VẤN ĐÁP VỚI GIỚI TRẺ TRƯỚC NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 9/4/2006
Năm câu vấn đáp giữa giới trẻ và Giáo Hoàng Biển Đức XVI ngày Thứ Năm 6/4/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô dịp sửa soạn cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI 9/4 ở Giáo Phận Địa Phương
Theo chiều hướng đi sâu vào ḷng người bằng việc đối thoại với moị thành phần dân Chúa, chẳng hạn vào ngày 15/10/2005 ở Quảng Trường Thánh Phêrô với 7 em trong thành phần thiếu nhi rước lễ lần đầu trong năm đó, hay với 5 vị linh mục thuộc hàng giáo sĩ Giáo Phận Rôma ngày 2/3/2006 tại Sảnh Đường Phúc Đức, Giáo Hoàng Biển Đức XVI, một thần học gia kiêm giáo sư thần học lâu năm, đă tiếp tục chiều hướng này với giới trẻ vào ngày Thứ Năm 6/4/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô nhân dịp sửa soạn cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI (Chúa Nhật Lễ Lá 9/4) ở Giáo Phận Địa Phương. Sau đây là 5 câu vấn đáp giữa ngài và giới trẻ.
Vấn 1: Tâu Đức Thánh Cha, tên con là Simone và con thuộc Giáo Xứ Thánh Bathômêô. Con năm nay 21 tuổi và đang học ngành kỹ sư hóa học ở Đại Học La Sapienza Rôma.
Trước hết, con xin cám ơn Đức Thánh Cha về việc Đức Thánh Cha nói với chúng con sứ điệp cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI về đề tài lời Chúa sáng soi đường đi nước bước của nhân loại qua cuộc đời.
Trước những lo âu và bất định về tương lai, thậm chí chỉ nguyên việc con đang phải vật lộn với nhịp sống hằng ngày, con cũng cảm thấy nhu cầu cần phải được nuôi dưỡng bởi lời Chúa và cần phải nhận biết Chúa Kitô hơn, nhờ đó mới có thể t́m thấy những giải đáp cho những vấn nạn của con.
Con thường tự hỏi Chúa Giêsu sẽ làm ǵ ở vào trường hợp của con, thế nhưng con vẫn không thể nào hiểu được những ǵ Thánh Kinh muốn nói với con. Ngoài ra, con biết rằng các cuốn sách Thánh Kinh được viết bởi thành phần khác nhau thuộc các thời đại khác nhau, dù sao cũng rất cách xa con. Vậy th́ làm sao con có thể hiểu được rằng những ǵ con đọc tuy nhiên cũng là lời Chúa, lời đặt vấn đề với cuộc sống của con? Con xim cám ơn Đức Thánh Cha.
Đáp:
Để bắt đầu, cha sẽ trả lời bằng việc nhấn mạnh đến điểm thứ nhất: Trước hết cần
phải nói rằng người ta không được đọc Thánh Kinh như đọc bất cứ một loại sách
lịch sử nào, chẳng hạn như của Homer, Ovid hay Horace; thật sự cần phải đọc
Thánh Kinh như lời Chúa, tức là tiến tới việc đàm thoại với Chúa.
Người ta cần phải bắt đầu bằng việc cầu nguyện và nói cùng Chúa rằng: “Xin hăy mở cửa cho con”. Và những ǵ được Thánh Âu Quốc Tinh thường nói trong các bài giảng của ngài: “Con gơ cửa lời để cuối cùng t́m thấy những ǵ Chúa muốn nói với con”, đối với tôi, dường như là một vấn đề rất quan trọng. Người ta không được đọc Thánh Kinh một cách học thức, mà bằng việc nguyện cầu, thân thưa cùng Chúa rằng: “Xin hăy giúp con hiểu được lời Chúa, hiểu được những ǵ Chúa muốn nói với con ở đoạn này”.
Điểm thứ hai đó là: Thánh Kinh là những ǵ dẫn con người đến chỗ hiệp thông với gia đ́nh của Thiên Chúa. Bởi thế, người ta không được đọc Sách Thánh một ḿnh. Dĩ nhiên là bao giờ cũng cần phải đọc Thánh Kinh một cách riêng tư, bằng cuộc đối thoại riêng tư với Chúa; thế nhưng đồng thời cũng cần phải đọc Thánh Kinh theo nhóm là nơi chúng ta có thể tiến triển nhờ sự giúp đỡ của các vị đại sư phụ về “việc đọc sách thánh – lectio divina”.
Chẳng hạn chúng ta có nhiều cuốn sách hay của Đức Hồng Y Martini, một bậc sư phụ thực sự của “việc đọc sách thánh”, vị giúp chúng ta tiến vào sự sống của Thánh Kinh. Tuy nhiên, ai là người hoàn toàn thông thuộc tất cả mọi trạng huống lịch sử, tất cả mọi yếu tố đặc biệt trong quá khứ th́ cũng luôn cởi mở để chứng tỏ rằng những lời có vể thuộc về quá khứ cũng là những lời của hiện tại.
Những vị sư phụ này giúp chúng ta hiểu hơn cũng như học cách để làm sao giải thích Thánh Kinh một cách thích đáng. Ngoài ra, nói chung cũng thích hợp thực hiện việc đọc Thánh Kinh với bạn bè là thành phần cùng tiến bước với tôi, thành phần đang cùng với tôi kiếm cách để có thể sống với Chúa Kitô, để t́m thấy một sự sống tuyệt vời do lời Chúa mang lại cho chúng ta.
Điểm thứ ba đó là: Nếu cần phải đọc Thánh Kinh với sự hỗ trợ của các bậc thày và cùng với bạn bè, thành phần cùng tiến bước, th́ cũng đặc biệt cần phải đọc Thánh Kinh trong đại cộng đồng dân Chúa lữ hành, tức là trong Giáo Hội.
Thánh Kinh có hai chủ thể. Trước hết và trên hết là chủ thể thần linh đó chính là Thiên Chúa, Đấng phán dạy. Tuy nhiên, Thiên Chúa muốn con người tham dự vào lời của Ngài. Trong khi những người Hồi Giáo tin rằng Sách Kinh Koran được Thiên Chúa linh ứng bằng lời nói, th́ chúng ta lại tin rằng, Thánh Kinh – như các thần học gia nói – có tính chất “synergy”, tức là tính chất hợp tác giữa Thiên Chúa và con người.
Thiên Chúa muốn con người tham dự vào lời của Ngài mà chủ thể thứ hai là con người – chủ thể thứ nhất như tôi đă nói là Thiên Chúa. Có những cá vị trước tác, thế nhưng vẫn có sự liên tục về một chủ thể thường hằng – đó là dân Chúa là thành phần tiếp tục cuộc hành tŕnh bằng lời Chúa và bằng việc đàm đạo với Chúa. Nhờ việc lắng nghe Chúa, người ta biết lắng nghe lời Chúa để rồi cũng biết dẫn giải lời Chúa.
Như thế, lời Chúa trở thành hiện tại, v́ những ngôi vị cá thể qua đi nhưng chủ thể sống động là dân Chúa vẫn luôn sống c̣n và là một chủ thể trải qua các thiên kỷ: Lời Chúa bao giờ cũng sống trong cùng một chủ thể sống động.
Điều này cũng cho thấy được nhiều cấu trúc của Thánh Kinh, nhất là của việc được gọi là đọc lại Thánh Kinh. Một cuốn sách cổ thời được đọc lại nơi một cuốn sách khác, chẳng hạn viết 100 năm sau đó, và những ǵ đă không thể nào hiểu được vào thời điểm xa xưa ấy, cho dù chúng đă được chất chứa nơi cuốn sách trước đó, đă hiểu được một cách sâu xa.
Và chính việc đọc lại, đọc lại sau các thời đại, mà một lần nữa, thấu hiểu được những khía cạnh khác, những chiều kích khác của lời Chúa. Bởi vậy mà Thánh Kinh đă tiến triển, nơi việc măi măi đọc lại và viết lại theo chiều hướng liên tục sâu xa, theo một tiến tŕnh liên tục của các thời điểm đợi trông.
Cuối cùng, với việc Chúa Kitô xuất hiện và cảm nghiệm của các vị tông đồ, lời Chúa trở thành vĩnh viễn. Do đó, không c̣n viết lại Thánh Kinh hơn được nữa, nhưng vẫn cần đến việc chúng ta tiếp tục hiểu biết sâu xa hơn. Chúa Kitô đă phán: “Thánh Thần sẽ dẫn chúng con vào những tầng sâu thẳm mà giờ đây các con không thể nào ḍ thấu”.
Như thế, mối hiệp thông của Giáo Hội là chủ thể sống động của Thánh Kinh. Tuy nhiên, cả ở đây nữa, chủ thể chính vẫn là chính Chúa, Đấng tiếp tục phán dạy qua Thánh Kinh là cuốn sách chúng ta đang có trong tay.
Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải học biết thực hiện ba điều sau đây: đó là việc đọc Thánh Kinh một cách đàm thoại tư riêng với Chúa; đọc Thánh Kinh theo sự hướng dẫn của các bậc thày có kinh nghiệm về đức tin, thành phần thấu đáo Thánh Kinh, và đọc Thánh Kinh với đại gia đ́nh Giáo Hội là nơi phụng vụ không thôi hiện hữu hóa những biến cố và là nơi Chúa nói với chúng ta hôm nay đây.
Nhờ đó chúng ta mới từ từ tiến sâu hơn nữa vào Thánh Kinh là nơi Thiên Chúa thực sự nói với chúng ta hôm nay đây.
Vấn 2:
Tâu Đức Thánh Cha, tên con là Anna. Con 19 tuổi, con đang theo học văn chương,
và con thuộc về Giáo Xứ Thánh Maria Camêlô.
Một trong những vấn đề chúng con thường phải đối diện đó là làm sao để giải quyết các vấn đề về cảm xúc. Chúng con thường thấy yêu thương là cái ǵ khó khăn. Phải, nó là vấn đề khó khăn: Bởi v́ nó dễ bị lẫn lộn yêu thương với vị kỷ, nhất là ngày nay khi mà hầu hết truyền thông đại chúng áp đặt trên chúng ta một thứ nhăn quan duy cá nhân và tục hóa về dục tính, một nhăn quan nh́n mọi sự đều hợp pháp và mọi sự đều được phép làm, nhân danh tự do và lương tâm cá nhân con người.
Gia đ́nh được xây dựng trên hôn nhân giờ đây dường như là một cái ǵ đó do Giáo Hội sáng chế ra, chưa nói đến những liên hệ tiền hôn là những ǵ bị cấm đoán mà đối với nhiều người trong tín hữu chúng con khó có thể hiểu được hay bị lỗi thời rồi vậy.
Nhận thức rơ là rất nhiều người trong chúng con đang cố gắng sống cuộc sống t́nh cảm một cách hữu trách, Đức Thánh Cha có thể nào giải thích cho chúng con những ǵ Lời Chúa đă nói với chúng ta về vấn đề này chăng? Con xin cám ơn Đức Thánh Cha.
Đáp:
Đây là một câu hỏi bao rộng, chắc chắn không thể trả lời cho nó trong ṿng mất
phút đồng hồ, thế nhưng tôi sẽ cố gắng nói mấy lời.
Chính bản thân của Anna đă cống hiến cho chúng ta một số những câu hỏi. Cô nói rằng ngày nay yêu thương thường được hiểu sai v́ nó được tŕnh bày cho thấy như là một cảm nghiệm vị kỷ, trong khi đó nó thực sự là một bỏ ḿnh, nhờ đó trở thành một việc khám phá thấy bản thân ḿnh.
Cô c̣n nói rằng thứ văn hóa hưởng thụ làm cho đời sống của chúng ta bị sai lạc bởi tương đối chủ nghĩa là những ǵ dường như ban cho chúng ta hết mọi sự thế nhưng thật ra lại làm cho chúng ta hoàn toàn bị cạn kiệt.
Bởi vậy chúng ta hăy lắng nghe lời Chúa về vấn đề này. Anna có lư để muốn biết những ǵ lời Chúa phán dạy. Đối với tôi thật là tuyệt vời khi nhận thấy rằng ngay ở những trang đầu tiên của Thánh Kinh, sau tŕnh thuật về việc con người được tạo dựng nên, chúng ta thấy ngay được ư nghĩa của yêu thương và của hôn nhân.
Tác giả sách thánh nói với chúng ta rằng: “Người nam sẽ ĺa bỏ cha mẹ ḿnh mà gắn bó với vợ ḿnh, và họ sẽ trở nên một xác thịt”, một đời sống (x Gen 2:24-25). Chúng ta được mở màn cho thấy và được cống hiến cho thấy một lời báo trước về ư nghĩa của hôn nhân; và ư nghĩa này vẫn c̣n nguyên như thế ở trong Tân Ước.
Hôn nhân là việc yêu thương theo người khác, nhờ đó trở nên một cuộc sống duy nhất, một xác thịt suy nhất, nên là những ǵ bất khả phân ly; một đời sống mới được xuất phát từ mối hiệp thông yêu thương này, mối hiệp thông liên kết và bởi đó cũng tạo nên tương lai.
Các thần học gia thời trung cổ, khi cắt nghĩa việc khẳng định được thấy nơi những trang đầu tiên của Thánh Kinh ấy, đă nói rằng hôn nhân là bí tích đầu tiên trong 7 bí tích đă được Thiên Chúa thiết lập vào lúc tạo thành, trong vườn địa đường, khi lịch sử mở màn và trước cả lịch sử của nhân loại nữa.
Nó là một bí tích của Đấng Tạo Thành vũ trụ; bởi thế, nó được ghi khắc nơi chính hữu thể con người, thành phần hướng chiều về cuộc hành tŕnh này, một cuộc hành tŕnh mà người nam bỏ cha mẹ để nên một với một người nữ hầu trở thành một xác thịt duy nhất, nhờ đó cả hai sống một cuộc sống duy nhất.
Do đó bí tích hôn nhân không phải là một sáng kiến của Giáo Hội; nó thực sự là những ǵ “được đồng sáng tạo nên” với con người, như là một thứ hoa trái của năng lực yêu thương, một năng lực làm cho con người nam nữ t́m thấy chính bản thân ḿnh, nhờ đó làm cho họ thấy cả được Đấng Hóa Công là Vị đă kêu gọi họ yêu thương.
Thật sự là con người đă sa ngă và bị đuổi ra khỏi vườn địa đường, hay nói cách khác, nói một cách tân tiến hơn, thật sự là tất cả mọi nền văn hóa đều bị ô nhiễm bởi tội lỗi, bởi những lỗi lầm của loài người trong lịch sử, và thật sự là dự án nguyên thủy được ghi khắc nơi bản tính của chúng ta v́ thế đă bị mờ ám đi. Đúng thế, chúng ta thấy nơi các nền văn hóa của con người cái mờ ám này bao phủ dự án nguyên thủy của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, nếu đồng thời chúng ta nh́n vào các nền văn hóa, nh́n vào toàn bộ lịch sử văn hóa của nhân loại, chúng ta nhận thấy rằng con người chưa bao giờ hoàn toàn quên được dự án ấy, một dự án hiện diện thẳm sâu nơi hữu thể của họ. Ở một nghĩa nào đó, họ luôn biết rằng các h́nh thức khác của mối liên hệ nam nữ không thực sự xứng hợp với dự án nguyên thủy giành cho hữu thể của họ.
Do đó mà nơi các nền văn hóa, nhất là các nền văn hóa lớn, chúng ta thấy đi thấy lại là chúng hướng về thực tại này, đó là thực tại một vợ một chồng, thực tại người nam làm chồng ấy và người nữ làm vợ ấy trở nên một xác thịt.
Đó là cách thức làm thế nào để một tân thế hệ có thể phát triển một cách trung thực, làm thế nào để một truyền thống văn hóa có thể bền vững, liên tục cải tiến chính ḿnh và đạt được t́nh trạng thực sự tiến bộ.
Chúa Kitô, Đấng đă nói về điều này bằng các ngôn từ của những vị tiên tri trong dân Yến Duyên, khi nói về việc Moisen là người đă cho phép ly dị, đă phán rằng Moisen cho phép các người ly dị “v́ sự cứng ḷng của các người”. Sau nguyên tội, cơi ḷng trở nên “cứng cỏi”, thế nhưng đó không phải là những ǵ Đấng Hóa Công đă dự tính, và các vị tiên tri đă nhấn mạnh càng lúc càng sáng tỏ hơn đến dự án nguyên thủy này.
Để canh tân lại con người, Chúa Kitô – khi ám chỉ tới những tiếng nói của các vị tiên tri luôn hướng dẫn Yến Duyên hướng tới chỗ sáng tỏ về t́nh trạng đơn hôn – đă cùng với tiên tri Êzêkiên nh́n nhận rằng, để sống ơn gọi ấy, chúng ta cần phải có một con tim mới; thay cho con tim bằng đá – như tiên tri Êzêkiên nói – chúng ta cần một con tim bằng thịt, một con tim thực sự loài người.
Và Chúa Kitô đă “cấy” trái tim mới này nơi chúng ta khi chúng ta tin tưởng lănh nhận phép rửa. Đây không phải là một thứ cấy ghép về thể lư, song chúng ta có thể sử dụng việc so sánh này. Sau cuộc cấy ghép, sinh vật ấy cần phải được trị liệu, cần phải có những thứ thuốc men thiết yếu để có thể sống với con tim mới này, nhờ đó nó trở nên “con tim riêng của con người” chứ không phải là “con tim của người khác”.
Điều này cũng đặc biệt xẩy ra nơi “việc cấy ghép thiêng liêng” khi Chúa Kitô cấy nơi chúng ta một con tim mới, một con tim hướng về Đấng Hóa Công, cởi mở trước ơn gọi của Thiên Chúa. Để có thể sống với con tim mới mẻ này cần phải được trị liệu đầy đủ; người ta cần phải sử dụng những loại thuốc men thích hợp để nó có thể trở nên thực sự là “con tim của chúng ta”.
Bởi thế, nhờ việc sống hiệp thông với Chúa Kitô, với Giáo Hội của Người, con tim mới ấy thực sự trở thành “con tim riêng của chúng ta” và làm cho hôn nhân trở thành khả dĩ. T́nh yêu thương độc chiếm giữa một con người nam và một con người nữ này, đời sống như vợ chồng của họ theo dự án của Đấng Hóa Công, trở thành khả thể, cho dù bầu khí của thế giới chúng ta đây làm cho nó trở thành khó khăn tới độ dường như bất khả.
Chúa Kitô ban cho chúng ta một con tim mới và chúng ta cần phải sống với con tim mới này, bằng cách sử dụng những trị liệu thích hợp để bảo đảm rằng nó thực sự là “của riêng chúng ta”. Có thế chúng ta mới có thể sống với tất cả những ǵ Đấng Hóa Công ban cho chúng ta và nhờ đó mới tạo nên được một đời sống hạnh phúc đích thực.
Quả thực chúng ta cũng có thể thấy được nó trên thế giới này, bất kể có nhiều kiểu sống khác: Có rất nhiều gia đ́nh Kitgô hữu sống trung thành và hân hoan cuộc đời và t́nh yêu được Đấng Hóa Công chỉ định cho chúng ta, nhờ đó mà một tân nhân loại đang được phát triển.
Sau hết, tôi muốn nói thêm là tất cả chúng ta đều biết rằng để đạt tới đích điểm ở một môn thể thao hay nơi ngành nghề nào của ḿnh, th́ cần phải có kỷ cương và hy sinh; thế nhưng, nhờ đạt tới đích điểm ước mong, mà hoàn toàn được công thành danh toại.
Chính sự sống cũng như thế. Nói cách khác, việc trở thành con người nam nữ theo ư muốn của Chúa Giêsu là việc đ̣i phải hy sinh, thế nhưng những hy sinh ấy hoàn toàn không phải là những ǵ tiêu cực; trái lại, chúng là một thứ trợ giúp để sống như một con người có quả tim mới, sống một con người thực sự và sống một cuộc đời hạnh phúc.
V́ thứ văn hóa hưởng thụ hiện hữu là để ngăn cản chúng ta sống theo dự án của Đấng Hóa Công mà chúng ta cần phải tỏ ra can trường trong việc tạo nên những hải đảo, những ốc đảo, rồi những vươn dài trải rộng mảnh đất văn hóa Công Giáo là thứ văn hóa sống trọn dự án của Đấng Hóa Công.
Vấn 3: Tâu Đức Thánh Cha, con tên là Inelida. Con 17 tuổi, là một phụ tá của trưởng Hướng Đạo ở giáo xứ Thánh Grêgôriô Barberigo, và con đang theo học trường nghệ thuật đệ nhị cấp Mario Mafai năm cuối cùng.
Trong sứ điệp gửi cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI Đức Thánh Cha đă nói rằng: “Cần phải cấp tốc có được một thế hệ tông đồ mới sống sâu xa chặt chẽ vào Lời Chúa Kitô” [L'Osservatore Romano English edition, March 1, 2006, p. 3]. Đây là những lời mănh liệt và gắt gao đến nỗi chúng hầu như làm cho chúng con hoảng sợ.
Dĩ nhiên là chúng con muốn trở thành những tân tông đồ, thế nhưng Đức Thánh Cha có thể giải thích cho chúng con biết chi tiết hơn nữa những ǵ Đức Thánh Cha nghĩ rằng là những thách đố cả thể nhất cần phải đương đầu trong thời đại của chúng ta đây, và Đức Thánh Cha nghĩ thành phần tân tông đồ này cần phải là thành phần như thế nào? Nói cách khác, Chúa Kitô mong muốn ǵ nơi chúng con?
Đáp: Tất cả chúng ta đều tự hỏi ḿnh rằng Chúa Kitô mong muốn ǵ nơi chúng ta. Đối với tôi, thách đố lớn của thời đại chúng ta đây – những ǵ các vị giám mục viếng thăm Ṭa Thánh ngũ niên nói với tôi, những vị ở Phi Châu chẳng hạn – đó là t́nh trạng tục hóa: tức là một lối sống và hiện hữu trên thế gian này như ‘si Deus non daretur’, tức như thể Thiên Chúa không hiện hữu.
Người ta muốn biến Thiên Chúa trở thành những ǵ thuộc về lănh vực riêng tư, thuộc về lănh vực t́nh cảm, như thể Ngài không phải là một thự ctại khách quan. Nhớ đó, mọi người đều hoạch định cuộc sống cho riêng ḿnh. Thế nhưng, nhăn quan này, hiện lên như là những ǵ có tính cách khoa học, chỉ chấp nhận những ǵ có thể chứng minh được mới có giá trị mà thôi.
Trước một Vị Thiên Chúa không thuận lợi cho cuộc trực tiếp thí nghiệm, th́ nhăn quan này đi đến chỗ cũng làm tổn hại tới cả xă hội nữa. Thật vậy, hậu quả đó là mỗi người thực hiện dự án riêng của ḿnh để rồi cuối cùng cảm thấy ḿnh tương phản với người khác. Như chúng ta đă có thể thấy được, th́ đây là một t́nh trạng hoàn toàn không thể nào tồn tại nổi.
Chúng ta cần phải làm cho Thiên Chúa tái hiện diện nơi xă hội của chúng ta. Đối với tôi th́ điều này như là yếu tố thiết yếu đệ nhất: đó là Thiên Chúa cần phải tái hiện diện trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta không được sống như thể chúng ta là thành phần biệt lập có quyền sáng tạo nên những ǵ là tự do và sự sống. Chúng ta cần phải nh́n nhận rằng chúng ta là loài tạo vật, ư thức rằng có một Vị Thiên Chúa là Đấng đă tạo dựng nên chúng ta và việc sống theo ư muốn của Ngài không phải là lệ thuộc mà là một tặng ân yêu thương làm cho chúng ta tồn tại.
Bởi thế, vấn đề thứ nhất đó là nhận biết Thiên Chúa, là biết Ngài mỗi ngày một hơn, ư thức rằng Thiên Chúa ở trong đời sống của tôi, và Thiên Chúa có chỗ của Ngài ở đó.
Vấn đề thứ hai đó là – nếu chúng ta nh́n nhận rằng có một Vị Thiên Chúa, tự do của chúng ta là một tự do chung đụng với người khác và do đó cần phải có một giới hạn chung để xây dựng một thực tại chung – th́ vấn đề thứ hai tôi đang nói tới ở đây cho thấy vấn đề Vị Thiên Chúa nào đây? Thật thế, có rất nhiều h́nh ảnh sai lầm về Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa bạo động chẳng hạn v.v.
Do đó, vấn đề thứ hai đó là vấn đề nh́n nhận Vị Thiên Chúa là Đấng đă tỏ dung nhan của Ngài cho chúng ta thấy nơi Đức Giêsu, Vị đă chịu khổ v́ chúng ta, Vị đă yêu thương chúng ta cho tới chết, nhờ dó đă khống chế bạo lực. Trước hết cần phải làm cho Vị Thiên Chúa sống động này hiện diện trong đời sống “riêng” của chúng ta, Vị Thiên Chúa này không phải là một kẻ xa lạ, là một Thiên Chúa hư cấu, một Vị Thiên Chúa được nghĩ ra, mà là một Vị Thiên Chúa tự tỏ ḿnh ra, Đấng đă tỏ hữu thể và dung nhan của ḿnh ra.
Chỉ có thế, đời sống của chúng ta mới trở nên nhân bản thực sự, trở nên nhân bản đích thực; nhờ đó xă hội mới có được một qui chuẩn cho một nền nhân bản chân thực.
Cả ở đây nữa, như tôi đă nói trong câu giải đáp đầu tiên, thật sự chúng ta không thể một ḿnh xây dựng cuộc đời chính đáng và chính trực này mà không cần phải thực hiện cuộc hành tŕnh với nhóm bạn tốt lành chính trực, thành phần bạn hữu cùng chúng ta cảm nghiệm rằng Thiên Chúa là Đấng hiện hữu và việctiến bước với Ngài thật là tuyệt vời; cùng với việc tiến bước với đại cộng đồng Giáo Hội là cộng đồng qua các thế kỷ cho chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng đang nói với chúng ta, là Đấng đang tác động và là Đấng hỗ trợ chúng ta.
Bởi thế tôi muốn nói rằng việc gặp gỡ Thiên Chúa, gặp gỡ Vị Thiên Chúa tỏ ḿnh nơi Đức Giêsu Kitô, việc tiến bước với đại gia đ́nh của Ngài, với những người anh chị em của chúng ta thuộc về gia đ́nh của Thiên Chúa, đối với tôi, là những ǵ thiết yếu cho thành phần tân tông đồ được tôi nói tới vậy.
Vấn 4: Tâu Đức Thánh Cha, con tên là Vittorio, con thuộc Giáo Xứ Thánh Gioan Bosco ở Cinecittà. Con 20 tuổi và đang theo học ngành giáo dục ở Đại Học Tor Vergata.
Trong sứ điệp của Đức Thánh Cha cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI, một lần nữa, Đức Thánh Cha mời gọi chúng con đừng sợ đáp lại Chúa một cách quảng đại, nhất là khi Người gợi ư muốn chúng con theo Người sống đời tận hiến hay linh mục. Đức Thánh Cha nói với chúng con rằng nếu chúng con không sợ hăi, nếu chúng con tin tưởng nơi Người, th́ chúng con sẽ không bị lừa đảo.
Con tin rằng nhiều người trong chúng con, ở nơi đây hay trong số những ai đang ở nhà theo dơi chúng ta buổi tối hôm nay trên truyền h́nh, đang nghĩ về việc theo Chúa Giêsu sống đời đặc biệt tận hiến, thế nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng hiểu được đó có phải là con đường ngay chính hay chăng.
Đức Thánh Cha có thể nói cho chúng con biết chính Đức Thánh Cha đă tiến đến chỗ hiểu được ơn gọi của Đức Thánh Cha hay chăng? Đức Thánh Cha có thể ban cho chúng con lời khuyên dụ để chúng con có thể thực sự hiểu được rằng Chúa Kitô đang gọi chúng con theo Người để sống đời tận hiến hay linh mục hay chăng? Con xin cám ơn Đức Thánh Cha.
Đáp:
Đối với trường hợp của tôi, tôi đă lớn lên ở một thế giới rất khác với thế giới
ngày nay, nhưng cuối cùng th́ t́nh trạng lại giống như nhau.
Một mặt th́ t́nh trạng “Kitô Giáo” vẫn c̣n đó, vẫn c̣n được đến nhà thờ như thường và chấp nhận đức tin theo như Thiên Chúa mạc khải, và cố gắng sống theo mạc khải của Ngài; đàng khác lại có chế độ Nazi lớn tiếng tuyên bố rằng: “Ở tân Đức quốc này không c̣n vấn đề linh mục, không c̣n vấn đề sống đời tận hiến, chúng ta không cần đến những thành phần ấy; hăy t́m kiếm một nghề nghiệp khác”.
Tuy nhiên, chính v́ nghe thấy những tiếng “la lối” ấy, đối diện với cảnh tàn ác của chế độ ấy với một gương mặt phi nhân, mà tôi đă nhận ra rằng lại càng cần phải có các vị linh mục.
Cái tương phản ấy, việc chứng kiến thấy thứ văn hóa phản nhân bản ấy, đă củng cố niềm xác tín của tôi là Chúa Kitô, Phúc Âm và đức tin mới chỉ cho thấy con đường ngay chính, và chúng ta buộc phải dấn thân bảo đảm để c̣n đường này được tồn tại. Trong trường hợp như thế, ơn gọi làm linh mục tăng tiến nơi tôi, hầu như là tự nhiên, không hề xẩy ra một biến cố hoán cải thảm thiết nào.
C̣n hai điều khác cũng đă giúp tôi trong cuộc hành tŕnh này, ở chỗ, là một đứa con trai, được cha mẹ và linh mục coi xứ giúp đỡ, tôi đă khám phá ra vẻ đẹp của phụng vụ, và tôi tiến đến chỗ yêu chuộng phụng vụ mỗi ngày một hơn, v́ tôi cảm thấy rằng vẻ đẹp thần linh tỏ hiện nơi phụng vụ và trời cao mở ra trước mắt chúng ta.
Yếu tố thứ hai là việc khám phá ra vẻ đẹp của kiến thức, của việc hiểu biết Thiên Chúa và Thánh Kinh, nhờ đó mới có thể tiến vào cuộc phiêu lưu cả thể của việc đối thoại với Thiên Chúa đó là thần học. Bởi vậy, thật là niềm vui khi tiến vào công cuộc thần học cả ngàn năm này, tham dự vào việc cử hành phụng vụ này là việc trong đó Thiên Chúa ở với chúng ta và cử hành với chúng ta.
Dĩ nhiên, cũng không phải là không có vấn đề. Tôi đă tự hỏi rằng tôi thực sự có thể sống độc thân suốt đời của ḿnh được chăng. Là một con người được đào luyện về lư thuyết chứ không phải thực hành, tôi cũng biết rằng việc yêu chuộng thần học vẫn chưa đủ để trở thành một vị linh mục tốt lành, song c̣n cần phải luôn trở nên thuận lợi cho giới trẻ, cho người già, cho bệnh nhân và cho người nghèo, tức nhu cầu cần phải trở thành giản dị với thành phần đơn thành.
Thần học là những ǵ đẹp đẽ thật, nhưng tính chất đơn thành nơi ngôn từ và đời sống Kitô hữu là những ǵ bất khả châm chước. Bởi vậy mà tôi đă tự hỏi ḿnh rằng: Liệu tôi có thể sống tất cả những điều ấy hay chăng, chứ không chỉ sống một chiều, thuần túy là một thần học gia v.v.?
Tuy nhiên, Chúa Kitô đă giúp tôi và thành phần bạn hữu, trong đó đặc biệt có các vị linh mục và thày dạy tốt lành đă giúp đỡ tôi.
Trở về với câu hỏi, tôi nghĩ cần phải chú ư tới những cử chỉ của Chúa nơi cuộc hành tŕnh của chúng ta. Người nói với chúng ta qua các biến cố, qua con người, qua các cuộc gặp gỡ: Cần phải chú ư tới tất cả những điều ấy.
Thế rồi, vấn đề thứ hai đó là cần phải tiến vào cuộc thân t́nh thật sự với Chúa Giêsu bằng mối liên hệ riêng tư với Người, chứ không phải chỉ biết Chúa Giêsu là ai từ kẻ khác hay từ các thứ sách vở, mà là sống mối liên hệ riêng tư sâu xa hơn với Chúa Giêsu, để có thể bắt đầu hiệu được những ǵ Người đang muốn ngỏ ư với chúng ta.
Sau đó là việc nhận thức về những ǵ tôi là, về những khả năng của tôi, ở chỗ, một mặt th́ can đảm, mặt khác th́ khiêm tốn, tin tưởng và cởi mở, cùng với cả sự giúp đỡ của bạn bè, của thẩm quyền Giáo Hội cũng như của các vị linh mục, của các gia đ́nh: Chúa muốn ǵ nơi tôi đây?
Dĩ nhiên, đó luôn là một cuộc đại mạo hiểm, thế nhưng cuộc sống chỉ thành công nếu chúng ta can đảm mạo hiểm, tin tưởng rằng Chúa Kitô sẽ không bao giờ để tôi một ḿnh, Chúa Kitô sẽ đi với tôi và giúp đỡ tôi.
Vấn 5: Tâu Đức Thánh Cha, con là Giovanni, con 17 tuổi, con đang theo học ở trường trung học đệ nhị cấp về kỹ thuật và khoa học Giovanni Giorgi Rôma, và con thuộc về Giáo Xứ Thánh Maria Mẹ T́nh Thương.
Con xin Đức Thánh Cha giúp chúng con hiểu hơn về cách thức mạc khải thánh kinh và lư thuyết khoa học có thể đồng qui lại trong việc t́m kiếm chân lư.
Chúng con thường được hướng dẫn để cho rằng kiến thức và đức tin là kẻ thù của nhau; kiến thức và kỹ thuật là điều giống nhau; chính nhờ luận lư toán học mà mọi sự được khám phá ra; thế giới này là kết quả của một sự ngẫu nhiên, và nếu toán học không khám phá ra được định lư về Thiên Chúa là v́ Thiên Chúa không hiện hữu thế thôi.
Tóm lại, nhất là khi chúng con đang học hỏi đây, không phải bao giờ cũng dễ dàng truy tầm mọi sự trở về với dự án thần linh vốn có nơi thiên nhiên và lịch sử của loài người. Bởi thế mà có những lúc đức tin bị chao đảo hay biến thành một tác động thuần t́nh cảm vậy thôi.
Tâu Đức Thánh Cha, như tất cả mọi con người trẻ khác, con cũng khao khát sự thật: Thế nhưng làm sao con có thể ḥa hợp kiến thức với đức tin đây?
Đáp: Đại khoa học gia Galileo đă nói rằng Thiên Chúa đă viết một cuốn sách về thiên nhiên qua h́nh thức ngôn ngữ của toán học. Ông tin tưởng rằng Thiên Chúa đă ban cho chúng ta hai cuốn sách, đó là cuốn Thánh Kinh và cuốn thiên nhiên. Và ngôn ngữ của thiên nhiên – theo ông tin tưởng – đó là toán học, bởi thế nó là ngôn ngữ của Thiên Chúa, ngôn ngữ của Đấng Hóa Công.
Giờ đây chúng ta hăy suy nghĩ về bản chất của toán học: Tự ḿnh, nó là một hệ thống trừu tượng, một sáng tạo của tâm linh con người mà bởi thế theo tính cách tinh tuyền của ḿnh nó không hiện hữu. Nó bao giờ cũng hầu như chính xác, nhưng nhờ đó mới là một hệ thống của lư trí, một sáng chế lớn lao khéo léo của tâm linh con người.
Điều lạ lùng ở đây là cái sáng chế này của lư trí con người thực sự lại là chiếc
ch́a khóa then chốt để hiểu biết thiên nhiên, một thiên nhiên thực sự được cấu
trúc theo đường lối toán học, và toán học của chúng ta, thứ toán học được trí
khôn nhân loại sáng chế ra, thực sự là dụng cụ để làm việc với thiên nhiên,
trong việc dùng nó để phục vụ chúng ta, trong việc sử dụng nó bằng kỹ thuật.
Đối với tôi hầu như không thể nào tin nổi là một sáng chế của trí khôn con người lại ăn khớp với cấu trúc của vũ trụ. Toán học, cái chúng ta sáng chế ra, thật sự cống hiến cho chúng ta cách thức để có thể tiến tới với thiên nhiên trong vũ trụ và làm cho chúng ta có thể sử dụng thiên nhiên vũ trụ.
Bởi thế mà cấu trúc về tri thức nơi chủ thể con người và cấu trúc khách quan nơi thực tại ăn khớp với nhau, ở chỗ, lư trí chủ quan và lư trí khách quan của thiên nhiên là những ǵ đồng nhất. Tôi nghĩ rằng cái ăn khớp này giữa những ǵ chúng ta nghĩ tới với cách thức thiên nhiên được nên trọn và tác hành là một đại bí ẩn và là một thứ thách đố lớn lao, v́ chúng ta thấy rằng, cuối cùng, chỉ có một “lư trí” duy nhất liên kết cả hai chúng lại với nhau.
Lư trí của chúng ta không thể khám phá ra cái lư trí khác đó nếu không có một tiền lư trí đồng nhất cho cả hai.
Theo ư nghĩa ấy th́ đối với tôi toán học – trong một khoa học như vậy Thiên Chúa không thể xuất hiện - thực sự cho chúng ta thấy cái cấu trúc khéo léo của vũ trụ. Mà cũng có cả các lư thuyết về những t́nh trạng hỗn độn nữa, nhưng chúng được giới hạn lại v́ nếu những t́nh trạng hỗn độn làm chủ t́nh h́nh th́ tất cả mọi thứ kỷ thuật sẽ trở thành bất khả. Chỉ v́ toán học của chúng ta là những ǵ xác thực mà kỹ thuật mới xác thực.
Kiến thức của chúng ta, một kiến thức cuối cùng làm cho ḿnh có thể giao tiếp với các năng lực của thiên nhiên, công nhận cái cấu trúc xác thực và tinh khéo của thể chất. Bởi vậy mà chúng ta thấy rằng có tính cách hữu lư theo chủ quan và tính cách hữu lư được khách quan hóa nơi thể chất ăn khớp với nhau.
Dĩ nhiên, hiện nay không ai có thể chứng minh – như được chứng minh bằng một thí nghiệm, theo những luật lệ về kỹ thuật – là cả hai tính chất này đều thực sự phát xuất từ một lư trí duy nhất, thế nhưng, đối với tôi th́ mối hiệp nhất này của lư trí, đằng sau hai thứ lư trí ấy, thực sự xuất hiện ở trong thế giới của chúng ta đây. Và chúng ta càng dùng lư trí của ḿnh để đi sâu vào thế giới này th́ dự án của Đấng Hóa Công càng hiện lên một cách rơ ràng hơn.
Tóm lại, để tiến đến câu trả lời dứt khoát tôi muốn nói thế này: Thiên Chúa hiện hữu hay Ngài không hiện hữu. Chỉ có hai chọn lựa mà thôi. Hoặc người ta nh́n nhận cái ưu tiên của lư trí, của lư trí sáng tạo là nguyên thủy của tất cả mọi sự và là nguyên lư của tất cả mọi sự – cái ưu tiên của lư trí cũng là cái ưu tiên của tự do – hay người ta chủ trương cái ưu tiên của cái phi lư trí, v́ hết mọi sự xẩy ra trên trái đất của chúng ta đây, cũng như trong đời sống của chúng ta, chỉ là ngẫu nhiên t́nh cờ, là những ǵ bên lề, là một thành quả phi lư trí – lư trí là sản phẩm của cái phi lư trí.
Cuối cùng người ta không thể nào “chứng minh” được dự án nào hết, thế nhưng cái chọn lựa cao cả của Kitô Giáo là một chọn lựa về tính chất hữu lư cũng như về cái ưu tiên của lư trí. Đối với tôi đó là một chọn lựa tuyệt hảo, một chọn lựa cho chúng ta thấy rằng đằng sau hết mlọi sự là một Lư Trí cao cả chúng ta chỉ có thể kư thác bản thân ḿnh cho Lư Trí ấy mà thôi.
Tuy nhiên, vấn đề thực sự gây khó khăn cho đức tin ngày nay đối với tôi là sự dữ trên thế giới này: Chúng ta tự hỏi ḿnh xem làm sao nó có thể xứng hợp với tính chất hữu lư của Đấng Hóa Công được chứ. Và ở nơi đây chúng ta thực sự cần đến Thiên Chúa, Đấng đă hóa thành nhục thể và tỏ cho chúng ta thấy rằng Người chẳng những có một trí khôn về toán học mà cái trí khôn nguyên thủy này cũng là t́nh yêu nữa. Nếu chúng ta nh́n vào những lựa chọn lớn lao này, th́ cái chọn lựa này của Kitô Giáo ngày nay là một chọn lựa hữu lư nhất và nhân bản nhất.
Bởi thế, chúng ta có thể tin tưởng thực hiện một thứ triết lư, một nhăn quan về thế giới được dựa trên cái ưu tiên của lư trí, trên niềm tin tưởng rằng cái lư trí sáng tạo này là t́nh yêu và t́nh yêu ấy là Thiên Chúa vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23-24/4/2006