(cho tới Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX 16-21/8/2005)
Cùng Tổng Thống Ư về vấn đế “Văn Hóa Ư Thấm Đẫm Các Giá Trị Kitô Giáo”
Với Hội Đồng Giám Mục Zimbabwe về việc “Làm Chứng Cho Niềm Hy Vọng của Phúc Âm”
Đời Sống Hôn Nhân Gia Đ́nh theo Nhân Loại Học Kitô Giáo
Với Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Việc Tham Vấn Liên Tôn
Huấn Từ ngày Thứ Ba 31/5 ở Vườn Vatican Kết Thúc Tháng Hoa 2005
Về Cuốn Phim “Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng”
Với vị tân lănh sự Macedonia về Một Âu Châu đại kết.
Với hàng giáo sĩ Rôma: Bài Huấn Từ và những Lời Tự Phát
Giảng về Ư Nghĩa và Vai Tṛ của Ngai Ṭa Phêrô Liên quan đến chứng từ Chúa Kitô Phục Sinh và vai tṛ của Chúa Thánh Thần
Bài Giảng tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành về tinh thần và sứ vụ truyền giáo
Diễn Từ với phái đoàn Đại Kết và Liên Tôn Thứ Hai 25/4/2005
“Cả h́nh ảnh về người mục tử và người đánh cá đều làm phát ra tỏ tường tiếng mời gọi hiệp nhất ”
Tôi chỉ muốn phụng sự một ḿnh Người khi tôi hoàn toàn dấn thân phục vụ Giáo Hội của Người.
“Chúng ta hăy sống thừa tác vụ của chúng ta như tặng ân Chúa Kitô ban cho con người!”
“Hỡi Đức Thánh Cha, xin hăy ban phép lành cho chúng tôi từ cửa sổ pḥng của ngài”
ĐTC Biển Đức XVI, vào ngày Lễ Trọng Kính Mẹ Maria về trời cả hồn lẫn xác, đă cử hành Thánh Lễ tại nhà thờ giáo xứ ở Castel Gandolfo, và sau đây là nguyên văn bài giảng của ngài.
Chư Huynh trong hàng Giáo Phẩm và trong hàng Linh Mục thân mến,
Anh Chị Em thân mến,
Trước hết, tôi xin thân ái chào tất cả anh chị em. Tôi hết sức hân hoan cử hành Thánh Lễ tạo ngôi nhà thờ giáo xứ mỹ miều này nhân dịp Lễ Mẹ Mông Triệu.
Tôi xin chào ĐHY Sodano, đức giám mục giáo phận Albano, tất cả mọi vị linh mục, ông thị trưởng và tất cả anh chị em. Cám ơn anh chị em đă hiện diện nơi đây.
Lễ Mẹ Mông Triệu là một ngay vui. Thiên Chúa đă chiến thắng. T́nh yêu đă chiến thắng. T́nh yêu đă chiếm được sự sống. T́nh yêu đă cho thấy là nó mạnh hơn sự chết, là Thiên Chúa mới có sức mạnh thực sự và sức mạnh của Ngài là sự thiện hảo và yêu thương.
Mẹ Maria đă được đưa về trời cả hồn lẫn xác: nơi Thiên Chúa thậm chí có cả chỗ cho thân xác. Trời không c̣n là nơi rất xa vời không thể biết được đối với chúng ta nữa.
Chúng ta có một Người Mẹ ở trên trời. Và Người Mẹ Thiên Chúa này, Người Mẹ của Con Thiên Chúa này, là Người Mẹ của chúng ta. Chính Người đă nói thế. Người đă làm cho Mẹ thành Mẹ của chúng ta khi Người nói cùng người môn đệ cũng như cùng tất cả chúng ta rằng: “Này là Mẹ Con!”. Chúng ta có một Người Mẹ ở trên trời. Trời mở ra, trời có một trái tim.
Trong Phúc Âm, chúng ta đă nghe bài ca vịnh Ngợi Khen Magnificat, một bài thơ cao cả được Thánh Thần linh ứng phát xuất từ môi miệng của Mẹ Maria, thật sự là từ tâm can của Mẹ Maria. Bài ca vịnh tuyệt vời này phản ảnh toàn thể linh hồn, toàn thể con người của Mẹ Maria. Chúng ta có thể nói rằng bài thánh ca này của Mẹ là chân dung của Đức Maria, là h́nh ảnh thực sự nhờ đó chúng ta có thể thấy Mẹ một cách xác đáng. Tôi xin nhấn mạnh đến hai điểm trong bài đại ca vịnh này.
Bài ca vịnh này được bắt đầu bằng chữ “Magnificat – Ngợi Khen”: Linh hồn tôi “magnifies – ngợi khen” Chúa, tức là “tuyên xưng sự cao cả “ của Chúa. Mẹ Maria muốn Thiên Chúa cao cả trên trế giới này, cao cả trong đời sống của Mẹ và hiện diện giữa tất cả chúng ta. Mẹ không sợ là Thiên Chúa có thể là “một đối thủ” trong đời sống của chúng ta, là với sự cao cả của ḿnh Ngài xâm lấn tự do của chúng ta, xâm lấn cái khoảng đời để sống động của chúng ta. Mẹ biết rằng Thiên Chúa cao cả, chúng ta cũng cao cả nữa.
Đời sống của chúng ta không bị đàn áp mà được nâng cao và vươn rộng: Chính v́ thế mà nó trở thành cao cả trước ánh vinh quang của Thiên Chúa.
Sự kiện những vị cha mẹ đầu tiên của chúng ta đă có những ư nghĩ phản nghịch lại như thế là cốt lơi của nguyên tội. Họ sợ rằng nếu Thiên Chúa quá ư là cao cả th́ họ sẽ bị lấy đi một cái ǵ đó nơi đời sống của họ. Họ nghĩ rằng họ có thể gạt Thiên Chúa ra ngoài để lấy chỗ cho họ.
Đây cũng là một chước cám dỗ cả thể của thời tân tiến, của ba hay bốn thế kỷ qua. Càng ngày càng nhiều người nghĩ và nói rằng: “Thế nhưng vị Thiên Chúa này không ban cho chúng ta được tự do; bằng tất cả những mệnh lệnh của ḿnh, Ngài đă hạn chế cái khoảng đời để sống của chúng ta. Bởi thế mà Thiên Chúa cần phải biến khuất đi; chúng tôi muốn tự động và tự lập. Không có vị Thiên Chúa này chính chúng tôi mới là các vị thần linh và làm những ǵ chúng tôi muốn”.
Đó cũng là quan điểm của Người Con Hoang Đàng, người con không nhận ra rằng hắn được “tự do” chính là v́ hắn được ở trong nhà cha của hắn. Hắn ra đi đến những miền đất xa xôi để phung phí gia tài của ḿnh. Cuối cùng, hắn nhận ra rằng chính v́ hắn ra đi quá xa với nhà cha của hắn mà thay v́ được tự do hắn lại trở thành nô lệ; hắn đă hiểu rằng chỉ nhờ trở về nhà cha của ḿnh hắn mới thực sự có tự do, sống một cuộc đời hoàn toàn tốt đẹp thôi.
Đó là những ǵ đang xẩy ra cho thời đại tân tiến của chúng ta đây. Trước đây, nó nghĩ và tin rằng, bằng việc loại trừ Thiên Chúa ra ŕa và trở nên tự động, chỉ sống theo những ư nghĩ riêng tư và bản năng của chúng ta, chúng ta mới thực sự được tự do làm những ǵ chúng ta muốn mà không ai có thể truyền khiến chúng ta cả.
Thế nhưng, khi Thiên Chúa biến khuất, con người nam nữ không trở nên cao cả hơn; thật vậy, họ đă mất đi phẩm vị thần linh của ḿnh; khuôn mặt của họ đă mất đi vinh quang của Thiên Chúa. Cuối cùng họ trở thành những sản vật thuần túy của một cuộc cách mạng mù quáng, và như thế, họ có thể được sử dụng và bị lạm dụng. Đó chính là những ǵ kinh nghiệm của thời đại chúng ta đă cho chúng ta thấy rơ như vậy.
Nếu chỉ có Thiên Chúa là cao cả th́ nhân loại cũng cao cả nữa. Với Mẹ Maria, chúng ta phải bắt đầu hiểu rằng vấn đề là như thế. Chúng ta không được ĺa xa Thiên Chúa nhưng hăy làm cho Thiên Chúa hiện diện; chúng ta phải bảo đảm là Ngài là Đấng cao cả trong đời sống của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta mới có thể trở thành thần linh; tất cả mọi vinh hiển của phẩm vị thần linh bấy giờ mới là của chúng ta. Chúng ta hăy áp dụng điều này vào đời sống riêng của chúng ta.
Vấn đề cần thiết là Thiên Chúa phải là Đấng cao cả giữa chúng ta, trong đời sống chung riêng.
Trong đời sống công cộng, Thiên Chúa cần phải hiện diện, chẳng hạn, ở các dinh thự công, và Ngài cần phải hiện diện trong đời sống cộng đồng, v́ nếu có Thiên Chúa hiện diện, chúng ta mới có đường hướng, một đường hướng chung; bằng không, không thể nào ổn định những cuộc tranh chấp, v́ phẩm vị chung của chúng ta không c̣n được nh́n nhận nữa.
Chúng ta hăy làm cho Thiên Chúa cao cả trong đời sống chung riêng. Có nghĩa là giành chỗ cho Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta hằng ngày, bắt đầu bằng việc nguyện cầu ban sáng, rồi dâng lên Thiên Chúa thời gian, dâng lên cho Chúa các Ngày Chúa Nhật. Chúng ta không phí phạm thời giờ tự do của ḿnh nếu chúng ta dâng nó cho Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa đi vào thời gian của chúng ta th́ mọi lúc đều trở thành cao cả, rộng chỗ hơn, dồi dào hơn.
Nhận định thứ hai đó là bài thi ca của Mẹ Maria – bài Ngợi Khen – hoàn toàn là của Mẹ; song đồng thời nó cũng là một “tấm vải” được thêu dệt bằng những “giây sợi” của Cựu Ước, bằng những lời Chúa.
Bởi thế, chúng ta có thể nói rằng Mẹ Maria “quen thuộc” với lời Chúa, Mẹ sống bằng những lời của Chúa, Mẹ thấm thía những lời của Chúa. Cho đến độ Mẹ nói bằng những lời của Chúa, Mẹ nghĩ theo lời Chúa, tư tưởng của Mẹ là những tư tưởng của Chúa, những lời nói của Mẹ là những lời nói của Chúa. Mẹ được ánh sáng thần linh thấm nhập và đó là lư do tại sao Mẹ rất rạng ngời, rất thiện hảo, rất sáng chói yêu thương và thiện hảo.
Mẹ sống bằng Lời Chúa, Mẹ thấm nhập Lời Chúa. Sự kiện Mẹ ch́m ngập trong Lời Chúa và hoàn toàn quen thuộc với Lời Chúa, cũng phú bẩm cho Mẹ sau này cái minh tri khôn ngoan nội tâm.
Ai nghĩ tưởng theo Thiên Chúa là nghĩ tưởng đúng, và ai nói cùng Thiên Chúa là nói hay. Họ có những qui tắc chắc chắn để phán đoán tất cả mọi sự trên thế gian này. Họ trở thành khôn ngoan, thông sáng, đồng thời cũng tốt lành nữa; họ trở nên mạnh mẽ và can đảm với sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng chống lại sự dữ và bảo tŕ sự lành trên trần gian.
Bởi vậy, Mẹ Maria nói cùng chúng ta, nói với chúng ta, mời gọi chúng ta nhận biết Lời Chúa, yêu mến Lời Chúa, sống Lời Chúa, nghĩ bằng Lời Chúa. Và chúng ta có thể làm như vậy bằng nhiều cách thức khác nhau: bằng việc đọc Sách Thánh, bằng việc đặc biệt tham dự phụng vụ là nơi mà suốt năm được Hội Thánh mở tất cả Sách Thánh ra cho chúng ta. Giáo Hội mở Sách Thánh cho đời sống của chúng ta và làm cho Sách Thánh sống động trong đời sống của chúng ta.
Thế nhưng tôi cũng nghĩ đến cả Cuốn Tổng Lược Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo là cuốn mới được chúng tôi ban hành, trong đó, Lời Chúa được áp dụng vào đời sống của chúng ta, và dẫn giải thực tại đời sống của chúng ta; nó giúp chúng ta đi vào “đền thờ” cao cả của Lời Chúa, để học biết yêu mến Lời Chúa, và như Mẹ Maria, được Lời Chúa thấm nhập.
Như thế, đời sống của chúng ta trở nên sáng láng và chúng ta có qui tắc căn bản để phán đoán; đồng thời, chúng ta cũng được thiện hảo và sức mạnh nữa.
Mẹ Maria được mang cả hồn lẫn xác về trời hiển vinh, rồi với Chúa và trong Chúa, Mẹ là Nữ Vương trời đất. Phải chăng Mẹ thực sự xa cách chúng ta?
Ngược lại là đằng khác. Chính v́ Mẹ ở với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa mà Mẹ rất gần với mỗi người chúng ta.
Trong khi Mẹ c̣n sống trên thế gian này, Mẹ chỉ có thể ở gần gũi với ít người. Ở trong Thiên Chúa, Mẹ gần với mỗi người, thực sự là “ở trong” tất cả chúng ta, Mẹ Maria thông phần vào mối gần gũi này của Thiên Chúa. Ở trong Thiên Chúa và ở với Thiên Chúa, Mẹ rất gần với mỗi một người chúng ta, biết được tâm can của chúng ta, có thể nghe lời nguyện cầu của chúng ta, có thể giúp chúng ta bằng sự thiện hảo từ mẫu, và đă được ban cho chúng ta, như Chúa nói, như là một “người mẹ”, vị chúng ta có thể chạy đến lúc nào cũng được.
Mẹ luôn nghe lời chúng ta, Mẹ luôn gần gũi chúng ta, và là Mẹ của Người Con, Mẹ dự phần vào quyền năng của Người Con cũng như vào sự thiện hảo của Người. Chúng ta luôn có thể kư thác tất cả cuộc sống của chúng ta cho Người Mẹ này, vị không xa cách với mỗi một người trong chúng ta.
Vào ngày lễ này, chúng ta hăy tạ ơn Chúa về tặng ân Thánh Mẫu này, và chúng ta hăy cầu cùng Mẹ Maria để giúp chúng ta thấy được con đường ngay thẳng hằng ngày. Amen.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 25/8/2005
ĐTC BĐXVI ngỏ lời cùng Tổng Thống Ư về vấn đế “Văn Hóa Ư Thấm Đẫm Các Giá Trị Kitô Giáo”
Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTC
BĐXVI nói với Tổng Thống Ư Carlo Ciampi nhân dịp chuyến viếng thăm đáp lễ của
ngài ở Dinh Quirinal hôm Thứ Sáu 24/6/2005.
Kính Ông Tổng Thống,
Hôm nay tôi hân hoan đáp lễ cuộc viếng thăm thân t́nh ông đă đóng vai Thủ Lănh Ư Quốc thực hiện đối với tôi vào hôm 3/5/2005 vừa rồi, nhân dịp nhiệm vụ mục tử mới của tôi theo ơn Chúa gọi. Bởi thế, trước hết, tôi xin cám ơn ông và qua ông, cám ơn Nhân Dân Ư quốc về việc nồng hậu tiếp nhận tôi từ ngày đầu tiên khi tôi th́ hành việc mục vụ của ḿnh với tư cách là Giám Mục Rôma và là Mục Tử của Giáo Hội hoàn vũ.
Về phần ḿnh, tôi hứa với công dân Rôma rồi với toàn thể Quốc Dân Ư quốc về việc tôi hết sức dấn thân hoạt động cho phúc hạnh về tôn giáo và dân sự của những ai Chúa đă ủy thác cho việc chăm sóc mục vụ của tôi.
Việc loan truyền Phúc Âm, một việc mà, hiệp thông với các vị Giám Mục Ư quốc, tôi được kêu gọi đến Rôma và Ư quốc, chẳng những giúp cho nhân dân Ư phát triển về đức tin cũng như về đời sống Kitô giáo mà c̣n giúp cho sự tiến bộ của nó trên con đường ḥa hợp và ḥa b́nh. Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế của toàn thể con người, tinh thần và thể xác, định mệnh thiêng liêng và vĩnh cửu của họ, cùng cuộc sống tạm bợ trần gian của họ. Nhờ đó, khi lắng nghe sứ điệp của Người th́ cộng đồng dân sự cũng trở nên hữu trách hơn và chuyên chú hơn tới các n hu cầu của công ích, và tỏ ra gắn bó hơn với thành phần nghèo khổ, thành phần bị bỏ rơi và thành phần sống ngoài lề xă hội.
Nh́n lại lịch sử Ư quốc, người ta sửng sốt trước vô vàn công việc bác ái mà Giáo Hội đă hết sức hy sinh trong việc làm giảm bớt đi tất cả mọi thứ khổ đau. Ngày nay, Giáo Hội muốn tiến bước trên cùng một con đường ấy mà không có một tham vọng nào về quyền lực, cũng như không đ̣i hỏi các thứ đặc ân về xă hội hay tài chính. Gương của Chúa Giêsu, Đấng “đă đi thực hiện các việc lành và chữa lành cho tất cả mọi người” (Acts 10:38) vẫn là qui chuẩn tác hành tối hậu của Giáo Hội nơi các dân tộc.
Những liên hệ giữa Giáo Hội và Nước Ư được đặt nền tảng trên nguyên tắc như Công Đồng Chung Vaticanô II diễn tả là ‘Giáo Hội và cộng đồng chính trị tự lập và độc lập theo lănh vực của ḿnh. Tuy nhiên, cả hai, dưới những danh hiệu khác nhau, đều dấn thân phục vụ cho ơn gọi riêng của con người (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, 76).
Nguyên tắc này vốn đă có trong Thỏa Ước Lateran và sau đó được xác nhận trong các Hiệp Ước điều chỉnh bản Thỏa Ước đó. Bởi thế, nhờ tính cách trần thế lành mạnh của Quốc Gia mà những thực tại trần thế mới được quản trị theo những qui tắc riêng của chúng, nhưng vẫn không loại bỏ những qui chiếu về luân thường đạo lư có những nền tảng tối hậu của chúng nơi tôn giáo. Tính cách tự lập của lănh vực trần thế không loại trừ việc ḥa hợp hữu lư với những nhu cầu phức tạp hơn xuất phát từ quan điểm nguyên vẹn về con người cũng như về định mệnh vĩnh cửu của họ.
Kính Ông Tổng Thống, tôi thật t́nh hứa cùng ông cùng toàn thể Nhân Dân Ư quốc rằng Giáo Hội muốn bảo tồn và nuôi dưỡng một tinh thần thân ái hợp tác và cảm thông trong việc phục vụ cho vấn đề phát triển về tinh thần cũng như về luân lư của Xứ Sở này; thật là tai hại hết sức, chẳng những cho Giáo Hội mà c̣n cho Ư quốc nữa trong việc nỗ lực làm suy yếu đi hay làm đổ vỡ những ràng buộc rất đặc biệt thắt kết Giáo Hội với Ư quốc này. Văn hóa của Ư quốc là những ǵ được thấm đẫm các giá trị Kitô giáo, như có thể thấy được nơi những kỳ công kiệt tác được Quốc Gia này sản xuất ở tất cả mọi lănh vực về tư tưởng và nghệ thuật.
Tôi hy vọng rằng nhân dân Ư quốc sẽ chẳng những không chối bỏ gia sản Kitô giáo là những ǵ làm nên lịch sử của ḿnh mà c̣n bảo vệ nó một cách thiết tha và một lần nữa làm cho nó sinh hoa hết trái xứng với quá khứ của nó. Tôi tin tưởng rằng Ư quốc, dưới sự hướng dẫn khôn ngoan và gương mẫu của những ai được kêu gọi quản trị nó, sẽ tiếp tục thực hiện sứ vị văn minh hóa trên một thế giới mà Ư quốc đă nổi bật qua nhiều thế kỷ. Với lịch sử và văn hóa của ḿnh, Ư quốc có thể góp phần một cách sáng giá nhất là cho Âu Châu, giúp cho châu lục này tái nhận thức được những căn gốc của ḿnh để giúp cho châu lục này có thể trở thành cao cả như quá khứ, cũng như để ngày nay châu lục ấy có thể tiến đến chỗ hiệp nhất sâu xa.
Kính Ông Tổng Thống, như ông có thể dễ dàng thấy được rằng tôi có nhiều mối quan tâm vào lúc mở màn cho vai tṛ mục vụ của Ngai Ṭa Thánh Phêrô. Tôi xin nêu lên một số trong những quan tâm này, những quan tâm mà, theo tính chất nhân bản phổ quát của chúng, cũng không thể nào không liên quan tới những vị hữu trách về chính quyền. Tôi đang có ư nói tới vấn đề bảo toàn gia đ́nh được đặt trên nền tảng hôn nhân, như Hiến Pháp Ư quốc nh́n nhận (khoản 29), vấn đề bảo vệ sự sống con người từ khi được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi, rồi cuối cùng là vấn đề giáo dục và theo đó là vấn đề trường học, một cơ cấu đào luyện bất khả châm chước cho việc h́nh thành nên những thế hệ mới.
Giáo Hội, khi thấu triệt ư định của Thiên Chúa được ghi khắc nơi chính bản tính
của nhân loại thụ sinh, thấy nơi gia đ́nh một giá trị rất quan trọng cần phải
được bênh vực khỏi tất cả mọi cuộc tấn công nhắm đến chỗ làm suy yếu tính cách
liên kết của nó và đặt lại vấn đề hiện hữu của nó.
Giáo Hội nh́n nhận sự sống con người như là một sự thiện căn bản chính yếu là nền tảng cho tất cả mọi sự thiện khác. Bởi thế Giáo Hội xin hăy tôn trọng nó ở cả giai đoạn khởi đầu cũng như giai đoạn cuối cùng của nó, và nhấn mạnh đến nhiệm vụ cần phải cung cấp việc chữa dịu một cách thích hợp để làm cho cái chết được nhân bản hơn.
Về
vấn đề học đường, vai tṛ của Giáo Hội liên hệ với gia đ́nh coi học đường như
một thứ tự nhiên vươn rộng công việc đào luyện nơi vai tṛ của ḿnh. Đối với vấn
đề này, hoàn toàn tôn trọng thẩm quyền của Quốc Gia trong việc ban bố các chỉ
thị chung về vấn đề giáo dục, tôi cũng không thể không bày tỏ niềm hy vọng là
quyền lợi của cha mẹ trong việc tự do quyết định việc giáo dục con cái là những
ǵ cần phải được tôn trọng, mà không có sự nâng đỡ gánh nặng cho họ. Tôi tin
tưởng rằng các vị lập pháp Ư quốc, theo sự khôn ngoan của ḿnh, biết cách t́m
kiếm ‘những giải pháp nhân bản’ cho những vấn đề này, tức là những giải pháp tôn
trọng các giá trị bất khả vi phạm được hàm chứa ở đó.
Sau hết, khi bày tỏ niềm hy vọng của ḿnh là Quốc Gia này sẽ tiếp tục tiến lên trên con đường phúc hạnh về tinh thần và vật chất, tôi xin hợp với ông Tổng Thống trong việc kêu gọi tất cả mọi người công dân cũng như tất cả mọi phần tử của xă hội hăy luôn sống và hoạt động trong một tinh thần ḥa hợp thực sự, trong một bầu khí cởi mở đối thoại và tin tưởng lẫn nhau, trong việc dấn thân phục vụ và cổ vơ công ích cùng phẩm giá của hết mọi người. Kính Ông Tổng Thống, tôi xin kết lại bằng việc nhắc lại ḷng cảm phục và cảm mến Nhân Dân Ư quốc giành cho ông, cũng như niềm tin tưởng trọn vẹn của họ vào việc hoàn toàn hoàn tất những nhiệm vụ nơi vai tṛ của ông.
Tôi hân hoan hợp với niềm cảm mến và tin tưởng này, khi tôi kư thác ông và Phu Nhân của ông là Bà Franca Ciampi, những vị lănh đạo của đời sống Quốc Gia này cùng toàn thể Nhân Dân Ư quốc cho việc phù hộ của Trinh Nữ Maria, vị được tôn kính hết sức nơi vô vàn các đền thánh được cung hiến cho Người. Với những niềm quí mến ấy, tôi xin Thiên Chúa ban mọi Phúc Lành của Ngài, một bảo chứng cho mọi sự thiện hằng ước mong, xuống trên ông.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 1/7/2005
ĐTC BĐXVI với Hội Đồng Giám Mục Zimbabwe về việc “Làm Chứng Cho Niềm Hy Vọng của Phúc Âm”
Sau đây là nguyên văn huấn từ của ĐTC BĐXVI ngỏ cùng hội đồng giám mục Zimbabwe ngày Thứ Bảy 2/7/2005 nhân dịp các vị viếng thăm Ṭa Thánh ngũ niên.
Quí Huynh Giám Mục,
“Xin chúc quí huynh ân sủng và b́nh an của Thiên Chúa là Cha chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô” (Eph 1:2).
Tôi hân hoan chào đón quí huynh, những vị Giám Mục Zimbabwe, nhân dịp viếng thăm ngũ niên “as Limina Apostolorum” của quí huynh. Chớ ǵ cuộc hành hương viếng thăm Mộ Thánh Phêrô và Phaolô, cùng với cuộc gặp gỡ vị Thừa Kế Thánh Phêrô này, đối với tất cả quí huynh trở thành một niềm phấn khích cho mối hiệp nhất hơn nữa trong việc phục vụ Phúc Âm cũng như việc phục vụ Vương Quốc của Chúa Kitô. Chớ ǵ những ngày này cũng cống hiến cho quí huynh một cơ hội quí báu để quí huynh khỏi vướng bận các mối quan tâm mục vụ căng thẳng để có giờ ở với Chúa (x Mk 6:31) trong nguyện cầu và ư thức thiêng liêng, nhờ đó, quí huynh có thể tiếp tục thừa tác vụ của ḿnh bằng một ḷng nhiệt t́nh mới như là những kẻ loan truyền lời Chúa và như những mục tử của dân Người nơi bản xứ của quí huynh.
Các cuộc tuyển cử mới đầy ở Zimbebwe đă đặt nền móng cho những ǵ tôi tin rằng sẽ trở thành khởi điểm mới trong tiến tŕnh ḥa giải đất nước cũng như cho việc tái thiết về luân lư của xă hội. Tôi cảm nhận được việc đóng góp quan trọng vào tiến tŕnh tuyển cử này được quí huynh cống hiến cho tín hữu Công giáo cũng như cho tất cả mọi người công dân đồng bào của quí huynh qua Bản Văn Mục Vụ Chung được ban hành năm vừa qua.
Qua việc phổ biến Bản Văn này cũng như Bức Thư Mục Vụ mới đây nhất “Tiếng Kêu của Người Nghèo”, chính quí huynh đă mang sự khôn ngoan của Phúc Âm cùng với gia sản phong phú nơi tín lư về xă hội của Giáo Hội để nâng đỡ suy tư và phán đoán cụ thể của tín hữu nơi cả cuộc sống thường nhật của họ lẫn nơi những nỗ lực của họ trong việc hoạt động như những phần tử chân chính của cộng đồng này. Trong việc thi hành thừa tác vụ giáo phẩm của quí huynh nơi vấn đề giảng dạy và quản trị, tôi xin quí huynh hăy tiếp tục tỏ thấy vai tṛ lănh đạo sáng ngời và đoàn kết, được bắt nguồn từ niềm tin không lay chuyển vào Chúa Giêsu Kitô, và từ sự tuân phục “lời chân lư, Phúc Âm cứu độ” (Eph 1:13). Trong việc loan báo và giảng dạy của quí huynh, tín hữu phải làm sao có thể nghe được chính tiếng nói của Thiên Chúa, một tiếng nói có thẩm quyền về những ǵ đúng và thật, về ḥa b́nh và công lư, về yêu thương và ḥa giải, một tiếng nói có thể an ủi họ giữa cơn rắc rối của họ và tỏ cho họ thấy được con đường tiến lên trong hy vọng.
Giữa những khó khăn của giây phút hiện tại này đây, Giáo Hội ở Zimbabwe có thể hoan hưởng sự hiện diện của rất nhiều cộng đồng sôi động đức tin, một con số khả quan về ơn gọi linh mục và tu sĩ, cùng với sự hiện diện của thành phần giáo dân dấn thân thực hiện những việc làm tông đồ khác nhau. Những tặng ân này của ân sủng Chúa cũng là niềm an ủi và là một thách đố cho việc dạy giáo lư sâu xa và trọn vẹn hơn là việc nhắm đến vấn đề huấn luyện tín hữu sống trọn vẹn ơn gọi Kitô giáo của ḿnh. “Trong tất cả mọi lănh vực của đời sống Giáo Hội, việc đào luyện có một tầm vóc quan trọng chính yếu” đối với tương lai của Giáo Hội ở Phi Châu (“Giáo Hội Tại Phi Châu”, 75). Đó là lư do, tôi xin quí huynh hăy cùng nhau làm việc để bảo đảm việc sửa soạn về giáo lư một cách tổng quát cho tất cả mọi tín hữu, và hăy thực hiện những ǵ có thể cần thiết hầu cung cấp cho một thứ giáo dục có phương pháp hơn.
Các linh mục tương lai, về phần họ, cần phải được giúp đỡ để tŕnh bày đầy đủ đức tin Công giáo để làm sao thực sự giải quyết và đáp ứng các thứ khốn khó, những vấn nạn và những vấn đề. Các chủng viện quốc gia cần phải được cụ thể nâng đỡ ở công việc khó khăn của họ trong vấn đề cung cấp cho thành phần chủng sinh việc huấn luyện đầy đủ về nhân bản, tinh thần, tín lư và mục vụ, trong khi đó thành phần giáo sĩ trẻ sẽ được lợi ích rất nhiều, trong những năm đầu tiên của thừa tác vụ linh mục của họ, nơi chương tŕnh hoàn trọn về tu đức, mục vụ và nhân bản do các vị linh mục kinh nghiệm và gương mẫu hướng dẫn. Việc quí huynh quan tâm đến vấn đề dạy giáo lư lành mạnh cũng như vấn đề giáo dục đạo trọn vẹn cũng cần phải được bao gồm cả hệ thống học đường Công giáo, các học đường mang căn tính cần phải được củng cố, v́ lợi ích chẳng những cho học sinh của ḿnh mà c̣n cho toàn thể cộng đồng Công giáo nơi xứ sở của quí huynh nữa.
Quí Huynh Giám Mục thân mến, hiệp nhất với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô đây cũng như với Giám Mục Đoàn, quí huynh được sai đi như là những chứng nhân hy vọng được Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô chủ trương (x “Pastores Gregis”, 5). Khi quí huynh trở về đất mẹ của ḿnh, được củng cố niềm tin và mối hiệp thông giáo hội, tôi xin quí huynh hăy quảng đại hợp tác để phục vụ Phúc Âm, nhờ đó ánh sáng lời Chúa sẽ chiếu sáng hơn bao giờ hết nơi tâm trí của người Công giáo Zimbabwe, tác động nơi họ một t́nh yêu sâu xa hơn đối với Chúa Kitô và một quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việc loan truyền Vương quốc thánh thiện, công chính và chân thật của Người.
Với
ḷng cảm mến sâu xa, tôi xin trao phó quí huynh và hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo
dân thuộc các Giáo Phận của quí huynh cho lời chuyển cầu ưu ái của Mẹ Maria, Mẹ
Giáo Hội, và thân ái ban Phép Lành Ṭa Thánh như bảo chứng niềm vui và an b́nh
trong Chúa.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 3/7/2005
ĐTC/BĐXVI: Bài Giảng Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô về Công Giáo Tính của Giáo Hội Chúa Kitô
ĐTC BĐXVI đă chủ tế Thánh Lễ Trọng Kính Hai Thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô tại Đền Thờ Thánh Phêrô, và trong Thánh Lễ, ngài đă ban giây choàng tông phẩm cho ĐHY Angelo Sodano, trưởng hồng y đoàn và 32 vị tân Tổng Giám Mục thuộc 21 quốc gia mới được bổ nhiệm năm vừa qua. Theo truyền thống, Thánh Lễ này cũng có sự hiện diện của phái đoàn đại biểu thuộc Giáo Hội Chính Thống hoàn vũ ở Contantinople, năm nay với 3 vị dẫn đầu là Loannis (Zizioulas), TGP Pergamo, và hai vị nữa là Gennadios (Limouris), TGP Sassima, và đan viện trưởng Bartolome, phó bí thư Hội Đồng Thượng Phụ Hoàn Vũ. Sau đây là nguyên văn bài giảng của ĐTC trong Thánh Lễ về công giáo tính của Giáo Hội Chúa Kitô.
Lễ Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô vừa là một tưởng nhớ tri ân về những vị chứng nhân cao cả của Chúa Giêsu Kitô, vừa là một cuộc long trọng tuyên xưng về một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Trước hết, lễ này là một lễ của công giáo tính. Dấu hiệu của Ngày Lễ Hiện Xuống – một cộng đồng mới nói đủ mọi ngôn ngữ và hiệp nhất tất cả mọi dân tộc lại thành một dân duy nhất, thành một gia đ́nh duy nhất của Thiên Chúa – đă trở thành thực tại.
Cộng đồng phụng vụ của chúng ta, một cộng đồng qui tụ các vị giám mục từ khắp nơi trên thế giới, qui tụ dân chúng thuộc nhiều văn hóa và quốc gia, là h́nh ảnh gia đ́nh Giáo Hội lan tràn khắp thế giới. Kẻ xa lạ thành bạn hữu; chúng ta nh́n nhận nhau là anh em vượt mọi biên giới. Như thế, sứ vụ của Thánh Phaolô được hoàn thành, vị đă biết cách để “trở thành mộït thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô đối với Dân Ngoại…. Nhờ đó việc hiến dâng của Dân Ngoại được chấp nhận, được Thánh Thần thánh hóa” (Rm 15:16).
Mục đích của sứ vụ này là một nhân loại được trở thành vinh hiển sống động của Thiên Chúa, một cuộc tôn thờ chân thực Thiên Chúa mong muốn: Đó là ư nghĩa sâu xa nhất của công giáo tính – một công giáo tính đă được ban cho chúng ta và bởi thế chúng ta phải tiếp tục hướng ḿnh đến chỗ đó. Công giáo tính không tỏ hiện theo chiều hoành kích mà thôi, chiều kích nhiều dân tộc qui tụ lại với nhau; nó c̣n thể hiện theo chiều tung kích nữa: chỉ cần hướng ánh mắt về Thiên Chúa, chỉ cần mở ḷng ra cho Ngài chúng ta mới thực sự trở nên duy nhất.
Như Thánh Phaolô, Thánh Phêrô cũng đến Rôma, một thành phố đă trở thành nơi hội tụ của tất cả mọi dân tộc, và chính v́ điều này đă trở thành một thể hiện hơn hết cái phổ quát tính của Phúc Âm. Khi thực hiện chuyến đi từ Giêrusalem đến Rôma, Thánh Phêrô chắc chắn cảm thấy ḿnh được soi dẫn bởi tiếng nói của các vị tiên tri, bởi đức tin và bởi lời cầu nguyện của dân Do Thái.
Sứ vụ truyền giáo cho toàn thế giới thực sự cùng là một phần của việc loan báo Cựu Ước nữa: Dân Do Thái được ấn định trở thành ánh sáng cho các Dân Ngoại. Bài đại Thánh Vịnh Thương Khó, bài Thánh Vịnh 21, với câu đầu tiên là “Lạy Chúa Trời con, Lạy Thiên Chúa của con, nhân sao Chúa bỏ rơi con?” được Chúa Giêsu đă thốt lên trên cây thập tự giá, được chấm dứt bằng nhăn quan là “Tận cùng trái đất sẽ nhớ tới Chúa và trở về cùng Chúa; và tất cả mọi gia đ́nh chư quốc sẽ tôn thờ trước tôn nhan Ngài” (Ps 21:28). Khi tông đồ Phêrô và Phaolô đến Rôma th́ Chúa, Đấng đă sử dụng bài thánh vịnh này trên thập tự giá, đă sống lại; việc chiến thắng này của Thiên Chúa bấy giờ cần phải được loan báo cho tất cả mọi dân nước, nhờ đó hoàn tất lời hứa kết thúc bài thánh vịnh ấy.
Công giáo tính tức là phổ quát tính – thứ đa dạng tính trở nên hiệp nhất; một thứ hiệp nhất vẫn có tính cách đa dạng. Từ lời lẽ của Thánh Phaolô về phổ quát tính của Giáo Hội chúng ta thấy rằng một phần của mối hiệp nhất này là khả năng của các dân tộc trong việc thắng vượt bản thân ḿnh, trong việc hướng về một Vị Thiên Chúa duy nhất.
Vị sáng lập thực sự thần học Công giáo là Thánh Irenaeus thành Lyon đă diễn tả mối liên hệ giữa công giáo tính và mối hiệp nhất này một cách thật là tuyệt vời: “Tín lư này và đức tin này được Giáo Hội, một Giáo Hội được truyền bá khắp thế giới, chuyên chăm ǵn giữ, làm nên hầu như một gia đ́nh duy nhất: cùng một đức tin với một linh hồn và một con tim duy nhất, với cùng một việc rao giảng, cùng một việc giảng dạy, cùng một truyền thống như thể chỉ có một tiếng nói duy nhất. Các Giáo Hội ở Đức quốc không có một đức tin hay truyền thống khác, những Giáo Hội ở Tây Ban Nha, ở Gaul, ở Ai Cập, ở Libya, ở Hướng Đông, ở trung tâm trái đất, như mặt trời thụ tạo của Thiên Chúa chỉ là một và đồng nhất trên khắp thế giới, để ánh sáng của việc rao giảng thực sự chiếu sáng mọi nơi và soi sáng tất cả mọi người muốn nhận biết chân lư” ("Adversus Haereses" I, 10,2).
Mối hiệp nhất của con người nơi đa dạng tính của họ có thể thực hiện v́ Thiên Chúa, vị Thiên Chúa duy nhất của trời đất này, đă tỏ ḿnh ra cho chúng ta; v́ sự thật chính yếu của cuộc sống chúng ta, sự thật về việc chúng ta “từ đâu mà có?” và “sẽ đi về đâu?”, đă trở nên hữu h́nh khi Ngài tỏ ḿnh cho chúng ta và nơi Chúa Giêsu Kitô Ngài đă cho chúng ta thấy dung nhan của Ngài, cho thấy chính Bản Thân của Ngài. Sự thật về yếu tính liên quan đến con người của chúng ta đây, đến việc chúng ta sống và việc chúng ta chết đây, sự thật nhờ Thiên Chúa đă trở thành hiện tỏ ấy, đă liên kết chúng ta và làm cho chúng ta trở nên anh em với nhau. Công giáo tính và hiệp nhất tính là những ǵ đồng hành với nhau. Và duy nhất tính có một nội dung đó là một đức tin đă được các vị tông đồ thay Chúa Kitô truyền đạt cho chúng ta.
Hôm qua, nhân dịp lễ Thánh Irenaeus và là áp lễ trọng kính Thánh Phêrô và Phaolô, tôi đă có thể cống hiến cho Giáo Hội một bản hướng dẫn mới để truyền đạt đức tin, bản hướng dẫn giúp chúng ta hiểu biết hơn nữa và sống tốt đẹp hơn nữa đức tin liên kết chúng ta, đó là cuốn Tổng Lược Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo. Những ǵ trong cuốn Giáo Lư lớn, với những chứng từ của các thánh thuộc mọi thế kỷ cùng với những suy tư thần học chín mùi được tŕnh bày một cách chi tiết, đều được tóm gọn lại thành những ǵ thiết yếu trong cuốn tổng lược này, những điều sau đó được chuyển dịch thành ngôn ngữ của đời sống thường nhật và trở thành thực tiễn hơn.
Cuốn sách này được tŕnh bày như một cuộc đối thoại với những câu vấn đáp; 14 bức h́nh liên quan tới các lănh vực khác nhau của đức tin để mời gọi con người chiêm ngắm và suy niệm. Có thể nói rằng chúng tóm gọn một cách tượng h́nh những ǵ được lời lẽ diễn tả theo chi tiết. Mở đầu là một bức h́nh từ thế kỷ thứ sáu về Chúa Kitô, bức h́nh được thấy trên Núi Athos và tiêu biểu cho Chúa Kitô nơi phẩm vị là Chúa Tể Trái Đất của ḿnh, thế nhưng cũng tiêu biểu cho Người như là vị rao giảng Phúc Âm Người cầm trong tay.
“Ta là Đấng Hiện Hữu” – tên gọi nhiệm mầu này được viết lên trong Cựu Ước – được nói đến trong cuốn sách này như là danh riêng của Ngài: bởi v́, hết mọi sự hiện hữu đều xuất phát từ Ngài; Ngài là nguồn mạch nguyên thủy của hết mọi hữu thể. Và v́ Ngài là duy nhất mà Ngài bao giờ cũng hiện hữu, bao giờ cũng gần chúng ta song đồng thời đi trước chúng ta, như “Đấng ấn định” cho đường đi nước bước của đời chúng ta sống, Ngài tự ḿnh thực sự là đường lối. Cuốn sách này không thể nào được đọc như là một cuốn tiểu thuyết. Nó phải được suy niệm một cách thâm trầm từng phần th́ nội dung của nó, qua những h́nh ảnh, mới thấm vào tâm hồn được. Tôi hy vọng nó sẽ được đón nhận như thế và sẽ trở nên một bản hướng dẫn bổ ích trong việc truyền đạt đức tin.
Chúng ta đă nói rằng công giáo tính và hiệp nhất tính của Giáo Hội là những ǵ đi với nhau. Sự kiện là giữa hai tính chất này có những chiều kích được nói đến hữu h́nh đối với chúng ta nơi h́nh ảnh của các vị tông đồ đă cho chúng ta thấy đặc tính sau đó của Giáo Hội: một Giáo Hội tông truyền.
Điều này nghĩa là ǵ? Chúa đă thiết lập 12 Tông Đồ, để từ bấy giờ trở đi bao gồm tất cả mọi dân tộc, giống như 12 người con của Giacóp xưa, đối với Người là các chi tộc lănh đạo Dân Chúa, một sự kiện bấy giờ đă trở thành phổ quát. Thánh Marcô đă nói cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu kêu gọi các vị tông đồ “đến ở với Người và sai các vị ra đi” (3:14). Điều này hầu như tương khắc nhau. Chúng ta có thể nói rằng: Một là các vị ở với Người hay là các vị được sai đi và lên đường.
Có một lời về các vị thiên thần được thánh Giáo Hoàng Gêgôriô Cả nói tới giúp chúng ta giải quyết được điều tương phản ấy. Ngài nói rằng các thiên thần bao giờ cũng được sai đi lại đồng thời lúc nào cũng ở trước nhan Thiên Chúa: “Bất cứ khi nào các vị được sai đi, bất cứ nơi nào các vị đến, bao giờ các vị cũng chuyển động trong cung ḷng của Chúa Cha” (Homily 34,13). Mạc khải đă diễn tả các vị giám mục như là “các thiên thần” của Giáo Hội các vị, và bởi thế chúng ta áp dụng điều này như sau: các vị tông đồ cũng như các vị thừa kế các tông đồ lúc nào cũng phải ở với Chúa, và chỉ có như thế, bất cứ đi đâu, các vị cũng luôn hiệp thông với Ngài và sống cuộc hiệp thông này.
Giáo Hội tông
truyền v́ Giáo Hội tuyên xưng đức tin của các vị tông đồ và t́m cách sống đức
tin ấy. Chính mối hiệp nhất làm nên đặc tính của 12 Vị được Chúa Kitô kêu gọi,
thế nhưng đồng thời cũng có một sự liên tục nơi sứ vụ tông đồ nữa. Trong Bức Thư
Thứ Nhất của ḿnh, Thánh Phêrô đă diễn tả ḿnh là “anh cả” đối với những người
anh được ngài gửi thư cho (5:1). Bằng lời lẽ ấy, ngài nói lên nguyên tắc của
việc thừa kế tông đồ: cùng một thừa tác vụ ngài đă lănh nhận từ Chúa giờ đây
được tiếp tục trong Giáo Hội qua việc truyền chức tư tế. Lời Chúa không những
được viết ra mà c̣n là một lời sống động qua những chứng từ được Chúa Kitô ở
trong bí tích này đưa vào thừa tác vụ tông đồ.
Bởi thế,
giờ đây tôi hướng về quí huynh, quí huynh giám mục thân mến: tôi thân ái chào
quí huynh cũng như họ hàng thân thuộc và phái đoàn hành hương thuộc các giáo
phận đương nhiệm của quí huynh. Quí huynh sắp sửa lănh nhận giây choàng tông
phẩm từ tay của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Chúng tôi đă ban phép lành cho nó, như
từ chính Thánh Phêrô, đặt nó ở bên mộ của ngài. Giờ đây nó là một thứ thể hiện
cho trách nhiệm chung của chúng ta trước “Vị Tổng Mục Tử” Giêsu Kitô được Thánh
Phêrô nói đến (2Pt 5:4).
Giây tông phẩm là một biểu hiệu cho sứ vụ tông đồ của chúng ta. Nó là biểu hiện cho mối hiệp thông của chúng ta, một mối hiệp thông có tính cách cao cả hữu h́nh của nó nơi thừa tác vụ Thánh Phêrô. Liên hệ với duy nhất t́nh cũng như với tông đồ tính là thừa tác vụ Thánh Phêrô, một thừa tác vụ qui tụ một cách hữu h́nh Giáo Hội của tất cả mọi phần thể cũng như của tất cả mọi thời đại, nhờ đó bênh vực mỗi một người trong chúng ta khỏi rơi vào t́nh trạng tự lập sai lầm là những ǵ quá dễ dàng bị biến thành những thứ riêng biệt hóa nội tại trong Giáo Hội và có thể làm tổn thương rất nhiều đến t́nh trạng độc lập nội tại của Giáo Hội. Ư thức như thế, chúng ta không muốn quên rằng ư nghĩa của tất cả mọi phận vụ và thừa tác vụ cuối cùng là “để tất cả chúng ta chiếm được mối hiệp nhất về đức tin và về việc nhận biết Con Thiên Chúa, chiếm được con người trưởng thành, chiếm được tầm vóc trọn vẹn của Chúa Kitô”, nhờ đó thân thể của Chúa Kitô được phát triển “và tự xây dựng trong yêu thương” (Eph 4:13,16).
Theo chiều hướng ấy, tôi thành thật và biết ơn gửi lời chào đến phái đoàn đại biểu của Giáo Hội Chính Thống Constantinople, một phái đoàn được Đức Thượng Phụ hoàn vũ Bartholomew I sai đến, vị thượng phụ tôi xin bày tỏ niềm tưởng mến. Phái đoàn này, được lănh đạo bởi TGM loannis, đă đến mừng và tham dự cuộc lễ của chúng ta đây. Cho dù chúng ta vẫn chưa đồng ư với nhau về vấn đề cắt nghĩa và quyền bính của thừa tác vụ Thánh Phêrô, chúng ta vẫn cùng nhau được thừa hưởng việc thừa kế tông đồ, chúng ta liên kết chặt chẽ với nhau bằng thừa tác vụ giáo phẩm cũng như bằng bí tích linh mục, và chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin của các vị tông đồ như được ghi nhận trong Thánh Kinh cũng như theo những lời dẫn giải của các đại Công Đồng Chung.
Vào giờ khắc này của thế giới đầy những hoang mang và ngờ vực nhưng khắc khoải mong ước Thiên Chúa, chúng ta lại nh́n nhận sứ vụ chung của chúng ta trong việc cùng làm chứng cho Chúa Kitô, và, trên căn bản hiệp nhất ấy là những ǵ được ban cho chúng ta, chúng ta giúp cho thế giới có thể tin tưởng. Chúng ta khẩn xin Chúa bằng cả tấm ḷng của ḿnh hăy hướng dẫn chúng ta đạt tới mối hiệp nhất trọn vẹn, để ánh quang chân lư là những ǵ duy nhất có thể kiến tạo hiệp nhất một lần nữa lại trở nên hữu h́nh trước mắt thế giới.
Bài Phúc Âm hôm nay nói với chúng ta về lời tuyên xưng của Thánh Phêrô được Giáo Hội lấy đó là lúc khởi đầu của ḿnh: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16). Hôm nay đây, khi nói về một Giáo Hội duy nhất, công giáo và tông truyền song chưa là Giáo Hội thánh thiện, chúng ta muốn nhắc lại vào lúc này đây một lời tuyên xưng khác của Thánh Phêrô nhân danh Mười Hai Vị vào giờ phút bị bỏ rơi nhất: “Chúng con đă tin tưởng và nhận biết rằng Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Jn 6:69).
Điều này nghĩa là ǵ? Chúa Giêsu, trong lời nguyện tư tế cao cả, đă nói đến việc Người tự hiến cho các môn đệ, ám chỉ cuộc hy sinh tử giá của ḿnh (Jn 17:19). Qua lời nói ấy Chúa Giêsu mặc nhiên diễn tả phận sự của Người là Vị Thượng Tế chân thật, Đấng làm hiện thực mầu nhiệm của “Ngày Ḥa Giải”, không c̣n chỉ ở nơi các nghi lễ thay thế nữa mà là ở nơi cái cụ thể của ḿnh máu Người. Lời “Đấng Thánh của Thiên Chúa” trong Cựu Ước ám chỉ Aaron là Thượng Tế, vị có nhiệm vụ hoàn tất việc thánh hóa dân Do Thái (Ps 105:16; x Sir 45:6). Việc Thánh Phêrô tuyên xưng vào Chúa Kitô, Đấng được ngài tuyên bố là Đấng Thánh của Thiên Chúa, lại ở trong bối cảnh của bài giảng về Thánh Thể, một bài giảng Chúa Giêsu loan báo Ngày đại Ḥa Giải bằng việc hiến dâng chính ḿnh làm lễ hy sinh: “Bánh Tôi sẽ ban để thế gian được sự sống đó là thịt của Tôi” (Jn 6:51).
Bởi thế, trong
bối cảnh của lời tuyên xưng này là mầu nhiệm tư tế của Chúa Giêsu, hiến tế của
Người cho tất cả chúng ta. Đúng hơn, hiến tế này luôn được tái thánh hóa bằng
t́nh yêu tinh tuyền của Chúa Kitô. Thiên Chúa không phải chỉ nói: Ngài đă yêu
thương chúng ta một cách rất thực hữu, đă yêu thương chúng ta cho đến độ tử giá
của Con Ngài. Chính từ đây mà chúng ta thấy được tất cả những ǵ là cao cả của
một mạc khải có vết thương in ấn trên trái tim của chính Thiên Chúa. Giờ đây,
mỗi một người trong chúng ta có thể tự ḿnh nói với Thánh Phaolô rằng: “Sự sống
tôi hiện sống trong xác thịt này là tôi sống bởi niềm tin vào Con Thiên Chúa,
Đấng đă yêu thương tôi và ban ḿnh cho tôi” (Gal 2:20). Chúng ta hăy cầu nguyện
cùng Chúa để sự thật của lời này được in ấn một cách sâu xa trong tâm can của
chúng ta với niềm hân hoan và trách nhiệm của nó; chúng ta hăy cầu nguyện để
được rạng ngời bởi Thánh Thể chân lư này càng ngày càng trở nên mănh liệt hơn
trong việc h́nh thành cuôc sống của chúng ta.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 29/6/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Đời Sống Hôn Nhân Gia Đ́nh theo Nhân Loại Học Kitô Giáo
Tối Thứ Hai 6/6/2005, tại Đền Thờ Gioan Latêranô, ĐTC đă khai mạc cho hội nghị được Giáo Phận Rôma tổ chức về đề tài: “Gia Đ́nh và Cộng Đồng Kitô Hữu: Việc Huấn Luyện Con Người và Việc Truyền Đạt Đức Tin”. Ngài đă chia sẻ về “ư nghĩa đời sống hôn nhân gia đ́nh theo dự án của Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng và là Đấng Cứu Tinh”. Sau đây là một số ư tưởng chính yếu tiêu biểu trong bài nói của ngài.
Anh Chị Em thân mến:
Tôi rất hân hoan chấp nhận lời mời đến để khai mạc hội nghị giáo phận này bằng bài suy niệm, trước hết, là v́ nó cho tôi cơ hội để gặp gỡ anh chị em, để được trực tiếp giao tiếp với anh chị em, cũng như bởi v́ nó cho tôi có thể giúp anh chị em suy nghĩ hơn nữa về ư nghĩa và mục tiêu của chương tŕnh mục vụ đang được Giáo Hội Rôma thực hiện… (ba đoạn tiếp theo ĐTC dùng để chào hỏi và nói về việc Giáo Hội Rôma với các chương tŕnh mục vụ của giáo phận này).
Hai năm nay, việc dấn thân truyền giáo của Giáo Hội Rôma đă tập trung hơn hết
vào gia đ́nh, chẳng những bởi v́ thực tại nồng cốt của nhân loại này ngày nay
đang bị vô vàn những khó khăn và đe dọa, nên đặc biệt cần phải được cụ thể
truyền bá phúc âm hóa và đỡ nâng, mà c̣n v́ các gia đ́nh Kitô giáo là những ǵ
tạo nên một nguồn mạch quan trọng cho việc giáo dục đức tin, việc xây dựng Giáo
Hội như mối hiệp thông cùng với khả năng hiện diện truyền giáo của Giáo Hội
trong hầu hết những hoàn cảnh khác nhau nhất của đời sống, và làm dậy lên một
cảm quan Kitô giáo nơi văn hóa và các cấu trúc xă hội.
Chúng ta cũng sẽ tiếp tục theo những hướng dẫn ấy trong năm mục vụ tới đây, mà v́ vậy mới có đề tài cho hội nghị của chúng ta đây là “Gia Đ́nh và Cộng Đồng Kitô Hữu: Việc Huấn Luyện Con Người và Việc Truyền Đạt Đức Tin”. Giả thiết mà người ta cần phải có để bắt đầu hiểu được sứ vụ của gia đ́nh nơi cộng đồng Kitô hữu cũng như những nỗ lực của nó trong việc đào luyện con người và truyền đạt đức tin, tiếp tục phải măi măi là cái ư nghĩa của hôn nhân và gia đ́nh theo ư định của Thiên Chúa là Đấng Hóa Công và là Đấng Cứu Độ. Đó là những ǵ chính yếu được tôi chia sẻ chiều hôm nay, căn cứ vào giáo huấn của tông huấn ‘Familiaris Consortio’ (Phần 2, các khoản số 12-16).
Nền tảng nhân loại
học của gia đ́nh
Hôn nhân và gia đ́nh không phải là những cấu trúc xă hội học thời trang vậy thôi,
hoa trái của một t́nh trạng đặc biệt về lịch sử và kinh tế. Trái lại, vấn đề
liên hệ giữa người nam và người nữ được bắt nguồn từ yếu tính sâu xa nhất của
con người, và mối liên hệ này chỉ có thể t́m được giải đáp nơi yếu tính căn gốc
này mà thôi. Nó không thể nào tách rời khỏi vấn đề luôn cổ lại luôn mới này của
con người về chính bản thân ḿnh: Tôi là ai? Và vấn nạn này cũng không thể tách
khỏi vấn nạn về Thiên Chúa: Thiên Chúa có hiện hữu nhay chăng? Và Thiên Chúa là
Đấng nào? Dung nhan của Ngài ra sao? Câu trả lời cho hai vấn nạn này là những ǵ
đồng nhất và tất yếu, ở chỗ: Con người được dựng nên theo h́nh ảnh của Thiên
Chúa, và chính Thiên Chúa là t́nh yêu. Đó là lư do,
ơn gọi yêu thương là những ǵ làm cho con người thực sự là h́nh ảnh của Thiên
Chúa: Họ trở nên như Thiên Chúa ở mức độ họ trở thành một kẻ biết yêu thương.
Từ mối liên kết căn bản này giữa Thiên Chúa và loài người mới phát xuất một mối liên kết khác, đó là mối liên kết bất khả phân ly giữa tinh thần và thể xác. Thật vậy, con người là hồn sống được diễn đạt ḿnh nơi thân xác và thân xác được sống động bởi tinh thần bất tử. Bởi thế, có thể nói rằng thân thể của người nam và người nữ có tính cách thần học, nó không phải chỉ là thân thể, và những ǵ là thể lư nơi con người không phải chỉ là thể lư mà là một biểu hiện và viên trọn nhân tính của chúng ta. Tính dục của con người không phải là những ǵ thân cận với con người mà thuộc về con người. Chỉ khi nào tính dục được trọn vẹn nơi con người nó mới đạt được ư nghĩa của việc ban tặng chính ḿnh
Nhờ thế, từ hai mối liên hệ này, mối liên hệ
giữa con người với Thiên Chúa, và, nơi con người, mối liên hệ giữa thân xác và
tinh thần, xuất phát một mối liên hệ thứ ba, đó là mối liên hệ giữa con người và
cơ cấu. Tổng thể con người bao gồm chiều kích thời gian, và tiếng ‘vâng’ của con
người vượt ra ngoài giây phút hiện tại, ở chỗ: nơi tổng thể của ḿnh, tiếng
‘vâng’ có nghĩa là ‘măi măi’, nó thuộc về lănh vực thủy chung.
Chỉ ở nơi nội tâm của họ niềm tin này mới tăng trưởng là những ǵ mang lại
tương lai và giúp con cái là hoa trái của yêu
thương có thể tin tưởng nơi con người cũng như vào tương lai của ḿnh khi gặp
khó khăn.
Cái tự do của tiếng ‘vâng’ bởi thể hiện lên như thứ tự do có thể nắm bắt được
những ǵ là tối hậu, ở chỗ: Điều thể hiện
tuyệt vời nhất của tự do do đó không phải là việc theo đuổi t́m kiếm khoái lạc
mà lại thiếu quyết định chân chính. H́nh như cái
cởi mở thường xuyên này có vẻ là hiện thực hóa của tự do, thế nhưng không phải
thế, trái lại, đó là khả năng chọn lựa một
tặng ân tối hậu mà tự do khi hy hiến ḿnh đi lại hoàn toàn được nên trọn vẹn.
Nói một cách cụ thể, tiếng ‘vâng’ của bản thân và với nhau giữa con người nam nữ là những ǵ cởi mở cho tương lai, cho một thứ nhân tính chân thực nơi mỗi người, đồng thời cũng nhắm đến cả việc trao tặng một sự sống mới nữa. Đó là lư do tiếng ‘vâng’ của bản thân này cần phải trở nên tiếng ‘vâng’ có một trách nhiệm chung, một trách nhiệm chung cần đôi phối ngẫu phải đảm nhận trong phận sự công khai trung thành với nhau, một ḷng trung thành cũng bảo đảm cho cả tương lai của cộng đồng nữa. Không ai trong chúng ta hoàn toàn thuộc về bản thân ḿnh. Bởi thế, mỗi người được kêu gọi để lănh nhận nơi bản thân sâu xa của ḿnh cái trách nhiệm chung này. Là một cơ cấu mà hôn nhân không phải là một thứ can thiệp bất xứng hợp của xă hội hay của các thẩm quyền, một áp đặt ngoại tại nơi một thực tại riêng tư nhất của đời sống; trái lại, nó là một nhu cầu nội tại của giao ước yêu thương phối ngẫu cũng như của nội tâm con người.
Những h́nh thức ly hôn khác nhau ngày nay, cũng như những cuộc tự do luyến ái sống chung với nhau và ‘những cuộc hôn nhân thử’, kể cả cuộc hôn nhân giả tạo giữa thành phần đồng phái tính, đều là những biểu hiện của một thứ tự do hỗn loạn, thứ tự do tiêu biểu sai lầm về một cuộc thực sự giải phóng con người. Thứ ngụy tự do như thế là thứ tự do được phát xuất từ việc làm cho thân thể trở thành thấp hèn, do đó là những ǵ chắc chắn cũng làm cho con người trở thành vô nghĩa nữa.
Thứ ngụy tự do ấy cho rằng con người có thể làm nên bản thân ḿnh những ǵ họ thích: Bởi thế, thân thể của họ trở thành một cái ǵ đó thứ yếu, một cái ǵ đó có thể được mạo dụng theo quan điểm con người, một cái ǵ đó có thể được sử dụng tùy ư con người. Chủ nghĩa duy tự do, một thứ chủ nghĩa có vẻ như là những ǵ khám phá về thân thể cùng với những giá trị của nó, thực ra là một thứ nhị nguyên thuyết làm cho thân thể bị coi thường, có thể nói là loại nó ra khỏi cái hữu thể đích thực và phẩm vị con người.
Hôn Nhân và Gia Đ́nh trong Lịch Sử Cứu Độ
Sự thật về hôn nhân và gia đ́nh, một cơ cấu bắt nguồn sâu xa nơi sự thật về con người, đă có những ứng dụng trong lịch sử cứu độ, một lịch sử có cốt lơi là lời này: “Thiên Chúa yêu thương dân của Ngài”.
Thật vậy, mạc khải thánh kinh trước hết là một diễn tả về một t́nh sử, một t́nh sử giao ước giữa Thiên Chúa với con người. Đó là lư do Thiên Chúa đă có thể mặc cho t́nh sử và hôn sử của con người nam nữ theo hôn ước như là biểu hiệu cho lịch sử cứu độ. Giao ước bất khả xóa bỏ ấy, mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương con người ấy, mặc lấy h́nh thức ngôn ngữ học của ḿnh từ ngữ vựng hôn nhân và gia đ́nh, vừa tích cực lẫn tiêu cực, ở chỗ: việc Thiên Chúa đến với dân của Ngài được tŕnh bày bằng ngôn ngữ yêu thương phối ngẫu, trong khi đó, việc bất trung của dân Do Thái, việc tôn thờ ngẫu tượng của họ, được diễn tả như việc ngoại t́nh và mại dâm.
Trong Tân Ước, Thiên Chúa làm cho t́nh yêu của Ngài sâu thẳm đến nỗi chính Ngài, qua Con của ḿnh, hóa thành nhục thể bởi nhục thể của chúng ta, nên một con người thực sự. Như thế, việc Thiên Chúa hiệp nhất với con người đă mặc lấy h́nh thức tối hậu, bất khả đảo lộn và vĩnh viễn. Nhờ thế, h́nh thức vĩnh viễn này của t́nh yêu nhân loại cũng mới được diễn đạt, để tiếng “vâng” với nhau là những ǵ không thể văn hồi. H́nh thức vĩnh viễn này không gây tâm bệnh cho con người song giải thoát họ khỏi những tâm bệnh của lịch sử để đưa họ về với sự thật của việc tạo thành. Bởi thế, tính chất bí tích được hôn nhân mặc lấy trong Đức Kitô có nghĩa là tặng ân của việc tạo dựng đă được nâng lên mức độ ân sủng cứu chuộc. Ân sủng của Chúa Kitô không phải là những ǵ bị siêu áp đặt từ bên ngoài bản tính của con người, ân sủng của Người không phạm đến bản tính của họ, nhưng giải thoát và phục hồi nó, bằng việc nâng nó lên trên cả giới hạn của nó nữa. Như việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa cho thấy ư nghĩa đích thực của nó nơi thập giá thế nào th́ t́nh yêu chân chính của loài người cũng việc trao tặng bản thân ḿnh như thế; nó không thể hiện hữu nếu con người muốn tránh né thập giá ấy.
Anh Chị Em thân mến, mối liên kết sâu xa này giữa Thiên Chúa và con người, giữa t́nh yêu của Thiên Chúa và t́nh yêu của con người, cũng được xác nhận bởi cả một số những khuynh hướng và diễn tiến tiêu cực nữa, những ǵ gây gây tác dụng làm cho tất cả chúng ta đều nghiệm thấy. Việc hạ giá t́nh yêu của nhân loại, việc khuynh đảo khả năng yêu thương chân chính thực sự trong thời đại của chúng ta đây đă cho thấy như là một thứ vũ khí sắc bén và công hiệu trong việc chà đạp Thiên Chúa, trong việc loại trừ Thiên Chúa khỏi ánh mắt và tâm can của con người. Tuy nhiên, ước muốn “giải phóng” thiên nhiên tạo vật của Thiên Chúa làm cho con người không c̣n nh́n thấy được chính thực tại của thiên nhiên tạo vật nữa, kể cả bản tính tự nhiên của con người, khi biến nó thành một thứ công cụ cho các phần hành được con người tùy tiện thực hiện theo sở thích, để xây dựng một thế giới được cho là tốt đẹp hơn và một nhân loại hạnh phúc hơn. Thế nhưng, trái lại, dự án của Đấng Hóa Công lại bị hủy diệt như sự thật về bản tính tự nhiên của chúng ta bị hủy diệt vậy.
Con Cái
Trong cả việc sinh sản con cái, hôn nhân cũng phản ảnh mô phạm thần linh của
ḿnh, phản ảnh t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người. Nơi con người nam và
nữ, nơi t́nh phụ tử và mẫu tử, như xẩy ra với cả thân thể lẫn t́nh yêu, đừng để
cho chúng bị hạn hẹp vào thể lư: sự sống hoàn toàn được ban tặng chỉ khi nào,
qua việc sinh sản, t́nh yêu cùng với ư nghĩa làm cho t́nh yêu có thể chấp nhận
sự sống ấy được thể hiện. Chính v́ thế mới thấy rơ được ngược nghịch đến mức nào
với t́nh yêu của nhân loại, với ơn gọi sâu xa của một người nam và một người nữ,
khi cuộc hiệp hôn không muốn trao tặng sự sống, hoặc tệ hơn nữa, muốn tiêu diệt
hay mạo dụng sự sống đang được cưu mang.
Tuy nhiên, không một con người nam hay nữ nào, theo quyền lực của ḿnh và bởi quyền lực của ḿnh, có thể trao ban yêu thương và ư nghĩa của đời sống một cách xứng hợp cho con cái của ḿnh cả. Để có thể nói với một ai đó rằng: “cuộc sống của anh chị tốt đẹp, cho dù tôi không biết tương lai của anh chị ra sao cả”, cần phải có một thẩm quyền cao cấp cũng như uy tín là những ǵ cá nhân con người không thể tự ḿnh cống hiến nổi. Thành phần Kitô hữu biết rằng thẩm quyền được ban cho gia đ́nh lớn hơn được Thiên Chúa, qua Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, và tặng ân Thánh Linh, đă tác tạo trong lịch sử loài người, đó là cho Giáo Hội. Thẩm quyền đó nh́n nhận tác động của t́nh yêu vĩnh hằng và bất diệt này là những ǵ bảo đảm ư nghĩa vĩnh viễn cho đời sống của mỗi người chúng ta, cho dù chúng ta không biết được tương lai.
Đó là lư do việc xây dựng mỗi một gia đ́nh Kitô hữu có liên hệ với đại gia đ́nh Giáo Hội, một đại gia đ́nh bảo tŕ nó và ấp ủ nó, cùng bảo đảm ư nghĩa cho nó, và trong tương lai sẽ được Đấng Hóa Công ‘chấp nhận’. Và, ngược lại, Giáo Hội được xây dựng bởi các gia đ́nh, “những Giáo Hội tại gia”, như Công Đồng Chung Vaticanô II gọi như thế (“Lumen Gentium”, 11; “Apostolicam Actuasitatem”, 11), khi lập lại lời diễn tả của vị giáo phụ ngày xưa (Thánh John Chrysostom, “In Genesim serm, “VI,2; VII,1). Theo ư nghĩa này, tông huấn “Familiaris Consortio” khẳng định rằng “Hôn nhân Kitô giáo… là những ǵ tạo nên một chỗ tự nhiên cho việc con người được tháp nhập vào đại gia đ́nh của Giáo Hội” (số 15).
Gia Đ́nh và Giáo Hội
Từ tất cả những điều ấy phát sinh ra một hiệu quả hiển nhiên, đó là gia đ́nh và Giáo Hội, nhất là các giáo xứ và các h́nh thức cộng đồng giáo hội, được kêu gọi hợp tác một cách hết sức chặt chẽ nơi nhiệm vụ căn bản là những ǵ được thiết lập nên, một cách bất khả phân ly, bởi cả việc giáo dục con người lẫn việc truyền đạt đức tin.
Chúng ta đă quá rơ là để nỗ lực giáo dục chân thực được thể hiện, việc truyền đạt một lư thuyết đúng hay một tín lư đúng cũng chưa đủ. Cần phải có những ǵ đó cao cả hơn và nhân bản hơn nữa - đó là việc gần gũi, được thể hiện hằng ngày, một việc gần gũi hợp với yêu thương và là việc gần gũi chiếm được vị thể thuận lợi nhất của ḿnh, trước hết, trong cộng đồng gia đ́nh, rồi sau đó trong giáo xứ, phong trào hay hội đoàn, trong những hội đoàn con người thấy được ai là người chú ư đến anh em của họ, đặc biệt là đến trẻ em và giới trẻ, cũng như đến thành phần người lớn, lăo thành, bệnh nhân và chính các gia đ́nh, v́, trong Chúa Kitô, họ yêu thương chúng. Vị đại quan thày của các nhà giáo dục là Thánh Gioan Bosco, đă nhắc nhở con cái tinh thần của ngài rằng “giáo dục là một điều ǵ đó của con tim và chỉ một ḿnh Thiên Chúa mới là chủ nhân ông của nó” ("Epistolario," 4, 209).
H́nh ảnh của vị chứng nhân là vấn đề then chốt trong nỗ lực giáo dục, nhất là vấn đề giáo dục đức tin, một đức tin là tuyệt đỉnh của việc h́nh thành con người và là chân trời xứng hợp nhất của họ, ở chỗ: vị chứng nhân ấy sẽ thực sự trở nên một cứ điểm ở mức độ nhờ đó con người có thể bênh vực cho niềm hy vọng làm nền tảng của đời sống họ (x 1Pt 3:15), và ở mức độ vị chứng nhân ấy tự ḿnh gắn liền với sự thật được họ bày tỏ. Chưa hết, vị chứng nhân ấy không phải là những ǵ qui về ḿnh mà về một điều ǵ đó, đúng hơn, về một vị cao cả hơn, Đấng họ đă được hội ngộ và cảm nghiệm như sự thiện hảo khả tín. Bởi thế, hết mọi nhà giáo dục và chứng nhân đều t́m thấy một mô phạm không ai hơn nơi Chúa Giêsu Kitô, Vị đại nhân chứng về Cha, Vị không nói ǵ về bản thân ḿnh, nhưng nói hoàn toàn những ǵ được Cha truyền dạy (x Jn 8:28).
Bởi thế mà nơi nền tảng của việc huấn luyện con người Kitô hữu cũng như việc truyền đạt đức tin đó là việc cần phải nguyện cầu, cần phải sống thân t́nh với Chúa Kitô và phải chiêm ngưỡng nơi Người dung nhan của Chúa Cha. Những điều này cũng cần phải được áp dụng cho tất cả mọi việc dấn thân truyền giáo của chúng ta, đặc biệt là chương tŕnh mục vụ về gia đ́nh của chúng ta: chớ ǵ Gia Đ́nh Nazarét, bởi thế, trở thành đối tượng nguyện cầu liên lỉ và tin tưởng, cũng như trở thành mô phạm sống cho gia đ́nh và cộng đồng của chúng ta. (Ngài tiếp tục một đoạn nữa với riêng các vị linh mục ở giáo phận Rôma về mục vụ giúp đỡ đời sống hôn nhân gia đ́nh)
Hiểm Họa của Tương Đối Thuyết
Bởi thế, hăy tiếp tục, chứ đừng để ḿnh bị chán nản trước những khó khăn anh em gặp phải. Mối liên hệ về giáo dục, tự bản chất của nó, là một cái ǵ đó tinh tế, ở chỗ, nó bao hàm tự do của người khác, thành phần mà, cho dù hiền lành đi nữa, cũng cần phải có quyết định. Dù là cha mẹ, linh mục, giáo lư viên, hay các giáo dục viên khác cũng không thể thay thế cho tự do của đứa trẻ, của em trai, của con người trẻ được họ hướng dẫn. Và văn kiện Kitô giáo đề cao tự do một cách hết sức mạnh mẽ, mời gọi tự do chấp nhận đức tin và thực hiện việc hoán cải. Ngày nay có một ngăng trở đặc biệt xảo quyệt đối với việc giáo dục đó là sự hiện diện hỗn loạn, trong xă hội của chúng ta cũng như trong văn hóa của chúng ta, một thứ tương đối thuyết là thuyết chẳng những không chấp nhận một sự ǵ là tối hậu lại c̣n lấy làm phương thức trên hết cái ‘tôi’ duy nhất của con người cùng với những ước muốn của họ, một thứ tương đối thuyết, dưới dạng thức tự do, trở thành ngục tụ giam nhốt mỗi người, khiến cho mỗi người thấy ḿnh bị đóng kín trong cái ‘tôi’ của họ. Đó là lư do, trong một chân trời tương đối như thế không thể nào có vấn đề giáo dục thực sự nổi. Bởi v́: thiếu ánh sáng chân lư, không sớm th́ muộn, mọi người thực sự sẽ đi đến chỗ ngờ vực cái thiện hảo nơi sự sống của ḿnh cùng với những liên hệ dính dáng tới sự thật ấy, đến chỗ ngờ vực tính cách giá trị của việc họ dấn thân cùng với kẻ khác xây dựng một điều chung.
Bởi thế, rơ ràng là chúng ta chẳng những phải t́m cách thắng vượt tương đối thuyết nơi công cuộc đào luyện con người, chúng ta c̣n được kêu gọi để chiến đấu với vị thế chủ trị của nó trong xă hội và văn hóa của chúng ta nữa. Đó là lư do, vấn đề quan trọng ở đây là, cùng với lời giảng dạy của Giáo Hội, các gia đ́nh Kitô hữu cũng cần phải thực hiện chứng từ và việc công khai dấn thân, nhất là để tái khẳng định tính cách bất khả vi phạm của sự sống con người từ khi được hoài thai đến khi tự nhiên qua đi, một giá trị đặc thù bất khả hoán của gia đ́nh dựa trên hôn nhân và là nhu cầu cần có những biện pháp về lập pháp và hành pháp để nâng đỡ gia đ́nh trong việc sinh sản và giáo dục con cái, một việc thiết yếu cho tương lai chung của chúng ta. Tôi cũng xin chân thành cám ơn việc dấn thân này của anh chị em.
Thiên Chức Linh Mục và
Đời Sống Tận Hiến Tu Tŕ
Điều cuối cùng tôi muốn nói với anh chị em liên quan đến việc chú trọng tới các
ơn gọi làm linh mục và tận hiến tu tŕ. Tất cả chúng ta đều biết đến nhu cầu
hiện nay của Giáo Hội! Để làm cho các ơn gọi này nẩy sinh và chín mùi, để những
người được kêu gọi luôn giữ ḿnh xứng đáng với ơn gọi của họ, th́ trước hết cần
đến lời cầu nguyện; việc nguyện cầu không phải giờ bị thiếu sót nơi mỗi gia đ́nh
cũng như nơi cộng đồng Kitô hữu. Thế nhưng, cũng rất cần nữa là chứng từ sống
của các vị linh mục, của thành phần tu sĩ nam nữ, niềm vui họ tỏ ra cho thấy họ
được Chúa kêu gọi. Và cũng thiết yếu nữa đó là gương mẫu trẻ em thấy được nơi
gia đ́nh của chúng, cùng với niềm tin tưởng là ơn gọi của các em cũng là một đại
ân của Chúa ban cho các em. Việc chọn lựa sống đồng trinh v́ kính mến Chúa và
mến yêu anh chị em, một chọn lựa mà thiên chức linh mục và đời sống tận hiến tu
tŕ đ̣i hỏi, là những ǵ song hành với việc cảm nhận về đời sống hôn nhân Kitô
giáo: qua hai h́nh thực khác nhau và bổ khuyết cho nhau, đời sống này hay đời
sống kia, ở một nghĩa nào đó, đều làm hiện thực mầu nhiệm giáo ước giữa Thiên
Chúa và dân Ngài”. (Đoạn cuối cùng ĐTC chào chúc và ban phép lành)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit 9-10/6/2005
ĐTC Biển Đức XVI với Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Việc Tham Vấn Liên Tôn
Hôm Thứ Năm 9/6/2005, ĐTC Biển Đức XVI đă tiếp phái đoàn đại biểu của Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Việc Tham Vấn Liên Tôn, và đă bày tỏ với phái đoàn này những cảm nhận liên tôn của ngài với dân Do Thái như sau:
Quí Vị Thượng Khách,
Quí Bạn thân mến,
Tôi hân hoan chào mừng phái đoàn đại biểu của Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Việc Tham Vấn Liên Tôn đến thăm Vatican.
Cuộc gặp gỡ của chúng ta diễn ra trong năm nay là năm đánh dấu 40 năm Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” của Công Đồng Chung Vaticanô II, một công đồng ban bố một giáo huấn làm nền tảng cho mối liên hệ giữa Giáo Hội với nhân dân Do Thái từ đó. Công Đồng này đă khẳng định niềm xác tín của Giáo Hội là, trong mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa th́ khởi nguyên cho đức tin của Giáo Hội đă được bắt nguồn từ Abraham, Moisen và các vị Tiên Tri. Bắt nguồn từ gia sản thiêng liêng này và giáo huấn của Phúc Âm, cần phải tiến đến chỗ hiểu biết nhau hơn và cảm mến nhau hơn giữa Kitô hữu và người Do Thái, cũng như lấy làm tiếc xót về tất cả mọi h́nh thức ghét bỏ, bách hại và bài Do Thái (“Nostra Aetate”, 4). Ngay vào lúc mở màn cho Giáo Triều của ḿnh, tôi muốn cam đoan với quí vị là Giáo Hội vẫn mạnh mẽ quyết tâm, qua giáo lư của ḿnh cũng như qua mọi khía cạnh sinh hoạt của ḿnh, áp dụng giáo huấn quan trọng ấy.
Trong những năm sau Công Đồng này, các vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, nhất là Đức Gioan Phaolô II, đă thực hiện những bước tiến quan trọng trong việc cải thiện những liên hệ với nhân dân Do Thái. Tôi cũng có ư tiếp tục con đường này. Lịch sử của mối liên hệ giữa hai cộng đồng của chúng ta đă từng là những ǵ phức tạp và thường đau thương, nhưng tôi tin rằng “cái gia sản thiêng liêng” được ấp ủ bởi cả Kitô hữu lẫn người Do Thái tự bản chất là nguồn mạch khôn ngoan và hứng khởi có thể hướng chúng ta đến “một tương lai hy vọng” theo dự án thần linh (x Jer 29:11). Đồng thời, việc nhớ lại quá khứ, đối với cả hai cộng đồng chúng ta, vẫn là một đ̣i hỏi về luân lư và là một nguồn thanh tẩy nơi những ǵ chúng ta nỗ lực nguyện cầu cùng hoạt động cho việc ḥa giải, cho công lư, cho việc tôn trọng phẩm giá con người cũng như cho một nền ḥa b́nh trên hết là tặng ân do Thiên Chúa ban. Tự chính bản chất của ḿnh, đ̣i hỏi này cần phải bao gồm cả việc liên tục suy tưởng về các vấn đề lịch sử, luân lư và thần học được chất chứa nơi kinh nghiệm của biến cố Shoah.
Trong 35 năm qua, Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Việc Tham Vấn Liên Tôn đă gặp gỡ các phái đoàn đại biểu của Ủy Ban của Ṭa Thánh Đặc Trách Liên Hệ Tôn Giáo với Người Do Thái 18 lần, kể cả cuộc họp gần đây nhất ở Buenos Aires vào Tháng 7/2004 về đề tài “Công Lư và Bác Ái”. Tôi xin dâng lời tạ ơn Chúa về sự tiến bộ đă đạt được trong những năm ấy, và tôi xin quí vị hăy kiên tŕ nơi công việc quan trọng này của quí vị, đặt những nền tảng cho việc tiếp tục đối thoại và xây dựng một thế giới ḥa giải, một thế giới ḥa hợp hơn bao giờ hết với ư muốn của Đấng Hóa Công. Tôi ưu ái xin Thiên Chúa ban phúc lành khôn ngoan, sức mạnh và an b́nh xuống trên tất cả quí vị cũng như trên những người thân yêu của quí vị.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit 9/6/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Huấn Từ ngày Thứ Ba 31/5 ở Vườn Vatican Kết Thúc Tháng Hoa 2005
Anh Chị Em thân mến,
Tôi rất vui mừng được hợp với anh chị em ở cuối cuộc gặp gỡ nguyện cầu này đây, một biến cố được văn pḥng Đại Diện Vatican Thành tổ chức. Tôi lấy làm hài ḷng khi nhận thấy một số đông anh chị em qui tụ lại ở Vườn Vatican này để kết thúc thánh Năm.
Trong số anh chị em đây đặc biệt có nhiều người sống hay làm việc ở Vatican, cùng với gia đ́nh của họ. Tôi thân ái gửi lời chào tới tất cả mọi người; nhất là các vị Hồng Y và Giám Mục, trước hết là ĐTGM Angelo Comastri là vị điều hành buổi họp mặt nguyện cầu này. Rồi tôi gửi lời chào các vị linh mục và tu sĩ nam nữ hiện diện nơi đây, và nghĩ đến cả các Nữ Tu chiêm niệm thuộc Đan Viện Mater Ecclesiae là những người đang liên kết thiêng liêng với chúng ta đây.
Quí bạn thân mến, anh chị em đă vất vả đến với Hang Lộ Đức để lần hạt Mân Côi, như muốn đáp ứng lời mọi gọi của Đức Trinh Nữ này trong việc hướng tinh thần của anh chị em về Trời. Đức Mẹ đồng hành với chúng ta mọi ngày ở những lời nguyện cầu của chúng ta. Trong Năm Thánh Thể đặc biệt chúng ta đang sống đây, Mẹ Maria trước hết giúp cho tất cả chúng ta nhận thức hơn nữa bí tích Thánh Thể cao cả này.
Trong bức Thông Điệp cuối cùng của ḿnh là Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia de Eucharistica, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta đă cho thấy Mẹ như là “Người Nữ Thánh Thể” suốt cuộc đời của Mẹ (khoản 53). “Người Nữ Thánh Thể” suốt cuộc đời, bắt đầu với nội tâm xứng đáng của Mẹ: từ biến cố Truyền Tin, lúc Mẹ hiến ḿnh cho mầu nhiệm Nhập Thể của Lời Thiên Chúa, cho tới Thập Tự Giá và Phục Sinh; “Người Nữ Thánh Thể” ở giai đoạn sau biến cố Hiện Xuống, khi Mẹ lănh nhận nơi Bí Tích này Thân Thể được Mẹ thụ thai và cưu mang trong ḷng của Mẹ.
Hôm nay, chúng ta đặc biệt dừng lại suy niệm về mầu nhiệm của việc Đức Trinh Nữ viếng thăm Thánh Isave. Mẹ Maria, cưu mang Chúa Giêsu vừa được thụ thai, đi để thăm người chị họ luống tuổi Isave của ḿnh, người mà mọi người nói rằng son sẻ những lại được Chúa cho cưu mang sáu tháng rồi (x Lk 1:36), Mẹ là một người con gái trẻ trung nhưng Mẹ không sợ, v́ Thiên Chúa ở cùng Mẹ, ở trong Mẹ.
Một cách nào đó chúng ta có thể nói rằng cuộc hành tŕnh của Mẹ – chúng ta muốn nhấn mạnh trong Năm Thánh Thể này – là “cuộc cung nghinh Thánh Thể” đầu tiên trong lịch sử. Mẹ Maria, Nhà Tạm sống động của Thiên Chúa hóa thành nhục thể, là Ḥm Bia Giao Ước ở đó Chúa đến viếng thăm và cứu chuộc dân của Người. Việc hiện diện của Chúa Giêsu làm cho Mẹ tràn đầy Thánh Thần.
Khi Mẹ tiến vào nhà của bà Isave, lời chào của Mẹ tràn đầy ân phúc: Gioan đă nhẩy mừng trong ḷng mẹ của em, như thể em nhận thức được Đấng một ngày kia em loan báo cho dân Yến Duyên đă đến. Hai con trẻ hơn hở, hai bà mẹ hân hoan. Cuộc gặp gỡ này, thấm đậm niềm vui mừng của Thánh Linh, được bày tỏ ra nơi Ca Vịnh Ngợi Khen.
Đây cũng không phải là niềm vui của Giáo Hội hay sao, một Giáo Hội không ngừng đón nhận Chúa Kitô nơi Thánh Thể và mang Người vào thế giới bằng chứng từ của một đức bác ái chủ động đầy tin tưởng và hy vọng? Phải, việc đón nhận Chúa Giêsu và mang Người đến cho kẻ khác thực sự là niềm vui của Kitô hữu vậy!
Anh Chị Em thân mến, chúng ta hăy theo gương bắt chước Mẹ Maria, một tâm hồn sâu xa Thánh Thể, và cả cuộc sống của chúng ta có thể trở thành một bài Ca Vịnh Ngợi Khen (x Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, khoản 58), bài chúc tụng Thiên Chúa. Chớ ǵ điều này là ân sủng chúng ta xin Trinh Nữ Rất Thánh trong tối hôm nay ở vào lúc kết tháng Năm này. Tôi chúc lành cho tất cả mọi anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2005/may/documents/hf_ben-xvi_spe_20050531_rosary-may_en.html
|
|
“Hỡi Giêrusalem, hăy tôn vinh Chúa, Hỡi Sion hăy chúc tụng Thiên Chúa của ngươi”
(câu đáp ca). Lời mời gọi này của Thánh Vịnh gia, một lời mời gọi cũng có cả ở
trong bài ca tiếp liên, đă diễn tả rất rơ về ư nghĩa của việc cử hành Thánh Thể
này: Đó là việc chúng ta qui tụ lại để ngợi khen và chúc tụng Chúa. Đó là lư do
tại sao đă khiến cho Giáo Hội Ư quốc hội họp ở Baria đây vào dịp Hội Nghị Thánh
Thể Toàn Quốc này.
Tôi cũng muốn liên kết với tất cả mọi anh chị em hôm nay đây để hết sức đặc biệt
cử hành lễ trọng Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, để tôn kính Chúa Kitô trong bí tích
yêu thương của Người, đồng thời củng cố những mối liên hệ hiệp thông nối kết tôi
với Giáo Hội ở Ư quốc và với các vị mục tử của Giáo Hội này. Vị tiền nhiệm đáng
kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đă muốn hiện diện ở biến cố
quan trọng này của Giáo Hội. Chúng ta cảm thấy ngài gần gũi với chúng ta, và
cùng với chúng ta, ngài tôn vinh Chúa Kitô là vị mục tử nhân lành, Đấng mà giờ
đây ngài đang được trực diện chiêm ngưỡng.
Với ḷng cảm mến, tôi xin gửi lời chào đến tất cả anh chị em đang tham dự việc
phụng vụ long trọng này: ĐHY Camillo Ruini cùng các hồng y khác hiện diện nơi
đây, ĐTGM Francesco Cacucci giáo phận Bari-Bitonto, giám mục giáo phận Apulia và
nhiều vị giám mục đến từ khắp Ư quốc; các linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân,
nhất là những ai cộng tác vào việc tổ chức hội nghị này. Tôi cũng xin gửi chào
tới những vị thẩm quyền dân sự hiện diện, v́ sự hiện diện của các vị đă cho thấy
rằng những hội nghị Thánh Thể là một phần lịch sử và văn hóa của nhân dân Ư quốc.
Hội nghị Thánh Thể này, một hội nghị được bế mạc hôm nay đây, có mục đích cho
thấy một lần nữa rằng Chúa Nhật là “Ngày Phục Sinh hằng tuần”, một lời diễn tả
về căn tính của cộng đồng Kitô giáo và là tâm điểm của đời sống cùng sứ vụ của
cộng đồng này. Đề tài được chọn là “Chúng Ta Không Thể Sống Nếu Không Có Chúa
Nhật” là đề tài đưa chúng ta về lại năm 304, khi mà hoàng đế Diocletian cấm cách
Kitô hữu, với h́nh phạt tử h́nh, không cho họ có được những cuốn Thánh Kinh,
không được hội họp vào Chúa Nhật để cử hành Thánh Thể và không được xây cất các
cơ sở cho các cuộc qui tụ của họ. Ở Abitene, một khu làng nhỏ là nơi ngày nay
gọi là Tunis, có 49 Kitô hữu, gặp nhau trong căn nhà của Octavius Felix, đă bất
ngờ bị bắt vào một ngày Chúa Nhật khi họ đang cử hành Thánh Thể, khinh thường
các cấm lệnh của hoàng đế. Bị giam nhốt, họ được mang đến Carthage cho quan toàn
quyền Anulinus chất vấn.
Đặc biệt nhất là lời của Emeritus đối đáp với vị quan toàn quyền này, sau khi
ông được hỏi tại sao ông đă vi phạm đến lệnh cấm của hoàng đế. Ông nói: “Sine
dominico non possumus”, chúng tôi không thể sống nếu thiếu việc hội họp Chúa
Nhật để cử hành Thánh Thể. Chúng tôi sẽ không có sức mạnh để đương đầu với các
khó khăn hằng ngày mà không bị thua bại. Sau khi bị hành h́nh tàn bạo, 49 vị tử
đạo ở Abitene đă bị sát hại. Như thế, các vị đă khẳng định đức tin của các vị
bằng việc đổ máu. Các vị đă chết nhưng các vị là thành phần chiến thắng; giờ đây
chúng ta nhớ đến các vị đang ở trong vinh hiển của Chúa Kitô phục sinh.
Chúng ta, thành phần Kitô hữu của thế kỷ 21 này, cũng phải phản ảnh cảm nghiệm
của những vị tử đạo ở Abitene. Đối với chúng ta th́ việc sống như là người Kitô
hữu cũng không phải là điều dễ dàng ǵ. Theo quan điểm thiêng liêng, th́ thế
giới chúng ta đang sống đây, một thế giới thường mang đặc tính hào hứng hưởng
thụ, tính cách lạnh lùng dửng dưng về đạo nghĩa, chủ nghĩa trần thế khép kín
trước siêu việt thể, dường như là một vùng hoang địa cằn cỗi như miền hoang địa
“mênh mông và kinh hoàng” được bài đọc thứ nhất trích từ Sách Nhị Luật cho chúng
ta thấy.
Thiên Chúa đă ra tay cứu giúp dân Do Thái trong cơn khốn khó của họ bằng việc
ban manna cho họ để họ hiểu rằng “người ta không sống nguyên bởi bánh mà c̣n
sống bởi những ǵ từ miệng Thiên Chúa phán dạy” (Deut 8:3). Trong bài Phúc Âm
hôm nay, Chúa Giêsu đă cắt nghĩa cho chúng ta biết thứ bánh nào đă được Thiên
Chúa muốn dọn ra cho dân tân ước như tặng ân manna. Khi nói một cách ám chỉ về
Thánh Thể, Người phán rằng: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải thứ bánh cha
ông của quí vị đă ăn và đă chết; ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời” (Jn 6:58).
Người Con Thiên Chúa này, khi hóa thành nhục thể, đă trở nên bánh, nhờ đó, nên
dưỡng thực của dân Người trong cuộc hành tŕnh tiến về đất hứa thiên cung.
Chúng ta cần thứ bánh này để đương đầu với t́nh trạng vất vả khó nhọc và kiệt
sức trên đường đi. Chúa Nhật, ngày của Chúa, là một cơ hội thuận lợi để kín múc
lấy sức mạnh từ nơi Người, Đấng là Chúa sự sống. Bởi thế mà luật giữ ngày Chúa
Nhật không chỉ là một nhiệm vụ đơn thuần bị áp đặt từ bên ngoài. Việc tham dự
vào việc cử hành Chúa Nhật và việc được dưỡng nuôi bởi bánh Thánh Thể là nhu cầu
của người Kitô hữu, thành phần nhờ đó có thể t́m thấy nghị lực cần thiết cho
cuộc hành tŕnh cần phải thực hiện. Ngoài ra, cuộc hành tŕnh không phải là
những ǵ tùy nghi; đường đi nước bước được Thiên Chúa ấn định qua lề luật của
Ngài là những ǵ được in ấn ngay nơi yếu tính của con người. Việc đi theo con
đường này có nghĩa là con người được nên trọn vẹn, bằng nếu con người lạc mất nó
là họ đánh mất chính bản thân ḿnh vậy.
Chúa Kitô không để chúng ta cô đơn lẻ loi một ḿnh tiến bước trên cuộc hành
tŕnh này. Người ở với chúng ta; chưa hết, Người c̣n muốn chia sẻ với thân mệnh
của chúng ta bằng việc thu hút lấy chúng ta. Trong cuộc đối thoại được Phục Âm
vừa tŕnh thuật, Người nói rằng: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi th́ ở trong Tôi
và Tôi ở trong họ” (Jn 6:56). Làm sao chúng ta lại không hân hoan vui mừng về
một lời hứa hẹn như thế chứ? Tuy nhiên, chúng ta cũng nghe thấy rằng, trước lời
công bố tiên khởi ấy, thay v́ vui mừng th́ dân chúng lại bắt đầu tranh căi và
chất vấn rằng: “Làm thế nào mà người này lại có thể ban thịt của ḿnh cho chúng
ta ăn chứ?” (Jn 6:52).
Việc nói lên sự thật, một thái độ đă từng được lập lại nhiều lần trong gịng
lịch sử. Nói cho cùng th́ h́nh như con người ta không muốn Thiên Chúa quá gần
gũi họ, quá thuận lợi, quá hiện hữu nơi các việc làm của họ. Người ta muốn Ngài
phải là Đấng cao cả, nói cách khác, muốn cách xa th́ hơn. Thế rồi họ tự đặt
thành vấn đề cho rằng việc gần gũi ấy thực sự là những ǵ không thể nào thực hữu.
Tuy nhiên, những lời Chúa Kitô công bố đặc biệt trong trường hợp này vẫn hoàn
toàn là những ǵ sáng tỏ: “Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho quí vị biết, nếu quí
vị không ăn thịt Con Người và uống máu Người th́ quí vị không có sự sống nơi quí
vị” (Jn 6:53). Trước những lời x́ xèo chống đối, Chúa Giêsu có thể đă hạ giọng
rút lời lại mà rằng. “Này quí bạn, Người có thể nói, quí bạn đừng lo! Tôi đă nói
về thịt, nhưng đó chỉ là một biểu hiệu thôi. Những ǵ tôi muốn nói chỉ là một
cuộc hiệp thông sâu xa về t́nh cảm đó mà”.
Thế nhưng, Chúa Giêsu đă không sử dụng lối ve vuốt mua chuộc như thế. Người vẫn
giữ nguyên những ǵ Người đă mạnh mẽ khẳng định, ngay cả khi phải đối diện với
việc đào ngũ nơi thành phần tông đồ của Người, và Người đă không thay đổi một tí
nào tính chất cụ thể của bài nói của ḿnh: “Các con cũng sẽ bỏ đi hay chăng?” (Jn
6:67), Người hỏi. Tạ ơn Chúa, Thánh Phêrô đă thưa Người một câu trả lời mà hôm
nay đây chúng ta cần phải lập lại với tất cả ư thức rằng: “Lạy Chúa, chúng con
c̣n biết theo ai? Chúa có những lời hằng sống” (Jn 6:68).
Nơi Thánh Thể, Chúa Kitô thực sự hiện diện giữa chúng ta. Việc hiện diện của
Người không phải là một cái ǵ bất động. Đó là một hiện diện năng động, một hiện
diện làm chúng ta thành của Người, đồng hóa chúng ta với Người. Thánh Âu Quốc
Tinh đă hiểu điều này rất rơ ràng. Được đào luyện theo triết lư Platô, ngài khó
ḷng mà chấp nhận được chiều kích “nhập thể” của Kitô giáo. Đặc biệt là ngài tỏ
thái độ bất đồng về quan điểm “bữa tiệc Thánh Thể” là những ǵ đối với ngài bất
xứng với Thiên Chúa. Nhờ những bữa ăn thông thường tự nhiên mà con người được
mạnh khỏe hơn, khi họ đồng hóa thực phẩm, biến nó thành một yếu tố của thực tại
thể lư riêng ḿnh. Chỉ sau đó Thánh Âu Quốc Tinh mới hiểu được rằng nơi Thánh
Thể đă xẩy ra những ǵ hoàn toàn khác hẳn, ở chỗ, tâm điểm là Chúa Kitô, Đấng
thu hút chúng ta đến với Người; Người làm cho chúng ta thoát ra khỏi bản thân
của chúng ta để làm cho chúng ta nên một với Người (x Tự Thú, VII, 10, 16). Nhờ
đó, Người mang chúng ta vào cộng đồng huynh đệ.
Đến đây chúng ta đối diện với một chiều kích sâu xa hơn nữa của Thánh Thể là
chiều kích tôi muốn bàn đến trước khi kết thúc bài giảng. Chúa Kitô là Đấng
chúng ta gặp gỡ trong bí tích này cũng chỉ là một ở Bari đây, như ở Rôma, ở Âu
Châu, Mỹ Châu, Phi Châu, Á Châu, Đại Dương Châu. Người là Chúa Kitô duy nhất
hiện diện nơi bánh Thánh Thể ở khắp mọi nơi trên trái đất này. Điều này có nghĩa
là chúng ta chỉ có thể hội ngộ với Người cùng với tất cả những người khác. Chúng
ta chỉ có thể nhận lấy Người trong hiệp nhất mà thôi.
Đó không phải là những ǵ đă được Thánh Tông Đồ Phaolô nói với chúng ta trong
bài đọc chúng ta vừa nghe hay sao? Khi viết cho Kitô hữu Côrintô, ngài đă khẳng
định rằng: “V́ chỉ có một tấm bánh duy nhất mà chúng ta tuy nhiều chỉ là một
thân thể duy nhất, v́ tất cả chúng ta đều tham dự vào một tấm bánh duy nhất”
(1Cor 10:17). Kết quả rơ ràng là: Chúng ta không thể hiệp thông với Chúa Kitô
nếu chúng ta không hiệp thông với chính chúng ta. Nếu chúng ta muốn ra trước
nhan Người, chúng ta cần phải tiến đến chỗ gặp gỡ nhau. Để làm được điều này cần
phải biết hết sức thứ tha. Chúng ta không được để cho những con ấu trùng sát hại
của tâm trạng bất măn cầm buộc tinh thần của chúng ta, nhưng hăy mở ḷng ḿnh ra
một cách rộng lượng, để lắng nghe người khác, để cảm thông, để có thể chấp nhận
những lời xin lỗi của nhau, để quảng đại ban phát những ǵ của chúng ta.
Chúng ta hăy lập lại Thánh Thể là bí tích của hiệp nhất. Thế nhưng, tiếc thay,
Kitô hữu lại chia rẽ nhau chính v́ bí tích hiệp nhất này. Bởi thế, đó lại càng
là lư do, được Thánh Thể nâng đỡ, chúng ta cần phải cảm thấy được phấn khích hết
sức hường đến mối hiệp nhất trọn vẹn như Chúa Kitô thiết tha mong muốn ở nhà
tiệc ly. Chính ở Baria này đây, thành phố đang giữ những xương cốt của Thánh
Nicholas, mảnh đất của gặp gỡ và đối thoại với những người anh em Kitô hữu Đông
phương mà tôi xin khẳng định ư muốn của tôi trong vấn đề thực hiện hết sức ḿnh,
như là một cuộc dấn thân chính yếu, trong việc tái thiết mối hiệp nhất tất cả
mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô một cách trọn vẹn và hữu h́nh.
Tôi biết rằng, để làm như thế, những việc bày tỏ thiện cảm vẫn chưa đủ. Cần phải
có những cử chỉ cụ thể là những ǵ thẩm thấu tâm linh và khuấy động lương tri,
mời gọi từng người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất
cả mọi sự tiến bộ trên con đường đại kết (cf. Benedict XVI's Address to
Representatives of Christian Churches and Communities and of Other Non-Christian
Religions, April 25, 2005). Tôi xin tất cả anh chị em hăy cương quyết thực hiện
con đường đại kết thiêng liêng này, con đường bằng việc nguyện cầu mở cửa cho
Thánh Linh là Đấng duy nhất có thể kiến tạo hiệp nhất mà thôi.
Quí bạn thân mến, những người đă đến Bari từ các phần đất khác nhau ở Ư quốc để
cử hành hội nghị Thánh Thể này: Chúng ta cần phải tái nhận thức được niềm vui
của Ngày Chúa Nhật Kitô giáo. Chúng ta cần phải hănh diện tái nhận thức được đặc
ân có thể tham phần Thánh Thể là bí tích của một thế giới được canh tân. Việc
phục sinh của Chúa Kitô được xẩy ra vài ngày thứ nhất trong tuần, ngày mà đối
với người Do Thái là ngày tạo dựng nên thế giới. Chính v́ lư do ấy mà Chúa Nhật
được cộng đồng Kitô hữu thời sơ khai coi như là ngày mở màn cho một tân thế giới,
ngày mà Chúa Kitô chiến thắng sự chết mở màn cho một tân thế giới. Cùng nhau tập
trung quanh bàn ti65c Thánh Thể, cộng đồng này đang h́nh thành một tân dân Chúa.
Thánh Ignatiô Antiôkia đă gọi thành phần Kitô hữu là “những người đă chiếm được
niềm hy vọng mới”, và ngài coi họ như những con người “sống theo Chúa Nhật” (“iuxta
dominicam viventes”). Từ quan điểm này, vị giám mục Antiôkia đă ngẫm nghĩ rằng:
“Chúng ta làm thế nào có thể sống nếu thiếu Đấng được các vị tiên tri mong đợi
được chứ?” ("Epistula ad Magnesios," 9, 1-2).
“Làm sao chúng ta có thể sống mà không có Người?” Chúng ta nghe thấy âm vang từ
lời khẳng định của các vị tử đạo ở Abitene, nơi những lời này của Thánh Ignatiô:
“Sine dominico non possumus”. Từ lời âm vang này chúng ta hăy dâng lên lời
nguyện cầu: chớ ǵ Kitô hữu ngày nay tái ư thức được tầm quan trọng quyết liệt
của việc cử hành Chúa Nhật, nhờ đó chúng ta có thể rút ra được từ việc tham dự
Thánh Thể này động lực cần thiết cho việc dấn thân mới để loan báo Chúa Kitô là
“ḥa b́nh của chúng ta” cho thế giới (Eph 2:14). Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo bản dịch của Zenit ngày 29/5/2005
|
|
Vào lúc 7 giờ tối ngày Thứ Năm 26/5/2005, Đức
Thánh Cha Biển Đức XVI đă chủ tế Thánh Lễ Trọng Kính Ḿnh Máu Thánh Chúa ở Quảng
Trường Đền Thờ Gioan Latêranô và chủ sự Cuộc Rước Thánh Thể từ Đền Thờ của Vị
Giám Mục Rôma này sang Đền Thờ Đức Bà Cả gần đó. Sau đây là nguyên văn bài giảng
của ngài được Zenit phổ biến ngày 30/5/2005.
“Vào ngày lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo Hội sống lại mầu nhiệm của Ngày Thứ
Năm Phục Sinh theo chiều hướng Phục Sinh. Ngày Thứ Năm Phục Sinh cũng có cuộc
Kiệu Thánh Thể riêng được Giáo Hội lập lại việc Chúa Giêsu đi từ Nhà Tiệc Ly đến
Núi Cây Dầu. Ở Do Thái, Lễ Vượt Qua được cử hành tại gia, trong t́nh thân mật
gia đ́nh, nhắc nhở lại cuộc Vượt Qua ban đầu ở Ai Cập, đêm mà máu của con chiên
vượt qua được bôi lên cửa nhà để tránh khỏi bị hành quyết. Vào đêm hôm ấy, Chúa
Giêsu đă lên đường nộp ḿnh cho kẻ phản bội, thành phần hành quyết, nhờ đó,
Người đă chiến thắng đêm đen và bóng tối sự dữ. Chỉ có thế tặng ân Thánh Thể
được thiết lập ở Nhà Tiệc Ly mới nên trọn. Chúa Giêsu thực sự đă trao ban Ḿnh
Máu của Người. Vượt qua ngưỡng cửa sự chết, Người đă trở nên Bánh hằng sống là
manna thật, là dưỡng chất vô tận cho tất cả mọi thời đại. Thịt của Người đă trở
nên Bánh sự sống.
“Trong cuộc kiệu Thánh Thể Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội đi theo Chúa Giêsu đến
Núi Cây Dầu. Giáo Hội cầu nguyện cảm thấy hết sức ước mong tỉnh thức với Chúa
Giêsu; không để mặc Người lẻ loi một ḿnh trong đêm tối của thế giới, trong bóng
đêm của bội phản, trong đêm đen của dửng dưng lạnh lùng nơi nhiều người. Vào
ngày Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa, chúng ta lập lại việc đi theo này, thế nhưng là
việc đi theo trong niềm vui Phục Sinh. Chúa Kitô đă sống lại và Người đi trước
chúng ta. Ở những tŕnh thuật về phục sinh đều có một đặc tính thiết yếu chung.
Các vị thiên thần nói: Chúa Giêsu ‘đi trước anh em đến Galilêa; ở đó anh em sẽ
gặp Người’ (Mt 28:7). Suy nghĩ kỹ hơn về lời này, chúng ta có thể nói rằng ‘việc
đi trước’ này của Chúa Giêsu bao gồm một lưỡng hướng. Hướng thứ nhất là Galilêa
như chúng ta đă nghe. Ở Do Thái, Galilêa được coi là cửa ngơ của thế giới dân
ngoại. Thực sự là chính ở Galilêa này, ở trên đỉnh núi, thành phần môn đệ đă
thấy Chúa Giêsu nói cùng các vị rằng: ‘Bởi thế, các con hăy đi tuyển mộ các môn
sinh khắp các dân nước’ (Mt 28:19).
‘‘Hướng đi nữa mà Đấng Phục Sinh ra đi trước chúng ta được thấy trong Phúc Âm
Thánh Gioan, qua lời Chúa Giêsu nói với Mai Đệ Liên: ‘Đứng chạm đến Thày, v́
Thày chưa lên cùng Cha’ (Jn 20:17). Chúa Giêsu đi trước chúng ta về cùng Chúa
Cha, Người đă lên cùng Thiên Chúa trên nơi cao thẳm và kêu mời chúng ta hăy theo
Người. Hai hướng đi nơi con đường của Đấng Phục Sinh này không phản nghịch nhau
nhưng cùng cho thấy đường lối để theo Chúa Kitô. Cùng đích thực sự của cuộc
chúng ta hành tŕnh đó là được hiệp thông với Thiên Chúa, chính Thiên Chúa là
nhà có nhiều chỗ ở (x Jn 14:2 và sau đó). Thế nhưng chúng ta chỉ có thể lên chỗ
này bằng cách đi ‘đến Galilêa’, đi trên những nẻo đường thế giới, mang Phúc Âm
đến cho tất cả mọi dân nước, mang tặng ân yêu thương của Người cho con người ở
tất cả mọi thời đại. Bởi thế, cuộc hành tŕnh của các vị tông đồ này đă lan “đến
tận cùng trái đất” (x Acts 1:6 và sau đó); đó là cách hai Thánh Phêrô và Phaolô
đă đến Rôma, thành phố bấy giờ là trung tâm của một thế giới nổi tiếng, một thủ
đô thế giới ‘caput mundi’ thực sự.
“Cuộc kiệu Thánh Thể Thứ Năm Tuần Thánh là cuộc đi theo Chúa Giêsu tới ‘đường
thánh giá – via crucis’ với tâm trạng lẻ loi đơn độc của Người. Cuộc kiệu Thánh
Thể Lễ Ḿnh Máu Chúa Kitô, trái lại, là những ǵ tiêu biểu cho việc đáp ứng lệnh
truyền của Đấng Phục Sinh: Thày đi trước các con đến Galilêa. Các con hăy đi
khắp cùng trái đất, hăy mang Phúc Âm đến cho thế giới. Đối với đức tin th́ Thánh
Thể thực sự là mầu nhiệm thân t́nh. Chúa Kitô thiết lập Bí Tích này ở Nhà Tiệc
Ly, chung quanh là gia đ́nh mới của Người, là 12 vị Tông Đồ, một tiền thân và là
ngưỡng vọng của Giáo Hội thuộc mọi thời đại. V́ thế mà trong phụng vụ của Giáo
Hội sơ khai, việc phân phối Rước Lễ được giới thiệu bằng những lời: ‘Sancta
sanctis’, tặng ân thánh được giành cho những ai thánh đức. Điều này đáp ứng lời
cảnh giác Thánh Phaolô ngỏ cùng Kitô hữu Corintô: ‘Người ta hăy tự kiểm điểm rồi
mới ăn và uống chén này. V́ ai ăn và uống một cách vô tâm thân ḿnh này là ăn và
uống án phạt ḿnh’ (1Cor 11:28).
“Tuy nhiên, từ mối thân t́nh này, mối thân t́nh hoàn toàn là một tặng ân do Chúa
ban, mănh lực của bí tích Thánh Thể này vượt ra ngoài bức tường của các giáo hội
chúng ta. Nơi bí tích ấy, Chúa Kitô luôn tiến đến với thế giới. Khía cạnh phổ
quát này của việc hiện diện Thánh Thể được hiện lộ nơi cuộc kiệu Thánh Thể của
thánh lễ chúng ta cử hành hôm nay đây. Chúng ta đem Chúa Kitô hiện diện nơi h́nh
bánh đi qua đường xá của thành phố chúng ta ở. Chúng ta xin kư thác cho ḷng
nhân lành của Người những con đường này, những ngôi nhà ấy, và cuộc sống thường
nhật của chúng ta. Chớ ǵ những con đường của chúng ta đây là những con đường
của Chúa Giêsu! Chớ ǵ những ngôi nhà của chúng ta đây là những căn nhà giành
cho Người và ở với Người! Chớ ǵ cuộc sống thường nhật của chúng ta được thấm
đậm sự hiện diện của Người. Bằng cử chỉ này, chúng ta đặt dưới ánh mắt của Người
nỗi khổ đau của thành phần bệnh nhân, tâm trạng cô đơn của giới trẻ và giới già,
những chước cám dỗ và các nỗi lo âu sợ hăi, và tất cả cuộc đời của chúng ta.
Cuộc kiệu Thánh Thể này muốn trở thành một đại ân phúc chung cho thành phố của
chúng ta. Chính bản thân Chúa Kitô là ân phúc Thiên Chúa ban cho thế giới vậy.
Chớ ǵ những tia sáng phúc ân của Người chiếu tỏa trên tất cả chúng ta.
“Trong cuộc kiệu Thánh Thể của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta đi theo
Đấng Phục Sinh trong cuộc hành tŕnh của Người khắp nơi trên thế giới, như chúng
ta đă nói. Nhờ đó, chúng ta cũng đáp lại lệnh truyền của Người là ‘hăy cầm lấy
mà ăn… Tất cả các con hăy uống’ (Mt 26:26 và sau đó). Người ta không thể ‘ăn’
Đấng Phục Sinh hiện diện dưới h́nh bánh như ăn một miếng bánh b́nh thường. Việc
ăn bánh này là việc hiệp thông, là việc tiến đến chỗ hiệp thông với ngôi vị của
Vị Chúa hằng sống. Việc hiệp thông này, tác động ‘ăn’ này là những ǵ thực sự
tiêu biểu cho việc hội ngộ giữa hai con người, nó cho bản thân tôi có thể được
thấu nhập bởi sự sống của Đấng là Chúa, Đấng là Hóa Công của tôi và là Vị Cứu
Chuộc của tôi. Mục đích của việc hiệp thông này đó là việc đồng hóa sự sống của
tôi với sự sống của Người, là việc tôi được biến đổi và nên giống Đấng là T́nh
Yêu hằng sống. Bởi thế, việc hiệp thông này bao gồm cả việc tôn thờ, bao gồm ư
muốn theo Chúa Kitô, theo Đấng đă đi trước chúng ta. Việc tôn thờ và kiệu Thánh
Thể như thế làm nên một cử chỉ duy nhất của mối hiệp thông, một đáp ứng đối với
lời Người kêu gọi ‘hăy nhận lấy mà ăn’.
“Việc Kiệu Thánh Thể của chúng ta được chấm dứt trước Đền Thờ Đức Bà Cả, để gặp
gỡ Đức Trinh Nữ là Vị được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu gọi là ‘Người
Nữ Thánh Thể’. Maria, Mẹ Thiên Chúa, thực sự dạy chúng ta những ǵ đưa chúng ta
tới việc hiệp thông với Chúa Kitô: Mẹ Maria đă cống hiến thịt của ḿnh, máu của
ḿnh cho Chúa Giêsu và trở nên nhà tạm sống động của Lời, để chính Mẹ có thể
được thấm đậm cả hồn lẫn xác việc hiện diện của Người. Chúng ta hăy xin Mẹ giúp
chúng ta cởi mở bản thân chúng ta hơn nữa trước sự hiện diện của Chúa Kitô, để
Mẹ có thể giúp chúng ta trung thành theo Người hằng ngày suốt hành tŕnh cuộc
sống của chúng ta. Amen!”.
Bài Nói của ĐTC BĐXVI về Cuốn
Phim “Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng”
Tối Thứ Năm 19/5/2005, cùng với mấy ngàn người tại Sảnh Đường Phaolô VI, ĐTC
đă xem cuốn phim “Karol un uomo deventato Papa – Karol, Một Người đă Trở Thành
Giáo Hoàng”. Sau khi xem xong phần đầu của cuốn phim cho tới khi Đức Karol lên
làm giáo hoàng, ĐTC đă bày tỏ nhận định của ḿnh bằng những lời lẽ chính yếu
tiêu biểu liên quan đến hai chế độ độc tài chuyên chế của sự dữ như sau.
Anh Chị Em thân mến,
Tôi muốn diễn tả những cảm thức chung và bày tỏ ḷng biết ơn đối với những ai
muốn cống hiến cho tôi cũng như cho tất cả anh chị em cơ hội xem cuốn phim cảm
kích này tối hôm nay; cuốn phim diễn lại cuộc đời của con người trẻ Karol
Wojtyla, cho đến khi ngài được chon làm Giáo Hoàng với danh hiệu “Gioan Phaolô
II”.
Tôi xin chào và cám ơn ĐHY Roberto Tucci về việc ngài giới thiệu cuốn phim này.
Và tôi muốn ngỏ lời ca ngợi đến vị đạo diễn kiêm tác giả Giacomo Battiato, cũng
như đến các tài tử, nhất là tài tử Piotr Adamczyk là người đóng vai Đức Gioan
Phaolô II, đến nhà sản xuất phim Pietro Valsecchi cũng như đến các đài Taodue và
Mediaset.
Tôi thân ái gửi lời chào đến quí Hồng Y, Giám Mục, linh mục, các Vị Thẩm Quyền
và tất cả những ai muốn tham dự vào việc xem phim này để tôn kính Vị Giáo Hoàng
yêu dấu của chúng ta vừa tạ thế. Tất cả chúng ta đều nhớ đến ngài với niềm cảm
xúc sâu xa và tri ân chân thành. Hôm qua là ngày ngài mừng sinh nhật 85 của ngài.
“Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng” là nhan đề của một thảm kịch được
trích từ bản văn của Gian Franco Svidercoschi. Phần thứ nhất, như chúng ta đă
xem, nhấn mạnh đến những ǵ đă xẩy ra ở Balan dưới thời Nazi chiếm đóng” và ngài
nói tới “t́nh trạng bị đàn áp của nhân dân Balan cũng như cuộc diệt chủng Do
Thái. Đây là những tội ác tàn bạo cho thấy tất cả cái xấu xa dữ ác nơi ư hệ
Nazi.
Rùng ḿnh trước quá nhiều khổ đau và quá nhiều bạo lực, con người trẻ Karol đă
quyết định biến đổi cuộc đời của ḿnh, khi đáp lại tiếng gọi thần linh đi làm
linh mục. Cuốn phim này có những cảnh và những đoạn có tính cách thô bạo đă khơi
lên nơi khán giả tự nhiên cảm thấy kinh hoàng “muốn quay đi”, và kích thích họ
nghĩ đến những ǵ sâu xa của tội lỗi có thể ẩn náu nơi linh hồn con người.
Khi khơi lên những ǵ lầm lạc như thế th́ đồng thời nó cũng làm nổi lên nơi tất
cả những ai biết suy nghĩ đúng đắn quyết tâm thực hiện tất cả những ǵ có thể để
bảo đảm rằng những hành động man di mọi rợ phi nhân ấy không bao giờ c̣n tái
diễn nữa”.
Việc xem phim hôm nay xẩy ra chỉ sau vài ngày kỷ niệm 60 năm chấm dứt Thế Chiến
Thứ II. Vào ngày 8/5/1945 là ngày đánh dấu việc chấm dứt của một thảm cảnh khủng
khiếp đă gieo rắc hủy diệt và chết chóc ở Âu Châu cũng như trên thế giới với một
mức độ chưa từng có.
Mười năm trước đây, Đức Gioan Phaolô II đă viết rằng Thế Chiến II đă là những ǵ
tỏ tường hơn bao giờ hết cho thấy nó như là một ‘cuộc tự sát nhân loại’. Bất cứ
lúc nào con người bị một ư hệ độc tài nào đó đè nén th́ toàn thể nhân loại bị
trầm trọng đe dọa. Những hồi niệm ấy không được phai nhạt theo thời gian, trái
lại, chúng phải tồn tại như một bài học thực sự cho các thế hệ của chúng ta cũng
như mai hậu. Chúng ta có nhiệm vụ phải nhắc nhở ḿnh và kẻ khác, nhất là giới
trẻ, về những h́nh thức bạo lực chưa từng thấy có thể xẩy ra bởi thái độ khinh
bỉ con người và việc vi phạm đến các thứ nhân quyền”.
Chúng ta lại không thấy được hay sao dự án thần linh nơi sự kiện là trên Ngài
Ṭa Thánh Phêrô vị Giáo Hoàng Balan được kế vị bởi một người công dân Đức Quốc,
nơi chế độ Nazi đă củng cố ḿnh bằng tính chất cực kỳ độc hại, trước khi tấn
công láng giềng của ḿnh, nhất là Balan?
Cả hai vị Giáo Hoàng này, trong thời c̣n trẻ, mặc dù ở hai bên khác nhau và ở
hai trường hợp khác nhau, đều bị buộc phải trải qua cái dă man mọi rợ của Thế
Chiến Thứ Hai cũng như t́nh trạng bạo lực vô nghĩa được con người và các dân tộc
sử dụng để phạm đến nhau.
Trong những ngày cuối cùng của Công Đồng Chung Vaticanô II được tổ chức ở Rôma
đây, những vị Giám Mục Balan đă đồng kư tên vào “Bức Thư Ḥa Giải” với các vị
Giám Mục Đức Quốc; bức thư này đă chất chứa những lời để đời vẫn c̣n vang vọng
trong tâm hồn của chúng ta hôm nay đây: “Chúng tôi tha thứ và xin được thứ tha”.
Trong bài giảng Chúa Nhật vừa rồi tôi đă nhắc nhở các vị tân linh mục là ‘không
ǵ có thể cải tiến trên thế giới này, nếu không thắng vượt sự dữ; và sự dữ chỉ
có thể bị chế ngự bằng ḷng thứ tha’ (L'Osservatore Romano English Edition, 18
May, p. 7). Chớ ǵ việc cùng nhau thành tâm lên án chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa
Cộng Sản vô thần góp phần vào việc mọi người dấn thân xây dựng vấn đề ḥa giải
và ḥa b́nh theo chiều hướng thứ tha.
Đức Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta nhắc nhở chúng ta rằng “Tha thứ không
có nghĩa là quên đi, nếu hồi niệm là qui luật của lịch sử th́ việc thứ tha là
quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng của Chúa Kitô đang hoạt động nơi những
thăng trầm của con người” (cf. "Insegnamenti di Giovanni Paolo II," XVII/2
[1994], p. 250). Ḥa b́nh trước hết là tặng ân của Thiên Chúa, Đấng làm cho dậy
lên những cảm thức yêu thương và đoàn kết nơi tâm can của con người đón nhận ḥa
b́nh.
Tôi hy vọng rằng, nhờ chứng từ này của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tưởng
niệm ở cuốn phim ư nghĩa này, mỗi người sẽ lập lại nơi những ǵ thực hiện – mỗi
người ở lănh vực của ḿnh và tùy theo phương tiện của ḿnh – để phục vụ hoạt
động tối hậu cho ḥa b́nh ở Âu Châu cũng như trên toàn thế giới.
Tôi xin kư thác niềm hy vọng ḥa b́nh được tất cả chúng ta ấp ủ trong ḷng ḿnh
cho việc chuyển cầu từ mẫu của Trinh Nữ Maria, Vị được đặc biệt tôn kính trong
Tháng Năm này. Xin Mẹ là Nữ Vương Ḥa B́nh phấn khích việc quảng đại góp phần
của những ai muốn dồn nỗ lực của ḿnh vào việc xây dựng nền ḥa b́nh chân thực
trên những trụ cột vững chắc là chân lư, công lư, tự do và yêu thương. Với những
cảm thức ấy, tôi ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả mọi người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo tài liệu bằng tiếng Ư của Ṭa Thánh
được Zenit chuyển ngữ sang Anh ngữ và phổ biến ngày 12/6/2005
ĐTC Biển Đức XVI với vị tân lănh sự Macedonia về Một Âu Châu đại kết.
Hôm 19/5/2005, Thứ Năm, ĐTC Biển Đức đă gặp vị tân lănh sự Bartolomej Kajtazi của Nguyên Cộng Ḥa Yogosla xứ Macedonia dịp ông tŕnh ủy nhiệm thư, và ngài đă nói với ông về vấn đề chính yếu là Âu Châu cần đến các quốc gia vùng Balkins và các quốc gia này cần đến Âu Châu.
Thưa Ông Lănh Sự,
Tôi hân hoan đón mừng ông hôm nay đây và chấp nhận ủy nhiệm thư bổ nhiệm ông làm vị lănh sự của Nguyên Cộng Ḥa Yugoslav xứ Macedonia tại Ṭa Thánh. Tôi xin cám ơn những lời chào hỏi nồng hậu được ông chuyển cho tôi từ Tổng Thống Crvenkovski. Tôi vui mừng đáp lại những lời ấy và hứa cùng chính quyền cũng như công dân thuộc quốc gia của ông rằng tôi sẽ cầu nguyện cho ḥa b́nh và phúc hạnh ở xứ sở này.
Lễ Thánh Cyrilô và Mêthôđiô, các vị cùng với các Thánh Biển Đức, Brigita Thụy Điển, Catarina Siena và Têrêsa Benedicta Thánh Giá, là những vị đại thánh sư của Âu Châu, được đánh dấu bằng cuộc viếng thăm Rôma thường niên của một phát đoàn đại biểu thuộc xứ sở của ngài. Biến cố đầy biểu hiệu này nhắc nhở mối quan tâm thiết tha của các Đức Giáo Hoàng Nicholas I, Hadrian II và Gioan VIII đối với những vị tông đồ của sắc dân Slavs này, bằng việc phấn khích các vị hoàn thành hoạt động truyền giáo của các vị cách trung thành và sáng tạo. Như Thánh Cyrilô và Methôđiô đă nhận thấy nhu cầu thật sự trong việc chuyển đạt một cách chính xác những ư tưởng Thánh Kinh cùng những quan niệm thần học Hy Lạp sang một môi trường hoàn toàn khác biệt về tư tưởng cũng như về kinh nghiệm lịch sử thế nào, th́ ngày nay công việc chính yếu Kitô hữu Âu Châu đang gặp phải đó là việc chiếu tỏa ánh sáng rạng ngời của Mạc Khải trên tất cả những ǵ là thiện hảo, chân thực và diễm lệ. Nhờ đó, tất cả mọi dân tộc và mọi quốc gia được lôi kéo tới nền ḥa b́nh và tự do theo dự án của Thiên Chúa Hóa Công đồi với hết mọi người.
Với ḷng biết ơn tôi nhận thấy rằng quốc gia của ông đă tái khẳng định việc dấn thân của ḿnh trong vấn đề h́nh thành một đường lối ḥa b́nh và ḥa giải. Làm như thế là quốc gia của ông trở thành một mẫu gương cho các nước khác thuộc vùng Balkan. Thảm thương thay, những khác biệt về văn hóa thường là nguyên cớ gây ra hiểu lầm giữa các dân tộc, thậm chí c̣n gây ra những cuộc xung đột và chiến tranh vô nghĩa nữa. Thật vậy, cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa là một nền tảng xây đắp bất khả thiếu cho nền văn minh yêu thương phổ quát là những ǵ hết mọi con người nam nữ đều trông mong. Bởi thế, tôi xin ông cùng nhân dân của ông hăy nắm vững các giá trị nền tảng chúng của tất cả mọi nền văn hóa; chung là bởi v́ những giá trị ấy bắt nguồn từ chính bản tính của con người. Có như thế việc t́m cầu ḥa b́nh mới được củng cố giúp cho ông có thể giành hết mọi nguồn nhân bản và thiêng liêng cho vấn đề tiến bộ về vật chất và luân lư của nhân dân ông, bằng một tinh thần hợp tác tốt đẹp với các quốc gia lân bang.
Thưa ông Lănh Sự, ông đă ghi nhận rằng mục đích của hội nhập xă hội được chính phủ của ông hăng say theo đuổi thực hiện một cách hợp lư là những ǵ làm ông gần gũi hơn với các quốc gia Âu Châu khác. Thật vậy, truyền thống của ông và văn hóa của ông là những ǵ phản ảnh từ đó và là những ǵ thuộc về cái tinh thần đă làm thấm đẫm châu lục này. Như vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi đă nói một số lần là: Âu Châu cần đến các quốc gia vùng Balkan, và các quốc gia này cần đến Âu Châu! Việc gia nhập Cộng Đồng Âu Châu, tuy nhiên, không được hiểu thuần túy như là một thứ phương thuốc cứu chữa để thắng vượt đối thủ về kinh tế. Trong tiến tŕnh nới rộng Khối Hiệp Nhất Âu Châu “rất cần phải” nhớ rằng việc nới rộng này “sẽ thiếu bản chất nếu nó bị biến thành những chiều kích thuần túy về địa dư và kinh tế”. Trái lại, việc hiệp nhất cần phải “bao gồm trước hết là một hợp đồng về các thứ giá trị… được thể hiện nơi luật lệ và sinh hoạt của việc hiệp nhất này” (Tông Huấn Giáo Hội Tại Âu Châu, 110). Vấn đề này có lư để đ̣i hỏi mỗi một quốc gia phải có một tổ chức xă hội biết tự động lấy lại hồn sống của Âu Châu, một hồn sống có được nhờ sự góp phần quyết liệt của Kitô giáo, trong việc xác nhận phẩm giá siêu việt của con người cùng với những giá trị sự thật, tự do, dân chủ và hiến định (cf. ibid., 109).
Nhân dân của đất nước ông đă thành đạt nhiều ở công việc khó khăn nhưng an ủi nơi vấn đề làm sao để bảo đảm được mối liên kết và ổn định xă hội. Vấn đề phát triển chân thực đ̣i phải có một dự án tiến bộ được điều hợp toàn quốc, một vấn đề phát triển tôn trọng những khát vọng hợp lư của tất cả mọi lănh vực trong xă hội, và là một phát triển mà thành phần lănh đạo chính trị và dân sự cần phải có trách nhiệm. Lịch sử loài người vẫn dạy cho chúng ta là nếu những thứ chương tŕnh ấy muốn có một tác dụng gây ra một đổi thay tích cực bền vững th́ chúng cần phải có tính cách bảo vệ các thứ nhân quyền bao gồm cả những quyền lợi của thành phần thiểu số về sắc tộc và về tôn giáo, việc cai trị hữu trách và minh bạch, và việc bảo tŕ luật lệ và trật tự bằng một hệ thống pháp lư vô tư và một lực lượng cảnh sát đáng kính nể. Không có những nền tảng này th́ niềm hy vọng mong thấy được t́nh trạng thực sự tiến bộ vẫn là những ǵ mơ hồ.
Thưa ông Lănh Sự, việc chính phủ của ông dấn thân cải tiến t́nh trạng tịnh vượng về xă hội và kinh tế của nhân dân là những ǵ cống hiến cho thế hệ trẻ một nhăn quan tin tưởng và lạc quan. Trọng tâm của việc hứa hẹn này đó là việc tạo ra những cơ hội giáo dục. Nơi đâu các học đường hành sử một cách chuyên nghiệp và được điều hành bởi con người liêm chính th́ tất cả mọi người, nhất là giới trẻ cảm thấy được niềm hy vọng. Trong việc huấn luyện này có cả việc hướng dẫn về đạo giáo. Việc này giúp cho giới trẻ khám phá ra ư nghĩa trọn vẹn của đời sống con người, nhất là mối liên hệ quan trọng hết sức giữa tự do và sự thật (x Thông Điệp “Đức Tin và Lư Trí”, 90). Thật vậy, kiến thức được đức tin soi động, thay v́ chia rẽ cộng đồng lại liên kết các dân tộc lại với nhau để cùng t́m kiếm sự thật, một cuộc t́m kiếm giúp cho mọi người như một kẻ sống bởi niềm tin (cf. ibid. 31). Bởi thế, tôi hết sức khuyến khích chính phủ của ông hăy theo đuổi ư hướng của họ trong việc cho phép giảng dạy về tôn giáo ở các trường sơ cấp.
Giáo Hội Công Giáo nơi quốc gia của ông, mặc dù là một con số nhỏ, cũng muốn cùng hợp tác với các cộng đồng tôn giáo khác thực hiện việc vươn ḿnh ra với tất cả mọi phần tử thuộc xă hội Macedonia không phân biệt. Sứ vụ bác ái của Giáo Hội, đặc biệt đối với thành phần nghèo nàn và khổ đau, là một phần thuộc về việc “Giáo Hội dấn thân yêu thương một cách thực tế và cụ thể đối với mọi người” (Tông Thư “Vào Lúc Mở Màn Cho Một Tân Thiên Kỷ”, 49), và là những ǵ được xứ sở của ông cảm nhận rất nhiều. Tôi tin tưởng rằng Giáo Hội sẵn sàng đóng góp thậm chí dồi dào hơn nữa vào những chương tŕnh phát triển nhân bản của xứ sở này, bằng cách cổ vơ những giá trị ḥa b́nh, công lư, đoàn kết và tự do.
Thưa ông, sứ vụ ngoại giao được ông bắt đầu hôm nay đây sẽ làm củng cố hơn nữa những mối liên hệ về việc cảm thông và hợp tác đang có giữa xứ sở của ông và Hội Thánh. Tôi muốn ông nhớ rằng những văn pḥng khác nhau của Giáo Triều Rôma sẵn sàng hỗ trợ ông trong việc hoàn thành nhiệm vụ của ông. Với những lời nguyện chúc tốt đẹp, tôi xin Thiên Chúa ban cho ông, gia đ́nh ông và toàn thể nhân dân của đất nước ông muôn vàn ân phúc.
Đaminh Maria Cao Tấn
Tĩnh, BVL, theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày 19/5/2005
Bài Nói của ĐTC BĐXVI về Cuốn
Phim “Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng”
Tối Thứ Năm 19/5/2005, cùng với mấy ngàn người tại Sảnh Đường Phaolô VI, ĐTC
đă xem cuốn phim “Karol un uomo deventato Papa – Karol, Một Người đă Trở Thành
Giáo Hoàng”. Sau khi xem xong phần đầu của cuốn phim cho tới khi Đức Karol lên
làm giáo hoàng, ĐTC đă bày tỏ nhận định của ḿnh bằng những lời lẽ chính yếu
tiêu biểu liên quan đến hai chế độ độc tài chuyên chế của sự dữ như sau.
Anh Chị Em thân mến,
Tôi muốn diễn tả những cảm thức chung và bày tỏ ḷng biết ơn đối với những ai
muốn cống hiến cho tôi cũng như cho tất cả anh chị em cơ hội xem cuốn phim cảm
kích này tối hôm nay; cuốn phim diễn lại cuộc đời của con người trẻ Karol
Wojtyla, cho đến khi ngài được chon làm Giáo Hoàng với danh hiệu “Gioan Phaolô
II”.
Tôi xin chào và cám ơn ĐHY Roberto Tucci về việc ngài giới thiệu cuốn phim này.
Và tôi muốn ngỏ lời ca ngợi đến vị đạo diễn kiêm tác giả Giacomo Battiato, cũng
như đến các tài tử, nhất là tài tử Piotr Adamczyk là người đóng vai Đức Gioan
Phaolô II, đến nhà sản xuất phim Pietro Valsecchi cũng như đến các đài Taodue và
Mediaset.
Tôi thân ái gửi lời chào đến quí Hồng Y, Giám Mục, linh mục, các Vị Thẩm Quyền
và tất cả những ai muốn tham dự vào việc xem phim này để tôn kính Vị Giáo Hoàng
yêu dấu của chúng ta vừa tạ thế. Tất cả chúng ta đều nhớ đến ngài với niềm cảm
xúc sâu xa và tri ân chân thành. Hôm qua là ngày ngài mừng sinh nhật 85 của ngài.
“Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng” là nhan đề của một thảm kịch được
trích từ bản văn của Gian Franco Svidercoschi. Phần thứ nhất, như chúng ta đă
xem, nhấn mạnh đến những ǵ đă xẩy ra ở Balan dưới thời Nazi chiếm đóng” và ngài
nói tới “t́nh trạng bị đàn áp của nhân dân Balan cũng như cuộc diệt chủng Do
Thái. Đây là những tội ác tàn bạo cho thấy tất cả cái xấu xa dữ ác nơi ư hệ
Nazi.
Rùng ḿnh trước quá nhiều khổ đau và quá nhiều bạo lực, con người trẻ Karol đă
quyết định biến đổi cuộc đời của ḿnh, khi đáp lại tiếng gọi thần linh đi làm
linh mục. Cuốn phim này có những cảnh và những đoạn có tính cách thô bạo đă khơi
lên nơi khán giả tự nhiên cảm thấy kinh hoàng “muốn quay đi”, và kích thích họ
nghĩ đến những ǵ sâu xa của tội lỗi có thể ẩn náu nơi linh hồn con người.
Khi khơi lên những ǵ lầm lạc như thế th́ đồng thời nó cũng làm nổi lên nơi tất
cả những ai biết suy nghĩ đúng đắn quyết tâm thực hiện tất cả những ǵ có thể để
bảo đảm rằng những hành động man di mọi rợ phi nhân ấy không bao giờ c̣n tái
diễn nữa”.
Việc xem phim hôm nay xẩy ra chỉ sau vài ngày kỷ niệm 60 năm chấm dứt Thế Chiến
Thứ II. Vào ngày 8/5/1945 là ngày đánh dấu việc chấm dứt của một thảm cảnh khủng
khiếp đă gieo rắc hủy diệt và chết chóc ở Âu Châu cũng như trên thế giới với một
mức độ chưa từng có.
Mười năm trước đây, Đức Gioan Phaolô II đă viết rằng Thế Chiến II đă là những ǵ
tỏ tường hơn bao giờ hết cho thấy nó như là một ‘cuộc tự sát nhân loại’. Bất cứ
lúc nào con người bị một ư hệ độc tài nào đó đè nén th́ toàn thể nhân loại bị
trầm trọng đe dọa. Những hồi niệm ấy không được phai nhạt theo thời gian, trái
lại, chúng phải tồn tại như một bài học thực sự cho các thế hệ của chúng ta cũng
như mai hậu. Chúng ta có nhiệm vụ phải nhắc nhở ḿnh và kẻ khác, nhất là giới
trẻ, về những h́nh thức bạo lực chưa từng thấy có thể xẩy ra bởi thái độ khinh
bỉ con người và việc vi phạm đến các thứ nhân quyền”.
Chúng ta lại không thấy được hay sao dự án thần linh nơi sự kiện là trên Ngài
Ṭa Thánh Phêrô vị Giáo Hoàng Balan được kế vị bởi một người công dân Đức Quốc,
nơi chế độ Nazi đă củng cố ḿnh bằng tính chất cực kỳ độc hại, trước khi tấn
công láng giềng của ḿnh, nhất là Balan?
Cả hai vị Giáo Hoàng này, trong thời c̣n trẻ, mặc dù ở hai bên khác nhau và ở
hai trường hợp khác nhau, đều bị buộc phải trải qua cái dă man mọi rợ của Thế
Chiến Thứ Hai cũng như t́nh trạng bạo lực vô nghĩa được con người và các dân tộc
sử dụng để phạm đến nhau.
Trong những ngày cuối cùng của Công Đồng Chung Vaticanô II được tổ chức ở Rôma
đây, những vị Giám Mục Balan đă đồng kư tên vào “Bức Thư Ḥa Giải” với các vị
Giám Mục Đức Quốc; bức thư này đă chất chứa những lời để đời vẫn c̣n vang vọng
trong tâm hồn của chúng ta hôm nay đây: “Chúng tôi tha thứ và xin được thứ tha”.
Trong bài giảng Chúa Nhật vừa rồi tôi đă nhắc nhở các vị tân linh mục là ‘không
ǵ có thể cải tiến trên thế giới này, nếu không thắng vượt sự dữ; và sự dữ chỉ
có thể bị chế ngự bằng ḷng thứ tha’ (L'Osservatore Romano English Edition, 18
May, p. 7). Chớ ǵ việc cùng nhau thành tâm lên án chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa
Cộng Sản vô thần góp phần vào việc mọi người dấn thân xây dựng vấn đề ḥa giải
và ḥa b́nh theo chiều hướng thứ tha.
Đức Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta nhắc nhở chúng ta rằng “Tha thứ không
có nghĩa là quên đi, nếu hồi niệm là qui luật của lịch sử th́ việc thứ tha là
quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng của Chúa Kitô đang hoạt động nơi những
thăng trầm của con người” (cf. "Insegnamenti di Giovanni Paolo II," XVII/2
[1994], p. 250). Ḥa b́nh trước hết là tặng ân của Thiên Chúa, Đấng làm cho dậy
lên những cảm thức yêu thương và đoàn kết nơi tâm can của con người đón nhận ḥa
b́nh.
Tôi hy vọng rằng, nhờ chứng từ này của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tưởng
niệm ở cuốn phim ư nghĩa này, mỗi người sẽ lập lại nơi những ǵ thực hiện – mỗi
người ở lănh vực của ḿnh và tùy theo phương tiện của ḿnh – để phục vụ hoạt
động tối hậu cho ḥa b́nh ở Âu Châu cũng như trên toàn thế giới.
Tôi xin kư thác niềm hy vọng ḥa b́nh được tất cả chúng ta ấp ủ trong ḷng ḿnh
cho việc chuyển cầu từ mẫu của Trinh Nữ Maria, Vị được đặc biệt tôn kính trong
Tháng Năm này. Xin Mẹ là Nữ Vương Ḥa B́nh phấn khích việc quảng đại góp phần
của những ai muốn dồn nỗ lực của ḿnh vào việc xây dựng nền ḥa b́nh chân thực
trên những trụ cột vững chắc là chân lư, công lư, tự do và yêu thương. Với những
cảm thức ấy, tôi ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả mọi người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo tài liệu bằng tiếng Ư của Ṭa Thánh
được Zenit chuyển ngữ sang Anh ngữ và phổ biến ngày 12/6/2005
ĐTC Biển Đức XVI với hàng giáo sĩ Rôma: Bài Huấn Từ và những Lời Tự Phát
Sau đây
là nguyên văn huấn từ ĐTC Biển Đức ngỏ cùng hàng giáo sĩ giáo phận Rôma tại Đền
Thờ Latêranô ngày Thứ Sáu 13/5/2005. Tuy nhiên, ở đây, người dịch chỉ dịch những
phần chính yếu liên quan đến thiên chức và thừa tác vụ linh mục mà thôi, không
dịch phần chào chúc mở và kết của ngài.
Cũng xin lưu ư là trong cuộc gặp gỡ hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Rôma đây, ngài nói hai bài, bài thứ nhất được dọn trước, và bài thứ hai là bài nói buông sau khi đă lắng nghe các phát biểu của hàng giáo sĩ này. Trong bài nói buông của ngài cũng thế, người dịch sẽ trích lại hầu hết, trừ mấy đoạn ngắn mà thôi.
Bài Huấn Từ về Ơn Gọi và Tinh Thần Linh Mục
Quí linh mục thân mến, tính chất đời sống của an hem cũng như việc mục vụ của an hem cho thấy rằng ở Giáo Phận đây, cũng như ở nhiều giáo phận khác trên thế giới, giờ đây chúng ta đă vượt qua giai đoạn khủng hoảng về căn tính là giai đoạn làm điên đảo rất nhiều linh mục. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn c̣n những căn nguyên gây ra “t́nh trạng hoang vắng thiêng liêng” đang hành khổ nhân loại trong thời đại của chúng ta đây, do đó cũng làm suy yếu Giáo Hội ở giữa loài người. Làm sao chúng ta lại không sợ rằng những căn nguyên ấy cũng có thể trở thành mối nguy cơ cho đời sống linh mục chứ?
Bởi thế, không thể nào không trở về một cách mới mẻ hơn bao giờ hết với căn gốc vững chắc của vai tṛ làm linh mục của chúng ta. Căn gốc này, như chúng ta quá rơ, là một căn gốc duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô Chúa của chúng ta. Chính Người là Đấng được Cha sai đến, Người là tảng đá góc tường (x 1Pt 2:7). Nhờ Người, nhờ mầu nhiệm tử giá và Phục Sinh của ḿnh, Vương Quốc của Thiên Chúa được thiết lập và ơn cứu độ của loại người được thực hiện.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu này không có ǵ là của ḿnh hết; mọi sự ngài có đều từ Cha và cho Cha. Bởi thế mà Người đă nói rằng giáo huấn của Người không phải của Người mà là những ǵ từ Đấng đă sai Người (x Jn 7:16): tức là Người, Ngôi Con, không thể tự ḿnh làm ǵ hết (x Jn 5:19,30).
Quí bạn thân mến, đó cũng là bản chất thực sự về thiên chức linh mục của chúng ta. Thật vậy, tất cả những ǵ làm nên thừa tác vụ linh mục của chúng ta không thể là sản phẩm bởi khả năng riêng của chúng ta. Điều này đúng chẳng những đối với việc ban phát các Bí Tích, mà c̣n với việc phục vụ Lời Chúa nữa, ở chỗ, chúng ta không được sai đi để loan báo về ḿnh hay về những ư nghĩ riêng tư của ḿnh, mà là mầu nhiệm Chúa Kitô, và trong Người, cả tầm vóc nhân bản đích thực nữa. Chúng ta không được ủy thác cho trách nhiệm phát ngôn nhiều lời mà là làm vang vọng và chuyên chở sứ điệp về một “lời” duy nhất, đó là Lời Chúa đă hóa thành nhục thể v́ phần rỗi của chúng ta. Đó là lư do mà những lời sau đây của Chúa Giêsu cũng được áp dụng cho cả chúng ta nữa: “Giáo huấn của tôi không phải là của tôi mà từ Đấng đă sai tôi” (Jn 7:16).
Quí linh mục Rôma thân mến, Chúa Kitô đă gọi chúng ta là bạn hữu, Người đă làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người, Người kư thác bản thân Người cho chúng ta, Người trao phó cho chúng ta Thân Ḿnh của Người nơi Thánh Thể, Người ủy thác cho chúng ta Giáo Hội của Người. Bởi thế mà chúng ta cần phải trở thành những người bạn thực sự của Người, chúng ta cần phải có cùng một quan điểm như Người, chúng ta cần phải muốn những ǵ Người muốn và không muốn những ǵ Người không muốn. Chính Chúa Giêsu đă nói với chúng ta rằng: “Các con là bạn hữu của Thày nếu các con thi hành những ǵ Thày truyền dạy các con” (Jn 15:14). Vậy chúng ta hăy cùng nhau quyết tâm như thế này, đó là tất cả chúng ta cùng nhau thực hiện ư muốn thánh hảo của Người là những ǵ bao gồm tự do và niềm vui của chúng ta.
V́ thiên chức linh mục được bắt nguồn nơi Chúa Kitô mà theo bản chất của ḿnh thiên chức này là thiên chức trong Giáo Hội và cho Giáo Hội. Thật vậy, đức tin Kitô giáo không phải là một cái ǵ đó thuần thiêng liêng hay nội tại, cũng không phải là chính mối liên hệ của chúng ta với Chúa Kitô hoàn toàn chủ quan và riêng tư.
Trái lại, nó là một mối liên hệ hoàn toàn cụ thể và có tính cách giáo hội. Có những lúc, vai tṛ linh mục thừa tác có một mối liên hệ nội tại với Thân Ḿnh của Chúa Kitô là Thánh Thể và là Giáo Hội, là thân ḿnh Thánh Thể và thân ḿnh Giáo Hội, theo những chiều kích lưỡng đôi bất khả phân ly.
Bởi thế mà thừa tác vụ của chúng ta là “sứ vụ yêu thương – amoris officium” (St. Augustine, "In Iohannis Evangelium Tractatus" 123, 5), nó là sứ vụ của Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng hiến mạng sống ḿnh cho chiên (x Jn 10:14-15). Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Kitô hằng ban ḿnh, và chính nơi Thánh Thể chúng ta biết được t́nh yêu của Chúa Kitô, nhờ đó, biết yêu mến Giáo Hội.
Do đó, tôi muốn lập lại cùng quí huynh trong hàng giáo sĩ thân mến những lời không thể quên được của Đức Gioan Phaolô II: “Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống” (Address at a Symposium in honor of the 30th anniversary of the Decree "Presbyterorum Ordinis," Oct. 27, 1995, n. 4; L'Osservatore Romano English edition, Nov. 15, 1995, p. 7). Mỗi một người trong chúng ta làm sao để có thể nói những lời ấy như là những lời của ḿnh: Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống.
Cũng thế, việc vâng lời Chúa Kitô, Đấng đă bù đắp việc bất tuân phục của Adong, trên thực tế được thể hiện qua việc tuân phục Giáo Hội, một thái độ đối với cuộc sống hằng ngày của linh mục, trước hết và trên hết, đó là tuân phục vị Giám Mục của ḿnh. Tuy nhiên, trong Giáo Hội, đức tuân phục không phải là một điều ǵ đó theo h́nh thức; nó là đức tuân phục cho vị tuân phục và là hiện thân của Chúa Kitô tuân phục. Tất cả những điều này chẳng những không làm suy yếu đi những đ̣i hỏi của đức tuân phục mà c̣n bảo đảm tính cách sâu xa về thần học và chiều hướng Công giáo của nó: nơi vị Giám Mục, chúng ta tuân phục Chúa Kitô và toàn thể Giáo Hội mà ngài là hiện thân với vai tṛ của ḿnh.
Chúa Giêsu Kitô đă được Cha sai đến bởi quyền phép Chúa Thánh Thần v́ phần rỗi của toàn thể gia đ́nh nhân loại, và thành phần linh mục chúng ta, nhờ ơn bí tích, được thông phần vào sứ vụ của Người. Như Thánh Tông Đồ Phaolô viết: “Thiên Chúa… đă ban cho chúng ta thừa tác vụ ḥa giải… Điều này làm cho chúng ta trở thành những vị khâm sứ cho Chúa Kitô, Thiên Chúa thực sự được kêu gọi qua chúng ta. Chúng tôi nài xin an hem, nhân danh Chúa Kitô: hăy làm ḥa cùng Thiên Chúa (2 Cor 5:18-29). Đó là cách thức Thánh Phaolô diễn tả sứ vụ làm linh mục của chúng ta.
Đó là lư do, trong bài giảng trước mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng, tôi đă nói về “nỗi khắc khoải thánh đức” là những ǵ cần phải tác động chúng ta, về mối quan tâm muốn mang lại cho hết mọi người tặng ân đức tin, cống hiến cho hết mọi người ơn cứu độ là những ǵ duy nhất tồn tại đến muôn đời. Và ở một thành phố lớn như thành phố Rôma đây, một đàng rất sâu xa đức tin nhưng lại là nơi rất nhiều người sống như chưa thật sự lĩnh hội được việc loan báo đức tin, chúng ta đặc biệt được thúc đẩy bởi mối quan tâm khôn nguôi này trong việc mang lại niềm vui này, tâm điểm của đời sống này, những ǵ mang lại ư nghĩa và hướng đi.
Quí linh mục Rôma thân mến, Chúa Kitô Phục Sinh đang kêu gọi chúng ta hăy trở thành chứng nhân của Người và ban cho chúng ta sức mạnh Thần Linh của Người để chúng ta có thể thực sự trở thành như thế. Thế nên cần phải ở với Người (x Mk 3:14; Acts 1:21-23) trong cả cuộc sống. Như trong lời diễn tả đầu tiên về “sứ vụ tông đồ – munis apostolicum” ở Phúc Âm Thánh Marcô đoạn 3, một tŕnh thuật nói về những ǵ Chúa Kitô nghĩ về ư nghĩa của một vị tông đồ, đó là ở với Người và sẵn sàng thi hành sứ vụ. Hai điều này đi đôi với nhau và chỉ ở với Người chúng ta cũng và luôn cùng Phúc Âm tiến đến với những người khác mà thôi.
Như thế, rất cần phải ở với Người, có thế, nỗi khắc khoải ấy mới thấm nhập chúng ta và mới làm cho chúng ta có thể mang quyền lực và niềm vui của đức tin đến cho những người khác bằng cả cuộc sống của chúng ta chứ không phải chỉ bằng mấy lời nói suông.
Những lời của Thánh Tông Đồ Phaolô có thể được áp dụng vào chúng ta: “Nhưng việc rao giảng Phúc Âm không phải là vấn đề huyênh hoang; tôi cảm thấy bị thúc bách làm việc này không c̣n chọn lựa nào khác. Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm… Tôi biến ḿnh trở thành tất cả mọi sự cho mọi người để cứu độ tối thiểu một số trong họ” (1Cor 9:16-22).
Những lời diễn tả chân dung của vị Tông Đồ ấy cũng diễn tả chân dung của mỗi vị linh mục. Biến ḿnh trở nên “tất cả mọi sự cho tất cả mọi người” là những ǵ được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, chú trọng đến mọi người và mọi gia đ́nh: về vấn đề này th́ anh em linh mục Rôma có cả một đại truyền thống, và tôi nói như thế với tất cả niềm xác tín sâu xa của ḿnh, và an hem cũng đang tôn vinh truyền thống này vào lúc thành phố đây đang lan rộng rất nhiều và đang thay đổi sâu xa. Như an hem quá rơ, việc gần gũi và chú trọng đến hết mọi người cần phải luôn được thể hiện nhân Danh Chúa Kitô và liên lỉ nỗ lực để dẫn dân chúng về với Người.
Dĩ nhiên, đối với chúng ta, việc gắn bó và hiến thân này mỗi một người trong anh em phải trả giá riêng. Cái giá phải trả này bao gồm nào là giờ giấc, lo toan, tiêu hao sinh lực. Tôi biết các nỗ lực hằng ngày của anh em và xin thay Chúa cám ơn anh em. Thế nhưng, tôi cũng muốn giúp anh em bao nhiêu có thể để anh em không đứt gánh giữa đường.
Thật vậy, để có thể mang vác, thậm chí có thể tăng trưởng, với tư cách là một con người và là một linh mục, trước hết cần phải sống hiệp thông với Chúa Kitô, Đấng được dinh dưỡng bằng ư muốn của Chúa Cha (x Jn 4:34): tất cả những ǵ chúng ta làm đều được thực hiện trong mối hiệp thông với Người, nhờ đó, chúng ta luôn tái nhận thức được mối hiệp nhất của cuộc sống chúng ta nơi nhiều phương diện trong các mối quan tâm hằng ngày của ḿnh.
Chúng ta cũng học được từ Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă tự hiến để làm theo ư muốn của Cha, nghệ thuật khổ chế của linh mục là những ǵ ngày nay cần thiết: nó không được thực hiện như là một gánh nặng chồng chất thêm vào các hoạt động mục vụ khiến cho ngày sống của chúng ta càng trở nên khó khăn hơn. Trái lại, chúng ta cần phải biết cách thắng vượt bản thân ḿnh, biết cách ban tặng và biết cách cống hiến đời sống của ḿnh.
Thế nhưng, nếu tất cả những điều này thực sự xẩy ra nơi chúng ta, nhờ đó chính hành động của chúng ta thực sự trở thành việc khổ chế của chúng ta và là việc tự hiến của chúng ta, có thế tất cả những điều ấy không phải chỉ là một điều ước muốn suông, th́ chắc chắn chúng ta cần đến những giây phút để lấy lại nghị lực của ḿnh, bao gồm cả nghị lực về thể lư, nhất là để cầu nguyện và suy niệm, trở về với con người nội tâm của chúng ta và t́m Chúa trong chúng ta.
Như thế, vấn đề bỏ giờ ra sống trước nhan Chúa bằng việc nguyện cầu là một ưu tiên mục vụ thực sự; nó không phải là một thứ thêm thắt vào hoạt động mục vụ: ở trước nhan Chúa là một ưu tiên mục vụ và phải nói là một ưu tiên quan trọng nhất. Đức Gioan Phaolô II đă cho chúng ta thấy điều này một cách cụ thể và rạng ngời nhất qua tất cả mọi hoàn cảnh sống và thi hành thừa tác vụ của ngài.
Quí linh mục thân mến, chúng ta không bao giờ có thể nhấn mạnh cho đủ tính cách sâu xa và quan trọng của việc bản thân chúng ta đáp ứng với ơn gọi nên thánh. Nó không những là một điều kiện để việc tông đồ riêng của chúng ta sinh hoa kết trái mà, nói một cách tổng quan hơn, c̣n để cho dung nhan của Giáo Hội phản quang ánh sáng của Chúa Kitô nữa (x Ánh Sáng Muôn Dân, 1), nhờ đó lôi kéo dân chúng nh́n nhận và tôn thờ Chúa Kitô.
Trước hết chúng ta cần phải chấp nhận lời kêu nài của Thánh Phaolô là chúng ta hăy tự làm ḥa với Thiên Chúa (x 2Cor 5:20), thành tâm và mạnh mẽ cương quyết xin Chúa hăy cất đi khỏi chúng ta tất cả những ǵ làm phân rẽ chúng ta với Chúa và phản lại sứ vụ chúng ta đă lănh nhận. Chúng ta tin Chúa là t́nh thương và sẽ đáp ứng lời nguyện cầu của chúng ta.
Thừa tác vụ làm Giám Mục Rôma của tôi theo sau thừa tác vụ các vị Tiền Nhiệm của tôi đă thực hiện. Tôi đặc biệt tiếp nhận gia sản quí báu được Đức Gioan Phaolô II để lại: hỡi quí linh mục và phó tế, chúng ta hăy an tâm và tin tưởng tiến bước trên con đường này.
…………
Quí linh mục và phó tế thân mến, đó là một số tâm tưởng tôi muốn anh em lưu ư. Trước khi an hem đặt vấn đề và chia sẻ, tôi c̣n một tin rất vui muốn loan báo nữa. Hôm nay chúng ta đă nhận được một bản thông báo. Bản thông báo này được viết bởi ĐHY Saraiva Martins, tổng trưởng Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh, cùng với ĐTGM Nowak, thư kư của Thánh Bộ này.
(Sau đó ĐTC đă đọc bản Latinh về việc tôn phong cho cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nguyên văn thế này:)
Instante Em.mo ac Rev.mo Domino D. Camillo S.R.E. Cardinali Ruini, Vicario
Generali Suae Sanctitatis pro Dioecesi Romana, Summus Pontifex BENEDICTUS XVI,
attentis peculiaribus expositis adiunctis, in audentia eidem Cardinali Vicario
Generali die 28 mensis Aprilis huius anni 2005 concessa, dispensavit a tempore
quinque annorum exspectationis post mortem Servi Dei Ioannis Pauli II (Caroli
Wojtyla), Summi Pontificis, ita ut causa Beatificationis et Canonizationis
eiusdem Servi Dei statim incipi posset. Contrariis non obstantibus quibuslibet.
Datum Romae, ex aedibus huius Congregationis de Causis Sanctorum, die 9 mensis
Maii A.D. 2005.
Iosephus Card. Saraiva Martins
Praefectus
Eduardus Nowak
Archiepiscopus tit. Lunensis a Secretis
ĐTC
Biển Đức XVI Ứng Đáp những vấn nạn và quan tâm của hàng giáo sĩ giáo phận Rôma
………..
Để kết thúc, tôi chỉ có thể lên tiếng “cám ơn” về những đóng góp dồi dào và sâu
xa này, những đóng góp của một hàng giáo sĩ hiển nhiên đầy nhiệt tâm, đầy t́nh
yêu đối với Chúa Kitô cũng như đối với đàn chiên được trao phó cho chúng ta, và
đầy t́nh yêu đối với thành phần nghèo khổ. Chẳng những của thành Rôma, mà thực
sự là của Giáo Hội hoàn vũ, của tất cả mọi anh chị em chúng ta. Tôi cũng xin cám
ơn anh em về ḷng cảm mến anh em bày tỏ đối với tôi; nó giúp tôi nhiều lắm.
Giờ đây, tôi không cảm thấy cần phải đi vào chi tiết liên quan tới những ǵ đă
được anh em bày tỏ. Điều này cần phải được tiếp tục bằng một cuộc bàn luận thực
sự, và tôi hy vọng rằng sẽ có một cuộc bàn luận cụ thể theo kiểu vấn đáp.
………..
Tôi chỉ muốn đề cập tới ba hay bốn điểm tôi c̣n nhớ được. Anh em đă nói về mối
liên kết giữa “Rôma” và “hoàn vũ”. Đối với tôi, đây dường như là một điểm rất
quan trọng.
…………
Thế nhưng tôi muốn một lần nữa nói về mối liên kết Rôma và hoàn vũ. Một trong
những người an hem của chúng ta đă nói về trách nhiệm của chúng ta đối với Phi
Châu. Chúng ta đă thấy được rằng ở Rôma đây có sự hiện diện của Phi Châu, của Ấn
Độ, của hoàn vũ. Và sự hiện diện này của anh chị em chúng ta buộc chúng ta chẳng
những nghĩ về ḿnh, mà c̣n thực sự cảm thấy trong thời điểm lịch sử này đây,
trong tất cả mọi trường hợp chúng ta quen thuộc, sự hiện diện của các Châu Lục
khác.
Đồi với tôi, vào lúc này đây, chúng ta có một trách nhiệm đặc biệt đối với Phi
Châu, đối với Châu Mỹ Latinh và đối với Á Châu, nơi mà Kitô giáo, ngoại trừ ở
Phi Luật Tân, vẫn c̣n là một cực đại thiểu số, ngay cả ở Ấn Độ là nơi đang phát
triển và cho thấy sinh lực mai hậu. Bởi thế chúng ta cũng nghĩ cả đến trách
nhiệm này nữa.
Phi Châu là một đại lục có một khả năng lớn lao và tinh thần rất quảng đại của
dân chúng, kèm theo một đức tin sâu xa sống động. Thế nhưng chúng ta phải công
nhận rằng Âu Châu đă xuất cảng chẳng những niềm tin tưởng vào Chúa Kitô mà c̣n
xuất cảng tất cả những ǵ là trụy lạc của Châu Lục Cổ này nữa.
Nó xuất cảng cảm quan băng hoại, nó xuất cảng bạo lực là những ǵ hiện nay đang
tàn phá Phi Châu. Và chúng ta cần phải nh́n nhận trách nhiệm của chúng ta để
việc xuất cảng đức tin, một giải đáp cho niềm hy vọng sâu xa của mọi người, mănh
liệt hơn là việc xuất cảng những thứ đồi trụy của Âu Châu. Tôi cảm thấy đây là
một trách nhiệm lớn lao.
Việc buôn bán các thứ vũ khí vẫn c̣n tồn tại, cùng với việc khai thác những sản
vật của trái đất này. Kitô hữu chúng ta cần phải nhiều hơn nữa về khía cạnh này
để đức tin được thể hiện, và nhờ đức tin mới có sức mạnh để chống lại với những
thứ đồi trụy này mà xây dựng một Phi Châu Kitô giáo, trở thành một Phị Châu hạnh
phúc, một đại Châu Lục của một tân nhân bản chủ nghĩa.
Thế rồi vấn đề được nói đến về nhu cầu, một đàng liên quan tới việc loan báo,
việc nói lên, đàng khác, lại liên quan đến cả việc cần cần phải lắng nghe nữa.
Đối với tôi th́ vấn đề này dường như là một vấn đề quan trọng theo cả hai chiều.
Thành phần linh mục, phó tế, giáo lư viên và Tu sĩ, một đàng, cần phải loan báo,
phải trở thành những chứng nhân. Thế nhưng, cũng chính v́ thế mà họ cũng cần
phải lắng nghe theo ư nghĩa lưỡng diện: thứ nhất, đó là việc họ mở ḷng ḿnh ra
trước Chúa Kitô, chuyên chú lắng nghe Lời Người để nhờ đó nó được đồng hóa, biến
đổi và làm thành bản ngă của ḿnh; thứ hai, đó là việc lắng nghe nhân loại của
ngày hôm nay đây, lắng nghe tha nhân của chúng ta, những người thuộc giáo xứ của
ḿnh, những người tôi đă được trao cho một trách nhiệm nào đó.
B́nh thường khi lắng nghe thế giới của ngày hôm nay đây, một thế giới hiện hữu ở
cả nơi chúng ta, chúng ta lắng nghe thấy được tất cả mọi thứ rắc rối, tất cả
những khó khăn ngược nghịch với đức tin. Và chúng ta phải làm sao để có thể
nghiêm chỉnh suy nghĩ về những vấn đề ấy.
Trong Bức Thứ Thứ Nhất của ḿnh, Thánh Phêrô, vị Giám Mục Rôma đầu tiên, đă nói
rằng Kitô hữu chúng ta cần phải sẵn sàng giải thích về đức tin của ḿnh. Điều
này có nghĩa là chính chúng ta đă hiểu được lư do chúng ta tin tưởng, chúng ta
đă thực sự “tiêu hóa”, thậm chí về cả phương diện lư lẽ, bằng tâm can, bằng đức
khôn ngoan của cơi ḷng, thứ lời có thể thực sự trở thành câu giải đáp cho kẻ
khác.
Ở Bức Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô, theo bản Hy Lạp, bằng việc khéo sử dụng ngôn
từ, bức thư này có chữ “apologia” là câu giải đáp cho “logos”, tức về lư do nơi
niềm tin của chúng ta. Bởi thế mà “logos”, ly do tin tưởng, lời đức tin, phải
trở thành giải đáp đức tin. Và chúng quá quá biết rằng ngôn ngữ đức tin thường
rất xa cách với con người nam nữ ngày nay; nó có thể mang họ lại gần chỉ khi nào
nó trở thành nơi chúng ta thứ ngôn ngữ tân thời của chúng ta. Chúng ta là con
người hiện đại, chúng ta đang sống trong thế giới này, bằng những tâm tưởng ấy,
với những cảm xúc này. Nếu ngôn ngữ đức tin được biến đổi trong ḿnh th́ người
ta có thể t́m thấy câu giải đáp.
B́nh thường tôi ư thức cũng như tất cả chúng ta đều biết được rằng nhiều người
không thể nào đồng nhất ngay bản thân ḿnh, không thể nào hiểu biết, không thể
nào đồng hóa với tất cả những ǵ Giáo Hội truyền dạy. Đối với tôi, vấn đề quan
trọng trước hết đó là khơi dậy ư hướng muốn tin tưởng vào Giáo Hội, cho dù theo
cá nhân người ta chưa đồng hóa được với nhiều vấn đề đặc biệt nào đó. Cấn phải
làm sao có ư muốn tin tưởng nơi Giáo Hội, tin tưởng rằng Giáo Hội này, một cộng
đồng chẳng những của 2000 năm dân Chúa lữ hành mà c̣n là một cộng đồng bao gồm
cả trời đất, một cộng đồng bao gồm tất cả mọi con người công chính thuộc mọi
thời đại, là Giáo Hội được Thánh Linh sinh động đang thực sự hành sử theo “chiều
hướng” Thần Linh bởi thế thực sự là chủ thể của đức tin.
Bởi thế mà cá nhân được ghép vào chủ thể này, gắn bó với chủ thể ấy, nhờ đó, cho
dù họ vẫn chưa được hoàn toàn thấm nhập bởi chủ thể này, con người ấy vẫn tin
tưởng và thông công với đức tin của Giáo Hội, mới tin tưởng như Giáo Hội. Đối
với tôi, điều này là một cuộc hành tŕnh suốt cả cuộc đời của chúng ta, đó là
làm cho tư tưởng, cảm t́nh, toàn thể đời sống của chúng ta đạt đến mối hiệp
thông đức tin ấy. Chúng ta có thể cống hiến mối hiệp thông đức tin này cho mọi
người, để từ từ người ta có thể nhận ra, nhất là có thể tiếp tục tin tưởng vào
đức tin của Giáo Hội, tham dự cuộc hành tŕnh đức tin này, để nhận được ánh sáng
đức tin.
Để đúc kết, một lần nữa tôi xin gửi lời “cám ơn” đến anh em đă đóng góp nơi đây
về vấn đề Chúa Kitô là tâm điểm, một điều kiện để đức tin của chúng ta được luôn
nuôi dưỡng bằng việc gặp gỡ riêng với Chúa Kitô, nơi t́nh tư hữu với Chúa Giêsu.
Bảy mươi năm trước đây Romano Guardini đă nói đúng rằng yếu tính của Kitô giáo
không phải là một ư tưởng mà là một Con Người. Các đại thần học gia đă cố gắng
diễn tả những ư tưởng thiết yếu làm nên Kitô giáo như thế. Thế nhưng, cuối cùng
th́ Kitô giáo được họ kiến tạo không phải là một Kitô giáo thu phục ḷng người,
v́ trước hết Kitô giáo là một Biến Cố, là một Con Người. Bởi thế, nơi Con Người
này chúng ta khám phá ra cái phong phú dồi dào của những ǵ được chất chứa. Đó
là vấn đề quan trọng.
Ở đây tôi nghĩ rằng chúng ta cũng phải t́m câu trả lời cho một thứ khó khăn ngày
nay thường được nói tới liên quan đến bản chất truyền giáo của Giáo Hội. Nhiều
người có xu hướng nghĩ rằng đó là đường lối có liên quan đến kẻ khác: “Vậy tại
sao chúng ta lại không để họ yên? Họ có tính cách chân chính của họ, có chân lư
của họ. Thôi chúng ta hăy chung sống với nhau trong ḥa đồng, để mặc mọi người
cho họ t́m kiếm cái chân thực của ḿnh theo cách thức nào hay nhất”.
Thế nhưng, cái chân thực cá nhân của người ta có thể được khám phá ra ra sao,
nếu trong thực tế, trong nội tâm của ḷng ḿnh, họ vẫn mong mỏi Chúa Giêsu, và
cái chân chính đích thực của mỗi người thực sự được t́m thấy nơi mối hiệp thông
với Chúa Kitô chứ không thể nào ngoài Chúa Kitô? Nói cách khác, nếu chúng ta
thấy Chúa và nếu Người là ánh sáng và là niềm vui của đời sống chúng ta, th́
chúng ta có chắc rằng đối với người nào đó chưa thấy Chúa Kitô họ sẽ không thiếu
cái ǵ đó thiết yếu chăng, và đó là nhiệm vụ của chúng ta trong việc cống hiến
cho họ thực tại thiết yếu này?
Vậy chúng ta hăy để những ǵ sẽ toát ra cho việc hướng dẫn của Thánh Thần cũng
như cho tự do của mỗi người. Thế nhưng nếu chúng ta tin tưởng và cảm nghiệm được
sự kiện là nếu không có Chúa Kitô th́ đời sống không trọn vẹn, đang thiếu mất
thực tại, một thực tại trọng yếu, chúng ta cũng cần phải xác tín rằng chúng ta
thực sự không làm hại ai khi chúng ta tỏ ra cho họ biết Chúa Kitô và chúng ta
qua đường lối này cống hiến cho họ cơ hội để khám phá ra tính cách chân chính
thực sự, niềm vui khám phá được đời sống.
……….
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày
20/5/2005
Giáo Hoàng Biển Đức Nhậm Ngự Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô của ngài và giảng về Ư Nghĩa và Vai Tṛ của Ngai Ṭa Phêrô Liên quan đến chứng từ Chúa Kitô Phục Sinh và vai tṛ của Chúa Thánh Thần
Tối Thứ Bảy 7/5/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă chủ tế Thánh Lễ ở Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô trong dịp nhậm ngự Ngai Ṭa Giám Mục Giáo Phận Rôma của ngài. Tham dự Thánh Lễ này c̣n có 40 vị hồng y, các phần tử thuộc hội đồng giáo phẩm giáo phận…
Mở đầu Thánh Lễ, ĐHY Camillo Ruini, tổng đại diện giáo phận Rôma đă bày tỏ niềm vui của Giáo Hội ở Rôma có vị tân chủ chăn. Sau đó Đức Giáo Hoàng đă ngồi vào ngai ṭa của ngài lần đầu tiên, trong khi đó cộng đoàn và ca đoàn hát câu: “Niềm vui, an b́nh và sự sống cho giám mục Rôma là Đức Biển Đức XVI”. Sau đó, ngài đă nhận những lời bộc lộ “tuân phục” từ một nhóm đại diện giáo phận, trong đó có chính ĐHY Ruini, ĐTGM Luigi Moretti, hai vị linh mục, 1 phó tế vĩnh viễn và 1 phó tế chuyển tiếp, 1 nam 1 nữ tu sĩ, 1 nam và 1 nữ giáo dân, cùng 2 người trẻ đă chịu phép Thêm Sức. Giáo phận Rôma có 5đền thờ chính, 58 đền thờ nhỏ, 330 giáo xứ và 279 nhà thờ không phải giáo xứ.
Sau Thánh Lễ nhậm ngự Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô, ngài đă đi bằng chiếc xe mui trần đến Đền Thờ Đức Bà Cả gần đấy để tôn kính h́nh ảnh “Salus Populi Romani” của Đức Trinh Nữ Maria được giữ ở Nguyện đường Borghese. Tác động tôn kính này của Vị Tân Giáo Hoàng nói lên một truyền thống liên tục của việc dân chúng Rôma nguyện cầu cùng Mẹ Ơn Cứu Độ. Việc ngài viếng thăm Đền Thờ Đức Bà Cả đă kết thúc tiến tŕnh tiếp nhận cả 4 Đền Thờ Chính ở Rôma là Đền Thờ Thánh Phêrô, Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành hôm 25/4, Đền Thờ Thánh Gioan latêranô và Đền Thờ Đức Bà Cả hôm Thứ Bảy Đầu Tháng 7/5/2005.
Sau đây là nguyên văn bài giảng của ngài về vai tṛ và quyền bính giáo hoàng, thừa kế Thánh Phêrô, Đại Diện Chúa Kitô trên trần gian.
“Hôm nay là lần đầu tiên tôi được ngồi vào ṭa của Vị Giám Mục Rôma, với tư cách là Người Thừa Kế Thánh Phêrô, là ngày Giáo Hội ở Ư cử hành lễ Chúa Thăng Thiên. Trung tâm điểm của ngày này là Chúa Kitô. Và chỉ nhờ Người, nhờ mầu nhiệm Người Lên Trời chúng ta mới có thể hiểu được ư nghĩa của ngai ṭa là tiêu biểu cho quyền bính và trách nhiệm của vị giám mục. Vậy th́ lễ Chúa Thăng Thiên nói với chúng ta những ǵ? Lễ này không có nghĩa là Chúa đă ra đi đến một nơi xa khỏi con người và thế giới. Việc Thăng Thiên của Chúa Kitô không phải là một cuộc hành tŕnh vào không gian tới những thiên thể xa vời vợi, bởi v́, những thiên thể, giống như trái đất, nói cho cùng cũng được làm nên bới các yếu tố vật lư mà thôi.
“Việc Thăng Thiên của Chúa Kitô nghĩa là Người không c̣n thuộc về thế giới băng hoại và chết chóc này nữa, một thế giới hạn chế sự sống của chúng ta. Tức là Người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Người, Người Con hằng hữu, đă mang theo hữu thể nhân loại của chúng ta đến trước nhan Thiên Chúa; Người đă mang mang theo máu thịt dưới dạng thức biến h́nh của Người. Con người đă chiếm được một vị trí nơi Thiên Chúa qua Chúa Kitô; hữu thể con người đă được hiệp thông vào chính sự sống của Thiên Chúa. Và nếu Thiên Chúa ấp ủ và bảo tŕ toàn thể vũ trụ này th́ việc Chúa Giêsu Thăng Thiên có nghĩa là Chúa Kitô đă không cách biệt chúng ta, trái lại, giờ đây, nhờ việc Người đang ở cùng Cha, Người lại gần gũi với mỗi một người trong chúng ta đến muôn đời. Mỗi một người trong chúng ta có thể nói với Người một cách thân t́nh; mỗi một người có thể hướng về Người. Chúa Kitô hằng nghe thấy tiếng của chúng ta. Tâm hồn chúng ta có thể tách ḿnh khỏi người. Chúng ta có thể sống một cuộc đời phản lại Người, song Người vẫn đợi chờ chúng ta, và luôn kề cận ở bên cạnh chúng ta.
“Từ các bài đọc của phụng vụ hôm nay, chúng ta c̣n học được một điều ǵ đó cụ thể hơn nữa trong việc Chúa Kitô ở với chúng ta. Người đă hứa ban Thánh Thần của Người cho các môn đệ. Bài đọc thứ nhất nói cho chúng ta biết rằng Thánh Thần sẽ là “quyền lực” cho các môn đệ; Phúc Âm thêm là Ngài sẽ dẫn chúng ta đến tất cả sự thật. Chúa Giêsu đă nói với các môn đệ hết mọi sự, v́ Người là lời hằng sống của Thiên Chúa, và Thiên Chúa không thể ban ǵ hơn ngoài chính bản thân ḿnh. Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa đă ban tất cả bản thân ḿnh cho chúng ta, tức là Ngài đă ban cho chúng ta hết mọi sự. Ngoài tặng ân bản thân này của Ngài và với tặng ân bản thân này của Ngài, không c̣n một mạc khải nào khác có thể ban tặng một điều ǵ nữa, hay ở một nghĩa nào đó, làm trọn mạc khải của Chúa Kitô. Nơi Người, nơi Người Con, chúng ta đă được nói cho biết hết mọi sự, chúng ta đă được ban tặng mọi sự. Thế nhưng, khả năng hiểu biết của chúng ta th́ hạn hẹp; v́ lư do này mà Thần Linh có sứ mệnh dẫn Giáo Hội, bằng một đường lối luôn mới mẻ, từ thế hệ này đến thế hệ kia, đến tầm vóc cao cả của mầu nhiệm Chúa Kitô.
“Giáo Hội không tŕnh bày bất cứ điều ǵ khác với Chúa Kitô hay mới mẻ hơn Chúa Kitô; không có một thứ mạc khải thổi phồng nào, như một số người tin tưởng, bên cạnh mạc khải của Chúa Kitô, không có một thứ mạc khải hạng nh́ nào cả. Không: “Ngài sẽ lấy những ǵ là của Thày”, Chúa Giêsu đă nói như thế trong Phúc Âm (Jn 16:14). Và, giống như Chúa Kitô, chỉ một ḿnh Người nói những ǵ Người đă nghe và đă lạnh nhận từ Cha thế nào th́ Thánh Linh cũng là Đấng thông dịch của Chúa Kitô như vậy. “Ngài sẽ lấy những ǵ là của Thày”. Ngài không dẫn chúng ta đến những nơi nào khác ngoài Chúa Kitô, mà làm cho chúng ta thấm nhập sâu xa hơn nữa vào ánh sáng của Chúa Kitô. V́ lư do này mà mặc khải Kitô giáo là những ǵ bao giờ cũng vừa cũ lại vừa mới. Hết mọi thế hệ đồng thời lúc nào cũng học được một điều ǵ mới mẻ trong cuộc hội ngộ khôn cùng với Chúa Kitô, một cuộc hội ngộ do Thánh Thần làm môi giới.
“Như thế, Thánh Thần là quyền lực nhờ đó Chúa Kitô làm cho chúng ta cảm nghiệm được việc Người gần gũi chúng ta. Thế nhưng, bài đọc thứ nhất cũng đă để lại cho chúng ta một sứ điệp thứ hai, đó là sứ điệp các con sẽ là những chứng nhân của Thày. Chúa Kitô phục sinh cần những chứng nhân là thành phần đă được gặp gỡ Người, thành phần đă biết Người cách thân t́nh nhờ quyền năng của Thánh Linh, những con người có thể nói đă chạm đến Người bằng tay của họ để chứng thực về Người. Chính nhờ thế mà Giáo Hội, gia đ́nh của Chúa Kitô, đă phát triển từ “Giêrusalem… cho đến tận cùng trái đất”, như bài đọc này nói. Giáo Hội được xây dựng bởi thành phần chứng nhân, bắt đầu với Thánh Phêrô và Phaolô, với 12 vị, với tất cả mọi con người nam nữ tràn đầy Chúa Kitô trong gịng thời gian của các thế kỷ đă từng nhóm lên và sẽ làm bùng lên một cách mới mẻ hơn bao giờ hết ngọn lửa đức tin. Hết mọi Kitô hữu, qua lối sống của ḿnh, có thể và phải trở thành chứng nhân cho Chúa Kitô phục sinh. Khi chúng ta đọc tên tuổi của các thánh nhân, chúng ta có thể thấy biết bao nhiều lần các vị đă từng là, trước hết, và tiếp tục là, những con người đơn sơ chân chất, những con người đă làm phát xuất ra và đang làm xuất phát ra một ánh sáng rạng ngời có thể dẫn đến với Chúa Kitô.
“Thế nhưng, cuộc ḥa tấu chứng từ này đă được ủy thác, qua một cấu trúc được ấn định một cách rơ ràng, cho thành phần thừa kế các Thánh Tông Đồ, tức là các giám mục, trách nhiệm công khai trong việc làm sao để bảo đảm rằng đường lối chứng từ này tiếp tục kéo dài qua gịng thời gian. Nơi bí tích tấn phong giám mục, các vị đă nhận được thẩm quyền và ân sủng cần thiết để thi hành việc phục vụ này. Và trong đường lối chứng từ này Vị Thừa Kế Thánh Phêrô có một nhiệm vụ đặc biệt. Thánh Phêrô đă là người đầu tiên, thay cho các vị tông đồ, tuyên xưng niềm tin: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’. Đó là công việc của tất cả mọi Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, đó là công việc làm người hướng dẫn tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô là Con Thiên Chúa hằng sống.
“Ngài ṭa Rôma, trước hết, là ngai ṭa của niềm tin kính ấy. Từ tính chất cao cả của ngai ṭa này, Vị Giám Mục Rôma buộc phải liên lỉ lập lại rằng: ‘Chúa Giêsu là Chúa – Dominus Jesus’. ‘Chúa Giêsu là Chúa’, như Thánh Phaolô đă viết trong những Bức Thư gửi cho giáo hữu Rôma (10:9) cũng như cho giáo hữu Côrintô (1Cor. 12:3). Với các tín hữu Côrinot6, ngài nói một cách đặc biệt là: ‘V́ mặc dù có nhiều vị được gọi là thần linh trên trời dưới đất… nhưng đối với chúng ta chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là Cha… và một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà tất cả mọi sự có và bởi Người chúng ta hiện hữu’ (1Cor 8:5). Ngai ṭa Thánh Phêrô buộc những ai giữ vai tṛ thừa hành của ḿnh phải nói như Thánh Phêrô đă làm ở vào lúc khủng hoảng của các môn đệ, khi có nhiều người muốn bỏ đi: ‘Lạy Chúa, chúng con c̣n biết theo ai? Chúa có những lời sự sống đời đời; và chúng con đă tin cùng nhận biết rằng Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa’ (Jn 6:68 và các câu sau đó).
“Ai ngồi trên ngai ṭa Thánh Phêrô đều phải nhớ những lời Chúa Kitô nói với Simon Phêrô trong Bữa Tiệc Ly: ‘Khi nào con được phục hồi con cũng hăy củng cố cho anh em của con’ (Lk 22:32). Vị năm giữa vai tṛ thừa tác vụ Phêrô cần phải biết rằng ḿnh là một con người yếu đuối mỏng ḍn, với sức riêng ngài vốn mỏng ḍn và yếu đuối, liên lỉ cần thanh tẩy và hoán cải. Tuy nhiên, ngài cũng biết rằng ngài nhận được sức mạnh từ Chúa để củng cố anh chị em ḿnh trong đức tin, và giúp họ liên kết với nhau tuyên xưng Chúa Kitô Tử Giá và Phục Sinh. Trong Bức Thư Thứ Nhất Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô, chúng ta có được tŕnh thuật cổ nhất về biến cố Phục Sinh. Thánh Phaolô đă trung thành thuật lại từ những vị chứng nhân. Tŕnh thuật này trước hết nói về việc Chúa Kitô chết v́ tội lỗi của chúng ta, về việc Người chịu mai táng, về việc Người phục sinh xẩy ra vào ngày thứ ba, rồi sau đó Thánh Nhân nói: ‘Người đă hiện ra với Cephas, đoạn với 12 vị’ (1Cor 15:5). Như thế, một lần nữa, ư nghĩa của sứ mệnh được ủy thác cho Thánh Phêrô cho đến tận cùng trái đất được tóm lại là làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh.
“Vị giám mục Rôma ngự ở ngai ṭa của ngài là để làm chứng cho Chúa Kitô. Bởi thế, ngai ṭa này là biểu hiệu của quyền bính giảng dạy ‘potestas docendi’ là yếu tố thiết yếu thuộc sứ mệnh tháo cởi được Chúa Kitô ban cho Thánh Phêrô và sau ngài ban cho 12 Vị. Trong Giáo Hội, Thánh Kinh, những ǵ được Thánh Thần giúp cho ngày cáng thêm hiểu biết, với thừa tác vụ dẫn giải Thánh Kinh đă thực sự được Chúa Kitô ban cho các tông đồ, là những ǵ thuộc về nhau một cách hỗ tương bất khả phân ly.
“Bất cứ lúc nào Thánh Kinh tách ĺa khỏi tiếng nói sống động của Giáo Hội th́ rơi vào cạm bẫy tranh luận của các chuyên gia. Chắc chắn tất cả những ǵ là tiếng nói sống động của Giáo Hội có thể nói với chúng ta đều quan trọng và quí hóa; công việc của thành phần học thức là những ǵ đáng kế trong việc giúp chúng ta hiểu được tiến tŕnh Thánh Kinh phát triển nhờ đó hiểu được tính cách phong phú về lịch sử của Thánh Kinh. Thế nhưng, khoa học tự ḿnh không thể cống hiến cho chúng ta một dẫn giải tối hậu và buộc theo; nó không thể cống hiến cho chúng ta, nơi việc dẫn giải, cái chắc chắn chúng ta có thể sống và cũng là những ǵ chúng ta có thể hy sinh mạng sống ḿnh. Đó là lư do tiếng nói sống động của Giáo Hội mới là những ǵ cần thiết, tiếng nói của một Giáo Hội đă được trao phó cho Tông Đồ Phêrô cùng với tông đồ đoàn cho đến tận cùng thời gian.
“Quyền bính giảng dạy này làm cho nhiều người cảm thấy run sợ, cả bên trong lẫn bên ngoài Giáo Hội. Họ tự hỏi ḿnh rằng quyền bính ấy liệu có đe dọa đến việc tự do tin tưởng hay chăng, liệu có trở thành một căn cớ phạm đến quyền tự do tư tưởng hay chăng. Không phải vậy. Quyền bính này được Chúa Kitô ban cho Thánh Phêrô và thành phần Thừa Kế ngài, theo nghĩa tuyệt đối, là một sứ mệnh phục vụ. Quyền giảng dạy trong Giáo Hội bao gồm việc dấn thân phục vụ cho vấn đề tuân phục đức tin. Vị Giáo Hoàng không phải là một vương chủ tuyệt đối mà tư tưởng và ư muốn của ngài là luật phép. Hoàn toàn trái lại, thừa tác vụ của Giáo Hoàng là một bảo đảm cho việc tuân phục Chúa Kitô cùng Lời của Người. Ngài không được loan truyền những ư nghĩ riêng tư của ḿnh, nhưng phải liên lỉ buộc ḿnh và Giáo Hội tuân phục Lời Chúa, khi cần phải vận dụng tất cả mọi nỗ lực để thích ứng Lời ấy hay để thực hành Lời ấy, cũng như khi phải đương đầu với tất cả mọi h́nh thức thuộc chủ nghĩa cơ hội.
“Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă làm như thế, khi mà, bằng tất cả nỗ lực của ḿnh, những nỗ lực tỏ ra nhân ái, trước những giải thích sai lạc về tự do, ngài đă nhấn mạnh một cách dứt khoát tính cách bất khả vi phạm đến con người, tính cách bất khả vi phạm đến sự sống của con người từ khi thụ thai tới khi tự nhiên qua đi. Tự do sát hại không phải là tự do đích thực, mà là một thứ chuyên chế bạo tàn biến con người thành nô lệ. Trong những quyết định quan trọng của ḿnh, vị Giáo Hoàng này ư thức được tính cách liên hệ với đại cộng đồng đức tin thuộc tất cả mọi thời đại, với những dẫn giải gắn bó được phát triển qua cuộc hành tŕnh trần thế của Giáo Hội. Bởi thế, quyền hành của ngài không phải là những ǵ trên hết mà là để phục vụ Lời Chúa, và ngài phải mang trách nhiệm phải làm sao bảo đảm rằng Lời này tiếp tục hiện hữu một cách cao cả và vang động với tính chất nguyên tuyền của Lời ấy, nhờ đó, Lời này không bị tiêu tán theo những đổi thay liên lỉ của thời trang.
“Chúng ta hăy lập lại một lần nữa rằng ngai ṭa này là biểu hiệu cho thẩm quyền giảng dạy, một thẩm quyền giảng dạy là thẩm quyền của đức tuân phục và phục vụ, nhờ đó Lời Chúa – chân lư của Người! – được chiếu tỏa nơi chúng ta, cho chúng ta thấy đường đi nước bước. Tuy nhiên, khi nói đến ngai ṭa của vị Giám Mục Rôma, làm sao người ta không nhớ lại những lời của Thánh Ignatiô Antiôkia đă viết cho tín hữu Rôma? Thánh Phêrô, từ Antiôkia là ngai ṭa đầu tiên của ngài đến Rôma là ngai ṭa cuối cùng của ngài; một ngai ṭa đă trở thành tối hậu với cuộc tử đạo vĩnh viễn liên kết việc thừa kế của ngài với Rôma như là “ngai ṭa chủ sự trong yêu thương”, một diễn đạt hết sức quan trọng.
“Chúng ta không biết chắc chắn những ǵ Thánh Ignatiô thực sự muốn nói khi sử dụng những lời lẽ ấy. Thế nhưng, đối với Giáo Hội sơ khai th́ lời yêu thương, ‘agape’ có liên quan đến mầu nhiệm Thánh Thể. Nơi mầu nhiệm này, t́nh yêu của Chúa Kitô bao giờ cũng được hiện tỏ giữa chúng ta. Nơi đây, Người lúc nào cũng ban ḿnh một lần nữa. Nơi đây, Người lúc nào cũng để cho trái tim Người bị xuyên đâm một lần nữa. Nơi đây Người đă giữ những ǵ Người hứa hẹn, lời hứa là từ trên Thập Giá Người sẽ thu hút tất cả mọi người đến cùng Người. Nơi Thánh Thể, chính chúng ta biết được t́nh yêu của Chúa Kitô.
“Nhờ trung tâm và tâm điểm này, tức nhờ Thánh Thể, các vị thánh đă sống, mang t́nh yêu Thiên Chúa đến cho thế giới bằng những h́nh thức và đường lối mới mẻ hơn bao giờ hết. Nhờ Thánh Thể, Giáo Hội luôn được tái sinh. Giáo Hội chính là cơ cấu ấy – là cộng đồng Thánh Thể! – một cộng đồng mà tất cả chúng ta, bằng việc lănh nhận cùng một Chúa, trở thành một thân thể duy nhất và bao gồm toàn thể thế giới. Tóm lại, việc chủ sự trong tín lư và trong yêu thương cần phải trở nên một điều duy nhất: v́ tất cả mọi tín lư của Giáo Hội cuối cùng cũng dẫn đến yêu thương. Và Thánh Thể, như t́nh yêu hiện diện của Chúa Giêsu Kitô, là tiêu chuẩn của tất cả mọi tín lư. Tất cả mọi lề luật và lời tiên tri đều lệ thuộc vào yêu thương như lời Chúa phán (Mt 22:40). Yêu thương là làm trọn lề luật, Thánh Phaolô đă viết như thế cho tín hữu Rôma (13:10).
“Nhân dân Rôma thân mến, giờ đây tôi là giám mục của anh chị em. Xin cám ơn ḷng quảng đại của anh chị em, xin cám ơn ḷng cảm mến của anh chị em, xin cám ơn sự nhẫn nại của anh chị em! Là người Công giáo, ở một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là người Rôma. Bằng những lời của Thánh Vịnh 87, một bài thánh ca chúc tụng Sion, Mẹ của tất cả mọi dân nước, Do Thái đă hát và Giáo Hội đang hát: ‘Thế nhưng cần phải nói về Sion thế này: tất cả họ đều được sinh ra ở đây’ (Ps 87:5). Cũng thế, chúng ta có thể nói rằng, là người Công Giáo, ở một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều được sinh ra ở Rôma. Bởi thế, tôi hết sức cố gắng để làm giám mục của anh chị em, làm Giám Mục Rôma. Và tất cả chúng ta đều muốn cố gắng để trở thành những người Công giáo hơn bao giờ hết, trở thành anh chị em của đại gia đ́nh Thiên Chúa hơn bao giờ hết, một gia đ́nh không có ai là xa lạ cả.
“Sau hết, tôi xn bày tỏ ḷng biết ơn chân thành của tôi đối với vị tổng quản giáo phận Rôma là ĐHY Camillo Ruini, cũng như các vị giám mục phụ tá cùng toàn thể nhân viên cộng sự của các vị. Tôi cũng thành thật cám ơn các vị linh mục coi xứ, hàng giáo sĩ Rôma, và tất cả những ai, với tư cách là tín hữu, góp phần vào việc xây dựng nơi đây ngôi nhà sống động cho Thiên Chúa. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 9-10/5/2005
Anh Chị Em thân mến!
Tôi vui mừng đón mừng anh chọ em và thân ái chào tất cả anh chị em hiện diện nơi
đây, cũng như những ai đang theo dơi chúng ta qua truyền thanh và truyền h́nh.
Như tôi đă bày tỏ trong lần gặp gỡ đầu tiên của tôi với các Vị Hồng Y, cũng
chính vào Thứ Tư tuần trước ở Nguyện Đường Sistine, tôi trải qua những cảm giác
đối chọi trong tâm thần của tôi vào những ngày bắt đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh
Phêrô của tôi này: cảm giác kinh sợ và tạ ơn
Thiên Chúa, Đấng đă làm cho tôi ngỡ ngàng hơn ai hết khi gọi tôi thừa kế Thánh
Phêrô, và có một lo âu trong ḷng trước công việc lớn lao cùng với những trách
nhiệm được trao phó cho tôi. Tuy nhiên, tôi đă an tâm và vui mừng v́ tin tưởng
vào ơn trợ giúp của Thiên Chúa, sự hỗ trợ của Trinh Nữ Maria Mẹ rất Thánh của
Người, cũng như sự hỗ trợ của các thánh quan thày. Tôi cũng cảm thấy được nâng
đỡ bởi việc gắn bó thiêng liêng của tất cả dân Chúa là thành phần, như tôi đă
lập lại hôm Chúa Nhật vừa rồi, là tôi tiếp tục xin hộ giúp tôi bằng lời nguyện
cầu liên lỉ.
Sau cái chết thánh đức của vị tiền nhiệm
đáng kính Gioan Phaolô II của ḿnh, những buổi triều kiến chung vào Thứ Tư hằng
tuần theo truyền thống được bắt đầu lại hôm nay. Trong buổi gặp gỡ đầu tiên này,
trước hết, tôi muốn chia sẻ về danh hiệu tôi đă chọn khi trở thành vị giám mục
Rôma và vị chủ chiên của Giáo Hội hoàn vũ. Tôi đă chọn cho ḿnh danh hiệu giáo
hoàng Biển Đức XVI thực sự là có liên hệ tới vị Giáo Hoàng đáng kính Biển Đức
XV, vị đă hướng dẫn Giáo Hội qua thời biến loạn của Thế Chiến Thứ Nhất. Ngài
thực sự là một vị ngôn sứ can trường của ḥa b́nh đă đấu tranh một cách hăng hái
và can trường, trước hết là để tránh thảm kịch chiến tranh, sau đó là để hạn chế
những hậu quả kinh khiếp của nó. Tôi thực hiện thừa tác vụ của tôi theo bước
chân của ngài, trong việc phục vụ cho vấn đề ḥa giải và ḥa hợp giữa các dân
tộc, hết sức tin tưởng rằng sự thiện cao cả ḥa b́nh trước hết là tặng ân Chúa
ban, một tặng ân mong manh nhưng quí hóa cần phải được kêu nài, bảo toàn và kiến
tạo hằng ngày bằng việc đóng góp của hết mọi người.
Danh hiệu Biển Đức ngoài ra c̣n gợi lên cho thấy một h́nh ảnh nổi bật về vị đại ‘tổ phụ của đan viện tu tây phương’, đó là Thánh Biển Đức ở Nursia, vị đồng quan thày Âu Châu với thánh Cyrilô và Methôđiô. Việc mau chóng phát triển Ḍng Biển Đức được ngài sáng lập đă gây tác dụng lớn lao cho việc truyền bá Kitô giáo khắp lục địa Âu Châu. Đó là lư do Thánh Biển Đức đă được tôn kính rất nhiều ở Đức quốc, nhất là ở Bavaria, miền đất nguyên quán của tôi; ngài thiết lập một cứ điểm nồng cốt cho việc hiệp nhất Âu Châu và một lời kêu gọi mănh liệt trở về với những cội nguồn Kitô giáo của văn hóa và văn minh Âu Châu.
Chúng ta biết lời huấn dụ được Vị Tổ Phụ của đan viện tu Tây Phương này để lại cho thành phần đan sĩ của ḿnh đó là “Tuyêt đối không coi ǵ hơn Chúa Kitô” (Luật Ḍng 72:11; 4:21). Vào lúc mở đầu cho việc tôi phục vụ như vị Thừa Kế Thánh Phêrô, tôi xin Thánh Biển Đức hăy giúp chúng ta biết cương quyết lấy Chúa Kitô làm tâm điểm của đời sống chúng ta. Chớ ǵ Người bao giờ cũng là những ǵ trên hết trong tâm tưởng cũng như trong tất cả mọi hoạt động của chúng ta!
Tôi cảm mến nghĩ lại vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của ḿnh, vị chúng ta đă mắc nợ một di sản thiêng liêng đặc biệt. Ngài đă viết trong tông thứ “Vào Lúc Mở Màn Cho Một Thiên Niên Kỷ” rằng “Các cộng đồng Kitô hữu chúng ta cần phải trở thành một ‘học đường’ cầu nguyện, nơi cuộc gặp gỡ Chúa Kitô được thể hiện chẳng những ở chỗ nài xin ơn giúp đỡ mà c̣n ở chỗ tạ ơn, chúc tụng, tôn thờ, chiêm ngưỡng, lắng nghe và sùng mộ, cho đến khi tâm hồn thực sự ‘say yêu’” (số 33).
Chính ngài đă t́m cách thực hiện những ư định đó này bằng cách cống hiến các buổi giáo lư Thứ Tư vào thời gian cuối cùng để dẫn giải về các bài Thánh Vịnh cho giờ kinh phụng vụ ban mai và chiều tối. Như ngài đă làm khi mở màn cho giáo triều của ngài, lúc ngài muốn tiếp tục những bài chia sẻ được khởi xướng bởi vị Tiền Nhiệm của ngài về các nhân đức Kitô giáo (x “Insegnamenti di Giovanni Paolo II”, I [1978], tr. 60-63), tôi cũng có ư thực hiện vào các buổi triều kiến hằng tuần tới đây việc dẫn giải đă được Đức Gioan Phaolô II dọn cho phần thứ hai của các Bài Thánh Vịnh và Ca Vịnh thuộc Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối. Từ Thứ Tư tuần tới, tôi sẽ bắt đầu vào chính bài giáo lư của ngài đă bị gián đoạn sau buổi triều kiến chung 26/1/2005.
Các bạn thân mến, một lần nữa cám ơn các bạn đă đến viếng thăm; cám ơn các bạn về ḷng cảm mến các bạn giành cho tôi. Chúng là những thứ cảm mến tôi xin thân ái đáp trả các bằng phép lành đặc biệt tôi ban cho anh chị em có mặt nơi đây, cho gia đ́nh của anh chị em cũng như cho tất cả mọi người thân yêu của anh chị em.
(ĐTC đă tóm tắt bài diễn từ của ngài như sau:)
Anh Chị Em thân mến,
Thật là hết sức vui mừng được đón tiếp anh chị em và cũng chào những ai theo dơi buổi triều kiến này qua truyền thanh và truyền h́nh. Sau cái chết thánh đức của vị tiền nhiệm thân yêu là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tôi đến với anh chị em hôm nay cho buổi triều kiến chung lần đầu tiên của tôi.
Đầy cảm giác kinh sợ và tạ ơn, tôi muốn nói về lư do tại sao tôi đă chọn danh hiệu Biển Đức. Trước hết, tôi muốn nhớ đến Giáo Hoàng Biển Đức XV, vị ngôn sứ ḥa b́nh can trường, vị đă dẫn dắt Giáo Hội qua những thời chiên tranh tao loạn. Theo chân ngài, tôi muốn thực hiện thừa tác vụ của ḿnh để đem lại ḥa giải và ḥa thuận giữa các dân tộc.
Ngoài ra, tôi nhắc lại Thánh Biển Đức thành Nursia, vị đồng quan thày Âu Châu, vị có đời sống khơi dậy những cội nguồn Kitô giáo của Âu Châu. Tôi xin ngài giúp đỡ tất cả chúng ta biết cương quyết lấy Chúa Kitô làm tâm điểm cho đời sống Kitô hữu của chúng ta: Chớ ǵ Chúa Kitô luôn chiếm chỗ nhất trong tâm tưởng và hành động của chúng ta!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 27/4/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng
tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành ngày Thứ Hai
25/4/2005 về tinh thần và sứ vụ truyền giáo
- "Tôi đến đây để lấy đức tin làm
sống lại 'ơn được làm tông đồ' này".
Trọng Kính Quí Hồng Y,
Chư Huynh Đáng Kính trong Hàng Giáo Phẩm và trong Hàng Giáo Sĩ,
Anh Chị Em thân mến:
Tôi tạ ơn Thiên Chúa v́ vào lúc mở màn cho thừa tác vụ Thừa Kế Thánh Phêrô Ngài
đă ban cho tôi được dịp dừng lại nguyện cầu trước tượng của Thánh Phaolô. Đối
với tôi, đây là một chuyến hành hương tôi mong đợi đă lâu, một cử chỉ đức tin
tôi thực hiện nhân danh bản thân ḿnh cũng như Giáo Hội hoàn vũ đă được trao phó
cho tôi chăn dắt. Một cuộc hành hương thực sự đi vào tận căn gốc của sứ vụ
truyền giáo, của sứ vụ truyền giáo được Chúa Kitô phục sinh trao phó cho Thánh
Phêrô, cho các Tông Đồ, và đặc biệt cho cả Thánh Phaolô nữa, khi khiến ngài loan
truyền Phúc Âm cho các Dân Ngoại, cho đến khi ngài tiến đến thành phố này là nơi,
sau khi đă rao giảng về Vương Quốc của Thiên Chúa một thời gian dài (Acts
28:31), ngài đă lấy máu ḿnh để làm chứng cho Chúa của ngài là Đấng đă ‘biến
ngài làm của ḿnh’ (Phil 3:12) để sai ngài đi.
Trước khi Đấng Quan Pḥng đưa ngài đến Rôma th́ Vị Tông Đồ này đă viết cho các
Kitô hữu ở thành phố này, thủ đô của Đế Quốc Rôma, bức thư quan trọng nhất của
ngài về khía cạnh tín lư. Đoạn mở đầu của bức thư này vừa được công bố, một lời
dẫn nhập được Vị Tông Đồ sử dụng để chào cộng đoàn Rôma, giới thiệu ḿnh là
‘người tôi tớ của Chúa Giêsu Kitô, được gọi để trở thành một người Tông Đồ’ (Rm
1:10). Sau đó ngài nói thêm: ‘Nhờ (Chúa Giêsu Kitô) chúng ta đă được ơn làm tông
đồ để v́ danh của Người mang đức tin tuân phục đến cho tất cả mọi dân nước” (Rm
1:5).
Các Bạn thân mến, với tư cách là vị Thừa Kế Thánh Phêrô, tôi đến đây để lấy đức
tin làm sống lại “ơn được làm tông đồ” này, như Thiên Chúa, theo kiểu diễn tả
khác của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, đă ủy thác cho tôi “nỗi lo âu đến tất cả mọi giáo
hội” (2Cor 11:28). Trước mắt chúng ta là gương mẫu của vị tiền nhiệm Gioan
Phaolô II thân yêu khả kính của tôi, một vị Giáo Hoàng truyền giáo, có những
hoạt động, theo tinh thần ấy, được tỏ ra nơi hơn 100 chuyến tông du ngoài biên
giới Ư quốc, là những ǵ thực sự khó có thể theo nổi. Cái ǵ đă thúc đẩy ngài đi
đến chỗ năng động như thế, nếu không phải là chính t́nh yêu của Chúa Kitô đă
biến đổi đời sống của Thánh Phaolô (x 2Cor 5:14) hay sao? Chớ ǵ Chúa Kitô cũng
thấm nhập t́nh yêu ấy cả nơi tôi nữa, để tôi không lặng thinh trước những khẩn
trương cần phải loan báo Phúc Âm cho thế giới hôm nay. Tự bản chất Giáo Hội là
truyền giáo; công việc chính yếu của Giáo Hội là truyền bá phúc âm hóa. Công
Đồng Chung Vaticanô II đă giành riêng cho hoạt động truyền giáo một sắc lệnh
được thực sự gọi là ‘Cho Muôn Dân – Ad Gentes’, trong đó, chúng ta được nhắc nhở
rằng “chính các vị Tông Đồ, thánh phần là nền tảng của Giáo Hội, theo bước chân
của Chúa Kitô, ‘đă rao giảng lời chân lư và sinh ra các giáo hội’. Đó là nhiệm
vụ của những ai kế vị các ngài để làm cho công việc này kéo dài ‘hầu lời Chúa
được lan truyền và sáng tỏ (2Thes 3:1), và vương quốc của Thiên Chúa được loan
báo và thiết lập khắp thế giới”.
Vào lúc mở màn cho đệ tam thiên niên kỷ đây, Giáo Hội lại cảm thấy một cách mănh
liệt là lệnh truyền giáo của Chúa Kitô hiện nay quan trọng hơn bao giờ hết. Đại
Năm Thánh 2000 đă dẫn Giáo Hội đến chỗ ‘bắt đầu lại từ Chúa Kitô’, Đấng được
chiêm ngắm bằng việc nguyện cầu, để ánh sáng chân lư của Người được tỏa chiếu
cho tất cả mọi người, nhất là qua chứng từ thánh đức. Tôi xin nhắc lại câu tâm
niệm được Thánh Biển Đức nêu lên trong Luật Ḍng của ngài, khi ngài huấn dụ
thành phần đan sĩ của ngài là ‘đừng coi ǵ hơn t́nh yêu Chúa Kitô’ (Đoạn 4).
Thật vậy, tiếng gọi trên đường đi Damascus đă thực sự khiến cho Thánh Phaolô đi
đến chộ là lấy cho Chúa Kitô làm tâm điểm của cuộc sống ḿnh, bỏ hết mọi sự để
nhận biết Người hơn và cho thừa tác vụ yêu thương của Người, rồi dấn thân loan
báo Người cho tất cả mọi người, nhất là cho dân ngoại ‘để danh Người được cả
sáng’ (Rm 1:5). Ḷng say mê Chúa Kitô đă khiến ngài rao giảng Phúc Âm chẳng
những bằng lời nói, mà c̣n bằng cả sự sống của ngài nữa, một sự sống đă giống
với sự sống của Chúa Kitô hơn bao giờ hết. Cuối cùng Thánh Phaolô đă loan báo
Chúa Kitô bằng cuộc tử đạo, và bằng máu của ḿnh, cùng với máu của Thánh Phêrô
cũng như của những chứng nhân Phúc Âm, đă tưới lên mảnh đất này và làm cho sinh
hoa kết trái Giáo Hội Rôma, một giáo hội chủ tŕ bằng mối hiệp thông đức ái (x.
Thánh Ignatiô Antiôkia, ‘Thư gửi Tín Hữu Rôma’, 1:1).
Thế kỷ 20 là một thời điểm tử đạo. Đức Gioan Phaolô II đă rơ ràng nêu lên sự
kiện này, khi xin Giáo Hội ‘hăy thực hiện Tử Đạo Thư’ và đă phong thánh và chân
phước cho nhiều vị tử đạo thuộc lịch sử cận đại. Bởi thế, máu tử đạo là hạt
giống cho thành phần Kitô hữu mới, nhất là ở những nơi chịu nhiều đau khổ nhất
v́ đức tin và để làm chứng cho Phúc Âm.
Chúng ta hăy kư thác ước muốn này cho việc chuyển cầu của Thánh Phaolô. Chớ ǵ
ngài xin cho Giáo Hội Rôma, cách riêng cho vị Giám Mục của giáo hội này, được
hân hoan loan báo và làm chứng cho tất cả mọi người Tin Mừng của Chúa Kitô Cứu
Thế.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
theo Zenit ngày 25/4/2005
Diễn Từ với phái đoàn Đại Kết
và Liên Tôn Thứ Hai 25/4/2005
Bằng Tiếng Ư
Tôi hân hoan chào mừng quí vị, các vị đại biểu thuộc các Giáo Hội Chính Thống,
các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và các cộng đồng giáo hội Tây Phương, mấy
ngày sau khi tôi được tuyển bầu làm giáo hoàng. Sự hiện diện của quí vị hôm qua
ở Quảng Trường Thánh Phêrô thật là quí hóa, sau khi đă cùng nhau sống những giây
phút buồn thương giă biệt Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Việc quí vị cung
kính bày tỏ việc phân ưu và ḷng cảm mến với vị tiền nhiệm đáng măi kính nhớ của
tôi có nhiều ư nghĩa hơn là một hành động thuần túy xă giao trong giáo hội vậy
thôi. Con đường dài đă trải qua trong những năm của giáo triều ngài và việc quí
vị tham dự vào cuộc thương tiếc với Giáo Hội Công Giáo về cái chết của ngài
chứng tỏ những ǵ ḷng quí vị thực sự và thiết tha cùng mong muốn mối hiệp nhất”.
“Trong việc chào đón quí vị, tôi xin tạ ơn Chúa, Đấng đă chúc lành cho chúng ta
bằng t́nh thương của Người và đă thấm nhập vào trong chúng ta ḷng chân thành
muốn làm cho lời nguyện cầu của Người ‘xin cho họ được hiệp nhất nên một – ut
unum sint’ thành lời nguyện cầu của chúng ta’ Với t́nh thân hữu huynh đệ, chúng
ta có thể trao đổi với nhau những tặng ân được Thần Linh ban cho và chúng ta cảm
thấy được nhau phấn khích v́ chúng ta loan báo Chúa Kitô cùng sứ điệp của Người
cho thế giới, một thế giới ngày nay thường bị hỗn loạn và âu lo, hoang mang và
lạnh lùng”.
Bằng tiếng Pháp
“Cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay đây có một tầm vóc hết sức quan trọng. Trước
hết là v́ nó giúp cho vị tân giám mục Rôma, mục tử của Giáo Hội Công Giáo, được
dịp lập lại với quí vị, một cách chân thành rằng ‘Duc in altum’ (Hăy thả lưới ở
chỗ nước sâu’)”. Chúng ta hăy đi sâu hơn theo niềm hy vọng. Theo buo7ưc chân của
các vị tiền nhiệm của ḿnh, nhất là Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, tôi cảm
thấy rất cần phải tái xác nhận quyết tâm bất khả văn hồi, một quyết tâm được
Công Đồng Chung Vaticanô II thực hiện, và được tiếp tục qua năm tháng, nhờ cả ở
hoạt động của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Vơ Kitô Giáo. Con đường hướng
về mối hiệp nhất trọn vẹn như Chúa Giêsu mong muốn nơi thành phần môn đệ của
Người cần phải có một tấm ḷng đơn sơ cụ thể trước những ǵ được Thần Linh nói
cùng các Giáo Hội, cần đến ḷng can đảm, dịu hiền, cương quyết và hy vọng đạt
được cùng đích này. Nó trước hết đ̣i phải thực hiện việc đồng tâm liên lỉ nguyện
để xin Vị Mục Tử Nhân Lành ban tặng ân hiệp nhất cho đàn chiên của Người.
Làm sao lại không thể nh́n nhận, bằng tấm ḷng tri ân cảm tạ Thiên Chúa, về sự
kiện là cuộc gặp gỡ của chúng ta cũng có tính cách quan trọng của một tặng ân đă
được ban cho chúng ta chứ? Chúa Kitô, Vị Vua Ḥa B́nh, vẫn hoạt động nơi chúng
ta; Người đă thấm nhập một cách dồi dào những cảm t́nh thân hữu, những cảm t́nh
đă bị suy yếu đi bởi những bất đồng, đă dạy chúng ta hăy sống bằng một thái độ
đối thoại hôn nữa, hợp với chính những quyết tâm của thành phần mang danh nghĩa
của Người. Việc hiện diện của quí vị, quí huynh thân mến trong Chúa Kitô, bất kể
những ǵ đă chia rẽ chúng ta và gây ra những bóng tối che phủ mối hiệp thông
trọn vẹn hữu h́nh của chúng ta, là một dấu hiệu chia sẻ và nâng đỡ vị giám mục
Rôma, vị tin tưởng vào sự hỗ trợ của anh em trong việc hy vọng theo con đường
này để tiến đến với Chúa Kitô là thủ lănh của chúng ta.
Bằng Tiếng Ư
Vào dịp rất đặc biệt này, dịp mang chúng ta lại với nhau chính vào lúc bắt đầu
việc tôi phục vụ giáo hội, việc tôi lo âu chấp nhận nhưng tin phục vào Chúa, tôi
xin quí vị hăy cùng tôi nêu gương về một thứ đại kết thiêng liêng, một thứ đại
kết, trong nguyện cầu, làm hiện thực mối hiệp thông của chúng ta một cách dễ
dàng. Tôi xin truyền đạt cho quí vị tất cả những ước mong và suy tử này cùng với
những lời chào thân ái nhất của tôi, nhờ đó, qua quí vị, chúng cũng được chuyển
đến các giáo hội và cộng đồng giáo hội của quí vị.
Bằng Tiếng Anh
Giờ đây tôi xin hướng về quí vị, quí bạn thuộc các truyền thống tôn giáo khác
nhau thân mến, và tôi chân thành cám ơn quí vị về sự hiện diện của quí vị ở buổi
lễ đăng quang long trọng cho giáo triều của tôi…. Tôi đặc biệt cám ơn về sự hiện
diện nơi chúng tôi các phần tử thuộc cộng đồng Hồi giáo, và tôi xin bày tỏ niềm
tri ân về việc phát triển đối thoại giữa những người Hồi giáo và Kitô giáo, cả ở
cấp địa phương lẫn quốc tế. Tôi cam đoan với quí vị là Giáo Hội này muốn tiếp
tục bắc những chiếc cầu nối thân hữu với tín đồ của tất cả mọi tôn giáo, để t́m
kiếm sự thiện thực sự cho hết mọi người cũng như cho toàn thể xă hội.
Thế giới mà chúng ta đang sống đây thường bị đánh dấu bằng những cuộc xung khắc,
bạo lực và chiến tranh, thế nhưng nó vẫn thiết tha mong được ḥa b́nh, một ḥa
b́nh trước hết là tặng ân của Thiên Chúa, một ḥa b́nh chúng ta không ngừng cầu
mong. Tuy nhiên, ḥa b́nh cũng là một nhiệm vụ cần tất cả mọi người dấn thân
thực hiện nữa, nhất là những ai tuyên bố ḿnh thuộc về các truyền thống tôn giáo.
Những nỗ lực của chúng ta trong việc tiến đến với nhau và duy tŕ việc đối thoại
là một đóng góp sáng giá để dựng xây ḥa b́nh trên những nền tảng vững chắc vậy.
Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm đáng kính của tôi đă viết vào lúc mở
màn cho một tân thiên niên kỷ là “Danh xưng của Vị Thiên Chúa duy nhất càng ngày
càng phải trở thành những ǵ theo đúng như bản chất của ḿnh, tức là một danh
xưng của ḥa b́nh và là một lời hiệu triệu ḥa b́nh” (Tông Thư Mở Màn Cho Một
Tân Thiên Kỷ, 55). Bởi thế, cần phải dấn thân vào cuộc đối thoại chân thực và
thành thực, dựa trên việc tôn trọng phẩm vị của hết mọi con người được dựng nên,
như Kitô hữu chúng tôi tin tưởng, theo h́nh ảnh và tương tự như Thiên Chúa (x
Gen 1:26-27).
Bằng Tiếng Ư
Vào lúc mở màn cho giáo triều của ḿnh, tôi xin ngỏ cùng tất cả quí vị, cũng như
với các tín đồ thuộc các truyền thống tôn giáo được tiêu biểu nơi đây, và tất cả
những ai đang t́m kiếm Chân Lư bằng một tấm ḷng chân thành, lời mời gọi thiết
tha hăy cùng nhau trở thành những kiến trúc sư của ḥa b́nh, bằng việc cùng
quyết tâm thông cảm, tôn trọng và yêu thương nhau.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 26/4/2005
Đức Tân Giáo Hoàng Biển Đức
XVI: Bài Giảng Lễ Đăng Quang – “Cả h́nh ảnh về người mục tử và h́nh ảnh về người
đánh cá đều làm phát ra một tiếng mời gọi hiệp nhất tỏ tường”
Trọng kính Chư Huynh Hồng Y,
Chư huynh giám mục và linh mục,
Chư tôn vị thẩm quyền cùng chư vị thuộc ngoại giao đoàn,
Anh chị em thân mến.
Trong những ngày đầy căng thẳng này đây, chúng ta đă hát kinh cầu các thánh vào
3 dịp khác nhau: vào dịp lễ an táng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II; vào dịp
các vị hồng y nhập mật viện bầu giáo hoàng; và một lần nữa vào ngày hôm nay khi
chúng ta hát lên với câu đáp ‘Tu illum adiuva’ – xin nâng đỡ phù tŕ vị tân Thừa
Kế Thánh Phêrô. Vào mỗi dịp, tôi đều cảm thấy hết sức ủi an một cách đặc biệt
khi nghe đến bài hát nguyện cầu này. Tất cả chúng ta đều cảm thấy lẻ loi cô
quạnh làm sao ấy sau cuộc ra đi của Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng trên 26
năm trường đă là mục tử của chúng ta và dẫn dắt chúng ta tiến bước trong cuộc
đời! Ngài đă vượt qua ngưỡng cửa của sự sống mai hậu, tiến vào mầu nhiệm Thiên
Chúa. Thế nhưng ngài đă không bước đi một ḿnh. Những ai tin tưởng th́ chẳng bao
giờ lẻ loi một ḿnh cả, cả khi c̣n sống lẫn khi qua đời. Vào lúc ấy, chúng ta có
thể kêu cầu Chư Thánh thuộc mọi thời đại, bạn bè ḿnh, anh chị em ḿnh trong đức
tin, biết rằng các vị sẽ theo nhau hộ tống ḿnh về thế giới bên kia, tiến vào
vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng việc ngài trở về là những ǵ đă
được đợi chờ. Giờ đây, chúng ta cũng biết rằng ngài đang ở nơi của ngài và thực
sự là nhà của ngài.
Chúng tôi c̣n được ủi an khi chúng tôi long trọng tiến vào cuộc mật nghị, để
chọn bầu người được Chúa chọn. Làm sao chúng ta có thể biết được tên tuổi của
con người này? Làm sao 115 vị giám mục, đến từ mọi nền văn hóa và mọi quốc gia,
có thể nhận ra người Chúa muốn trao phó sứ vụ tháo cởi đây? Một lần nữa, chúng
ta biết rằng chúng ta không lẻ loi một ḿnh, chúng ta biết rằng chúng ta được
bao vây, dẫn dắt và hướng đạo bởi thành phần bạn hữu của Thiên Chúa. Và rồi giờ
đây, trong lúc này đây, một người tôi tớ của Thiên Chúa như tôi đây lại phải
gánh vác cả một công việc khổng lồ, một công việc thực sự vượt quá tất cả khả
năng của loài người. Làm sao tôi có thể làm nổi việc này chứ? Làm sao tôi sẽ có
thể làm được việc ấy chứ? Các bạn thân mến của tôi ơi, tất cả các bạn vừa kêu
cầu cùng toàn thể chư thánh, được tiêu biểu bởi một số tên tuổi cao cả trong
lịch sử của những ǵ Thiên Chúa tiếp xúc với loài người. Như thế, tôi cũng có
thể nói bằng một niềm xác tín tái lập là: Tôi không lẻ loi một ḿnh. Tôi không
mang vác một ḿnh những ǵ thực sự là tôi không bao giờ có thể một ḿnh mang vác.
Tất cả Chư Thánh của Thiên Chúa đều hiện diện ở đó để bảo vệ tôi, để hỗ trợ tôi
và để nâng đỡ tôi. Rồi các lời nguyện cầu của anh chị em, anh chị em thân mến,
việc ưu ái của anh chị em, ḷng yêu thương của anh chị em, đức tin của anh chị
em và niềm hy vọng của anh chị em là những ǵ hộ tống tôi. Thật vậy, việc các
thánh cùng thông công không phải chỉ là việc hiệp thông của thành phần nam nữ
cao cả đă ra đi trước chúng ta và là thành phần chúng ta biết đến tiếng tăm. Tất
cả chúng ta đều thuộc về mối hiệp thông các thánh này, chúng ta là thành phần
được lănh nhận phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, chúng ta là thành
phần kín múc sự sống tự tặng ân Ḿnh Máu Chúa Kitô là phương tiện Người biến đổi
chúng ta và làm cho chúng ta nên giống như Người.
Phải, Giáo Hội là những ǵ sống động – đó là một cảm nghiệm tuyệt vời trong
những ngày này. Trong những ngày buồn thương trước t́nh trạng yếu liệt và qua
đời của vị Giáo Hoàng, Giáo Hội đă trở thành hiển nhiên một cách tuyệt vời cho
chúng ta thấy rằng Giáo Hội là những ǵ sống động. Và Giáo Hội th́ trẻ trung.
Giáo Hội mang trong ḿnh tương lai của thế giới, và bởi đó, cho mỗi một người
chúng ta thấy con đường dẫn đến tương lai. Giáo Hội sống động – Giáo Hội sống
động v́ Chúa Kitô sống động, v́ Người thực sự đă sống lại. Nơi nỗi khổ đau chúng
ta thấy trên gương mặt của Đức Thánh Cha vào những ngày Phục Sinh, chúng ta
chiêm ngưỡng thấy mầu nhiệm của Cuộc Chúa Kitô Khổ Nạn và chúng ta đă chạm tới
các thương tích của Người. Thế nhưng, qua những ngày ấy, chúng ta c̣n có thể, ở
một ư nghĩa sâu xa, chạm đến được cả Đấng Phục Sinh nữa. Chúng ta đă có thể cảm
nghiệm được niềm vui Người đă hứa hẹn như hoa trái của việc Người Phục Sinh sau
một thời gian ngắn ngủi tối tăm.
Giáo Hội sống động, với những lời này, tôi hết sức vui mừng và tri ân cảm tạ gửi
lời chào đến tất cả mọi anh chị em tụ họp ở nơi đây, chư huynh hồng y và giám
mục khả kính của tôi, chư linh mục, phó tế, phục vụ viên Giáo Hội, giáo lư viên
thân mến của tôi. Tôi xin gửi đến anh chị em tu sĩ nam nữ, thành phần nhân chứng
cho việc hiện diện rạng ngời của Thiên Chúa. Tôi xin gửi lời chào đến anh chị em,
thành phần tín hữu giáo dân, trầm ḿnh nơi việc làm cao cả ở mọi lănh vực của
cuộc sống để dựng xây Vương Quốc của Thiên Chúa đang lan rộng khắp nơi trên thế
giới. Với ḷng cảm mến sâu xa tôi cũng gửi lời chào đến tất cả những ai được tái
sinh trong Bí Tích Rửa Tội nhưng chưa hoàn toàn hiệp thông với chúng tôi; cả quí
vị nữa, hỡi anh chị em nhân dân Do Thái, thành phần chúng tôi được chia sẻ cả
một di sản thiêng liêng cao cả, một di sản được bắt nguồn từ những lời hứa bất
khả văn hồi của Thiên Chúa. Sau hết, như một làm sóng góp lực, tôi nghĩ đến tất
cả mọi con người nam nữ ngày nay, đến những anh chị em tín ngưỡng cũng như vô
tín ngưỡng.
Quí bạn thân mến! Vào lúc này đây tôi không cần phải tŕnh bày chương tŕnh hành
vụ của tôi. Tôi đă nêu lên những ǵ tôi cảm thấy là công việc tôi phải làm ở Sứ
Điệp hôm Thứ Tư 20/4, và sẽ c̣n có những dịp khác để nói lên điều này. Chương
tŕnh hành vụ thực sự của tôi đó là không phải làm theo ư của tôi, không phải là
theo đuổi những ư tưởng riêng của tôi, mà là lắng nghe, cùng với toàn thể Giáo
Hội, lời Chúa và ư Chúa, để được Người hướng dẫn, nhờ đó, Chính Người Đích Thân
dẫn dắt Giáo Hội ở vào thời điểm lịch sử này của chúng ta. Thay v́ nói về một
chương tŕnh hành vụ, tôi chỉ muốn nhận định về hai biểu hiệu phụng vụ tiêu biểu
cho lễ đăng quang của Thừa Tác Vụ Thừa Kế Thánh Phêrô; ngoài ra, cả hai biểu
hiệu này phản ảnh rơ ràng những ǵ chúng ta đă nghe công bố trong các bài đọc
hôm nay.
Biểu hiệu thứ nhất đó là giây choàng tông phẩm (petrine pallium), được thêu bằng
lông thuần túy, một sợi giây được quàng lên đôi vai của tôi. Dấu hiệu cổ kính
này, một dấu hiệu được các vị giám mục Rôma đeo từ thế kỷ thứ 4, có thể được coi
là h́nh ảnh cái ách của Chúa Kitô, một cái ách mà vị giám mục của thành này, Tôi
Tớ của mọi Tôi Tớ Chúa, gánh trên đôi vai của ḿnh. Ách của Thiên Chúa là ư muốn
của Thiên Chúa, một ư muốn chúng ta chấp nhận. Và ư muốn này không đè nặng trên
chúng ta, áp đảo chúng ta và làm cho chúng ta mất tự do. Biết được những ǵ
Thiên Chúa muốn, biết được đâu là con đường sự sống, đó là niềm vui của dân Do
Thái, đó là đại diễm phúc cho dân này. Đó cũng là niềm vui của chúng ta nữa: Ư
muốn của Thiên Chúa không loại trừ chúng ta mà là thanh tẩy chúng ta, cho dù có
đớn đau, nhờ đó ư muốn ấy dẫn chúng ta đến với bản thân ḿnh. Nhờ đó, chúng ta
chẳng những phụng sự một ḿnh Người, mà c̣n phần rỗi của cả thế giới, của tất cả
lịch sử nữa.
Biểu hiệu của giây choàng tông phẩm thậm chí c̣n có một ư nghĩa cụ thể hơn nữa,
ở chỗ, lông của con cừu có mục đích tiểu biểu cho con chiên thất lạc, con chiên
bệnh hoạn, hay con chiên yếu kém được vị mục tử vác trên vai mang đến gịng nước
sự sống. Đối với các Vị Giáo Phụ của Giáo Hội, dụ ngôn con chiên lạc, con chiên
được người mục tử t́m kiếm trong sa mạc, là h́nh ảnh của mầu nhiệm Chúa Kitô và
Giáo Hội. Nhân loại, tức mọi người trong chúng ta đây, là con chiên lạc mất
trong sa mạc không c̣n biết đâu là phương hướng nữa. Con Thiên Chúa sẽ không để
cho điều này xẩy ra; Người không thể bỏ rơi nhân loại ở trong một t́nh trạng quá
ư là khốn nạn như thế. Người đă vội vă từ bỏ vinh quang trên trời để ra đi t́m
kiếm con chiên này và theo đuổi nó cho tới Thập Tự Giá. Người đă vác nó trên hai
vai của Người và ẵm bồng nhân loại của chúng ta; Người ẳm bế tất cả chúng ta –
Người là vị mục tử nhân lành đă bỏ mạng sống ḿnh v́ chiên. Điều giây choàng
tông phẩm trước hết và trên hết muốn nói tới đó là tất cả chúng ta đều được Chúa
Kitô bồng bế. Thế nhưng, đồng thời nó cũng mời gọi chúng ta hăy bao bọc lẫn nhau.
Thế nên giây choàng tông phẩm này trở thành một biểu hiệu cho sứ vụ của vị chủ
chăn, một sứ vụ đă được bài đọc thứ hai và bài Phúc Âm nói đến. Vị mục tử cần
phải được nhiệt huyết thánh hảo của Chúa Kitô tác động, ở chỗ, đối với vị mục tử
này không có vấn đề dửng dưng trước rất nhiều người đang sống trong sa mạc. Có
nhiều thứ sa mạc. Có thứ sa mạc bần cùng, sa mạc đói khát, sa mạc hoang vắng, sa
mạc cô đơn, sa mạc trụy ái. Có thứ sa mạc tăm tối về Thiên Chúa, trống rỗng tâm
hồn không c̣n biết phẩm giá của ḿnh hay mục đích của đời sống làm người nữa.
Những thứ sa mạc bên ngoài trên thế giới này đang gia tăng, v́ những sa mạc nội
tâm đă trở nên quá rộng lớn. Bởi thế mà những kho tàng của trái đất này không
c̣n được dùng để giúp vào việc kiến tạo một khui vườn của Thiên Chúa cho tất cả
mọi người sống nữa, trái lại, chúng đă được sử dụng để phục vụ cho các thứ quyền
lực khai thác và hủy hoại. Giáo Hội nói chung và tất cả mọi vị mục tử của Giáo
Hội, như Chúa Kitô, cần phải lên đường dẫn dắt con người ra khỏi sa mạc ấy,
hướng đến nơi có sự sống, hướng đến t́nh nghĩa với Con Thiên Chúa, đến Đấng ban
sự sống cho chúng ta, một sự sống sung măn.
Biểu hiệu con cừu c̣n có một ư nghĩa sâu xa hơn nữa. Ở Cận Đông ngày xưa, thành
phần vua chúa vốn có thói quen tỏ ra là những người mục tử chăn dắt nhân dân của
họ. Đó là h́nh ảnh cho thấy quyền lực của họ, một h́nh ảnh khinh miệt, ở chỗ,
đối với họ, hạ thần của họ như thể chiên cừu, một thứ chiên cừu mà người mục tử
có thể sử dụng tùy ư. Khi vị mục tử của toàn thể nhân loại là Thiên Chúa hằng
sống, Đích Thân trở thành một con cừu, Người đă đứng về phía các con cừu, với
thành phần bị chà đạp và sát hại. Đó là cách Người tỏ Ḿnh ra là người mục tử
đích thực: ‘Tôi là Mục Tử Nhân Lành. Tôi bỏ mạng sống ḿnh v́ chiên’, Chúa Giêsu
nói về Bản Thân ḿnh như thế (Jn 10:14ff). Chính yêu thương, chứ không phải là
quyền lực, đă cứu chuộc chúng ta! Đó là dấu hiệu của Thiên Chúa: Chính Ngài là
t́nh yêu. Đă bao nhiêu lần chúng ta muốn rằng giá mà Thiên Chúatỏ ḿnh ra mạnh
mẽ hơn nữa, rằng giá mà Người ra tay một cách cương quyết hơn, khống chế sự dữ
và tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn. Tất cả mọi thứ ư hệ về quyền lực đều biện
minh ḿnh y hệt theo chiều hướng ấy, chúng biện minh cho việc hủy hoại bất cứ
những ǵ chặn đường tiến bộ và giải phóng con người. Chúng ta cảm thấy khổ đau
trước thái độ nhẫn nại của Thiên Chúa. Thế mà, chúng ta cần đến sự nhẫn nại của
Người. Thiên Chúa, Đấng đă trở nên một con chiên con, nói với chúng ta rằng thế
giới này được cứu độ bởi Đấng Chịu Đóng Đanh, chứ không phải bởi những ai đóng
đanh Người. Thế giới này được cứu chuộc bởi sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Nó bị
tiêu diệt bởi sự bất nhẫn của con người.
Một trong những đặc tính căn bản của một người mục tử đó là phải yêu thương
thành phần được trao phó cho họ, thậm chí như họ yêu mến Chúa Kitô là Đấng họ
phụng sự. ‘Hăy chăn chiên của Thày’, Chúa Giêsu đă nói với Thánh Phêrô như thế,
và giờ đây, vào lúc này đây, Người nói câu đó với cả tôi nữa. Chăn nuôi nghĩa là
yêu thương, và yêu thương cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ. Yêu thương
nghĩa là cống hiến cho chiên những ǵ thực sự là thiện hảo, đó là thứ dưỡng chất
chân lư của Thiên Chúa, dưỡng chất lời Chúa, dưỡng chất hiện diện của Người, một
hiện diện Người tỏ ra cho chúng ta nơi Bí Tích thánh. Các bạn thân mến, vào lúc
này đây tôi chỉ có thể nói rằng xin hăy nguyện cầu cho tôi, để tôi biết yêu mến
Chúa mỗi ngày một hơn. Xin hăy cầu nguyện cho tôi, để tôi biết yêu thương đàn
chiên của Người mỗi ngày một hơn, nói cách khác, yêu thương anh chị em, Hội
Thánh, mỗi một người trong anh chị em và tất cả mọi người trong anh chị em. Xin
hăy nguyện cầu cho tôi, để tôi không tẩu thoát v́ sợ hăi khi thấy sói dữ. Chúng
ta hăy cầu nguyện lẫn cho nhau, để Chúa bồng bế chúng ta và để chúng ta cũng
biết bao bọc lẫn nhau.
Biểu hiệu thứ hai được phụng vụ hôm nay sử dụng để diễn tả việc bắt đầu thừa tác
vụ thừa kế Thánh Phêrô là việc trao chiếc nhẫn của người đánh cá. Lời kêu gọi
Thánh Phêrô trở thành một vị mục tử, như chúng ta đă nghe trong Phúc Âm, xẩy ra
sau tŕnh thuật về mẻ cá lạ, khi mà, sau cả một đêm các môn đệ thả lưới bị thất
bại, họ thấy Chúa Kitô Phục Sinh ở trên bờ. Người bảo họ hăy thả lưới một lần
nữa, và lưới đă đầy cá đến nỗi họ khó ḷng kéo nó lên; 153 con cá lớn: ‘mà mặc
dù quá nhiều cá mà lưới vẫn không bị rách’ (Jn 21:11). Tŕnh thuật này, kể lại
vào cuối cuộc hành tŕnh của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người, tương quan với
tŕnh thuật vào thuở ban đầu, cả vào lúc ấy nữa, các môn đệ thâu đêm không bắt
được ǵ; cũng lúc ấy, Chúa Giêsu đă mời gọi Simon hăy thả lưới một lần nữa ở chỗ
nước sâu. Và Simon, nhân vật bấy giờ chưa được gọi là Phêrô, đă đáp lại một cách
tuyệt vời là ‘Thưa Thày, vâng lời Thày con xin thả lưới’. Thế rồi ngài đă được
trao cho sứ vụ: ‘Đừng sợ. Từ nay con sẽ trở thành tay chài lưới người ta’ (Lk
5:1-11). Cả ngày nay nữa, Giáo Hội và thành phần kế thừa các Tông Đồ được kêu
gọi hăy tiến vào biển sâu lịch sử mà thả lưới để chinh phục con người nam nữ về
cho Phúc Âm – cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, cho sự sống đích thực. Các Vị Giáo
Phụ đă dẫn giải rất khéo về công việc đặc biệt này. Đây là những ǵ các ngài nói:
đối với cá, loài được dựng nên v́ nước, nó sẽ chết nếu bị lấy ra khỏi biển khơi,
bị đem ra khỏi yếu tố sống c̣n của nó để làm đồ ăn cho con người. Thế nhưng, nơi
sứ vụ của một kẻ đánh cá người th́ ngược lại mới đúng. Chúng ta đang sống trong
cảnh xa ĺa, trong những gịng nước mặn chết chóc và khổ đau; trong một biển cả
tối tăm không ánh sáng. Lưới Phúc Âm đă kéo chúng ta đă kéo chúng ta ra khỏi
những thứ nước chết chóc và mang chúng ta vào cảnh rạng ngời của ánh sáng thần
linh, vào sự sống đích thực. Thật sự là như thế: khi chúng ta theo Chúa Kitô
thực hiện sứ vụ này để trở thành những kẻ đánh cá người, chúng ta cần phải mang
con người nam nữ ra khỏi biển khơi mặn mà đủ thứ h́nh thức xa ĺa và mang họ vào
mảnh đất sự sống, vào ánh sáng của Thiên Chúa.
Thật sự là thế: mục đích đời chúng ta sống là để tỏ Thiên Chúa cho con người. Và
chỉ có nơi nào thấy được Thiên Chúa mới bắt đầu có sự sống mà thôi. Chỉ khi nào
chúng ta gặp được Thiên Chúa hằng sống nơi Chúa Kitô chúng ta mới biết sự sống
là ǵ. Chúng ta không phải là một thứ sản phẩm ngẩu nhiên và vô nghĩa của tiến
hóa. Mỗi một người trong chúng ta là thành quả của tư tưởng Thiên Chúa. Mỗi một
người trong chúng ta đều được ước định, mỗi một người trong chúng ta đều được
yêu thương, mỗi một người trong chúng ta đều cần thiết. Không có ǵ tuyệt vời
hơn là cảm thấy bàng hoàng trước Phúc Âm, trước việc được hội ngộ Chúa Kitô.
Không có ǵ tuyệt vời hơn là nhận biết Người và nói với kẻ khác về t́nh nghĩa
của chúng ta đối với Người. Công việc của vị mục tử, công việc của vị đánh cá
người, thường có thể là những ǵ mỏi mệt. Thế nhưng, nó là những ǵ đẹp đẽ và
tuyệt vời, v́ nó thực sự là thứ việc phục vụ cho niềm vui, niềm vui của Thiên
Chúa, một niềm vui cần được vang lên trong thế giới.
Đến đây tôi muốn thêm điều này nữa, đó là cả h́nh ảnh về người mục tử và h́nh
ảnh về người đánh cá đều làm phát ra một tiếng mời gọi hiệp nhất tỏ tường. ‘Tôi
c̣n có chiên khác chưa thuộc về đàn này; Tôi cần phải dẫn chúng nữa, và chúng sẽ
lắng nghe tiếng Tôi. Rồi sẽ có một đàn chiên và một chủ chiên’ (Jn 10:16); những
lời này của Chúa Kitô ở cuối bài giảng của Người về vị Chủ Chiên Nhân Lành. Và
tŕnh thuật về 153 con cá lớn được kết thúc bằng câu nói hân hoan: ‘mặc dù quá
nhiều cá mà lưới vẫn không bị rách’ (Jn 21:11). Than ôi, Chúa yêu ơi, giờ đây
chúng con cảm thấy buồn ḷng mà nh́n nhận rằng nó đă bị rách rồi! Nhưng không –
chúng con không được buồn! Chúng con hăy vui lên v́ Chúa đă hứa hẹn, một lời hứa
không làm thất vọng, và chúng con hăy làm tất cả những ǵ chúng con có thể để
theo đuổi con đường hướng đến hiệp nhất Chúa đă hứa. Chúng con hăy nhớ đến nó
khi chúng con nguyện cầu cùng Chúa, khi chúng con nài xin Người: vâng, lạy Chúa,
xin Chúa hăy nhớ lại lời Chúa hứa. Xin Chúa ban cho chúng con được trở thành một
đàn chiên và một chủ chiên! Xin Chúa đừng để cho lưới của Chúa bị rách, xin hăy
giúp chúng con trở thành những người tôi tớ của hiệp nhất!
Tới đây, tôi nghĩ về ngày 22/10/1978, ngày mà Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu
thừa tác vụ của ḿnh tại Quảng Trường Thánh Phêrô đây. Những lời của ngài vào
dịp ấy vẫn liên tục vang vọng trong tai tôi: ‘Đứng sợ! Hăy mở rộng cửa cho Chúa
Kitô!’ Vị Giáo Hoàng này đă ngỏ cùng thành phần thế lực, thành phần quyền lực
của thế giới này, những thành phần sợ rằng Chúa Kitô có thể lấy đi một cái ǵ đó
khỏi quyền lực của họ nếu họ để cho Người vào, nếu họ để cho đức tin được tự do.
Phải, Người chắc chắn sẽ lấy đi một cái ǵ đó khỏi họ: đó là cái thế lực hư hoại,
cái mạo dụng luật lệ và tự do để làm những ǵ họ thích. Thế nhưng, Người sẽ
không lấy đi bất cứ điều ǵ liên quan đến tự do và phẩm vị của con người, hay
liên quan đến việc dựng xây một xă hội chân chính. Vị Giáo Hoàng này cũng nói
điều đó với hết mọi người, nhất là giới trẻ. Không phải tất cả chúng ta đều hăi
sợ một cách nào đó hay chăng? Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô hoàn toàn đi vào
cuộc đời của ḿnh, nếu chúng ta trọn vẹn cởi mở bản thân ḿnh cho Người, chúng
ta có sợ rằng Người có thể sẽ lấy đi khỏi chúng ta một cái ǵ đó hay chăng?
Chẳng lẽ chúng ta không sợ phải từ bỏ một cái ǵ đó quan trọng, một cái ǵ đó
chuyên biệt, một cái ǵ đó làm cho đời sống hết sức tuyệt vời hay sao? Như thế
chẳng lẽ chúng ta lại không liều ḿnh đi đến chỗ làm suy giảm đi hay làm hụt
hẫng mất cái tự do của chúng ta hay sao? Một lần nữa, vị Giáo Hoàng này đă nói:
Không đâu! Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô đi vào cuộc sống của chúng ta th́ chúng
ta chẳng những không bị mất đi một sự ǵ cả, không một sự ǵ, tuyệt đối là không
có một sự ǵ, trái lại, nhờ đó c̣n làm cho cuộc của chúng ta được thanh thoát,
tuyệt vời và cao cả. Không đâu! Chỉ có ở nơi mối thân t́nh này các cửa sự sống
mới có thể rộng mở mà thôi. Chỉ có ở nơi t́nh nghĩa ấy khả năng cao cả của sự
sống con người mới thực sự thể hiện mà thôi. Chỉ có ở trong t́nh nghĩa này chúng
ta mới cảm thấy được vẻ đẹp và tự do mà thôi. Bởi thế, hôm nay đây, bằng quyền
năng mănh liệt và bằng niềm xác tín vững chắc, căn cứ vào kinh nghiệm bản thân
lâu đời của ḿnh, hỡi giới trẻ thân mến, tôi muốn nói cùng quí bạn rằng: Xin
đừng sợ Chúa Kitô! Ngài không lấy đi một điều ǵ đâu, mà Người lại ban cho các
bạn hết mọi sự. Khi chúng ta hiến ḿnh cho Người, chúng ta nhận lại được gấp
trăm. Phải, hăy mở cửa, mở rộng cửa cho Chúa Kitô – và các bạn sẽ t́m thấy sự
sống đích thực. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
dịch theo điện thư của VIS ngày 24/4/2005
"Tôi chỉ muốn phụng sự một ḿnh Người khi tôi hoàn toàn dấn thân phục vụ Giáo Hội của Người"
Sứ Điệp đầu tiên của Giáo Hoàng Biển Đức
XVI gửi Hồng Y Đoàn
Sau đây là nguyên văn sứ điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênedict XVI bằng
tiếng Latinh ngỏ cùng Hồng Y Đoàn vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005 tại Nguyện
Đường Sistine. Đầu đề của bản tin được VIS (Vatican Information Service) phổ
biến sứ điệp này là “Đức Benedict XVI, Vị Giáo Hoàng của Chúa Kitô, của Hiệp
Thông và của Đoàn Tính”.
“Nguyện chúc tràn đầy ân sủng và b́nh an tràn cho tất cả quí huynh! Vào những
giờ khắc này đây, tâm hồjn tôi cảm thấy có hai cảm giác xung khắc nhau. Một đàng
là cảm giác của một thứ rối loạn về cái bất toàn và phàm nhân của ḿnh đối với
trách nhiệm được kư thác cho tôi hôm qua với vai tṛ Thừa Kế Thánh Phêrô ở Hội
Thánh Rôma để trông coi Giáo Hội Hoàn Vũ này. Đàng khác, tôi lại cảm thấy trong
tôi một niềm tri ân sâu xa đối với Thiên Chúa là Đấng, như phụng vụ khiến chúng
ta xướng lên, không bỏ rơi đàn chiên của Ngài, nhưng đưa đàn chiên này qua gịng
thời gian, theo sự hướng dẫn của những ai được Ngài chọn làm thành phần thay mặt
Con Ngài và làm các vị mục tử.
“Quí Huynh thân mến, việc nhận thức sâu xa về tặng ân của t́nh thương Chúa đă
chiếm đoạt tâm hồn tôi bất chấp tất cả mọi sự. Tôi coi đây là ân huệ mà vị tiền
nhiệm đáng kính của tôi là Đức Gioan Phaolô II đă chiếm được cho tôi. Tôi dường
như có thể cảm thấy là bàn tay mạnh mẻ của ngài đang xoắn chặt lấy tay tôi; tôi
dường như thấy được ánh mắt tươi vui và nghe được tiếng của ngài ngỏ cùng tôi
nhất là vào lúc này rằng: ‘Đừng sợ!’
“Cái chết của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và những ngày sau đó, đối với Giáo
Hội cũng như toàn thế giới là một thời điểm đặc biệt ân sủng. Nỗi đớn đau cả thể
về cái chết của ngài cùng cái trống không lưu lại nơi tất cả chúng ta đă được
tôi luyện bởi tác động của Chúa Kitô Phục Sinh, một tác động, trong những ngày
dài này, được tỏ hiện nơi một triều sóng tin tưởng, yêu thương và đoàn kết
thiêng liêng, những ǵ đă lên đến tuyệt đỉnh vào lễ an táng trọng thể của ngài.
“Chúng ta có thể nói rằng, lễ an táng của Đức Gioan Phaolô II thực sự là một cảm
nghiệm phi thường về những ǵ tỏ ra cho thấy một cách nào đó quyền năng của
Thiên Chúa là Đấng, qua Giáo Hội của Ngài, muốn h́nh thành một đại gia đ́nh bao
gồm tất cả mọi dân tộc, bằng quyền lực liên kết của Sự Thật và Yêu Thương. Trong
giờ lâm chung, giống như Sư Phụ và Chúa của ḿnh, Đức Gioan Phaolô II đă tôn
vinh giáo triều lâu dài và thành công của ḿnh, bằng việc củng cố dân Kitô giáo
trong đức tin, qui tụ họ lại bên ngài và làm cho cả nhân loại cảm thấy liên kết
với nhau hơn.
“Làm sao người ta không cảm thấy được vững mạnh trước chứng từ ấy? Làm sao người
ta không cảm thấy phấn khởi bắt nguồn từ biến cố ân sủng này?
“Thật là ngỡ ngàng đối với những ǵ tôi dự tưởng, Đấng Quan Pḥng Thần Linh, qua
ư muốn của các Nghị Phụ Hồng Y khả kính, đă gọi tôi tiếp tục vị đại Giáo Hoàng
này. Vào những giờ khắc này, tôi vẫn đang nghĩ đến những ǵ đă xẩy ra ở vùng
Cesarea Phillippi hai ngàn năm về trước: Tôi dường như nghe thấy những lời của
Thánh Phêrô rằng: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’, và lời long
trọng khẳng định của Chúa Kitô rằng: ‘Con là Phêrô, và trên đá này Thày sẽ dựng
xây Giáo Hội của Thày…. Thày sẽ trao cho con ch́a khóa nước trời’.
“Thày là Đức Kitô! Con là Phêrô! Tôi dường như đang sống lại chính cái cảnh Phúc
Âm ấy; Tôi, vị Thừa Kế Thánh Phêrô, xin rung cảm lập lại những lời thiết tha của
tay đánh cá Galilê và tôi cảm thấu nghe lại lời hứa tái bảo đảm của Vị Thày thần
linh này. Nếu gánh nặng của trách nhiệm giờ đây đè lên đôi vai yếu hèn của tôi
là một gánh nặng khổng lồ th́ quyền năng thần linh mà tôi tin tưởng chắc chắn sẽ
là những ǵ khôn lường vô hạn: ‘Con là Phêrô và trên đá này Thày sẽ xây dựng
Giáo Hội của Thày’. Khi chọn tôi làm Giám Mục Rôma, Chúa Kitô đă muốn tôi làm
đại diện cho Người, Người muốn tôi là ‘đá’ cho mọi người tin tưởng nương tựa.
Tôi xin Người biến cái nghèo hèn của tôi thành sức mạnh cho tôi, để tôi có thể
trở thành một mục tử can trường và trung thành chăn dắt đàn chiên của Người,
luôn dễ dạy với những tác động của Thần Linh Người.
“Tôi xin lănh nhận thừa tác vụ đặc biệt này, thừa tác vụ ‘kế thừa Thánh Phêrô’
để phục vụ Giáo Hội Hoàn Vũ, khiêm tốn phó ḿnh vào bàn tay Quan Pḥng của Thiên
Chúa. Và tôi xin lập lại ḷng gắn bó trọn vẹn và chân t́nh của tôi với Chúa Kitô:
‘In Te, Domine, speravi; non confundar in aeternum!’
“Cùng chư huynh Hồng Y, với ḷng biết ơn về niềm tin tưởng quí huynh đối với tôi,
tôi xin quí huynh hăy nâng đỡ tôi bằng lời nguyện cầu cũng như bằng việc hợp tác
một cách liên lỉ, chủ động và khôn ngoan. Tôi cũng xin anh em của tôi trong hàng
giáo phẩm hăy gần gũi với tôi bằng lời cầu nguyện và an ủi để tôi thực sự là
‘Servus servorum Dei’ (Tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa). Như Thánh Phêrô và các vị
Tông Đồ khác, theo ư muốn của Chúa Kitô, là một tông đồ đoàn, cũng thế, Vị Thừa
Kế Thánh Phêrô và các V ị Giám Mục thừa kế các Tông Đồ – những ǵ đă được Công
Đồng Chung Vaticanô II hết sức nhấn mạnh – cần phải chặt chẽ liên kết với nhau.
Mối hiệp thông đoàn tính này, cho dù có khác nhau về vai tṛ và phận vụ giữa Vị
Giáo Hoàng Tối Cao và các vị giám mục, là mối hiệp thông phục vụ Giáo Hội và
hiệp nhất đức tin, mối hiệp thông chi phối một cách đáng kể đến mức hữu hiệu của
hoạt động truyền bá phúc âm hóa trong thế giới hiện đại. Con đường đă được các
vị tiền nhiệm của tôi tiến bước, tôi cũng muốn đi theo nữa, chỉ v́ để loan
truyền cho thế giới biết sự hiện diện sống động của Chúa Kitô.
“Đặc biệt trước mặt của tôi là chứng từ của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài để
lại cho chúng ta một Giáo Hội cường tráng hơn, tư do hơn và trẻ trung hơn. Một
Giáo Hội mà, theo giáo huấn và gương mẫu của ngài, b́nh tâm nh́n lại quá khứ và
không sợ hướng đến tương lai. Qua Đại Năm Thánh 2000, Giáo Hội đă được dẫn vào
ngàn năm mới, nắm trong tay Phúc Âm, Phúc Âm được áp dụng cho thế giới qua việc
đọc lại một cách tường tận Công Đồng Chung Vaticanô II. Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II có lư để nhấn mạnh rằng Công Đồng này như là một ‘la bàn’ được sử dụng
để chúng ta lèo lái trên đại dương bao la của ngàn năm thứ ba. Trong di chúc thư
thiêng liêng của ḿnh, ngài c̣n nhận định là: ‘Tôi tin rằng, cho đến một thời
gian rất dài, các thế hệ mới sẽ kín múc lấy từ kho tàng được công đồng của thế
kỷ 20 ấy để cống hiến cho chúng ta’.
“Cả tôi nữa, để bắt đầu việc phục vụ xứng hợp với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, cũng
muốn mạnh mẽ xác định ư muốn cương quyết của tôi trong việc theo đuổi cuộc dấn
thân thực hiện Công Đồng Chung Vaticanô II, theo các vị tiền nhiệm của tôi và
trung thành tiếp nối truyền thống hai ngàn năm của Giáo Hội. Năm nay chính là
năm kỷ niệm 40 năm bế mạc công đồng này (8/12/1965). Qua gịng thời gian, các
văn kiện của công đồng đă không mất đi tính cách hợp thời của ḿnh; giáo huấn
của các văn kiện ấy vẫn cho thấy đặc biệt thích hợp với các nhu cầu cấp bách mới
của Giáo Hội cũng như với xă hội đang được toàn cầu hóa hiện nay.
“Giáo triều của tôi, một cách hết sức ư nghĩa, được mở màn vào lúc Giáo Hội đang
sống một năm đặc biệt giành cho Thánh Thể. Làm sao tôi lại không thấy được cái
trùng hợp được quan pḥng này một yếu tố cần phải đánh dấu thừa tác vụ tôi đă
được kêu gọi thi hành đây? Thánh Thể, tâm điểm của đời sống Kitô hữu và là nguồn
mạch của sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, chắc chắn bao giờ cũng phải
là tâm điểm và là nguồn mạch cho sứ vụ thừa kế Thánh Phêrô đă được trao phó cho
tôi.
“Thánh Thể làm cho Chúa Kitô Phục Sinh liên lỉ hiện diện, một Chúa Kitô là Đấng
tiếp tục hiến Ḿnh cho chúng ta, kêu gọi chúng ta hăy tham dự vào bàn tiệc Ḿnh
Máu của Người. Từ mối hiệp thông trọn vẹn này với Người mới xuất phát ra hết mọi
yếu tố khác của đời sống Giáo Hội, trước hết là mối hiệp thông giữa tín hữu,
việc dấn thân loan truyền và làm chứng cho Phúc Âm, nhiệt t́nh bác ái đối với
tất cả mọi người, nhất là với thành phần nghèo khổ và hèn mọn nhất.
“Bởi thế, trong năm nay, Lễ Trọng Kính Ḿnh Thánh Chúa Kitô cần phải được cử
hành một cách hết sức đặc biệt. Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế
Giới ở Cologne vào Tháng Tám, và của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ vào
Tháng Mười, một thượng nghị sẽ bàn đến đề tài ‘Thánh Thể là Nguồn Mạch và là
Tuyệt Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội’. Tôi xin hết mọi người hăy gia
tăng vào những tháng tới đây ḷng yêu mến và việc sùng kính đối với Chúa Giêsu
Thánh Thể và thể hiện một cách can đảm tỏ tường sự hiện diện thực sự của Chúa
Kitô, trước hết, qua những việc cử hành một cách long trọng và đúng đắn.
“Tôi đặc biệt xin các vị linh mục thực hiện điều ấy, những vị giờ đây tôi đang
hết ḷng quí mến nghĩ đến vào lúc này đây. Thừa tác vụ linh mục được phát sinh
từ Nhà Tiệc Ly, cùng với Thánh Thể, như vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II
của tôi đă nhiều lần nhấn mạnh đến. ‘Đời sống linh mục cần phải đặc biệt có một
‘dạng thức Thánh Thể’, ngài đă viết như thế trong Bức Thư cuối cùng của ngài cho
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc sốt sắng cử hành hằng ngày Thánh Lễ, tâm điểm của
đời sống và sứ vụ của hết mọi vị linh mục, là những ǵ góp phần vào việc đạt
được mục đích ấy.
“Được nuôi dưỡng và bảo tŕ bởi Thánh Thể, người Công giáo chắc chắn cảm thấy
được thôi thúc hướng đến mối hiệp nhất như Chúa Kitô mong muốn ở Nhà Tiệc Ly. Vị
Thừa Kế Thánh Phêrô biết rằng ḿnh cần phải đặc biệt nhận lấy ước muốn tối hậu
này của Vị Thày Thần Linh. Nhiệm vụ kiên cường anh em của ḿnh thật sự đă được
trao phó cho ngài.
“Bởi vậy, bằng tất cả ư thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của ḿnh ở Giáo
Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đă tắm máu, vị Thừa Kế này lănh nhận, như là quyết
tâm chính yếu của ḿnh, quyết tâm không ngừng hoạt động hướng đến việc tái thiết
mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa
Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngài. Ngài biết rằng,
để làm điều này, những bày tỏ về cảm t́nh thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có
những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích
mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến
bộ trên con đường đại kết.
“Những cuộc đối thoại về thần học là những ǵ cần phải có. Cũng không thể châm
chước bỏ qua việc khảo sát kỹ lưỡng những nguyên do lịch sử đă gây ra những việc
quyết định trong quá khứ. Thế nhưng, khẩn thiết hơn thế nữa là việc ‘thanh tẩy
kư ức’, một việc đă thường được Đức Gioan Phaolô gợi lên, và là một việc duy
nhất có thể sửa soạn cho các tâm hồn đón nhận tất cả sự thật của Chúa Kitô.
Chính v́ trước nhan Người là Vị Thẩm Phán tối cao của tất cả mọi sinh vật, mà
mỗi một người trong chúng ta cần phải trả lẽ, với ư thức là một ngày kia chúng
ta cần phải cắt nghĩa cho Người về những ǵ chúng ta đă làm và những ǵ chúng ta
không làm cho thiện ích cao cả là mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh nơi tất cả
thành phần môn đệ của Người.
“Vị Thừa Kế Thánh Phêrô đây tự cảm thấy chính ḿnh liên quan đến vấn đề này và
sẵn sàng làm tất cả những ǵ trong khả năng của ḿnh để cổ vơ lợi ích chính yếu
cho việc đại kết. Theo những vị tiền nhiệm của ḿnh, ngài nhất định quyết tâm
nâng đỡ bất cứ sáng kiến nào có vẻ thích hợp với việc đẩy mạnh việc giao tiếp và
thỏa hiệp với những vị đại diện thuộc các Giáo Hội khác và các cộng đồng giáo
hội khác. Thật thế, nhân cơ hội này đây, ngài xin gửi đến họ lời chàop thân ái
nhất của ngài trong Chúa Kitô, Vị Chúa duy nhất của tất cả mọi người.
“Vào lúc này đây, kư ức của tôi nhớ lại cảm nghiệm không thể nào quên được tất
cả chúng ta đă trải qua với cái chết và lễ an táng cho Đức Gioan Phaolô II tiếc
thương. Quanh thi thể của ngài, nằm trên mặt đất trống, các vị lănh đạo chư quốc
đă qui tụ lại, cùng với dân chúng thuộc tất cả mọi giai cấp xă hội, nhất là giới
trẻ, để tỏ ḷng măi măi gắn bó quí mến và ca ngợi ngài. Toàn thể thế giới đă tin
tưởng nh́n vào ngài. Đối với nhiều người th́ việc tham dự đông đảo này, một cuộc
tham dự được các phương tiện truyền thông phóng đại đến cả những nơi xa xôi của
hành tinh này, như thể là việc nhân loại văn minh tân tiến, một nhân loại bị
hoang mang sợ hăi và bất ổn, đang tự hỏi ḿnh về tương lai, muốn đồng thanh yêu
cầu vị Giáo Hoàng này giúp đỡ.
“Giáo Hội ngày nay cần phải làm sống lại nơi bản thân ḿnh một thứ nhận thức về
công việc tŕnh bày cho thế giới một lần nữa bằng tiếng nói của Đấng đă phán:
‘Tôi là ánh sáng thế gian; ai theo Tôi sẽ không bước đi trong tăm tối, song sẽ
được ánh sáng sự sống’. Trong việc đảm nhận thừa tác vụ của ḿnh, vị tân Giáo
Hoàng này biết rằng công việc của ngài là làm cho ánh sáng của Chúa Kitô chiếu
tỏa trước con người nam nữ ngày nay, không phải là ánh sáng của ngài mà là của
Chúa Kitô.
“Ư thức như thế, bản thân tôi xin ngỏ cùng mọi người, kể cả những ai theo các
tôn giáo khác hay những ai chỉ muốn t́m kiếm một câu giải đáp cho những câu hỏi
căn bản về đời sống mà chưa t́m ra. Tôi xin chân thành cảm mến ngỏ cùng hết mọi
người, xin hứa cùng họ rằng Giáo Hội muốn tiếp tục phát triển một cuộc đối thoại
cởi mở chân t́nh với họ, trong việc t́m cầu sự thiện hảo đích thực của nhân loại
và của xă hội.
“Tôi kêu cầu Thiên Chúa ban hiệp nhất và b́nh an cho gia đ́nh nhân loại và xin
tuyên bố việc tất cả mọi người Công giáo sẵn ḷng cộng tác thực hiện việc phát
triển xă hội thực sự, một phát triển tôn trọng phẩm vị của tất cả mọi người.
“Tôi sẽ làm hết sức ḿnh và dấn thân theo đuổi việc đối thoại đầy hứa hẹn được
những vị tiền nhiệm của tôi khởi sự với những nền văn minh khác nhau, v́ nếu có
hiểu biết nhau mới tạo điều kiện cho một tương lai tốt đẹp hơn cho hết mọi người.
“Tôi đặc biệt nghĩ đến giới trẻ. Tôi xin gửi đến họ, thành phần đối thoại đặc
biệt của Đức Gioan Phaolô II, niềm gắn bó mến thương, hy vọng là, nếu Chúa muốn,
được gặp gỡ họ ở Cologne vào dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới đây. Hỡi giới trẻ
thân mến, tôi sẽ tiếp tục bảo tŕ việc đối thoại với anh chị em, lắng nghe những
mong đợi của anh chị em để cố gắng giúp anh chị em gặp được Chúa Kitô hằng sống
muôn đời trẻ trung một cách sâu xa hơn.
“’Mane nobiscum, Domine!’ Xin Chúa ở với chúng con! Lời kêu mời này, một lời kêu
mời làm nên chủ đề chính của Tông Thư cho Năm Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II,
đó là lời cầu nguyện đột phát từ ḷng của tôi khi tôi bắt đầu thừa tác vụ được
Chúa Kitô kêu gọi tôi thực hiện. Như Thánh Phêrô, tôi cũng lập lại với Người lời
hứa trung thành trọn vẹn của tôi. Tôi chỉ muốn phụng sự một ḿnh Người khi tôi
hoàn toàn dấn thân phục vụ Giáo Hội của Người.
“Để hỗ trợ cho lời hứa này của ḿnh, tôi kêu xin Mẹ Maria Rất Thánh, Đấng tôi
xin trao phó hiện tại và tương lai của bản thân tôi và của Giáo Hội trong tay Mẹ,
chuyển cầu cho tôi. Chớ ǵ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô cùng toàn thế các
thánh cũng chuyển cầu cho tôi.
“Với ḷng cảm mến ấy, tôi ban cho quí huynh hồng y đáng kính, cũng như cho những
ai tham dự vào lễ nghi này, và tất cả những ai theo dơi chúng ta qua truyền h́nh
và truyền thanh, phép lành đặc biệt và thân ái”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
dịch từ điện thư của VIS ngày 20/4
“Chúng ta hăy sống thừa tác vụ của chúng ta như tặng ân Chúa Kitô ban cho con người!”
Bài Giảng Thánh Lễ Khai
Mạc Mật Nghị Hồng Y Bầu Tân Giáo Hoàng
Theo chương tŕnh đă được phác họa, sáng nay, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, ĐHY
trưởng hồng y đoàn là Joseph Ratzinger đă dâng Thánh Lễ khai mạc cho mật Nghị
Hồng Y bầu tân Giáo Hoàng, với sự đồng tế của tất cả mọi hồng y tuyển bầu, và sự
tham dự của các vị hồng y quá tuổi tuyển bầu, các vị giám mục, linh mục, tu sĩ
nam nữ và giáo dân. Trong bài giảng của ḿnh, vị hồng y chủ tế, trước hết, đă
dẫn giải bài đọc thứ nhất liên quan đến lời Chúa Giêsu nói qua miệng tiên tri
Isaia là Người được sai đi “loan báo năm hồng ân của Chúa và ngày báo oán của
Thiên Chúa chúng ta”.
Isaiah 61:1-3a. 6a. 8b-9
Ephesians 4:11-16
John 15:9-17
”Vào giờ khắc nặng trọng trách đây, chúng ta hăy đặc biệt lằng nghe những ǵ
Chúa muốn nói với chúng ta qua những lời lẽ của Người. Tôi chỉ xin chọn mỗi đoạn
của ba bài đọc liên quan trực tiếp tới chúng ta vào một thời điểm như thế này.
“Bài đọc thứ nhất cho chúng ta thấy h́nh ảnh được tiên báo về nhân vật Thiên Sai,
một h́nh ảnh đạt được trọn vẹn ư nghĩa của nó vào chính lúc Chúa Giêsu đọc đoạn
văn này ở hội đường Nazarét, khi Người nói rằng: ‘Hôm nay quí vị đă nghe thấy
đọan kinh thánh này đă được ứng nghiệm’ (Lk 4:21). Ở tâm điểm của bài sách tiên
tri này, chúng ta thấy có một câu mà thoáng nh́n như mâu thuẫn. Khi nói về ḿnh,
Đấng Thiên Sai nói rằng Người được sai đến để ‘loan báo năm hồng ân của Chúa,
vào ngày báo oán của Thiên Chúa chúng ta’ (Is 61:2).
“Chúng ta hân hoan nghe thấy nói đến việc loan truyền năm t́nh thương: T́nh
thương Chúa đặt giới hạn cho sự dữ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă nói với
chúng ta như thế. Tự bản thân ḿnh Chúa Giêsu Kitô là t́nh thương Chúa: Thấy
Chúa Kitô nghĩa là thấy được t́nh thương của Thiên Chúa. Lệnh truyền của Chúa
Kitô đă trở nên sứ vụ của chúng ta qua việc xức dầu tư tế; chúng ta được kêu gọi
để loan báo, chẳng những bằng lời nói mà c̣n bằng đời sống cũng như bằng những
hoa trái hiệu nghiệm của các Bí Tích, ‘năm hồng ân của Chúa’
“Thế nhưng, tiên tri Isaia muốn nói ǵ khi ngài loan báo về ‘ngày báo oán của
Thiên Chúa chúng ta?’ Khi đọc bản văn tiên tri này ở Nazarét, Chúa Giêsu không
nói đến những lời ấy; Người đă kết thúc bằng việc công bố năm hồng ân. Phải
chăng đó là lư do xẩy ra việc xúc phạm sau bài giảng của Người? Chúng ta không
ai biết. Dầu sao Chúa Giêsu cũng cống hiến việc dẫn giải chính thức về những lời
ấy bằng cái chết của Người trên thập tự giá. ‘Chính Người đă mang lấy tội lỗi
của chúng ta nơi thân thể của Người bị treo trên cây’, Thánh Phêrô đă nói như
thế (1Pt 2:24). Và Thánh Phaolô viết cho tín hữu Galata rằng: ‘Chúa Kitô đă cứu
chuộc chúng ta khỏi cái tai họa của lề luật, khi trở nên một thứ đồ bị nguyền
rủa v́ chúng ta – v́ có lời chép: Khốn thay cho kẻ bị treo lên cây’, để, nơi
Chúa Giêsu Kitô, nhờ đó các thứ phúc lành của Abraham được đổ xuống cho các dân
ngoại, nhờ đó chúng ta được lănh nhận lời hứa Thần Linh nơi đức tin’ (Gal 3:13).
“T́nh thương của Chúa Kitô không phải là một thứ ân sủng rẻ tiền; t́nh thương
của Người không phải là những ǵ cho rằng sự dữ là đồ vô vị. Chúa Giêsu mang lấy
tất cả gánh nặng của sự dữ, tất cả quyền lực hủy diệt của sự dữ, nơi thân thể
của Người và trong linh hồn của Người. Ngày báo oán và năm hồng ân của Chúa cùng
hiện thực nơi mầu nhiệm Vượt Qua, nơi Chúa Kitô là Đấng đă chết và sống lại. Đó
là việc báo oán của Thiên Chúa, ở chỗ, Chính Bản Thân Ngài, nơi con người của
Con Ngài, chịu khổ v́ chúng ta. Chúng ta càng được t́nh thương của Chúa chạm tới,
chúng ta càng liên kết với khổ đau của Người, và chúng ta càng sẵn sàng làm trọn
nơi xác thịt của chúng ta ‘những ǵ c̣n thiếu nơi những khốn khổ của Chúa Kitô’
(Col 1:24).
“Chúng ta hăy sang bài đọc thứ hai là thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô.
Bài đóc này chính yếu có 3 vấn đề: trước hết là các thừa tác vụ và đặc sủng của
Giáo Hội như những tặng ân của Chúa phục sinh đă về trời; rồi tới việc trưởng
thành trong đức tin và trong nhận thức về Con Thiên Chúa như điều kiện và nội
dung cho mối hiệp nhất của thân thể Chúa Kitô; và sau hết, việc tham dự chung
vào việc tăng trưởng của Thân Thể Chúa Kitô, tức là việc biến đổi thế giới bằng
mối hiệp thông với Thiên Chúa.
“Chúng ta hăy suy niệm về hai điểm. Điểm thứ nhất đó là con đường dẫn đến, như
bản tiếng Ư dịch cách giản dị là ‘sự trưởng thành Chúa Kitô’. Cụ thể hơn, theo
bản Hy ngữ, chúng ta cần phải nói về ‘tầm mức viên trọn của Chúa Kitô’ là tầm
mức chúng ta được kêu gọi để thực sự trưởng thành trong đức tin. Chúng ta không
được là trẻ con trong đức tin, trong t́nh trang non dại. Mà sống đức tin trẻ con
nghĩa là ǵ? Thánh Phaolô trả lời rằng đó là ‘bị nghiêng ngả theo chiều gió chủ
nghĩa’ Thật là một lời diễn tả rất ư là hợp thời!
“Biết bao nhiêu là chiều gió chủ nghĩa chúng ta đă từng biết đến trong mấy thập
niên qua! Biết bao nhiêu là trào lưu ư hệ! Biết bao nhiêu là trường phái tư
tưởng! Con tầu tư tưởng nhỏ bé của nhiều Kitô hữu thường bị xô lấn bởi những cơn
sóng này, tung họ từ cực đoan này sang cực đoan kia: từ chủ nghĩa Marxít đến chủ
nghĩa tự do (liberalism), thậm chí đến chủ nghĩa duy tự do (libertarianism); từ
chủ nghĩa tập thể (collectivism) đến chủ nghĩa cá nhân cực đoan (radical
individualism); từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa tôn giáo mập mờ bí hiểm
(vague religious mysticism); từ chủ nghĩa ngộ thức (agnosticism) đến chủ nghĩa
ḥa đồng (syncretism) v.v.
“Ngày nào cũng có những thứ giáo phái mới, khiến cho những lời của Thánh Phaolô
nói trở thành sự thật về việc con người bị lừa đảo, về cái tinh quái làm cho con
người bị lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin minh tường, theo Kinh Tin Kính của
Giáo Hội, thường được gán cho là chủ nghĩa thủ cựu / bảo thủ (fundamentalism).
Một khi chủ nghĩa tương đối (relativism), nói cách khác, một khi để cho ḿnh ‘bị
xô đẩy theo chiều gió chủ nghĩa’, thái độ duy nhất được cho là thích hợp với
thời đại tân tiến, th́ đó là lúc chủ nghĩa tương đối độc đoán được h́nh thành,
một chủ nghĩa tương đối độc đoán cho rằng không có ǵ là tuyệt đối cả, và là một
chủ nghĩa chỉ biết căn cứ vào cái tôi cùng với những ước muốn của cái tôi mà
thôi.
“Chúng ta có một chuẩn mức khác, đó là Con Thiên Chúa, một con người thật sự.
Người là chuẩn mức của nhân bản chủ nghĩa đích thực. Một đức tin ‘trưởng thành’
là đức tin không chiều theo làn sóng thời trang cũng như những ǵ là tân hiện
đại nhất; một đức tin trưởng thành và chín chắn là một đức tin được cắm rễ sâu
xa trong mối thân t́nh với Chúa Kitô. Mối thân hữu này hướng chúng ta về tất cả
những ǵ là thiện hảo và cống hiến cho chúng ta chuẩn mức để nhận thức được đâu
là phải và đâu là trái, đâu là gian dối và đâu là chân thật.
“Chúng ta cần phải làm cho đức tin trưởng thành này chín mùi; chúng ta cần phải
dẫn đàn chiên của Chúa Kitô đến đức tin này. Và chính đức tin này, chỉ duy có
đức tin này mà thôi, mới là những ǵ kiến tạo hiệp nhất và được hiện thực nơi
đức ái. Thánh Phaolô đă cống hiến cho chúng ta một câu nói tuyệt vời, ngược lại
với t́nh trạng trôi nổi của những ai giống như trẻ con bị bập bềnh theo triều
sóng, đó là hăy sống sự thật bằng đức ái như là một mẫu thức cốt yếu cho việc
hiện hữu của Kitô giáo. Sự thật và đức ái đồng qui nơi Chúa Kitô. Chúng đến với
Chúa Kitô theo chuẩn mức nào, th́ sự thật và đức ái cũng nên một với nhau trong
đời sống của chúng ta như vậy. Đức ái không có đức tin là một đức ái mù quáng;
chân lư không có đức ái sẽ chỉ là ‘phèng la inh ỏi’ (1Cor 13:1).
Giờ đây chúng ta sang bài Phúc Âm, một bài Phúc Âm phong phú song tôi chỉ xin
rút ra hai nhận định nhỏ thôi. Chúa Kitô đă noí với chúng ta những lời tuyệt vời
này là ‘Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa,… mà gọi các con là bạn hữu’ (Jn
15:5). Nhiều lần chúng ta chỉ cảm thấy rằng ḿnh giống như những tên đầy tớ vô
dụng, mà thực sự là thế (x Lk 17:10). Mặc dù là thế, Chúa Kitô vẫn gọi chúng ta
là bạn hữu của Người; Người làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người; Người ban
cho chúng ta t́nh bằng hữu của Người. Chúa Kitô đă xác định t́nh bằng hữu bằng
hai cách. Không có ǵ là bí mật giữa bạn bè với nhau: Chúa Kitô nói với chúng ta
hết những ǵ Người nghe từ Cha; Người hoàn toàn đặt niềm tin tưởng của Người nơi
chúng ta, và cùng với ḷng tin tưởng ấy là kiến thức của Người. Người tỏ cho
chúng ta thấy dung nhan của Người, tấm ḷng của Người. Người tỏ cho chúng ta
thấy niềm âu yếm của Người, t́nh yêu say mê cho đến điên cuồng tử giá.
“Người đặt tin tưởng nơi chúng ta; Người ban cho chúng ta quyền năng để cùng với
bản thân của Người phán rằng: ‘Này là ḿnh Thày’, và ‘Thày tha tội cho con’.
Người trao phó thân thể của Người là Giáo Hội cho chúng ta. Người kư thác sự
thật của Người cho tâm trí yếu đuối và bàn tay yếu hèn của chúng ta, đó là mầu
nhiệm Thiên CHúa là Ch, và Con và Thánh Thần; mầu nhiệm của vị Thiên Chúa là
Đấng ‘đă quá yêu thương thế gian đến hiến ban Con duy nhất của ḿnh’ (Jn 3:16).
Người đă làm cho chúng ta nên bạn hữu của Người. Chúng ta cần phải đáp lại như
thế nào đây?
“Yếu tố thứ hai được Chúa Giêsu sử dụng để định nghĩa t́nh bằng hữu đó là mối
hiệp thông của ư muốn. ‘Idem velle – idem nolle’ là câu định nghĩa của người
Rôma. ‘Các con là bạn hữu của Thày nếu các con làm theo những ǵ Thày truyền cho
các con’ (Jn 15:14). T́nh bằng hữu với Chúa Kitô đồng nghĩa với những ǵ được
ước nguyện thứ ba trong Kinh Lạy Cha: ‘Ư Cha thể hiện dưới đất cũng như trên
trời’.
“Vào giờ khắc ở Vườn Diệt-Si-Ma-Ni, Chúa Giêsu đă biến đổi ư muốn loài người
phản loạn của chúng ta thành một ư muốn tuân hợp và kết hợp với ư muốn thần linh.
Người đă chịu đựng tất cả cuộc thảm kịch về cái tự lập của chúng ta, và bằng
việc trao phó ư muốn của chúng ta vào bàn tay Thiên Chúa, Người đă làm cho chúng
ta được thực sự tự do: ‘Thế nhưng, không phải theo ư Con mà là ư Cha’ (Mt
26:39). Việc cứu chuộc của chúng ta đă được thực hiện nơi mối hiệp thông ư muốn
này: ở chỗ được trở thành bạn hữu của Chúa Giêsu, trở nên bạn hữu của Thiên Chúa.
Chúng ta càng yêu mến Chúa Giêsu, chúng ta càng biết Người, tự do đích thật của
chúng ta càng tăng trưởng, cùng với niềm vui được cứu chuộc. Xin tri ân cảm tạ
Chúa Giêsu về t́nh bằng hữu của Chúa!
“Một yếu tố khác của Phúc Âm tôi cũng muốn được đề cập tới đó là bài nói của
Chúa Giêsu về việc sinh hoa kết trái: ‘Thày đă chọn các con và chỉ định để các
con đi sinh hoa kết trái để hoa trái của các con được tồn tại’. Cái động lực
hiện hữu của Kitô giáo hiện lên ở nơi đây, cái động lực của thành phần tông đồ:
‘Thày đă sai các con đi’. Chúng ta cần phải cảm thấy được sinh động bởi cái day
dứt khôn nguôi; cái day dứt khôn nguôi muốn mang đến cho hết mọi người tặng ân
đức tin, tặng ân được làm bạn hữu với Chúa Kitô. Thật vậy, t́nh yêu, tức t́nh
bằng hữu với Thiên Chúa, đă được ban cho chúng ta là để nhờ đó t́nh yêu này,
t́nh bằng hữu này vươn tới người khác nữa.
“Chúng ta đă lănh nhận đức tin là để trao tặng đức tin cho kẻ khác; chúng ta là
những vị linh mục phục vụ kẻ khác, và chúng ta cần phải sinh hoa kết trái vững
bền. Thế nhưng, làm sao có thể bền vững được đây? Tiền bạc không lâu bền. Nhà
cửa không bền lâu, cả sách vở nữa. Vào một lúc nào đó, không nhanh th́ chậm, tất
cả đều sẽ biến mất. Chỉ có một điều duy nhất c̣n tồn tại đến muôn đời đó là linh
hồn của con người, một con người được Thiên Chúa dựng nên để sống vĩnh hằng.
“Hoa trái tồn tại đây, bởi thế, là những ǵ chúng ta đă gieo vào linh hồn con
người ta, đó là yêu thương và nhận thức; là cử chỉ có thể chạm tới tâm can; là
lời nói hướng linh hồn hướng về niềm vui của Chúa. Vậy chúng ta hăy đi và nguyện
cầu cùng Chúa để Ngài giúp cho chúng ta sinh hoa kết trái, một thứ hoa trái vững
bền. Chỉ có thế trái đất này mới có thể được biến đổi từ thung lũng châu lệ
thành vườn địa đường của Thiên Chúa.
“Sau hết, chúng ta hăy trở lại với Thư gửi giáo đoàn Êphêsô một lần nữa. Bức thư
viết, theo những lời Thánh Vịnh 68, rằng Chúa Kitô, khi ‘Người lên trời… đă ban
các tặng ân cho con người’ (Eph 4:8). Ôi những tặng ân phân phối hiển vinh. Và
những tặng ân này là các vị tông đồ, tiên tri, các vị truyền bá phúc âm, các vị
mục tử và thày dạy. Thừa tác vụ của chúng ta là tặng ân của Chúa Kitô ban cho
con người để xây dựng thân thể của Người, xây dựng một tân thế giới. Chúng ta
hăy sống thừa tác vụ của chúng ta như tặng ân Chúa Kitô ban cho con người! Thế
nhưng, trong lúc này đây, chúng ta hăy thiết tha nguyện cầu cùng Chúa rằng, sau
đại tặng ân Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Ngài lại ban cho chúng ta một vị mục tử
theo ư định của tâm can Ngài, một vị mục tử dẫn chúng ta đến chỗ nhận biết Chúa
Kitô, đến với t́nh yêu của Người, đến với niềm vui chân thực.
“Amen”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
dịch từ điện thư của VIS ngày 18/4 và Zenit ngày 19/4
“Hỡi Đức Thánh Cha, xin hăy ban phép lành
cho chúng tôi từ cửa sổ pḥng của ngài”
Bài
Giảng của ĐHY chủ tế Joseph Ratzinger cho Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005
|
|
’Hăy theo Thày’. Chúa Phục Sinh đă nói những lời này với
Thánh Phêrô. Chúng là những lời cuối cùng Người nói với người môn đệ này, người
môn đệ được chọn để chăn dắt đàn chiên của Người. ‘Hăy theo Thày’ – lời nói gẫy
gọn này của Chúa Kitô có thể được coi như là ch́a khóa để hiểu được sứ điệp được
chuyển đến cho chúng ta từ cuộc sống của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân
yêu của chúng ta. Hôm nay chúng ta an táng thi hài của ngài trong ḷng đất như
một hạt giống bất tử – tâm can chúng ta tràn ngập buồn đau, song đồng thời cũng
đầy niềm hân hoan hy vọng và tri ân sâu xa.
Đó là những cảm t́nh đang tác động chúng ta, Anh Chị Em thân mến, những người
đang hiện diện ở Quảng Trường Thánh Phêrô này, ở các đường phố lân cận cũng như
ở các địa điểm khác trong thành Rôma, nơi mà cả một đám đông khổng lồ, trong
thinh lặng nguyện cầu, đă tụ họp lại với nhau mấy ngày vừa rồi. Tôi xin chân
thành chào tất cả anh chị em. Thay mặt Hồng Y Đoàn, tôi cũng muốn bày tỏ ḷng
trọng kính của tôi với các vị Thủ Lănh Quốc Gia, các Vị Đứng Đầu Chính Phủ và
các phái đoàn đại biểu thuộc các quốc gia khác nhau. Tôi xin chào các Vị Thẩm
Quyền và các vị đại diện chính thức của các Giáo Hội và các Cộng Đồng Kitô hữu
khác, cũng như những vị thẩm quyền của các tôn giáo khác. Tiếp theo, tôi xin
chào các vị Tổng Giám Mục, các vị Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và tín hữu đă
từ mọi châu lục đến đây; nhất là giới trẻ, thành phần Đức Gioan Phaolô II thích
gọi là tương lai và là niềm hy vọng của Giáo Hội. Ngoài ra, tôi xin chào tất cả
những ai trên khắp thế giới hiệp với chúng tôi qua truyền thanh và truyền h́nh
để long trọng cử hành lễ an táng của Đức Thánh Cha thân yêu của chúng tôi.
|
|
Hăy theo Thày! Là một sinh viên trẻ, Karol Wojtyla say sưa với văn chương, kịch nghệ và thi ca. Làm việc ở một xưởng hóa chất, bị vây bủa và đe dọa bởi việc khủng bố của Nazi, ngài đă nghe thấy tiếng gọi của Chúa: Hăy theo Thày! Trong hoàn cảnh ngoại thường ấy, ngài đă bắt đầu đọc các sách về triết lư và thần học, rồi nhập chủng viện chui do ĐHY Sapieha thiết lập. Sau chuộc chiến, ngài đă hoàn tất việc học hành của ḿnh theo phân khoa thần học ở Đại Học Jagiellonian ở Krakow. Nhiều lần, trong thư gửi cho các linh mục hằng năm cũng như trong các tác phẩm tự truyện của ḿnh, ngài đă nói cho chúng ta biết về thiên chức linh mục của ngài, một thiên chức ngài đă được thụ phong ngày 1 tháng 11 năm 1946. Trong các bản văn này, ngài đă cắt nghĩa thiên chức linh mục của ḿnh đặc biệt liên quan tới 3 câu nói của Chúa: ‘Không phải các con đă chọn Thày, song Thày đă chọn các con. Và Thày đă sai các con đi để sinh hoa kết trái, những hoa trái lâu bền’ (Jn 15:16). Câu thứ hai là ‘Vị mục tử nhân lành bỏ sự sống ḿnh cho chiên’ (Jn 10:11). Rồi câu: ‘Như Cha đă yêu thương Thày thế nào Thày cũng yêu thương các con như vậy; hăy ở lại trong t́nh yêu của Thày’ (Jn 15:9). Nơi 3 câu nói này chúng ta thấy được tâm can và linh hồn Đức Thánh Cha của chúng ta. Ngài đă thực sự đi khắp nơi, không ngừng nghỉ, để sinh hoa trái, một thứ hoa trái lâu bền. ‘Hăy chỗi dậy, Nào chúng ta lên Đường!’ là nhan đề của cuốn sách áp cuối của ngài. ‘Hăy đứng dậy, nào chúng ta lên Đường!’ – với những lời này, ngài đă thức tỉnh chúng ta khỏi một thứ đức tin lim dim, khỏi một giấc ngủ của thành phần môn đệ hôm qua và hôm nay. ‘Hăy đứng dậy, nào chúng ta lên đường!’ ngài tiếp tục nói với chúng ta cho đến cả hôm nay đây. Đức Thánh Cha là một vị linh mục cho tới cùng, v́ ngài đă hiến dâng sự sống của ḿnh cho Thiên Chúa v́ đàn chiên của ḿnh cũng như v́ toàn thể nhân loại, bằng một cuộc tự hiến hằng ngày để phục vụ Giáo Hội, nhất là giữa những đớn đau của các tháng cuối đời. Nhờ đó, ngài được nên một với Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành đă yêu thương chiên của Người. Sau hết, ‘hăy ở lại trong t́nh yêu của Thày’: Vị Giáo Hoàng này đă cố gắng gặp gỡ hết mọi người, vị đă có khả năng tha thứ và cởi mở tâm hồn với tất cả mọi người, bằng những lời của Chúa ấy, nói với chúng ta hôm nay đây một lần nữa rằng, nhờ việc ở lại trong t́nh yêu của Chúa Kitô chúng ta học được, nơi học đường của Chúa Kitô, nghệ thuật yêu thương chân thật.
Hăy theo Thày! Vào tháng 7 năm 1958, vị linh mục trẻ Karol Wajtyla đă bắt đầu
một giai đoạn mới trong cuộc hành tŕnh của ngài với Chúa và bước theo vết chân
của Chúa. Karol đă đi đến hồ Masuri để nghỉ hè như thường lệ, cùng với một nhóm
giới trẻ yêu thích chèo thuyền. Thế nhưng, ngài đă mang theo bên ḿnh một bức
thư mời ngài gặp vị Giáo Chủ Balan là ĐHY Wyszynski. Ngài có thể đoán được mục
đích của cuộc gặp gỡ này: đó là ngài được bổ nhiệm làm Giám Mục phụ tá ở Krakow.
Rời bỏ thế giới văn học, rời bỏ việc dấn thân thách đố với giới trẻ này, rời bỏ
nỗ lực về tri thức trong việc cố gắng hiểu biết và giải thích mầu nhiệm về tạo
vật là con người cũng như về việc truyền đạt cho thế giới ngày nay vấn đề dẫn
giải của Kitô giáo đối với con người của chúng ta – tất cả những điều ấy đối với
ngài, phải nói rằng, như mất đi chính bản thân ngài vậy, mất đi những ǵ đă trở
thành chính căn tính con người của vị linh mục trẻ này. Hăy theo Thày – Karol
Wojtyla đă chấp nhận việc bổ nhiệm ấy, v́ ngài đă nghe thấy nơi tiếng Giáo Hội
mời gọi tiếng của Chúa Kitô. Và rồi ngài đă nhận thức những lời của Chúa chân
thực biết bao: ‘Những ai cố giữ sự sống ḿnh sẽ mất nó, c̣n những ai mất sự sống
ḿnh sẽ giữ được nó’ (Lk 17:33). Vị Giáo Hoàng của chúng ta – như tất cả chúng
ta đều biết điều này là – không bao giờ muốn giữ lấy sự sống của ngài, giữ lấy
nó cho bản thân của ngài; ngài muốn hoàn toàn trao tặng bản thân ḿnh, cho đến
giây phút cuối cùng, v́ Chúa Kitô và do đó cũng v́ chúng ta nữa. Nhờ đó, ngài đă
cảm thấy được rằng hết những ǵ ngài đă hiến dâng vào bàn tay Chúa đă trở về với
ngài như thế nào một cách mới mẻ. Ḷng ngài mộ mến ngôn từ, thi ca, văn chương,
đă trở nên một phần chính yếu của sứ vụ mục vụ của ngài và cống hiến cho việc
giảng dạy Phúc Âm tính cách sinh động mới, thôi thúc mới, thu hút mới, cho dù có
là một dấu hiệu phản khắc chăng nữa.
Hăy theo Thày! Vào tháng 10/1978, ĐHY Wojtyla, một lần nữa,
đă nghe thấy tiếng Chúa gọi. Một lần nữa, lại xẩy ra cuộc đối thoại với Thánh
Phêrô được tŕnh thuật trong bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay: ‘Simon, con Jonah,
con có yêu mến Thày hay chăng?’ Hăy chăn các chiên mẹ của Thày!’ Trước câu hỏi
Chúa hỏi ‘Karol, con có yêu mến Thày hay chăng?’, ĐTGM Krakow đă đáp lại tận đáy
ḷng ḿnh rằng: ‘Chúa biết hết mọi sự; Chúa biết rằng con yêu mến Chúa’. T́nh
yêu Chúa Kitôđă động lực chính yếu nơi đời sống Đức Thánh Cha thân yêu của chúng
ta. Bất cứ ai đă từng thấy ngài cầu nguyện, những ai đă từng nghe ngài giảng,
đều biết được điều ấy. Nhờ việc ngài sống sâu xa thân mật với Chúa Kitô như thế,
ngài đă có thể mang vác một gánh nặng vượt trên khả năng thuần túy của phàm nhân:
gánh nặng làm mục tử của đàn chiên Chúa Kitô, của Giáo Hội hoàn vũ của ḿnh. Đây
không phải là lúc nói về những ǵ đặc biệt của giáo triều phong phú này. Tôi chỉ
xin đọc hai đoạn phụng vụ hôm nay nói lên những yếu tố chính yếu nơi sứ điệp của
ngài. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phêrô – và cùng với Thánh Phêrô cả vị Giáo
Hoàng này nữa – nói rằng ‘Tôi thực sự hiểu được rằng Thiên Chúa đă không tỏ ra
thiên vị, thế nhưng, nơi hết mọi dân nước, ai kính sợ Ngài và làm những ǵ chân
thực đều đáng được Ngài chấp nhận. Anh em biết rằng sứ điệp Ngài đă gửi đến cho
dân Do Thái, đó là việc rao giảng ḥa b́nh của Chúa Giêsu Kitô – Người là Chúa
của tất cả mọi người’ (Acts 10:34-36). Và trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô –
và cùng với Thánh Phaolô, vị cố Giáo Hoàng của chúng ta, đă kêu gọi chúng ta khi
kêu lên rằng: ‘Anh chị em thân mến, những người tôi yêu thương và mong đợi, là
niềm vui và là vinh dự của tôi, anh chị em hăy đứng vững như thế trong Chúa, hỡi
những người tôi quí mến’ (Phil 4:1).
Hăy theo Thày! Kèm theo lệnh truyền chăm sóc cho đàn chiên của Người, Chúa Kitô
c̣n báo cho Phêrô rằng thánh nhân sẽ phải chịu một cái chết tử đạo. Bằng những
lời này, những lời kết thúc và tóm tắt cuộc đối thoại về ḷng mến yêu cũng như
về lệnh truyền làm chủ chiên hoàn vũ, Chúa Kitô đă nhắc lại một cuộc đối thoại
khác đă diễn ra trong Bữa Tiệc Ly. Bấy giờ Chúa Giêsu đă phán: ‘Nơi Thày đi các
con không thể nào tới được’ Thánh Phêrô thưa Người rằng: ‘Lạy Thày, Thày đi đâu
thế?’ Chúa Giêsu đáp: ‘Nơi Thày đi hiện nay con không thể nào theo Thày nổi đâu;
nhưng sau này con sẽ theo Thày’ (Jn 13:33,36). Từ Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đă
tiến tới Thập Giá, tiến tới cuộc phục sinh của Người – Người đă đi vào cuộc vượt
qua của Người; và Thánh Phêrô chưa thể nào theo được Người. Giờ đây, sau cuộc
phục sinh, thời giờ ấy đă đến, thời điểm ‘sau này’ đă đến. Bằng việc chăn dắt
đàn chiên của Chúa Kitô, Thánh Phêrô đă đi vào mầu nhiệm vượt qua, thánh nhân đă
tiến về phía thập tự giá và về cuộc phục sinh. Chúa Kitô đă nói về điều này bằng
những lời: ‘… khi con c̣n trẻ, con thường tự ḿnh thắt lưng lấy và đi đâu tùy ư
con muốn’ (Jn 21:18). Trong những năm đầu của giáo triều ḿnh, những năm c̣n trẻ
trung và đầy nhiệt huyết, Đức Thánh Cha đă đi đến tận cùng trái đất theo sự dẫn
dắt của Chúa Kitô. Thế nhưng sau đó, ngài càng ngày càng đi sâu vào cuộc hiệp
thông khổ đau với Chúa Kitô; càng hiểu được sự thật của những lời này: ‘Người ta
sẽ thắt lưng cho con’. Và trong chính cuộc hiệp thông đau khổ này với Chúa Kitô
một cách liên tục và càng gia tăng hơn, ngài đă loan báo Phúc Âm, loan báo mầu
nhiệm về một t́nh yêu thương cho đến cùng tận (x Jn 13:1).
Ngài đă giải thích cho chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của ḷng
thương xót Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của ḿnh, ngài đă viết: Cái giới hạn
áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Ḷng Thương Xót Chúa’ (Hồi Niệm và Căn Tính, trang
60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống ngài bị cố sát, ngài đă nói: ‘Trong
việc hy hiến ḿnh cho tất cả chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư
nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu
thương… Chính cái đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu
thương và rút ran gay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’ (cùng
nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhăn quan ấy, vị Giáo Hoàng này đă
chịu đựng khổ đau và đă yêu qúi việc hiệp thông với Chúa Kitô, nên đó là lư do
tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc thinh lặng của ngài là những ǵ
thất là sống động và hiệu năng.
Ḷng Thương Xót Chúa: Đức Thánh Cha đă thấy được cái phản ảnh thuần khiết nhất
của t́nh thương Thiên Chúa nơi Người Mẹ Thiên Chúa. Ngài là người đă mồ côi mẹ
từ nhỏ đă càng tỏ ra kính mến người mẹ thần linh này hơn nữa. Ngài đă nghe thấy
những lời của Chúa Kitô tử giá như là lời nói với riêng ngài: ‘Này là Mẹ của
con’. Bởi thế, ngài thực hiện như người môn đệ yêu dấu đă làm, đó là ngài đă đem
Mẹ về nhà của ngài (eis ta idia: Jn 19:27) – ‘Totus Tuus – tất cả của con là của
Mẹ’. Và từ người mẹ này, ngài đă học nên giống Chúa Kitô.
Không ai trong chúng ta có thể quên được cảnh tượng diễn ra hôm Chúa Nhật Phục
Sinh vừa rồi trong cuộc đời của ngài, Đức Thánh Cha, đầy những đớn đau, lại tiến
đến cửa sổ Tông Dinh của ḿnh để ban phép lành ‘urbi et orbi – cho thành Rôma và
cho thế giới’ một lần cuối cùng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Giáo Hoàng
thân yêu của chúng ta hôm nay đang đứng ở cửa sổ pḥng của một Người Cha, ngài
đang trông thấy chúng ta và ban phép lành cho chúng ta. Vâng, xin hăy ban phép
lành cho chúng con, Đức Thánh Cha ơi. Chúng con xin dâng phú linh hồn yêu dấu
của cha cho Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ của cha, Vị đă hướng dẫn cha từng ngày và
là vị giờ đây dẫn cha đến vinh quang đời đời của Con Mẹ là Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo VIS của Ṭa Thánh qua điện thư ngày 7/4/2005.