Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: NHỮNG BÀI GIẢNG 2006
“Vị Thiên Chúa đă bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài” 7/11/2006
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Ơn Gọi Nên Thánh của Kitô Hữu
Bài Giảng Lễ Các Thánh 1/11/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô
Bài Giảng ngày 19/10/2006 tại Hội Nghị Toàn Ư Quốc về Giáo Hội ở Verona.
Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo
Lễ Thánh Thần Hiện Xuống ở Quảng Trường Thánh Phêrô Chúa Nhật 4/6/2006
“Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lư trừu tượng ... Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô…”
Linh Mục là Mục Tử phục vụ Đàn Chiên Chúa: Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô
Đêm Lễ Vọng Phục Sinh 16/4/2006 về Ư Nghĩa Phục Sinh đối với đời sống tu đức Kitô Giáo
Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô
Lễ Đầy Năm Băng Hà của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Thứ Hai 3/4
Với Giáo Xứ «DIO PADRE MISERICORDIOSO» Viếng Thăm Mục Vụ Chúa Nhật IV Mùa Chay 26/3/2006
Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy Lễ Mẹ Thai Lời ngày 25/3 tại Quảng Trường Thánh Phêrô
Phong Tước cho Tân 15 Hồng Y ngày 24/3 tại Quảng Trường Thánh Phêrô
Thánh Giuse với Lao Động theo Ư Nghĩa các bài đọc của Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay 19/3
Thứ Tư Lễ Tro 1/3 tại Đền Thờ Santa Sabina ở Aventine Hill
ề Ư Nghĩa của Bài Phúc ÂmNgày Thế Giới Đời Tận Hiến Tu Tŕ 2/2 cho Tu Sĩ Nam Nữ tại Đền Thờ Thánh Phêrô
Lễ Mẹ Thiên Chúa cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 1/1
Chúa Nhật 8/1 Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa – 10 Bé được Ngài rửa tội
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối 31/12/2006 Vọng Tân Niên 2007
Qúi Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Vị Thẩm Quyền,
Anh Chị Em thân mến,
Chúng ta qui tụ lại ở Đền Thờ Vatican đây để tạ ơn Chúa vào lúc kết thúc một năm cũng như để cùng nhau hát Kinh Tạ Ơn – Te Deum. Tôi thân ái cám ơn tất cả anh chị em đă muốn hiệp với tôi trong dịp quan trọng này.
Trước hết tôi gửi lời chào đến các v ị Hồng Y, Chư Huyn h khả kính trong hàn g Giáo Phẩm và Linh Mục, quí Tu Sĩ nam nữ, nhuưng con người sống đời tận hiến và toàn thể giáo dân đại diện cho toàn thể Cộng Đồng Giáo Hội Rôma. Tôi đặc biệt gửi lời chào tới vị Thị Trưởng Rôma cùng các vị Thẩm Quyền khác đang hiện diện nơi đây.
Một biến cố cả thể nhất trong lịch sử
Buổi tối 31/12 này có hai chiều kích khác biệt giao nhau: một chiều kích liên quan tới thời điểm kết thúc một năm về dân sự, chiều kích kia liên quan tới Lễ Trọng Mẹ Maria Rất Thành Là Mẹ Thiên Chúa, một lễ kết thúc Tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Biến cố đầu là những ǵ thông thường đối với tất cả mọi người, biến cố thứ hai liên quan tới thành phần tín hữu. Việc giao nhau của chúng làm cho cuộc cử hành tối hôm nay có một tính chất đặc biệt, trong một bầu khí linh thiêng dễ dàng suy tư chiasẻ.
Đề tài thứ nhất, đề tài gợi hứng nhất đó là đề tài liên quan tới chiều kích thời gian.
Vào những giờ phút cuối cùng này của mọi năm dương lịch đây, chúng ta tham dự vào một số ‘nghi thức’ trần thế mà trong bối cảnh hiện đại được đánh dấu chính yếu bằng việc vui chơi và thường được sống như là một thứ lảng tránh thực tại nhờ đó có thể khu trừ đi các khía cạnh tiêu cực và thuận lợi hơn cho một thứ may lành vu vơ. Thái độ của Cộng Đồng Kitô Giáo cần phải có khác hẳn là chừng nào!
Giáo Hội được kêu gọi để sống những giờ phút này, bằng cách mặc lấy những cảm thức của Trinh Nữ Maria. Cùng với Mẹ, Giáo Hội được mời gọi để gắn mắt vào Hài Nhi Giêsu, một tân Vầng Dương mọc lên từ chân trời nhân loại, và được ánh sáng của Người soi dẫn, lo dâng lên cho Người ‘niềm vui mừng và hy vọng, nỗi khổ đau và sầu thương của con người của thời đại chúng ta, nhất là những ai nghèo khổ và đau thương’ (‘Vui Mừng và Hy Vọng’, đoạn 1).
Như thế, hai thẩm định khác nhau về chiều kích ‘thời gian’ đối địch nhau, một chiều kích th́ thiên về lượng, một chiều kích thiên về phẩm.
Một đàng là chu kỳ thái dương hệ theo nhịp điệu của nó; c̣n một đàng là những ǵ được Thánh Phaolô gọi là ‘thời điểm viên trọn’ (x Gal 4:4), tức là giây phút tuyệt đỉnh của lịch sử vũ trụ này cũng như của loài người khi mà Con Thiên Chúa được hạ sinh vào trần gian. Thời điểm của những lời hứa đă được nên trọn, và khi việc mang thai của Mẹ Maria đến hạn kỳ của ḿnh th́, như một bài Thánh Vịnh nói, ‘mặt đất đă trổ sinh hoa trái’ (Ps 67[66]:7[6]).
Việc Đấng Thiên Sai đến, được các vị Tiên Tri tiên báo, là biến cố về phẩm quan trọng nhất trong tất cả lịch sử, một lịch sử được biến cố này cống hiến cho cái ư nghĩa tối hậu và trọn vẹn. Không phải là những điều hợp về lịch sử và chính trị là những ǵ tạo điều kiện cho việc quyết định này của Thiên Chúa, trái lại, biến cố Nhập Thể là những ǵ làm cho lịch sử ‘trọn vẹn’ có giá trị và ư nghĩa.
Chúng ta, thành phần xuất hiện sau 2 ngàn năm biến cố ấy, có thể khẳng định đó cũng thực sự là một biến cố hậu diễn, sau khi chúng ta đă biết được toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu, cho đến khi Người tử nạn và Phục Sinh. Chúng ta đồng thời cũng là những nhân chứng về vinh quang của Người và về sự khiêm hạ của Người, về giá trị lớn lao của việc Người đến và về việc Thiên Chúa vô cùng trân trọng đối với loài người chúng ta cũng như đối với lịch sử của chúng ta.
Người đă không làm cho thời gian trở thành viên trọn bằng việc tuôn đổ chính bản thân ḿnh từ trời xuống trên thời gian, mà biến ḿnh thành một hạt giống nhỏ xíu để dẫn nhân loại đến chỗ hoàn toàn trưởng thành của họ.
Kiểu cách của Thiên Chúa đ̣i phải có một thời gian dài sửa soạn để tiến từ Abraham đến Chúa Giêsu Kitô, và sau khi Đấng Thiên Sai xuất hiện, lịch sử vẫn chưa kết thúc mà vẫn tiếp tục diễn tiến theo gịng lịch sử của ḿnh, rơ ràng cũng vẫn là lịch sử ấy song thực sự đă được Thiên Chúa viếng thăm và hướng tới việc Đến lần thứ hai cũng là lần cuối cùng của Chúa Kitô khi ngày cùng tháng tận. Chúng ta có thể nói rằng Vai Tṛ Mẫu Thân của Mẹ Maria thật sự là một biểu hiệu và là một bí tích cho tất cả những sự ấy, một biến cố vừa có tính cách nhân loại vừa có tính cách thần linh.
Trong đoạn Thư gửi giáo đoàn Galata chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đă nói: ‘Thiên Chúa đă sai Con Ngài, hạ sinh bởi một người nữ’ (Gal 4:4). Giáo phụ Origen đă dẫn giải như sau: ‘Hăy chú ư là ngài không nói ‘được hạ sinh nhờ một người nữ’, mà ‘được hạsinh bởi một người nữ’” (Comment on the Letter to the Galatians, PG 14, 1298).
Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa
Nhận định chính xác này của vị đại dẫn giải thánh kinh và là cây viết về Giáo Hội có một tính cách quan trọng: thật vậy, nếu Con Thiên Chúa đă được sinh ra chỉ ‘nhờ’ một người nữ , th́ Người thực sự không mặc lấy nhân tính của chúng ta, một điều mà trái lại Người đă thực hiện bằng việc mặc lấy xác thịt ‘của’ Mẹ Maria. Vai tṛ mẫu thân, bởi đó, thực sự và hoàn toàn có tính cách nhân loại.
Chân lư nền tảng này về Chúa Giêsu như là một Ngôi Vị thần linh, Đấng hoàn toàn mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta, là những ǵ được cô đọng nơi câu: ‘Thiên Chúa đă sai Con Ngài đến, hạ sinh bởi người nữ’. Người là Con Thiên Chúa, Người được nhiệm sinh bởi Thiên Chúa và đồng thời cũng là con của một người nữ Maria. Người đă xuất thân từ Mẹ. Ngài là Đấng bởi Thiên Chúa và bởi Mẹ Maria.
Đó là lư do người ta có thể và phải gọi Mẹ của Chúa Giêsu là Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng này, theo tiếng Hy Lạp được gọi là ‘Theotokos’, có lẽ danh xưng này đă xuất hiện đầu tiên ở chính vùng Alexandria Ai Cập, ngay nơi giáo phụ Origen đă sống vào tiền bán thế kỷ thứ ba. Tuy nhiên, Mẹ chỉ được định tín như thế sau đó hai thế kỷ, vào năm 431, bởi Công Đồng Chung Êphêsô, tên của một thành phố tôi lấy làm vui khi được đến hành hương trong Chuyến Tông Du Thổ Nhĩ Kỳ một tháng trước đây.
Thật vậy, nghĩ lại cuộc Viếng Thăm không thể quên được ấy, làm sao tôi lại không bày tỏ tất cả niềm tri ân con cái của tôi đối với Người Mẹ Thánh của Thiên Chúa về việc Mẹ đă đặc biệt bảo vệ tôi trong những ngày ân sủng ấy chứ?
‘Theotokos’, Mẹ Thiên Chúa: mỗi lần chúng ta đọc ‘Kính Mừng Maria’ là chúng ta xưng hô với Vị Trinh Nữ này tước hiệu ấy, van xin Mẹ cầu ‘cho chúng con là kẻ có tội’.
Vào lúc kết thúc một năm đây, chúng ta cảm thấy đặc biệt cần đến việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria Rất Thánh cho thành Rôma, cho Ư quốc, cho Âu Châu và cho toàn thế giới. Chúng ta hăy kư thác cho Mẹ Maria, Vị là Mẹ của T́nh Thương nhập thể, đặc biệt những trường hợp mà chỉ có một ḿnh ơn Chúa mới có thể mang lại an b́nh, ủi an và công lư mà thôi.
Vị Trinh Nữ này đă nghe Thiên Thần loan báo vai tṛ Mẫu Thân thần linh cho Mẹ rằng: ‘Chẳng có ǵ là bất khả đối với Thiên Chúa hết’ (Lk 1:37). Mẹ Maria đă tin tưởng như thế và bởi vậy mà Mẹ được gọi là có phúc (x Lk 1:45). Những ǵ loài người bất khả th́ đều khả dĩ với những ai tin tưởng (x Mk 9:23).
Bởi vậy, trong lúc năm 2006 đang khép lại và b́nh minh năm 2007 đă thoáng hiện, chúng ta hăy xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta chiếm được tặng ân có được một đức tin chín chắn: một đức tin làm chúng ta có thể nên giống như Mẹ bao nhiêu có thể, một đức tin sáng ngời, chân thực, khiêm hạ đồng thời dũng cảm, sâu xa niềm hy vọng và nhiệt thành với Vương Quốc của Thiên Chúa, một đức tin phi tất cả mọi thứ định mệnh thuyết và hoàn toàn cộng tác với ư muốn thần linh, bằng một đức tuân phục trọn vẹn và hân hoan, cũng như bằng một niềm tin tưởng tuyệt đối rằng Thiên Chúa măi măi không muốn ǵ khác cho hết mọi người ngoài yêu thương và sự sống.
Ôi
Maria, xin cầu cho chúng ta được một đức tin chân thực, tinh tuyền. Chớ ǵ Mẹ
luôn được cảm tạ và chúc tụng ngợi khen, hỡi Mẹ Thiên Chúa Thánh Hảo! Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh Vatican
“Vị Thiên Chúa đă bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài”.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Ba 7/11/2006 trước cuộc gặp gỡ giữa ngài với các vị
Chư Huynh thân mến,
Các bài sách chúng ta vừa nghe – Bài đọc, Đáp Ca và Phúc Âm – có cùng một đề tài có thể được tóm lại thành câu: ‘Thiên Chúa không bao giờ bị thất bại’. Hay chính xác hơn, thoạt tiên Thiên Chúa bao giờ cũng thất bại, Ngài để cho con người có tự do và cái tự do này liên lỉ nói ‘không’; thế nhưng, việc định liệu của Thiên Chúa, quyền năng sáng tạo của t́nh Ngài yêu thương c̣n lớn lao hơn cả cái ‘không’ của con người nữa. Trước mọi cái ‘không’ của con người lại có một chiều kích mới nơi t́nh Ngài yêu thương, và Ngài có cách thức mới mẻ và cao cả hơn để Ngài tỏ ra ‘chấp nhận’ con người, lịch sử và tạo vật.
Trong bản đại thánh ca về Chúa Kitô trong Thư gửi giáo đoàn Philiphê được chúng ta mở đầu, chúng ta đă nghe thấy trước hết một cái ǵ đó bóng gió liên quan tới câu truyện về Adong, con người đă không thỏa măn với t́nh hữu nghị của Thiên Chúa; ông cảm thấy không đủ v́ ông tự ḿnh muốn là một thần linh. Ông coi mối thân hữu ấy như là một thứ lệ thuộc và coi ḿnh như là một vị thần linh, như thể họ có thể tự ḿnh hiện hữu. Bởi thế, ông ta nói ‘không’ để tự trở thành một vị thần linh, và chính v́ thế mà ông đă gieo ḿnh xuống khỏi vị thế đưa ḿnh lên của ông.
Thiên Chúa đă ‘thất bại’ nơi Adong – cũng thế, căn cứ vào tất cả những ǵ là bề ngoài, Ngài đă thất bại suốt gịng lịch sử. Thế nhưng, Thiên Chúa đă không thất bại, v́ hiện nay Ngài trở thành một con người, nhờ đó mở màn cho một tân nhân loại; Người đang làm cho hữu thể của Thiên Chúa sâu xa nơi hữu thể của con người một cách bất khả văn hồi, và đă xuống tận những vực thẳm sâu nhất của hữu thể con người: Người đă tự hạ ḿnh cho đến chết trên cây Thập Tự Giá. Người đă chế ngự cái kiêu căng bằng ḷng khiêm hạ và bằng việc tuân phục của cây Thập Tự Giá. Như thế, những ǵ được tiên tri Isaia tiên báo (đoạn 45) đă thành tựu.
Vào thời điểm dân Yến Duyên đang sống đời lưu đầy và bị xóa tên trên bản đồ, th́ vị Tiên Tri này tiên báo rằng toàn thể thế giới – ‘hết mọi đầu gối’ – sẽ qú xuống trước Vị Thiên Chúa bất lực ấy. Và Bức Thư gửi giáo đoàn Philiphê đă xác nhận điều ấy, những ǵ giờ đây đă xẩy ra.
Bằng cây Thập Tự Giá của Chúa Kitô, Thiên Chúa đă đích thân đến gần với các dân nước, Người xuất thân từ dân Yến Duyên và trở thành vị Thiên Chúa của thế giới. Và giờ đây vũ trụ qú xuống trước Chúa Giêsu Kitô, và điều này là những ǵ chúng ta cũng có thể cảm nghiệm một cách tuyệt vời hôm nay đây, đó là, ở hết mọi châu lục, ngay cả trong những túp lều thấp hèn nhất, cũng có Tượng Chuộc Tội.
Vị Thiên Chúa đă ‘thất bại’ giờ đây, bằng t́nh yêu của ḿnh, đă thực sự làm cho con người qú xuống và bởi đó đă chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài.
Chúng ta đă xướng lên ở Bài Đáp Ca phần thứ hai của Bài Thánh Vịnh về Cuộc Khổ Nạn. Nó là bài Thánh Vịnh của thành phần khổ đau chân chính, trước hết là dân Yến Duyên khổ đau, thành phần, trước vị Thiên Chúa câm nín bỏ rơi họ, đă kêu lên rằng: ‘Chúa Trời tôi ơi, Chúa Trời tôi ơi, nhân sao Ngài lại bỏ rơi tôi? Tại sao Ngài không chịu rat ay cứu giúp tôi chứ?... Giờ đây tôi hầu như kiệt lực… mà Ngài chẳng làm ǵ hết…. Ngài không chịu rat ay đáp ứng… tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi? (x 22 [21]). Chúa Giêsu đă đồng hóa ḿnh voơi dân Yến Duyên đau khổ ấy, với thành phần công chính khổ đau ở hết mọi thời đại bị Thiên Chúa bỏ rơi, và Người đă kêu lên trước việc bỏ rơi của Thiên Chúa; nỗi đớn đau bị bỏ rơi Người đă mang đến với Trái Tim của chính Thiên Chúa, và nhờ thế biến đổi thế giới.
Phần thứ hai của bài Thánh Vịnh, chúng chúng ta đă kể lại, cho chúng ta biết về thành quả của việc ấy, đó là kẻ nghèo sẽ được ăn no thỏa. Chính Thánh Thể phổ quát xuất phát từ Thập Tự Giá. Giờ đây Thiên Chúa làm măn nguyện con người khắp thế giới, những con người nghèo khổ cần đến Người. Người làm cho họ no thỏa những ǵ họ cần: Người ban tặng Thiên Chúa, Người ban tặng chính bản thân Người.
Đoạn bài Thánh Vịnh viết rằng: ‘Toàn thể địa cầu sẽ tưởng nhớ và hướng về Chúa’. Giáo Hội hoàn vũ xuất phát từ Cây Thập Tự Giá. Thiên Chúa vượt ra ngoài Do Thái Giáo để ôm lấy toàn thế giới, để liên kết thế giới trong một bữa tiệc cho kẻ nghèo khó.
Sau hết, sứ điệp Phúc Âm cũng cho thấy việc thất bại của Thiên Chúa. Những ai đầu tiên được mời đều chối từ, họ không đến.
Sảnh đường của Thiên Chúa vẫn trống trơn, bữa tiệc dường như được dọn ra luống công vô ích. Đó là những ǵ Chúa Giêsu đă cảm nghiệm được trong những giai đoạn hoạt động cuối cùng của Người, ở chỗ, các nhóm viên chức, thành phần thẩm quyền đều ‘từ chối’ lời mời gọi của Thiên Chúa, tức là từ chối chính bản thân Người. Họ không đến. Sứ điệp của Người, lời Người kêu gọi, được kết thúc trước c ái ‘không’ của con người.
Tuy nhiên, cả ở đấy nữa, Thiên Chúa cũng khgông bị thất bại. Cái sảnh đường trống trơn đă trở thành cơ hội mời gọi một con số dân chúng đông đảo hơn. T́nh yêu thương của Thiên Chúa, việc Người mời gọi là những ǵ được nới rộng. Thánh Luca đă tŕnh thuật việc này ở hai đoạn.
Trước hết, lời mời gọi được ngỏ cùng thành phần nghèo khổ, bị bỏ rơi, những ai chưa từng được ai mời mọc trong thành. Như thế là Thiên Chúa đă thực hiện những ǵ chúng ta đă nghe thấy trong bài Phúc Âm hôm qua.
(Phúc Âm hôm nay là một cuộc hội luận nho nhỏ trong khuôn khổ của một bữa ăn ở nhà một người Pharisiêu. Có 4 đoạn: trước hết là việc chữa lành cho một người bị phù; rồi tới những lời về việc chọn các chỗ thấp nhất; đoạn sang giáo huấn không phải là những người bạn được mời có thể mời lại mà là những ai thực sự đói khổ, thành phần không thể mời lại; theo đó là lời kêu gọi chúng ta hăy bắt chước làm theo như thế).
Giờ đây Thiên Chúa đang làm những ǵ Người đă bảo người Pharisiêu ấy thực hiện, đó là việc Người mời gọi những ai chẳng có ǵ, thành phần thực sự là đói khổ, thành phần không thể mới Người lại, thành phần không thể dâng tặng cho Người bất cứ một sự ǵ.
Tiếp theo là đoạn thứ hai. Người đă rời thành phố để đi đến các con lộ ở miền quê: mời gọi thành phần vô gia cư. Chúng ta có thể cho rằng Thánh Luca có ư viết hai đoạn này theo chiều hướng là thành phần thứ nhất tiến vào sảnh đường ấy là những người nghèo trong dân Yến Duyên, rồi sau đó – v́ họ đến không đủ trước nhiều chỗ của Chúa – lời mời gọi vượt ra ngoài Thành Thánh đến thế giới của các dân nước. Những ai chưa thuộc về Thiên Chúa tí nào, thành phần ở ngoài, giờ đây được mới tới cho đầy sảnh đường ấy. Và Thánh Luca, v ị đă viết lại Phúc Âm này cho chúng ta, chắc hẳn là thấy trước được một cách tiêu biểu những biến cố được thuật lại sau đó trong Sách Tông Vụ, nơi thật sự viết về điều này.
Thánh Phaolô bao giờ cũng bắt đầu sứ vụ của ḿnh ở hội đường với thành phần được mời trước; và chỉ khi nào những nhân vật thẩm quyền viện lư khước từ th́ ngài mới ở với một nhóm ít người nghèo khó khi ngài đi đến với Dân Ngoại.
Bởi đó, nhờ đường lối hằng mới mẻ này của Thập Giá, Phúc Âm đă trở nên phổ quát, nó chi phối hết mọi sự, dần dần ảnh hưởng cả đến Rôma.
Ở Rôma, Thánh Phaolô triệu tập các vị thủ lănh của hội đường và loan báo cho họ mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô, Vương Quốc của Thiên Chúa nơi Con Người của Người. Tuy nhiên, các vị thẩm quyền tự khước từ nên ngài bỏ họ mà đi bằng những lời này: Được, v́ quí vị không muốn lắng nghe th́ sứ điệp này sẽ được loan báo cho các Dân Ngoại và họ sẽ lắng nghe sứ điệp ấy. Bằng niềm tin tưởng này, ngài đă đúc kết sứ điệp bị thất bại đó là: họ sẽ lắng nghe; Giáo Hội của thành phần chư Dân Ngoại sẽ được dựng xây. Và Giáo Hội đă được xây dựng và tiếp tục được dựng xây.
Trong các cuộc viếng thăm Ṭa Thánh ngũ niên ‘ad limina’, tôi nghe thấy nhiều điều hệ trọng và buồn nản, thế nhưng, bao giờ cũng thế – chính từ Thế Giới Thứ Ba – tôi đă nghe thấy điều ấy, đó là dân chúng đang lắng nghe, họ đang đến, thậm chí hôm nay đây, sứ điệp này lan truyền theo những con đường dẫn đến tận cùng trái đất và dân chúng đông đảo tụ tập lại trong sảnh đường của Thiên Chúa để dự tiệc của Người.
Bởi thế, chúng ta cần phải tự hỏi rằng tất cả những điều ấy có nghĩa là ǵ đối với chúng ta vậy?
Trước hết, nó có nghĩa chắc chắn là Thiên Chúa không thất bại. Người tiếp tục ‘thất bại’, thế nhưng chính v́ lư do ấy mà Người không thất bại, v́ nhờ thế Người có những cơ hội mới để tỏ ḷng xót thương hơn nữa và việc dự tưởng của Người là những ǵ khôn cùng.
Người không thất bại v́ Người có những đường lối mới mẻ hơn bao giờ hết để vươn tới dân chúng và mở rộng cửa hơn nhà của Người hầu cả nhà được đông đầy.
Người không thất bại v́ Người không thôi xin dân chúng hăy tới ngồi vào bàn của Người, để ăn lương thực của người nghèo có chất chứa tặng ân quí giá là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa không thất bại, ngay cả ở vào hôm nay đây. Cho dù chúng ta có gặp phải nhiều cái ‘không’ chăng nữa, chúng ta vẫn có thể nắm chắc điều ấy.
Từ tất cả gịng lịch sử này của Thiên Chúa, từ Adong trở đi, chúng ta có thể kết luật rằng: Thiên Chúa không bao giờ thua hết.
"Tương lai của thế giới đang ở trong t́nh trạng thảm thương này đă được quyết định ngay hôm nay đây"
Cả ngày nay nữa, Người sẽ có những đường lối mới mẻ để kêu gọi con người, và Người muốn chúng ta trở thành sứ giả và tôi tớ của Người. Chính trong thời đại của chúng ta đây, chúng ta đă quá rơ ra sao những ai được mời tới trước đă nói ‘không’ rồi. Thật vậy, Kitô Giáo Tây Phương, thành phần ‘thực khách đầu tiên’ mới, hiện nay phần lớn đang tự viện cớ khước từ nữa. Chúng ta biết các nhà thờ càng trở thành trống trơn hơn bao giờ hết, các chủng viện tiếp tục trống rỗng, các tu viện càng ngày càng trống trải; chúng ta quen thuộc với tất cả mọi h́nh thức trong đó có lời viện lẽ như: ‘không được, tôi c̣n có những điều quan trọng khác cần phải làm’. Nó làm cho chúng ta cảm thấy nản ḷng và bực tức trong việc làm chứng nhân cho những thứ viện lư và khước từ của thành phần khách đầu tiên, thành phần thực sự phải biết được tầm quan trọng của lời mời gọi ấy và phải cảm thấy bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy.
Vậy chúng ta phải làm sao đây?
Trước hết, chúng ta cần phải tự hỏi là tại sao điều ấy lại xẩy ra như thế?
Trong Dụ Ngôn của ḿnh ấy, Chúa đă đề cập tới hai lư do: đó là các thứ chiếm hữu và những liên hệ nhân bản, những ǵ lôi kéo con người cho tới độ họ không c̣n cảm thấy cần đến bất cứ một cái ǵ khác để làm viên trọn thời giờ của họ từ đó làm viên trọn cuộc sống nội tại của họ.
Thánh Grêgôriô Cả, trong việc giải thích đoạn bài đọc này, đă t́m cách đào sâu vào nó hơn nữa và đă ngẫm nghĩ rằng làm thế nào con người lại có thể nói ‘không’ đối với một điều cao cả nhất ấy; làm sao họ lại không có giờ cho những ǵ quan trọng nhất; làm sao họ lại có thể tự khóa ḿnh lại trong cuộc sống riêng của họ chứ?
Và ngài đă trả lời: thật ra họ chẳng bao giờ có một cảm nghiệm về Thiên C húa hết; họ không bao giờ có được một thứ ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa cả; họ không bao giờ cảm được tuyệt vời biết bao khi được Thiên Chúa ‘chạm tới’! Họ thiếu sự ‘giao chạm’ này – và v́ thế không biết ‘thưởng thức Thiên Chúa’. Nên có thể nói chỉ khi nào chúng ta nếm hưởng Người th́ chỉ đến lúc bấy giờ chúng ta mới tới bữa tiệc này được thôi.
Thánh Grêgôriô trích lại bài Thánh Vịnh được Ca Hiệp Lễ hôm nay sử dụng, đó là hăy nếm thử và hăy nh́n coi; hăy nếm hưởng th́ các người sẽ thấy và được soi sáng! Công việc của chúng ta đó là giúp cho dân để họ có thể nếm hưởng hương vị Thiên Chúa một cách mới mẻ.
Trong một bài giảng khác, Thánh Grêgôriô Cả đă đào sâu hơn cùng một vấn nạn và tự hỏi: làm thế nào mà một người lại thậm chí có thể không muốn ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa chứ?
Và ngài đă giải đáp là khi con người hoàn toàn bị cuốn hút vào thế giới riêng của ḿnh, với những thứ vật chất, với những ǵ họ có thể làm, với tất cả những ǵ khả thi và làm cho họ thành đạt, với tất cả những ǵ họ có thể tự sản xuất và hiểu biết, th́ bấy giờ khả năng nhận thức Thiên Chúa của họ bị suy yếu đi, cơ quan cảm thức Thiên Chúa bị thụt lùi, nó trở thành bất khả để nhận thức và cảm thức, nó không c̣n nhận thấy Thiên Chúa, v́ nội quan tương xứng đă bị tàn phai, nó ngừng phát triển.
Khi họ sử dụng quá sức tất cả những cơ năng chức phận khác, những cơ năng chức phận thực nghiệm th́ điều có thể xẩy ra là chính cảm quan về Thiên Chúa bị tác hại, cơ phận này chết đi, và con người, như Thánh Grêgôriô nói, không c̣n thấy được ánh mắt của Thiên Chúa nữa, không c̣n cảm thấy Người nh́n họ nữa, không c̣n cảm thấy sự kiện là ánh mắt của Người tác động ḿnh nữa!
Tôi cho rằng Thánh Grêgôriô Cả đă diễn tả đúng hệt với t́nh trạng của thời đại chúng ta đây – thật sự là thời của ngài rất giống như thời của chúng ta. Vậy vấn nạn vẫn là thế th́ chúng ta cần phải làm ǵ đây?
Tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần phải làm đó là những ǵ Chúa bảo chúng ta hôm nay đây trong Bài Đọc 1, và những ǵ Thánh Phaolô đă kêu gọi chúng ta nhân danh Thiên Chúa, đó là ‘thái độ của anh em cần phải là thái độ của Chúa Kitô - 'Touto phroneite en hymin ho kai en Christo Iesou'.
Hăy biết nghĩ như Chúa Kitô đă nghĩ, hăy biết nghĩ với Người! Và việc nghĩ này không những là tác động nghĩ của trí khôn mà c̣n là tác động nghĩ của tâm hồn nữa.
Chúng ta học được những cảm thức của Chúa Giêsu Kitô khi chúng ta biết nghĩ với Người và do đó khi chúng ta biết nghĩ cả đến việc thất bại của Người, đến việc Người trải qua thất bại cũng như đến việc tăng trưởng của t́nh yêu Người trong thất bại.
Nếu chúng ta mặc lấy cảm thức này của Người, nếu chúng ta bắt đầu thực hành việc suy nghĩ như Người và với Người, th́ niềm vui đối với Thiên Chúa được tái bừng lên trong chúng ta, với niềm tin tưởng rằng Người là Đấng mạnh mẽ nhất; phải, chúng ta có thể nói rằng ḷng yêu mến đối với Người được bừng lên trong chúng ta. Chúng ta cảm thấy tuyệt vời biết bao v́ chính là Ngài hiện đang ở đó và chúng ta có thể biết được Ngài – chúng ta có thể biết Ngài nơi dung nhan của Chúa Giêsu Kitô là Đấng đă chịu khổ v́ chú ng ta.
Tôi nghĩ đây là điều đầu tiên, đó là chính chúng ta hăy thực hiện việc giao tiếp sống động với Thiên Chúa – với Chúa Giêsu Kitô, Vị Thiên Chúa hằng sống; hăy củng cố nơi chúng ta cái chức năng hướng về Thiên Chúa; hăy ấp ủ trong chúng ta c ái tri giác về ‘tính cách nhậy bén’ của Người.
Điều này cũng làm cho hoạt động của chúng ta có hồn, thế nhưng chúng ta cũng có thể gặp nguy hiểm, ở chỗ người ta có thể làm nhiều, nhiều điều trong cán h đồng của Giáo Hội, tất cả đều cho Thiên Chúa…, song vẫn hoàn toàn v́ ḿnh, không giao chạm với Thiên Chúa. Hoạt động thay thế niềm tin, thế nhưng bấy giờ người ta lại trở nên trống rỗng nội tâm.
Bởi thế, tôi tin rằng chúng ta trước hết cần phải thực hiện nỗ lực lắng nghe Chúa bằng việc nguyện cầu, sâu xa tham dự vào các bí tích, hiểu biết được những cảm thức của Thiên Chúa trên khuôn mặt và nỗi khổ đau của người khác, để được nhiễm lây niềm vui của Người, ḷng nhiệt thành của Người và t́nh yêu của Người, rồi cùng Người nh́n vào thế giới và bắt đầu từ Người.
Nếu chúng ta có thể thành đạt trong việc làm ấy, ngay cả giữa nhiều cái ‘không’, một lần nữa chúng ta sẽ thấy dân chúng đang đợi chờ Người, thành phần có lẽ thường là những kẻ kỳ lạ – như dụ ngôn rơ ràng cho thấy như thế – song lại là những người được kêu gọi tiến vào sảnh đường của Người.
Nói cách khác, vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay.
Có quá nhiều vấn đề người ta có thể liệt kê ra cần phải được giải quyết, thế nhưng không có một vấn đề nào có thể giải quyết được ngoại trừ việc lấy Thiên Chúa làm tâm điểm, ngoại trừ Thiên Chúa lại trở nên hữu h́nh trước mắt thế giới, ngoại trừ Người trở thành một yếu tố quyết liệt trong đời sống của chúng ta và đồng thời đi vào đời một cách dứt khoát qua chúng ta.
Như thế, tôi tin rằng tương lai của thế giới đang ở trong t́nh trạng thảm thương này đă được quyết định ngay hôm nay đây, ở chỗ, một là Thiên Chúa – Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô – hiện hữu và được nh́n nhận như thế, hai là Ngài đă biến mất tiêu rồi.
Chúng ta quan tâm tới việc Ngài hiện diện. Chúng ta cần phải làm ǵ đây? Như phương tiện cuối cùng? Chúng ta hăy hướng về Người! Chúng ta đang cử hành Lễ theo ư nguyện cầu cùng Chúa Thánh Linh, bằng lời kêu xin cùng Ngài rằng: "Lava quod est sordidum, riga quod est aridum, sana quod est saucium. Flecte quod est rigidum, fove quod est frigidum, rege quod est devium".
Chúng ta hăy kêu cầu cùng Ngài để Ngài tưới dội, hâm nóng và làm chon gay ngắn, nhờ đó Ngài sẽ thấm nhập chúng ta bằng quyền năng của ngọn lửa linh thánh của Ngài mà canh tân trái đất. Chúng ta hăy nguyện cầu điều ấy bằng cả tấm hồn của chúng ta vào lúc này đây, trong những ngày này đây. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh Vatican
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061107_swiss-bishops_en.html
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Ơn Gọi Nên Thánh của Kitô Hữu
Nếu Tháng 10 hằng năm được gọi là Tháng Mân Côi và là Tháng Truyền Giáo thế nào, th́ Tháng 11 cũng được gọi là Tháng Các Đẳng và Tháng Nên Thánh như vậy. Đúng thế, trong Tháng 11 hằng năm, chẳng những là tháng được mở đầu bằng Lễ Chư Thánh, một lễ trọng buộc, mà c̣n có cả Lễ Mẹ Maria Dâng Ḿnh Vào Đền Thánh ngày 21/11, một lễ nói lên ḷng khao khát nhân đức trọn lành và hoàn toàn thuộc về Chúa của tạo vật đệ nhất về ân sủng này. Trong Lễ Các Thánh, và trước đó, vào ngày 15/10, trong Lễ phong hiển thánh cho thêm 4 vị tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă huấn dụ những ǵ về việc Nên Thánh?
Căn cứ vào những lời huấn dụ của Đức Thánh Cha trong hai bài giảng, một cho Lễ Phong 4 Tân Hiển Thánh hôm 15/10/2006 và hôm Lễ Chư Thánh 1/11/2006, chúng ta thấy được giáo huấn của ngài bao gồm 3 điểm chính yếu như sau 1) Ư nghĩa Lễ Các Thánh; 2) Nên Thánh là ǵ? Và 3) Cách Thức Nên Thánh.
Trước hết, về ư nghĩa của Lễ Các Thánh, đó là lễ này giúp phấn khích Kitô hữu chúng ta nên thánh hơn, như ngài đă khẳng định như thế ở phần đầu của bài giảng cho Lễ Chư Thánh như thế này:
“’Việc chúng ta ca ngợi các thánh, việc chúng ta tỏ ḷng tôn vinh, việc chúng ta long trọng cử hành có ích ǵ chứ?’ Bài giảng nổi tiếng của Thánh Bênađô cho lễ Chư Thánh đă được bắt đầu bằng câu hỏi này. Nó là một câu hỏi chúng ta có thể tự hỏi ḿnh ngay cả đến ngày hôm nay đây. Câu giải đáp được Thánh Bênađô cống hiến cũng liên quan tới chúng ta nữa. Ngài nói: “Các thánh nhân không cần việc tôn vinh của chúng ta, và các ngài chẳng chiếm được ǵ nơi việc tưởng niệm của chúng ta. Đối với chính ḿnh, tôi cần phải tuyên xưng rằng khi tôi nghĩ đến các vị thánh th́ tôi cảm thấy bừng lên những ước muốn cao cả” (Homily 2, "Opera Omnia," ed. Cisterc, 5, 364 ff.).
“Vậy ư nghĩa của việc long trọng cử hành hôm nay đây là ở chỗ: Khi ngước mắt nh́n lên gương sáng của các vị thánh chúng ta cảm thấy bừng lên trong ḿnh đầy ḷng ước vọng trở thành những thánh nhân; chúng ta cảm thấy sung sướng được sống gần Thiên Chúa, được sống trong ánh sáng của Ngài, trong một đại gia đ́nh các bạn hữu của Thiên Chúa. Là một vị thánh nghĩa là sống gần gũi với Thiên Chúa, sống trong gia đ́nh của Ngài. Và đó là ơn gọi của tất cả chúng ta, được Công Đồng Chung Vaticanô II mạnh mẽ tái khẳng định, và cần chúng ta đặc biệt chú ư tới vào ngày này”.
Sau nữa, về việc nên thánh là ǵ hay thế nào là nên thánh, trong bài giảng phong 4 tân thánh nhân hôm 15/10/2006, Đức Thánh Cha xác nhận là việc từ bỏ mọi sự mà theo Chúa Kitô, như gương của 4 vị tân thánh. Ngài nói:
“Thánh Nhân chính là con người nam nữ, thành phần, bằng việc hân hoan và quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, ĺa bỏ mọi sự để theo Người. Như Thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, như vô số thành phần bạn hữu khác của Thiên Chúa, các vị tân Thánh Nhân cũng trải qua cuộc hành tŕnh Phúc Âm gay go nhưng trọn vẹn ấy và đă lănh nhận ‘gấp trăm’ ở đời này, cùng với những thử thách và bách hại, và rồi sự sống đời đời”.
Sau hết, về cách thức nên thánh, chính Đức Thánh Cha, trong bài giảng Lễ Chư Thánh, đă xác định những điều kiện tối yếu về phía con người, bao gồm việc biết lắng nghe tiếng Chúa, việc theo Người và không nản ḷng trước mọi gian nan khốn khó, ngài nói như sau:
“Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể trở thành những vị thánh, thành bạn hữu của Thiên Chúa đây? Câu trả lời đầu tiên cho vấn nạn này đó là: Để làm thánh không cần phải thi hành những công việc và những hoạt động phi thường, cũng không cần phải có được những đặc sủng ngoại thường. Song câu trả lời này mới nói cho chúng ta biết những ǵ không phải là sự thánh thiện. Câu giải đáp tích cực cho việc trở thành một vị thánh đó là trước hết cần phải lắng nghe Chúa Giêsu để rồi theo Người và đừng nản ḷng trước những khốn khó.
“Kinh nghiệm của Giáo Hội chứng tỏ rằng, mặc dù có những đường lối khác nhau, tất cả mọi h́nh thức thánh thiện bao giờ cũng trải qua con đường thập giá, con đường từ bỏ chính ḿnh.
“Các câu truyện tiểu sử về các vị thánh cho thấy những con người nam nữ, thành phần luôn dễ dạy đối với ư định thần linh, đôi khi đă trải qua những khổ đau khôn xiết tả, đă bị bách hại và tử đạo. Các vị kiên tŕ với nhiệm vụ của ḿnh. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền ‘Đó là những người đă sống sót trong thời kỳ đầy những đau thương, họ giặt áo ḿnh nên tinh trắng trong máu của Con Chiên’ (7:14).
Tuy nhiên, với bản tính yếu đuối và đă bị hư đi theo nguyên tội, với đầy những đam mê nhục dục, tính mê nết xấu, con người tự nhiên đă khó chống trả các chước cám dỗ th́ làm sao có thể dễ dàng chịu khổ theo Chúa, tức làm sao có thể tự ḿnh nên thánh được, nếu Chúa không đích thân ra tay thánh hóa con người, bằng t́nh yêu vô cùng trọn hảo và mănh lực của Ngài. Đó là lư do Đức Thánh Cha đă khẳng định nên thánh là được thánh hóa như sau:
“Thánh thiện đ̣i hỏi phải liên lỉ cố gắng, nhưng thánh thiện là những ǵ khả dĩ đối với tất cả mọi người, v́ nó không phải chỉ là công việc của loài người mà trước hết là một tặng ân của Thiên Chúa, Đấng ba lần thánh (x Is 6:3). Trong bài đọc thứ hai, Thánh Tông Đồ Gioan nhận định rằng: ‘Hăy xem t́nh yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta biết là chừng nào, để chúng ta được gọi là con cái của Thiên Chúa. Mà thật sự chúng ta là như thế’ (1Jn 3:1).
“Bởi thế, chính Thiên Chúa là Đấng đă yêu thương chúng ta trước, và nơi Chúa Giêsu Ngài đă làm cho chúng ta trở thành những người con được Ngài thừa nhận làm dưỡng tử. Trong cuộc sống của chúng ta, tất cả đều là tặng ân yêu thương của Ngài. Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng lănh đạm trước một mầu nhiệm cao cả như thế chứ? Làm sao chúng ta không đáp ứng t́nh yêu thương của Cha trên trời bằng việc sống một cuộc đời con cái với ḷng tri ân cảm tạ chứ?
“Nơi Chúa Kitô Ngài đă hoàn toàn ban ḿnh cho chúng ta và đă kêu gọi chúng ta sống mối liên hệ riêng tư và sâu xa với Ngài. Bởi thế, chúng ta càng bắt chước Chúa Kitô và liên kết với Người, chúng ta càng tiến vào mầu nhiệm thánh thiện thần linh. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta được Ngài vô cùng yêu thương và điều khám phá này thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em ḿnh. Yêu thương bao giờ cũng là một hành động từ ḿnh, ‘đánh mất bản thân ḿnh’, và chính nhờ đó mà chúng ta mới cảm thấy hạnh phúc”.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL
Bài Giảng Lễ Các Thánh 1/11/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô
Anh Chị Em thân mến,
Việc chúng ta cử hành Thánh Thể hôm nay được bắt đầu bằng lời kêu gọi: “Chúng ta hăy hân hoan trong Chúa”. Phụng vụ kêu mời chúng ta chia sẻ niềm hân hoan thiên đ́nh của các thánh nhân, mời chúng ta nếm hưởng niềm vui. Các vị thánh không phải là một giai cấp hạn hữu của thành phần được tuyển chọn mà là một đám đông vô số được phụng vụ kêu gọi chúng ta hăy ngước mắt lên nh́n các ngài.
Trong đám đông này không phải chỉ có những vị thánh được chính thức công nhận mà c̣n là thành phần đă lănh nhận phép rửa thuộc mọi lứa tuổi và tên gọi chúng ta chưa biết tới, nhưng với con mắt đức tin chúng ta thấy họ rạng ngời như các v́ tinh tú đầy vinh quang trên bầu trời thần linh.
Hôm nay, Giáo Hội mừng phẩm vị của ḿnh với vai tṛ làm “mẹ của các thánh, h́nh ảnh của thành đô trường tồn” (Alessandro Manzoni), và biểu lộ nhan sắc của ḿnh ra như vị hôn thê tinh tuyền của Chúa Kitô, nguồn mạch và là mô phạm của tất cả mọi sự thánh đức. Giáo Hội không phải là không có những đứa con cái phóng túng, những đứa con cái thực sự là phản loạn, thế nhưng, chính ở nơi các vị thánh Giáo Hội nhận thấy những đặc tính nổi bật của ḿnh, và chính ở nơi các vị Giáo Hội tỏa ra niềm vui sâu thẳm nhất của ḿnh.
Trong bài đọc thứ nhất, tác giả của Sách Khải Huyền đă diễn tả “một đám rất đông không ai có thể đếm xuể thuộc hết mọi quốc gia, chủng tộc, dân chúng và ngôn ngữ” (7:9). Thành phần dân chúng này bao gồm những vị thánh thuộc Cựu Ước, bắt đầu từ Abel là con người công chính và tổ phụ Abraham, rồi tới những vị tháng Tân Ước, nhiều vị tử đạo khi Kitô Giáo mới bắt đầu, các vị chân phước và thánh nhân thuộc các thế hệ sau đó, và cuối cùng là những chứng vị chứng nhân của Chúa Kitô trong thời đại của chúng ta. Những ǵ các vị có chung vo1ơ nhau đó là ư muốn hiện thực hóa Phúc Âm trong đời sống của ḿnh theo tác động của Thánh Linh, Đấng là Đấng vĩnh hằng ban sự sống cho dân Thiên Chúa.
Thế nhưng, “việc chúng ta ca ngợi các thánh, việc chúng ta tỏ ḷng tôn vinh, việc chúng ta long trọng cử hành có ích ǵ chứ?” Bài giảng nổi tiếng của Thánh Bênađô cho lễ Chư Thánh đă được bắt đầu bằng câu hỏi này. Nó là một câu hỏi chúng ta có thể tự hỏi ḿnh ngay cả đến ngày hôm nay đây. Câu giải đáp được Thánh Bênađô cống hiến cũng liên quan tới chúng ta nữa. Ngài nói: “Các thánh nhân không cần việc tôn vinh của chúng ta, và các ngài chẳng chiếm được ǵ nơi việc tưởng niệm của chúng ta. Đối với chính ḿnh, tôi cần phải tuyên xưng rằng khi tôi nghĩ đến các vị thánh th́ tôi cảm thấy bừng lên những ước muốn cao cả” (Homily 2, "Opera Omnia," ed. Cisterc, 5, 364 ff.).
Vậy ư nghĩa của việc long trọng cử hành hôm nay đây là ở chỗ: Khi ngước mắt nh́n lên gương sáng của các vị thánh chúng ta cảm thấy bừng lên trong ḿnh đầy ḷng ước vọng trở thành những thánh nhân; chúng ta cảm thấy sung sướng được sống gần Thiên Chúa, được sống trong ánh sáng của Ngài, trong một đại gia đ́nh các bạn hữu của Thiên Chúa. Là một vị thánh nghĩa là sống gần gũi với Thiên Chúa, sống trong gia đ́nh của Ngài. Và đó là ơn gọi của tất cả chúng ta, được Công Đồng Chung Vaticanô II mạnh mẽ tái khẳng định, và cần chúng ta đặc biệt chú ư tới vào ngày này.
Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể trở thành những vị thánh, thành bạn hữu của Thiên Chúa đây? Câu trả lời đầu tiên cho vấn nạn này đó là: Để làm thánh không cần phải thi hành những công việc và những hoạt động phi thường, cũng không cần phải có được những đặc sủng ngoại thường. Song câu trả lời này mới nói cho chúng ta biết những ǵ không phải là sự thánh thiện. Câu giải đáp tích cực cho việc trở thành một vị thánh đó là trước hết cần phải lắng nghe Chúa Giêsu để rồi theo Người và đừng nản ḷng trước những khốn khó.
Người phán: “Nếu ai muốn phụng sự Tôi th́ họ cần phải theo Tôi, và Tôi ở đâu th́ tôi tớ của Tôi cũng ở đó. Nếu ai phụng sự Tôi th́ Cha sẽ tôn vinh họ” (Jn 12:26). Ai kư thác ḿnh cho Người và chân thành mến yêu Người th́ sẽ chết cho Người như hạt lúa miến mục nát đi trong ḷng đất vậy.
Người thực sự biết rằng ai cố gắng giữ lấy sự sống ḿnh th́ sẽ làm nó mất đi, và ai hiến sự sống ḿnh như thế th́ lại giữ được nó (x Jn 12:24-25). Kinh nghiệm của Giáo Hội chứng tỏ rằng, mặc dù có những đường lối khác nhau, tất cả mọi h́nh thức thánh thiện bao giờ cũng trải qua con đường thập giá, con đường từ bỏ chính ḿnh.
Các câu truyện tiểu sử về các vị thánh cho thấy những con người nam nữ, thành phần luôn dễ dạy đối với ư định thần linh, đôi khi đă trải qua những khổ đau khôn xiết tả, đă bị bách hại và tử đạo. Các vị kiên tŕ với nhiệm vụ của ḿnh. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền “Đó là những người đă sống sót trong thời kỳ đầy những đau thương, họ giặt áo ḿnh nên tinh trắng trong máu của Con Chiên” (7:14).
Danh tính của họ được ghi trong sách sự sống (x Rev 20:12); thiên đàng là nơi cư ngụ đời đời của họ. Mẫu gương của các thánh nhân là những ǵ phấn khích chúng ta hăy theo bước chân của các vị, cảm nghiệm niềm vui của những ai tin tưởng phó ḿnh cho Thiên Chúa, v́ lư do buồn khổ duy nhất đó là sống xa cách Ngài.
Thánh thiện đ̣i hỏi phải liên lỉ cố gắng, nhưng thánh thiện là những ǵ khả dĩ đối với tất cả mọi người, v́ nó không phải chỉ là công việc của loài người mà trước hết là một tặng ân của Thiên Chúa, Đấng ba lần thánh (x Is 6:3). Trong bài đọc thứ hai, Thánh Tông Đồ Gioan nhận định rằng: “Hăy xem t́nh yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta biết là chừng nào, để chúng ta được gọi là con cái của Thiên Chúa. Mà thật sự chúng ta là như thế” (1Jn 3:1).
Bởi thế, chính Thiên Chúa là Đấng đă yêu thương chúng ta trước, và nơi Chúa Giêsu Ngài đă làm cho chúng ta trở thành những người con được Ngài thừa nhận làm dưỡng tử. Trong cuộc sống của chúng ta, tất cả đều là tặng ân yêu thương của Ngài. Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng lănh đạm trước một mầu nhiệm cao cả như thế chứ? Làm sao chúng ta không đáp ứng t́nh yêu thương của Cha trên trời bằng việc sống một cuộc đời con cái với ḷng tri ân cảm tạ chứ?
Nơi Chúa Kitô Ngài đă hoàn toàn ban ḿnh cho chúng ta và đă kêu gọi chúng ta sống mối liên hệ riêng tư và sâu xa với Ngài. Bởi thế, chúng ta càng bắt chước Chúa Kitô và liên kết với Người, chúng ta càng tiến vào mầu nhiệm thánh thiện thần linh. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta được Ngài vô cùng yêu thương và điều khám phá này thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em ḿnh. Yêu thương bao giờ cũng là một hành động từ ḿnh, “đánh mất bản thân ḿnh”, và chính nhờ đó mà chúng ta mới cảm thấy hạnh phúc.
Bởi thế chúng ta sang bài Phúc Âm của thánh lễ này, sang với lời công bố các phúc đức chúng ta vừa nghe vang vọng chốc lát trước đây trong đền thờ này.
Chúa Giêsu phán rằng: Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần, phúc cho ai khóc lóc, cho ai hiền lành, phúc cho ai đói khát công lư, cho ai biết xót thương, phúc cho ai có tấm ḷng thanh sạch, cho kẻ xây dựng ḥa b́nh; kẻ bị bách hại v́ sự công chính (x Mt 5:3-10).
Thật vậy, phúc đức trên hết là chính Người, là Chúa Giêsu. Thật vậy, Người thực sự nghèo trong tinh thần, là người khóc lóc, là người hiền lành, là người đói khát công lư, là người xót thương, có ḷng tinh khiết, là người kiến thiết ḥa b́nh; Người là vị bị bắt bớ v́ sự công chính.
Các phúc đức cho chúng ta thấy dung mạo thiêng liêng của Chúa Giêsu, nhờ đó cho thấy mầu nhiệm của Người, mầu nhiệm của tử nạn và phục sinh, của cuộc khổ nạn và niềm vui phục sinh. Mầu nhiệm này, một mầu nhiệm của những ǵ thực sự phúc đức, mời gọi chúng ta hăy bước theo Chúa Giêsu, nhờ đó theo con đường dẫn đến hạnh phúc.
Tùy theo cách thức chúng ta chấp nhận lời Người mời gọi và bước theo Người – tùy theo hoàn cảnh của hết mọi người – cả chúng ta nữa cũng được tham dự vào phúc đức của Người. Với Người những ǵ bất khả đều trở thành khả dĩ cho đến độ con lạc đà có thể chui qua lỗ kim (x Mk 10:25); với ơn trợ giúp của Người, chúng ta có thể nên trọn hảo như Cha trên trời là Đấng trọn hảo (x Mt 5:48).
Anh chị em thân mến, giờ đây chúng ta tiến vào tâm điểm của việc cử hành Thánh Thể là những ǵ phấn khích và nuôi dưỡng sự thánh thiện. Chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô sẽ hiện diện một cách cao cả, Người là cây nho thật mà tín hữu trên thế gian và các thánh trên trời liên kết lại như là những cành nho.
Mối hiệp thông của Giáo Hội lữ hành trên thế giới này với Giáo Hội khải hoàn trong vinh quang sẽ được kiên cường. Trong Kinh Tiền Tụng chúng ta sẽ loan báo rằng các vị thánh là bạn hữu và là mẫu sống cho chúng ta. Chúng ta sẽ xin các vị hăy giúp đỡ chúng ta trong việc bắt chước các vị và thực hiện việc quảng đại đáp ứng tiếng gọi thần linh như các vị đă làm. Chúng ta đặc biệt kêu xin Mẹ Maria, mẹ của Chúa Kitô và là gương soi thánh đức. Chớ ǵ Mẹ là vị toàn thánh làm cho chúng ta trở thành những người môn đệ trung thực của Chúa Giêsu Kitô Con Mẹ! Amen.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
1/11/2006
“Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh là Niềm Hy Vọng cho Thế Giới”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng ngày 19/10/2006 tại Hội Nghị Toàn Ư Quốc về Giáo Hội ở Verona.
Sau đây là nguyên văn bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong thánh lễ được cử hành ở sân vận động túc cầu Bentegodi, với 42 ngàn người trực tiếp tham dự, chưa kể 60 ngàn người theo dơi qua những màn ảnh vĩ đại ở những nơi khác nhau trong thành phố này.
Quí Huynh khả kính trong Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ,
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay, trong việc cử hành Thánh Thể này, chúng ta sống giây phút chính yếu của Hội Nghị Toàn Quốc lần thứ tư về Giáo Hội ở Ư quốc, một hội nghị được tập trung quanh Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Tâm điểm của hết mọi biến cố giáo hội là Thánh Thể, nơi Chúa Kitô kèo chúng ta lại với nhau, nói với chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta và sai chúng ta đi.
Vận động trường Verona đây, nơi được chọn cho việc long trọng cử hành phụng vụ này, là những ǵ có ư nghĩa: nó là một nơi các lễ nghi không phải tôn giáo thường được cử hành, đó là những biến cố về thể thao lôi cuốn hằng triệu người hâm mộ.
Hôm nay, nơi này được tổ chức giành cho Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng thực sự hiện diện nơi Lời của Người, nơi cộng đồng Dân Chúa cùng với các vị Mục Tử của cộng đồng này, một cách cao cả, nơi Bí Tích Ḿnh Máu của Người.
Hôm nay Chúa Kitô đến chốn Công Đường tân thời này để tuôn đổ Thần Linh của Người trên Giáo Hội Ư quốc, nhờ đó, được canh tân bởi hởi thở của Người bằng một Lễ Hiện Xuống mới, Giáo Hội này có thể ‘truyền đạt Phúc Âm trong một thế giới đang biến chuyển’, như được đề ra ở những chỉ thị mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Ư quốc cho những năm 2000-2010.
(Hai đoạn tiếp theo ngài ngỏ lời chào tất cả mọi chức sắc và thành phần trong Giáo Hội Ư, kể cả những ai theo dơi qua truyền h́nh và truyền thanh, và nhóm truyền thông theo dơi hội nghị này).
Bài Đọc Thánh Kinh được công bố cách đây ít lâu là những ǵ soi sáng cho đề tài của Hội Nghị này: ‘Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh là Niềm Hy Vọng của Thế Giới’. Lời Chúa nhấn mạnh đến Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô, một biến cố đă làm tái sinh nơi thành phần tín hữu một niềm hy vọng sống động, như Tông Đồ Phêrô nói ở đầu Bức Thư Thứ Nhất của ngài. Đoạn văn này là những ǵ làm nên cái trục chi phối cuộc hành tŕnh để thực hiện những việc sửa soạn cho cuộc đại hội toàn quốc này. Là vị Thừa Kế của ngài, tôi cũng hân hoan kêu lên rằng: ‘Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta’ (1Pt 1:3), v́ qua cuộc Phục Sinh của Con ḿnh, Ngài đă tái sinh chúng ta và đă ban cho chúng ta niềm hy vọng vô địch của sự sống đời đời theo đức tin, nhờ đó chúng ta sống trong hiện tại mà bao giờ cũng hướng tới đích điểm, đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa của chúng ta và là Đấng Cứu Độ của chúng ta.
Được kiên cường bằng niềm hy vọng này, chúng ta không được hăi sợ thử thách, những thử thách mà, dù đau thương và nặng nề, không bao giờ có thể làm hại đến niềm vui sâu xa bởi được Thiên Chúa yêu thương. Theo sự quan pḥng yêu thương của ḿnh, Ngài đă ban Con của Ngài cho chúng ta và chúng ta, cho sù không thấy Ngài, vẫn tin vào Ngài và mến yêu Ngài (x 1Pt 1:3-9). T́nh Ngài yêu thương là đủ cho chúng ta rồi.
Nhờ được củng cố bởi t́nh yêu thương ấy, một t́nh yêu vững vàng tin tưởng vào cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu, một cuộc phục sinh làm nẩy sinh niềm hy vọng, mà chứng từ Kitô Hữu của chúng ta mới xuất phát và liên lỉ đổi mới. Chính ở nơi đây mới có ‘Kinh Tin Kính’ của chúng ta, một công thức của niềm tin làm nền tảng cho việc giảng dạy tiên khởi và tiếp tục như thế trong việc nuôi dưỡng Dân Chúa.
Nội dung của ‘bài giảng tiên khởi’ này, của việc loan báo này, việc loan báo làm nên bản chất của tất cả sứ điệp Phúc Âm, là Chúa Kitô, Con Thiên Chúa làm Người, Đấng đă chết đi và sống lại v́ chúng ta. Cuộc Phục Sinh của Người là một mầu nhiệm sáng giá của Kitô Giáo, là việc viên trọn dồi dào phong phú tất cả mọi lời hứa cứu độ, cũng là những lời hứa chúng ta đă nghe trong Bài Đọc Thứ Nhất được trích lại từ cuối Sách Tiên Tri Isaia.
Từ Chúa Kitô Phục Sinh, hoa trái đầu tiên của tân nhân loại, một tân nhân loại đă được tái sinh và đang được tái sinh, một dân ‘nghèo khổ’ thực sự được hạ sinh, như vị tiên tri này đă tiên báo, thành phần đă mở ḷng ḿnh ra cho Phúc Âm, và đă trở nên và măi trở nên ‘những cây sồi công chính’ mới, ‘việc Chúa gieo trồng để Ngài được hiển vinh’, thành phần tái thiết những đổ nát, thành phần phục hồi những thành phố tiêu điều, được tất cả coi là miêu duệ diễm phúc của Chúa (x Is 61:3-4,9).
Mầu nhiệm Phục Sinh của Con Thiên Chúa, Đấng, bằng việc về Trời ngự bên hữu Cha, đă tuôn xuống trên chúng ta Thánh Thần và cho chúng ta có thể bằng một thoáng nh́n duy nhất bao gồm được cả Chúa Kitô và Giáo Hội: Đấng Phục Sinh và người được phục sinh, hoa trái đầu mùa và thửa ruộng của Thiên Chúa, tảng đá nền và những viên đá sống, một h́nh ảnh khác trong Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô (x 2:4-8).
Vậy những ǵ đă xẩy ra vào lúc ban đầu cho cộng đồng tông đồ tiên khởi th́ cũng được tái diễn thậm chí cho tới nay.
Thật vậy, từ ngày Hiện Xuống, ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh đă biến đổi đời sống của các vị Tông Đồ. Các vị đă có một nhận thức rơ ràng về việc không phải chỉ làm môn đệ của một thứ giáo thuyết mới mẻ và hay ho mà c̣n làm chứng nhân được tuyển chọn và hữu trách đối với một mạc khải liên hệ tới phần rỗi của những người đồng thời với các vị cũng như của tất cả mọi thế hệ mai sau.
Niềm tin Vượt Qua đă làm tràn đầy ḷng các vị bằng nhiệt t́nh hăng say và trổi vượt, một ḷng nhiệt thành khiến cho các vị có thể đương đầu với hết mọi khốn khó, cho dù là sự chết, và đă khiến cho lời nói của các vị có một mănh lực thuyết phục bất khả kháng cự. Bởi vậy mà một nhóm người, thiếu thốn về các phương tiện trần thế nhưng chỉ cần mạnh mẽ về niềm tin, đă có thể hiên ngang đương đầu với cuộc bách hại khốn khổ và tử đạo.
Tông Đồ Gioan viết: ‘Cuộc chiến thắng chế ngự thế gian ở đây là đức tin của chúng ta’ (1Jn 5:4b). Sự thật của điều khẳng định này cũng được ghi nhẫn ở Ư quốc trong hai thiên kỷ của lịch sử Kitô giáo, với muôn vàn chứng từ của các vị tử đạo, của các thánh nhân và các v ị chân phước, những vị đă để lại dấu vêá bất khả phai nḥa ở khắp Bán Đảo tuyệt vời chúng ta đang sống đây. Một số vị đă được nhắc đến ở đầu cuộc Hội Nghị này và dung nhan của các vị ở với việc làm này của chúng ta.
Ngày nay, chúng ta là thành phần thừa kế của những vị chứng nhân vinh thắng này! Thế nhưng, chính v́ nhận định này mới có vấn đề được đặt ra ở đây: đâu là niềm tin của chúng ta? Hôm nay đây chúng ta có thể truyền đạt đức tin cho tới độ nào?
Niềm tin tưởng rằng Chúa Kitô đă sống lại là những ǵ bảo đảm cho chúng ta rằng không có một chống đối nào có thể hủy diệt nổi Giáo Hội. Chúng ta cũng được phấn khởi bởi ư thức rằng chỉ có Chúa Kitô mới có thể hoàn toàn làm măn nguyện những khát vọng sâu xa của hết mọi tâm can con người và mới có thể đáp ứng những vấn nạn nhức nhối nhất về đau khổ, về bất công và sự dữ, về sự chết và đời sau mà thôi.
Bởi thế, đức tin của chúng ta là những ǵ vững vàng, thế nhưng đức tin này cần phải sống động nơi mỗi một người chúng ta nữa. V́ vậy cần phải thực hiện một nỗ lực rộng lớn và liên kết để mỗi một Kitô hữu được biến đổi thành một ‘nhân chứng’ sẵn sàng có thể đảm nhận nhiệm vụ cống hiến lư do cho mọi người và ở mọi lúc về niềm hy vọng trong con người ḿnh (x 1Pt 3:15).
Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải quay về với việc mạnh mẽ và hân hoan loan truyền biến cổ tử nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, tâm điểm của Kitô Giáo, cứ điểm chính của niềm tin chúng ta, đón bay mănh liệt cho niềm xác tín của chúng ta, ngọn gió dữ dội thổi bay đi hết mọi nỗi sợ hăi và do dự, hết mọi ngờ vực và tính toán của con người.
Việc đổi thay quyết liệt này trên thế giới chỉ có thể xẩy ra từ Thiên Chúa mà thôi. Chỉ bắt đầu từ Cuộc Phục Sinh mà bản chất thật sự của Giáo Hội và việc làm chứng của Giáo Hội mới hiểu được, một bản chất không phải là một cái ǵ đó tách khỏi Mầu Nhiệm Vượt Qua, trái lại là hoa trái của mầu nhiệm này, một mầu nhiệm được biểu lộ và thể hiện bởi những ai, nhờ lănh nhận Thánh Thần, được Chúa Kitô sai đi để tiếp tục sứ vụ của chính Người (x Jn 20:21-23).
‘Những chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh’: định nghĩa này của Kitô Giáo xuất phát trực tiếp từ đoạn Phúc Âm của Thánh Luca được công bố hôm nay, mà c̣n từ cả Sách Tông Vụ (x 1:8,22). Những chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh. Cái ‘của’ ở đây cần phải hiểu kỹ lưỡng! Nó có nghĩa là chứng nhân này là ‘của’ Chúa Giêsu Phục Sinh, tức là thuộc về Người, chính v́ thể mới có thể cống hiến một chứng từ sáng giá cho Người, mới có thể nói về Người, mới có thể làm cho Người được nhận biết, mới có thể dẫn đến với Người, mới có thể truyền đạt sự hiện diện của Người.
Hoàn toàn ngược lại với những ǵ xẩy ra ở phần diễn tả khác: ‘niềm hy vọng cho thế giới’. Ở đây liên từ ‘của’ hoàn toàn không có nghĩa là thuộc về, v́ Chúa Kitô không thuộc về thế gian, cũng như Kitô hữu không thuộc về thế gian vậy.
Niềm hy vọng là Chúa Kitô là những ǵ đang ở trong thế gian và cho thế gian, thế nhưng chính v́ Chúa Kitô là Thiên Chúa, là ‘Đấng Thánh’ (theo tiếng Do Thái là ‘Qadosh’). Chúa Kitô là niềm hy vọng cho thế giới v́ Người đă phục sinh, và Người phục sinh v́ Người là Thiên Chúa.
Kitô hữu cũng mang đến cho thế giới niềm hy vọng, v́ họ thuộc về Chúa Kitô và thuộc về Thiên Chúa, ở chỗ họ đă cùng chết với Người v́ tội lỗi và cùng sống lại với Người cho một cuộc sống mới của t́nh yêu thương, của sự tha thứ, của việc phục vụ, của những ǵ bất bạo động.
Như Thánh Âu Quốc Tinh nói: ‘Anh chị em đă tin tưởng nên anh chị em đă lănh nhận Phép Rửa: cuộc sống cũ của anh chị em đă chết đi, nó bị giết chết trên Thập Tự Giá, được mai táng trong Phép Rửa. Cuộc sống cũ anh chị em sống tồi tàn đă bị chôn táng để sự sống mới được nẩy sinh’ (cf. "Sermone Guelf. IX," in M. Pellegrino, "Vox Patrum," 177). Như Chúa Kitô, chỉ khi nào nó không thuộc về thế gian th́ Kitô hữu mới có thể trở thành niềm hy vọng trên thế giới và cho thế giới này.
Anh chị em thân mến, niềm mong ước của tôi, chắc chắn cũng là của anh chị em, đó là Giáo Hội Ư quốc có thể bắt đầu lại từ Hội Nghị này, như được thôi thúc bởi những lời của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng lập lại những lời ấy cho mỗi người và mọi người trong anh chị em, đó là hăy làm những chứng nhân trên thế giới ngày nay của cuộc khổ nạn của Thày và Phục Sinh của Thày (x Lk 24:28).
Phúc Âm không đổi thay trong một thế giới đang biến chuyển. Tin Mừng bao giờ cũng y nguyên: đó là Chúa Kitô đă chết và sống lại v́ phần rỗi của chúng ta! Nhân Danh Người, hăy mang sứ điệp hoán cải và thứ tha tội lỗi cho hết mọi người, thế nhưng chính anh chị em phải là những người đầu tiên làm chứng cho một cuộc sống được cải hoán và thứ tha.
Chúng ta quá biết rằng điều này không thể nào hiện thực nếu không được ‘mặc lấy quyền lực từ trên cao’ (Lk 24:29), không có sức mạnh nội tại của Thần Linh Đấng Phục Sinh. Để lănh nhận quyền lực này, như Chúa Kitô đă nói với các môn đệ rằng các vị không được rời Giêrusalem, mà phải ở lại trong ‘thành’ này, nơi mầu nhiệm cứu độ được hoàn thành, tác động cao cả của t́nh Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Người ta cần phải sống nguyện cầu với Mẹ Maria, Người Mẹ được Chúa Kitô trao tặng cho chúng ta từ trên cây Thánh Giá.
Đối với Kitô hữu, thành phần công dân của thế giới này, ở lại Giêrusalem chính là ở trong Giáo Hội, ‘thành đô của Thiên Chúa’, nơi con người có thể được ‘unction’ (xức dầu) Thánh Linh.
Trong những ngày Hội Nghị Toàn Quốc về Giáo Hội này, Giáo Hội Ư quốc, đáp ứng lệnh truyền của Chúa Kitô Phục Sinh, đang qui tụ lại và đă sống cái cảm nghiệm nguyên thủy của Nhà Tiệc Ly, để được tái lănh nhận tặng ân ấy từ trên Cao.
Giờ đây, được thánh hiến bởi ‘việc xức dầu’ này, anh chị em hăy lên đường! Hăy mang tin vui đến cho người nghèo, băng bó thương tích cho những tâm can tan nát, loan báo tự do cho kẻ bị cầm buộc, tự do cho người bị lưu đầy, công bố năm xót thương của Chúa (x Is 61:1-2).
Hăy tái thiết những tàn rụi cũ, hăy vượt lên trên những tàn phá trước kia, hăy chỉnh đốn những thành phố hoang tàn (x Is 61:4). Có nhiều trường hợp khó khăn đang đợi chờ một cuộc can thiệp dứt khoát! Hăy mang vào thế giới này niềm hy vọng của Thiên Chúa, Đấng là Chúa Kitô, Đấng đă phục sinh từ kẻ chết và đang muôn đời hiển trị.
Amen
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Anh Chị Em thân mến,
Bốn tân Thánh Nhân hôm nay được Giáo Hội hoàn vũ nêu lên để tôn kính, đó là Rafael Guízar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Guérin. Danh tánh của các ngài sẽ được muôn đời tưởng nhớ đến.
Ư nghĩ ngược hẳn lại với vấn đề danh tánh này liên quan tới “con người trẻ giầu có” được Phúc Âm vừa công bố nói tới. Con người trẻ này vẫn là một con người ẩn danh; nếu anh ta tích cực đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu th́ anh ta trở thành môn đệ của Người và có lẽ vị Thánh Kư đă ghi nhận danh tính của anh ta rồi.
Từ sự kiện ấy người ta có thể thoáng nh́n thấy ngay đề tài cho Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này, đó là nếu con người đặt tin tưởng của ḿnh vào s75 giầu có ở đời này th́ họ sẽ không đạt được hoàn toàn ư nghĩa của đời sống và niềm vui chân thực.
Trái lại, nếu tin tưởng vào Lời Chúa, anh ta từ bỏ chính ḿnh và sản vật của ḿnh v́ Nước Trời, hiển nhiên là mất mát rất nhiều, th́ thực ra anh ta lại chiếm được tất cả mọi sự.
Thánh Nhân chính là con người nam nữ, thành phần, bằng việc hân hoan và quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, ĺa bỏ mọi sự để theo Người. Như Thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, như Thánh Têrêsa Avila hôm nay nhắc nhở chúng ta cũng như vô số thành phần bạn hữu khác của Thiên Chúa, các vị tân Thánh Nhân cũng trải qua cuộc hành tŕnh Phúc Âm gay go nhưng trọn vẹn ấy và đă lănh nhận “gấp trăm” ở đời này, cùng với những thử thách và bách hại, và rồi sự sống đời đời.
Bởi thế, Chúa Giêsu có thể thực sự bảo đảm một cuộc sống hạnh phúc và sự sống đời đời, thế nhưng bằng một đường lối khác với những ǵ con người trẻ giầu có tưởng nghĩ: tức là, không phải bằng việc lành, một thứ trân trọng về luật lệ, mà là nơi việc chọn lấy Vương Quốc của Thiên Chúa như “hạt ngọc quí báu” là những ǵ xứng đáng với việc người ta cần phải bán đi tất cả sở hữu của họ (x Mt 13:45-46).
Con người trẻ giầu có không thể thực hiện điều ấy. Mặc dù con người trẻ này đă trở thành đối tượng trước ánh mắt tŕu mến của Chúa Giêsu (x Mk 10:21), ḷng của anh ta vẫn không thể thoát ly được nhiều sản vật anh ta có được.
Bởi vậy mới có lời răn các vị môn đệ rằng: “Khó vào Vương Quốc của Thiên Chúa biết bao cho những ai giầu có” (Mk 10:23).
Những thứ sang giầu trần gian chiếm đoạt và tiền chiếm tâm trí con người. Chúa Giêsu không nói rằng chúng là những ǵ xấu xa, nhưng chúng làm con người cách xa Thiên Chúa nếu chúng, có thể nói, không được “đầu tư” cho Vương Quốc của Thiên Chúa, tức là không được tiêu xài cho việc giúp đáp những ai nghèo khổ.
Hiểu được điều này là hoa trái của đức khôn ngoan được Bài Đọc Một nói tới. Như chúng ta đă nghe, đức khôn ngoan này là những ǵ quí hóa hơn cả vàng bạc, và đẹp đẽ hơn, lành mạnh hơn và tràn đầy ánh sáng, “v́ nó không ngừng rạng ngời chiếu tỏa” (Wis 7:10).
Hiển nhiên là đức khôn ngoan này không thể biến thành một thứ chiều kích thuần tri thức. Nó c̣n hơn thế nữa; nó là “Sự Khôn Ngoan của cơi ḷng”, như được nói đến trong bài Thánh Vịnh 89. Nó là tặng ân bởi trời (x Jas 3:17), từ Thiên Chúa, và có được nhờ nguyện cầu (x Wis 7:7).
Thật vậy, nó không xa cách con người; nó đến gần với tâm can con người (x Dt 30:14), dưới h́nh thức lề luật của Giáo Ước Thứ Nhất giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái qua trung gian Moisen.
Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa được chất chứa nơi Bản Thập Điều. Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu khẳng định trong Phúc Âm rằng “để vào sự sống” cần phải tuân giữ các giới răn (x Mk 10:19). Cần thiết song không đủ!
Thật vậy, như Thánh Phaolô nói, ơn cứu độ không xuất phát từ lề luật mà là từ Ân Sủng. Và Thánh Gioan nhắc nhở rằng lề luật được Moisen ban bố nhưng Ân Sủng và Chân Lư bởi Chúa Giêsu Kitô mà có (x Jn 1:17).
Để đạt được ơn cứu độ, bởi thế người ta cần phải tin tưởng mở ḷng ra cho ân sủng của Chúa Kitô là Đấng dù sao khi kêu gọi cũng đưa ra một điều kiện gắt gao là “Hăy đến mà theo Thày” (Mk 10:21).
Các Thánh Nhân đă tỏ ra khiêm nhuợng và can đảm đáp tiếng “xin vâng”, và các vị đă từ bỏ tất cả mọi sự để làm bạn hữu của Người.
Bốn tân Thánh Nhân là những vị chúng ta đặc biệt tôn kính hôm nay đây đă thực hiện như thế. Nơi các vị chúng ta thấy hiện thực cái cảm nghiệm của Thánh Phêrô: “Này đây chúng con đă từ bỏ mọi sự mà theo Thày” (Mk 10:28). Kho tàng duy nhất của họ ở trên trời, đó là Thiên Chúa.
Phúc Âm chúng ta đă nghe giúp chúng ta hiểu được h́nh ảnh của Thánh Rafael Guízar y Valencia, Giám Mục giáo phận Vera Cruz nơi Đất Nước Mễ Tây Cơ thân yêu, như một gương mẫu của người bỏ mọi sự để “theo Chúa Giêsu”.
Vị Thánh này đă trung thành với Lời thần linh, “sống động và linh động”, lời thấu suốt tâm can (x Heb 4:12). Theo gương Chúa Kitô nghèo, ngài đă từ bỏ các sản vật của ḿnh và không bao giờ chấp nhận các thứ tặng vật của thành phần quyền thế, hay trái lại, ngài đă trả lại cho họ ngay. Đó là lư do tại sao ngài đă lănh nhận “gấp trăm” và nhờ đó có thể giúp đỡ thành phần nghèo khổ, thậm chí giữa khôn cùng “bách hại” (x Mk 10:30).
Đức ái của ngài, một đức ái được sống ở mức độ anh hùng, đă làm cho ngài mang danh hiệu “Vị Giám Mục của người nghèo”. Nơi thừa tác vụ linh mục và giám mục sau đó, ngài đă là một vị giảng thuyết không biết mệt mỏi cho những tuần pḥng phổ thông, một đường lối thích hợp nhất vào thời bấy giờ để truyền bá phúc âm hóa dân chúng, bằng việc sử dụng “Giáo Lư về Tín Lư Kitô Giáo” của riêng ngài.
V́ việc đào luyện linh mục là một trong những ưu tiên của ḿnh, ngài đă tái mở chủng viện là những ǵ đưoơc ngài coi là “con ngươi của ngài”, và bởi đó ngài thường nói: “Một vị Giám Mục có thể hành động không có mũ giám mục, không có gậy giám mục và thậm chí không có cả vương cung thánh đường, nhưng ngài không thể hành động mà lại thiếu chủng viện, v́ tương lai của Giáo Phận của ngài tùy thuộc vào đó”.
Với cảm quan sâu xa này về tính cách phụ thân của vị linh mục, ngài đă phải đương đầu với những cuộc bách hại mới và lưu vong mới, thế nhưng ngài luôn bảo đảm việc huấn luyện cho các sinh viên.
Gương của Thánh Rafael Guízar y Valencia là một tiếng gọi đối với các vị Giám Mục và linh mục anh em của ngài trong việc lấy làm chính yếu nơi các chương tŕnh mục vụ, ngoài tinh thần khó nghèo và truyền bá phúc âm hóa, việc cổ vơ ơn gọi linh mục và tu sĩ, và việc huấn luyện họ theo tâm can của Chúa Giêsu!
Thánh Filippo Smaldone, người con của Miền Nam Ư quốc, đă biết cách thấm nhập vào cuộc sống của ḿnh những nhân đức cao cả làm nên đặc tính của miền đất của ngài.
Là một vị linh mục có một con tim cao cả được liên lỉ nuôi dưỡng bằng việc nguyện cầu và việc tôn thờ Thánh Thể, trước hết ngài là chứng nhân va àà tôi tớ của đức bác ái, một nhân đức được ngài thể hiện một cách siêu đẳng qua việc phục vụ người nghèo, đặc biệt là thành phần câm điếc, thành phần ngài đă hiến toàn thân cho họ.
Công cuộc được ngài bắt đầu ấy đă phát triển nhờ Ḍng Chị Em Saledieng Thánh Tâm do ngài thành lập và lan ra ở các vùng khác nơi Ư quốc và trên thế giới.
Thánh Filippo Smaldone thấy được h́nh ảnh của Thiên Chúa nơi những người câm điếc, và ngài thường lập lại rằng, như chúng ta qú trước Thánh Thể thế nào chúng ta cũng phải qú xuống trước một người câm điếc như thế.
Theo gương của ngài, chúng ta hoan nghênh lời mời gọi hăy quan tâm tới t́nh yêu bất khả phân chia đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và t́nh yêu đối với tha nhân của ḿnh. Thế nhưng, khả năng thực sự để yêu thương anh em chỉ có thể xuất phát từ việc gặp gỡ Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể mà thôi.
Thánh Rose Venerini là một gương mẫu khác của một người môn đệ trung thành của Chúa Kitô, sẵn sàng từ bỏ tất cả để thực hiện ư muốn của Thiên Chúa. Ngài thích nói rằng: “Tôi cảm thấy ḿnh thắt kết với ư muốn thần linh tới độ sống chết chẳng c̣n quan trọng ǵ nữa: Tôi muốn sống như Ngài muốn và tôi muốn phụng sự Ngài như Ngài muốn, ngoài ra không c̣n ǵ nữa” (Biografia Andreucci, p. 515).
Từ đó, từ việc phó ḿnh như thế cho Thiên Chúa, đă xuất phát một công cuộc được ca ngợi lâu dài được ngài can đảm phát triển để thăng hóa về mặt tinh thần và thực sự giải phóng thành phần nữ giới trẻ tuổi trong thời điểm của ngài.
Thánh Rose không chỉ cung cấp cho những người em gái việc giáo dục thích đáng mà c̣n quan tâm tới việc bảo đảm vấn đề huấn luyện trọn vẹn của họ, được căn cứ vào những giáo huấn tín lư của Giáo Hội.
Kiểu mẫu tông đồ của riêng ngài tiếp tục làm nên đặc tính cuộc sống của Hội Ḍng Các Thày Dạo Đạo Venerini do ngài thành lập. Và dịch vụ này hợp thời và quan trọng biết bao cho xă hội ngày nay, một dịch vụ đưa họ vào lănh vực giáo dục, nhất là lănh vực huấn luyện nữ giới.
“Hăy đi, bán hết mọi sự mà trao tặng cho người nghèo… rồi hăy đến mà theo Tôi”. Những lời này đă tác động vô vàn Kitô hữu suốt gịng lịch sử của Giáo Hội bước theo Chúa Kitô sống cuộc đời thật bần cùng, tin tưởng vào Đấng Quan Pḥng Thần Linh.
Giữa những người môn đệ quảng đại này của Chúa Kitô là một người nữ trẻ Pháp quốc, người đă dứt khoát đáp lại tiếng gọi của Vị Sư Phụ thần linh. Mẹ Théodore Guérin đă nhập Ḍng Chị Em Đấng Quan Pḥng năm 1923, và đă hiến ḿnh cho việc giảng dạy ở các học đường. Bấy giờ, vào năm 1839, ngài được các Bề Trên yêu cầu sang Hoa Kỳ để làm đầu một cộng đồng mới ở Indiana.
Sau chuyến hành tŕnh dài trên đất và biển, nhóm 6 nữ tu đă đến Saint Mary-of-the-Woods. Ở đó họ dựng một nguyện đường đơn sơ bằng ống gỗ dài ở giữa ḷng khu rừng ấy. Họ đă qú xuống trước Thánh Thể mà tạ ơn, xin Chúa hướng dẫn việc thành lập mới ấy.
Hết ḷng tin cậy vào Đấng Quan Pḥng Thần Linh, Mẹ Théodore đă thắng vượt nhiều thách đố và đă kiên tŕ thực hiện công việc được Chúa gọi ngài làm. Vào thời điểm qua đời của ḿnh là năm 1856, Các Nữ Tu này đă cai quản những học đường và những cô nhi viện khắp cả tiểu bang Indiana.
Theo lời của ngài th́ “Lợi ích là chừng nào những ǵ đă được các Nữ Tu Saint Mary-of-the-Woods hoàn thành! Họ c̣n có thể mưu ích nhiều hơn thế nữa nếu họ trung thành với ơn gọi thánh thiện của ḿnh!”
Mẹ Théodore Guérin là một h́nh ảnh thiêng liêng đẹp đẽ và là một mô phạm cho đời sống Kitô hữu. Mẹ luôn luôn cởi mở trước những sứ vụ được Giáo Hội ủy thác cho mẹ, và mẹ đă t́m thấy sức mạnh và ḷng gan dạ để thực hiện các sứ vụ bằng Thánh Thể, bằng nguyện cầu và bằng một niềm tin tưởng vô biên vào Đấng Quan Pḥng Thần Linh. Sức mạnh nội tâm của mẹ đă hướng mẹ đặc biệt chú trọng tới người nghèo, nhất là tới trẻ em.
Anh chị em thân mến, chúng ta hăy tạ ơn Chúa về tặng ân thánh thiện hôm nay chiếu sáng trong Giáo Hội bằng một vẻ đẹp đặc biệt.
Chúa Giêsu cũng mời chúng ta, như những vị Thánh này, hăy theo Người để được hưởng gia sản sự sống trường sinh. Chớ ǵ chứng từ gương mẫu của các vị soi sáng và khích lệ đặc biệt giới trẻ, để bản thân họ cũng được Chúa Kitô chiếm đoạt bằng ánh mắt đầy yêu thương của Người.
Chớ ǵ Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh, làm nổi lên trong dân Kitô Giáo, những con người nam nữ như các Thánh Rafael Guízar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Guérin, sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi sự v́ Vương Quốc của Thiên Chúa; sẵn sàng chấp nhận lư lẽ tặng ban và phục vụ, một lư lẽ duy nhất cứu độ trần gian. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo
Chư Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến,
Trong ca vịnh Ngợi Khen, một bản đại thánh ca của Đức Mẹ chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số lời lạ lùng. Mẹ Maria nói: ‘Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’.
Người Mẹ này của Chúa Kitô đă nói tiên tri về việc Giáo Hội măi măi sau này sẽ ca ngợi Thánh Mẫu, việc tôn sùng Thánh Mẫu của dân Chúa cho đến ngày cùng tháng tận.
Trong việc ngợi khen Mẹ Maria, Giáo Hội không sáng chế ra một cái ǵ đó ‘thêm vào’ Thánh Kinh: Mẹ đă đáp ứng lời tiên tri được Mẹ lên tiếng vào lúc ân sủng ấy.
Và những lời lẽ của Mẹ Maria không phải chỉ là những lời lẽ riêng tư, có thể là những lời độc đoán. Bà Isave, được tràn đầy Thánh Thần như Thánh Luca cho biết, đă vang tiếng kêu lên rằng: ‘Phúc cho em là người đă tin tưởng’. Và Mẹ Maria, cũng được tràn đầy Thánh Linh, tiếp tục và hoàn tất những ǵ bà Isave nói, khi xác quyết rằng: ‘Mọi thế hệ sẽ khen em diễm phúc’.
Đây thực sự là một lời tiên tri được Thánh Linh tác động, nên khi tôn kính Mẹ Maria, là Giáo Hội đáp lại mệnh lệnh của Thánh Thần; Giáo Hội làm những ǵ Giáo Hội cần phải làm.
Chúng ta không chúc tụng Thiên Chúa một cách đầy đủ khi câm nín về các thánh nhân của Ngài, nhất là về Mẹ Maria, ‘một vị thánh’ đă trở thành nơi trú ngụ của Ngài trên trái đất này.
Thứ ánh sáng đơn thuần và muôn mầu vain thể này của Thiên Chúa xuất hiện trước mắt chúng ta chính ở nơi tính cách khác nhau và phong phú của nó chỉ trên dung nhan của các vị thánh, thành phần thực sự phản ảnh ánh sáng của Ngài.
Và chính lúc nh́n lên dung nhan của Mẹ Maria mà chúng ta có thể thấy rơ ràng hơn hơn bất cứ một cách nào khác vẻ đẹp, sự thiện hảo và t́nh xót thương của Thiên Chúa. Nơi dung nhan của Mẹ chúng ta thực sự thấy được ánh sáng thần linh.
‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’. Chúng ta có thể chúc tụng Mẹ Maria, chúng ta có thể tôn kính Mẹ Maria v́ Mẹ là vị ‘diễm phúc’, Mẹ được diễm phúc đến muôn đời. Và đó là chủ đề của thánh lễ này. Mẹ được diễm phúc v́ Mẹ được liên kết với Thiên Chúa, Mẹ sống với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa.
Vào tối vọng cuộc khổ nạn của ḿnh, khi từ giă các môn đệ của ḿnh, Chúa Kitô đă nói: ‘Trong nhà Cha của Thày có nhiều chỗ… Thày đi để dọn chỗ cho các con’.
Khi thưa ‘Này tôi là tỳ nữ Chúa; tôi xin vâng như lời sứ thần truyền’, Mẹ Maria đă thực hiện việc sửa dọn cho Thiên Chúa một chỗ trú ngự trên trần gian này; với thân xác và linh hồn của ḿnh, Mẹ đă trở nên nơi trú ngự và do đó đă hướng trái đất về trời cao.
Trong bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Thánh Luca, bằng những ám chỉ khác nhau, làm cho chúng ta hiểu rằng Mẹ Maria là Ḥm Bia Giao Ước thực sự, rằng mầu nhiệm về đền thờ – nơi Thiên Chúa trú ngự trên trái đất – đă được hoàn tất nơi Mẹ Maria. Thiên Chúa, Đấng trở nên hữu h́nh trên trái đất này, thực sự trú ngự nơi Mẹ Maria. Mẹ Maria trở nên lều tạm của Ngài. Những ǵ được tất cả mọi nền văn hóa ước mong – đó là việc Thiên Chúa ngự giữa chúng ta – đă được thể hiện nơi đây.
Thánh Âu Quốc Tinh nói rằng: ‘Trước khi thụ thai Chúa Kitô trong thân thể của ḿnh Mẹ đă thụ thai Ngài nơi tâm hồn của Mẹ’. Mẹ đă giành chỗ cho Chúa nơi tâm hồn của Mẹ, nhờ đó thực sự trở thành đền thờ đích thực, nơi Thiên Chúa đích thân nhập thể, nơi Ngài trở nên hữu h́nh trên trái đất này.
Bởi vậy, là nơi trú ngự của Thiên Chúa trên trái đất này, mà chỗ trú ngự đời đời đă được dọn sẵn nơi Mẹ; nó đă được dọn sẵn cho đến muôn đời. Và điều này đă tạo nên tất cả nội dung của tín điều mông triệu của Mẹ Maria, tín điều cả xác lẫn hồn hiển vinh lên trời, một tín điều được diễn tả ở đây bằng những lời ấy. Mẹ Maria được ‘diễm phúc’ v́ – trọn vẹn cả xác lẫn hồn cho tới muôn đời – Mẹ đă trở nên nơi trú ngự của Chúa.
Nếu điều ấy đúng thực như thế th́ Mẹ Maria không chỉ mời gọi chúng ta ca ngợi và tôn kính, mà Mẹ c̣n hướng dẫn chúng ta, tỏ cho chúng ta biết con đường sống, tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta được diễm phúc, làm thế nào để t́m thấy con đường dẫn đến hạnh phúc.
Chúng ta hăy lắng nghe lại một lần nữa những lời của bà Isave đă được nên trọn nơi ca vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria: ‘Phúc cho em v́ đă tin tưởng’. Tác động đầu tiên và cốt yếu để trở thành nơi trú ngự của Thiên Chúa, nhờ đó t́m được hạnh phúc vĩnh viễn đó là tin tưởng: đó là niềm tin, tin tưởng vào Thiên Chúa, vài vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô và làm cho ḿnh được nghe thấy nơi lời thần linh của Thánh Kinh.
Tin tưởng không phải là vấn đề thêm thắt ư nghĩ này với những ư nghĩ khác. Và niềm xác tín, niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa hiện hữu, không phải là một thứ tín liệu như bất cứ tín liệu nào khác. Đối với hầu hết các tín liệu th́ chẳng có ǵ khác đối với chúng ta về tính cách thực hư của nó; nó không thay đổi ǵ cuộc đời của chúng ta hết. Thế nhưng, nếu Thiên Chúa không hiện hữu th́ đời sống này rỗng tuyếch, tương lai chẳng có ǵ. Song nếu Thiên Chúa hiện hữu th́ hết mọi sự đều biến đổi, sự sống là ánh sáng, tương lai của chúng ta ánh sáng và chúng ta được hường dẫn để biết cách sống. Bởi vậy mà tin tưởng là những ǵ tạo nên hướng đi nống cốt cho đời sống chúng ta.
Tin tưởng tức là thưa ‘Vâng, con tin rằng Chúa là Thiên Chúa, con tin rằng Chúa Chúa đang hiện diện giữa chúng con nơi Người Con nhập thể của Chúa’, xin hướng dẫn đời sống của con, xin thúc đẩy con sống gắn bó với Thiên Chúa, kết hiệp với Thiên Chúa nhờ đó con có thể t́m được nơi cư ngụ của con và đường lối để sống động.
Tin tưởng chẳng những là đường lối suy nghĩ hay là một tư tưởng; như nó đă được đề cập tới, nó c̣n là đường lối hành động, là một cách thế sống. Tin tưởng nghĩa là đi theo con đường được lời Chúa vạch vẽ ra cho chúng ta. Ngoài tác động đức tin trọng yếu này, một tác động của cuộc đời, một chủ trương được duy tŕ cho cả cuộc sống, Mẹ Maria c̣n thêm những lời khác nữa, đó là ‘Ngài xót thương những ai kính sợ Ngài’.
Cùng với toàn thể Thánh Kinh, Mẹ Maria nói đến ‘ḷng kính sợ Chúa’. Có lẽ đây là một câu chúng ta ít quen thuộc và không thích lắm. Thế nhưng, ‘ḷng kính sợ Chúa’ không phải là những ǵ khổ ải; nó là một cái ǵ đó hoàn toàn khác hẳn. Là con cái, chúng ta không băn khoăn lo lắng về Cha nhưng chúng ta kính sợ Thiên Chúa, một mối quan tâm không hủy hoại t́nh yêu làm nền tảng cho cuộc sống của chúng ta.
Ḷng kính sợ Chúa chính là cảm quan trách nhiệm mà chúng ta buộc phải có, trách nhiệm đối với phần thế giới đă được trao phó cho chúng ta trong cuộc đời của chúng ta. Nó là một trách nhiệm đối với việc quản trị cho đàng hoàng tốt đẹp cái phần thế giới và lịch sử ấy, và nhờ đó con người giúp vào việc xây dựng thế giới chính trực, góp phần vào cuộc chiến thắng của sự thiện và b́nh an.
‘Muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc’: Điều này có nghĩa là tương lai, những ǵ sẽ tới, đều thuộc về Thiên Chúa, trong bàn tay của Thiên Chúa, nghiă là chính Thiên Chúa là Đấng chiến thắng.
Ngài không chiến thắng con mănh long được bài đọc một hôm nay nói tới, một con rồng biểu hiệu cho tất cả những ǵ là quyền năng bạo động trên thế giới này. Những quyền năng ấy dường như là những ǵ bất khả khống chế nhưng Mẹ Maria nói với chúng ta rằng chúng không phải là là những ǵ vô địch đâu.
Người nữ – như bài đọc thứ nhất và Phúc Âm cho chúng ta thấy – là nhân vật mạnh mẽ hơn, v́ Thiên Chúa là Đấng quyền năng hơn. Dĩ nhiên, so với con rồng, được trang bị rất dữ dội, th́ người nữ là Mẹ Maria này, là Giáo Hội đây, dường như yếu thế hay bất lực.
Và Thiên Chúa thực sự yếu thế trên thế gian này, v́ Ngài là t́nh yêu và t́nh yêu là những ǵ dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, Ngài năm trong tay tương lai: chính t́nh yêu, chứ không phải hận thù, là những ǵ chiến thắng; chính b́nh an là những ǵ cuối cùng sẽ chiến thắng vậy.
Đó là một niềm an ủi lớn lao nơi tín điều mông triệu hiển vinh về trời cả hồn lẫn xác của Mẹ Maria. Chúng ta hăy tạ ơn Chúa về niềm an ủi này, nhưng chúng ta cũng thấy nơi niềm an ủi ấy như là một cuộc chúng ta cần phải quyết tâm đứng về bên thiện hảo và b́nh an. Chúng ta hăy nguyện cầu cùng Mẹ Maria, nữ vương ḥa b́nh, giúp cho ḥa b́nh được chiến thắng hôm nay đây: ‘Nữ Vương ban sự bằng an, cầu cho chúng con! Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 27/8/2006
(Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài giảng Lễ Thánh Phêrô và Phaolô 29/6/2006)
“Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày’ (Mt 16:18).
Chúa Giêsu thực sự muốn nói ǵ với Phêrô nơi những lời ấy? Nơi những lời này, Người đă hứa ǵ với Phêrô và Người đă ủy thác cho Phêrô những công việc ǵ? Và Người muốn nói ǵ với chúng ta – với vị Giám Mục Rôma, vị ngồi trên ṭa Thánh Phêrô, cũng như với Giáo Hội ngày nay?
Nếu chúng ta muốn hiểu được ư nghĩa của những lời lẽ của Chúa Giêsu, th́ cần phải nhớ rằng các tŕnh thuật Phúc Âm kể lại cho chúng ta 3 trường hợp khác nhau, mỗi lần một cách khác nhau, Chúa Kitô truyền đạt cho Phêrô công việc tương lai của ngài. Công việc này th́ bao giờ cũng giống nhau, nhưng những ǵ Chúa Kitô đă và đang quan tâm trở thành tỏ tường đối với chúng ta nơi tính cách đa dạng của các trường hợp và h́nh ảnh được Người sử dụng.
Trong Phúc Âm theo Thánh Mathêu chúng ta vừa nghe, th́ Thánh Phêrô tuyên xưng niềm tin của ḿnh nơi Chúa Giêsu, nh́n nhận Người là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa. Bởi đó, công việc đặc biệt được trao phó cho ngài bằng 3 h́nh ảnh, đó là tảng đá trở nên đá góc, ch́a khóa và h́nh ảnh buộc cởi.
Tôi không có ư giải thích nơi đây một lần nữa ba h́nh ảnh được Giáo Hội dẫn giải nhiều lần qua gịng thời gian; trái lại, tôi muốn kêu gọi hăy chú ư tới vị trí về địa dư và bối cảnh về niên đại của những lời lẽ ấy.
Lời hứa này được ban bố ở nguồn gốc sông Dược Đăng, tại biên giới của Mảnh Đất Giuđa, nơi biên cương thế giới của thành phần dân ngoại. Thời điểm của lời hứa này đánh dấu một khúc quanh quan trọng nơi cuộc hành tŕnh của Chúa Giêsu: ở chỗ, bấy giờ Người bắt đầu cuộc hành tŕnh lên Giêrusalem, và đó là lần đầu tiên Người nói với các môn đệ rằng cuộc hành tŕnh lên Thành Thánh này là một cuộc hành tŕnh tiến tới với cây thập tự giá: ‘Từ lúc ấy, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ của Người biết rằng Người cần phải lên Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ bởi thành phần kỳ lăo và các trưởng tế cùng luật sĩ, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại’ (Mt 16:21).
Thật vậy, những điều này đi với nhau và ấn định cái vị thế nội tại nơi vai tṛ lănh đạo của Giáo Hội nói chung, đó là Chúa Kitô tiếp tục con đường của Người tiến tới với thập giá, tiến tới t́nh trạng thấp hèn của người tôi tớ Thiên Chúa, chịu khổ đau và bị sát hại, song đồng thời Người cũng đi trên con đường tiến tới việc làm cho thế giới rộng lớn là nơi Người đă đi trước chúng ta như Đấng Phục Sinh, nhờ đó, ánh sáng của các lời Người và sự hiện diện của t́nh yêu Người được tỏa hiện trên thế giới; Người đang tiến bước trên con đường này, để nhờ Người, Đấng Thiên Sai Tử Giá và Phục Sinh, chính Thiên Chúa có thể đến với thế giới.
Về vấn đề này, Thánh Phêrô đă diễn tả ḿnh trong thư thứ nhất của ngài như là ‘một nhân chứng cho những khổ đau của Chúa Kitô cũng như là kẻ dự phần vào vinh quang sẽ được tỏ hiện’ (5:1). Đối với Giáo Hội, Thứ Sáu Tuần Thánh và Phục Sinh bao giờ cũng đi với nhau; Giáo Hội luôn vừa là hạt cải vừa là cái cây cho chim trời làm tổ.
Giáo Hội – và trong Giáo Hội, Chúa Kitô – vẫn chịu đựng khổ đau cho tới ngày nay. Nơi Giáo Hội, Chúa Kitô tiếp tục bị chế nhạo và tạt vả; những nỗ lực tiếp tục thực hiện việc loại trừ Người. Con thuyền Giáo Hội tiếp tục bị rách toạc ra bởi những luồng gió ư hệ, với những gịng nước thấm vào Giáo Hội và dường như muốn nhận ch́m Giáo Hội xuống. Tuy nhiên, chính ở nơi Giáo Hội khổ đau này mà Chúa Kitô chiến thắng vậy.
Bất chấp tất cả mọi sự, niềm tin tưởng nơi Người tái phục hồi một sức mạnh mới mẻ hơn bao giờ hết. Chúa Kitô cũng truyền lệnh cho cả các gịng nước ngày nay và cho thấy rằng Người là Chúa của các yếu tố thiên nhiên. Người ở trên con thuyền của ḿnh, trên con thuyền nhỏ bé Giáo Hội.
Bởi vậy, một đàng th́ nỗi yếu hèn hợp với con người được tỏ hiện nơi thừa tác vụ của Phêrô, thế nhưng đồng thời cũng tỏ hiện cả quyền năng của Thiên Chúa nữa, ở chỗ, Chúa tỏ sức mạnh của Người ra nơi chính nỗi hèn yếu của con người; Người chứng tỏ là chính qua những con người mỏng ḍn mà chính Người dựng xây Giáo Hội của Người.
Giờ đây chúng ta hăy quay sang Phúc Âm theo Thánh Luca là Phúc Âm cho chúng ta biết rằng trong Bữa Tiệc Ly, một lần Chúa Chúa Kitô lại trao phó cho Phêrô một công việc đặc biệt (x 22:31-33).
Lần này, những lời lẽ của Chúa Kitô ngỏ cùng Simon xuất hiện ngay sau khi Người thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Chúa Kitô vừa ban ḿnh cho thành phần môn đề của Người dưới h́nh bánh và h́nh rượu. Chúng ta có thể thấy việc thiết lập bí tích Thánh Thể như là một tác động thiết lập Giáo Hội thực sự và xứng hợp.
Qua Thánh Thể, Chúa Kitô chẳng những ban ḿnh cho thành phần riêng của ḿnh mà c̣n ban cho các vị thực tại của một mối hiệp thông mới giữa họ với nhau, kéo dài qua thời gian, ‘cho đến tận thế’ (x 1Cor 11:26).
Nhờ Thánh Thể, các môn đệ trở thành nơi cư trú sống động của Người, như lịch sử cho thấy, một nơi cư trú phát triển như là một đền thờ mới mẻ và sống động của Thiên Chúa trên thế giới này. Bởi vậy mà ngay sau khi thiết lập Bí Tích này, Chúa Giêsu nói về việc làm môn đệ, về ư nghĩa của ‘thừa tác vụ’ này trong cộng đồng mới, ở chỗ, Người nói rằng nó là một cuộc dấn thân phục vụ, như chính Người là tôi tớ phục vụ giữa các vị vậy.
Bấy giờ Người ngỏ cùng Phêrô. Người nói rằng Satan muốn làm cho ngài bị sàng xẩy như thóc lúa. Điều này gợi lại đoạn trong Sách Ông Gióp, đoạn thuật lại việc Satan xin Chúa cho quyền hành hạ Gióp. Ma qủi – tên phỉ báng Thiên Chúa và loài người – bởi thế muốn chứng minh rằng không có một thứ cảm t́nh đạo nghĩa chân thực nào hết, mà nơi con người chỉ có mục đích là luôn nhắm tới vấn đề duy thực dụng.
Trong trường hợp của ông Gióp, Thiên Chúa cho Satan cái quyền tự do được yêu cầu ấy chính là để có thể nhờ đó bênh vực tạo vật của Ngài – là con người – và chính bản thân Ngài. Điều ấy cũng xẩy ra cả nơi thành phần môn đệ của Chúa Giêsu. Thiên Chúa ban cho Satan một thứ tự do nào đó ở mọi lúc.
Đối với chúng ta, th́ Thiên Chúa thường cho Satan quá nhiều tự do, th́ Ngài ban cho hắn quyền hành khổ chúng ta quá ư là kinh khủng; th́ t́nh trạng này mạnh hơn quyền năng của chúng ta và đàn áp chúng ta quá ư là nặng nề. Chúng ta cứ tiếp tục kêu lên Thiên Chúa rằng: ‘Than ôi, xin hăy nh́n đến nỗi khgốn khổ của các môn đệ Ngài! A, xin hăy bảo vệ chúng tôi!’ Thật vậy, Chúa Giêsu tiếp tục phán: ‘Thày đă nguyện cầu cho con để con không bị mất đức tin’ (Lk 22:32).
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là những ǵ giới hạn quyền năng của ma quỉ. Lời nguyện cầu của Chúa Giêsu là những ǵ bảo vệ Giáo Hội. Chúng ta có thể t́m nương náu dưới việc bảo vệ ấy, gắn bó với nó để được an toàn. Thế nhưng, như Người nói trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cầu nguyện cách riêng cho Phêrô rằng ‘để con không bị mất đức tin’.
Lời nguyện cầu của Chúa Giêsu đồng thời cũng là một lời hứa hẹn và là một nghĩa vụ. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu bảo toàn đức tin của Phêrô, đức tin được ngài tuyên xưng ở Caesarea Philippi: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’ (Mt 16:16). Bởi thế, đừng bao giờ để cho niềm tin này bị câm nín; hăy tiếp tục củng cố nó, cho dù có phải đối đầu với thập giá cũng như với tất cả những ǵ là nghịch phản của thế gian: đó là công việc của Phêrô.
Thế nên, vấn đề ở đây đó là Chúa Kitô chẳng những cầu nguyện cho niềm tin riêng của Phêrô mà c̣n cho đức tin của ngài trở thành việc phục vụ cho người khác nữa. Đó chính là những ǵ Người muốn nói khi phán: ‘Bao giờ con trở lại th́ hăy củng cố an hem con’ (Lk 22:32).
‘Bao giờ con trở lại’: những lời này vừa là một lời tiên báo vừa là một lời hứa hẹn. Chúng tiên báo nỗi yếu hèn của Simon, người chối trước một nữ tỳ và một người tôi tớ rằng ngài chẳng hề biết Chúa Kitô. Qua việc sa ngă này, Thánh Phêrô – và cùng với ngài là Giáo Hội qua mọi thời đại – học biết rằng riêng sức mạnh của ḿnh thôi không đủ để xây dựng và hướng dẫn Giáo Hội Chúa. Không ai thành đạt tự sức riêng của ḿnh. Cho dù Phêrô có khả năng và tinh khéo đi chăng nữa – ngài đă sa ngă ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc thử thách.
‘Bao giờ con trở lại’: Chúa Kitô, Đấng đă báo trước việc sa ngă của thánh nhân, cũng hứa làm cho ngài được hoán cải: ‘Và Chúa đă quay lại nh́n Phêrô…’ (Lk 22:61). Cái nh́n của Chúa Giêsu thực hiện việc biến đổi và trở thành ơn cứu độ cho Phêrô: ‘ngài đă ra đi và thảm thiết khóc’ (Lk 22:62).
Chúng ta hăy van xin ánh mắt cứu độ này của Chúa Giêsu hằng được lập lại: đối với tất cả những ai có trách nhiệm trong Giáo Hội; đối với tất cả những ai đang chịu đựng t́nh trạng hoang mang rối loạn của những thời buổi này; đối với người lớn và kẻ nhỏ: Lạy Chúa, xin hằng nh́n đến chúng con, xin hăy nâng chúng con dậy mỗi khi chúng con sa ngă và hăy ǵn giữ chúng con trong bàn tay nhân lành của Chúa.
Chính nhờ lời hứa này ở việc Người nguyện cầu mà Người đă ủy thác cho Phêrô công việc đối với anh em. Trách nhiệm của Phêrô được gắn liền với lời nguyện cầu của Chúa Giêsu. Chính điều ấy đă hiến cho ngài niềm tin tưởng là ngài sẽ kiên tŕ vượt qua tất cả mọi nỗi khốn khổ của con người.
Và Chúa ủy thác công việc này cho ngài trong bối cảnh của Bữa Tiệc Ly, liên quan tới tặng ân Thánh Thể Rất Thánh Hảo.
Giáo Hội, được thiết dựng nơi việc lập Thánh Thể, tận thẳm cung của ḿnh, là một cộng đồng Thánh Thể, bởi thể, là mối hiệp thông vào Thân Thể của Chúa Kitô. Công việc của Phêrô là chủ tŕ trên mối hiệp thông phổ quát này; là giữ cho nó hiện hữu trên thế giới như là một mối hiệp nhất hữu h́nh hiện thực.
Ngài, cùng với toàn thể Giáo Hội Rôma – như Thánh Ư Nhă thánh Antiôkia đă nói – cần phải chủ tŕ trong đức bác ái: chủ tŕ trên cộng đồng này bằng một t́nh yêu thương xuất phát từ Chúa Kitô và là một t́nh yêu thương hằng vượt trên những giới hạn của lănh vực riêng tư trong việc mang t́nh yêu của Thiên Chúa đến tận cùng trái đất.
Chi tiết thứ ba liên quan tới Quyền Bính này được thấy trong Phúc Âm Thánh Gioan (21:15-19). Chúa Kitô đă sống lại, và là Đấng Phục Sinh, Người đă ủy thác đàn chiên của ḿnh cho Phêrô. Cả ở đây nữa, thập giá và Phục Sinh đan kết với nhau. Chúa Giêsu tiên báo cho Phêrô biết rằng ngài phải đi đàng thánh giá.
Nơi Đền Thờ được xây trên ngôi mộ của Thánh Phêrô này – một ngôi mộ của người nghèo – chúng ta thấy rằng nơi chính cách thức ấy Chúa Kitô, bằng thập giá, bao giờ cũng là Vị chiến thắng. Quyền lực của ngài không phải là một thứ quyền lực hợp với những đường lối của thế gian. Nó là một quyền lực của sự thiện hảo: của sự thật và của yêu thương, một thứ yêu thương mạnh hơn cả sự chết.
Phải, lời Người hứa hẹn là những ǵ chân thực, ở chỗ, các quyền lực của sự chết, các cửa của hỏa ngục, sẽ không thể nào làm chủ được Giáo Hội được Người xây dựng trên Phêrô (x Mt 16:18) và là Giáo Hội, qua chính đường lối ấy, tiếp tục đích thân xây dựng.
Vào ngày Lễ Trọng Kính Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô này, tôi đặc biệt ngỏ lời cùng quí huynh, thưa quí tổng giám mục, những vị đến từ nhiều quốc gia trên thế giới để lănh nhận giây tông phẩm từ Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Tôi xin gửi đến quí huynh lời chào thân ái, cùng với tất cả những ai đi theo với quí huynh.
Tôi cũng đặc biệt vui mừng chào phái đoàn đại biểu của Ṭa Thượng Phụ Toàn Cầu, được dẫn đầu bởi Đức Zizioulas, Tổng Giám Mục Pergamon và là Chủ Tịch của Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Về Đối Thoại Thần Học giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Tôi xin cám ơn Đức Thượng Phụ Bartholomew I cũng như Holy Synod về dấu hiệu huynh đệ chứng tỏ ḷng mong muốn và quyết tâm tiến mau chóng hơn nữa trên con đường trọn vẹn hiệp nhất nên một được Chúa Kitô cầu xin cho tất cả thành phần môn đệ của Người.
Chúng ta cảm thấy cùng có một ḷng thiết tha mong ước, đă có lần được Đức Thượng Phụ Athenagoras và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tỏ bày, trong việc cùng nhau uống cùng một Chén và cùng ăn Bánh là chính Chúa. Chúng ta hăy van xin một lần nữa vào dịp này để tặng ân này sớm được ban cho chúng ta.
Chúng ta hăy cám ơn Chúa là chúng ta liên kết trong niềm tin được Thánh Phêrô tuyên xưng thay cho tất cả mọi môn đệ ở Caesarea Philippi: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’. Chúng ta hăy cùng nhau mang lời tuyên xưng này đến cho thế giới hiện đại.
Chớ ǵ Chúa Kitô giúp chúng ta vào chính lúc này đây của lịch sử chúng ta trở thành những chứng nhân đích thực của những khổ đau Chúa Kitô cũng như trở nên thành phần tham dự vào vinh quang sẽ được tỏ hiện (x 1Pt 5:1). Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/7/2006
(Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Trọng Kính Ḿnh máu Thánh Chúa Kitô 15/6/2006 tại Quảng Trường Đền Thờ Latêranô Rôma)
Anh Chị Em thân mến,
Vào tối áp cuộc khổ nạn của ḿnh, trong bữa Vượt Qua, Chúa Kitô đă cấm lấy bánh trong tay ḿnh – như chúng ta đă vừa mới nghe cách đây ít lâu trong đoạn Phúc Âm – và, sau khi làm phép, Người bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: ‘Các con hăy cầm lấy mà ăn, này là ḿnh Thày’. Đoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn và trao cho các vị và tất cả các vị đều uống chén ấy. Người phán: ‘Đây là máu của Thày, máu giao ước, được đổ ra cho nhiều người’ (Mk 14:22-24).
Toàn thể lịch sử của Thiên Chúa với loài người được tóm gọn lại nơi những lời ấy. Không phải chỉ có quá khứ mới được nói tới và được giải thích, mà cả tương lai cũng được ngưỡng vọng nữa – đó là việc Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến trên thế giới này. Những ǵ Chúa Giêsu nói không phải là những lời lẽ đơn giản tầm thường. Những ǵ Người nói là một biến cố, một biến cố chính yếu nơi lịch sử của thế giới và của đời sống riêng tư của chúng ta.
Những lời này là những lời bất khả thấu tận. Vào lúc này đây, tôi xin suy niệm với anh chị em về chỉ một khía cạnh duy nhất. Chúa Giêsu đă chọn bánh và rượu để làm như là dấu hiệu hiện diện của Người. Bằng mỗi một dấu hiệu này, Người hoàn toàn hiến ban chính ḿnh Người, chứ không phải chỉ từng phần. Đấng Phục Sinh là Đấng không bị phân chia. Người là một ngôi vị, nhờ các dấu hiệu, đến gần với chúng ta hơn và liên kết chúng ta với chính ḿnh Người.
Tuy nhiên, mỗi một dấu hiệu, theo cách thế riêng của ḿnh, tiêu biểu cho một khía cạnh đặc biệt về mầu nhiệm của Người, và qua việc biểu lộ xứng hợp của ḿnh, muốn nói với chúng ta để chúng ta hiểu được mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô khá hơn chút nữa.
Trong cuộc rước kiệu và chầu Chúa, chúng ta nh́n lên Tấm Bánh đă được thánh hiến, một h́nh thức bánh và dưỡng chất đơn sơ thanh đạm nhất, được làm nên bởi một ít bột và nước. Nhờ đó, tấm bánh trở thành như là lương thực của người nghèo, thành phần Chúa Kitô gắn bó nhất.
Lời nguyện được Giáo Hội trong phụng vụ Thánh Lễ hiến dâng tấm bánh ấy lên Chúa, định phẩm nó như là hoa mầu của trái đất và lao công của con người.
Nó bao gồm lao công của con người, việc làm hằng ngày của những ai canh tác trái đất, gieo trồng và gặt hái (lúa miến), và sau hết là việc làm bánh. Tuy nhiên, bánh không phải thuần túy và chỉ là những ǵ chúng ta sản xuất, những ǵ chúng ta làm được; nó là hoa trái của trái đất và v́ thế cũng là tặng vật nữa.
Chúng ta không thể kể công về sự kiện trái đất trổ sinh hoa trái; chỉ có một ḿnh Đấng Hóa Công mới có thể làm cho nó thành mầu mỡ. Và giờ đây chúng ta cũng có thể nới thêm một chút nữa thế này vào lời nguyện cầu này của Giáo Hội, đó là Bánh này là hoa trái của trời cao và trái đất. Nó bao gồm việc hợp lại giữa các năng lực của trái đất cùng với những tặng ân từ trên cao, tức là của mặt trời và mưa gió. Cả nước nôi nữa, yếu tố chúng ta cần để làm bánh, yếu tố chúng ta không thể nào làm nên.
Trong một giai đoạn vấn đề sa mạc hóa được nói đến và là giai đoạn chúng ta nghe thấy thời điểm và một lần nữa nghe thấy cảnh giác là con người cùng hoang thú đang có nguy cơ bị chết khát nơi những miền không có nước ấy – trong một giai đoạn như vậy chúng ta mới nhận thức một lần nữa rằng tặng ân nước th́ to tát biết bao, và tại sao chúng ta không thể tự ḿnh sản xuất được nó.
Bởi vậy, nh́n kỹ vào miếng Bánh Thánh trắng nhỏ này, tấm bánh của người nghèo, chúng ta thấy được một thứ tổng hợp của thiên nhiên tạo vật. Trời và đất nữa, như hoạt động và tinh thần của con người, hợp tác với nhau. Cái tác hợp của các quyền lực làm cho mầu nhiệm về sự sống và việc hiện hữu của con người trở thành khả dĩ trên hành tinh của chúng ta đây đến gặp gỡ chúng ta nơi tất cả những ǵ là cao cả uy nghi vĩ đại.
Như thế chúng ta bắt đầu hiểu được lư do tại sao Chúa đă chọn miếng bánh ấy để làm tiêu biểu cho Người. Thiên nhiên tạo vật, với tất cả những tặng ân của nó, khao khát một cái ǵ đó thậm chí lớn lao hơn nữa, bên trên chính nó và vượt trên chính nó. Bên trên và vượt trên sự tổng hợp của những năng lực nơi chính nó, bên trên và vượt trên sự tổng hợp cũng của cả thiên nhiên lẫn thần trí mà, ở một góc độ nào đó, chúng ta, nơi tấm bánh, khám phá ra thiên nhiên tạo vật được định phóng hướng tới việc thần linh hóa, hướng tới một cuộc hôn lễ thánh hảo, hướng tới một cuộc hiệp nhất với chính Đấng Tạo Thành.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa cắt nghĩa sâu xa sứ điệp của dấu hiệu bánh này. Chúa Kitô đă đề cập tới mầu nhiệm sâu xa nhất của nó vào Chúa Nhật Lễ Lá, khi có một số người Hy Lạp yêu cầu được gặp Người. Trong lời Người trả lời cho vấn đề này có câu: ‘Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho quí vị biết, trừ phi hạt lúa miến rơi xuống đất có chết đi, bằng không nó vẫn c̣n nguyên; thế nhưng, nếu nó có thối nát đi, nó mới sinh nhiều hoa trái’ (Jn 12:24).
Mầu nhiệm của Cuộc Khổ Nạn được dấu ẩn nơi tấm bánh thành nên bởi hạt lúa đất đai. Bột, hạt lúa đất đai, biểu hiệu cho cái chết đi và phục hồi của hạt thóc này. Nơi việc được gieo trên đất và bị nung nướng, nó mang nơi ḿnh một lần nữa cũng cái mầu nhiệm Khổ Nạn ấy. Chỉ nhờ cái chết mới có phục sinh thế nào th́ hoa trái và sự sống mới cũng thế.
Văn hóa ở miền Địa Trung Hải, ở vào những thế kỷ trước Chúa Kitô, đă có một trực giác sâu xa về mầu nhiệm này. Dựa trên cái kinh nghiệm về cái chết và phục hồi ấy, họ đă tạo nên những huyền thoại về thần linh là những ǵ đă hiến ban sự sống mới bằng việc chết đi và sống lại. Đối với họ, chu kỳ của thiên nhiên dường như một lời hứa hẹn thần linh ở giữa cái tối tăm của khổ đau và chết chóc mà chúng ta phải đương đầu.
Nơi những huyền thoại này, linh hồn của con người, một cách nào đó, đă hướng tới việc Thiên Chúa đă làm người, vị mà, hủy thân cho đến chết trên thập tự giá, dể mở cửa sự sống cho tất cả chúng ta. Nơi bánh và việc làm bánh, con người đă hiểu nó như là một giai đoạn đợi chờ của thiên nhiên, như một lời hứa hẹn nơi thiên nhiên là điều này sẽ xẩy ra, đó là Vị Thiên Chúa chết đi để nhờ đó mang chúng ta tới sự sống.
Những ǵ được đợi trông nơi những huyền thoại ấy và những ǵ được chất chứa nơi chính hạt lúa miến như là dấu hiệu cho niềm hy vọng của thiên nhiên tạo vật – th́ đều thực sự xẩy ra nơi Chúa Kitô. Qua cái cuộc khổ nạn và tử nạn nhưng không của Người, Người đă trở thành bánh cho tất cả chúng ta, và nhờ đó trở thành niềm hy vọng sống động vững vàng. Người hỗ trợ chúng ta nơi tất cả mọi khổ đau cho chết chúng ta. Con đường Người hành tŕnh với chúng ta, nhờ đó, Người dẫn chúng ta tới sự sống là những con đường của niềm hy vọng.
Nơi việc chầu Chúa, khi chúng ta nh́n vào Tấm Bánh được thánh hiến, th́ dấu hiệu của thiên nhiên tạo vật này là những ǵ nói với chúng ta. Bởi vậy, chúng ta gặp được cái cao cả của tặng ân Người; thế nhưng chúng ta cũng gặp được cả cuộc khổ nạn, thập giá của Chúa Giêsu cùng với cuộc phục sinh của Người. Nơi ánh mắt tôn thờ này, Người lôi kéo chúng ta đến với Người, trong mầu nhiệm của Người, nhờ đó, Người biến đổi chúng ta như Người đă biến đổi Bánh Thánh.
Giáo Hội sơ khai cũng đă khám phá ra một biểu hiệu khác nơi tấm bánh. Tín Điều của 12 Tông Đồ, một cuốn sách được viết vào khoảng năm 100, chất chứa nơi những lời nguyện cầu của ḿnh niềm xác tín rằng: ‘Cho dù như tấm bánh được bẻ ra này bị phân tán khắp các đồi núi, và được qui tụ lại với nhau nên một, th́ xin cho Giáo Hội của Chúa cũng được qui tụ lại với nhau từ cùng tận trái đất nơi Vương Quốc của Chúa’ (IX, 4).
Tấm bánh được làm nên bởi nhiều hạt lúa miến cũng chất chứa một biến cố hiệp nhất nữa. Hạt lúa miến đất đai trở thành bánh là một tiến tŕnh nên một. Chính chúng ta, tuy nhiều, cần phải trở thành một tấm bánh duy nhất, một thân thể duy nhất, như Thánh Phaolô nói (x 1Cor 10:17). Như thế, dấu hiệu bánh trở thành cả niềm hy vọng lẫn sự viên trọn.
Dấu hiệu rượu nho nói với chúng ta cũng giống y như thế. Tuy nhiên, trong khi bánh nói về cuộc sống hằng ngày, về tính cách giản dị và hành tŕnh, th́ rượu diễn đạt nét trang nhă thanh tú của thiên nhiên tạo vật, đó là lễ hội của niềm vui được Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta vào ngày cùng tháng tận mà giờ đây và măi măi đă được tiên hưởng nơi dấu hiệu này.
Thế nhưng, rượu cũng nói về Cuộc Khổ Nạn nữa, ở chỗ, cây nho cần phải được tỉa đi xén lại nhờ đó mà được nên tinh khiết; những hạt nho cần phải chín mùi nhờ mặt trời và mưa gió cũng như cần phải bị ép vắt: Chỉ nhờ có cuộc khổ nạn này mới có một thứ chín mùi rượu ngon.
Vào Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta đặc biệt nh́n vào dấu hiệu bánh. Nó nhắc nhở chúng ta về cuộc hành tŕnh của dân Do Thái suốt 40 năm trong sa mạc. Bánh Thánh là manna của chúng ta được Chúa dùng để nuôi dưỡng chúng ta – nó thật là bánh bởi trời, nhờ đó Người hiến ban chính ḿnh Người.
Trong cuộc cung nghinh Thánh Thể này, chúng ta theo dấu hiệu ấy, nhờ đó, chúng ta theo chính Chúa Kitô. Và chúng tax in Người rằng: Xin Chúa dẫn dắt chúng con qua những nẻo đường lịch sử! Xin Chúa cứ tỏ măi cho Giáo Hội và những vị mục tử của Giáo Hội thấy đường ngay nẻo chính! Xin Chúa hăy nh́n đến nhân loại khổ đau, đang thận trọng t́m kiếm một đường đi nước bước qua rất nhiều những ngờ vực; xin hăy nh́n đến t́nh trạng đói khổ về vật chất và tâm linh đang hành hạ nhân loại! Xin ban cho con người nam nữ bánh cho cả xác lẫn hồn! Xin ban cho họ công ăn việc làm! Xin ban cho họ ánh sáng! Xin ban cho họ chính bản thân Chúa! Xin thanh tẩy và thánh hóa tất cả chúng con!
Xin Chúa hăy làm cho chúng con hiểu được rằng chỉ nhờ tham phần vào Cuộc Khổ Nạn của Chúa, qua việc ‘chấp nhận’ thánh giá, chấp nhận bỏ ḿnh, chấp nhận những cuộc thanh tẩy Chúa thực hiện nơi chúng con, đời sống chúng con mới có thể trưởng thành và đạt đến tầm vóc viên trọn thực sự. Xin Chúa hăy qui tụ chúng con lại từ mọi nơi trên thế giới. Xin Chúa hăy hiệp nhất Giáo Hội của Chúa, hiệp nhật nhân loại bị thương đau! Xin Chúa ban cho chúng con ơn cứu độ! Amen
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 4/7/2006
Ư nghĩa bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về Thánh Thể liên quan tới khía cạnh thiên nhiên tạo vật được thần linh hóa và biến đổi từ tấm bánh là hoa mầu ruộng đất và lao công của con người đă được người dịch cảm nghiệm và chia sẻ trong cuốn “Nguồn Sống Thần Linh” (Cao-Bùi, 5/2005, Năm Thánh Thể, trang 69-73, và trang 137-144, như sau:)
Chất Thể của Thánh Thể ở phần Dâng Lễ
Phần Phụng Vụ Thánh Thể được bắt đầu bằng việc dâng của lễ. Ở đây, chúng ta có thể đặt vấn đề về ư nghĩa của bánh và rượu, về lư do tại sao lại là bánh miến và rượu nho mà không phải là những lễ vật khác, cũng như về mối liên hệ giữa của lễ dâng trên bàn thờ bấy giờ với “hoa mầu ruộng đất (hay) sản phẩm của cây nho và lao công của con người”.
Mỗi bí tích đều phải có đủ hai yếu tố mới hiệu thành, đó là chất thể và mô thể. Chẳng hạn nơi bí tích Thánh Thể, chất thể là bánh với rượu và mô thể là lời truyền phép. Mô thể của bí tích Thánh Thể là chính lời Chúa Giêsu phán trên bánh và chén rượu trong Bữa Tiệc Ly, lời được chính các vị chủ tế lập lại khi truyền phép Thánh Thể. C̣n chất thể của bí tích Thánh Thể là bánh và rượu, hai chất thể cũng được Chúa Giêsu sử dụng ở Bữa Tiệc Ly khi lập Bí Tích Cực Trọng này. Thế nhưng, các Phúc Âm nhất lăm tŕnh thuật về biến cố thiết lập Bí Tích Thánh Thể này nói riêng và Bữa Tiệc Ly nói chung chỉ đề cập đến chất thể của rượu là rượu nho (x Lk 22:18), chứ không hề đề cập đến chi tiết rơ ràng về chất liệu bánh của bí tích Thánh Thể, chẳng hạn bánh không men, bánh được làm bằng bột ḿ hay bột nếp v.v.
Về chất thể bánh của bí tích Thánh Thể, có một chi tiết được mặc nhiên hiểu đó là bánh “không men”, v́ Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua theo lệ của người Do Thái là tục lệ cần phải ăn “bánh không men” (x Ex 12:18,20), một qui lệ được chính Cha Người đặt ra cho dân Do Thái ngay từ khi họ sửa soạn cuộc Vượt Qua của họ từ miền đất nô lệ ở Ai Cập mà về Đất Hứa.
Tính chất không men của chất thể bánh làm nên Thánh Thể Chúa Kitô c̣n là những ǵ nhắc nhở thành phần muốn nhận lănh Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, hay muốn hiệp thông với Người một cách xứng đáng và trọn vẹn, cần phải có một tâm hồn tinh khiết. Bởi v́, men thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, liên quan đến gương mù gương xấu, như “men của những người Pharisiêu và Saducê” (Mt 16:6), hay men hư hỏng và gian ác, một thứ men cần phải tránh để trở thành một thứ bánh không men thành tâm và chân thực, như lời Thánh Phaolô Tông Đồ kêu gọi trong Thư Thứ Nhất gửi giáo đoàn Côrintô: “Anh em hăy loại trừ đi thứ men cũ để làm cho anh em trở thành bột mới, thành những tấm bánh không men, v́ Chúa Kitô là Cuộc Vượt Qua của chúng ta đă được hy tế. Chúng ta hăy mừng lễ không phải bằng men cũ, men hư hoại và gian ác, mà là bằng tấm bánh không men của ḷng thành và chân thực” (x 1Cor 5:7-8).
Ngoài tính chất “bánh không men” của chất thể bánh làm nên Thánh Thể Chúa Kitô như thế, Giáo Hội Công Giáo, trong khoản Giáo Luật 924.2, c̣n ấn định dứt khoát chất thể bánh này là “bột ḿ”, chứ không phải một thứ bột nào khác, như bột nếp hay bột năng.
Bởi v́, bột ḿ được làm nên bởi lúa miến, mà lúa miến là chất thể được Chúa Giêsu sử dụng để ám chỉ về chính bản thân của Người là Vị Thiên Chúa Nhập Thể, Tử Giá và Phục Sinh, khi Người tiên báo về cuộc Vượt Qua của ḿnh như sau: “Đă đến giờ Con Người được vinh hiển. Thày nói thật với các con rằng nếu hạt lúa miến rơi xuống đất không mục nát đi th́ nó vẫn c̣n là một hạt lúa miến. Thế nhưng, nếu nó có mục nát đi nó mới sinh nhiều hoa trái” (Jn 12:23-24). Hạt lúa miến rơi xuống đất đây là biểu hiệu cho biến cố Nhập Thể của Chúa Kitô; hạt lúa miến này bị mục nát đi là h́nh ảnh ám chỉ cuộc Tử Giá của Người, và việc nó sinh nhiều hoa trái đây ám chỉ Quyền Năng Phục Sinh của Người.
Rượu nho cũng là một biểu hiệu liên quan đến cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô nữa (x Is 63:2), v́ rượu nho được làm bởi “máy ép nho” (x Is 5:2; Mt 21:33).
Như thế, v́ cả bánh miến lẫn rượu nho là hai chất thể, theo ư nghĩa mạc khải, đều liên quan đến Hiến Tế Thập Giá của Chúa Kitô là tất cả những ǵ nói lên ư nghĩa và bản chất chính yếu của Bí Tích Thánh Thể, mà Giáo Hội Chúa Kitô đă ấn định chọn dùng cho Phụng Vụ Thánh Thể.
Tuy nhiên, bánh và rượu là hai chất thể được biến thành Ḿnh và Máu của Chúa Kitô trên bàn thờ sau lời truyền phép của vị chủ tế ấy không phải tự động mà có, song phải được sản xuất bởi bàn tay của con người nữa. Bởi thế, trong phần truyền phép, việc biến thể từ chất thể bánh “là hoa mầu ruộng đất” và chất thể rượu “là sản phẩm của cây nho” sẽ không thể nào xẩy ra được, nếu thiếu yếu tố “lao công của con người”. Đó là lư do trong phần dâng của lễ, yếu tố chất thể (bánh và rượu) từ thiên nhiên và tiêu biểu cho thế giới tự nhiên, cùng với yếu tố nhân bản (“lao công của con người”) tiêu biểu cho những ǵ thuộc về thế giới tâm linh, đều được dâng lên “Chúa là Chúa tể càn khôn”, “để trở nên bánh nuôi sống (hay) của uống thiêng liêng cho” con người chúng ta.
Trong phần dâng lễ vật, tuy bề ngoài là chất thể bánh và rượu được dâng lên, nhưng thật ra là “lao công của con người” được dâng lên. Bởi v́, chất thể đó là của Thiên Chúa Hóa Công “đă rộng ban” cho con người để trước hết nuôi sống phần xác con người. Thế nhưng, v́ “con người không nguyên sống bởi bánh, mà c̣n bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa” (Mt 4:4; Deut 8:3), tức “sống cho Thiên Chúa” (Lk 20:38), mà những ǵ con người hiến dâng cho Vị Thiên Chúa Hóa Công của ḿnh, đặc biệt trong phần dâng lễ đây, chính là tác động họ long trọng chẳng những trả về cho Ngài tất cả những ǵ sở hữu từ thế giới thiên nhiên được gọi là vốn liếng con người nhận lănh từ Ngài, mà c̣n cả số lời từ số vốn liếng ấy nữa, đó là tất cả tấm ḷng họ tri ân cảm tạ Ngài, được thể hiện qua những “lao công” họ đă thiện chí nỗ lực để canh tân và biến chế những ǵ thuộc về họ theo đúng như dự án của Ngài.
Như thế, trong phần dâng lễ vật, Kitô hữu dâng lên Thiên Chúa Hóa Công của ḿnh cả những ǵ ḿnh có (như được Ngài ban cho từ thế giới thiên nhiên) lẫn những ǵ ḿnh làm (“lao công” phát xuất từ tấm ḷng tri ân cảm tạ), để chúng trở nên những ǵ ḿnh là theo Thánh Ư của Vị Thiên Chúa là Cha của con người, đó là sự kiện tất cả những ǵ họ dâng lên đó được Thánh Thần biến đổi, đúng hơn, chính bản thân của họ được Thánh Thần biến đổi nên giống Chúa Kitô, như chất thể bánh và chất thể rượu được Thánh Thần, qua lời truyền phép của vị chủ tế, được biến thành Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL (“Nguồn Sống Thần Linh”, Cao-Bùi, 5/2005, trang 69-73)
Từ Thánh Thể đến Cánh Chung
Bởi v́, chất liệu được trở nên Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô chính là “hoa mầu ruộng đất” và “rượu bởi cây nho”. Nghĩa là, bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, qua lời vị chủ tế khẩn cầu trước mỗi lần Truyền Phép Thánh Hiến Bánh Rượu, những chất liệu thiên nhiên, tiêu biểu cho “toàn thể tạo vật” thuộc thế giới tự nhiên, sẽ được hoàn toàn biến đổi tận bản chất của ḿnh, để trở thành thần linh và sự sống. Mỗi lần việc biến thể (transubstantiation), việc bánh trở nên Ḿnh Thánh Chúa Giêsu và rượu trở nên Máu Thánh Chúa Giêsu xẩy ra trên bàn thờ trong Thánh Lễ là mỗi lần nhắc nhở cho Kitô hữu Công Giáo chúng ta chân lư cánh chung này, đó là chính thân xác tầm thường, hèn hạ và chết chóc của chúng ta sau cùng cũng sẽ được biến đổi nên giống như thân xác linh thiêng, hiển vinh và bất tử của Chúa Giêsu Kitô: “Người sẽ ban cho thân xác thấp hèn của chúng ta một thể thức mới và tái tạo nó theo như khuôn mẫu của thân xác hiển vinh Người, bằng quyền năng Người bắt mọi sự suy phục Người” (Phil 3:21).
Vẫn biết, trong ngày sau hết “tất cả mọi kẻ chết sẽ sống lại nơi thân thể như họ đang có hiện nay” (CĐ Lataranô IV năm 1215: DS 801), thế nhưng, chỉ có “những ai làm lành th́ phục sinh để được sống, c̣n ai hành ác th́ phục sinh để chịu luận phạt” (Jn 5:29; x Dan 12:2; Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, 998). Tức là thân xác của kẻ lành mới được biến đổi nên giống như thân xác vinh hiển của Chúa Kitô Phục Sinh, c̣n thân xác của thành phần hư đi tuy cũng được biến đổi thành linh thiêng nhưng lại là một t́nh trạng linh thiêng giống như ma quỉ trong hỏa ngục. Yếu tố chính yếu làm cho thân xác của kẻ lành được biến đổi trở thành vinh hiển giống như thân xác của Chúa Kitô Phục Sinh, hoàn toàn khác với thân xác của thành phần đời đời hư đi trong hỏa ngục chính là Sự Sống nơi kẻ lành khi c̣n sống trên trần gian trước khi chết, một Sự Sống họ đă lănh nhận khi chịu Phép Rửa: “Nhờ phép rửa trong sự chết của Người, chúng ta đă được mai táng với Người, để như Đức Kitô nhờ vinh quang của Chúa Cha mà sống lại từ cơi chết thế nào, chúng ta cũng được sống một sự sống mới như vậy” (Rm 6:4).
“Sự sống mới” đây là ǵ, nếu không phải, về phương diện thần học, là chính sự sống “tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:21), sự sống toàn thể tạo vật mong đợi nơi họ để được giải phóng và thông phần vào, sự sống được hiệp nhất nên một với Thiên Chúa, với chính ḿnh, với tha nhân và với toàn thể thiên nhiên tạo vật như ngay từ khi con người c̣n ở trong t́nh trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy (x Giáo Lư GHCG, 399-400). Về phương diện tu đức, “sự sống mới” “tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa”, chính là “sống không theo xác thịt song theo thần trí” (Rm 8:4; x Col 5:16), v́ “xác thịt hướng về sự chết c̣n thần trí hướng về sự sống và b́nh an” (Rm 8:6): “Nếu anh em sống theo xác thịt, anh em sẽ chết; nhưng nếu bởi thần trí anh em tiêu diệt những việc xấu xa của thân xác anh em sẽ sống” (Rm 8:13). “Những việc xấu xa của thân xác” hay của “xác thịt là dâm bôn, ô uế, phóng đăng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất ḥa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Col 5:19-21); c̣n những việc hay “hoa trái của thần trí là bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền ḥa, tiết độ” (Col 5:22-23).
“Người ta chỉ gặt gái những ǵ họ đă gieo văi. Nếu họ gieo văi nơi thửa ruộng xác thịt, họ sẽ gặt hái được mùa màng băng hoại; nhưng nếu hạt giống gieo xuống của họ là thần trí th́ họ sẽ gặt được sự sống trường sinh” (Gal 6:8). Đúng thế, “mùa gặt đây là tận thế” (Mt 13:39), lúc mà “Đấng ngự trên ngai phán phán: ‘Này đây Ta đổi mới mọi sự... Xong cả rồi! Ta là Alpha và Ômega, là Khởi Nguyên và là Cùng Tận. Chính Ta sẽ ban cho ai khát được uống nơi nguồn nước trường sinh mà không phải trả tiền. Ai thắng sẽ được hưởng hồng ân đó. Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy, và người ấy sẽ là con của Ta. C̣n những kẻ hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ dối trá điêu ngoa, th́ phần dành cho chúng là hồ lửa và diêm sinh ngùn ngụt cháy: đó là cái chết lần thứ hai’” (Rev 21:5-8).
Thiên Chúa chỉ hứa cứu chuộc con người tạo vật khỏi cái chết lần nhất mà thôi, như lời Ngài hứa với hai nguyên tổ sau khi sa phạm đó là Ngài sẽ cho “miêu duệ người nữ... đạp nát đầu” (Gen 3:15), “con cựu xà, tức Satan, tên cám dỗ cả thế gian” (Rev 12:9). Đức Giêsu Kitô, con của Đức Maria, “một trinh nữ đă đính hôn với một người tên là Giuse thuộc gịng dơi Đavít” (Lk 1:27), thực sự đă “đạp nát đầu” (Gen 3:15) con cựu xà Satan bằng tử giá cứu độ của ḿnh: “Chính v́ để phá hủy các việc làm của ma quỉ mà Con Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra” (1Jn 3:8); “Một khi Tôi bị treo lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi” (Jn 12:32). Đúng thế, nhờ cuộc tử giá của Chúa Kitô, “Vị Mục Tử nhân lành hiến mạng sống ḿnh v́ chiên” (Jn 10:11), mà đàn chiên Kitô hữu môn đệ của Người, qua Bí Tích Rửa Tội đă “được sự sống” (Jn 10:10), và qua Bí Tích Thánh Thể, c̣n được hưởng “một sự sống viên măn hơn” (Jn 10:10), một sự sống phát xuất từ chính huyết nhục của Mẹ Maria được “Lời đă hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) mặc lấy: “Thịt Tôi là của ăn thật, máu Tôi là của uống thật. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi th́ ở trong Tôi và Tôi ở trong họ” (Jn 6:55-56).
Thật vậy, Thiên Chúa nhập thể làm người không phải chỉ để trở thành một Vị “Thiên Chúa ở giữa chúng ta” (Mt 1:23; Is 7:14) một cách tổng quát chung chung vậy thôi, mà Người c̣n muốn ở với và ở trong mỗi người chúng ta nữa, v́ Người thương từng con chiên của Người, dù là con chiên lạc đàn duy nhất (x. Mt 18:10-14). Bởi thế, Người không chỉ muốn ở trong hồn thiêng bất tử của chúng ta bằng Ơn Thánh của Người mà thôi, Người c̣n muốn thực sự ở trong thân xác tro bụi hèn hạ tầm thường của chúng ta nữa bằng chính Thánh Thể của Người, v́ Người chẳng những muốn cứu linh hồn chúng ta khỏi tội lỗi bằng Thánh Giá của ḿnh, Người c̣n muốn cứu cả thân xác hữu h́nh và hữu hạn của chúng ta khỏi sự chết bằng Thánh Thể của Người nữa, nghĩa là Người muốn cả thân xác của chúng ta cũng sẽ được sống lại như thân xác hiển vinh của Người trong ngày sau hết.
Như thế, quả thật Thánh Thể có liên quan hết sức mật thiết đến “việc cứu độ của thân xác chúng ta” (Rm 8:23): “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi th́ có sự sống đời đời, phần Tôi sẽ làm cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Jn 6:54). Tuy nhiên, tác nhân làm cho thân xác của những ai ăn Thịt và uống Máu Chúa Kitô sống lại trong ngày sau hết giống như thân xác vinh hiển của Người đây là ai, nếu không phải là chính Thánh Linh, Đấng bao giờ cũng được Giáo Hội cầu khẩn trước khi thánh hiến bánh rượu trên bàn thờ, để nhờ Ngài bánh rượu được trở nên Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô: “Nếu Thần Linh của Đấng đă phục sinh Chúa Giêsu từ trong kẻ chết ở trong anh em th́ Đấng đă phục sinh Chúa Kitô từ trong kẻ chết sẽ mang sự sống đến cho thân xác chết chóc của anh em, bằng Thần Linh của Ngài ở trong anh em” (Rm 8:11).
Tuy nhiên, không phải cho đến khi thân xác con người ăn Ḿnh Thánh và uống Máu Thánh Chúa Kitô khi c̣n sống sắp phục sinh từ trong cơi chết Thần Linh của Thiên Chúa mới “mang sự sống đến cho thân xác chết chóc” của họ, mà là ngay từ khi họ c̣n sống trong thân xác của họ trên thế gian này. Ở chỗ, “Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống” (Kinh Tin Kính) làm cho họ càng ngày càng nhận biết Chúa Kitô hơn (x Jn 16:13), để rồi, nhờ nhận biết Chúa Kitô, một nhận biết chính là sự sống trường sinh (x Jn 17:3), họ sẽ sống Chúa Kitô, tức sẽ tác hành như Chúa Kitô, đến nỗi, không phải họ sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong họ (x Gal 2:20), một sự sống khiến cho những ai thấy họ là nhận ra Chúa Kitô (x Jn 13:15).
Sự sống Chúa Thánh Thần làm cho thế gian nhận ra Chúa Kitô nơi những ai lănh nhận Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô đây chính là sự sống “yêu thương như Thày yêu” (Jn 15:12, x 13:34), một t́nh yêu cao cả đă hiến mạng sống ḿnh v́ người ḿnh yêu (x Jn 15:13). Như thế, khi Kitô hữu sống t́nh yêu cao cả này của Chúa Kitô và như Chúa Kitô là họ chẳng những thực sự “cử hành mầu nhiệm thánh” (theo lời kêu gọi thống hối mở đầu mỗi Thánh Lễ), cử hành Mầu Nhiệm Yêu Thương của Thiên Chúa được lập lại trong Hiến Tế Thánh Thể, một mầu nhiệm đ̣i con người phải biết yêu thương tha thứ cho nhau mới hội đủ điều kiện xứng đáng để dâng tiến (x Mt 5:23-24), mà họ c̣n thực sự “làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lk 22:19; 1Cor 11:24) ngay trong cuộc sống của họ nữa, chứ không phải chỉ ở trên bàn thờ khi dâng lễ thôi, v́ họ làm cho biến cố Tử Giá Cứu Độ có tác dụng “một lần là vĩnh viễn” (Heb 7:27, 10:10; 1Pet 3:18) của Chúa Kitô tái diễn “cho tới khi Chúa lại đến” (như lời tung hô sau truyền phép), một cách hiển nhiên và sống động trên thế gian, chứ không phải một cách bí tích và mầu nhiệm chỉ có ở trong phụng vụ và nội bộ cộng đồng Dân Chúa thôi.
Nếu cuộc đời của những người lănh nhận Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô sống T́nh Yêu cao cả của Người thực sự cử hành một Thánh Lễ sống động như thế, th́ bản thân họ, nhân tính của họ nói chung và thân xác của họ nói riêng, như Chúa Kitô, cũng đă trở thành một “con chiên bị đem đi sát tế” (Is 53:7), một “con chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Jn 1:29). V́ “theo Con Chiên đi đến bất cứ nơi nào Con Chiên đến” (Rev 14:4) như vậy mà “khi Con Người đến trong vinh quang, ngự trên ngai, có tất cả các thiên thần hầu chực và muôn dân tụ họp trước nhan Người” (Mt 25:31-32), họ mới là thành phần “chiên ở bên phải Người” (Mt 25:33), thành phần được Người nhận biết và tưởng thưởng hết sức xứng đáng v́ những việc họ làm “khi họ c̣n sống ở trong thân xác” (2Cor 5:10) để đáp ứng những nhu cầu cụ thể hầu như liên quan trực tiếp đến thể lư của tha nhân là những con người vô cùng cao quí đă được chính Vị Thiên Chúa Làm Người Giêsu Kitô đồng hóa với Người: “Hăy đến. Các con được Cha Ta chúc phúc! Hăy hưởng vương quốc đă sắm sẵn cho các con từ khi tạo thành thế gian. V́ khi Ta đói các con đă cho Ta ăn, Ta khát các con đă cho Ta uống. Khi Ta là khách lạ các con đă đón nhận Ta, trần truồng các con đă cho Ta mặc. Khi Ta đau yếu các con đă an ủi Ta, tù ngục các con đă đến viếng thăm Ta... v́ bao lâu các con làm như thế cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta là các con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:35- 36, 40).
Nếu con người lănh nhận Thánh Thể Chúa Kitô thực sự có thể sống Chúa Kitô, có thể yêu thương như Người đă yêu thương, th́ không phải là thân xác của họ đang được Thần Linh của Người biến đổi làm cho nên giống thân xác vinh hiển của Người ngay ở đời này rồi hay sao? Ở chỗ, xác thịt vốn là một thực thể hướng chiều về sự chết (x Rm 8:6): “Cái ǵ sinh bởi xác thịt là xác thịt” (Jn 3:6), lại có thể sinh hoa trái sự sống yêu thương. Vậy để biết ḿnh đă hơn một lần hay vẫn thường xuyên lănh nhận Thánh Thể Chúa Kitô có thực sự sống sự sống của Người hay chưa, tức đă được Thần Linh của Người biến đổi hay chưa, chúng ta hăy thực tâm xét ḿnh lại xem, về phần tiêu cực, chúng ta có c̣n dùng miệng lưỡi vẫn há ra rước lấy Thánh Thể vô cùng cao trọng của Người để nói hành, nói xấu, chê bai, hành tỏi nhau, hoặc có c̣n tự nhiên ham thích khoái lạc xác thịt thấp hèn cả về t́nh dục và cảm quan, cả về việc đua đ̣i tiện nghi và say sưa chè chén, trái lại, về mặt tích cực, chúng ta có biến thân xác của ḿnh trở thành khí cụ cho đức chính trực (x Rm 6:13) trong việc phục vụ tha nhân, tức trở thành bánh nuôi sống nhân gian chăng? Nếu chưa hay rồi, chúng ta cũng hăy Sống Thánh Thể hơn nữa, bằng cách “liên lỉ mang trong ḿnh cái chết của Chúa Giêsu để sự sống của Chúa Giêsu được tỏ hiện trong thân xác của chúng ta” (2Cor 4:10).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL (“Nguồn Sống Thần Linh”, Cao-Bùi, 5/2005, trang 137-144)
Lễ Thánh Thần Hiện Xuống ở Quảng Trường Thánh Phêrô Chúa Nhật 4/6/2006
Anh Chị Em thân mến!
Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đầy quyền năng đă xuống trên các vị tông đồ; nhờ đó mở màn cho sứ vụ của Giáo Hội trên thế giới. Chính Chúa Giêsu đă sửa soạn cho 11 Vị thực hiện sứ vụ này bằng việc hiện ra với các vị một số lần sau cuộc phục sinh của Người (x Acts 1:3).
Trước khi thăng thiên về trời, ‘Người đă bảo các vị đừng rời khỏi Giêrusalem, song hăy chờ đợi lời hứa của Cha’ (x Acts 1:4-5); tức là, Người đă xin các vị hăy qui tụ lại với nhau để dọn ḿnh lănh nhận tặng ân Thánh Linh. Và các vị đă tụ họp lại với Mẹ Maria để cầu nguyện ở Nhà Tiệc Ly, trong khi chờ đợi biến cố hứa hẹn ấy (x Acts 1:14).
Việc qui tụ lại với nhau là điều kiện được Chúa Giêsu đặt ra để lănh nhận tặng ân Thánh Linh; bản tóm lược của việc họ sống ḥa hợp với nhau đó là việc các vị cầu nguyện lâu dài. Như thế chúng ta được cống hiến cho thấy một bài học sâu xa mănh liệt cho hết mọi cộng đồng Kitô hữu.
Có những lúc người ta nghĩ rằng việc hiệu nghiệm về vấn đề truyền giáo chính yếu lệ thuộc vào vấn đề can thận hoạch định cùng việc khôn lanh áp dụng sau đó qua việc cụ thể dấn thân. Chúa Kitô chắc chắn không muốn chúng ta hợp tác, nhưng trước bất cứ một đáp ứng nào th́ việc Người tác động là những ǵ cần thiết: Thánh Thần thực sự đóng vai chủ yếu của Giáo Hội. Những căn gốc của việc chúng ta hiện hữu cũng như của hành động chúng ta đều ở nơi việc thinh lặng khôn ngoan và quan pḥng của Thiên Chúa.
Những h́nh ảnh được Thánh Luca sử dụng để nói lên việc Thánh Linh xâm nhập – gió và lửa – đă nhắc lại núi Sinai, nơi Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho dân Yến Duyên và lập giao ước của Ngài (x Ex 19:3ff). Cuộc lễ ở Sinai được dân Yến Duyên cử hành 50 ngày sau Lễ Vượt Qua là ngày lễ Giao Ước.
Khi nói về những ngọn lưỡi lửa (x Acts 3), Thánh Luca muốn cho thấy Lễ Ngũ Tuần như một Sinai mới, như một lễ Giao Ước mới, trong giao ước mới này Giao Ước với dân Yến Duyên được bao gồm tất cả mọi dân tộc trên trái đất này. Giáo Hội là công giáo và truyền giáo tự bẩm sinh. Tính cách phổ quát của ơn cứu độ được thể hiện với một bản liệt kê nhiều nhóm thiểu số có những kẻ nghe bài giảng tiên khởi của các vị tông đồ (x Acts 2:9-11).
Dân Chúa, một dân có được một h́nh dạng trên Núi Sinai, ngày nay vươn dài lớn rộng tới độ bao trùm mọi chướng ngại về chủng tộc, văn hóa, không gian và thời gian. Như những ǵ ngược lại với sự kiện xẩy ra ở tháp Babel, lúc dân chúng muốn xây dựng một con đường cao lên tới trời bằng bàn tay của họ, th́ họ lại đi tới chỗ hủy hoại đi khả năng hiểu biết lẫn nhau. Cuộc Hiện Xuống của Thần Linh, với tặng ân ngôn ngữ, cho thấy rằng việc hiện diện của Ngài là những ǵ nối kết và biến đổi t́nh trạng hỗn độn thành mối hiệp thông. Cái cao ngạo và thần tôi của con người là những ǵ luôn tạo nên những thứ chia rẽ, dựng nên những bức tường dửng dưng lạnh lùng, hận thù và bạo lực.
Trái lại, Thánh Thần là Đấng làm cho tâm can có thể hiểu được các ngôn ngữ của mọi người, v́ Ngài tái thiết lập nhịp cầu hiệp thông chân chính giữa đất và trời. Thánh Linh là t́nh yêu.
Thế nhưng, làm thế nào để có thể đi sâu vào mầu nhiệm Thánh Linh? Làm sao để có thể hiểu được bí mật của t́nh yêu? Đoạn Phúc Âm này hôm nay đưa chúng ta về Nhà Tiệc Ly là nơi Bữa Tiệc Ly đă kết thúc, một cảm nghiệm về những ǵ chưng hửng khiến các vị tông đồ buồn đau. Lư do đó là những lời lẽ của Chúa Giêsu đă khơi động những vấn đề nhức nhối: Người đă nói về việc thế giới thù ghét Người cũng như những ai thuộc về Người, Người đă nói về việc ra đi bí nhiệm của Người; về nhiều điều cần phải nói nhưng bấy giờ các tông đồ chưa thể nào thấu hiểu nổi (x Jn 16:12).
Để an ủi các vị, Người đă giải thích ư nghĩa về việc ra đi của Người: Người sẽ ra đi, song Người sẽ trở lại; trong khi đó Người không bỏ rơi các vị, không để họ mồ côi. Người sẽ sai Đấng An Ủi, Thần Linh của Cha, và là vị Thần Linh có thể làm cho các vị biết rằng công việc của Chúa Kitô là một công việc của yêu thương: một t́nh yêu thương của Đấng đă hiến mạng sống ḿnh, một t́nh yêu thương của Cha là Đấng đă trao ban Người.
Đó là mầu nhiệm của Lễ Hiện Xuống: Thánh Thần soi sáng tâm linh con người, và trong việc tỏ Chúa Kitô tử giá và phục sinh ra, Ngài cho thấy đường lối trở nên giống Người hơn, tức là trở thành ‘biểu hiện và dụng cụ của t́nh yêu xuất phát từ Ngài’ (Deus Caritas Est, 33). Cùng với Mẹ Maria, Giáo Hội, như khi mới được hạ sinh, ngày nay vẫn kêu cầu: ‘Veni Sancte Spiritus! – Lạy Chúa Thánh Thần, xin hăy đến để làm tràn đầy tâm can thành phần tín hữu của Ngài và đốt lên ngọn lửa t́nh yêu của Ngài trong họ!’ Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 4/6/2006
“Thánh Thần, qua Ngài Thiên Chúa đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta sự sống và tự do”.
(Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Phụng Vụ Giớ Kinh Tối Đêm Canh Thức Hiện Xuống ngày 3/6/2006 với Các Phong Trào và Tân Cộng Đồng trong Giáo Hội)
‘Lạy Chúa Thánh Thần, xin hăy đến’
Anh Chị Em thân mến,
Anh chị em tới Quảng Trường Thánh Phêrô tối hôm nay thật là đông đảo để tham dự vào Buổi Canh Thức Hiện Xuống. Tôi thân ái chào anh chị em. Anh chị em thuộc về các dân tộc và văn hóa khác nhau và đến đây đạo diện cho tất cả mọi phần tử thuộc các phong trào và tân cộng đồng trong Giáo Hội, thành phần qui tụ một cách thiêng liêng chung quanh Vị Thừa Kế Thánh Phêrô để loan báo niềm vui tin tưởng nơi Chúa Giêsu Kitô cũng như để lập lại quyết tâm làm thành phần môn đệ trung thành trong thời đại của chúng ta.
Tôi cám ơn việc anh chị em tham dự và gửi lời chào thân ái đến từng anh chị em. Trước hết tôi ưu ái nghĩ đến các vị hồng y, đến quí huynh khả kính của tôi trong hàng giáo phẩm và hàng linh mục, cũng như đến những tu sĩ nam nữ.
Tôi chào những người mang trọng trách đối với nhiều hội đoàn của Giáo Hội, những người cho thấy tác động của Chúa Thánh Thần sống động nơi Dân Chúa. Tôi chào những ai đứng ra lo tổ chức biến cố đặc biệt này, nhất là những người làm việc tại Hội Đồng Ṭa Thánh Về Giáo Dân với Giám Mục Josef Clemens, bí thư, và Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Rylko, chủ tịch, vị tôi xin cám ơn về những lời lẽ ưu ái vào lúc mở đầu Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối này.
Một cuộc gặp gỡ tương tự như thế này cũng đă diễn ra tại chính Quảng Trường đây vào ngày 30/5/1998, với vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu đă hiện lên trong tâm trí. Là một đại truyền bá phúc âm hóa của thời đại chúng ta, ngài đă hỗ trợ và hướng dẫn anh chị em suốt giáo triều của ngài.
Ngài đă diễn tả những hiệp hội và cộng đồng của anh chị em vào nhiều dịp là những ǵ ‘hợp thời’, nhất là v́ Thần Linh Thánh Hóa sử dụng những tổ chức này để khơi động đức tin nơi rất nhiều tâm can Kitô hữu, cũng như để tỏ cho họ thấy ơn gọi họ đă lănh nhận khi chịu phép rửa. Ngài cũng giúp họ trở thành thành phần chứng nhân hy vọng tràn đầy lửa yêu thương được chính Thánh Linh tuôn đổ xuống trên chúng ta.
Chúng ta giờ đây hăy tự hỏi rằng vào Đêm Canh Thức Hiện Xuống đây Thánh Thần là ai hay là ǵ? Làm thế nào chúng ta có thể nhận ra Ngài? Làm thế nào chúng ta đến với Ngài và làm sao Ngài đến với chúng ta? Đâu là những ǵ Ngài làm?
Bài đại thánh ca Hiện Xuống của Giáo Hội được chúng ta mở màn cho Giờ Kinh Tối, ‘Veni, Creator Spiritus… Lạy Chúa Thánh Thần, xin hăy đến’, là câu trả lời đầu tiên. Ở đây, bài thánh ca này ám chỉ tới những câu Thánh Kinh đầu tiên diễn tả việc tạo dựng vũ trụ bằng những h́nh ảnh ấy.
Trước hết, Thánh Kinh nói rằng Thần Linh Chúa di động trên những giao động, trên các gịng nước của vực thẳm.
Thế giới chúng ta đang sống đây là công việc của Thần Linh Sáng Tạo. Lễ Hiện Xuống chẳng những là khai nguồn của Giáo Hội và nhờ đó đặc biệt trở thành ngày lễ của Giáo Hội; Lễ Hiện Xuống cũng c̣n là ngày lễ của thiên nhiên tạo vật nữa. Thế giới này không tự ḿnh hiện hữu, nó được hiện hữu bởi Thần Linh sáng tạo của Thiên Chúa, bởi Lời sáng tạo của Thiên Chúa.
Đó là lư do Lễ Hiện Xuống cũng phản ảnh đức khôn ngoan của Thiên Chúa nữa. Theo tính cách sâu rộng cũng như theo lư lẽ toàn diện về các thứ lề luật của ḿnh, đức khôn ngoan của Thiên Chúa cho phép chúng ta được thoáng thấy một chút ǵ đó về Vị Thần Linh Sáng tạo của Ngài. Nó gợi lên một niềm kính sợ.
Chính những con người, thành phần, như Kitô hữu, tin vào Vị Thần Linh Sáng Tạo, ư thức được sự kiện là chúng ta không thể sử dụng hay lạm dụng thế giới và thể chất chỉ thuần là vật chất cho hoạt động và ước muốn của chúng ta; sự kiện là chúng ta cần phải coi thiên nhiên tạo vật là một tặng ân được ban cho chúng ta không phải là để bị hủy diệt, mà để trở thành khu vườn của Thiên Chúa, do đó, cũng trở thành một khu vườn cho con người nam nữ vậy.
Trước nhiều h́nh thức lạm dụng trái đất chúng ta thấy ngày nay, chúng ta có thể thực sự nghe thấy tiếng rên xiết của tạo vật được Thánh Phaolô nói tới (Rm 8:22); chúng ta hăy bắt đầu hiểu những lời này của Thánh Tông Đồ, đó là thiên nhiên tạo vật nhẫn nại đợi chờ việc tỏ hiện đó là việc chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, được giải thoát khỏi nô lệ và chiếm được vinh quang rạng ngời của ḿnh.
Tạo vật nhẫn nại đợi chờ việc tỏ hiện đó là việc chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa
Các bạn thân mến, chúng ta cần phải trở thành những người con cái này của Thiên Chúa là thành phần tạo vật đợi trông, và chúng ta có thể trở nên những người con cái ấy v́ Chúa đă làm cho chúng ta như thế nơi phép rửa. Phải, tạo vật và lịch sử – cả hai đang đợi chờ chúng ta, đang chờ đợi những con người nam nữ thật sự là thành phần con cái của Thiên Chúa và tác hành như thế.
Nếu chúng ta nh́n vào lịch sử, chúng ta thấy rằng tạo vật đă nẩy nở chung quanh các đan viện, như thể, với việc tái khơi động của Thần Linh Chúa nơi tâm can con người, ánh quang của Thần Linh Tạo Dựng cũng được hoàn trả lại cho trái đất – một vinh quang rạng ngời đă bị phủ lấp và có những lúc thậm chí bị daâp tắt đi bởi tính cách dă man của cái say mê quyền lực của con người.
Chưa hết, điều đă từng xẩy ra một lần quanh Thánh Phanxicô Assissi – nó cũng xẩy ra khắp nơi khi Thần Linh Chúa thẩm thấu linh hồn, Vị Thần Linh được bài thánh ca của chúng ta hiễn tả là ánh sáng, yêu thương và sức mạnh.
Như thế, chúng ta đă khám phá ra câu giải đáp tiên khởi cho vấn nạn Thánh Thần là ǵ, Ngài làm những chi và làm sao chúng ta có thể nhận ra Ngài. Ngài đến để gặp gỡ chúng ta nơi thiên nhiên tạo vật và vẻ đẹp của chúng.
Tuy nhiên, trong gịng lịch sử của nhân loại, có một lớp bụi bao phủ tạo vật của Thiên Chúa, một lớp bụi làm cho nó khó khăn nếu không muốn nói là bất khả thấy được nơi nó h́nh ảnh của Đấng Hóa Công, mặc dù kiến thức về việc Thiên Chúa hiện hữu được tái khơi lên trong chúng ta mới mẻ hơn bao giờ hết, thực sự bộc phát một cách tự nhiên trước cảnh hoàng hôn trên biển cả, vào một cuộc du ngoạn núi non hay trước một bông hoa vừa rộ nở.
Thế nhưng, Vị Thần Linh Sáng Tạo đă đến hỗ trợ chúng ta. Ngài đă đi vào lịch sử và nói với chúng ta một cách mới mẻ. Nơi Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa đă làm người và cho phép chúng ta, có thể nói, thoáng nh́n thấy được thâm tâm của chính Thiên Chúa.
Và ở đó, chúng ta thấy một cái ǵ đó hoàn toàn bất ngờ: đó là, nơi Thiên Chúa, có một cái ‘Tôi’ và một cái ‘Ngươi’ hiện hữu. Vị Thiên Chúa nhiệm mầu này không phải là vị Thiên Chúa muôn đời cô độc, Ngài là một biến cố yêu thương. Nếu nhờ nh́n ngắm tạo vật chúng ta nghĩ chúng ta có thể thoáng thấy được Vị Thần Linh Sáng tạo này, thoáng thấy được chính Thiên Chúa, chứ không phải là một thứ toán học sáng tạo, như một quyền lực làm nên các thứ luật lệ của thế giới này cùng trật tự của chúng, th́ bấy giờ, thậm chí dù cũng thấy như là một vẻ đẹp, chúng ta mới nhận thấy rằng Vị Thần Linh Sáng tạo này có cả một trái tim. Ngài là t́nh yêu.
Chúa Con, Đấng nói cho Chúa Cha, hiện hữu, và cả hai là một trong Thần Linh, Đấng có thể nói tạo nên bầu khí ban phát và yêu thương làm cho cả hai là một Thiên Chúa duy nhất. Mối hiệp nhất yêu thương là Thiên Chúa này, là một mối hiệp nhất cao cả hơn mối hiệp nhất của một phân tử bất khả phân chia bền bỉ nữa. Chính Vị Thiên Chúa Ba Ngôi là Một Vị Thiên Chúa duy nhất.
Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta có thể thoáng nh́n thấy nội tâm của Thiên Chúa. Thánh Gioan, trong Phúc Âm của ngài, đă diễn tả điều này như sau: ‘Không ai đă từng thấy Thiên Chúa; chỉ có Con, Đấng hằng ở trong ḷng Cha, Đấng tỏ Ngài ra mà thôi’ (Jn 1:18).
Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chỉ để cho chúng ta thấy được nội tâm của Thiên Chúa; với Người, Thiên Chúa thực sự c̣n từ nội tâm của ḿnh mà đến gặp gỡ chúng ta nữa. Điều này đặc biệt xẩy ra nơi đời sống của Người, nơi cuộc khổ nạn, tử giá và Phục Sinh của Người; nơi những lời của Người.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu không hài ḷng với việc đến với chúng ta. Người c̣n muốn hơn thế nữa. Người muốn hiệp nhất hóa. Đó là ư nghĩa của các h́nh ảnh về bữa tiệc cưới.
Chúng ta chẳng những cần phải biết một cái ǵ đó về Người, mà c̣n nhờ Người, chúng ta cần phải được lôi kéo đến với Thiên Chúa nữa. V́ lư do này, Người đă phải chết đi và được phục sinh, v́ Người giờ đây không c̣n được thấy ở bất cứ nơi nào nữa, mà Thần Linh của Người, Thánh Thần, thoát tỏa từ Người và thấm vào ḷng chúng ta, nhờ đó, hiệp nhất chúng ta với chính Chúa Giêsu và với Chúa Cha, với Vị Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lễ Hiện Xuống là ở chỗ Chúa Giêsu, và qua Người chính Thiên Chúa, thực sự đă đến với chúng ta và kéo chúng ta đến với chính Người: ‘Người đă sai Thánh Thần đến’ – đó là những ǵ Thánh Kinh nói. Tác dụng của Lễ Hiện Xuống này là ǵ?
Trước hết tôi muốn nói tới hai khía cạnh: Thánh Thần, qua Ngài Thiên Chúa đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta sự sống và tự do. Chúng ta hăy lưu ư hơn chút nữa đến hai điều.
Thánh Thần mang lại cho chúng ta sự sống.
‘Thày đến cho chúng được sự sống và là một sự sống viên măn’, Chúa Giêsu đă nói trong Phúc Âm Thánh Gioan (10:10). Sự sống và tự do: Đấy là những điều tất cả chúng ta đều mong ước. Thế nhưng, điều này nghĩa là ǵ – tức chúng ta t́m thấy ‘sự sống’ ở đâu và ra sao?
Tôi nghĩ rằng đại đa số nhân loại tự nhiên có cùng một quan niệm về sự sống như Người Con Hoang Đàng trong Phúc Âm. Anh ta được chia cho phần gia tài của ḿnh, để rồi cảm thấy được tự do thoải mái; thật ra, những ǵ anh ta muốn là được sống không c̣n nặng gánh bởi những nhiệm vụ trong gia đ́nh mà chỉ biết sống thôi. Anh ta muốn được tất cả mọi thứ sự sống có thể cung cấp cho. Anh ta muốn hoan hưởng nó cho đến tận cùng – sống, chỉ biết sống, sống ch́m đắm vào những ǵ là sung măn của cuộc sống, không làm mất đi một cái ǵ nơi tất cả những cái đáng giá cuộc sống có thể cống hiến cho.
Kết cục anh ta lâm vào cảnh chăn heo, thậm chí thèm thuồng cả những con thú ấy nữa – cuộc sống của anh ta trở thành quá ư là trống rỗng và quá ư là vô dụng. Rồi cả cái tự do của anh ta cũng trở nên vô bổ.
Khi tất cả những ǵ con người muốn có nơi cuộc sống là việc chiếm hữu lấy sự sống, th́ nó trở thành trống rỗng và bần cùng hơn bao giờ hết, dễ dẫn tới chỗ t́m nương tựa nơi thuốc phiện, nơi những ǵ thật là gian trá. Thế rồi những ngờ vực nổi lên như cho rằng sự sống phải chăng thực sự là một sự thiện.
Không, chúng ta không t́m kiếm sự sống như thế. Những lời của Chúa Giêsu về sự sống viên trọn là những ǵ được chất chứa nơi bài giảng Vị Chủ Chiên Nhân Lành. Những lời của Người có một chiều kích lưỡng diện.
Liên quan tới vị chủ chiên, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng Người thí sự sống của Người đi. ‘Không ai có thể lấy được sự sống của Tôi, mà là Tôi tự ư bỏ nó đi’ (x Jn 10:18). Chỉ ở nơi việc hiến ban sự sống mới t́m được sự sống; sự sống không thể nào thấy được bằng việc t́m cách chiếm hữu nó. Đó là những ǵ chúng ta cần phải học nơi Chúa Giêsu; và Chúa Thánh Thần dạy chúng ta rằng nó là một tặng ân tinh tuyền, nó là tặng ân ban ḿnh của Thiên Chúa. Con người càng ban phát sự sống ḿnh cho người khác th́ lại càng dồi dào sung măn như con sống sự sống tuôn trào.
Sau nữa, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng sự sống triển nở nơi việc bước đi với vị Chủ Chiên là vị quen thuộc với đồng cỏ – tức những nơi là nguồn mạch tuôn trào của sự sống.
Chúng ta t́m thấy sự sống nơi mối hiệp thông với Đấng đích thân là sự sống – nơi mối hiệp thông với vị Thiên Chúa hằng sống, một mối hiệp thông chúng ta được Chúa Thánh Thần dẫn vào, Đấng được bài thánh ca Giờ Kinh Tối gọi là ‘fons vivus’, nguồn mạch sự sống.
Đồng cỏ là nơi tuôn trào sự sống đây là Lời Chúa như chúng ta thấy trong Phúc Âm, trong niềm tin của Giáo Hội. Đồng cỏ đây là chính Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết trong mối hiệp thông đức tin nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Quí bạn thân mến, các phong trào được xuất phát chính là v́ niềm khao khát sự sống chân thực; chúng là những phong trào về sự sống, dù ở khía cạnh nào đi nữa.
Ở đâu nguồn mạch sự sống chân thực không c̣n tuôn chảy nữa th́ ở đó con người chỉ chiếm hưởng sự sống thay v́ ban phát nó, và bất cứ nơi nào con người sẵn sàng hủy bỏ sự sống thai nghén v́ sự sống đó dường như chiếm chỗ nơi đời sống của họ, th́ ở đó sự sống của người khác bị nguy hiểm hết sức.
Nếu chúng ta muốn bảo vệ sự sống th́ trên hết chúng ta cần phải tái khám phá ra nguồn mạch của sự sống; bấy giờ sự sống mới tái hiện lên với tất cả vẻ đẹp và cao quí củanó; bấy giờ chúng ta mớithấy ḿnh được Chúa Thánh Thần là nguồn sáng tạo của sự sống làm cho nẩy nở.
Thánh Thần mang lại cho chúng ta tự do
Vấn đề về tự do vừa được đề cập tới. Việc ra đi của Người Con Hoang Đàng thực sự là những ǵ liên quan tới những vấn đề sự sống và tự do. Anh ta muốn sự sống và bởi đó muốn hoàn toàn được tự do. Muốn được tự do, theo quan điểm ấy, có nghĩa là có thể làm bất cứ điều ǵ tôi thích, không bị ràng buộc vào bất cứ một chuẩn tắc nào ở ngoài, ở trên và vượt trên bản thân ḿnh. Nghĩa là theo những ước muốn riêng của ḿnh và chỉ những ǵ tôi muốn mà thôi.
Những ai sống như thế chẳng mấy chốc sẽ đụng độ với kẻ khác là thành phần cũng muốn sống như thế. Hậu quả bất khả tránh của thứ quan niệm tự do vị kỷ này đó là việc phạm tới và việc hủy diệt lẫn nhau tự do và sự sống.
Trái lại, Thánh Kinh liên kết quan niệm sự sống với quan niệm về vai tṛ làm con cái. Thánh Phaolô nói: ‘Anh chị em không lănh nhận thần trí nô lệ tái rơi vào t́nh trạng sợ hăi, mà anh chị em đă lănh nhận được thần trí con cái, nhờ đó chúng ta kêu lên Abba, Lạy Cha!’ (Rm 8:15). Điều này nghĩa là ǵ?
Thánh Phaolô có ư nói tới thể chế xă hội của một thế giới có thành phần nô lệ ngày xưa. Họ chẳng có ǵ cả, bởi thế họ không thể dự phần vào việc phát triển một cách xứng hợp đối với các sự vật.
Với tư thế tương xứng, có những người con là thành phần thừa kế nên cũng liên quan tới việc bảo tŕ và điều hành tốt đẹp sản vật của họ hay việc bảo tŕ của quốc gia. V́ họ là thành phần tự do mà họ cũng là thành phần có trách nhiệm.
Bỏ ra ngoài cái bối cảnh về xă hội học vào thới ấy, nguyên tắc của nó vẫn là những ǵ xác thực: Tự do và trách nhiệm đi đôi với nhau. Tự do thực sự được chứng tỏ nơi trách nhiệm, nơi cách thức tác hành mà con người lănh nhận trách nhiệm chung đối với thế giới này, đối với bản thân cũng như đối với người khác.
Người con nào có những sự vật và bởi thế không để cho chúng bị hủy hoại đi là người con tự do. Tất cả mọi trách nhiệm về trần thế chúng ta nói tới đây dù sao cũng chỉ là những trách nhiệm bán phần đối với một lănh vực chuyên biệt nào, đối với một trường hợp nào mà thôi v.v.
Trái lại, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở thành con cái nam nữ của Thiên Chúa. Ngài bao gồm chúng ta trong cùng một trách nhiệm Thiên Chúa đảm nhận đối với thế giới của Ngài, đối với toàn thể nhân loại. Ngài dạy chúng ta hăy nh́n vào thế giới, vào người khác và vào chính ḿnh bằng con mắt của Thiên Chúa. Chúng ta không hành thiện như những kẻ nô lệ là thành phần không được quyền làm khác đi, song chúng ta thực hiện điều thiện v́ chúng ta đích thân có trách nhiệm với thế giới, v́ chúng ta yêu mếnh sự thật và sự thiện, v́ chúng ta yêu mến chính Thiên Chúa, và bởi thế cũng yêu mến cả các tạo vật của Ngài nữa. Đó là niềm tự do chân thực Chúa Thánh Thần muốn dẫn chúng ta tới.
Các phong trào trong giáo hội muốn và cần phải trở thành những học đường dạy về tự do, về thứ tự do đích thực này. Chúng ta hăy học nơi những học đường ấy niềm tự do thực sự ấy, chứ không phải thứ tự do của hạng nô lệ nhắm đến việc tự cắt đi một mảnh bánh thuộc về hết mọi người, cho dù một số người cắt đi mảnh bánh của người khác ấy cũng chẳng chiếm được mảnh bánh này chăng nữa.
Chúng ta muốn thứ tự do thật sự cao cả, thứ tự do của thành phần thừa kế, thứ tự do của con cái Thiên Chúa. Trên thế giới này, một thế giới đầy những h́nh thức tự do hư cấu làm hủy hoại đi môi sinh và con người, chúng ta hăy học biết tự do đích thực bằng quyền năng của Thánh Linh; hăy xây dựng học đường dạy tự do; hăy tỏ cho người khác qua cuộc sống của ḿnh rằng chúng ta là thành phần tự do và đẹp biết bao được thực sự tự do bằng niềm tự do của con cái Thiên Chúa.
Thánh Thần mang lại cho chúng ta hiệp nhất
Chúa Thánh Thần, trong việc ban sự sống và tự do, cũng ban phát mối hiệp nhất nữa. Đây là 3 tặng ân bất khả phân ly. Tôi đă nói quá dài; nhưng xin để tôi nói vài lời về mối hiệp nhất.
Để hiểu được mối hiệp nhất, chúng ta có thể thấy được một câu nói hữu ích là những ǵ mới đầu dường như tách chúng ta khỏi mối hiệp nhất này. Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô là người đến t́m gặp Người ban đêm với các vấn nạn trong ḷng, rằng: ‘Gió muốn thổi đâu th́ thổi’ (Jn 3:8). Thế nhưng, ư muốn của Thần Linh không phải là những ǵ độc đoán. Ư muốn của Ngài là ư muốn của sự thật và sự thiện.
Bởi thế, Ngài không thổi từ bất cứ nơi đâu, lúc th́ từ chỗ này, lúc th́ từ chỗ khác, hơi thở của Ngài không bừa băi nhưng đem chúng ta lại với nhau, v́ sự thật là những ǵ hiệp nhất và yêu thương là những ǵ liên kết.
Thánh Thần là Thần Linh của Chúa Giêsu Kitô, Vị Thần Linh hiệp nhất Cha và Con trong Yêu Thương, một Yêu Thương Ngài ban tặng và lănh nhận trong một Thiên Chúa duy nhất. Ngài hiệp nhất chúng ta lại với nhau chặt chẽ tới độ Thánh Phaolô đă có lần nói: ‘Anh chị em tất cả đều là một trong Chúa Giêsu Kitô’ (Gal 3:28). Bằng hơi thở của ḿnh, Chúa Thánh Thần thôi thúc chúng ta hướng về Chúa Kitô. Chúa Thánh Thần tác động một cách thể lư; Ngài không phải chỉ tác động một cách chủ quan hay ‘một cách linh thiêng’.
Chúa Kitô Phục Sinh đă nói với các môn đệ cứ tưởng là họ xem thấy một thứ ‘thần thiêng’ rằng: ‘Chính là Thày đây; hăy chạm đến Thày mà coi; v́ thần thiêng làm ǵ có xương có thịt như các con thấy Thày có đây’ (x Lk 24:39).
Điều này áp dụng cho Chúa Kitô Phục Sinh ở vào hết mọi giai đoạn của lịch sử. Chúa Kitô Phục Sinh không phải là một con ma, Người không phải là một thần thiêng thuần túy, là một tư tưởng, một tư tưởng thuần túy.
Người vẫn là Đấng nhập thể – chính Đấng Phục Sinh đă mặc lấy xác thịt của chúng ta – và luôn tiếp tục xây dựng Thân Thể của Người, làm cho chúng ta thành Thân Thể của Người. Thần Linh thổi đâu tùy ư của Ngài, và ư muốn của Ngài là mối hiệp nhất được hiện thân, một mối hiệp nhất gặp gỡ thế giới và biến đổi thế giới.
Trong bức thư gửi cho giáo đoàn Êphêsô, Thánh Phaolô đă nói với chúng ta rằng Thân Thể này của Chúa Kitô, là Giáo Hội, có những đầu mối (x 4:16) và thậm chí ngài c̣n liệt kê những đầu mối ấy: Những đầu mối này là các vị tông đồ, tiên tri, những nhà truyền bá phúc âm hóa, những vị mục tử và những giảng viên (x 4:12). Qua các tặng ân của ḿnh, Vị Thần Linh này đă có một dung nhan đa diện – chúng ta thấy được diều này ở nơi đây. Nếu chúng ta nh́n vào lịch sử, nếu chúng ta nh́n vào cuộc qui tụ ở Quảng Trường Thánh Phêrô này đây, th́ chúng ta nhận ra rằng Ngài hằng khơi động lên những tặng ân mới; chúng ta thấy khác nhau biết bao những cơ cấu được Ngài sáng tạo và cách thức Ngài hoạt động một cách thế lư mới mẻ hơn bao giờ hết ra sao.
Thế nhưng, nơi Ngài, tính cách đa dạng và hiệp nhất là những ǵ sát cánh bên nhau. Ngài thổi đâu tùy ư của Ngài. Ngài không làm như vậy một cách đột ngột, ở những nơi bất ngờ và bằng những cách thức chưa bao giờ thấy. Và Ngài làm như thế bằng một tính cách đa dạng và thể lư biết bao! Chính tại nơi đây mà tính cách đa dạng và hiệp nhất là những ǵ bất khả phân ly.
Ngài cần tính cách đa dạng của anh chị em và Ngài cần anh chị em cho một thân thể duy nhất, hiệp nhất với những trật tự vĩnh tồn – với những đầu mối – của Giáo Hội, với những vị thừa kế của các thánh tông đồ và với Vị Thừa Kế của Thánh Phêrô.
Ngài không làm suy kém đi các nỗ lực của chúng ta trong việc học biết đường lối liên hệ với nhau, thế nhưng Ngài cũng tỏ cho chúng ta thấy rằng Ngài làm việc hướng đến một thân thể duy nhất và trong mối hiệp nhất của một thân thể duy nhất. Chính nhờ thế mà mối hiệp nhất mới có được quyền lực và vẻ đẹp.
Chớ ǵ anh chị em tham phần vào việc dựng xây nên một thân thể duy nhất ấy! Các vị mục tử cần phải thận trọng đừng dập tắt Thần Linh (x 1Thes 5:19), và anh chị em sẽ không ngừng mang đến cho toàn thể cộng đồng tặng ân của anh chị em. Một lần nữa, Thần Linh thổi đâu tùy ư của Ngài. Thế nhưng, ư muốn của Ngài là mối hiệp nhất. Ngài dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô qua Thân Thể của Người.
Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng: ‘Nhờ Chúa Kitô mà toàn thân, được liên kết chặt chẽ với nhau ở mọi phần thể khi từng phần thể hoạt động một cách xứng hợp, sẽ phát triển một cách thể lư và tự ḿnh dựng xây trong yêu thương’ (Eph 4:6).
Chúa Thánh Thần muốn thấy mối hiệp nhất, Ngài muốn cái toàn thể. Bởi thế, việc Ngài hiện diện được thể hiện trên hết ở nơi ḷng nhiệt t́nh truyền giáo.
Thánh Thần mang lại cho chúng ta nhiệt t́nh truyền giáo
Bất cứ ai thấy được một cái ǵ đó chân thực, đẹp đẽ và thiện hảo trong đời sống – một kho tàng chân thực duy nhất, một hạt ngọc chân trâu – đều vội vă chia sẻ nó ra khắp mọi nơi, trong gia đ́nh cũng như tại sở làm, nơi tất cả mọi môi trường cuộc sống của họ.
Họ làm như thế một cách mạnh dạn, viù họ biết họ đă lănh nhận ơn dưỡng tử làm con; họ làm thế một cách khiêm nhượng, ví tất cả đều là hồng ân; họ làm thế một cách kiên tŕ, v́ Thần Linh Chúa mở đầu hành động của Ngài nơi ‘tâm can’ của con người và như một hạt giống nơi hầu hết các văn hóa và tôn giáo khác nhau.
Họ làm như thế một cách dấn thân, v́ họ mang một thứ tin mừng giành cho tất cả mọi người và tất cả mọi dân tộc.
Các bạn thân mến, tôi xin các bạn hăy hợp tác hơn nữa, thật nhiều hơn nữa, vào thừa tác vụ tông đồ hoàn vũ của Giáo Hoàng, bằng cách mở ra các cửa cho Chúa Kitô.
Đó là việc phục vụ tốt đẹp nhất của Giáo Hội đối với con người nam nữ, nhất là đối với thành phần nghèo khổ, nhờ đó đời sống của con người, một trật tự công bằng hơn trong xă hội và việc chung sống an b́nh giữa các quốc gia có thể thấy được nơi Chúa Kitô tảng đá gọc tường để xây dựng một nền văn minh chân thực, một nền văn minh yêu thương.
Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu một siêu nhăn quan về thế giới, về đời sống, về lịch sử, và làm cho họ thành bảo quản viên cho niềm hy vọng không bao giờ thất vọng.
Bởi thế, chúng ta hăy cầu xin Thiên Chúa là Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, trong ân sủng của Chúa Thánh Thần, để việc cử hành lễ trọng Hiện Xuống đây trở thành như một ngọn lửa rực sáng và là một luồng gió mạnh đối với đời sống Kitô hữu cũng như đối với việc truyền giáo của toàn thể Giáo Hội.
Tôi đặt những ư hướng của các pḥng trào và cộng đồng anh chị em vào trái tim Rất Thánh Trinh Nữ Maria, vị hiện diện trong Căn Thượng Lầu cùng với các thánh tông đồ; chớ ǵ Mẹ là vị nào xin Thiên Chúa thực hiện các ư chỉ ấy.
Tôi xin Thần Linh tuôn đổ các tặng ân của Ngài xuống trên tất cả mọi anh chị em, nhờ đó, cả trong thời đại của chúng ta nữa, chúng ta cũng cảm nghiệm được một Lễ Hiện Xuống mới. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/6/2006, các tiểu đề là do người dịch tự ư phân chia
Bài Giảng ở Krakow cho Thánh Lễ Bế Mạc Chúa Nhật 28
‘Hỡi những người Galilê, sao các người lại đứng nh́n lên trời như thế?’ (Acts 1:11)
|
|
Anh Chị Em thân mến, hôm nay, tại Công Viên Blonie ở Krakow này, một lần nữa, chúng ta nghe thấy câu hỏi này từ Sách Tông Vụ. Lần này câu hỏi ấy nhắm đến tất cả chúng ta đây: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nh́n lên trời như thế?’ Câu trả lời cho vấn nạn này bao gồm một sự thật nền tảng cốt yếu về đời sống cũng như về định mệnh của con người nam nữ.
Câu hỏi cần thiết đối với thái độ của chúng ta đây liên quan tới hai thực tại căn bản là những thực tại làm nên tất cả mọi cuộc sống của con người, đó là đất và trời. Trước hết là trái đất: ‘Tại sao anh chị em đứng đó?’ – Tại sao chúng ta sống ở trên thế gian này? Câu trả lời của chúng ta là chúng tôi đang sống trên thế gian này bởi v́ Đấng Tạo Dựng của chúng tôi đă đặt chúng tôi ở nơi đây như tuyệt đỉnh của việc Ngài tạo dựng. Thiên Chúa Toàn Năng, theo dự án yêu thương bất khả phai nḥa của Ngài, đă tạo dựng nên vũ trụ, làm cho nó hiện hữu từ hư không. Thế rồi, khi hoàn tất công việc ấy, Ngài đă ban sự sống trên thành phần con người nam nữ, dựng nên họ theo h́nh ảnh Ngài và tương tự như Ngài (x Gen 1:26-27). Ngài đă ban cho họ phẩm vị được làm con cái của Thiên Chúa cùng với tặng ân bất tử. Chúng tôi biết rằng con người đă đi sai đường lạc hướng, đă lạm dụng tặng ân tự do và đă ‘bất chấp’ Thiên Chúa, nên đời sống của con người đă bị ghi dấu vết sự dữ, tội lỗi, khổ đau và chết chóc. Thế nhưng, chúng tôi cũng biết rằng Thiên Chúa không bỏ cuộc trước trạng huống ấy của con người, mà đă đích thân tiến vào lịch sử của nhân loại, một lịch sử nhờ đó đă trở thành một lịch sử cứu độ. ‘Chúng tôi đứng’ trên thế gian này, chúng tôi xuất phát từ trái đất này và chúng tôi lớn lên từ trái đất đây. Ở trên đời đây chúng tôi hành thiện trong nhiều lănh vực của cuộc sống hằng ngày, thuộc cả lănh giới vật chất lẫn thiêng liêng, nơi các mối liên hệ giữa chúng tôi với người khác, nơi những ǵ chúng tôi nỗ lực xây dựng cộng đồng nhân loại và nơi văn hóa. Trên đời này, chúng tôi cũng cảm thấy cả tâm trạng buồn chán của những ai tiến về một mục đích theo những con đường dài lộng gió, giữa những ưu tư lưỡng lự, những căng thẳng, những bất định, bằng một niềm xác tín rằng cuộc hành tŕnh ấy một ngày kia rồi cũng đi tới chỗ kết thúc thôi. Đó là lúc câu hỏi sau đây xuất hiện: Phải chăng đó là tất cả mọi sự? Phải chăng trái đất ‘chúng tôi đang đứng’ đây là đích điểm cuối cùng của chúng tôi?
Bởi thế chúng ta cần hướng đến phần thứ hai của vấn nạn thánh kinh: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nh́n lên trời như thế?’ Chúng ta đă đọc thấy rằng, vừa lúc các vị Tông Đồ đă hỏi Chúa Kitô Phục Sinh về việc dân Yến Duyên phục hồi của vương quốc trần gian, th́ ‘Người được nhắc lên và có một đám mây vây phủ Người làm cho Người khuất khỏi mắt các vị’ (x Acts 1:9-10). Các vị đứng nh́n lên trời v́ các vị nh́n lên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Tử Giá và Phục Sinh, Đấng được nâng lên cao. Chúng ta không biết chính xác lúc nào các vị nhận thấy hiện lên trước mắt các vị một chân trời rạng ngời bất tận: đích điểm tối hậu cho cuộc hành tŕnh trần gian của chúng ta. Có lẽ các vị chỉ nhận ra điều này vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, trong ánh sáng của Thánh Linh. Thế nhưng, đối với chúng ta, cách cả hai ngàn năm, th́ ư nghĩa của biến côáđó lại quá rơ ràng. Trên trái đất này, chúng ta được kêu gọi để nh́n lên trời, để hướng tâm trí của chúng ta về mầu nhiệm khôn tả của Thiên Chúa. Chúng ta được kêu gọi để hướng tới thực tại thần linh này, một thực tại thần linh mà chúng ta đă từng nhắm tới từ cuộc tạo thành của chúng ta. V́ ở nơi đó chúng ta mới t́m thấy ư nghĩa tối hậu của cuộc sống.
Anh Chị Em thân mến, tôi rất cảm động khi có thể cử hành Thánh Thể hôm nay tại Công Viên Blonie ở Krakow, nơi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường cử hành Thánh Lễ trong những chuyến Tông Du Mục Vụ của ngài nơi quê hương đất nước của ḿnh. Qua những cuộc cử hành phụng vụ của ḿnh, ngài đă gặp Dân Chúa ở hầu hết các nơi trên thế giới, song việc ngài cử hành Thánh Lễ tại Công Viên Blonie ở Krokow chắc chắn bao giờ cũng là một cái ǵ đặc biệt. Ở nơi đây tâm trí ngài trở về với cội gốc của ḿnh, với nguồn mạch đức tin của ngài cùng việc phục vụ Giáo Hội của ngài. Từ nơi đây, ngài có thể thấy được Krwkow và toàn quốc Balan. Trong cuộc tông dù đầu tiên về Balan ngày 19/6/1979, ở cuối bài giảng của ḿnh nơi công viên đây, ngài đă nói một cách nhung nhớ như sau: ‘Xin cho tôi, trước khi ĺa xa anh chị em, một lần nữa nh́n lại Krakow, một Krakow rất thân thương với tôi từng ḥn đá cục gạch. Và từ đây nh́n lại Balan một lần nữa’. Trong Thánh Lễ cuối cùng ngài cử hành ở nơi đây, ngày 18/8/2002, ngài đă nói trong bài giảng của ḿnh rằng: ‘Tôi cám ơn về việc mời tôi tới thăm Krakow của tôi và về ḷng hiếu khách anh chị em đă giành cho tôi’ (đoạn 2). Kraków, thành phố của Karol Wojtyla và của Gioan Phaolô II, cũng là Krakow của tôi nữa, chiếm được một chỗ đứng đặc biệt nơi tâm can của vô vàn Kitô hữu khắp thế giới, thành phần biết rằng Gioan Phaolô II xuất hiện ở Đồi Vatican từ thành phố này, từ Đồi Wawel, ‘từ một xứ sở xa xôi’, một xứ sở nhờ đó đă trở thành thân thương với tất cả mọi người.
Mở màn năm thứ hai cho Giáo Triều của ḿnh, tôi đă cảm thấy rất cần phải đếnviếng thăm Balan và Krakow như là một con người hành hương theo bước chân của vị tiền nhiệm tôi. Tôi muốn hít thở không khí của quê hương đây. Tôi muốn thấy mảnh đất ngài đă được sinh ra, nơi ngài đă lớn lên và đă nhiệt t́nh dấn thân phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội hoàn vũ. Tôi đặc biệt muốn gặp gỡ những con người nam nữ sống động của đất nước ngài, muốn cảm nghiệm thấy đức tin của anh chị em, một đức tin đă cống hiến cho ngài sự sống và sinh lực, và muốn biết rằng anh chị em tiếp tục vững mạnh trong niềm tin ấy. Ở nơi đây, tôi muốn xin Thiên Chúa hăy bảo tŕ cái di sản đức tin, đức cậy và đức mến được Đức Gioan Phaolô II cống hiến cho thế giới, đặc biệt là cho anh chị em.
Tôi thân ái chào tất cả những ai qui tụ lại Công Viên Blonie, v́ mắt tôi có thể nh́n thấy những người đứng xa thật xa, cho dù xa hơn thế nữa. Tôi ước ǵ có thể gặp được từng người trong anh chị em một cách riêng tư. Tôi ôm ấp tất cả những ai đang tham dự Thánh Lễ của chúng ta đây qua truyền thanh và truyền h́nh. Tôi chào toàn thể Balan! Tôi chào trẻ em và giới trẻ, cá nhân và gia đ́nh, thành phần bệnh nhân và những ai khổ đau nơi thân xác hoặc tinh thần, những ai bị hụt hang niềm vui của cuộc sống. Tôi chào tất cả những ai ngày ngày cực nhọc giúp cho xứ sở này được phát triển thịnh vượng. Tôi chào nhân dân Balan hải ngoại, ở khắp nơi trên thế giới. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Stanislaw Dziwisz, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Krakow, về những lời lẽ đón mừng nồng hậu của ngài. Tôi chào Đức Hồng Y Franciszek Macharski cùng toàn thể các vị Hồng Y, Giám Mục, linh mục và tu sĩ nam nữ, cũng như những vị khách đến từ các nơi, nhất là từ các nước láng giềng. Tôi chào Tổng Thống Cộng Ḥa và Thủ Tướng cùng các vị đại diện Thẩm Quyền quốc gia, khu vực và địa phương.
Anh chị em thân mến, tôi đă chọn làm câu châm ngôn cho chuyến hành hương Balan của tôi theo bước chân Đức Gioan Phaolô II những lời là: ‘Anh chị em hăy đứng vững trong đức tin của ḿnh!’ Lời kêu gọi này được trực tiếp ngỏ cùng tất cả chúng ta là phần tử thuộc cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, cùng mỗi người và mọi người trong chúng ta. Đức tin là một tác động nhân loại riêng tư sâu xa, một tác động có hai khía cạnh. Tin tưởng nghĩa là trước hết chấp nhận như thật những ǵ trí khôn chúng ta không thể thấu triệt. Chúng ta phải chấp nhận những ǵ Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta về chính ḿnh Ngài, về chúng ta, về mọi sự chung quanh chúng ta, bao gồm cả những ǵ vô h́nh, khôn tả và ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Tác động chấp nhận sự thật được mạc khải là những ǵ nới rộng chân trời kiến thức của chúng ta và kéo chúng ta tới mầu nhiệm bao trùm chúng ta. Để trí khôn của chúng ta bị giới hạn như thế không phải là một chuyện dễ làm. Đến đây chúng ta thấy khía cạnh thứ hai của đức tin, đó là khía cạnh niềm tin tưởng nơi một con người, không phải là một con người b́nh thường, mà là chính Chúa Giêsu Kitô. Những ǵ chúng ta tin tưởng đều quan trọng, nhưng c̣n quan trọng hơn thế nữa đó là Đấng chúng ta tin tưởng.
Thánh Phaolô đă nói về điều này trong đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô mà chúng ta nghe thấy hôm nay đây. Thiên Chúa đă ban cho chúng ta một thần trí khôn ngoan và ‘đă sáng soi cặp mắt tâm hồn của chúng ta, để chúng ta biết những ǵ là niềm hy vọng được Ngài kêu gọi chúng ta hướng tới, những ǵ là phong phú thuộc gia sản hiển vinh của Ngài nơi các thánh nhân, và những ǵ là cao cả khôn lường của quyền lực Ngài nơi chúng ta là những kẻ tin tưởng, theo việc làm quyền năng vĩ đại của Ngài nơi Chúa Kitô’ (x Eph 1:17-20). Tin tưởng nghĩa là phó ḿnh của chúng ta cho Thiên Chúa và trao phó định mệnh của chúng ta cho Ngài. Tin tưởng nghĩa là sống liên hệ thân t́nh với Đấng Hóa Công và Cứu Chuộc của chúng ta trong quyền nặng của Thánh Thần và làm cho mối liên hệ này thành nền tảng cho cả cuộc đời của chúng ta.
Hôm nay chúng ta đă nghe thấy những lời của Chúa Giêsu: ‘Các con sẽ lănh nhận quyền năng khi Thánh Thần xuống trên các con; và các con sẽ là những chứng nhân của Thày ở Giêrusalem cũng như ở khắp Giuđêa và Samaria, và cho tới tận cùng trái đất’ (Acts 1:8). Nhiều thế kỷ trước đây những lời ấy đă tiến đến Balan. Chúng đă thách đố và tiếp tục thách đố tất cả những ai nói rằng ḿnh thuộc về Chúa Kitô, những người coi lời của Người ấy là một lư tưởng cao cả nhất. Chúng ta cần trở thành những chứng nhân của Chúa Giêsu, Đấng đang sống trong Giáo Hội và trong ḷng người. Người đă trao cho chúng ta một sứ vụ. Vào ngày Người lên trời, Người đă nói cùng các Tông Đồ rằng: ‘Các con hăy đi khắp thế gian rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật… Và các vị đă ra đi rao giảng khắp nơi, Chúa Kitô đồng thời làm việc với các vị và củng cố sứ điệp các vị rao giảng bằng các dấu hiệu kèm theo’ (Mk 16:15,20). Anh chị em thân mến! Khi Đức Karol Wojtyla được bầu lên Ngài Ṭa Thánh Phêrô để phục vụ Giáo Hội hoàn vũ th́ đất nước của anh chị em đă trở thành một địa điểm của chứng từ đặc biệt về niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô. Anh chị em đă được kêu gọi để cống hiến chứng từ này trước toàn thế giới. Ơn gọi này của anh chị em là những ǵ luôn cần thiết, và có lẽ c̣n khẩn trương hơn bao giờ hết khi mà Người Tôi Tớ Chúa đây đă qua khỏi đời này. Anh chị em đừng làm cho thế giới bị hụt hẫng mất chứng từ này nhé!
Trước khi tôi trở về Rôma để tiếp tục thừa tác vụ của ḿnh, tôi kêu gọi tất cả mọi anh chị em bằng những lời được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói lên ở nơi đây vào năm 1979, đó là ‘Anh chị em thân mến, anh chị em cần phải vững mạnh. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh xuất phát từ đức tin. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin. Anh chị em cần phải trung thành. Ngày nay, hơn bất cứ một thời đại nào khác, anh chị em cần đến sức mạnh này. Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng sức mạnh của đức cậy, một đức cậy mang lại niềm vui trọn vẹn cho cuộc sống và là niềm hy vọng làm cho chúng ta tránh được việc làm phiền ḷng Thánh Linh! Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng đức ái, một đức ái mạnh hơn sự chết… Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin, đức cậy và đức mến, một đức mến ư thức, trưởng thành và hữu trách, và là một đức mến có thể giúp chúng ta trong lúc này đây nơi lịch sử của chúng ta thực hiện việc đối thoại trao đổi đại thể với con người và thế giới, một cuộc đối thoại được bắt nguồn từ cuộc đối thoại với chính Thiên Chúa, với Chúa Cha, nhờ Chúa Con trong Thánh Thần, một cuộc đối thoại cứu độ’ (Bài Giảng 10/6/1979, đoạn 4).
Cả tôi nữa, Biển Đức XVI, Vị Thừa Kế Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cũng đang xin anh chị em hăy từ đất nh́n lên trời, hăy hướng mắt về Đấng được các thế hệ liên tục nhau trông chờ cả hai ngàn năm, và là Đấng họ khám phá thấy được ư nghĩa của cuộc sống. Được kiên cường bởi niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, anh chị em hăy nhiệt thành với việc củng cố Vương Quốc của Người trên thế gian này, một Vương Quốc của thiện hảo, công lư, đoàn kết và t́nh thương. Tôi xin anh chị em hăy can đảm làm chứng cho Phúc Âm trước thế giới ngày nay, mang hy vọng tới cho người nghèo, cho người khổ đau, cho thành phần lầm lạc và bị bỏ rơi, thành phần thất vọng và những ai trông mong tự do, chân lư và an b́nh. Bằng việc làm lành cho tha nhân của ḿnh và tỏ ra quan tâm đối với công ích, anh chị em làm chứng rằng Thiên Chúa là t́nh yêu.
Sau hết, tôi xin anh chị em hăy chia sẻ với các dân tộc khác ở Âu Châu cũng như với thế giới kho tàng đức tin của anh chị em, ít là như cách thức để kính nhớ tới con người đồng hương của anh chị em, vị, với tư cách là Thừa Kế Thánh Phêrô, đă thực hiện điều ấy một cách đặc biệt mănh liệt và hiệu năng. Và xin hăy nhớ đến tôi trong lời nguyện cầu và hy sinh của anh chị em, thậm chí như anh chị em nhớ đến vị đại Tiền Nhiệm của tôi, để tôi có thể thi hành sứ vụ Chúa Kitô đă trao phó cho tôi. Tôi xin anh chị em hăy đứng vững trong đức tin của anh chị em! Hăy đứng vững trong đức cậy của anh chị em! Hăy đứng vững trong đức ái của anh chị em! Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
“Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lư trừu tượng ...
Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô…”
Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Quảng Trường Pilsudzki tại Warsaw Sáng Thứ Sáu 26
Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!
|
|
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô, Chúa chúng ta, ‘cùng với anh chị em tôi muốn hát bài thánh ca chúc tụng Đấng Quan Pḥng thần linh đă cho tôi được đến đây như một người hành hương’. Hai mươi bảy năm trước đây, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă mở đầu bài giảng của ngài ở Warsaw bằng những lời lẽ ấy. Tôi cũng xin mượn những lời ấy và tạ ơn Chúa là Đấng đă cho tôi có thể đến đây hôm nay tạo Quảng Trường lịch sử này. Ở nơi đây, vào ngày áp Lễ Hiện Xuống, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă thốt lên những lời nguyện cầu quan trọng ‘Xin sai Thần Linh Chúa xuống và xin canh tân bộ mặt trái đất’. Rồi ngài thêm: ‘Bộ mặt của mảnh đất này’. Chính nơi này đây đă chứng kiến việc long trọng cử hành lễ an táng cho một vị đại Giáo Chủ Balan là Đức Hồng Y Stefan Wyszynski mà trong những ngày này cử hành 25 năm kỷ niệm biến cố ấy.
Thiên Chúa đă liên kết hai con người này lại với nhau chẳng những bằng cùng một đức tin, đức cậy và đức mến, mà c̣n bằng cùng những thăng trầm về nhân loại giống nhau nữa, những thăng trầm thắt kết mỗi người trong họ rất mănh liệt với lịch sử của nhân dân này cũng như với lịch sử của một Giáo Hội ở giữa thành phần dân ấy. Vào đầu Giáo Triều của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viết cho Đức Hồng Y Wyszynski như thế này: ‘Vị Giáo Hoàng Balan này hôm nay đây sẽ không ngồi trên Ngai Ṭa Thánh Phêrô, mở màn cho một tân Giáo Triều với đầy ḷng kính sợ Thiên Chúa song cũng đầy ḷng tin tưởng, nếu không có đức tin của ngài, một đức tin không chịu khuất phục trước cảnh tù ngục và khổ đau, không có đức cậy anh hùng của ngài, việc ngài tin tưởng cho đến cùng nơi Người Mẹ Giáo Hội; nếu không có Jasna Góra cùng tất cả giai đoạn lịch sử này của Giáo Hội ở quê hương chúng ta liên quan tới việc ngài phục vụ với tư cách là một vị Giám Mục và là Giáo Chủ’ (Letter of Pope John Paul II to the Polish People, 23 October 1978). Hôm nay đây làm sao chúng ta không tạ ơn Thiên Chúa về tất cả những ǵ đă được hoàn thành nơi xứ sở của anh chị em cũng như trên toàn thế giới trong Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II chứ? Trước mắt của chúng ta là những thay đổi đă xẩy ra nơi toàn thể guồng máy chính trị, kinh tế và xă hội. Dân chúng ở các quốc gia khác nhau đă phục hồi lại được tự do và cảm quan về phẩm giá. ‘Chúng ta chớ há quên các việc kỳ công của Thiên Chúa’ (x Ps 78:7). Tôi cám ơn cả việc hiện diện của anh chị em cùng việc cầu nguyện của anh chị em nữa. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Giáo Chủ về những lời lẽ ngài đă ngỏ cùng tôi. Tôi xin chào tất cả các vị Giám Mục đang hiện diện nơi đây. Tôi hân hạnh thấy Tổng Thống và các vị Thẩm Quyền quốc gia và địa phương đă đến đây. Tôi ấp ủ trong ḷng ḿnh tất cả nhân dân Balan cả ở quốc nội cũng như hải ngoại.
‘Hăy đứng vững trong đức tin của anh chị em’! Chúng ta vừa nghe những lời của Chúa Giêsu: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các giới huấn của Thày. Và Thày sẽ cầu xin cùng Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để măi ở với các con, đó là Thần Chân Lư’ (Jn 14:15-17a). Với những lời ấy, Chúa Giêsu mạc khải mối liên hệ sâu xa giữa đức tin và việc tuyên xưng Chân Lư Thần Linh, giữa đức tin và việc dấn thân cho Chúa Giêsu trong yêu thương, giữa đức tin với việc thực hành một đời sống được tác động bởi những huấn giới. Tất cả 3 chiều kích đức tin là hoa trái của tác động Thánh Linh. Tác động này được bộc phát như một quyền lực nội tại làm ḥa hợp tâm can của thành phần môn đệ với Con Tim của Chúa Kitô và làm cho họ có thể yêu thương như Người đă yêu thương họ. Bởi vậy mà đức tin là một tặng ân, đồng thời cũng là một công tác.
‘Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác – là Thần Chân Lư’. Đức tin, một kiến thức và là việc tuyên xưng chân lư về Thiên Chúa và về con người, ‘được xuất phát từ những ǵ đă nghe, và những ǵ nghe thấy được xuất phát từ việc rao giảng về Chúa Kitô’ (Rm 10:17). Qua gịng lịch sử của Giáo Hội, các Vị Tông Đồ đă rao giảng lời của Chúa Kitô, cẩn thận truyền đạt lời của Người một cách nguyên tuyền cho những ai thừa kế các ngài, rồi những vị thừa kế này lại có phận sự truyền đạt lời Người cho các thế hệ sau đó cho tới thời của chúng ta đây. Nhiều nhà truyền giảng Phúc Âm đă phải bỏ mạng sống ḿnh một cách đặc biệt v́ trung thành với sự thật của lời Chúa Kitô. Và v́ thế mà việc quan tâm tới chân lư đă làm phát sinh ra Truyền Thống của Giáo Hội. Như trong các thế kỷ trước đă xẩy ra thế nào, ngày nay cũng thế, dân chúng và các phái nhóm cũng đang làm lu mờ đi cái Truyền Thống của nhiều thế kỷ này, khi họ t́m cách làm sai lệnh đi Lời của Chúa Kitô và loại bỏ khỏi Phúc Âm các chân lư mà theo họ khiến cho con người tân tiến quá nhức nhối khó chịu. Họ cố gắng gây ấn tượng là hết mọi sự đều là những ǵ tương đối thôi: cho dù đó là các chân lư của đức tin cũng phải lệ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và vào việc thẩm định của loài người. Tuy nhiên, Giáo Hội không thể bịt miệng Thần Chân Lư. Thành phần Thừa Kế Chư Tông Đồ, cùng với Vị Giáo Hoàng, đều có trách nhiệm với sự thật của Phúc Âm, và tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi để thông phần vào trách nhiệm này, bằng việc chấp nhận những ấn định theo thẩm quyền của các vị. Mọi Kitô hữu buộc phải liên tục đối chiếu các niềm xác tín riêng tư của ḿnh với những giáo huấn của Phúc Âm cũng như Truyền Thống của Giáo Hội để nỗ lực tiếp tục trung thành với lời Chúa Kitô, cho dù lời của Người có gắt gao đ̣i hỏi, và có khó hiểu về phương diện con người trần gian chăng nữa. Chúng ta không được chiều theo khuynh hướng của tương đối chủ nghĩa hay của một thứ chủ quan và của việc dẫn giải Thánh Kinh tùy nghi. Chỉ có chân lư toàn vẹn mới hướng chúng ta về việc gắn bó với Chúa Kitô là Đấng đă chết và sống lại v́ phần rỗi của chúng ta mà thôi.
Chúa Kitô nói: ‘Nếu các con yêu mến Thày…’. Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lư trừu tượng liên quan tới những mầu nhiệm về Thiên Chúa, về con người, về sự sống và về sự chết, về các thực tại tương lai. Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô, một liên hệ được xuất phát từ ḷng mến yêu Đấng đă yêu thương chúng ta trước (x 1Jn 4:11), thậm chí cho đến chỗ hoàn toàn hiến trọn bản thân ḿnh. ‘Thiên Chúa chứng tỏ t́nh Ngài yêu thương chúng ta ở chỗ trong khi chúng ta c̣n là những tội nhân th́ Chúa Kitô đă chết v́ chúng ta’ (Rm 5:8). C̣n đáp ứng nào chúng ta có thể tỏ ra cho một t́nh yêu thật cao cả như thế nếu không phải là đáp ứng của một con tim cởi mở và tỏ ra sẵn sàng yêu thương hay sao? Thế nhưng, việc yêu mến Chúa Kitô đây nghĩa là ǵ? Nghĩa là tỏ ra tin tưởng nơi Người cho dù trong những con thử thách, trung thành theo Người cho dù trên Đường Thập Giá Via Crucis, hy vọng rằng chẳng bao lâu sẽ xuất hiện b́nh minh Phục Sinh. Khi kư thác bản thân ḿnh cho Chúa Kitô, chúng ta chẳng mất mất một sự ǵ hết, trái lại, chúng ta c̣n chiếm được mọi sự. Nơi bàn tay của Người cuộc sống của chúng ta đạt được ư nghĩa thực sự của nó. T́nh yêu giành cho Chúa Kitô là ở chỗ tỏ ra ḥa hợp đời sống của ḿnh với những tư tưởng và cảm thức của Trái Tim Người. Điều này được đạt tới bằng mối hiệp nhất nội tâm nhờ ân sủng của các Bí Tích, được củng cố bằng việc liên lỉ nguyện cầu, chúc tụng, tạ ơn và thống hối. Chúng ta cần phải chuyên chú lắng nghe những tác động Người gợi lên qua Lời của Người, qua thành phần chúng ta gặp gỡ, qua những hoàn cảnh của cuộc sống thường nhật của ḿnh. Yêu mến Người là tiếp tục đối thoại trao đổi với Người, để biết được ư Người muốn và thực hiện ư muốn ấy một cách mau chóng hiệu nghiệm.
Tuy nhiên, việc sống niềm tin tưởng riêng tư như mối liên hệ yêu thương với Chúa Kitô như thế cũng c̣n có nghĩa là sẵn sàng từ bỏ tất cả những ǵ gây ra việc chối từ t́nh yêu của Người nữa. Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu đă nói với các Tông Đồ rằng: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các huấn lệnh của Thày’. Thế nhưng, các huấn lệnh của Chúa Kitô đây là ǵ? Khi Chúa Giêsu giảng dạy đoàn lũ quần chúng Người vẫn không quên xác nhận lề luật được Đấng Hóa Công in ấn vào ḷng con người và phác họa trên các tấm Thập Điều. ‘Đừng nghĩ rằng Thày đến để hủy bỏ lề luật và các tiên tri; Thày đến không phải để hủy bỏ những điều ấy mà là làm cho chúng được nên trọn. Thật vậy, Thày nói cho các con hay, cho đến khi trời đất qua đi th́ một chấm một phết cũng sẽ không qua đi nơi lề luật cho tới khi mọi sự được hoàn thành’ (Mt 5:17-18). Thế nhưng, Chúa Giêsu đă tỏ ra cho chúng ta thấy một cách sáng tỏ hơn cái tâm điểm chính yếu của lề luật thần linh được ban bố ở Núi Sinai, đó là t́nh yêu Thiên Chúa và t́nh ḷng thương tha nhân: ‘Việc kính mến Thiên Chúa hết ḷng, hết trí khôn và hết sức, cùng mến thương tha nhân như bản thân ḿnh, là những ǵ quí hóa hơn tất cả mọi của lễ hiến dâng và hy tế’ (Mk 12:33). Thật vậy, nơi đời sống của ḿnh cũng như nơi Mầu Nhiệm Vượt Qua của ḿnh, Chúa Giêsu đă làm hoàn thành tất cả lề luật. Liên kết ḿnh với chúng ta bằng tặng ân Thánh Linh, Người gánh vác với chúng ta và trong chúng ta ‘cái ách’ của lề luật là những ǵ trở thành ‘gánh nhẹ nhàng’ (Mt 11:30). Theo tinh thần này, Chúa Giêsu đă h́nh thành bản liệt kê về các phẩm tính nội tâm của những ai t́m cách sống niềm tin của ḿnh một cách sâu xa, đó là phúc cho thành phần nghèo khó trong tinh thần, những ai khóc lóc, những ai hiền lành, những ai đói khát công chính, những ai xót thương, những ai có tấm ḷng tinh khiết, những ai xây dựng ḥa b́nh, những ai bị bắt bớ v́ lẽ công chính… (x Mt 5:3-12).
Anh chị em thân mến, niềm tin như là việc gắn bó với Chúa Kitô được tỏ hiện như t́nh yêu thúc đẩy chúng ta cổ vơ sự thiện được Đấng Hóa Công in ấn nơi bản tính của mọi con người nam nữ chúng ta, nơi nhân cách của hết mọi con người khác cũng như nơi hết mọi sự hiện hữu trên thế giới này. Bất cứ ai tin tưởng và yêu như thế đều trở thành một nhà xây dựng ‘nền văn minh yêu thương’ đích thực, một nền văn minh có Chúa Kitô là tâm điểm. Hai mươi bảy năm trước đây, ở địa điểm này đây, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói: ‘Ngày nay Balan đă trở nên một mảnh đất của một thứ chứng từ đặc biệt hữu trách’ (Warsaw, 2/6/1979). Giờ đây tôi xin anh chị em hăy vun xới gia sản đức tin phong phú này là những ǵ đă được truyền đạt cho anh chị em bởi các thế hệ trước đây, cái gia sản về tư tưởng và việc phục vụ của một đại nhân Balan là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hăy đứng vững trong đức tin, hăy truyền đạt đức tin ấy cho con cái của anh chị em, hăy làm chứng cho ân sủng anh chị em đă cảm nghiệm hết sức dồi dào nhờ Thánh Linh qua gịng lịch sử. Chớ ǵ Mẹ Maria, Nữ Vương Balan, tỏ cho anh chị em thấy đường dẫn đến với Con của Mẹ, và chớ ǵ Mẹ đồng hành với anh chị em trong cuộc hành tŕnh của anh chị em tiến tới một tương lai hạnh phúc đầy an b́nh. Chớ ǵ ḷng trí anh chị em không bao giờ thiếu thốn t́nh yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Linh Mục là Mục Tử phục vụ Đàn Chiên Chúa: Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô
Bài Giảng của Giáo Hoàng Biển Đức XVI Trong Thánh Lễ Truyền Chức Thánh cho 15 Tân Linh Mục Ở Đền Thờ Thánh Phêrô ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành 7/5/2006
Anh Chị Em thân mến,
Quí Thụ Phong Viên thân mến,
Vào giây phút này đây, quí bạn thân mến, lúc mà quí bạn, qua Bí Tích Truyền Chức Thánh, đang được dẫn tới chỗ trở thành mục tử để phục vụ Vị Đại Mục Tử là Chúa Giêsu Kitô, th́ chính Người là Đấng, qua bài Phúc Âm, đă nói về việc phục vụ đàn chiên của Thiên Chúa.
Bí Tích Truyền Chức Thánh Tháp Nhập Vị Linh Mục Vào Chúa Kitô
H́nh ảnh về người mục tử được xuất phát từ thời xa xưa. Ở Đông Phương cổ thời, các vị vua chúa cho ḿnh là những người mục tử dẫn dắt dân chúng của họ. Moisen và Đavít trong Cựu Ước, trước khi được kêu gọi trở thành những người lănh đạo và mục tử của Dân Chúa, thật sự đă là những kẻ chăn chiên.
Trong cuộc thống khổ của giai đoạn Lưu Đầy, chạm trán với t́nh trạng thất bại của thành phần mục tử của dân Yến Duyên, tức là với thành phần lănh đạo về chính trị và tôn giáo của dân tộc này, tiên tri Êxêkiên đă phác tả h́nh ảnh về chính Thiên Chúa như là Vị Mục Tử của dân Ngài. Qua vị tiên tri này, Thiên Chúa đă phán: ‘Như mục tử t́m kiếm đàn vật của ḿnh thế nào… Ta cũng sẽ t́m kiếm chiên của ta như vậy; và Ta sẽ giải cứu chúng ở tất cả mọi nơi chúng bị phân tán đi trong ngày mây mù dày đặc tăm tối’ (34:12).
Bởi vậy mà Chúa Giêsu đă công bố rằng thời điểm ấy đă tới, ở chỗ, chính Người là Vị Mục Tử Nhân Lành, qua Người, chính Thiên Chúa tỏ ra chăm sóc cho con người là tạo vật của Ngài, khi qui tụ nhân loại và dẫn họ tới đồng cỏ thực sự. Thánh Phêrô, vị được Chúa Kitô Phục Sinh trao cho việc chăn dắt chiên của Người, trở thành một vị mục tử với Người và cho Người, đă diễn tả Chúa Giêsu như là ‘Vị Mục Tử Chính – archipoimen’ (x 1Pt 5:4), và qua đó ngài có ư nói rằng chỉ nhờ Người và hết sức hiệp thông với Người mới có thể trở thành một vị mục tử chăn dắt đàn chiên của Chúa Giêsu Kitô mà thôi.
Bí Tích Truyền Chức Thánh cho thấy chính vấn đề này, ở chỗ, qua Bí Tích ấy, vị linh mục hoàn toàn được tháp nhập vào Chúa Kitô, nhờ đó, bằng việc bắt đầu từ Người và tác hành trước nhan Người, vị linh mục mới có thể hiệp thông với Người để thi hành việc phục vụ của Chúa Giêsu là Vị Mục Tử duy nhất, Đấng mà nơi Người, Vị Thiên Chúa làm người muốn trở thành Mục Tử của chúng ta.
Bài Phúc Âm chúng ta đă nghe Chúa Nhật này chỉ là một phần trong bài giảng dài Chúa Giêsu nói về các vị mục tử. Trong đoạn Phúc Âm ấy, Chúa Kitô đă nói với chúng ta 3 điều về vị mục tử chân thực, đó là việc Người hiến mạng sống ḿnh v́ chiên; việc Người biết chiên và chiên biết Người; và việc Người thực hiện mối hiệp nhất.
Lănh Nhận Bí Tích Truyền Chức Thánh Là Hiến Thân Phục Vụ và Theo Đuổi Chúa Kitô
Trước khi suy niệm về ba đặc tính thiết yếu này đối với các vị mục tử, cần phải nhắc lại vắn gọn phần trước của bài giảng về thành phần mục tử, phần được Chúa Giêsu, trước khi xưng ḿnh là Mục Tử, phán những lời khiến chúng ta cảm thấy sửng sốt: ‘Tôi là cửa chuồng chiên’ (Jn 10:7).
Chính qua Người mà người ta cần phải thực hiện việc phục vụ của vị chủ chiên. Chúa Giêsu đă nhấn mạnh rất rơ ràng điều kiện căn bản này khi phán: ‘ai… trèo qua ngơ khác mà vào là kẻ trộm cướp’ (Jn 10:1). Chữ ‘trèo’ – theo tiếng Hy Lạp là anabainei – làm hiện lên h́nh ảnh của một người trèo qua hàng rào để vào một nơi nào đó không thuộc lănh giới của họ.
‘Trèo’ – ở đây chúng ta c̣n có thể thấy được h́nh ảnh của thái độ tham quyền cố vị, của nỗ lực muốn ‘qua mặt’, muốn nhờ Giáo Hội để chiếm được một thế đứng, ở chỗ lợi dụng hơn là phục vụ. Đó là h́nh ảnh của một con người muốn làm cho ḿnh trở thành quan trọng hóa, muốn trở thành một con người đáng kể qua chức linh mục; h́nh ảnh của một kẻ có ư muốn tự tôn ḿnh lên thay v́ khiêm tốn phục vụ Chúa Giêsu Kitô.
Thế nhưng, chỉ có một cách hợp lệ để tiến tới thừa tác vụ của vị mục tử đó là Thập Tự Giá. Đó là con đường chân thực để vươn lên; đó là cửa ngơ thực sự để tiến vào. Nó không phải là ước muốn thấy ḿnh được trở thành ‘một nhân vật’ mà là muốn hiện hữu cho người khác, cho Chúa Kitô, nhờ đó, qua Người và với Người, trở nên thuận lợi cho thành phần được Người t́m kiếm, thành phần Người muốn dẫn dắt bước đi trên con đường sự sống.
Việc con người qua Bí Tích Truyền Chức Thánh tiến vào thiên chức linh mục mang một ư nghĩa chính yếu đó là, nhờ việc tôi trao tặng bản thân ḿnh cho Chúa Kitô, Người có thể sử dụng tôi; và tôi có thể phụng sự Người cùng theo đuổi ơn gọi của Người, cho dù ơn gọi ấy có trái với ước muốn của tôi trong việc tôi muốn ḿnh được thành toàn và được trọng vọng.
Việc tiến qua cửa là Chúa Kitô mà vào nghĩa là việc nhận biết và yêu mến Người hơn nữa, nhờ đó ư muốn của chúng ta liên kết với ư muốn của Người, hành động của chúng ta nên một với hành động của Người.
Quí bạn thân mến, chúng ta hăy hằng nguyện cầu cho ư hướng ấy, chúng ta hăy thực sự nỗ lực cho vấn đề này, tức là cho việc Chúa Kitô lớn lên trong chúng ta cũng như cho việc chúng ta hiệp nhất nên một với Người càng ngày càng sâu xa đậm đà hơn, nhờ đó, chính Chúa Kitô là Đấng chăn dắt đàn chiên của Người qua chúng ta.
Thánh Thể Thực Sự Là Tâm Điểm Và Là Học Đường Của Đời Sống Linh Mục
Giờ đây chúng ta hăy nh́n kỹ hơn vào ba điều Chúa Giêsu khẳng định một cách chính yếu về thành phần mục tử nhân lành. Điều thứ nhất, điều đă thấm đậm toàn bài giảng về thành phần mục tử, đó là vị mục tử này hiến mạng sống ḿnh v́ chiên. Mầu nhiệm Thập Giá là tâm điểm của việc Chúa Giêsu phục vụ với tư cách là vị mục tử: nó là một việc đại phục vụ được Người trao cho tất cả chúng ta.
Người đă ban chính ḿnh Người, không phải chỉ trong một quá văng xa xôi. Người đang làm như thế hằng ngày nơi Thánh Thể, Người ban ḿnh qua bàn tay của chúng ta, Người ban chính bản thân Người cho chúng ta. V́ lư do chính đáng ấy mà Thánh Thể, nơi hằng liên tục tiếp diễn hiến tế của Chúa Giêsu trên Thập Tự Giá, nơi hiến tế của Người thực sự hiện diện giữa chúng ta, quả thực là tâm điểm của đời sống linh mục.
Nếu Thánh Thể là khởi điểm của chúng ta như thế, chúng ta cũng sẽ biết thế nào là việc cử hành Thánh Thể một cách xứng hợp: nó là cuộc hội ngộ với Chúa Kitô, Đấng đă tước lột vinh quang thần linh của ḿnh v́ chúng ta, đă hạ ḿnh xuống một cách nhục nhă tới độ chết trên Thập Giá để ban ḿnh cho mỗi một người chúng ta.
Thánh Thể là những ǵ rất ư là hệ trọng hằng ngày đối với vị linh mục. Nơi Thánh Thể, ngài liên kết bản thân ḿnh một cách mới mẻ với mầu nhiệm này; ngài phó ḿnh trong tay Thiên Chúa một cách mới mẻ, đồng thời ngài cũng cảm nghiệm thấy được niềm vui rằng Người đang hiện diện, Người chấp nhận tôi, thăng hóa và đỡ nâng tôi một cách mới mẻ, trao cho tôi bàn tay của Người, ban cho tôi chính ḿnh Người. Thánh Thể phải trở nên cho chúng ta một học đường của cuộc sống là nơi chúng ta học biết cống hiến cuộc đời ḿnh.
Sự sống không phải chỉ được cống hiến ở vào lúc lâm chung và không phải chỉ bằng cách tử đạo. Chúng ta cần phải trao tặng nó đi hằng ngày. Hằng ngày tôi cần phải biết rằng tôi không sở hữu sự sống của ḿnh cho bản thân tôi. Ngày ngày tôi cần phải biết loại bỏ bản thân ḿnh đi; biến ḿnh thành thuận lợi cho tất cả những ǵ mà Người, Chúa Kitô, cần đến tôi ở một lúc nào đó, cho dù những vấn đề khác có vẻ lôi cuốn hơn và quan trọng hơn đối với tôi, tức vấn đề là tôi hiến ban sự sống chứ không phải chiếm lấy sự sống.
Có thế chúng ta mới cảm nghiệm được tự do, một tự do nơi bản thân chúng ta, nơi cái rộng lớn của hữu thể. Có thế, có trở thành hữu dụng, trở thành một con người thế giới cần đến, mà đời sống của chúng ta mới trở thành quan trọng và diễm lệ. Chỉ có những ai biết từ bỏ sự sống của ḿnh đi mới lại t́m thấy được nó mà thôi.
Vị Linh Mục Sống Thân T́nh Với Chúa Kitô Mới Biết Được Chiên và Mới Được Chiên Biết Đến
Điều thứ hai Chúa Kitô nói với chúng ta đó là ‘Tôi biết chiên Tôi và chiên Tôi biết Tôi, như Cha Tôi biết Tôi và Tôi biết Cha Tôi’ (Jn 10:14-15).
Ở đây, hai mối liên hệ hoàn toàn khác nhau theo h́nh thức được đan kết với nhau nơi câu nói này, đó là mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha và mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với thành phần được ủy thác cho Người. Tuy nhiên, cả hai mối liên hệ ấy có tương quan với nhau, v́ cuối cùng chúng cũng đưa đến việc con người thuộc về Chúa Cha và việc họ t́m kiếm Đấng Hóa Công, t́m kiếm Thiên Chúa.
Khi các mối liên hệ ấy thấy rằng có một ai đó đang nhân danh họ mà nói và xuất phát từ bản thân họ mà thôi th́ các mối liên hệ ấy cho rằng họ là những ǵ quá bé nhỏ và không thể trở thành những ǵ được các mối liên hệ ấy đang t́m kiếm; thế nhưng, ở bất cứ nơi nào âm vang tiếng nói của một ai khác trong con người, tiếng của Đấng Hóa Công, của Chúa Cha, th́ cửa ngơ liền được mở ra cho mối liên hệ mà con người đang trông mong.
Như thế th́ cách thức cần phải xẩy ra nơi chúng ta là như thế này. Trước hết, chúng ta cần phải sống liên hệ với Chúa Kitô trong ḷng ḿnh, và nhờ Người, sống liên hệ với Chúa Cha, để rồi cho tới lúc ấy chúng ta mới thực sự hiểu được dân, thâm cung con người chỉ hiện tỏ trong ánh sáng của Thiên Chúa. Bấy giờ những ai lắng nghe chúng ta mới nhận thấy rằng chúng ta không nói về bản thân ḿnh hay về một điều ǵ đó mà là về Vị Mục Tử chân thực.
Tất nhiên là những lời Chúa Giêsu dạy cũng chứa đựng tất cả công việc mục vụ cụ thể nữa, việc chăm sóc cho con người nam nữ, việc lên đường t́m kiếm họ, việc đáp ứng những nhu cầu và vấn nạn của họ.
Quả thực là việc hiểu biết một cách thực tiễn và cụ thể về con người được kư thác cho tôi là những ǵ nồng cốt thiết yếu, và quả thực là cần phải nắm được cách thức ‘hiểu biết’ kẻ khác này theo ư nghĩa của Thánh Kinh, đó là không có vấn đề hiểu biết thực sự nếu thiếu vắng t́nh yêu thương, nếu không có một mối liên hệ nội tại và nếu thiếu vắng việc sâu xa chấp nhận nhau.
Vị mục tử không thể măn nguyện với việc biết được tên tuổi và ngày tháng. Cách thức ngài biết chiên của ngài bao giờ cũng phải là việc biết bằng cơi ḷng.
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể thực hiện được điều này một cách xứng hợp nếu Chúa Kitô mở ḷng của chúng ta ra; nếu việc biết của chúng ta không ràng buộc người ta vào cái tôi nhỏ bé riêng tư của chúng ta, vào con tim nhỏ bé của chúng ta, mà là làm cho họ ư thức được Trái Tim của Chúa Giêsu, Trái Tim của Chúa Kitô. Nó cần phải là việc biết bằng Con Tim của Chúa Giêsu, việc biết hướng về Người, một cách thức biết không ràng buộc con người lại với tôi mà là dẫn họ đến với Chúa Giêsu, nhờ đó, làm cho con người được tự do thanh thoát. Có thế, cả chúng ta nữa mới sống gần gũi với thành phần con người nam nữ.
Chúng ta hăy luôn nguyện cầu một cách mới mẻ cùng Chúa Kitô để chúng ta được Người ban cho chúng ta thực hiện cách biết bằng Trái Tim Chúa Giêsu, cách biết không ràng buộc với tôi mà là gắn bó với Trái Tim Chúa Giêsu, để nhờ đó chúng ta kiến tạo nên một cộng đồng thực sự.
Vị Linh Mục Là Mục Tử Các Tâm Hồn Trước Hết Cần Phải Quan Tâm Tới Thành Phần Tín Hữu
Sau hết, Chúa Kitô nói với chúng ta về việc phục vụ cho mối hiệp nhất là việc được kư thác cho vị mục tử: ‘Tôi c̣n những chiên khác chưa thuộc về đàn này; Tôi cần phải mang chúng về nữa, và chúng sẽ nghe thấy tiếng của Tôi. Nhờ đó sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên’ (Jn 10:16).
Thánh Gioan đă lập lại điều này sau khi Hội Đồng Do Thái quyết định sát hại Chúa Giêsu, lúc mà Caipha nói rằng tốt hơn cho dân chúng nếu một người chết cho họ thay v́ toàn dân bị tiêu diệt. Thánh Gioan nh́n nhận những lời của Caipha ấy là những lời tiên tri, khi thánh nhân chú thích thêm rằng: ‘Chúa Giêsu cần phải chết đi cho dân nước này, và không phải chỉ cho dân nước này mà c̣n để qui tụ lại làm một thành phần con cái của Thiên Chúa đă bị phân tán khắp nơi‘ (11:52).
Sự liên hệ giữa Thập Giá và mối hiệp nhất được tỏ hiện ở chỗ Thập Giá là cái giá phải trả cho mối hiệp nhất. Thế nhưng, chính nó trước hết lại là chân trời hoàn vũ hiện lên nơi hành động của Chúa Giêsu.
Nếu, trong lời tiên tri của ḿnh về vị mục tử, Ngôn Sứ Êzêkiên đă cố ư nói tới việc phục hồi mối hiệp nhất nơi các chi tộc Yến Duyên bị phân tán (x 34:22-24), th́ ở đây vấn đề chẳng những liên quan tới việc thống nhất một dân Yến Duyên bị phân tán mà c̣n liên quan tới việc thống nhất tất cả mọi con cái Thiên Chúa, thống nhất loài người, tức thống nhất một Giáo Hội bao gồm cả người Do Thái lẫn chư