Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: NHỮNG BÀI GIẢNG 2006

 

“Buổi tối 31/12 này có hai chiều kích khác biệt giao nhau… Một biến cố cả thể nhất trong lịch sử … Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa”

“Vị Thiên Chúa đã bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng tình yêu của Ngài” 7/11/2006

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Ơn Gọi Nên Thánh của Kitô Hữu

Bài Giảng Lễ Các Thánh 1/11/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

Bài Giảng ngày 19/10/2006 tại Hội Nghị Toàn Ý Quốc về Giáo Hội ở Verona.

Bài Giảng ngày 15/10/2006 Phong 4 Hiển Thánh: Rafael Guízar Valencia; Filippo Smaldone; Rosa Venerini; và Théodore Guérin 

Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo

“Chúa Giêsu thực sự muốn nói gì với Phêrô nơi những lời này? ‘Con là Đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày’ (Mt 16:18)”

“Toàn thể lịch sử của Thiên Chúa với loài người được tóm gọn lại nơi những lời ấy” (những lời truyền phép Thánh Thể)

Lễ Thánh Thần Hiện Xuống ở Quảng Trường Thánh Phêrô Chúa Nhật 4/6/2006

“Thánh Thần, qua Ngài Thiên Chúa đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta sự sống và tự do” (3/6/2006)

“Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng mãnh lực xuất phát từ đức tin. Anh chị em cần phải mãnh liệt bằng sức mạnh của đức tin

Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng ... Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô

Linh Mục là Mục Tử phục vụ Đàn Chiên Chúa: Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô

Đêm Lễ Vọng Phục Sinh 16/4/2006 về Ý Nghĩa Phục Sinh đối với đời sống tu đức Kitô Giáo

Lễ Chiều Thứ Năm Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ John Lateran

Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

Chúa Nhật Lễ Lá 9/4  Ba Tính Chất về Chúa Kitô Vương Giả nơi Biểu Hiệu Thập Giá cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới

Lễ Đầy Năm Băng Hà của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Thứ Hai 3/4

Với Giáo Xứ «DIO PADRE MISERICORDIOSO» Viếng Thăm Mục Vụ Chúa Nhật IV Mùa Chay 26/3/2006

Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy Lễ Mẹ Thai Lời ngày 25/3 tại Quảng Trường Thánh Phêrô

Phong Tước cho Tân 15 Hồng Y ngày 24/3 tại Quảng Trường Thánh Phêrô

Thánh Giuse với Lao Động theo Ý Nghĩa các bài đọc của Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay 19/3

Thứ Tư Lễ Tro 1/3 tại Đền Thờ Santa Sabina ở Aventine Hill

Chúa Nhật V Thường Niên 5/2 cho Giáo Xứ Thánh Anna Rôma v Ý Nghĩa của Bài Phúc Âm

Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến Tu Trì 2/2 cho Tu Sĩ Nam Nữ tại Đền Thờ Thánh Phêrô

Bế Mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo vào Giờ Kinh Tối Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1 ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành

Lễ Mẹ Thiên Chúa cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 1/1

Chúa Nhật 8/1 Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa – 10 Bé được Ngài rửa tội

 

 

“Buổi tối 31/12 này có hai chiều kích khác biệt giao nhau… Một biến cố cả thể nhất trong lịch sử … Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa”

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối 31/12/2006 Vọng Tân Niên 2007

 

Qúi Hồng Y,

Quí Huynh Khả Kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,

Quí Tôn Vị Thẩm Quyền,

Anh Chị Em thân mến,

 

Chúng ta qui tụ lại ở Đền Thờ Vatican đây để tạ ơn Chúa vào lúc kết thúc một năm cũng như để cùng nhau hát Kinh Tạ Ơn – Te Deum. Tôi thân ái cám ơn tất cả anh chị em đã muốn hiệp với tôi trong dịp quan trọng này.

 

Trước hết tôi gửi lời chào đến các v ị Hồng Y, Chư Huyn h khả kính trong hàn g Giáo Phẩm và Linh Mục, quí Tu Sĩ nam nữ, nhuưng con người sống đời tận hiến và toàn thể giáo dân đại diện cho toàn thể Cộng Đồng Giáo Hội Rôma. Tôi đặc biệt gửi lời chào tới vị Thị Trưởng Rôma cùng các vị Thẩm Quyền khác đang hiện diện nơi đây.

 

Một biến cố cả thể nhất trong lịch sử

 

Buổi tối 31/12 này có hai chiều kích khác biệt giao nhau: một chiều kích liên quan tới thời điểm kết thúc một năm về dân sự, chiều kích kia liên quan tới Lễ Trọng Mẹ Maria Rất Thành Là Mẹ Thiên Chúa, một lễ kết thúc Tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Biến cố đầu là những gì thông thường đối với tất cả mọi người, biến cố thứ hai liên quan tới thành phần tín hữu. Việc giao nhau của chúng làm cho cuộc cử hành tối hôm nay có một tính chất đặc biệt, trong một bầu khí linh thiêng dễ dàng suy tư chiasẻ.

 

Đề tài thứ nhất, đề tài gợi hứng nhất đó là đề tài liên quan tới chiều kích thời gian.

 

Vào những giờ phút cuối cùng này của mọi năm dương lịch đây, chúng ta tham dự vào một số ‘nghi thức’ trần thế mà trong bối cảnh hiện đại được đánh dấu chính yếu bằng việc vui chơi và thường được sống như là một thứ lảng tránh thực tại nhờ đó có thể khu trừ đi các khía cạnh tiêu cực và thuận lợi hơn cho một thứ may lành vu vơ. Thái độ của Cộng Đồng Kitô Giáo cần phải có khác hẳn là chừng nào!

 

Giáo Hội được kêu gọi để sống những giờ phút này, bằng cách mặc lấy những cảm thức của Trinh Nữ Maria. Cùng với Mẹ, Giáo Hội được mời gọi để gắn mắt vào Hài Nhi Giêsu, một tân Vầng Dương mọc lên từ chân trời nhân loại, và được ánh sáng của Người soi dẫn, lo dâng lên cho Người ‘niềm vui mừng và hy vọng, nỗi khổ đau và sầu thương của con người của thời đại chúng ta, nhất là những ai nghèo khổ và đau thương’ (‘Vui Mừng và Hy Vọng’, đoạn 1).

 

Như thế, hai thẩm định khác nhau về chiều kích ‘thời gian’ đối địch nhau, một chiều kích thì thiên về lượng, một chiều kích thiên về phẩm.

 

Một đàng là chu kỳ thái dương hệ theo nhịp điệu của nó; còn một đàng là những gì được Thánh Phaolô gọi là ‘thời điểm viên trọn’ (x Gal 4:4), tức là giây phút tuyệt đỉnh của lịch sử vũ trụ này cũng như của loài người khi mà Con Thiên Chúa được hạ sinh vào trần gian. Thời điểm của những lời hứa đã được nên trọn, và khi việc mang thai của Mẹ Maria đến hạn kỳ của mình thì, như một bài Thánh Vịnh nói, ‘mặt đất đã trổ sinh hoa trái’ (Ps 67[66]:7[6]).

 

Việc Đấng Thiên Sai đến, được các vị Tiên Tri tiên báo, là biến cố về phẩm quan trọng nhất trong tất cả lịch sử, một lịch sử được biến cố này cống hiến cho cái ý nghĩa tối hậu và trọn vẹn. Không phải là những điều hợp về lịch sử và chính trị là những gì tạo điều kiện cho việc quyết định này của Thiên Chúa, trái lại, biến cố Nhập Thể là những gì làm cho lịch sử ‘trọn vẹn’ có giá trị và ý nghĩa.

 

Chúng ta, thành phần xuất hiện sau 2 ngàn năm biến cố ấy, có thể khẳng định đó cũng thực sự là một biến cố hậu diễn, sau khi chúng ta đã biết được toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu, cho đến khi Người tử nạn và Phục Sinh. Chúng ta đồng thời cũng là những nhân chứng về vinh quang của Người và về sự khiêm hạ của Người, về giá trị lớn lao của việc Người đến và về việc Thiên Chúa vô cùng trân trọng đối với loài người chúng ta cũng như đối với lịch sử của chúng ta.

 

Người đã không làm cho thời gian trở thành viên trọn bằng việc tuôn đổ chính bản thân mình từ trời xuống trên thời gian, mà biến mình thành một hạt giống nhỏ xíu để dẫn nhân loại đến chỗ hoàn toàn trưởng thành của họ. 

 

Kiểu cách của Thiên Chúa đòi phải có một thời gian dài sửa soạn để tiến từ Abraham đến Chúa Giêsu Kitô, và sau khi Đấng Thiên Sai xuất hiện, lịch sử vẫn chưa kết thúc mà vẫn tiếp tục diễn tiến theo giòng lịch sử của mình, rõ ràng cũng vẫn là lịch sử ấy song thực sự đã được Thiên Chúa viếng thăm và hướng tới việc Đến lần thứ hai cũng là lần cuối cùng của Chúa Kitô khi ngày cùng tháng tận. Chúng ta có thể nói rằng Vai Trò Mẫu Thân của Mẹ Maria thật sự là một biểu hiệu và là một bí tích cho tất cả những sự ấy, một biến cố vừa có tính cách nhân loại vừa có tính cách thần linh.

 

Trong đoạn Thư gửi giáo đoàn Galata chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đã nói: ‘Thiên Chúa đã sai Con Ngài, hạ sinh bởi một người nữ’ (Gal 4:4). Giáo phụ Origen đã dẫn giải như sau: ‘Hãy chú ý là ngài không nói ‘được hạ sinh nhờ một người nữ’, mà ‘được hạsinh bởi một người nữ’” (Comment on the Letter to the Galatians, PG 14, 1298).

 

Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa

 

Nhận định chính xác này của vị đại dẫn giải thánh kinh và là cây viết về Giáo Hội có một tính cách quan trọng: thật vậy, nếu Con Thiên Chúa đã được sinh ra chỉ ‘nhờ’ một người nữ , thì Người thực sự không mặc lấy nhân tính của chúng ta, một điều mà trái lại Người đã thực hiện bằng việc mặc lấy xác thịt ‘của’ Mẹ Maria. Vai trò mẫu thân, bởi đó, thực sự và hoàn toàn có tính cách nhân loại.

 

Chân lý nền tảng này về Chúa Giêsu như là một Ngôi Vị thần linh, Đấng hoàn toàn  mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta, là những gì được cô đọng nơi câu: ‘Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến, hạ sinh bởi người nữ’. Người là Con Thiên Chúa, Người được nhiệm sinh bởi Thiên Chúa và đồng thời cũng là con của một người nữ Maria. Người đã xuất thân từ Mẹ. Ngài là Đấng bởi Thiên Chúa và bởi Mẹ Maria.

 

Đó là lý do người ta có thể và phải gọi Mẹ của Chúa Giêsu là Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng này, theo tiếng Hy Lạp được gọi là ‘Theotokos’, có lẽ danh xưng này đã xuất hiện đầu tiên ở chính vùng Alexandria Ai Cập, ngay nơi giáo phụ Origen đã sống vào tiền bán thế kỷ thứ ba. Tuy nhiên, Mẹ chỉ được định tín như thế sau đó hai thế kỷ, vào năm 431, bởi Công Đồng Chung Êphêsô, tên của một thành phố tôi lấy làm vui khi được đến hành hương trong Chuyến Tông Du Thổ Nhĩ Kỳ một tháng trước đây.

 

Thật vậy, nghĩ lại cuộc Viếng Thăm không thể quên được ấy, làm sao tôi lại không bày tỏ tất cả niềm tri ân con cái của tôi đối với Người Mẹ Thánh của Thiên Chúa về việc Mẹ đã đặc biệt bảo vệ tôi trong những ngày ân sủng ấy chứ?

 

‘Theotokos’, Mẹ Thiên Chúa: mỗi lần chúng ta đọc ‘Kính Mừng Maria’ là chúng ta xưng hô với Vị Trinh Nữ này tước hiệu ấy, van xin Mẹ cầu ‘cho chúng con là kẻ có tội’.

 

Vào lúc kết thúc một năm đây, chúng ta cảm thấy đặc biệt cần đến việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria Rất Thánh cho thành Rôma, cho Ý quốc, cho Âu Châu và cho toàn thế giới. Chúng ta hãy ký thác cho Mẹ Maria, Vị là Mẹ của Tình Thương nhập thể, đặc biệt những trường hợp mà chỉ có một mình ơn Chúa mới có thể mang lại an bình, ủi an và công lý mà thôi.

 

Vị Trinh Nữ này đã nghe Thiên Thần loan báo vai trò Mẫu Thân thần linh cho Mẹ rằng: ‘Chẳng có gì là bất khả đối với Thiên Chúa hết’ (Lk 1:37). Mẹ Maria đã tin tưởng như thế và bởi vậy mà Mẹ được gọi là có phúc (x Lk 1:45). Những gì loài người bất khả thì đều khả dĩ với những ai tin tưởng (x Mk 9:23).

 

Bởi vậy, trong lúc năm 2006 đang khép lại và bình minh năm 2007 đã thoáng hiện, chúng ta hãy xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta chiếm được tặng ân có được một đức tin chín chắn: một đức tin làm chúng ta có thể nên giống như Mẹ bao nhiêu có thể, một đức tin sáng ngời, chân thực, khiêm hạ đồng thời dũng cảm, sâu xa niềm hy vọng và nhiệt thành với Vương Quốc của Thiên Chúa, một đức tin phi tất cả mọi thứ định mệnh thuyết và hoàn toàn cộng tác với ý muốn thần linh, bằng một đức tuân phục trọn vẹn và hân hoan, cũng như bằng một niềm tin tưởng tuyệt đối rằng Thiên Chúa mãi mãi không muốn gì khác cho hết mọi người ngoài yêu thương và sự sống.

 

Ôi Maria, xin cầu cho chúng ta được một đức tin chân thực, tinh tuyền. Chớ gì Mẹ luôn được cảm tạ và chúc tụng ngợi khen, hỡi Mẹ Thiên Chúa Thánh Hảo! Amen!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh Vatican

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061231_te-deum_en.html

 

TOP

 

 

 

“Vị Thiên Chúa đã bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng tình yêu của Ngài”.

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Ba 7/11/2006 trước cuộc gặp gỡ giữa ngài với các vị

 

Chư Huynh thân mến,

 

Các bài sách chúng ta vừa nghe – Bài đọc, Đáp Ca và Phúc Âm – có cùng một đề tài có thể được tóm lại thành câu: ‘Thiên Chúa không bao giờ bị thất bại’. Hay chính xác hơn, thoạt tiên Thiên Chúa bao giờ cũng thất bại, Ngài để cho con người có tự do và cái tự do này liên lỉ nói ‘không’; thế nhưng, việc định liệu của Thiên Chúa, quyền năng sáng tạo của tình Ngài yêu thương còn lớn lao hơn cả cái ‘không’ của con người nữa. Trước mọi cái ‘không’ của con người lại có một chiều kích mới nơi tình Ngài yêu thương, và Ngài có cách thức mới mẻ và cao cả hơn để Ngài tỏ ra ‘chấp nhận’ con người, lịch sử và tạo vật.

 

Trong bản đại thánh ca về Chúa Kitô trong Thư gửi giáo đoàn Philiphê được chúng ta mở đầu, chúng ta đã nghe thấy trước hết một cái gì đó bóng gió liên quan tới câu truyện về Adong, con người đã không thỏa mãn với tình hữu nghị của Thiên Chúa; ông cảm thấy không đủ vì ông tự mình muốn là một thần linh. Ông coi mối thân hữu ấy như là một thứ lệ thuộc và coi mình như là một vị thần linh, như thể họ có thể tự mình hiện hữu. Bởi thế, ông ta nói ‘không’ để tự trở thành một vị thần linh, và chính vì thế mà ông đã gieo mình xuống khỏi vị thế đưa mình lên của ông.

 

Thiên Chúa đã ‘thất bại’ nơi Adong – cũng thế, căn cứ vào tất cả những gì là bề ngoài, Ngài đã thất bại suốt giòng lịch sử. Thế nhưng, Thiên Chúa đã không thất bại, vì hiện nay Ngài trở thành một con người, nhờ đó mở màn cho một tân nhân loại; Người đang làm cho hữu thể của Thiên Chúa sâu xa nơi hữu thể của con người một cách bất khả vãn hồi, và đã xuống tận những vực thẳm sâu nhất của hữu thể con người: Người đã tự hạ mình cho đến chết trên cây Thập Tự Giá. Người đã chế ngự cái kiêu căng bằng lòng khiêm hạ và bằng việc tuân phục của cây Thập Tự Giá. Như thế, những gì được tiên tri Isaia tiên  báo (đoạn 45) đã thành tựu.

 

Vào thời điểm dân Yến Duyên đang sống đời lưu đầy và bị xóa tên trên bản đồ, thì vị Tiên Tri này tiên báo rằng toàn thể thế giới – ‘hết mọi đầu gối’ – sẽ quì xuống trước  Vị Thiên Chúa bất lực ấy. Và Bức Thư gửi giáo đoàn Philiphê đã xác nhận điều ấy, những gì giờ đây đã xẩy ra.

 

Bằng cây Thập Tự Giá của Chúa Kitô, Thiên Chúa đã đích thân đến gần với các dân nước, Người xuất thân từ dân  Yến Duyên và trở thành vị Thiên Chúa của thế giới. Và giờ đây vũ trụ quì xuống trước  Chúa Giêsu Kitô, và điều này  là những gì chúng ta cũng có thể cảm nghiệm một cách tuyệt vời hôm nay đây, đó là, ở hết mọi châu lục, ngay cả trong những túp lều thấp hèn nhất, cũng có Tượng Chuộc Tội.

 

Vị Thiên Chúa đã ‘thất bại’ giờ đây, bằng tình yêu của mình, đã thực sự làm cho con người quì xuống và bởi đó đã chế ngự thế giới bằng tình yêu của Ngài.

 

Chúng ta đã xướng lên ở Bài Đáp Ca phần thứ hai của Bài Thánh Vịnh về Cuộc Khổ Nạn. Nó là bài Thánh Vịnh của thành phần khổ đau chân chính, trước hết là dân Yến Duyên khổ đau, thành phần, trước vị Thiên Chúa câm nín bỏ rơi họ, đã kêu lên rằng: ‘Chúa Trời tôi ơi, Chúa Trời tôi ơi, nhân sao Ngài lại bỏ rơi tôi? Tại sao Ngài không chịu rat ay cứu giúp tôi chứ?... Giờ đây tôi hầu như kiệt lực… mà Ngài chẳng làm gì hết…. Ngài không chịu rat ay đáp ứng… tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi? (x 22 [21]). Chúa Giêsu đã đồng hóa mình voơi dân Yến Duyên  đau khổ ấy, với thành phần công chính khổ đau ở hết mọi thời đại bị Thiên Chúa bỏ rơi, và Người đã kêu lên trước việc bỏ rơi của Thiên Chúa; nỗi đớn đau bị bỏ rơi Người đã mang đến với Trái Tim  của chính Thiên Chúa, và nhờ thế biến đổi thế giới.

 

Phần thứ hai của bài Thánh Vịnh, chúng chúng ta đã kể lại, cho chúng ta biết về thành quả của việc ấy, đó là kẻ nghèo sẽ được ăn no thỏa. Chính Thánh Thể phổ quát xuất phát từ Thập Tự Giá. Giờ đây Thiên Chúa làm mãn nguyện  con người khắp thế giới, những con người nghèo khổ cần đến Người. Người làm cho họ no thỏa những gì họ cần: Người ban tặng Thiên Chúa, Người ban tặng chính bản thân Người.

 

Đoạn bài Thánh Vịnh viết rằng: ‘Toàn thể địa cầu sẽ tưởng nhớ và hướng về Chúa’. Giáo Hội hoàn vũ xuất phát từ Cây Thập Tự Giá. Thiên Chúa vượt ra ngoài Do Thái Giáo để ôm lấy toàn thế giới, để liên kết thế giới trong một bữa tiệc cho kẻ nghèo khó.

 

Sau hết, sứ điệp Phúc Âm cũng cho thấy việc thất bại của Thiên Chúa. Những ai đầu tiên được mời đều chối từ, họ không đến.

 

Sảnh đường của Thiên Chúa vẫn trống trơn, bữa tiệc dường như được dọn ra luống công vô ích. Đó là những gì Chúa Giêsu đã cảm nghiệm được trong những giai đoạn hoạt động cuối cùng của Người, ở chỗ, các nhóm viên chức, thành phần thẩm quyền đều ‘từ chối’ lời mời gọi của Thiên Chúa, tức là từ chối chính bản thân Người. Họ không đến. Sứ điệp của Người, lời Người kêu gọi, được kết thúc trước c ái ‘không’ của con người. 

 

Tuy nhiên, cả ở đấy nữa, Thiên Chúa cũng khgông bị thất bại. Cái sảnh đường trống trơn đã trở thành cơ hội mời gọi một con số dân  chúng đông đảo hơn. Tình yêu thương của Thiên Chúa, việc Người mời gọi là những gì được nới rộng. Thánh Luca đã trình thuật việc này ở hai đoạn.

 

Trước hết, lời mời gọi được ngỏ cùng thành phần nghèo khổ, bị bỏ rơi, những ai chưa từng được ai mời mọc trong thành. Như thế là Thiên Chúa đã thực hiện những gì chúng ta đã nghe thấy trong bài Phúc Âm hôm qua.

 

(Phúc Âm hôm nay là một cuộc hội luận nho nhỏ trong khuôn khổ của một bữa ăn ở nhà một người Pharisiêu. Có 4 đoạn: trước hết là việc chữa lành cho một người bị phù; rồi tới những lời về việc chọn các chỗ thấp nhất; đoạn sang giáo huấn không phải là những người bạn được mời có thể mời lại mà là những ai thực sự đói khổ, thành phần không thể mời lại; theo đó là lời kêu gọi chúng ta hãy bắt chước làm theo như thế).

 

Giờ đây Thiên Chúa đang làm những gì Người đã bảo người Pharisiêu ấy thực hiện, đó là việc Người mời gọi những ai chẳng có gì, thành phần thực sự là đói khổ, thành phần không thể mới Người lại, thành phần không thể dâng tặng cho Người bất cứ một sự gì.

 

Tiếp theo là đoạn thứ hai. Người đã rời thành phố để đi đến các con lộ ở miền quê: mời gọi thành phần vô gia cư. Chúng ta có thể cho rằng Thánh Luca có ý viết hai đoạn này theo chiều hướng là thành phần  thứ nhất tiến vào sảnh đường ấy là những người nghèo trong dân Yến Duyên, rồi sau đó – vì họ đến không đủ trước nhiều chỗ của Chúa – lời mời gọi vượt ra ngoài Thành Thánh đến thế giới của các dân nước. Những ai chưa thuộc về Thiên Chúa tí nào, thành phần ở ngoài, giờ đây được mới tới cho đầy sảnh đường ấy. Và Thánh Luca, v ị đã viết lại Phúc Âm này cho chúng ta, chắc hẳn là thấy trước được một cách tiêu biểu những biến cố được thuật lại sau đó trong Sách Tông Vụ, nơi thật sự viết về điều này.

 

Thánh Phaolô bao giờ cũng bắt đầu sứ vụ của mình ở hội đường với thành phần được mời trước; và chỉ khi nào những nhân vật thẩm quyền viện lý khước từ thì ngài mới ở với một nhóm ít người nghèo khó khi ngài đi đến với Dân Ngoại.

 

Bởi đó, nhờ đường lối hằng mới mẻ này của Thập Giá, Phúc Âm đã trở nên phổ quát, nó chi phối hết mọi sự, dần dần ảnh hưởng cả đến Rôma.

 

Ở Rôma, Thánh Phaolô triệu tập các vị thủ lãnh của hội đường và loan báo cho họ mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô, Vương Quốc của Thiên Chúa nơi Con Người của Người. Tuy nhiên, các vị thẩm quyền tự khước từ nên ngài bỏ họ mà đi bằng những lời này: Được, vì quí vị không muốn lắng nghe thì sứ điệp này sẽ được loan báo cho các Dân Ngoại và họ sẽ lắng nghe sứ điệp ấy. Bằng niềm tin tưởng này, ngài đã đúc kết sứ điệp bị thất bại đó là: họ sẽ lắng nghe; Giáo Hội của thành phần chư Dân Ngoại sẽ được dựng xây. Và Giáo Hội đã được xây dựng và tiếp tục được dựng xây.

 

Trong các cuộc viếng thăm Tòa Thánh ngũ niên ‘ad limina’, tôi nghe thấy nhiều điều hệ trọng và buồn nản, thế nhưng, bao giờ cũng thế – chính từ Thế Giới Thứ Ba – tôi đã nghe thấy điều ấy, đó là dân chúng đang lắng nghe, họ đang đến, thậm chí hôm nay đây, sứ điệp này lan truyền theo những con đường dẫn đến tận cùng trái đất và dân chúng đông đảo tụ tập lại trong sảnh đường của Thiên Chúa để dự tiệc của Người.

 

Bởi thế, chúng ta cần phải tự hỏi rằng tất cả những điều ấy có nghĩa là gì đối với chúng ta vậy?

 

Trước hết, nó có nghĩa chắc chắn là Thiên Chúa không thất bại. Người tiếp tục ‘thất bại’, thế nhưng chính vì lý do ấy mà Người không thất bại, vì nhờ thế Người có những cơ hội mới để tỏ lòng xót thương hơn nữa và việc dự tưởng của Người là những gì khôn cùng.

 

Người không thất bại vì Người có những đường lối mới mẻ hơn bao giờ hết để vươn tới dân chúng và mở rộng cửa hơn nhà của Người hầu cả nhà được đông đầy.

 

Người không thất bại vì Người không thôi xin dân chúng hãy tới ngồi vào bàn của Người, để ăn lương thực của người nghèo có chất chứa tặng ân quí giá là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa không thất bại, ngay cả ở vào hôm nay đây. Cho dù chúng ta có gặp phải nhiều cái ‘không’ chăng nữa, chúng ta vẫn có thể nắm chắc điều ấy.

 

Từ tất cả giòng lịch sử này của Thiên Chúa, từ Adong trở đi, chúng ta có thể kết luật rằng: Thiên Chúa không bao giờ thua hết.

 

"Tương lai của thế giới đang ở trong tình trạng thảm thương này đã được quyết định ngay hôm nay đây"

 

Cả ngày nay nữa, Người sẽ có những đường lối mới mẻ để kêu gọi con người, và Người muốn chúng ta trở thành sứ giả và tôi tớ của Người. Chính trong thời đại của chúng ta đây, chúng ta đã quá rõ ra sao những ai được mời tới trước  đã nói ‘không’ rồi. Thật vậy, Kitô Giáo Tây Phương, thành phần ‘thực khách đầu tiên’ mới, hiện nay phần lớn đang tự viện cớ khước từ nữa. Chúng ta biết các nhà thờ càng trở thành trống trơn hơn bao giờ hết, các chủng viện tiếp tục trống rỗng, các tu viện càng ngày càng trống trải; chúng ta quen thuộc với tất cả mọi hình thức trong đó có lời viện lẽ như: ‘không được, tôi còn có những điều quan trọng khác cần phải làm’. Nó làm cho chúng ta cảm thấy nản lòng và bực tức trong việc làm chứng nhân cho những thứ viện lý và khước từ của thành phần khách đầu tiên, thành phần thực sự phải biết được tầm quan trọng của lời mời gọi ấy và phải cảm thấy bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy.

 

Vậy chúng ta phải làm sao đây?

 

Trước hết, chúng ta cần phải tự hỏi là tại sao điều ấy lại xẩy ra như thế?

 

Trong Dụ Ngôn của mình ấy, Chúa đã đề cập tới hai lý do: đó là các thứ chiếm hữu và những liên hệ nhân bản, những gì lôi kéo con người cho tới độ họ không còn cảm thấy cần đến bất cứ một cái gì khác để làm viên trọn thời giờ của họ từ đó làm viên trọn cuộc sống nội tại của họ.

 

Thánh Grêgôriô Cả, trong việc giải thích đoạn bài đọc này, đã tìm cách đào sâu vào nó hơn nữa và đã ngẫm nghĩ rằng làm thế nào con người lại có thể nói ‘không’ đối với một điều cao cả nhất ấy; làm sao họ lại không có giờ cho những gì quan trọng nhất; làm sao họ lại có thể tự khóa mình lại trong cuộc sống riêng của họ chứ?

 

Và ngài đã trả lời: thật ra họ chẳng bao giờ có một cảm nghiệm về Thiên C húa hết; họ không bao giờ có được một thứ ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa cả; họ không bao giờ cảm được tuyệt vời biết bao khi được Thiên Chúa ‘chạm tới’! Họ thiếu sự ‘giao chạm’ này – và vì thế không biết ‘thưởng thức Thiên Chúa’. Nên có thể nói chỉ khi nào chúng ta nếm hưởng Người thì chỉ đến lúc bấy giờ chúng ta mới tới bữa tiệc này được thôi.

 

Thánh Grêgôriô trích lại bài Thánh Vịnh được Ca Hiệp Lễ hôm nay sử dụng, đó là hãy nếm thử và hãy nhìn coi; hãy nếm hưởng thì các người sẽ thấy và được soi sáng! Công việc của chúng ta đó là giúp cho dân để họ có thể nếm hưởng hương vị Thiên Chúa một cách mới mẻ.

 

Trong một bài giảng khác, Thánh Grêgôriô Cả đã đào sâu hơn cùng một vấn  nạn và tự hỏi: làm thế nào mà một người lại thậm chí có thể không muốn ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa chứ?

 

Và ngài đã giải đáp là khi con người hoàn toàn bị cuốn hút vào thế giới riêng của mình, với những thứ vật chất, với những gì họ có thể làm, với tất cả những gì khả thi và làm cho họ thành đạt, với tất cả những gì họ có thể tự sản xuất và hiểu biết, thì bấy giờ khả năng nhận thức Thiên Chúa của họ bị suy yếu đi, cơ quan cảm thức Thiên Chúa bị thụt lùi, nó trở thành bất khả để nhận thức và cảm thức, nó không còn nhận thấy Thiên Chúa, vì nội quan tương xứng đã bị tàn phai, nó ngừng phát triển.

 

Khi họ sử dụng quá sức tất cả những cơ năng chức phận khác, những cơ năng chức phận thực nghiệm thì điều có thể xẩy ra là chính cảm quan về Thiên Chúa bị tác hại, cơ phận này chết đi, và con người, như Thánh Grêgôriô nói, không còn thấy được ánh mắt của Thiên Chúa nữa, không còn cảm thấy Người nhìn họ nữa, không còn cảm thấy sự kiện là ánh mắt của Người tác động mình nữa!

 

Tôi cho rằng Thánh Grêgôriô Cả đã diễn tả đúng hệt với tình trạng của thời đại chúng ta đây – thật sự là thời của ngài rất giống như thời của chúng ta. Vậy vấn nạn vẫn là thế thì chúng ta cần phải làm gì đây?

 

Tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần phải làm đó là những gì Chúa bảo chúng ta hôm nay đây trong Bài Đọc 1, và những gì Thánh Phaolô đã kêu gọi chúng ta nhân danh Thiên Chúa, đó là ‘thái độ của anh em cần phải là thái độ của Chúa Kitô - 'Touto phroneite en hymin ho kai en Christo Iesou'.

 

Hãy biết nghĩ như Chúa Kitô đã nghĩ, hãy biết nghĩ với Người! Và việc nghĩ này không những là tác động nghĩ của trí khôn mà còn là tác động nghĩ của tâm hồn nữa.

 

Chúng ta học được những cảm thức của Chúa Giêsu Kitô khi chúng ta biết nghĩ với Người và do đó khi chúng ta biết nghĩ cả đến việc thất bại của Người, đến việc Người trải qua thất bại cũng như đến việc tăng trưởng của tình yêu Người trong thất bại. 

 

Nếu chúng ta mặc lấy cảm thức này của Người, nếu chúng ta bắt đầu thực hành việc suy nghĩ như Người và với Người, thì niềm vui đối với Thiên Chúa được tái bừng lên trong chúng ta, với niềm tin tưởng rằng Người là Đấng mạnh mẽ nhất; phải, chúng ta có thể nói rằng lòng yêu mến đối với Người được bừng lên trong chúng ta. Chúng ta cảm thấy tuyệt vời biết bao vì chính là Ngài hiện đang ở đó và chúng ta có thể biết được Ngài – chúng ta có thể biết Ngài nơi dung nhan của Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã chịu khổ vì chú ng ta.

 

Tôi nghĩ đây là điều đầu tiên, đó là chính chúng ta hãy thực hiện việc giao tiếp sống động với Thiên Chúa – với Chúa Giêsu Kitô, Vị Thiên Chúa hằng sống; hãy củng cố nơi chúng ta cái chức năng hướng về Thiên Chúa; hãy ấp ủ trong chúng ta c ái tri giác về ‘tính cách nhậy bén’ của Người.

 

Điều này cũng làm cho hoạt động của chúng ta có hồn, thế nhưng chúng ta cũng có thể gặp nguy hiểm, ở chỗ người ta có thể làm nhiều, nhiều điều trong cán h đồng của Giáo Hội, tất cả đều cho Thiên Chúa…, song vẫn hoàn toàn vì mình, không giao chạm với Thiên Chúa. Hoạt động thay thế niềm tin, thế nhưng bấy giờ người ta lại trở nên trống rỗng nội tâm.

 

Bởi thế, tôi tin rằng chúng ta trước hết cần phải thực hiện nỗ lực lắng nghe Chúa bằng việc nguyện cầu, sâu xa tham dự vào các bí tích, hiểu biết được những cảm thức của Thiên Chúa trên  khuôn mặt và nỗi khổ đau của người khác, để được nhiễm lây niềm vui của Người, lòng nhiệt thành của Người và tình yêu của Người, rồi cùng Người nhìn vào thế giới và bắt đầu từ Người.

 

Nếu chúng ta có thể thành đạt trong việc làm ấy, ngay cả giữa nhiều cái ‘không’, một lần nữa chúng ta sẽ thấy dân chúng đang đợi chờ Người, thành phần có lẽ thường là những kẻ kỳ lạ – như dụ ngôn rõ ràng cho thấy như thế – song lại là những người được kêu gọi tiến vào sảnh đường của Người.

 

Nói cách khác, vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên  Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay.

 

Có quá nhiều vấn  đề người ta có thể liệt kê ra cần phải được giải quyết, thế nhưng không có một vấn đề nào có thể giải quyết được ngoại trừ việc lấy Thiên Chúa làm tâm điểm, ngoại trừ Thiên Chúa lại trở nên  hữu hình trước mắt thế giới, ngoại trừ Người trở thành một yếu tố quyết liệt trong đời sống của chúng ta và đồng thời đi vào đời một cách dứt khoát qua chúng ta.

 

Như thế, tôi tin rằng tương lai của thế giới đang ở trong tình trạng thảm thương này đã được quyết định ngay hôm nay đây, ở chỗ, một là Thiên Chúa – Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô – hiện hữu và được nhìn nhận như thế, hai là Ngài đã biến mất tiêu rồi.

 

Chúng ta quan tâm tới việc Ngài hiện diện. Chúng ta cần phải làm gì đây? Như phương tiện cuối cùng? Chúng ta hãy hướng về Người! Chúng ta đang cử hành Lễ theo ý nguyện cầu cùng Chúa Thánh Linh, bằng lời kêu xin cùng Ngài rằng: "Lava quod est sordidum, riga quod est aridum, sana quod est saucium. Flecte quod est rigidum, fove quod est frigidum, rege quod est devium".

 

Chúng ta hãy kêu  cầu cùng Ngài để Ngài tưới dội, hâm nóng và làm chon gay ngắn, nhờ đó Ngài sẽ thấm nhập chúng ta bằng quyền năng của ngọn lửa linh thánh của Ngài mà canh tân trái đất. Chúng ta hãy nguyện cầu điều ấy bằng cả tấm hồn của chúng ta vào lúc này đây, trong những ngày này đây. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh Vatican

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061107_swiss-bishops_en.html

 

 

TOP

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Ơn Gọi Nên Thánh của Kitô Hữu

 

Nếu Tháng 10 hằng năm được gọi là Tháng Mân Côi và là Tháng Truyền Giáo thế nào, thì Tháng 11 cũng được gọi là Tháng Các Đẳng và Tháng Nên Thánh như vậy. Đúng thế, trong Tháng 11 hằng năm, chẳng những là tháng được mở đầu bằng Lễ Chư Thánh, một lễ trọng buộc, mà còn có cả Lễ Mẹ Maria Dâng Mình Vào Đền Thánh ngày 21/11, một lễ nói lên lòng khao khát nhân đức trọn lành và hoàn toàn thuộc về Chúa của tạo vật đệ nhất về ân sủng này. Trong Lễ Các Thánh, và trước đó, vào ngày 15/10, trong Lễ phong hiển thánh cho thêm 4 vị tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã huấn dụ những gì về việc Nên Thánh?

 

Căn cứ vào những lời huấn dụ của Đức Thánh Cha trong hai bài giảng, một cho Lễ Phong 4 Tân Hiển Thánh hôm 15/10/2006 và hôm Lễ Chư Thánh 1/11/2006, chúng ta thấy được giáo huấn của ngài bao gồm 3 điểm chính yếu như sau 1) Ý nghĩa Lễ Các Thánh; 2) Nên Thánh là gì? Và 3) Cách Thức Nên Thánh.

 

Trước hết, về ý nghĩa của Lễ Các Thánh, đó là lễ này giúp phấn khích Kitô hữu chúng ta nên thánh hơn, như ngài đã khẳng định như thế ở phần đầu của bài giảng cho Lễ Chư Thánh như thế này: 

 

“’Việc chúng ta ca ngợi các thánh, việc chúng ta tỏ lòng tôn vinh, việc chúng ta long trọng cử hành có ích gì chứ?’ Bài giảng nổi tiếng của Thánh Bênađô cho lễ Chư Thánh đã được bắt đầu bằng câu hỏi này. Nó là một câu hỏi chúng ta có thể tự hỏi mình ngay cả đến ngày hôm nay đây. Câu giải đáp được Thánh Bênađô cống hiến cũng liên quan tới chúng ta nữa. Ngài nói: “Các thánh nhân không cần việc tôn vinh của chúng ta, và các ngài chẳng chiếm được gì nơi việc tưởng niệm của chúng ta. Đối với chính mình, tôi cần phải tuyên xưng rằng khi tôi nghĩ đến các vị thánh thì tôi cảm thấy bừng lên những ước muốn cao cả” (Homily 2, "Opera Omnia," ed. Cisterc, 5, 364 ff.).  

 

“Vậy ý nghĩa của việc long trọng cử hành hôm nay đây là ở chỗ: Khi ngước mắt nhìn lên gương sáng của các vị thánh chúng ta cảm thấy bừng lên trong mình đầy lòng ước vọng trở thành những thánh nhân; chúng ta cảm thấy sung sướng được sống gần Thiên Chúa, được sống trong ánh sáng của Ngài, trong một đại gia đình các bạn hữu của Thiên Chúa. Là một vị thánh nghĩa là sống gần gũi với Thiên Chúa, sống trong gia đình của Ngài. Và đó là ơn gọi của tất cả chúng ta, được Công Đồng Chung Vaticanô II mạnh mẽ tái khẳng định, và cần chúng ta đặc biệt chú ý tới vào ngày này”.

 

Sau nữa, về việc nên thánh là gì hay thế nào là nên thánh, trong bài giảng phong 4 tân thánh nhân hôm 15/10/2006, Đức Thánh Cha xác nhận là việc từ bỏ mọi sự mà theo Chúa Kitô, như gương của 4 vị tân thánh. Ngài nói: 

“Thánh Nhân chính là con người nam nữ, thành phần, bằng việc hân hoan và quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, lìa bỏ mọi sự để theo Người. Như Thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, như vô số thành phần bạn hữu khác của Thiên Chúa, các vị tân Thánh Nhân cũng trải qua cuộc hành trình Phúc Âm gay go nhưng trọn vẹn ấy và đã lãnh nhận ‘gấp trăm’ ở đời này, cùng với những thử thách và bách hại, và rồi sự sống đời đời”.  

Sau hết, về cách thức nên  thánh, chính Đức Thánh Cha, trong bài giảng Lễ Chư Thánh, đã xác định những điều kiện tối yếu về phía con người, bao gồm việc biết lắng nghe tiếng Chúa, việc theo Người và không nản lòng trước mọi gian nan khốn khó, ngài nói như sau: 

 

“Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể trở thành những vị thánh, thành bạn hữu của Thiên Chúa đây? Câu trả lời đầu tiên cho vấn nạn này đó là: Để làm thánh không cần phải thi hành những công việc và những hoạt động phi thường, cũng không cần phải có được những đặc sủng ngoại thường. Song câu trả lời này mới nói cho chúng ta biết những gì không phải là sự thánh thiện. Câu giải đáp tích cực cho việc trở thành một vị thánh đó là trước hết cần phải lắng nghe Chúa Giêsu để rồi theo Người và đừng nản lòng trước những khốn khó.

 

“Kinh nghiệm của Giáo Hội chứng tỏ rằng, mặc dù có những đường lối khác nhau, tất cả mọi hình thức thánh thiện bao giờ cũng trải qua con đường thập giá, con đường từ bỏ chính mình.

 

“Các câu truyện tiểu sử về các vị thánh cho thấy những con người nam nữ, thành phần luôn dễ dạy đối với ý định thần linh, đôi khi đã trải qua những khổ đau khôn xiết tả, đã bị bách hại và tử đạo. Các vị kiên trì với nhiệm vụ của mình. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền ‘Đó là những người đã sống sót trong thời kỳ đầy những đau thương, họ giặt áo mình nên tinh trắng trong máu của Con Chiên’ (7:14).

 

Tuy nhiên, với bản tính yếu đuối và đã bị hư đi theo nguyên tội, với đầy những đam mê nhục dục, tính mê nết xấu, con người tự nhiên đã khó chống trả các chước cám dỗ thì làm sao có thể dễ dàng chịu khổ theo Chúa, tức làm sao có thể tự mình nên thánh được, nếu Chúa không đích thân ra tay thánh hóa con người, bằng tình yêu vô cùng trọn hảo và mãnh lực của Ngài. Đó là lý do Đức Thánh Cha đã khẳng định nên thánh là được thánh hóa như sau:

 

“Thánh thiện đòi hỏi phải liên lỉ cố gắng, nhưng thánh thiện là những gì khả dĩ đối với tất cả mọi người, vì nó không phải chỉ là công việc của loài người mà trước hết là một tặng ân của Thiên Chúa, Đấng ba lần thánh (x Is 6:3). Trong bài đọc thứ hai, Thánh Tông Đồ Gioan nhận định rằng: ‘Hãy xem tình yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta biết là chừng nào, để chúng ta được gọi là con cái của Thiên Chúa. Mà thật sự chúng ta là như thế’ (1Jn 3:1).

 

“Bởi thế, chính Thiên Chúa là Đấng đã yêu thương chúng ta trước, và nơi Chúa Giêsu Ngài đã làm cho chúng ta trở thành những người con được Ngài thừa nhận làm dưỡng tử. Trong cuộc sống của chúng ta, tất cả đều là tặng ân yêu thương của Ngài. Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng lãnh đạm trước một mầu nhiệm cao cả như thế chứ? Làm sao chúng ta không đáp ứng tình yêu thương của Cha trên trời bằng việc sống một cuộc đời con cái với lòng tri ân cảm tạ chứ?

 

“Nơi Chúa Kitô Ngài đã hoàn toàn ban mình cho chúng ta và đã kêu gọi chúng ta sống mối liên hệ riêng tư và sâu xa với Ngài. Bởi thế, chúng ta càng bắt chước Chúa Kitô và liên kết với Người, chúng ta càng tiến vào mầu nhiệm thánh thiện thần linh. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta được Ngài vô cùng yêu thương và điều khám phá này thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em mình. Yêu thương bao giờ cũng là một hành động từ mình, ‘đánh mất bản thân mình’, và chính nhờ đó mà chúng ta mới cảm thấy hạnh phúc”.

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 

 

TOP

 

 

Bài Giảng Lễ Các Thánh 1/11/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Việc chúng ta cử hành Thánh Thể hôm nay được bắt đầu bằng lời kêu gọi: “Chúng ta hãy hân hoan trong Chúa”. Phụng vụ kêu mời chúng ta chia sẻ niềm hân hoan thiên đình của các thánh nhân, mời chúng ta nếm hưởng niềm vui. Các vị thánh không phải là một giai cấp hạn hữu của thành phần được tuyển chọn mà là một đám đông vô số được phụng vụ kêu gọi chúng ta hãy ngước mắt lên nhìn các ngài.

 

Trong đám đông này không phải chỉ có những vị thánh được chính thức công nhận mà còn là thành phần đã lãnh nhận phép rửa thuộc mọi lứa tuổi và tên gọi chúng ta chưa biết tới, nhưng với con mắt đức tin chúng ta thấy họ rạng ngời như các vì tinh tú đầy vinh quang trên bầu trời thần linh.

 

Hôm nay, Giáo Hội mừng phẩm vị của mình với vai trò làm “mẹ của các thánh, hình ảnh của thành đô trường tồn” (Alessandro Manzoni), và biểu lộ nhan sắc của mình ra như vị hôn thê tinh tuyền của Chúa Kitô, nguồn mạch và là mô phạm của tất cả mọi sự thánh đức. Giáo Hội không phải là không có những đứa con cái phóng túng, những đứa con cái thực sự là phản loạn, thế nhưng, chính ở nơi các vị thánh Giáo Hội nhận thấy những đặc tính nổi bật của mình, và chính ở nơi các vị Giáo Hội tỏa ra niềm vui sâu thẳm nhất của mình.

 

Trong bài đọc thứ nhất, tác giả của Sách Khải Huyền đã diễn tả “một đám rất đông không ai có thể đếm xuể thuộc hết mọi quốc gia, chủng tộc, dân chúng và ngôn ngữ” (7:9). Thành phần dân chúng này bao gồm những vị thánh thuộc Cựu Ước, bắt đầu từ Abel là con người công chính và tổ phụ Abraham, rồi tới những vị tháng Tân Ước, nhiều vị tử đạo khi Kitô Giáo mới bắt đầu, các vị chân phước và thánh nhân thuộc các thế hệ sau đó, và cuối cùng là những chứng vị chứng nhân của Chúa Kitô trong thời đại của chúng ta. Những gì các vị có chung vo1ơ nhau đó là ý muốn hiện thực hóa Phúc Âm trong đời sống của mình theo tác động của Thánh Linh, Đấng là Đấng vĩnh hằng ban sự sống cho dân Thiên Chúa.

 

Thế nhưng, “việc chúng ta ca ngợi các thánh, việc chúng ta tỏ lòng tôn vinh, việc chúng ta long trọng cử hành có ích gì chứ?” Bài giảng nổi tiếng của Thánh Bênađô cho lễ Chư Thánh đã được bắt đầu bằng câu hỏi này. Nó là một câu hỏi chúng ta có thể tự hỏi mình ngay cả đến ngày hôm nay đây. Câu giải đáp được Thánh Bênađô cống hiến cũng liên quan tới chúng ta nữa. Ngài nói: “Các thánh nhân không cần việc tôn vinh của chúng ta, và các ngài chẳng chiếm được gì nơi việc tưởng niệm của chúng ta. Đối với chính mình, tôi cần phải tuyên xưng rằng khi tôi nghĩ đến các vị thánh thì tôi cảm thấy bừng lên những ước muốn cao cả” (Homily 2, "Opera Omnia," ed. Cisterc, 5, 364 ff.).

 

Vậy ý nghĩa của việc long trọng cử hành hôm nay đây là ở chỗ: Khi ngước mắt nhìn lên gương sáng của các vị thánh chúng ta cảm thấy bừng lên trong mình đầy lòng ước vọng trở thành những thánh nhân; chúng ta cảm thấy sung sướng được sống gần Thiên Chúa, được sống trong ánh sáng của Ngài, trong một đại gia đình các bạn hữu của Thiên Chúa. Là một vị thánh nghĩa là sống gần gũi với Thiên Chúa, sống trong gia đình của Ngài. Và đó là ơn gọi của tất cả chúng ta, được Công Đồng Chung Vaticanô II mạnh mẽ tái khẳng định, và cần chúng ta đặc biệt chú ý tới vào ngày này.

 

Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể trở thành những vị thánh, thành bạn hữu của Thiên Chúa đây? Câu trả lời đầu tiên cho vấn nạn này đó là: Để làm thánh không cần phải thi hành những công việc và những hoạt động phi thường, cũng không cần phải có được những đặc sủng ngoại thường. Song câu trả lời này mới nói cho chúng ta biết những gì không phải là sự thánh thiện. Câu giải đáp tích cực cho việc trở thành một vị thánh đó là trước hết cần phải lắng nghe Chúa Giêsu để rồi theo Người và đừng nản lòng trước những khốn khó.

 

Người phán: “Nếu ai muốn phụng sự Tôi thì họ cần phải theo Tôi, và Tôi ở đâu thì tôi tớ của Tôi cũng ở đó. Nếu ai phụng sự Tôi thì Cha sẽ tôn vinh họ” (Jn 12:26). Ai ký thác mình cho Người và chân thành mến yêu Người thì sẽ chết cho Người như hạt lúa miến mục nát đi trong lòng đất vậy.

 

Người thực sự biết rằng ai cố gắng giữ lấy sự sống mình thì sẽ làm nó mất đi, và ai hiến sự sống mình như thế thì lại giữ được nó (x Jn 12:24-25). Kinh nghiệm của Giáo Hội chứng tỏ rằng, mặc dù có những đường lối khác nhau, tất cả mọi hình thức thánh thiện bao giờ cũng trải qua con đường thập giá, con đường từ bỏ chính mình.

 

Các câu truyện tiểu sử về các vị thánh cho thấy những con người nam nữ, thành phần luôn dễ dạy đối với ý định thần linh, đôi khi đã trải qua những khổ đau khôn xiết tả, đã bị bách hại và tử đạo. Các vị kiên trì với nhiệm vụ của mình. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền “Đó là những người đã sống sót trong thời kỳ đầy những đau thương, họ giặt áo mình nên tinh trắng trong máu của Con Chiên” (7:14).

 

Danh tính của họ được ghi trong sách sự sống (x Rev 20:12); thiên đàng là nơi cư ngụ đời đời của họ. Mẫu gương của các thánh nhân là những gì phấn khích chúng ta hãy theo bước chân của các vị, cảm nghiệm niềm vui của những ai tin tưởng phó mình cho Thiên Chúa, vì lý do buồn khổ duy nhất đó là sống xa cách Ngài.

 

Thánh thiện đòi hỏi phải liên lỉ cố gắng, nhưng thánh thiện là những gì khả dĩ đối với tất cả mọi người, vì nó không phải chỉ là công việc của loài người mà trước hết là một tặng ân của Thiên Chúa, Đấng ba lần thánh (x Is 6:3). Trong bài đọc thứ hai, Thánh Tông Đồ Gioan nhận định rằng: “Hãy xem tình yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta biết là chừng nào, để chúng ta được gọi là con cái của Thiên Chúa. Mà thật sự chúng ta là như thế” (1Jn 3:1).

 

Bởi thế, chính Thiên Chúa là Đấng đã yêu thương chúng ta trước, và nơi Chúa Giêsu Ngài đã làm cho chúng ta trở thành những người con được Ngài thừa nhận làm dưỡng tử. Trong cuộc sống của chúng ta, tất cả đều là tặng ân yêu thương của Ngài. Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng lãnh đạm trước một mầu nhiệm cao cả như thế chứ? Làm sao chúng ta không đáp ứng tình yêu thương của Cha trên trời bằng việc sống một cuộc đời con cái với lòng tri ân cảm tạ chứ?

 

Nơi Chúa Kitô Ngài đã hoàn toàn ban mình cho chúng ta và đã kêu gọi chúng ta sống mối liên hệ riêng tư và sâu xa với Ngài. Bởi thế, chúng ta càng bắt chước Chúa Kitô và liên kết với Người, chúng ta càng tiến vào mầu nhiệm thánh thiện thần linh. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta được Ngài vô cùng yêu thương và điều khám phá này thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em mình. Yêu thương bao giờ cũng là một hành động từ mình, “đánh mất bản thân mình”, và chính nhờ đó mà chúng ta mới cảm thấy hạnh phúc.

 

Bởi thế chúng ta sang bài Phúc Âm của thánh lễ này, sang với lời công bố các phúc đức chúng ta vừa nghe vang vọng chốc lát trước đây trong đền thờ này.

 

Chúa Giêsu phán rằng: Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần, phúc cho ai khóc lóc, cho ai hiền lành, phúc cho ai đói khát công lý, cho ai biết xót thương, phúc cho ai có tấm lòng thanh sạch, cho kẻ xây dựng hòa bình; kẻ bị bách hại vì sự công chính (x Mt 5:3-10).

 

Thật vậy, phúc đức trên hết là chính Người, là Chúa Giêsu. Thật vậy, Người thực sự nghèo trong tinh thần, là người khóc lóc, là người hiền lành, là người đói khát công lý, là người xót thương, có lòng tinh khiết, là người kiến thiết hòa bình; Người là vị bị bắt bớ vì sự công chính.

 

Các phúc đức cho chúng ta thấy dung mạo thiêng liêng của Chúa Giêsu, nhờ đó cho thấy mầu nhiệm của Người, mầu nhiệm của tử nạn và phục sinh, của cuộc khổ nạn và niềm vui phục sinh. Mầu nhiệm này, một mầu nhiệm của những gì thực sự phúc đức, mời gọi chúng ta hãy bước theo Chúa Giêsu, nhờ đó theo con đường dẫn đến hạnh phúc.

 

Tùy theo cách thức chúng ta chấp nhận lời Người mời gọi và bước theo Người – tùy theo hoàn cảnh của hết mọi người – cả chúng ta nữa cũng được tham dự vào phúc đức của Người. Với Người những gì bất khả đều trở thành khả dĩ cho đến độ con lạc đà có thể chui qua lỗ kim (x Mk 10:25); với ơn trợ giúp của Người, chúng ta có thể nên trọn hảo như Cha trên trời là Đấng trọn hảo (x Mt 5:48).

 

Anh chị em thân mến, giờ đây chúng ta tiến vào tâm điểm của việc cử hành Thánh Thể là những gì phấn khích và nuôi dưỡng sự thánh thiện. Chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô sẽ hiện diện một cách cao cả, Người là cây nho thật mà tín hữu trên thế gian và các thánh trên trời liên kết lại như là những cành nho.

 

Mối hiệp thông của Giáo Hội lữ hành trên thế giới này với Giáo Hội khải hoàn trong vinh quang sẽ được kiên cường. Trong Kinh Tiền Tụng chúng ta sẽ loan báo rằng các vị thánh là bạn hữu và là mẫu sống cho chúng ta. Chúng ta sẽ xin các vị hãy giúp đỡ chúng ta trong việc bắt chước các vị và thực hiện việc quảng đại đáp ứng tiếng gọi thần linh như các vị đã làm. Chúng ta đặc biệt kêu xin Mẹ Maria, mẹ của Chúa Kitô và là gương soi thánh đức. Chớ gì Mẹ là vị toàn thánh làm cho chúng ta trở thành những người môn đệ trung thực của Chúa Giêsu Kitô Con Mẹ! Amen. 


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 1/11/2006
 

 

 TOP 

 

“Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh là Niềm Hy Vọng cho Thế Giới”

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng ngày 19/10/2006 tại Hội Nghị Toàn Ý Quốc về Giáo Hội ở Verona.

 

Sau đây là nguyên văn bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong thánh lễ được cử hành ở sân vận động túc cầu Bentegodi, với 42 ngàn người trực tiếp tham dự, chưa kể 60 ngàn người theo dõi qua những màn ảnh vĩ đại ở những nơi khác nhau trong thành phố này.

 

Quí Huynh khả kính trong Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ,

Anh Chị Em thân mến,

 

Hôm nay, trong việc cử hành Thánh Thể này, chúng ta sống giây phút chính yếu của Hội Nghị Toàn Quốc lần thứ tư về Giáo Hội ở Ý quốc, một hội nghị được tập trung quanh Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Tâm điểm của hết mọi biến cố giáo hội là Thánh Thể, nơi Chúa Kitô kèo chúng ta lại với nhau, nói với chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta và sai chúng ta đi.

 

Vận động trường Verona đây, nơi được chọn cho việc long trọng cử hành phụng vụ này, là những gì có ý nghĩa: nó là một nơi các lễ nghi không phải tôn giáo thường được cử hành, đó là những biến cố về thể thao lôi cuốn hằng triệu người hâm mộ.

 

Hôm nay, nơi này được tổ chức giành cho Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng thực sự hiện diện nơi Lời của Người, nơi cộng đồng Dân Chúa cùng với các vị Mục Tử của cộng đồng này, một cách cao cả, nơi Bí Tích Mình Máu của Người.

 

Hôm nay Chúa Kitô đến chốn Công Đường tân thời này để tuôn đổ Thần Linh của Người trên Giáo Hội Ý quốc, nhờ đó, được canh tân bởi hởi thở của Người bằng một Lễ Hiện Xuống mới, Giáo Hội này có thể ‘truyền đạt Phúc Âm trong một thế giới đang biến chuyển’, như được đề ra ở những chỉ thị mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Ý quốc cho những năm 2000-2010.

 

(Hai đoạn tiếp theo ngài ngỏ lời chào tất cả mọi chức sắc và thành phần trong Giáo Hội Ý, kể cả những ai theo dõi qua truyền hình và truyền thanh, và nhóm truyền thông theo dõi hội nghị này).

 

Bài Đọc Thánh Kinh được công bố cách đây ít lâu là những gì soi sáng cho đề tài của Hội Nghị này: ‘Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh là Niềm Hy Vọng của Thế Giới’. Lời Chúa nhấn mạnh đến Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô, một biến cố đã làm tái sinh nơi thành phần tín hữu một niềm hy vọng sống động, như Tông Đồ Phêrô nói ở đầu Bức Thư Thứ Nhất của ngài. Đoạn văn này là những gì làm nên cái trục chi phối cuộc hành trình để thực hiện những việc sửa soạn cho cuộc đại hội toàn quốc này. Là vị Thừa Kế của ngài, tôi cũng hân hoan kêu lên rằng: ‘Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta’ (1Pt 1:3), vì qua cuộc Phục Sinh của Con mình, Ngài đã tái sinh chúng ta và đã ban cho chúng ta niềm hy vọng vô địch của sự sống đời đời theo đức tin, nhờ đó chúng ta sống trong hiện tại mà bao giờ cũng hướng tới đích điểm, đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa của chúng ta và là Đấng Cứu Độ của chúng ta.

 

Được kiên cường bằng niềm hy vọng này, chúng ta không được hãi sợ thử thách, những thử thách mà, dù đau thương và nặng nề, không bao giờ có thể làm hại đến niềm vui sâu xa bởi được Thiên Chúa yêu thương. Theo sự quan phòng yêu thương của mình, Ngài đã ban Con của Ngài cho chúng ta và chúng ta, cho sù không thấy Ngài, vẫn tin vào Ngài và mến yêu Ngài (x 1Pt 1:3-9). Tình Ngài yêu thương là đủ cho chúng ta rồi.

 

Nhờ được củng cố bởi tình yêu thương ấy, một tình yêu vững vàng tin tưởng vào cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu, một cuộc phục sinh làm nẩy sinh niềm hy vọng, mà chứng từ Kitô Hữu của chúng ta mới xuất phát và liên lỉ đổi mới. Chính ở nơi đây mới có ‘Kinh Tin Kính’ của chúng ta, một công thức của niềm tin làm nền tảng cho việc giảng dạy tiên khởi và tiếp tục như thế trong việc nuôi dưỡng Dân Chúa.

 

Nội dung của ‘bài giảng tiên khởi’ này, của việc loan báo này, việc loan báo làm nên bản chất của tất cả sứ điệp Phúc Âm, là Chúa Kitô, Con Thiên Chúa làm Người, Đấng đã chết đi và sống lại vì chúng ta. Cuộc Phục Sinh của Người là một mầu nhiệm sáng giá của Kitô Giáo, là việc viên trọn dồi dào phong phú tất cả mọi lời hứa cứu độ, cũng là những lời hứa chúng ta đã nghe trong Bài Đọc Thứ Nhất được trích lại từ cuối Sách Tiên Tri Isaia.

 

Từ Chúa Kitô Phục Sinh, hoa trái đầu tiên của tân nhân loại, một tân nhân loại đã được tái sinh và đang được tái sinh, một dân ‘nghèo khổ’ thực sự được hạ sinh, như vị tiên tri này đã tiên báo, thành phần đã mở lòng mình ra cho Phúc Âm, và đã trở nên và mãi trở nên ‘những cây sồi công chính’ mới, ‘việc Chúa gieo trồng để Ngài được hiển vinh’, thành phần tái thiết những đổ nát, thành phần phục hồi những thành phố tiêu điều, được tất cả coi là miêu duệ diễm phúc của Chúa (x Is 61:3-4,9).

 

Mầu nhiệm Phục Sinh của Con Thiên Chúa, Đấng, bằng việc về Trời ngự bên hữu Cha, đã tuôn xuống trên chúng ta Thánh Thần và cho chúng ta có thể bằng một thoáng nhìn duy nhất bao gồm được cả Chúa Kitô và Giáo Hội: Đấng Phục Sinh và người được phục sinh, hoa trái đầu mùa và thửa ruộng của Thiên Chúa, tảng đá nền và những viên đá sống, một hình ảnh khác trong Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô (x 2:4-8).

 

Vậy những gì đã xẩy ra vào lúc ban đầu cho cộng đồng tông đồ tiên khởi thì cũng được tái diễn thậm chí cho tới nay.

 

Thật vậy, từ ngày Hiện Xuống, ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh đã biến đổi đời sống của các vị Tông Đồ. Các vị đã có một nhận thức rõ ràng về việc không phải chỉ làm môn đệ của một thứ giáo thuyết mới mẻ và hay ho mà còn làm chứng nhân được tuyển chọn và hữu trách đối với một mạc khải liên hệ tới phần rỗi của những người đồng thời với các vị cũng như của tất cả mọi thế hệ mai sau.

 

Niềm tin Vượt Qua đã làm tràn đầy lòng các vị bằng nhiệt tình hăng say và trổi vượt, một lòng nhiệt thành khiến cho các vị có thể đương đầu với hết mọi khốn khó, cho dù là sự chết, và đã khiến cho lời nói của các vị có một mãnh lực thuyết phục bất khả kháng cự. Bởi vậy mà một nhóm người, thiếu thốn về các phương tiện trần thế nhưng chỉ cần mạnh mẽ về niềm tin, đã có thể hiên ngang đương đầu với cuộc bách hại khốn khổ và tử đạo.

 

Tông Đồ Gioan viết: ‘Cuộc chiến thắng chế ngự thế gian ở đây là đức tin của chúng ta’ (1Jn 5:4b). Sự thật của điều khẳng định này cũng được ghi nhẫn ở Ý quốc trong hai thiên kỷ của lịch sử Kitô giáo, với muôn vàn chứng từ của các vị tử đạo, của các thánh nhân và các v ị chân phước, những vị đã để lại dấu vêá bất khả phai nhòa ở khắp Bán Đảo tuyệt vời chúng ta đang sống đây. Một số vị đã được nhắc đến ở đầu cuộc Hội Nghị này và dung nhan của các vị ở với việc làm này của chúng ta.

 

Ngày nay, chúng ta là thành phần thừa kế của những vị chứng nhân vinh thắng này! Thế nhưng, chính vì nhận định này mới có vấn đề được đặt ra ở đây: đâu là niềm tin của chúng ta? Hôm nay đây chúng ta có thể truyền đạt đức tin cho tới độ nào?

 

Niềm tin tưởng rằng Chúa Kitô đã sống lại là những gì bảo đảm cho chúng ta rằng không có một chống đối nào có thể hủy diệt nổi Giáo Hội. Chúng ta cũng được phấn khởi bởi ý thức rằng chỉ có Chúa Kitô mới có thể hoàn toàn làm mãn nguyện những khát vọng sâu xa của hết mọi tâm can con người và mới có thể đáp ứng những vấn nạn nhức nhối nhất về đau khổ, về bất công và sự dữ, về sự chết và đời sau mà thôi.

 

Bởi thế, đức tin của chúng ta là những gì vững vàng, thế nhưng đức tin này cần phải sống động nơi mỗi một người chúng ta nữa. Vì vậy cần phải thực hiện một nỗ lực rộng lớn và liên kết để mỗi một Kitô hữu được biến đổi thành một ‘nhân chứng’ sẵn sàng có thể đảm nhận nhiệm vụ cống hiến lý do cho mọi người và ở mọi lúc về niềm hy vọng trong con người mình (x 1Pt 3:15).

 

Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải quay về với việc mạnh mẽ và hân hoan loan truyền biến cổ tử nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, tâm điểm của Kitô Giáo, cứ điểm chính của niềm tin chúng ta, đón bay mãnh liệt cho niềm xác tín của chúng ta, ngọn gió dữ dội thổi bay đi hết mọi nỗi sợ hãi và do dự, hết mọi ngờ vực và tính toán của con người.

 

Việc đổi thay quyết liệt này trên thế giới chỉ có thể xẩy ra từ Thiên Chúa mà thôi. Chỉ bắt đầu từ Cuộc Phục Sinh mà bản chất thật sự của Giáo Hội và việc làm chứng của Giáo Hội mới hiểu được, một bản chất không phải là một cái gì đó tách khỏi Mầu Nhiệm Vượt Qua, trái lại là hoa trái của mầu nhiệm này, một mầu nhiệm được biểu lộ và thể hiện bởi những ai, nhờ lãnh nhận Thánh Thần, được Chúa Kitô sai đi để tiếp tục sứ vụ của chính Người (x Jn 20:21-23).

 

‘Những chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh’: định nghĩa này của Kitô Giáo xuất phát trực tiếp từ đoạn Phúc Âm của Thánh Luca được công bố hôm nay, mà còn từ cả Sách Tông Vụ (x 1:8,22). Những chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh. Cái ‘của’ ở đây cần phải hiểu kỹ lưỡng! Nó có nghĩa là chứng nhân này là ‘của’ Chúa Giêsu Phục Sinh, tức là thuộc về Người, chính vì thể mới có thể cống hiến một chứng từ sáng giá cho Người, mới có thể nói về Người, mới có thể làm cho Người được nhận biết, mới có thể dẫn đến với Người, mới có thể truyền đạt sự hiện diện của Người.

 

Hoàn toàn ngược lại với những gì xẩy ra ở phần diễn tả khác: ‘niềm hy vọng cho thế giới’. Ở đây liên từ ‘của’ hoàn toàn không có nghĩa là thuộc về, vì Chúa Kitô không thuộc về thế gian, cũng như Kitô hữu không thuộc về thế gian vậy. 

 

Niềm hy vọng là Chúa Kitô là những gì đang ở trong thế gian và cho thế gian, thế nhưng chính vì Chúa Kitô là Thiên Chúa, là ‘Đấng Thánh’ (theo tiếng Do Thái là ‘Qadosh’). Chúa Kitô là niềm hy vọng cho thế giới vì Người đã phục sinh, và Người phục sinh vì Người là Thiên Chúa.

 

Kitô hữu cũng mang đến cho thế giới niềm hy vọng, vì họ thuộc về Chúa Kitô và thuộc về Thiên Chúa, ở chỗ họ đã cùng chết với Người vì tội lỗi và cùng sống lại với Người cho một cuộc sống mới của tình yêu thương, của sự tha thứ, của việc phục vụ, của những gì bất bạo động.

 

Như Thánh Âu Quốc Tinh nói: ‘Anh chị em đã tin tưởng nên anh chị em đã lãnh nhận Phép Rửa: cuộc sống cũ của anh chị em đã chết đi, nó bị giết chết trên Thập Tự Giá, được mai táng trong Phép Rửa. Cuộc sống cũ anh chị em sống tồi tàn đã bị chôn táng để sự sống mới được nẩy sinh’ (cf. "Sermone Guelf. IX," in M. Pellegrino, "Vox Patrum," 177). Như Chúa Kitô, chỉ khi nào nó không thuộc về thế gian thì Kitô hữu mới có thể trở thành niềm hy vọng trên thế giới và cho thế giới này.

 

Anh chị em thân mến, niềm mong ước của tôi, chắc chắn cũng là của anh chị em, đó là Giáo Hội Ý quốc có thể bắt đầu lại từ Hội Nghị này, như được thôi thúc bởi những lời của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng lập lại những lời ấy cho mỗi người và mọi người trong anh chị em, đó là hãy làm những chứng nhân trên thế giới ngày nay của cuộc khổ nạn của Thày và Phục Sinh của Thày (x Lk 24:28).

 

Phúc Âm không đổi thay trong một thế giới đang biến chuyển. Tin Mừng bao giờ cũng y nguyên: đó là Chúa Kitô đã chết và sống lại vì phần rỗi của chúng ta! Nhân Danh Người, hãy mang sứ điệp hoán cải và thứ tha tội lỗi cho hết mọi người, thế nhưng chính anh chị em phải là những người đầu tiên làm chứng cho một cuộc sống được cải hoán và thứ tha.

 

Chúng ta quá biết rằng điều này không thể nào hiện thực nếu không được ‘mặc lấy quyền lực từ trên cao’ (Lk 24:29), không có sức mạnh nội tại của Thần Linh Đấng Phục Sinh. Để lãnh nhận quyền lực này, như Chúa Kitô đã nói với các môn đệ rằng các vị không được rời Giêrusalem, mà phải ở lại trong ‘thành’ này, nơi mầu nhiệm cứu độ được hoàn thành, tác động cao cả của tình Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Người ta cần phải sống nguyện cầu với Mẹ Maria, Người Mẹ được Chúa Kitô trao tặng cho chúng ta từ trên cây Thánh Giá.

 

Đối với Kitô hữu, thành phần công dân của thế giới này, ở lại Giêrusalem chính là ở trong Giáo Hội, ‘thành đô của Thiên Chúa’, nơi con người có thể được ‘unction’ (xức dầu) Thánh Linh.

 

Trong những ngày Hội Nghị Toàn Quốc về Giáo Hội này, Giáo Hội Ý quốc, đáp ứng lệnh truyền của Chúa Kitô Phục Sinh, đang qui tụ lại và đã sống cái cảm nghiệm nguyên thủy của Nhà Tiệc Ly, để được tái lãnh nhận tặng ân ấy từ trên Cao.

 

Giờ đây, được thánh hiến bởi ‘việc xức dầu’ này, anh chị em hãy lên đường! Hãy mang tin vui đến cho người nghèo, băng bó thương tích cho những tâm can tan nát, loan báo tự do cho kẻ bị cầm buộc, tự do cho người bị lưu đầy, công bố năm xót thương của Chúa (x Is 61:1-2).

 

Hãy tái thiết những tàn rụi cũ, hãy vượt lên trên những tàn phá trước kia, hãy chỉnh đốn những thành phố hoang tàn (x Is 61:4). Có nhiều trường hợp khó khăn đang đợi chờ một cuộc can thiệp dứt khoát! Hãy mang vào thế giới này niềm hy vọng của Thiên Chúa, Đấng là Chúa Kitô, Đấng đã phục sinh từ kẻ chết và đang muôn đời hiển trị.

 

Amen

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo


http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061019_verona_en.html

 

 

TOP

 

 

Bài Giảng ngày 15/10/2006 Phong 4 Hiển Thánh: Rafael Guízar Valencia (1878-1938); Filippo Smaldone (1848-1923); Rosa Venerini (1656-1728); và Théodore Guérin (1798-1856)

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Bốn tân Thánh Nhân hôm nay được Giáo Hội hoàn vũ nêu lên để tôn kính, đó là Rafael Guízar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Guérin. Danh tánh của các ngài sẽ được muôn đời tưởng nhớ đến.

 

Ý nghĩ ngược hẳn lại với vấn đề danh tánh này liên quan tới “con người trẻ giầu có” được Phúc Âm vừa công bố nói tới. Con người trẻ này vẫn là một con người ẩn danh; nếu anh ta tích cực đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu thì anh ta trở thành môn đệ của Người và có lẽ vị Thánh Ký đã ghi nhận danh tính của anh ta rồi.

 

Từ sự kiện ấy người ta có thể thoáng nhìn thấy ngay đề tài cho Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này, đó là nếu con người đặt tin tưởng của mình vào s75 giầu có ở đời này thì họ sẽ không đạt được hoàn toàn ý nghĩa của đời sống và niềm vui chân thực.

 

Trái lại, nếu tin tưởng vào Lời Chúa, anh ta từ bỏ chính mình và sản vật của mình vì Nước Trời, hiển nhiên là mất mát rất nhiều, thì thực ra anh ta lại chiếm được tất cả mọi sự.

 

Thánh Nhân chính là con người nam nữ, thành phần, bằng việc hân hoan và quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, lìa bỏ mọi sự để theo Người. Như Thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, như Thánh Têrêsa Avila hôm nay nhắc nhở chúng ta cũng như vô số thành phần bạn hữu khác của Thiên Chúa, các vị tân Thánh Nhân cũng trải qua cuộc hành trình Phúc Âm gay go nhưng trọn vẹn ấy và đã lãnh nhận “gấp trăm” ở đời này, cùng với những thử thách và bách hại, và rồi sự sống đời đời.

 

Bởi thế, Chúa Giêsu có thể thực sự bảo đảm một cuộc sống hạnh phúc và sự sống đời đời, thế nhưng bằng một đường lối khác với những gì con người trẻ giầu có tưởng nghĩ: tức là, không phải bằng việc lành, một thứ trân trọng về luật lệ, mà là nơi việc chọn lấy Vương Quốc của Thiên Chúa như “hạt ngọc quí báu” là những gì xứng đáng với việc người ta cần phải bán đi tất cả sở hữu của họ (x Mt 13:45-46).

 

Con người trẻ giầu có không thể thực hiện điều ấy. Mặc dù con người trẻ này đã trở thành đối tượng trước ánh mắt trìu mến của Chúa Giêsu (x Mk 10:21), lòng của anh ta vẫn không thể thoát ly được nhiều sản vật anh ta có được.

 

Bởi vậy mới có lời răn các vị môn đệ rằng: “Khó vào Vương Quốc của Thiên Chúa biết bao cho những ai giầu có” (Mk 10:23).

 

Những thứ sang giầu trần gian chiếm đoạt và tiền chiếm tâm trí con người. Chúa Giêsu không nói rằng chúng là những gì xấu xa, nhưng chúng làm con người cách xa Thiên Chúa nếu chúng, có thể nói, không được “đầu tư” cho Vương Quốc của Thiên Chúa, tức là không được tiêu xài cho việc giúp đáp những ai nghèo khổ.

 

Hiểu được điều này là hoa trái của đức khôn ngoan được Bài Đọc Một nói tới. Như chúng ta đã nghe, đức khôn ngoan này là những gì quí hóa hơn cả vàng bạc, và đẹp đẽ hơn, lành mạnh hơn và tràn đầy ánh sáng, “vì nó không ngừng rạng ngời chiếu tỏa” (Wis 7:10).

 

Hiển nhiên là đức khôn ngoan này không thể biến thành một thứ chiều kích thuần tri thức. Nó còn hơn thế nữa; nó là “Sự Khôn Ngoan của cõi lòng”, như được nói đến trong bài Thánh Vịnh 89. Nó là tặng ân bởi trời (x Jas 3:17), từ Thiên Chúa, và có được nhờ nguyện cầu (x Wis 7:7).

 

Thật vậy, nó không xa cách con người; nó đến gần với tâm can con người (x Dt 30:14), dưới hình thức lề luật của Giáo Ước Thứ Nhất giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái qua trung gian Moisen.

 

Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa được chất chứa nơi Bản Thập Điều. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu khẳng định trong Phúc Âm rằng “để vào sự sống” cần phải tuân giữ các giới răn (x Mk 10:19). Cần thiết song không đủ!

 

Thật vậy, như Thánh Phaolô nói, ơn cứu độ không xuất phát từ lề luật mà là từ Ân Sủng. Và Thánh Gioan nhắc nhở rằng lề luật được Moisen ban bố nhưng Ân Sủng và Chân Lý bởi Chúa Giêsu Kitô mà có (x Jn 1:17).

 

Để đạt được ơn cứu độ, bởi thế người ta cần phải tin tưởng mở lòng ra cho ân sủng của Chúa Kitô là Đấng dù sao khi kêu gọi cũng đưa ra một điều kiện gắt gao là “Hãy đến mà theo Thày” (Mk 10:21).

 

Các Thánh Nhân đã tỏ ra khiêm nhuợng và can đảm đáp tiếng “xin vâng”, và các vị đã từ bỏ tất cả mọi sự để làm bạn hữu của Người.

 

Bốn tân Thánh Nhân là những vị chúng ta đặc biệt tôn kính hôm nay đây đã thực hiện như thế. Nơi các vị chúng ta thấy hiện thực cái cảm nghiệm của Thánh Phêrô: “Này đây chúng con đã từ bỏ mọi sự mà theo Thày” (Mk 10:28). Kho tàng duy nhất của họ ở trên trời, đó là Thiên Chúa.

 

Phúc Âm chúng ta đã nghe giúp chúng ta hiểu được hình ảnh của Thánh Rafael Guízar y Valencia, Giám Mục giáo phận Vera Cruz nơi Đất Nước Mễ Tây Cơ thân yêu, như một gương mẫu của người bỏ mọi sự để “theo Chúa Giêsu”.

 

Vị Thánh này đã trung thành với Lời thần linh, “sống động và linh động”, lời thấu suốt tâm can (x Heb 4:12). Theo gương Chúa Kitô nghèo, ngài đã từ bỏ các sản vật của mình và không bao giờ chấp nhận các thứ tặng vật của thành phần quyền thế, hay trái lại, ngài đã trả lại cho họ ngay. Đó là lý do tại sao ngài đã lãnh nhận “gấp trăm” và nhờ đó có thể giúp đỡ thành phần nghèo khổ, thậm chí giữa khôn cùng “bách hại” (x Mk 10:30).

 

Đức ái của ngài, một đức ái được sống ở mức độ anh hùng, đã làm cho ngài mang danh hiệu “Vị Giám Mục của người nghèo”. Nơi thừa tác vụ linh mục và giám mục sau đó, ngài đã là một vị giảng thuyết không biết mệt mỏi cho những tuần phòng phổ thông, một đường lối thích hợp nhất vào thời bấy giờ để truyền bá phúc âm hóa dân chúng, bằng việc sử dụng “Giáo Lý về Tín Lý Kitô Giáo” của riêng ngài.

 

Vì việc đào luyện linh mục là một trong những ưu tiên của mình, ngài đã tái mở chủng viện là những gì đưoơc ngài coi là “con ngươi của ngài”, và bởi đó ngài thường nói: “Một vị Giám Mục có thể hành động không có mũ giám mục, không có gậy giám mục và thậm chí không có cả vương cung thánh đường, nhưng ngài không thể hành động mà lại thiếu chủng viện, vì tương lai của Giáo Phận của ngài tùy thuộc vào đó”.

 

Với cảm quan sâu xa này về tính cách phụ thân của vị linh mục, ngài đã phải đương đầu với những cuộc bách hại mới và lưu vong mới, thế nhưng ngài luôn bảo đảm việc huấn luyện cho các sinh viên.

 

Gương của Thánh Rafael Guízar y Valencia là một tiếng gọi đối với các vị Giám Mục và linh mục anh em của ngài trong việc lấy làm chính yếu nơi các chương trình mục vụ, ngoài tinh thần khó nghèo và truyền bá phúc âm hóa, việc cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ, và việc huấn luyện họ theo tâm can của Chúa Giêsu!

 

Thánh Filippo Smaldone, người con của Miền Nam Ý quốc, đã biết cách thấm nhập vào cuộc sống của mình những nhân đức cao cả làm nên đặc tính của miền đất của ngài.

 

Là một vị linh mục có một con tim cao cả được liên lỉ nuôi dưỡng bằng việc nguyện cầu và việc tôn thờ Thánh Thể, trước hết ngài là chứng nhân va àà tôi tớ của đức bác ái, một nhân đức được ngài thể hiện một cách siêu đẳng qua việc phục vụ người nghèo, đặc biệt là thành phần câm điếc, thành phần ngài đã hiến toàn thân cho họ.

 

Công cuộc được ngài bắt đầu ấy đã phát triển nhờ Dòng Chị Em Saledieng Thánh Tâm do ngài thành lập và lan ra ở các vùng khác nơi Ý quốc và trên thế giới.

 

Thánh Filippo Smaldone thấy được hình ảnh của Thiên Chúa nơi những người câm điếc, và ngài thường lập lại rằng, như chúng ta quì trước Thánh Thể thế nào chúng ta cũng phải quì xuống trước một người câm điếc như thế.

 

Theo gương của ngài, chúng ta hoan nghênh lời mời gọi hãy quan tâm tới tình yêu bất khả phân chia đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và tình yêu đối với tha nhân của mình. Thế nhưng, khả năng thực sự để yêu thương anh em chỉ có thể xuất phát từ việc gặp gỡ Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể mà thôi.

 

Thánh Rose Venerini là một gương mẫu khác của một người môn đệ trung thành của Chúa Kitô, sẵn sàng từ bỏ tất cả để thực hiện ý muốn của Thiên Chúa. Ngài thích nói rằng: “Tôi cảm thấy mình thắt kết với ý muốn thần linh tới độ sống chết chẳng còn quan trọng gì nữa: Tôi muốn sống như Ngài muốn và tôi muốn phụng sự Ngài như Ngài muốn, ngoài ra không còn gì nữa” (Biografia Andreucci, p. 515).

 

Từ đó, từ việc phó mình như thế cho Thiên Chúa, đã xuất phát một công cuộc được ca ngợi lâu dài được ngài can đảm phát triển để thăng hóa về mặt tinh thần và thực sự giải phóng thành phần nữ giới trẻ tuổi trong thời điểm của ngài.

 

Thánh Rose không chỉ cung cấp cho những người em gái việc giáo dục thích đáng mà còn quan tâm tới việc bảo đảm vấn đề huấn luyện trọn vẹn của họ, được căn cứ vào những giáo huấn tín lý của Giáo Hội.

 

Kiểu mẫu tông đồ của riêng ngài tiếp tục làm nên đặc tính cuộc sống của Hội Dòng Các Thày Dạo Đạo Venerini do ngài thành lập. Và dịch vụ này hợp thời và quan trọng biết bao cho xã hội ngày nay, một dịch vụ đưa họ vào lãnh vực giáo dục, nhất là lãnh vực huấn luyện nữ giới. 

 

“Hãy đi, bán hết mọi sự mà trao tặng cho người nghèo… rồi hãy đến mà theo Tôi”. Những lời này đã tác động vô vàn Kitô hữu suốt giòng lịch sử của Giáo Hội bước theo Chúa Kitô sống cuộc đời thật bần cùng, tin tưởng vào Đấng Quan Phòng Thần Linh.

 

Giữa những người môn đệ quảng đại này của Chúa Kitô là một người nữ trẻ Pháp quốc, người đã dứt khoát đáp lại tiếng gọi của Vị Sư Phụ thần linh. Mẹ Théodore Guérin đã nhập Dòng Chị Em Đấng Quan Phòng năm 1923, và đã hiến mình cho việc giảng dạy ở các học đường. Bấy giờ, vào năm 1839, ngài được các Bề Trên yêu cầu sang Hoa Kỳ để làm đầu một cộng đồng mới ở Indiana.

 

Sau chuyến hành trình dài trên đất và biển, nhóm 6 nữ tu đã đến Saint Mary-of-the-Woods. Ở đó họ dựng một nguyện đường đơn sơ bằng ống gỗ dài ở giữa lòng khu rừng ấy. Họ đã quì xuống trước Thánh Thể mà tạ ơn, xin Chúa hướng dẫn việc thành lập mới ấy.

 

Hết lòng tin cậy vào Đấng Quan Phòng Thần Linh, Mẹ Théodore đã thắng vượt nhiều thách đố và đã kiên trì thực hiện công việc được Chúa gọi ngài làm. Vào thời điểm qua đời của mình là năm 1856, Các Nữ Tu này đã cai quản những học đường và những cô nhi viện khắp cả tiểu bang Indiana.

 

Theo lời của ngài thì “Lợi ích là chừng nào những gì đã được các Nữ Tu Saint Mary-of-the-Woods hoàn thành! Họ còn có thể mưu ích nhiều hơn thế nữa nếu họ trung thành với ơn gọi thánh thiện của mình!” 

 

Mẹ Théodore Guérin là một hình ảnh thiêng liêng đẹp đẽ và là một mô phạm cho đời sống Kitô hữu. Mẹ luôn luôn cởi mở trước những sứ vụ được Giáo Hội ủy thác cho mẹ, và mẹ đã tìm thấy sức mạnh và lòng gan dạ để thực hiện các sứ vụ bằng Thánh Thể, bằng nguyện cầu và bằng một niềm tin tưởng vô biên vào Đấng Quan Phòng Thần Linh. Sức mạnh nội tâm của mẹ đã hướng mẹ đặc biệt chú trọng tới người nghèo, nhất là tới trẻ em.

 

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa về tặng ân thánh thiện hôm nay chiếu sáng trong Giáo Hội bằng một vẻ đẹp đặc biệt.

 

Chúa Giêsu cũng mời chúng ta, như những vị Thánh này, hãy theo Người để được hưởng gia sản sự sống trường sinh. Chớ gì chứng từ gương mẫu của các vị soi sáng và khích lệ đặc biệt giới trẻ, để bản thân họ cũng được Chúa Kitô chiếm đoạt bằng ánh mắt đầy yêu thương của Người.

 

Chớ gì Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh, làm nổi lên trong dân Kitô Giáo, những con người nam nữ như các Thánh Rafael Guízar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Guérin, sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi sự vì Vương Quốc của Thiên Chúa; sẵn sàng chấp nhận lý lẽ tặng ban và phục vụ, một lý lẽ duy nhất cứu độ trần gian. Amen.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061015_canonioãazioni_en.html 

 

 

TOP

 

Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo

 

Chư Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong ca vịnh Ngợi Khen, một bản đại thánh ca của Đức Mẹ chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số lời lạ lùng. Mẹ Maria nói: ‘Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’.

 

Người Mẹ này của Chúa Kitô đã nói tiên tri về việc Giáo Hội mãi mãi sau này sẽ ca ngợi Thánh Mẫu, việc tôn sùng Thánh Mẫu của dân Chúa cho đến ngày cùng tháng tận.

 

Trong việc ngợi khen Mẹ Maria, Giáo Hội không sáng chế ra một cái gì đó ‘thêm vào’ Thánh Kinh: Mẹ đã đáp ứng lời tiên tri được Mẹ lên tiếng vào lúc ân sủng ấy.

 

Và những lời lẽ của Mẹ Maria không phải chỉ là những lời lẽ riêng tư, có thể là những lời độc đoán. Bà Isave, được tràn đầy Thánh Thần như Thánh Luca cho biết, đã vang tiếng kêu lên rằng: ‘Phúc cho em là người đã tin tưởng’. Và Mẹ Maria, cũng được tràn đầy Thánh Linh, tiếp tục và hoàn tất những gì bà Isave nói, khi xác quyết rằng: ‘Mọi thế hệ sẽ khen em diễm phúc’.

 

Đây thực sự là một lời tiên tri được Thánh Linh tác động, nên khi tôn kính Mẹ Maria, là Giáo Hội đáp lại mệnh lệnh của Thánh Thần; Giáo Hội làm những gì Giáo Hội cần phải làm.

 

Chúng ta không chúc tụng Thiên Chúa một cách đầy đủ khi câm nín về các thánh nhân của Ngài, nhất là về Mẹ Maria, ‘một vị thánh’ đã trở thành nơi trú ngụ của Ngài trên trái đất này.

 

Thứ ánh sáng đơn thuần và muôn mầu vain thể này của Thiên Chúa xuất hiện trước mắt chúng ta chính ở nơi tính cách khác nhau và phong phú của nó chỉ trên dung nhan của các vị thánh, thành phần thực sự phản ảnh ánh sáng của Ngài.

 

Và chính lúc nhìn lên dung nhan của Mẹ Maria mà chúng ta có thể thấy rõ ràng hơn hơn bất cứ một cách nào khác vẻ đẹp, sự thiện hảo và tình xót thương của Thiên Chúa. Nơi dung nhan của Mẹ chúng ta thực sự thấy được ánh sáng thần linh.

 

‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’. Chúng ta có thể chúc tụng Mẹ Maria, chúng ta có thể tôn kính Mẹ Maria vì Mẹ là vị ‘diễm phúc’, Mẹ được diễm phúc đến muôn đời. Và đó là chủ đề của thánh lễ này. Mẹ được diễm phúc vì Mẹ được liên kết với Thiên Chúa, Mẹ sống với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa. 

 

Vào tối vọng cuộc khổ nạn của mình, khi từ giã các môn đệ của mình, Chúa Kitô đã nói: ‘Trong nhà Cha của Thày có nhiều chỗ… Thày đi để dọn chỗ cho các con’.

 

Khi thưa ‘Này tôi là tỳ nữ Chúa; tôi xin vâng như lời sứ thần truyền’, Mẹ Maria đã thực hiện việc sửa dọn cho Thiên Chúa một chỗ trú ngự trên trần gian này; với thân xác và linh hồn của mình, Mẹ đã trở nên nơi trú ngự và do đó đã hướng trái đất về trời cao.

 

Trong bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Thánh Luca, bằng những ám chỉ khác nhau, làm cho chúng ta hiểu rằng Mẹ Maria là Hòm Bia Giao Ước thực sự, rằng mầu nhiệm về đền thờ – nơi Thiên Chúa trú ngự trên trái đất – đã được hoàn tất nơi Mẹ Maria. Thiên Chúa, Đấng trở nên hữu hình trên trái đất này, thực sự trú ngự nơi Mẹ Maria. Mẹ Maria trở nên lều tạm của Ngài. Những gì được tất cả mọi nền văn hóa ước mong – đó là việc Thiên Chúa ngự giữa chúng ta – đã được thể hiện nơi đây.

 

Thánh Âu Quốc Tinh nói rằng: ‘Trước khi thụ thai Chúa Kitô trong thân thể của mình Mẹ đã thụ thai Ngài nơi tâm hồn của Mẹ’. Mẹ đã giành chỗ cho Chúa nơi tâm hồn của Mẹ, nhờ đó thực sự trở thành đền thờ đích thực, nơi Thiên Chúa đích thân nhập thể, nơi Ngài trở nên hữu hình trên trái đất này.

 

Bởi vậy, là nơi trú ngự của Thiên Chúa trên trái đất này, mà chỗ trú ngự đời đời đã được dọn sẵn nơi Mẹ; nó đã được dọn sẵn cho đến muôn đời. Và điều này đã tạo nên tất cả nội dung của tín điều mông triệu của Mẹ Maria, tín điều cả xác lẫn hồn hiển vinh lên trời, một tín điều được diễn tả ở đây bằng những lời ấy. Mẹ Maria được ‘diễm phúc’ vì – trọn vẹn cả xác lẫn hồn cho tới muôn đời – Mẹ đã trở nên nơi trú ngự của Chúa.  

 

Nếu điều ấy đúng thực như thế thì Mẹ Maria không chỉ mời gọi chúng ta ca ngợi và tôn kính, mà Mẹ còn hướng dẫn chúng ta, tỏ cho chúng ta biết con đường sống, tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta được diễm phúc, làm thế nào để tìm thấy con đường dẫn đến hạnh phúc.

 

Chúng ta hãy lắng nghe lại một lần nữa những lời của bà Isave đã được nên trọn nơi ca vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria: ‘Phúc cho em vì đã tin tưởng’. Tác động đầu tiên và cốt yếu để trở thành nơi trú ngự của Thiên Chúa, nhờ đó tìm được hạnh phúc vĩnh viễn đó là tin tưởng: đó là niềm tin, tin tưởng vào Thiên Chúa, vài vị Thiên Chúa đã tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô và làm cho mình được nghe thấy nơi lời thần linh của Thánh Kinh.

 

Tin tưởng không phải là vấn đề thêm thắt ý nghĩ này với những ý nghĩ khác. Và niềm xác tín, niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa hiện hữu, không phải là một thứ tín liệu như bất cứ tín liệu nào khác. Đối với hầu hết các tín liệu thì chẳng có gì khác đối với chúng ta về tính cách thực hư của nó; nó không thay đổi gì cuộc đời của chúng ta hết. Thế nhưng, nếu Thiên Chúa không hiện hữu thì đời sống này rỗng tuyếch, tương lai chẳng có gì. Song nếu Thiên Chúa hiện hữu thì hết mọi sự đều biến đổi, sự sống là ánh sáng, tương lai của chúng ta ánh sáng và chúng ta được hường dẫn để biết cách sống. Bởi vậy mà tin tưởng là những gì tạo nên hướng đi nống cốt cho đời sống chúng ta.

 

Tin tưởng tức là thưa ‘Vâng, con tin rằng Chúa là Thiên Chúa, con tin rằng Chúa Chúa đang hiện diện giữa chúng con nơi Người Con nhập thể của Chúa’, xin hướng dẫn đời sống của con, xin thúc đẩy con sống gắn bó với Thiên Chúa, kết hiệp với Thiên Chúa nhờ đó con có thể tìm được nơi cư ngụ của con và đường lối để sống động.

 

Tin tưởng chẳng những là đường lối suy nghĩ hay là một tư tưởng; như nó đã được đề cập tới, nó còn là đường lối hành động, là một cách thế sống. Tin tưởng nghĩa là đi theo con đường được lời Chúa vạch vẽ ra cho chúng ta. Ngoài tác động đức tin trọng yếu này, một tác động của cuộc đời, một chủ trương được duy trì cho cả cuộc sống, Mẹ Maria còn thêm những lời khác nữa, đó là ‘Ngài xót thương những ai kính sợ Ngài’.

 

Cùng với toàn thể Thánh Kinh, Mẹ Maria nói đến ‘lòng kính sợ Chúa’. Có lẽ đây là một câu chúng ta ít quen thuộc và không thích lắm. Thế nhưng, ‘lòng kính sợ Chúa’ không phải là những gì khổ ải; nó là một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn. Là con cái, chúng ta không băn khoăn lo lắng về Cha nhưng chúng ta kính sợ Thiên Chúa, một mối quan tâm không hủy hoại tình yêu làm nền tảng cho cuộc sống của chúng ta.

 

Lòng kính sợ Chúa chính là cảm quan trách nhiệm mà chúng ta buộc phải có, trách nhiệm đối với phần thế giới đã được trao phó cho chúng ta trong cuộc đời của chúng ta. Nó là một trách nhiệm đối với việc quản trị cho đàng hoàng tốt đẹp cái phần thế giới và lịch sử ấy, và nhờ đó con người giúp vào việc xây dựng thế giới chính trực, góp phần vào cuộc chiến thắng của sự thiện và bình an.

 

‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’: Điều này có nghĩa là tương lai, những gì sẽ tới, đều thuộc về Thiên Chúa, trong bàn tay của Thiên Chúa, nghiã là chính Thiên Chúa là Đấng chiến thắng.

 

Ngài không chiến thắng con mãnh long được bài đọc một hôm nay nói tới, một con rồng biểu hiệu cho tất cả những gì là quyền năng bạo động trên thế giới này. Những quyền năng ấy dường như là những gì bất khả khống chế nhưng Mẹ Maria nói với chúng ta rằng chúng không phải là là những gì vô địch đâu.

 

Người nữ – như bài đọc thứ nhất và Phúc Âm cho chúng ta thấy – là nhân vật mạnh mẽ hơn, vì Thiên Chúa là Đấng quyền năng hơn. Dĩ nhiên, so với con rồng, được trang bị rất dữ dội, thì người nữ là Mẹ Maria này, là Giáo Hội đây, dường như yếu thế hay bất lực.

 

Và Thiên Chúa thực sự yếu thế trên thế gian này, vì Ngài là tình yêu và tình yêu là những gì dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, Ngài năm trong tay tương lai: chính tình yêu, chứ không phải hận thù, là những gì chiến thắng; chính bình an là những gì cuối cùng sẽ chiến thắng vậy.

 

Đó là một niềm an ủi lớn lao nơi tín điều mông triệu hiển vinh về trời cả hồn lẫn xác của Mẹ Maria. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa về niềm an ủi này, nhưng chúng ta cũng thấy nơi niềm an ủi ấy như là một cuộc chúng ta cần phải quyết tâm đứng về bên thiện hảo và bình an. Chúng ta hãy nguyện cầu cùng Mẹ Maria, nữ vương hòa bình, giúp cho hòa bình được chiến thắng hôm nay đây: ‘Nữ Vương ban sự bằng an, cầu cho chúng con! Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/8/2006

 

 

TOP

 

 

“Chúa Giêsu thực sự muốn nói gì với Phêrô nơi những lời này? ‘Con là Đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày’ (Mt 16:18)”

 

(Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài giảng Lễ Thánh Phêrô và Phaolô 29/6/2006)

 

“Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày’ (Mt 16:18).

 

Chúa Giêsu thực sự muốn nói gì với Phêrô nơi những lời ấy? Nơi những lời này, Người đã hứa gì với Phêrô và Người đã ủy thác cho Phêrô những công việc gì? Và Người muốn nói gì với chúng ta – với vị Giám Mục Rôma, vị ngồi trên tòa Thánh Phêrô, cũng như với Giáo Hội ngày nay?

 

Nếu chúng ta muốn hiểu được ý nghĩa của những lời lẽ của Chúa Giêsu, thì cần phải nhớ rằng các trình thuật Phúc Âm kể lại cho chúng ta 3 trường hợp khác nhau, mỗi lần một cách khác nhau, Chúa Kitô truyền đạt cho Phêrô công việc tương lai của ngài. Công việc này thì bao giờ cũng giống nhau, nhưng những gì Chúa Kitô đã và đang quan tâm trở thành tỏ tường đối với chúng ta nơi tính cách đa dạng của các trường hợp và hình ảnh được Người sử dụng.

 

Trong Phúc Âm theo Thánh Mathêu chúng ta vừa nghe, thì Thánh Phêrô tuyên xưng niềm tin của mình nơi Chúa Giêsu, nhìn nhận Người là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa. Bởi đó, công việc đặc biệt được trao phó cho ngài bằng 3 hình ảnh, đó là tảng đá trở nên đá góc, chìa khóa và hình ảnh buộc cởi.

 

Tôi không có ý giải thích nơi đây một lần nữa ba hình ảnh được Giáo Hội dẫn giải nhiều lần qua giòng thời gian; trái lại, tôi muốn kêu gọi hãy chú ý tới vị trí về địa dư và bối cảnh về niên đại của những lời lẽ ấy.

 

Lời hứa này được ban bố ở nguồn gốc sông Dược Đăng, tại biên giới của Mảnh Đất Giuđa, nơi biên cương thế giới của thành phần dân ngoại. Thời điểm của lời hứa này đánh dấu một khúc quanh quan trọng nơi cuộc hành trình của Chúa Giêsu: ở chỗ, bấy giờ Người bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem, và đó là lần đầu tiên Người nói với các môn đệ rằng cuộc hành trình lên Thành Thánh này là một cuộc hành trình tiến tới với cây thập tự giá: ‘Từ lúc ấy, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ của Người biết rằng Người cần phải lên Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ bởi thành phần kỳ lão và các trưởng tế cùng luật sĩ, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại’ (Mt 16:21).

 

Thật vậy, những điều này đi với nhau và ấn định cái vị thế nội tại nơi vai trò lãnh đạo của Giáo Hội nói chung, đó là Chúa Kitô tiếp tục con đường của Người tiến tới với thập giá, tiến tới tình trạng thấp hèn của người tôi tớ Thiên Chúa, chịu khổ đau và bị sát hại, song đồng thời Người cũng đi trên con đường tiến tới việc làm cho thế giới rộng lớn là nơi Người đã đi trước chúng ta như Đấng Phục Sinh, nhờ đó, ánh sáng của các lời Người và sự hiện diện của tình yêu Người được tỏa hiện trên thế giới; Người đang tiến bước trên con đường này, để nhờ Người, Đấng Thiên Sai Tử Giá và Phục Sinh, chính Thiên Chúa có thể đến với thế giới.

 

Về vấn đề này, Thánh Phêrô đã diễn tả mình trong thư thứ nhất của ngài như là ‘một nhân chứng cho những khổ đau của Chúa Kitô cũng như là kẻ dự phần vào vinh quang sẽ được tỏ hiện’ (5:1). Đối với Giáo Hội, Thứ Sáu Tuần Thánh và Phục Sinh bao giờ cũng đi với nhau; Giáo Hội luôn vừa là hạt cải vừa là cái cây cho chim trời làm tổ.

 

Giáo Hội – và trong Giáo Hội, Chúa Kitô – vẫn chịu đựng khổ đau cho tới ngày nay. Nơi Giáo Hội, Chúa Kitô tiếp tục bị chế nhạo và tạt vả; những nỗ lực tiếp tục thực hiện việc loại trừ Người. Con thuyền Giáo Hội tiếp tục bị rách toạc ra bởi những luồng gió ý hệ, với những giòng nước thấm vào Giáo Hội và dường như muốn nhận chìm Giáo Hội xuống. Tuy nhiên, chính ở nơi Giáo Hội khổ đau này mà Chúa Kitô chiến thắng vậy.

 

Bất chấp tất cả mọi sự, niềm tin tưởng nơi Người tái phục hồi một sức mạnh mới mẻ hơn bao giờ hết. Chúa Kitô cũng truyền lệnh cho cả các giòng nước ngày nay và cho thấy rằng Người là Chúa của các yếu tố thiên nhiên. Người ở trên con thuyền của mình, trên con thuyền nhỏ bé Giáo Hội.

 

Bởi vậy, một đàng thì nỗi yếu hèn hợp với con người được tỏ hiện nơi thừa tác vụ của Phêrô, thế nhưng đồng thời cũng tỏ hiện cả quyền năng của Thiên Chúa nữa, ở chỗ, Chúa tỏ sức mạnh của Người ra nơi chính nỗi hèn yếu của con người; Người chứng tỏ là chính qua những con người mỏng dòn mà chính Người dựng xây Giáo Hội của Người.

 

Giờ đây chúng ta hãy quay sang Phúc Âm theo Thánh Luca là Phúc Âm cho chúng ta biết rằng trong Bữa Tiệc Ly, một lần Chúa Chúa Kitô lại trao phó cho Phêrô một công việc đặc biệt (x 22:31-33).

 

Lần này, những lời lẽ của Chúa Kitô ngỏ cùng Simon xuất hiện ngay sau khi Người thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Chúa Kitô vừa ban mình cho thành phần môn đề của Người dưới hình bánh và hình rượu. Chúng ta có thể thấy việc thiết lập bí tích Thánh Thể như là một tác động thiết lập Giáo Hội thực sự và xứng hợp.

 

Qua Thánh Thể, Chúa Kitô chẳng những ban mình cho thành phần riêng của mình mà còn ban cho các vị thực tại của một mối hiệp thông mới giữa họ với nhau, kéo dài qua thời gian, ‘cho đến tận thế’ (x 1Cor 11:26).

 

Nhờ Thánh Thể, các môn đệ trở thành nơi cư trú sống động của Người, như lịch sử cho thấy, một nơi cư trú phát triển như là một đền thờ mới mẻ và sống động của Thiên Chúa trên thế giới này. Bởi vậy mà ngay sau khi thiết lập Bí Tích này, Chúa Giêsu nói về việc làm môn đệ, về ý nghĩa của ‘thừa tác vụ’ này trong cộng đồng mới, ở chỗ, Người nói rằng nó là một cuộc dấn thân phục vụ, như chính Người là tôi tớ phục vụ giữa các vị vậy.

 

Bấy giờ Người ngỏ cùng Phêrô. Người nói rằng Satan muốn làm cho ngài bị sàng xẩy như thóc lúa. Điều này gợi lại đoạn trong Sách Ông Gióp, đoạn thuật lại việc Satan xin Chúa cho quyền hành hạ Gióp. Ma qủi – tên phỉ báng Thiên Chúa và loài người – bởi thế muốn chứng minh rằng không có một thứ cảm tình đạo nghĩa chân thực nào hết, mà nơi con người chỉ có mục đích là luôn nhắm tới vấn đề duy thực dụng.

 

Trong trường hợp của ông Gióp, Thiên Chúa cho Satan cái quyền tự do được yêu cầu ấy chính là để có thể nhờ đó bênh vực tạo vật của Ngài – là con người – và chính bản thân Ngài. Điều ấy cũng xẩy ra cả nơi thành phần môn đệ của Chúa Giêsu. Thiên Chúa ban cho Satan một thứ tự do nào đó ở mọi lúc.

 

Đối với chúng ta, thì Thiên Chúa thường cho Satan quá nhiều tự do, thì Ngài ban cho hắn quyền hành khổ chúng ta quá ư là kinh khủng; thì tình trạng này mạnh hơn quyền năng của chúng ta và đàn áp chúng ta quá ư là nặng nề. Chúng ta cứ tiếp tục kêu lên Thiên Chúa rằng: ‘Than ôi, xin hãy nhìn đến nỗi khgốn khổ của các môn đệ Ngài! A, xin hãy bảo vệ chúng tôi!’ Thật vậy, Chúa Giêsu tiếp tục phán: ‘Thày đã nguyện cầu cho con để con không bị mất đức tin’ (Lk 22:32).

 

Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là những gì giới hạn quyền năng của ma quỉ. Lời nguyện cầu của Chúa Giêsu là những gì bảo vệ Giáo Hội. Chúng ta có thể tìm nương náu dưới việc bảo vệ ấy, gắn bó với nó để được an toàn. Thế nhưng, như Người nói trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cầu nguyện cách riêng cho Phêrô rằng ‘để con không bị mất đức tin’.

 

Lời nguyện cầu của Chúa Giêsu đồng thời cũng là một lời hứa hẹn và là một nghĩa vụ. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu bảo toàn đức tin của Phêrô, đức tin được ngài tuyên xưng ở Caesarea Philippi: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’ (Mt 16:16). Bởi thế, đừng bao giờ để cho niềm tin này bị câm nín; hãy tiếp tục củng cố nó, cho dù có phải đối đầu với thập giá cũng như với tất cả những gì là nghịch phản của thế gian: đó là công việc của Phêrô.

 

Thế nên, vấn đề ở đây đó là Chúa Kitô chẳng những cầu nguyện cho niềm tin riêng của Phêrô mà còn cho đức tin của ngài trở thành việc phục vụ cho người khác nữa. Đó chính là những gì Người muốn nói khi phán: ‘Bao giờ con trở lại thì hãy củng cố an hem con’ (Lk 22:32).

 

‘Bao giờ con trở lại’: những lời này vừa là một lời tiên báo vừa là một lời hứa hẹn. Chúng tiên báo nỗi yếu hèn của Simon, người chối trước một nữ tỳ và một người tôi tớ rằng ngài chẳng hề biết Chúa Kitô. Qua việc sa ngã này, Thánh Phêrô – và cùng với ngài là Giáo Hội qua mọi thời đại – học biết rằng riêng sức mạnh của mình thôi không đủ để xây dựng và hướng dẫn Giáo Hội Chúa. Không ai thành đạt tự sức riêng của mình. Cho dù Phêrô có khả năng và tinh khéo đi chăng nữa – ngài đã sa ngã ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc thử thách.

 

‘Bao giờ con trở lại’: Chúa Kitô, Đấng đã báo trước việc sa ngã của thánh nhân, cũng hứa làm cho ngài được hoán cải: ‘Và Chúa đã quay lại nhìn Phêrô…’ (Lk 22:61). Cái nhìn của Chúa Giêsu thực hiện việc biến đổi và trở thành ơn cứu độ cho Phêrô: ‘ngài đã ra đi và thảm thiết khóc’ (Lk 22:62).

 

Chúng ta hãy van xin ánh mắt cứu độ này của Chúa Giêsu hằng được lập lại: đối với tất cả những ai có trách nhiệm trong Giáo Hội; đối với tất cả những ai đang chịu đựng tình trạng hoang mang rối loạn của những thời buổi này; đối với người lớn và kẻ nhỏ: Lạy Chúa, xin hằng nhìn đến chúng con, xin hãy nâng chúng con dậy mỗi khi chúng con sa ngã và hãy gìn giữ chúng con trong bàn tay nhân lành của Chúa.

 

Chính nhờ lời hứa này ở việc Người nguyện cầu mà Người đã ủy thác cho Phêrô công việc đối với anh em. Trách nhiệm của Phêrô được gắn liền với lời nguyện cầu của Chúa Giêsu. Chính điều ấy đã hiến cho ngài niềm tin tưởng là ngài sẽ kiên trì vượt qua tất cả mọi nỗi khốn khổ của con người.

Và Chúa ủy thác công việc này cho ngài trong bối cảnh của Bữa Tiệc Ly, liên quan tới tặng ân Thánh Thể Rất Thánh Hảo.

 

Giáo Hội, được thiết dựng nơi việc lập Thánh Thể, tận thẳm cung của mình, là một cộng đồng Thánh Thể, bởi thể, là mối hiệp thông vào Thân Thể của Chúa Kitô. Công việc của Phêrô là chủ trì trên mối hiệp thông phổ quát này; là giữ cho nó hiện hữu trên thế giới như là một mối hiệp nhất hữu hình hiện thực.

 

Ngài, cùng với toàn thể Giáo Hội Rôma – như Thánh Ý Nhã thánh Antiôkia đã nói – cần phải chủ trì trong đức bác ái: chủ trì trên cộng đồng này bằng một tình yêu thương xuất phát từ Chúa Kitô và là một tình yêu thương hằng vượt trên những giới hạn của lãnh vực riêng tư trong việc mang tình yêu của Thiên Chúa đến tận cùng trái đất.

 

Chi tiết thứ ba liên quan tới Quyền Bính này được thấy trong Phúc Âm Thánh Gioan (21:15-19). Chúa Kitô đã sống lại, và là Đấng Phục Sinh, Người đã ủy thác đàn chiên của mình cho Phêrô. Cả ở đây nữa, thập giá và Phục Sinh đan kết với nhau. Chúa Giêsu tiên báo cho Phêrô biết rằng ngài phải đi đàng thánh giá.

 

Nơi Đền Thờ được xây trên ngôi mộ của Thánh Phêrô này – một ngôi mộ của người nghèo – chúng ta thấy rằng nơi chính cách thức ấy Chúa Kitô, bằng thập giá, bao giờ cũng là Vị chiến thắng. Quyền lực của ngài không phải là một thứ quyền lực hợp với những đường lối của thế gian. Nó là một quyền lực của sự thiện hảo: của sự thật và của yêu thương, một thứ yêu thương mạnh hơn cả sự chết.

 

Phải, lời Người hứa hẹn là những gì chân thực, ở chỗ, các quyền lực của sự chết, các cửa của hỏa ngục, sẽ không thể nào làm chủ được Giáo Hội được Người xây dựng trên Phêrô (x Mt 16:18) và là Giáo Hội, qua chính đường lối ấy, tiếp tục đích thân xây dựng.

 

Vào ngày Lễ Trọng Kính Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô này, tôi đặc biệt ngỏ lời cùng quí huynh, thưa quí tổng giám mục, những vị đến từ nhiều quốc gia trên thế giới để lãnh nhận giây tông phẩm từ Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Tôi xin gửi đến quí huynh lời chào thân ái, cùng với tất cả những ai đi theo với quí huynh.

 

Tôi cũng đặc biệt vui mừng chào phái đoàn đại biểu của Tòa Thượng Phụ Toàn Cầu, được dẫn đầu bởi Đức Zizioulas, Tổng Giám Mục Pergamon và là Chủ Tịch của Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Về Đối Thoại Thần Học giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo.

 

Tôi xin cám ơn Đức Thượng Phụ Bartholomew I cũng như Holy Synod về dấu hiệu huynh đệ chứng tỏ lòng mong muốn và quyết tâm tiến mau chóng hơn nữa trên con đường trọn vẹn hiệp nhất nên một được Chúa Kitô cầu xin cho tất cả thành phần môn đệ của Người.

 

Chúng ta cảm thấy cùng có một lòng thiết tha mong ước, đã có lần được Đức Thượng Phụ Athenagoras và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tỏ bày, trong việc cùng nhau uống cùng một Chén và cùng ăn Bánh là chính Chúa. Chúng ta hãy van xin một lần nữa vào dịp này để tặng ân này sớm được ban cho chúng ta.

 

Chúng ta hãy cám ơn Chúa là chúng ta liên kết trong niềm tin được Thánh Phêrô tuyên xưng thay cho tất cả mọi môn đệ ở Caesarea Philippi: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’. Chúng ta hãy cùng nhau mang lời tuyên xưng này đến cho thế giới hiện đại.

 

Chớ gì Chúa Kitô giúp chúng ta vào chính lúc này đây của lịch sử chúng ta trở thành những chứng nhân đích thực của những khổ đau Chúa Kitô cũng như trở nên thành phần tham dự vào vinh quang sẽ được tỏ hiện (x 1Pt 5:1). Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/7/2006

 

 

TOP

 

 

“Toàn thể lịch sử của Thiên Chúa với loài người được tóm gọn lại nơi những lời ấy” (những lời truyền phép Thánh Thể)

 

(Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Trọng Kính Mình máu Thánh Chúa Kitô 15/6/2006 tại Quảng Trường Đền Thờ Latêranô Rôma)

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Vào tối áp cuộc khổ nạn của mình, trong bữa Vượt Qua, Chúa Kitô đã cấm lấy bánh trong tay mình – như chúng ta đã vừa mới nghe cách đây ít lâu trong đoạn Phúc Âm – và, sau khi làm phép, Người bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: ‘Các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thày’. Đoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn và trao cho các vị và tất cả các vị đều uống chén ấy. Người phán: ‘Đây là máu của Thày, máu giao ước, được đổ ra cho nhiều người’ (Mk 14:22-24). 

 

Toàn thể lịch sử của Thiên Chúa với loài người được tóm gọn lại nơi những lời ấy. Không phải chỉ có quá khứ mới được nói tới và được giải thích, mà cả tương lai cũng được ngưỡng vọng nữa – đó là việc Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến trên thế giới này. Những gì Chúa Giêsu nói không phải là những lời lẽ đơn giản tầm thường. Những gì Người nói là một biến cố, một biến cố chính yếu nơi lịch sử của thế giới và của đời sống riêng tư của chúng ta.

 

Những lời này là những lời bất khả thấu tận. Vào lúc này đây, tôi xin suy niệm với anh chị em về chỉ một khía cạnh duy nhất. Chúa Giêsu đã chọn bánh và rượu để làm như là dấu hiệu hiện diện của Người. Bằng mỗi một dấu hiệu này, Người hoàn toàn hiến ban chính mình Người, chứ không phải chỉ từng phần. Đấng Phục Sinh là Đấng không bị phân chia. Người là một ngôi vị, nhờ các dấu hiệu, đến gần với chúng ta hơn và liên kết chúng ta với chính mình Người.

 

Tuy nhiên, mỗi một dấu hiệu, theo cách thế riêng của mình, tiêu biểu cho một khía cạnh đặc biệt về mầu nhiệm của Người, và qua việc biểu lộ xứng hợp của mình, muốn nói với chúng ta để chúng ta hiểu được mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô khá hơn chút nữa.

 

Trong cuộc rước kiệu và chầu Chúa, chúng ta nhìn lên Tấm Bánh đã được thánh hiến, một hình thức bánh và dưỡng chất đơn sơ thanh đạm nhất, được làm nên bởi một ít bột và nước. Nhờ đó, tấm bánh trở thành như là lương thực của người nghèo, thành phần Chúa Kitô gắn bó nhất.

 

Lời nguyện được Giáo Hội trong phụng vụ Thánh Lễ hiến dâng tấm bánh ấy lên Chúa, định phẩm nó như là hoa mầu của trái đất và lao công của con người. 

 

Nó bao gồm lao công của con người, việc làm hằng ngày của những ai canh tác trái đất, gieo trồng và gặt hái (lúa miến), và sau hết là việc làm bánh. Tuy nhiên, bánh không phải thuần túy và chỉ là những gì chúng ta sản xuất, những gì chúng ta làm được; nó là hoa trái của trái đất và vì thế cũng là tặng vật nữa.

 

Chúng ta không thể kể công về sự kiện trái đất trổ sinh hoa trái; chỉ có một mình Đấng Hóa Công mới có thể làm cho nó thành mầu mỡ. Và giờ đây chúng ta cũng có thể nới thêm một chút nữa thế này vào lời nguyện cầu này của Giáo Hội, đó là Bánh này là hoa trái của trời cao và trái đất. Nó bao gồm việc hợp lại giữa các năng lực của trái đất cùng với những tặng ân từ trên cao, tức là của mặt trời và mưa gió. Cả nước nôi nữa, yếu tố chúng ta cần để làm bánh, yếu tố chúng ta không thể nào làm nên.

 

Trong một giai đoạn vấn đề sa mạc hóa được nói đến và là giai đoạn chúng ta nghe thấy thời điểm và một lần nữa nghe thấy cảnh giác là con người cùng hoang thú đang có nguy cơ bị chết khát nơi những miền không có nước ấy – trong một giai đoạn như vậy chúng ta mới nhận thức một lần nữa rằng tặng ân nước thì to tát biết bao, và tại sao chúng ta không thể tự mình sản xuất được nó.

 

Bởi vậy, nhìn kỹ vào miếng Bánh Thánh trắng nhỏ này, tấm bánh của người nghèo, chúng ta thấy được một thứ tổng hợp của thiên nhiên tạo vật. Trời và đất nữa, như hoạt động và tinh thần của con người, hợp tác với nhau. Cái tác hợp của các quyền lực làm cho mầu nhiệm về sự sống và việc hiện hữu của con người trở thành khả dĩ trên hành tinh của chúng ta đây đến gặp gỡ chúng ta nơi tất cả những gì là cao cả uy nghi vĩ đại.

 

Như thế chúng ta bắt đầu hiểu được lý do tại sao Chúa đã chọn miếng bánh ấy để làm tiêu biểu cho Người. Thiên nhiên tạo vật, với tất cả những tặng ân của nó, khao khát một cái gì đó thậm chí lớn lao hơn nữa, bên trên chính nó và vượt trên chính nó. Bên trên và vượt trên sự tổng hợp của những năng lực nơi chính nó, bên trên và vượt trên sự tổng hợp cũng của cả thiên nhiên lẫn thần trí mà, ở một góc độ nào đó, chúng ta, nơi tấm bánh, khám phá ra thiên nhiên tạo vật được định phóng hướng tới việc thần linh hóa, hướng tới một cuộc hôn lễ thánh hảo, hướng tới một cuộc hiệp nhất với chính Đấng Tạo Thành.

 

Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa cắt nghĩa sâu xa sứ điệp của dấu hiệu bánh này. Chúa Kitô đã đề cập tới mầu nhiệm sâu xa nhất của nó vào Chúa Nhật Lễ Lá, khi có một số người Hy Lạp yêu cầu được gặp Người. Trong lời Người trả lời cho vấn đề này có câu: ‘Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho quí vị biết, trừ phi hạt lúa miến rơi xuống đất có chết đi, bằng không nó vẫn còn nguyên; thế nhưng, nếu nó có thối nát đi, nó mới sinh nhiều hoa trái’ (Jn 12:24).

 

Mầu nhiệm của Cuộc Khổ Nạn được dấu ẩn nơi tấm bánh thành nên bởi hạt lúa đất đai. Bột, hạt lúa đất đai, biểu hiệu cho cái chết đi và phục hồi của hạt thóc này. Nơi việc được gieo trên đất và bị nung nướng, nó mang nơi mình một lần nữa cũng cái mầu nhiệm Khổ Nạn ấy. Chỉ nhờ cái chết mới có phục sinh thế nào thì hoa trái và sự sống mới cũng thế.

 

Văn hóa ở miền Địa Trung Hải, ở vào những thế kỷ trước Chúa Kitô, đã có một trực giác sâu xa về mầu nhiệm này. Dựa trên cái kinh nghiệm về cái chết và phục hồi ấy, họ đã tạo nên những huyền thoại về thần linh là những gì đã hiến ban sự sống mới bằng việc chết đi và sống lại. Đối với họ, chu kỳ của thiên nhiên dường như một lời hứa hẹn thần linh ở giữa cái tối tăm của khổ đau và chết chóc mà chúng ta phải đương đầu.

 

Nơi những huyền thoại này, linh hồn của con người, một cách nào đó, đã hướng tới việc Thiên Chúa đã làm người, vị mà, hủy thân cho đến chết trên thập tự giá, dể mở cửa sự sống cho tất cả chúng ta. Nơi bánh và việc làm bánh, con người đã hiểu nó như là một giai đoạn đợi chờ của thiên nhiên, như một lời hứa hẹn nơi thiên nhiên là điều này sẽ xẩy ra, đó là Vị Thiên Chúa chết đi để nhờ đó mang chúng ta tới sự sống.

 

Những gì được đợi trông nơi những huyền thoại ấy và những gì được chất chứa nơi chính hạt lúa miến như là dấu hiệu cho niềm hy vọng của thiên nhiên tạo vật – thì đều thực sự xẩy ra nơi Chúa Kitô. Qua cái cuộc khổ nạn và tử nạn nhưng không của Người, Người đã trở thành bánh cho tất cả chúng ta, và nhờ đó trở thành niềm hy vọng sống động vững vàng. Người hỗ trợ chúng ta nơi tất cả mọi khổ đau cho chết chúng ta. Con đường Người hành trình với chúng ta, nhờ đó, Người dẫn chúng ta tới sự sống là những con đường của niềm hy vọng.

 

Nơi việc chầu Chúa, khi chúng ta nhìn vào Tấm Bánh được thánh hiến, thì dấu hiệu của thiên nhiên tạo vật này là những gì nói với chúng ta. Bởi vậy, chúng ta gặp được cái cao cả của tặng ân Người; thế nhưng chúng ta cũng gặp được cả cuộc khổ nạn, thập giá của Chúa Giêsu cùng với cuộc phục sinh của Người. Nơi ánh mắt tôn thờ này, Người lôi kéo chúng ta đến với Người, trong mầu nhiệm của Người, nhờ đó, Người biến đổi chúng ta như Người đã biến đổi Bánh Thánh.

 

Giáo Hội sơ khai cũng đã khám phá ra một biểu hiệu khác nơi tấm bánh. Tín Điều của 12 Tông Đồ, một cuốn sách được viết vào khoảng năm 100, chất chứa nơi những lời nguyện cầu của mình niềm xác tín rằng: ‘Cho dù như tấm bánh được bẻ ra này bị phân tán khắp các đồi núi, và được qui tụ lại với nhau nên một, thì xin cho Giáo Hội của Chúa cũng được qui tụ lại với nhau từ cùng tận trái đất nơi Vương Quốc của Chúa’ (IX, 4).

 

Tấm bánh được làm nên bởi nhiều hạt lúa miến cũng chất chứa một biến cố hiệp nhất nữa. Hạt lúa miến đất đai trở thành bánh là một tiến trình nên một. Chính chúng ta, tuy nhiều, cần phải trở thành một tấm bánh duy nhất, một thân thể duy nhất, như Thánh Phaolô nói (x 1Cor 10:17). Như thế, dấu hiệu bánh trở thành cả niềm hy vọng lẫn sự viên trọn.

 

Dấu hiệu rượu nho nói với chúng ta cũng giống y như thế. Tuy nhiên, trong khi bánh nói về cuộc sống hằng ngày, về tính cách giản dị và hành trình, thì rượu diễn đạt nét trang nhã thanh tú của thiên nhiên tạo vật, đó là lễ hội của niềm vui được Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta vào ngày cùng tháng tận mà giờ đây và mãi mãi đã được tiên hưởng nơi dấu hiệu này.

 

Thế nhưng, rượu cũng nói về Cuộc Khổ Nạn nữa, ở chỗ, cây nho cần phải được tỉa đi xén lại nhờ đó mà được nên tinh khiết; những hạt nho cần phải chín mùi nhờ mặt trời và mưa gió cũng như cần phải bị ép vắt: Chỉ nhờ có cuộc khổ nạn này mới có một thứ chín mùi rượu ngon.

 

Vào Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta đặc biệt nhìn vào dấu hiệu bánh. Nó nhắc nhở chúng ta về cuộc hành trình của dân Do Thái suốt 40 năm trong sa mạc. Bánh Thánh là manna của chúng ta được Chúa dùng để nuôi dưỡng chúng ta – nó thật là bánh bởi trời, nhờ đó Người hiến ban chính mình Người.

 

Trong cuộc cung nghinh Thánh Thể này, chúng ta theo dấu hiệu ấy, nhờ đó, chúng ta theo chính Chúa Kitô. Và chúng tax in Người rằng: Xin Chúa dẫn dắt chúng con qua những nẻo đường lịch sử! Xin Chúa cứ tỏ mãi cho Giáo Hội và những vị mục tử của Giáo Hội thấy đường ngay nẻo chính! Xin Chúa hãy nhìn đến nhân loại khổ đau, đang thận trọng tìm kiếm một đường đi nước bước qua rất nhiều những ngờ vực; xin hãy nhìn đến tình trạng đói khổ về vật chất và tâm linh đang hành hạ nhân loại! Xin ban cho con người nam nữ bánh cho cả xác lẫn hồn! Xin ban cho họ công ăn việc làm! Xin ban cho họ ánh sáng! Xin ban cho họ chính bản thân Chúa! Xin thanh tẩy và thánh hóa tất cả chúng con!

 

Xin Chúa hãy làm cho chúng con hiểu được rằng chỉ nhờ tham phần vào Cuộc Khổ Nạn của Chúa, qua việc ‘chấp nhận’ thánh giá, chấp nhận bỏ mình, chấp nhận những cuộc thanh tẩy Chúa thực hiện nơi chúng con, đời sống chúng con mới có thể trưởng thành và đạt đến tầm vóc viên trọn thực sự. Xin Chúa hãy qui tụ chúng con lại từ mọi nơi trên thế giới. Xin Chúa hãy hiệp nhất Giáo Hội của Chúa, hiệp nhật nhân loại bị thương đau! Xin Chúa ban cho chúng con ơn cứu độ! Amen

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 4/7/2006

 

Ý nghĩa bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về Thánh Thể liên quan tới khía cạnh thiên nhiên tạo vật được thần linh hóa và biến đổi từ tấm bánh là hoa mầu ruộng đất và lao công của con người đã được người dịch cảm nghiệm và chia sẻ trong cuốn “Nguồn Sống Thần Linh” (Cao-Bùi, 5/2005, Năm Thánh Thể, trang 69-73, và trang 137-144, như sau:)

 

Chất Thể của Thánh Thể ở phần Dâng Lễ

 

Phần Phụng Vụ Thánh Thể được bắt đầu bằng việc dâng của lễ. Ở đây, chúng ta có thể đặt vấn đề về ý nghĩa của bánh và rượu, về lý do tại sao lại là bánh miến và rượu nho mà không phải là những lễ vật khác, cũng như về mối liên hệ giữa của lễ dâng trên bàn thờ bấy giờ với “hoa mầu ruộng đất (hay) sản phẩm của cây nho và lao công của con người”.

 

Mỗi bí tích đều phải có đủ hai yếu tố mới hiệu thành, đó là chất thể và mô thể. Chẳng hạn nơi bí tích Thánh Thể, chất thể là bánh với rượu và mô thể là lời truyền phép. Mô thể của bí tích Thánh Thể là chính lời Chúa Giêsu phán trên bánh và chén rượu trong Bữa Tiệc Ly, lời được chính các vị chủ tế lập lại khi truyền phép Thánh Thể. Còn chất thể của bí tích Thánh Thể là bánh và rượu, hai chất thể cũng được Chúa Giêsu sử dụng ở Bữa Tiệc Ly khi lập Bí Tích Cực Trọng này. Thế nhưng, các Phúc Âm nhất lãm trình thuật về biến cố thiết lập Bí Tích Thánh Thể này nói riêng và Bữa Tiệc Ly nói chung chỉ đề cập đến chất thể của rượu là rượu nho (x Lk 22:18), chứ không hề đề cập đến chi tiết rõ ràng về chất liệu bánh của bí tích Thánh Thể, chẳng hạn bánh không men, bánh được làm bằng bột mì hay bột nếp v.v.

 

Về chất thể bánh của bí tích Thánh Thể, có một chi tiết được mặc nhiên hiểu đó là bánh “không men”, vì Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua theo lệ của người Do Thái là tục lệ cần phải ăn “bánh không men” (x Ex 12:18,20), một qui lệ được chính Cha Người đặt ra cho dân Do Thái ngay từ khi họ sửa soạn cuộc Vượt Qua của họ từ miền đất nô lệ ở Ai Cập mà về Đất Hứa.

 

Tính chất không men của chất thể bánh làm nên Thánh Thể Chúa Kitô còn là những gì nhắc nhở thành phần muốn nhận lãnh Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, hay muốn hiệp thông với Người một cách xứng đáng và trọn vẹn, cần phải có một tâm hồn tinh khiết. Bởi vì, men thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, liên quan đến gương mù gương xấu, như “men của những người Pharisiêu và Saducê” (Mt 16:6), hay men hư hỏng và gian ác, một thứ men cần phải tránh để trở thành một thứ bánh không men thành tâm và chân thực, như lời Thánh Phaolô Tông Đồ kêu gọi trong Thư Thứ Nhất gửi giáo đoàn Côrintô: “Anh em hãy loại trừ đi thứ men cũ để làm cho anh em trở thành bột mới, thành những tấm bánh không men, vì Chúa Kitô là Cuộc Vượt Qua của chúng ta đã được hy tế. Chúng ta hãy mừng lễ không phải bằng men cũ, men hư hoại và gian ác, mà là bằng tấm bánh không men của lòng thành và chân thực” (x 1Cor 5:7-8).

 

Ngoài tính chất “bánh không men” của chất thể bánh làm nên Thánh Thể Chúa Kitô như thế, Giáo Hội Công Giáo, trong khoản Giáo Luật 924.2, còn ấn định dứt khoát chất thể bánh này là “bột mì”, chứ không phải một thứ bột nào khác, như bột nếp hay bột năng.

 

Bởi vì, bột mì được làm nên bởi lúa miến, mà lúa miến là chất thể được Chúa Giêsu sử dụng để ám chỉ về chính bản thân của Người là Vị Thiên Chúa Nhập Thể, Tử Giá và Phục Sinh, khi Người tiên báo về cuộc Vượt Qua của mình như sau: “Đã đến giờ Con Người được vinh hiển. Thày nói thật với các con rằng nếu hạt lúa miến rơi xuống đất không mục nát đi thì nó vẫn còn là một hạt lúa miến. Thế nhưng, nếu nó có mục nát đi nó mới sinh nhiều hoa trái” (Jn 12:23-24). Hạt lúa miến rơi xuống đất đây là biểu hiệu cho biến cố Nhập Thể của Chúa Kitô; hạt lúa miến này bị mục nát đi là hình ảnh ám chỉ cuộc Tử Giá của Người, và việc nó sinh nhiều hoa trái đây ám chỉ Quyền Năng Phục Sinh của Người.

 

Rượu nho cũng là một biểu hiệu liên quan đến cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô nữa (x Is 63:2), vì rượu nho được làm bởi “máy ép nho” (x Is 5:2; Mt 21:33).

 

Như thế, vì cả bánh miến lẫn rượu nho là hai chất thể, theo ý nghĩa mạc khải, đều liên quan đến Hiến Tế Thập Giá của Chúa Kitô là tất cả những gì nói lên ý nghĩa và bản chất chính yếu của Bí Tích Thánh Thể, mà Giáo Hội Chúa Kitô đã ấn định chọn dùng cho Phụng Vụ Thánh Thể.

 

Tuy nhiên, bánh và rượu là hai chất thể được biến thành Mình và Máu của Chúa Kitô trên bàn thờ sau lời truyền phép của vị chủ tế ấy không phải tự động mà có, song phải được sản xuất bởi bàn tay của con người nữa. Bởi thế, trong phần truyền phép, việc biến thể từ chất thể bánh “là hoa mầu ruộng đất” và chất thể rượu “là sản phẩm của cây nho” sẽ không thể nào xẩy ra được, nếu thiếu yếu tố “lao công của con người”. Đó là lý do trong phần dâng của lễ, yếu tố chất thể (bánh và rượu) từ thiên nhiên và tiêu biểu cho thế giới tự nhiên, cùng với yếu tố nhân bản (“lao công của con người”) tiêu biểu cho những gì thuộc về thế giới tâm linh, đều được dâng lên “Chúa là Chúa tể càn khôn”, “để trở nên bánh nuôi sống (hay) của uống thiêng liêng cho” con người chúng ta.

 

Trong phần dâng lễ vật, tuy bề ngoài là chất thể bánh và rượu được dâng lên, nhưng thật ra là “lao công của con người” được dâng lên. Bởi vì, chất thể đó là của Thiên Chúa Hóa Công “đã rộng ban” cho con người để trước hết nuôi sống phần xác con người. Thế nhưng, vì “con người không nguyên sống bởi bánh, mà còn bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa” (Mt 4:4; Deut 8:3), tức “sống cho Thiên Chúa” (Lk 20:38), mà những gì con người hiến dâng cho Vị Thiên Chúa Hóa Công của mình, đặc biệt trong phần dâng lễ đây, chính là tác động họ long trọng chẳng những trả về cho Ngài tất cả những gì sở hữu từ thế giới thiên nhiên được gọi là vốn liếng con người nhận lãnh từ Ngài, mà còn cả số lời từ số vốn liếng ấy nữa, đó là tất cả tấm lòng họ tri ân cảm tạ Ngài, được thể hiện qua những “lao công” họ đã thiện chí nỗ lực để canh tân và biến chế những gì thuộc về họ theo đúng như dự án của Ngài.

 

Như thế, trong phần dâng lễ vật, Kitô hữu dâng lên Thiên Chúa Hóa Công của mình cả những gì mình có (như được Ngài ban cho từ thế giới thiên nhiên) lẫn những gì mình làm (“lao công” phát xuất từ tấm lòng tri ân cảm tạ), để chúng trở nên những gì mình là theo Thánh Ý của Vị Thiên Chúa là Cha của con người, đó là sự kiện tất cả những gì họ dâng lên đó được Thánh Thần biến đổi, đúng hơn, chính bản thân của họ được Thánh Thần biến đổi nên giống Chúa Kitô, như chất thể bánh và chất thể rượu được Thánh Thần, qua lời truyền phép của vị chủ tế, được biến thành Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô vậy.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL (“Nguồn Sống Thần Linh”, Cao-Bùi, 5/2005,  trang 69-73)

 

Từ Thánh Thể đến Cánh Chung

 

Bởi vì, chất liệu được trở nên Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô chính là “hoa mầu ruộng đất” và “rượu bởi cây nho”. Nghĩa là, bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, qua lời vị chủ tế khẩn cầu trước mỗi lần Truyền Phép Thánh Hiến Bánh Rượu, những chất liệu thiên nhiên, tiêu biểu cho “toàn thể tạo vật” thuộc thế giới tự nhiên, sẽ được hoàn toàn biến đổi tận bản chất của mình, để trở thành thần linh và sự sống. Mỗi lần việc biến thể (transubstantiation), việc bánh trở nên Mình Thánh Chúa Giêsu và rượu trở nên Máu Thánh Chúa Giêsu xẩy ra trên bàn thờ trong Thánh Lễ là mỗi lần nhắc nhở cho Kitô hữu Công Giáo chúng ta chân lý cánh chung này, đó là chính thân xác tầm thường, hèn hạ và chết chóc của chúng ta sau cùng cũng sẽ được biến đổi nên giống như thân xác linh thiêng, hiển vinh và bất tử của Chúa Giêsu Kitô: “Người sẽ ban cho thân xác thấp hèn của chúng ta một thể thức mới và tái tạo nó theo như khuôn mẫu của thân xác hiển vinh Người, bằng quyền năng Người bắt mọi sự suy phục Người” (Phil 3:21).

 

Vẫn biết, trong ngày sau hết “tất cả mọi kẻ chết sẽ sống lại nơi thân thể như họ đang có hiện nay” (CĐ Lataranô IV năm 1215: DS 801), thế nhưng, chỉ có “những ai làm lành thì phục sinh để được sống, còn ai hành ác thì phục sinh để chịu luận phạt” (Jn 5:29; x Dan 12:2; Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, 998). Tức là thân xác của kẻ lành mới được biến đổi nên giống như thân xác vinh hiển của Chúa Kitô Phục Sinh, còn thân xác của thành phần hư đi tuy cũng được biến đổi thành linh thiêng nhưng lại là một tình trạng linh thiêng giống như ma quỉ trong hỏa ngục. Yếu tố chính yếu làm cho thân xác của kẻ lành được biến đổi trở thành vinh hiển giống như thân xác của Chúa Kitô Phục Sinh, hoàn toàn khác với thân xác của thành phần đời đời hư đi trong hỏa ngục chính là Sự Sống nơi kẻ lành khi còn sống trên trần gian trước khi chết, một Sự Sống họ đã lãnh nhận khi chịu Phép Rửa: “Nhờ phép rửa trong sự chết của Người, chúng ta đã được mai táng với Người, để như Đức Kitô nhờ vinh quang của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, chúng ta cũng được sống một sự sống mới như vậy” (Rm 6:4).

 

“Sự sống mới” đây là gì, nếu không phải, về phương diện thần học, là chính sự sống “tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:21), sự sống toàn thể tạo vật mong đợi nơi họ để được giải phóng và thông phần vào, sự sống được hiệp nhất nên một với Thiên Chúa, với chính mình, với tha nhân và với toàn thể thiên nhiên tạo vật như ngay từ khi con người còn ở trong tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy (x Giáo Lý GHCG, 399-400). Về phương diện tu đức, “sự sống mới” “tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa”, chính là “sống không theo xác thịt song theo thần trí” (Rm 8:4; x Col 5:16), vì “xác thịt hướng về sự chết còn thần trí hướng về sự sống và bình an” (Rm 8:6): “Nếu anh em sống theo xác thịt, anh em sẽ chết; nhưng nếu bởi thần trí anh em tiêu diệt những việc xấu xa của thân xác anh em sẽ sống” (Rm 8:13). “Những việc xấu xa của thân xác” hay của “xác thịt là dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Col 5:19-21); còn những việc hay “hoa trái của thần trí là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Col 5:22-23).

 

“Người ta chỉ gặt gái những gì họ đã gieo vãi. Nếu họ gieo vãi nơi thửa ruộng xác thịt, họ sẽ gặt hái được mùa màng băng hoại; nhưng nếu hạt giống gieo xuống của họ là thần trí thì họ sẽ gặt được sự sống trường sinh” (Gal 6:8). Đúng thế, “mùa gặt đây là tận thế” (Mt 13:39), lúc mà “Đấng ngự trên ngai phán phán: ‘Này đây Ta đổi mới mọi sự... Xong cả rồi! Ta là Alpha và Ômega, là Khởi Nguyên và là Cùng Tận. Chính Ta sẽ ban cho ai khát được uống nơi nguồn nước trường sinh mà không phải trả tiền. Ai thắng sẽ được hưởng hồng ân đó. Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy, và người ấy sẽ là con của Ta. Còn những kẻ hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ dối trá điêu ngoa, thì phần dành cho chúng là hồ lửa và diêm sinh ngùn ngụt cháy: đó là cái chết lần thứ hai’” (Rev 21:5-8).

 

Thiên Chúa chỉ hứa cứu chuộc con người tạo vật khỏi cái chết lần nhất mà thôi, như lời Ngài hứa với hai nguyên tổ sau khi sa phạm đó là Ngài sẽ cho “miêu duệ người nữ... đạp nát đầu” (Gen 3:15), “con cựu xà, tức Satan, tên cám dỗ cả thế gian” (Rev 12:9). Đức Giêsu Kitô, con của Đức Maria, “một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse thuộc giòng dõi Đavít” (Lk 1:27), thực sự đã “đạp nát đầu” (Gen 3:15) con cựu xà Satan bằng tử giá cứu độ của mình: “Chính vì để phá hủy các việc làm của ma quỉ mà Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra” (1Jn 3:8); “Một khi Tôi bị treo lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi” (Jn 12:32). Đúng thế, nhờ cuộc tử giá của Chúa Kitô, “Vị Mục Tử nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên” (Jn 10:11), mà đàn chiên Kitô hữu môn đệ của Người, qua Bí Tích Rửa Tội đã “được sự sống” (Jn 10:10), và qua Bí Tích Thánh Thể, còn được hưởng “một sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10), một sự sống phát xuất từ chính huyết nhục của Mẹ Maria được “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) mặc lấy: “Thịt Tôi là của ăn thật, máu Tôi là của uống thật. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong họ” (Jn 6:55-56).

 

Thật vậy, Thiên Chúa nhập thể làm người không phải chỉ để trở thành một Vị “Thiên Chúa ở giữa chúng ta” (Mt 1:23; Is 7:14) một cách tổng quát chung chung vậy thôi, mà Người còn muốn ở với và ở trong mỗi người chúng ta nữa, vì Người thương từng con chiên của Người, dù là con chiên lạc đàn duy nhất (x. Mt 18:10-14). Bởi thế, Người không chỉ muốn ở trong hồn thiêng bất tử của chúng ta bằng Ơn Thánh của Người mà thôi, Người còn muốn thực sự ở trong thân xác tro bụi hèn hạ tầm thường của chúng ta nữa bằng chính Thánh Thể của Người, vì Người chẳng những muốn cứu linh hồn chúng ta khỏi tội lỗi bằng Thánh Giá của mình, Người còn muốn cứu cả thân xác hữu hình và hữu hạn của chúng ta khỏi sự chết bằng Thánh Thể của Người nữa, nghĩa là Người muốn cả thân xác của chúng ta cũng sẽ được sống lại như thân xác hiển vinh của Người trong ngày sau hết.

 

Như thế, quả thật Thánh Thể có liên quan hết sức mật thiết đến “việc cứu độ của thân xác chúng ta” (Rm 8:23): “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời, phần Tôi sẽ làm cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Jn 6:54). Tuy nhiên, tác nhân làm cho thân xác của những ai ăn Thịt và uống Máu Chúa Kitô sống lại trong ngày sau hết giống như thân xác vinh hiển của Người đây là ai, nếu không phải là chính Thánh Linh, Đấng bao giờ cũng được Giáo Hội cầu khẩn trước khi thánh hiến bánh rượu trên bàn thờ, để nhờ Ngài bánh rượu được trở nên Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô: “Nếu Thần Linh của Đấng đã phục sinh Chúa Giêsu từ trong kẻ chết ở trong anh em thì Đấng đã phục sinh Chúa Kitô từ trong kẻ chết sẽ mang sự sống đến cho thân xác chết chóc của anh em, bằng Thần Linh của Ngài ở trong anh em” (Rm 8:11).

 

Tuy nhiên, không phải cho đến khi thân xác con người ăn Mình Thánh và uống Máu Thánh Chúa Kitô khi còn sống sắp phục sinh từ trong cõi chết Thần Linh của Thiên Chúa mới “mang sự sống đến cho thân xác chết chóc” của họ, mà là ngay từ khi họ còn sống trong thân xác của họ trên thế gian này. Ở chỗ, “Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống” (Kinh Tin Kính) làm cho họ càng ngày càng nhận biết Chúa Kitô hơn (x Jn 16:13), để rồi, nhờ nhận biết Chúa Kitô, một nhận biết chính là sự sống trường sinh (x Jn 17:3), họ sẽ sống Chúa Kitô, tức sẽ tác hành như Chúa Kitô, đến nỗi, không phải họ sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong họ (x Gal 2:20), một sự sống khiến cho những ai thấy họ là nhận ra Chúa Kitô (x Jn 13:15).

 

Sự sống Chúa Thánh Thần làm cho thế gian nhận ra Chúa Kitô nơi những ai lãnh nhận Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô đây chính là sự sống “yêu thương như Thày yêu” (Jn 15:12, x 13:34), một tình yêu cao cả đã hiến mạng sống mình vì người mình yêu (x Jn 15:13). Như thế, khi Kitô hữu sống tình yêu cao cả này của Chúa Kitô và như Chúa Kitô là họ chẳng những thực sự “cử hành mầu nhiệm thánh” (theo lời kêu gọi thống hối mở đầu mỗi Thánh Lễ), cử hành Mầu Nhiệm Yêu Thương của Thiên Chúa được lập lại trong Hiến Tế Thánh Thể, một mầu nhiệm đòi con người phải biết yêu thương tha thứ cho nhau mới hội đủ điều kiện xứng đáng để dâng tiến (x Mt 5:23-24), mà họ còn thực sự “làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lk 22:19; 1Cor 11:24) ngay trong cuộc sống của họ nữa, chứ không phải chỉ ở trên bàn thờ khi dâng lễ thôi, vì họ làm cho biến cố Tử Giá Cứu Độ có tác dụng “một lần là vĩnh viễn” (Heb 7:27, 10:10; 1Pet 3:18) của Chúa Kitô tái diễn “cho tới khi Chúa lại đến” (như lời tung hô sau truyền phép), một cách hiển nhiên và sống động trên thế gian, chứ không phải một cách bí tích và mầu nhiệm chỉ có ở trong phụng vụ và nội bộ cộng đồng Dân Chúa thôi.

 

Nếu cuộc đời của những người lãnh nhận Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô sống Tình Yêu cao cả của Người thực sự cử hành một Thánh Lễ sống động như thế, thì bản thân họ, nhân tính của họ nói chung và thân xác của họ nói riêng, như Chúa Kitô, cũng đã trở thành một “con chiên bị đem đi sát tế” (Is 53:7), một “con chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Jn 1:29). Vì “theo Con Chiên đi đến bất cứ nơi nào Con Chiên đến” (Rev 14:4) như vậy mà “khi Con Người đến trong vinh quang, ngự trên ngai, có tất cả các thiên thần hầu chực và muôn dân tụ họp trước nhan Người” (Mt 25:31-32), họ mới là thành phần “chiên ở bên phải Người” (Mt 25:33), thành phần được Người nhận biết và tưởng thưởng hết sức xứng đáng vì những việc họ làm “khi họ còn sống ở trong thân xác” (2Cor 5:10) để đáp ứng những nhu cầu cụ thể hầu như liên quan trực tiếp đến thể lý của tha nhân là những con người vô cùng cao quí đã được chính Vị Thiên Chúa Làm Người Giêsu Kitô đồng hóa với Người: “Hãy đến. Các con được Cha Ta chúc phúc! Hãy hưởng vương quốc đã sắm sẵn cho các con từ khi tạo thành thế gian. Vì khi Ta đói các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống. Khi Ta là khách lạ các con đã đón nhận Ta, trần truồng các con đã cho Ta mặc. Khi Ta đau yếu các con đã an ủi Ta, tù ngục các con đã đến viếng thăm Ta... vì bao lâu các con làm như thế cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta là các con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:35- 36, 40).

 

Nếu con người lãnh nhận Thánh Thể Chúa Kitô thực sự có thể sống Chúa Kitô, có thể yêu thương như Người đã yêu thương, thì không phải là thân xác của họ đang được Thần Linh của Người biến đổi làm cho nên giống thân xác vinh hiển của Người ngay ở đời này rồi hay sao? Ở chỗ, xác thịt vốn là một thực thể hướng chiều về sự chết (x Rm 8:6): “Cái gì sinh bởi xác thịt là xác thịt” (Jn 3:6), lại có thể sinh hoa trái sự sống yêu thương. Vậy để biết mình đã hơn một lần hay vẫn thường xuyên lãnh nhận Thánh Thể Chúa Kitô có thực sự sống sự sống của Người hay chưa, tức đã được Thần Linh của Người biến đổi hay chưa, chúng ta hãy thực tâm xét mình lại xem, về phần tiêu cực, chúng ta có còn dùng miệng lưỡi vẫn há ra rước lấy Thánh Thể vô cùng cao trọng của Người để nói hành, nói xấu, chê bai, hành tỏi nhau, hoặc có còn tự nhiên ham thích khoái lạc xác thịt thấp hèn cả về tình dục và cảm quan, cả về việc đua đòi tiện nghi và say sưa chè chén, trái lại, về mặt tích cực, chúng ta có biến thân xác của mình trở thành khí cụ cho đức chính trực (x Rm 6:13) trong việc phục vụ tha nhân, tức trở thành bánh nuôi sống nhân gian chăng? Nếu chưa hay rồi, chúng ta cũng hãy Sống Thánh Thể hơn nữa, bằng cách “liên lỉ mang trong mình cái chết của Chúa Giêsu để sự sống của Chúa Giêsu được tỏ hiện trong thân xác của chúng ta” (2Cor 4:10).

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL (“Nguồn Sống Thần Linh”, Cao-Bùi, 5/2005,  trang 137-144)

 

 

TOP

 

 

Lễ Thánh Thần Hiện Xuống ở Quảng Trường Thánh Phêrô Chúa Nhật 4/6/2006

Anh Chị Em thân mến!

Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đầy quyền năng đã xuống trên các vị tông đồ; nhờ đó mở màn cho sứ vụ của Giáo Hội trên thế giới. Chính Chúa Giêsu đã sửa soạn cho 11 Vị thực hiện sứ vụ này bằng việc hiện ra với các vị một số lần sau cuộc phục sinh của Người (x Acts 1:3).

 

Trước khi thăng thiên về trời, ‘Người đã bảo các vị đừng rời khỏi Giêrusalem, song hãy chờ đợi lời hứa của Cha’ (x Acts 1:4-5); tức là, Người đã xin các vị hãy qui tụ lại với nhau để dọn mình lãnh nhận tặng ân Thánh Linh. Và các vị đã tụ họp lại với Mẹ Maria để cầu nguyện ở Nhà Tiệc Ly, trong khi chờ đợi biến cố hứa hẹn ấy (x Acts 1:14).

 

Việc qui tụ lại với nhau là điều kiện được Chúa Giêsu đặt ra để lãnh nhận tặng ân Thánh Linh; bản tóm lược của việc họ sống hòa hợp với nhau đó là việc các vị cầu nguyện lâu dài. Như thế chúng ta được cống hiến cho thấy một bài học sâu xa mãnh liệt cho hết mọi cộng đồng Kitô hữu.

 

Có những lúc người ta nghĩ rằng việc hiệu nghiệm về vấn đề truyền giáo chính yếu lệ thuộc vào vấn đề can thận hoạch định cùng việc khôn lanh áp dụng sau đó qua việc cụ thể dấn thân. Chúa Kitô chắc chắn không muốn chúng ta hợp tác, nhưng trước bất cứ một đáp ứng nào thì việc Người tác động là những gì cần thiết: Thánh Thần thực sự đóng vai chủ yếu của Giáo Hội. Những căn gốc của việc chúng ta hiện hữu cũng như của hành động chúng ta đều ở nơi việc thinh lặng khôn ngoan và quan phòng của Thiên Chúa.

 

Những hình ảnh được Thánh Luca sử dụng để nói lên việc Thánh Linh xâm nhập – gió và lửa – đã nhắc lại núi Sinai, nơi Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân Yến Duyên và lập giao ước của Ngài (x Ex 19:3ff). Cuộc lễ ở Sinai được dân Yến Duyên cử hành 50 ngày sau Lễ Vượt Qua là ngày lễ Giao Ước.

 

Khi nói về những ngọn lưỡi lửa (x Acts 3), Thánh Luca muốn cho thấy Lễ Ngũ Tuần như một Sinai mới, như một lễ Giao Ước mới, trong giao ước mới này Giao Ước với dân Yến Duyên được bao gồm tất cả mọi dân tộc trên trái đất này. Giáo Hội là công giáo và truyền giáo tự bẩm sinh. Tính cách phổ quát của ơn cứu độ được thể hiện với một bản liệt kê nhiều nhóm thiểu số có những kẻ nghe bài giảng tiên khởi của các vị tông đồ (x Acts 2:9-11).

 

Dân Chúa, một dân có được một hình dạng trên Núi Sinai, ngày nay vươn dài lớn rộng tới độ bao trùm mọi chướng ngại về chủng tộc, văn hóa, không gian và thời gian. Như những gì ngược lại với sự kiện xẩy ra ở tháp Babel, lúc dân chúng muốn xây dựng một con đường cao lên tới trời bằng bàn tay của họ, thì họ lại đi tới chỗ hủy hoại đi khả năng hiểu biết lẫn nhau. Cuộc Hiện Xuống của Thần Linh, với tặng ân ngôn ngữ, cho thấy rằng việc hiện diện của Ngài là những gì nối kết và biến đổi tình trạng hỗn độn thành mối hiệp thông.  Cái cao ngạo và thần tôi của con người là những gì luôn tạo nên những thứ chia rẽ, dựng nên những bức tường dửng dưng lạnh lùng, hận thù và bạo lực.

 

Trái lại, Thánh Thần là Đấng làm cho tâm can có thể hiểu được các ngôn ngữ của mọi người, vì Ngài tái thiết lập nhịp cầu hiệp thông chân chính giữa đất và trời. Thánh Linh là tình yêu.

 

Thế nhưng, làm thế nào để có thể đi sâu vào mầu nhiệm Thánh Linh? Làm sao để có thể hiểu được bí mật của tình yêu? Đoạn Phúc Âm này hôm nay đưa chúng ta về Nhà Tiệc Ly là nơi Bữa Tiệc Ly đã kết thúc, một cảm nghiệm về những gì chưng hửng khiến các vị tông đồ buồn đau. Lý do đó là những lời lẽ của Chúa Giêsu đã khơi động những vấn đề nhức nhối: Người đã nói về việc thế giới thù ghét Người cũng như những ai thuộc về Người, Người đã nói về việc ra đi bí nhiệm của Người; về nhiều điều cần phải nói nhưng bấy giờ các tông đồ chưa thể nào thấu hiểu nổi (x Jn 16:12).

 

Để an ủi các vị, Người đã giải thích ý nghĩa về việc ra đi của Người: Người sẽ ra đi, song Người sẽ trở lại; trong khi đó Người không bỏ rơi các vị, không để họ mồ côi. Người sẽ sai Đấng An Ủi, Thần Linh của Cha, và là vị Thần Linh có thể làm cho các vị biết rằng công việc của Chúa Kitô là một công việc của yêu thương: một tình yêu thương của Đấng đã hiến mạng sống mình, một tình yêu thương của Cha là Đấng đã trao ban Người.

 

Đó là mầu nhiệm của Lễ Hiện Xuống: Thánh Thần soi sáng tâm linh con người, và trong việc tỏ Chúa Kitô tử giá và phục sinh ra, Ngài cho thấy đường lối trở nên giống Người hơn, tức là trở thành ‘biểu hiện và dụng cụ của tình yêu xuất phát từ Ngài’ (Deus Caritas Est, 33). Cùng với Mẹ Maria, Giáo Hội, như khi mới được hạ sinh, ngày nay vẫn kêu cầu: ‘Veni Sancte Spiritus! – Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến để làm tràn đầy tâm can thành phần tín hữu của Ngài và đốt lên ngọn lửa tình yêu của Ngài trong họ!’ Amen.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 4/6/2006

 

TOP

 

 

“Thánh Thần, qua Ngài Thiên Chúa đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta sự sống và tự do”.

 

(Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Phụng Vụ Giớ Kinh Tối Đêm Canh Thức Hiện Xuống ngày 3/6/2006 với Các Phong Trào và Tân Cộng Đồng trong Giáo Hội)

 

‘Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến’

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Anh chị em tới Quảng Trường Thánh Phêrô tối hôm nay thật là đông đảo để tham dự vào Buổi Canh Thức Hiện Xuống. Tôi thân ái chào anh chị em. Anh chị em thuộc về các dân tộc và văn hóa khác nhau và đến đây đạo diện cho tất cả mọi phần tử thuộc các phong trào và tân cộng đồng trong Giáo Hội, thành phần qui tụ một cách thiêng liêng chung quanh Vị Thừa Kế Thánh Phêrô để loan báo niềm vui tin tưởng nơi Chúa Giêsu Kitô cũng như để lập lại quyết tâm làm thành phần môn đệ trung thành trong thời đại của chúng ta. 

 

Tôi cám ơn việc anh chị em tham dự và gửi lời chào thân ái đến từng anh chị em. Trước hết tôi ưu ái nghĩ đến các vị hồng y, đến quí huynh khả kính của tôi trong hàng giáo phẩm và hàng linh mục, cũng như đến những tu sĩ nam nữ.

 

Tôi chào những người mang trọng trách đối với nhiều hội đoàn của Giáo Hội, những người cho thấy tác động của Chúa Thánh Thần sống động nơi Dân Chúa. Tôi chào những ai đứng ra lo tổ chức biến cố đặc biệt này, nhất là những người làm việc tại Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân với Giám Mục Josef Clemens, bí thư, và Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Rylko, chủ tịch, vị tôi xin cám ơn về những lời lẽ ưu ái vào lúc mở đầu Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối này.

 

Một cuộc gặp gỡ tương tự như thế này cũng đã diễn ra tại chính Quảng Trường đây vào ngày 30/5/1998, với vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu đã hiện lên trong tâm trí. Là một đại truyền bá phúc âm hóa của thời đại chúng ta, ngài đã hỗ trợ và hướng dẫn anh chị em suốt giáo triều của ngài.

 

Ngài đã diễn tả những hiệp hội và cộng đồng của anh chị em vào nhiều dịp là những gì ‘hợp thời’, nhất là vì Thần Linh Thánh Hóa sử dụng những tổ chức này để khơi động đức tin nơi rất nhiều tâm can Kitô hữu, cũng như để tỏ cho họ thấy ơn gọi họ đã lãnh nhận khi chịu phép rửa. Ngài cũng giúp họ trở thành thành phần chứng nhân hy vọng tràn đầy lửa yêu thương được chính Thánh Linh tuôn đổ xuống trên chúng ta.

 

Chúng ta giờ đây hãy tự hỏi rằng vào Đêm Canh Thức Hiện Xuống đây Thánh Thần là ai hay là gì? Làm thế nào chúng ta có thể nhận ra Ngài? Làm thế nào chúng ta đến với Ngài và làm sao Ngài đến với chúng ta? Đâu là những gì Ngài làm?

 

Bài đại thánh ca Hiện Xuống của Giáo Hội được chúng ta mở màn cho Giờ Kinh Tối, ‘Veni, Creator Spiritus… Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến’, là câu trả lời đầu tiên. Ở đây, bài thánh ca này ám chỉ tới những câu Thánh Kinh đầu tiên diễn tả việc tạo dựng vũ trụ bằng những hình ảnh ấy.

Trước hết, Thánh Kinh nói rằng Thần Linh Chúa di động trên những giao động, trên các giòng nước của vực thẳm.

 

Thế giới chúng ta đang sống đây là công việc của Thần Linh Sáng Tạo. Lễ Hiện Xuống chẳng những là khai nguồn của Giáo Hội và nhờ đó đặc biệt trở thành ngày lễ của Giáo Hội; Lễ Hiện Xuống cũng còn là ngày lễ của thiên nhiên tạo vật nữa. Thế giới này không tự mình hiện hữu, nó được hiện hữu bởi Thần Linh sáng tạo của Thiên Chúa, bởi Lời sáng tạo của Thiên Chúa.

 

Đó là lý do Lễ Hiện Xuống cũng phản ảnh đức khôn ngoan của Thiên Chúa nữa. Theo tính cách sâu rộng cũng như theo lý lẽ toàn diện về các thứ lề luật của mình, đức khôn ngoan của Thiên Chúa cho phép chúng ta được thoáng thấy một chút gì đó về Vị Thần Linh Sáng tạo của Ngài. Nó gợi lên một niềm kính sợ. 

 

Chính những con người, thành phần, như Kitô hữu, tin vào Vị Thần Linh Sáng Tạo, ý thức được sự kiện là chúng ta không thể sử dụng hay lạm dụng thế giới và thể chất chỉ thuần là vật chất cho hoạt động và ước muốn của chúng ta; sự kiện là chúng ta cần phải coi thiên nhiên tạo vật là một tặng ân được ban cho chúng ta không phải là để bị hủy diệt, mà để trở thành khu vườn của Thiên Chúa, do đó, cũng trở thành một khu vườn cho con người nam nữ vậy.

 

Trước nhiều hình thức lạm dụng trái đất chúng ta thấy ngày nay, chúng ta có thể thực sự nghe thấy tiếng rên xiết của tạo vật được Thánh Phaolô nói tới (Rm 8:22); chúng ta hãy bắt đầu hiểu những lời này của Thánh Tông Đồ, đó là thiên nhiên tạo vật nhẫn nại đợi chờ việc tỏ hiện đó là việc chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, được giải thoát khỏi nô lệ và chiếm được vinh quang rạng ngời của mình.

 

Tạo vật nhẫn nại đợi chờ việc tỏ hiện đó là việc chúng ta trở  thành con cái của Thiên Chúa

 

Các bạn thân mến, chúng ta cần phải trở thành những người con cái này của Thiên Chúa là thành phần tạo vật đợi trông, và chúng ta có thể trở nên những người con cái ấy vì Chúa đã làm cho chúng ta như thế nơi phép rửa. Phải, tạo vật và lịch sử – cả hai đang đợi chờ chúng ta, đang chờ đợi những con người nam nữ thật sự là thành phần con cái của Thiên Chúa và tác hành như thế.

 

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy rằng tạo vật đã nẩy nở chung quanh các đan viện, như thể, với việc tái khơi động của Thần Linh Chúa nơi tâm can con người, ánh quang của Thần Linh Tạo Dựng cũng được hoàn trả lại cho trái đất – một vinh quang rạng ngời đã bị phủ lấp và có những lúc thậm chí bị daâp tắt đi bởi tính cách dã man của cái say mê quyền lực của con người. 

 

Chưa hết, điều đã từng xẩy ra một lần quanh Thánh Phanxicô Assissi – nó cũng xẩy ra khắp nơi khi Thần Linh Chúa thẩm thấu linh hồn, Vị Thần Linh được bài thánh ca của chúng ta hiễn tả là ánh sáng, yêu thương và sức mạnh.

 

Như thế, chúng ta đã khám phá ra câu giải đáp tiên khởi cho vấn nạn Thánh Thần là gì, Ngài làm những chi và làm sao chúng ta có thể nhận ra Ngài. Ngài đến để gặp gỡ chúng ta nơi thiên nhiên tạo vật và vẻ đẹp của chúng.

 

Tuy nhiên, trong giòng lịch sử của nhân loại, có một lớp bụi bao phủ tạo vật của Thiên Chúa, một lớp bụi làm cho nó khó khăn nếu không muốn nói là bất khả thấy được nơi nó hình ảnh của Đấng Hóa Công, mặc dù kiến thức về việc Thiên Chúa hiện hữu được tái khơi lên trong chúng ta mới mẻ hơn bao giờ hết, thực sự bộc phát một cách tự nhiên trước cảnh hoàng hôn trên biển cả, vào một cuộc du ngoạn núi non hay trước một bông hoa vừa rộ nở.

 

Thế nhưng, Vị Thần Linh Sáng Tạo đã đến hỗ trợ chúng ta. Ngài đã đi vào lịch sử và nói với chúng ta một cách mới mẻ. Nơi Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa đã làm người và cho phép chúng ta, có thể nói, thoáng nhìn thấy được thâm tâm của chính Thiên Chúa.

 

Và ở đó, chúng ta thấy một cái gì đó hoàn toàn bất ngờ: đó là, nơi Thiên Chúa, có một cái ‘Tôi’ và một cái ‘Ngươi’ hiện hữu. Vị Thiên Chúa nhiệm mầu này không phải là vị Thiên Chúa muôn đời cô độc, Ngài là một biến cố yêu thương. Nếu nhờ nhìn ngắm tạo vật chúng ta nghĩ chúng ta có thể thoáng thấy được Vị Thần Linh Sáng tạo này, thoáng thấy được chính Thiên Chúa, chứ không phải là một thứ toán học sáng tạo, như một quyền lực làm nên các thứ luật lệ của thế giới này cùng trật tự của chúng, thì bấy giờ, thậm chí dù cũng thấy như là một vẻ đẹp, chúng ta mới nhận thấy rằng Vị Thần Linh Sáng tạo này có cả một trái tim. Ngài là tình yêu.

 

Chúa Con, Đấng nói cho Chúa Cha, hiện hữu, và cả hai là một trong Thần Linh, Đấng có thể nói tạo nên bầu khí ban phát và yêu thương làm cho cả hai là một Thiên Chúa duy nhất. Mối hiệp nhất yêu thương là Thiên Chúa này, là một mối hiệp nhất cao cả hơn mối hiệp nhất của một phân tử bất khả phân chia bền bỉ nữa. Chính Vị Thiên Chúa Ba Ngôi là Một Vị Thiên Chúa duy nhất.

 

Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta có thể thoáng nhìn thấy nội tâm của Thiên Chúa. Thánh Gioan, trong Phúc Âm của ngài, đã diễn tả điều này như sau: ‘Không ai đã từng thấy Thiên Chúa; chỉ có Con, Đấng hằng ở trong lòng Cha, Đấng tỏ Ngài ra mà thôi’ (Jn 1:18).

 

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chỉ để cho chúng ta thấy được nội tâm của Thiên Chúa; với Người, Thiên Chúa thực sự còn từ nội tâm của mình mà đến gặp gỡ chúng ta nữa. Điều này đặc biệt xẩy ra nơi đời sống của Người, nơi cuộc khổ nạn, tử giá và Phục Sinh của Người; nơi những lời của Người.

 

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không hài lòng với việc đến với chúng ta. Người còn muốn hơn thế nữa. Người muốn hiệp nhất hóa. Đó là ý nghĩa của các hình ảnh về bữa tiệc cưới.

 

Chúng ta chẳng những cần phải biết một cái gì đó về Người, mà còn nhờ Người, chúng ta cần phải được lôi kéo đến với Thiên Chúa nữa. Vì lý do này, Người đã phải chết đi và được phục sinh, vì Người giờ đây không còn được thấy ở bất cứ nơi nào nữa, mà Thần Linh của Người, Thánh Thần, thoát tỏa từ Người và thấm vào lòng chúng ta, nhờ đó, hiệp nhất chúng ta với chính Chúa Giêsu và với Chúa Cha, với Vị Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

Lễ Hiện Xuống là ở chỗ Chúa Giêsu, và qua Người chính Thiên Chúa, thực sự đã đến với chúng ta và kéo chúng ta đến với chính Người: ‘Người đã sai Thánh Thần đến’ – đó là những gì Thánh Kinh nói. Tác dụng của Lễ Hiện Xuống này là gì?

 

Trước hết tôi muốn nói tới hai khía cạnh: Thánh Thần, qua Ngài Thiên Chúa đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta sự sống và tự do. Chúng ta hãy lưu ý hơn chút nữa đến hai điều.

 

Thánh Thần mang lại cho chúng ta sự sống.

 

‘Thày đến cho chúng được sự sống và là một sự sống viên mãn’, Chúa Giêsu đã nói trong Phúc Âm Thánh Gioan (10:10). Sự sống và tự do: Đấy là những điều tất cả chúng ta đều mong ước. Thế nhưng, điều này nghĩa là gì – tức chúng ta tìm thấy ‘sự sống’ ở đâu và ra sao?

 

Tôi nghĩ rằng đại đa số nhân loại tự nhiên có cùng một quan niệm về sự sống như Người Con Hoang Đàng trong Phúc Âm. Anh ta được chia cho phần gia tài của mình, để rồi cảm thấy được tự do thoải mái; thật ra, những gì anh ta muốn là được sống không còn nặng gánh bởi những nhiệm vụ trong gia đình mà  chỉ biết sống thôi. Anh ta muốn được tất cả mọi thứ sự sống có thể cung cấp cho. Anh ta muốn hoan hưởng nó cho đến tận cùng – sống, chỉ biết sống, sống chìm đắm vào những gì là sung mãn của cuộc sống, không làm mất đi một cái gì nơi tất cả những cái đáng giá cuộc sống có thể cống hiến cho.

 

Kết cục anh ta lâm vào cảnh chăn heo, thậm chí thèm thuồng cả những con thú ấy nữa – cuộc sống của anh ta trở thành quá ư là trống rỗng và quá ư là vô dụng. Rồi cả cái tự do của anh ta cũng trở nên vô bổ.

 

Khi tất cả những gì con người muốn có nơi cuộc sống là việc chiếm hữu lấy sự sống, thì nó trở thành trống rỗng và bần cùng hơn bao giờ hết, dễ dẫn tới chỗ tìm nương tựa nơi thuốc phiện, nơi những gì thật là gian trá. Thế rồi những ngờ vực nổi lên như cho rằng sự sống phải chăng thực sự là một sự thiện. 

 

Không, chúng ta không tìm kiếm sự sống như thế. Những lời của Chúa Giêsu về sự sống viên trọn là những gì được chất chứa nơi bài giảng Vị Chủ Chiên Nhân Lành. Những lời của Người có một chiều kích lưỡng diện.

 

Liên quan tới vị chủ chiên, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng Người thí sự sống của Người đi. ‘Không ai có thể lấy được sự sống của Tôi, mà là Tôi tự ý bỏ nó đi’ (x Jn 10:18). Chỉ ở nơi việc hiến ban sự sống mới tìm được sự sống; sự sống không thể nào thấy được bằng việc tìm cách chiếm hữu nó. Đó là những gì chúng ta cần phải học nơi Chúa Giêsu; và Chúa Thánh Thần dạy chúng ta rằng nó là một tặng ân tinh tuyền, nó là tặng ân ban mình của Thiên Chúa. Con người càng ban phát sự sống mình cho người khác thì lại càng dồi dào sung mãn như con sống sự sống tuôn trào.

 

Sau nữa, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng sự sống triển nở nơi việc bước đi với vị Chủ Chiên là vị quen thuộc với đồng cỏ – tức những nơi là nguồn mạch tuôn trào của sự sống.

 

Chúng ta tìm thấy sự sống nơi mối hiệp thông với Đấng đích thân là sự sống – nơi mối hiệp thông với vị Thiên Chúa hằng sống, một mối hiệp thông chúng ta được Chúa Thánh Thần dẫn vào, Đấng được bài thánh ca Giờ Kinh Tối gọi là ‘fons vivus’, nguồn mạch sự sống.

 

Đồng cỏ là nơi tuôn trào sự sống đây là Lời Chúa như chúng ta thấy trong Phúc Âm, trong niềm tin của Giáo Hội. Đồng cỏ đây là chính Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết trong mối hiệp thông đức tin nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.

 

Quí bạn thân mến, các phong trào được xuất phát chính là vì niềm khao khát sự sống chân thực; chúng là những phong trào về sự sống, dù ở khía cạnh nào đi nữa.

 

Ở đâu nguồn mạch sự sống chân thực không còn tuôn chảy nữa thì ở đó con người chỉ chiếm hưởng sự sống thay vì ban phát nó, và bất cứ nơi nào con người sẵn sàng hủy bỏ sự sống thai nghén vì sự sống đó dường như chiếm chỗ nơi đời sống của họ, thì ở đó sự sống của người khác bị nguy hiểm hết sức.

 

Nếu chúng ta muốn bảo vệ sự sống thì trên hết chúng ta cần  phải tái khám phá ra nguồn mạch của sự sống; bấy giờ sự sống mới tái hiện lên với tất cả vẻ đẹp và cao quí củanó; bấy giờ chúng ta mớithấy mình được Chúa Thánh Thần là nguồn sáng tạo của sự sống làm cho nẩy nở.

 

Thánh Thần mang lại cho chúng ta tự do

 

Vấn đề về tự do vừa được đề cập tới. Việc ra đi của Người Con Hoang Đàng thực sự là những gì liên quan tới những vấn đề sự sống và tự do. Anh ta muốn sự sống và bởi đó muốn hoàn toàn được tự do. Muốn được tự do, theo quan điểm ấy, có nghĩa là có thể làm bất cứ điều gì tôi thích, không bị ràng buộc vào bất cứ một chuẩn tắc nào ở ngoài, ở trên và vượt trên bản thân mình. Nghĩa là theo những ước muốn riêng của mình và chỉ những gì tôi muốn mà thôi.

 

Những ai sống như thế chẳng mấy chốc sẽ đụng độ với kẻ khác là thành phần cũng muốn sống như thế. Hậu quả bất khả tránh của thứ quan niệm tự do vị kỷ này đó là việc phạm tới và việc hủy diệt lẫn nhau tự do và sự sống.

 

Trái lại, Thánh Kinh liên kết quan niệm sự sống với quan niệm về vai trò làm con cái. Thánh Phaolô nói: ‘Anh chị em không lãnh nhận thần trí nô lệ tái rơi vào tình trạng sợ hãi, mà anh chị em đã lãnh nhận được thần trí con cái, nhờ đó chúng ta kêu lên Abba, Lạy Cha!’ (Rm 8:15). Điều này nghĩa là gì?

 

Thánh Phaolô có ý nói tới thể chế xã hội của một thế giới có thành phần nô lệ ngày xưa. Họ chẳng có gì cả, bởi thế họ không thể dự phần vào việc phát triển một cách xứng hợp đối với các sự vật.

 

Với tư thế tương xứng, có những người con là thành phần thừa kế nên cũng liên quan tới việc bảo trì và điều hành tốt đẹp sản vật của họ hay việc bảo trì của quốc gia. Vì họ là thành phần tự do mà họ cũng là thành phần có trách nhiệm.

 

Bỏ ra ngoài cái bối cảnh về xã hội học vào thới ấy, nguyên tắc của nó vẫn là những gì xác thực: Tự do và trách nhiệm đi đôi với nhau. Tự do thực sự được chứng tỏ nơi trách nhiệm, nơi cách thức tác hành mà con người lãnh nhận trách nhiệm chung đối với thế giới này, đối với bản thân cũng như đối với người khác.

 

Người con nào có những sự vật và bởi thế không để cho chúng bị hủy hoại đi là người con tự do. Tất cả mọi trách nhiệm về trần thế chúng ta nói tới đây dù sao cũng chỉ là những trách nhiệm bán phần đối với một lãnh vực chuyên biệt nào, đối với một trường hợp nào mà thôi v.v.

 

Trái lại, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở thành con cái nam nữ của Thiên Chúa. Ngài bao gồm chúng ta trong cùng một trách nhiệm Thiên Chúa đảm nhận đối với thế giới của Ngài, đối với toàn thể nhân loại. Ngài dạy chúng ta hãy nhìn vào thế giới, vào người khác và vào chính mình bằng con mắt của Thiên Chúa. Chúng ta không hành thiện như những kẻ nô lệ là thành phần không được quyền làm khác đi, song chúng ta thực hiện điều thiện vì chúng ta đích thân có trách nhiệm với thế giới, vì chúng ta yêu mếnh sự thật và sự thiện, vì chúng ta yêu mến chính Thiên Chúa, và bởi thế cũng yêu mến cả các tạo vật của Ngài nữa. Đó là niềm tự do chân thực Chúa Thánh Thần muốn dẫn chúng ta tới.

 

Các phong trào trong giáo hội muốn và cần phải trở thành những học đường dạy về tự do, về thứ tự do đích thực này. Chúng ta hãy học nơi những học đường ấy niềm tự do thực sự ấy, chứ không phải thứ tự do của hạng nô lệ nhắm đến việc tự cắt đi một mảnh bánh thuộc về hết mọi người, cho dù một số người cắt đi mảnh bánh của người khác ấy cũng chẳng chiếm được mảnh bánh này chăng nữa.

 

Chúng ta muốn thứ tự do thật sự cao cả, thứ tự do của thành phần thừa kế, thứ tự do của con cái Thiên Chúa. Trên thế giới này, một thế giới đầy những hình thức tự do hư cấu làm hủy hoại đi môi sinh và con người, chúng ta hãy học biết tự do đích thực bằng quyền năng của Thánh Linh; hãy xây dựng học đường dạy tự do; hãy tỏ cho người khác qua cuộc sống của mình rằng chúng ta là thành phần tự do và đẹp biết bao được thực sự tự do bằng niềm tự do của con cái Thiên Chúa.

 

Thánh Thần mang lại cho chúng ta hiệp nhất

 

Chúa Thánh Thần, trong việc ban sự sống và tự do, cũng ban phát mối hiệp nhất nữa. Đây là 3 tặng ân bất khả phân ly. Tôi đã nói quá dài; nhưng xin để tôi nói vài lời về mối hiệp nhất.

 

Để hiểu được mối hiệp nhất, chúng ta có thể thấy được một câu nói hữu ích là những gì mới đầu dường như tách chúng ta khỏi mối hiệp nhất này. Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô là người đến tìm gặp Người ban đêm với các vấn nạn trong lòng, rằng: ‘Gió muốn thổi đâu thì thổi’ (Jn 3:8). Thế nhưng, ý muốn của Thần Linh không phải là những gì độc đoán. Ý muốn của Ngài là ý muốn của sự thật và sự thiện.

 

Bởi thế, Ngài không thổi từ bất cứ nơi đâu, lúc thì từ chỗ này, lúc thì từ chỗ khác, hơi thở của Ngài không bừa bãi nhưng đem chúng ta lại với nhau, vì sự thật là những gì hiệp nhất và yêu thương là những gì liên kết.

 

Thánh Thần là Thần Linh của Chúa Giêsu Kitô, Vị Thần Linh hiệp nhất Cha và Con trong Yêu Thương, một Yêu Thương Ngài ban tặng và lãnh nhận trong một Thiên Chúa duy nhất. Ngài hiệp nhất chúng ta lại với nhau chặt chẽ tới độ Thánh Phaolô đã có lần nói: ‘Anh chị em tất cả đều là một trong Chúa Giêsu Kitô’ (Gal 3:28). Bằng hơi thở của mình, Chúa Thánh Thần thôi thúc chúng ta hướng về Chúa Kitô. Chúa Thánh Thần tác động một cách thể lý; Ngài không phải chỉ tác động một cách chủ quan hay ‘một cách linh thiêng’.

 

Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với các môn đệ cứ tưởng là họ xem thấy một thứ ‘thần thiêng’ rằng: ‘Chính là Thày đây; hãy chạm đến Thày mà coi; vì thần thiêng làm gì có xương có thịt như các con thấy Thày có đây’ (x Lk 24:39).

 

Điều này áp dụng cho Chúa Kitô Phục Sinh ở vào hết mọi giai đoạn của lịch sử. Chúa Kitô Phục Sinh không phải là một con ma, Người không phải là một thần thiêng thuần túy, là một tư tưởng, một tư tưởng thuần túy.

 

Người vẫn là Đấng nhập thể – chính Đấng Phục Sinh đã mặc lấy xác thịt của chúng ta – và luôn tiếp tục xây dựng Thân Thể của Người, làm cho chúng ta thành Thân Thể của Người. Thần Linh thổi đâu tùy ý của Ngài, và ý muốn của Ngài là mối hiệp nhất được hiện thân, một mối hiệp nhất gặp gỡ thế giới và biến đổi thế giới.

 

Trong bức thư gửi cho giáo đoàn Êphêsô, Thánh Phaolô đã nói với chúng ta rằng Thân Thể này của Chúa Kitô, là Giáo Hội, có những đầu mối (x 4:16) và thậm chí ngài còn liệt kê những đầu mối ấy: Những đầu mối này là các vị tông đồ, tiên tri, những nhà truyền bá phúc âm hóa, những vị mục tử và những giảng viên (x 4:12). Qua các tặng ân của mình, Vị Thần Linh này đã có một dung nhan đa diện – chúng ta thấy được diều này ở nơi đây. Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử, nếu chúng ta nhìn vào cuộc qui tụ ở Quảng Trường Thánh Phêrô này đây, thì chúng ta nhận ra rằng Ngài hằng khơi động lên những tặng ân mới; chúng ta thấy khác nhau biết bao những cơ cấu được Ngài sáng tạo và cách thức Ngài hoạt động một cách thế lý mới mẻ hơn bao giờ hết ra sao.

 

Thế nhưng, nơi Ngài, tính cách đa dạng và hiệp nhất là những gì sát cánh bên nhau. Ngài thổi đâu tùy ý của Ngài. Ngài không làm như vậy một cách đột ngột, ở những nơi bất ngờ và bằng những cách thức chưa bao giờ thấy. Và Ngài làm như thế bằng một tính cách đa dạng và thể lý biết bao! Chính tại nơi đây mà tính cách đa dạng và hiệp nhất là những gì bất khả phân ly. 

 

Ngài cần tính cách đa dạng của anh chị em và Ngài cần anh chị em cho một thân thể duy nhất, hiệp nhất với những trật tự vĩnh tồn – với những đầu mối – của Giáo Hội, với những vị thừa kế của các thánh tông đồ và với Vị Thừa Kế của Thánh Phêrô.

 

Ngài không làm suy kém đi các nỗ lực của chúng ta trong việc học biết đường lối liên hệ với nhau, thế nhưng Ngài cũng tỏ cho chúng ta thấy rằng Ngài làm việc hướng đến một thân thể duy nhất và trong mối hiệp nhất của một thân thể duy nhất. Chính nhờ thế mà mối hiệp nhất mới có được quyền lực và vẻ đẹp.

 

Chớ gì anh chị em tham phần vào việc dựng xây nên một thân thể duy nhất ấy! Các vị mục tử cần phải thận trọng đừng dập tắt Thần Linh (x 1Thes 5:19), và anh chị em sẽ không ngừng mang đến cho toàn thể cộng đồng tặng ân của anh chị em. Một lần nữa, Thần Linh thổi đâu tùy ý của Ngài. Thế nhưng, ý muốn của Ngài là mối hiệp nhất. Ngài dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô qua Thân Thể của Người.

 

Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng: ‘Nhờ Chúa Kitô mà toàn thân, được liên kết chặt chẽ với nhau ở mọi phần thể khi từng phần thể hoạt động một cách xứng hợp, sẽ phát triển một cách thể lý và tự mình dựng xây  trong yêu thương’ (Eph 4:6).

 

Chúa Thánh Thần muốn thấy mối hiệp nhất, Ngài muốn cái toàn thể. Bởi thế, việc Ngài hiện diện được thể hiện trên hết ở nơi lòng nhiệt tình truyền giáo.

 

Thánh Thần mang lại cho chúng ta nhiệt tình truyền giáo

 

Bất cứ ai thấy được một cái gì đó chân thực, đẹp đẽ và thiện hảo trong đời sống – một kho tàng chân thực duy nhất, một hạt ngọc chân trâu – đều vội vã chia sẻ nó ra khắp mọi nơi, trong gia đình cũng như tại sở làm, nơi tất cả mọi môi trường cuộc sống của họ.

 

Họ làm như thế một cách mạnh dạn, viù họ biết họ đã lãnh nhận ơn dưỡng tử làm con; họ làm thế một cách khiêm nhượng, ví tất cả đều là hồng ân; họ làm thế một cách kiên trì, vì Thần Linh Chúa mở đầu hành động của Ngài nơi ‘tâm can’ của con người và như một hạt giống nơi hầu hết các văn hóa và tôn giáo khác nhau.

 

Họ làm như thế một cách dấn thân, vì họ mang một thứ tin mừng giành cho tất cả mọi người và tất cả mọi dân tộc.

 

Các bạn thân mến, tôi xin các bạn hãy hợp tác hơn nữa, thật nhiều hơn nữa, vào thừa tác vụ tông đồ hoàn vũ của Giáo Hoàng, bằng cách mở ra các cửa cho Chúa Kitô.

 

Đó là việc phục vụ tốt đẹp nhất của Giáo Hội đối với con người nam nữ, nhất là đối với thành phần nghèo khổ, nhờ đó đời sống của con người, một trật tự công bằng hơn trong xã hội và việc chung sống an bình giữa các quốc gia có thể thấy được nơi Chúa Kitô tảng đá gọc tường để xây dựng một nền văn minh chân thực, một nền văn minh yêu thương.

 

Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu một siêu nhãn quan về thế giới, về đời sống, về lịch sử, và làm cho họ thành bảo quản viên cho niềm hy vọng không bao giờ thất vọng.

 

Bởi thế, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa là Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, trong ân sủng của Chúa Thánh Thần, để việc cử hành lễ trọng Hiện Xuống đây trở thành như một ngọn lửa rực sáng và là một luồng gió mạnh đối với đời sống Kitô hữu cũng như đối với việc truyền giáo của toàn thể Giáo Hội.

 

Tôi đặt những ý hướng của các phòng trào và cộng đồng anh chị em vào trái tim Rất Thánh Trinh Nữ Maria, vị hiện diện trong Căn Thượng Lầu cùng với các thánh tông đồ; chớ gì Mẹ là vị nào xin Thiên Chúa thực hiện các ý chỉ ấy.

 

Tôi xin Thần Linh tuôn đổ các tặng ân của Ngài xuống trên tất cả mọi anh chị em, nhờ đó, cả trong thời đại của chúng ta nữa, chúng ta cũng cảm nghiệm được một Lễ Hiện Xuống mới. Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/6/2006, các tiểu đề là do người dịch tự ý phân chia

 

 

TOP

 

 

“Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng mãnh lực xuất phát từ đức tin. Anh chị em cần phải mãnh liệt bằng sức mạnh của đức tin

 

Bài Giảng ở Krakow cho Thánh Lễ Bế Mạc Chúa Nhật 28

 

‘Hỡi những người Galilê, sao các người lại đứng nhìn lên trời như thế?’ (Acts 1:11)

 

Anh Chị Em thân mến, hôm nay, tại Công Viên Blonie ở Krakow này, một lần nữa, chúng ta nghe thấy câu hỏi này từ Sách Tông Vụ. Lần này câu hỏi ấy nhắm đến tất cả chúng ta đây: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nhìn lên trời như thế?’ Câu trả lời cho vấn nạn này bao gồm một sự thật nền tảng cốt yếu về đời sống cũng như về định mệnh của con người nam nữ.

 

Câu hỏi cần thiết đối với thái độ của chúng ta đây liên quan tới hai thực tại căn bản là những thực tại làm nên tất cả mọi cuộc sống của con người, đó là đất và trời. Trước hết là trái đất: ‘Tại sao anh chị em đứng đó?’ – Tại sao chúng ta sống ở trên thế gian này? Câu trả lời của chúng ta là chúng tôi đang sống trên thế gian này bởi vì Đấng Tạo Dựng của chúng tôi đã đặt chúng tôi ở nơi đây như tuyệt đỉnh của việc Ngài tạo dựng. Thiên Chúa Toàn Năng, theo dự án yêu thương bất khả phai nhòa của Ngài, đã tạo dựng nên vũ trụ, làm cho nó hiện hữu từ hư không. Thế rồi, khi hoàn tất công việc ấy, Ngài đã ban sự sống trên thành phần con người nam nữ, dựng nên họ theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài (x Gen 1:26-27). Ngài đã ban cho họ phẩm vị được làm con cái của Thiên Chúa cùng với tặng ân bất tử. Chúng tôi biết rằng con người đã đi sai đường lạc hướng, đã lạm dụng tặng ân tự do và đã ‘bất chấp’ Thiên Chúa, nên đời sống của con người đã bị ghi dấu vết sự dữ, tội lỗi, khổ đau và chết chóc. Thế nhưng, chúng tôi cũng biết rằng Thiên Chúa không bỏ cuộc trước trạng huống ấy của con người, mà đã đích thân tiến vào lịch sử của nhân loại, một lịch sử nhờ đó đã trở thành một lịch sử cứu độ. ‘Chúng tôi đứng’ trên thế gian này, chúng tôi xuất phát từ trái đất này và chúng tôi lớn lên từ trái đất đây. Ở trên đời đây chúng tôi hành thiện trong nhiều lãnh vực của cuộc sống hằng ngày, thuộc cả lãnh giới vật chất lẫn thiêng liêng, nơi các mối liên hệ giữa chúng tôi với người khác, nơi những gì chúng tôi nỗ lực xây dựng cộng đồng nhân loại và nơi văn hóa. Trên đời này, chúng tôi cũng cảm thấy cả tâm trạng buồn chán của những ai tiến về một mục đích theo những con đường dài lộng gió, giữa những ưu tư lưỡng lự, những căng thẳng, những bất định, bằng một niềm xác tín rằng cuộc hành trình ấy một ngày kia rồi cũng đi tới chỗ kết thúc thôi. Đó là lúc câu hỏi sau đây xuất hiện: Phải chăng đó là tất cả mọi sự? Phải chăng trái đất ‘chúng tôi đang đứng’ đây là đích điểm cuối cùng của chúng tôi?

 

Bởi thế chúng ta cần hướng đến phần thứ hai của vấn nạn thánh kinh: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nhìn lên trời như thế?’ Chúng ta đã đọc thấy rằng, vừa lúc các vị Tông Đồ đã hỏi Chúa Kitô Phục Sinh về việc dân Yến Duyên phục hồi của vương quốc trần gian, thì ‘Người được nhắc lên và có một đám mây vây phủ Người làm cho Người khuất khỏi mắt các vị’ (x Acts 1:9-10). Các vị đứng nhìn lên trời vì các vị nhìn lên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Tử Giá và Phục Sinh, Đấng được nâng lên cao. Chúng ta không biết chính xác lúc nào các vị nhận thấy hiện lên trước mắt các vị một chân trời rạng ngời bất tận: đích điểm tối hậu cho cuộc hành trình trần gian của chúng ta. Có lẽ các vị chỉ nhận ra điều này vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, trong ánh sáng của Thánh Linh. Thế nhưng, đối với chúng ta, cách cả hai ngàn năm, thì ý nghĩa của biến côáđó lại quá rõ ràng. Trên trái đất này, chúng ta được kêu gọi để nhìn lên trời, để hướng tâm trí của chúng ta về mầu nhiệm khôn tả của Thiên Chúa. Chúng ta được kêu gọi để hướng tới thực tại thần linh này, một thực tại thần linh mà chúng ta đã từng nhắm tới từ cuộc tạo thành của chúng ta. Vì ở nơi đó chúng ta mới tìm thấy ý nghĩa tối hậu của cuộc sống.

 

Anh Chị Em thân mến, tôi rất cảm động khi có thể cử hành Thánh Thể hôm nay tại Công Viên Blonie ở Krakow, nơi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường cử hành Thánh Lễ trong những chuyến Tông Du Mục Vụ của ngài nơi quê hương đất nước của mình. Qua những cuộc cử hành phụng vụ của mình, ngài đã gặp Dân Chúa ở hầu hết các nơi trên thế giới, song việc ngài cử hành Thánh Lễ tại Công Viên Blonie ở Krokow chắc chắn bao giờ cũng là một cái gì đặc biệt. Ở nơi đây tâm trí ngài trở về với cội gốc của mình, với nguồn mạch đức tin của ngài cùng việc phục vụ Giáo Hội của ngài. Từ nơi đây, ngài có thể thấy được Krwkow và toàn quốc Balan. Trong cuộc tông dù đầu tiên về Balan ngày 19/6/1979, ở cuối bài giảng của mình nơi công viên đây, ngài đã nói một cách nhung nhớ như sau: ‘Xin cho tôi, trước khi lìa xa anh chị em, một lần nữa nhìn lại Krakow, một Krakow rất thân thương với tôi từng hòn đá cục gạch. Và từ đây nhìn lại Balan một lần nữa’. Trong Thánh Lễ cuối cùng ngài cử hành ở nơi đây, ngày 18/8/2002, ngài đã nói trong bài giảng của mình rằng: ‘Tôi cám ơn về việc mời tôi tới thăm Krakow của tôi và về lòng hiếu khách anh chị em đã giành cho tôi’ (đoạn 2). Kraków, thành phố của Karol Wojtyla và của Gioan Phaolô II, cũng là Krakow của tôi nữa, chiếm được một chỗ đứng đặc biệt nơi tâm can của vô vàn Kitô hữu khắp thế giới, thành phần biết rằng Gioan Phaolô II xuất hiện ở Đồi Vatican từ thành phố này, từ Đồi Wawel, ‘từ một xứ sở xa xôi’, một xứ sở nhờ đó đã trở thành thân thương với tất cả mọi người.

 

Mở màn năm thứ hai cho Giáo Triều của mình, tôi đã cảm thấy rất cần phải đếnviếng thăm Balan và Krakow như là một con người hành hương theo bước chân của vị tiền nhiệm tôi. Tôi muốn hít thở không khí của quê hương đây. Tôi muốn thấy mảnh đất ngài đã được sinh ra, nơi ngài đã lớn lên và đã nhiệt tình dấn thân phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội hoàn vũ. Tôi đặc biệt muốn gặp gỡ những con người nam nữ sống động của đất nước ngài, muốn cảm nghiệm thấy đức tin của anh chị em, một đức tin đã cống hiến cho ngài sự sống và sinh lực, và muốn biết rằng anh chị em tiếp tục vững mạnh trong niềm tin ấy. Ở nơi đây, tôi muốn xin Thiên Chúa hãy bảo trì cái di sản đức tin, đức cậy và đức mến được Đức Gioan Phaolô II cống hiến cho thế giới, đặc biệt là cho anh chị em.

 

Tôi thân ái chào tất cả những ai qui tụ lại Công Viên Blonie, vì mắt tôi có thể nhìn thấy những người đứng xa thật xa, cho dù xa hơn thế nữa. Tôi ước gì có thể gặp được từng người trong anh chị em một cách riêng tư. Tôi ôm ấp tất cả những ai đang tham dự Thánh Lễ của chúng ta đây qua truyền thanh và truyền hình. Tôi chào toàn thể Balan! Tôi chào trẻ em và giới trẻ, cá nhân và gia đình, thành phần bệnh nhân và những ai khổ đau nơi thân xác hoặc tinh thần, những ai bị hụt hang niềm vui của cuộc sống. Tôi chào tất cả những ai ngày ngày cực nhọc giúp cho xứ sở này được phát triển thịnh vượng. Tôi chào nhân dân Balan hải ngoại, ở khắp nơi trên thế giới. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Stanislaw Dziwisz, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Krakow, về những lời lẽ đón mừng nồng hậu của ngài. Tôi chào Đức Hồng Y Franciszek Macharski cùng toàn thể các vị Hồng Y, Giám Mục, linh mục và tu sĩ nam nữ, cũng như những vị khách đến từ các nơi, nhất là từ các nước láng giềng. Tôi chào Tổng Thống Cộng Hòa và Thủ Tướng cùng các vị đại diện Thẩm Quyền quốc gia, khu vực và địa phương.

 

Anh chị em thân mến, tôi đã chọn làm câu châm ngôn cho chuyến hành hương Balan của tôi theo bước chân Đức Gioan Phaolô II những lời là: ‘Anh chị em hãy đứng vững trong đức tin của mình!’ Lời kêu gọi này được trực tiếp ngỏ cùng tất cả chúng ta là phần tử thuộc cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, cùng mỗi người và mọi người trong chúng ta. Đức tin là một tác động nhân loại riêng tư sâu xa, một tác động có hai khía cạnh. Tin tưởng nghĩa là trước hết chấp nhận như thật những gì trí khôn chúng ta không thể thấu triệt. Chúng ta phải chấp nhận những gì Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta về chính mình Ngài, về chúng ta, về mọi sự chung quanh chúng ta, bao gồm cả những gì vô hình, khôn tả và ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Tác động chấp nhận sự thật được mạc khải là những gì nới rộng chân trời kiến thức của chúng ta và kéo chúng ta tới mầu nhiệm bao trùm chúng ta. Để trí khôn của chúng ta bị giới hạn như thế không phải là một chuyện dễ làm. Đến đây chúng ta thấy khía cạnh thứ hai của đức tin, đó là khía cạnh niềm tin tưởng nơi một con người, không phải là một con người bình thường, mà là chính Chúa Giêsu Kitô. Những gì chúng ta tin tưởng đều quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn thế nữa đó là Đấng chúng ta tin tưởng.

 

Thánh Phaolô đã nói về điều này trong đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô mà chúng ta nghe thấy hôm nay đây. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một thần trí khôn ngoan và ‘đã sáng soi cặp mắt tâm hồn của chúng ta, để chúng ta biết những gì là niềm hy vọng được Ngài kêu gọi chúng ta hướng tới, những gì là phong phú thuộc gia sản hiển vinh của Ngài nơi các thánh nhân, và những gì là cao cả khôn lường của quyền lực Ngài nơi chúng ta là những kẻ tin tưởng, theo việc làm quyền năng vĩ đại của Ngài nơi Chúa Kitô’ (x Eph 1:17-20). Tin tưởng nghĩa là phó mình của chúng ta cho Thiên Chúa và trao phó định mệnh của chúng ta cho Ngài. Tin tưởng nghĩa là sống liên hệ thân tình với Đấng Hóa Công và Cứu Chuộc của chúng ta trong quyền nặng của Thánh Thần và làm cho mối liên hệ này thành nền tảng cho cả cuộc đời của chúng ta.

 

Hôm nay chúng ta đã nghe thấy những lời của Chúa Giêsu: ‘Các con sẽ lãnh nhận quyền năng khi Thánh Thần xuống trên các con; và các con sẽ là những chứng nhân của Thày ở Giêrusalem cũng như ở khắp Giuđêa và Samaria, và cho tới tận cùng trái đất’ (Acts 1:8). Nhiều thế kỷ trước đây những lời ấy đã tiến đến Balan. Chúng đã thách đố và tiếp tục thách đố tất cả những ai nói rằng mình thuộc về Chúa Kitô, những người coi lời của Người ấy là một lý tưởng cao cả nhất. Chúng ta cần trở thành những chứng nhân của Chúa Giêsu, Đấng đang sống trong Giáo Hội và trong lòng người. Người đã trao cho chúng ta một sứ vụ. Vào ngày Người lên trời, Người đã nói cùng các Tông Đồ rằng: ‘Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật… Và các vị đã ra đi rao giảng khắp nơi, Chúa Kitô đồng thời làm việc với các vị và củng cố sứ điệp các vị rao giảng bằng các dấu hiệu kèm theo’ (Mk 16:15,20). Anh chị em thân mến! Khi Đức Karol Wojtyla được bầu lên Ngài Tòa Thánh Phêrô để phục vụ Giáo Hội hoàn vũ thì đất nước của anh chị em đã trở thành một địa điểm của chứng từ đặc biệt về niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô. Anh chị em đã được kêu gọi để cống hiến chứng từ này trước toàn thế giới. Ơn gọi này của anh chị em là những gì luôn cần thiết, và có lẽ còn khẩn trương hơn bao giờ hết khi mà Người Tôi Tớ Chúa đây đã qua khỏi đời này. Anh chị em đừng làm cho thế giới bị hụt hẫng mất chứng từ này nhé!

 

Trước khi tôi trở về Rôma để tiếp tục thừa tác vụ của mình, tôi kêu gọi tất cả mọi anh chị em bằng những lời được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói lên ở nơi đây vào năm 1979, đó là ‘Anh chị em thân mến, anh chị em cần phải vững mạnh. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh xuất phát từ đức tin. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin. Anh chị em cần phải trung thành. Ngày nay, hơn bất cứ một thời đại nào khác, anh chị em cần đến sức mạnh này. Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng sức mạnh của đức cậy, một đức cậy mang lại niềm vui trọn vẹn cho cuộc sống và là niềm hy vọng làm cho chúng ta tránh được việc làm phiền lòng Thánh Linh! Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng đức ái, một đức ái mạnh hơn sự chết… Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin, đức cậy và đức mến, một đức mến ý thức, trưởng thành và hữu trách, và là một đức mến có thể giúp chúng ta trong lúc này đây nơi lịch sử của chúng ta thực hiện việc đối thoại trao đổi đại thể với con người và thế giới, một cuộc đối thoại được bắt nguồn từ cuộc đối thoại với chính Thiên Chúa, với Chúa Cha, nhờ Chúa Con trong Thánh Thần, một cuộc đối thoại cứu độ’ (Bài Giảng 10/6/1979, đoạn 4).

 

Cả tôi nữa, Biển Đức XVI, Vị Thừa Kế Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cũng đang xin anh chị em hãy từ đất nhìn lên trời, hãy hướng mắt về Đấng được các thế hệ liên tục nhau trông chờ cả hai ngàn năm, và là Đấng họ khám phá thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Được kiên cường bởi niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, anh chị em hãy nhiệt thành với việc củng cố Vương Quốc của Người trên thế gian này, một Vương Quốc của thiện hảo, công lý, đoàn kết và tình thương. Tôi xin anh chị em hãy can đảm làm chứng cho Phúc Âm trước thế giới ngày nay, mang hy vọng tới cho người nghèo, cho người khổ đau, cho thành phần lầm lạc và bị bỏ rơi, thành phần thất vọng và những ai trông mong tự do, chân lý và an bình. Bằng việc làm lành cho tha nhân của mình và tỏ ra quan tâm đối với công ích, anh chị em làm chứng rằng Thiên Chúa là tình yêu.

 

Sau hết, tôi xin anh chị em hãy chia sẻ với các dân tộc khác ở Âu Châu cũng như với thế giới kho tàng đức tin của anh chị em, ít là như cách thức để kính nhớ tới con người đồng hương của anh chị em, vị, với tư cách là Thừa Kế Thánh Phêrô, đã thực hiện điều ấy một cách đặc biệt mãnh liệt và hiệu năng. Và xin hãy nhớ đến tôi trong lời nguyện cầu và hy sinh của anh chị em, thậm chí như anh chị em nhớ đến vị đại Tiền Nhiệm của tôi, để tôi có thể thi hành sứ vụ Chúa Kitô đã trao phó cho tôi. Tôi xin anh chị em hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em! Hãy đứng vững trong đức cậy của anh chị em! Hãy đứng vững trong đức ái của anh chị em! Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm

 

  TOP

 

Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng ... Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô

 

Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Quảng Trường Pilsudzki tại Warsaw Sáng Thứ Sáu 26

 

Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!

 

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô, Chúa chúng ta, ‘cùng với anh chị em tôi muốn hát bài thánh ca chúc tụng Đấng Quan Phòng thần linh đã cho tôi được đến đây như một người hành hương’. Hai mươi bảy năm trước đây, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mở đầu bài giảng của ngài ở Warsaw bằng những lời lẽ ấy. Tôi cũng xin mượn những lời ấy và tạ ơn Chúa là Đấng đã cho tôi có thể đến đây hôm nay tạo Quảng Trường lịch sử này. Ở nơi đây, vào ngày áp Lễ Hiện Xuống, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thốt lên những lời nguyện cầu quan trọng ‘Xin sai Thần Linh Chúa xuống và xin canh tân bộ mặt trái đất’. Rồi ngài thêm: ‘Bộ mặt của mảnh đất này’. Chính nơi này đây đã chứng kiến việc long trọng cử hành lễ an táng cho một vị đại Giáo Chủ Balan là Đức Hồng Y Stefan Wyszynski mà trong những ngày này cử hành 25 năm kỷ niệm biến cố ấy.

 

Thiên Chúa đã liên kết hai con người này lại với nhau chẳng những bằng cùng một đức tin, đức cậy và đức mến, mà còn bằng cùng những thăng trầm về nhân loại giống nhau nữa, những thăng trầm thắt kết mỗi người trong họ rất mãnh liệt với lịch sử của nhân dân này cũng như với lịch sử của một Giáo Hội ở giữa thành phần dân ấy. Vào đầu Giáo Triều của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết cho Đức Hồng Y Wyszynski như thế này: ‘Vị Giáo Hoàng Balan này hôm nay đây sẽ không ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô, mở màn cho một tân Giáo Triều với đầy lòng kính sợ Thiên Chúa song cũng đầy lòng tin tưởng, nếu không có đức tin của ngài, một đức tin không chịu khuất phục trước cảnh tù ngục và khổ đau, không có đức cậy anh hùng của ngài, việc ngài tin tưởng cho đến cùng nơi Người Mẹ Giáo Hội; nếu không có Jasna Góra cùng tất cả giai đoạn lịch sử này của Giáo Hội ở quê hương chúng ta liên quan tới việc ngài phục vụ với tư cách là một vị Giám Mục và là Giáo Chủ’ (Letter of Pope John Paul II to the Polish People, 23 October 1978). Hôm nay đây làm sao chúng ta không tạ ơn Thiên Chúa về tất cả những gì đã được hoàn thành nơi xứ sở của anh chị em cũng như trên toàn thế giới trong Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II chứ? Trước mắt của chúng ta là những thay đổi đã xẩy ra nơi toàn thể guồng máy chính trị, kinh tế và xã hội. Dân chúng ở các quốc gia khác nhau đã phục hồi lại được tự do và cảm quan về phẩm giá. ‘Chúng ta chớ há quên các việc kỳ công của Thiên Chúa’ (x Ps 78:7). Tôi cám ơn cả việc hiện diện của anh chị em cùng việc cầu nguyện của anh chị em nữa. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Giáo Chủ về những lời lẽ ngài đã ngỏ cùng tôi. Tôi xin chào tất cả các vị Giám Mục đang hiện diện nơi đây. Tôi hân hạnh thấy Tổng Thống và các vị Thẩm Quyền quốc gia và địa phương đã đến đây. Tôi ấp ủ trong lòng mình tất cả nhân dân Balan cả ở quốc nội cũng như hải ngoại.

 

‘Hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em’! Chúng ta vừa nghe những lời của Chúa Giêsu: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các giới huấn của Thày. Và Thày sẽ cầu xin cùng Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để mãi ở với các con, đó là Thần Chân Lý’ (Jn 14:15-17a). Với những lời ấy, Chúa Giêsu mạc khải mối liên hệ sâu xa giữa đức tin và việc tuyên xưng Chân Lý Thần Linh, giữa đức tin và việc dấn thân cho Chúa Giêsu trong yêu thương, giữa đức tin với việc thực hành một đời sống được tác động bởi những huấn giới. Tất cả 3 chiều kích đức tin là hoa trái của tác động Thánh Linh. Tác động này được bộc phát như một quyền lực nội tại làm hòa hợp tâm can của thành phần môn đệ với Con Tim của Chúa Kitô và làm cho họ có thể yêu thương như Người đã yêu thương họ. Bởi vậy mà đức tin là một tặng ân, đồng thời cũng là một công tác.

 

‘Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác – là Thần Chân Lý’. Đức tin, một kiến thức và là việc tuyên xưng chân lý về Thiên Chúa và về con người, ‘được xuất phát từ những gì đã nghe, và những gì nghe thấy được xuất phát từ việc rao giảng về Chúa Kitô’ (Rm 10:17). Qua giòng lịch sử của Giáo Hội, các Vị Tông Đồ đã rao giảng lời của Chúa Kitô, cẩn thận truyền đạt lời của Người một cách nguyên tuyền cho những ai thừa kế các ngài, rồi những vị thừa kế này lại có phận sự truyền đạt lời Người cho các thế hệ sau đó cho tới thời của chúng ta đây. Nhiều nhà truyền giảng Phúc Âm đã phải bỏ mạng sống mình một cách đặc biệt vì trung thành với sự thật của lời Chúa Kitô. Và vì thế mà việc quan tâm tới chân lý đã làm phát sinh ra Truyền Thống của Giáo Hội. Như trong các thế kỷ trước đã xẩy ra thế nào, ngày nay cũng thế, dân chúng và các phái nhóm cũng đang làm lu mờ đi cái Truyền Thống của nhiều thế kỷ này, khi họ tìm cách làm sai lệnh đi Lời của Chúa Kitô và loại bỏ khỏi Phúc Âm các chân lý mà theo họ khiến cho con người tân tiến quá nhức nhối khó chịu. Họ cố gắng gây ấn tượng là hết mọi sự đều là những gì tương đối thôi: cho dù đó là các chân lý của đức tin cũng phải lệ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và vào việc thẩm định của loài người. Tuy nhiên, Giáo Hội không thể bịt miệng Thần Chân Lý. Thành phần Thừa Kế Chư Tông Đồ, cùng với Vị Giáo Hoàng, đều có trách nhiệm với sự thật của Phúc Âm, và tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi để thông phần vào trách nhiệm này, bằng việc chấp nhận những ấn định theo thẩm quyền của các vị. Mọi Kitô hữu buộc phải liên tục đối chiếu các niềm xác tín riêng tư của mình với những giáo huấn của Phúc Âm cũng như Truyền Thống của Giáo Hội để nỗ lực tiếp tục trung thành với lời Chúa Kitô, cho dù lời của Người có gắt gao đòi hỏi, và có khó hiểu về phương diện con người trần gian chăng nữa. Chúng ta không được chiều theo khuynh hướng của tương đối chủ nghĩa hay của một thứ chủ quan và của việc dẫn giải Thánh Kinh tùy nghi. Chỉ có chân lý toàn vẹn mới hướng chúng ta về việc gắn bó với Chúa Kitô là Đấng đã chết và sống lại vì phần rỗi của chúng ta mà thôi.

 

Chúa Kitô nói: ‘Nếu các con yêu mến Thày…’. Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng liên quan tới những mầu nhiệm về Thiên Chúa, về con người, về sự sống và về sự chết, về các thực tại tương lai. Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô, một liên hệ được xuất phát từ lòng mến yêu Đấng đã yêu thương chúng ta trước (x 1Jn 4:11), thậm chí cho đến chỗ hoàn toàn hiến trọn bản thân mình. ‘Thiên Chúa chứng tỏ tình Ngài yêu thương chúng ta ở chỗ trong khi chúng ta còn là những tội nhân thì Chúa Kitô đã chết vì chúng ta’ (Rm 5:8). Còn đáp ứng nào chúng ta có thể tỏ ra cho một tình yêu thật cao cả như thế nếu không phải là đáp ứng của một con tim cởi mở và tỏ ra sẵn sàng yêu thương hay sao? Thế nhưng, việc yêu mến Chúa Kitô đây nghĩa là gì? Nghĩa là tỏ ra tin tưởng nơi Người cho dù trong những con thử thách, trung thành theo Người cho dù trên Đường Thập Giá Via Crucis, hy vọng rằng chẳng bao lâu sẽ xuất hiện bình minh Phục Sinh. Khi ký thác bản thân mình cho Chúa Kitô, chúng ta chẳng mất mất một sự gì hết, trái lại, chúng ta còn chiếm được mọi sự. Nơi bàn tay của Người cuộc sống của chúng ta đạt được ý nghĩa thực sự của nó. Tình yêu giành cho Chúa Kitô là ở chỗ tỏ ra hòa hợp đời sống của mình với những tư tưởng và cảm thức của Trái Tim Người. Điều này được đạt tới bằng mối hiệp nhất nội tâm nhờ ân sủng của các Bí Tích, được củng cố bằng việc liên lỉ nguyện cầu, chúc tụng, tạ ơn và thống hối. Chúng ta cần phải chuyên chú lắng nghe những tác động Người gợi lên qua Lời của Người, qua thành phần chúng ta gặp gỡ, qua những hoàn cảnh của cuộc sống thường nhật của mình. Yêu mến Người là tiếp tục đối thoại trao đổi với Người, để biết được ý Người muốn và thực hiện ý muốn ấy một cách mau chóng hiệu nghiệm.

 

Tuy nhiên, việc sống niềm tin tưởng riêng tư như mối liên hệ yêu thương với Chúa Kitô như thế cũng còn có nghĩa là sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì gây ra việc chối từ tình yêu của Người nữa. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ rằng: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các huấn lệnh của Thày’. Thế nhưng, các huấn lệnh của Chúa Kitô đây là gì? Khi Chúa Giêsu giảng dạy đoàn lũ quần chúng Người vẫn không quên xác nhận lề luật được Đấng Hóa Công in ấn vào lòng con người và phác họa trên các tấm Thập Điều. ‘Đừng nghĩ rằng Thày đến để hủy bỏ lề luật và các tiên tri; Thày đến không phải để hủy bỏ những điều ấy mà là làm cho chúng được nên trọn. Thật vậy, Thày nói cho các con hay, cho đến khi trời đất qua đi thì một chấm một phết cũng sẽ không qua đi nơi lề luật cho tới khi mọi sự được hoàn thành’ (Mt 5:17-18). Thế nhưng, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho chúng ta thấy một cách sáng tỏ hơn cái tâm điểm chính yếu của lề luật thần linh được ban bố ở Núi Sinai, đó là tình yêu Thiên Chúa và tình lòng thương tha nhân: ‘Việc kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn và hết sức, cùng mến thương tha nhân như bản thân mình, là những gì quí hóa hơn tất cả mọi của lễ hiến dâng và hy tế’ (Mk 12:33). Thật vậy, nơi đời sống của mình cũng như nơi Mầu Nhiệm Vượt Qua của mình, Chúa Giêsu đã làm hoàn thành tất cả lề luật. Liên kết mình với chúng ta bằng tặng ân Thánh Linh, Người gánh vác với chúng ta và trong chúng ta ‘cái ách’ của lề luật là những gì trở thành ‘gánh nhẹ nhàng’ (Mt 11:30). Theo tinh thần này, Chúa Giêsu đã hình thành bản liệt kê về các phẩm tính nội tâm của những ai tìm cách sống niềm tin của mình một cách sâu xa, đó là phúc cho thành phần nghèo khó trong tinh thần, những ai khóc lóc, những ai hiền lành, những ai đói khát công chính, những ai xót thương, những ai có tấm lòng tinh khiết, những ai xây dựng hòa bình, những ai bị bắt bớ vì lẽ công chính… (x Mt 5:3-12).

 

Anh chị em thân mến, niềm tin như là việc gắn bó với Chúa Kitô được tỏ hiện như tình yêu thúc đẩy chúng ta cổ võ sự thiện được Đấng Hóa Công in ấn nơi bản tính của mọi con người nam nữ chúng ta, nơi nhân cách của hết mọi con người khác cũng như nơi hết mọi sự hiện hữu trên thế giới này. Bất cứ ai tin tưởng và yêu như thế đều trở thành một nhà xây dựng ‘nền văn minh yêu thương’ đích thực, một nền văn minh có Chúa Kitô là tâm điểm. Hai mươi bảy năm trước đây, ở địa điểm này đây, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: ‘Ngày nay Balan đã trở nên một mảnh đất của một thứ chứng từ đặc biệt hữu trách’ (Warsaw, 2/6/1979). Giờ đây tôi xin anh chị em hãy vun xới gia sản đức tin phong phú này là những gì đã được truyền đạt cho anh chị em bởi các thế hệ trước đây, cái gia sản về tư tưởng và việc phục vụ của một đại nhân Balan là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hãy đứng vững trong đức tin, hãy truyền đạt đức tin ấy cho con cái của anh chị em, hãy làm chứng cho ân sủng anh chị em đã cảm nghiệm hết sức dồi dào nhờ Thánh Linh qua giòng lịch sử. Chớ gì Mẹ Maria, Nữ Vương Balan, tỏ cho anh chị em thấy đường dẫn đến với Con của Mẹ, và chớ gì Mẹ đồng hành với anh chị em trong cuộc hành trình của anh chị em tiến tới một tương lai hạnh phúc đầy an bình. Chớ gì lòng trí anh chị em không bao giờ thiếu thốn tình yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm

 

 

  TOP

 

Linh Mục là Mục Tử phục vụ Đàn Chiên Chúa: Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô

 

Bài Giảng của Giáo Hoàng Biển Đức XVI Trong Thánh Lễ Truyền Chức Thánh cho 15 Tân Linh Mục Ở Đền Thờ Thánh Phêrô ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành 7/5/2006

 

Anh Chị Em thân mến,

Quí Thụ Phong Viên thân mến,

 

Vào giây phút này đây, quí bạn thân mến, lúc mà quí bạn, qua Bí Tích Truyền Chức Thánh, đang được dẫn tới chỗ trở thành mục tử để phục vụ Vị Đại Mục Tử là Chúa Giêsu Kitô, thì chính Người là Đấng, qua bài Phúc Âm, đã nói về việc phục vụ đàn chiên của Thiên Chúa.

 

Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô

 

Hình ảnh về người mục tử được xuất phát từ thời xa xưa. Ở Đông Phương cổ thời, các vị vua chúa cho mình là những người mục tử dẫn dắt dân chúng của họ. Moisen và Đavít trong Cựu Ước, trước khi được kêu gọi trở thành những người lãnh đạo và mục tử của Dân Chúa, thật sự đã là những kẻ chăn chiên. 

 

Trong cuộc thống khổ của giai đoạn Lưu Đầy, chạm trán với tình trạng thất bại của thành phần mục tử của dân Yến Duyên, tức là với thành phần lãnh đạo về chính trị và tôn giáo của dân tộc này, tiên tri Êxêkiên đã phác tả hình ảnh về chính Thiên Chúa như là Vị Mục Tử của dân Ngài. Qua vị tiên tri này, Thiên Chúa đã phán: ‘Như mục tử tìm kiếm đàn vật của mình thế nào… Ta cũng sẽ tìm kiếm chiên của ta như vậy; và Ta sẽ giải cứu chúng ở tất cả mọi nơi chúng bị phân tán đi trong ngày mây mù dày đặc tăm tối’ (34:12).

 

Bởi vậy mà Chúa Giêsu đã công bố rằng thời điểm ấy đã tới, ở chỗ, chính Người là Vị Mục Tử Nhân Lành, qua Người, chính Thiên Chúa tỏ ra chăm sóc cho con người là tạo vật của Ngài, khi qui tụ nhân loại và dẫn họ tới đồng cỏ thực sự. Thánh Phêrô, vị được Chúa Kitô Phục Sinh trao cho việc chăn dắt chiên của Người, trở thành một vị mục tử với Người và cho Người, đã diễn tả Chúa Giêsu như là ‘Vị Mục Tử Chính – archipoimen’ (x 1Pt 5:4), và qua đó ngài có ý nói rằng chỉ nhờ Người và hết sức hiệp thông với Người mới có thể trở thành một vị mục tử chăn dắt đàn chiên của Chúa Giêsu Kitô mà thôi.

 

Bí Tích Truyền Chức Thánh cho thấy chính vấn đề này, ở chỗ, qua Bí Tích ấy, vị linh mục hoàn toàn được tháp nhập vào Chúa Kitô, nhờ đó, bằng việc bắt đầu từ Người và tác hành trước nhan Người, vị linh mục mới có thể hiệp thông với Người để thi hành việc phục vụ của Chúa Giêsu là Vị Mục Tử duy nhất, Đấng mà nơi Người, Vị Thiên Chúa làm người muốn trở thành Mục Tử của chúng ta.

 

Bài Phúc Âm chúng ta đã nghe Chúa Nhật này chỉ là một phần trong bài giảng dài Chúa Giêsu nói về các vị mục tử. Trong đoạn Phúc Âm ấy, Chúa Kitô đã nói với chúng ta 3 điều về vị mục tử chân thực, đó là việc Người hiến mạng sống mình vì chiên; việc Người biết chiên và chiên biết Người; và việc Người thực hiện mối hiệp nhất.

 

Lãnh Nhận Bí Tích Truyền Chức Thánh Là Hiến Thân Phục Vụ và Theo Đuổi Chúa Kitô

 

Trước khi suy niệm về ba đặc tính thiết yếu này đối với các vị mục tử, cần phải nhắc lại vắn gọn phần trước của bài giảng về thành phần mục tử, phần được Chúa Giêsu, trước khi xưng mình là Mục Tử, phán những lời khiến chúng ta cảm thấy sửng sốt: ‘Tôi là cửa chuồng chiên’ (Jn 10:7).

 

Chính qua Người mà người ta cần phải thực hiện việc phục vụ của vị chủ chiên. Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rất rõ ràng điều kiện căn bản này khi phán: ‘ai… trèo qua ngõ khác mà vào là kẻ trộm cướp’ (Jn 10:1). Chữ ‘trèo’ – theo tiếng Hy Lạp là anabainei – làm hiện lên hình ảnh của một người trèo qua hàng rào để vào một nơi nào đó không thuộc lãnh giới của họ.

 

‘Trèo’ – ở đây chúng ta còn có thể thấy được hình ảnh của thái độ tham quyền cố vị, của nỗ lực muốn ‘qua mặt’, muốn nh Giáo Hội đ chiếm được một thế đứng, ở chỗ lợi dụng hơn là phục vụ. Đó là hình ảnh của một con người muốn làm cho mình trở thành quan trọng hóa, muốn trở thành một con người đáng kể qua chức linh mục; hình ảnh của một kẻ có ý muốn tự tôn mình lên thay vì khiêm tốn phục vụ Chúa Giêsu Kitô.

 

Thế nhưng, chỉ có một cách hợp lệ để tiến tới thừa tác vụ của vị mục tử đó là Thập Tự Giá. Đó là con đường chân thực để vươn lên; đó là cửa ngõ thực sự để tiến vào. Nó không phải là ước muốn thấy mình được trở thành ‘một nhân vật’ mà là muốn hiện hữu cho người khác, cho Chúa Kitô, nhờ đó, qua Người và với Người, trở nên thuận lợi cho thành phần được Người tìm kiếm, thành phần Người muốn dẫn dắt bước đi trên con đường sự sống.

 

Việc con người qua Bí Tích Truyền Chức Thánh tiến vào thiên chức linh mục mang một ý nghĩa chính yếu đó là, nhờ việc tôi trao tặng bản thân mình cho Chúa Kitô, Người có thể sử dụng tôi; và tôi có thể phụng sự Người cùng theo đuổi ơn gọi của Người, cho dù ơn gọi ấy có trái với ước muốn của tôi trong việc tôi muốn mình được thành toàn và được trọng vọng.

 

Việc tiến qua cửa là Chúa Kitô mà vào nghĩa là việc nhận biết và yêu mến Người hơn nữa, nhờ đó ý muốn của chúng ta liên kết với ý muốn của Người, hành động của chúng ta nên một với hành động của Người.

 

Quí bạn thân mến, chúng ta hãy hằng nguyện cầu cho ý hướng ấy, chúng ta hãy thực sự nỗ lực cho vấn đề này, tức là cho việc Chúa Kitô lớn lên trong chúng ta cũng như cho việc chúng ta hiệp nhất nên một với Người càng ngày càng sâu xa đậm đà hơn, nhờ đó, chính Chúa Kitô là Đấng chăn dắt đàn chiên của Người qua chúng ta.

 

Thánh Thể Thực Sự Là Tâm Điểm Và Là Học Đường Của Đời Sống Linh Mục

 

Giờ đây chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào ba điều Chúa Giêsu khẳng định một cách chính yếu về thành phần mục tử nhân lành. Điều thứ nhất, điều đã thấm đậm toàn bài giảng về thành phần mục tử, đó là vị mục tử này hiến mạng sống mình vì chiên. Mầu nhiệm Thập Giá là tâm điểm của việc Chúa Giêsu phục vụ với tư cách là vị mục tử: nó là một việc đại phục vụ được Người trao cho tất cả chúng ta.

 

Người đã ban chính mình Người, không phải chỉ trong một quá vãng xa xôi. Người đang làm như thế hằng ngày nơi Thánh Thể, Người ban mình qua bàn tay của chúng ta, Người ban chính bản thân Người cho chúng ta. Vì lý do chính đáng ấy mà Thánh Thể, nơi hằng liên tục tiếp diễn hiến tế của Chúa Giêsu trên Thập Tự Giá, nơi hiến tế của Người thực sự hiện diện giữa chúng ta, quả thực là tâm điểm của đời sống linh mục.

 

Nếu Thánh Thể là khởi điểm của chúng ta như thế, chúng ta cũng sẽ biết thế nào là việc cử hành Thánh Thể một cách xứng hợp: nó là cuộc hội ngộ với Chúa Kitô, Đấng đã tước lột vinh quang thần linh của mình vì chúng ta, đã hạ mình xuống một cách nhục nhã tới độ chết trên Thập Giá để ban mình cho mỗi một người chúng ta.

 

Thánh Thể là những gì rất ư là hệ trọng hằng ngày đối với vị linh mục. Nơi Thánh Thể, ngài liên kết bản thân mình một cách mới mẻ với mầu nhiệm này; ngài phó mình trong tay Thiên Chúa một cách mới mẻ, đồng thời ngài cũng cảm nghiệm thấy được niềm vui rằng Người đang hiện diện, Người chấp nhận tôi, thăng hóa và đỡ nâng tôi một cách mới mẻ, trao cho tôi bàn tay của Người, ban cho tôi chính mình Người. Thánh Thể phải trở nên cho chúng ta một học đường của cuộc sống là nơi chúng ta học biết cống hiến cuộc đời mình.

 

Sự sống không phải chỉ được cống hiến ở vào lúc lâm chung và không phải chỉ bằng cách tử đạo. Chúng ta cần phải trao tặng nó đi hằng ngày. Hằng ngày tôi cần phải biết rằng tôi không sở hữu sự sống của mình cho bản thân tôi. Ngày ngày tôi cần phải biết loại bỏ bản thân mình đi; biến mình thành thuận lợi cho tất cả những gì mà Người, Chúa Kitô, cần đến tôi ở một lúc nào đó, cho dù những vấn đề khác có vẻ lôi cuốn hơn và quan trọng hơn đối với tôi, tức vấn đề là  tôi hiến ban sự sống chứ không phải chiếm lấy sự sống.

 

Có thế chúng ta mới cảm nghiệm được tự do, một tự do nơi bản thân chúng ta, nơi cái rộng lớn của hữu thể. Có thế, có trở thành hữu dụng, trở thành một con người thế giới cần đến, mà đời sống của chúng ta mới trở thành quan trọng và diễm l. Chỉ có những ai biết từ bỏ sự sống của mình đi mới lại tìm thấy được nó mà thôi.

 

Vị Linh Mục Sống Thân Tình Với Chúa Kitô Mới Biết Được Chiên và Mới Được Chiên Biết Đến

 

Điều thứ hai Chúa Kitô nói với chúng ta đó là ‘Tôi biết chiên Tôi và chiên Tôi biết Tôi, như Cha Tôi biết Tôi và Tôi biết Cha Tôi’ (Jn 10:14-15).

 

Ở đây, hai mối liên hệ hoàn toàn khác nhau theo hình thức được đan kết với nhau nơi câu nói này, đó là mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha và mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với thành phần được ủy thác cho Người. Tuy nhiên, cả hai mối liên hệ ấy có tương quan với nhau, vì cuối cùng chúng cũng đưa đến việc con người thuộc về Chúa Cha và việc họ tìm kiếm Đấng Hóa Công, tìm kiếm Thiên Chúa.

 

Khi các mối liên hệ ấy thấy rằng có một ai đó đang nhân danh họ mà nói và xuất phát từ bản thân họ mà thôi thì các mối liên hệ ấy cho rằng họ là những gì quá bé nhỏ và không thể trở thành những gì được các mối liên hệ ấy đang tìm kiếm; thế nhưng, ở bất cứ nơi nào âm vang tiếng nói của một ai khác trong con người, tiếng của Đấng Hóa Công, của Chúa Cha, thì cửa ngõ liền được mở ra cho mối liên hệ mà con người đang trông mong.  

 

Như thế thì cách thức cần phải xẩy ra nơi chúng ta là như thế này. Trước hết, chúng ta cần phải sống liên hệ với Chúa Kitô trong lòng mình, và nhờ Người, sống liên hệ với Chúa Cha, để rồi cho tới lúc ấy chúng ta mới thực sự hiểu được dân, thâm cung con người chỉ hiện tỏ trong ánh sáng của Thiên Chúa. Bấy giờ những ai lắng nghe chúng ta mới nhận thấy rằng chúng ta không nói về bản thân mình hay về một điều gì đó mà là về Vị Mục Tử chân thực. 

 

Tất nhiên là những lời Chúa Giêsu dạy cũng chứa đựng tất cả công việc mục vụ cụ thể nữa, việc chăm sóc cho con người nam nữ, việc lên đường tìm kiếm họ, việc đáp ứng những nhu cầu và vấn nạn của họ.

 

Quả thực là việc hiểu biết một cách thực tiễn và cụ thể về con người được ký thác cho tôi là những gì nồng cốt thiết yếu, và quả thực là cần phải nắm được cách thức ‘hiểu biết’ kẻ khác này theo ý nghĩa của Thánh Kinh, đó là không có vấn đề hiểu biết thực sự nếu thiếu vắng tình yêu thương, nếu không có một mối liên hệ nội tại và nếu thiếu vắng việc sâu xa chấp nhận nhau.

 

Vị mục tử không thể mãn nguyện với việc biết được tên tuổi và ngày tháng. Cách thức ngài biết chiên của ngài bao giờ cũng phải là việc biết bằng cõi lòng.

 

Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể thực hiện được điều này một cách xứng hợp nếu Chúa Kitô mở lòng của chúng ta ra; nếu việc biết của chúng ta không ràng buộc người ta vào cái tôi nhỏ bé riêng tư của chúng ta, vào con tim nhỏ bé của chúng ta, mà là làm cho họ ý thức được Trái Tim của Chúa Giêsu, Trái Tim của Chúa Kitô. Nó cần phải là việc biết bằng Con Tim của Chúa Giêsu, việc biết hướng về Người, một cách thức biết không ràng buộc con người lại với tôi mà là dẫn họ đến với Chúa Giêsu, nhờ đó, làm cho con người được tự do thanh thoát. Có thế, cả chúng ta nữa mới sống gần gũi với thành phần con người nam nữ.

 

Chúng ta hãy luôn nguyện cầu một cách mới mẻ cùng Chúa Kitô để chúng ta được Người ban cho chúng ta thực hiện cách biết bằng Trái Tim Chúa Giêsu, cách biết không ràng buộc với tôi mà là gắn bó với Trái Tim Chúa Giêsu, để nhờ đó chúng ta kiến tạo nên một cộng đồng thực sự. 

 

Vị Linh Mục Là Mục Tử Các Tâm Hồn Trước Hết Cần Phải Quan Tâm Tới Thành Phần Tín Hữu 

 

Sau hết, Chúa Kitô nói với chúng ta về việc phục vụ cho mối hiệp nhất là việc được ký thác cho vị mục tử: ‘Tôi còn những chiên khác chưa thuộc về đàn này; Tôi cần phải mang chúng về nữa, và chúng sẽ nghe thấy tiếng của Tôi. Nhờ đó sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên’ (Jn 10:16).

 

Thánh Gioan đã lập lại điều này sau khi Hội Đồng Do Thái quyết định sát hại Chúa Giêsu, lúc mà Caipha nói rằng tốt hơn cho dân chúng nếu một người chết cho họ thay vì toàn dân bị tiêu diệt. Thánh Gioan nhìn nhận những lời của Caipha ấy là những lời tiên tri, khi thánh nhân chú thích thêm rằng: ‘Chúa Giêsu cần phải chết đi cho dân nước này, và không phải chỉ cho dân nước này mà còn để qui tụ lại làm một thành phần con cái của Thiên Chúa đã bị phân tán khắp nơi‘ (11:52).

 

Sự liên hệ giữa Thập Giá và mối hiệp nhất được tỏ hiện ở chỗ Thập Giá là cái giá phải trả cho mối hiệp nhất. Thế nhưng, chính nó trước hết lại là chân trời hoàn vũ hiện lên nơi hành động của Chúa Giêsu.

 

Nếu, trong lời tiên tri của mình về vị mục tử, Ngôn Sứ Êzêkiên đã cố ý nói tới việc phục hồi mối hiệp nhất nơi các chi tộc Yến Duyên bị phân tán (x 34:22-24), thì ở đây vấn đề chẳng những liên quan tới việc thống nhất một dân Yến Duyên bị phân tán mà còn liên quan tới việc thống nhất tất cả mọi con cái Thiên Chúa, thống nhất loài người, tức thống nhất một Giáo Hội bao gồm cả người Do Thái lẫn chư dân ngoại.

 

Sứ vụ của Chúa Giêsu là sứ vụ liên quan tới toàn thể nhân loại. Bởi thế, Giáo Hội có trách nhiệm đối với toàn thể nhân loại, để nhân loại có thể nhận biết Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa là Đấng vì tất cả chúng ta đã làm người nơi Chúa Giêsu Kitô, Vị đã chịu khổ, tử nạn và phục sinh.

 

Giáo Hội không bao giờ được thỏa mãn với những hàng ngũ của những ai Giáo Hội đã vươn tới ở một mức độ nào đó, hay nói rằng những người khác là thành phần tốt đẹp vì họ là thành phần Hồi Giáo, Ấn Giáo v.v. Giáo Hội không bao giờ được thoải mái thu mình vào trong các giới hạn thuộc môi trường của mình. Giáo Hội có trách nhiệm về mối quan tâm hoàn vũ; Giáo Hội cần phải quan tâm tới và cho từng người và mọi người.

 

Chúng ta nói chung cần phải ‘chuyển dịch’ công việc cao cả này thành những sứ vụ tương ứng của chúng ta. Dĩ nhiên là một vị linh mục, một vị mục tử của các tâm hồn, cần phải trước hết và trên hết quan tâm tới những ai tin tưởng và sống với Giáo Hội, những ai tìm kiếm nơi Giáo Hội đường lối sống của họ, và phần họ, như những viên đá sống động, thực hiện việc xây dựng Giáo Hội, nhờ đó cũng xây dựng và nâng đỡ cả vị linh mục nữa.

 

Tuy nhiên, như Chúa Kitô nói, chúng ta cũng cần phải tái tấu việc đi ‘tới những đường xá và ngõ hẻm’ (Lk 14:23), để loan báo lời Thiên Chúa mời gọi đến dự tiệc của Ngài cho những ai tới nay vẫn chưa hề nghe thấy lời mời gọi ấy hay chưa được đánh động ở trong lòng.

 

Việc phục vụ hoàn vũ này có nhiều hình thức. Một trong những hình thức này còn là việc dấn thân cho mối hiệp nhất nội tại của Giáo Hội, nhờ đó, vượt qua và vượt trên những khác biệt và giới hạn Giáo Hội trở thành một dấu hiệu về sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới, một sự hiện diện duy nhất có thể kiến tạo nên mối hiệp nhất này.

 

Trong số những pho tượng thuộc thời điểm của mình, Giáo Hội cổ thời đã khám phá thấy hình ảnh của một vị mục tử vác chiên trên vai. Những hình ảnh này có lẽ là một phần nơi cái giấc mơ bình thường của đời sống thôn quê đã có sức thu hút xã hội thuộc thời kỳ ấy.

 

Tuy nhiên, đối với Kitô hữu thì hình ảnh này, với tất cả tính cách tự nhiên của nó, đã trở thành hình ảnh của Đấng đã lên đường tìm kiếm con chiên lạc của mình là nhân loại; hình ảnh của Đấng theo đuổi chúng ta thậm chí cho tới những vùng sa mạc và mù tối của chúng ta; hình ảnh của Đấng mang trên vai mình con chiên lạc là nhân loại để mang nó về nhà.

 

Nó đã trở thành hình ảnh của Vị Mục Tử thực sự là Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy phó mình chúng ta cho Người, hỡi quí huynh thân mến, nhất là vào lúc này đây, để Người có thể dẫn dắt anh em và mang vác anh em mọi ngày trong cuộc sống của anh em; nhờ đó, Người có thể giúp anh em, nhờ Người và với Người, trở nên những vị m,ục tử tốt lành của đàn chiên Ngưới. Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh (các tiểu đề để phân đoạn là do người dịch tự ý thực hiện để có thể thấy rõ ý chính của từng đoạn cũng như bố cục mạch lạc của toàn bài giảng)

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060507_priestly-ordination_en.html

 

 

TOP

 

 

 

Đêm Lễ Vọng Phục Sinh 16/4/2006 về Ý Nghĩa Phục Sinh đối với đời sống tu đức Kitô Giáo

 

‘Các người tìm kiếm Giêsu Nazarét, Đấng đã chịu đóng đanh. Người đã sống lại rồi, Người không còn đây’ (Mk 16:6). Rạng ngời ánh sáng, sứ thần của Thiên Chúa đã nói những lời ấy với những người phụ nữ bấy giờ đang tìm kiếm thân xác của Chúa Giêsu trong mồ. Thế nhưng, Thánh Ký cũng nói những lời ấy với chúng ta vào đêm hôm nay đây: Chúa Giêsu không phải là một nhân vật trong quá khứ. Người đang sống và bước đi trước chúng ta như một vị đang sống, kêu gọi chúng ta theo Người, Đấng hằng sống, nhờ đó khám phá ra cho chính bản thân chúng ta con đường sự sống.

 

‘Người đã sống lại, Người không còn đây’. Khi Chúa Giêsu lần đầu tiên nói với các môn đệ về thập giá và phục sinh, lúc thày trò xuống Núi Biến Hình, các vị đã ngẫm nghĩ rằng ‘sống lại từ kẻ chết’ nghĩa là gì (Mk 9:10).

 

Chúng ta hân hoan mừng Phục Sinh vì Chúa Kitô không còn ở trong mồ, thân xác của Người không bị hư hoại; Người thuộc về thế giới của người sống chứ không thế giới của kẻ chết; chúng ta hân hoan vì Người là Alpha cũng là Omega, như chúng ta công bố trong nghi thức nến phục sinh; Người sống không những là hôm qua mà còn hôm nay và vĩnh hằng nữa (x Heb 13:8). Thế nhưng, dầu sao Việc Phục Sinh cũng ở một vị thế rất xa vời với chân trời của chúng ta, vượt ra ngoài tất cả mọi cảm nghiệm của chúng ta, để rồi, trở về với chính mình, chúng ta thấy mình tiếp tục lập luận của các vị môn đệ: ‘việc sống lại’ này thật sự ở tại những gì? Nó có nghĩa gì đối với chúng ta, với toàn thế giới và với tất cả lịch sử?

 

Một thần học gia Đức quốc đã có lần nói mỉa mai rằng phép lạ về một thi thể hồi sinh – nếu thực sự xẩy ra như thế thì ông ta cũng quả tình chẳng tin – sẽ là một cái gì đó hoàn toàn không liên hệ gì hết, chính vì nó chẳng có liên quan tới chúng ta. Đúng vậy, nếu vấn đề chỉ đơn giản là có ai đó hồi sinh, ngoài ra chẳng còn gì hơn thế nữa, thì cần gì chúng ta phải quan tâm tới điều ấy chứ?

 

Thế nhưng vấn đề ở đây là việc phục sinh của Chúa Kitô có một cái gì đó còn hơn thế nữa, có một cái gì đó khác hơn thế nữa. Nếu chúng ta vay mượn ngôn từ của thuyết tiến hóa thì nó là ‘thứ biến đổi’ vĩ đại nhất, hoàn toàn là những gì nhẩy vọt quan trọng nhất tới một chiều kích hoàn toàn mới mẻ chưa bao giờ có trong lịch sử sự sống và sự phát triển của sự sống, đó là một cái nhẩy vọt tới một trật tự hoàn toàn mới làm cho chúng ta phải quan tâm và liên quan tới tất cả lịch sử.

 

Vấn đề luận giải này, vấn đề luận giải được bắt đầu từ các vị môn đệ, do đó bao gồm những vấn nạn sau đây: Những gì đã xẩy ra ở đó? Đối với chúng ta, với toàn thế giới và với riêng bản thân tôi đây có nghĩa là gì? Trước hết là vấn đề cái gì đã xẩy ra? Đó là vấn đề Chúa Giêsu không còn ở trong mồ. Người hoàn toàn ở trong một sự sống mới. Thế nhưng làm sao điều ấy có thể xẩy ra được? Năng lực nào đã tác động vào việc này? Vấn đề chính yếu là ở chỗ không phải chỉ có một mình con người Giêsu này, Người không phải là một ‘cái tôi’ đơn độc. Người là một thực tại đặc thù duy nhất với Thiên Chúa hằng sống, bởi vậy Người hiệp nhất với Ngài để làm nên một ngôi vị duy nhất với Ngài.

 

Có thể nói Người thấy mình gắn bó kết liên với Đấng là chính sự sống, một kết liên gắn bó chẳng những ở mức độ cảm xúc mà còn là một liên kết gắn bó bao gồm và thấu nhập hữu thể của Người. Sự sống riêng của Người không phải chỉ là của riêng Người mà là một sự sống hiệp thông với Thiên Chúa, ‘một hữu thể được nhập’ vào Thiên Chúa, nhờ đó, sự sống của Người thực sự không thể bị lấy đi khỏi Người.

 

Vì yêu thương, Người có thể để cho mình bị sát hại, thế nhưng, chính vì làm như thế mà Người đã vĩnh viễn tiêu diệt sự chết, vì nơi Người là sự sống vĩnh viễn. Người là một thực tại đặc thù duy nhất có sự sống bất diệt, ở chỗ nó bung tỏa ra một cách mới mẻ qua sự chết. Một lần nữa chúng ta hãy nói lên điều này theo một khía cạnh khác. Đó là cái chết của Người là một tác động của yêu thương. Tại Bữa Tiệc Ly, Người đã nói trước tới cái chết của mình và đã biến nó thành việc trao hiến thân mình.

 

Mối hiệp thông sự sống của Người với Thiên Chúa là một mối hiệp thông sự sống một cách cụ thể với tình yêu của Thiên Chúa, và tình yêu này là một quyền năng thực sự chống lại sự chết, nó mạnh hơn cả sự chết. Phục Sinh giống như một cuộc bung tỏa của ánh sáng, một bừng nở của yêu thương làm tan biến đi cái thẩm thấu bất khả tan biến giữa ‘chết chóc và thành nên’. Nó dẫn đến một chiều kích mới của hữu thể, một chiều kích mới của sự sống, một chiều kích mà, theo một đường lối được biến đổi mới mẻ, cả vật chất nữa cũng được hội nhập vào, và là một chiều kích làm hiện lên một thế giới mới.

 

Tất nhiên biến cố này không phải chỉ là một thứ phép lạ nào đó trong quá khứ, một biến cố hoàn toàn chẳng có liên hệ gì tới chúng ta. Nó là một bước nhẫy vọt về phẩm chất trong lịch sử ‘tiến hóa’ và lịch sử sự sống nói chung hường về một sự sống mới trong tương lai, về một thế giới mới là thế giới, bắt đầu từ Chúa Kitô, đã liên tục thẩm thấu vào thế giới của chúng ta, biến đổi thế giới ấy và thu hút thế giới này đến với chính nó. Thế nhưng làm thế nào điều ấy có thể xẩy ra được? Làm thế nào biến cố này hiệu nghiệm vươn chạm tới tôi và lôi kéo đời sống của tôi lên tới nó đây?

 

Câu trả lời, có lẽ trước hết là câu trả lời gây ngạc nhiên song đích thực, đó là: Biến cố này đến với tôi nhờ đức tin và phép rửa. Đó là lý do phép rửa là một phần của Lễ Vọng Phục Sinh, như chúng ta rõ ràng thấy được nơi cuộc cử hành của chúng ta hôm nay đây, khi các bí tích nhập môn Kitô Giáo được ban cho một nhóm người lớn thuộc các quốc gia khác nhau. Phép rửa chính thực nhắm đến điều ấy, tức là chúng ta không liên hệ với một biến cố trong quá khứ mà là một bước nhẩy vọt về phẩm chất trong lịch sử thế giới tới tôi, chiếm lấy tôi để kéo tôi lại. Phép Rửa là những gì hoàn toàn khác với một tác động xã hội hóa giáo hội, khác với một nghi thức hơi thời thượng và phức tạp trong việc nhận lãnh người ta vào Giáo Hội. Nó cũng không phải chỉ là một việc thuần túy tẩy rửa, chỉ là một thứ thanh tẩy và kiều diễm hóa linh hồn con người. Nó thực sự là chết đi và sống lại, là việc tái sinh, là việc biến đổi thành một sự sống mới.

 

Làm sao chúng ta có thể hiểu được điều ấy? Tôi nghĩ rằng những gì xẩy ra nơi Phép Rửa có thể được giải thích dễ dàng hơn cho chúng ta hiểu nếu chúng ta để ý tới phần cuối cùng của đoạn tự thuật về đời sống thiêng liêng ngắn ngủi Thánh Phaolô bày tỏ cho chúng ta biết trong Bức Thư ngài gửi cho Giáo Đoàn galata. Những lời kết thúc của đoạn này chứa đựng cái tâm điểm của đoạn tự thuật ấy: ‘Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi’ (2:20). Tôi sống song không phải là tôi sống. Cái ‘tôi’, cái căn tính chính yếu của con người – cái căn tính của con người Phaolô này – đã được thay đổi. Ngài vẫn hiện hữu nay song ngài không còn sống nữa. Ngài đã vượt qua cái ‘không’ để giờ đây ngài gặp lại bản thân mình một cách liên tục nơi cái ‘không’ ấy: Tôi, nhưng không phải là tôi. Với những lời ấy, Thánh Phaolô đã không diễn tả một cảm nghiệm thần bí, một cảm nghiệm có lẽ đã được ban cho ngài, và là một cảm nghiệm một cách nào đó có thể gây cho chúng ta chú ý theo quan điểm lịch sử. Không phải thế, câu này là một lời diễn tả về những gì đã xẩy ra nơi phép rửa.

 

Cái ‘tôi’ được lấy đi khỏi tôi và được tháp nhập vào một chủ thể mới và cao cả hơn. Điều ấy có nghĩa là việc trở lại của cái ‘tôi’, nhưng bấy giờ nó đã được biến đổi, được thanh tẩy, được cởi mở nhờ được tháp nhập vào một cái tôi khác, nơi Người nó chiếm được tầm mức hiện hữu bao rộng mới mẻ của nó. Thánh Phaolô còn giải thích điều này một lần nữa cho chúng ta hiểu theo một khía cạnh khác, ở đoạn thứ ba của Bức Thư gửi Giáo Đoàn Galata, chỗ ngài nói về ‘lời hứa’, một lời hứa được ngỏ cùng một cá nhân – cùng một ngôi vị, đó là cùng Chúa Kitô. Chỉ có duy một mình Người mới mang trong Người tất cả ‘lời hứa’ ấy. Thế thì những gì xẩy ra cho chúng ta đây? Thánh Phaolô trả lời: Anh em đã trở nên một với Chúa Kitô (x 3:28). Không phải chỉ là một điều duy nhất, mà là một, duy một, một chủ thể mới duy nhất đặc thù.

 

Việc giải phóng cái ‘tôi’ này của chúng ta khỏi tình trạng cô lập của nó, cái tôi được tìm thấy này nơi một chủ thể mới nghĩa là việc tìm thấy mình trong cái vĩ đại của Thiên Chúa và được thu hút vào một sự sống bấy giờ đã được vượt ra ngoài giới hạn của ‘chất chóc và thành nên’. Cái đại bùng nổ này của Phục Sinh đã chiếm lấy chúng ta nơi phép rửa để tiếp tục lôi kéo chúng ta lại. Nhờ đó, chúng ta được liên kết với một chiều kích mới của sự sống là chiều kích, cho dù giữa những khổ ải của thời đại chúng ta đây, chúng ta cũng đã được tham phần với nó một cách nào đó. Sống sự sống riêng của mình như một việc liên tục tiến vào khoảng trống ấy: đó là ý nghĩa của việc lãnh nhận phép rửa, của việc làm Kitô hữu. Đó là niềm vui của Lễ Vọng Phục Sinh.

 

Phục Sinh không phải là một điều gì đó trong quá khứ, Phục Sinh đã vươn tới chúng ta và đã chiếm đoạt chúng ta. Chúng ta được chiếm hữu bởi Phục Sinh, chúng ta được Chúa Kitô phục sinh chiếm hữu, và chúng ta biết rằng Người chiếm lấy chúng ta một cách mạnh mẽ, cho dù bàn tay chúng ta có trở nên yếu nhược. Chúng ta nắm lấy tay của Người, nhờ đó chúng ta cũng nắm lấy tay nhau, và chúng ta trở thành một chủ thể duy nhất, chứ không phải là một vật duy nhất. Tôi song không còn là tôi: Đó là công thức của đời sống Kitô hữu được bắt nguồn từ phép rửa, một công thức Phục Sinh trong thời gian. Tôi không còn là tôi: Nếu chúng ta sống như thế, chúng ta biển đổi thế giới này. Nó là một công thức phản ngược lại với tất cả mọi ý hệ bạo lực, nó là một dự án nghịch lại với tình trạng băng hoại cũng như với tham muốn quyền lực và sở hữu.

 

‘Thày sống và các con cũng sẽ sống’, Chúa Giêsu đã nói như thế trong Phúc Âm Thánh Gioan (14:19) với các môn đệ, tức là với chúng ta. Chúng ta sẽ sống nhờ mối hiệp thông hiện hữu của chúng ta với Người, nhờ được tháp nhập vào Người, Đấng là chính sự sống. Sự sống trường sinh, sự bất tử diễm phúc, chúng ta không tự mình có được hay có được nơi bản thân mình, mà là nhờ một mối liên hệ – nhờ mối hiệp thông hiện hữu với Người, Đấng là sự thật và là tình yêu, nên là trường sinh vĩng cửu: là chính Thiên Chúa. Tính chất bất khả hoại thuần túy của linh hồn tự mình không có nghĩa gì đối với sự sống trường sinh cả. Nó không thể làm cho nó trở thành một sự sống thực sự. Sự sống đến với chúng ta vì chúng ta được yêu thương bởi Đấng là sự sống; nó đến với chúng ta từ việc sống với Người và yêu mến Người. Tôi song không còn là tôi: Đó là con đường thánh giá, con đường ‘vượt qua’ một sự sống chỉ biết khép kín với cái tôi, nhờ đó mở ra con đường hướng tới niềm vui chân thực và bền vững.

 

Như thế, cùng với Giáo Hội, chúng ta có thể tràn đầy vui mừng hát lên những lời của Bài Thăng Ca: ‘Hãy hát lên, hơi các ca đoàn thiên thần… hãy hân hoan Ôi trái đất!’ Phục Sinh là một biến cố vũ trụ, một biến cố bao gồm trời đất và liên kết chúng lại với nhau. Cũng bằng những lời của Bài Thăng Ca, chúng ta có thể công bố rằng: ‘Chúa Kitô… Đấng từ cõi chết sống lại và chiếu tỏa ánh sáng an bình của Người cho toàn thể nhân loại, Người là Con của Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời muôn kiếp’. Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/4/2006

 

 

TOP

 

Lễ Chiều Thứ Năm Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ John Lateran

‘Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình thì Người đã yêu thương họ tới cùng’ (Jn 13:1). Thiên Chúa yêu thương tạo vật của Ngài là con người. Ngài cũng yêu thương con người khi họ sa ngã và không bỏ rơi mặc thây họ cho rồi đời. Ngài yêu thương họ tới cùng. Bằng tình yêu của mình Ngài đã đi cho tới cùng, cho tới cực độ: Ngài đã hạ giáng không còn vinh hiển thần linh của Ngài nữa. Ngài đã bỏ đi vinh hiển thần linh của Ngài và mặc lấy thân phận tôi đòi. Ngài đã xuống tận chỗ thấp hèn nhất của tình trạng sa đọa của chúng ta. Ngài đã quì xuống trước chúng ta và cống hiến chúng ta một việc làm của người tôi tớ. Ngài rửa chân bẩn thỉu của chúng ta để chúng ta có thể được thông phần với Ngài, để chúng ta được xứng đáng ngồi vào bàn với Ngài, một việc tự mình chúng ta không bao giờ có thể làm và dám làm.

 

Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa vời, quá xa vời và cao cả đối với những gì là tầm thường của chúng ta. Cho dù là Ngài cao cả Ngài vẫn có thể chú trọng tới những cái tầm thường của chúng ta. Cho dù là Ngài cao cả, nhưng linh hồn của con người, một con người được tình yêu hằng hữu dựng nên ấy, lại không phải là những gì bé nhỏ, song cao cả và đáng được Ngài yêu thương. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không phải chỉ là một thứ quyền năng rực rỡ khiến chúng ta phải kinh hoàng hãi sợ. Ngài là quyền lực yêu thương, nên Ngài là quyền lực thanh tẩy và tái sinh.

 

Thiên Chúa hạ giáng và biến thành một người tôi tớ, rửa chân cho chúng ta để chúng ta được ngồi vào bàn với Ngài. Tất cả mầu nhiệm của Chúa Kitô được thể hiện nơi điều này. Ý nghĩa của việc cứu chuộc được tỏ hiện nơi việc ấy. Chậu nước mà Ngài thanh tẩy chúng ta là tình Ngài yêu thương sẵn sàng chấp nhận chết đi. Chỉ có tình yêu mới có quyền năng thanh tẩy chúng ta khỏi ô uế bẩn thỉu và nâng chúng ta lên tầm mức cao cả của Thiên Chúa. Chính Ngài là bồn nước thanh tẩy chúng ta, Đấng hoàn toàn hiến mình cho chúng ta đến độ chạm tới vực thẳm khổ đau và chết chóc của họ. Ngài liên lỉ là tình yêu thanh tẩy chúng ta nơi các bí tích thánh tẩy – bí tích rửa tội và thống hối – Ngài tiếp tục quì xuống dưới chân chúng ta để cống hiến cho chúng ta một việc làm của thành phần tôi tớ, đó là việc thanh tẩy; Ngài làm cho chúng ta xứng đáng với Thiên Chúa. Tình yêu của Ngài khôn tận; Ngài thực sự yêu thương cho tới cùng.

 

Chúa Kitô nói: ‘Các con thanh sạch nhưng không phải tất cả mọi người trong các con đâu’ (Jn 13:10). Trong câu này Ngài đã tỏ cho chúng ta thấy tặng ân thanh tẩy cao cả Ngài cống hiến cho chúng ta, vì Ngài muốn ngồi vào bàn chung với chúng ta, trở nên lương thực cho chúng ta. ‘Thế nhưng không phải là tất cả đâu’; đây là mầu nhiệm tối tăm của vấn đề khước từ, một mầu nhiệm đã xẩy ra cho Giuđa mà chúng ta cần phải suy nghĩ thực sự trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh này, ngày Chúa Giêsu ban mình cho chúng ta. Tình yêu của Chúa Kitô vô giới hạn thế mà con người lại đặt giới hạn cho tình yêu này.

 

‘Các con thanh sạch những không phải là tất cả các con đâu’. Cái gì làm cho con người ra ô uế bẩn thỉu? Đó là thái độ khước từ tình yêu, không muốn được yêu thương, không yêu thương. Đó là thái độ cao ngạo cho rằng không cần thanh tẩy, khép mình trước sự thiện hảo cứu độ của Thiên Chúa.

 

Thái độ cao ngạo không muốn thú nhận và nhìn nhận rằng chúng ta cần được thanh tẩy. Nơi Giuđa, chúng ta thấy bản chất của thái độ khước từ một cách rõ ràng hơn nữa. Hắn nghĩ về Chúa Giêsu theo những gì là quyền lực và thành đạt. Đối với hắn, chỉ có thực tại về     quyền lực và thành đạt mà thôi, còn tình yêu chẳng có nghĩa gì cả. Và hắn là một con người thèm muốn: Tiền bạc là những gì còn quan trọng hơn cả mối hiệp thông với Chúa Giêsu, quan trọng hơn cả Thiên Chúa và tình yêu của Ngài. Bởi đó, hắn cũng trở thành một tên dối trá, hắn cả gan ăn thua đủ với sự thật; hắn sống trong gian dối và nhắm mắt lại trước sự thật là Thiên Chúa. Bởi thế hắn bị cứng lòng, không thể ăn năn hối cải, không thể bắt đầu tin tưởng trở về như người con hoang đàng mà bỏ đi cuộc đời băng hoại.

 

‘Các con thanh sạch nhưng không phải là tất cả đâu’. Chúa Kitô muốn cảnh giác chúng ta ngày nay trước cái tự mãn đến độ đặt giới hạn cho tình yêu vô hạn của Ngài. Ngài mời gọi chúng ta hãy bắt chước sự khiêm tốn của Người, hãy tin tưởng vào sự khiêm tốn này, hãy để mình bị ‘nhiễm lây’ nó. Ngài mời gọi chúng ta hãy trở về nhà, bất kể chúng ta cảm thấy sai lạc đến đâu đi nữa và hãy để choi sự thiện hảo thanh tẩy của Ngài thăng hóa chúng ta và làm cho chúng ta được hiệp thông với Ngài, với chính Thiên Chúa.

 

Chúng ta hãy suy nghĩ một câu nữa từ đoạn Phúc Âm bất tận này, đó là câu: ‘Thày đã làm gương cho các con’ (Jn 13:15), để ‘các con cũng phải rửa chân cho nhau’ (Jn 13:14). Việc rửa ‘chân cho nhau’ này là ở chỗ nào? Nó đặc biệt có nghĩa là gì? Hết mọi việc lành làm cho kẻ khác – nhất là cho những ai bị khổ đau và những ai ít được cảm mến – là việc rửa chân vậy. Chúa Kitô kêu gọi chúng ta làm việc này, đó là hạ mình xuống, tỏ ra khiêm nhượng và can đảm hành thiện, cũng như tỏ ra sẵn sàng chấp nhận bị khước từ nhưng vẫn tin tưởng vào sự thiện hảo và kiên trì với sự thiện hảo.

 

Thế nhưng vẫn còn một chiều kích sâu xa hơn nữa. Chúa Kitô tẩy rửa tình trạng ô uế bẩn thỉu của chúng ta bằng sự thiện hảo có quyền năng thanh tẩy của ngài. Việc rửa chân cho nhau trước hết nghĩa là không ngừng tha thứ cho nhau, nghĩa là luôn luôn bắt đầu lại cho dù nó có thể là luống công vô ích. Nó có nghĩa là thanh tẩy nhau bằng việc chịu đựng lẫn nhau và chấp nhận những gì người khác phải chịu đựng chúng ta; nó có nghĩa là thanh tẩy nhau, cống hiến cho nhau quyền năng thánh hóa của Lời Chúa và đưa nhau đến với bí tích của tình yêu thần linh.

 

Chúa Kitô thanh tẩy chúng ta và bởi đó chúng ta mới dám ngồi vào bàn với Ngài. Chúng ta hãy cầu xin để Ngài ban cho tất cả chúng ta ân sủng để trở thành khách vào một ngày nào đó và vĩnh viễn ở bàn tiệc cưới vĩnh hằng. Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/4/2006

 

TOP

 

 

Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Quí Huynh thân mến trong hàng giáo phẩm và linh mục,

Anh Chị Em thân mến,

 

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Chúa Kitô trao cho 12 Tông Đồ nhiệm vụ tư tế để cử hành bằng bánh và rượu bí tích Mình và Máu của Người cho tới khi Người trở lại, thay thế cho con chiên vượt qua và tất cả mọi hy tế Cựu Ước bằng tặng ân Mình Máu của Người, tặng ân chính bản thân Người.

 

Như thế, việc thờ phượng mới là ở sự kiện, trước hết, Thiên Chúa ban cho chúng ta một tặng ân, và chúng ta, tràn đầy tặng ân này, trở nên tặng ân của Ngài: Tạo vật về với Tạo Hóa. Bởi vậy mà chức linh mục cũng trở thành một điều mới mẻ: Chức này không còn là một vấn đề hạ giáng nữa mà là một cuộc hội ngộ của bản thân nơi mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Người bao giờ cũng là Đấng ban phát và lôi kéo chúng ta lại với Người. Chỉ có một mình Người mới có thể nói: ‘Này là Mình Thày – này là Máu Thày’. 

 

Mầu nhiệm chức linh mục của Giáo Hội là ở chỗ chúng ta, những con người khốn nạn, nhờ bí tích này, có thể nói với cái tôi của Người: ‘vơi tư cách của Chúa Kitô – in persona Christi’. Người muốn thi hành chức linh mục của Người qua chúng ta. Chúng ta nhớ lại mầu nhiệm cảm kích này, một mầu nhiệm tác động chúng ta một lần nữa mỗi lần chúng ta cử hành bí tích, nhất là vào Thứ Năm Tuần Thánh. Để cái thường nhật không làm hư hại tới những gì là cao cả và nhiệm mầu, chúng ta cần phải đặc biệt tưởng nhớ như thế, chúng ta cần phải trở về với giây phút Người đặt tay Người trên chúng ta để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm này.

 

Bởi vậy, một lần nữa, chúng ta hãy suy niệm về những dấu hiệu được bí tích này cho chúng ta thấy. Tâm điểm là chính cử chỉ cổ kính của việc đặt tay, nhờ đó, Người chiếm hữu tôi khi nói: ‘Con thuộc về Cha’. Cùng với những lời này Người còn nói: ‘Con được bàn tay Cha bảo vệ. Con được trái tim Cha bao che. Con ở trong lòng bàn tay của Cha, bởi thế, con cảm thấy mình ở trong cái bao la của tình yêu Cha. Con hãy ở trong bàn tay Cha và hiến cho Cha bàn tay của con’.

 

Nên chúng ta hãy nhớ rằng, bàn tay của chúng ta đã được xức bằng dầu biểu hiệu cho Thánh Linh và quyền năng của Ngài. Tại sao lại phải là bàn tay? Bàn tay của con người là phương tiện cho con người hành động, nó là biểu hiệu cho khả năng của họ trong việc đối diện với thế giới, cho đến độ ‘nắm lấy nó trong tay’. Chúa đã đặt tay của Người trên chúng ta, và giờ đây Người muốn có bàn tay của chúng ta để chúng trở thành bàn tay của Người trên thế giới. Người muốn bàn tay này không còn là dụng cụ để vơ lấy sự vật, con người, thế giới về cho bản thân chúng ta, biến thế giới này thành sở hữu của chúng ta, trái lại, những bàn tay ấy là những gì truyền đạt cái giao chạm thần linh của Người, trở thành những gì phục vụ cho tình yêu thương của Người.

 

Người muốn những bàn tay ấy trở thành dụng cụ phục vụ, nhờ đó, chúng trở thành biểu hiện cho sứ vụ của trọn vẹn con người, một con người làm cho họ nên bảo quản viên của Người và mang Người đến cho con người. Nếu bàn tay của con người tiêu biểu một cách tượng trưng cho các tài năng của họ, nói chung là cho kỹ thuật như khả năng làm chủ thế giới, thì bàn tay được xức dầu phải là dấu hiệu của khá năng con người ban phát, của việc kiến tạo nên một thế giới yêu thương – và đó là lý do chúng ta chắc chắn cần đến Thánh Thần.

 

Trong Cựu Ước, việc xức dầu là dấu hiệu của vấn đề chấp nhận việc làm: Vua chúa, tiên tri, linh mục là thành phần thực hiện và ban phát ngoài những gì được xuất phát từ chính bản thân họ. Ở một nghĩa nào đó, họ tước đoạt bản thân mình để thi hành một việc phục vụ được trao hiến bản thân cho quyền sử dụng của người cao cả hơn chính họ.


Nếu ngày nay Chúa Giêsu xuất hiện trong Phúc Âm như Đấng Được Thiên Chúa Xức Dầu, như Đức Kitô Thiên Sai, thì chính là vì Người liên kết với Thánh Thần tác hành sứ vụ được Cha trao phó, nhờ đó, Người cống hiến cho thế giới một vương quyền mới, một chức tư tế mới, một đường lối mới làm ngôn sứ, một ngôn sứ không tìm mình mà là sống cho Người theo chiều hướng thế giới được tạo thành. Hôm nay, một lần nữa, chúng ta hãy trao bàn tay của chúng ta cho Người tùy nghi sử dụng, và chúng ta hãy xin Người hãy luôn nắm lấy chúng ta trong tay và dẫn dắt chúng ta một lần nữa.

 

Nơi cử chỉ đặt tay của vị giám mục theo bí tích này, chính Chúa Kitô đã đặt tay mình trên chúng ta. Dấu hiệu bí tích này tái diễn lại cả một hành trình cuộc sống. Có lúc, như các vị môn đệ tiên khởi, chúng ta đã gặp gỡ Chúa Kitô và nghe Người kêu gọi rằng ‘Hãy theo Thày!’ Có lẽ ban đầu chúng ta đã theo Người một cách lưỡng lự, lùi bước và nghĩ rằng không biết đó có phải thực sự là đường chúng ta đi hay chăng.

 

Thế rồi, vào một lúc nào đó trong cuộc hành trình này, có lẽ chúng ta đã có được cảm nghiệm của tông đồ Phêrô sau mẻ cá lạ, tức là chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng bàng hoàng trước sự cao cả của Người, trước sự vĩ đại của việc làm ấy và trước cảnh thiếu kém của con người nghèo hèn của chúng ta, cho đến độ muốn thoái lui: ‘Ôi Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là một kẻ tội lỗi’ (Lk 5:8). Thế nhưng, bấy giờ, với tấm lòng hết sức nhân ái, Người đã nắm lấy tay chúng ta, kéo chúng ta đến với Người mà nói: ‘Đừng sợ! Có Thày ở với con. Thày không bỏ con đâu, nếu con không bỏ Thày!’

 

Và đã hơn một lần, một điều xẩy ra cho chúng ta như đã xẩy ra cho tông đồ Phêrô, khi ngài bước đi trên mặt nước để gặp gỡ Chúa thì đùng một cái ngài không cảm thấy nước dưới chân nữa nên sắp bị chìm xuống. Như tông đồ Phêrô, chúng ta cũng đã kêu lên: ‘Chúa ơi xin cứu con với!’ (Mt 14:30). Trước tất cả những gì là dữ dội của các yếu tố, làm thế nào chúng ta có thể thoát qua được những giòng nước ầm ầm tung tóe của thế kỷ và thiên kỷ vừa qua?  Thế nhưng, bấy giờ chúng ta đã nhìn vào Người… và Người đã nắm lấy tay của chúng ta và ban cho chúng ta một ‘sức nặng đặc biệt’ mới, đó là cái nhẹ nhàng của một thứ đức tin cuốn hút chúng ta lên cao.

 

Để rồi Người giơ tay ra nâng đỡ chúng ta và mang chúng ta đi. Người giữ chúng ta đứng vững. Chúng ta hãy luôn gắn mắt vào Người và hãy giơ tay ra cho Người. Chúng ta hãy để Người nắm lấy tay chúng ta thì chúng ta sẽ không bị chìm name, song sẽ phục vụ một sự sống mạnh hơn sự chết và phục vụ một tình yêu mạnh hơn hận thù. Niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, là phương tiện nhờ đó Người nắm lấy tay chúng ta và dẫn dắt chúng ta. Một trong những lời nguyện cầu tôi yêu thích là lời nguyện cầu được phụng vụ đặt vào môi miệng chúng ta trước khi Hiệp Lễ, đó là ‘Xin đừng bao giờ bỏ con lìa xa Chúa’. Chúng ta hãy nguyện xin để chúng ta không bao giờ xa lìa mối hiệp thông với Thân Thể của Người, với chính Chúa Kitô, để chúng ta không bao giờ lìa xa mầu nhiệm Thánh Thể. Chúng ta hãy Người đừng bao giờ buông tay chúng ta ra…

 

Chúa Kitô đã đặt tay của Người trên chúng ta. Người đã bày tỏ ý nghĩa của cử chỉ như thế qua những lời Người nói rằng: ‘Thày không còn gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết gì về những việc chủ làm. Thày gọi các con là bạn hữu, vì Thày đã nói với các con hết mọi sự Thày đã nghe nơi Cha Thày’ (Jn 15:15). Thày không còn gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu: Nơi những lời ấy người ta thậm chí có thể thấy được việc thiết lập thiên chức linh mục. Chúa Kitô làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người, ở chỗ, Người ký thác cho chúng ta tất cả mọi sự; Người phó chính bản thân Người cho chúng ta để chúng ta có thể nói bằng cái tôi của Người: ‘in persona Christi capitis’. Ôi Người tin tưởng chúng ta biết là dường nào! Người thực sự phó mình vào tay của chúng ta.

 

Những dấu hiệu thiết yếu của việc truyền chức linh mục là tất cả những biểu lộ sâu xa của lời ấy: dấu hiệu đặt tay; trao sách – trao lời Người ủy thác cho chúng ta; trao chén biểu hiệu cho việc Người truyền đạt cho chúng ta mầu nhiệm sâu xa và thân mật nhất của Người. Trong tất cả những sự ấy còn có quyền năng tha tội nữa: Người cũng làm cho chúng ta tham dự vào việc Người nhận thức thấy tình trạng thảm thương của tội lỗi cùng với tất cả những gì là tối tăm trên thế giới, và trao cho chìa khóa vào tay chúng ta để mở lại cửa Nhà Cha trên trời. Thày không còn gọi các con là tôi tớ nữa mà là bạn hữu. Đó là ý nghĩa sâu xa của việc làm linh mục, đó là trở thành bạn hữu của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cần phải tái dấn thân cho mới thân hữu hằng ngày này.

 

Tình thân hữu là để chia sẻ tâm tư và ước muốn. Trong mối hiệp thông này, Thánh Phaolô nói với chúng ta ở Thư gửi giáo đoàn Philiphê (x 2:2-5), chúng ta cần phải làm cho mình tưởng nghĩ như Chúa Giêsu. Và mối hiệp thông về tâm tưởng này không phải chỉ là những gì về tri thức, mà là một thứ chia sẻ về những cảm thức cùng ý muốn nên cũng chia sẻ về cả hành động nữa.

 

Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải nhận biết Chúa Giêsu một cách thân tình hơn bao giờ hết, lắng nghe Người, chung sống với Người, bỏ giờ ra với Người. Việc lắng nghe Người – nơi việc ‘lectio dinina’, tức là việc đọc Thánh Kinh, không phải theo kiểu học thức mà là theo kiểu thiêng liêng; nhờ đó chúng ta biết cách gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng đang hiện diện và nói với chúng ta. Chúng ta cần phải suy nghĩ và phản tỉnh những lời của Người cũng như những hành động của Người trước nhan Người và cùng với Người.

 

Việc đọc Thánh Kinh là việc cầu nguyện, nó phải là việc cầu nguyện – nó phải xuất phát từ việc nguyện cầu và dẫn tới việc nguyện cầu. Các thánh ký nói với chúng ta rằng Chúa Kitô thường ẩn mình ở trên núi cầu nguyện thâu đêm. Chúng ta cũng cần đến thứ ‘núi’ này: đó là độ cao nội tâm chúng ta cần phải leo lên, đó là ngọn núi nguyện cầu. Chỉ có thế mối thân hữu mới phát triển. Chỉ có thế chúng ta mới có thể thi hành công việc phục vụ tư tế của chúng ta, chỉ có thế chúng ta mới có thể đem Chúa Kitô và Phúc Âm của Người đến cho con người. Việc chỉ biết hăng say hoạt động thậm chí có thể là những gì anh hùng. Thế nhưng hoạt động bề ngoài, cuối cùng, vẫn chẳng sinh hoa kết trái và mất đi hiệu năng, nếu nó không được xuất phát từ mối hiệp thông sâu xa thân mật với Chúa Kitô.

 

Thời gian chúng ta giành cho việc làm này thực sự là thời gian của hoạt động mục vụ, của hoạt động mục vụ đích thực. Một linh mục trước hết là một con người nguyện cầu. Thế giới thường lạc hướng của mình theo chiều hướng duy hoạt động cuồng loạn của nó. Hoạt động của nó và các khả năng của nó trở thành những gì hủy hoại, nếu không có sức mạnh của việc nguyện cầu là những gì xuất phát giòng nước sự sống có khả năng làm cho đất đai khô cằn trở nên mầu mở phì nhiêu. 

 

Thày không còn gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu. Yếu tính của thiên chức linh mục đó là làm bạn của Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có thế chúng ta mới thực sự nói ‘thay cho Chúa Kitô – in persona Christi’, cho dù nội tâm chúng tax a lìa Chúa Kitô vẫn không thể làm tổn thương tới tính cách hiệu thành của bí tích. Làm bạn với Chúa Giêsu, làm linh mục nghĩa là làm một con người nguyện cầu. Vậy chúng ta hãy tình bạn này và hãy thoát khỏi cảnh vô tri của những người tôi tớ quê mùa. Vậy chúng ta hãy biết làm sao để sống, để chịu khổ và để tác hành với Người và cho Người.

 

Tình bằng hữu với Chúa Giêsu bao giờ cũng là tình bằng hữu đệ nhất với những ai thuộc về Người. Chúng ta có thể làm bạn của Chúa Kitô chỉ trong mối hiệp thông với toàn thể Chúa Kitô, tức với cả đầu lẫn thân, nơi sự sống dồi dào phong phú của Giáo Hội được sinh động bởi Chúa Kitô. Chỉ trong Giáo Hội, nhờ Chúa Kitô, Thánh Kinh mới là Lời sống động và hợp thời. Không có chủ thể sống động Giáo Hội ấp ủ các thời đại này, thì Thánh Kinh bị đổ bể thành những bản văn thường bất nhất hỗn tạp, do đó trở thành một cuốn sách của quá khứ. Thánh Kinh là những gì sống động vào lúc này đây chỉ ở nơi nào có ‘Sự Hiện Diện’ thôi – nơi nào Chúa Kitô mãi đồng thời với chúng ta: tức nơi thân thể Giáo Hội của Người.

 

Là linh mục tức là làm bạn với Chúa Giêsu Kitô, và điều này càng trở nên hơn thế nữa qua cả cuộc sống của chúng ta. Thế giới cần đến Thiên Chúa – không cần đến bất cứ một thần linh nào, mà là cần đến Vị Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, đến Vị Thiên Chúa hóa thành huyết nhục, Vị đã yêu thương chúng ta đến chết vì chúng ta, Vị đã phục sinh và đã tao nên nơi bản thân Ngài một khoảng trống cho con người. Vị Thiên Chúa này cần phải sống trong chúng ta và chúng ta cần phải sống trong Ngài. Đó là ơn gọi linh mục của chúng ta: Chỉ có thế hoạt động linh mục của chúng ta mới sinh hoa kết trái mà thôi.

 

Tôi muốn kết thúc bài giảng này bằng một câu nói của Andres Santoro, vị linh mục của Giáo Phận Rôma bị sát hại ở Trebisonda đang khi nguyện cầu; Đức Hồng Y Cé đã nói cho chúng ta biết câu ấy trong Tuần Phòng (đầu Mùa Chay cho giáo triều Rôma vừa rồi). Lời đó là: ‘Tôi ở nơi đây để sống giữa những thành phần dân chúng này, nhờ đó Chúa Giêsu hiện diện giữa họ qua xác thịt của tôi… Người ta có khả năng cứu độ chỉ bằng việc hiến ban xác thịt của mình mà thôi. Sự dữ của thế giới này được hạ sinh và khổ đau được cảm nghiệm thấy, chính yếu là ở chỗ thấm nhập vào xác thịt riêng của người ta, như Chúa Giêsu đã làm’. Chúa Giêsu đã mặc lấy xác thịt của chúng ta. Chúng ta hãy hiến nó cho Người, để nhờ đó Người có thể vào đời mà đổi đời. Amen.

 


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 13/4/2006

 

TOP

 

Chúa Nhật Lễ Lá - Ba Tính Chất về Chúa Kitô Vương Giả nơi Biểu Hiệu Thập Giá cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới

 

Đã 20 năm, nhờ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Chúa Nhật Lễ Lá đã đặc biệt trở thành Ngày Giới Trẻ, ngày giới trẻ khắp thế giới tiến lên nghênh đón Chúa Kitô, muốn hộ tống Người ở nơi thành phố và xứ sở của mình, để Người ở giữa chúng ta và có thể thiết lập hòa bình của Người trên thế giới. Nếu chúng ta muốn tiến lên nghênh đón Chúa Giêsu để rồi tiến bước với Người theo đường lối của Người, chúng ta cần phải hỏi rằng: Người muốn dẫn dắt chúng ta đi theo đường lối nào đây? Chúng ta trông đợi Người ở những gì? Người mong muốn gì nơi chúng ta?

 

Để hiểu được những gì xẩy ra vào Chúa Nhật Lễ Lá, cũng như để biết được ý nghĩa của ngày này chẳng những vào bấy giờ mà còn cho mọi thời đại, có một chi tiết rất quan trọng cần phải lưu ý, một chi tiết đối với các môn đệ của Người đã trở thành chi tiết then chốt để hiểu được biến cố ấy khi họ, sau Phục Sinh, nhớ lại những ngày hỗn loạn ấy bằng một cái nhìn mới.

 

Chúa Giêsu tiến vào Thành Thánh bằng cách cưỡi trên một con lừa, tức là trên một con vật của một người dân quê tầm thường, đặc biệt lại là một con lừa không thuộc về Người, một con lừa Người mượn cho cơ hội ấy. Người đã không đến trên một chiếc xe ngựa vương giả sang trọng, hay trên lưng ngựa như một đại nhân trên thế giới mà là trên một con lừa đi mượn. Thánh Gioan gợi ý cho chúng ta thấy rằng các môn đệ không hiểu được điều này.

 

Chỉ sau biến cố Vượt Qua họ mới nhận ra rằng như thế Chúa Giêsu mới làm trọn những lời loan báo của các vị tiên tri; Người tỏ ra rằng hành động của Người xuất phát từ Lời Chúa và để làm trọn Lời Chúa. Thánh Gioan viết rằng họ đã nhớ lại đoạn viết trong Sách Tiên Tri Zechariah: ‘Đừng sợ, hỡi nữ tử Sion; này đây vua ngươi tiến tới, ngồi trên con của lừa mẹ’ (Jn 12:15; x. Zec 9:9).

 

Để hiểu được ý nghĩa của lời tiên tri, nhờ đó hiểu được hành động của Chúa Giêsu, chúng ta cần phải lắng nghe trọn đoạn văn của tiên tri Zechariah, vị tiếp tục viết rằng: ‘Người sẽ phá hủy xe ngựa ở Ephrem và chiến mã ở Giêrusalem; rồi bẻ gẫy cung tên chiến trận và Người sẽ thiết lập bình an cho các dân nước; Người sẽ cai trị từ chân trời tới góc biển, và từ Sông Ngòi tới tận cùng trái đất’ (9:10).

 

Như thế, vị tiên tri này đã khẳng định 3 điều về vị vua tương lai ấy.

 

Trước hết, vị tiên tri khẳng định là Người sẽ là một ông vua của thành phần nghèo nàn, là một con người nghèo trong số những người nghèo và cho người nghèo. Nghèo nàn được hiểu trong trường hợp này theo ý nghĩa về thành ‘anawim’ nơi dân Do Thái, về những tâm hồn tin tưởng và khiêm hạ chúng ta thấy vây quanh Chúa Giêsu, theo ý nghĩa của phúc đức thứ nhất của Bài Giảng Trên Núi.

 

Người ta có thể nghèo về vật chất nhưng lại có một tâm địa đầy tham vọng giầu sang và quyền lực từ sang giầu mà có. Sự kiện con người sống trong thèm muốn và tham lam cho thấy rằng, theo tâm can của họ thì họ thuộc về thành phần giầu có. Người ta muốn đảo nghịch việc phân phối các sản vật nhưng chỉ để cho chính họ được ở trong tình trạng người giầu có chiếm hưởng trước kia mà thôi. Nghèo nàn nơi trường hợp của Chúa Giêsu – theo ý nghĩa của vị tiên tri này – trước hết cho thấy cái thanh thoát nội tại khỏi lòng tham lam và ước muốn quyền lực.

 

Nó liên quan tới một thực tại cao cả vượt trên việc phân phối khác nhau về các sản vật nữa, một việc phân phối chỉ hạn hẹp trong lãnh vực vật chất, và là việc phân phối làm cho tâm can con người thậm chí trở nên cứng cõi hơn nữa. Trước hết, nó là vấn đề thanh tẩy tâm can, nhờ đó người ta nhìn nhận rằng việc sở hữu trước hết là một trách nhiệm đối với kẻ khác, một trách nhiệm trước nhan Thiên Chúa, khi để cho mình được hướng dẫn bởi Chúa Giêsu là Đấng giầu sang đã trở nền bần cùng vì chúng ta (x 2Cor 8:9).

 

Cái thanh thoát nội tâm bao hàm việc thắng vượt những gì là băng hoại và tham lam có lúc đã tàn phá thế giới này; cái thanh thoát ấy chỉ có thể chiếm hữu nếu Thiên Chúa trở thành kho tàng của chúng ta, nó chỉ có thể chiếm đạt nơi việc nhẫn nại từ bỏ hằng ngày, những từ bỏ giúp nó trở thành một niềm thanh thoát chân thực. Trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta tung hô Chúa Giêsu, vị vua chỉ cho chúng ta thấy đường lối tiến tới đích điểm này, và chúng tax in Người hãy dẫn chúng ta theo Người trên con đường của Người.

 

Sau nữa, vị tiên tri cho chúng ta thấy rằng đức vua này sẽ là một đức vua hòa bình: Ngài sẽ làm cho các chiến xa và chiến mã biến mất, sẽ bẻ gẫy cung tên và công bố hoa bình. Nơi hình ảnh Chúa Giêsu, điều này đã được cụ thể hóa qua dấu hiệu thập tự giá. Nó là một chiếc cung gẫy, ở một nghĩa nào đó là một  cầu vồng mới mẻ đích thực của Thiên Chúa nối trời đất và bắc những chiếc cầu nối liến các lục địa bên trên các vực thẳm. Thứ khí giới mới được Chúa Giêsu đặt vào tay của chúng ta đó là cây thập tự giá, dấu hiệu của hòa giải, của yêu thương mạnh hơn sự chết. Mỗi lần chúng ta làm dấu thánh giá, chúng ta cần phải nhớ rằng đừng có đáp lại một điều gì bất chính bằng sự bất chính nữa, đáp lại bạo lực bằng bạo lực thêm; chúng ta cần phải nhớ rằng chúng ta chỉ có thể chế ngự sự dữ bằng sự lành, chứ không phải kiểu mắt đền mắt răng đền răng.

 

Điều khẳng định thứ ba của vị tiên tri đó là lời tiên báo tính cách đại đồng, ở chỗ, vương quốc của vị vua hòa bình này bao rộng ‘từ chân trời tới góc biển… cho đến tận cùng trái đất’. Lời hứa trước đây về đất đai được thay thế bằng một nhãn quan mới, đó là không gian của vị vua thiên sai ấy không còn là một xứ sở đặc biệt nào đó, một xứ sở tách biệt khỏi các xứ sở khác, và là một xứ sở không thể nào không ở vị thế địch lại với các xứ sở khác. Xứ sở của Ngài là trái đất này, là toàn thế giới. Ngài kiến tạo mối hiệp nhất nơi cái đa diện của các nền văn hóa, thắng vượt tất cả mọi giới hạn.

 

Bằng cái nhìn xuyên thấu những đám mây mù của lịch sử, chúng ta thấy hiện lên từ xa nơi lời tiên tri này cái cơ cấu của các cộng đồng Thánh Thể bao gồm toàn thể thế giới, một cơ cấu các cộng đồng tạo nên ‘Vương Quốc hòa bình’ của Chúa Giêsu từ chân trời tới góc biển cho đến tận cùng trái đất. Ngài đến với tất cả mọi nền văn hóa và với tất cả mọi phần đất trên thế giới, đến khắp mọi nơi, đến với những túp lều khốn cùng và những dân tộc nghèo khổ, cũng như đến với những vương cung thánh đường nguy nga đồ sộ. Ở khắp mọi nơi, Ngài vẫn là một, là Đấng Duy Nhất, nhờ đó, tất cả những ai qui tụ lại trong nguyện cầu, trong mối hiệp thông với Ngài, chính họ cũng được liên kết lại thành một thân thể duy nhất. Chúa Kitô cai trị bằng việc biến mình thành bánh và ban mình cho chúng ta. Nhờ đó Ngài xây dựng Vương Quốc của Ngài.

 

Mối liên hệ này hoàn toàn được sáng tỏ ở một câu khác trong Cựu Ước, một câu đặc biệt nói lên và giải thích những gì đã xẩy ra vào Chúa Nhật Lễ Lá. Đám đông dân chúng hoan hô Chúa Giêsu là: ‘Vạn tuế! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!’ (Mk 11:9; Ps 117[118]:25f). Câu này cho thấy nghi thức của lễ lều là lễ tín hữu di chuyển thành một vòng tròn chung quanh bàn thờ, tay cầm cành lá dừa, lá mía hay dương liễu.

Bấy giờ dân chúng đã hô lên trước Chúa Giêsu, Đấng họ thấy nhân danh Chúa mà đến. Thật vậy, lời diễn tả: ‘Đấng nhân danh Chúa mà đến đã trở thành những gì ám chỉ Đấng Thiên Sai. Nơi Chúa Giêsu họ nhìn nhận Người thực sự là Đấng nhân danh Chúa mà đến và làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa họ. Tiếng kêu hy vọng này của dân Do Thái, tiêng hoan hô Chúa Giêsu trong cuộc Ngài tiến vào thành Giêrusalem, đã có lý để trở thành nơi Giáo Hội tiếng hoan hô Người nơi Thánh Thể, Đấng luôn nhân danh Chúa đến giữa chúng ta, để nối kết chân trời góc biển trong bình an của Thiên Chúa. Vì Chúa đang đến mà chúng ta tiến ra khỏi những thực tại chuyên biệt của mình để thuộc về đại cộng đồng của tất cả những ai cử hành bí tích thánh này. Chúng ta tiến vào vương quốc an bình của Người và công nhận nơi Người, ở một nghĩa nào đó, anh chị em của chúng ta là thành phần được Người tới để thiết lập một vương quốc hòa bình trên thế giới rách nát tan hoang này.

 

Ba tính chất được vị tiên tri loan báo là nghèo khó, an bình và đại đồng được gồm tóm nơi dấu hiệu thập giá. Bởi thế và chính vì thế thập giá đã trở thành tâm điểm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới. Đã có thời –không hoàn toàn bị khắc phục - Kitô Giáo đã bị loại trừ chính vì thập tự giá này.

 

Thập giá được cho là những gì liên quan tới việc hy sinh, thập giá là dấu hiệu của việc phủ nhận sự sống. Tuy nhiên, chúng ta lại muốn có một sự sống viên trọn, không bị hạn chế và từ bỏ. Chúng ta muốn sống, chúng ta chỉ muốn sống mà thôi. Chúng ta không muốn để mình bị giới hạn bởi những chỉ thị và cấm đoán – đã có thể nói và vẫn có thể nói rằng – chúng ta muốn giầu có và dư đầy. Tất cả những điều ấy có vẻ thu hút và lôi cuốn; nó là thứ ngôn ngữ của con rắn nói với chúng ta rằng: ‘Đừng sợ. Hãy thản nhiên ăn tất cả mọi thứ cây trong vườn!’. 

 

Thế nhưng, Chúa Nhật Lễ Lá nói với chúng ta rằng lời ‘xin vâng’ cao cả đích thực, thật sự là cây thập tự giá, cây thập tự giá là cây sự sống đích thực. Chúng ta không chiếm đạt sự sống bằng việc chiếm cứ lấy thập giá mà bằng việc ban phát thập giá. Yêu thương là hiến ban bản thân mình, và ví thế, là đường lối của sự sống đích thực được biểu hiệu nơi thập tự giá. Hôm nay đây cây thập giá được trao chuyền, cây thập tự giá đã là tâm điểm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne, cho phái đoàn đại biểu để bắt đầu cuộc hành trình của mình đến Sydney, nơi mà vào năm 1008 giới trẻ thế giới muốn gặp lại nhau bên Chúa Giêsu để cùng Người xây dựng vương quốc an bình.

 

Từ Cologne tới Sydney, một cuộc hành trình băng qua các châu lục và các nền văn hóa, một cuộc hành trình băng qua một thế giới tan nát và quằn quại bởi bạo loạn! Một cách tiêu biểu, nó như một cuộc hành trình từ chân trời tới hóc biển, từ sông ngòi tới tận cùng trái đất. Nó là cuộc hành trình của Đấng, với dấu hiệu của cây thập tự giá, ban cho chúng ta bình an và làm cho chúng ta thành những kẻ chất chứa bình an của Người. Tôi cám ơn giới trẻ sẽ vác cây thập tự giá này, nơi đó chúng ta hầu như có thể chạm tới mầu nhiệm của Chúa Giêsu trên các nẻo đường thế giới. Chúng ta hãy nguyện xin để đồng thời Người cũng mở lòng chúng ta ra, hầu, theo cây thập tự giá này, chúng ta trở thành những sứ giả cho tình yêu và an bình của Người. Amen.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/4/2006

 

 

TOP

 

 

Lễ Đầy Năm Băng Hà của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Thứ Hai 3/4/2006

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong những ngày này, những ngày kỷ niệm đầu tiên băng hà của ngài, việc tưởng niệm về Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II là những gì đặc biệt sống động khắp Giáo Hội và trên thế giới.

 

Qua buổi Canh Thức Thánh Mẫu tối hôm qua, chúng ta đã sống lại chính giây phút băng hà đạo hạnh của ngài một năm trước đây, để rồi hôm nay, chúng ta cũng đang ở Quảng Trường Thánh Phêrô này để dâng Hy Tế Thánh Thể cho linh hồn được tuyển chọn của ngài.

 

Cùng với các vị hồng y, giám mục, linh mục và Tu Sĩ, tôi thân ái chào đông đảo anh chị em hành hương đã đến đây từ rất nhiều nơi, nhất là từ Balan, chứng tỏ lòng cảm phục, mến yêu và sâu xa biết ơn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho vị Giáo Hoàng thân yêu này, khi được soi động bởi Lời Chúa chúng ta vừa nghe.

 

Ở Bài Đọc Thứ Nhất theo Sách Khôn Ngoan, chúng ta được nhắc nhở về định mệnh đời đời đang đợi chờ thành phần công chính: một định mệnh tràn đầy hạnh phúc, một phần thưởng khôn sánh về những khổ đau và thử thách họ phải đương đầu trong cuộc sống của họ. ‘Thiên Chúa đã thử thách họ và thấy rằng họ xứng đáng với Ngài; Ngài đã thử thách họ như lửa thử vàng, và Ngài đã chấp nhận họ như một hiến lễ toàn thiêu’ (Wis 3:5-6).

 

Chữ ‘lễ toàn thiêu’ ám chỉ sự hy sinh nạn nhân bị toàn thiêu, bị thiêu rụi đi bởi lửa; nhờ đó, nó là một dấu hiệu hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa. Lời diễn đạt này của Thánh Kinh nhắc nhở chúng ta về sứ vụ của Đức Gioan Phaolô II, vị đã biến cuộc đời của mình thành một tặng vật dâng lên Thiên Chúa cùng hiến cho Giáo Hội, và nhất là trong việc cử hành Thánh Thể, ngài đã sống trọn chiều kích hy hiến theo thiên chức linh mục của ngài.

 

Trong số những lời kêu cầu được ngài yêu thích đó là lời xuất phát từ ‘Litanie de Gesù Cristo Sacerdote e Vittima’ ngài đã chọn cho vào phần kết của tác phẩm của mình, Tặng Ân và Mầu Nhiệm, xuất bản nhân dịp mừng 50 năm chịu chức linh mục của ngài (xem các trang 113-116): ‘Iesu, Pontifex qui tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam – Ôi Giêsu, Vị Thượng Tế đã hiến mình cho Thiên Chúa như lễ vật và thí vật, xin thương xót chúng con’.

 

Ngài đã thường lập lại lời khẩn cầu này biết bao! Nó diễn tả rõ ràng tính chất linh mục sâu xa của cả cuộc đời ngài. Ngài không bao giờ huyền hoặc hóa ước muốn của mình trong việc càng ngày càng nên một với Chúa Kitô Tư Tế qua Hy Tế Thánh Thể, nguồn mạch cho việc không ngừng dấn thân tông đồ.

 

Dĩ nhiên, chính đức tin mới là căn nguyên của việc ngài toàn hiến này. Trong Bài Đọc Thứ Hai chúng ta vừa nghe, Thánh Phêrô cũng sử dụng hình ảnh lửa thử vàng và áp dụng hình ảnh này vào đức tin (x 1Pt 1:7). Thật thế, tính chất của đức tin nơi mỗi người chúng ta mới đặc biệt là những gì bị thử thách và thử nghiệm bởi những khốn khó của cuộc đời, để thấy được tính chất vững chắc của nó, tính chất tinh tuyền của nó, tính chất kiên trì của nó trong cuộc sống. Vậy, Đức Cố Giáo Hoàng, vị đã được Thiên Chúa trang bị cho nhiều tặng ân về nhân bản cũng như về thiêng liêng, đã càng ngày càng cho thấy ngài như một ‘tảng đá’ đức tin khi trải qua cuộc thử luyện trong việc vất vả hoạt động tông đồ và chịu đựng bệnh hoạn.

Đối với những ai được dịp gần gũi với ngài thì đức tin vững mạnh và cương quyết này hầu như là những gì hiển nhiên. Nếu nó chẳng những làm cho thành phần cộng tác với ngài phải khâm phục, mà còn lan tỏa trong giáo triều dài của ngài cái ảnh hưởng thiện ích của ngài khắp Giáo Hội nữa, với một cường độ mạnh dần cho tới khi đạt tới tột đỉnh của nó vào những tháng ngày cuối đời của ngài.

 

Nó là một đức tin xác tín, mãnh liệt, chân thực, không biết sợ hãi và thỏa hiệp của ngài, một đức tin đã tác động tới tâm can của nhiều người, cũng nhờ nhiều chuyến tông du khắp nơi trên thế giới, nhất là nhờ ‘cuộc hành trình’ cuối cùng ấy, cuộc thống khổ và cái chết của ngài.

 

Đoạn Phúc Âm vừa được công bố giúp chúng ta hiểu được một khía cạnh khác nơi nhân cách về nhân bản và đạo nghĩa của ngài. Chúng ta có thể nói rằng ngài, Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, đã hết sức noi gương bắt chước Gioan là ‘người môn đệ yêu dấu’ trong các Tông Đồ, vị tông đồ đã đứng dưới chân Thập Giá với Mẹ Maria vao giây phút Đấng Cứu Chuộc cảm thấy bị bỏ rơi và bị tử nạn.

 

Vị thánh ký này đã thuật lại rằng Chúa Giêsu, khi thấy họ đừng gần kề thì đã trao phó người này cho người kia: ‘Hỡi Bà, này là con của bà!’… ‘Đó là mẹ của con!’ (Jn 19:26-27). Những lời của Chúa Kitô hấp hối ấy đặc biệt được Đức Gioan Phaolô II yêu thích. Như vị Tông Đồ và Thánh Ký này, ngài cũng muốn mang Mẹ Maria về nhà của ngài: ‘et ex illa hora accepit eam discipulus in sua’ (Jn 19:27).

 

Câu phát biểu ‘accepit eam in sua’ là lời chất chứa một ý nghĩa đặc biệt. Nó có ý nói đến việc tông đồ Gioan quyết định để Mẹ Maria thông phần vào cuộc đời của mình, như thế mới cảm nghiệm được rằng ai mở lòng mình ra cho Mẹ Maria thì thực sự được Mẹ chấp nhận và trở thành con riêng của Mẹ. Câu khẩu hiệu ‘Totus tuus’ được tiêu biểu nơi huy hiệu Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II cũng gói ghém cảm nghiệm linh thiêng và huyền nhiệm này nơi một cuộc sống hoàn toàn nhờ Mẹ Maria hướng về Chúa Kitô: ‘ad Iesum per Mariam – nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu’.

 

(Biệt chú của người dịch bản Việt ngữ: trong bức thư đề ngày 8/12/2003 gửi Chư Gia Đình Hội Dòng Montfort nhân dịp kỷ niệm 160 năm [1843-2003] xuất bản tác phẩm ‘Luận Về Lòng Thành Thực Sùng Kính Đức Trinh Nữ’ của vị sáng lập là Thánh Long Mộng Phố [Louis Montfort], chính Đức Gioan Phaolô II đã xác nhận nhận định của vị thừa nhiệm Biển Đức XVI của mình ở hai đoạn ngay trên đây: “Từ khi được hạ sinh, nhất là vào những lúc khó khăn nhất của mình, Giáo Hội đã thiết tha chiêm ngưỡng biến cố Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô được Thánh Gioan đề cập tới, đó là: ‘Đứng kề Thánh Giá Chúa Giêsu có Mẹ của Người, và chị của Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas, cùng với Maria Mai Đệ Liên. Khi Chúa Giêsu thấy Mẹ của mình và môn đệ Người yêu đứng gần thì Người nói với Mẹ mình rằng: Hỡi Bà, này là con của bà! Đoạn Người nói với người môn đệ rằng: Này là người mẹ của con! Và từ lúc đó người môn đệ ấy mang Người về nhà mình’ [Jn 19:25-27]. Qua giòng lịch sử của mình, Dân Chúa đã cảm nghiệm được tặng ân này của Chúa Giêsu tử giá, đó là tặng ân Mẹ Người. Mẹ Maria Rất Thánh thực sự là Mẹ của chúng ta, vị đồng hành với chúng ta trong cuộc hành trình đức tin, đức cậy và đức mến, tiến tới chỗ càng được hiệp nhất nên một hơn với Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ và là Trung Gian cứu độ duy nhất [x Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, các số 60, 62]. Như đã quá rõ, huy hiệu giáo phẩm của tôi cho thấy một cách tượng trưng câu Phúc Âm được trích dẫn trên đây; câu khẩu hiệu Totus tuus là câu được gợi hứng bởi giáo huấn của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort (cf. Gift and Mystery, pp. 42-43; Rosarium Virginis Mariae, n. 15). Hai chữ này diễn tả việc hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu qua Mẹ Maria: ‘Tuus totus ego sum, et omnia mea tua sunt’, Thánh Montfort đã viết như thế và ngài chuyển dịch sang ngôn từ của mình như sau: ‘Tất cả con là của Chúa, và tất cả những gì con có là của Chúa, Ôi Chúa Giêsu rất dấu yêu, nhờ Mẹ Maria, Người Mẹ rất thánh của Chúa’ (Treatise on True Devotion, n. 233). Giáo huấn của vị Thánh này đã gây được một ảnh hưởng sâu xa nơi lòng tôn sùng của nhiều tín hữu và nơi cuộc sống của tôi.”)

 

Anh chị em thân mến, tối hôm nay, chúng ta cảm kích nghĩ tới giây phút lìa đời của Vị Giáo Hoàng thân yêu, thế nhưng đồng thời lòng chúng ta cũng có thể được thúc đẩy hướng về phía trước. Chúng ta nghe âm vang trong tâm can những lời mời gọi được ngài lập đi lập lại là hãy thăng tiến đừng sợ hãi trên con đường trung thành với Phúc Âm để trở thành những người rao giảng tin mừng và chứng nhân của Chúa Kitô trong ngàn năm thứ ba.

 

Chúng ta không thể không nhắc lại những lời huấn dụ liên lỉ của ngài trong việc quảng đại cộng tác để xây dựng một nhân loại công chính hơn bằng tình đoàn kết hơn, trong việc trở thành những người xây dựng hòa bình và những người xây dựng niềm hy vọng.

 

Giờ đây chúng ta gắn mắt vào Chúa Kitô, Đấng ‘vẫn là một hôm qua, hôm nay và mãi mãi’ (Heb 13:8), Đấng quyền năng hướng dẫn Giáo Hội. Chúng ta tin tưởng vào tình yêu của Người và chính cuộc gặp gỡ Người ‘cống hiến cho đời sống một chân trời mới và một hướng đi quyết liệt’ (Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, đoạn 1).

 

Anh chị em thân mến, xin Thần Linh của Chúa Giêsu là nguồn an bình và hân hoan cho tất cả anh chị em, như nơi Đức Gioan Phaolô II vậy. Và xin Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội, giúp chúng ta trong tất cả mọi hoàn cảnh, như ngài, trở thành những tông đồ không biết mỏi mệt cho Người Con thần linh của Mẹ và thành những ngôn sứ cho tình yêu thương nhân hậu của Người. Amen!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060403_anniv-death-jp-ii_en.html

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Giáo Xứ «DIO PADRE MISERICORDIOSO» trong Cuộc Viếng Thăm Mục Vụ Chúa Nhật IV Mùa Chay 26/3/2006

 

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay này, theo truyền thống, được gọi là “Chúa Nhật Vui Mừng – Laetare Sunday”, là Chúa Nhật thấm đậm một niềm hân hoan mà, ở một mức độ nào đó, làm tan loãng đi bầu khí thống hối của Mùa Chay thánh này: ở chỗ, Giáo Hội đã xướng lên trong Ca Nhập Lễ rằng ‘Hỡi Giêrusalem hãy vui lên! Hãy mừng vui vì nó… những ai khóc thương cho nó’.

 

Câu Đáp Ca cũng âm vang lời mời gọi này: ‘Lạy Chúa, niềm vui của tôi là được tưởng nhớ đến Chúa’. Việc nghĩ tưởng đến Thiên Chúa là những gì mang lại niềm vui. Chúng ta tự nhiên tự nhủ rằng: thế nhưng tại sao chúng ta cần phải vui lên chứ? Dĩ nhiên lý do duy nhất đó là Phục Sinh đang tới. Việc monh đợi Phục Sinh cho chúng ta được nếm hưởng trước niềm vui được gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh.

 

Tuy nhiên, lý do sâu xa nhất name ở trong sứ điệp của các bài đọc Thánh Kinh được phụng vụ trình bày cho chúng ta thấy hôm nay và là những gì chúng ta đã nghe. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng, bất chấp những bất xứng của mình, tình thương vô biên của Thiên Chúa vẫn nhắm đến chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng ta một cách chúng ta có thể gọi là ‘lì lợm’ và tỏ cho chúng ta thấy nơi mối êm ái khôn lường của Ngài.

 

Đó là những gì hiện lên ở Bài Đọc Thứ Nhất theo Sách Ký Sự của Cựu Ước (x 2Chr 36:14-16,19-23). Vị tác giả sách thánh cống hiến cho chúng ta một dẫn giải tóm gọn và ý nghĩa về lịch sử của Dân Tuyển Chọn, thành phần chịu đựng hình phạt của Thiên Chúa như hậu quả của hành vị nổi loạn của họ, ở chỗ, đền thờ bị phá hủy, và dân chúng bị phát lưu không còn lãnh thổ; thực sự là Thiên Chúa dường như đã bỏ rơi họ.

 

Tuy nhiên, thế rồi chúng ta thấy rằng Thiên Chúa, qua việc trừng phạt, đã thực hiện một dự án của lòng xót thương. Chính cuộc hủy hoại Thành Thánh và đền thờ – như tôi đã nói – chính chuộc lưu đầy là những gì làm rung động tâm can của dân này và mang họ về lại với Thiên Chúa, nhờ đó họ nhận biết Ngài sâu xa hơn.

 

Vậy là Chúa, qua việc chứng tỏ tối thượng quyền của việc Ngài khởi động trên mọi nỗ lực thuần nhân loại, đã sử dụng một kẻ ngoại, đó là Vua Cyrus nước Ba Tư, để giải thoát dân Do Thái.

 

Trong bài đọc này chúng ta đã nghe thì cơn giận dữ và tình thương của Chúa được luân chuyển một cách liên tục thê thảm, nhưng yêu thương cuối cùng chiến thắng, vì Thiên Chúa là tình yêu.

 

Làm sao chúng ta lại không thấy được từ việc nhớ tới những biến cố xa xưa một sứ điệp vẫn còn hiệu lực qua mọi thời gian, bao gồm cả thời điểm của chúng ta đây? Khi nghĩ về những thế kỷ đã qua, chúng ta có thể thấy rằng Thiên Chúa tiếp tục yêu thương chúng ta, ngay cả lúc Ngài trừng phạt chúng ta. Ngay cả lúc các dự án của Thiên Chúa trải qua thử thách và án phạt, chúng bao giờ cũng nhắm tới việc mang lại thành quả xót thương và tha thứ.

 

Đó là những gì Thánh Phaolô khẳng định với chúng ta trong Bài Đọc Thứ Hai, khi ngài nhắc lại rằng ‘Thiên Chúa, Đấng giầu tình thương, vì tình yêu cao cả giành cho chúng ta, ngay cả lúc chúng ta đã chết đi nơi những vấp phạm của mình, đã làm cho chúng ta cùng sống với Chúa Kitô’ (Eph 2:4-5).

 

Để diễn đạt thực tại cứu độ ấy, Thánh Tông Đồ đã sử dụng từ ngữ về yêu thương là agape - từ ái, cùng với chữ ‘xót thương’, eleos theo tiếng Hy Lạp, lập lại và nhấn mạnh hơn lời tuyệt vời nhất chúng ta nghe thấy trong đoạn Phúc Âm: ‘Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến ban Con Duy Nhất của mình, để ai tin vào Con thì không bị chết nhưng có sự sống đời đời’ (Jn 3:16).

 

Như chúng ta biết, là ‘việc hiến ban’ nơi Chúa Cha đã có một diễn tiến thảm thiết, thậm chí đã đi đến chỗ hy sinh Người Con của mình trên Thập Tự Giá.

 

Nếu tất cả sứ vụ của Chúa Giêsu trong lịch sử là một dấu hiệu sống động của tình yêu Thiên Chúa, thì cái chết của Người, một cái chết nhờ đó thể hiện trọn vẹn việc chăm sóc cứu chuộc của Thiên Chúa, là những gì hết sức đặc thù vậy. Việc suy niệm của chúng ta bao giờ cũng phải, nhất là trong Mùa Chay này, tập trung vào Thập Tự Giá. Nơi Cây Thập Tự Giá ấy chúng ta chiêm ngắm vinh quang của Chúa Kitô là những gì chiếu tỏa ra nơi thân xác tử đạo của Chúa Giêsu.

 

Sự cao cả của Thiên Chúa, việc yêu thương của Ngài, trở thành hữu hình chính là ở nơi việc toàn hiến này của Người. Chính vinh quang của Đấng Tử Giá – việc Người Con Thiên Chúa tự ban mình – là

Dấu hiệu tối hậu đệ nhất được ban cho chúng ta để chúng ta có thể hiểu được sự thật về con người và sự thật về Thiên Chúa, ở chỗ, tất cả chúng ta được dựng nên và được cứu chuộc bởi một Vị Thiên Chúa là Đấng đã hy sinh Con duy nhất của Ngài vì yêu thương chúng ta.

 

Đó là lý do tại sao Thập Tự Giá, như tôi đã viết trong Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, ‘là tột đỉnh của việc Thiên Chúa quay ra chống lại mình là những gì Ngài tự ban mình để nâng nhân loại lên và cứu độ họ. Đó là tình yêu ở hình thức cực đoan nhất của mình’ (đoạn 12).

 

Chúng ta phải làm sao để đáp lại tình yêu cực đoan này của Chúa đây?

 

Phúc Âm trình bày cho chúng ta thấy một con người mang tên Nicôđêmô, một phần tử của Hội Đồng Do Thái ở Giêrusalem, người tim đến với Chúa Giêsu vào ban đêm. Ông là một con người hành thiện, được những lời lẽ và gương của Chúa Kitô lôi cuốn, thế nhưng lại là người tỏ ra lưỡng lự trong việc nhẩy vọt về đức tin vị e sợ kẻ khác. Ông cảm thấy khâm phụ

 

Phúc Âm trình bày cho chúng ta thấy một con người mang tên Nicôđêmô, một phần tử của Hội Đồng Do Thái ở Giêrusalem, người tim đến với Chúa Giêsu vào ban đêm. Ông là một con người hành thiện, được những lời lẽ và gương của Chúa Kitô lôi cuốn, thế nhưng lại là người tỏ ra lưỡng lự trong việc nhẩy vọt về đức tin vị e sợ kẻ khác. Ông cảm thấy khâm phục vị Tôn Sư này, vị tôn sư rất khác với những vị khác, nhưng không thể giải thoát bản thân khỏi bị ràng buộc bởi môi trường hoạt động của ông là những gì thù nghịch với Chúa Giêsu, do đó đứng lưỡng lự trước ngưỡng cửa đức tin.

 

Cũng có biết bao nhiêu người trong thời đại của chúng ta đây đang tìm kiếm Thiên Chúa, tìm kiếm Chúa Giêsu và Giáo Hội của Người, tìm kiếm lòng thương xót Chúa, và đang đợi chờ để được thấy một ‘dấu hiệu’ tác động trí khôn của họ và tâm can của họ!

 

Ngay nay, cũng như bấy giờ, Vị Thánh Ký náy nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có một dấu hiệu duy nhất đó là việc Chúa Giêsu được nâng lên cây Thập Tự Giá mà thôi: Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại là dấu hiệu thích đáng nhất. Nhờ Người, chúng ta mới có thể hiểu được sự thật về cuộc sống và chiếm được ơn cứu độ.

 

Đó là việc rao giảng chính yếu của Giáo Hội, một việc rao giảng vẫn không đổi they qua các thế hệ. Bởi thế, đức tin Kitô Giáo không phải là một thứ ý hệ mà là một cuộc gặp gỡ ngôi vị với Chúa Kitô Tử Giá và Phục Sinh. Từ cảm nghiệm này, cảm nghiệm của cả cá nhân cũng như cộng đồng, xuất phát một đường lối mới của việc suy tưởng và tác hành, đó là một cuộc sống đầy yêu thương được hạ sinh, như được chứng thực nơi các thánh.

 

Các bạn thân mến, mầu nhiệm này đặc biệt hiển nhiên nơi giáo xứ của anh chị em, một giáo xứ được cung hiến cho ‘Thiên Chúa là Cha Xót Thương’. Như chúng ta quá rõ, Vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô yêu dấu của tôi đã muốn thực hiện việc cung hiến này để ghi nhớ Đại Năm Thánh 2000 hầu lưu lại một cách hiệu quả biến cố thiêng liêng phi thường ấy.

 

Khi suy niệm đến tình thương của Chúa, một tình thương được tỏ hiện một cách trọn vẹn và tận tuyệt ở mầu nhiệm Thập Giá, tôi nhớ đến bài huấn từ được Đức Gioan Phaolô II dọn cho việc ngài gặp gỡ tín hữu vào ngày ¾, Chúa Nhật in Albis, Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh năm ngoái. 

 

Theo ý định thần linh, bài huấn từ này được viết vì ngài sẽ rời bỏ chúng ta vào áp ngày ấy, tức vào Thứ Bảy 2/4 – tất cả chúng ta đều nhớ đến nó một cách tường tận – và vì lý do đó, ngài đã không thể ngỏ những lời lẽ ấy cùng anh chị em. Giờ đây, anh chị em thân mến, tôi xin đọc những lời ấy cho anh chị em, đó là: ‘Chúa Kitô phục sinh đã cống hiến cho nhân loại, một nhân loại có những lúc dường như bị lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực của sự dữ, của thần tôi và của sợ hãi, tặng ân tình yêu thương của Người, một tình yêu thương tha thứ, hòa giải và tái cởi mở tinh thần hy vọng. Nó là tình yêu hoán cải tâm can và ban phát an bình’.

 

Vị Giáo Hoàng này, nơi bài huấn từ cuối cùng ấy, bài huấn từ giống như một lời di chúc, bấy giờ đã thêm là: ‘Thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận Tình Thương Thần Linh biết bao!’ (Huấn Từ Truyền Tin, được đọc bởi TGM Leonardo Sandri, Thay Thế Quốc Vu Khanh, cho tín hữu qui tụ ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 3/4/2005; L'Osservatore Romano English Edition, 6 April, p. 1, n. 2).

 

(Người dịch xin mở ngoặc ở đây là, cảm nhận của Giáo Hoàng Biển Đức về ‘bài huấn từ cuối cùng giống như một lời di chúc’ cũng là cảm nhận của người dịch được bày tỏ trong cuốn ‘Đức Gioan Phaolô II: Sống là Chúa Kitop6 – Chết là Vinh Thắng’, Cao-Bùi 5/2005, trang 32 và 34: “Và để kết thúc một giáo triều có sứ mệnh mang con người về cho Lòng Thương Xót Chúa của mình, ngài đã gửi một tối di chúc thư cho nhân loại, một di chúc thư được đọc vào chính Ngày Chúa Nhật II Phục Sinh, ngày chính ngài đã thiết lập theo lời yêu cầu của Chúa Giêsu qua chị Thánh Faustina để Kính Lòng Thương Xót Chúa, ngày ngài mới qua đi vào đêm vọng hôm trước. Sứ điệp của tối hậu di chúc thư này như sau: Theo di chúc hay ước nguyện cuối cùng này của mình, ĐTC GPII, vị giáo hoàng của ‘Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần – Redemptor Hominis’, thực sự muốn để lại cho cả Giáo Hội lẫn toàn thể nhân loại, ‘một nhân loại có những lúc dường như bị lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, cái tôi và sợ hãi’, đó là ‘thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận Lòng Thương Xót Chúa biết bao!’ Thế nhưng, để được như vậy, để nhân loại có thể ‘chấp nhận Lòng Thương Xót Chúa’, Giáo Hội nói chung và vị tân giáo hoàng nói riêng, phải trở thành Tông Đồ của Lòng Thương Xót Chúa, nhờ ‘việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm vĩ đại của tình yêu nhân hậu xuất phát từ thánh tâm Chúa Giêsu này bằng ánh mắt của Mẹ Maria’”). 

 

Hiểu biết và chấp nhận tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa: Chớ gì điều ấy là quyết tâm trên hết của anh chị em trong gia đình và sau đó tới toàn thể phạm vi cận nhân.

 

(Hai đoạn kế tiếp ĐTC chào hỏi các chức sắc trong giáo xứ địa phương và Giáo Phận Rôma)

 

Tôi biết rằng cộng đồng của anh chị em là một cộng đồng trẻ trung, mới gần 10 năm, trải qua những ngày đầu tiên trong những hoàn cảnh tạm bất ổn định trong khi chờ cho những cấu trúc hiện nay hoàn thành.

 

Tôi cũng biết rằng thay vì làm cho anh chị em chán nản, những trục trace ban đầu ấy đã thúc đẩy anh chị em nhất trí thực hiện việc tông đồ đặc biệt chú trọng tới lãnh vực giáo lý, phụng vụ và bác ái.

 

Các bạn thân mến, hãy tiếp tục con đường anh chị em đã khởi sự, cố gắng làm cho giáo xứ của anh chị em trở thành một gia đình thực sự, nơi việc trung thành với Lời Chúa và Truyền Thống của Giáo Hội hằng ngày trở nên qui luật sống của anh chị em hơn nữa.

 

Ngoài ra, tôi biết rằng, vì kiến trúc sáng tạo của mình, nhà thờ của anh chị em thu hút được nhiều khách thăm. Hãy làm cho họ chẳng những cảm nhận được vẻ đạp đặc biệt củadinh thự linh thánh này, nhất là còn cả sự phong phú của một Cộng Đồng sinh động nữa, một cộng đồng hăng say làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, Vị Cha xót thương. Tình yêu này thực sự là cái bí mật của niềm vui Kitô Giáo mà hôm nay, Chúa Nhật Hân Hoan này mời gọi chúng ta hoan hưởng vậy.

 

Khi chúng ta hướng mắt về Mẹ Maria, ‘Mẹ của niềm vui thánh hảo’, chúng ta hãy xin Mẹ giúp chúng ta thâm tín được những lý do nơi niềm tin của chúng ta, nhờ đó, được phụng vụ hôm nay thôi thúc, canh tân tinh thần và bằng một con tim hân hoan, chúng ta có thể đáp lại tình yêu vĩnh hằng và vô biên của Thiên Chúa.

 

Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060326_parrocchia-roma_en.html

 

 

TOP

 

 

 

Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy Lễ Mẹ Thai Lời ngày 25/3/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô

 

Quí Hồng Y và Thượng Phụ thân mến,

Quí Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô!

 

Tôi cảm thấy hết sức hân hoan chủ sự đồng tế này với các vị tân hồng y sau cuộc mật nghị hồng y hôm qua, và tôi thấy là thích đáng thực hiện cuộc mật nghị hồng y này vào ngày lễ trọng Truyền Tin. Thật vậy, trong việc nhập thể của Con Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy nguồn gốc của Giáo Hội. Hết mọi sự được bắt đầu từ đó. Hết mọi sự hiện thực của Giáo Hội về lịch sử và từng cơ cấu thuộc tổ chức Giáo Hội cần phải được hình thành bởi nguồn mạch nguyên khởi này.

 

Chúng phải được hình thành bởi Chúa Kitô, Lời nhập thể của Thiên Chúa. Chính Người là Đấng chúng ta liên lỉ chúc tụng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng mà nhờ Người ý muốn cứu độ của Thiên Chúa Ngôi Cha được hoàn tất. Tuy nhiên, ngày của mọi ngày hôm nay đây chúng ta chiêm ngưỡng khía cạnh này của mầu nhiệm ấy – khía cạnh suối nguồn thần linh tuôn chảy qua một mạch nước đặc biệt đó là Trinh Nữ Maria. Thánh Bênađô đã nói về điều này bằng hình ảnh ‘aquaeductus’ sống động (cf. "Sermo in Nativitate B.V. Mariae": PL 183, 437-448). Thế nên, khi cử hành việc nhập thể của Người Con, chúng ta không thể không tôn vinh Mẹ của Người.

 

Lời thiên thần loan báo cho Mẹ, Mẹ đã chấp nhận, và khi Mẹ đáp lại bằng tất cả tâm hồn của mình là ‘Này tôi… xin vâng như lời ngài truyền’ (Lk 1:38), thì Lời hằng hữu bắt đều hiện hữu như là một con người trong thời gian.

 

Mầu nhiệm khôn lường này không ngừng trở thành những gì là bàng hoàng ngỡ ngàng từ đời nọ đến đời kia. Thánh Âu Quốc Tinh tưởng tượng ra một cuộc đối thoại giữa ngài và vị thiên thần Truyền Tin, khi đặt vấn đề là: ‘Ôi Thiên Thần, xin nói cho tôi hay là tại sao điều này đã xẩy ra nơi Mẹ Maria?’ Câu trả lời được vị thiên sứ đáp lại chất chứa chính những lời chào kính: ‘Kính mừng đầy ơn phúc’ (x Sermo 291.6). Thật vậy, vị thiên thần, ‘khi hiện ra với Mẹ’, đã không gọi Mẹ theo tên trần gian của Mẹ là Maria, mà bằng tên thần linh của Mẹ, ‘Đầy ơn phúc – gratia plena’, một tên theo nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là ‘yêu dấu’ (x Lk 1:28) vì Mẹ luôn được Thiên Chúa biết đến và mang dấu vết Thiên Chúa. Giáo phụ Origen đã nhận định rằng không có danh xưng nào như thế được ban cho bất cứ một con người nào, và là một danh xưng duy nhất trong toàn bộ Thánh Kinh (cf ‘In Lucam’ 6:7). 

 

Nó là một danh hiệu ở thể thụ động, thế nhưng ‘cái thụ động’ này của Mẹ Maria, Vị luôn được và đang được Chúa mãi mãi ‘yêu thương’, bao gồm việc tự do ưng thuận của Mẹ, việc đáp ứng cá nhân và nguyên vẹn của Mẹ: Khi được yêu thương, Mẹ Maria hoàn toàn chủ động, vì Mẹ chấp nhận một cách quảng đại làn sóng yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên Mẹ. Cả ở việc này nữa, Mẹ cũng là người môn đệ trọn hảo của Con Mẹ, Đấng hiện thực tất cả tự do của mình qua việc tuân phục Chúa Cha.

 

Trong bài đọc thứ hai, chúng ta nghe một đoạn tuyệt vời được tác giả của bức Thư gửi Do Thái viết khi dẫn giải Thánh Vịnh 39 theo ý nghĩa nhập thể của Chúa Kitô: “Khi Chúa Kitô vào trần gian, Người đã thưa… ‘Này Con đây, Con xin đến để làm theo ý Cha, Ôi Thiên Chúa’” (10:5-7). Trước mầu nhiệm của hai lời ‘Này con đây’ của Chúa Kitô và Vị Trinh Nữ, lời này phản ảnh trong lời kia, làm nên câu Amen duy nhất dâng lên ý muốn yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy đầy những ngỡ ngàng và tri ân cảm tạ, và chúng ta cúi mình xuống tôn thờ.

 

Chư huynh thân mến, thật là một ân huệ cao cả biết bao khi thực hiện việc cử hành ý nghĩa này vào Lễ Trọng Truyền Tin đây! Chúng ta có thể nhận được dồi dào ánh sáng biết bao từ mầu nhiệm này cho đời sống chúng ta làm thừa tác viên của Giáo Hội đây! Nhất là các vị tân hồng y thân mến, chư huynh có thể lãnh nhận nhiều bổ dưỡng là chừng nào cho sứ vụ làm ‘Nghị Viên’ cao cả của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô! Cơ hội thích đáng này giúp chúng ta coi biến cố hôm nay đây, một biến cố nhấn mạnh đến nguyên tố Phêrô của Giáo Hội, theo chiều hướng của một nguyên tố khác, đó là nguyên tố Thánh Mẫu, một nguyên tố thậm chí còn quan trọng hơn nữa. Tầm vóc quan trọng của nguyên tố Thánh Mẫu trong Giáo Hội, sau công đồng chung Vaticanô II, được đề cao một cách đặc biệt bởi Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm yêu dấu của tôi, hợp với khẩu hiệu của ngài ‘Totus tuus’.

 

Trong linh đạo của ngài, cũng như trong thừa tác vụ liên lỉ của ngài, sự hiện diện của Mẹ Maria như là Người Mẹ và là Nữ Vương của Giáo Hội đã trở thành hiển nhiên trước mắt mọi người. Nhất là ngài đã quảng bá sự hiện diện từ mẫu của Mẹ nơi vụ ám sát ngày 13/5/1981 ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Để tưởng nhớ biến cố bi thương này, ngài đã đặt một bức ảnh Đức Trinh Nữ bằng vi thạch ghép trên cao Tông Dinh Giáo Hoàng, nhìn xuống Quảng Trường Thánh Phêrô, để hỗ trợ những giây phút chính yếu và diễn tiến hằng ngày cho giáo triều dài lâu của ngài. Đúng một năm từ khi giáo triều của ngài đi vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn vượt qua đầy khổ đau nhưng thực sự là vinh thắng. Tấm hình Truyền Tin, hơn bất cứ tấm hình nào khác, giúp chúng ta thấy rõ lý do tại sao hết mọi sự trong Giáo Hội trở về với mầu nhiệm Mẹ Maria chấp nhận Lời thần linh, nhờ đó, qua tác động của Thánh Linh, giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại mới được hoàn toàn niêm ấn.

 

Hết mọi sự trong Giáo Hội, hết mọi cơ cấu và thừa tác vụ, bao gồm cả thừa tác vụ của Thánh Phêrô và của các vị thừa kế ngài, đều được ‘bao gồm’ trong áo choàng của Vị Trinh Nữ này, trong chân trời đầy ân phúc của lời Mẹ ‘xin vâng’ theo ý muốn của Thiên Chúa. Mối liên hệ này với Mẹ Maria tự nhiên khơi lên trong tất cả chúng ta một âm hưởng rất mến thương, thế nhưng, trước hết nó có một giá trị khách quan. Giữa Mẹ Maria và Giáo Hội thực sự có một mối liên hệ tự nhiên, được Công Đồng Chung Vaticanô II nhấn mạnh qua quyết định khéo léo của mình, trong việc đưa phần về Đức Trinh Nữ vào đoạn kết của hiến chế ‘Ánh Sáng Muôn Dân’ về Giáo Hội.

 

Đề tài về mối liên hệ giữa nguyên tố Phêrô và nguyên tố Thánh Mẫu cũng được thể hiện nơi biểu hiệu chiếc nhẫn mà tôi sắp sửa trao cho chư huynh. Chiếc nhẫn này luôn là dấu hiệu của hôn ước. Hầu hết tất cả chư huynh đã được một chiếc nhẫn vào ngày được tấn phong lên hàng giáo phẩm, như biểu lộ lòng trung thành và việc dấn thân của chư huynh trong vấn đề trông coi Hội Thánh là hiền thê của Chúa Kitô (x. Nghi Thức Tấn Phong Giám Mục). Chiếc nhẫn tôi trao cho chư huynh hôm nay đây, chiếc nhẫn hợp với phẩm tước hồng y, là để xác nhận và củng cố việc dấn thân ấy, việc dấn thân cũng xuất phát từ tặng ân hôn ước, từ việc nhắc nhở cho chư huynh nhớ rằng trước hết và trên hết chư huynh cần phải mật thiết kết hợp với Chúa Kitô để hoàn thành sứ vụ của chư huynh là thành phần phù rể của Giáo Hội.

 

Chớ gì việc chư huynh chấp nhận chiếc nhẫn này, đối với chư huynh, là việc chư huynh lập lại tiếng ‘xin vâng’ của mình, tiếng ‘này con đây’ của chư huynh, ngỏ cả cùng Chúa Giêsu là Đấng đã chọn chư huynh và ủy nhiệm chư huynh, lẫn Giáo Hội, một Giáo Hội chư huynh được kêu gọi để phục vụ bằng tình mến yêu của một người bạn đời. Bởi vậy mà hai chiều kích của Giáo Hội là Thánh Mẫu và Phêrô, gặp nhau ở giá trị cao cả của ‘đức ái’ là đức làm trọn mỗi nguyên tố. Thánh Phaolô nói rằng đức ái là đặc sủng ‘cao trọng nhất’, là ‘đường lối tuyệt hảo nhất’ (1Cor 12:31,13:13).

 

Hết mọi sự trên thế giới này sẽ qua đi. Trong cõi vĩnh hằng chỉ có tình yêu mới tồn tại mà thôi. Vì lý do này, Chư Huynh thân mến, lợi dụng dịp thuận lợi của mùa Chay này, chúng ta hãy quyết tâm bảo đảm là hết mọi sự trong đời sống riêng tư của mình, cũng như trong hoạt động của Giáo Hội chúng ta tham phần, đều được tác động bởi đức ái và dẫn tới đức ái. Cả về khía cạnh này nữa, chúng ta được chiếu soi bởi mầu nhiệm chúng ta đang cử hành hôm nay đây. Thật vậy, việc đầu tiên Mẹ Maria làm sau khi lãnh nhận sứ điệp của Thiên Thần là ‘vội vã’ lên đường tới nhà của người chị họ Isave để phục vụ người chị này (x Lk 1:39).

 

Động tác của Vị Trinh Nữ này là một động tác của đức ái chân thực, một động tác khiêm tốn và can đảm, được tác động bởi niềm tin tưởng vào lời Chúa và được Thánh Linh động viên trong lòng. Những ai yêu thương thì quên mình và dấn thân phục vụ tha nhân.

 

Ở đây chúng ta có được hình ảnh và mô phạm của Giáo Hội! Hết mọi cộng đồng giáo hội, như Người Mẹ của Chúa Kitô, đều được kêu gọi hoàn toàn quảng đại chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa là Đấng đến ngự trong Mẹ và dẫn Mẹ bước đi trên con đường yêu thương. Đó là con đường tôi đã chọn để khai triều của mình, khi mời gọi mọi người, bằng bức thông điệp đầu tiên của mình, trong việc xây dựng Giáo Hội trong đức ái như một ‘cộng đồng yêu thương’ (x Thiên Chúa Là Tình Yêu, phần 2).

 

Trong việc theo đuổi mục tiêu này, Chư Huynh Hồng Y khả kính, việc gắn bó về tinh thần và việc chủ động hỗ trợ của chư huynh là những gì hỗ trợ và an ủi tôi rất nhiều. Tôi cám ơn chư huynh về điều ấy, đồng thời tôi mời gọi tất cả mọi người trong chư huynh, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân, hãy liên kết với nhau trong việc kêu cầu Thánh Linh, xin cho Hồng Y Đoàn được nhiệt thành hơn trong đức ái mục vụ, hầu giúp cho toàn thể Giáo Hội chiếu rạng tình yêu của Chúa Kitô trên thế giới, để chúc tụng và tôn vinh Ba Ngôi Chí Tháhh. Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/3/2006  

 

 

TOP

 

Bài Giảng Phong Tước cho Tân 15 Hồng Y ngày 24/3/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô

 

Quí Hồng Y, Thượng Phụ và Giám Mục khả kính,

Quí Vị Quan Khách,

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô! 

Vào ngày áp Lễ Trọng Truyền Tin, tâm trạng thống hối Mùa Chay mở đường cho lễ này, đó là hôm nay, Hồng Y Đoàn có thêm 15 tân phần tử. Tôi đặc biệt ngỏ cùng quí huynh thân mến, những vị tôi hân hoan phong tước hồng y, lời chào chân thành và thân ái nhất, và tôi xin cám ơn Đức Tổng Giám Mục William Joseph Levada về những niềm cảm mến cùng những lời chúc tốt đẹp ngài đã nhân danh quí huynh ngỏ cùng tôi. Tôi cũng hân hoan chào các vị Hồng Y khác hiện diện nơi đây, các vị Thượng Phụ, các vị Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân, nhất là các phần tử gia đình đến đây để tôn kính các vị tân Hồng Y trong nguyện cầu và niềm vui Kitô Giáo. Tôi đặc biệt tri ân chào mừng qúi tôn vị thẩm quyền dân sự và chính quyền, đại diện các quốc gia và tổ chức khác nhau. Cuộc Mật Nghị Hồng Y Công Khai Thường Lệ là một biến cố biểu lộ một cách hùng hồn nhất bản chất phổ quát của Giáo Hội, một Giáo Hội lan khắp thế giới để loan báo cho tất cả mọi dân tộc Tin Mừng của Chúa Giêsu là Đấng Cứu Tinh của chúng ta. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu đã mở tất cả 9 Mật Nghị Hồng Y, nhờ đó góp phần một cách hiệu nghiệm vào việc canh tân Hồng Y Đoàn theo chiều hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng như của Người Tôi Tớ Chúa Phaolô VI. Nếu quả thực qua các thế kỷ Hồng Y Đoàn đã trải qua việc đổi thay qua nhiều cách thức, nhưng bản chất và bản tính thiết yếu của cơ cấu quan trọng trong Giáo Hội này vẫn không đổi thay. Những nguồn gốc cổ kính của nó, việc phát triển về lịch sử của nó và việc cấu tạo của nó hôm nay đây làm cho nó thực sự trở thành một loại ‘Nghị Viện’, được kêu gọi để hợp tác chặt chẽ với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô trong vấn đề hoàn thành những công việc liên quan tới thừa tác vụ tông đồ hoàn vũ của ngài.

Lời Chúa, lời vừa được công bố cho chúng ta, đưa chúng ta trở về với thời gian. Theo Thánh Ký Marcô, chúng ta trở về với chính nguồn mạch của Giáo Hội, đặc biệt là nguồn gốc của thừa tác v ụ Thánh Phêrô. Bằng con mắt của tấm lòng mình, chúng ta thấy lại được Chúa Giêsu, Đấng mà tác động lại thấy này hoàn toàn hướng về và dâng lời chúc tụng cùng tôn vinh. Những lời Người nói với chúng ta nhắc nhở tâm trí chúng ta câu định nghĩa về Vị Giáo Hoàng Rôma thân thương của Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả, đó là ‘Servus servorum Dei – Người tôi tớ của các người tôi tớ Chúa’. Khi Chúa Giêsu giải thích cho 12 Vị Tông Đồ là quyền bính của họ phải được hành sử hoàn toàn khác với quyền bính của ‘thành phần cai trị nơi Dân Ngoại’, là Người muốn nói về nó theo ý nghĩa phục vụ: ‘Ai muốn làm lớn trong các con phải là đầy tớ các con, và ai muốn đứng đầu trong các con phải làm nô bộc cho mọi người’ (Mk 10:43-44). Tính cách hoàn toàn và quảng đại sẵn sàng phục vụ kẻ khác là đặc điểm nổi bật của những ai nắm quyền bính trong Giáo Hội, vì đó là lý do Con Người là Đấng đã đến ‘không phải để được phục dịch mà là để phục vụ, và để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người’ (Mk 10:45). Cho dù là Thiên Chúa, hay người ta thậm chí còn có thể nói, được thần tính thúc đẩy, Người đã mặc lấy ‘thân phận tôi đòi - forman servi’ – như đã được diễn tả một cách tuyệt vời trong bài thánh ca của Thư gửi Giáo Đoàn Philiphê (x 2:6-7).

Bởi thế mà ‘người tôi tớ của các người tôi tớ’ tiên khởi là Chúa Giêsu. Sau Người và hiệp nhất với Người là các Vị Tông Đồ; và trong số các vị tông đồ đặc biệt phải kể đến là Thánh Phêrô, vị được Chúa trao phó cho trách nhiệm dẫn dắt đàn chiên của Người. Vị Giáo Hoàng cần phải là người đầu tiên làm cho mình trở thành tôi tớ của tất cả mọi người. Chứng cớ rõ ràng về vấn đề này được chất chứa trong bài đọc thứ nhất hôm nay, một chứng cớ nêu lên trước chúng ta lời Thánh Phêrô khuyến dụ ‘thành phần giáo sĩ’ và trưởng lão của cộng đồng (x 1Pt 5:1). Đó là một lời huấn dụ có uy thế đối với vị Tông Đồ này, ở chỗ ngài là một chứng nhân về cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân lành. Chúng ta cảm thấy rằng những lời lẽ của Thánh Phêrô xuất phát từ cảm nghiệm bản thân của ngài về việc phục vụ đàn chiên Chúa, thế nhưng, trước hết và trên hết, chúng xuất phát từ cảm nghiệm trực tiếp về những gì Chúa Giêsu tác hành, đó là cách thức Người phục vụ cho đến độ tự hiến mạng sống mình, cách thức Người hạ mình xuống cho tới chết, chết trên thập tự giá, tin tưởng vào một mình Cha mà thôi, Đấng sau đó tôn vinh Người. Thánh Phêrô, như Thánh Phaolô, hoàn toàn được Chúa Kitô chiếm đoạt – ‘comprehensus sum a Christo Iese’ (x Phil 3:12) – và như Thánh Phaolô ngài có thể khuyên dụ thành phần kỳ lão với tất cả thế giá vì ngài không còn sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong ngài – ‘vivo autem iam non ego, vivit vero in me Christus’ (Gal 2:20). 

Phải, Quí Huynh khả kính và yêu dấu, những lời này của Ông Hoàng Chư Vị Tông Đồ đặc biệt áp dụng cho những ai được kêu gọi để đội mũ đỏ hồng y: ‘Tôi khuyên dụ thành phần kỳ lão trong anh em hãy trở thành một kỳ lão đồng chí và là chứng nhân cho những thương đau của Chúa Kitô, là một thông phần viên của vinh quang cần phải được tỏ hiện’ (1Pt 5:1). Những lời này, theo cấu trúc thiết yếu của chúng, gợi lại Mầu Nhiệm Vượt Qua, một mầu nhiệm đặc biệt ở trong lòng chúng ta trong những ngày Mùa Chay đây. Thánh Phêrô áp dụng những lời ấy vào chính bản thân mình như là ‘một kỳ lão đồng chí’, cho thấy là thành phần kỳ lão trong Giáo Hội, nhờ kinh nghiệm chồng chất qua năm tháng cũng như nhờ những thử thách phải đương đầu và thắng vượt, cần phải là những gì đặc biệt ‘ăn khớp’ với năng lực nội tại của Mầu Nhiệm Vượt Qua. Bao nhiêu lần, hỡi Quí Huynh thân mến, thành phần sắp lãnh nhận phẩm vị hồng y, đã tìm thấy nơi những lời lẽ này vấn đề để suy tư và làm nguồn hứng thiêng liêng trong việc bước theo chân Chúa Kitô tử giá và phục sinh! Những đòi hỏi gây ra bởi trách nhiệm mới của quí huynh sẽ là những gì xác quyết những lời ấy một cách mới mẻ và xác thực. Liên kết chặt chẽ hơn với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, chư huynh được kêu gọi để cùng nhau hoạt động với ngài hầu làm trọn việc phục vụ giáo hội của ngài, nên vấn đề này đối với chư huynh là một tham dự thiết tha hơn vào mầu nhiệm Thập Giá khi chư huynh thông phần vào các khổ đau của Chúa Kitô. Điều này giúp cho chư huynh có thể kéo muôn vàn mạch nguồn ân sủng và gieo rắc những hoa trái ban phát sự sống của các nguồn mạch ấy một cách hiệu nghiệm hơn cho những người ở chung quanh chư huynh.

Chư Huynh khả kính và yêu dấu, tôi muốn tóm gọn ý nghĩa của lời mời gọi mới đã được Chư Huynh  lãnh nhận, bằng lời tôi lấy làm cốt lõi cho bức Thông Điệp đầu tay của mình, đó là đức ái – caritas. Lời này khít khao với mầu sắc của chiếc áo choàng hồng y của chư huynh. Chớ gì mầu đỏ được chư huynh đang mặc trên người diễn tả đức ái của Chúa Kitô – caritas Christi, tác động chư huynh tỏ ra say yêu đối với Chúa Kitô, đối với Giáo Hội của Người và đối với toàn thể nhân loại. Giờ đây chư huynh có thêm một động lực nữa để tìm cách khơi lại trong bản thân chư huynh chính những cảm thức đã khiến Con Thiên Chúa đi đến chỗ đổ máu mình ra đền tội cho toàn thế giới. Chư Huynh khả kính, tôi tin tưởng chư huynh, tôi tin tưởng vào toàn thể Hồng Y Đoàn mà chư huynh đang được tháp nhập, trong việc loan truyền cho thế giới biết rằng ‘Deus caritas est – Thiên Chúa là tình yêu’, và thực hiện điều này trước hết bằng chứng từ của mối hiệp thông chân tình nơi thành phần Kitô hữu: Chúa Giêsu nói ‘Cứ dấu này mà tất cả mọi người sẽ nhận biết rằng các con là môn đệ của Thày, đó là nếu các con yêu thương nhau’ (Jn 13:35). Chư Huynh Hồng Y thân mến, tôi tin tưởng chư huynh trong việc bảo đảm rằng nguyên tắc của yêu thương sẽ được lan truyền sâu rộng, và sẽ cống hiến sự sống mới cho Giáo Hội ở hết mọi cấp độ thuộc hàng ngũ Giáo Hội, ở hết mọi nhóm tín hữu, nơi hết mọi tổ chức tu trì, nơi hết mọi khởi động về tâm linh, tông đồ và nhân đạo. Tôi tin tưởng chư huynh trong việc bảo đảm là việc chúng ta cùng nhau nỗ lực gắn mắt vào Con Tim mở ra của Chúa Kitô sẽ là những gì đẩy mạnh và bảo đảm con đường tiến tới mối hiệp nhất hoàn toàn của Kitô hữu chúng ta. Tôi tin tưởng nơi chư huynh trong việc bảo đảm rằng mối quan tâm của Giáo Hội đối với người nghèo và thiếu thốn đang thách đố thế giới bằng một câu phát biểu mãnh liệt về văn minh yêu thương. Tất cả những điều ấy tôi thấy được biểu hiện nơi mầu đỏ chư huynh đang mặc đây. Chớ gì nó thực sự là biểu hiệu của tình yêu thiết tha của Kitô hữu chiếu sáng trong đời sống của chư huynh.

Tôi xin ký thác lời cầu nguyện của tôi vào bàn tay từ mẫu của Đức Trinh Nữ Nazarét, mạch nguồn của máu sự sống Con Thiên Chúa đổ ra trên cây Thập Giá như biểu hiệu cao cả nhất của tình Người yêu thương. Nơi mầu nhiệm Truyền Tin, một mầu nhiệm chúng ta sắp cử hành, chúng ta thấy rằng Lời thần linh đã hóa thành nhục thể qua tác động của Thánh Linh và ngự giữa chúng ta. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, chớ gì Thần chân lý và yêu thương được tuôn đổ dồi dào xuống trên các tân Hồng Y cũng như trên tất cả chúng ta, nhờ đó, khi chúng ta càng hoàn toàn trở nên giống Chúa Kitô, chúng ta liên lỉ dấn thân xây dựng Giáo Hội và truyền bá Phúc Âm trên thế giới.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060324_consistory_en.html 

 

TOP

 

 

Bài Giảng về Thánh Giuse với Lao Động theo Ý Nghĩa các bài đọc của Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay 19/3/2006

 

Anh Chị Em thân mến:

 

Chúng ta đã cùng nhau nghe một đoạn quá quen thuộc của Sách Xuất Hành, đoạn được tác giả thánh trình thuật việc Thiên Chúa ban Thập Giới cho Yến Duyên.

 

Có một chi tiết gây chú ý ngay đó là việc ban bố Bản Thập Giới được dẫn nhập bằng chi tiết quan trọng liên quan tới vấn đề giải phóng cho dân Yến Duyên.. Bản văn viết: ‘Ta là Chúa, Thiên Chúa các ngươi, Đấng đã mang các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, ra khỏi nhà nô lệ’ (Ex 20:20). Bởi thế, Bản Thập Giới là việc khẳng định niềm tự do chiếm hữu.

 

Thật thế, nếu Bản Thập Giới này được khảo sát sâu xa thì chúng là phương tiện Chúa ban cho chúng ta để bênh vực tự do của chúng ta cho khỏi cả những thứ chi phối nội tâm của đam mê cũng như những lạm dụng bên ngoài của hiểm độc. Những cái ‘không/đừng’ của Bản Thập Giới này là những cái ‘ưng thuận’ cho việc phát triển niềm tự do đích thực. Còn có một chiều kích thứ hai trong Bản Thập Giới này cũng cần phải được nhấn mạnh nữa, đó là qua Lề Luật được Moisen ban bố, Chúa tỏ ra cho biết rằng Ngài muốn đúc kết một giao ước với Yến Duyên.

 

Thế nên, Lề Luật là một tặng ân hơn là một thứ áp đặt. Lề Luật cho thấy việc Thiên Chúa chọn lựa cho tất cả mọi người hơn là truyền khiến những gì con người cần phải làm: Ngài ở về phía thành phần dân được tuyển chọn; Ngài đã giải thoát họ khỏi cảnh làm tôi và bao bọc họ bằng một lòng từ ái nhân hậu. Bản Thập Giới là chứng từ của một tình yêu ưu ái.

 

Phụng vụ hôm nay còn cống hiến cho chúng ta một sứ điệp thứ hai nữa, đó là lề luật Moisen đã được nên trọn nơi Chúa Giêsu, Đấng tỏ cho thấy đức khôn ngoan và tình yêu của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Thập Giá, ‘một vấp phạm cho người Do Thái và điên rồ cho Dân Ngoại’, như Thánh Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc thứ hai, ‘thế nhưng, đối với những ai được kêu gọi, cả Do Thái lẫn Hy Lạp, thì Chúa Kitô cũng là quyền năng và là khôn ngoan của Thiên Chúa’ (1Cor 1:23-24). Trang Phúc Âm vừa được công bố thực sự ám chỉ về mầu nhiệm này, đó là việc Chúa Giêsu đánh đuổi những kẻ buôn bán và tay đổi tiền bạc ra khỏi đền thờ. Vị Thánh Ký cho thấy cái then chốt của bài đọc về đoạn quan trọng này qua câu Thánh Vịnh: ‘Lòng nhiệt thành nhà Chúa thiêu đốt tôi’ (Ps 68[69]:10).

 

Chính Chúa Giêsu là vị bị ‘thiêu đốt’ bởi ‘lòng nhiệt thành’ cho ‘nhà Chúa’, là nơi được sử dụng vào các mục đích khác với mục đích được ấn định cho nó. Để đáp lại điều yêu cầu của các vị lãnh đạo tôn giáo về một dấu tỏ ra thẩm quyền của Người, Người đã đáp lại trước sự kinh ngạc của những ai hiện diện bay giờ là: ‘Cứ phá đền thờ này đi, Tôi sẽ dựng lại trong vòng ba ngày’ (Jn 2:19).

 

Những lời lẽ nhiệm mầu này, những lời bấy giờ không thể hiểu thấu, nhưng đã được Thánh Gioan chú giải cho thành phần độc giả Kitô giáo, qua nhận định rằng: ‘Người nói về đền thờ thân xác của Người’ (Jn 2:21). ‘Đền thờ’ ấy sẽ bị thành phần đối phương của Người hủy hoại, thế nhưng, sau ba ngày, Người sẽ tái thiết nó bằng việc phục sinh. Cái chết đau thương và ‘ô nhục’ của Chúa Kitô sẽ được tôn vinh bằng cuộc chiến thắng của việc Người vinh hiển phục sinh. Trong mùa Chay này, khi chúng ta sửa soạn sống lại biến cố chính yếu cứu độ này của mình nơi tam nhật Phục Sinh, chúng ta thấy được Đấng tử giá phản ánh rạng ngời của Đấng phục sinh.

 

Anh chị em thân mến: Phụng vụ Thánh Thể hôm nay, một phụng vụ liên kết những suy niệm của các bài đọc phụng vụ của Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay với việc tưởng niệm Thánh Giuse, cống hiến cho chúng ta cơ hội để cứu xét, theo chiều hướng của mầu nhiệm vượt qua, một khía cạnh quan trọng khác của cuộc sống con người. Tôi có ý nói tới thực tại của công việc làm ngày nay đang lọt vào giữa những biến đổi nhanh chóng và phức tạp. 

 

Ở những đoạn khác, Thánh Kinh cho thấy tại sao việc làm lại thuộc về thân phận nguyên thủy của con người. Khi Đấng Hóa Công tạo dựng nên con người theo hình ảnh và tương tự như Ngài, Ngài đã mời gọi họ hãy canh tác trái đất (Gen 2:5-6). Chính vì tội lỗi của các vị cha ông chúng ta mà việc làm đã trở thành công khó và khổ đau (Gen 3:6-8), thế nhưng, theo dự án thần linh, nó vẫn giữ được cái giá trị bất đổi thay của mình. Chính Con Thiên Chúa, khi làm cho mình nên giống như chúng ta trong mọi sự, đã nhiều năm hiến mình cho các việc làm tay chân, đến độ Người được biết đến là ‘con của bác thợ mộc’ (Mt 13:55).

 

Giáo Hội đã luôn tỏ ra, nhất là trong thế kỷ vừa qua, chú trọng và quan tâm về lãnh vực xã hội này, như được chứng thực bởi nhiều cuộc can thiệp về xã hội của huấn quyền, cũng như bởi hoạt động của nhiều hiệp hội theo tinh thần Kitô Giáo, một số qui tụ ở đây hôm nay thay mặt cho thế giới lao công.

 

Tôi hân hoan chào đón quí bạn, và ngỏ lời chào chân thành tới từng quí bạn. Tôi đặc biệt nghĩ tới Giám Mục Arrigo Miglio giáo phận Ivrea và là trưởng Ủy Ban của Hội Đồng Giám Mục Ý Quốc Về Các Vấn Đề và Hoạt Động Xã Hội, Công Lý Và Hòa Bình, vị đã bày tỏ những cảm thức chung của quí bạn và những lời chúc mừng tốt đẹp về ngày quan thày của tôi. Tôi rất biết ơn ngài.

 

Việc làm có một tầm vóc quan trọng đối với việc viên trọn của con người và việc phát triển của xã hội, và đó là lý do nó bao giờ cũng cần phải được tổ chức và phát triển hoàn toàn hợp với phẩm vị con người và phục vụ công ích. Vấn đề cũng không thể châm chước là con người không được để mình lệ thuộc vào việc làm, không được tôn sùng nó, với mục đích tìm kiếm nơi nó ý nghĩa tối hậu và trên hết của đời sống.

 

Về khía cạnh này, thật là hợp thời với lời kêu mời trong bài đọc thứ nhất, đó là ‘Hãy nhớ ngày Hưu Lễ, hãy giữ cho nó thánh hảo. Sáu ngày các người làm lụng, và thực hiện tất cả mọi công việc của các người; thế nhưng ngày thứ bảy là ngày Hưu Lễ của Chúa là Thiên Chúa các người’ (Ex 20:8-9). Ngày Hưu Lễ là một ngày thánh hảo, tức là một ngày được hiến dâng cho Chúa, một ngày con người hiểu hơn nữa về ý nghĩa cuộc sống mình cũng như hoạt động việc làm của họ. Bởi thế, có thể khẳng định rằng giáo huấn thánh kinh về việc làm lên đến tuyệt đỉnh của mình nơi giới huấn nghỉ ngơi.

 

Về vấn đề này Cuốn Tổng Hợp Tín Lý Về Xã Hội của Giáo Hội nhận định một cách thích đáng rằng: ‘Vấn đề nghỉ ngơi mở ra trước con người bị ràng buộc với nhu cầu làm việc cái nhãn quan của một thứ tự do trọn vẹn hơn, một nhãn quan về Ngày Hưu Lễ vĩnh hằng (x Heb 4:9-10). Việc nghỉ ngơi giúp con người có thể nhớ tưởng và sống lại các việc làm của Thiên Chúa, từ việc tạo thành tới việc cứu chuộc, chân nhận chúng là việc Ngài làm (x Heb 2:10) để tri ân cảm tạ Ngài là Đấng là tác giả của suự sống và hiện hữu của họ’ (số 258).

 

Sinh hoạt việc làm cần phải phục vụ cho sự thiện thực suự của nhân loại, giúp cho ‘con người, như là một cá nhân và là phần tử của xã hội, vun trồng và làm trọn ơn gọi hoàn toàn của họ” (Hiến Chế Vui Mừng Và Hy Vọng, số 35).

 

Để điều này được thực hiện thì tính chất cần thiết về kỹ thuật và chuyên nghiệp vẫn chưa đủ; cả việc thiết lập một trật tự xã hội chính trực chú trọng tới thiện ích của tất cả mọi người cũng không đủ. Cần phải sống một linh đạo giúp cho thành phần tín hữu thánh hóa bản thân qua việc làm của mình, theo gương Thánh Giuse, vị hằng ngày phải cung cấp các nhu cầu cho Thánh Gia bằng đôi bàn tay của mình, và là vị vị thể đã được Giáo Hội tôn làm quan thày của thành phần lao động.

 

Chứng từ của ngài cho thấy rằng con người là chủ thể và là vai chính của việc làm. Tôi xin ký thác cho ngài giới trẻ là thành phần gặp phải khó khăn trong việc tiến vào thể giới của việc làm, thành phần bị that nghiệp, và những ai phải trải qua những bất thuận lợi gây ra bởi cuộc khủng hoảng lan rộng về nghề nghiệp. Cùng với Mẹ Maria là hôn thể của ngài, xin Thánh Giuse trông coi tất cả mọi người công nhân, và cầu bầu cho các gia đình và toàn thể nhân loại được yean hàn và bình an. Bằng việc chiêm ngưỡng vị đại thánh này, chớ gì Kitô hữu biết làm chứng nơi tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống tình yêu Chúa Kitô, Đấng là nguồn mạch của tình đoàn kết chân thực và bình an bean vững. Amen.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời ‘chân thành cám ơn’ những lời chúc mừng quan thày của ngài. Chẳng hạn như tờ nhật báo L’Osservatore Romano số ra chính ngày 19/3, và Đức Giám Mục Arrigo Miglio, chủ tịch Ủy Ban hội đồng Giám Mục Ý Về Các Vấn Đề Xã Hội Và Hoạt Động Xã Hội, Công Lý Và Hòa Bình, cũng đại diện cho khoảng 20 hiệp hội lao động, ngỏ lời chúc mừng Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ do chính Đức Thánh Cha chủ tế.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/3/2006 

 

TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài Giảng Thứ Tư Lễ Tro 1/3/2006 tại Đền Thờ Santa Sabina ở Aventine Hill

 

Quí Hồng Y,

Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm và hàng Linh Mục,

Anh Chị Em thân mến,

 

Cuộc diễn hành thống hối được chúng ta lợi dụng để bắt đầu việc cử hành hôm nay đã giúp chúng ta tiến vào một bầu khí chính yếu của Mùa Chay, đó là một cuộc hành trình hoán cải chung cũng như riêng và canh tân tâm hồn. 

 

Theo truyền thống Rôma rất cổ xưa về các chặng – stationes Mùa Chay thì trong mùa này, tín hữu cùng với thành phần hành hương hằng ngày tập trung lại và dừng lại – station – ở một trong nhiều ‘nơi tưởng niệm’ của các vị Tử Đạo được Giáo Hội Rôma thiết lập.

 

Ở những Đền Thờ là nơi có các hài tích của các vị có cử hành Thánh Lễ, trước đó có cuộc diễn hành hát kinh cầu Các Thánh. Nhờ đó, tất cả những ai làm chứng cho Chúa Kitô bằng máu của mình đều được tưởng niệm, và như thế trở thành một yếu tố phấn khích cho mỗi người Kitô hữu trong việc phục hồi lòng gắn bó của họ với Phúc Âm.

 

Những nghi thức này vẫn còn giá trị của mình, cho dù thời gian có qua đi nhiều thế kỷ, vì chúng nhắc nhở tính cách quan trọng trong việc chúng ta chấp nhận những lời của Chúa Giêsu ở thời đại của chúng ta đây một cách dứt khoát, đó là ‘Nếu ai muốn theo Thày thì hãy bỏ bản thân mình đi, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thày’ (Lk 9:23).

 

Một nghi thức khác nữa, một cử chỉ chuyên biệt thích hợp với ngày đầu tiên của Mùa Chay, đó là việc bỏ tro. Ý nghĩa sâu xa nhất của cử chỉ bỏ tro này là gì?

 

Thật sự thì đây không phải là những gì thuần nghi thức, mà là một cái gì đó rất sâu xa chạm tới tâm hồn của chúng ta. Nó làm cho chúng ta hiểu được tính cách hợp thời của lời Tiên Tri Joel khuyên nhủ được vang vọng trong Bài Đọc Thứ Nhất, lời khuyên nhủ vẫn còn giá trị đáng kể của nó đối với chúng ta, đó là những cử chỉ bề ngoài bao giờ cũng cần phải được ăn khớp với tấm lòng chân thành và cử chỉ nhất trí.

 

Thật thế, vị tác giả được linh ứng này nghĩ rằng có ích lợi gì khi chúng ta xé áo mà lòng chúng ta vẫn còn cách xa Chúa chứ, tức là còn xa sự thiện hảo và công lý? Những gì thực sự đáng kể đó là việc trở về với Thiên Chúa bằng tấm lòng chân thành thống hối ăn năn để được Ngài xót thương (x Jl 2:12-18).

 

Một tấm lòng mới và một thần trí mới là những gì chúng ta xin qua Bài Thánh Vịnh thống hối tuyệt vời, bài thánh vịnh Thương Xót – Miserere, bài thánh vịnh xót thương chúng ta hôm nay xướng lên với lời đáp ca: ‘Ôi Chúa, xin xót thương vì chúng con đã phạm tội’ (Sách Lễ Chúa Nhật).

 

Người tín hữu đích thực, nhận biết mình là một tội nhân, với tất cả con người của mình – thần trí, tâm hồn và thân xác – mong được Thiên Chúa thứ tha, như mong được tân tạo là những gì có thể mang lại niềm vui và hy vọng cho mình (x Ps 51[50]:3,5,12,14).

 

Một khía cạnh khác của linh đạo Mùa Chay đó là những gì chúng ta có thể diễn tả như ‘chiến đấu tính’, một tính chất xuất hiện trong ‘Lời Nguyện’ hôm nay, lời nguyện đề cập tới cả ‘các thứ vũ khí’ thống hối và ‘trận chiến đấu’ chống lại sự dữ.

 

Hằng ngày, nhất là trong Mùa Chay, Kitô hữu cần phải đương đầu với một cuộc chiến đấu, như cuộc chiến đấu Chúa Kitô đã trải qua trong hoang địa xứ Giuđêa, nơi Người đã bị ma quỉ cám dỗ 40 ngày, và rồi trong Vườn Nhiệt, lúc Người chế ngự chước cám dỗ trầm trọng nhất để chấp nhận ý muốn của Cha cho đến tận cùng.

 

Nó là một cuộc chiến đấu thiêng liêng chống lại tội lỗi và cuối cùng là chống lại Satan. Nó là một cuộc chiến đấu bao gồm toàn thể con người và đòi phải chuyên tâm và liên lỉ tỉnh thức.

 

Thánh Âu Quốc Tinh đã nhận định là những ai muốn tiến bước trong tình yêu mến Thiên Chúa và trong tình thương của Ngài không thể nào mãn nguyện với việc dứt bỏ mình khỏi các trọng tội và tử tội, mà còn ‘phải thực hiện sự thật nữa, ở chỗ cũng nhận ra cả những tội lỗi được cho là ít trầm trọng…, và tiến đến với ánh sáng bằng việc thực hiện các hành động xứng đáng. Cho dù là những tội lỗi ít trầm trọng, song nếu coi thường chúng, chúng cũng nẩy sinh và sán xuất ra sự chết’ (In Io. evang. 12, 13, 35).

 

Mùa Chay bởi thế nhắc nhở chúng ta rằng đời sống Kitô Giáo là một cuộc chiến đấu không ngừng mà khí giới được sử dụng để chiến đấu đó là việc nguyện cầu, chay tịnh và thống hối. Việc chiến đấu chống lại sự dữ, chống lại hết mọi hình thức vị kỷ và thù ghét, và việc chết đi cho chính mình để sống trong Thiên Chúa là cuộc hành trình khổ chế mà hết mọi người môn đệ của Chúa Giêsu được kêu gọi thực hiện bằng lòng khiêm tốn và nhẫn nại, với lòng quảng đại và kiên trì.

 

Việc đơn sơ dễ dạy theo Vị Sư Phụ thần linh này làm cho Kitô hữu trở thành những chứng nhân và tông đồ của bình an. Chúng ta có thể nói rằng thái độ nội tại này cũng giúp chúng ta làm sáng tỏ hơn nữa những gì Kitô hữu cần phải đáp ứng trước tình trạng bạo động đang đe dọa hòa bình trên thế giới này.

 

Việc đáp ứng này chắc chắn không phải là việc trả đũa, hay việc hận thù hoặc thậm chí việc chiến đấu theo chủ nghĩa duy linh sai lạc. Việc đáp ứng của những ai theo Chúa Kitô, trái lại, là việc theo đường lối được chấp nhận bởi Đấng, khi đương đầu với các sự dữ trong thời đại của mình cũng như trong tất cả mọi thời đại, đó là cương quyết ôm lấy Thánh Giá, đi theo con đường dài hơn nhưng lại là con đường hiệu nghiệm hơn của yêu thương.

 

(Biệt chú của người dịch bản Việt ngữ đây là phải chăng Đức Thánh Cha có ý nói tới trường hợp đặc biệt ở Nigeria tháng trước liên quan tới vụ Kitô hữu ở miền nam nước này đã phản ứng bạo động phạm đến anh chị em Hồi giáo ở miền bắc vào ngày Thứ Ba 26/2/2006, bằng việc sát hại và hủy hoại giống như họ đã gây ra cho anh chị em đồng đạo của mình ở miền bắc nước này?)

 

Theo bước chân của Người và liên kết với Người, chúng ta tất cả cần phải nỗ lực chống lại sự dữ bằng sự lành, chống lại lầm lạc bằng chân lý và chống lại hận thù bằng yêu thương.

 

Trong Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, tôi đã muốn trình bày tình yêu này như bí quyết của việc chúng ta hoán cải cả về phương diện cá nhân cũng như giáo hội. Đề cập tới những lời Thánh Phaolô ngỏ cùng Giáo Đoàn Corinto là ‘tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta’ (2Cor 5:14), tôi đã nhấn mạnh là ‘cái ý thức là trong Chúa Kitô Thiên Chúa đã ban mình cho chúng ta cho đến chết phải là những gì tác động chúng ta không còn sống cho chính mình nữa mà là cho Ngài và với Ngài cho người khác’ (số 33).

 

Hơn nữa, như Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm hôm nay, tình yêu cần phải thể hiện bằng những tác động cụ thể cho tha nhân của chúng ta, nhất là cho thành phần nghèo khổ và thiếu thốn, luôn tùy thuộc giá trị của các ‘việc lành’ vào lòng thành của mối liên hệ với ‘Cha ở trên trời’ của chúng ta, Đấng ‘thấy trong thầm kín’ và ‘sẽ tưởng thưởng’ cho tất cả những ai thực hiện những hành động tốt lành một cách khiêm nhu và vô tư (x Mt 6:1,4,6,18).

 

Việc biểu lộ yêu thương là một trong những yếu tố thiết yếu nơi đời sống Kitô hữu là thành phần được Chúa Giêsu kêu gọi hãy trở nên ánh sáng thế gian, để rồi, nhờ thấy ‘các việc lành của họ’, người ta tôn vinh Thiên Chúa (x Mt 5:16).

 

Lời khuyến dụ này đặc biệt thích hợp với chúng ta vào lúc bắt đầu Mùa Chay, nhờ đó chúng ta có thể càng hiểu hơn nữa là ‘đối với Giáo Hội, đức ái không phải là một loại hoạt động an sinh phúc lợi… mà là những gì thuộc về bản chất của Giáo Hội, một thể hiện bất khả thiếu của chính việc Giáo Hội hiện hữu’ (Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, đoạn 25).

 

Tình yêu thương chân thực được thể hiện nơi những hành động không loại trừ một ai, theo gương của người Samaritanô Nhân Lành, người có một tấm lòng rộng mở đã rat ay cứu trợ một kẻ xa lạ trong cơn khốn khó ‘tình cờ’ gặp trên đường đi (x Lk 10:31).

 

Quí Hồng Y, Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và trong hàng Linh Mục, quí tu sĩ nam nữ và giáo dân, tôi ân cần ưu ái gửi lời chào đến tất cả mọi người, chớ gì chúng ta tiến vào bầu khí tiêu biểu của giai đoạn phụng vụ này bằng những cảm thức ấy, khi để cho Lời Chúa sáng soi và dẫn dắt chúng ta.

 

Trong Mùa Chay, chúng ta thường nghe vang vọng lời mời gọi hãy hoán cải và tin vào Phúc Âm, và chúng ta sẽ được liên lỉ thôi thúc hãy mở tâm linh của chúng tar a cho quyền năng của ân sủng thần linh. Chúng ta hãy yêu chuộng những giáo huấn dồi dào được Giáo Hội cống hiến cho chúng ta trong những tuần lễ này.

 

Được phấn chấn bởi việc mạnh mẽ dấn thân nguyện cầu, nhất quyết cố gắng hơn nữa trong việc thống hối, chay tịnh và yêu thương chuyên chú tới anh chị em của chúng ta, chúng ta hãy khởi hành tiến về Lễ Phục Sinh với sự đồng hành của Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội và là mẫu gương của hết mọi người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060301_ash-wednesday_en.html

 

 

TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Chúa Nhật V Thường Niên 5/2/2006 cho Giáo Xứ Thánh Anna Giáo Phận Rôma về Ý Nghĩa của Bài Phúc Âm

 

Anh Chị Em thân mến

 

Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe được mở đầu bằng một đoạn rất hay, rất tuyệt nhưng cũng đầy ý nghĩa. Chúa Giêsu đi đến nhà của Simon Phêrô và Anrê, thấy mẹ vợ của Phêrô bị sốt. Người đã cầm lấy tay bà mà đỡ bà dậy, cơn sốt liền hết và bà phục vụ các vị.

 

Tất cả sứ vụ của Chúa Giêsu được phác tả một cách tiêu biểu nơi đoạn Phúc Âm này. Chúa Giêsu, từ Cha mà đến, đã đến thăm gia cư của dân chúng trên trái đất của chúng ta và thấy một nhân loại bị bệnh nạn, bệnh sốt, một cơn sốt các ý hệ, ngẫu tượng, lãng quên Thiên Chúa. Chúa đã giơ tay ra cho chúng ta, đỡ chúng ta dậy và chữa lành chúng ta.

 

Ngài đã làm như thế qua tất cả mọi thời đại; Ngài đã cầm lấy tay chúng ta bằng Lời của Ngài, nhờ đó Ngài đã đánh tan sương mù các thứ ý hệ và những hình thức ngẫu tượng. Ngài cầm lấy tay chúng ta bằng các phép bí tích, Ngài chữa lành chúng ta khỏi cơn sốt đam mê và tội lỗi qua việc xá giải nơi bí tích hòa giải.

 

Ngài đã ban cho chúng ta khả năng tự mình chỗi dậy, đứng trước Thiên Chúa và trước con người nam nữ. Chính theo chiều hướng phụng vụ Chúa Nhật hôm nay đây, Chúa Giêsu đến gặp gỡ chúng ta, Người cầm lấy tay của chúng ta, nâng chúng ta dậy và tiếp tục chữa lành chúng ta bằng tặng ân lời của Người, tặng ân chính bản thân Người.

 

Tuy nhiên, phần thứ hai của đoạn Phúc Âm này cũng quan trọng nữa. Người đàn bà này là người vừa được chữa lành, như Phúc Âm viết, bắt đầu phục vụ các vị. Bà ra tay làm việc ngay để phục vụ người khác, nhờ đó trở thành một người đại diện của rất nhiều người phụ nữ, người mẹ, người bà, người nữ làm các ngành nghề khác nhau, thành phần sẵn sàng, thành phần chỗi dậy phục vụ, trở thành hồn sống của gia đình, hồn sống của giáo xứ.

 

Và ở nơi đây, nhìn vào bức tranh trên bàn thờ này, chúng ta thấy rằng họ không chỉ thi hành những dịch vụ bề ngoài vậy thôi; Thánh Anna đang chỉ dạy cho người con gái cao cả của bà là Đức Mẹ học biết Sách Thánh, biết đến niềm hy vọng của dân Yến Duyên là niềm hy vọng thực sự được nên trọn nơi Mẹ.

 

Ngoài ra, phụ nữa còn là những vị sứ giả đầu tiên cho lời Chúa trong Phúc Âm, họ là những nhà rao giảng Phúc Âm đích thực. Và tôi cảm thấy là Phúc Âm hôm nay, qua đoạn hiển nhiên rất đơn giản này, cống hiến cho chúng ta ở chính Nhà Thờ Thánh Anna đây cơ hội để nói lên lời “cám ơn” chân thành gửi đến tất cả mọi người phụ nữ chăm sóc cho giáo xứ, mọi người phụ nữ phục vụ ở mọi lãnh vực của giáo xứ, thành phần giúp chúng ta biết Lời Chúa một cách mới mẻ hơn, chẳng những bằng trí khôn chúng ta mà còn bằng tâm can của chúng ta nữa.

 

Chúng ta hãy trở lại với bài Phúc Âm: Chúa Giêsu đã ngủ tại nhà của Phêrô, thế nhưng Người đã chỗi dạy trược rạng đông trong lúc trời còn đang tối và đi đến nơi thanh vắng nguyện cầu. Và ở nơi đây chúng ta thấy hiện lên cái tâm điểm thực sự của mầu nhiệm Chúa Giêsu.

 

Chúa Giêsu đối thoại với Chúa Cha và nâng tâm thần nhân loại của Người lên hiệp thông với Ngôi Vị Chúa Con, để nhân tính của Chúa Con, một nhân tính được hiệp nhất với Người, có thể nói năng trong cuộc trao đổi Tam Vị với Cha, nhờ đó Người cũng làm cho chúng ta có thể cầu nguyện thực sự. Trong phụng vụ, Chúa Giêsu cầu nguyện với chúng ta, chúng ta cầu nguyện với Chúa Giêsu, bởi thế chúng ta thực sự giao tiếp với Thiên Chúa, chúng ta tham dự vào mầu nhiệm yêu thương vĩnh hằng của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

 

Chúa Giêsu nói cùng Chúa Cha: Đây là mạch nguồn và là tâm điểm của tất cả những gì Người hoạt động; chúng ta thấy Người rao giảng, chữa lành, làm phép lạ và cuối cùng chịu khổ nạn, và những việc làm ấy đều xuất phát từ tâm điểm Người ở cùng Cha này.

 

Như thế, bài Phúc Âm này dạy cho chúng ta biết rằng tâm điểm của đức tin và đời sống của chúng ta thực sự chính yếu là Thiên Chúa. Bất cứ khi nào không có Chúa, thì nhân loại cũng không còn được tôn trọng nữa. Chỉ khi nào ánh quang rạng ngời của Thiên Chúa chiếu tỏa trên dung nhan con người, thì hình ảnh con người của Thiên Chúa mới được bảo vệ bởi một phẩm vị mà sau đó không ai được vi phạm.

 

Chúng ta thấy ba lời nguyện cầu đầu tiên trong “Kinh Lạy Cha” thực sự liên quan ra sao tới tính cách chủ yếu này của Thiên Chúa: Nguyện Danh Cha cả sáng là làm cho mầu nhiệm thần linh được sống động và tác động tất cả cuộc đời của chúng ta; nguyện “Nước Cha trị đến” và “ý Cha thể hiện” là hai mặt của cùng một đồng tiền; nơi nào ý Chúa được thể hiện thì ở đó đã có trời cao hiện hữu, trời cao cũng hơi bắt đầu được thể hiện trên trái đất; và ở đâu ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện thì ở đó Nước Chúa cũng hiện diện.

 

Vị Nước Chúa không phải là một loạt những sự vật, Nước Chúa là việc Thiên Chúa hiện diện, là mối hiệp nhất của con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn dẫn dắt chúng ta tới đích điểm này. 

 

Tâm điểm của việc Người loan báo là Nước Chúa, tức là loan báo rằng Thiên Chúa là mạch nguồn và là tâm điểm của đời sống chúng ta, và Người nói với chúng ta rằng: việc cứu chuộc con người chỉ ở nơi một mình Thiên Chúa. Và chúng ta có thể thấy nơi lịch sử của thế kỷ vừa qua ở những quốc gia loại trừ Thiên Chúa thì chẳng những nền kinh tế của họ bị phá hủy mà nhất là cả các linh hồn nữa.

 

Tình trạng hủy hoại về luân lý và hủy hoại về nhân phẩm là những hình thức hủy hoại chính yếu, và việc canh tân chỉ có thể xuất phát từ việc quay trở về với Thiên Chúa mà thôi, tức là từ việc nhìn nhận vai trò chủ yếu của Thiên Cúa vậy.

 

Một vị giám mục ở Congo, vào dịp viếng thăm ngũ niên trong những ngày này, đã nói với tôi rằng: Người Âu Châu cống hiến cho chúng tôi nhiều điều về vấn đề phát triển, nhưng lại tỏ ra lưỡng lự trong việc giúp chúng tôi nơi thừa tác mục vụ; dường như họ coi thừa tác mục vụ là vô bổ không cần thiết, chỉ có việc phát triển về kỹ thuật và vật chất mới quan trọng. Thế nhưng, ngược lại mới đúng, vị giám mục này nói như thế; ở đâu không có Lời Chúa thì vấn đề phát triển cũng không xong và cũng chẳng có thành quả tốt đẹp gì. Chỉ khi nào đặt Lời Chúa lên trên hết, chỉ khi nào con người hòa giải với Thiên Chúa thì các sự vật về vật chất cũng mới xuôi may.

 

Đoạn tiếp theo của chính bài Phúc Âm cũng mạnh mẽ khẳng định điều ấy. Các Vị Tông Đồ nói cùng Chúa Giêsu rằng: Xin Thày hãy trở về vì mọi người đang tìm kiếm Thày. Và Người nói không, Thày phải đi đến các tỉnh lận cần để rao giảng Thiên Chúa và khu trừ ma quỉ, khu trừ những quyền lực sự dữ; đó là lý do tại sao Tháy đã đến.

 

Chúa Giêsu đã đến – bản Hy Lạp viết, “Thày từ Cha mà đến” – không phải để mang lại cho chúng ta những thoải mái của cuộc đời mà là tình trạng chính yếu cho phẩm vị của chúng ta, để loan báo Thiên Chúa cho chúng ta, để làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta, nhờ đó chế ngự những quyền lực sự dữ. Người đã đề cập đến điều ưu tiên này rất rõ ràng: Thày đến không phải để chữa lành – Thày cũng làm điều này nữa, nhưng như là một dấu hiệu thôi – Thày đến để giải hòa các con với Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng Hóa Công của chúng ta, Thiên Chúa đã ban sự sống cho chúng ta, ban phẩm vị cho chúng ta: Vậy chúng ta trước hết cần phải trở về với Ngài.

 

Và như Cha Gioele đã nói, hôm nay Giáo Hội ở Ý cử hành Ngày Phò Sự Sống. Trong sứ điệp của mình, các vị giám mục Ý muốn nhắc nhở nhiệm vụ ưu tiên đối với vấn đề “tôn trọng sự sống”, vì nó là một sự thiện “bất thuận lợi”. Con người không phải là chủ nhân ông của sự sống; trái lại, họ là bảo quản viên và là quản lý viên của nó, để rồi dưới quyền tối thượng của Thiên Chúa họ mới tự nhiên đóng vai trò ưu tiên trong việc quản trị và bảo trì sự sống con người là những gì đã được Thiên Chúa dựng nên.

 

Sự thật ấy, sự thật con người là bảo quản viên và là quản lý viên của sự sống là một điểm được xác định rõ ràng nơi luật tự nhiên, hoàn toàn được mạc khải thánh kinh làm sáng tỏ. Ngày nay sự thật này trở thành như là “một dấu hiệu tương khắc” so với cái tâm thức đang thịnh hành. Thật vậy, chúng ta nhận thấy rằng mặc dù có một qui điểm rộng rãi tổng quan về giá trị của sự sống, tuy nhiên, khi tiến đến qui điểm này, tức là tới chỗ có “tính cách thuận lợi” và “tính cách bất thuận lợi” đối với sự sống, thì hai tâm thức tương phản nhau bất khả hóa giải. 

 

Diễn tả một cách đơn giản hơn, chúng ta có thể nói rằng: Một trong hai tâm thức này chủ trương rằng sự sống con người ở trong tay con người, trong khi đó tâm thức kia nhìn nhận rằng sự sống ở trong tay Thiên Chúa. Nền văn hóa tân tiến đã nhấn mạnh một cách hợp lý đến quyền biệt lập của con người cũng như của các thực tại trần thế, từ đó nó đã mở ra một phối cảnh hợp với Kitô Giáo, đó là phối cảnh Thiên Chúa Nhập Thể.

 

Tuy nhiên, như Công Đồng Chung Vaticanô II tỏ tường chủ trương là, nếu quyền biệt lập này khiến chúng ta nghĩ rằng “hữu thể vật chất không lệ thuộc vào Thiên Chúa và con người có thể sử dụng nó như thể nó chẳng có liên hệ gì tới Đấng Hóa Công của nó”, thì hậu quả của nó là một tình trạng mất thăng bằng trầm trọng, vì “không có Hóa Công cũng chẳng thể nào có tạo vật” ("Gaudium et Spes," No. 36).

 

Vấn đề quan trọng ở đây là, trong câu được trích dẫn trên đây, bản văn kiện của Công Đồng nói rằng cái khả năng nhận ra tiếng nói và việc tỏ hiện của Thiên Chúa nơi vẻ đẹp của thụ tạo đều có nơi tất cả mọi tín hữu, bất kể họ thuộc về tôn giáo nào. Từ đó, chúng ta có thể kết luận là việc hoàn toàn tôn trọng sự sống là những gì có liên hệ với cảm quan tôn giáo, với thái độ nội tại mà con người, với tư cách là quản lý viên hay bảo quản viên, cần phải có khi đối diện với thực tại.

 

Hơn nữa, tiếng “tôn trọng” xuất phát từ tiếng Latinh “respicere”, tức là nhìn, và có nghĩa là một cách nhìn sự vật và con người dẫn đến chỗ nhìn nhận tính chất chính yếu của chúng, không phải là chiếm hữu chúng mà là đối xử với chúng một cách trân trọng và chăm sóc chúng.

 

Xét cho cùng thì nếu tạo vật không được qui chiếu về Thiên Chúa như nền tảng siêu việt của mình thì nó có nguy cơ lọt vào tay sử dụng tùy nghi của ý muốn con người, thành phần, như chúng ta thấy, có thể sử dụng ý muốn của mình một cách bất xứng hợp.

 

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng nhau kêu cầu Thánh Anna chuyển cầu cho cộng đồng giáo xứ của anh chị em là nơi tôi thân ái chào hỏi đây.

 

Tôi đặc biệt chào vị linh mục coi xứ là Cha Gioele, và tôi cám ơn những lời lẽ ngài ngỏ cùng tôi lúc ban đầu. Rồi tôi chào các anh em Dòng Thánh Âu Quốc Tinh có cả vị Tổng Đan Viện Trưởng; tôi chào Đức Tổng Giám Mục Angelo Comastri, vị tổng đại diện của tôi cho Thành Vatican, Đức Tổng Giám Mục Rioãato, vị phát chẩn của tôi, và tất cả mọi người hiện diện nơi đây, nhất là trẻ em, giới trẻ và tất cả những ai thường sử dụng ngôi nhà thời này.

 

Chớ gì Thánh Anna, vị quan thày trên thiên quốc của anh chị em trông coi tất cả anh chị em và xin cho mỗi người được ơn trở thành một nhân chứng của Vị Thiên Chúa sự sống và yêu thương.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/index_en.htm

 

 

TOP

 

 

Bài Giảng Ngày Thế Giới Đời Tận Hiến Tu Trì 2/2/2006 cho Tu Sĩ Nam Nữ tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Hôm nay lễ Dâng Chúa Giêsu ở đền thờ sau 40 ngày giáng sinh của Người gợi lên cho chúng ta giây phút đặc biệt của đời sống Thánh Gia: Mẹ Maria và Thánh Giuse, theo luật Moisen, đã mang hài nhi Giêsu vào đền thờ Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa (x Lk 2:22). Ông Simêon và bà Anna, được Chúa soi động, đã nhận ra Con Trẻ là Đấng Thiên Sai hằng đợi trông và nói tiên tri về Người. Chúng ta đang ở trước một mầu nhiệm, vừa đơn sơ lại vừa trọng đại, được Giáo Hội cử hành để tưởng kính Chúa Kitô là Đấng Xức Dầu của Cha, là trưởng tử của tân nhân loại.

 

Việc rước nến sáng đầy ý nghĩa để mở đầu cho việc chúng ta cử hành đây đã làm cho chúng ta sống lại việc uy nghi tiến vào, như chúng ta đã hát trong bài Đáp Ca, của Đấng là “Vua vinh hiển”, là “Chúa, uy hùng chiến đấu” (Ps 24[23]:7,8). Thê nhưng vị Thiên Chúa uy quyền đang tiến vào đền thờ ấy là ai? Đó là một Con Trẻ; đó là Hài Nhi Giêsu trong tay Mẹ của Người là Trinh Nữ Maria. Thánh Gia tuân hợp những gì Luật qui định, đó là việc thanh tẩy người mẹ, việc hiến dâng người con trai đầu lòng cho Thiên Chúa và việc Ngài cứu chuộc bằng một lễ vật hy sinh. 

 

Ở Bài Đọc Thứ Nhất, Phụng Vụ nói về các lời của Tiên Tri Malachi: “Chúa… sẽ bất chợt tới đền thờ” 3:1). Những lời này cho thấy tính cách hết sức thiết tha của ước muốn sống động chờ mong của Dân Do Thái qua các thế kỷ. Cuối cùng “vị thiên thần của Giao Ước” này đã tiến vào nhà của Người và tuân phục Lề Luật: Người đã đến Giêrusalem để tiến vào nhà của Thiên Chúa bằng một thái độ tuân phục.

 

Ý nghĩa của tác động này đòi phải có một cái nhìn bao rộng nơi đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái ở Bài Đọc Thứ Hai hôm nay. Chúa Kitô, vị trung gian hiệp nhất Thiên Chúa và con người, Đấng được trình bày cho chúng ta thấy ở đây là Đấng triệt tiêu những cách biệt, loại trừ mọi chia rẽ và phá đổ mọi bức tường phân ngăn. 

 

Chúa Kitô đến như một vị tân “thượng tế nhân hậu và tín trung trong việc phụng vụ Thiên Chúa, để đền bồi tội lỗi của dân” (Heb 2:17). Bởi thế, chúng ta thấy rằng việc môi giới với Thiên Chúa không còn tính cách tách biệt linh thánh nơi vai trò linh mục xưa kia nữa, mà là tính cách liên kết giải phóng nơi loài người.

 

Tuy nhiên, khi còn là một Con Trẻ, Người bắt đầu đường lối tuân phục Người đã theo cho đến cùng. Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái nhấn mạnh đến điều này rất rõ ràng qua những lời sau đây: “Khi còn sống trên trần gian này Chúa Giêsu đã dâng lời nguyện cầu và khẩn nài … lên Đấng có thể cứu Người khỏi chết…. Mặc dù là Con, Người cũng đã biết tuân phục qua những gì Người phải chịu; và khi hoàn tất Người đã trở nên căn nguyên cứu độ đời đời cho tất cả những ai vâng phục Người” (x 5:7-9).

 

Con người đầu tiên được liên kết với Chúa Kitô trên con đường tuân phục, con đường chứng tỏ niềm tin và thông phần đau khổ là Maria Mẹ của Người. Bài Phúc Âm phác tả Mẹ nơi tác động hiến dâng Con của Mẹ: một việc vô tư hiến dâng liên quan tới chính bản thân Mẹ.

 

Mẹ Maria là Mẹ của Đấng là “vinh hiển của Yến Duyên dân Người” và là “ánh sáng chiếu soi Dân Ngoại”, thế nhưng, cũng là “dấu hiệu chống đối” (x Lk 2:32,34). Và nơi linh hồn vô nhiễm của mình, chính Mẹ đã bị lưỡi gươm sầu thương đâm thâu, bởi thế cho thấy rằng vai trò của Mẹ nơi lịch sử cứu độ không chấm dứt ở mầu nhiệm Nhập Thể mà được hoàn tất nơi việc tham dự yêu thương lẫn sầu thương vào cuộc tử nạn và Phục Sinh của Con Mẹ.

 

Mang Con mình lên Giêrusalem, Người Trinh Mẫu này đã hiến dâng Người lên Thiên Chúa như là một Con Chiên thực sự xóa tội trần gian. Mẹ trao Người cho ông Simêon và bà Anna như tác động loan báo ơn cứu chuộc; Mẹ trao tặng Người cho tất cả mọi người như ánh sáng cho cuộc hành trình an toàn trên con đường chân thật và yêu thương.

 

Những lời xuất phát từ môi miệng của vị lão thành Simeon “Mắt tôi đã được thấy ơn cứu độ của Chúa” (Lk 2:30), là những gì đã vang vọng nơi cõi lòng của nữ tiên tri Anna. Những con người tốt lành và đạo hạnh này, được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, đã có thể thấy được nơi Con Trẻ Giêsu “niềm an ủi của Yến Duyên” (Lk 2:25). Bởi thế mà niềm trông đợi của họ đã được biến thành ánh sáng chiếu soi lịch sử.

 

Ông Simêon là con người ôm ấp niềm hy vọng và Thần Linh Chúa đã nói với tâm can của ông: đó là lý do ông có thể chiêm ngưỡng Đấng được nhiều vị tiên tri và quốc vương muốn được nhìn thấy: Chúa Kitô là ánh sáng soi Dân Ngoại.

 

Ông nhận ra rằng Con Trẻ ấy là Đấng Cứu Thế, thế nhưng ông đã thấy trước nhờ Thần Linh là định mệnh của nhân loại sẽ diễn tiến chung quanh Người và Người phải chịu khổ đau thật nhiều bởi những kẻ loại trừ Người; ông đã loan báo căn tính và sứ vụ của Đấng Thiên Sai bằng những lời lẽ làm nên một trong những bài thánh thi ca của Giáo Hội tân sinh, một bài thánh thi ca rạng ngời niềm hỉ hoan thông hiệp và cánh chung về việc hoàn trọn niềm trông đợi ơn cứu độ. Tính cách nhiệt liệt hỉ hoan ấy lớn lao đến nỗi sống và chết chỉ là một và như nhau, và “ánh sáng” cùng “hiển vinh” chỉ là một tỏ hiện phổ quát.

 

Bà Anna là một “nữ tiên tri”, một người phụ nữ khôn ngoan và đức hạnh đã giải thích ý nghĩa sâu xa của các biến cố lịch sử cũng như của sứ điệp Thiên Chúa được gói ghém nơi những biến cố này. Bởi thế, bà có thể “dâng lời tạ ơn Thiên Chúa” và “nói về Con Trẻ này cho tất cả mọi người ngóng trông ơn cứu chuộc Gia-Liêm” (Lk 2:38).

 

Tình trạng góa bụa lâu đời của bà giành cho việc thờ phượng trong đền thờ, việc trung thành chay tịnh hằng tuần và thông phần trông đợi của những ai mong ơn cứu chuộc Yến Duyên, là những gì đã lên tới tột đỉnh qua việc bà được gặp gỡ Con Trẻ Giêsu.

 

Anh chị em thân mến, trong ngày lễ Dâng Chúa đây Giáo Hội cử hành Ngày Đời Tận Hiến. Đây là một cơ hội thích hợp để chúc tụng Chúa và tạ ơn Ngài về quà tặng qúi báu nơi đời tận hiến qua các hình thức khác nhau của nó; đồng thời cơ hội này cũng là một động lực phấn khích nơi tất cả Dân Chúa việc hiểu biết và cảm nhận đối với những ai hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa.

 

Thật vậy, như cuộc sống của Chúa Giêsu được tỏ ra nơi việc Người tuân phục và hiến thân cho Chúa Cha là một dụ ngôn sống động về việc “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” thế nào, thì việc hiến thân cụ thể của những con người tận hiến cho Thiên Chúa cũng như cho anh chị em của mình trở thành một dấu hiệu hùng hồn cho thế giới ngày nay thấy được sự hiện diện của Nước Chúa.

 

Cách sống và hoạt động của anh chị em có thể sống động diễn đạt việc anh chị em hoàn toàn thuộc về vị Chúa duy nhất này; việc dứt khoát phó mình trong tay Chúa Kitô và Giáo Hội là một lời mạnh mẽ và rõ ràng công bố về việc hiện diện của Thiên Chúa với một ngôn từ có thể hiểu được đối với những người đương thời của chúng ta. Đó là việc phục vụ đầu tiên đời tận hiến cống hiến cho Giáo Hội cũng như cho thế giới.

 

Con người tận hiến giống như thành phần canh gác giữa Dân Chúa, thành phần nhận thấy và loan báo sự sống mới đã hiện diện trong lịch sử của chúng ta.

 

Anh chị em thân mến, những người ôm ấp ơn gọi tận hiến riêng, giờ đây tôi đặc biệt nói cùng anh chị em, tôi thân ái chào anh chị em và nồng nàn cám ơn việc hiện diện của anh chị em đây.

 

Tôi gửi lời chào đặc biệt tới Đức Tổng Giám Mục Franc Rodé, tổng trưởng Thánh Bộ Các Hội Dòng Sống Đời Tận Hiến và Các Hội Sống Đời Tông Đồ, cũng như tới những vị cộng tác viên của ngài đang đồng tế với tôi trong Thánh Lễ này.

 

Xin Chúa canh tân nơi anh chị em cũng như trong tất cả mọi người sống đời tận hiến mỗi ngày việc hân hoan đáp ứng tình yêu thương nhưng không và trung tín của Người. Anh chị em thân mến, như những cây nến được thắp sáng, luôn luôn chiếu sáng tình yêu Chúa Kitô ở khắp mọi nơi, Đấng là Ánh Sáng thế gian. Xin Mẹ Maria Rất Thánh, Người Nữ tận hiến, giúp anh chị em sống trọn ơn gọi và sứ vụ đặc biệt của anh chị em trong Giáo Hội cho phần rỗi của thế giới.

 

Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/index_en.htm

 

TOP

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI Giảng Bế Mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo vào Giờ Kinh Tối Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1/2006 ở Đền Thờ Thánh Phêrô Ngoài Thành

 

Anh Chị Em Thân Mến,

 

Vào ngày này, khi chúng ta mừng cuộc Trở Lại của Tông Đồ Phaolô, chúng ta bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm liên kết trong buổi phụng vụ huynh đệ này. Thật là ý nghĩa khi lễ Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Trở Lại trùng hợp với ngày cuối cùng của Tuần Lễ quan trọng này, một tuần lễ chúng ta đặc biệt thiết tha xin Thiên Chúa ban tặng ân hiệp nhất Kitô hữu quí báu, hợp cùng lời nguyện cầu của chính Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha cho thành phần môn đệ của Người: “xin cho họ tất cả được hiệp nhất nên một; như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ cũng được ở trong chúng ta, nhờ đó thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Jn 17:21).

 

Ước mong được hiệp nhất về phần hết mọi Cộng Đồng Kitô hữu và hết mọi tín hữu, và quyền năng để đạt được mối hiệp nhất này, là tặng ân của Thánh Linh và đi song song với việc trung thành sâu xa hơn và hoàn toàn hơn với Phúc Âm (cf. encyclical "Ut Unum Sint," No. 15).

 

Chúng ta nhận thấy rằng ở nền tảng của việc dấn thân cho vấn đề đại kết cần phải thực hiện việc hoán cải tâm hồn, như Công Đồng Chung Vaticanô II khẳng định: ‘Không thể nào có một cuộc đại kết xứng danh mà lại thiếu việc hoán cải tâm hồn. Vì từ thái độ mới mẻ này của tâm trí, từ tình yêu bỏ mình và dồi dào này mà các ước vọng hiệp nhất mới vươn lên và phát triển một cách chín chắn’ (decree "Unitatis Redintegratio," No. 7).

 

‘Deus caritas est’ - Thiên Chúa là tình yêu (1Jn 4:8,16). Tất cả đức tin của Giáo Hội được xây dựng trên tảng đá này. Đặc biệt là việc nhẫn nại tìm kiếm mối hiệp thông trọn vẹn nơi tất cả mọi thành phần Kitô hữu được xây dựng trên tảng đá ấy: Bằng việc gắn mắt vào chân lý này, tột đỉnh của mạc khải thần linh, tình trạng chia rẽ này dường như có thể vượt qua và không làm cho chúng ta nản chí, cho dù sự kiện chia rẽ vẫn còn tiếp tục là những gì trầm trọng.

 

Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã phá hủy “bức tường phân chia hận thù” (Eph 2:14) bằng máu cuộc khổ nạn của Người, sẽ không ngừng ban cho những ai trung thành kêu xin Người sức mạnh để chữa lành mọi thương tích. Thế nhưng, luôn phải bắt đầu lại từ chỗ này, từ ‘Deus caritas est’.

 

Chính đề tài yêu thương này mà tôi viết bức thông điệp đầu tiên của mình, bức thông điệp được ban hành hôm nay; việc trùng hợp này với ngày bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo mời gọi chúng ta hãy coi, thậm chí hơn cả cuộc chúng ta qui tụ này, tất cả cuộc hành trình đại kết trong ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa, của Tình Yêu là Thiên Chúa.

 

Ngay cả theo quan điểm nhân loại đi nữa, tình yêu cũng tỏ ra như là một mãnh lực bất khả thắng, thì chúng ta phải nói sao về ‘người nhận biết và tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa đã giành cho chúng ta’ (1Jn 4:16) đây?

 

Tình yêu chân chính không loại trừ đi những khác biệt hợp lý, nhưng hòa hợp chúng lại thành một mối hiệp nhất ở mức độ cao hơn, một mối hiệp nhất được áp đặt lên chúng ta từ bên ngoài, đúng hơn, nói cách khác, một mối hiệp nhất của toàn thể được hình thành từ bên trong.

 

Nó là mầu nhiệm hiệp thông, như nó liên kết con người nam nữ lại thành một cộng đồng yêu thương và sự sống là hôn nhân thế nào, nó cũng làm cho Giáo Hội thành một cộng đồng yêu thương, cống hiến mối hiệp nhất cho một kho tàng đa dạng về các tặng ân và các truyền thống. Trong việc phục vụ cho mối hiệp nhất yêu thương này, Giáo Hội Rôma, theo Thánh Ignatiô Antiôkia diễn tả, ‘chủ sự trong đức ái’.

 

Anh chị em thân mến, trước anh chị em đây, hôm nay tôi muốn lập lại việc phó dâng cho Thiên Chúa thừa tác vụ kế vị Thánh Phêrô của mình, xin Thánh Linh soi sáng và tăng sức cho thừa tác vụ này, nhờ đó nó luôn nuôi dưỡng mối hiệp nhất huynh đệ nơi tất cả mọi Kitô hữu.

 

Đề tài yêu thương liên kết một cách sâu xa hai bài đọc thánh kinh ngắn của Giờ Kinh Phụng Vụ Tối hôm nay. Ở bài đọc thứ nhất, đức ái thần linh là sức mạnh biến đổi đời sống của Saolê thành Tarsus và biến ngài thành Vị Tông Đồ Dân Ngoại. Viết cho Kitô Hữu ở Côrintô, Thánh Phaolô tuyên xưng rằng ân sủng của Thiên Chúa đã thực hiện biến cố trở lại phi thường nơi ngài: “Nhờ ơn Chúa mà tôi là những gì tôi là, và ân sủng của Ngài giành cho tôi đã không uổng phí” (1 Cor 15:10).

 

Một đàng ngài cảm thấy gánh nặng của vấn đề bị ngăn cản việc truyền bá sứ điệp của Chúa Kitô; thế nhưng, đàng khác, ngài lại sống trong niềm vui được gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh và được soi sáng cùng biến đổi bởi ánh sáng của Người. Ngài giữ mãi cái kỷ niệm đổi đời này, một biến cố quan trọng đối với toàn thể Giáo Hội, đến nỗi trong Sách Tông Vụ chi tiết này đã được nhắc tới 3 lần (cf. Acts 9:3-9; 22:6-11; 26:12-18).

 

Trên con đường đến Damascô, Saolê nghe thấy vấn nạn nhức nhối là: “Tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?” Khi ngã xuống đất với tấm lòng xao động, Saolê lên tiếng hỏi: “Lạy Chúa, Ngài là ai?”, ngài đã nhận được một câu trả lời trở thành nền tảng cho việc ngài trở lại: “Ta là Giêsu, Đấng ngươi đang bách hại” (Acts 9:4-5). Thánh Phaolô ngay lúc ấy những gì sau này ngài diễn tả trong các văn thư của ngài: đó là Giáo Hội làm nên một thân thể duy nhất có Chúa Kitô là Đầu. Bởi thế, từ một kẻ bách hại Kitô hữu ngài trở thành Vị Tông Đồ của Dân Ngoại.

 

Ở sứ điệp của Phúc Âm Thánh Mathêu chúng ta mới nghe trước đây ít lâu, tình yêu tác hành như nguyên tắc hiệp nhất Kitô hữu và bảo đảm là việc họ đồng tâm nhất trí nguyện cầu được Cha Trên Trời lắng nghe. Chúa Giêsu nói: “Nếu hai người trong các con ở dưới thế hợp nhau xin bất cứ sự gì thì Cha Thày trên trời sẽ ban cho họ” (Mt 18:19).

 

Chữ được Vị Thánh Ký này sử dụng cho chữ “hợp nhau” là “synphonesosin”: chữ này làm cho chúng ta liên tưởng tới một thứ “hợp tấu” về tâm can. Thánh Ký đã sử dụng chữ này căn cứ vào tâm can của Thiên Chúa. Hợp nhau nguyện cầu, bởi thế, là những gì quan trọng vì nó được Cha Trên Trời tiếp nhận.

 

Cùng nhau cầu xin đã là những gì đánh dấu bước tiến tới mối hiệp nhất giữa những ai kêu xin rồi. Điều này dĩ nhiên không có nghĩa là việc Thiên Chúa đáp ứng là do chúng ta yêu cầu, ở một nghĩa nào đó. Chúng ta quá biết điều này: đó là mối hiệp nhất theo lòng thỏa nguyện trước hết lệ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa, Đấng quan phòng và quảng đại vượt trên sự hiểu biết của con người cùng những điều yêu cầu và mong mỏi của họ.

 

Chính vì cậy dựa vào dự thiện hảo thần linh mà chúng ta hãy gia tăng việc nguyện cầu chung cho mối hiệp nhất là những gì hơn bao giờ hết là một phương tiện cần thiết và rất hiệu nghiệm, như Đức Gioan Phaolô II đã nhắc nhở chúng ta trong thông điệp “Để Họ Được Hiệp Nhất Nên Một”: “Theo con đường đại kết dẫn đến hiệp nhất, thì việc cầu nguyện chung chắc chắn chiếm một vị thế quan trọng, việc hiệp nguyện của những ai qui tụ lại với nhau chung quanh chính Chúa Kitô” (đoạn 22).

 

Khi phân tích những đoạn văn này một cách sâu xa hơn, chúng mới mới hiểu rõ hơn lý do tại sao Chúa Cha đáp ứng trực tiếp cho điều yêu cầu của Cộng Đồng Kitô Hữu: Chúa Giêsu nói “Vì ở đâu có hai hay ba người qui tụ lại vì danh Thày thì Thày ở giữa họ”.

 

Chính sự hiện diện của Chúa Kitô làm cho việc cầu nguyện chung này của những ai qui tụ lại vì danh Người được công hiệu. Khi Kitô hữu qui tụ lại để cùng nhau cầu nguyện thì chính Chúa Giêsu ngự giữa họ. Họ là một với Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.

 

Hiến Chế của Công Đồng Chung Vaticanô II về phụng vụ thánh đề cập ngay tới câu Phúc Âm này để nói tới một trong những cách hiện diện của Chúa Kitô: “Người hiện diện khi Giáo Hội nguyện cầu và ca hát, vì Người đã hứa ‘ở đâu có hai hay ba người qui tụ lại vì danh Thày thì Thày ở giữa họ’ (Mt 18:20)” (“Sacrosanctum Concilium”, đoạn 7).

 

Dẫn giải về đoạn này của Thánh Ký Mathêu, Thánh Gioan Chrysostom hỏi: “Vậy thì phải chăng không có hai hay ba người hợp lại vì danh Người? Có chứ nhưng hiếm lắm”, ngài trả lời (Homily on the Gospel of St Matthew, 60,3).

 

Tối nay, tôi cảm thấy được một niềm vui bao la khi thấy một hội đồng đông đảo nguyện cầu van nài ơn hiệp nhất trong hòa hợp. Tôi xin gửi lời chào tới từng người và tất cả mọi người. Tôi đặc biệt chào các chư huynh thuộc những giáo hội và cộng đồng giáo hội khác thuộc thành phố này, những người anh em liên kết với nhau trong cùng một phép rửa là phép làm cho chúng ta trở thành phần tử của một Nhiệm Thế Chúa Kitô duy nhất.

 

40 năm qua đi từ ngày tại chính thành phố này, hôm 5/12/1965, Người Tôi Tớ Chúa Phaolô VI đáng nhớ đã cử hành buổi cầu nguyện chung đầu tiên vào lúc kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II với sự hiện diện trọng thể của các Giáo Phụ Công Đồng và việc chủ động tham dự của thành phần quan sát viên thuộc các giáo hội và cộng đồng giáo hội khác.

 

Theo đó, Đức Gioan Phaolô II dấu yêu đã bảo trì truyền thống bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện đây. Tôi tin rằng tối nay cả hai vị đều đang từ Trời nhìn xuống và hợp với lời nguyện cầu của chúng ta.

 

Trong số những vị tham dự vào buổi họp mặt này, tôi đặc biệt chào và cám ơn nhóm các vị đại biểu thuộc các giáo hội, các hội đồng giám mục, các cộng đồng Kitô hữu và các tổ chức đại kết đang bắt đầu sửa soạn cho Hội Nghị Đại Kết Âu Châu lần thứ 3 sẽ được tổ chức ở Sibiu, Romania, vào tháng 9/2007 về đề tài: “Ánh Sáng của Chúa Kitô chiếu soi trên tất cả mọi người. Niềm hy vọng canh tân và hiệp nhất ở Âu Châu”.

 

Phải, anh chị em thân mến, Kitô hữu chúng ta có nhiệm vụ, ở Âu Châu cũng như giữa tất cả mọi dân nước, trở thành “ánh sáng thế gian” (Mt 5:14). Xin Thiên Chúa ban cho chúng tam au chóng tiến tới mối hiệp thông trọn vẹn hằng mong ước.

 

Việc tái thể hiện mối hiệp nhất của chúng ta sẽ làm cho việc truyền bá phúc âm hóa càng trở thành hiệu nghiệm hơn. Hiệp nhất là sứ vụ của chúng ta; nó là điều kiện khiến ánh sáng của Chúa Kitô có thể lan rộng hơn nữa ở khắp nơi trên thế giới, nhờ đó con người nam nữ trở về mà được cứu độ.

 

Con đường đang trải dài trước mắt chúng ta! Thế nhưng, chúng ta không được mất lòng tin tưởng; trái lại, bằng một nghị lực mạnh mẽ hơn, một lần nữa chúng ta cần phải cùng nhau tiếp tục cuộc hành trình. Chúa Kitô bước đi trước chúng ta và bên cạnh chúng ta. Chúng ta nương tựa vào việc luôn hiện diện của Người và khiêm tốn cùng liên lỉ van xin Người ban tặng ân hiệp nhất và bình an quí báu này.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060125_conversion-st-paul_en.html

 

 

TOP

 

 

Bài Giảng về Phép Rửa cho Chúa Nhật 8/1/2006 Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa ở Nguyện Đường Sistine – 10 Bé được Ngài rửa tội

 

Quí Phụ Huynh và Cha Mẹ Đỡ Đầu

Anh Chị Em thân mến,

 

Những gì xẩy ra nơi phép rửa? Những gì chúng ta hy vọng từ phép rửa? Anh chị em đã đáp ở ngưỡng cửa của nguyện đường này rằng chúng con mong con cái chúng con được sự sống trường sinh. Đó là mục đích của phép rửa. Thế nhưng làm sao có thể chiếm được sự sống trường sinh ấy? Làm sao phép rửa hiến ban cho sự sống trường sinh? Sự sống trường sinh là gì?

 

Bằng những lời lẽ đơn giản hơn, chúng ta có thể nói rằng: Chúng ta mong muốn một đời sống tốt lành, một đời sống thực sự, cho con cái của chúng ta; cũng như mong muốn hạnh phúc cho một tương lai bất khả tri. Chúng ta không thể bảo đảm tặng ân này cho tất cả quãng đời tương lai chưa biết ra sao đó, bởi thế mà chúng ta hướng về Chúa để xin Ngài ban cho tặng ân này. 

 

Chúng ta có thể đưa ra hai câu trả lời cho vấn đề “Điều này sẽ xẩy ra thế nào?” Đây là câu trả lời thứ nhất, đó là, nhờ phép rửa, mỗi một em nhỏ được tháp nhập vào một cộng đồng thân hữu là những người không bao giờ bỏ họ cả khi sống lẫn khi chết, vì những người bạn này là gia đình của Thiên Chúa là gia đình tự mình chất chứa lời hứa trường sinh.

 

Nhóm bạn hữu này, gia đình Thiên Chúa này, một cộng đồng giờ đây con trẻ này được gia nhập, sẽ mãi mãi đồng hành với em, ngay cả vào những ngày khổ đau và trong những đêm tăm tối của cuộc đời; cộng đồng này cống hiến cho em niềm an ủi, nỗi êm ái và ánh sáng soi.

 

Mối thân hữu này, gia đình này, sẽ hiến cho em những lời sự sống đời đời, những lời soi sáng để đáp ứng những thách đố lớn lao của cuộc đời, và sẽ vạch cho em thấy đường ngay nẻo chính em phải đi qua. Nhóm này cũng sẽ cống hiến cho con trẻ đây niềm an ủi và nỗi êm ái, và tình yêu Thiên Chúa trong giờ lâm chung, trong thung lũng tối tăm của chết chóc. Cộng động ấy sẽ cống hiến cho em tình thân hữu, sẽ hiến tặng em sự sống đời đời. Và những người bạn hoàn toàn đáng tin cậy này sẽ không bao giờ biến mất.

 

Không ai trong chúng ta biết được những gì sẽ xẩy ra trên trái đất này, trên đại lục Châu Âu của chúng ta đây, trong 50, 60 hay 70 năm nữa. Thế nhưng, chúng ta có thể nắm chắc một điều là gia đình của Thiên Chúa sẽ mãi mãi hiện hữu và những ai thuộc về gia đình này sẽ không bao giờ bị lẻ loi cộ độc cả. Họ sẽ mãi mãi có thể trở về với tình thân hữu bền vững của Đấng là sự sống.

 

Bởi vậy chúng ta mới tiến tới câu trả lời thứ hai. Gia đình này của Thiên Chúa, cộng đồng thân hữu này là những gì vĩnh viễn, vì nó là mối hiệp thông với Đấng đã chiến thắng sự chết và đang nắm trong tay chìa khóa sự sống. Thuộc về cộng đồng này, về gia đình của Thiên Chúa, tức là thuộc về mối hiệp thông với Chúa Kitô, Đấng là sự sống và hiến ban tình yêu vĩnh hằng vượt trên sự chết.

 

Và nếu chúng ta có thể nói rằng tình yêu và sự thật là mạch nguồn của sự sống, là chính sự sống – và  một sự sống không có yêu thương không phải là sự sống – thì chúng ta có thể nói rằng mối thân hữu này với Đấng là sự sống thực sự, với Đấng là Bí Tích sự sống, sẽ là những gì đáp ứng những gì anh chị em mong đợi, những gì anh chị em hy vọng vậy.

 

Phải, phép rửa là bí tích tháp nhập chúng ta vào mối hiệp thông với Chúa Kitô và bởi thế là bí tích hiến ban sự sống, hiến ban chính sự sống. Bởi thế chúng ta đã làm sáng tỏ cuộc đối thoại ban đầu của chúng ta với Người ở nơi đây, tại lối vào Nguyện Đường Sistine này.

 

Giờ đây, sau khi làm phép nước là một cuộc đối thoại rất quan trọng thứ hai. Nội dung của cuộc đối thoại thứ hai này đó là Phép Rửa, như chúng ta thấy, là một tặng ân; tặng ân của sự sống. Thế nhưng là một tặng ân cần phải được chấp nhận, cần phải được sống với.

 

Tặng ân tình thân hữu bao hàm “việc chấp nhận” bạn bè và “việc phủ nhận” tất cả những gì bất hợp với tình bạn này, với tất cả những gì bất xứng với sự sống của gia đình Thiên Chúa, với sự sống thật trong Chúa Kitô. 


Như thế, cuộc đối thoại thứ hai này mới bao gồm 3 “không” và 3 “có”. Chúng ta nói “không” và từ bỏ chước cám dỗ, tội lỗi và ma qủi. Chúng ta biết những cái ấy rõ ràng, nhưng có lẽ vì chúng ta đã nghe thấy chúng quá thường, những lời có thể không có nghĩa lắm với chúng ta.

 

Nếu thế thì chúng ta cần phải nghĩ sâu xa hơn một chút nữa về nội dung của những “cái không” này. Chúng ta nói “không” với những gì đây? Đó là cách duy nhất để chúng ta hiểu được những gì chúng ta muốn nói “có” vậy.

 

Thời Giáo Hội cổ xưa những “cái không” này được tóm gọn trong một câu dễ hiểu cho người thời ấy, ở chỗ, họ nói rằng họ từ bỏ “pompa diabuli”, tức là từ bỏ những hứa hẹn cho một cuộc sống sung mãn, một cuộc sống hiển nhiên xuất phát từ thế giới dân ngoại, từ tình trạng buông thả của thế giới này, từ cách sống theo ý thích của mình.

 

Bởi thế đó là “cái không” đối với một thứ văn hóa bề ngoài là cuộc sống sung mãn, đối với những gì thật ra là một thứ “phản văn hóa” của sự chết. Đó là “cái không” cho những cảnh sống lấy làm vui thích với những gì là chết chóc, dã man tàn bạo và bạo lực.

 

Chúng ta hãy nhớ những gì được tổ chức ở Hí Trường Colosseum hay ở đây, nơi những vườn thượng uyển của Nero, nơi người ta được đặt trên lửa như những cây đuốc sống. Dã man và bạo lực đã trở thành trò tiêu khiển, một thứ vui thú thật là trụy lạc, một thứ ý nghĩa thực sự của đời sống.

 

“Cái pompa diabuli” này, “cái phản văn hóa” này của sự chết là một thứ vui thú băng hoại, nó là thứ yêu thích gian manh và lường gạt, và lạm dụng thân xác như là một thứ hàng hóa và một thứ trao đổi buôn bán.

 

Và nếu giờ đây chúng ta nghĩ về nó chúng ta có thể nói rằng, trong cả thời đại của chúng ta nữa, chúng ta cũng cần phải nói “không” với thứ văn hóa sự chết đang quá ư là thịnh hành.

 

Nó là một thứ “phản văn hóa”, chẳng hạn, được biểu lộ nơi thuốc phiện, nơi cuộc thoát ly thực tại để lọt vào những gì là ảo ảnh, những gì là hạnh phúc giả tạo được thể hiện nơi gian trá, lọc lừa, bất công và khinh miệt kẻ khác, khinh khi tình đoàn kết, và khinh thường trách nhiệm đối với người nghèo và thành phần khổ đau; nó được thể hiện nơi một thứ tình dục trở thành thứ hoan hưởng hoàn toàn vô trách nhiệm, thứ tình dục làm cho con người thành một ‘vật’, có thể nói, không còn coi con người xứng đáng với một tình yêu thương cá vị cần phải thủy chung, mà là con người nên như một thứ hàng hóa, một vật thuần túy.

 

Chúng ta hãy nói “không’ với thứ hứa hẹn hạnh phúc bề ngoài này, với “cái pompa” của những gì có vẻ là sự sống nhưng thật ra chỉ là khí cụ của sự chết, và với cái “thứ phản văn hóa” này, để vun trồng thứ văn hóa sự sống thay vào đó. Đó là lý do, tiếng “có” của Kitô Giáo, ngay từ thời xưa tới thời của chúng ta đây, là một tiếng “có” mạnh mẽ đối với sự sống. Nó là tiếng “có” của chúng ta đối với Chúa Kitô, “tiếng có” của chúng ta với Cuộc Chiến Thắng sự chết và là tiếng “có” đối với sự sống trong thời gian cũng như trong vĩnh hằng.

 

Như trong cuộc đối thoại của phép rửa, tiếng “không” được diễn tả ba điều chối bỏ, thì tiếng “có’ cũng diễn tả ba điều bày tỏ trung thành: “có” đối với Thiên Chúa hằng sống, tức là với một Vị Thiên Chúa Hóa Công và là thượng trí sáng tạo, Đấng ban cho vũ trụ và cuộc sống của chúng ta có được một ý nghĩa; “có” đối với Chúa Kitô, tức là với một Vị Thiên Chúa không ẩn danh mà là có danh xưng, có ngôn từ, có thân thể và máu huyết; với một Vị Thiên Chúa cụ thể, Đấng ban cho chúng ta sự sống và cho chúng ta thấy con đường sự sống; “có” đối với mối hiệp thông của Giáo Hội, trong đó, Chúa Kitô là Vị Thiên Chúa hằng sống đang đi vào thời đại của chúng ta, đi vào nghề nghiệp của chúng ta, đi vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

 

Chúng ta cũng có thể nói rằng Dung Nhan của Thiên Chúa, nội dung của thứ văn hóa sự sống này, nội dung của tiếng “vâng” mạnh mẽ của chúng ta, được thể hiện nơi Bản Thập Giới, một bản thập giới không phải là một thứ tóm gọn những điều cấm cản, những “cái không”, mà thực sự là những gì cho thấy một nhãn quan cao cả về đời sống.

 

Bản thập giới này là tiếng “vâng” với một Vị Thiên Chúa hiến ban ý nghĩa cho sự sống (ba Giới Luật đầu); một tiếng “vâng” với gia đình (Giới Luật Thứ Tư); một tiếng “vâng” cho sự sống (Giới Luật Thứ Năm); một tiếng “vâng” với tinh yêu hữu trách (Giới Luật Thứ Sáu); một tiếng “vâng” với tình đoàn kết, với trách nhiệm xã hội, với công lý (Giới Luật Thứ Bảy); với tiếng “vâng” với sự thật (Giới Luật Thứ Tám); một tiếng “vâng” với sự tôn trọng nhau cũng như với sản vật của nhau (Giới Luật Thứ Chín và Thứ Mười).

 

Đó là thứ triết lý sự sống, thứ văn hóa sự sống, những gì trở thành cụ thể, thực tiễn và tốt đẹp trong mối hiệp thông với Chúa Kitô, với Thiên Chúa hằng sống, Đấng bước đi với chúng ta trong mối thân hữu của thành phần bạn bè với Ngài, trong đại gia đình của Giáo Hội. Phép rửa là một tặng ân sự sống.

 

Nó là tiếng “vâng” với cuộc thách đố của cuộc đời thực sự sống, của tiếng “không” với cuộc tấn công của tử thần đang mạo dạng sự sống; và nó là một tiếng “vâng” với tặng ân cao cả của sự sống đích thực hiện lên trên Dung Nhan của Chúa Kitô, Đấng đã hiến thân cho chúng ta nơi phép rửa và sau đó nơi Thánh Thể. 

 

Tôi nói điều này như là một nhận định ngắn gọn về những lời lẽ trong cuộc đối thoại nơi phép rửa cho thấy những gì xẩy ra ở bí tích ấy. Ngoài những lời lẽ, chúng ta cũng có cả các cử chỉ và các biểu hiệu, song tôi sẽ chỉ nói tới những thứ này rất ngắn gọn thôi.

 

Chúng ta đã thực hiện cử chỉ thứ nhất, đó là Dấu Thánh Giá, một Thánh Giá được cống hiến cho chúng ta như một cái thuẫn để bảo vệ em bé này trong cuộc sống của em; và như một “dấu chỉ” cho thấy con đường sự sống, vì Thập Giá là những gì tóm hết cuộc sống của Chúa Giêsu.

 

Thế rồi có những yếu tố như nước, việc xức dầu, tấm áo trắng và cây nến sáng. Nước là biểu hiệu cho sự sống: Phép Rửa là sự sống mới trong Chúa Kitô. Dầu là biểu hiệu cho sức mạnh, cho sức khỏe và vẻ đẹp, vì nó thực sự là những gì đẹp đẽ để sống hiệp thông với Chúa Kitô. Rồi tới tấm áo trắng là biểu hiện cho nền văn hóa mỹ lệ, nền văn hóa sự sống. Sau hết, cây nến sáng là biểu hiệu cho sự thật chiếu sáng trong tăm tối lịch sử và cho chúng ta thấy chúng ta là ai, từ đâu tới và phải đi đâu.

 

Quí cha mẹ đỡ đầu, quí phụ huynh, quí anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta hãy cám ơn Chúa, vì Chúa không ẩn mình sau những đám mây của một thứ mầu nhiệm bất khả thấu, mà, như bài Phúc Âm hôm nay viết, là vị Thiên Chúa đã mở ra các tầng trời, Đấng đã tỏ mình ra, Đấng đã nói với chúng ta và ở với chúng ta; Đấng sống với chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong cuộc đời của chúng ta.

 

Chúng ta hãy cám Chúa về tặng ân này và hãy nguyện cầu cho con cái của chúng ta, để các em thực sự được sự sống, một sự sống đích thật, sự sống đời đời. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17/1/2006

 

 

TOP

 

 

Bài Giảng Lễ Mẹ Thiên Chúa cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 1/1/2006

 

 

Lễ Trọng Kính Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa

Và Ngày Hòa Bình Thế Giới Thứ 39

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong phụng vụ hôm nay, ánh mắt của chúng ta tiếp tục hướng về mầu nhiệm cao cả của việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, đồng thời chúng ta cũng chiêm ngưỡng Vai Trò Thiên Mẫu của Trinh Nữ Maria.

 

Theo sứ điệp của Thánh Phaolô chúng ta vừa nghe (x Gal 4:4), vị Tông Đồ này rất thận trọng nói đến Đấng mà nhờ vị này Con Thiên Chúa đã đến thế gian, đó là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, “Theotokos”.

 

Vào lúc mở màn cho một tân niên đây, chúng ta thực sự được mời gọi đến học nơi trường của Mẹ, một học đường của thành phần môn đệ trung thành của Chúa Kitô, để học từ Mẹ việc chấp nhận trong tin tưởng và nguyện cầu ơn cứu độ Thiên Chúa đã muốn đổ xuống trên những ai tin tưởng vào tình yêu nhân hậu của Ngài.

 

Ơn cứu độ là một tặng ân của Thiên Chúa; trong bài đọc thứ nhất, nó được cho thấy như là một phúc lành: “Chúa chúc phúc cho anh em và gìn giữ anh em!... Chúa nhân ái nhìn xuống anh em và ban cho anh em bình an!” (Num 6:24,26).

 

Đây là phúc lành được các vị tư tế kêu cầu cho dân chúng vào cuối các cuộc phụng lễ trọng thể, đặc biệt là lễ Tân Niên. Chúng ta đang có một bài đọc đầy ý nghĩa, được nhấn mạnh với Danh Chúa là những gì được lập đi lập lại ở đầu mỗi câu. Bài đọc này không thu gọn vào việc nói đến những gì thuần nguyên tắc mà cố gắng hiện thực những gì nó nói tới.

 

Thật vậy, như được biết đến khá nhiều, theo ý nghĩ của dân Semit thì phúc lành của Chúa mang lại phúc hạnh và ơn cứu độ qua quyền năng của mình, như việc nguyền rủa gây ra bất hạnh và hủy hoại vậy. Tính cách hiệu hiệu của việc chúc phúc đặc biệt hơn nữa là những gì được thực hiện bởi Thiên Chúa là Đấng bảo vệ chúng ta (câu 24), ưu ái chúng ta (câu 25) và ban bình an cho chúng ta, tức là Ngài ban cho chúng ta dồi dào hạnh phúc.

 

Khi cho chúng ta nghe lại phú clành cổ kính này vào lúc mở màn cho tân niên dương lịch đây, phụng vụ thực sự muốn khuyến khích chúng ta hãy kêu xin Chúa chúc phúc cho Tân Niên vừa được mở màn, để nó trở thành một năm thịnh vượng và an bình cho tất cả mọi người chúng ta. Tôi xin gửi ước muốn này tới các tôn vị lãnh sự thuộc ngoại giao đoàn làm việc với Tòa Thánh đang tham dự việc cử hành phụng vụ hôm nay đây.

 

Tôi chào Đức Hồng Y Angelo Sodano, vị quốc vụ khanh của tôi. Cùng với ngài, tôi chào Đức Hồng Y Renato Raffaele Martino và tất cả mọi phần tử thuộc Hội Đồng Tòa Thánh Về Công Lý Và Hòa Bình. Tôi đặc biệt cám ơn các vị về việc dấn thân của các vị để truyền bá Sứ Điệp hằng năm cho Ngày Hòa Bình Thế Giới, được ngỏ cùng Kitô hữu cũng như cho tất cả mọi con người nam nữ thiện tâm.

 

Tôi cũng thân ái chào nhiều ca viên góp lời ca tiếng hát cho thêm phần long trọng cho Thánh Lễ này, Thánh Lễ để chúng ta xin Chúa ban tặng ân hòa bình cho toàn thế giới.

 

Bằng việc chọn đề tài “Hòa Bình trong Chân Lý” làm Sứ Điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới, tôi muốn bày tỏ niềm xác tín là “bất cứ khi nào con người nam nữ được soi động bởi ánh quang chân lý, thì họ mới tự nhiên bắt đầu con đường hòa bình” (đoạn 3). Làm sao chúng ta có thể không thấy nơi điều này một hiện thức hóa hiệu nghiệm và thích đáng của bài Phúc Âm vừa được công bố, trong đó, chúng ta chiêm ngưỡng cảnh các mục đồng trên đường đến Bêlem để tôn thờ Con Trẻ? (x Lk 2:16).

 

Không phải hay sao những mục đồng này, thành phần được Thánh Ký Luca diễn tả cho chúng ta thấy cái nghèo khó và đơn thành của họ, qua việc nghe theo lệnh của Thiên Thần và dễ dạy trước ý muốn của Thiên Chúa, có lẽ là hình ảnh dễ cảm nhận nhất đối với mỗi một người trong chúng ta về con người để cho mình được soi động bởi sự thật nên nhờ đó có thể xây dựng một thế giới hòa bình?

 

Hòa bình! Ước vọng cao cả chân thành này của mọi người nam nữ được xây dựng từng ngày bởi việc đóng góp của tất cả mọi người cũng như bằng việc trân quí gia sản tuyệt vời được truyền lại cho chúng ta từ Công Đồng Chung Vaticanô II qua hiến chế mục vụ “Vui Mừng và Hy Vọng”, bản hiến chế nói, trong số những điều khác, là nhân loại sẽ không thành đạt trong “việc thiết lập một thế giới thực sự nhân bản cho tất cả mọi người trên khắp trái đất này, trừ phi mọi người dấn thân bằng nhiệt tình mới mẻ cho hòa bình đích thực” (đoạn 77).

 

Thời điểm hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” này được ban hành, ngày 7/12/1965, không khác lắm với thời điểm của chúng ta đây. Bấy giờ, tiếc thay cũng cả ở trong thời điểm của chúng ta đây, những căng thẳng đủ loại đã bao phủ ở chân trời thế giới. Trước những tình hình dai dẳng về bất công và bạo loạn đang tiếp tục áp đảo các phần đất khác nhau trên trái đất này, trước những tình hình đang nổi lên những thứ đe dọa quái gở hơn nữa đối với hòa bình, như nạn khủng bố, chủ nghĩa tuyệt mạng và chủ nghĩa bảo thủ cuồng tín, lại càng cần hơn bao giờ hết trong việc cùng nhau hoạt động cho hòa bình!

 

Cần phải “bắt đầu” can đảm và tin tưởng vào Thiên Chúa và con người nếu chúng ta muốn chọn con đường hòa bình. Và mọi người đều phải làm như thế, cá nhân và dân chúng, các tổ chức quốc tế và các quyền lực thế giới.

 

Trong Sứ Điệp cho biến cố của ngày hôm nay, tôi đặc biệt muốn kêu gọi tổ chức Liên Hiệp Quốc hãy tái nhận thức các trách nhiệm của mình trong việc phấn khích các giá trị về công lý, đoàn kết và hòa bình trong một thế giới hơn bao giờ hết bị đanh dấu bằng hiện tượng toàn cầu hóa rộng lớn.

 

Nếu hòa bình là ước vọng của hết mọi người thiện chí, thì đối với thành phần môn đệ của Chúa Kitô, nó là một sứ vụ thường xuyên bao gồm tất cả mọi người; nó là một sứ vụ gay go thôi thúc họ loan báo và làm chứng cho “Phúc Âm Hòa Bình”, khi công bố rằng việc nhìn nhận tất cả sự thật của Thiên Chúa là một điều kiện tiên quyết bất khả châm chước cho việc củng cố hòa bình đích thực. 

 

Chớ gì nhận thức này tiếp tục tăng tiến để mọi cộng đồng Kitô hữu trở thành “men” của một nhân loại được canh tân bởi yêu thương.

 

“Và Maria giữ tất cả những sự ấy mà suy niệm trong lòng” (Lk 2:19).

 

Ngày đầu tiên trong năm này được đặt dưới dấu hiệu của một người nữ là Đức Maria. Thánh Ký Luca diễn tả Người như là vị Trinh Nữ thầm lặng, vị liên lỉ lắng nghe Lời hằng hữu, vị sống trong Lời Thiên Chúa. Maria trân quí trong lòng mình những lời xuất phát từ Thiên Chúa, và khi nối kết những lời ấy lại với nhau thành nên như một tấm vi thạch ghép, Mẹ học hiểu những lời của Ngài.

 

Chúng ta cũng hãy, nơi học đường của Mẹ, học biết trở thành những người môn đệ của Chúa Kitô chuyên chú và dễ dạy. Với sự hỗ trợ từ mẫu của Mẹ, chúng ta hãy dấn thân để hoạt động một cách nhiệt tình trong “công xưởng” của hòa bình, theo gương Chúa Kitô là Hoàng Tử Hòa Bình.

 

Theo gương của Đức Trinh Nữ, chớ gì chúng ta biết để mình luôn được hướng dẫn bởi Chúa Giêsu Kitô, Đấng vẫn nguyên vẹn hôm qua, hôm nay và mãi mãi! (Heb 13:8). Amen.


 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/1/2006

TOP