “... Tôi xin phó thác chính con người
của tôi vào lời cầu nguyện của anh chị em!”.