"Vị Thiên Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô"

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và tuyển dịch

 

Nhập Cuộc

“Thiên Chúa biến ḿnh trở nên nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu biết Ngài”

Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp’, không phải là vị Thiên Chúa ở đâu đó trên Trời, chẳng quan hệ ǵ tới chúng ta và lịch sử của chúng ta, mà Ngài là vị Thiên Chúa đang đến

"Thiên Chúa không phải là một thứ giả thiết về triết lư, Ngài không phải là một cái ǵ đó có lẽ hiện hữu, thế nhưng chúng ta biết Ngài và Ngài biết chúng ta"

“Vị Thiên Chúa đă bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài”

"Vị Thiên Chúa thực sự thần linh này là vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra như logos – lời, và như logos – lời, ngài đă tác hành và tiếp tục tác hành một cách yêu thương đối với chúng ta"

"Thiên Chúa không ở xa cách chúng ta, Ngài không ở một nơi nào đó ngoài vũ trụ, một chốn nào đó chúng ta không một ai tới được. Ngài cắm lều ở giữa chúng ta: nơi Chúa Giêsu, Ngài đă trở nên một người trong chúng ta, có máu và thịt như chúng ta"

"Khi nói về Thiên Chúa là chúng ta thực sự chạm tới một chủ đề được Chúa Giêsu tập trung trong việc giảng dạy trên trần gian của Người"

"Vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên  Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay".

 

 

 

Nhập Cuộc:

 

"Vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên  Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay. Có quá nhiều vấn  đề người ta có thể liệt kê ra cần phải được giải quyết, thế nhưng không có một vấn đề nào có thể giải quyết được ngoại trừ việc lấy Thiên Chúa làm tâm điểm, ngoại trừ Thiên Chúa lại trở nên  hữu h́nh trước mắt thế giới, ngoại trừ Người trở thành một yếu tố quyết liệt trong đời sống của chúng ta và đồng thời đi vào đời một cách dứt khoát qua chúng ta. Như thế, tôi tin rằng tương lai của thế giới đang ở trong t́nh trạng thảm thương này đă được quyết định ngay hôm nay đây, ở chỗ, một là Thiên Chúa – Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô – hiện hữu và được nh́n nhận như thế, hai là Ngài đă biến mất tiêu rồi".

 

(Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ 7/11/2006)

 

 

 TOP

 

 

 

“Thiên Chúa biến ḿnh trở nên nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu biết Ngài”

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh 25/12/2006

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm sứ điệp được các thiên thần báo cho các mục đồng trong Đêm Thánh, một sứ điệp giờ đây được Giáo Hội loan báo cho chúng ta: ‘Hôm nay, trong thành Đavít, Đấng Cứu Thế đă giáng sinh cho các người, Ngài là Chúa Kitô. Và đây là dấu hiệu cho các người hay, đó là các người sẽ thấy một con trẻ được bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ’ (Lk 2:11-12). Các mục đồng không được chỉ cho thấy những ǵ là lạ lùng, những ǵ là phi thường, những ǵ là uy nghi vĩ đại cả. Tất cả những ǵ họ sẽ thấy là một con trẻ được  bọc trong khăn, Đấng mà, như tất cả mọi con trẻ khác, cần đến  sự chăm sóc của người mẹ; một con trẻ được sinh ra trong hang đá, một con trẻ mà v́ vậy không nằm trong một cái nôi mà là một máng cỏ. Dấu hiệu của Thiên Chúa là một thơ nhi cần được giúp đỡ và sống trong t́nh trạng bần cùng. Chỉ bằng con tim của ḿnh các mục đồng mới có thể thấy được rằng thơ nhi ấy làm hoàn tất lời hứa được tiên tri Isaia nói tới mà chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất: ‘Một con trẻ được sinh ra cho chúng ta, một người con được ban cho chúng ta; và Người sẽ đảm nhiệm việc trị v́’ (9:5). Cũng cùng một dấu hiệu đă được ban cho chúng ta. Cả chúng ta nữa cũng đưoơc thiên  thần Chúa mời gọi, qua sứ điệp của Phúc Âm, hăy khởi hành bằng tâm hồn của chúng ta để thấy được con trẻ nằm trong máng cỏ ấy.

 

Dấu hiệu của Thiên Chúa có tính cách đơn sơ. Dấu hiệu của Thiên Chúa đó là việc Người biến ḿnh trở thành nhỏ bé v́ chúng ta. Đó là cách Người trị v́. Người không đến bằng quyền năng và hào nhoáng bề ngoài. Người đến như một thơ nhi – bất khả tự vệ và cần chúng ta giúp đỡ. Người không muốn chiếm đoạt chúng ta bằng sức mạnh của Người. Người làm cho chúng ta hết sợ hăi trước sự cao cả của Người. Người cần đến t́nh yêu của chúng ta, bởi vậy mà Người biến ḿnh thành một con trẻ. Người không muốn ǵ khác nơi chúng ta ngoài t́nh yêu của chúng ta, một t́nh yêu nhờ đó chúng ta tự nhiên biết cách chia sẻ với những cảm xúc của Người, những ư nghĩ của Người và với ư muốn của Người – chúng ta biết sống với Người và thực tập với Người đức khiêm tốn từ bỏ là những ǵ thuộc về chính yếu tính của yêu thương. Thiên Chúa biến ḿnh thành nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu biết Người, đón nhận Người, và mến yêu Người. Các Giáo Phụ của Giáo Hội, trong bản dịch Hy Lạp Cựu Ước của ḿnh, đă thấy được một đoạn theo tiên tri Isaia được Thánh Phaolô cũng trích dẫn để tỏ cho thấy làm thế nào những đường lối mới mẻ của Thiên Chúa đă đưoơc báo trước trong Cựu Ước. Ở đó chúng ta đọc thấy rằng: ‘Thiên Chúa đă làm cho Lời của Ngài trở nên ngắn gọc, Ngài đă rút gọn Lời Ngài’ (Is 10:23; Rm 9:28). Các Giáo Phụ đă dẫn giải điều này hai cách: ‘Chính Con là Lời, là Lư Trí; Lời hằng hữu trở nên bè nhỏ – nhở vừa gọn trong một máng cỏ. Người đă trở thành một con trẻ, nhờ đó Lời có thể được chúng ta nắm bắt. Như thế Thiên Chúa dạy chúng ta yêu thương thành phần bé nhỏ. Như thế Người dạy chúng ta yêu mến kẻ yếu hèn. Như thế Người dạy chúng ta tôn trọng trẻ em. Con trẻ Bêlem này hướng mắt chúng ta về tất cả mọi con trẻ đang chịu khổ và bị lạm dụng trên thế giới này, những con trẻ đưoơc sinh ra và những con trẻ không được sinh ra. Về các trẻ em bị sử dụng như lính tráng trong một thế giới bạo động; về những trẻ em đi ăn mày ăn xin; về những trẻ em bị thiếu thốn và đói khổ; về nhữn g trẻ em bị hất hỉu. Nơi tất cả những trẻ em ấy là Con Trẻ Bêlem đang kêu khóc đối với chúng ta; chính vị Thiên Chúa trở thành nhỏ bé đang kêu gọi chúng ta. Chúng ta hăy nguyện cầu đêm nay để ánh rạng ngời của t́nh yêu Thiên Chúa được tỏa rạng cho tất cả những trẻ em ấy. Chúng ta hăy xin Thiên Chúa giúp chúng ta thực hiện phần của ḿnh nhờ đó phẩm vị của trẻ em được tôn trọng. Chớ ǵ tất cả họ đều cảm nghiệm được ánh sáng yêu thương nhân loại đang cần c̣n hơn những nhu cầu vật chất của đời sống.

 

Bởi vậy chúng ta tiến tới ư nghĩa thứ hai được các vị Giáo Phụ thấy nơi câu: ‘Thiên Chúa đă làm cho Lời của Ngài nên bé nhỏ’. Lời được Thiên Chúa nói cùng chún g ta trong Thánh Kinh đă trở thành dài ḍng qua gịng lịch sử của các thế kỷ. Lời đă trở nên dài ḍng và phức tạp, chẳng những đối với thành phần đơn sơ và thất học, thậm chí đối với cả thành phần thông thuộc Thánh Kinh nữa, đối với những chuyên  gia rơ ràng cảm thấy bối rối trước những chi tiết và đặc biệt là trước những vấn đề, hầu như tới độ không c̣n thấy được cái phối cảnh tổng quan nữa. Chúa Giêsu ‘đă tóm gọn’ Lời này – Người đă tỏ cho chúng ta thấy một lần nữa tính chất giản dị và hiệp nhất sâu xa của Lời. Người đă tuyên bố rằng hết mọi sự được truyền dạy bởi Lề Luật và các vị Tiên Tri đều được tóm lại thành giới lệnh: ‘Các người phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa của các người hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn ḿnh… Các người phải yêu thương tha nhân như bản thân ḿnh’ (Mt 22:37-40). Đó là tất cả mọi sự –  tất cả đức tin được chất chứa nơi tác động yêu thương duy nhất bao gồm cả Thiên Chúa lẫn loài người này.

 

Tuy nhiên, đến đây lại xuất hiện những vấn nạn khác, đó là làm thế nào chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa hết trí khôn của ḿnh, nếu trí khôn của chúng ta khó có thể vươn tới Ngài? Làm sao chúng ta có thể yêu mến Ngài hết ḷng và hết linh hồn của ḿnh, khi ḷng chúng ta chỉ có thể thoáng thấy Ngài từ xa xa, khi mà có quá nhiều cái ngược nghịch xung khắc nhau trong một thế giới có thể che khuất đi dung nhan của Ngài này đây? Đó là điểm gặp gỡ của hai đường lối của việc Thiên Chúa ‘tóm gọn’ Lời của Ngài. Ngài không c̣n ở cách xa nữa. Ngài không c̣n là những ǵ không biết tới nữa. Ngài không c̣n vượt ngoài tầm với của tâm can chúng ta nữa. Ngài đă trở thành một con trẻ đối với chúng ta, và làm như thế, Ngài đă xua tan đi tất cả những ǵ là ngờ vực. Ngài đă trở thành tha nhân của chúng ta, nhờ đó phục hồi lại h́nh ảnh của con người, thành phần chúng ta thường cảùm thấy rất khó mà yêu thương nổi.

 

Đối với chúng ta, Thiên Chúa đă trở thành một tặng ân. Ngài đă ban tặng chính ḿnh Ngài. Ngài đă đi vào thời gian cho chúng ta. Ngài là một Đấng Hằng Hữu, vượt trên thời gian, Ngài đă mặc lấy thời gian và nâng thời gian lên với Ngài ở trên cao. Lễ Giáng Sinh đă trở thành một Lễ của các thứ tặng ân, phản ảnh việc Thiên Chúa là Đấng đă ban tặng bản thân ḿnh cho chúng ta. Chúng ta hăy làm sao cho ḷng của ḿnh, linh hồn của ḿnh và trí khôn của ḿnh cảm thấy được sự kiến ấy! Trong số nhiều tặng ân chúng ta mua sắm hay lănh nhận, chúng ta đừng quên tặng ân chân thật này, đó là hăy trao tặng nhau một cái ǵ đó từ bản thân ḿnh, trao cho nhau một cái ǵ đó từ thời giờ của chúng ta, hướng thời giờ của chúng ta về Thiên Chúa. Nhờ đó mới không c̣n lo âu, mới có được niềm vui, và mới tạo nên lễ hội này.

 

Trong các bữa ăn mừng lễ ở những ngày này, chúng ta hăy nhớ đến lời Chúa phán: ‘Khi các người dọn bữa ăn hay tiệc tùng, đừng mời những ai có thể mời lại các người, mà là mời những ai không đưoơc ai mời và không thể mời lại các người’ (x Lk 14:12-14). Điều này cũng có nghĩa là khi anh chị em trao tặng quà Giáng Sinh, đừng tặng chỉ cho những ai sẽ tăngëlại anh chị em, mà cho những ai không đưoơc ai tặng và không thể tặng ǵ lại cho anh chị em. Đó là những ǵ Thiên Chúa đă làm, ở chỗ, Ngài đă mời chúng ta đến với bữa tiệc cưới của ḿnh, một điều chúng ta không thể đáp ứng, mà chỉ biêt vui mừng đón nhận. Chúng ta hăy bắt chước Ngài! Chúng ta hăy yêu mến Thiên Chúa, và bắt đầu từ Ngài, chúng ta cũng hăy yêu thương con người, nhờ đó, bắt đầu từ con người, chúng ta lại có thể tái nhận thức được Thiên Chúa một cách mới mẻ!

 

Bởi vậy, sau hết, chúng ta thấy được ư nghĩa thứ ba nơi câu nói Lời đă trở thành ‘ngắn ngủi’ và ‘nhỏ bé’. Các mục đồng được báo cho biết rằng họ sẽ thấy một con trẻ nằm trong một cái máng giành cho thú vật, những con thú mới đáng ở trong hang đá ấy. Đọc tiên tri Isaia (1:3), các vị Giáo Phụ đă kết luận rằng, ngoài máng có ở Bêlem c̣n có một con ḅ và một con lừa. Các vị cũng cắt nghĩa đoạn sách này như là những ǵ biểu hiệu cho người Do Thái và các dân ngoại – tức toàn thể nhân loại – thành phần bằng cách thức riêng của ḿnh cần đến một vị Cứu Tinh, đó là Vị Thiên Chúa đă trở thành một con trẻ. Con người, để sống, cần đến bánh ăn, hoa trái của trái đất và lao công của ḿnh. Thế nhưng họ không sống nguyên bởi bánh. Họ cần của sinh dưỡng cho linh hồn họ, ở chỗ họ cần đến ư nghĩa có thể làm viên trọn cuộc sống của họ. Bởi thế mà đối với các vị Giáo Phụ, cái máng của thú vật ấy trở thành một biểu hiệu của bàn thờ, trong đó có Bánh là chính Chúa Kitô, dưỡng thực thật sự cho tâm can của chúng ta. Một lần nữa, chúng ta thấy Người đă trở nên bé bỏng là chừng nào: nơi một dáng vẻ khiêm hèn của một tấm bánh, nơi một miếng bánh nhỏ, Người đă ban ḿnh cho chúng ta.

 

Tất cả những điều ấy là dấu hiệu được báo cho các mục đồng biết cũng cho cả chúng ta nữa: đó là con trẻ được hạ sinh cho chúng ta, một con trẻ chất chứa vị Thiên Chúa trở thành nhỏ bé cho chúng ta. Chúng ta hăy xin Chúa ban cho chúng ta ơn huệ khi nh́n vào máng cỏ đêm nay tính chất đơn sơ giản dị của các mục đồng, để chúng ta được hưởng niềm vui họ có được khi trở về nhà họ (x Lk 2:20). Chúng ta hăy xin  Chúa ban cho chúng ta ḷng khiêm nhượng và niềm tin tưởng của Thánh Giuse được ngài sử dụng khi nh́n thấy con trẻ được Mẹ Maria thụ thai bởi Thánh Linh. Chúng ta hăy xin Chúa cho chúng ta biết nh́n ngắm Người bằng cùng một t́nh yêu mến như Mẹ Maria nh́n ngắm Người. Và chúng ta hăy nguyện cầu để nhờ đó ánh sáng đă giúp cho các mục đồng nh́n thấy chiếu tỏa trên cả chúng ta nữa, cũng như để cho những ǵ được các thần trời hát lên đêm hôm ấy cũng sẽ vang vọng khắp thế giới: ‘Vinh danh Thiên Cúa trên trời, b́nh an dưới thể cho người Ngài thương’. Amen!

 

 

 TOP

 

 

Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp’, không phải là vị Thiên Chúa ở đâu đó trên Trời, chẳng quan hệ ǵ tới chúng ta và lịch sử của chúng ta, mà Ngài là vị Thiên Chúa đang đến

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng Kinh Tối Áp Chúa Nhật 1 Mùa Vọng 2/12/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Lời tiền xướng đầu tiên của việc cử hành tối hôm nay hiện lên như mở màn cho Mùa Vọng và âm vang như lời tiền xướng cho cả phụng niên. Chúng ta hăy nghe lời ấy lại một lần nữa: ‘Hăy loan báo cho các dân nước rằng Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ của chúng ta đang đến’.

 

Mở màn cho một tân phụng niên, phụng vụ kêu mời Giáo Hội hăy lập lại lời loan báo của ḿnh cho tất cả mọi dân nước và tóm lời loan báo ấy vào hai chữ, đó là ‘Chúa đến’. Những lời rất ngắn gọn này có một mănh lực tái khơi động hơn bao giờ hết.

 

Chúng ta hăy trầm lắng chút xíu để suy nghĩ: lời loan báo này không ở quá khứ thể – Thiên Chúa đă đến – hay tương lai thể – Thiên Chúa sẽ đến – mà trong hiện tại thể – ‘Thiên Chúa đang đến’.

 

Nh́n kỹ hơn, th́ đây là một thứ hiện tại liên tục, tức là một tác động hằng liên tục: nó đă xẩy ra, nó hiện đang xẩy ra và nó sẽ xẩy ra nữa. ‘Thiên Chúa đang đến’ trong bất cứ giây phút nào.

 

Động từ ‘đến’ xuất hiện ở đây như là một động từ về thần học, thật sự là thần học, v́ nó nói lên một cái ǵ đó thuộc về chính bản tín h của Thiên Chúa.

 

Việc loan báo rằng ‘Thiên Chúa đang đến’, bởi thế, tương đương thuần túy với việc loan báo chính Thiên Chúa vậy, qua một trong những đặc tính thiết yếu và nổi bật của Ngài, đó là việc Ngài là Vị Thiên Chúa đang đến.

 

Mùa Vọng kêu gọi tín hữu  hăy nhận thức được sự thật này và hăy tác hành một cách thích đáng. Nó vang lên như một lời kêu gọi hữu ích qua những ngày, những tuần và những tháng lập đi lập lại rằng: Hăy tỉnh thức! Hăy nhớ rằng Thiên Chúa đang đến! Không phải là hôm qua, không phải là ngày mai, mà là hôm nay, là lúc này đây!

 

Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, ‘vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp’, không phải là vị Thiên Chúa ở đâu đó trên Trời, chẳng quan hệ ǵ tới chúng ta và lịch sử của chúng ta, mà Ngài là vị Thiên Chúa đang đến.

 

Ngài là một Người Cha không bao giờ thôi nghĩ đến chúng ta, và hoàn toàn tôn trọng tự do của chún g ta, muốn gặp gỡ chúng ta và viếng thăm chúng ta; Ngài muốn đến, muốn ở giữa chúng ta, muốn ở với chúng ta.

 

Việc Ngài ‘đến’ được thúc đẩy bởi ư định muốn giải thoát chúng ta khỏi sự dữ và sự chết, khỏi tất cả những ǵ làm ngăn trở chúng ta được hưởng hạnh phúc đích thật. Thiên Chúa đến để cứu độ chúng ta.

 

Các vị Giáo Phụ của Hội Thánh nhận định là việc Thiên Chúa ‘đến’ – liên tục và thực sự là hoàn toàn tự nhiên như chính hữu thể của Ngài – được tập trung vào hai lần đến chính yếu của Chúa Kitô, đó là việc Người Nhập Thể và trở lại trong vinh quang vào ngày cùng tháng tận (cf. Cyril of Jerusalem, Catechesis 15,1: PG 33, 870). Mùa Vọng làm sống động toàn thể cái đối cực này.

 

Những ngày đầu tiên này n hấn mạnh đến niềm mong đợi việc Chúa Đến Lần  Cuối Cùng, như các bài đọc của buổi cử hành tối này cho thấy.

 

Thế nhưng, với Lễ Giáng Sinh sắp tới, vấn đề chính ở đây là việc tưởng niệm biến cố ở Bêlem, nhờ đó chúng ta có thể nhận thấy nó như là lúc ‘thời điểm viên trọn’.

 

Giữa hai lần đến ‘được tỏ hiện ’ ấy, c̣n có thể thấy được lần đến thứ b a, lần đến được Thánh Bênađô gọi là ‘lưng chừng’ và ‘kín đáo’, và là lần đến xẩy ra ở nơi các linh hồn tín hữu và thực sự là một ‘cây cầu nối’ giữa lần đến thứ nhất và lần đến sau cùng.

 

Thánh Bênađô viết: ‘Vào lần đến đầu tiên, Chúa Kitô là cuộc cứu chuộc của chúng ta; vào lần đến cuối cùng, Người sẽ tỏ ḿnh cho chúng ta thấy Người như là sự sống của chúng ta là nơi chúng ta hoan hưởng nghỉ ngơi và an ủi’ (Discourse 5 on Advent, 1).

 

Mẹ Maria bao giờ cũng là kiểu mẫu cho việc Chúa Kitô đến ấy, một việc đến chúng ta có thể gọi là một ‘cuộc nhập thể thiêng liêng’. Như vị Trinh Mẫu này đă suy niệm trong ḷng ḿnh Lời hóa thành nhục thể thế nào, hết mọi linh hồn cũng như toàn thể Giáo Hội cũng được kêu gọi trong cuộc hành tŕnh trần thế của ḿnh đời chờ Chúa Kitô là Đấng đang đến để đón nhận Người bằng một đức tin và đức mến mời mẻ hơn bao giờ hết.

 

Phụng vụ Mùa Vọng như thế chiếu giăi ánh sáng cho thấy cách thức Giáo Hội vang lên nỗi ḷng của chúng ta mong đợi Thiên Chúa, một nỗi niềm mong đợi đă được ghi khắc sâu xa trong lịch sử nhân loại; tiếc thay, niềm mong đợi này thường bị dập tắt đi hay bị sai lệch đi theo những chiều hướng khác.

 

Như là một Thân Ḿnh được mầu  nhiệm liên kết với Chúa Kitô là Đấu, Giáo Hội là một bí tích, tức là một dấu hiệu và là một dụng cụ hiệu nghiệm của việc đợi chờ Thiên Chúa này vậy.

 

Cộng đồng Kitô Giáo có thể, cho đến độ chỉ có Người biết, làm cho Việc Đến Lần Cuối Cùng của Người mau đến, khi giúp cho nhân loại tiến lên nghênh đón vị Chúa đang đến.

 

 TOP

 

 

"Thiên Chúa không phải là một thứ giả thiết về triết lư, Ngài không phải là một cái ǵ đó có lẽ hiện hữu, thế nhưng chúng ta biết Ngài và Ngài biết chúng ta".

 

Với Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Năm 9/11/2006 

 

Vậy chúng ta hăy trở lại với chủ đề về ‘Thiên Chúa’. Óc tôi nẩy lên những lời của Thánh I Nhă: ‘Kitô hữu không phải là thành quả của một cuộc thuyết phục mà là của quyền lực’ ("Epistula ad Romanos" 3, 3). Chúng ta không được để cho đức tin của chúng ta bị cạn ráo bởi quá nhiều những thứ bàn luận về đủ mọi chuyện, bởi những chi tiết nho nhoi, trái lại, bao giờ cũng phải chú trọng trước tiên đến cái cao cả của Kitô Giáo.

 

Tôi nhờ rằng khi tôi thường về Đức quốc vào thập niên 1980 và 1990, tôi đă được yêu cầu thực hiện các cuộc phỏng vấn và tôi bao giờ cũng biết trước các câu hỏi sẽ được đặt ra. Những câu hỏi ấy liên quan về việc truyền chức cho nữ giới, về vấn đề ngừa thai, vấn đề phá thai và các vấn đề khác cứ liên tục diễn tiến như thế.

 

Nếu chúng ta để ḿnh bị cuốn lôi vào những thứ bàn căi này, th́ Giáo Hội bị đồng hóa với một số giới luật hay với những thứ cấm kị; chúng ta làm cho người ta có cảm tưởng chúng ta là những luân lư gia có một vài niềm xác tín cổ lỗ làm sao ấy, và thậm chí cũng không thấy đâu là cái bóng dáng về tính chất cao cả thực sự của niềm tin nữa. Bởi thế tôi bao giờ cũng thấy cần phải nhấn mạnh tới tính chất cao cả nơi niềm tin tưởng của chúng ta – một quyết tâm cần chúng ta gắn bó không để cho những trường hợp như thế chi phối.

 

Theo chiều hướng ấy, giờ đây tôi muốn tiếp tục để hoàn tất những chia sẻ hôm Thứ Ba vừa rồi cũng như để nhấn mạnh một lần nữa rằng: cái vấn đề trên hết đó là hăy chăm lo tới mối liên hệ riêng tư của con người với Thiên Chúa, một mối liên hệ nhờ đó Thiên Chúa tỏ ḿnh cho chúng ta nơi Chúa Kitô.

 

Thánh Âu Quốc Tinh đă nhấn mạnh nhiều lần hai phương diện nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa: Thiên Chúa là Lời và Thiên Chúa là T́nh Yêu – cho đến độ Ngài đă hoàn toàn  hạ ḿnh, mặc lấy thân xác loài người, hiến ḿnh trong tay chúng ta như một miếng bánh. Chúng ta lúc nào cũng phải nhớ rằng và giúp cho những người khác nhớ tới hai khía cạnh này nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa.

 

Thiên Chúa là ‘Thần Linh Sáng Tạo’, Ngài là Lời, Ngài là lư trí. Và đó là lư do tại sao đức tin của chúng ta là một điều có liên quan tới lư trí, có thể được truyền đạt nhờ lư trí và không có lư do ǵ lại dấu giếm lư trí, thậm chí cả với thứ lư trí của thời đại chúng ta đây. Thế nhưng, chính v́ thứ lư trí hằng hữu khôn lường này không phải thuần túy là một thứ toán học về vũ trụ, và lại càng không phải là một nguyên lư đệ nhất nào đó đă rút lui sau khi tạo nên cuộc Đại Bùng Nổ (Big Bang).

 

Ngược lại, lư trí này có một con tim đến nỗi có thể từ bỏ tính cách lớn lao vĩ đại của ḿnh mà mặc lấy xác thịt. Tôi nghĩ rằng chỉ nguyên điều này thôi cũng cho thấy cái cao cả tối hậu và thực sự nơi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa rồi. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa không phải là một thứ giả thiết về triết lư, Ngài không phải là một cái ǵ đó có lẽ hiện hữu, thế nhưng chúng ta biết Ngài và Ngài biết chúng ta. Và chúng ta có thể biết Ngài mỗi ngày một hơn nếu chúng ta tiếp tục thực hiện cuộc đối thoại trao đổi với Ngài.

 

 

 TOP

 

 

“Vị Thiên Chúa đă bị ‘thất bại’ giờ đây… lại chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài”

 

Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Ba 7/11/2006 trước cuộc gặp gỡ giữa ngài với các vị

 

Chư Huynh thân mến,

 

Các bài sách chúng ta vừa nghe – Bài đọc, Đáp Ca và Phúc Âm – có cùng một đề tài có thể được tóm lại thành câu: ‘Thiên Chúa không bao giờ bị thất bại’. Hay chính xác hơn, thoạt tiên Thiên Chúa bao giờ cũng thất bại, Ngài để cho con người có tự do và cái tự do này liên lỉ nói ‘không’; thế nhưng, việc định liệu của Thiên Chúa, quyền năng sáng tạo của t́nh Ngài yêu thương c̣n lớn lao hơn cả cái ‘không’ của con người nữa. Trước mọi cái ‘không’ của con người lại có một chiều kích mới nơi t́nh Ngài yêu thương, và Ngài có cách thức mới mẻ và cao cả hơn để Ngài tỏ ra ‘chấp nhận’ con người, lịch sử và tạo vật.

 

Trong bản đại thánh ca về Chúa Kitô trong Thư gửi giáo đoàn Philiphê được chúng ta mở đầu, chúng ta đă nghe thấy trước hết một cái ǵ đó bóng gió liên quan tới câu truyện về Adong, con người đă không thỏa măn với t́nh hữu nghị của Thiên Chúa; ông cảm thấy không đủ v́ ông tự ḿnh muốn là một thần linh. Ông coi mối thân hữu ấy như là một thứ lệ thuộc và coi ḿnh như là một vị thần linh, như thể họ có thể tự ḿnh hiện hữu. Bởi thế, ông ta nói ‘không’ để tự trở thành một vị thần linh, và chính v́ thế mà ông đă gieo ḿnh xuống khỏi vị thế đưa ḿnh lên của ông.

 

Thiên Chúa đă ‘thất bại’ nơi Adong – cũng thế, căn cứ vào tất cả những ǵ là bề ngoài, Ngài đă thất bại suốt gịng lịch sử. Thế nhưng, Thiên Chúa đă không thất bại, v́ hiện nay Ngài trở thành một con người, nhờ đó mở màn cho một tân nhân loại; Người đang làm cho hữu thể của Thiên Chúa sâu xa nơi hữu thể của con người một cách bất khả văn hồi, và đă xuống tận những vực thẳm sâu nhất của hữu thể con người: Người đă tự hạ ḿnh cho đến chết trên cây Thập Tự Giá. Người đă chế ngự cái kiêu căng bằng ḷng khiêm hạ và bằng việc tuân phục của cây Thập Tự Giá. Như thế, những ǵ được tiên tri Isaia tiên  báo (đoạn 45) đă thành tựu.

 

Vào thời điểm dân Yến Duyên đang sống đời lưu đầy và bị xóa tên trên bản đồ, th́ vị Tiên Tri này tiên báo rằng toàn thể thế giới – ‘hết mọi đầu gối’ – sẽ qú xuống trước  Vị Thiên Chúa bất lực ấy. Và Bức Thư gửi giáo đoàn Philiphê đă xác nhận điều ấy, những ǵ giờ đây đă xẩy ra.

 

Bằng cây Thập Tự Giá của Chúa Kitô, Thiên Chúa đă đích thân đến gần với các dân nước, Người xuất thân từ dân  Yến Duyên và trở thành vị Thiên Chúa của thế giới. Và giờ đây vũ trụ qú xuống trước  Chúa Giêsu Kitô, và điều này  là những ǵ chúng ta cũng có thể cảm nghiệm một cách tuyệt vời hôm nay đây, đó là, ở hết mọi châu lục, ngay cả trong những túp lều thấp hèn nhất, cũng có Tượng Chuộc Tội.

 

Vị Thiên Chúa đă ‘thất bại’ giờ đây, bằng t́nh yêu của ḿnh, đă thực sự làm cho con người qú xuống và bởi đó đă chế ngự thế giới bằng t́nh yêu của Ngài.

 

Chúng ta đă xướng lên ở Bài Đáp Ca phần thứ hai của Bài Thánh Vịnh về Cuộc Khổ Nạn. Nó là bài Thánh Vịnh của thành phần khổ đau chân chính, trước hết là dân Yến Duyên khổ đau, thành phần, trước vị Thiên Chúa câm nín bỏ rơi họ, đă kêu lên rằng: ‘Chúa Trời tôi ơi, Chúa Trời tôi ơi, nhân sao Ngài lại bỏ rơi tôi? Tại sao Ngài không chịu rat ay cứu giúp tôi chứ?... Giờ đây tôi hầu như kiệt lực… mà Ngài chẳng làm ǵ hết…. Ngài không chịu rat ay đáp ứng… tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi? (x 22 [21]). Chúa Giêsu đă đồng hóa ḿnh voơi dân Yến Duyên  đau khổ ấy, với thành phần công chính khổ đau ở hết mọi thời đại bị Thiên Chúa bỏ rơi, và Người đă kêu lên trước việc bỏ rơi của Thiên Chúa; nỗi đớn đau bị bỏ rơi Người đă mang đến với Trái Tim  của chính Thiên Chúa, và nhờ thế biến đổi thế giới.

 

Phần thứ hai của bài Thánh Vịnh, chúng chúng ta đă kể lại, cho chúng ta biết về thành quả của việc ấy, đó là kẻ nghèo sẽ được ăn no thỏa. Chính Thánh Thể phổ quát xuất phát từ Thập Tự Giá. Giờ đây Thiên Chúa làm măn nguyện  con người khắp thế giới, những con người nghèo khổ cần đến Người. Người làm cho họ no thỏa những ǵ họ cần: Người ban tặng Thiên Chúa, Người ban tặng chính bản thân Người.

 

Đoạn bài Thánh Vịnh viết rằng: ‘Toàn thể địa cầu sẽ tưởng nhớ và hướng về Chúa’. Giáo Hội hoàn vũ xuất phát từ Cây Thập Tự Giá. Thiên Chúa vượt ra ngoài Do Thái Giáo để ôm lấy toàn thế giới, để liên kết thế giới trong một bữa tiệc cho kẻ nghèo khó.

 

Sau hết, sứ điệp Phúc Âm cũng cho thấy việc thất bại của Thiên Chúa. Những ai đầu tiên được mời đều chối từ, họ không đến.

 

Sảnh đường của Thiên Chúa vẫn trống trơn, bữa tiệc dường như được dọn ra luống công vô ích. Đó là những ǵ Chúa Giêsu đă cảm nghiệm được trong những giai đoạn hoạt động cuối cùng của Người, ở chỗ, các nhóm viên chức, thành phần thẩm quyền đều ‘từ chối’ lời mời gọi của Thiên Chúa, tức là từ chối chính bản thân Người. Họ không đến. Sứ điệp của Người, lời Người kêu gọi, được kết thúc trước c ái ‘không’ của con người. 

 

Tuy nhiên, cả ở đấy nữa, Thiên Chúa cũng khgông bị thất bại. Cái sảnh đường trống trơn đă trở thành cơ hội mời gọi một con số dân  chúng đông đảo hơn. T́nh yêu thương của Thiên Chúa, việc Người mời gọi là những ǵ được nới rộng. Thánh Luca đă tŕnh thuật việc này ở hai đoạn.

 

Trước hết, lời mời gọi được ngỏ cùng thành phần nghèo khổ, bị bỏ rơi, những ai chưa từng được ai mời mọc trong thành. Như thế là Thiên Chúa đă thực hiện những ǵ chúng ta đă nghe thấy trong bài Phúc Âm hôm qua.

 

(Phúc Âm hôm nay là một cuộc hội luận nho nhỏ trong khuôn khổ của một bữa ăn ở nhà một người Pharisiêu. Có 4 đoạn: trước hết là việc chữa lành cho một người bị phù; rồi tới những lời về việc chọn các chỗ thấp nhất; đoạn sang giáo huấn không phải là những người bạn được mời có thể mời lại mà là những ai thực sự đói khổ, thành phần không thể mời lại; theo đó là lời kêu gọi chúng ta hăy bắt chước làm theo như thế).

 

Giờ đây Thiên Chúa đang làm những ǵ Người đă bảo người Pharisiêu ấy thực hiện, đó là việc Người mời gọi những ai chẳng có ǵ, thành phần thực sự là đói khổ, thành phần không thể mới Người lại, thành phần không thể dâng tặng cho Người bất cứ một sự ǵ.

 

Tiếp theo là đoạn thứ hai. Người đă rời thành phố để đi đến các con lộ ở miền quê: mời gọi thành phần vô gia cư. Chúng ta có thể cho rằng Thánh Luca có ư viết hai đoạn này theo chiều hướng là thành phần  thứ nhất tiến vào sảnh đường ấy là những người nghèo trong dân Yến Duyên, rồi sau đó – v́ họ đến không đủ trước nhiều chỗ của Chúa – lời mời gọi vượt ra ngoài Thành Thánh đến thế giới của các dân nước. Những ai chưa thuộc về Thiên Chúa tí nào, thành phần ở ngoài, giờ đây được mới tới cho đầy sảnh đường ấy. Và Thánh Luca, v ị đă viết lại Phúc Âm này cho chúng ta, chắc hẳn là thấy trước được một cách tiêu biểu những biến cố được thuật lại sau đó trong Sách Tông Vụ, nơi thật sự viết về điều này.

 

Thánh Phaolô bao giờ cũng bắt đầu sứ vụ của ḿnh ở hội đường với thành phần được mời trước; và chỉ khi nào những nhân vật thẩm quyền viện lư khước từ th́ ngài mới ở với một nhóm ít người nghèo khó khi ngài đi đến với Dân Ngoại.

 

Bởi đó, nhờ đường lối hằng mới mẻ này của Thập Giá, Phúc Âm đă trở nên phổ quát, nó chi phối hết mọi sự, dần dần ảnh hưởng cả đến Rôma.

 

Ở Rôma, Thánh Phaolô triệu tập các vị thủ lănh của hội đường và loan báo cho họ mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô, Vương Quốc của Thiên Chúa nơi Con Người của Người. Tuy nhiên, các vị thẩm quyền tự khước từ nên ngài bỏ họ mà đi bằng những lời này: Được, v́ quí vị không muốn lắng nghe th́ sứ điệp này sẽ được loan báo cho các Dân Ngoại và họ sẽ lắng nghe sứ điệp ấy. Bằng niềm tin tưởng này, ngài đă đúc kết sứ điệp bị thất bại đó là: họ sẽ lắng nghe; Giáo Hội của thành phần chư Dân Ngoại sẽ được dựng xây. Và Giáo Hội đă được xây dựng và tiếp tục được dựng xây.

 

Trong các cuộc viếng thăm Ṭa Thánh ngũ niên ‘ad limina’, tôi nghe thấy nhiều điều hệ trọng và buồn nản, thế nhưng, bao giờ cũng thế – chính từ Thế Giới Thứ Ba – tôi đă nghe thấy điều ấy, đó là dân chúng đang lắng nghe, họ đang đến, thậm chí hôm nay đây, sứ điệp này lan truyền theo những con đường dẫn đến tận cùng trái đất và dân chúng đông đảo tụ tập lại trong sảnh đường của Thiên Chúa để dự tiệc của Người.

 

Bởi thế, chúng ta cần phải tự hỏi rằng tất cả những điều ấy có nghĩa là ǵ đối với chúng ta vậy?

 

Trước hết, nó có nghĩa chắc chắn là Thiên Chúa không thất bại. Người tiếp tục ‘thất bại’, thế nhưng chính v́ lư do ấy mà Người không thất bại, v́ nhờ thế Người có những cơ hội mới để tỏ ḷng xót thương hơn nữa và việc dự tưởng của Người là những ǵ khôn cùng.

 

Người không thất bại v́ Người có những đường lối mới mẻ hơn bao giờ hết để vươn tới dân chúng và mở rộng cửa hơn nhà của Người hầu cả nhà được đông đầy.

 

Người không thất bại v́ Người không thôi xin dân chúng hăy tới ngồi vào bàn của Người, để ăn lương thực của người nghèo có chất chứa tặng ân quí giá là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa không thất bại, ngay cả ở vào hôm nay đây. Cho dù chúng ta có gặp phải nhiều cái ‘không’ chăng nữa, chúng ta vẫn có thể nắm chắc điều ấy.

 

Từ tất cả gịng lịch sử này của Thiên Chúa, từ Adong trở đi, chúng ta có thể kết luật rằng: Thiên Chúa không bao giờ thua hết.

 

 

 TOP

 

 

"Vị Thiên Chúa thực sự thần linh này là vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra như logos – lời, và như logos – lời, ngài đă tác hành và tiếp tục tác hành một cách yêu thương đối với chúng ta".

 

Bài diễn văn ngày Thứ Ba 12/9/2006 tại Đại Học Regensburg về niềm tin, lư trí, và đại học đường

 

Đối với vấn đề hiểu biết Thiên Chúa, và nhờ đó liên hệ tới vấn đề cụ thể sống đạo, chúng ta đối diện với một vấn đề nan giải bất khả tránh. Phải chăng ư nghĩ cho rằng tác hành một cách vô lư th́ trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa chỉ là một ư nghĩ của người Hy Lạp, hay nó tự bản chất bao giờ cũng đúng? Tôi tin rằng ở đây chúng ta có thể thấy được tính cách ḥa hợp sâu xa giữa những ǵ là Hy Lạp theo đúng nghĩa nhất của ngôn từ, với kiến thức thánh kinh về niềm tin kính Thiên Chúa. Điều chỉnh lại câu đầu tiên của Sách Khởi Nguyên, câu đầu tiên của toàn bộ Thánh Kinh, Thánh Gioan đă mở đầu cuốn Phúc Âm của ḿnh bằng những chữ: “Từ ban đầu đă có 8`(@H”. Đó chính là những lời được vị hoàng đề này sử dụng: Thiên Chúa hành động, F×< 8`(T, với logos. Logos vừa có nghĩa là lư trí vừa có nghĩa là lời – một lư trí sáng tạo và có khả năng tự truyền đạt, chính v́ nó là lư trí. Vậy Thánh Gioan đă nói đến lời tối chung về quan niệm Thiên Chúa theo thánh kinh, và nơi lời này, tất cả những ǵ thường là khó khăn cực nhọc và những ǵ là quanh co uẩn khúc của niềm tin theo thánh kinh đều được đạt tới tột đỉnh của ḿnh và sự tổng hợp của ḿnh. Từ ban đầu đă có logoslogos này là Thiên Chúa, vị Thánh Kư viết. Cuộc hội ngộ giữa sứ điệp Thánh Kinh đây với tư tưởng Hy Lạp không xẩy ra một cách ngẫu nhiên t́nh cờ đâu. Thị kiến của Thánh Phaolô, vị đă thấy những con đường dẫn tới Á Châu bị ngăn chặn và trong một giấc mơ ngài đă thấy một người đàn ông Macedonia van xin ngài rằng: ‘Xin hăy đến với Macedonia để giúp đỡ chúng tôi!’ (x Tông Vụ 16:6-10) – thị kiến này có thể được hiểu như là một thứ ‘chưng cất’ liên quan tới nhu cầu nội tại của một thứ tái kết hữu nghị giữa niềm tin theo Thánh Kinh và việc tra vấn của người Hy Lạp.

 

Thật ra th́ việc tái kết hữu nghị này đă từng tiếp diễn mấy lần. Danh xưng mầu nhiệm của Thiên Chúa này, được mạc khải từ bụi cây bừng cháy, một danh xưng tách biệt vị Thiên Chúa này ra khỏi tất cả mọi thứ thần linh khác mang nhiều tên gọi của họ, và là một danh xưng chỉ tuyên bố rằng ‘Ta là’, đă trở thành một thách đố đối với quan niệm về thần thoại hoang đường, một danh xưng mà triết gia Socrate đă có những suy loại khít khao để làm tan biến đi cũng như để vượt lên trên những ǵ là thần thoại hoang đường (8). Trong Cựu Ước, tiến tŕnh được mở màn ở bụi cây bừng cháy ấy đă tiến đến chỗ phát triển mới mẻ hơn nữa vào thời kỳ Lưu Đầy, khi vị Thiên Chúa của dân Yến Duyên, một dân Yến Duyên bấy giờ bị mất đi mảnh đất của ḿnh cùng với việc phụng thờ của ḿnh, đă tuyên bố ḿnh như là vị Thiên Chúa của trời đất, và diễn tả bằng một công thức giản dị âm vang những lời đă được Ngài thốt ra ở bụi cây bừng cháy: ‘Ta là’. Kiến thức mới mẻ này về Thiên Chúa được kèm theo một thứ minh thức, thứ minh thức tỏ ra khắc nghiệt khi chế nhạo những vị thần linh chỉ là việc làm của loài người (x Ps 115). Bởi thế, mặc dù xẩy ra t́nh trạng xung khắc gay go với thành phần cai trị theo nền văn hóa Hy Lạp muốn t́m cách bắt buộc đức tin thánh kinh thích ứng với những thứ tục lệ và việc sùng bái ngẫu tượng của người Hy Lạp, niềm tin thánh kinh, trong giai đoạn văn hóa Hy Lạp, cũng đă hội ngộ với tư tưởng hay nhất của Hy Lạp một cách sâu đậm, kết quả bởi một cuộc phong phú hóa lẫn nhau, rơ ràng được thấy một cách đặc biệt nơi thứ văn chương khôn ngoan sau này. Ngày nay, chúng ta biết rằng bản dịch Cựu Ước theo tiếng Hy Lạp đă được thực hiện ở Alexandria – tức Bản 70 – c̣n hơn là một bản dịch từ bản văn theo tiếng Do Thái (mà bởi thế thực sự là một bản dịch không thỏa đáng cho lắm): nó là một chứng từ nguyên văn có tính cách độc lập, và là một bước tiến khác biệt và quan trọng trong lịch sử mạc khải, một bước tiến đưa đến cuộc hội ngộ quan trọng cho việc khai sinh và phát triển Kitô Giáo này (9). Một cuộc hội ngộ về đức tin và lư trí đang xẩy ra ở đấy, một cuộc hội ngộ giữa minh thức đích thực và tôn giáo. Từ chính tâm điểm của đức tin Kitô Giáo, cũng như từ tâm điểm của tư tưởng Hy Lạp, giờ đây liên kết lại thành niềm tin, hoàng đế Manuel II đă có thể nói rằng: Việc không tác hành ‘với logos’ là việc làm phản lại với bản tính của Thiên Chúa.

 

Người ta cần phải nhận định một cách hết sức thành thật rằng vào cuối Thời Trung Cổ, chúng ta thấy có những chiều hướng nơi thần học làm tách biệt cái tổng hợp giữa tinh thần Hy Lạp và tinh thần Kitô Giáo này. Ngược lại với cái được gọi là duy lư trí của Âu Cơ Tinh và Tôma, xuất hiện nơi Duns Scotus một chủ nghĩa duy ư chí là chủ nghĩa, qua những diễn tiến sau này, dẫn đến chỗ cho rằng chúng ta chỉ có thể biết voluntas ordinate (ư muốn b́nh thường) của Thiên Chúa mà thôi. Ngoài ư muốn b́nh thường này là lănh vực thuộc quyền tự do của Thiên Chúa, từ đó, Ngài có thể làm đảo lộn hết mọi sự Ngài đă làm. Điều này làm phát sinh ra những chủ trương rơ ràng là sát cận với những chủ trương của Ibn Hazn, thậm chí có thể dẫn đến h́nh ảnh của một vị Thiên Chúa đồng bóng, một vị Thiên Chúa thậm chí không liên hệ ǵ tới sự thật và sự thiện. Siêu việt tính của Thiên Chúa và cái khác biệt của Thiên Chúa là những ǵ được đề cao đến nỗi, lư trí của chúng ta, giác quan của chúng ta về sự thật và sự thiện, không c̣n là những ǵ thực sự phản ảnh Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa mà những năng thể sâu xa nhất của Ngài vĩnh viễn trở thành những ǵ bất khả đạt và được dấu kín đằng sau những quyết định thực sự của Ngài. Ngược lại với chủ trương này, đức tin của Giáo Hội bao giờ cũng nhấn mạnh rằng giữa Thiên Chúa và chúng ta, giữa Thần Linh Sáng Tạo hằng hữu của Ngài và lư trí thụ tạo của chúng ta có một cái ǵ tương tự thật sự, như Công Đồng Chung Latêranô IV năm 1215 đă nói, một sự tương tự với cái không giống vĩnh viễn là nhiều hơn là cái giống, tuy nhiên không tới độ hủy loại đi cái tương tự cùng với ngôn từ của nó. Thiên Chúa không trở thành thần linh hơn khi chúng ta đẩy Ngài ra khỏi chúng ta theo chiều hướng duy ư chí hoàn toàn bất khả thấu; trái lại, vị Thiên Chúa thực sự thần linh này là vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra như logos – lời, và như logos – lời, ngài đă tác hành và tiếp tục tác hành một cách yêu thương đối với chúng ta. T́nh yêu, như Thánh Phaolô viết, thực sự là những ǵ ‘vượt trên’ kiến thức và v́ thế có thể cảm nhận hơn là duy tưởng (x Eph 3:19); tuy nhiên, nó vẫn là t́nh yêu của vị Thiên Chúa là Logos – Lời. Bởi thế, việc tôn thờ của Kitô Giáo, cũng Thánh Phaolô nói, là "8@(46¬ 8"JD,\"", việc tôn thờ hợp với Lời hằng hữu và với lư trí của chúng ta (x Rm 12:1) (10).

 

 

 TOP

 

 

"Thiên Chúa không ở xa cách chúng ta, Ngài không ở một nơi nào đó ngoài vũ trụ, một chốn nào đó chúng ta không một ai tới được. Ngài cắm lều ở giữa chúng ta: nơi Chúa Giêsu, Ngài đă trở nên một người trong chúng ta, có máu và thịt như chúng ta".

 

Bài giảng Giờ Kinh Tối Chúa Nhật ngày mùng 10/9/2006 tại Vương Cung Thánh Đường Munich

 

Các em Rước Lễ Lần Đầu thân mến!

Quí Phục Huynh và Thày Cô thân mến!

Anh Chị Em thân mến!

 

Bài đọc chúng ta vừa nghe từ cuốn sách cuối cùng của Tân Ước, đó là cuốn Sách Khải Huyền. Mắt của vị thụ khải được nâng mắt lên cao, hướng lên cao, lên trời, và hướng tới, hướng về tương lai. Thế nhưng, để làm như thế, ngài nói với chúng ta về trái đất, về hiện tại, về đời sống của chúng ta. Trong gịng đời của ḿnh, tất cả chúng ta đều là những kẻ hành tŕnh, chúng ta đang hành tŕnh tiến về tương lai. Theo tự nhiên, chúng ta muốn t́m thấy chính lộ: t́m thấy một sự sống chân thực, chứ không phải là một đường cùng hay một sa mạc. Chúng ta không muốn cuối cùng nói rằng tôi đă đi sai đường lạc lối, đời sống của tôi là một cuộc thảm bại, nó trật lấc mất rồi. Chúng ta muốn t́m thấy niềm vui trong cuộc sống; chúng ta muốn ‘sống viên măn’ như lời Chúa Giêsu nói.

 

Thế nhưng, chúng ta hăy nghe vị thụ khải của Sách Khải Huyền. Ngài nói với chúng ta những ǵ trong đoạn bài mới được đọc cho chúng ta nghe ít phút trước đây? Ngài nói về một thế giới được giải ḥa. Một thế giới là nơi dân chúng ‘thuộc mọi quốc gia, chủng tộc, dân tộc và ngôn ngữ’ (7:9) hân hoan qui tụ lại với nhau. Vậy chúng ta thử hỏi: ‘Điều này xẩy ra thế nào đây? Chúng ta theo con đường nào để tới được chỗ ấy?’ Đúng thế, điều quan trọng trước hết và trên hết đó là thành phần dân chúng này là những kẻ đang sống với Thiên Chúa; như bài đọc nói: chính Thiên Chúa ‘đă cho họ cư trú trong lều của Ngài’ (7:15). Bởi thế chúng ta tự hỏi ḿnh lần nữa rằng: ‘Chúng ta có ư nói ǵ ở câu ‘lều của Thiên Chúa’ đây? Nó được t́m thấy ở đâu? Làm sao chúng ta đến được chỗ ấy chứ?’ Vị thụ khải đă ám chỉ ở chương thứ nhất của Phúc Âm theo Thánh Gioan, nơi chúng ta đọc thấy là: ‘Lời đă hóa thành nhục thể và cắm lều ở giữa chúng ta’ (1:14). Thiên Chúa không ở xa cách chúng ta, Ngài không ở một nơi nào đó ngoài vũ trụ, một chốn nào đó chúng ta không một ai tới được. Ngài cắm lều ở giữa chúng ta: nơi Chúa Giêsu, Ngài đă trở nên một người trong chúng ta, có máu và thịt như chúng ta. Đó là ‘lều’ của Ngài. Và nơi biến cố  Thăng Thiên, Ngài đă không đi đâu xa khỏi chúng ta. Lều của Ngài, tức chính Ngài ở nơi Thân Thể của Ngài, vẫn c̣n ở giữa chúng ta và là một người trong chúng ta. Chúng ta có thể gọi Ngài bằng một danh xưng và nói với Ngài một cách dễ dàng. Ngài lắng nghe chúng ta, và nếu chúng ta chú ư, chúng ta có thể nghe thấy Ngài nói lại với chúng ta.

 

Tôi xin lập lại là nơi Chúa Giêsu chính Thiên Chúa ‘cắm lều’ ở giữa chúng ta. Thế nhưng tôi cũng muốn lập lại rằng: Điều này thực sự xẩy ra ở chỗ nào? Bài đọc của chúng ta cống hiến cho chúng ta hai câu trả lời cho vấn nạn này. Bài đọc nói rằng thành phần nam nữ sống an b́nh ‘giặt áo ḿnh nên tinh trắng trong máu của Con Chiên’ (7:14). Đối với chúng ta th́ điều này nghe có vẻ rất lạ. Bằng thứ ngôn ngữ bí ẩn của ḿnh, vị thụ khải đang nói về Phép Rửa. Những lời của ngài về ‘máu của Con Chiên’ ám chỉ tới t́nh yêu của Chúa Giêsu, một t́nh yêu được Người tiếp tục chứng tỏ thậm chí cho tới khi bị tử nạn một cách dữ dội. T́nh yêu thương này, vừa thần linh vừa nhân loại, là một bể nước Người nhận ch́m chúng ta xuống nơi Phép Rửa – một bể nước được Người dùng để rửa chúng ta, thanh tẩy chúng ta để chúng ta trở nên xứng đáng với Thiên Chúa và có thể sống hiệp thông với Ngài. Tuy nhiên, tác động Phép Rửa mới chỉ là khởi đầu. Bằng việc bước đi với Chúa Giêsu, trong đức tin và đời sống liên kết với Người, t́nh yêu của Người chạm tới chúng ta, thanh tẩy chúng ta và soi sáng chúng ta. Chúng ta nghe thấy rằng, trong bể nước yêu thương, y phục của chúng ta trở nên tinh trắng. Đối với thể giới xưa, th́ mầu trắng là mầu của ánh sáng. Những bộ y phục trắng nghĩa là chúng ta trở nên ánh sáng trong đức tin, chúng ta loại trừ bóng tối tăm, sự sai lầm và hết mọi thứ xấu xa, và chúng ta trở thành dân của ánh sáng, xứng đáng với Thiên Chúa. Tấm áo thanh tẩy, như những chiếc áo Rước Lễ Lần Đầu các em đang mặc, là những ǵ có ư nhắc nhở chúng ta về điều ấy, và nói với chúng ta rằng: bằng việc sống như một người được ở với Chúa Giêsu và cộng đồng các tín hữu là Giáo Hội, các em đă trở thành một con người ánh sáng, một con người của sự thật và sự thiện – một con người tỏa chiếu sự thiện hảo, sự thiện hảo của chính Thiên Chúa.

 

Câu trả lời thứ hai cho vấn nạn ‘Chúng ta t́m thấy Chúa Giêsu ở đâu?’ cũng được vị thụ khải này trả lời bằng thứ ngôn ngữ bí ẩn của ngài. Ngài nói với chúng ta rằng Con Chiên dẫn một đám rất đông đảo dân chúng thuộc hết mọi văn hóa và quốc gia tới nguồn nước sự sống. Không có sự sống nếu thiếu nước. Dân chúng sống ở gần sa mạc biết điều này rơ ràng, bởi thế mà các mạch nước đối với họ đă trở thành biểu hiệu tuyệt vời cho sự sống. Con Chiên là Chúa Giêsu dẫn con người nam nữ đến các nguồn mạch sự sống. Trong số những mạch nguồn này là Thánh Kinh, nơi Thiên Chúa nói với chúng ta và bảo chúng ta làm thế nào để sống một cách đúng đắn. Thế nhưng cũng có những nguồn mạch khác nữa, nguồn mạch đích thực thật sự là chính Chúa Giêsu, nơi Người Thiên Chúa đă ban chính bản thân của Ngài. Ngài làm điều này trước hết nơi Thánh Thể. Chúng ta có thể thực sự uống trực tiếp từ nguồn mạch sự sống, ở chỗ, Ngài đến với chúng ta và làm cho mỗi người chúng ta ở với Ngài. Chúng ta có thể thấy điều này chân thực biết bao, ở chỗ, nhờ Thánh Thể, bí tích hiệp thông, một cộng đồng được thành h́nh, một cộng đồng vượt trên tất cả mọi biên giới và bao gồm tất cả mọi ngôn ngữ – chúng ta thấy nó ở nơi đây là nơi đang có sự hiện diện của các vị Giám Mục thuộc mọi ngôn ngữ và từ khắp nơi trên thế giới – nhờ mối hiệp thông mà Giáo Hội hoàn vủ được thành h́nh, nơi Thiên Chúa muốn nói với chúng ta và sống giữa chúng ta. Đó là cách chúng ta cần phải lănh nhận Thánh Thể: khi thấy Thánh Thể như là một cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu, một cuộc hội ngộ với chính Thiên Chúa, Đấng dẫn chúng ta tới các nguồn mạch sự sống đích thực.

 

 

 TOP

 

"Khi nói về Thiên Chúa là chúng ta thực sự chạm tới một chủ đề được Chúa Giêsu tập trung trong việc giảng dạy trên trần gian của Người"

 

Thẩm Định với về Giáo Triều của ngài trong Năm 2006 dịp Chúa Giáng Sinh cho Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu 22/12/2006

 

Tâm trí chúng ta hăy chuyển tới Bavaria – Munich, Altotting, Regensburg và Freising. Ở đó, tôi đă được sống những ngày tuyệt vời không thể nào quên nổi trước việc gặp gỡ niềm tin và tín hữu nơi Quê Hương của tôi. Đề tài chính cho chuyến Hành Tŕnh này của tôi đến Đức quốc là Thiên Chúa. Giáo Hội cần phải nói nhiều điều: về tất cả những vấn đề liên quan tới con người, về cấu trúc của ḿnh và về đường lối của ḿnh v.v. Thế nhưng, vấn đề thực sự của Giáo Hội – theo những khía cạnh khác nhau – cũng là vấn đề duy nhất của Giáo Hội đó là ‘Thiên Chúa’.

 

Ngoài ra, vấn đề lớn của Tây phương đó là vấn đề lăng quên Thiên Chúa. T́nh trạng quên lăng này đang lan tràn. Tóm lại, tất cả mọi vấn đề riêng tư cá nhân, tôi tin rằng, đều có thể bắt nguồn từ vấn đề lớn lao ấy.

 

Bởi vậy, trong chuyến Hành Tŕnh  này, mục đích chính của tôi đó là làm sáng tỏ vấn đề về ‘Thiên Chúa’, đồng thời cũng chú ư tới sự kiện là tại một số phần đất ở Đức quốc, c̣n có đa số thành phần chưa lănh nhận phép rửa cảm thấy Kitô Giáo và Vị Thiên Chúa của n iềm tin dường như là những ǵ thuộc về quá khứ.

 

Khi nói về Thiên Chúa là chúng ta thực sự chạm tới một chủ đề được Chúa Giêsu tập trung trong việc giảng dạy trên trần gian của Người. Chủ đề chính yếu của việc giảng dạy này của Người đó là lănh giới của Thiên Chúa, là ‘Vương Quốc của Thiên Chúa’. Điều này không có nghĩa là một cái ǵ đó sẽ qua đi vào một thời điểm nào đó ở một tương lai bất định. Nó cũng không có nghĩa là một thế giới tốt đẹp hơn được chúng ta t́m cách thiết dựng từ từ bằng khả năng riêng của ḿnh. Trong cụm từ ‘Vương Quốc của Thiên Chúa’ th́ chữ ‘Thiên Chúa’ ở thể sở hữu chủ cách. Tức Thiên Chúa không phải là một cái ǵ đó được thêm thắt vào ‘Vương Quốc’ là những ǵ người ta thậm chí có lẽ bỏ đi. 

 

Thiên Chúa là chủ thể. Vương Quốc của thiên Chúa thực sự nghĩa là việc Thiên Chúa hiển trị. Chính Ngài hiện diện và thiết yếu đối với con người trên thế giới này. Ngài là chủ thể, và bất cứ khi nào thiếu vắng chủ thể này th́ sứ điệp của Chúa Giêsu chẳng c̣n ǵ hết.

 

Bởi thế Chúa Giêsu mới nói với chúng ta rằng Vương Quốc của thiên Chúa không đến như thể người ta có thể đứng thành hàng bên lề đường để nh́n thấy nó xuất hiện. ‘Vương Quốc của Thiên Chúa ở giữa các người!’ (x Lk 17:20ff).

 

Vương Quốc này trị đến bất cứ ở đâu ư muốn của Thiên Chúa được thể hiện. Vương Quốc ấy hiện diện ở bất cứ nơi nào cởi mở nghênh đón cho Ngài và để Ngài tiến vào trần gian. Bởi thế mà bản thân Chúa Giêsu là Vương Quốc của Thiên Chúa, v́ Người là con người được Thiên Chúa dùng để ở giữa chúng ta và nhờ Người chúng ta có thể chạm tới Thiên Chúa, có thể đến gần Thiên Chúa. Điều này xẩy ra ở đâu th́ thế giới được cứu ở đó.

 

 

 TOP

 

 

"Vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên  Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay".

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Ba 7/11/2006 trước cuộc gặp gỡ giữa ngài với các vị

 

Từ tất cả gịng lịch sử này của Thiên Chúa, từ Adong trở đi, chúng ta có thể kết luật rằng: Thiên Chúa không bao giờ thua hết.

 

Cả ngày nay nữa, Người sẽ có những đường lối mới mẻ để kêu gọi con người, và Người muốn chúng ta trở thành sứ giả và tôi tớ của Người. Chính trong thời đại của chúng ta đây, chúng ta đă quá rơ ra sao những ai được mời tới trước  đă nói ‘không’ rồi. Thật vậy, Kitô Giáo Tây Phương, thành phần ‘thực khách đầu tiên’ mới, hiện nay phần lớn đang tự viện cớ khước từ nữa. Chúng ta biết các nhà thờ càng trở thành trống trơn hơn bao giờ hết, các chủng viện tiếp tục trống rỗng, các tu viện càng ngày càng trống trải; chúng ta quen thuộc với tất cả mọi h́nh thức trong đó có lời viện lẽ như: ‘không được, tôi c̣n có những điều quan trọng khác cần phải làm’. Nó làm cho chúng ta cảm thấy nản ḷng và bực tức trong việc làm chứng nhân cho những thứ viện lư và khước từ của thành phần khách đầu tiên, thành phần thực sự phải biết được tầm quan trọng của lời mời gọi ấy và phải cảm thấy bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy.

 

Vậy chúng ta phải làm sao đây?

 

Trước hết, chúng ta cần phải tự hỏi là tại sao điều ấy lại xẩy ra như thế?

 

Trong Dụ Ngôn của ḿnh ấy, Chúa đă đề cập tới hai lư do: đó là các thứ chiếm hữu và những liên hệ nhân bản, những ǵ lôi kéo con người cho tới độ họ không c̣n cảm thấy cần đến bất cứ một cái ǵ khác để làm viên trọn thời giờ của họ từ đó làm viên trọn cuộc sống nội tại của họ.

 

Thánh Grêgôriô Cả, trong việc giải thích đoạn bài đọc này, đă t́m cách đào sâu vào nó hơn nữa và đă ngẫm nghĩ rằng làm thế nào con người lại có thể nói ‘không’ đối với một điều cao cả nhất ấy; làm sao họ lại không có giờ cho những ǵ quan trọng nhất; làm sao họ lại có thể tự khóa ḿnh lại trong cuộc sống riêng của họ chứ?

 

Và ngài đă trả lời: thật ra họ chẳng bao giờ có một cảm nghiệm về Thiên Chúa hết; họ không bao giờ có được một thứ ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa cả; họ không bao giờ cảm được tuyệt vời biết bao khi được Thiên Chúa ‘chạm tới’! Họ thiếu sự ‘giao chạm’ này – và v́ thế không biết ‘thưởng thức Thiên Chúa’. Nên có thể nói chỉ khi nào chúng ta nếm hưởng Người th́ chỉ đến lúc bấy giờ chúng ta mới tới bữa tiệc này được thôi.

 

Thánh Grêgôriô trích lại bài Thánh Vịnh được Ca Hiệp Lễ hôm nay sử dụng, đó là hăy nếm thử và hăy nh́n coi; hăy nếm hưởng th́ các người sẽ thấy và được soi sáng! Công việc của chúng ta đó là giúp cho dân để họ có thể nếm hưởng hương vị Thiên Chúa một cách mới mẻ.

 

Trong một bài giảng khác, Thánh Grêgôriô Cả đă đào sâu hơn cùng một vấn  nạn và tự hỏi: làm thế nào mà một người lại thậm chí có thể không muốn ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa chứ?

 

Và ngài đă giải đáp là khi con người hoàn toàn bị cuốn hút vào thế giới riêng của ḿnh, với những thứ vật chất, với những ǵ họ có thể làm, với tất cả những ǵ khả thi và làm cho họ thành đạt, với tất cả những ǵ họ có thể tự sản xuất và hiểu biết, th́ bấy giờ khả năng nhận thức Thiên Chúa của họ bị suy yếu đi, cơ quan cảm thức Thiên Chúa bị thụt lùi, nó trở thành bất khả để nhận thức và cảm thức, nó không c̣n nhận thấy Thiên Chúa, v́ nội quan tương xứng đă bị tàn phai, nó ngừng phát triển.

 

Khi họ sử dụng quá sức tất cả những cơ năng chức phận khác, những cơ năng chức phận thực nghiệm th́ điều có thể xẩy ra là chính cảm quan về Thiên Chúa bị tác hại, cơ phận này chết đi, và con người, như Thánh Grêgôriô nói, không c̣n thấy được ánh mắt của Thiên Chúa nữa, không c̣n cảm thấy Người nh́n họ nữa, không c̣n cảm thấy sự kiện là ánh mắt của Người tác động ḿnh nữa!

 

Tôi cho rằng Thánh Grêgôriô Cả đă diễn tả đúng hệt với t́nh trạng của thời đại chúng ta đây – thật sự là thời của ngài rất giống như thời của chúng ta. Vậy vấn nạn vẫn là thế th́ chúng ta cần phải làm ǵ đây?

 

Tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần phải làm đó là những ǵ Chúa bảo chúng ta hôm nay đây trong Bài Đọc 1, và những ǵ Thánh Phaolô đă kêu gọi chúng ta nhân danh Thiên Chúa, đó là ‘thái độ của anh em cần phải là thái độ của Chúa Kitô - 'Touto phroneite en hymin ho kai en Christo Iesou'.

 

Hăy biết nghĩ như Chúa Kitô đă nghĩ, hăy biết nghĩ với Người! Và việc nghĩ này không những là tác động nghĩ của trí khôn mà c̣n là tác động nghĩ của tâm hồn nữa.

 

Chúng ta học được những cảm thức của Chúa Giêsu Kitô khi chúng ta biết nghĩ với Người và do đó khi chúng ta biết nghĩ cả đến việc thất bại của Người, đến việc Người trải qua thất bại cũng như đến việc tăng trưởng của t́nh yêu Người trong thất bại. 

 

Nếu chúng ta mặc lấy cảm thức này của Người, nếu chúng ta bắt đầu thực hành việc suy nghĩ như Người và với Người, th́ niềm vui đối với Thiên Chúa được tái bừng lên trong chúng ta, với niềm tin tưởng rằng Người là Đấng mạnh mẽ nhất; phải, chúng ta có thể nói rằng ḷng yêu mến đối với Người được bừng lên trong chúng ta. Chúng ta cảm thấy tuyệt vời biết bao v́ chính là Ngài hiện đang ở đó và chúng ta có thể biết được Ngài – chúng ta có thể biết Ngài nơi dung nhan của Chúa Giêsu Kitô là Đấng đă chịu khổ v́ chú ng ta.

 

Tôi nghĩ đây là điều đầu tiên, đó là chính chúng ta hăy thực hiện việc giao tiếp sống động với Thiên Chúa – với Chúa Giêsu Kitô, Vị Thiên Chúa hằng sống; hăy củng cố nơi chúng ta cái chức năng hướng về Thiên Chúa; hăy ấp ủ trong chúng ta c ái tri giác về ‘tính cách nhậy bén’ của Người.

 

Điều này cũng làm cho hoạt động của chúng ta có hồn, thế nhưng chúng ta cũng có thể gặp nguy hiểm, ở chỗ người ta có thể làm nhiều, nhiều điều trong cán h đồng của Giáo Hội, tất cả đều cho Thiên Chúa…, song vẫn hoàn toàn v́ ḿnh, không giao chạm với Thiên Chúa. Hoạt động thay thế niềm tin, thế nhưng bấy giờ người ta lại trở nên trống rỗng nội tâm.

 

Bởi thế, tôi tin rằng chúng ta trước hết cần phải thực hiện nỗ lực lắng nghe Chúa bằng việc nguyện cầu, sâu xa tham dự vào các bí tích, hiểu biết được những cảm thức của Thiên Chúa trên  khuôn mặt và nỗi khổ đau của người khác, để được nhiễm lây niềm vui của Người, ḷng nhiệt thành của Người và t́nh yêu của Người, rồi cùng Người nh́n vào thế giới và bắt đầu từ Người.

 

Nếu chúng ta có thể thành đạt trong việc làm ấy, ngay cả giữa nhiều cái ‘không’, một lần nữa chúng ta sẽ thấy dân chúng đang đợi chờ Người, thành phần có lẽ thường là những kẻ kỳ lạ – như dụ ngôn rơ ràng cho thấy như thế – song lại là những người được kêu gọi tiến vào sảnh đường của Người.

 

Nói cách khác, vấn đề một lần nữa đó là việc tập trung vào Thiên Chúa, không phải vào bất cứ vị thần linh nào, mà là vị Thiên  Chúa có Dung Nhan của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều hệ trọng đối với ngày nay.

 

Có quá nhiều vấn  đề người ta có thể liệt kê ra cần phải được giải quyết, thế nhưng không có một vấn đề nào có thể giải quyết được ngoại trừ việc lấy Thiên Chúa làm tâm điểm, ngoại trừ Thiên Chúa lại trở nên  hữu h́nh trước mắt thế giới, ngoại trừ Người trở thành một yếu tố quyết liệt trong đời sống của chúng ta và đồng thời đi vào đời một cách dứt khoát qua chúng ta.

 

Như thế, tôi tin rằng tương lai của thế giới đang ở trong t́nh trạng thảm thương này đă được quyết định ngay hôm nay đây, ở chỗ, một là Thiên Chúa – Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô – hiện hữu và được nh́n nhận như thế, hai là Ngài đă biến mất tiêu rồi.

 

Chúng ta quan tâm tới việc Ngài hiện diện. Chúng ta cần phải làm ǵ đây? Như phương tiện cuối cùng? Chúng ta hăy hướng về Người! Chúng ta đang cử hành Lễ theo ư nguyện cầu cùng Chúa Thánh Linh, bằng lời kêu xin cùng Ngài rằng: "Lava quod est sordidum, riga quod est aridum, sana quod est saucium. Flecte quod est rigidum, fove quod est frigidum, rege quod est devium".

 

Chúng ta hăy kêu  cầu cùng Ngài để Ngài tưới dội, hâm nóng và làm chon gay ngắn, nhờ đó Ngài sẽ thấm nhập chúng ta bằng quyền năng của ngọn lửa linh thánh của Ngài mà canh tân trái đất. Chúng ta hăy nguyện cầu điều ấy bằng cả tấm hồn của chúng ta vào lúc này đây, trong những ngày này đây. Amen.