ĐTC BIỂN ĐỨC XVI - NHỮNG BÀI GIẢNG

SAU NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 21/8/2005

 

 

Bài Giảng Lễ Đêm Giáng Sinh 2005 tại Đền Thớ Thánh Phêrô

Bài Giảng Chúa Nhật IV Mùa Vọng 18/12/2005 cho Giáo Xứ “Santa Maria Consolatrice” Giáo Phận Rôma

Bài Giảng Kỷ Niệm 40 Năm Bế Mạc Công Đồng Chung Vaticanô II Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tại Đền Thờ Thánh Phêrô 8/12/2005

Bài Giảng Giờ Kinh Phụng Vụ Tối Áp Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng 26/11/2005

Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh Thể

Buổi Họp Đầu Tiên Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI

Thánh Lễ Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI.

 

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Đêm Giáng Sinh 2005 tại Đền Thớ Thánh Phêrô

 

“Chúa đã nói với tôi rằng: Con là Con Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”. Với những lời này của Thánh Vịng thứ hai, Giáo Hội bắt đầu Lễ Vọng Giáng Sinh là lễ chúng ta cử hành việc hạ sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, trong hang Bêlem. Bài Thánh Vịnh này thuộc về lễ nghi tôn vinh các vua chúa của Giud0a. Dân Yến Duyên,  vì việc được tuyển chọn của mình, đã đặc biệt coi mình là con cái Thiên Chúa, thành phần con cái thừa nhận của Thiên Chúa. Như vua là hiện thân của dân chúng thế nào thì việc lên ngôi của ông cũng được cảm thấy như là một tác động Thiên Chúa long trọng nhận làm con nuôi vậy, bởi thế mà, một cách nào đó, vị vua ấy được tham dự vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vào đêm ở Bêlem, những lời này, những lời thực sự là một biểu hiệu cho một niềm hy vọng hơn là một thực tại hiện có, đã có một ý nghĩa mới mẻ và bất ngờ. Con Trẻ nằm trong máng có thực sự là Con Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là một Đấng chỉ vĩnh hằng quan tâm mà là mối hiệp thông yêu thương và trao hiến cho nhau. Ngài là Cha và Con và Thánh Thần.

 

Thế nhưng, chưa hết: Nơi Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đã hóa thân làm người. Chúa Cha đã nói với Người rằng: “Con là Con Cha”. “Cái ngày hôm nay” vĩnh hằng của Thiên Chúa đã trở thành cái ngày hôm nay thoáng qua của thế giới này và thăng hóa cái hôm nay chốc lát của chúng ta đây lên cái ngày hôm nay đời đời của Thiên Chúa. Thiên Chúa quá lớn lao đến nỗi đã trở thành nhỏ bé. Thiên Chúa quá quyền năng đến nỗi đã trở thành mềm yếu và đến với chúng ta như một con trẻ bất khả tự vệ, để chúng ta có thể mến yêu Ngài. Thiên Chúa quá thiện hảo để Ngài có thể bỏ đi hiển vinh thần linh của mình mà đến nơi hang đá, để chúng ta có thế thấy được Ngài, để sự thiện hảo của Ngài chúng ta có thể chạm tới chúng ta, để ban phát cho chúng ta và tiếp tục hoạt động qua chúng ta. Đó là Giáng Sinh: “Con là Con Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”.

 

Thiên Chúa đã trở thành một người trong chúng ta, để chúng ta có thể ở với Ngài và trở nên giống như Ngài. Như một dấu hiệu, Ngài đã chọn làm Con Trẻ nằm trong máng cỏ: Đó là cách thức Thiên Chúa là. Đó là cách thức chúng ta biết được Ngài. Và nơi hết mọi con trẻ chiếu tỏa một cái gì đó của ánh quang của “cái ngày hôm nay” ấy, của cái Thiên Chúa gần gũi mà chúng ta phải mến yêu và chúng ta phải qui phục – vì nó chiếu tỏa ra nơi hết mọi con trẻ, ngay cả nơi những con trẻ chưa được sinh vào đời.

 

Chúng ta hãy lắng nghe câu thứ hai của phụng vụ đêm thánh này, một câu được trích từ Sách Tiên Tri Isaia: “Một ánh sáng rạng ngời đã chiếu tỏa trên dân chúng đang bước đi trong tăm tối” (Is 9:1). Tiếng “ánh sáng” là tiếng tràn ngập toàn thể phụng vụ của Thánh Lễ đêm nay. Nó tái xuất hiện ở đoạn được trích từ thư Thánh Phaolô gửi cho Titô: “Ân sủng của Thiên Chúa đã xuất hiện” (2:11). Lời phát biểu “đã xuất hiện”, theo nguyên ngữ Hy Lạp,  cũng có cùng một ý nghĩa với được diễn tả theo tiếng Do Thái với những lời lẽ là “một ánh sáng đã chiếu soi”: “việc xuất hiện” này – “việc hiển linh” này – là việc tỏa ra ánh sáng của Thiên Chúa trên thế giới đầy tối tăm cùng với những vấn đề nan giải. Thế rồi Phúc Âm thuật lại rằng vinh quang ấy của Chúa đã xuất hiện với các mục đồng và “chiếu tỏa chung quanh họ” (Lk 2:9). Bất cứ nơi nào vinh quang của Thiên Chúa tỏ hiện thì ánh sáng đều tỏa ra khắp thế giới. Thánh Gioan đã nói với chúng ta rằng “Thiên Chúa là ánh sáng và nơi Ngài không có tối tăm” (1Jn 1:5). Ánh sáng là nguồn sự sống.

 

Thế nhưng, trước hết, ánh sáng mang ý nghĩa hiểu biết; nó có ý chỉ về sự thật, vì nó tương phản với bóng tối tăm của sự sai lầm và vô thức. Ánh sáng ban sự sống cho chúng ta, nó tỏ cho chúng ta thấy đường đi nước bước. Thế nhưng, ánh sáng, như nguồn nhiệt lượng, cũng có nghĩa là yêu thương nữa. Đâu có yêu thương thì ánh sáng đều chiếu tỏa trên thế giới; đâu có hận thù thì ở đó thế giới vẫn còn ở trong tăm tối. Nơi hang Bêlem đã xuất hiện một ánh sáng rạng ngời đang được thế giới đợi trông. Nơi Con Trẻ năm trong hang lừa bò ấy Thiên Chúa đã tỏ vinh quang của Ngài ra – một vinh quang yêu thương, một vinh quang đã bỏ mình đi, tước bỏ hết những gì là cao sang để hướng dẫn chúng ta theo con đường yêu mến. Ánh sáng ở Bêlem này đã không bao giờ bị lịm tắt. Nó đã chạm tới con người nam nữ ở mọi thời đại, “nó đã chiếu tỏa chung quang họ”.

 

Bất cứ nơi nào con người tin tưởng vào Con Trẻ ấy thì bác ái cũng được tỏa ra – một đức ái hướng về người khác, ưu ái quan tâm tới thành phần yếu kém và thành phần khổ đau, ban phát thứ tha. Từ Bêlem, một luồng ánh sáng, yêu thương và chân lý tỏa lan khắp các thế kỷ. Nếu chúng ta nhìn đến các vị thánh nhân – từ Thánh Phaolô và Âu Quốc Tinh tới Thánh Phanxicô và Đaminh, từ Thánh Phanxicô Xavier và Têrêsa Avila tới Mẹ Têrêsa Calcutta – chúng ta đều thấy cái ngập lụt thiện hảo này, một con đường ánh sáng bốc tỏa luôn mới mẻ từ mầu nhiệm Bêlem, mầu nhiệm Thiên Chúa trở thành một Con Trẻ. Nơi Con Trẻ này, Thiên Chúa đã ngăn chặn bạo lực của thế giới này bằng sự thiện hảo của Ngài. Ngài kêu gọi chúng ta hãy bước theo Con Trẻ ấy.

 

Cùng với cây Giáng Sinh, những người bạn Áo quốc của chúng ta cũng mang đến cho chúng ta một ngọn lửa nhỏ được thắp sáng từ Bêlem, như thể muốn nói rằng mầu nhiệm thực sự của Giáng Sinh là thứ rạng ngời nội tại được chiếu tỏa từ Con Trẻ ấy. Chớ gì cái rạng ngời nội tại ấy lan tỏa tới chúng ta và thắp lên trong lòng chúng ta ngọn lửa thiện hảo của Thiên Chúa; chớ gì tất cả chúng ta, với lòng mến yêu của mình, mang ánh sáng đến thế gian! Chớ gì chúng ta giữ lấy ngọn lửa tỏa sáng này cho khỏi bị lịm tắt bởi những luồng gió lạnh của thời đại chúng ta! Chớ gì chúng ta canh chừng nó cách trung thành và trao ban nó cho kẻ khác! Vào đêm hôm nay, khi chúng ta nhìn đến Bêlem, chúng ta hãy cầu nguyện đặc biệt cho nơi sinh hạ của Đấng Cứu Chuộc chúng ta cũng như cho các con người nam nữ sống và chịu khổ ở đó. Chúng con muốn cầu nguyện cho hòa bình ở Thánh Địa: Ôi Chúa, xin hãy nhìn đến cái góc của trái đất này là quê hương của Chúa, một nơi rất thân thương của Chúa! Chớ gì ánh sáng của Chúa chiếu tỏa trên  nó! Chớ gì nó tìm thấy được hòa bình!

 

Tiếng “hòa bình” mang chúng ta tới yếu tố thứ ba về phụng vụ của đêm thánh này. Con Trẻ được tiên tri Isaia báo trước được gọi là “Vị Hoàng Tử Bình An”. Vương Quốc của Người được nói là mợt vương quốc “an bình vô tận”. Các mục đồng trong Phúc Âm đã nghe thấy tin mừng là “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” và “bình an dưới thế…”. Có lúc chúng ta thường nói “cho người thiện tâm”. Ngày nay chúng ta nói “cho những người được Thiên Chúa thương yêu”. Việc đổi thay này có nghĩa là gì? Phải chăng thiện tâm không còn quan trọng nữa? Tốt hơn nếu chúng ta đặt vấn đề là ai là những người được Thiên Chúa yêu thương, và tại sao Thiên Chúa lại yêu thương họ? Phải chăng Thiên Chúa lại thiên vị? Phải chăng Ngài chỉ yêu thương một người nào đó thôi, trong khi bỏ rơi mặc xác những kẻ khác?

 

Phúc Âm trả lời những vấn đề này bằng việc nêu lên một số người đặc biệt được Thiên Chúa yêu thương. Đó là những con người, như Mẹ Maria, Thánh Giuse, Bà Isave, Ông Giacaria, Ông Simêon và Bà Anna. Thế nhưng, cũng có cả hai nhóm người khác nữa, đó là thành phần mục đồng và thành phần khôn ngoan Đông Phương là các “vị đạo sĩ”. Đêm nay, chúng ta hãy nhìn tới thành phần mục đồng. Họ là loại người như thế nào đây? Trong thế giới vào thời của họ thì những kẻ chăn chiên chăn bò là thành phần thấp hèn; họ được coi là không đáng tin cậy và không được làm chứng nhân tại tòa án. Thế nhưng họ thực sự là ai? Chắc chắn họ không phải là các vị đại thánh, nếu chúng ta có ý nói tới thành phần có nhân đức anh hùng. Họ là những linh hồn đơn sơ thành thực. Phúc Âm đã cho thấy một tính chất mà sau đó, qua những lời của Chúa Giêsu, mang một tầm vóc quan trọng: Họ là thành phần tỉnh thức canh chừng. Điều này thực sự là thế theo bề ngoài: Họ canh chừng đàn vật của họ về đêm. Thế nhưng nó cũng có một ý nghĩa sâu xa hơn nữa: Họ đã sẵn sàng đón nhận lời Chúa. Cuộc sống của họ không phải là cuộc sống khép kín chỉ biết có mình; con tim của họ cởi mở. Một cách nào đó, tận thâm cung của mình, họ đang đợi chờ Ngài.

 

Việc họ canh chừng là một thứ sẵn sàng – một thứ sẵn sàng lắng nghe và lên đường. Họ đợi chờ một thứ ánh sáng cho họ thấy đường đi nước bước. Đó là những gì quan trọng đối với Thiên Chúa. Ngài yêu thương hết mọi người, vì họ là tạo vật của Ngài. Thế nhưng, có một số người khép kín lòng mình lại; không cởi mở để tình yêu của Ngài có thể lọt vào. Họ nghĩ rằng họ không cần đến Thiên Chúa, hay họ muốn có Thiên Chúa. Những kẻ khác, thành phần mà, theo quan điểm luân lý, có lẽ ít bất hạnh và tội lỗi hơn, ít là cảm thấy ân hận một phần nào đó. Họ đang đợi chờ Thiên Chúa. Họ nhận thấy rằng họ cần đến sự thiện hảo của Ngài, cho dù họ không rõ nó có nghĩa là gì. Ánh sáng của Thiên Chúa có thể nhập vào lòng họ, và cùng với ánh sáng này là sự an bình của Ngài. Thiên Chúa tìm kiếm những con người có thể là những thông mạch và là những con người rao giảng cho sự an bình của Ngài. Chúng ta hãy nguyện cầu để Ngài thấy không thấy tấm lòng khép kín của chúng ta. Chúng ta hãy nỗ lực để trở thành những người loan báo cho sự an bình của Ngài – trên thế giới của ngày hôm nay đây.

 

Nơi thành phần Kitô hữu, tiếng “hòa bình” đã có một ý nghĩa rất đặc biệt: Nó trở thành một danh hiệu cho Thánh Thể. Ở đó có sự bình an của Chúa Kitô. Ở tất cả mọi chỗ cử hành Thánh Thể, đều có một đại cơ cấu bình an tràn lan khắp thế giới. Các cộng đồngqui tụ lại chun g quanh Thánh Thể làm thành một vương quốc an bình trải rộng ra như chính thế giới. Khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta thấy mình ở Bêlem, ở trong “nhà bánh”. Chúa Kitô hiến mình cho chúng ta, làm như thế là Người ban cho chúng ta bình an của Người. Người đã ban bình an cho chúng ta để chúng ta có thể mang ánh sáng an bình trong lòng mình mà cống hiến cho kẻ khác. Người đã ban nó cho chúng ta để chúng ta trở thành những người đi làm hòa bình và xây dựng hòa bình trên thế giới. Và vì thế chúng ta nguyện cầu rằng: Lạy Chúa, xin  Chúa hãy làm trọn lời hứa của Chúa! Ở đâu có xung khắc xin Chúa hãy làm phát sinh an bình! Ở đâu có hận thù, xin Chúa hãy làm nẩy sinh yêu thương! Ở đâu tối tăm bao phủ, xin Chúa hãy chiếu soi ánh sáng! Xin Chúa hãy làm cho chúng con trở thành những người loan báo hòa bình của Chúa. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/12/2005

 

 

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Chúa Nhật IV Mùa Vọng 18/12/2005 cho Giáo Xứ “Santa Maria Consolatrice” Giáo Phận Rôma

Anh Chị Em thân mến,

 

Tôi thật sự hết sức vui mừng được ở với anh chị em sáng hôm nay để cử hành Thánh Lễ với anh chị em và cho anh chị em. Thật vậy, việc tôi Viếng Thăm Santa Maria Consolatrice, giáo xứ Rôma đầu tiên tôi đến từ khi Chúa muốn kêu gọi tôi làm giám mục Rôma, đối với tôi là một cuộc hồi cư ở một ý nghĩa rất thực và cụ thể.

 

Tôi nhớ rất rõ là vào ngày 15/10/1977 là ngày tôi đã nhận danh hiệu ngôi thánh đường này. Cha Ennio appignanesi bấy giờ là Cha sở, và Cha Enrico Pomili và Cha Franco Camaldo là những vị đại diện giáo xứ. Vị chủ sự lễ nghi cho tôi là Đức Ông Piero Marini. Bởi vậy, giờ đây tất cả chúng ta lại được qui tụ lại với nhau! Điều này thật sự là một niềm vui lớn lao cho tôi.

 

Từ đó, mối tương quan của chúng ta dần dần phát triển mạnh mẽ hơn và sâu xa hơn. Nó là mối liên hệ trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng mà Hy Tế Thánh Thể của Người đã được tôi thường cử hành và Đấng mà các Bí Tích của Người thường được tôi ban phát tại thánh đường đây. Nó là một liên hệ của lòng cảm mến và của tình thân hữu thật sự đã sưởi ấm lòng tôi và đang sưởi ấm nó hôm nay đây. Nó là mối liên hệ thắt kết tôi lại với tất cả anh chị em, nhất là với vị linh mục coi xứ cùng với các vị linh mục phục vụ giáo xứ này. Nó là mối liên hệ không suy yếu đi khi tôi trở thành Hồng Y với danh hiệu của Giáo Phận Velletri-Segni; một mối liên hệ mang chiều kích mới và sâu xa hơn khi tôi giờ đây là Giám Mục Rôma và là Giám Mục của anh chị em.

 

Hơn thế nữa, tôi đặc biệt vui mừng vì cuộc viếng thăm của tôi hôm nay đây, như Cha Enrico đã nói, xẩy ra vào năm anh chị em đang mừng kỷ niệm 60 năm thành lập giáo xứ của anh chị em, 50 năm kỷ niệm thu phong linh mục của vị linh mục coi xứ thân yêu của chúng ta là Đức Ông Enrico Pomili, và sau hết là 25 năm được tấn phong giám mục của Đức Tổng Giám Mục Ennio Appignanesi. Bởi thế, đây là một năm chúng ta có những lý do đặc biệt để tri ân cảm tạ Chúa.

 

Giờ đây tôi thân ái chào Đức Ông Enrico và cám ơn ngài về những lời lẽ nống hậu ngỏ cùng tôi. Tôi chào Đức Hồng Y Camillo Ruini, Đại Diện Giáo Phận Rôma, Đức Hồng Y Ricardo María Carles Gordò, hiệu danh nhà thờ này nên là vị thừa kè của tôi mang Tước Hiệu ấy, Đức Hồng Y Giovanni Canestri, nguyên  linh mục coi xứ rất yêu dấu của anh chị em, Đức Tổng Giám Mục Luigi Moretti, Giám Mục Khu Đồng Phương ở Rôma; chúng ta đã chào Đức Tổng Giám Mục Ennio Appignanesi, vị linh mục coi xứ trước đây của anh chị em, và Giám Mục Massimo Giustetti, nguyên đại diện giáo xứ của anh chị em.

 

Tôi gửi lời chào thân ái tới các vị đương kim đại diện giáo xứ của anh chị em cũng như tới thành phần nữ tu của giáo xứ Santa Maria Consolatrice. Họ đã từng ở Casalbertone từ năm 1932 như những cộng tác viên qúi báu của giáo xứ và như những sứ giả thực sự của tình thương và nguồn ủi an nơi vùng lân cận này, nhất là cho người nghèo và cho trẻ em. Cũng với những cảm mến ấy tôi chào mỗi người trong anh chị em, chào tất cả mọi gia đình trong giáo xứ và tất cả những ai hoạt động phục vụ trong giáo xứ này theo các khả năng khác nhau của mình.

 

Giờ đây chúng ta hãy suy niệm một cách ngắn gọn bài Phúc Âm tuyệt vời nhất của Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Vọng, bài Phúc Âm đối với tôi là một trong những đoạn Thánh Kinh thú vị nhất. Vậy để khỏi quá dài dòng, tôi chỉ muốn chia sẻ về 3 lời của bài Phúc Âm sâu xa này.

 

Chữ đầu tiên tôi muốn suy niệm với anh chị em đó là lời Thiên Thần chào Mẹ Maria. Theo bản Ý ngữ thì Thiên Thần nói là “Kính Chào Maria”. Thế nhưng tiếng Hy Lạp “Kaire” tự nó có nghĩa là “hãy mừng vui” hay “hãy hân hoan”.

 

Và đây là điều lạ lùng thứ nhất, đó là lời chào này nơi người Do Thái là “Shalom”, là “bình an”, trong khi lời chào ở thế giới Hy Lạp là “Kaire”, “hãy hân hoan”. Thật là lạ lùng khi Thiên Thần tiến vào nhà của Mẹ Maria lại chào Mẹ bằng lời chào kiểu người Hy lạp: “Kaire”, “hãy vui mừng, hãy hân hoan”. Và 40 năm sau đó, những người Hy lạp đọc Phúc Âm này mới thấy được một sứ điệp quan trọng nơi ấy, ở chỗ, họ nhận thấy rằng việc mở màn cho Tân Ước, một việc mở màn có liên hệ với đoạn Phúc Âm của Thánh Luca này, đã có tính cách cởi mở với thế giới các dân tộc và có tính cách đại đồng của Dân Chúa, là tính cách vào thời ấy chẳng những bao gồm dân Do Thái mà còn tất cả thế giới nữa, tất cả mọi dân tộc nữa. Tính cách đại đồng mới mẻ nơi Vương Quốc của thành phần con cái thực sự của Vua Đavít hiện lên nơi lời chào Hy Lạp này của Thiên Thần.

 

Tuy nhiên, cũng thích đáng để nói thẳng là những lời của Thiên Thần đã tiếp tục lời hứa hẹn được tiên báo trong Sách Tiên Tri Zephaniah. Chúng ta thấy được lời chào giống nhau hầu như từng chữ. Được Thiên Chúa linh ứng, Tiên Tri Zephaniah nói cùng dân Yến Duyên rằng: “Hãy hân hoan hô lên, Ôi nữ tử Sion!... Chúa đang ở giữa các người”. Chúng ta biết rằng Mẹ maria rất quen thuộc với Sách Thánh. Ca vịnh Magnificat của Mẹ là những gì thấm nhuần Cựu Ước. Bởi thế chúng ta tin rằng Đức Trinh Nữ này đã hiểu ngay đó là những lời Tiên Tri Zephaniah ngỏ cùng dân Yến Duyên, ngỏ cùng “Nữ tử Sion”, một Sion được coi như nơi cư ngụ của Thiên Chúa. Giờ đây vấn đề lạ lùng này, vấn đề đã làm cho Mẹ Maria phải suy nghĩ, đó là những lời ấy, những lời được ngỏ cùng toàn dân Yến Duyên, lại đặc biệt ngỏ riêng cùng Mẹ Maria. Như thế, rõ ràng là đối với Mẹ thì chính Mẹ là “Nữ tử Sion” được vị Tiên Tri này nói tới, và bởi thế, Chúa đã có ý định đặc biệt về Mẹ, đó là Mẹ được kêu gọi để trở thành nơi cư trú thực sự của Thiên Chúa, một nơi cư trú không được xây bằng đá mà bằng xác thịt sống động, bằng một con tim sống động, vì Thiên Chúa thực sự có ý định chọn Mẹ, một Trinh Nữ, làm đền thờ thực sự riêng của Ngài. Tuyệt vời thay ý định này! Đó là lý do chúng ta có thể hiểu được rằng Mẹ Maria bắt đầu hết sức suy nghĩ về ý nghĩa của lời chào này.

 

Tuy nhiên, giờ đây chúng ta hãy suy niệm đặc biệt về chữ thứ nhất: “Hãy vui lên, hãy vui mừng”. Đây là lời đầu tiên được vang lên như thế ở Tân Ước, vì lời loan báo của Thiên Thần cho ông Zacaria về việc hạ sinh của Gioan Tẩy Giả vẫn còn là lời vang lên ở ngưỡng cửa giữa hai Giao Ước này. Chỉ khi xẩy ra cuộc trao đổi giữa Thiên Thần Ga-Biên với Mẹ Maria Tân Ước mới thực sự mở màn. Bởi thế, chúng ta có thể nói rằng lời đầu tiên của Tân Ước là lời mời gọi hân hoan: “Hãy hoan lạc, hãy mừng vui!”. Tân Ước thực sự là “Phúc Âm”, là “Tin Mừng” mang đến cho chúng ta niềm vui. Thiên Chúa không xa cách chúng ta, không phải là những gì vô thức, bí ẩn hay có thể hiểm nguy. Thiên Chúa gần với chúng ta, gần tới độ Ngài đã trở thành một con trẻ và chúng ta gián tiếp thân thưa cùng vị Thiên Chúa này.

 

Chính thế giới Hy Lạp là thế giới trước hết đã nắm bắt được cái mới mẻ này, đã cảm thấy được niềm vui này cách sâu xa, vì đối với người Hy Lạp, họ vẫn không rõ là có một vị Thiên Chúa tốt lành, một vị Thiên Chúa dữ tợn hay hoàn toàn chẳng có Thiên Chúa nào hết. Tôn giáo vào lúc ấy đã nói cho họ biết rất nhiều thứ thần linh, bởi thế họ cảm thấy họ bị bủa vây bởi rất nhiều thứ thần linh khác nhau phản chống nhau, làm cho họ sợ rằng nếu họ làm cho một trong những vị thần linh này thì vị thần linh khác bị xúc phạm và tìm cách trả đũa.

 

Bởi thế bấy giờ họ sống trong một thế giới sợ hãi, bị bủa vây bởi những thứ quỉ ma ghê rợn, không thể nào biết cách cứu mình khỏi những quyền lực ấy khỏi phản khắc nhau. Đó là một thế giới sợ hãi, một thế giới tối tăm. Thế rồi họ nghe thấy rằng: “Hãy hân hoan, những thứ ma qủi này chẳng là gì cả; Vị Thiên Chúa thực sự là Đấng hiện hữu và vị Thiên Chúa chân thực này là vị Thiên Chúa tốt lành, Ngài yêu thương chúng ta, Ngài biết chúng ta, Ngài ở với chúng ta, ở với chúng ta cho đến độ Ngài mặc lấy xác thịt!”.

 

Đó là niềm vui lớn lao được Kitô Giáo loan báo. Việc nhận biết vị Thiên Chúa này thực sự là “Tin Mừng”, một từ ngữ của việc cứu chuộc.

 

Có lẽ người Công Giáo chúng ta là thành phần luôn biết đến điều ấy nên không còn cảm thấy lạ lùng bỡ ngỡ hay không còn cảm thấy niềm vui giải thoát này một cách thấm thía. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào thế giới ngày nay là nơi Thiên Chúa đang vắng bóng, chúng ta không thể nào không nhận thấy rằng thế giới này cũng bị các nỗi hãi sợ và bất định chi phối làm chủ: trở thành một con người có phải là điều tốt hay chăng? Sống còn có phải là điều tốt hay chăng? Hiện hữu có thực sự là một điều tốt hay chăng? Hay tất cả mọi sự đều là những gì tiêu cực? Và họ thực sự sống trong một thế giới tốt tăm, họ cần được gây mê để có thể sống. Bởi thế, những lời “Hãy hân hoan, vì Thiên Chúa đang ở với anh chị em, Ngài đang ở với chúng ta”, là những lời thực sự mở ra một kỷ nguyên mới. Quí bạn thân mến, bằng tác động đức tin, một lần nữa chúng ta cần phải chấp nhận và ý thức sâu xa trong tâm hồn mình lời giải thoát này: “Hãy Hân Hoan!”

 

Chúng ta không thể chỉ giữ cho mình niềm vui chúng ta đã lãnh nhận được ấy; niềm vui bao giờ cũng cần phải được chia sẻ. Niềm vui cần phải được thông đạt. Mẹ Maria đã không chần chờ lên đường để thông đạt niềm vui của mình cho bài chị họ Isave của Mẹ. Và kể từ khi Mẹ Mông Triệu về Trời Mẹ đã tuôn đổ niềm vui xuống trên toàn thế giới, Mẹ đã trở thành một Vị Đại An Ủi, ở chỗ, Người Mẹ của chúng ta là vị thông đạt niềm vui, niềm tin tưởng và nhân ái, và cũng mời gọi chúng ta hãy truyền bá niềm vui. Đây là việc dấn thân thực sự của Mùa Vọng, đó là mang niềm vui đến cho người khác. Niềm vui thực sự là quà tặng của Giáng Sinh, không phải là những món quà đắt đỏ đòi phải có thời gian và tiền bạc.

 

Chúng ta có thể truyền đạt niềm vui này một cách dễ dàng: bằng một nụ cười, bằng một cử chỉ tử tế, bằng một việc giúp đỡ nho nhoi nào đó, bằng việc thứ tha. Chúng ta hãy cống hiến niềm vui này và niềm vui được trao ban ấy sẽ trở về với chúng ta. Chúng ta hãy đặc biệt tìm cách trong đạt niềm vui sâu xa nhất này, niềm vui nhận biết Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Chúng ta hãy cầu xin để sự hiện diện niềm vui giải phóng của Thiên Chúa này chiếu sáng nơi đời sống của chúng ta.

 

Chữ thứ hai tôi muốn suy niệm là một lời khác của Thiên Thần nói: “Hỡi Maria, đừng sợ”. Thật vậy, Mẹ có lý để mà sợ, vì đó là một gánh rất nặng phải mang vác thế giới trên mình, là làm Mẹ của Vị Vua hoàn cầu, là làm Mẹ của Con Thiên Chúa: thật là một gánh nặng biết bao! Đó là một gánh quá nặng đối với sức chịu đựng của loài người! Thế nhưng Thiên Thần nói: “Đừng sợ! Phải, cô là người gánh vác Thiên Chúa song Thiên Chúa lại là Đấng gánh vác cô. Chớ có lo âu sợ hãi!”.

 

Những lời “Đừng sợ” phải là những lời sâu xa thấu nhập vào lòng Mẹ Maria. Chúng ta có thể mường tượng thấy Mẹ đã phải nghe lại những lời ấy ra sao nơi các trường hợp khác nhau bắt Mẹ phải suy nghĩ về những lời này.

 

Vào lúc ông Simêon nói cùng Mẹ rằng: “Con trẻ này là mục tiêu cho nhiều người trong dân Yến Duyên sa ngã và chỗi dậy, là một dấu hiệu chống đối – và chính cô sẽ bị một lưỡi gưỡm đâm thâu”, là chính lúc Mẹ không thể nào không sợ hãi này, Mẹ Maria đã nhớ lại những lời của Thiên Thần và cảm thấy những lời ấy âm vang trong lòng Mẹ: “Đừng sợ, Thiên Chúa là Đấng gánh vác cô”. Thế rồi, khi xẩy ra những phản khắc chống lại Chúa Giêsu trong cuộc đời công khai của Người và khi nhiều người nói “Hắn là một thằng khùng”, thì một lần nữa lòng Mẹ lại nghĩ tới những lời của Thiên Thần “Đừng sợ” để tiến bước. Sau hết, trong cuộc gặp gỡ trên đường lên đồi Canvê và sau đó ở dưới chân cậy Thập Giá, khi mà tất cả dường như bị hủy hoại, thì một lần nữa Mẹ lại nghe thấy những lời của Thiên Thần vang lên trong lòng Mẹ “Đừng sợ”. Bởi thế Mẹ đã can đảm đứng bên Người Con đang hấp hối của mình, và được đức tin nâng đỡ, Mẹ đã hướng tới Phục Sinh, tới Hiện Xuống, tới việc thành lập tân gia Giáo Hội.

 

“Đừng sợ”: Mẹ Maria cũng nói những lời này cùng chúng ta. Tôi đã vạch ra rằng thế giới của chúng ta đây là một thế giới sợ hãi: một mối sợ hãi khốn khổ và bần cùng, một nỗi sợ hãi bệnh hoạn và khổ đau, một nỗi sợ hãi lẻ loi cô độc, một nỗi sợ hãi chết chóc. Chúng ta một hệ thống bảo hiệm phát triển rộng rãi trên thế giới này; thật là tốt đẹp khi có được một hệ thống như vậy. Thế nhưng, chúng ta biết rằng ở vào lúc thấm thía khổ đau, vào lúc hết sức lẻ loi của chết chóc, thì không có một thứ bảo hiểm nào có thể bảo vệ chúng ta được cả. Thứ bảo hiểm chắc ăn duy nhất vào những lúc bấy giờ đó là loại bảo hiểm xuất phát từ Chúa, Đấng cũng bảo đảm với chúng ta rằng: “Đừng sợ, Ta hằng ở với con”. Chúng ta có thể sa ngã, nhưng cuối cùng chúng ta ngã vào tay của Thiên Chúa, và bàn tay của Thiên Chúa là đôi bàn tay nhân ái.

 

Chữ thứ ba: ở vào cuối cuộc hội thoại, Mẹ Maria đã thưa cùng Thiên Thần: “Này tôi là tôi tớ Chúa. Tôi xin vâng như lời ngài truyền”. Như thế là Mẹ Maria đã hướng về lời nguyện cầu thứ ba của “Kinh Lạy Cha”: “Ý Cha thể hiện”. Mẹ đã thưa “vâng” với ý muốn cao cả của Thiên Chúa, một ý muốn rõ ràng là quá vĩ đại đối với một con người; Mẹ Maria thưa “vâng” cho ý muốn thần linh này, Mẹ đặt mình trong ý muốn ấy, trao phó tất cả cuộc đời Mẹ bằng tiếng “vâng” quảng đại cho ý muốn của Thiên Chúa, nhờ đó đã mở cửa thế giới ra cho Thiên Chúa.

 

Adong và Evà, bằng thái độ “không” đối với ý muốn của Thiên Chúa, đã đóng cửa ấy lại. “Xin cho ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện”: Mẹ Maria cũng kêu gọi chúng ta nữa hãy thưa tiếng “xin vâng” đôi khi có vẻ rất khó ấy. Chúng ta có khuynh hướng yêu thích ý muốn riêng của mình, thế nhưng Mẹ nói với chúng ta rằng: “Hãy can đảm, cả con nữa hãy thưa: ‘Xin ý Chúa được nên trọn’, vì ý muốn này là ý muốn thiện hảo”. Mới đầu ý muốn ấy dường như là một gánh nặng bất khả chịu đựng, một cái ách bất khả gánh vác; thế nhưng, trên thực tế, ý muốn của Thiên Chúa không phải là một gánh nặng, ý muốn của Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta đôi cánh để bay cao, nhờ đó chúng ta cũng có thể cùng với Mẹ Maria dám mở cửa đời chúng ta cho Thiên Chúa, mở ra những cánh cửa của thế giới này, bằng lời “xin vâng” cho ý muốn của Ngài, với ý thức là ý muốn ấy là một sự thiện thực sự và là ý muốn dẫn chúng ta tới hạnh phúc đích thực. Chúng ta hãy nguyện cầu cùng Mẹ Maria, Đấng Ủi An Kẻ Sầu Đau, Người Mẹ của chúng ta, Mẹ của Giáo Hội, giúp chúng ta can đảm để thưa lời “xin vâng” này và cũng chia sẻ cho chúng ta niềm vui được ở cùng Thiên Chúa cũng như dẫn chúng ta tới với Con Mẹ là sự sống đích thực. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2005/index_en.htm

 

 TOP

 

Bài Giảng Kỷ Niệm 40 Năm Bế Mạc Công Đồng Chung Vaticanô II Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tại Đền Thờ Thánh Phêrô 8/12/2005

 

Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục thân mến,

Anh Chị Em thân mến,

 

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã long trọng bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II ở quảng trường trước Đền Thờ Thánh Phêrô 40 năm trước đây, ngày 8/12/1965. Công Đồng này đã được khai mạc, theo ý của Đức Gioan XXIII, vào ngày 11/10/1962 là ngày Lễ Mẹ Thiên Chúa bấy giờ, và kết thúc vào ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm.

 

Một Công Đồng với Khủng Cảnh Thánh Mẫu và Chiều Hướng Thánh Mẫu

 

Công Đồng này đã diễn ra trong khung cảnh Thánh Mẫu. Thật sự còn hơn là một khung cảnh nữa: Nó chính là đường hướng cho tất cả tiến trình của Công Đồng. Nó hướng chúng ta, như nó đã hướng các Vị Nghị Phụ Công Đồng bấy giờ về hình ảnh của Vị Trinh Nữ lắng nghe và sống Lời Chúa, vị trinh nữ ấp ủ trong lòng mình những lời được Thiên Chúa ngỏ cùng Mẹ, và tìm hiểu những lời ấy (x Lk 2:19,51) bằng cách ghép những lời của Ngài lại thành nên như một bức tranh vi thạch.

 

Nó hướng chúng ta về một Vị Đại Tín Hữu, một con người đầy đức tin, đặt mình trong tay Thiên Chúa, phó mình cho ý muốn của Ngài; nó hướng chúng ta về Người Mẹ khiêm hạ, vị đã dự phần vào sứ vụ của Người Con đòi hỏi, đồng thời nó cũng hướng chúng ta về người nữ can trường đứng dưới chân Thập Giá trong lúc các môn đệ đã tẩu thoát.

 

Trong bài diễn từ của mình vào dịp ban hành hiến chế tín lý về Giáo Hội, Đức Phaolô VI đã diễn tả Mẹ Maria như “tutrix huius Concilii” – “Nữ Bổn Mạng của Công Đồng này” (cf. "Oecumenicum Concilium Vaticanum II, Constitutiones Decreta Declarationes," Vatican City, 1966, p. 983), và, bằng một hiển nhiên  ám chỉ đến trình thuật của Thánh Luca về ngày Lễ Ngũ Tuần (x Acts 1:12-14), đã nói rằng các vị Nghị Phụ qui tụ lại ở Sảnh Đường Công Đồng “cum Maria, Matre Iesu – cùng với Maria, Mẹ của Chúa Giêsu” và cũng nhân danh mẹ mà rời Công Đồng (p. 985).

 

Tôi không thể nào quên được lúc mà khi nghe thấy những lời của ngài: "Mariam Sanctissimam declaramus Matrem Ecclesiae" – “Chúng tôi tuyên bố Maria là Mẹ Rất Thánh của Giáo Hội”, thì các Vị Nghị Phụ liền tự động đứng lên để tỏ lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta, Mẹ của Giáo Hội, một cử chỉ đứng lên vỗ tay hoan nghênh.

 

Thật vậy, bằng tước hiệu này, vị Giáo Hoàng ấy đã tóm tắt giáo huấn Thánh Mẫu của Công Đồng và đã cung cấp cái mấu chốt để có thể hiểu được công đồng. Mẹ Maria chẳng những có liên hệ đặc thù với Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng, là người, đã muốn trở nên Con của Mẹ. Vì Mẹ hoàn toàn được liên kết với Chúa Kitô mà Mẹ cũng hoàn toàn thuộc về chúng ta. Phải, chúng ta có thể nói rằng Mẹ Maria gần gũi với chúng ta hơn bất cứ một con người nào khác, vì Chúa Kitô đã trở nên con người cho tất cả mọi con người nam nữ, và toàn hữu thể của Người là “hữu thể cho chúng ta trên đời này”.

 

Các Vị Giáo Phụ đã nói rằng Chúa Kitô là Đầu bất khả phân ly với Thân Thể của Người là Giáo Hội, có thể nói cùng với Giáo Hội làm thành một chủ thể sống động duy nhất. Mẹ của Đầu cũng là Mẹ của toàn Giáo Hội; có thể nói bản thân Mẹ hoàn toàn trống rỗng; Mẹ đã trọn vẹn hiến mình cho Chúa Kitô và cùng với Người hiến mình như một tặng vật cho tất cả mọi người chúng ta. Thật vậy, con người càng hiến mình thì càng là mình.

 

Công Đồng này đã có ý nói với chúng ta là: Mẹ Maria được đan kết với đại mầu nhiệm Hội Thánh, đến nỗi Mẹ và Giáo Hội bất khả phân ly, như Mẹ và Chúa Kitô bất khả phân ly vậy. Mẹ Maria phản ảnh Giáo Hội, báo trước Giáo Hội nơi bản thân Mẹ, và trong tất cả mọi cuộc biến loạn ảnh hưởng tới một Giáo Hội chiến đấu khổ đau thì Mẹ bao giờ cũng vẫn là Ngôi Sao cứu độ. Nơi Mẹ chất chứa một tâm điểm đích thực cho chúng ta tin tưởng, dù những thứ ngoại vi của cái tâm điểm này rất thường là những gì gây tác dụng trên linh hồn của chúng ta.

 

Trong bối cảnh của việc ban bố hiến chế về Giáo Hội, Đức Phaolô VI đã làm sáng tỏ tất cả những điều ấy bằng một tước hiệu mới đã được sâu xa bắt nguồn từ Truyền Thống, với mục đích thực sự là để chiếu soi cái cấu trúc nội tại nơi giáo huấn của Giáo Hội là những gì đã được Công Đồng khai triển. Công Đồng Chung Vaticanô II đã công bố về các thánh phần thuộc cơ cấu của Giáo Hội: về các vị giám mục và về Giáo Hoàng, về các linh mục, giáo dân và tu sĩ, về mối hiệp thông của họ cũng như về những liên hệ của họ; Công Đồng đã phải diễn tả Giáo Hội đang lữ hành này, “khi ôm ấp trong lòng mình các tội nhân, đồng thời lại thánh hảo và luôn cần được thanh tẩy…” ("Lumen Gentium," No. 8).

 

Tuy nhiên, chiều kích “Phêrô” của Giáo Hội lại được bao gồm trong chiều kích “Thánh Mẫu” ấy. Nơi Mẹ Maria, Vị Vô Nhiễm Tội, chúng ta thấy được yếu tính của một Giáo Hội không bị méo mó lệch lạc. Chính chúng ta phải học nơi Mẹ để trở nên “hồn sống của giáo hội”, như các Vị Giáo Phụ đã nói, nhờ đó, cả chúng ta nữa cũng có thể, theo lời Thánh Phaolô, tỏ mình “một cách tinh tuyền” trước nhan Chúa, như Chúa muốn chúng ta như thế ngay từ thuở ban đầu (x Col 1:21; Eph 1:4).

 

Một Chiều Kích Thánh Mẫu với Hai Hình Ảnh Tương Phản

 

Thế nhưng, giờ đây chúng ta cần phải tự hỏi mình rằng: “Maria, Vị Vô Nhiễm Tội” đây nghĩa là gì? Phải chăng tước hiệu này có một cái gì đó muốn nói cho chúng ta? Hôm nay, phụng vụ chiếu tỏ nội dung của những lời này cho chúng ta nơi hai hình ảnh lớn lao.

 

Trước hết là trình thuật tuyệt vời về biến cố truyền tin cho Mẹ Maria là Vị Trinh Nữ Nazarét biết đến việc Đấng Thiên sai tới. Lời chào của Vị Thiên Thần được đan kết với những chi tiết của Cựu Ước, nhất là của Tiên Tri Zephaniah. Tiên tri này cho thấy rằng Mẹ Maria, người thôn nữ tầm thường xuất thân từ một giòng dõi tư tế và mang nơi mình gia sản tư tế cao cả của dân Yến Duyên, là “truyền nhân thánh hảo” của dân Yến Duyên, thành phần được các tiên tri nói tới trong tất cả mọi giai đoạn thử thách và tăm tối.

 

Nơi Mẹ hiện diện một Sion đích thực là chốn cư ngụ tinh tuyền, sống động của Thiên Chúa. Chúa cư ngụ nơi Mẹ, Ngài tìm thấy nơi Mẹ chốn nghỉ ngơi của Ngài. Mẹ là gia cư sống động của Thiên Chúa, Đấng không cư trú ở các dinh thự bằng đá nhưng ở trong lòng trí của con người sống động. Mẹ là chồi nẩy lên gốc Đavít trong một đêm đông tăm tối của lịch sử. Những lời của Thánh Vịnh đã được nên trọn nơi Mẹ: “Mặt đất đã sản sinh ra hoa trái của nó” (Ps 67:7). 

 

Mẹ là cái chồi từ đó mọc lên cây cứu chuộc và thành phần được cứu chuộc. Thiên Chúa đã không thất bại, như thể trước đây đã xẩy ra vào lúc mở màn lịch sử với Adong và Evà, hay như trong giai đoạn lưu đầy ở Babylon, và như được tái diễn vào thời của Mẹ Maria, lúc mà dân yean Duyên đã trở thành một dân chẳng có giá gì ở trong một vùng bị chiếm cứ, với rất ít dấu hiệu cho thấy thánh đức của dân này.

 

Thiên Chúa đã không thất bại. Trong cảnh hèn mạt của ngôi nhà ở Nazarét có một con người Yến Duyên thánh hảo, một truyền nhân tinh tuyền. Thiên Chúa đã cứu độ và đang cứu độ dân của Ngài. Từ một thân cây đổ xuống, lịch sử của Yến Duyên đã lại chiếu ngời, trở thành một quyền lực sống động hướng dẫn và thấm nhập thế giới. Mẹ Maria là nhân vật Yến Duyên thánh hảo: Mẹ thưa “vâng” cùng Chúa, Mẹ hoàn toàn phó mình cho Ngài sử dụng, nhờ đó trở thành đền thờ sống động của Thiên Chúa.

 

Hình ảnh thứ hai là hình ảnh khó hiểu hơn nhiều và mập mờ hơn nhiều. Hình ảnh ẩn dụ này của Sách Khởi Nguyên nói với chúng ta từ một khoảng cách lịch sử rất xa xôi và chỉ có thể hiểu được một cách khó khăn; chỉ có thể hiểu được sâu xa hơn những gì nó muốn nói tới qua giòng lịch sử mà thôi.

 

Điều được báo trước là sẽ xẩy ra một cuộc tranh đấu giữa nhân loại và con rắn, tức là giữa con người và các lực lượng sự dữ, sẽ tiếp tục xẩy ra suốt giòng lịch sử. Tuy nhiên, điều cũng được báo trước là “miêu duệ” của một người nữ có ngày sẽ chiến thắng và sẽ đạp chết đầu con rắn; điều được báo trước rằng miêu duệ này của người nữ ấy – và nơi miêu duệ này người nữ cũng chính là người mẹ ấy – sẽ chiến thắng và như thế, qua con người, Thiên Chúa sẽ vinh thắng.

 

Nếu chúng ta cùng với Giáo Hội tin tưởng nguyện cầu lắng nghe bài Sách Thánh này chúng ta mới có thể bắt đầu hiểu được thế nào là nguyên tội, là nhiễm tội, và thế nào là việc bảo vệ cho khỏi cái nhiễm tội ấy và thế nào là ơn cứu chuộc. 

 

Đoạn Sách Thánh này cho chúng ta thấy hình ảnh ra sao? Con người không tin tưởng Thiên Chúa. Bị con rắn cám dỗ, họ tỏ ra nghi ngờ rằng cuối cùng Thiên Chúa sẽ lấy đi một cái gì đó khỏi cuộc sống của họ, rằng Thiên Chúa là một tay đối thủ cướp mất tự do của chúng ta, và chúng ta sẽ thành một con người trọn vẹn chỉ khi nào chúng ta loại trừ Ngài đi; tóm lại, chỉ có thế chúng ta mới hoàn toàn chiếm đạt quyền tự do của mình mà thôi.

 

Con người sống trong sự nghi ngờ là tình yêu Thiên Chúa tạo nên một thứ lệ thuộc và họ cần phải dứt mình ra khỏi sự lệ thuộc ấy nếu họ muốn hoàn toàn là mình. Con người không muốn lãnh nhận từ Thiên Chúa việc hiện hữu của họ và tầm vóc viên trọncủa đời sống họ.

 

Chính họ muốn từ cây biết lành biết dữ chiếm được quyền năng hình thành thế giới này, biến mình thành chúa tể, nâng mình lên tầm cấp Thiên Chúa, và chế ngự sự chết và tối tăm bằng nỗ lực riêng của mình. Họ không muốn cậy dựa vào tình yêu là những gì đối với họ không đáng tin cậy, họ chỉ tin  tưởng hoàn toàn vào kiến thức riêng của họ, vì nó ban cho họ quyền lực. Thay vì tin tưởng vào tình yêu thì họ lại tin tưởng vào quyền lực là những gì họ muốn sử dụng để tự động nắm trong tay sự sống của họ. Làm như thế là họ tin tưởng vào sự dối trá hơn là vào chân lý, do đó họ nhận chìm sự sống của họ vào cái trống rỗng, vào sự chết chóc. 

 

Tình yêu không phải là một thứ lụy thuộc mà là một tặng ân làm cho chúng ta sống. Tự do của con người là thứ tự do của một hữu thể hữu hạn, bởi thế tự bản chất nó cũng hữu hạn. Chúng ta có thể chiếm hữu được nó chỉ như là một thứ tự do chia sẻ mà thôi, một thứ tự do hiệp thông mà thôi: Chỉ khi nào chúng ta sống một cách đúng đắn, với nhau và cho nhau, thì tự do mới có thể phát triển mà thôi.

 

Chúng ta sống một cách đúng đắn nếu chúng ta sống theo sự thật của hữu thể chúng ta, tức là sống hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Vì ý muốn của Thiên Chúa đối với con người không phải là một thứ luật lệ bị áp đặt từ bên ngoài và là những gì kềm kẹp họ, mà là cái chuẩn mức nội tại thuộc bản tính của họ, một chuẩn mức đã được in ấn trong họ và làm cho họ trở thành hình ảnh Thiên Chúa, nhờ đó, thành một tạo vật tự do.

 

Nếu chúng ta sống ngược với tình yêu và nghịch lại sự thật này – phản lại Thiên Chúa – thì chúng ta hủy hoại lẫn nhau và hủy hoại thế giới. Để rồi chúng ta không tìm thấy sự sống mà là tác hành theo những xu hướng của chết chóc. Tất cả những điều này là những gì lập lại các hình ảnh mãi tồn tại nơi lịch sử sa ngã từ ban đầu của con người cũng như nơi việc con người bị loại trừ khỏi vườn Địa Đường trần gian.

 

Giọt Độc Dược Nguyên Tội

 

Anh chị em thân mến, nếu chúng ta thành tâm suy nghĩ về mình và về lịch sử của chúng ta, chúng ta phải nói rằng trình thuật này đã cho thấy chẳng những lịch sử thời nguyên thủy mà còn lịch sử của mọi thời đại nữa, và tất cả chúng ta mang trong bản thân mình một giọt độc dược của cách thức suy tư được thấy rõ nơi các hình ảnh của Sách Khởi Nguyên này.

 

Chúng ta gọi giọt độc dược này là “nguyên tội”. Chính trong ngày lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội này mà chúng ta thấy được mối ngầm ngờ vực là một con người không phạm tội thực sự phải nói rằng họ là một con người buồn tẻ, và đời sống của họ thiếu vắng một cái gì đó: đó là chiều kích bi thảm của việc sống tự động, đó là quyền tự do chối từ, quyền tự do đi sâu vào những vùng tăm tối của tội lỗi và tự do làm những gì mình muốn; đó là chỉ tới bấy giờ chúng ta mới có thể thực hiện tối đa tất cả những gì là to tát và sâu xa của hữu thể nam nữ chúng ta, của việc thực sự là mình; đó là chúng ta cần phải thử cái tự do của mình, cho dù có phản nghịch lại Thiên Chúa, để thực sự hoàn toàn trở thành chính bản thân mình.

 

Tóm lại, chúng ta nghĩ rằng sự dữ căn bản là tốt, chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần đến nó, ít là một chút, để cảm nghiệm được cái trọn vẹn của hữu thể. Chúng ta nghĩ rằng Mephistopheles – tên cám dỗ – đúng khi hắn nói rằng hắn là một quyền lực “luôn muốn sự dữ và luôn làm sự lành” (J.W. von Goethe, “Fault” I,3). Chúng ta nghĩ rằng một chút mặc cả với sự dữ, khi giữ cho mình một chút tự do phạm đến Thiên Chúa, căn bản là một điều tốt, thậm chí là một điều cần thiết.

 

Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào thế giới bao quanh chúng ta, chúng ta có thể thấy rằng nó lại không phải là như thế; nói cách khác, sự dữ bao giờ cũng độc hại, không thăng hóa con người mà hạ giá và đầy đọa họ. Nó không làm cho họ cao cả hơn tí nào, tinh tuyền hơn hay sang giầu hơn, mà là tác hại họ và thu hẹp họ lại.

 

Đó là những gì chúng ta thực sự cần phải học hỏi trong ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm: Con Người hoàn toàn phó mình vào bàn tay Thiên Chúa không trở thành người nộm của Thiên Chúa, một “con người xin vâng” tẻ nhạt; họ không mất quyền tự do của mình. Chỉ có con người tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa mới được tự do thực sự, một thứ tự do hành thiện cao cả đầy sáng tạo.

 

Con người hướng về Thiên Chúa không trở thành nhỏ bé hơn mà là cao cả hơn, vì nhờ Thiên Chúa và với Thiên Chúa, họ trở nên cao cả, họ trở thành thần linh, họ thực sự trở thành chính mình. Con người đặt mình trong bàn tay Thiên Chúa không tách mình khỏi người khác, khi thu mình vào việc cứu độ tư riêng; trái lại, chỉ tới lúc ấy lòng họ mới thực sự bừng tỉnh và họ trở thành một con người nhậy cảm nhờ đó nhân hậu và cởi mở.

 

Một người càng gần Thiên Chúa họ càng gần với con người. Chúng ta thấy điều này nơi Mẹ Maria. Sự kiện Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa là lý do tại sao Mẹ rất gần gũi với con người. Vì thế mà Mẹ có thể là Mẹ của mọi niềm ủi an và mọi sự trợ giúp, một Người Mẹ mà bất cứ ai cũng có thể nói đến bất cứ loại nhu cầu nào về yếu đuối và tội lỗi, vì Mẹ hiểu biết mọi sự và, đối với mọi người, Mẹ là thứ quyền năng cởi mở của sự thiện hảo sáng tạo.

 

Nơi Mẹ, Thiên Chúa đã in ấn hình ảnh của Ngài, hình ảnh của Đấng theo con chiên lạc của mình cho tới tận các đồi núi và giữa các bụi gai tội lỗi trên thế giới này, để mình bị xâu xé bởi mạo gai những tội lỗi ấy hầu vác chiên trên vai mang về nhà.

 

Là một người mẹ xót thương, Mẹ Maria là hình ảnh tiền thân và là bức chân dung vĩnh viễn của Người Con. Như thế, chúng ta thấy rằng hình ảnh của Người Trinh Nữ Sầu Thương, của Người Mẹ, vị chia sẻ khổ đau của mình và tình yêu của mình, cũng là hình ảnh thực sự của Mẹ Vô Nhiễm. Trái tim của Mẹ đã được nới rộng bằng việc Mẹ cùng với Thiên Chúa hiện hữu và cảm nhận. Nơi Nẹ, sự thiện hảo của Thiên Chúa trở nên rất gần gũi với chúng ta.

 

Vậy Mẹ Maria đứng trước chúng ta như một dấu hiệu của niềm ủi an, phấn chấn và hy vọng. Mẹ hướng về chúng ta mà nói: “Hãy can đảm thách thức Thiên Chúa! Hãy thử làm như thế! Đừng sợ Ngài! Hãy can đảm liều mình sống đức tin! Hãy can đảm liều mình sống thiện hảo!  Hãy can đảm liều mình sống bằng một con tim tinh tuyền! Hãy dấn thân cho Thiên Chúa thì các con sẽ thấy rằng chính nhờ làm thế mà cuộc sống của các con mới trở nên nẩy nở và nhẹ nhàng, không tẻ nhạt mà tràn đầy vô vàn những hào hứng phấn khởi, vì sự thiện hảo vô cùng của Thiên Chúa không bao giờ hao mòn!”

 

Vào ngày lễ này đây, chúng ta hãy cảm tạ Chúa về dấu hiệu cả thể của sự thiện hảo Người đã ban cho chúng ta nơi Mẹ Maria, Mẹ của Người và Mẹ của Giáo Hội. Chúng ta hãy cầu xin Người hãy đặt Mẹ Maria trên con đường chúng ta đi như một thứ ánh sáng cũng giúp chúng ta trở thành ánh sáng và chiếu  ánh sáng này vào đêm tối lịch sử. Amen.


 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2005/documents/hf_ben-xvi_hom_20051208_anniv-vat-council_en.html

 

(những tiểu đề là do người dịch bản Việt ngữ này tự động thêm vào)

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Giờ Kinh Phụng Vụ Tối Áp Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng 26/11/2005

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Bằng việc cử hành Giờ Kinh Phụng Vụ Tối đầu tiên của Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng này, chúng ta bắt đầu một năm phụng vụ mới. Cùng nhau hát thánh vịnh, chúng ta nâng lòng mình lên Thiên Chúa, hướng mình theo tinh thần thiêng liêng đánh dấu mùa ân sủng này, đó là tinh thần “tỉnh thức nguyện cầu” và “hân hoan chúc tụng” (x Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng Mùa Vọng, II/A).

 

Lấy Mẹ Maria Rất Thánh làm mẫu sống của mình, vị dạy cho chúng ta biết sống động bằng việc thiết tha lắng nghe Lời Chúa, chúng ta hãy suy niệm về bài Thánh Kinh ngắn vừa được công bố.

 

Bài Thánh Kinh này gồm có 2 câu ở đoạn kết Thư Thứ Nhất Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Thessanolica (5:23-24). Câu đầu diễn tả lời vị Tông Đồ chào chúc cộng đồng này: câu thứ hai thực sự cho thấy việc bảo đảm việc nên trọn của lời chào chúc ấy.

 

Niềm hy vọng được bày tỏ là mỗi một người được Thiên Chúa làm cho nên thánh và được gìn giữ cho toàn thể con người của họ bao gồm “tinh thần, linh hồn và thân xác” của họ được vô trách cứ vào cuộc đến lần cuối cùng của Chúa Giêsu Kitô; việc bảo đảm niềm hy vọng ấy được thể hiện là những gì xuất phát từ việc trung thành của chính Thiên Chúa, Đấng sẽ không ngừng làm hoàn tất công cuộc Ngài đã khởi sự nơi thành phần tín hữu.

 

Bức Thư đầu tiên gửi tín hữu Thessalonica này là bức thư đầu tiên của các thư Thánh Phaolô, được viết có lẽ vào năm 51. Trong bức thư đầu tiên đây, chúng ta có thể cảm thấy, hơn bất cứ ở các bức thư khác, con tim rung động của vị Tông Đồ này, tấm lòng yêu thương từ phụ của ngài, thực sự chúng ta có thể nói là tấm lòng yêu thương từ mẫu của ngài giành cho cộng đoàn mới này. Và chúng ta cũng cảm thấy mối quan tâm lo lắng của ngài vẫn tồn tại liên quan tới đức tin của Giáo Hội mới ấy, một giáo hội được thực sự bủa vây bởi một môi trường văn hóa có nhiều quan điểm phản nghịch với đức tin.

 

Bởi thế mà Thánh Phaolô đã kết thúc bức thư này bằng một niềm hy vọng, hay chúng ta hầu như có thể nói là bằng một lời nguyện cầu. Nội dung của lời nguyện cầu này đã được chúng ta nghe thấy là họ (tín hữu Thessalonica) cần phải thánh hảo và vô tì tích cho đến lúc Chúa tới. Chữ chính của lời nguyện cầu này là “việc đến”. Chúng ta phải tự hỏi mình “việc Chúa đến” có nghĩa là gì? Theo Hy ngữ có nghĩa là “parousia”, theo La ngữ là “adventus”, là “vọng”, là “đến”. “Việc đến” này là thế nào? Nó có liên hệ với chúng ta hay chăng?

 

Vậy để hiểu được ý nghĩa của lời này, của lời Thánh Tông Đồ nguyện cầu cho cộng đồng này và các cộng đồng trong mọi thời đại – cả cho chúng ta nữa – chúng ta cần phải nhìn đến một con người đã làm cho việc đến của Chúa được hiện thực một cách đặc biệt, đó là Trinh Nữ Maria.

 

Mẹ Maria thuộc về thành phần dân chúng Yến Duyên, trong thời điểm Chúa Giêsu, đang hết lòng mong đợi Đấng Cứu Thế tới. Và căn cứ vào những lời lẽ và tác hành được thuật lại trong Phúc Âm, chúng ta có thể thấy được cách thức Mẹ thực sự đã sống thấm nhuần các lời tiên tri; Mẹ hoàn toàn đợi trông Chúa tới.

 

Tuy nhiên, Mẹ đã không thể nào ngờ được việc đến này diễn ra ra sao. Có lẽ là Mẹ đã mong đợi một việc đến trong vinh quang. Lúc mà Tổng Thần Gabiên vào nhà của Mẹ và nói cho Mẹ biết rằng Chúa, Đấng Cứu Tinh, muốn mặc lấy xác thịt trong lòng Mẹ, muốn thực hiện việc Ngài đến qua Mẹ, chắc chắn đã là tất cả những gì làm cho Mẹ lại càng bàng hoàng ngỡ ngàng.

 

Chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi e dè của vị Trinh Nữ này. Mẹ Maria, bằng một tác động mãnh liệt của đức tin và lòng tuân phục, đã thưa “xin vâng”: “Tôi là tôi tớ của Chúa”. Nhờ đó, Mẹ đã trở thành “nơi cư trú” của Chúa, là “đền thờ” thực sự trên thế giới và là “cửa ngõ” Chúa tiến vào thế gian. 

 

Chúng ta đã nói rằng đây là một việc đến đặc thù” vì là “cái” đến của Chúa. Tuy nhiên, đây không những là việc đến cuối cùng vào ngày cùng tháng tận: Ở một nghĩa nào đó, Chúa luôn muốn tới qua chúng ta. Và Ngài ngõ cửa lòng chúng ta: Các con có sẵn lòng cống hiến cho Ta xác thịt của các con, thời giờ của các con, sự sống của các con hay chăng?

 

Đó là tiếng của Chúa là Đấng muốn tiến vào thời đại của chúng ta, Ngài muốn đi vào cuộc sống nhân loại qua chúng ta. Ngài cũng tìm kiếm một nơi cư trú sống động nơi cuộc đời cá nhân của chúng ta. Đó là việc Chúa đến. Một lần nữa chúng ta hãy học biết điều này nơi Mùa Vọng: Chúa cũng có thể đến giữa chúng ta.

 

Bởi thế, chúng ta có thể nói rằng lời nguyện cầu này, niềm hy vọng này, được Thánh Tông Đồ bày tỏ, chất chứa một sự thật nồng cốt mà ngài tìm cách ghi khắc nơi tín hữu của cộng đồng do ngài thành lập ấy và là một sự thật chúng ta có thể tóm lại như sau: Thiên Chúa kêu gọi chúng ta hiệp thông với Ngài, một cuộc hiệp thông sẽ được hoàn toàn nên trọn nơi cuộc trở lại của Chúa Kitô, và chính Ngài muốn bảo đảm rằng chúng ta sẽ tiến tới chỗ sẵn sàng cho cuộc hội ngộ cuối cùng và quyết liệt ấy. Có thể nói tương lai được chất chứa trong hiện tại, hay đúng hơn, trước nhan chính Thiên Chúa, Đấng trong tình yêu trung kiên của mình, không mặc thây chúng ta hay bỏ rơi chúng ta cho dù trong khoảng khắc, như người cha và người mẹ không bao giờ thôi chăm sóc cho con cái mình khi chúng đang trong thời kỳ phát triển.

 

Trước khi Chúa Kitô là Đấng sẽ tới, con người nam nữ được ấn định bằng tất cả hữu thể của mình, một hữu thể được Thánh Tông Đồ tóm lại bằng những chữ “tinh thần, linh hồn và xác thân”, do đó liên quan tới toàn thể con người như là một đơn vị với những chiều kích thể lý, tâm lý và đạo lý. Việc thánh hóa là tặng ân của Thiên Chúa và là dự án của Ngài, thế nhưng con người được kêu gọi để đáp ứng bằng tất cả hữu thể của họ mà không loại trừ bất cứ phần nào của bản thân họ.

 

Chính Thánh Thần, Đấng, trong cung lòng vị Trinh Nữ này, đã hình thành Chúa Giêsu là một con người toàn hảo, Đấng làm hoàn thành dự án diệu kỳ của Thiên Chúa nơi con người, trước hết bằng việc biến đổi tấm lòng, và từ tâm điểm này, biến đổi tất cả mọi sự khác.

 

Bởi thế, tất cả công cuộc tạo dựng và cứu chuộc, được Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần, tiếp tục hiện thực, từ đầu cho tới tận cùng của vũ trụ và của lịch sử, đều được tóm lại nơi mỗi một con người. Và từ lần đến thứ nhất của Chúa Kitô ở tâm điểm lịch sử loài người và ở tận điểm là cuộc trở lại vinh hiển của Ngài, mà hết mọi cuộc hiện hữu con người đều được kêu gọi trở nên tầm vóc của Ngài – một cách mầu nhiệm và đa dạng – trong cuộc hành trình trần thế, để vào lúc Ngài trở lại, có thể được “ở trong Ngài”.

 

Xin Mẹ Maria Rất Thánh, Vị Trinh Nữ trung thành, hướng dẫn chúng ta trong việc làm cho thời điểm Mùa Vọng này cũng như toàn thể tân phụng niên thành một đường lối thánh hóa thực sự, để chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 13/12/2005

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Bế Mạc Năm Thánh Thể

 

Sau đây bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI bằng tiếng Ý, Balan, Ukraine và Tây Ban Nha trong Thánh Lễ bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể và kết thúc Năm Thánh Thể, cũng là dịp ngài tuyên phong hiển thánh cho 5 vị chân phước.

 

Chư Huynh đáng kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục!

Anh Chị Em thân mến!

 

Trong ngày Chúa Nhật 30 Thường Niên này, việc cử hành Thánh Thể của chúng ta có nhiều lý do khác nhau thôi thúc chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Năm Thánh Thể và Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Niên cùng bế mạc một lúc, một thượng nghị về mầu nhiệm Thánh Thể nơi đời sống và việc truyền giáo của Giáo Hội, và 5 vị chân phước sẽ được phong thánh là Giám Mục Jozef Bilczewski, các vị linh mục Gaetano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski và Alberto Hurtado Cruchaga, và tu sĩ Capuchin Felice ở Nocosia.

 

Hôm nay cũng là Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo, một cơ hội hằng năm để tái khơi dậy động lực truyền giáo nơi cộng đồng giáo hội. Tôi hân hoan gửi lời chào đến tất cả những ai hiện diện nơi đây, trước hết là các vị nghị phụ, rồi những người hành hương đến từ các quốc gia khác nhau cùng với những vị mục tử của mình để mừng các vị tân hiển thánh. Phụng vụ hôm nay kêu mời chúng ta đến việc chiêm ngắm Thánh Thể như mạch nguồn thánh đức và của dưỡng nuôi thiêng liêng cho việc truyền giáo của chúng ta trên thế giới: “Tặng ân và mầu nhiệm” cao cả này biểu lộ và thông truyền mức độ viên mãn của tình yêu Thiên Chúa cho chúng ta.

 

Lời của Chúa, giờ đây vừa vang vọng trong Phúc Âm, đã nhắc nhở chúng ta rằng tất cả lề luật thần linh được tóm gọn lại thành yêu thương. Giới răn lưỡng diện mến Chúa và yêu người bao gồm hai khía cạnh của một động lực duy nhất nơi tâm can và nơi đời sống. Như thế Chúa Giêsu đạt tới mạc khải xưa kia, không thêm gì vào giới răn không bị cắn xén, song bằng việc hiện thực hóa nơi bản thân Người cũng như nơi hành động cứu độ của Người một tổng hợp sống động hai lời cao cả của cựu ước: “Các người phải kính mến Thiên Chúa là Chúa của các người hết lòng…” và “các người phải yêu thương tha nhân như chính bản thân mình” (x. Deut. 6:5; Lev. 19:18).

 

Nơi Thánh Thể, chúng ta chiêm ngưỡng bí tích của cái tổng hợp lề luật ấy. Chúa Kitô cống hiến cho chúng ta, cùng với bản thân Người, tất cả những gì trọn vẹn hiện thực tình yêu đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em của chúng ta. Và tình yêu này của Người, Người thông đạt cho chúng ta khi chúng ta được dưỡng nuôi bằng Mình và Máu Người. Đó là những gì Thánh Phaolô đã viết cho giáo đoàn Thessalonica trong bài đọc hôm nay: “Anh chị em đã từ bỏ việc tôn thờ các thứ thần giả tạo mà trở nên thành phần tôi tớ của vị Thiên Chúa hằng sống chân thật” (1Thes. 1:9). Việc hoán cải này là khởi đầu cho con đường thánh đức Kitô hữu được kêu gọi để đạt tới trong cuộc sống riêng của mình.

 

Thánh nhân là người được vẻ đẹp của Thiên Chúa thu hút cũng như được sự thật toàn hảo của Ngài hấp dẫn để được sự thật ấy từ từ biến đổi. Vì vẻ đẹp và sự thật này, họ sẵn sàng từ bỏ hết mọi sự, thậm chí cả bản thân của họ. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa là đủ, một tình yêu họ cảm nghiệm được nơi việc khiêm tốn và vô vị lợi phục vụ tha nhân, nhất là những ai không thể đáp đền.

 

Theo ý nghĩa ấy thì thích hợp biết bao ở sự kiện hôm nay Giáo Hội nêu lên cho tất cả mọi phần tử của mình 5 vị thánh mới, những vị đã được Chúa Kitô là bánh hằng sống dưỡng nuôi, những vị đã được hoán cải sống cho tình yêu này và được rập khuôn mẫu đời mình theo tình yêu này! Nơi những hoàn cảnh khác nhau và bằng những đặc sủng khác biệt, các vị đã kính mến Chúa hết lòng và tha nhân như bản thân các vị để nhờ đó trở thành “mẫu gương cho tất cả mọi tín hữu” (1Thes 1:6-7).

 

Thánh Jozef Bilczewski là một con người cầu nguyện.. Thánh Lễ, Phụng Vụ Giờ Kinh, suy nkiệm, kinh mân côi và các việc đạo đức khác làm nên cuộc sống hằng ngày của ngài. Ngài đặc biệt giành nhiều giờ cho việc chầu Thánh Thể. Thánh Zygmunt Gorazdowski thậm chí còn nổi tiếng vì lòng tôn sùng việc cử hành và tôn thờ Thánh Thể. Hy tế của Chúa Kitô hằng sống đã thôi thúc ngài hướng tới người bệnh tật, nghèo khổ và thiếu thốn.

 

Kiến thức sâu xa về thần học, đức tin và lòng tôn sùng Thánh Thể của Thánh Jozef Bilczewski làm cho ngài trở thành mẫu gương cho các vị linh mục và là chứng tá cho tất cả mọi tín hữu. Thánh Zygmunt Gorazdowski, khi thành lập Hiệp Hội Linh Mục, Dòng Chị Em Thánh Giuse và các tổ chức bác ái khác, bao giờ cũng theo tinh thần hiệp thông là tinh thần hoàn toàn được tỏ hiện nơi Thánh Thể.


”Anh chị em phải kính mến Chúa là Thiên Chúa của anh chị em hết lòng. Anh chị em phải yêu thương tha nhân của mình như chính bản thân” (Mt 22:37-39). Đó là chhương trình sống của Thánh Alberto Hurtado, vị muốn đồng hóa mình với Chúa và mến thương người nghèo cũng bằng tình yêu mến Thiên Chúa ấy của ngài. Được huấn luyện nơi Dòng Chúa Giêsu, cùng với đời sống cầu nguyện và tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể, là những gì đã làm cho ngài được Chúa Kitô chiếm đoạt, trở thành một con người chiêm niệm trong khi hoạt động. Bằng tình mến yêu và hoàn toàn dấn thân cho ý muốn của Thiên Chúa, ngài đã có được sức mạnh để hoạt động tông đồ.   
 

Ngài đã thành lập Nhà của Chúa Kitô cho thành phần thiếu thốn nhất cũng như cho những ai vô gia cư, cống hiến cho họ một bầu khí gia đình đầy tình người ấm áp. Trong việc thi hành thừa tác vụ linh mục của mình, ngài chú trọng tới tính cách đơn sơ giản dị và tính cách trở nên dễ dàng thuận lợi cho người khác, trở thành hình ảnh sống động của vị sư phụ “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Vào cuối đời của mình, giữa những cơn đớn đau mãnh liệt gây ra bởi bệnh nạn của mình, ngài vẫn mạnh mẽ lập lại rằng: “con mãn nguyện, Chúa ơi, con mãn nguyện”, bày tỏ niềm vui ngài luốn có trong đời sống.

 

Thánh Gaetano Catanoso là một vị tôn thờ và là tông đồ của Nhan Thánh Chúa Kitô. Ngài nói: “Thánh Nhan là sự sống của tôi. Người là sức mạnh của tôi”. Bằng một trực giác hân hoan, ngài đã nuôi dưỡng việc tôn sùng lòng đạo đức đối với Thánh Thể ấy. Ngài bày tỏ mình ra bằng những lời lẽ này: “Nếu chúng ta muốn tôn thờ Dung Nhan Thực Sự của Chúa Giêsu…. Chúng ta có thể thấy dung nhan này nơi Thánh Thể thần linh, ở đó, với mình và máu của Chúa Giêsu Kitô, dung nhan của Chúa ẩn dấu dưới tấm màn trắng của Bánh Thánh”.

 

Thánh Lễ hằng ngày và việc thường xuyên tôn thờ Bí Tích Bàn Thờ là hồn sống cho thiên chức linh mục của ngài: bằng việc bác ái mục vụ nhiệt thành không biết mỏi mệt, ngài đã dấn thân giảng dạy, hướng dẫn giáo lý, ban phép giải tội, giúp người nghèo, người bệnh, chăm sóc ơn gọi linh mục. Ngài đã truyền đạt cho Chị Em Vêrônica Thánh Nhan được ngài thành lập tinh thần bác ái, khiêm nhu và hy sinh là những gì chi phối cả cuộc sống của ngài.

 

Thánh Felice ở Nicosia thích lập lại trong tất cả mọi trường hợp vui buồn rằng: “Hãy vì tình yêu mến Thiên Chúa”. Bởi thế chúng ta mới có thể hiểu rõ nơi ngài thiết tha và cụ thể ra sao cái cảm nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện cho loài người thấy nơi Chúa Kitô. Vị tu sĩ Dòng Capuchin này, người con nổi tiếng của mảnh đất Sicily đây, con người sống khổ chế và thống hối, trung thành với những thể hiện chân thực nhất của truyền thống dòng Phanxicô, dần dần đã được khuôn đúc và biến đổi bởi tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu được sống động và hiện thực nơi tình yêu thương tha nhân. Cha Felice giúp chúng ta khám phá ra cái giá trị của những sự nhỏ bé làm cho đời sống của chúng ta cao quí hơn, và ngài dạy cho chúng ta biết nắm bắt lấy ý nghĩa của gia đình và phục vụ anh chị em, khi ngài cho chúng ta thấy rằng niềm vui chân thực và bền bỉ là hoa trái của yêu thương, một niềm vui được tâm can con người mong ước.

 

Quí vị nghị phụ đáng kính thân mến, chúng ta đã sống với nhau ba tuần lễ trong bầu khí sốt sắng mới đối với Thánh Thể. Giờ đây, cùng với quí nghị phụ và nhân danh toàn thể hàng giáo phẩm, tôi xin gửi lời chào hỏi huynh đệ đến các vị giám mục thuộc Giáo Hội Trung Hoa.

 

Chúng ta cảm thấy rất buồn trước sự thiếu vắng sự đại diện của các vị. Tôi cũng xin tất cả mọi vị linh mục Trung Hoa biết rằng chúng tôi gần gũi với các vị giám mục cũng như linh mục cùng tín hữu của họ trong lời nguyện cầu. Con đường đau thương của các cộng đồng được ký thác cho việc các vị chăm sóc mục vụ đang sống động trong tâm can của chúng tôi: Nỗi khổ đau ấy không phải là những gì vô bổ, vì nó tham phần vào mầu nhiệm vượt qua cho vinh quang của Chúa Cha.

 

Công việc của thượng nghị giám mục này khiến chúng ta có thể đào sâu vào những khía cạnh sắc cạnh của mầu nhiệm vượt qua này, một mầu nhiệm đã được hiến ban cho Giáo Hội ngày từ ban đầu. Việc chiêm ngưỡng Thánh Thể phải là những gì thôi thúc tất cả mọi phần tử của Giáo Hội, trước hết là các vị linh mục, các vị thừa tác viên Thánh Thể, hãy làm sống lại việc dấn thân đức tin của mình. Đời sống độc thân được linh mục lãnh nhận như là một tặng ân cao quí và là dấu hiệu của một tình yêu bất phân chia đối với Thiên Chúa và tha nhân, là những gì được bắt nguồn từ một mầu nhiệm Thánh Thể được cử hành và tôn thờ.

 

Linh đạo Thánh Thể cũng cần phải là động cơ nội tại cho bất cứ hoạt động nào đối với thành phần giáo dân nữa, và không có một sự phân chia nào khả chấp giữa đức tin và đời sống của họ nơi sứ vụ lan truyền tinh thần Kitô giáo trên thế giới.

 

Trong lúc Năm Thánh Thể đang tới chỗ kết thúc đây, chúng ta làm sao lại không dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về nhiều tặng ân Giáo Hội đã lãnh nhận trong thời gian này chứ? Và làm sao chúng ta lại không tiếp tục, một lần nữa, lời kêu mời của vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu là “hãy bắt đầu lại từ Chúa Kitô” chứ? Như các môn đệ đi về làng Emmau, những vị, với tâm hồn được ham nóng bởi những lời của Đấng Phục Sinh và được soi động bởi việc hiện diện sống động của Người, đã nhận ra nơi việc bẻ bánh, liền quay trở về Giêrusalem để loan báo việc phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta cũng phải tiếp tục lại con đường này, được tác động bởi tấm lòng thiết tha muốn làm chứng cho mầu nhiệm tình yêu ban hy vọng cho thế gian ấy.

 

Theo chiều hướng Thánh Thể này, Ngày Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo hôm nay cũng là dịp rất thích hợp được Vị Tôi Tớ đáng kính Gioan Phaolô II cống hiến đề tài suy niệm: “Việc Truyền Giáo là Tấm Bánh bẻ ra cho thế gian được sự sống”.

Cộng đồng giáo hội, khi cử hành Thánh Thể, nhất là vào Ngày Của Chúa, bao giờ cũng ý thức hơn nữa là hy tế của Chúa Kitô là để “cho nhiều người” (Mt 26:28), và Thánh Thể thôi thúc kitô hữu hãy trở thành “tấm bánh bẻ ra” cho kẻ khác, dấn thân mình cho một thế giới chân chính hơn và huynh đệ hơn. Ngay cả hôm nay đây, trước đám đông dân chúng, Chúa Kitô vẫn tiếp tục kêu gọi thành phần môn đệ của Người rằng: “Các con hãy tự kiếm gì cho họ ăn đi” (Mt 14:16), và, nhân danh Người, thành phần thừa sai loan báo và làm chứng cho Phúc Âm, có những lúc thậm chí hy hiến cả mạng sống của mình nữa.

 

Các bạn thân mến, chúng ta cần phải bắt đầu lại từ Thánh Thể. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta, người nữ Thánh Thể, để chúng ta say yêu Thánh Thể, giúp chúng ta “ở lại” trong tình yêu của Chúa Kitô, một tình yêu được Người làm mới lại một cách mật thiết. Đơn sơ dễ dạy với tác động của Thần Linh và chuyên chú đến các nhu cầu của con người, Giáo Hội nhờ đó sẽ trở thành dấu hiệu cao cả của ánh sáng, của niềm vui và hy vọng, hoàn toàn chiếm đạt sứ vụ của mình như “day hiệu và là dụng cụ của mối hiệp nhất toàn thể nhân loại” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, 1).



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/10/2005
  

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài suy niệm tự phát ở Buổi Họp Đầu Tiên Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI

 

Sau đây là nguyên văn lời lẽ suy niệm tự phát của ĐTC hôm Thứ Hai 3/10, sau bài đọc cho Giờ Kinh Thần Vụ Thứ Ba được trích từ Thư Thứ Hai của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (13:11).

 

Chư Huynh thân mến,

 

Giờ Kinh Thần Vụ Thứ Ba này của ngày hôm nay chất chứa 5 huấn dụ và 1 lời hứa. Chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu một chút về những gì được Vị Tông Đồ này muốn nói với chúng ta qua những lời ấy.

Huấn dụ thứ nhất là huấn dụ rất thường thấy ở trong các bức Thư của Thánh Phaolô; thế nhưng, người ta có thể nói rằng nó hầu như là “cantus firmus” nơi tư tưởng của ngài: “gaudete”. Vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm sao lại có một thứ vui mừng hầu như bị bó buộc như thế hay chăng? Chúng ta nói rằng niềm vui xuất phát hay không xuất phát chứ không thể nào lại có thứ niềm vui bị áp đặt như là một phận sự như thế. Và ở đây nó khiến chúng ta nghĩ đến bài nổi tiếng nhất về niềm vui trong các Thư của Thánh Phaolô, bài về “Domenica Gaudete”, bài thuộc về tâm điểm của phụng vụ Mùa Vọng: “Gaudete, iterum dico gaudete quia Dominus propest”.

 

Ở đây chúng ta thấy lý do tại sao Thánh Phaolô, trong tất cả mọi khổ đau và hoạn nạn của mình, chẳng những có thể nói với người khác về “gaudete” mà còn nói như thế vì ngài được tràn đầy niềm vui nữa. “Gaudete, Dominus enim prope est”.

 

Nếu tôi gắn bó với Đấng tôi yêu mến, Đấng là tình yêu, là tặng ân cao cả nhất của đời sống tôi, nếu tôi thâm tín được rằng Đấng yêu thương tôi gắn bó với tôi, thì cho dù trong các cơn đau đớn, cái niềm vui tồn tại sâu xa trong tâm can của tôi còn lớn lao hơn cả mọi khổ đau nữa.

 

Vị Tông Đồ này có thể nói đến “gaudete” là vì Chúa ở gần với mỗi một người chúng ta. Bởi vậy mà huấn dụ này thực sự là một lời mòi gọi hãy ý thực về Chúa là Đấng gần gũi với chúng ta. Đó là ý thức về sự hiện diện của Chúa. Thánh Tông Đồ muốn làm cho chúng ta cảm thức được sự hiện diện này – một hiện diện kín đáo nhưng có thật – sự hiện diện của Chúa Kitô nơi mỗi một người trong chúng ta. Những lời của Sách Khải Huyền là những lời chân thật cho mỗi người chúng ta: “Ta gõ cửa các người, hãy lắng nghe Ta, hãy mở cửa cho Ta.

 

Bởi vậy, đó cũng là một lời mời gọi hãy ý thức về sự hiện diện của Chúa là Đấng đang gõ cửa lòng chúng ta. Đừng giả điếc làm ngơ Người, bởi lỗ tai tâm can chúng ta quá ư là đầy những tiếng động của  thế giới này, đến nỗi chúng ta không thể nghe thấy sự hiện diện âm thầm này đang gõ cửa lòng mình.

 

Chúng ta suy niệm, nếu đồng thời chúng ta thực sự sẵn sàng mở cửa lòng mình; hay có lẽ tấm lòng ấy có quá đầy những thứ khác đến không còn chỗ cho Chúa và cho hiện nay chúng ta tạm thời chưa có giờ cho Chúa. Do đó, chúng ta vô cảm, không nghe thấy sự hiện diện của Người, đầy những thứ khác, đến nỗi chúng ta không nghe thấy được những gì là chính yếu. Người đang gõ cửa, Người gần gũi chúng ta và như thế niềm vui chân thực cũng đang cận kề với chúng ta, một niềm vui còn mạnh mẽ hơn là tất cả mọi thứ sầu thương trên thế gian này cũng như trong đời sống của chúng ta.

 

Cho nên, chúng ta hãy nguyện cầu trong khung cảnh của lời huấn dụ ấy: Lạy Chúa, xin hãy làm cho chúng con cảm thấy được việc hiện diện của Chúa, xin hãy giúp chúng con cảm thấy chứ đừng dửng dưng lạnh lùng với Chúa, xin hãy giúp chúng con có được một con tim thanh thoát và cởi mở với Chúa.

 

Lời huấn dụ thứ hai là “hãy nên trọn lành - perfecti estote”, như được đọc thấy nơi bản Latinh, dường như trùng hợp với lời tóm tắt của Bài Giảng Trên Núi, đó là: “perfecti estote sicut Pater vester caelestis perfectus est – hãy nên trọn lành như Cha các con là Đấng trọn lành trên trời”. 

 

Lời này mời gọi chúng ta hãy trở nên những gì chúng ta là: hình ảnh Thiên Chúa, thành phần tạo vật được dựng nên có liên hệ với Chúa, như một “tấm gương” phản chiếu ánh sáng của Chúa. Không sống Kitô giáo theo chữ nghĩa, và không nghe Thánh Kinh theo lời lẽ thường là những gì khó khăn; đó là những gì được đặt ra về phương diện lịch sử, thế nhưng hãy vượt ra ngoài chữ nghĩa, ra ngoài thực tại hiện hữu, tiến đến với Chúa là Đấng đang nói với chúng ta nhờ đó hiệp nhất với Chúa.

 

Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào bản văn bằng tiếng Hy Lạp, chúng ta thấy một động từ khác, “catartizesthe”, và lời này có nghĩa là làm lại, là sửa chữa một dụng cụ, là tái thiết một cái gì đó cho nó hoạt động hết cỡ của nó. Trường hợp thường xẩy ra nhất đối với các vị tông đồ đó là làm lại lưới cá cho những người đánh cá là tấm lưới không còn hội đủ điều kiện, tức có quá nhiều lỗ không còn sử dụng được nữa, là làm lại cái lưới ấy để nó có thể lại trở thành một lưới cá, trở lại với cái hoàn hảo của nó như một dụng cụ cho công việc ấy.

 

Một thí dụ khác, đó là một nhạc cụ có giây đàn bị đứt, nên không thể chơi nhạc theo khả năng của nó. Bởi thế mà nơi huấn dụ này, linh hồn chúng ta xuất hiện như một thứ lưới tông đồ thường không công dụng lắm, vì nó bị rách xẻ bởi những ý hướng riêng của chúng ta; hay như một nhạc cụ có một số hợp âm tiếc thay bị hư, do đó mà nhạc của Thiên Chúa là những gì cần phải vang lên từ thẳm cung linh hồn của chúng ta không thể âm vang một cách ngon lành được. Để làm lại nhạc cụ này, để biết được những nỗi ưu phiền, những sự hủy hoại, việc lơ là chểnh mảng, đã bị coi thường đến độ nào, và để cố gắng thấy được rằng dụng cụ này là hoàn hảo và hoàn toàn, vì nó giúp thực hiện những gì như Chúa đã có ý định trong việc dựng nên nó.

 

Bởi thế, lời huấn dụ này cũng là một lời mời gọi hãy thường xuyên kiểm điểm lương tâm của tôi, hãy lưu ý tới tình trạng dụng cụ của tôi, ở chỗ nó đã bị lơ là đến đâu, không còn hoạt động ra sao, và cố gắng mang nó về lại tính cách nguyên vẹn của nó. Đây cũng là một lời mời gọi đến với bí tích hòa giải, nơi chính Thiên Chúa làm lại thứ dụng cụ này và ban lại cho chúng ta sự vẹn toàn, trọn hảo, sinh động, nhờ đó linh hồn này mới có thể vang lời chúc tụng Thiên Chúa.

 

Thế rồi tới huấn dụ “exortamini invicem”. Việc sửa lỗi huynh đệ là một công việc của tình thương. Không ai trong chúng ta có thể thấy được bản thân mình một cách rõ ràng, có thêåthấy được những thiếu sót của mình một cách rõ ràng. Bởi thế nó là một tác động yêu thương, một tác động bổ khuyết lẫn cho nhau, giúp nhau thấy được mình hơn, và sửa chữa lẫn nhau. Tôi nghĩ rằng một trong những phận vụ của đoàn tính đó là giúp đỡ lẫn nhau, cũng theo ý nghĩa của lời huấn dụ trước, để biết được những thiếu sót mà chính chúng ta không muốn thấy – “ab occultis meis munda me”, lời thánh vịnh nói thế – để giúp nhau hầu chúng ta có thể trở nên cởi mở và có thể thấy được những điều ấy.

 

Dĩ nhiên, công việc tình thương cao cả này, khi giúp nhau để mỗi người có thể thực sự thấy được tính chất nguyên vẹn của mình, và thực hiện như là dụng cụ của Thiên Chúa, đòi phải hết sức khiêm tốn và yêu thương. Chỉ khi nào việc này được xuất phát từ một con tim khiêm hạ, từ con người không đặt mình lên trên kẻ khác, người không coi mình ngon hơn kẻ khác, mà chỉ là một dụng cụ hèn mọn trong việc giúp đỡ nhau. Chỉ khi nào con người cảm thấy được đức khiêm nhượng sâu xa và chân thật này, chỉ khi nào con người cảm thấy rằng những lời lẽ ấy xuất phát từ tình yêu thương chung, từ lòng cảm mến của một đoàn thể chúng ta thuộc về và muốn cùng nhau phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta mới có thể giúp nhau với một tác động yêu thương cao cả.

 

Cũng ở chỗ này, bản văn Hy Lạp còn thêm một số sắc thái; tiếng Hy Lạp này là “paracaleisthe”; nó là căn ngữ cho chữ “Paracletos, paraclesis”, nghĩa là an ủi. Chẳng những là sửa chữa mà còn an ủi nữa, là chia sẻ những khổ đau của người khác, giúp đỡ họ trong lúc khốn khó. Và điều này đối với tôi cũng là một tác động cao cả của lòng cảm mến chân thật theo đoàn thể.

 

Trong rất nhiều trường hợp khó khăn hiển nhiên ngày nay nơi việc chăm sóc mục vụ của chúng ta, một số người thực sự tỏ ra chán chường, không biết làm sao để tiến bước. Vào lúc ấy họ cần đến niềm ủi an, họ cần một người nào đó cận kề khi cảm thấy cô đơn trong tâm can, và thi hành công việc của Chúa Thánh Thần, của Đấng Ủi An: trong việc khích lệ, trong việc đem chúng ta lại với nhau, trong việc giúp đỡ lẫn nhau, những việc được hỗ trợ bởi Thánh Thần là Vị Đại Cố Vấn, Ủi An, và Biện Hộ của chúng ta.

 

Bởi thế, đó là lời mời gọi làm cho chúng ta “ad invicem” đối với công việc của Vị Thánh Thần Ủi An. “Idem sapite”: chúng ta có thể nghe sau tiếng Latinh “sapor”, có “eundem sapore”, có cùng một cảm tính. Tiếng Hy Lạp nói “froneite”, điều giống nhau. Tức là, về bản chất, có cùng một tư tưởng như nhau.

 

Làm thế nào chúng ta, có cùng một tư tưởng về bản chất, giúp chúng ta cùng nhau hướng dẫn Hội Thánh một khi chúng có chung một đức tin là những gì không do ai trong chúng ta sáng tạo nên, nếu không phải là đức tin của Giáo Hội, nền tảng chung hướng dẫn chúng ta, và là đức tin nhờ đó chúng ta là và chúng ta hoạt động hay sao? Bởi thế, nó là một lời mời gọi hãy đặt mình một lần nữa theo tư tưởng chung này, theo đức tin đi trước chúng ta đây.

 

“Non respicias peccata nostra sed fidem Ecclesiae tuae”: Đó là đức tin của Giáo Hội mà Chúa mong thấy nơi chúng ta và cũng là đức tin thứ tha tội lỗi. Để có được niềm tin chung này, chúng ta có thể và cần phải sống đức tin này, mỗi người theo cách thức riêng của mình, nhưng bao giờ cũng biết rằng đức tin này đi trước chúng ta. Và chúng ta cần phải truyền đạt đức tin chung này cho tất cả mọi người khác.

 

Yếu tố này dẫn chúng ta tiếp tục tới lời huấn dụ cuối cùng, lời huấn dụ mang lại bình an sâu xa nơi chúng ta. Tới đây chúng ta cũng có thể nghĩ đến “touto froneite”, đến một đoạn khác của Thư gửi giáo đoàn Philiiphê, nơi đoạn mở đầu của bài đại thánh ca về Chúa Kitô, nơi vị Tông Đồ nói với chúng ta rằng: hãy có cùng một cảm xác như Chúa Kitô, hãy tiến tới chỗ “fronesis”, tới “fronein”, theo tâm tưởng của Chúa Kitô. Nhờ đó, chúng ta mới cùng nhau có đức tin của Giáo Hội, vì với đức tin này, chúng ta có cùng tâm tưởng như Chúa. Hãy cùng nhau suy nghĩ với Chúa Kitô.

 

Đó là lời huấn dụ cuối cùng trong lời cảnh giác này của Thánh Tông Đồ: hãy suy nghĩ với tâm tưởng của Chúa Kitô. Và chúng ta có thể làm điều ấy bằng việc đọc Thánh Kinh là nơi các tâm tưởng của Chúa Kitô là Lời nói với chúng ta. Theo chiều hướng này thì chúng at cần phải tuân giữ việc “lectio divina”, phải lắng nghe tâm tưởng của Chúa Kitô trong các Sách Thánh, biết nghĩ suy với Chúa Kitô, suy nghĩ theo tâm tưởng của Chúa Kitô, và như thế có cùng cảm xác của Chúa Kitô, có thể cống hiến tâm tưởng cho những người khác.

 

Thế nên, lời huấn dụ cuối cùng “pacem habete et eireneuete” hầu như là lời tóm tắt bốn lời huấn dụ trước, nhờ đó được hiệp nhất với Thiên Chúa là an bình của chúng ta, hiệp nhất với Chúa Kitô là Đấng đã nói với chúng ta rằng: “pacem dabo vobis” bình an cho các con. Chúng ta được bình an nội tâm, vì việc hợp với tâm tưởng của Chúa Kitô hiệp nhất hữu thể thực sự của chúng ta. Những khó khăn, nhưữg xung khắc của linh hồn chúng ta đều được liên kết với mạch nguồn, mạch nguồn mà chúng ta là hình ảnh, nhờ tâm tưởng của Chúa Kitô. Đó là cách phát sinh niềm an bình nội tâm, và chỉ khi nào chúng ta được hưởng niềm an bình nội tâm sâu xa này, chúng ta cũng mới trở thành con người của hòa bình trên thế giới và cho tha nhân mà thôi.

 

Bởi vậy vấn đề là phải chăng lời hứa hẹn ấy được điều kiện hóa bởi các lời huấn dụ ấy? Tức là, phải chăng chỉ khi nào chúng ta đạt được những lời huấn dụ ấy thì Vị Thiên Chúa của bình an này mới ở cùng chúng ta? Mối liên hệ giữa lời huấn dụ và lời hứa là gì?

 

Tôi có thể nói rằng nó là vấn đề song phương, tức là, lời hứa đi trước các lời huấn dụ, và làm cho các lời huấn dụ khả đạt cũng như việc thực hiện áp dụng những lời huấn dụ ấy. Trước hết đó là những gì chúng ta có thể làm, Vị Thiên Chúa của tình yêu và của an bình đã mở toang ra cho chúng ta, Ngài ở với chúng ta. Trong Mạc Khải được mở đầu bằng Cựu Ước, Thiên Chúa đã đến với chúng ta bằng tình yêu của Ngài và bằng an bình của Ngài.

 

Sau hết, nơi việc Nhập Thể, Ngài đã trở thành Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là Emmanuel. Vị Thiên Chúa của an bình này ở với chúng ta là vị đã hóa thành nhục thể với nhục thể của chúng ta, với máu là máu của chúng ta. Người là con người ở với chúng ta và ôm ấp toàn thể loài người. Rồi nơi thập tự giá cũng như nơi việc xuống ngục tổ tông, Người đã hoàn toàn nên một với chúng ta. Người ra đi trước chúng ta bằng tình yêu thương của Người, và Người ôm ấp trước hết những tác hành của chúng ta. Và đó là niềm an ủi lớn lao của chúng ta. Thiên Chúa đi trước chúng ta. Người đã thực hiện hết mọi sự. Người đã ban cho chúng ta bình an, tha thứ và yêu thương. Người ở với chúng ta.

 

Và chỉ vì Người ở với chúng ta, vì chúng ta đã lãnh nhận ân sủng của Người nơi phép rửa, nơi bí tích thêm sức mà Thánh Linh là Đấng chúng ta đã lãnh nhận sứ vụ của Người nơi bí tích truyền chức thánh – giờ đây chúng ta có thể hợp tác với sự hiện diện của Người là những gì có trước chúng ta.

 

Tất cả mọi tác động của chúng ta được nhắc đến trong 5 lời huấn dụ ấy bao hàm việc cộng tác, việc hợp lực với vị Thiên Chúa của an bình là Đấng ở cùng chúng ta. Tuy nhiên, mặt khác điều này cũng đúng ở chỗ chúng ta thực sự tiến vào sự hiện diện được Ngài ban cho chúng ta đây, nơi tặng ân đang hiện hữu nơi hữu thể của chúng ta. Nhờ đó, việc hiện diện của Ngài, và việc Ngài ở cùng chúng ta, được củng cố.

 

Chúng ta hãy xin Chúa dạy cho chúng ta biết hợp tác với ân sủng có trước của Ngài để Ngài luôn thực sự ở với chúng ta. Amen!

 

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit ngày 4/10/2005

 

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Thánh Lễ Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI.

 

Các bài đọc của Chúa Nhật tuần này, được trích từ sáqch Tiên Tri Isaia và Phúc Âm, cho chúng ta thấy một trong những hình ảnh lớn của Thánh Kinh, đó là hình ảnh vườn nho.

 

Trong Thánh Kinh, bánh biểu hiệu cho những gì con người cần cho cuộc sống hằng ngày của họ. Nước làm cho đất đai phì nhiêu mầu mỡ: Nó là tặng ân thiết yếu giúp cho sự sống được khả dĩ. Trái lại, rượu nho là biểu hiệu cho tính chất thanh tú của thiên nhiên tạo vật, nó cống hiến cho chúng ta một bữa tiệc vượt ra ngoài các hạn chế của cuộc sống hằng ngày: Rượu “làm hoan lạc tâm can”.

 

Như thế, rượu cùng với cây nho cũng trở thành hình ảnh của tặng ân yêu thương, làm cho chúng ta có một cảm nghiệm nào đó về mùi vị thần linh. Bởi vậy, bài đọc của tiên tri Isaia chúng ta vừa nghe mở đầu bằng một ca vịnh yêu thương: Thiên Chúa đã thiết lập một vườn nho, hình ảnh về lịch sử Ngài yêu thương nhân loại, về tình Ngài yêu thương dân Yến Duyên được Ngài tuyển chọn.

 

Ý tưởng đầu tiên về bài đọc hôm nay đó là: Thiên Chúa đã làm thấm nhập nơi con người được dựng nên theo hình ảnh của Ngài khả năng yêu thương, nhờ đó, họ có khả năng yêu mến Ngài là Hóa Công của họ. Qua bài ca vịnh yêu thương của tiên tri Isaia, Thiên Chúa muốn nói với tâm can của dân Ngài cũng như nói với mỗi một người trong chúng ta.

 

Ngài nói với chúng ta rằng: “Cha đã tạo dựng nên các con theo hình ảnh và tương tự như Cha. Chính Cha là tình yêu và các con là hình ảnh của Cha ở chỗ tình yêu rạng ngời nơi các con, ở chỗ các con yêu thương đáp ứng lại Cha”.

 

Thiên Chúa đợi chờ chúng ta. Ngài muốn chúng ta yêu mến Ngài: Lời mời gọi như thế lại không đánh động lòng chúng ta hay sao? Chính vào giờ khắc này đây, vào giờ khắc chúng ta cử hành Thánh Thể đây, giờ khắc chúng ta khai mạc Thượng Nghị về Thánh Thể đây, Ngài đến gặp gỡ chúng ta, Ngài đến để gặp gỡ tôi. Ngài có tìm thấy được đáp ứng hay chăng? Hay chúng ta lại giống như vườn nho được Thiên Chúa nói tới trong bài đọc của tiên tri Isaia: “Ngài mong nó sinh trái nho thì nó lại sinh nho dại”. Phải chăng đời sống của chúng ta có lẽ cũng thường trở thành dấm chua hơn là rượu? Thứ dấm chua của than van ta thán, của xung khắc tranh giành, của dửng dưng lạnh nhạt?

 

Như thế, chúng ta đi đến ý tưởng thứ hai của các bài đọc hôm nay. Ý tưởng này trước hết nói về cái tốt đẹp của việc Thiên Chúa tạo dựng cũng như về sự cao cả của việc Ngài muốn tìm kiếm và yêu thương chúng ta. Thế nhưng, ý tưởng ấy cũng nói về lịch sử xẩy ra sau đó, lịch sử về việc sa ngã của con người.

 

Thiên Chúa đã trồng những cây nho hảo hạng nhưng chúng lại sinh ra các thứ nho dại. Những trái nho dại đây là gì? Những trái nho tốt được Thiên Chúa mong muốn, theo lời vị tiên tri, là ở chỗ công minh và chính trực. Ngược lại, những thứ nho dại là bạo lực, là đổ máu và đàn áp, những gì khiến cho con người quằn quại dưới ách bất công.

 

Trong bài Phúc Âm, hình ảnh này được thay đổi: Vườn nho sinh ra những trái nho tốt, thế nhưng thành phần tá điền trồng nho lại giữ lấy những trái nho tốt này. Họ không muốn trả chúng về cho vị chủ nhân ông. Họ đánh đập và sát hại thành phần sứ giả và giết chết người con trai của vị chủ nhân ông này. Động lực thúc đẩy họ làm như thế không có gì là phứ ctạp cả: Họ muốn trở nên thành phần chủ nhân ông; họ lấy đi những gì không thuộc về họ.

 

Trong Cựu Ước, những gì thoạt tiên có vẻ vấn đề cáo trạng liên quan tới việc vi phạm về công lý xã hội, vấn đề con người khinh miệt con người. Tuy nhiên, sâu xa hơn, con người thấy rằng việc khinh thường Kinh Torah, khinh thường luật do Thiên Chúa ban bố, là khinh thường chính Thiên Chúa; chỉ vì ước vọng duy nhất là muốn hoan hưởng chính quyền lực. Khía cạnh này hoàn toàn được nổi bật trong dụ ngôn của Chúa Giêsu: Ở chỗ, thành phần tá điền không muốn chấp nhận vị chủ nhân, và thành phần tá điền ấy trở thành tấm gương cho chúng ta là con người đã chiếm quyền làm chủ thiên nhiên tạo vật đã được ký thác cho chúng ta quản trị.

 

Chúng ta muốn trở nên thành phần chủ nhân độc nhất vô nhị. Chúng ta muốn chiếm hữu thế giới và đời sống của chúng ta một cách vô giới hạn. Thiên Chúa là Đấng làm cho chúng ta ngứa ngáy khó chịu, hay chúng ta làm cho Ngài trở thành một thứ thành ngữ đạo đức thuần túy hoặc hoàn toàn chối bỏ Ngài, hoàn toàn loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống quần chúng, để nhờ đó Ngài không còn có một ý nghĩa gì nữa. Thứ khoan nhượng chỉ chấp nhận Thiên Chúa như là một thứ ý kiến riêng tư, thế nhưng lại chối bỏ Ngài ở lãnh vực công cộng, ở thực tại của thế giới và ở đời sống của chúng ta, không phải là khoan nhượng mà là giả hình.

 

Bất cứ lúc nào con người trở thành chủ nhân ông duy nhất của thế giới này và làm chủ chính mình thì không thể nào có vấn đề công lý. Bấy giờ chỉ có vấn đề thủ đoạn về quyền lực và lường gạt về lợi lộc mà thôi. Thật thế, người con có thể bị loại trừ khỏi vườn nho và bị sát hại để thành phần tá điền được hoan hưởng một cách vị kỷ những hoa trái của trái đất. Thế nhưng, bấy giờ vườn nho này lại sớm trở thành một khu vườn không được vun xới, bị giầy xéo bởi đám heo rừng, như trong bài đáp ca (x Ps 79:14).

 

Chúng ta tiến sang yếu tố thứ ba của các bài đọc hôm nay. Vị Chúa ở trong cả Cựu lẫn Tân Ước đã loan báo phán quyết về số phận vườn nho bất trung. Phán quyết tiên tri Isaia thấy trước đã được hiện thực nơi những cuộc đại chiến và lưu đầy gây ra bởi những người Assyria và Babylonia. Phán quyết được Chúa Giêsu loan báo liên quan trước hết tới việc hủy hoại của thành Giêrusalem năm 70.

 

Thế nhưng, mối đe dọa bị phán quyết cũng ảnh hưởng cả đến chúng ta nữa, một Giáo Hội ở Âu Châu, Giáo Hội của Tây phương nói chung. Qua bài Phúc Âm này, Chúa cũng la lên trong tai chúng ta những lời Ngài đã nói đến trong Sách Khải Huyền về Giáo Hội ở Êphêsô: “Ta sẽ đến với các người và sẽ lấy đi ngọn đèn của các người khỏi chỗ của nó, trừ phi các người ăn năn thống hối” (2:5). Thứ ánh sáng này cũng có thể bị lầy đi khỏi chúng ta, và chúng ta cần phải làm sao cho lời cảnh báo hoàn toàn nghiêm trọng này vang vọng trong tâm hồn của chúng ta, để đồng thời kêu lên cùng Chúa rằng: “Xin hãy giúp chúng con ăn năn cải thiện! Xin hãy ban cho chúng con ân sủng thực hiện việc canh tân đích thực! Xin đừng để ánh sáng ấy bị tắt mất nơi chúng con! Xin hãy củng cố đức tin của chúng con, đức cậy của chúng con và đức mến của chúng con để chúng con có thể sinh hoa kết trái tốt đẹp!”.

 

Đến đây, một vấn đề được đặt ra là: “Thế nhưng, có hứa hẹn hay chăng, có lời nào an ủi trong bài đọc và bài Phúc Âm hôm nay hay chăng? Phải chăng đe dọa là tất cả những gì muốn nói tới?” Không! Có một lời hứa hẹn và đó là tất cả những gì muốn nói tới, là điều thiết yếu. Chúng ta nghe lời hứa hẹn này nơi câu alleluia được trích từ Phúc Âm Thánh Gioan: “Thày là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thày và Thày ở trong họ thì người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (15:5).

 

Qua những lời lẽ này của Chúa Kitô, Thánh Gioan đã cho chúng ta thấy cái kết thúc cuối cùng đích thực của lịch sử vườn nho của Thiên Chúa – đó là Thiên Chúa không bị thảm bại. Cuối cùng Ngài sẽ chiến thắng – tình yêu chiến thắng. Một hình ảnh lờ mờ đã hiện lên trong bài dụ ngôn về vườn nho của bài Phúc Âm hôm nay cũng như ở những lời cuối cùng của bài Phúc Âm này. Nơi đoạn cuối này, cái chết của người con không phải là kết thúc lịch sử, cho dù nó không trực tiếp nói như thế. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã diễn tả cái chết này bằng một hình ảnh được lấy từ bài Thánh Vịnh: “Chính tảng đá bị đám thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường” (Mt 21:42; Ps 117:22).

 

Sự sống đã được phát sinh từ cái chết của người con này, một dinh thự mới được thiết lập, một vườn nho mới xuất hiện. Ở Cana, Người đã biến nước lã thành rượu, Người đã biến đổi máu Người thành thứ rượu của tình yêu chân thật, nhờ đó, biến đổi rượu thành máu của Người. Ở Nhà Tiệc Ly, Người đã hướng về cái chết của Người và đã biến đổi cái chết này thành việc trao ban chính bản thân Người, một tác động yêu thương sâu xa. Máu của Người là một tặng ân, là tình yêu, và bởi thế máu đó là thứ rượu thực sự được Đấng Hóa Công mong muốn. Như thế, chính Chúa Kitô trở thành vườn nho và vườn nho này bao giờ cũng sinh ra trái tốt – đó là sự hiện diện tình Người yêu thương chúng ta, một tình yêu bất khả bị hủy diệt.

 

Những điều ấy, cuối cùng, đồng tụ lại nơi mầu nhiệm Thánh Thể, một mầu nhiệm Chúa Kitô đã ban cho chúng ta bánh sự sống và rượu yêu thương của Người, cùng mời gọi chúng ta hãy đến với bữa tiệc của tình yêu vĩnh cửu này. Chúng ta cử hành Thánh Thể với ý thức rằng cái giá của Thánh Thể là cái chết của người con ấy, là hy hiến của mạng sống Người, một hy hiến vẫn hiện diện nơi Thánh Thể. Mỗi khi chúng ta ăn bánh này và uống chén ấy là chúng ta loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Người lại đến, như Thánh Phaolô nói (x 1Cor 11:26).

 

Thế nhưng, chúng ta cũng biết rằng từ cái chết này sự sống đã được phát sinh, khi Chúa Giêsu biến đổi cái chết ấy bằng cử chỉ hiến tế, biến đổi thành một tác động yêu thương, biến đổi một cách sâu xa: Tình yêu đã chiến thắng tử thần. Nơi Thánh Thể, Người đã từ thập tự giá kéo tất cả mọi con người đến cùng Người (Jn 12:32), và Người đã biến chúng ta thành những cành của cây nho là chính bản thân Người. Nếu chúng ta hiệp nhất với Người, chúng ta nhờ đó cũng sinh hoa kết trái, nhờ đó chúng ta sẽ không còn sinh ra dấm chua của lòng tự mãn, của cái bất đồng với Thiên Chúa cũng như với thiên nhiên tạo vật của Ngài, nhưng trở thành thứ rượu ngon của niềm vui Thiên Chúa và tình yêu thương tha nhân.

 

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng của Người để trong ba tuần lễ thượng nghị này để chúng ta bắt đầu chẳng những nói những điều tốt đẹp về Thánh Thể mà chúng ta còn sống bằng sức mạnh của Người nữa. Quí nghị phụ thượng nghị thân mến, những vị tôi thân ái chào thăm, chào thăm cả  các cộng đồng khác nhau là nơi qúi nghị phụ sống và đại diện  nơi đây, chúng ta hãy nhờ Mẹ Maria cầu xin cho được tặng ân này, để nhờ dễ dạy với tác động của Thánh Linh, chúng ta có thể giúp cho thế giới được biến đồi – trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô – thành cây nho sai trái của Thiên Chúa. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 2/10/2005

 

 

TOP