Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và tuyển dịch
(Sứ Điệp cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 1/1/2006)
3. Đề tài tôi chọn để suy nghĩ trong năm nay là “Ḥa b́nh trong chân lư”, một đề tài nói lên niềm xác tín là bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào con người nam nữ được soi động bởi ánh quang chân lư, th́, theo tự nhiên, họ mới bắt đầu thực hiện con đường ḥa b́nh. Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng”, được ban hành 40 năm trước đây vào lúc kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II, đă nói rằng loài người sẽ không thành đạt trong “việc xây dựng một thế giới thực sự nhân bản cho mọi người, mọi nơi trên trái đất, trừ phi tất cả mọi người được canh tân trong tinh thần và hướng về ḥa b́nh đích thực” (khoản 77). Thế nhưng ư nghĩa thực sự của những lời “ḥa b́nh đích thực” đây là ǵ? Để giải đáp một cách trọn vẹn cho câu hỏi này, chúng ta cần phải nhận thứ rằng ḥa b́nh không thể trở thành việc thuần túy không xẩy ra t́nh trạng xung đột vơ trang, song cần được hiểu là “hoa trái của một trật tự đă được vun trồng nơi xă hội loài người bởi Đấng Sáng Lập thần linh”, một trật tự “cần phải được nhân loại thực hiện theo nỗi khát khao có được một nền công lư trọn hảo hơn bao giờ hết” (cùng nguồn vừa dẫn, khoản 78). Là thành quả của một trật tự theo dự định và mong muốn của Thiên Chúa, ḥa b́nh chất chứa một sự thật nội tại và bất khuất, tương ứng “với niềm trông mong và hy vọng không thể cầm hăm trong chúng ta” (John Paul II, "Message for the 2004 World Day of Peace," 9).
4. Được nh́n theo chiều hướng ấy, ḥa b́nh trở nên như một tặng ân từ trời và là một ân sủng thần linh là những ǵ đ̣i hết mọi tầng lớp thi hành trách nhiệm cao cả nhất, đó là trách nhiệm làm cho lịch sử loài người – trong chân lư, công lư, tự do và yêu thương – hợp với trật tự thần linh. Bất cứ khi nào mất đi tính cách trung thành với trật tự siêu việt ấy, cũng như mất đi việc tỏ ra tôn trọng “cái văn phạm” của vấn đề đối thoại là lề luật luân lư phổ quát được in ấn nơi tâm can con người (Cf. John Paul II, "Address to the Fiftieth General Assembly of the United Nations," [5 October 1995], No. 3), bất cứ khi nào việc phát triển toàn diện con người và việc bảo vệ các thứ quyền lợi nống cốt của họ gặp trở ngại hay bị chối bỏ, bất cứ khi nào vô vàn con người ta bị buộc phải chịu đựng những thứ bất chính và bất công bất khả chấp, th́ làm sao chúng ta có thể hy vọng rằng sự thiện ḥa b́nh được hiện thực? Những yếu tố thiết yếu làm nên sự thật của sự thiện ấy bị thiếu hụt. Thánh Âu Quốc Tinh đă diễn tả ḥa b́nh là “transquillitas ordinis”, ("De Civitate Dei," XIX, 13), tức t́nh trạng quân b́nh về trật tự. Nói như thế là ngài có ư nói rằng một t́nh trạng nhằm giúp cho sự thật về con người được hoàn toàn tôn trọng và hiện thực.
5. Bởi vậy, người nào và cái ǵ có thể ngăn cản ḥa b́nh xẩy ra đây? Thánh Kinh, nơi chính suốn sách đầu tiên của ḿnh là cuốn Khởi Nguyên, đă cho thấy cái dối trá điêu ngoa được vang lên ngay khi mở màn lịch sử bởi một con thú có một miệng lưỡi chẻ ra, vật được Thánh Kư Gioan gọi là “cha của các sự dối trá điêu ngoa” (8:44). Dối trá cũng là một trong những tội được nói tới ở chương sau hết cuốn sách cuối cùng của Thánh Kinh đó là cuốn Khải Huyền, thứ tội đă ngăn cản thành phần dối trá vào Giêrusalem thiên quốc: “bên ngoài là… tất cả những ai yêu chuộng sự dối trá” (22:15). Dối trá có liên hệ với thảm trạng tội lỗi cùng với những hậu quả tai hại của nó, những hậu quả đă và c̣n tiếp tục có những tác dụng tàn phá nơi đời sống của cá nhân cũng như của chư quốc. Chúng ta chỉ cần nghĩ tới những biến cố của thế kỷ vừa qua, thời điểm mà các chính sách ư hệ và chính trị cố ư muốn bóp méo sự thật và thực hiện việc khai thác cùng sát hại cả một số lượng kinh hoàng những con người nam nữ, tiêu diệt hết các gia đ́nh và cộng đồng. Sau những kinh nghiệm như thế, làm sao chúng ta lại không thận trọng quan tâm tới những thứ dối trá trong thời đại của chúng ta đây, những thứ dối trá trở thành bối cảnh cho những viễn tượng đe dọa chết chóc nơi nhiều phần đất trên thế giới. Bất cứ một cuộc t́m cầu chân chính nào giành cho ḥa b́nh đều cần phải được bắt đầu từ việc nhận thức rằng vấn đề sự thật và dối trá là mối quan tâm của hết mọi con người nam nữ; nó là những ǵ quyết định cho tương lai an b́nh của trái đất chúng ta đây.
(Diễn từ ngỏ cùng Phái Đoàn Ngoại Giao dịp Tân Niên 2006 ngày 9/1)
Ḥa b́nh, than ôi, đang bị trở ngại hay phá hăi hoặc bị đe dọa ở nhiều phần đất trên thế giới. Đâu là đường lối dẫn đến ḥa b́nh? Trong Sứ Điệp tôi gửi cho Ngày Thế Giới Ḥa B́nh năm nay, tôi đă nói rằng: ‘Bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào con người nam nữ được soi động bằng ánh quang chân lư, th́ họ mới có thể bắt đầu con đường ḥa b́nh’ (đoạn 3). Ḥa B́nh trong chân lư”.
Việc dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lư.
Điểm thứ nhất đó là việc dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lư. Những ai dấn thân cho sự thật không thể nào kại không loại trừ đi luật của sức mạnh là thứ luật bắt nguồn từ dối trá và rất hay thường gây thê lương cho lịch sử của con người, quốc gia cũng như quốc tế. Cái dối trá này thường tỏ ḿnh ra như là chân lư, nhưng thực tế bao giờ nó cũng là những ǵ chọn lựa và có dụng ư, vị kỷ mưu đồ mạo dụng con người, để rồi cuối cùng khống chế con người. Những chế độ chính trị trong quá khứ, song không phải chỉ có trong quá khứ, đă là một điển h́nh xót xa về điều này. Ngược lại, có sự thật và sự trung thực là những ǵ dẫn đến việc gặp gỡ người khác, dẫn đến việc chân nhận và cảm thông: sự thật không thể nào không tỏa ra qua ánh quang nổi bật của ḿnh – rạng ngời chân lư splendor veritatis; và ḷng mến yêu sự thật tự bản chất là những ǵ hướng tới sự hiểu biết cũng như việc tái hữu nghị một cách chính đáng và vô tư không thiên vị, cho dù có khó khăn mấy đi nữa. ……
Điểm thứ hai tôi muốn nói tới là thế này: việc dấn thân cho sự thật là những ǵ thiết lập và củng cố quyền tự do. Cái cao cả đặc thù của con người trên hết là ở khả năng nhận biết chân lư. Và con người muốn biết sự thật. Tuy nhiên, sự thật chỉ có thể đạt được trong tự do. Điều này áp dụng cho tất cả mọi sự thật, như hiển nhiên thấy nơi lịch sử của khoa học; thế nhưng nổi bật nhất là những sự thật mà trong đó chính bản thân thực sự của con người lại đang gặp nguy hiểm, những sự thật về thần linh, những sự thật về thiện ác, về những mục đích cao cả và về chân trời của cuộc sống, về những liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa. Những sự thật này không thể đạt tới mà lại không mang lại thành quả sâu xa cho đường lối sống của chúng ta. Và một khi được tự do chiếm đoạt, chúng đ̣i hỏi một phạm vi rộng lớn của tự do, nếu chúng được sống một cách xứng hợp với hết mọi chiều kích của đời sống con người……
Giờ đây tôi sang tới điểm thứ ba, đó là việc dấn thân cho chân lư là những ǵ mở đường cho thứ tha và ḥa giải. Cái liên kết cần thiết giữa ḥa b́nh và việc dấn thân cho chân lư này đă làm xuất phát ra t́nh trạng chống đối như thế này, đó là những xác tín khác nhau về chân lư gây ra những thứ căng thẳng, hiểu lầm, tranh căi, và nếu tất cả những t́nh trạng ấy càng trở nên nghiêm trọng hơn th́ các niềm xác tín lại càng sâu xa hơn ở bên trong những t́nh trạng ấy. Theo gịng lịch sử th́ những cái khác biệt ấy đă gây ra những cuộc đụng độ bạo lực, những cuộc xung đột về xă hội và chính trị, thậm chí những trận chiến tranh về tôn giáo nữa. Đó là sự thật không thể phủ nhận, thế nhưng, trong tất cả những trường hợp như thế, nó là thành quả của một chuỗi những nguyên nhân đồng phát chẳng dính dáng mấy hay chẳng dính dáng ǵ tới sự thật hay tôn giáo cả, mà do đó bao giờ nó cũng chỉ v́ phương tiện được sử dụng không thích hợp với việc chân thành dấn thân cho chân lư hay với việc tôn trọng tự do theo đ̣i hỏi của chân lư. Đây là vấn đề liên quan tới Giáo Hội Công Giáo, liên quan tới những lầm lẫn trầm trọng xẩy ra trong quá khứ bởi một số phần tử của Giáo Hội cũng như bởi những tổ chức của Giáo Hội, Giáo Hội đă lên án những lầm lỗi ấy và đă không ngần ngại lên tiếng xin thứ tha. Điều này là những ǵ cần phải thực hiện theo đ̣i hỏi của việc dấn thân cho chân lư. …
Giờ đây, Thưa Quí Vị Lănh Sự, tôi xin nói đến điểm cuối cùng: đó là việc dấn thân cho ḥa b́nh mở đường cho những niềm hy vọng mới. Ở một nghĩa nào đó th́ đây là điểm đúc kết tất cả những ǵ tôi nói tới. Con người có khả năng biết được sự thật! Họ có một khả năng liên quan tới các vấn đề quan trọng đối với hữu thể và tác hành: là một cá nhân và là một phần tử của xă hội, hoặc một nước hay toàn thể nhân loại. Ḥa b́nh, những ǵ họ có thể và cần phải dấn thân cho, không phải chỉ là t́nh trạng im hơi lặng tiếng cuộc đụng chạm vũ khí; hơn thế nữa, nó là một thứ ḥa b́nh có thể phấn khích những nghị lực mới trong các mối liên hệ quốc tế, những mối liên hệ trở thành phương tiện ǵn giữ ḥa b́nh. Thế nhưng, điều này có thể xẩy ra nếu những mối liên hệ ấy đáp ứng sự thật về con người và về phẩm giá của họ. Bởi thế mà người ta không thể nói về ḥa b́nh ở những trường hợp con người thiếu thốn cả đến những nhu cầu căn bản nhất để sống xứng với phẩm giá của họ. Ở đây, tôi nghĩ tới vô vàn con người đang chịu đựng đói khổ. Không thể nói rằng họ sống trong ḥa b́nh, cho dù họ không ở trong t́nh trạng chiến tranh: thật vậy họ là những nạn nhân bất khả tự vệ của chiến tranh. Ngay sau đó là những h́nh ảnh buồn thảm của các trại khổng lồ khắp thế giới cho những người di tản và tị nạn, thành phần sống trong những điều kiện hết sức cố gắng để thoát khỏi số phận tệ hại song vẫn sống trong cảnh thiếu thốn thảm khốc. Chẳng lẽ những con người này không phải là anh chị em của chúng ta hay sao? Con cái của họ không vào đời có cùng những niềm mong đợi được hạnh phúc như những đứa trẻ khác hay sao? Người ta cũng có thể nghĩ tới tất cả những ai bị những điều kiện sinh sống bất xứng buộc phải di tản xa nhà cửa và gia đ́nh, ôm niềm hy vọng có được một cuộc sống nhân bản hơn. Chúng ta cũng không bỏ qua được nạn buôn người vẫn c̣n là những ǵ hổ ngươi ô nhục trong thời đại của chúng ta.
(Huấn Từ ngỏ cùng Phái Đoàn Pháp Đ́nh Rôta Rôma ngày 27/1/2007)
Năm ngoái, ở cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với quí vị, tôi đă t́m cách khảo sát những đường lối để thắng vượt cái tương phản hiển nhiên giữa nội dung của những nguyên nhân nơi việc hủy hôn với mối quan tâm chân thực về mục vụ. Theo chiều hướng ấy th́ ḷng mến chuộng chân lư hiện lên như một điểm qui hợp giữa tiến tŕnh cứu xét và việc mục vụ trợ giúp con người. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng nơi những nguyên nhân của việc giải hôn, th́ sự thật về pháp lư chất chứa chính ‘sự thật về hôn nhân’. Thế nhưng, câu phát biểu ‘sự thật về hôn nhân’ đây đang mất đi tầm quan trọng hiện hữu của nó nơi một môi trường văn hóa thấm đẫm những ǵ là tương đối chủ nghĩa và thực chứng chủ nghĩa về pháp lư, một thứ thực chứng chủ nghĩa về pháp lư coi hôn nhân như là một thứ hợp thức hóa thuần túy về xă hội các mối liên hệ về cảm xúc.
Bởi thế, hôn nhân chẳng những trở thành những ǵ ngẫu nhiên t́nh cờ phụ thuộc, như chính cảm t́nh của con người, hôn nhân c̣n được tŕnh bày cho thấy như là một thứ siêu cấu trúc pháp lư của ư muốn con người, một thứ hôn nhân có thể được mạo dụng lèo lái một cách độc đoán, và thậm chí c̣n có thể bị tước mất đi tính chất dị tính của nó nữa.
Cuộc khủng hoảng về ư nghĩa của hôn nhân này cũng đang ảnh hưởng tới thái độ của nhiều tín hữu. Những hiệu quả thực tế của những ǵ được tôi gọi là ‘việc dẫn giải có tính cách bất liên tục và đoạn tuyệt’ đối với giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II (cf. Address to the Roman Curia, 22 December 2005; L'Osservatore Romano English edition [ORE], 4 January 2006, p. 4), là những ǵ được đặc biệt cảm nghiệm thấy một cách rơ ràng nơi lănh vực hôn nhân và gia đ́nh.
Thật vậy, đối với một số người th́ giáo huấn của công đồng về hôn nhân, nhất là việc diễn tả cơ cấu này như ‘intima communitas vitae et amoris – cộng đồng mật thiết của sự sống và yêu thương’ (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội ‘Vui Mừng và Hy Vọng’, khoản 48), cần phải dẫn tới chỗ phủ nhận cái hiện hữu của mối giây phối ngẫu bất khả phân ly, v́ giáo huấn ấy là vấn đề của một thứ ‘lư tưởng’ mà ‘thành phần Kitô hữu b́nh thường’ không thể nào ‘bị ép buộc’ theo đuổi.
Đúng thế, hiện cũng đang lan tràn ở một số lănh vực trong giáo hội cho rằng thiện ích về mục vụ của con người trong t́nh trạng hôn nhân bất thường là những ǵ đ̣i phải thực hiện một thứ qui tắc hóa về giáo luật, không dính dáng ǵ tới vấn đề hiệu thành hay vô hiệu cuộc hôn nhân của họ, tức là không liên quan ǵ tới ‘sự thật’ về t́nh trạng riêng tư của họ. Tiến tŕnh công bố vô hiệu hôn nhân thực sự được coi như là một phương tiện về pháp lư để đạt được mục tiêu ấy, theo lập luận là luật lệ trở thành những ǵ hợp thức hóa các đ̣i hỏi chủ quan. Về vấn đề này, trước hết cần phải vạch ra rằng Công Đồng Chung Vaticanô II thực sự đă diễn tả hôn nhân như là một cộng đồng mật thiết của sự sống và yêu thương - intima communitas vitae et amoris, thế nhưng, cộng đồng này, theo truyền thống của Giáo Hội, được ấn định bởi cả một loạt nguyên tắc của luật lệ thần linh làm nên ư nghĩa nhân loại học đích thực và vĩnh tại của nó (xem cùng nguồn vừa dẫn).
Ngoài ra, các Giáo Huấn của Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, cũng như hành động về pháp lư của cả Bộ Giáo Luật Latinh và Đông Phương, đă áp dụng Công Đồng Chung Vaticanô II, bằng việc trung thành dẫn giải liên quan tới cả tín lư và kỷ luật của hôn nhân, nhờ đó đă kiên tŕ với nỗ lực của công đồng trong việc ‘canh tân’ hay ‘canh tân một cách liên tục’ (cf. Address to the Roman Curia, op. cit.). Diễn tiến này được căn cứ vào chủ trương bất khả tranh căi là hôn nhân có một sự thật riêng biệt – sự thật đó là, nhờ Lời Chúa sáng soi, con người biết được thực tại khác nhau về phái tính nơi người nam và người nữ, cùng với nhu cầu sâu xa của họ trong việc họ cần phải bổ khuyết lẫn nhau, cần phải trọn vẹn hiến thân cho nhau và chỉ thuộc về nhau thôi – và việc nhận thức về sự thật này cùng với việc đào sâu lư lẽ và đức tin về sự thật ấy là những ǵ ḥa hợp góp phần.
Sự thật về nhân loại học và cứu độ của hôn nhân – cũng theo chiều kích pháp lư của nó – là những ǵ đă được tŕnh bày trong Thánh Kinh. Rơ ràng nhất là câu Chúa Giêsu trả lời cho những người Pharisiêu muốn hỏi ư của Người về tính cách pháp lư hợp lệ của vấn đề ruồng rẫy vợ: ‘Quí vị không đọc thấy hay sao Ngài là Đấng từ ban đầu đă dựng nên họ có nam có nữ, và phán v́ lư do này mà người nam sẽ ĺa bỏ cha mẹ ḿnh mà liên kết với vợ ḿnh, rồi cả hai sẽ thành một? Vậy họ không c̣n là hai song là một. Bởi vậy những ǵ Thiên Chúa đă liên kết th́ không ai được phân rẽ’ (Mt 19:4-6).
Những lời trích dẫn từ Sách Khởi Nguyên (1:27; 2:24) ấy cho thấy sự thật về hôn nhân theo ‘nguyên tắc’, một sự thật được nên trọn ở mối hiệp nhất giữa Chúa Kitô với Giáo Hội (x Eph 5:30-31), và trở thành đối tượng cho những chia sẻ sâu rộng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong loạt bài giáo lư về t́nh yêu của con người theo dự án thần linh.
Căn cứ vào mối hiệp nhất lưỡng diện này của đôi phối ngẫu mới có thể thực hiện một khoa nhân loại học về hôn nhân theo pháp lư đích thực. Bởi thế mà những lời kết luận của Chúa Giêsu mới là những ǵ đặc biệt sáng tỏ: ‘Vậy những ǵ Thiên Chúa đă liên kết th́ không ai được phân ly’. Dĩ nhiên hết mọi cuộc hôn nhân là thành quả của việc tự do đồng ư lấy nhau của người nam và người nữ, thế nhưng trong thực tế th́ quyền tự do này của họ bày tỏ cái khả năng tự nhiên được bẩm sinh nơi nam tính và nữ tính của họ.
Mối liên kết này diễn ra bởi chính dự án của Thiên Chúa là Đấng đă dựng nên họ có nam có nữ và ban cho họ khả năng vĩnh viễn liên kết những chiều kích tự nhiên và bổ khuyết của con người họ.
Tính cách bất khả phân ly của hôn nhân không xuất phát từ quyết tâm vĩnh viễn của những ai hứa quyết giữ nó, mà là những ǵ nội tại theo bản chất của ‘mối liên hệ mănh liệt do Đấng Hóa Công thiết lập’ (John Paul II, Catechesis, General Audience 21 November 1979, n. 2; ORE, 26 November 1979, p, 1).
Con người lập gia đ́nh cần phải dứt khoát dấn thân cho hôn nhân v́ hôn nhân thuộc về dự án tạo dựng và cứu chuộc. Và tính chất pháp lư thiết yếu này của hôn nhân là những ǵ thực sự vốn có ở nơi mối liên hệ hôn nhân ấy, một tính chất hôn nhân đối với nam nhân cũng như đối với nữ nhân là những ǵ tiêu biểu cho việc đ̣i hỏi của công lư và yêu thương, những đ̣i hỏi mà họ, v́ thiện ích của họ cũng như của tất cả mọi người, không được hủy bỏ kẻo phản nghịch lại với những ǵ được chính Thiên Chúa ghi khắc nơi họ.
Cần phải học hỏi về khía cạnh này hơn nữa, chẳng những v́ quí vị đóng vai tṛ là thành phần luật sư giáo luật, mà c̣n v́ việc hiểu biết toàn diện về cơ cấu hôn nhân này cũng cần phải được sáng tỏ nơi chiều kích thẩm quyền của nó nữa. Tuy nhiên, những quan niệm về bản chất của mối liên hệ này có thể rất khác nhau. Đối với chủ nghĩa thực chứng th́ phạm vi pháp lư của mối liên hệ hôn nhân chỉ là thành quả của vấn đề áp dụng một thứ tiêu chuẩn hợp lệ và hiệu nghiệm chính thức của con người mà thôi. Như thế, thực tại về sự sống và t́nh yêu hôn nhân của con người là những ǵ nằm ở ngoài cơ cấu ‘hợp lư’ của hôn nhân. Giữa luật lệ và đời sống của con người nẩy sinh một thứ gián đoạn hoàn toàn chối bỏ cái khả thể của một nền tảng về nhân loại học nơi luật lệ.
Vai tṛ truyền thống của Giáo Hội là những ǵ hoàn toàn khác biệt nơi việc hiểu biết chiều kích hợp lư của mối hiệp nhất hôn nhân theo giáo huấn của Chúa Giêsu, của các Tông Đồ và của các Đức Thánh Cha. Thánh Âu Quốc Tinh chẳng hạn, khi trích lại lời của Thánh Phaolô, đă mạnh mẽ khẳng định rằng: ‘Cui fidei (coniugali) tantum iuris tribuit Apostolus, ut eam potestatem appellaret, dicens: Mulier non habet potestatem corporis sui, sed vir, similiter autem et vir non habet potestatem corporis sui, sed mulier (1Cor 7:4)’ (De Bono Coniugali, 4, 4).
Thánh Phaolô, vị giải thích rất sâu xa trong Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô về ‘mầu nhiệm cao cả – mysterion mega’ của t́nh yêu phối ngẫu liên quan tới mối hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (5:22-31), đă không ngần ngại áp dụng vào hôn nhân những từ ngữ pháp lư mạnh mẽ nhất để nói lên mối liên hệ hợp lư thắt kết các đôi phối ngẫu lại nơi chiều kích phái tính của họ. Đối với Thánh Âu Quốc Tinh cũng thế, tính cách pháp lư là những ǵ thiết yếu nơi mỗi một thiện ích trong thứ 3 thiện ích (proles, fides, sacramentum) làm nồng cốt cho chủ trương tín lư về hôn nhân của ngài.
Trước t́nh trạng tương đối hóa theo chủ quan và tự do nơi cảm nghiệm về tính dục, truyền thống của Giáo Hội minh nhiên khẳng định tính chất hợp lư tự nhiên của hôn nhân, tức là sự kiện tự bản chất nó thuộc về phạm vi của công lư nơi những tương quan liên ngôi vị.
Theo chiều hướng ấy th́ luật lệ thực sự được đan kết với sự sống và yêu thương như là một trong những trách nhiệm nội tại của việc nó hiện hữu. Thế nên, như tôi đă viết trong Bức Thông Điệp đầu tay của ḿnh, ‘theo quan điểm của việc tạo dựng th́ eros – t́nh ái là những ǵ hướng con người tới hôn nhân , đến một mối liên hệ đặc thù và tối hậu; nhờ đó và chỉ nhờ đó nó mới hoàn trọn mục đích sâu xa nhất của nó’ (Deus Caritas Est, n. 11).
Bởi vậy, t́nh yêu và luật lệ có thể liên kết ở chỗ bảo đảm là người chồng và người vợ mắc nợ lẫn nhau thứ t́nh yêu nhờ đó họ tự nhiên yêu thương nhau: t́nh yêu trong họ này là hoa trái của ḷng họ tự do mong ước thiện ích của nhau và của con cái họ; t́nh yêu, ngoài ra, c̣n là một đ̣i hỏi yêu thương cho thiện ích thực sự của bản thân họ.
Tất cả mọi hoạt động của Giáo Hội cũng như của tín hữu trong lănh vực gia đ́nh, cần phải dựa vào sự thật về hôn nhân này cùng với chiều kích hợp lư nội tại của nó. Cho dù như vậy, như tôi đă nhắc nhở trước đây, cái tâm thức tương đối, một cách công khai hay tinh quái không nhiều th́ ít, cũng có thể lọt vào cộng đồng giáo hội.
Quí vị đă quá rơ đó là mối nguy cơ của thời đại chúng ta, một mối nguy cơ đôi khi được thể hiện nơi những thứ dẫn giải méo mó về những qui tắc giáo luật đang có hiệu lực. Người ta cần phải đáp lại khuynh hướng này một cách can đảm và tin tưởng, liên lỉ áp dụng việc dẫn giải có tính cách canh tân trong liên tục, chứ đừng để ḿnh bị dụ dẫm bởi những h́nh thức dẫn giải dính dáng tới một thứ đứt đoạn với truyền thống Kitô Giáo.
Những đường lối ấy là những ǵ dẫn đến chỗ tách khỏi yếu tính thực sự của hôn nhân, cũng như khỏi chiều kích hợp lư nội tại của nó, và ẩn nấp dưới những danh xưng hấp dẫn khác nhau không nhiều th́ ít, t́m cách che đậy một thực tại giả tạo về hôn nhân.
Bởi vậy đôi khi vấn đề tiến tới chỗ chủ trương rằng chẳng có ǵ là đúng hay sai trong mối liên hệ vợ chồng cả, nếu nó tương hợp với việc chiếm đạt được những khát vọng chủ quan của mỗi bên. Theo chiều hướng này th́ ư nghĩ về hôn nhân bị chao đảo ‘in facto esse’ giữa những mối liên hệ thực sự với chiều kích thực chứng về pháp lư, khi coi thường yếu tính của nó vốn là một mối liên hệ nội tại chính đáng giữa những ngôi vị của người nam và người nữ.
Việc đóng góp của các ṭa án của giáo hội trong việc thắng vượt cuộc khủng khoảng về ư nghĩa của hôn nhân, trong Giáo Hội cũng như nơi xă hội dân sự, đối với một số người có thể được coi như là một cái ǵ đó phụ thuộc hay chẳng quan trọng là bao.
Tuy nhiên, chính v́ hôn nhân có một chiều kích hợp lư nội tại, mà việc trở nên những người tôi tớ khôn ngoan và tin tưởng của công lư trong lănh vực tế nhị và rất quan trọng này có một giá trị chứng từ đáng kể và trở thành một thứ tái bảo đảm sâu xa cho tất cả mọi người. Quị Kiểm Thính Viên Giáo Phẩm thân mến, quí vị đang dẫn đầu cuộc dấn thân lănh một trách nhiệm đối với sự thật được thể hiện một cách đặc biệt trong thời đại của chúng ta.
Trong việc tỏ ra trung thành với công việc của ḿnh, hăy tin tưởng rằng hành động của quí vị thích hợp một cách hài ḥa với việc tài nhận thức được toàn diện vẻ đẹp của ‘sự thật về hôn nhân’, sự thật về ‘nguyên tắc’ được Chúa Giêsu đă trọn vẹn dạy cho chúng ta và là nguyên tắc được Thánh Thần tiếp tục nhắc nhở chúng ta trong Giáo Hội ngày nay.
(Huấn Từ ngỏ cùng Phái Đoàn Pháp Đ́nh Rôta Rôma ngày 28/1/2006)
Trong cuộc gặp gỡ của tôi với quí vị lần đầu tiên đây, tôi muốn chú ư tới một khía cạnh tiêu biểu cho vấn đề gặp gỡ chính yếu giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ, đó là việc yêu chuộng chân lư. Ngoài ra, bằng việc khẳng định này, tôi muốn liên kết trong tinh thần với chính những ǵ vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đă nói với quí vị trong bài huấn từ của ngài năm ngoái (Jan. 29, 2005; ORE, Feb. 2, p. 3).
Những thủ tục theo giáo luật để hủy hôn chính yếu là phương tiện để bảo đảm sự thật về mối liên hệ phối ngẫu. Bởi thế, mục đích xây dựng của nó không được làm cho đời sống tín hữu trở thành phức tạp một cách vô ích, lại càng không làm tăng thêm việc tranh chấp kiện tụng của họ, mà là để phục vụ sự thật.
Ngoài ra, cơ cấu xét xử nói chung tự nó không phải là một phương tiện để làm thỏa măn bất cứ một thứ khuynh hướng nào, mà là một khí cụ xứng đáng trong việc đáp ứng nhiệm vụ của đức công bằng để cống hiến cho mỗi người những ǵ xứng với họ.
Chính v́ cơ cấu thiết yếu của ḿnh mà việc xét xử thiết lập v́ công lư và cho ḥa b́nh. Thật thế, mục đích của các thủ tục là để công bố về sự thật bởi phía bất thiên vị thứ ba, sau khi đôi bên đă có cơ hội như nhau để tŕnh bày lư lẽ và chứng cớ của ḿnh hầu rộng đường bàn luận. Cuộc trao đổi ư nghĩ này b́nh thường là những ǵ cần thiết nếu vị thẩm phán muốn khám phá ra sự thật, nhờ đó, mới đi đến phán quyết chính trực. Bởi thế, hết mọi cơ chế xét xử cần phải nỗ lực để bảo đảm tính chất khách quan, nhanh chóng và hiệu năng nơi những quyết định của các vị thẩm phán.
…..
Đến đây tự nhiên hiện lên nhận định thứ hai: đó là không một cuộc điều trần nào ở ṭa án tự bản chất ‘chống lại’ với bên kia, như thể nó là vấn đề gây ra một thiệt hại bất công nào đó. Mục đích của việc xét xử không phải là để lấy mất một sự thiện khỏi bất cứ người nào mà là để thiết lập và bảo vệ con người và các tổ chức quyền làm chủ các sản vật.
Thêm vào vấn đề này, một vấn đề có hiệu lực nơi mọi cuộc xét xử, c̣n có một vấn đề khác chuyên biệt hơn nơi những giả thiết về việc hủy hôn. Ở đây, đôi bên không tranh giành một thứ sở hữu nào đó cần phải giành cho bên này hay bên kia. Mục đích của việc xét xử là để công bố sự thật liên quan tới tính chất hiệu thành hay bất hiệu thành của một cuộc hôn nhân thực sự, nói cách khác, là để công bố về thực tại làm nên cơ cấu gia đ́nh, và là những ǵ sâu xa liên quan tới Giáo Hội cũng như xă hội dân sự.
Như thế, có thể nói rằng nơi kiểu mẫu xét xử này, chính Giáo Hội là nơi được yêu cầu thực hiện việc công bố ấy. Nếu tự nhiên cho rằng việc thành hiệu của một cuộc hôn nhân đă được chính thức thiết lập, th́ vị Tiền Nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XIV, một giáo luật gia ngoại hạng, đă nghĩ đến và buộc phải có trong những thủ tục ấy sự tham dự của biện hộ viên cho mối liên hệ này ở cuộc xét xử được nói tới (cf. apostolic constitution "Dei Miseratione," Nov. 3, 1741). Bởi thế, việc biện chứng của các thủ tục để biết chắc được sự thật sẽ được bảo đảm hơn nữa.
Như việc biện chứng của các thủ tục ấy dẫn chúng ta tới chỗ hiểu được tiêu chuẩn của việc t́m kiếm sự thật thế nào th́ nó cũng có thể giúp chúng ta nắm được một khía cạnh khác của vấn đề pháp lư: đó là giá trị mục vụ của vấn đề pháp lư, một giá trị không thể được tách khỏi ḷng mến yêu chân lư.
Thật thế, có thể xẩy ra trường hợp là đức ái về khía cạnh mục vụ đôi khi bị ô nhiễm bởi những thái độ ve vuốt chiều chuộng đôi bên. Những thái độ này có vẻ như là mục vụ song thực tế chúng không đáp ứng với sự thiện của cá nhân, hay với sự thiện của cộng đồng Giáo Hội; bằng việc tránh né đương đầu với sự thật cứu độ th́ những thái độ ấy thậm chí trở thành những ǵ bất lợi cho việc gặp gỡ cứu độ của mỗi người với Chúa Kitô.
Nguyên tắc về tính cách bất khả phân ly của hôn nhân được Dức Gioan Phaolô II mạnh mẽ xác nhận (cf. addresses: Jan. 21, 2000, in ORE, Jan. 26, 2000, p. 1; Jan. 28, 2002, in ibid., Feb. 6, 2002, p. 6) liên quan tới tính cách nguyên vẹn của mầu nhiệm Kitô Giáo.
Tiếc thay, ngày nay, chúng ta có thể nhận thấy là sự thật này đôi khi bị lu mờ đi trong lương tâm của Kitô hữu và của con người thiện tâm. V́ chính lư do này mà việc phục vụ ấy, được cống hiến cho thành phần tín hữu cũng như cho những đôi phối ngẫu ngoài Kitô Giáo gặp khó khăn, là những ǵ gian xảo lọc lừa: Nó củng cố nơi họ, một cách ngấm ngầm, khuynh hướng quên đi tính cách bất khả phân ly của việc họ hiệp nhất.
Như thế, việc can thiệp khả dĩ của tổ chức giáo hội để hủy hôn có nguy cơ gặp thất bại.
Tuy nhiên, sự thật được t́m kiếm trong tiến tŕnh hủy hôn không phải là một sự thật trừu tượng, một sự thật hoàn toàn tách khỏi sự thiện của cá nhân trong cuộc. Nó là một sự thật hoàn toàn thuộc về cuộc hành tŕnh nhân bản và Kitô giáo của mỗi một người tín hữu. Bởi vậy, thật là quan trọng đối với vấn đề tuyên bố về sự thật này cần phải xẩy ra trong khoảng thời gian hữu lư.
Đấng Quan Pḥng Thần Linh chắc chắn biết cách rút lấy sự thiện từ sự dữ, cho dù các cơ cấu của Giáo Hội có bỏ bê lơ là với nhiệm vụ của ḿnh hay có vấp phạm lầm lẫn chăng nữa.
Tuy nhiên, cần phải mang hoạt động về cơ cấu của Giáo Hội nơi các pháp ṭa của Giáo Hội gần gũi hơn nữa với thành phần tín hữu. Ngoài ra, cảm quan mục vụ này cần phải tiến tới chỗ tránh đi việc hủy hôn khi đôi phối ngẫu t́m cách lập gia đ́nh, cũng như tới chỗ nỗ lực giúp các đôi phối ngẫu giải quyết các vấn đề có thể xẩy ra và t́m đường lối giải quyết ḥa giải. Tuy nhiên, chính cái cảm quan mục vụ ấy đối với những trường hợp thực tế của cá nhân cần phải làm sao dẫn tới việc bảo toàn chân lư và áp dụng các qui tắc được qui định để bảo vệ nó trong cuộc xét xử.
(Huấn Từ ngỏ cùng Hội Nghị Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin 10/2/2006)
Chúa Giêsu Kitô là Sự Thật Được Nhân Cách Hóa, Đấng thu hút thế giới về với ḿnh. Ánh sáng từ Chúa Giêsu chiếu tỏa là ánh quang chân lư. Hết mọi thứ sự thật khác là một mảnh của Sự Thật là Người và về Người này.
Chúa Giêsu là Ngôi Sao Bắc Đẩu của tự do con người: Không có Người, tự do bị mất đi cái cảm quan về chiều hướng, v́ thiếu kiến thức về sự thật th́ tự do bị suy thoái, trở thành cô lập và tác hành một cách vô công hiệu.
Với Người, tự do được tái nhận thức; nó được nh́n nhận là được dựng nên cho thiện ích của chúng ta và được thể hiện qua các hành động cùng cử chỉ bác ái.
Bởi thế Chúa Giêsu làm cho con người nam nữ được hoàn toàn thân mật với sự thật và tiếp tục mời gọi họ hăy sống trong sự thật. Nó là sự thật được cống hiến như là một thực tại phục hồi con người đồng thời vượt trên con người và ở trên con người, như một Mầu Nhiệm bao gồm và đồng thời vượt quá khả năng của lư trí con người.
Không ǵ có thể thay thế được ḷng mến yêu chân lư thúc đẩy con người hướng đến những chân trời chưa được khám phá. Chúa Giêsu Kitô, Đấng là toàn chân, lôi kéo tâm hồn của mỗi một con người, mở rộng nó và làm cho nó tràn nay niềm vui. Thật vậy, chỉ một ḿnh sự thật mới có thể chiếm đoạt tâm trí và làm cho nó trọn vẹn hân hoan.
Chính niềm vui này làm gia tăng các chiều kích của tâm can con người, làm cho nó thoát khỏi tính cách hẹp ḥi của ḷng vị kỷ và cống hiến cho nó khả năng yêu thương đích thực. Đó là cảm nghiệm của niềm vui thúc nay và thu hút con người đến việc tự do tôn thờ, không phải bằng việc quị lụy đê hèn mà bằng ḷng kính tôn chân thành trước Chân Lư họ gặp gỡ.
Bởi vậy, việc phục vụ cho đức tin, tức việc làm chứng cho Đấng là tất cả Sự Thật, cũng là việc phục vụ niềm vui, và đó là niềm vui Chúa Kitô muốn làm tràn lan trên khắp thế giới: Nó là niềm vui của ḷng tin tưởng nơi Người, của sự thật được Người truyền đạt, của ơn cứu độ xuất phát từ Người! Chính niềm vui này chúng ta cảm thấy trong ḷng khi chúng ta tin tưởng qú xuống tôn thờ Chúa Giêsu!
Ḷng mến yêu chân lư này cũng tác động và hướng dẫn Kitô hữu tiến tới với thế giới hiện đại và với cuộc dấn thân truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, những đề tài được anh chị em bỏ giờ ra để bàn luận trong cuộc hội nghị này của ḿnh.
Giáo Hội hân hoan tiếp nhận những khám phá đích thực của kiến thức con người, và nh́n nhận rằng việc truyền bá phúc âm hóa cũng đ̣i hỏi cần phải thấu triệt một cách xứng hợp những chân trời cùng với những thách đố được kiến thức tân thời khám phá thấy. Thật vậy, mức tiến bộ cả thể của kiến thức khoa học như chúng ta đă thấy trong thế kỷ vừa qua đă giúp chúng ta hiểu được mầu nhiệm tạo dựng hơn và có một tính cách nhận thức sâu xa về tất cả mọi dân tộc.
Tuy nhiên, những tiến bộ của khoa học đôi khi nhanh đến nỗi làm cho việc nhận thức trở thành khó khăn ở chỗ không biết rằng chúng có phù hợp với các chân lư về con người và về thế giới như Thiên Chúa mạc khải cho biết hay chăng. Có những lúc, có những chủ trương theo kiến thức khoa học chống lại các sự thật này. Điều này làm cho tín hữu bị lẫn loan cách nào đó, khiến cho việc loan báo và chấp nhận Phúc Âm trở thành khó khăn.
Bởi thế, hết mọi việc học hỏi nghiên cứu nhắn đến chỗ đào sâu kiến thức về những chân lư được lư trí khám phá ra đều là những ǵ hết sức quan trọng, với niềm xác tín rằng không có “vấn đề tranh chấp nhau giữa lư trí và đức tin” (Thông Điệp Đức Tin và Lư Trí, khoản 17).
Chúng ta không được sợ hăi khi phải đối diện đương đầu với thách đố này: Chúa Giêsu Kitô thật sự là Chúa của tất cả mọi tạo sinh và của tất cả lịch sử. Người tín hữu quá biết rằng “tất cả mọi sự được tạo doing nên nhờ Người và cho Người… và trong Người tất cả mọi sự được liên kết với nhau” (Col 1:16,17).
Bằng việc liên tục đào sâu kiến thức về Chúa Kitô, trung tâm của vũ trụ và của lịch sử, chúng ta có thể cho con người nam nữ trong thời đại chúng ta thấy được rằng niềm tin tưởng nơi Người là những ǵ quan trọng đối với tương lai của nhân loại: Thật vậy, nó là việc hoàn thành cho tất cả những ǵ là nhân loại chân thực. Chỉ ở nơi quan điểm này chúng ta mới có thể cung ứng những giải đáp thuyết phục cho con người đang t́m kiếm chân lư.
Việc dấn thân này là những ǵ hết sức hệ trọng cho việc loan báo và truyền đạt đức tin trong thế giới hiện đại. Thật thế, ngày nay công việc truyền bá phúc âm hóa là một ưu tiên khẩn trương và đ̣i phải thực hiện việc dấn thân tương xứng.
Cuộc đối thoại giữa đức tin và lư trí, giữa tôn giáo và khoa học, không những làm cho nó có thể tỏ cho con người trong thời đại của chúng ta thấy được cái hợp t́nh hợp lư của niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa một cách hiệu nghiệm và thuyết phục bao nhiêu có thể, mà c̣n chứng tỏ là việc hoàn toàn măn nguyện hết mọi ước vọng chân thực của con người chỉ có ở nơi Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Về vấn đề này, nỗ lực nghiêm trọng truyền bá phúc âm hóa không thể nào bỏ qua được những vấn đề cũng xuất phát từ các khám phá của khoa học và triết học ngày nay.
Ḷng ước mong t́m thấy chân lư là những ǵ thuộc về chính bản tính của con người. Toàn thể tạo thành là lời mời gọi mănh liệt hăy t́m kiếm những câu giải đáp hướng lư trí con người tới câu đại giải đáp lu6on được nó kiếm t́m và trông đợi: “Chân lư của mạc khải Kitô Giáo, được thấy nơi Chúa Giêsu Nazarét, là những gí có thể giúp con người nam nữ thấm nhiễm ‘mầu nhiệm’ về chính cuộc sống của họ. Là sự thật tuyệt đối, nó kêu gọi con người hăy hướng tới siêu việt thể, trong khi đó, vẫn tôn trọng tính cách độc lập của một tạo vật và quyền tự do của họ. Về điểm này, mối liên hệ giữa tự do và sự thật mới trọn vẹn, và chúng ta mới hiểu được ư nghĩa hoàn toàn của những lời Chúa Kitô nói:
“Quí vị sẽ nhận biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng quí vị” (Jn 8:32) (Thông Điệp Đức Tin và Lư Trí, đoạn 15).
(Huấn Từ cho Buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư Lễ Tro 1/3/2006)
Đời sống của Kitô hữu là một đời sống đức tin, được đặt nền tảng trên Lời Chúa và được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa. Trong các cơn thử thách của cuộc đời và ở mỗi một chước cám dỗ, cái bí mật chiến thắng là ở chỗ lắng nghe Lời chân lư và cương quyết loại trừ cái gian dối của sự dữ.
Đây là chương tŕnh chân thực và chính yếu của Mùa Chay: đó là lắng nghe Lời chân lư, sống động, nói năng và thực hiện chân lư, loại trừ những thứ dối trá đầu độc nhân loại và mở cờ cho tất cả mọi thứ sự dữ. Bởi thế, trong 40 ngày này, cần phải lằng nghe một lần nữa Phúc Âm, Lời Chúa, Lời chân lư, nhờ đó, nơi hết mọi Kitô hữu, nơi mỗi một người trong chúng ta, cái ư thức ấy đươc củng cố về sự thật được ban bố, về sự thật Người đă ban cho chúng ta, để sống sự thật ấy và trở thành chứng nhân của Người.
Mùa Chay là mùa phấn khích chúng ta hăy để cho Lời Chúa thấu nhập đời sống của chúng ta, nhờ dó chúng ta biết được sự thật nền tảng này, đó là sự thật chúng ta là ai, chúng ta từ đâu đến, chúng ta sẽ đi đâu, chúng ta cần phải đi theo con đường nào trong cuộc đời của chúng ta. Như thế Mùa Chay cống hiến cho chúng ta một cuộc hành tŕnh khổ hạnh và phụng vụ, một cuộc hành tŕnh, khi giúp chúng ta mở mắt ḿnh ra trước những yếu hèn của ḿnh, giúp chúng ta mở ḷng ḿnh ra cho t́nh yêu nhân hậu của Chúa Kitô.
Trong việc đem chúng ta đến gần hơn với Thiên Chúa, cuộc hành tŕnh Mùa Chay c̣n giúp cho chúng ta thấy anh chị em ḿnh cùng với các nhu cầu của họ bằng đôi mắt mới mẻ. Ai bắt đầu thấy được Thiên Chúa, chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô, th́ thấy được anh chị em ḿnh bằng đôi mắt khác, khám phá ra anh chị em ḿnh, sự thiện của ḿnh, sự dữ của ḿnh, nhu cầu của ḿnh.
Đó là lư do, Mùa Chay, v́ là thời gian lắng nghe sự thật mà nó là một thời điểm thuận lợi để trở về với t́nh yêu, v́ sự thật sâu xa này – sự thật về Thiên Chúa – đồng thời cũng là t́nh yêu. Một t́nh yêu có thể mặc lấy thái độ thương cảm và xót thương của Chúa, như tôi muốn nhắc nhở trong Sứ Điệp Mùa Chay năm nay, một sứ điệp có chủ đề là những lời Phúc Âm: “Khi Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng th́ Người động ḷng thương hại họ” (Mt 9:36).
(Sứ Điệp cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI, Lễ Lá 9/4/2006)
Các Vị Tông Đồ đă lănh nhận lời cứu độ và truyền đạt lời này cho thành phần thừa kế của ḿnh như một viên ngọc quí báu được an toàn giữ trong hộp đựng đồ châu báu Giáo Hội: không có Giáo Hội, hạt châu ngọc này có nguy cơ bị mất đi hay bị hủy hoại. Quí bạn trẻ thân mến, quí bạn hăy yêu mến lời Chúa và mến yêu Giáo Hội, nhờ đó quí bạn có thể đến được kho tàng rất ư là quí giá và quí bạn sẽ biết trân quí sự phong phú dồi dào của kho tàng này. Hăy mến yêu và theo Giáo Hội, v́ Giáo Hội đă lănh nhận từ Đấng Sáng Lập của ḿnh sứ vụ tỏ cho con người biết con đường dẫn đến hạnh phúc chân thật. Không dễ dàng nhận ra và t́m được hạnh phúc đích thực trên trần gian là nơi chúng ta đang sống đây, nơi con người thường bị giam cầm bởi những đường lối suy tưởng hiện đại. Họ có thể nghĩ rằng họ ‘tự do’, thế nhưng họ đang bị lừa đảo và lạc hướng giữa những lầm lạc hay ảo tưởng của các thứ ư hệ dị thường. ‘Chính tự do cần phải được giải thoát’ (x Thông Điệp Rạng Ngời Chân Lư, đoạn 86), và bóng tối đang làm con người lần ṃ cần phải được sáng soi. Chúa Giêsu dạy chúng ta làm thế nào để thực hiện được điều ấy, đó là “nếu quí vị nghe lời Tôi th́ quí vị thực sự là môn đệ của Tôi; và quí vị sẽ nhận biết sự thật, rồi sự thật sẽ giải thoát quí vị” (Jn 8:31-32). Lời Nhập Thể, Lời Chân Lư, giải thoát chúng ta và hướng tự do của chúng ta tới thiện hảo. Quí bạn trẻ thân mến, hăy năng suy niệm Lời Chúa, và hăy để cho Thánh Thần dạy dỗ quí bạn. Để rồi quí bạn sẽ khám phá ra rằng đường lối suy tưởng của Thiên Chúa không giống với đường lối suy nghĩ của nhân loại. Quí bạn sẽ thấy ḿnh được dẫn tới chỗ chiêm ngắm Thiên Chúa thực sự và đọc được các biến cố lịch sử bằng ánh mắt của Ngài. Quí bạn sẽ được hoan hưởng trọn vẹn thứ niềm vui xuất phát tự chân lư. Trong cuộc hành tŕnh của cuộc sống, một cuộc hành tŕnh chẳng dễ đi và không thiếu những dối trá, quí bạn sẽ gặp phải những khó khăn cùng đau khổ, và có những lúc quí bạn sẽ tiến đến chỗ kêu lên như thánh vịnh gia rằng: ‘Tôi cảm thấy thật là tái tê’ (Ps 119[118]:7). Quí bạn đừng quên, như vị tác giả thánh vịnh này, thêm rằng: ‘Ôi Chúa, xin hăy ban cho con sự sống theo lời của Ngài… Tôi liên tục sống cuộc đời của ḿnh nhưng không quên lề luật của Chúa’ (như vừa dẫn, các câu 107,109). Sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, qua Lời của Ngài, là ngọn đèn xua tan bóng tối và thắp sáng đường đi nước bước cho dù ở vào những lúc khốn khó nhất.
Vị tác giả của Bức Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái đă viết: ‘Thật thế, lời Chúa th́ sống động và linh hoạt, sắc hơn thanh gươm hai lưỡi, xuyên thấu tâm thần, đến tận xương tủy; lời này có thể thẩm phán tư tưởng và ư hướng của cơi long’ (4:12). Cần thận trọng trước lời khuyến dụ ấy để coi lời Chúa là một ‘khí giới’ bất khả thiếu trong cuộc đối chọi thiêng liêng. Điều ấy sẽ có hiệu năng và sinh hoa kết trái nếu chúng ta biết lắng nghe lời Chúa để rồi tuân giữ lời Chúa. Sách Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo giải thích rằng: ‘Vâng lời (từ tiếng Latinh là ob-audire, tức là ‘nghe thấy hay lắng nghe’) theo đức tin là việc tự ư thuận phục lời đă nghe thấy, v́ sự thật của lời này được Thiên Chúa bảo đảm, Đấng chính là Sự Thật’ (số 144). Trong lúc Abraham làm gương về vấn đề lắng nghe là tuân phục này, th́ phần Solomon chứng tỏ ḿnh là một con người hăng say khai phá đức khôn ngoan được chất chứa nơi Lời Chúa. Khi Thiên Chúa nói cùng vua rằng: ‘Hăy xin điều Ta ban cho ngươi’, vị vua khôn ngoan này trả lời: ‘Vậy xin hăy ban cho tôi tớ Chúa một tấm ḷng hiểu biết’ (1Kgs 3:5,9). Cái bí mật để có được ‘một con tim hiểu biết’ đó là việc huấn luyện cho cơi ḷng của qúi bạn biết lắng nghe. Điều này đạt được nhờ việc liên lỉ suy niệm lời Chúa cũng như bằng việc mạnh mẽ đi sâu vào Lới Chúa qua việc dấn thân kiên tŕ t́m hiểu Lời Chúa hơn nữa.
Quí bạn trẻ thân mến, tôi khuyên quí bạn hăy làm quen với Thánh Kinh, và có Thánh Kinh trong tay để Thánh Kinh trở thành địa bàn chỉ đường dẫn lối bước đi. Nhờ việc đọc Thánh Kinh, quí bạn sẽ biết Chúa Kitô. Hăy ghi nhớ những ǵ Thánh Giêrônimô nói về vấn đề này là: ‘Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô” (Pl 24,17; x Hiến Chế Lời Chúa, đoạn 25). Đường lối một thời được trân trọng để học hỏi và thưởng thức lời Chúa đó là lectio divina, một đường lối trở thành cuộc hành tŕnh thiêng liêng thực sự qua các giai đoạn của nó. Sau khi lectio là việc đọc đi đọc lại một đoạn Thánh Kinh, để rồi căn cứ vào những yếu tố chính của đoạn này, chúng ta tiến tới việc meditatio - suy niệm. Đó là giây phút suy tư trong long, nhờ đó linh hồn hướng về Thiên Chúa và cố gắng hiểu những ǵ lời Ngài có ư muốn nói với chúng ta hôm nay đây. Đoạn tới việc oratio là lúc lân la nói chuyện trực tiếp với Thiên Chúa. Sau hết, chúng ta tiến đến chỗ comtemplatio – chiêm niệm. Điều này giúp chúng ta giữ ḷng của ḿnh chuyên chú trước sự hiện diện của Chúa Kitô, Đấng có lời là ‘đèn soi trong tăm tối, cho đến khi ngày rạng đông và sao mai hiện lên trong long anh em’ (2Pt 1:19). Đọc lời Chúa, t́m hiểu lời Chúa và suy niệm lời Chúa, bởi thế, cần phải biến thành một đời sống liên lỉ trung thành với Chúa Kitô và các giáo huấn của Người.
(Huấn Từ cho Văn Pḥng Quốc Vụ Khanh Ṭa Thánh và Thành Phần Đại Diện Ṭa Thánh Ở Các Tổ Chức Quốc Tế hôm Thứ Bảy 19/3/2006)
Những mối liên hệ giữa các quốc gia và trong quốc gia là những ǵ chân chính nếu chúng biết tôn trọng chân lư. Tuy nhiên, một khi sự thật bị coi thường th́ ḥa b́nh bị đe dọa, luật lệ gặp nguy khốn, kéo theo một hậu quả hợp t́nh hợp lư nữa đó là t́nh trạng bất công và tháo thứ. Đó là những lằn biên giới phân chia các quốc gia một cách c̣n sâu xa hơn cả những giới hạn được phác vẽ trên bản đồ địa dư, và thường chẳng những là những biên cương bờ cơi ngoại tại mà c̣n là nội tại đối với các quốc gia nữa.
Những thứ bất chính ấy cũng có những bộ mặt mới. Chẳng hạn, bộ mặt của tính cách thờ ơ lănh đạm và hỗn loạn xẩy ra gây hại cho cơ cấu gia đ́nh là tế bào căn bản của xă hội. Hay bộ mặt của chủ nghĩa độc đoán hay của tính cách ngạo mạn là những ǵ có thể được hợp pháp, làm câm nín đi những ai không có tiếng nói hay sức mạnh để được lắng nghe, như xẩy ra trong trường hợp bất công mà có lẽ ngày nay trường hợp bất công nhất là việc loại trừ đi sự sống con người vừa mới được phôi thai.
‘Thiên Chúa đă chọn thành phần yếu kém trên thế gian này để làm cho thành phần mạnh mẽ phải hổ ngươi’ (1Cor 1:27). Chớ ǵ tiêu chuẩn của tác động thần linh vẫn c̣n mạnh mẽ ngày nay ấy giúp cho quí vị không lấy làm ngỡ ngàng ngạc nhiên, lại càng không bị thất đảm nản ḷng, trước những khó khăn và hiểu lầm. Thật vậy, quí vị biết rằng, nhờ chúng, quí vị tham dự một cách có thế lực vào trách nhiệm ngôn sứ của Giáo Hội, Một Giáo Hội nỗ lực để tiếp tục lên tiếng bênh vực con người, cho dù chính trị quốc gia hay đa số quần chúng có đi ngược chiều chăng nữa. Đúng vậy, sức mạnh của sự thật được chất chứa trong chính sự thật, chứ không phải ở con số ưng thuận nó nhận được.
(Huấn dụ ở Đại Học Đường Ṭa Thánh Laterano 21/10/2006 dịp bắt đầu Năm Học mới)
Một môi trường như môi trường hàn lâm này là những ǵ đặc biệt mời gọi chúng ta hăy tái tiến vào đề tài về cuộc khủng hoảng văn hóa và căn tính, một cuộc khủng hoảng mà trong những thập niên này đă hiện lên một cách thê thảm ngay trước mắt chúng ta.
Đại Học Đường này là một trong những nơi chốn tốt nhất để cố gắng t́m kiếm những đường lối thích thuận để thoát khỏi t́nh trạng này. Thật thế, nơi Đại Học đây, cái phong phú về truyền thống vẫn c̣n tồn tại qua các thế kỷ là những ǵ đang được bảo tồn – và đặc biệt Thư Viện là một phương tiện thiết yếu để bảo toàn cái phong phú ấy của truyền thống – nơi đại học này, và có thể nói rơ hơn, nơi tính cách phong phú của sự thật, khi sự thật được đón nhận ở những ǵ xác thực của nó bằng một tâm hồn chân thành và cởi mở.
Ở Viện Đại Học này, các thế hệ trẻ được h́nh thành, thành phần mong chờ một chương tŕnh nghiêm cẩn gắt gao có khả năng đáp ứng trong những môi trường mới cái vấn nạn lưu tồn về ư nghĩa của cuộc sống chúng ta. Không được làm thất vọng niềm mong đợi này.
Môi trường hiện đại dường như đặt ưu tiên cho một thứ lư trí nhân tạo càng ngày càng bị chi phối bởi những thứ kỹ thuật thực nghiệm, bởi đó quên đi rằng tất cả mọi khoa học bao giờ cũng cần phải là những ǵ bảo toàn con người và cổ vơ ước vọng của họ đối với sự thiện chân thực.
Việc đặt nặng “cái làm”, bằng cách gây lu mờ đi “cái là”, không giúp ǵ vào việc tái tạo mức quân b́nh trọng yếu cần thiết cho mọi người để cống hiến cuộc sống của họ một nền tảng chắc chắn và một mục đích vững vàng.
Thật vậy, hết mọi người được kêu gọi để hiến cho những hoạt động của ḿnh cái ư nghĩa, nhất là khi cái ư nghĩa ấy liên quan tới quan điểm của một thứ khám phá khoa học làm suy yếu đi chính yếu tính của cuộc sống cá nhân.
Việc để cho ḿnh bị lôi kéo bởi cái hoan hưởng khám phá mà không biết bảo toàn những qui chuẩn xuất phát từ một nhăn quan sâu xa hơn sẽ dễ dàng trở thành một thảm kịch được một huyền thoại xưa nói tới, đó là Young Icarus, hồ hởi trước cuộc bay đến cơi tuyệt đối tự do, không thèm nghe lời cảnh báo của người cha già của ḿnh là Deadalus, đă bay gần đến mặt trời hơn bao giờ hết, quên đi rằng những cánh anh ta dùng để bay trên bầu trời được làm bằng sáp. Việc anh ta rơi xuống chết đi một cách dữ dội là cái giá phải trả cho cái ảo tưởng của anh ta vậy.
Câu truyện ngụ ngôn cổ tích này chất chứa một bài học măi măi đáng giá. Trong cuộc sống có những thứ ảo tưởng khác người ta không thể nào tin tưởng mà lại không liều ḿnh gặp phải những hậu quả thảm khốc cho chính cuộc sống của bản thân cũng như của người khác.
Vị giáo sư đại học có nhiệm vụ chẳng những truy tầm sự thật và làm gợi lên cái kỳ diệu vĩnh tại của nó, mà c̣n nuôi dưỡng kiến thức về nó ở mọi phương diện, cùng bênh vực nó khỏi bị những giải thích giảm thiểu và méo mó.
Để làm cho đề tài về sự thật trở thành chính yếu th́ không phải chỉ là một tác động suy đoán, bị hạn hẹp vào lănh vực nhỏ bé của các tư tưởng gia; trái lại, nó là một vấn đề sống c̣n để cống hiến một cái căn tính sâu xa hơn nữa cho cuộc sống cá nhân và đề cao trách nhiệm nơi các mối liên hệ về xă hội (x Eph 4:25).
Thật vậy, nếu con người bỏ qua vấn đề về sự thật và cơ hội cụ thể để có thể đạt được sự thật th́ đời sống của họ cuối cùng bị trở thành một thứ thừa thăi theo đủ loại giả định, không c̣n ǵ là bảo đảm vững chắc và căn cứ nữa.
Nhà nhân bản danh tiếng Erasmus có lần đă nói: “Các ư nghĩ vu vơ nông cạn là nguồn mạch của một thứ hạnh phúc rẻ mạt! Để hiểu được yếu tính thực sự của các sự vật th́ cần phải thực hiện nhiều nỗ lực, cho dù có coi các sự vật chẳng quan trọng mấy đi chăng nữa” (cf. "The Praise of Folly," XL, VII).
Chính v́ nỗ lực này mà Viện Đại Học đây cần phải dấn thân hoàn thành; nó cần phải theo đuổi bằng việc học hỏi và nghiên cứu trong một tinh thần kiên tŕ nhẫn nại. Tuy nhiên, nỗ lực này lại là những ǵ giúp cho con người có thể từ từ tiến vào tâm điểm của những vấn đề và hướng tới việc đam mê sự thật cũng như tới niềm vui t́m thấy được sự thật.
Những lời lẽ của vị thánh Giám Mục Anselmô ở Aosta vẫn là những ǵ hoàn toàn hiện đại, đó là: “Ta có thể t́m kiếm ngươi khi mong muốn ngươi, ta có thể mong muốn ngươi khi t́m kiếm ngươi, ta có thể t́m thấy ngươi khi mộ mến ngươi, và khi mộ mến ngươi ta lại t́m thấy ngươi” (cf. "Proslogion," 1).
Chớ ǵ khoảng trống của việc thinh lặng và chiêm ngắm, những ǵ là bối cảnh bất khả thiếu để tập trung những vấn đề do tâm trí khơi lên, t́m thấy trong những bức tường đại học này những con người ân cần biết trân quí tầm quan trọng, tính cách hiệu năng cùng với các thành quả đối với cuộc sống cá nhân cũng như xă hội.
Thiên Chúa là sự thật tối hậu mà tất cả mọi tâm trí tự nhiên hướng tới, một sự thật lôi kéo ước vọng muốn hoàn toàn thực hiện trọn vẹn cuộc hành tŕnh hướng về nó. Thiên Chúa không phải là một lời trống rỗng hay một giả định trừu tượng, trái lại, Ngài là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng cuộc sống của con người.
Việc sống trong một thế giới ‘veluti si Deus daretur’ là những ǵ cần đến việc đảm nhận một thứ trách nhiệm biết quan tâm tới vấn đề truy t́m hết mọi đường lối khả dĩ hầu có thể tiến gần đến với Ngài bao nhiêu có thể, Đấng là đích điểm mà tất cả mọi sự hướng về (x 1Cor 15:24).
Thành phần tín hữu biết rằng vị Thiên Chúa này có một Dung Nhan, và Ngài đă một lần vĩnh viễn đến gần với mỗi một người qua Chúa Giêsu Kitô.
Công Đồng Chung Vaticanô II đă sâu xa nhắc nhở điều này như sau: ‘V́, nhờ việc nhập thể, Đấng là Người Con Thiên Chúa, một cách nào đó, đă liên kết bản thân ḿnh với từng người. Người đă làm việc với bàn tay của con người, Người đă suy nghĩ bằng trí khôn của con người. Người đă hành động với ư muốn của con người, và Người đă yêu thương bằng con tim của con người. Được hạ sinh bởi Trinh Nữ Maria, Người đă thực sự trở thành một người trong chúng ta, giống như chúng ta trong tất cả mọi sự ngoại trừ tội lỗi’ ("Gaudium et Spes," n. 22). Việc nhận biết Người là việc nhận biết tất cả sự thật, một sự thật nhờ đó con người mới có thể t́m thấy tự do: ‘Các người sẽ nhận biết chân lư, và chân lư sẽ giải thoát các người’ (Jn 8:32).
(Huấn Từ ngỏ cùng thành phần tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Luật Tự Nhiên được Đại Học Đường Lateranô của Ṭa Thánh ở Rôma tổ chức tại Sảnh Đường Clementine ngày Thứ Hai 12/2/2007)
Thật sự là chúng ta đang sống trong một thời điểm phát triển phi thường nơi khả năng của con người trong việc giải mă những luật lệ cùng những cấu trúc của vật chất, cũng như nơi việc con người nhờ đó làm chủ thiên nhiên tạo vật.
Tất cả chúng ta đều thấy được những thắng lợi lớn lao trong việc tiến bộ này, và chúng ta càng ngày càng thấy một cách rơ ràng hơn nữa mối đe dọa của việc hủy hoại thiên nhiên tạo vật do chúng ta gây ra.
C̣n có một thứ nguy hiểm ít hiển nhiên hơn nhưng cũng không kém phần lo ngại, đó là cái phương pháp cho phép chúng ta có thể biết được một cách sâu xa hơn nữa những cấu trúc hợp lư của vật chất lại là phương pháp làm cho chúng ta ít nhận ra hơn bao giờ hết nguồn mạch Lư Trí sáng tạo của tính cách hợp lư này. Cái khả năng thấy được những luật lệ của hữu thể về vật chất đang là những ǵ làm cho chúng ta không thể thấy được cái ư nghĩa về đạo lư được chất chứa nơi hữu thể, một ư nghĩa được truyền thống gọi là lex naturalis, là luật luân lư tự nhiên.
Đối với nhiều người ngày nay th́ chữ này hầu như là những ǵ không thể nào hiểu nổi v́ quan niệm về thiên nhiên không c̣n tính cách siêu h́nh học mà chỉ c̣n duy tính cách thực nghiệm. Sự kiện thiên nhiên tạo vật tự ḿnh không c̣n một ư nghĩa luân lư sáng tỏ nào nữa đang là những ǵ tạo nên một cảm quan lệch lạc khiến cho những chọn lựa của cuộc sống hằng ngày trở thành nhất thời và bấp bênh.
Dĩ nhiên là t́nh trạng lệch lạc này đặc biệt ảnh hưởng tới các thế hệ trẻ trung, thành phần cần phải có được những chọn lựa nền tảng cho đời sống của ḿnh trong bối cảnh ấy.
Chính v́ chiều hướng tranh luận này mà càng phải cần suy tư về đề tài luật tự nhiên và tái nhận thức được sự thật của nó hiển nhiên của nó đối với chung tất cả mọi người. Thứ luật được nói tới đây, thứ luật được Thánh Tông Đồ Phaolô nói tới (x Rm 2:14-15), là những ǵ được ghi khắc nơi tâm can của con người, và v́ thế có thể biết được, thậm chí ngay cả cho tới ngày nay.
Nguyên tắc thứ nhất và tổng quát của luật này đó là ‘làm lành lánh dữ’. Đó là một sự thật tự ḿnh trực tiếp chi phối hết mọi người bởi tính cách hiển nhiên của nó. Từ nguyên tắc thứ nhất và tổng quát này mới xuất phát ra những nguyên tắc đặc biệt khác liên quan tới luân thường đạo lư về các thứ quyền lợi và nghĩa vụ của hết mọi người.
Chẳng hạn nguyên tắc tôn trọng sự sống con người từ khi nó được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi, v́ sự thiện sự sống này không phải là tài sản của con người mà là tặng ân nhưng không của Thiên Chúa. Ngoài ra, đó c̣n là nhiệm vụ cần phải t́m kiếm sự thật được cho là những ǵ cần thiết đối với hết mọi cuộc trưởng thành đích thực của con người.
Một áp dụng quan trọng khác về đề tài này đó là vấn đề tự do. Tuy nhiên, nếu chú ư tới sự kiện tự do của con người bao giờ cũng là một thứ tự do được chia sẻ với người khác, th́ rơ ràng là việc ḥa hợp của tự do chỉ có thể t́m thấy nơi những ǵ chung cho tất cả mọi người, đó là sự thật về con người, là ư nghĩa sâu xa về chính hữu thể, là chính luật luân lư tự nhiên – lex naturalis.
Và chúng ta làm sao lại không đề cập tới, một đàng là cái đ̣i hỏi của công lư được thể hiện nơi việc cho quyền đặc hữu unicuique suum, đàng khác, là niềm mong đợi về t́nh liên đới hằng nung nấu nơi hết mọi người, nhất là khi họ nghèo khổ, niềm hy vọng họ được thành phần may mắn hơn giúp đỡ?
Những giá trị ấy cho thấy những qui chuẩn bất khả hủy hoại và liên đới không lệ thuộc vào ư muốn của nhà lập pháp, thậm chí không lệ thuộc vào những ǵ Quốc Gia có thể và cần phải tỏ ra đồng ư mới được. Chúng thật sự là những qui chuẩn có trước bất cứ một luật lệ nào của loài người, bởi thế, chúng không tùy thuộc vào việc điều chỉnh của bất cứ ai. Luật lệ tự nhiên, cùng với các thứ quyền lợi căn bản, là nguồn mạch xuất phát ra những trách nhiệm về luân thường đạo lư, một nguồn mạch chỉ đáng được tôn trọng.
Nơi đạo đức học và triết lư về Luật Pháp ngày nay đang lan tràn những thứ đ̣i hỏi theo chiều hướng thực chứng về pháp lư. Bởi thế, pháp luật thường trở thành một thứ dung hợp thuần túy giữa các khuynh hướng khác nhau, ở chỗ nó t́m cách biến thành luật lệ những khuynh hướng hay ước muốn riêng tư tương phản với những nhiệm vụ xuất phát từ trách nhiệm xă hội.
Trong t́nh trạng này cần phải nhắc lại rằng hết mọi phương pháp học về pháp lư, dù ở lănh vực địa phương hay quốc tế, vấn đề trên hết đó là việc nó cần phải rút lấy tính cách hợp lư của ḿnh từ gốc rễ của nó nơi luật tự nhiên, nơi ư nghĩa về đạo lư được ghi khắc ở hữu thể con người thực sự.
Luật tự nhiên chắc chắn là bức tường thành vững chắc duy nhất chống lại thứ quyền lực độc đoán hay việc lừa đảo của vấn đề mạo dụng theo ư hệ. Kiến thức về thứ lề luật được ghi khắc nơi tâm can này là những ǵ tăng trưởng theo tầm mức tiến bộ của lương tâm về luân lư.
Nhiệm vụ đầu tiên của tất cả mọi người, đặc biệt của những ai có trách nhiệm chung, bởi thế cần phải cổ vơ sự trưởng thành về thứ lương tâm luân lư ấy. Đó là thứ tiến bộ căn bản mà nếu thiếu hụt th́ tất cả mọi thứ tiến bộ khác đều tỏ ra bất chân thực.
Lề luật được ghi khắn nơi bản tính của chúng ta là bảo đảm thực sự cho hết mọi người để có thể được sống tự do và được tôn trọng theo phẩm giá của ḿnh.
Những ǵ đă được nói cho tới đây có những áp dụng rất cụ thể nếu người ta nghĩ tới gia đ́nh, tức là tới ‘mối thân hữu sâu xa của sự sống và của một t́nh yêu làm nên đời sống hôn nhân… được Đấng Hóa Công thiết lập và được Ngài phú bẩm bằng những thứ lề luật xứng hợp của nó’ (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, 48).
Về vấn đề này, Công Đồng Chung Vaticanô II đă thích thuận nhắc lại rằng cơ cấu hôn nhân là những ǵ đă được ‘ấn định bởi lề luật thần linh’, bởi thế, ‘mối liên hệ linh thánh này … v́ thiện ích của người phối ngẫu, của con cái và của xă hội không c̣n lệ thuộc vào nguyên quyết định của loài người’ (cùng nguồn vừa dẫn).
Bởi vậy, không một thứ luật lệ nào do con người làm ra có thể qua mặt qui chuẩn ấy của Đấng Hóa Công, bằng không xă hội sẽ bị tổn thương thê thảm nơi những ǵ làm nên cái nền tảng căn bản của ḿnh. Bỏ qua cái qui chuẩn ấy nghĩa là làm cho gia đ́nh trở thành suy yếu, gây bất lợi cho trẻ em và khiến cho tương lai của xă hội trở thành bấp bênh bất ổn.
Sau hết, tôi cảm thấy có nhiệm vụ cần phải khẳng định một lần nữa là không phải tất cả những ǵ khả dĩ theo khoa học đều hợp lư theo đạo lư. Khi biến con người thành một đối tượng cho việc thí nghiệm, kỹ thuật đi đến chỗ phó mặc thành phần chủ thể yếu kém cho việc phân xử của thành phần mạnh hơn. Việc hoàn toàn nhắm mắt phó ḿnh cho kỹ thuật như thể nó là một bảo đảm duy nhất cho vấn đề tiến bộ, mà không đồng thời cống hiến một thứ luật lệ về đạo lư là nền tảng sâu xa của cùng một thực tại đang được nghiên cứu và phát triển, th́ chẳng khác ǵ như tỏ ra bạo động với bản tính của con người, gây hậu quả tàn phá cho tất cả mọi người.
Việc đóng góp của các khoa học gia là những ǵ có một tầm vóc quan trọng chính yếu. Cùng với việc tiến bộ nơi năng lực của chúng ta trong việc làm chủ thiên nhiên tạo vật, các khoa học gia cũng cần phải góp phần vào việc giúp hiểu được chiều sâu của trách nhiệm chúng ta đối với con người cũng như đối với thiên nhiên tạo vật được kư thác cho họ.
Theo chiều hướng ấy, cần phải phát triển một cuộc đối thoại tốt đẹp giữa thành phần tín hữu và vô tín ngưỡng; giữa các thần học gia, triết gia, pháp lư gia và khoa học gia, thành phần có thể cống hiến cả cho pháp luật nữa chất liệu quí báu cho đời sống cá nhân cũng như xă hội.
Thế nên, tôi hy vọng những ngày học hỏi này sẽ mang lai chẳng những một cảm thức sâu xa hơn nơi thành phần thức giả liên quan tới luật tự nhiên về luân lư, mà c̣n giúp vào việc tạo nên những điều kiện nhờ đó đề tài này có thể tiến tới chỗ được nhận thức hoàn toàn hơn về cái giá trị bất khả coi thường mà luật luân lư tự nhiên có được đối với một thứ tiến bộ thực sự và liên kết giữa đời sống riêng tư với trật tự xă hội.
Với ước vọng này, tôi hứa nguyện cầu cho anh chị em cũng như cho việc dấn thân về hàn lâm của anh chị em trong vấn đề nghiên cứu và suy tư, và tôi ưu ái ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả anh chị em.
ĐTC BĐXVI – Huấn Từ ngỏ cùng thành phần Đại Biểu Học Viện Các Khoa Học Về Luân Lư Và Chính Trị Ở Balê ngày Thứ Bảy 10/2/2007
Thật vậy, những chia sẻ và những hoạt động của các Thẩm Quyền cũng như của thành phần công dân cần phải nhắm tới 2 yếu tố, đó là việc tôn trọng mỗi một con người cũng như việc t́m cầu công ích.
Trong thế giới ngày nay, hơn bao giờ hết, cần phải mời gọi những người đồng thời của chúng ta chú trọng lại hai yếu tố này. Thật thế, việc phát triển của chủ nghĩa chủ quan, một chủ nghĩa làm cho mỗi người hướng chiều về việc coi ḿnh như là cứ điểm đối chiếu duy nhất và chủ trương rằng những ǵ họ nghĩ đều có tính chất chân thật, đang kêu gọi chúng ta hăy đào luyện lương tâm theo các giá trị nồng cốt bất khả coi thường kẻo đẩy cả con người lẫn xă hội tới chỗ nguy hiểm, cũng như trên những qui chuẩn khách quan cho những quyết định đưa đến hành động theo lư trí....
Câu hỏi Thiên Chúa đă đặt ra từ ngay ở đọan Thánh Kinh đầu tiên cần phải liên lỉ vang vọng tron g tâm can của hết mọi người, đó là vấn nạn ‘ngươi đă làm ǵ (cho)… người anh em của người?’.
Cảm quan về t́nh huynh đệ và đoàn kết cũng như cảm quan về công ích là những ǵ được căn cứ vào việc ân cần tỏ ra tôn trọng anh em ḿnh cũng như cơ cấu tổ chức của xă hội, giành cho mọi người có chỗ đứng để họ có thể sống cách xứng đáng, có được một mái nhà cùng với những ǵ cần thiết cho cuộc sống của họ và cuộc sống của gia đ́nh họ có trách nhiệm....
Tự do thật là ở chỗ tiến bước theo đường lối của chân lư theo ơn gọi của ḿnh, nhận biết rằng mỗi một người cần phải trả lẽ về đời sống của ḿnh trước Đấng Hóa Công và Đấng Cứu Thế....
Ngày nay con người cần phải đừng để cho ḿnh bị vướng mắc bởi những thứ xiềng xích ngoại tại, chẳng hạn như chủ nghĩa tương đối, việc t́m kiếm quyền lực và lợi lộc bất cứ giá nào, nghiện hút, những mối liên hệ lệch lạc, t́nh trạng hỗn độn về hôn nhân và việc không nh́n nhận con người ở tất cả mọi đoạn đời của họ từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đi, thái độ c ho rằng có những lúc con người thực sự không hiện hữu.
Chúng ta cần phải can đảm nhắc nhở thành phần đương thời của chúng ta những ǵ con người là và những ǵ nhân loại là. Tôi mời gọi các Thẩm Quyền dân sự và thành phần đóng vai tṛ truyền đạt các thứ giá trị hăy luôn luôn chống đỡ sự thật về con người.
Các bạn đă quá biết rằng việc làm chứng của Kitô hữu chúng ta được cống hiến cho một thế giới đang mỏng ḍn nơi nhiều kiểu cách. Mối hiệp nhất nơi thiên nhiên tạo vật của Thiên Chúa đang bị yếu kém bởi những vết thương đặc biệt sâu xa khi các thứ liên hệ về xă hội bị đổ vỡ, hay khi tâm linh của con người bị nhàu nát bởi việc khai thác và lạm dụng con người. Thật vậy, xă hội ngày nay đang bị phân mảnh bởi một đường lối suy tư thiển cận gia truyền, v́ nó không màng chi tới trọn vẹn chân trời của sự thật – sự thật về Thiên Chúa và về chúng ta. Tự bản chất của ḿnh, chủ nghĩa tương đối không thể thấy được toàn thể bức tranh này. Nó coi thường chính những nguyên lư giúp chúng ta có thể sống và triển nở trong hiệp nhất, trật tự và ḥa hợp.
Là thành phần chứng nhân Kitô Giáo, đáp ứng của chúng ta ra sao trước một thế giới chia rẻ và phân mảnh này? Làm sao chúng ta có thể cống hiến niềm hy vọng ḥa b́nh, việc chữa lành và mối ḥa hợp cho những ‘chặng đường’ xung khắc, khổ đau, và căng thẳng mà các bạn đă chọn để tiến bước với Cây Thánh Giá của Ngày Giới Trẻ Thế Giới đây? Mối hiệp nhất và ḥa giải không thể nào đạt được bởi nguyên nỗ lực của chúng ta. Thiên Chúa đă dựng nên chúng ta cho nhau (cf. Gen 2:24) và chỉ ở nơi Thiên Chúa và Giáo Hội của Người chúng ta mới thấy được mối hiệp nhất chúng ta kiếm t́m. Tuy nhiên, trước những thứ bất toàn và bất măn nguyện, cả nơi cá nhân cũng như cơ cấu – chúng ta đôi khi lại có khuynh hướng muốn cấu tạo nên một cộng đồng ‘toàn hảo’ một cách nhân tạo. Khuynh hướng này không phải là điều mới lạ ǵ. Lịch sử của Giáo Hội cũng bao gồm nhiều trường hợp về những nỗ lực trong việc qua mặt hay thắng vượt những yếu hèn và thất bại của nhân loại để kiến tạo nên một mối hiệp nhất trọn vẹn, một không tưởng thiêng liêng.
Những nỗ lực như thế để cấu tạo nên mối hiệp nhất thực sự là làm suy yếu nó! Việc tách biệt Thánh Thần khỏi Chúa Kitô hiện diện nơi kiến trúc về cơ cấu của Giáo Hội sẽ tác hại tới mối hiệp nhất của cộng đồng Kitô Giáo thực sự là tặng ân của Vị Thần Linh này! Nó phản lại với bản chất của Giáo Hội như là một đền thờ sống động của Thánh Linh (cf 1Cor 3:16). Thật vậy, chính Vị Thần Linh này, Vị hướng dẫn Giáo Hội theo con đường của tất cả sự thật và hiệp nhất Giáo Hội trong mối hiệp thông cũng như trong các hoạt động của thừa tác vụ (cf. Lumen Gentium, 4). Tiếc thay, khuynh hướng ‘đơn phương’ này vẫn tiếp tục tồn tại. Có một số người ngày nay cho rằng cộng đồng địa phương của họ một cách nào đó tách khỏi Giáo Hội được cho là về cơ cấu, khi nói về cộng đồng địa phương ấy như là những ǵ uyển chuyển và cởi mở trước Thần Linh này, và Giáo Hội về cơ cấu như là những ǵ cứng ngắc và trống rỗng Thần Linh.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Tham Dự Viên Tổng Nghị của Học Viện Ṭa Thánh về Sự Sống Thứ Bảy 24/2/2007 tại Sảnh Đường Clementine
.... Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo nói với chúng ta rằng: “Lương tâm là phán đoán của lư trí nhờ đó con người nhận ra tính chất của luân lư nơi một hành động cụ thể được họ sắp sửa thi hành, đang trong tiến tŕnh thi hành hay đă hoàn tất. Trong tất cả những ǵ họ nói và làm, con người bắt buộc phải trung thành theo những ǵ họ biết là chân chính và đúng đắn” (số 1778).
Từ định nghĩa này mới thấy rằng lương tâm luân lư, để có thể phán đoán đúng đắn tác hành của con người, trước hết cần phải căn cứ vào nền tảng vững chắc của đức tin, tức là c ần phải được soi sáng để biết được giá trị chân thực của các hành động cùng với các qui chuẩn vững chắc để thẩm định. Bởi thế, cần phải làm sao để có thể phân biệt được lành với dữ, thậm chí ngay cả lúc mà môi trường xă hội, văn hóa đa dạng và những thứ khuynh hướng đầy phỉnh gạt không giúp cho nó làm như vậy.
Việc huấn luyện của một lương tâm chân thực, v́ nó được bắt nguồn từ sự thật, và công chính, v́ nó cương quyết theo các thứ đ̣i ḥi không mâu thuẫn, không phản bội và không ḥa hoăn của nó, là một việc thực hiện khó khăn và khéo léo ngày nay, thế nhưng vẫn là những ǵ bất khả châm chước. Tiếc thay, nhiều yếu tố đang làm ngăn trở cho việc thực hiện này. Trước hết, trong giai đoạn tục hóa hiện nay, được gọi là giai đoạn hậu tân tiến và được đánh dấu bằng những h́nh thức nhân nhượng ba phải, một giai đoạn chẳng những đang gia tăng việc loại trừ phủ nhận truyền thống Kitô giáo mà c̣n ngờ vực cả khả năng của lư trí trong việc nhận thức sự thật, cũng đang làm cho chúng ta tách khỏi cái hương vị của việc suy tư phản tỉnh.
Theo một số người th́ để lương tâm của cá nhân con người không bị thiên lệch th́ nó cần phải thoát khỏi những thứ qui chiếu theo truyền thống lẫn những thứ qui chiếu theo lư trí của con người.
Bởi vậy mà lương tâm, như một tác động của lư trí nhắm tới sự thật của sự vật, không c̣n chiếu sáng nữa mà trở thành một màn ảnh thuần túy để xă hội của truyền thông chiếu lên những h́nh ảnh cũng như những bốc đồng ngược ngạo nhất.
Người ta cần phải được tái giáo dục về ḷng mong muốn trong việc biết sự thật chân chính, trong việc bênh vực quyền tự do chọn lựa của ḿnh liên quan tới hành vi cử chỉ hỗn độn cũng như tới những thứ quyến dũ được tuyên truyền, trong việc nuôi dưỡng đam mê trước vẻ đẹp luân lư và một lương tâm trong sáng. Đó là nhiệm vụ tinh tế của cha mẹ và các nhà giáo dục là thành phần giúp họ; và đó là nhiệm vụ của cộng đồng Kitô giáo đối với tín hữu của ḿnh.
Về vấn đề lương tâm Kitô hữu, việc nó tăng trưởng và việc nuôi dưỡng nó, người ta không được măn nguyện với sự liên hệ thoáng qua về những sự thật chính yếu của đức tin c̣n đang ở trong t́nh trạng non dại, mà là một chương tŕnh bổ sung cần thiết cho các giai đoạn khác nhau của đời sống, khi cởi mở tâm trí để đón nhận những nhiệm vụ cốt yếu là nền tảng cho đời sống của cá nhân cũng như của cộng đồng.
Chỉ có thế mới có thể sửa soạn cho giới trẻ thấu triệt được các giá trị của sự sống, của yêu thương, của hôn nhân và của gia đ́nh mà thôi. Chỉ có thế họ mới có thể tiến tới chỗ cảm nhận vẻ đẹp và tính cách linh thánh của yêu thương, của niềm vui và của trách nhiệm làm cha mẹ và làm thành phần hợp tác của Thiên Chúa trong việc trao ban sự sống.
Thiếu vắng cuộc huấn luyện liên tục và chất lượng này, th́ khả năng phán đoán những trục trặc gây ra bởi ngành y khoa sinh học về các lănh vực tính dục, sự sống mới được hạ sinh, việc sinh sản, cũng như trong cả cách thức đối xử cùng chăm sóc cho các bệnh nhân và những phần tử yếu kém trong xă hội, thậm chí sẽ trở thành những ǵ rắc rối hơn nữa.
Chắn chắn là cần phải nói về các qui chuẩn luân lư liên quan tới những vấn đề này với thành phần chuyên nghiệp, với các vị bác sĩ và luật sư, để giúp họ có được một phán đoán khả chấp theo lương tâm, và nếu cần, cũng có được cả một lương tâm biết can đảm chống đối, thế nhưng, ở lănh vực căn bản là gia đ́nh và các cộng đồng giáo xứ, cũng cần phải thực hiện tiến tŕnh huấn luyện cho giới trẻ và người lớn nữa. Về khía cạnh này, đi liền với việc huấn luyện Kitô Giáo, một việc huấn luyện có mục đích là để nhận biết Con Người Chúa Kitô, Lời của Người và các Bí Tích của Người theo tiến tŕnh dạy đức tin cho trẻ em và thanh thiếu niên, người ta cũng cần phải nhất trí phổ biến việc diễn giải về các thứ giá trị luân lư liên quan tới thân xác, tính dục, t́nh yêu thương của con người, việc sản sinh, sự tôn trọng sự sống ở mọi lúc, đồng thời, căn cứ vào những lư do vững vàng và xác đáng, vạch ra cho thấy hành vi cử chỉ phản lại với những thứ giá trị căn bản ấy. ......
Công Đồng Chung Vaticanô II dạy chúng ta rằng ‘con người có được nơi tâm can của ḿnh một thứ lề luật được Thiên Chúa ghi khắc. Phẩm vị của họ là ở chỗ tuân giữ lề luật này, và họ sẽ được phân xử căn cứ vào đó’ (Gaudium et Spes, n. 16). Công Đồng này đă cống hiến những điều hướng dẫn khôn ngoan nhờ đó ‘tín hữu cần phải biết phần biệt một cách cẩn thận những quyền lợi và nhiệm vụ mà họ có như phần tử thuộc về Giáo Hội, cũng như những quyền lợi và nghĩa vụ của họ nhữ là phần tử của xă hội loài người’, và ‘họ sẽ nỗ lực để liên kết cả hai thứ lại với nhau một cách ḥa hợp, nhớ rằng nơi hết mọi công việc trần thế họ được hướng dẫn bởi lương tâm Kitô giáo, bởi v́ bất cứ một hoạt động nào của con người, cho dù là công việc trần thế chăng nữa, lại được phép thoát khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa” (Lumen Gentium, 36).
"Một Âu Châu được sinh động bởi sự thật vĩnh tại và ban sự sống của Phúc Âm".
ĐTC Biển Đức XVI: Diễn Từ Thứ Bảy 24/3/2007 ngỏ cùng Tham Dự Viên Hội Nghị Mừng 50 Năm Hiệp Ước Rôma
Vấn đề thống nhất về kinh tế được khởi động bởi vấn đề thống nhất về chính trị và phấn khích việc t́m kiếm, vẫn c̣n tiếp tục, vấn đề cấu tạo về tổ chức thích đáng cho một Khối Hiệp Nhất Âu Châu mà, cho tới nay, bao gồm 27 quốc gia và muốn trở thành một diễn viên quốc tế trên thế giới.
Trong những năm tháng này, người ta càng ngày càng cảm thấy nhu cầu cần phải thiết lập một t́nh trạng quân b́nh lành mạnh giữa các chiều kích về kinh tế và xă hội, nhờ những vấn đề chính trị có thể mang lại giầu thịnh và làm tăng thêm việc cạnh tranh, mà không bỏ quên những niềm mong đợi hợp lư của thành phần nghèo khổ và sống bên lề xă hội. Thế nhưng, nh́n vào chiều kích nhân số của sự việc th́ chúng ta cần phải lấy làm tiếc mà nhận định rằng Âu Châu dường như đang tiến bước dọc theo con đường có thể dẫn tới chỗ làm cho nó tách ĺa ra khỏi gịng lịch sử.
Ngoài việc tác hại cho t́nh trạng tăng triển về kinh tế, điều này c̣n có thể tạo nên những khó khăn cả thể cho việc liên kết về xă hội, và nhất là, tỏ ra ủng hộ cá nhân chủ nghĩa nguy hiểm, quên đi những hậu quả đối với tương lai. Người ta hầu như có thể nghĩ rằng đại lục Âu Châu thật sự đang mất đi niềm tin tưởng vào tương lai của ḿnh. Chưa hết, đối với vấn đề tôn trọng môi trường chẳng hạn, hay tôn trọng việc sử dụng đứng đắn các nguồn năng lực và đầu tư, những điều khích lệ cho t́nh đoàn kết, đều là những ǵ đang chậm xẩy ra, chẳng những nơi lănh vực quốc tế mà c̣n nơi lănh vực hoàn toàn thuộc quốc gia nữa.
Chính tiến tŕnh hiệp nhất Âu Châu cũng là những ǵ rơ ràng không được tất cả mọi người đồng thuận, bởi ấn tượng về ‘những chương đoạn’ khác nhau nơi dự án Âu Châu đă được ‘viết’ chẳng màng ǵ tới những niềm mong đợi của thành phần công dân. Bởi tất cả những sự ấy, hiển nhiên là một ‘ngôi nhà chung’ Âu Châu thực sự không thể nào được thiết dựng nếu không để ư tới những căn tính của nhân dân thuộc châu lục này.
Căn tính này thực sự là một căn tính có tính cách lịch sử, văn hóa và luân lư trước khi nó có căn tính về địa dư, kinh tế hay chính trị; một căn tính được tạo nên bởi những giá trị chung giống nhau được Kitô Giáo góp phần h́nh thành, và bởi đó là căn tính đă làm cho Kitô Giáo chẳng những đóng một vai tṛ lịch sử mà c̣n cả vai tṛ nền tảng cho Châu Âu nữa.
Những giá trị ấy, những giá trị làm nên hồn sống của châu lục này, cần phải tồn tại ở Âu Châu của ngàn năm thứ ba như là ‘sự dậy men’ cho nền văn minh. Nếu quả thực những thứ giá trị ấy cần phải bị biến mất, th́ làm sao châu lục ‘cổ’ này có thể tiếp tục tác hành như ‘men’ cho toàn thể thế giới đây? Nếu, vào dịp mừng kỷ niệm 50 năm Hiệp Ước Rôma này, các chính quyền của Khối Hiệp Nhất muốn ‘trở nên gần gũi’ hơn với thành phần công dân của ḿnh, làm sao họ có thể loại trừ được một yếu tố thiết yếu đối với căn tính của Âu Châu như Kitô Giáo chứ, khi mà đại đa số vẫn tiếp tục chấp nhận Kitô Giáo?
Không lạ ǵ Âu Châu ngày nay, trong khi hy vọng được thấy như là một cộng đồng của các thứ giá trị, th́ càng ngày lại càng như đối đầu với các thứ giá trị đại đồng và tuyệt đối hiện hữu? H́nh thức đặc thù ‘phản lại’ bản thân ḿnh, thậm chí ngay cả trước khi phản lại Thiên Chúa, không phải đă là những ǵ gây ra những ngờ vực về căn tính của ḿnh hay sao?
Như thế, người ta tiến đến chỗ làm lan tràn niềm xác tín rằng ‘việc đặt nặng tài sản’ là đường lối duy nhất trong vấn đề nhận thức về luân lư, và công ích th́ đồng nghĩa với vấn đề thỏa hiệp. Thực tế th́ nếu vấn đề thỏa hiệp tạo nên một tầm mức cân bằng giữa những lợi lộc riêng biệt khác nhau, th́ nó trở thành một thứ sự dữ chung ở bất cứ lúc nào nó được tạo nên bởi những thỏa hiệp tác hại đến bản tính của con người.
Một cộng đồng được xây dựng mà lại thiếu tôn trọng phẩm giá đích thực của con người, quên rằng mỗi người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa, đều chẳng có ích ǵ cho ai hết. Đó là lư do tại sao Âu Châu cần phải để ư chống lại thái độ thực dụng đang lan tràn hiện nay này, một thái độ biện minh một cách khéo léo việc thỏa hiệp về các thứ giá trị nhân bản thiết yếu, như thể nó là việc chấp nhận bất khả tránh trước một sự dữ nhẹ.
Chủ nghĩa thực dụng này, được tŕnh bày như là những ǵ quân b́nh và thực tiễn, thật sự th́ không phải như thế, v́ nó chối bỏ chiều kích của những giá trị và những ư nghĩa vốn có nơi bản tính của con người. Khi những khuynh hướng vô thần và tương đối được đan kết lại thành chủ nghĩa thực dụng này th́ cuối cùng thành phần Kitô hữu cũng bị chối bỏ chính quyền được tham gia vào cuộc bàn luận công cộng, hoặc, ít là việc đóng góp của họ không được chấp nhận.
Trong thời điểm lịch sử thực sự này và đang phải đương đầu với những thử thách đánh dấu ḿnh, Khối Hiệp Nhất Âu Châu , để trở thành một bảo đảm thực sự của t́nh trạng quyền lợi và trở thành một cổ động viên cho các thứ giá trị đại đồng, không thể nào không minh nhiên nh́n nhận việc hiện hữu thực sự của một bản tính loài người vững chắc và vĩnh viễn, mạch nguồn của các quyền lợi chung đối với tất cả mọi người, bao gồm cả những ai chối bỏ chúng. Theo chiều hướng ấy th́ cần phải bảo vệ quyền kháng cự theo lương tâm, bất cứ khi nào các quyền lợi căn bản của con người bị vi phạm.
Các bạn thân mến, tôi biết rằng thành phần Kitô hữu khó khăn ra sao trong việc tích cực bênh vực sự thật này về con người. Tuy nhiên, xin đừng mệt mỏi về điều này và đừng chán nản! Các bạn biết rằng các bạn có nhiệm vụ góp phần xây dựng một tân Âu Châu nhờ ơn Chúa giúp, một Âu Châu thực tiễn nhưng không khinh thường, phong phú về ư nghĩa và không bị những ảo tưởng ngây ngô, một Âu Châu được sinh động bởi sự thật vĩnh tại và ban sự sống của Phúc Âm.
Bởi thế, các bạn cần phải hiện diện một cách chủ động ở cuộc tranh luận công khai thuộc tầm cấp Âu Châu, biết rằng cuộc tranh luận này hiện nay là một yếu tố toàn vẹn của cuộc tranh luận của quốc gia, và kèm theo việc dấn thân này cần phải tác hành một cách hiệu năng về văn hóa nữa. Các bạn đừng chiều theo lư lẽ của quyền lực như thể tự bản chất nó là cùng đích vậy!
"Chân lư tỏ ḿnh ra nơi t́nh yêu"
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Tông Du Áo Quốc 7-9/9/2007: Bài Giảng Thánh Lễ Mừng 850 Năm Đền Thánh Mariazell Thứ Bảy 8/9
Chúng ta cũng cần có một tấm ḷng cởi mở và bồn chồn như của họ. Đó là tất cả ư nghĩa của việc hành hương. Ngày nay cũng như trong quá khứ, việc không nhiều th́ ít giống như mọi người khác và nghĩ như mọi người khác chưa đủ. Đời sống của chúng ta cần phải có một mục đích sâu xa hơn. Chúng ta cần Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa đă tỏ dung nhan của Ngài cho chúng ta và mở ḷng ra cho chúng ta đó là Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan đă có lư nói về Người rằng Người là Thiên Chúa và ở ngay trong ḷng Cha (x Jn 1:18); bởi thế chỉ có Người, từ thẳm cung nơi chính Thiên Chúa, mới có thể mạc khải Thiên Chúa ra cho chúng ta thôi – tỏ cho chúng ta thấy chúng ta là ai, chúng ta từ đâu tới và chúng ta sẽ đi về đâu. Thật sự có nhiều nhân vật cao cả trong lịch sử đă có những cảm nghiệm tuyệt vời và cảm kích về Thiên Chúa. Tuy nhiên, những cảm nghiệm này dầu sao vẫn là cảm nghiệm loài người, bởi đó hữu hạn. Chỉ có NGƯỜI là Thiên Chúa nên chỉ có NGÀI là chiếc cầu nối thực sự mang Thiên Chúa và con người lại với nhau. Bởi vậy, nếu Kitô hữu chúng ta gọi Người là Vị Trung Gian chung duy nhất của ơn cứu độ, xứng hợp với mọi người và tuyệt đối cần cho mọi người, th́ điều này không có nghĩa là chúng ta coi thường các tôn giáo khác, hay chúng ta ngạo mạn tuyệt đối hóa tư tưởng của ḿnh; trái lại, nó có nghĩa là chúng ta được Người nắm bắt, Đấng đă chạm đến ḷng của chúng ta và đă tuôn đổ các tặng ân xuống trên chúng ta, nhờ đó, về phần ḿnh, chúng ta có thể cống hiến những tặng ân cho người khác. Thật vậy, đức tin của chúng ta hoàn toàn ngược lại với thái độ thoái bộ cho rằng con người bất khả đối với sự thật – như thể đó là những ǵ vượt quá tầm tay với của họ. Thái độ thoái bộ liên quan tới sự thật này, tôi tin rằng, là cốt lơi cuộc khủng hoảng của Tây Phương, cuộc khủng hoảng của Âu Châu. Nếu sự thật không hiện hữu đối với con người th́ cuối cùng họ đi đến chỗ không thể phân biệt được giữa lành và dữ. Để rồi, những khám phá lớn lao và tuyệt diệu của khoa học trở thành con dao hai lưỡi, ở chỗ, chúng có thể cống hiến những cơ hội quan trọng cho sự thiện, cho lợi ích của nhân loại, nhưng đồng thời, như chúng ta thấy quá rơ ràng, chúng có thể gây ra một thứ đe dọa kinh hoàng, bao gồm việc hủy diệt con người và thế giới. Chúng ta cần sự thật. Tuy nhiên, phải công nhận là, theo chiều hướng lịch sử của ḿnh, chúng ta cảm thấy lo sợ rằng niềm tin tưởng vào sự thật có thể bao gồm cả việc khoan dung. Nếu chúng ta bị nỗi hăi sợ này cầm giữ, một nỗi sợ hăi hằn sâu trong lịch sử, th́ đă tới lúc chúng ta hăy nh́n lên Chúa Giêsu như chúng ta thấy Người nơi đền thánh ở Mariazell. Chúng ta thấy Người ở đây qua hai h́nh ảnh: như là một con trẻ trong tay Mẹ của Người, và ở bên trên bàn thờ của Đền Thờ như là một Đấng Tử Giá. Hai h́nh ảnh này ở Đền Thờ đây nói với chúng ta thế này: sự thật thắng thế không phải bằng quyền lực bên ngoài, nhưng là những ǵ khiêm hạ và nhường bước cho con người bằng nguyên quyền lực chân thực nội tại của nó. Chân lư tỏ ḿnh ra nơi t́nh yêu. Nó không bao giờ là sở hữu của chúng ta, không bao giờ là sản phẩm của chúng ta, v́ t́nh yêu không bao giờ trở thành một cái ǵ có thể được sản xuất, mà chỉ được lănh nhận và trao ban như là một tặng ân thôi. Chúng ta cần cái quyền lực nội tại này của chân lư. Là Kitô hữu, chúng ta tin tưởng vào quyền lực này của chân lư. Chúng ta là chúng nhân của nó. Chúng ta cần phải trao ban nó như là một tặng ân cùng một cách chúng ta lănh nhận nó, như nó đă ban ḿnh cho chúng ta.
Huấn dụ Giới Trẻ và Chủng Sinh tại Chủng Viện Thánh Giuse ở Yonkers, Nữu Ước Thứ Bảy 19/4/2008
Thế th́ c̣n ngày hôm nay th́ sao? Ai là người làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu trên các đường phố Nữu Ước này, nơi những khu lân cận hỗn độn của các thành phố lớn, nơi những chỗ giới trẻ tụ họp để t́m kiếm một người nào đó chúng có thể tin tưởng đây? Thiên Chúa là nguồn gốc của chúng ta và là đích điểm của chúng ta, và Chúa Giêsu là đường lối. Con đường của cuộc hành tŕnh này cong queo uốn khúc – như đối với các vị thánh của chúng ta – băng qua những lúc vui mừng cùng với những thứ thách của cuộc sống b́nh thường hằng ngày: trong gia đ́nh của anh chị em, ở học đường hay đại học, trong các cuộc sinh hoạt vui chơi giải trí của anh chị em, cũng như trong cộng đồng giáo xứ của anh chị em. Tất cả những nơi ấy đều được đánh dấu nền văn hóa trong đó anh chị em lớn lên. Là những con người trẻ Hoa Kỳ, anh chị em được cống hiến cho nhiều cơ hội để phát triển bản thân, và anh chị em đă được lớn lên với một cảm quan quảng đại, phục vụ và công bằng. Tuy nhiên, anh chị em không cần tôi nói với anh chị em là c̣n có cả những khó khăn nữa: đó là những hoạt động và những chủ trương dập tắt niềm hy vọng, những đường nẻo dường như dẫn đến thứ hạnh phúc và viên măn mà thật ra chỉ đưa đến chỗ lẫn lộn và sợ hăi mà thôi.
Những năm tháng khi tôi c̣n là thanh thiếu niên cũng đă bị tác hại bởi một
chế độ độc ác cho rằng nó có tất cả mọi câu giải đáp; ảnh hưởng của nó
đă tràn lan – thấm nhập vào các học đường và vào các cơ cấu dân sự, cũng như
chính trị và thậm cí cả tôn giáo – trước khi người ta hoàn toàn nhận ra nó
chỉ là một con quái vật. Nó loại trừ Thiên Chúa, nhờ đó, trở nên trơ trơ
trước bất cứ những ǵ là chân thật và thiện hảo. Nhiều vị ông bà cụ kị của anh
chị em đă thuật lại t́nh trạng hủy hoại đầy rùng rợn này. Thật thế, một số trong
các vị đă đến Mỹ Châu chính là để tránh né cái kinh hoàng ấy.
Chúng ta hăy tạ ơn Thiên Chúa là ngày nay nhiều người thuộc thế hệ của anh chị
em đă có thể hoan hưởng những thứ tự do được xuất phát nhờ việc phát triển về
dân chủ và việc tôn trọng nhân quyền. Chúng ta hăy tạ ơn Thiên Chúa cho tất cả
những ai nỗ lực để bảo đảm rằng anh chị em có thể lớn lên trong một môi trường
duy tŕ những ǵ là mỹ lệ, thiện hảo và chân thực: cha mẹ và ông bà của anh chị
em, các thày cô và linh mục của anh chị em, những vị lănh đạo chính trị t́m kiếm
những ǵ là đúng thực và công bằng.
Tuy nhiên, quyền lực hủy hoại vẫn c̣n đó. Nếu cứ tưởng khác đi là chúng ta tự đánh lừa ḿnh. Tuy nhiên, nó sẽ không bao giờ chiến thắng được; nó đang bị đánh bại. Đây là yếu tính của niềm hy vọng cho thấy chúng ta là Kitô hữu; Giáo Hội nhắc lại điều này hết sức thảm thiết trong Tam Nhật Phục Sinh và cử hành nó với niềm hân hoan lớn lao trong mùa Phục Sinh! Đấng cho chúng ta thấy con đường vượt qua sự chết là Đấng cũng cho chúng ta thấy cách thức để khắc phục việc hủy hoại và nỗi sợ hăi: Đó chính là Chúa Giêsu, Đấng là vị sư phụ thật sự về sự sống (x Spe Salvi, 6). Cái chết và cuộc phục sinh của Người chất chứa một ư nghĩa khiến chúng ta có thể nói cùng Cha rằng “Cha đă phục hồi cho chúng con sự sống” (Lời Nguyện sau Hiệp Lễ, Thứ Sáu Tuần Thánh). Bởi thế mà, mới mấy tuần trước đây, trong khi cử hành phụng vụ Lễ Vọng Phục Sinh tuyệt vời, từ niềm thất vọng và nỗi sợ hăi chúng ta đă kêu lên cùng Thiên Chúa cho thế giới của chúng ta, song với niềm tin tưởng tràn đầy hy vọng rằng: xin hăy đánh tan bóng tối tăm của cơi ḷng chúng con! Hăy đánh tan tối tăm của trí khôn chúng con! (x Lời Nguyện Thắp Nến Phục Sinh).
Bóng tôi tăm này có thể là những ǵ? Cái ǵ xẩy ra khi con người, nhất là thành phần dễ bị tổn thương nhất, bị bóp chặt bởi đàn áp hay bởi khai thác, hơn là bởi bàn tay của niềm hy vọng? Đó là những ǵ tiêu biểu trước hết liên quan tới cơi ḷng. Ở đây, những mơ tưởng và niềm mong ước được giới trẻ theo đuổi có thể bị tan vỡ hay hủy hoại một cách dễ dàng. Tôi đang nghĩ tới những ai nghiền và lạm dụng ma túy, đến thành phần vô gia cư và nghèo khổ, đến chủ nghĩa duy chủng, đến bạo động, và đến t́nh trạng đớn hèn – nhất là của những em gái và phụ nữ. Cho dù các căn nguyên của những vấn đề này phức tạp, tất cả cũng chỉ có cùng thái độ của một trí khôn bị đầu độc đi đến chỗ đối xử với con người như là những thứ đồ vật thuần túy – một t́nh trạng nhẫn tâm của cơi ḷng trước hết là coi thường, sau đó là nhạo báng, phẩm vị thiên phú của hết mọi con người. Các thảm trạng như thế cũng cho thấy những ǵ được các đôi bàn tay khác – đôi tay của anh chị em – đă từng và có thể vươn ra. Tôi khuyến khích anh chị em hăy mời gọi những người khác, nhất là thành phần yếu hèn và vô tội, hăy liên kết với anh chị em trên con đường thiện hảo và hy vọng.
Vùng tăm tối thứ hai – một vùng tăm tối ảnh hưởng đến trí khôn – thường là những ǵ khó thấy, và v́ thế là những ǵ đặc biệt nham hiểm. Việc mạo dụng sự thật làm cho nhận thức của chúng ta về thực tại bị méo mó đi, và làm vấy bẩn trí tượng tượng và những khát vọng của chúng ta. Tôi đă đề cập tới nhiều thứ tự do đang được anh chị em tạm may mắn hoan hưởng. Cần phải mạnh mẽ bảo toàn tầm quan trọng cốt yếu của tự do. Bởi thế không lạ ǵ khi thấy có nhiều cá nhân và nhóm người ầm ỉ đ̣i hỏi quyền tự do của ḿnh ở những diễn đàn công cộng. Tuy nhiên, tự do có một giá trị tinh tế. Nó có thể bị hiểu lầm hay bị lạm dụng để không dẫn đến hạnh phúc được tất cả chúng ta mong mỏi ở nơi nó, mà là đến một vũ đài tối tăm của việc mạo dụng là nơi ư thức về ḿnh cùng thế giới trở nên lẫn lộn, hay thậm chí bị bóp méo bởi những ai đang có âm mưu hành động.
Anh chị em có thường thấy được việc đ̣i hỏi tự do mà không căn cứ vào sự thật về con người hay chăng? Ngày nay có một số người lập luận rằng vấn đề tôn trọng tự do của cá nhân sẽ là những ǵ sai trái trong việc t́m kiếm sự thật, bao gồm cả sự thật về những ǵ là tốt lành thiện hảo. Ở một số nhóm người th́ việc nói về sự thật được coi là những ǵ tranh căi hay phân rẽ, bởi đó tốt nhất là hăy giữ lấy cho ḿnh thôi. Và thay vào vị trí của sự thật – hay nói đúng hơn thay vào chỗ vắng bóng của sự thật – là một ư nghĩ từng lan tràn, ở chỗ, khi cống hiến giá trị cho tất cả mọi sự một cách bừa băi, th́ cho rằng đó là việc bảo đảm tự do và giải thoát lương tâm. Chúng ta gọi điều này là tương đối chủ nghĩa. Thế nhưng, một thứ tự do bất chấp sự thật để theo đuổi những ǵ là sai trái th́ mục đích của nó là ǵ? Bao nhiêu giới trẻ đă được cống hiến cho một bàn tay nhân danh tự do hay kinh nghiệm để dẫn họ tới t́nh trạng nghiện ngập, tới chỗ lầm lẫn về luân lư hay tri thức, đến chỗ đớn đau, tới chỗ đánh mất niềm tự trọng, thậm chí tới chỗ thất vọng và tới chỗ đánh mất mạng sống của ḿnh một cách thảm thương và đau buồn? Các bạn thân mến, sự thật không phải là một cái ǵ áp đặt. Nó cũng không phải là một loạt những luật lệ. Nó là một sự khám phá về Đấng không bao giờ làm cho chúng ta thất vọng; Đấng chúng ta bao giờ cũng có thể tin tưởng. Trong việc t́m kiếm chân lư, chúng ta tiến tới chỗ sống bằng niềm tin tưởng v́ thật ra sự thật là một ngôi vị: là Chúa Giêsu Kitô. Đó là lư do tại sao sự tự do chân thực không phải là một thứ bất chấp. Nó là một chấp nhận; tức là ra khỏi bản ngă để con người ḿnh được liên kết với chính bản thân của Chúa Kitô v́ người khác (x Spe Salvi, 28).
Chẳng những môi trường thiên nhiên mà c̣n cả môi trường xă hội nữa – một thứ môi sinh được chúng ta tạo nên kiểu cách cho chúng ta – cũng có những vết xẹo của nó nữa; những vết thương cho thấy rằng có một cái ǵ đó sai quấy. Cả ở đây nữa, nơi cuộc sống cá nhân của chúng ta cũng như trong các cộng đồng của chúng ta, chúng ta có thể gặp phải ḷng hận thù, đôi khi nguy hiểm; một thứ độc chất đe dọa đến việc làm suy ṃn những ǵ là tốt lành, tái cấu trúc con người của chúng ta, và bóp méo cái mục đích v́ thế chúng ta đă được tạo dựng nên. Có đầy giẫy những trường hợp điển h́nh như chính các bạn đều biết. Trong số những ǵ thịnh hành nhất đó là việc lạm dụng men rượu và ma túy, cũng như việc đề cao bạo lực và hạ giá tính dục, những ǵ thường được tŕnh chiếu như vấn đề giải trí tiêu khiển trên truyền h́nh và mạng điện toán toàn cầu. Tôi tự hỏi rằng có ai trực diện với thành phần thực sự chịu đựng bạo lực và bị khai thác t́nh dục để ‘cắt nghĩa’ rằng những thảm trạng này, những ǵ được mô tả một cách hữu sự, chỉ được coi là ‘việc giải trí tiêu khiển’ hay chăng?
Cũng c̣n một điềm gở lạ nữa xuất phát từ sự kiện là quyền tự do và ḷng khoan dung rất thường bị tách khỏi sự thật. Điều này được châm ng̣i bởi một thứ quan niệm được ngày nay thịnh hành chủ trương đó là không có những chân lư tuyệt đối hướng dẫn đời sống của chúng ta. Chủ nghĩa tương đối, bằng việc cống hiến cách bừa băi giá trị thực tiễn cho hết mọi sự, đă làm cho ‘kinh nghiệm’ trở thành những ǵ tối quan trọng. Tuy nhiên, các thứ kinh nghiệm, khi tách khỏi bất cứ lưu tâm nào về những ǵ là tốt lành và chân thực, có thể dẫn đến, không phải là đến một thứ tự do đích thực, mà là đến t́nh trạng lẫn lộn về luân lư hay lư trí, đến một t́nh trạng hạ cấp những tiêu chuẩn, đến cái mất mát về sự tự trọng, và thậm chí đến tuyệt vọng.
Các bạn thân mến, đời sống không được chi phối bởi may rủi t́nh cờ; nó không phải là một cái ǵ ngẫu nhiên. Chính việc hiện hữu của các bạn đă được Thiên Chúa muốn thuưc hiện, chúc lành và đặt mục đích (cf. Gen 1:28)! Đời sống không phải là một chuỗi liên tục các biến cố hay kinh nghiệm, cho dù nhiều kinh nghiệm có hữu ích chăng nữa. Nó là một cuộc t́m kiếm sự thật, sự thiện và sự mỹ. Chính v́ cùng đích này mà chúng ta cần phải thực hiện việc chọn lựa; chính v́ cùng đích ấy mà chúng ta hành sử quyền tự do của ḿnh; chính v́ nơi mục đích này – nơi sự thật, nơi sự thiện và nơi sự mỹ – mà chúng ta thấy được hạnh phúc và niềm vui. Đừng bị lừa dối bởi những ai coi các bạn thuần túy như là một thứ tiêu thụ viên trên thị trường của các thứ những khả thể đồng loạt, nơi mà tự việc chọn lựa trở thành sự thiện, cái mới mẻ lật úp sự mỹ, và kinh nghiệm chủ quan thay thế sự thật.
Chúa Kitô cống hiến c̣n hơn thế nữa! Thật sự là Người cống hiến hết mọi sự! Chỉ có ḿnh Người, Đấng là Sự Thật, mới có thể là Đường Lối và bởi thế cũng là Sự Sống. Như thế, ‘con đường’ được các Tông Đồ mang tới tận cùng trái đất là sự sống trong Chúa Kitô. Đó là sự sống của Giáo Hội. Và cửa ngơ để tiến vào sự sống này, vào con đường Kitô Giáo, đó là Phép Rửa.
Một đại học đường hay căn tính của học đường Công Giáo không phải chỉ là một vấn đề của con số học sinh sinh viên. Nó là vấn đề của niềm xác tín – chúng ta có thực sự tin rằng chỉ ở nơi mầu nhiệm Lời nhập thể mới thật sự sáng tỏ mầu nhiệm về con người (x Gaudium et Spes, 22)? Chúng ta có sẵn sàng dấn toàn thân ḿnh – trí khôn và ḷng muốn, bộ óc và con tim – cho Thiên Chúa hay chăng? Chúng ta có chấp nhận sự thật được Chúa Kitô mạc khải hay chăng? Đức tin có hiện lộ trong các đại học đường và học đường của chúng ta hay chăng? Chúng ta có thiết tha bày tỏ trong lănh vực phụng vụ, bí tích, bằng việc nguyện cầu, những hành động bác ái, quan tâm về công lư, và tỏ ra tôn trọng thiên nhiên tạo vật của Chúa hay chăng? Chỉ có thế chúng ta mới thực sự làm chứng cho ư nghĩa của những ǵ chúng ta là những ǵ chúng ta chấp nhận mà thôi.
Theo chiều kích ấy, người ta có thể nhận thấy rằng ‘cuôc khủng hoảng về sự thật’ hiện đại được bắt nguồn từ ‘cuộc khủng hoảng về đức tin’. Chỉ nhờ đức tin chúng ta mới tự do chấp nhận chứng từ của Thiên Chúa và nh́n nhận Ngài như là bảo đảm viên siêu việt của sự thật do Ngài mạc khải. Chúng ta lại thấy được lư do tại sao việc duy tŕ mối thân t́nh riêng tư với Chúa Giêsu Kitô và việc cùng làm chứng cho sự thật yêu thương của Người là những ǵ bất khả châm chước nơi các tổ chức học hỏi của Công Giáo. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều biết và quan tâm nhận định thấy cái khó khăn hay do dự của nhiều người ngày nay trong việc tin tưởng phó ḿnh cho Thiên Chúa. Nó là một hiện tượng phức tạp và là một hiện tượng tôi cứ vẫn suy nghĩ măi. Trong khi chúng ta chuyên cần tím cách dấn thân cho vấn đề tri thức của giới trẻ, th́ có lẽ chúng ta đă lơ là với ư muốn. Bởi thế chúng ta mới buồn rầu nhận thấy rằng cái ư niệm về tự do đang bị bóp méo. Tự do không phải là một thứ tùy ư muốn (an option out). Nó là một thứ muốn chấp nhận (an option in) – là một thứ tham dự vào chính Sự Hữu. Bởi thế, tự do đích thực không thể nào đạt được nếu tách ĺa Thiên Chúa. Việc tùy ư muốn này cuối cùng sẽ đi đến chỗ gạt ra ngoài chính sự thật chúng ta cần đến để biết được bản thân ḿnh. Thế nên, đối với mỗi một người trong anh chị em và đồng nghiệp của anh chị em, trách nhiệm đặc biệt đó là khêu lên nơi giới trẻ ước muốn thực hiện tác động đức tin, phấn khích họ hăy dấn thân ḿnh cho đời sống của Giáo Hội là những ǵ đi kèm theo niềm tin tưởng ấy. Chính ở chỗ này mà tự do đạt tới tính chất vững chắc của sự thật. Trong việc muốn sống bằng sự thất ấy, chúng ta tỏ ra thiết tha với tất cả sự sống của niềm tin được ban cho chúng ta nơi Giáo Hội.
Thế nên, hiển nhiên là căn tính Công Giáo là những ǵ không lệ thuộc vào thống kê. Nó dĩ nhiên cũng không đối đầu với nội dung của những ǵ là chính thống. Nó là những ǵ đ̣i hỏi và sinh động hơn nhiều, ở chỗ, mỗi và mọi khía cạnh của các cộng động học hỏi đều âm vang trong đời sống đức tin của Giáo Hội. Chỉ có ở nơi đức tin sự thật mới trở nên hiện thực và lư trí mới thực sự là nhân bản, có khả năng hướng dẫn ư muốn theo đường lối của tự do (x Spe Salvi, 23). Có thế, các tổ chức của cúng ta mới góp phần sống động vào sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội và thực sự phục vụ xă hội. Những tổ chức ấy trở nên những nơi chốn cho thấy việc Thiên Chúa sống động hiện diện nơi các nhân loại vụ và giúp cho hết mọi giới trẻ khám phá được niềm vui trong việc ‘sống cho người khác’ của Chúa Kitô’ (xem cùng nguồn vừa dẫn, 28). ......
Đối với các phần tử giáo chức ở các viện đại học Công Giáo, tôi muốn tái khẳng định giá trị cao cả của tự do về hàn lâm. V́ sự tự do này anh chị em được kêu gọi để t́m kiếm chân lư ở bất cứ nơi nào anh chị em được dẫn tới từ việc thận trọng phân tích chứng cớ. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ư là bất cứ viện dẫn nào về nguyên tắc tự do theo hàn lâm để biện minh cho những chủ trương tương phản lại với đức tin và giáo huấn của Giáo Hội đều là những ǵ làm khuất lấp đi hay thậm chí phản bội cái căn tính và sứ vụ của đại học đường; một sứ vụ thuộc về munus docendi của Giáo Hội chứ tự nó không tự trị hay tự lập.
Những vị giáo chức và quản trị viên, ở đại học đường hay học đường, có nhiệm vụ và đặc ân trong việc bảo đảm là thành phần học sinh sinh viên được hướng dẫn theo tín lư và thực hành Công Giáo. Điều này đ̣i hỏi là chứng từ công khai về đường lối của Chúa Kitô, như được thấy trong Phúc Âm và được Huấn Quyền Giáo Hội chấp nhận, là những ǵ khuôn đúc tất cả mọi khía cạnh thuộc đời sống của một tổ chức, cả bên trong lẫn bên ngoài lớp học. Những ǵ đi trệch khỏi nhăn quan này đều làm suy yếu căn tính Công Giáo và thay v́ tăng tiến tự do lại đi đến chỗ lộn xộn bất khả tránh, về phương diện luân lư, tri thức hay thiêng liêng.
Tôi cũng muốn có lời phấn khích cả thành phần giáo chức giáo dân lẫn Tu Sĩ dạy giáo lư, những người cố gắng bảo đảm rằng giới trẻ hằng ngày càng cảm nhận được tặng ân đức tin. Việc giáo dục về đạo giáo là một việc tông đồ khó khăn, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy giới trẻ mong muốn học hỏi về đức tin và mạnh mẽ thực hành đức tin. Nếu việc khơi động này gia tăng th́ các thày cô cần phải hiểu biết một cách rơ ràng và chính xác bản chất và vai tṛ đặc biệt của việc giáo dục Công Giáo. Họ cũng cần phải sẵn sàng đem việc dấn thân của toàn thể cộng đồng học đường đến chỗ hỗ trợ cho giới trẻ của chúng ta cũng như gia đ́nh của họ, để cảm nghiệm thấy mối ḥa hợp giữa đức tin, đời sống và văn hóa.
Đến đây tôi muốn đặc biệt kêu gọi Anh Chị Em Tu Sĩ và Linh Mục là đừng loại bỏ việc tông đồ học đường; thật vậy, hăy canh tân việc dấn thân của anh chị em với các học đường đặc biệt là những những vùng nghèo nàn. Ở những nơi có nhiều hứa hẹn trống rỗng lôi cuốn giới trẻ xa ĺa đường lối chân lư và tự do đích thật, th́ chứng từ của con người tận hiến cho các lời khuyên Phúc Âm là một tặng ân bất khả thay thế. Tôi khuyến khích thành phần Tu Sĩ hiện diện nơi đây hăy canh tân ḷng nhiệt thành để cổ vơ các ơn gọi. Hăy biết rằng chứng từ của anh chị em cho lư tưởng tận hiến và truyền giáo nơi giới trẻ là một nguồn mạch hết sức phấn khởi về đức tin cho họ và gia đ́nh họ.
Cùng tất cả anh chị em tôi xin anh chị em hăy làm chứng cho niềm hy vọng. Hăy nuôi dưỡng chứng từ của anh chị em bằng việc nguyện cầu. Hăy chứng tỏ niềm hy vọng làm nên đời sống của anh chị em (x 1Pt 3:15), bằng việc sống sự thật được anh chị em nêu lên cho học sinh sinh viên của anh chị em. Hăy giúp họ nhận biết và yêu mến Đấng anh chị em gặp gỡ là Đấng anh chị em hân hoan cảm nhiệm được sự thật và sự thiện của Người. Cùng với thánh Âu Quốc Tinh, chúng ta hăy nói rằng: ‘chúng tôi là những người nói và các bạn là những người nghe đều nh́n nhận chúng ta đều là môn đệ với nhau của cùng một vị sư phụ’ (Sermons, 23:2). Với những cảm thức hiệp thông này, tôi hân hoan ban Phép Lành Ṭa Thánh cho anh chị em, đồng nghiệp và sinh viên học sinh của anh chị em, và gia đ́nh của anh chị em.
Thực hiện một cuộc hành tŕnh có nghĩa là bắt đầu theo một chiều hướng đặc biệt, tiến tới một đích điểm nào đó. Điều này cống hiến vẻ đẹp của nó thậm chí cho cuộc hành tŕnh ấy cũng như cho việc nỗ lực kèm theo. Trong số những con người hành tŕnh thuộc gia phả của Chúa Giêsu có nhiều con người đă quên mất đích nhắm và muốn biến ḿnh trở thành đích điểm. Tuy nhiên, Chúa vẫn cứ kêu gọi con người khát vọng cái đích điểm thu hút họ tiến tới, con người hướng cả đời sống ḿnh về đó. Việc thức tỉnh của niềm tin Kitô Giáo, việc hiện tỏ Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô là những ǵ trở thành khả dĩ, v́ có những con người trong dân Yến Duyên đă có ḷng t́m kiếm – những con người không thỏa măn với tập tục nên hướng tới phía trước, t́m kiếm một cái ǵ đó cao cả hơn, như Zechariah, Elizabeth, Simeon, Anna, Mary và Joseph, 12 Tông Đồ và nhiều người khác. V́ tâm can của họ đă trông đợi mà họ đă có thể nhận ra nơi Chúa Giêsu Đấng được Thiên Chúa sai đến, nhờ đó họ có thể trở thành khởi điểm của gia đ́nh hoàn vũ của Người. Giáo Hội của thành phần Chư Dân Ngoại đă trở thành khả dĩ, v́ ở miền Địa Trung Hải và ở những phần đất ấy của Á Châu là nơi những vị sứ giả của Chúa Giêsu đă hành tŕnh tới, có những con người mong đợi không thỏa măn với những ǵ được mọi người quanh họ đang làm và đang nghỉ tưởng, nên họ t́m kiếm ngôi sao có thể chỉ cho họ con đường tiến tới với chính Chân Lư, tới vị Thiên Chúa hằng sống.
Chúng ta cũng cần có một tấm ḷng cởi mở và bồn chồn như của họ. Đó là tất cả ư nghĩa của việc hành hương. Ngày nay cũng như trong quá khứ, việc không nhiều th́ ít giống như mọi người khác và nghĩ như mọi người khác chưa đủ. Đời sống của chúng ta cần phải có một mục đích sâu xa hơn. Chúng ta cần Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa đă tỏ dung nhan của Ngài cho chúng ta và mở ḷng ra cho chúng ta đó là Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan đă có lư nói về Người rằng Người là Thiên Chúa và ở ngay trong ḷng Cha (x Jn 1:18); bởi thế chỉ có Người, từ thẳm cung nơi chính Thiên Chúa, mới có thể mạc khải Thiên Chúa ra cho chúng ta thôi – tỏ cho chúng ta thấy chúng ta là ai, chúng ta từ đâu tới và chúng ta sẽ đi về đâu. Thật sự có nhiều nhân vật cao cả trong lịch sử đă có những cảm nghiệm tuyệt vời và cảm kích về Thiên Chúa. Tuy nhiên, những cảm nghiệm này dầu sao vẫn là cảm nghiệm loài người, bởi đó hữu hạn. Chỉ có NGƯỜI là Thiên Chúa nên chỉ có NGÀI là chiếc cầu nối thực sự mang Thiên Chúa và con người lại với nhau. Bởi vậy, nếu Kitô hữu chúng ta gọi Người là Vị Trung Gian chung duy nhất của ơn cứu độ, xứng hợp với mọi người và tuyệt đối cần cho mọi người, th́ điều này không có nghĩa là chúng ta coi thường các tôn giáo khác, hay chúng ta ngạo mạn tuyệt đối hóa tư tưởng của ḿnh; trái lại, nó có nghĩa là chúng ta được Người nắm bắt, Đấng đă chạm đến ḷng của chúng ta và đă tuôn đổ các tặng ân xuống trên chúng ta, nhờ đó, về phần ḿnh, chúng ta có thể cống hiến những tặng ân cho người khác. Thật vậy, đức tin của chúng ta hoàn toàn ngược lại với thái độ thoái bộ cho rằng con người bất khả đối với sự thật – như thể đó là những ǵ vượt quá tầm tay với của họ. Thái độ thoái bộ liên quan tới sự thật này, tôi tin rằng, là cốt lơi cuộc khủng hoảng của Tây Phương, cuộc khủng hoảng của Âu Châu. Nếu sự thật không hiện hữu đối với con người th́ cuối cùng họ đi đến chỗ không thể phân biệt được giữa lành và dữ. Để rồi, những khám phá lớn lao và tuyệt diệu của khoa học trở thành con dao hai lưỡi, ở chỗ, chúng có thể cống hiến những cơ hội quan trọng cho sự thiện, cho lợi ích của nhân loại, nhưng đồng thời, như chúng ta thấy quá rơ ràng, chúng có thể gây ra một thứ đe dọa kinh hoàng, bao gồm việc hủy diệt con người và thế giới. Chúng ta cần sự thật. Tuy nhiên, phải công nhận là, theo chiều hướng lịch sử của ḿnh, chúng ta cảm thấy lo sợ rằng niềm tin tưởng vào sự thật có thể bao gồm cả việc khoan dung. Nếu chúng ta bị nỗi hăi sợ này cầm giữ, một nỗi sợ hăi hằn sâu trong lịch sử, th́ đă tới lúc chúng ta hăy nh́n lên Chúa Giêsu như chúng ta thấy Người nơi đền thánh ở Mariazell. Chúng ta thấy Người ở đây qua hai h́nh ảnh: như là một con trẻ trong tay Mẹ của Người, và ở bên trên bàn thờ của Đền Thờ như là một Đấng Tử Giá. Hai h́nh ảnh này ở Đền Thờ đây nói với chúng ta thế này: sự thật thắng thế không phải bằng quyền lực bên ngoài, nhưng là những ǵ khiêm hạ và nhường bước cho con người bằng nguyên quyền lực chân thực nội tại của nó. Chân lư tỏ ḿnh ra nơi t́nh yêu. Nó không bao giờ là sở hữu của chúng ta, không bao giờ là sản phẩm của chúng ta, v́ t́nh yêu không bao giờ trở thành một cái ǵ có thể được sản xuất, mà chỉ được lănh nhận và trao ban như là một tặng ân thôi. Chúng ta cần cái quyền lực nội tại này của chân lư. Là Kitô hữu, chúng ta tin tưởng vào quyền lực này của chân lư. Chúng ta là chúng nhân của nó. Chúng ta cần phải trao ban nó như là một tặng ân cùng một cách chúng ta lănh nhận nó, như nó đă ban ḿnh cho chúng ta.