Với Khoa Học và Kỹ Thuật Hiện Đại
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và tuyển dịch
“Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người”
“Chính vũ trụ được kết cấu một cách khôn ngoan sáng suốt, v́ thế mới có một sự tương ứng sâu xa giữa lư trí chủ quan của chúng ta và lư tính khách quan của thiên nhiên”.
"Nếu tất cả khoa học (thu ngắn phạm vi khoa học và lư trí) là như thế và chỉ như thế mà thôi, th́ chính con người cuối cùng cũng bị biến giảm, v́ những vấn đề đặc biệt về con người ... bấy giờ không có chỗ đứng trong nhăn quan của thứ lư trí vơ đũa cả nắm được cho là 'khoa học'”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Diễn Từ Soạn Dọn để nói trong dịp Khai Mạc Năm Học cho Đại Học Rôma La Sapienza ngày Thứ Năm 17/1/2008
Vậy đại học đường là ǵ? Đâu là công việc làm của nó? Đây là một câu hỏi to tướng mà, một lần nữa, tôi cố gắng giải đáp một cách vắn tắt nhất mà thôi, với một số nhận định. Tôi nghĩ rằng nguồn gốc chân thực nội tại của đại học đường có thể nói ở nơi ước muốn hiểu biết là những ǵ bẩm sinh đối với con người. Họ muốn biết những ǵ chung quanh họ. Họ muốn sự thật. Như thế, chúng ta có thể thấy rằng việc tự vấn của Socrates là động lực phát sinh ra đại học đường Tây phương vậy.
Tôi nghĩ đến, chẳng hạn – chỉ cần đề cập tới một bản văn thôi – cuộc tranh căi với Euthyphro, người bênh vực tôn giáo có tính cách huyền thoại và việc đạo đức của ḿnh trước Socrates. Ngược lại, Socrates đă đặt vấn đề như thế này: “Anh có thực sự tin rằng các vị thần linh đánh đấm nhau hay chăng, và có những cuộc căi lộn cùng những cuộc chiến tranh kinh khủng hay chăng?... Hỡi Euthyphro, phải chăng chúng ta thực sự cần phải nói rằng tất cả những điều ấy có thật?” ("Euthyphro," 6b-c). Nơi cái vấn nạn hiển nhiên là vô tín ngưỡng này – một vấn nạn nơi Socrates xuất phát ra một thứ tính cách tôn giáo sâu xa hơn và tinh tuyền hơn, một việc t́m kiếm Vị Thiên Chúa thực sự là thần linh – Kitô hữu thuộc các thế kỷ đầu tiên đă nhận ra chính bản thân ḿnh và đường lối của ḿnh. Họ không hiểu đức tin của họ một cách thực chứng, hay như là một thứ thoát lư khỏi những ước vọng bất thành tựu; họ đă hiểu đức tin như là một thứ làm tan biến đi sương mù của thứ đạo giáo có tính cách huyền thoại hoang đường, để nhường chỗ cho việc khám phá thấy một Vị Thiên Chúa là Lư Trí sáng tạo và đồng thời là T́nh Yêu – Lư Trí.
V́ thế, việc lư trí tự vấn về Vị Thiên Chúa cao cả hơn, như việc nó vấn nạn về bản tính chân thực cùng ư nghĩa thật sự của con người, không phải là một h́nh thức mơ hồ về việc thiếu tính chất đạo giáo đối với các Kitô hữu thời sơ khai ấy, mà thuộc về yếu tính của cách thức họ sống đạo. Bởi vậy họ không cần tống khứ hay gạt đi việc tự vấn kiểu Socrate, mà có thể – hay đúng hơn cần phải – chấp nhận nó như thuộc về căn tính riêng của họ việc t́m kiếm khó khăn của lư trí để đạt tới sự hiểu biết được tất cả chân lư. Như thế, nơi lănh giới của đức tin Kitô giáo, nơi thế giới Kitô giáo, đại học đường mới có thể – hay đúng hơn cần phải – được phát sinh.
Cần phải thực hiện thêm một bước nữa. Con người muốn biết sự thật – họ muốn sự thật. Sự thật trước hết là một cái ǵ thấy được, hiểu được, “theoria” được, như truyền thống Hy Lạp quan niệm. Thế nhưng, sự thật không bao giờ chỉ là những ǵ lư thuyết. Thánh Âu Quốc Tinh, khi thực hiện việc tương quan giữa các phúc đức của Bài Giảng Trên Núi với những tặng ân của Thần Linh được đề cập trong Sách Tiên Tri Isaia đoạn 11, đă khẳng định có một sự hỗ tương giữa “scientia” và “tristitia”: ngài nói, việc hiểu biết thuần túy làm cho con người ta buồn bă. Thật thế, những ai chỉ thấy và hiểu mọi sự đang xẩy ra trên thế giới này đều tiến đến chỗ trở thành buồn thảm. Thế nhưng, sự thật không phải chỉ có nghĩa là hiểu biết, ở chỗ, việc hiểu biết sự thật nhắm đến việc hiểu biết sự thiện. Đó cũng là ư nghĩa của việc tự vấn kiểu Socrate: Đâu là sự thiện làm cho chúng ta trở thành chân thực? Sự thật làm cho chúng ta thiện hảo và sự thiện hảo là những ǵ chân thực: Đó là tính cách lạc quan sống động nơi niềm tin Kitô giáo, v́ nó chất chứa một quan niệm về Logos, về Lư Trí sáng tạo, nơi việc nhập thể của Thiên Chúa, một Lư Trí đă tỏ ḿnh ra là Sự Thiện, là Đích Thân Thiện Hảo.
Vào thời thần học trung cổ đă xẩy ra một cuộc tranh căi chính yếu về mối liên hệ giữa lư thuyết và thực hành, về mối liên hệ xác đáng giữa việc hiểu biết và việc tác hành – một cuộc tranh căi chúng ta không thể khai triển nơi đây. Thật vậy, đại học đường thời trung cổ, với 4 phân khoa của nó, cho thấy mối tương quan này. Chúng ta hăy bắt đầu với phân khoa, theo sự hiểu biết vào thời bấy giờ, là phân khoa thứ tư, tức là y khoa. Cho dù nó được coi là một “nghệ thuật” hơn là một khoa học, nhưng, việc nó được đưa vào thế giới của các “universitas” hiển nhiên cho thấy rằng nó được đặt vào môi trường của tính cách hữu lư, rằng nghệ thuật chữa trị ở dưới sự hướng dẫn của lư trí, và thoát khỏi môi trường pháp thuật. Việc chữa trị là một công việc càng cần đến lư trí giản dị hơn nữa, song chính v́ thế mà nó mới cần đến mối liên hệ giữa việc hiểu biết và quyền lực, nó cần thuộc về lănh giới của “ratio”.
Nơi phân khoa luật học, vấn đề liên hệ giữa thực hành và lư thuyết, giữa việc hiểu biết và việc hành động, chắc chắn phải xẩy ra. Nó là một vấn đề của việc cống hiến h́nh thức đúng đắn cho tự do của con người, một thứ tự do bao giờ cũng là một thứ tự do của mối hiệp thông hỗ tương: Luật lệ là những ǵ giả định của tự do, chứ không phải là đối thủ của tự do. Đến đây nẩy lên ngay một vấn đề là: Chúng ta làm thế nào nhận ra được những qui chuẩn của công lư giúp cho tự do có thể khả dĩ sống chung và phục vụ phúc hạnh của con người. Đến đây lại nẩy lên một vấn nạn nữa, đó là vấn đề làm thế nào có thể thiết lập được một thứ qui chuẩn về pháp lư kiến tạo nên một cấp trật của tự do, của phẩm giá con người và của các quyền lợi của con người. Nó là vấn đề liên quan tới chúng ta ngày nay nơi những tiến tŕnh có tính cách dân chủ trong việc h́nh thành ư nghĩ, đồng thời cũng khiến cho chúng ta lo âu như là một vấn đề về tương lai của nhân loại.
Theo quan niệm của tôi th́ Jurgen Habermas bày tỏ một sự đồng thuận rộng lớn của luồng tư tưởng hiện nay, khi ông nói rằng tính các h hợp lư của một bản hiến chương pháp định, như một thứ giả định của hợp pháp tính, có thể xuất phát từ hai nguồn mạch: từ việc tham dự chính trị quân b́nh của tất cả mọi người công dân và từ h́nh thức hữu lư nhờ đó giải quyết được những xung khắc về chính trị. Về “h́nh thức hữu lư” này, ông ghi nhận rằng nó không thể chỉ là một cuộc đối chọi để chiếm được những ǵ là đa số theo toán học, mà nó cần phải có đặc tính của một “tiến tŕnh luận chứng nhậy cảm với sự thật” ("wahrheitssensibles Argumentationsverfahren"). Điều n ày nói th́ hay, song khó ḷng để có thể biến thành một thứ thực hành về chính trị.
Thành phần đại diện cho “tiến tŕnh luận chứng” chung ấy – như chúng ta biết – phần lớn là những đảng phái như thể họ có trách nhiệm h́nh thành ư muốn chính trị. Thật vậy, họ lúc nào cũng nhắm tới trước hết việc chiếm được những ǵ là đa số và do đó khó ḷng mà tránh nổi việc bận tâm đến những lợi lộc được họ hứa hẹn làm thoả đáng; song những lợi lộc như thế thường là những ǵ riêng biệt và không thực sự phục vụ toàn thể. Tính cách nhậy cảm đối với sự thật cứ bị dập dụi đi bởi cảm thức về các thứ lợi lộc. Tôi thấy được tính cách quan trọng được Habemas nói đến tính chất nhậy cảm đối với sự thật như là một yếu tố cần thiết cho tiến tŕnh của việc luận chứng chính trị, nhờ đó đưa ư niệm về sự thật vào lại cuộc tranh luận về triết lư cũng như cuộc tranh căi về chính trị.
Thế nhưng vấn nạn của Philatô bởi vậy xuất hiện: Chân lư là ǵ? Làm sao nhận ra chân lư? Nếu nơi câu trả lời cho những vấn nạn này, người ta nói tới “lư trí chung”, như Rawls làm, th́ một lần nữa vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Đâu là những ǵ hợp lư? Làm thế nào lư trí cho thấy ḿnh là lư trí đích thực? Dù sao đi nữa, theo đó vấn đề trở nên hiển nhiên là trong việc t́m kiếm luật lệ cho tự do, t́m kiếm sự thật của đời sống chung chân chính, th́ cần phải lắng nghe cả những tiếng nói không phải của các đảng phái và của những nhóm quan tâm nữa, song không v́ thế đối chọi với tầm quan trọng của những đảng phái và những nhóm quan tâm ấy. Chúng ta hăy trở về với cấu trúc của đại học đường thời trung cổ.
Song song với phân khoa luật học là các phân khoa triết học và thần học, những phân khoa được trao phó cho việc nghiên cứu về toàn diện hữu thể con người, theo đó, cả công việc giữ ǵn cho cái cảm quan về sự thật được tồn tại. Thậm chí có thể nói rằng đó là ư nghĩa vĩnh viễn và đích thực của cả hai phân khoa này: đó là làm quản viên cảm thức về sự thật, không để cho con người bị cản trở việc t́m kiếm chân lư. Thế nhưng, làm sao hai phân khoa ấy có thể hoàn thành công việc này được đây? Đó là một câu hỏi cần phải bàn đi bàn lại chi tiết, và là một câu hỏi không bao giờ được v ĩnh viễn nêu lên hay giải quyết. Bởi thế, ở đây tôi cũng không thể thích hợp để đưa ra một câu trả lời, mà là một lời mời gọi hăy tiến bước trên con đường với vấn nạn ấy – một con đường mà dọc theo đó có những con người cao cả đă tranh đấu và t́m kiếm suốt gịng lịch sử, với những câu trả lời của họ cùng với niềm khắc khoải chân lư của họ, một sự thật tiếp tục cho thấy vượt ra ngoài bất cứ một câu trả lời duy nhất nào.
V́ thế, thần học và triết học làm nên mộït cặp song sinh đặc biệt, không phân khoa nào có thể hoàn toàn tách khỏi nhau, song mỗi một phần khoa vẫn phải bảo tŕ công việc thích đáng và căn tính thích đáng của ḿnh. Đó là công nghiệp về lịch sử của Thánh Tôma Aquinas – so sánh với những đáp ứng khác nhau của các vị Giáo Phụ tùy theo môi trường lịch sử của các ngài – đă làm sáng tỏ tính cách biệt lập của triết học, và theo đó, cái quyền thích đáng và trách nhiệm của lư trí được tự vấn căn cứ vào khả năng của ḿnh. Khác với những thứ triết lư Tân Plato là những triết lư tôn giáo và triết lư quyện lấy nhau bất khả phân ly, các vị Giáo Phụ đă tŕnh bày đức tin Kitô giáo như là một thứ triết lư đích thực, cũng nhấn mạnh là đức tin này thích hợp với những nhu cầu khẩn trương của lư trí trong việc t́m kiếm sự thật; đức tin là “đáp ứng” sự thật, so sánh với các tôn giáo huyền thoại là những ǵ đă trở thành thuần túy tục lệ.
Thế rồi, tuy nhiên, với việc xuất hiện của đại học đường, những thứ tôn giáo ấy không c̣n tồn tại nơi Tây phương, mà chỉ c̣n duy Kitô giáo, bởi thế, cần phải nhấn mạnh một cách mới mẻ trách nhiệm thích đáng của lư trí, một thứ lư trí không bị đức tin nuốt mất. Thánh Tôma đă chứng tỏ việc làm của ḿnh vào một thời điểm đặc biệt: V́ lần đầu tiên toàn bộ các bản văn triết lư của Aristotle được phổ biến; các triết gia Do Thái và Ả Rập hiện diện như là những sở hữu và tiếp tục đặc biệt cho nền triết lư Hy Lạp. Nhờ đó, Kitô giáo, bằng việc đối thoại cách mới mẻ với lư trí của các tôn giáo khác, với những ǵ Kitô giáo giao tiếp với, đă phải đấu tranh cho cái hợp lư của ḿnh.
Phân khoa triết lư, một phân khoa, vốn được gọi là “phân khoa nghệ thuật”, cho đến bấy giờ mới chỉ làmột thứ propedeutic cho thần học, bấy giờ trở thành một phân khoa thực sự và thích đáng, một đồng bạn biệt lập của thần học và của đức tin nơi phản ứng ấy. Chúng ta không thể dừng lại nơi đây để thấu triệt cuôc chạm trán bởi đó mà ra. Tôi có thể nói rằng tư tưởng của Thánh Tôma về mối liên hệ giữa triết lư và thần học có thể được diễn tả theo công thức về Kitô học của Công Đồng Chalcedon thế này: triết lư và thần học cần phải liên hệ với nhau “mà không lẫn lộn cũng không tách biệt”. “Không lẫn lộn” nghĩa là cả hai vẫn bảo tŕ được căn tính thích đáng của ḿnh. Triết lư cần phải thực sự tiếp tục công việc của lư trí theo tính cách tự do thích đáng của ḿnh cũng như theo trách nhiệm thích đáng của nó; nó cần phải nhận thức được những giới hạn của ḿnh, và chính theo chiều hướng ấy cũng nh́n nhận cả tính cách cao sang và bao rộng của nó. Thần học cần phải tiếp tục rút ra từ kho tàng của kiến thức không phải tự nó sáng chế, một kho tàng kiến thức luôn luôn vượt lên trên nó và, v́ không bao giờ hoàn toàn triệt thấu được bằng việc suy tư, mà chính v́ thế mới gợi ư để suy nghĩ.
Song song với việc “không lẫn lộn” cần phải hiệu lực hóa việc “không tách biệt”, ở chỗ, triết lư không bắt đầu lại từ số không nơi chủ thể suy tư riêng lẻ, mà là liên quan tới một cuộc đối thoại cả thể với sự khôn ngoan của lịch sử, một sự khôn ngoan tiếp tục vừa khôn ngoan vừa chân thành lănh nhận và phát triển; thế nhưng nó cũng không được khép ḿnh khỏi những ǵ các tôn giáo, đặc biệt là đức tin Kitô giáo, đă lănh nhận và truyền lại cho nhân loại như là một dấu chỉ đường. Những ǵ khác nhau được các thần học gia nói trong gịng lịch sử và cũng là những ǵ được truyền đạt trong thực hành bởi các thẩm quyền của giáo hội, đă được lịch sử chứng tỏ là sai lầm và ngày nay những điều ấy làm cho chúng ta bối rối. Thế nhưng, đồng thời cũng đúng nữa, đó là lịch sử của các thánh nhân, lịch sử của chủ nghĩa nhân bản đă tăng trưởng trên nền tảng đức tin Kitô giáo, là những ǵ cho thấy sự thật của đức tin này nơi nguyên tố thiết yếu của nó, nhờ đó, làm cho nó trở thành một thứ mô phạm cho lư trí quần chúng. Thật sự là nhiều điều thần học và đức tin nói chỉ có thể được chấp nhận trong đức tin và bởi đó nó không thể tỏ ḿnh ra như là một thứ nhu cầu khẩn trương đối với những ai vẫn chưa thể chấp nhận đức tin ấy. Tuy nhiên, cũng xác đáng nữa khi sứ điệp của đức tin Kitô giáo lại không bao giờ chỉ là một “tín điều đạo giáo toàn diện” theo chiều hướng của Rawls, nhưng là một quyền lực thanh tẩy đối với chính lư trí, một quyền lực giúp cho lư trí trở thành lư trí hơn. Sứ điệp Kitô giáo, căn cứ vào nguồn gốc của ḿnh, bao giờ cũng là một thứ phấn khích hướng tới chân lư và nhờ đó là một khả năng chống lại những áp đảo của quyền lực và những thứ lợi lộc.
Vậy là tôi mới đang nói về đại học đường thời trung cổ, dù sao cũng cố gắng để làm sáng tỏ cái bản chất vĩnh viễn của đại học đường cùng với công việc của nó. Trong những thời đại tân tiến, những chiều kích mới về kiến thức đă được phát hiện, những chiều kích đă được coi trọng nơi đại học nhất là nơi hai lănh vực lớn: trước hết nơi các khoa học tự nhiên, những ngành khoa học đă phát triển được phát triển theo mối liên kết giữa việc thí nghiệm và tính chất hữu lư giả định về vật chất; tiếp theo là nơi các khoa học về lịch sử và nhân bản, những khoa học mà con người, khi cẩn thận xem xét tấm gương của lịch sử ḿnh và làm sáng tỏ những khía cạnh về bản tính của ḿnh, cố gắng hiểu biết về ḿnh hơn nữa. Nơi việc phát triển ấy, mở ra trước nhân loại chẳng những cả một tầm mức mênh mông về kiến thức và năng lực; mà c̣n tăng triển cả tầm hiểu biết và việc nh́n nhận các thứ quyền lợi và phẩm vị của con người, làm chúng ta chỉ biết cảm tạ về điều này.
Thế nhưng, cuộc hành tŕnh của con người không bao giờ tự cho ḿnh là đă đi đến tận cùng, và mối nguy hiểm bị rơi vào những ǵ là phi nhân sẽ chẳng bao giờ dễ dàng thắng vượt nổi – như chúng ta thấy được nơi tất cả lịch sử hiện đại đây! Ngày nay cái nguy hiểm của thế giới Tây phương – xin chỉ nói theo bối cảnh này thôi – đó là ở chỗ con người, chính ở vào lúc họ cho rằng kiến thức và quyền năng của ḿnh là cao cả, lại đầu hàng trước vấn đề về sự thật. Như thế đồng thời cũng có nghĩa là lư trí, cuối cùng, phải cúi ḿnh trước áp lực của các thứ lợi lộc cùng với cái mê hoặc của những ǵ là thực lợi, một lư trí phải bó buộc nh́n nhận áp lực ấy như là một qui chuẩn tối hậu. Áp dụng điều này vào quan điểm cấu trúc của đại học đường th́ mối nguy hiểm là ở chỗ triết học, v́ không c̣n cảm thấy ḿnh có khả năng làm được công việc thực sự của ḿnh nữa, đă bị suy thoái thành chủ nghĩa thực chứng; ở chỗ thần học, qua những ǵ nó nói với lư trí, đă bị giam hăm vào lănh vực tư riêng của một nhóm lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, nếu lư trí – khi chú ư tới cái tinh tuyền cần phải có của nó – trở thành điếc lác trước sứ điệp cao cả xuất phát từ đức tin Kitô giáo cũng như từ sự khôn ngoan của đức tin này, th́ nó sẽ tàn úa đi như một thứ cây mà rễ của nó không c̣n vươn tới những gịng nước cung cấp cho nó sự sống nữa. Nó sẽ mất đi ḷng can đảm đối với sự thật và v́ thế nó sẽ không trở nên cao cả hơn mà là thấp hèn hơn. Áp dụng vào nền văn hóa Âu Châu của chúng ta th́ điều này có nghĩa là: Nếu châu lục này chỉ muốn kiến tạo ḿnh trên nền tảng của lănh vực lập luận riêng của ḿnh và là những lập luận thu phục nó vào lúc này đây – khi tỏ ra lo toan về tính cách trần thế của nó – th́ nó sẽ bị bật những gốc rễ làm cho nó sống c̣n; thế rồi nó sẽ không trở nên hữu lư hơn và tinh tuyền hơn, mà là đổ bể và tan ră.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/1/2008
“Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người”
Với Đại Hội thường nên của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học ngày 6/11/2006
Đề tài cho cuộc họp của quí vị – ‘Khả Năng Dự Đoán nơi Khoa Học: Vấn Đề Chính Xác và Những Giới Hạn” – là những ǵ bàn tới một phẩm chất chuyên biệt của khoa học tân tiến. Thật vậy, khả năng dự đoán là một trong những lư do chính đối với thế giá của khoa học trong xă hội hiện đại. Việc thiết lập phương pháp khoa học đă cống hiến cho các khoa học khả năng dự đoán các hiện tượng xẩy ra, nghiên cứu diễn tiễn của các hiện tượng đó, nhờ đó kiểm soát được môi trường con người sống động.
‘Vấn đề tiến bộ’ đang gia tăng này của khoa học, đặc biệt là khả năng của nó trong việc làm chủ thiên nhiên tạo vật bằng kỹ thuật, có những lúc đă dính dáng tới một ‘cuộc thoái lui’ tương ứng của triết học, của tôn giáo, và thậm chí của cả đức tin Kitô Giáo. Thật vậy, có một số người đă thấy nơi việc tiến bộ này của khoa học và kỹ thuật tân tiến một trong những lư do chính cho t́nh trạng tục hóa và duy vật chủ nghĩa: tại sao lại cần đến vấn đề khẩn cầu cùng Thiên Chúa để làm chủ những hiện tượng ấy trong lúc khoa học cho thấy nó có thể làm được điều ấy chứ? Thật sự là Giáo Hội nh́n nhận rằng ‘nhờ khoa học và kỹ thuật hỗ trợ…, con người đă nới rộng việc làm chủ của ḿnh trên hầu như toàn thể thiên nhiên tạo vật’, bởi đó mà giờ đây con người, bằng hoạt động của ḿnh, đang làm phát sinh ra những lợi ích từng được họ t́m kiếm từ các quyền lực trên cao’ (Gaudium et Spes, 33). Kitô Giáo cũng đồng thời không chấp nhận là có một cuộc xung khắc bất khả tránh giữa đức tin siêu nhiên và tiến bộ khoa học. Ngay chính ở khởi điểm của mạc khải Thánh Kinh đó là việc khẳng định rằng Thiên Chúa đă tạo dựng nên con người, phú bẩm cho họ trí khôn, và đặt họ trên tất cả mọi tạo vật trên trần gian này. Nhờ đó, con người đă trở thành một quản viên của thiên nhiên tạo vật và là ‘một phụ giúp viên’ của Thiên Chúa. Nếu chúng ta nghĩ, chẳng hạn, về cách thức làm thế nào khoa học tân tiến, nhờ biết dự đoàn các hiện tượng thiên nhiên, đă góp phần vào việc bảo vệ môi trường, vào vấn đề tiến bộ của những quốc gia phát triển, vào việc chiến đấu chống lại các thứ dịch bệnh, và vào việc gia tăng tuổi thọ cho sự sống con người, th́ mới thấy rơ là không có ǵ là xung khắc giữa việc Thiên Chúa quan pḥng với công việc thực hiện của nhân loại cả. Đúng vậy, chúng ta có thể nói rằng công việc dự đoán, kiểm soát và quản trị thiên nhiên vạn vật, những ǵ khoa học ngày nay thực hiện một cách cụ thể hơn trong quá khứ, tự nó thuộc về dự án của Đấng Hóa Công.
Tuy nhiên, khoa học, trong khi cống hiến dồi dào như thế, cũng chỉ cống hiến được những ǵ theo mục đích của nó thôi. Con người không thể nào tin tưởng một cách sâu xa và tuyệt đối vào khoa học và kỹ thuật đến nỗi tin tưởng rằng việc tiến bộ của khoa học và kỹ thuật có thể giải thích được hết mọi sự và có thể làm hoàn toàn măn nguyện tất cả mọi nhu cầu hiện hữu và tâm linh. Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người: những vấn nạn về ư nghĩa của sự sống và sự chết, về những giá trị tối hậu, và về bản chất của chính vấn đề tiến bộ. Đó là lư do Công Đồng Chung Vaticanô II, sau khi nh́n nhận các thứ lợi ích đạt được từ những tiến b ộ của khoa học, đă vạch ra rằng ‘có thể lầm lẫn coi các phương pháp t́m cầu nghiên cứu của khoa học như là qui chuẩn tối hậu trong việc đạt tới sự thật’, rồi thêm: ‘thật là nguy hiểm khi con người, tin tưởng thái quá vào những khám phá ngày nay, nghĩ rằng họ đầy đủ rồi, không cần t́m kiếm những giá trị cao hơn nữa’ (cùng nguồn, đoạn 57).
Khả năng dự đoán của khoa học cũng khơi lên vấn đề về những trách nhiệm đạo lư của thành phần khoa học gia nữa. Những khẳng định của họ cần phải được chi phối bởi việc tôn trọng chân lư cũng như bởi việc chân thành nh́n nhận cả sự chính xác lẫn những giới hạn bất khả tránh của phương pháp khoa học. Quả thực th́ điều này có nghĩa là tránh đi những tiên đoán báo động không cần, khi những tiên đoán ấy không được căn cứ vào các dữ kiện đầy đủ hoặc vượt quá khả năng thực sự của khoa học trong việc tiên đoán. Thế nhưng, nó cũng có nghĩa là tránh đi những ǵ nghịch lại, tức là vấn đề giữ im lặng, bởi hăi sợ, trước những vấn đề đích thực. Tầm mức ảnh hưởng của các khoa học gia trong việc h́nh thành dư luận quần chúng căn cứ vào kiến thức của họ là những ǵ hết sức quan trọng không được coi thường v́ sự vội vàng không đúng lúc hay v́ muốn trở thành nổi nang trong quần chúng. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có lần đă nhận định: ‘Các khoa học gia, chính v́ họ biết hơn mà họ được kêu gọi phục vụ hơn. V́ quyền tự do được nghiên cứu đă giúp họ có được một kiến thức chuyên biệt hóa mà họ cần phải có trách nhiệm trong việc sử dụng kiến thức ấy một cách khôn ngoan cho thiện ích của toàn thể gia đ́nh nhân loại’ (Address to the Pontifical Academy of Sciences, 11 November 2002).
Quí Hàn Lâm Viên thân mến, thế giới của chúng ta tiếp tục nh́n vào quí vị và đồng nghiệp của quí vị để hiểu rơ hơn những thành quả khả dĩ nơi nhiều hiện tượng thiên nhiên quan trọng. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến những thứ đe dọa liên tục xẩy đến cho môi trường đang ảnh hưởng tới toàn thể các dân tộc, và nhu cầu khẩn trương trong việc khám phá ra những nguồn năng lượng thay thế an toàn thuận lợi cho tất cả mọi người. Các khoa học gia sẽ t́m được sự ủng hộ của Giáo Hội nơi nỗ lực của họ trong việc đương đầu với những vấn đề ấy, v́ Giáo Hội đă lănh nhận từ vị sáng lập thần linh của ḿnh công việc hướng dẫn lương tâm con người tới sự thiện hảo, kết đoàn và b́nh an. Chính v́ lư do đó Giáo Hội cảm thấy có nhiệm vụ buộc phải nhấn mạnh rằng khả năng của khoa học trong việc dự đoán và kiểm soát không bao giờ được sử dụng để chống lại sự sống của con người và phầm giá của sự sống này, song bao giờ cũng phải phục vụ sự sống ấy, phục vụ thế hệ hiện nay cũng như những thế hệ mai sau.
C̣n một ư nghĩ cuối cùng được chủ đề của Hội Nghị quí vị gợi lên cho chúng ta hôm nay. Như một số báo chí xuất hiện trong mấy ngày vừa rồi đă nhấn mạnh, đó là chính phương pháp khoa học, trong việc thu thập các dữ kiện cũng như trong việc coi xét cùng sử dụng những dữ kiện ấy cho những dự phóng, là những ǵ vốn có những giới hạn, khiến cho khả năng tiên đoán của khoa học thực sự bị hẹp lại đối với những phạm vi và đường lối riêng biệt. Bởi thế, khoa học không thể cho rằng ḿnh có thể thực hiện được một cuộc tŕnh bày hoàn toàn dứt khoát về tương lai của chúng ta cũng như về t́nh trạng diễn tiến của mọi hiện tượng được nó nghiên cứu. Triết học và thần học có thể góp phần quan trọng cho vấn đề bản thể học trọng yếu này, chẳng hạn, khi giúp cho những khoa học thực nghiệm thấy được sự khác biệt giữa cái bất lực của toán học trong việc tiên đoán một số biến cố với cái hiệu lực của nguyên tắc nhân quả, hay giữa cái bất định hoặc ngẫu nhiên theo khoa học với cái nhân quả ở lănh vực triết lư, hoặc sâu xa hơn nữa, giữa cái tiến hóa được coi như là nguồn gốc của một chuỗi nối tiếp trong không gian và thời gian, với việc tạo dựng là nguồn gốc tối hậu của thứ hữu thể dự phần nơi Hữu Thể tất yếu.
Đồng thời cũng có một tầm mức cao hơn thực sự trổi vượt trên tất cả mọi dự đoán của khoa học, tức là thế giới tự do của con người và lịch sử. Trong khi các thứ vũ trụ về thể lư có những diễn tiến về thời không th́ chỉ có nhân loại, theo nghĩa hẹp, là có lịch sử, một thứ lịch sử về quyền tự do của nhân loại. Tự do, như lư trí, là một yếu tố quí báu của h́nh ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta, và nó không bao giờ có thể bị phân tích một cách dứt khoát nổi. Cần phải nh́n nhận và tôn trọng chiều kích siêu việt của nó đối với thế giới vật chất, v́ nó là dấu hiệu cho thấy nhân phẩm của chúng ta. Nhân danh khả năng cho là tuyệt đối của phương pháp khoa học trong việc dự đoán, cũng như nhân danh t́nh trạng thế giới của con người để mà chối bỏ chiều kích siêu việt ấy sẽ đưa đến việc làm mất đi những ǵ là nhân bản nơi con người, và v́ không nh́n nhận cái đặc thù cũng như siêu việt của ḿnh, sẽ có nguy cơ mở đường cho việc con người khai thác ḿnh.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/11/2006
Huấn từ cho Giáo Hoàng Đại Học Đường Gregorian ngày 3/11/2006
Biết Thiên Chúa chưa đủ. Để thực sự gặp gỡ Ngài, con người cũng cần phải mến yêu Ngài nữa. Hiểu biết trở thành yêu thương.
Việc học hỏi Thần học, Giáo luật và Giáo sử chẳng những là việc hiểu biết về những xác quyết về đức tin được công thức hóa theo lịch sử và việc áp dụng thực hành của nó, mà bao giờ cũng c̣n là một thứ kiến thức liên quan tới những niềm xác quyết ấy theo đức tin, đức cậy và đức mến nữa.
Chỉ có duy Thần Linh mới ḍ được thâm cung của Thiên Chúa (x. 1Cor 2:10); bởi vậy mà chỉ khi nào biết lắng nghe Thần Linh, con người mới có thể thấu triệt được chiều sâu của các kho tàng, khôn ngoan và kiến thức về Thiên Chúa (x Rm 11:33).
Chúng ta lắng nghe Thần Linh bằng việc nguyện cầu, khi ḷng chúng ta hướng v ề việc chiêm ngắm mầu nhiệm của Thiên Chúa được mạc khải cho chúng ta nơi Người Con Giêsu Kitô, h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh (x Col 1:15), được đặt làm Thủ Lănh Giáo Hội và là Chúa của tất cả mọi sự (x Eph 1:10; Col 1:18).
Từ nguyên thủy của ḿnh là Viện Đại Học Rôma - Collegium Romanum, Đại Học Đường Gregorian đă nổi bật về việc nghiên cứu học hỏi triết lư và thần học. Một danh sách dài tên tuổi các triết gia và thần học gia nổi tiếng đă theo nhau giữ các chức Khoa Trưởng ở Trung Tâm hàn lâm này; chúng ta c ũng cần phải thêm vào bản danh sách này các giáo luật gia và giáo sử gia danh tiếng, thành phần đă cống hiến năng lực của ḿnh trong các bức tường thế giá này.
Tất cả những vị ấy đă góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành về kiến thức họ đă học hỏi, bởi đó, họ cũng đă góp phần vào việc phục vụ quí báu cho Ṭa Thánh trong việc thi hành vai tṛ của Ṭa Thánh về lănh vực tín lư, kỷ luật và mục vụ. Qua việc tiến triển của các thời điểm, cần phải thay đổi cái nh́n.
Ngày nay, cần phải chú ư tới cái thách đố của một nền văn hóa trần tục, một nền văn hóa ở nhiều phần đất trên thế giới có khuynh hướng càng ngày càng chối bỏ chẳng những hết mọi dấu hiệu của việc Thiên Chúa hiện diện trong sinh hoạt của xă hội và của con người, mà c̣n, qua một vài phương tiện, những phương tiện đánh lạc hướng và làm lu mờ đi lương tâm chính trực của con người, đang nỗ lực làm tiêu hao đi khả năng con người lắng nghe Thiên Chúa nữa.
Không thể
nào không lưu ư tới mối liên hệ với các tôn giáo khác, mối liên hệ chẳng những
có tính cách xây dựng nếu nó tránh đi được tất cả những ǵ là mập mờ làm suy yếu
đi nội dung thiết yếu của niềm tin tưởng của Kitô Giáo vào Chúa Kitô, Đấng cứu
độ duy nhất của toàn thể nhân loại, cũng như niềm tin tưởng vào Giáo Hội, bí
tích cứu độ cần thiết để cứu độ toàn thể nhân loại.
Ở đây chúng ta không thể quên được các khoa học nhân bản khác đang được phát triển tại Đại Học Đường nổi tiếng này theo truyền thống vẻ vang về hàn lâm của viện Đại Học Rôma đây. Tất cả đều quá biết về cái thế giá lớn lao của Viện Đại Học Rôma này có được nơi các ngành Toán học, vật lư và thiên văn.
Chỉ cần nhắc lại rằng lịch “Gregorian”, một thứ lịch được gọi như thế v́ nó được vị tiền nhiệm của tôi là Đức Grêgôriô XIII muốn thực hiện, và đang được sử dụng khắp thế giới, là bộ lịch được cha Christopher Clavius biên soạn vào năm 1582, một vị Giảng viên của Đại Học Đường này.
Chỉ cần đề cập tới cha Mattêô Ricci, vị đă mang đến tận Trung Hoa thứ kiến thức ngài có được như môn sinh của Clvius, chưa kể tới chứng từ đức tin của ngài.
Ngày nay, những người môn đệ trên không c̣n dạy ở Đại Học Grêgôriô này nữa, mà đă được thay thế bởi các khoa học nhân bản như tâm lư học, xă hội học và thông thông xă hội.
Bởi vậy, con người cần phải được hiểu biết sâu xa hơn, cả về chiều kích bản vị của họ lẫn chiều kích ngoại tại của họ như là một nhà kiến thiết xă hội trong công lư và ḥa b́nh, và như một truyền đạt viên chân lư.
Không thể nào hoàn toàn hiểu được con người, cả trong nội tại cũng như ngoại diện, nếu họ không hướng về siêu việt thể. Không biết qui chiếu vào Thiên Chúa, con người không thể giải đáp những vấn nạn nồng cốt đang làm day dứt và măi làm khắc khoải tâm can của họ liên quan tới cùng đích của cuộc đời họ và v́ thế liên quan tới ư nghĩa cuộc sống của họ.
Không căn cứ vào Thiên Chúa, con người không thể đáp ứng những vấn nạn trọng yếu đang làm bối rối và sẽ măi làm bối rối tâm can của họ liên quan tới cùng đích đời sống của họ cũng là đến ư nghĩa của đời sống họ. Bởi thế, thậm chí họ không thể kết hiệp trong xă hội những thứ giá trị về đạo lư là những ǵ duy nhất có thể góp phần vào việc chung sống hợp với con người.
Không dựa vào Thiên Chúa th́ định mệnh của con người chỉ là những ǵ lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi.
Chỉ khi nào
biết căn cứ vào Vị Thiên Chúa Yêu Thương, Đấng đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô,
con người mới t́m thấy ư nghĩa của cuộc đời ḿnh và mới sống trong niềm hy vọng,
bất chấp có trải qua những sự dữ làm tổn thương đến đời sống của họ và xă hội họ
sống.
Hy vọng là những ǵ giúp cho con người không khóa ḿnh lại trong một thứ chủ nghĩa tuyệt mệnh tê liệt và cằn cỗi, mà là hướng về một cuộc hăng say dấn thân trong xă hội họ sống để có thể canh tân xă hội. Đó là công việc Thiên Chúa ủy thác cho con người khi Ngài tạo dựng nên họ theo h́nh ảnh Ngài và tương tự như Ngài, một công việc làm cho hết mọi người được đầy tràn phẩm vị cao cả nhất có thể, nhưng cũng kèm theo cả một trách nhiệm lớn lao nữa.
“Chính vũ trụ được kết cấu một cách khôn ngoan sáng suốt, v́ thế mới có một sự tương ứng sâu xa giữa lư trí chủ quan của chúng ta và lư tính khách quan của thiên nhiên”.
Huấn Từ cho Công Nghị Toàn Ư Quốc Về Giáo Hội Lần 4 ở Trung Tâm Triển Lăm Verona 19/10/2006
Quả thực, Kitô giáo là những ǵ cởi mở đối với tất cả mọi người ở các nền văn hóa cũng như ở một xă hội công bằng, chân thực và tinh tuyền, đối với tất cả những ǵ làm hân hoan, an ủi và kiên cường cuộc sống của chúng ta. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Philliphê đă nói: “Những ǵ là chân thật, những ǵ là cao quư, những ǵ là chính trực, những ǵ là tinh tuyền, những ǵ là đáng yêu, những ǵ là nhân ái, nếu có những ǵ là hảo hạng, những ǵ đáng ca ngợi, th́ anh em hăy nghĩ tới những điều ấy” (4,8).
Bởi thế, các môn đệ của Đức Kitô nhận ra và hân hoan đón nhận các thứ giá trị đích thực nơi văn hóa của thời đại chúng ta, ví dụ kiến thức khoa học và sự phát triển kỹ thuật, nhân quyền, tự do tôn giáo, và dân chủ. Tuy nhiên, họ không bỏ qua hay coi thường tính cách mềm yếu nguy hiểm nơi bản tính của con người vốn là một mối đe dọa cho sự tiến bộ của nhân loại trong hết mọi môi trường lịch sử; đặc biệt là họ không lơ là với những căng thẳng và mâu thuẫn nội tâm của thời đại chúng ta.
V́ thế, việc truyền bá phúc âm hóa không bao giờ chỉ là một thứ thuần túy thích nghi với văn hóa, nhưng bao giờ cũng là một cuộc thanh tẩy, một cuộc can đảm tách biệt giúp trưởng thành và chữa lành, một sự cởi mở làm nẩy sinh một “tạo vật mới” (II Cor 5,17; Gal 6,15) là hoa quả của Chúa Thánh Thần.
Như tôi đă viết trong Thông điệp “Thiên Chúa Là T́nh Yêu”, ở cốt lơi của việc làm người Kitô hữu – và do đó ở cốt lơi của việc chúng ta làm chứng với tư cách là thành phần tín hữu – không có vấn đề về việc quyết định theo đạo lư hay vấn đề có những ư tưởng hay ho, mà là vấn đề của cuộc gặp gỡ Con Người Giêsu Kitô, “Đấng cống hiến cho cuộc sống một chân trời mới và một đường hướng nhất định” (số 1).
Kết quả của sự gặp gỡ này cũng được biểu lộ một cách kỳ lạ và mới mẻ nơi môi trường nhân bản và văn hóa thực tiễn, nhất là trong mối tương quan với lư trí là cái mang lại sức sống cho khoa học hiện đại và các thứ kỹ thuật liên hệ. Thực vậy, một đặc điểm chính yếu của kỹ thuật đó là việc sử dụng một cách có phương pháp các thứ dụng cụ theo toán học để có thể hoạt động với thiên nhiên trong việc khai thác các năng lực lớn lao cho việc phục vụ của chúng ta.
Như thế, toán học là những ǵ do trí óc của chúng ta tạo nên: sự tương ứng giữa cấu trúc của nó với các cấu trúc thực sự trong vũ trụ – một tương ứng là những ǵ giả định của tất cả mọi phát triển của khoa học và kỹ thuật hiện đại, đă được Galileo Galilei công thức hóa một cách rơ ràng bằng một câu khẳng định nổi tiếng là cuốn sách thiên nhiên được biết bằng ngôn ngữ toán học – khiến chúng ta phải khâm phục và suy nghĩ nhiều.
Thực vậy, nó hàm ư rằng chính vũ trụ được kết cấu một cách khôn ngoan sáng suốt, v́ thế mới có một sự tương ứng sâu xa giữa lư trí chủ quan của chúng ta và lư tính khách quan của thiên nhiên.
Bởi vậy chúng ta không thể không tự hỏi ḿnh rằng phải chăng không có một lư trí nguyên thủy duy nhất là nguồn mạch chung cho cả hai thứ lư trí trên đây hay sao.
V́ thế, chính việc suy tư về vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Khuynh hướng lấy làm chính yếu tính cách vô tri, ngẫu nhiên t́nh cờ, và sự tất yếu là những ǵ đang bị lật đổ, cũng là những ǵ dẫn lư trí của chúng ta và quyền tự do của chúng ta về với vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Dựa vào những cơ sở ấy, lănh vực về tính cách hữu lư của chúng ta lại có thể được nới rộng, có thể tái mở ra cho nó những vấn nạn bao rộng hơn về sự thật và sự thiện, có thể nối kết thần học, triết học và khoa học với nhau, trong sự hoàn toàn tôn trọng các phương pháp hợp với chúng, cũng như hợp với tính cách độc lập hỗ tương của chúng, nhưng đồng thời cũng nhận thức được mối hiệp nhất nội tại liên kết chúng lại với nhau.
"Nếu tất cả khoa học (thu ngắn phạm vi khoa học và lư trí) là như thế và chỉ như thế mà thôi, th́ chính con người cuối cùng cũng bị biến giảm, v́ những vấn đề đặc biệt về con người ... bấy giờ không có chỗ đứng trong nhăn quan của thứ lư trí vơ đũa cả nắm được cho là 'khoa học'”
Bài diễn văn ngày Thứ Ba 12/9/2006 tại Đại Học Regensburg về niềm tin, lư trí, và đại học đường
Người ta cần phải nhận định một cách hết sức thành thật rằng vào cuối Thời Trung Cổ, chúng ta thấy có những chiều hướng nơi thần học làm tách biệt cái tổng hợp giữa tinh thần Hy Lạp và tinh thần Kitô Giáo này. Ngược lại với cái được gọi là duy lư trí của Âu Cơ Tinh và Tôma, xuất hiện nơi Duns Scotus một chủ nghĩa duy ư chí là chủ nghĩa, qua những diễn tiến sau này, dẫn đến chỗ cho rằng chúng ta chỉ có thể biết voluntas ordinate (ư muốn b́nh thường) của Thiên Chúa mà thôi. Ngoài ư muốn b́nh thường này là lănh vực thuộc quyền tự do của Thiên Chúa, từ đó, Ngài có thể làm đảo lộn hết mọi sự Ngài đă làm. Điều này làm phát sinh ra những chủ trương rơ ràng là sát cận với những chủ trương của Ibn Hazn, thậm chí có thể dẫn đến h́nh ảnh của một vị Thiên Chúa đồng bóng, một vị Thiên Chúa thậm chí không liên hệ ǵ tới sự thật và sự thiện. Siêu việt tính của Thiên Chúa và cái khác biệt của Thiên Chúa là những ǵ được đề cao đến nỗi, lư trí của chúng ta, giác quan của chúng ta về sự thật và sự thiện, không c̣n là những ǵ thực sự phản ảnh Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa mà những năng thể sâu xa nhất của Ngài vĩnh viễn trở thành những ǵ bất khả đạt và được dấu kín đằng sau những quyết định thực sự của Ngài. Ngược lại với chủ trương này, đức tin của Giáo Hội bao giờ cũng nhấn mạnh rằng giữa Thiên Chúa và chúng ta, giữa Thần Linh Sáng Tạo hằng hữu của Ngài và lư trí thụ tạo của chúng ta có một cái ǵ tương tự thật sự, như Công Đồng Chung Latêranô IV năm 1215 đă nói, một sự tương tự với cái không giống vĩnh viễn là nhiều hơn là cái giống, tuy nhiên không tới độ hủy loại đi cái tương tự cùng với ngôn từ của nó. Thiên Chúa không trở thành thần linh hơn khi chúng ta đẩy Ngài ra khỏi chúng ta theo chiều hướng duy ư chí hoàn toàn bất khả thấu; trái lại, vị Thiên Chúa thực sự thần linh này là vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra như logos – lời, và như logos – lời, ngài đă tác hành và tiếp tục tác hành một cách yêu thương đối với chúng ta. T́nh yêu, như Thánh Phaolô viết, thực sự là những ǵ ‘vượt trên’ kiến thức và v́ thế có thể cảm nhận hơn là duy tưởng (x Eph 3:19); tuy nhiên, nó vẫn là t́nh yêu của vị Thiên Chúa là Logos – Lời. Bởi thế, việc tôn thờ của Kitô Giáo, cũng Thánh Phaolô nói, là "8@(46¬ 8"JD,\"", việc tôn thờ hợp với Lời hằng hữu và với lư trí của chúng ta (x Rm 12:1) (10).
Việc tái tấu mối hữu nghị nội tại giữa đức tin theo Thánh Kinh và triết thức Hy Lạp là một biến cố hệ trọng thật là quyết liệt, chẳng những theo quan điểm lịch sử các tôn giáo, mà c̣n theo quan điểm lịch sử thế giới nữa – nó là một biến cố liên quan thậm chí tới chúng ta ngày nay nữa. Trước việc qui hợp này, không lạ ǵ Kitô Giáo, cho dù việc bắt nguồn và phát triển của nó ở Đông phương, cuối cùng lại mang tính cách quan trọng về lịch sử ở Âu Châu. Chúng ta có thể diễn đạt vấn đề này một cách khác như sau: việc qui hợp ấy, cùng với việc thêm thắt sau này của gia sản Rôma, đă là những ǵ kiến tạo nên Âu Châu và tiếp tục là nền tảng cho những ǵ có thể đáng được gọi là Âu Châu.
Luận đề cho rằng gia sản được cẩn thận thanh tẩy này là những ǵ h́nh thành một phần nguyên vẹn của đức tin Kitô Giáo, là luận đề đă bị phản kháng bởi tiếng gọi hăy giải thể văn hóa Hy Lạp khỏi Kitô Giáo – một tiếng gọi càng ngày càng chi phối những cuộc bàn luận về thần học từ khi mở màn thời đại tân tiến. Nh́n kỹ, người ta thấy có 3 giai đoạn trong tiến tŕnh giải thể văn hóa Hy Lạp này: mặc dù có liên hệ với nhau, song 3 giai đoạn ấy rơ ràng là khác biệt hẳn nhau nơi những cái mới mẻ và mục tiêu của ḿnh (11).
Việc giải thể văn hóa Hy Lạp đầu tiên liên quan tới những định đề của phong trào Cải Cách ở thế kỷ 16. Khi nh́n vào truyền thống của nền thần học kinh viện, thành phần Cải Cách nghĩ rằng họ phải đối đầu với một hệ thống tin tưởng hoàn toàn bị điều kiện hóa bởi triết lư, tức là họ muốn nói đến một sự kết nối của đức tin dựa trên một hệ thống tư tưởng ngoại lạ. Do đó, đức tin không c̣n là một Lời sống động trong lịch sử mà chỉ là một yếu tố của một hệ thống bị hệ thống triết lư bao trùm. Trái lại, nguyên lư duy thánh kinh – sola srciptura lại t́m kiếm một niềm tin hoàn toàn mặc h́nh thức tinh tuyền, nguyên khôi, như được thấy từ ban đầu ở Lời trong thánh kinh. Siêu h́nh học đă trở thành như là một tiền đề được xuất phát từ một nguồn mạch khác, là nơi đức tin đă được giải phóng để trở về với chính bản chất của ḿnh. Khi triết gia Kant nói rằng ông cần dẹp việc suy nghĩ ra ngoài để lấy chỗ cho niềm tin, là ông đă tiền hành dự án này một cách cấp tiến chưa từng thấy nơi thành phần Cải Cách. Bởi thế ông đă cột thắt niềm tin vào thứ lư trí thực tiễn mà thôi, không để cho niềm tin tiến tới với toàn thể thực tại.
Thần học giải phóng trong thế kỷ 19 và 20 đă mở màn cho giai đoạn hai trong tiến tŕnh giải thể văn hóa Hy Lạp, với Adolf von Harnack như nhân vật tiêu biểu nhất của thứ thần học này. Khi tôi c̣n là một sinh viên, và vào những năm đầu làm nghề giảng dạy của ḿnh, th́ cái cương lĩnh này cũng đă có một ảnh hưởng lớn nơi thần học Công Giáo rồi. Nó được khởi đi từ chỗ phân biệt của triết gia Pascal về vấn đề vị Thiên Chúa của thành phần triết gia với vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Trong bài khai mạc của tôi ở Bonn năm 1959, tôi đă cố gắng nói tới vấn đề này (12), và tôi không muốn lập lại ở đây những ǵ tôi đă nói vào lúc bấy giờ, thế nhưng tôi muốn diễn tả vắn gọn ít là những ǵ mới mẻ về giai đoạn thứ hai của việc giải thể văn hóa Hy Lạp này. Ư tưởng chính yếu của Harnack đó chỉ là việc trở về với con người Giêsu cũng như với sứ điệp b́nh thường của Người, một sứ điệp nằm ở bên dưới những thứ bồi đắp của thần học và thực sự của nền văn hóa Hy Lạp: sứ điệp b́nh thường này được thấy như là tột đỉnh của việc phát triển về đạo giáo của nhân loại. Chúa Giêsu là vị được cho rằng đă chấm dứt việc thờ phượng để hướng chiều về luân lư. Để rồi Người được tŕnh bày như là một người cha của thứ sứ điệp về luân lư nhân đạo. Nói cho cùng th́ mục đích của Harnack đó là đem Kitô Giáo vào cuộc hài ḥa với thứ lư trí tân tiến, tức là giải phóng Kitô Giáo khỏi những yếu tố có vẻ triết lư và thần học, chẳng hạn như niềm tin tưởng vào thần tính của Chúa Kitô và vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, việc dẫn giải Tân Ước theo kiểm nhận về lịch sử, như ông thấy, là những ǵ đă trả về cho thần học vị trí của thần học trong đại học: thần học, đối với Harnack, là một cái ǵ đó có tính cách lịch sử thiết yếu, bởi thế thần học hoàn toàn có tính cách khoa học. Những ǵ có thể nói theo nhận định về Chúa Giêsu thực sự là một bày tỏ của thứ lư trí thực tiễn, từ đó, nó có thể chiếm được thế đứng thật sự của ḿnh ở đại học đường. Đứng đằng sau việc suy nghĩ này là tính chất tự hạn hữu mới của lư trí, những ǵ đă được đề cập đến theo kiểu cổ điển trong cuốn “Critiques” của Kant, thế nhưng đồng thời lại được cấp tiến hóa hơn bởi ảnh hưởng của các ngành khoa học tự nhiên. Quan niệm tân tiến này về lư trí, nói tóm lại, được căn cứ vào một cuộc tổng hợp giữa chủ nghĩa Platonism (Cartesianism) và chủ nghĩa duy nghiệm, một tổng hợp được củng cố bởi việc thành đạt của kỹ thuật. Một đàng nó bao hàm cái cấu trúc toán học của chất thể, bao hàm cái lư lẽ nội tại của cuộc tổng hợp này, cái lư lẽ để có thể hiểu được chất thể hoạt động ra sao và việc sử dụng nó một cách hiệu năng: cái tiền đề căn bản này thực sự là yếu tố của triết lư Plato nơi kiến thức tân tiến về thiên nhiên tạo vật. Mặt khác, năng lực của thiên nhiên tạo vật đang bị khai thác cho các mục đích của chúng ta, và ở nơi đây, chỉ có khả năng kiểm chứng hay xuyên tạc bằng thử nghiệm mới có thể thật sự nắm vững được vấn đề mà thôi. Cán cân giữa đúng sai này, tùy theo hoàn cảnh, có thể chạy từ bên này sang bên kia. Là con người mạnh mẽ theo thực chứng chủ nghĩa, một tư tưởng gia như J. Monod đă từng tuyên bố ḿnh là thành phần chấp nhận chủ nghĩa Plotonist/Cartesian.
Điều này làm phát sinh ra hai nguyên tắc hệ trọng đối với vấn đề được chúng ta nêu lên. Nguyên tắc thứ nhất, đó là chỉ có thứ xác nhận nào xuất phát từ việc tác động của các yếu tố toán học và thử nghiệm mới có thể được coi là khoa học. Bất cứ điều ǵ cho là khoa học đều phải được căn cứ vào qui chuẩn ấy. Bởi thế, các khoa học về nhân văn, như lịch sử, tâm lư, xă hội và triết học, cần phải tuân hợp với qui luật của khoa học tính này. Nguyên tắc thứ hai, một nguyên tắc quan trọng cho những suy tư của chúng ta, đó là, tự bản chất của ḿnh, phương pháp này là những ǵ loại trừ vấn đề về Thiên Chúa, cho vấn đề ấy như là vấn đề phi khoa học hay tiền khoa học. Tóm lại, chúng ta đang phải đối diện với một thứ thu ngắn phạm vi khoa học và lư trí, một thứ thu ngắn cần được đặt lại vấn đề.
Tôi sẽ trở lại với vấn đề ấy sau này. Lúc này đây, vấn đề cần phải nhận định là, theo quan điểm ấy th́ bất cứ một nỗ lực nào muốn bảo tŕ việc cho thần học là ‘khoa học’ đều tiến đến chỗ biến Kitô Giáo thành một đơn mảnh thuộc bản chất trước kia của nó. Thế nhưng, chúng ta cần phải nói thêm là: nếu tất cả khoa học là như thế và chỉ như thế mà thôi, th́ chính con người cuối cùng cũng bị biến giảm, v́ những vấn đề đặc biệt về con người liên quan tới nguồn gốc và định mệnh của chúng ta, những vấn đề được tôn giáo và đạo lư gợi lên, bấy giờ không có chỗ đứng trong nhăn quan của thứ lư trí vơ đũa cả nắm được cho là “khoa học”, được hiểu là như thế, và như vậy th́ các vấn đề đặc biệt ấy cần phải được chuyển sang cho lănh vực chủ quan. Để rồi chủ thể là người, căn cứ vào kinh nghiệm của ḿnh, sẽ quyết định những ǵ họ coi là khả thủ nơi các vấn đề về tôn giáo, và thứ “lương tâm” chủ quan sẽ trở thành một thẩm phán viên độc đoán duy nhất về những ǵ có tính cách đạo lư. Cho dù là như thế chăng nữa, luân thường đạo lư và tôn giáo cũng đă mất đi quyền lực của ḿnh trong việc kiến tạo nên một cộng đồng và hoàn toàn trở thành một vấn đề riêng tư cá nhân. Đó là một t́nh trạng nguy hiểm nơi những sự vụ giành cho nhân loại, như chúng ta thấy được từ những chứng bệnh đáng lo ngại về tôn giáo và lư trí là những ǵ đang cần phải bùng nổ, khi mà lư trí bị biến giảm đến nỗi những vấn đề về tôn giáo và đạo lư không c̣n liên hệ ǵ với nó nữa. Những nỗ lực kiến tạo nên một thứ đạo lư theo các qui luật của việc tiến hóa, hay theo tâm lư học và xă hội học, đều là những ǵ sẽ tiến tới chỗ bị què cụt hụt hẫng mà thôi.
Trước khi tôi rút ra những kết luận từ tất cả những điều ấy, tôi cần phải vắn tắt nói tới giai đoạn thứ ba của việc giải thể văn hóa Hy Lạp là giai đoạn đang diễn tiến hiện nay. Theo kinh nghiệm của chúng ta về tính cách đa nguyên của văn hóa, ngày nay người ta thường nói rằng cái tổng hợp với văn hóa Hy Lạp đạt được ở Giáo Hội vào lúc ban đầu là một thứ hội nhập văn hóa sơ khởi không có hiệu lực trên các nền văn hóa khác. Các nền văn hóa khác này được cho rằng có quyền trở về với sứ điệp thuần túy của Tân Ước trước cuộc hội nhập văn hóa ấy, để hội nhập sứ điệp ấy một cách mới mẻ vào môi trường riêng biệt của chúng ta. Luận đề này chẳng những sai lầm; nó c̣n tồi tệ và thiếu chính xác nữa. Tân Ước được viết bằng Hy ngữ và mang dấu ấn của tinh thần Hy Lạp, một tinh thần đă tiến đến chỗ chín mùi như Cựu Ước đă phát triển vậy. Thật thế, có những yếu tố trong cuộc tiến hóa của Giáo Hội sơ khai không được hội nhập vào tất cả mọi nền văn hóa. Tuy nhiên, những quyết định trọng yếu về mối liên hệ giữa đức tin và việc sử dụng lư trí con người là những ǵ thuộc về chính đức tin; chúng là những tiến triển hợp với bản chất của chính đức tin.
Giờ đây tôi đi đến phần kết luận của ḿnh. Nỗ lực này, một nỗ lực được vẽ vời bằng những đường nét phóng đại, theo một thứ nhận định từ bên trong của lư trí tân tiến, không có liên quan ǵ tới việc quay ngược kim đồng hồ trở lại với thời gian trước Thời Minh Tri, cũng như trong việc loại trừ đi những minh thức của thời đại tân tiến hết. Những khía cạnh tích cực của tính cách tân tiến đều được công nhận một cách dễ dàng: ở chỗ, tất cả chúng ta đều cảm nhận đối với những tiềm năng tuyệt vời đang được mở ra cho nhân loại, cũng như đối với việc tiến bộ chúng ta có được nơi nhân loại. Ngoài ra, tinh thần của khoa học – như chính ngài Viện Trưởng đă nhắc tới – đó là ư muốn tỏ ra thuận phục chân lư, nhờ đó, nó thể hiện một thái độ vốn thuộc về những quyết định thiết yếu theo tinh thần Kitô Giáo. Ư hướng này ở đây không phải là một ư hướng của sự cắt xén hay của vấn đề tiêu cực kiểm định, mà là của việc nới rộng quan niệm của chúng ta về lư trí và về việc áp dụng của lư trí. Trong khi chúng ta hoan hưởng nơi những tiềm năng mới mở ra cho nhân loại th́ chúng ta cũng thấy được những mối nguy hiểm xuất phát từ những tiềm năng này, nên chúng ta vần phải tự hỏi làm sao chúng ta có thể thắng vượt được những thứ nguy hiểm ấy. Chúng ta sẽ thành công trong việc làm điều này chỉ khi nào lư trí và đức tin cùng nhau sánh bước một cách mới mẻ, chỉ khi nào chúng ta thắng vượt được cái hạn hữu tự áp đặt của lư trí đối với những ǵ là khả thực theo thử nghiệm, và chỉ khi nào chúng ta một lần nữa vạch ra được những vùng chân trời rộng lớn của lư trí. Theo chiều hướng này th́ thần học mới đáng thuộc về đại học đường và mới đáng thực hiện cuộc đối thoại bao rộng với các khoa học, không phải chỉ như là một ngành về lịch sử và một ngành của các khoa học nhân văn, mà thực sự là thần học, là việc thẩm tra tính cách hợp lư của đức tin.
Chỉ như thế chúng ta mới có thể thực hiện một cuộc đối thoại với các nền văn hóa và tôn giáo là những ǵ hết sức cần thiết ngày nay. Nơi thế giới Tây phương, nhiều người chủ trương rằng chỉ có thứ lư trí có tính cách thực chứng và những h́nh thức của triết học theo thứ lư trí này mới có giá trị phổ quát. Tuy nhiên, các nền văn hóa về đạo giáo sâu xa của thế giới đều thấy việc loại trừ thần linh này khỏi tính cách phổ quát của lư trí là một thứ tấn công vào những niềm xác tín sâu xa nhất của những nền văn hóa ấy. Một thứ lư trí tỏ ra câm điếc trước thần linh và đẩy tôn giáo vào lănh vực của các thứ hạ tầng văn hóa là một lư trí không thể nhập cuộc đối thoại với các nền văn hóa. Đồng thời, như tôi đă cố gắng chứng tỏ, lư trí khoa học tân tiến có yếu tố mang tính cách triết lư Plato sâu đậm chất chứa nơi ḿnh một vấn đề hướng về những ǵ ở ngoài chính nó và ở ngoài cả những tiềm năng nơi phương pháp học của nó nữa. Lư trí khoa học tân tiến hoàn toàn dễ dàng chấp nhận cái cấu trúc hợp lư của chất thể, cũng như cái tương hợp giữa tinh thần của chúng ta với những cấu trúc hợp lư vốn có nơi thiên nhiên tạo vật là những ǵ phương pháp học của lư trí khoa học tân tiến cần phải dựa vào. Tuy nhiên, vấn đề tại sao sự việc này cần phải như thế là một vấn đề thực sự, và là một vấn đề cần phải được các ngành khoa học tự nhiên trả về cho các kiểu cách và lănh vực suy tưởng khác – tức cho triết học và thần học. Đối với triết lư, và cho dù bằng đường lối khác nhau, đối với cả thần học, th́ việc lắng nghe những cảm nghiệm và những minh thức cao cả nơi những truyền thống tôn giáo của loài người, cũng như những cảm nghiệm cùng minh thức của riêng đức tin Kitô Giáo, là một nguồn kiến thức, và việc coi thường việc lắng nghe này sẽ là một thứ hạn chế bất khả chấp cho việc lắng nghe và đáp ứng của chúng ta. Ở đây tôi nhớ tới điều triết gia Socrates nói với Phaedo. Trong những cuộc đàm đạo đầu tiên của ḿnh, có nhiều ư nghĩ sai lầm về triết lư đă được nêu lên, nên Socrates đă nói: “Thật là dễ hiểu khi có người cảm thấy khó chịu trước tất cả những thứ khái niệm sai lầm mà đối với cuộc đời c̣n lại của ḿnh họ tỏ ra kinh thường và chế nhạo tất cả những ǵ nói về hữu thể – thế nhưng v́ vậy mà họ lại bị hụt hẫng đi cái sự thật về việc hiện hữu và phải chịu mất mát lớn lao” (13). Tây phương đă lâu bị nguy hiểm bởi thái độ không ưa thích đối với những vấn nạn được tiềm tàng nơi tính chất hợp lư của ḿnh, và v́ thế chỉ có thể phải chịu đựng cái tai hại cả thể. Can đảm dấn thân cho tính cách bao rộng của lư trí và không chối bỏ tính cách cao cả của nó – đó là chương tŕnh từ đó một khoa thần học được bắt nguồn từ niềm tin theo Thánh Kinh mới có thể tham gia vào những cuộc tranh luận của thời đại chúng ta. “Việc không tác hành hợp lư, không hành động với logos, là điều trái với bản tính của Thiên Chúa”, hoàng đế Manuel II đă nói như thế, theo kiến thức Kitô Giáo của ông về Thiên Chúa, để đáp lại đối thoại viên người Ba Tư của ông. Chính v́ để tiến đến với cái logos cao cả này, đến với cái rộng lớn của lư trí ấy, mà chúng ta kêu gọi đồng bạn của chúng ta hăy thực hiện cuộc đối thoại về các nền văn hóa. Công việc cao cả của đại học đường đó là liên lỉ tái nhận thức lư trí vậy.
"Khoa học cần phải chấp nhận niềm tin vào vị Thiên Chúa, Đấng tự ḿnh là Lư Trí sáng tạo của vũ trụ này, một cách mới mẻ như là một thách đố và là một cơ hội".
Thẩm Định với về Giáo Triều của ngài trong Năm 2006 dịp Chúa Giáng Sinh cho Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu 22/12/2006
Một chủ đề lớn khác liên quan tới đề tài về Thiên Chúa đó là chủ đề về vấn đề đối thoại. Cái ṿng bên trong của vấn đề đối thoại phức tạp, mà ngày nay đ̣i tất cả mọi Kitô hữu phải thực hiện cuộc dấn thân chung cho mối hiệp nhất, là những ǵ đă trở nên sáng tỏ nơi các Buổi Kinh Tối Đại Kết ở Vương Cung Thánh Đường Regensburg, nơi mà, ngoài anh chị em thuộc Giáo Hộio Công Giáo, tôi được gặp gỡ cả nhiều thân hữu thuộc Kitô Giáo Chính Thống và Tin Lành. Tất cả chúng tôi đă qui tụ lại để đọc Thánh Vịnh và lắng nghe Lời Chúa, và đó không phải là chuyện nhỏ khi chúng ta có được một buổi hiệp nhất lại như thế.
Cuộc gặp gỡ với Đại Học Đường đă được giành – như một địa điểm thích hợp - cho vấn đề đối thoại giữa đức tin và lư trí.
Trong dịp gặp gỡ giữa tôi với triết gia Jurgen Habermas ít năm trước đây ở Munich, ông ta đă nói rằng chúng ta cần đến các tư tưởng gia có thể chuyển dịch những niềm xác tín được mă hóa theo niềm tin Kitô Giáo thành ngôn từ của một thế giới bị tục hóa để những niềm xác tín ấy có một ảnh hưởng mới mẻ.
Thật vậy, nhu cầu khẩn trương của thế giới về cuộc đối thoại giữa đức tin và lư trí càng ngày càng trở nên hiển nhiên hơn bao giờ hết.
Trong thời điểm của ḿnh, Immanual Kant đă thấy được cái yếu tính của chủ nghĩa illuminism là những ǵ được diễn tả nơi cái được gọi là ‘sapere aude’, tức là cái dũng mạnh của tư tưởng không để ḿnh bị lung túng trước bất cứ một thành kiến nào.
Bởi thế mà từ đó, khả năng tri thức của con người, khả năng chủ trị của họ trên vật chất bằng quyền lực của tư tưởng, đă thực hiện được một mức tiến bộ không thể nào ngờ vào lúc ấy.
Tuy nhiên, quyền năng mà con người đang có trong tay, một quyền năng đang được khoa học gia tăng, càng ngày càng trở thành nguy hiểm đe dọa đến chính con người và thế giới nữa.
Lư trí hoàn toàn nhắm đến chỗ bắt nắm trong tay thế giới này, không c̣n biết tới giới hạn là ǵ nữa. Nó đă tiến tới chỗ đối xử với con người thuần túy như là một thứ vật chất được nó sản xuất ra và bằng quyền lực của nó.
Kiến thức của chúng ta đang tăng trưởng song đồng thời cũng đang xẩy ra t́nh trạng lư trí trở thành mù mịt nhiều hơn đối với những nền tảng của nó và các qui chuẩn hướng dẫn nó.
Khoa học cần phải chấp nhận niềm tin vào vị Thiên Chúa, Đấng tự ḿnh là Lư Trí sáng tạo của vũ trụ này, một cách mới mẻ như là một thách đố và là một cơ hội.
Cũng thế, niềm tin này cần phải nhận ra một cách mới mẻ cái sâu xa nội tại của nó và tính cách hợp lư riêng của nó. Lư trí cần Lời là những ǵ có từ ban đầu và là ánh sáng của chúng ta. Về phần ́nh, đức tin cần đối thoại với lư trí tân tiến để cống hiến cái cao cả của ḿnh, cũng như để đáp ứng những trách nhiệm riêng của nó. Và đó là những ǵ tôi đă t́m cách nhấn mạnh tới trong bài nói ở Regensburg. Nó là một vấn đề chắc chắn không phải chỉ thuần tính cách hàn lâm: nó nói tới tương lai của tất cả chúng ta.
Ở Regensburg, cuộc đối thoại giữa các tôn giáo là những ǵ chỉ mới được chạm tới sơ sơ vậy thôi, theo một chiều lưỡng kích. Lư trí bị tục hóa không thể nào tham dự vào một cuộc đối thoại thực sự với các tôn giáo. Nó vẫn cứ khép kín trước vấn đề về Thiên Chúa, và v́ thế nó sẽ tiến đến t́nh trạng đụng độ giữa các nền văn hóa.