“Hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em”
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tuyển hợp và chuyển dịch
"Nếu Thiên Chúa là những gì không có liên quan gì với đời sống công cộng thì ..."
"Đức tin bị yếu kém đức tin đến độ biến mất thì..."
"Đức tin của Thánh Kinh đã phải được bàn luận và đã giao tiếp với nền văn hóa Hy Lạp"
“Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng ... Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô…”
“Tại sao anh chị em lại đứng nhìn lên trời như thế?” – “Trên trái đất này, chúng ta được kêu gọi để nhìn lên trời, để hướng tâm trí của chúng ta về mầu nhiệm khôn tả của Thiên Chúa”
"Truyền Đạt Đức Tin Trong Gia Đình"
Tin tưởng là đường lối suy nghĩ... là đường lối hành động, là một cách thế sống
Tuyên giữ Đức Tin Kitô Giáo trong thế giới tân tiến
Chỉ sống Đức Tin sáng suốt theo lý trí mới có thể đối thoại liên tôn và liên văn hóa
"Nếu Thiên Chúa là những gì không có liên quan gì với đời sống công cộng thì ..."
Các bạn thân mến, ở nhà của các bạn, nơi học đường và đại học, nơi làm việc và giải trí, các bạn hãy nhớ rằng các bạn là một tạo vật mới! Là Kitô hữu, các bạn ở trong thế giới này với ý thức rằng Thiên Chúa có một dung nhan con người là Chúa Giêsu Kitô, là ‘đường lối’, Đấng thỏa đáng tất cả mọi mong đợi của con người, và là ‘sự sống’ là những gì chúng ta được kêu gọi đến để làm chứng, khi bước đi trong ánh sáng của Người (cf. ibid., 100).
Công việc làm chứng không dễ dàng gì. Có nhiều người ngày nay cho rằng Thiên Chúa cần phải được loại ra bên lề, và tôn giáo cùng đức tin, cho dù tốt đẹp đối với cá nhân, cũng cần phải được loại trừ ra khỏi tất cả mọi thứ diễn đàn công cộng, hay chỉ được bao gồm trong việc theo đuổi những đích điểm thực tiễn hạn hẹp mà thôi. Cái nhãn quan thuần tục này tìm cách giải thích về đời sống con người và hình thành xã hội căn cứ chút ít hay chẳng qui chiếu gì tới Đấng Hóa Công. Nó cho thấy mình như là những gì trung dung, vô tư và toàn bộ của hết mọi người. Thế nhưng, trong thực tế, như hết mọi ý hệ khác, chủ nghĩa thuần tục áp đặt một thứ vũ trụ quan. Nếu Thiên Chúa là những gì không có liên quan gì với đời sống công cộng thì xã hội sẽ được khuôn đúc theo một hình ảnh vô thần. Một khi Thiên Chúa bị khuất lấp, thì khả năng của chúng ta trong việc nhìn nhận trật tự tự nhiên, mục đích, và ‘sự thiện’ bắt đầu tàn rụi. Những gì được cổ động như là tinh hoa của con người chẳng mấy chốc trở thành một thứ khai thác ngu xuẩn, tham lam và vị kỷ. Và vì vậy chúng ta càng ngày càng nhận thấy chúng ta cần khiêm nhượng trước cái phức tạp tinh tường nơi thế giới của Thiên Chúa.
Thế còn về môi trường xã hội của chúng ta thì sao? Chúng ta cũng có lưu tâm tới những dấu hiệu về việc chúng ta quay lưng lại với cái cấu trúc về luân lý là những gì Thiên Chúa đã trang bị cho con người hay chăng (cf. 2007 World Day of Peace Message, 8)? Chúng ta có nhận ra rằng phẩm vị bẩm sinh của hết mọi cá nhân đều được căn cứ vào căn tính sâu xa nhất của họ hay chăng – ở chỗ họ là hình ảnh của Đấng Hóa Công – và vì thế, các thứ quyền lợi của con người là những gì phổ quát, được căn cứ vào luật tự nhiên, và không phải là những gì lệ thuộc vào vấn đề điều đình thương thảo hay bảo trợ được dung hòa? Như thế chúng ta tiến đến chỗ suy nghĩ về vị thế có được trong xã hội của chúng ta giành cho thành phần nghèo khổ và già lão, thành phần di dân và thấp cổ bé miệng. Làm thế nào lại xẩy ra tình trạng bạo động trong nước hành khổ rất nhiều bà mẹ và trẻ em chứ? Làm sao một nơi linh thánh và kỳ diệu nhất – là bụng dạ người mẹ – lại trở thành một nơi bạo động khôn xiết kể chứ?
Các bạn thân mến, thiên nhiên tạo vật của Thiên Chúa chỉ có một và là những gì tốt lành. Những quan tâm tới tình trạng bất bạo động, tình trạng phát triển khả trợ, tới công lý và hòa bình, và tới việc chăm sóc cho môi trường của chúng ta là những gì rất quan trọng đối với nhân loại. Tuy nhiên, chúng không thể nào hiểu nổi nếu không sâu xa thâm tín về phẩm giá bẩm sinh của hết mọi sự sống con người từ khi thụ thai tới khi tự nhiên qua đi: một phẩm giá được chính Thiên Chúa ban cho và vì thế bất khả vi phạm. Thế giới của chúng ta đã trở nên mệt mỏi với lòng tham lam, việc khai thác và tình trạng chia rẽ, với cái chán ngán về những thứ ngẫu tượng sai lầm và những thứ đáp ứng mòn mỏi, cùng nỗi đớn đau của những hứa hẹn giả trá. Tâm trí của chúng ta đang mong thấy một thứ nhãn quan của sự sống là nơi bền bỉ yêu thương, chia sẻ tặng ân, xây dựng hiệp nhất, nơi tự do tìm thấy ý nghĩa trong sự thật, và là nơi căn tính được tìm thấy trong mối hiệp thông trân trọng. Đó là công việc của Chúa Thánh Thần! Đó là niềm hy vọng được loan truyền bởi Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô. Chính vì để làm chứng cho thực tại này mà các bạn được tái tạo dựng nơi Phép Rửa và được kiên cường nhờ các tặng ân của Vị Thần Linh nơi Bí Tích Thêm Sức. Chớ gì đây là sứ điệp các bạn mang từ Sydney đến cho thế giới!
"Đức tin bị yếu kém đức tin đến độ biến mất thì..."
ĐTC Biển Đức XVI – Bài Giảng Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII tại Đền Thờ Thánh Phêrô Ngoại Thành Chúa Nhật 5/10/2008
Ngày nay, có những quốc gia một thời phong phú về đức tin và ơn thiên triệu hiện đang mất đi căn tính của mình, dưới ảnh hưởng tai hại và hủy hoại của một nền văn hóa tân tiến nào đó. Có những người, cho rằng ‘Thiên Chúa đã chết’, liên xưng mình là ‘chúa tể’, tin rằng mình là tạo hóa duy nhất cho định mệnh của mình, là chủ nhân ông tối thượng của thế giới này. Muốn thoát ly khỏi Thiên Chúa và không đợi chờ ơn cứu độ của Ngài, Con Người tin rằng họ có thể làm những gì họ thích và là quan án duy nhất cho bản thân họ và các hành động của họ. Thế nhưng phải chăng con người thực sự cảm thấy hạnh phúc hơn nếu họ loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của họ, nếu họ tuyên bố rằng Thiên Chúa ‘đã chết’? Khi con người tuyên bố mình là chủ nhân ông tối thượng của bản thân mình và là thành phần chủ tể duy nhất của thiên nhiên tạo vật, thì phải chăng họ thực sự có thể cấu tạo nên một xã hội tự do, công lý và an bình hay chăng? Không phải lại càng có thể xẩy ra – như được chứng tỏ cho thấy ở những đầu đề tin tức hằng ngày – là cái qui luật độc đoán chuyên chế của quyền lực, của các thứ tư lợi vị kỷ, của bất công và khai thác, của bạo động ở mọi hình thức, sẽ là những gì xiết chặt lấy họ hơn? Sau hết, cái tận cùng con người đạt tới đó là cảm thấy mình càng đơn độc hơn và xã hội càng phân rẽ và lộn xộn hơn.
Thế nhưng, trong những gì Chúa Giêsu nói có một lời hứa hẹn, đó là vườn nho sẽ không bị hủy diệt. Trong khi chủ nhân loại trừ thành phần tá điền bất trung theo số phận của họ thì ông lại không loại bỏ vườn nho của mình và ông ký thác nó cho thành phần tá điền trung thành. Những gì được tỏ hiện ở đây là trong một số miền đức tin bị yếu kém đức tin đến độ biến mất thì bao giờ cũng có những người khác sẵn sàng chấp nhận nó. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu, qua việc trích dẫn Thánh Vịnh 117 (118): ‘Viên đá bị thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá nền’ (v.22), đã bảo đảm với chúng ta rằng cái chết của Người không phải là những gì tiêu biểu cho việc thua bại của Thiên Chúa. Cho dù bị sát hại, Người cũng sẽ không ở lại trong mồ, trái lại, cái có vẻ hoàn toàn thua bại ấy sẽ là những gì đánh dấu khởi điểm cho một cuộc vĩnh viễn vinh thắng. Cuộc khổ nạn rùng rợn và cái chết của Người trên thập giá sẽ được tiếp nối bởi vinh quang Phục Sinh. Vườn nho bởi thế sẽ tiếp tục sản sinh những trái nho và sẽ được người chủ vườn ‘cho những người tá điền khác thuê để mang lại hoa lợi đúng mùa cho ông’ (Mt 21:41).
"Đức tin của Thánh Kinh đã phải được bàn luận và đã giao tiếp với nền văn hóa Hy Lạp"
Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005
Những bước tiến được Công Đồng thực hiện đối với kỷ nguyên tân tiến này phần nào đã bị trình bày một cách mơ hồ như “một thứ cởi mở với thế giới”, những bước tiến, nói tóm lại, là những gì thuộc về vấn đề dai dẳng liên hệ giữa đức tin và lý trí, một vấn đề vẫn được tái diễn qua những hình thức luôn mới mẻ. Tình hình Công Đồng phải đối diện thực sự có thể được so sánh với những biến cố của các thời đại khác.
Trong Bức Thư Thứ Nhất của mình, Thánh Phêrô đã thúc giục các Kitô hữu hãy luôn sẵn sàng đáp ứng (apo-logia) cho bất cứ một ai muốn chất vấn họ về logos, về lý do họ tin tưởng (x 3:15).
Điều này có nghĩa là đức tin của Thánh Kinh đã phải được bàn luận và đã giao tiếp với nền văn hóa Hy Lạp, và bằng việc giải thích biết nhìn nhận cái chiều hướng phân biệt song cũng qui hợp và thân thuộc nơi cả hai nơi một lý trí duy nhất do Thiên Chúa ban.
Vào thế kỷ 13, qua các triết gia Do Thái và Ả Rập, thời điểm tư tưởng Aristote giao tiếp với Kitô Giáo thời Trung Cổ được hình thành theo truyền thống Plato, làm cho đức tin và lý trí có nguy cơ trở thành những gì tương khắc với nhau đến độ bất khả hóa giải, thì trước hết có Thánh Tôma Aquinas, vị đã làm môi giới cho cuộc gặp gỡ mới giữa đức tin và triết lý Aristote, nhờ đó, làm cho đức tin có được một liên hệ tốt đẹp với hình thức lý trí thịnh hành thời ấy. Chắc chắn là không thể nào tránh được xẩy ra một cuộc tranh luận mệt nghỉ giữa lý trí tân tiến và đức tin Kitô Giáo, một cuộc tranh luận đã được mở màn một cách tiêu cực với vụ Galileo, rồi trải qua nhiều giai đoạn, song tới Công Đồng Chung Vaticanô II là thời điểm cần phải có một suy tư bao rộng mới mẻ.
Nội dung của mối liên hệ này thực sự chỉ lưu dấu vết sơ qua nơi các văn kiện của Công Đồng thôi, nhưng nó cho thấy rõ chiều hướng thiết yếu của nó, nhờ đó, cuộc đối thoại giữa lý trí và đức tin, ngày nay lại càng quan trọng hơn nữa, đã sinh hoa kết trái nhờ Công Đồng Chung Vaticanô II.
Cuộc đối thoại này giờ đây cần phải được phát triển một cách hết sức cởi mở nhưng cũng phải hết sức ý thức được rằng thế giới có lý để mong đợi nơi chúng ta ngay vào chính lúc này đây. Bởi thế, hôm nay chúng ta mới có thể tri ân cảm tạ khi nhìn lại Công Đồng Chung Vaticanô II, ở chỗ, nếu chúng ta giải thích và áp dụng Công Đồng theo lối dẫn giải đúng đắn thì Công Đồng mới có thể mãnh liệt và mới có thể càng ngày càng trở nên mãnh liệt cho cuộc canh tân cần thiết hơn bao giờ hết của Giáo Hội.
“Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng ... Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô…”
ĐTCBĐXVI: Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Quảng Trường Pilsudzki tại Warsaw Sáng Thứ Sáu 26/5/2006
Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô, Chúa chúng ta, ‘cùng với anh chị em tôi muốn hát bài thánh ca chúc tụng Đấng Quan Phòng thần linh đã cho tôi được đến đây như một người hành hương’. Hai mươi bảy năm trước đây, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mở đầu bài giảng của ngài ở Warsaw bằng những lời lẽ ấy. Tôi cũng xin mượn những lời ấy và tạ ơn Chúa là Đấng đã cho tôi có thể đến đây hôm nay tạo Quảng Trường lịch sử này. Ở nơi đây, vào ngày áp Lễ Hiện Xuống, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thốt lên những lời nguyện cầu quan trọng ‘Xin sai Thần Linh Chúa xuống và xin canh tân bộ mặt trái đất’. Rồi ngài thêm: ‘Bộ mặt của mảnh đất này’. Chính nơi này đây đã chứng kiến việc long trọng cử hành lễ an táng cho một vị đại Giáo Chủ Balan là Đức Hồng Y Stefan Wyszynski mà trong những ngày này cử hành 25 năm kỷ niệm biến cố ấy.
Thiên Chúa đã liên kết hai con người này lại với nhau chẳng những bằng cùng một đức tin, đức cậy và đức mến, mà còn bằng cùng những thăng trầm về nhân loại giống nhau nữa, những thăng trầm thắt kết mỗi người trong họ rất mãnh liệt với lịch sử của nhân dân này cũng như với lịch sử của một Giáo Hội ở giữa thành phần dân ấy. Vào đầu Giáo Triều của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết cho Đức Hồng Y Wyszynski như thế này: ‘Vị Giáo Hoàng Balan này hôm nay đây sẽ không ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô, mở màn cho một tân Giáo Triều với đầy lòng kính sợ Thiên Chúa song cũng đầy lòng tin tưởng, nếu không có đức tin của ngài, một đức tin không chịu khuất phục trước cảnh tù ngục và khổ đau, không có đức cậy anh hùng của ngài, việc ngài tin tưởng cho đến cùng nơi Người Mẹ Giáo Hội; nếu không có Jasna Góra cùng tất cả giai đoạn lịch sử này của Giáo Hội ở quê hương chúng ta liên quan tới việc ngài phục vụ với tư cách là một vị Giám Mục và là Giáo Chủ’ (Letter of Pope John Paul II to the Polish People, 23 October 1978). Hôm nay đây làm sao chúng ta không tạ ơn Thiên Chúa về tất cả những gì đã được hoàn thành nơi xứ sở của anh chị em cũng như trên toàn thế giới trong Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II chứ? Trước mắt của chúng ta là những thay đổi đã xẩy ra nơi toàn thể guồng máy chính trị, kinh tế và xã hội. Dân chúng ở các quốc gia khác nhau đã phục hồi lại được tự do và cảm quan về phẩm giá. ‘Chúng ta chớ há quên các việc kỳ công của Thiên Chúa’ (x Ps 78:7). Tôi cám ơn cả việc hiện diện của anh chị em cùng việc cầu nguyện của anh chị em nữa. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Giáo Chủ về những lời lẽ ngài đã ngỏ cùng tôi. Tôi xin chào tất cả các vị Giám Mục đang hiện diện nơi đây. Tôi hân hạnh thấy Tổng Thống và các vị Thẩm Quyền quốc gia và địa phương đã đến đây. Tôi ấp ủ trong lòng mình tất cả nhân dân Balan cả ở quốc nội cũng như hải ngoại.
‘Hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em’! Chúng ta vừa nghe những lời của Chúa Giêsu: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các giới huấn của Thày. Và Thày sẽ cầu xin cùng Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để mãi ở với các con, đó là Thần Chân Lý’ (Jn 14:15-17a). Với những lời ấy, Chúa Giêsu mạc khải mối liên hệ sâu xa giữa đức tin và việc tuyên xưng Chân Lý Thần Linh, giữa đức tin và việc dấn thân cho Chúa Giêsu trong yêu thương, giữa đức tin với việc thực hành một đời sống được tác động bởi những huấn giới. Tất cả 3 chiều kích đức tin là hoa trái của tác động Thánh Linh. Tác động này được bộc phát như một quyền lực nội tại làm hòa hợp tâm can của thành phần môn đệ với Con Tim của Chúa Kitô và làm cho họ có thể yêu thương như Người đã yêu thương họ. Bởi vậy mà đức tin là một tặng ân, đồng thời cũng là một công tác.
‘Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác – là Thần Chân Lý’. Đức tin, một kiến thức và là việc tuyên xưng chân lý về Thiên Chúa và về con người, ‘được xuất phát từ những gì đã nghe, và những gì nghe thấy được xuất phát từ việc rao giảng về Chúa Kitô’ (Rm 10:17). Qua giòng lịch sử của Giáo Hội, các Vị Tông Đồ đã rao giảng lời của Chúa Kitô, cẩn thận truyền đạt lời của Người một cách nguyên tuyền cho những ai thừa kế các ngài, rồi những vị thừa kế này lại có phận sự truyền đạt lời Người cho các thế hệ sau đó cho tới thời của chúng ta đây. Nhiều nhà truyền giảng Phúc Âm đã phải bỏ mạng sống mình một cách đặc biệt vì trung thành với sự thật của lời Chúa Kitô. Và vì thế mà việc quan tâm tới chân lý đã làm phát sinh ra Truyền Thống của Giáo Hội. Như trong các thế kỷ trước đã xẩy ra thế nào, ngày nay cũng thế, dân chúng và các phái nhóm cũng đang làm lu mờ đi cái Truyền Thống của nhiều thế kỷ này, khi họ tìm cách làm sai lệnh đi Lời của Chúa Kitô và loại bỏ khỏi Phúc Âm các chân lý mà theo họ khiến cho con người tân tiến quá nhức nhối khó chịu. Họ cố gắng gây ấn tượng là hết mọi sự đều là những gì tương đối thôi: cho dù đó là các chân lý của đức tin cũng phải lệ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và vào việc thẩm định của loài người. Tuy nhiên, Giáo Hội không thể bịt miệng Thần Chân Lý. Thành phần Thừa Kế Chư Tông Đồ, cùng với Vị Giáo Hoàng, đều có trách nhiệm với sự thật của Phúc Âm, và tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi để thông phần vào trách nhiệm này, bằng việc chấp nhận những ấn định theo thẩm quyền của các vị. Mọi Kitô hữu buộc phải liên tục đối chiếu các niềm xác tín riêng tư của mình với những giáo huấn của Phúc Âm cũng như Truyền Thống của Giáo Hội để nỗ lực tiếp tục trung thành với lời Chúa Kitô, cho dù lời của Người có gắt gao đòi hỏi, và có khó hiểu về phương diện con người trần gian chăng nữa. Chúng ta không được chiều theo khuynh hướng của tương đối chủ nghĩa hay của một thứ chủ quan và của việc dẫn giải Thánh Kinh tùy nghi. Chỉ có chân lý toàn vẹn mới hướng chúng ta về việc gắn bó với Chúa Kitô là Đấng đã chết và sống lại vì phần rỗi của chúng ta mà thôi.
Chúa Kitô nói: ‘Nếu các con yêu mến Thày…’. Đức tin không phải chỉ là việc chấp nhận một số các chân lý trừu tượng liên quan tới những mầu nhiệm về Thiên Chúa, về con người, về sự sống và về sự chết, về các thực tại tương lai. Đức tin là ở chỗ sống liên hệ thân mật với Chúa Kitô, một liên hệ được xuất phát từ lòng mến yêu Đấng đã yêu thương chúng ta trước (x 1Jn 4:11), thậm chí cho đến chỗ hoàn toàn hiến trọn bản thân mình. ‘Thiên Chúa chứng tỏ tình Ngài yêu thương chúng ta ở chỗ trong khi chúng ta còn là những tội nhân thì Chúa Kitô đã chết vì chúng ta’ (Rm 5:8). Còn đáp ứng nào chúng ta có thể tỏ ra cho một tình yêu thật cao cả như thế nếu không phải là đáp ứng của một con tim cởi mở và tỏ ra sẵn sàng yêu thương hay sao? Thế nhưng, việc yêu mến Chúa Kitô đây nghĩa là gì? Nghĩa là tỏ ra tin tưởng nơi Người cho dù trong những con thử thách, trung thành theo Người cho dù trên Đường Thập Giá Via Crucis, hy vọng rằng chẳng bao lâu sẽ xuất hiện bình minh Phục Sinh. Khi ký thác bản thân mình cho Chúa Kitô, chúng ta chẳng mất mất một sự gì hết, trái lại, chúng ta còn chiếm được mọi sự. Nơi bàn tay của Người cuộc sống của chúng ta đạt được ý nghĩa thực sự của nó. Tình yêu giành cho Chúa Kitô là ở chỗ tỏ ra hòa hợp đời sống của mình với những tư tưởng và cảm thức của Trái Tim Người. Điều này được đạt tới bằng mối hiệp nhất nội tâm nhờ ân sủng của các Bí Tích, được củng cố bằng việc liên lỉ nguyện cầu, chúc tụng, tạ ơn và thống hối. Chúng ta cần phải chuyên chú lắng nghe những tác động Người gợi lên qua Lời của Người, qua thành phần chúng ta gặp gỡ, qua những hoàn cảnh của cuộc sống thường nhật của mình. Yêu mến Người là tiếp tục đối thoại trao đổi với Người, để biết được ý Người muốn và thực hiện ý muốn ấy một cách mau chóng hiệu nghiệm.
Tuy nhiên, việc sống niềm tin tưởng riêng tư như mối liên hệ yêu thương với Chúa Kitô như thế cũng còn có nghĩa là sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì gây ra việc chối từ tình yêu của Người nữa. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ rằng: ‘Nếu các con yêu mến Thày, các con sẽ tuân giữ các huấn lệnh của Thày’. Thế nhưng, các huấn lệnh của Chúa Kitô đây là gì? Khi Chúa Giêsu giảng dạy đoàn lũ quần chúng Người vẫn không quên xác nhận lề luật được Đấng Hóa Công in ấn vào lòng con người và phác họa trên các tấm Thập Điều. ‘Đừng nghĩ rằng Thày đến để hủy bỏ lề luật và các tiên tri; Thày đến không phải để hủy bỏ những điều ấy mà là làm cho chúng được nên trọn. Thật vậy, Thày nói cho các con hay, cho đến khi trời đất qua đi thì một chấm một phết cũng sẽ không qua đi nơi lề luật cho tới khi mọi sự được hoàn thành’ (Mt 5:17-18). Thế nhưng, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho chúng ta thấy một cách sáng tỏ hơn cái tâm điểm chính yếu của lề luật thần linh được ban bố ở Núi Sinai, đó là tình yêu Thiên Chúa và tình lòng thương tha nhân: ‘Việc kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn và hết sức, cùng mến thương tha nhân như bản thân mình, là những gì quí hóa hơn tất cả mọi của lễ hiến dâng và hy tế’ (Mk 12:33). Thật vậy, nơi đời sống của mình cũng như nơi Mầu Nhiệm Vượt Qua của mình, Chúa Giêsu đã làm hoàn thành tất cả lề luật. Liên kết mình với chúng ta bằng tặng ân Thánh Linh, Người gánh vác với chúng ta và trong chúng ta ‘cái ách’ của lề luật là những gì trở thành ‘gánh nhẹ nhàng’ (Mt 11:30). Theo tinh thần này, Chúa Giêsu đã hình thành bản liệt kê về các phẩm tính nội tâm của những ai tìm cách sống niềm tin của mình một cách sâu xa, đó là phúc cho thành phần nghèo khó trong tinh thần, những ai khóc lóc, những ai hiền lành, những ai đói khát công chính, những ai xót thương, những ai có tấm lòng tinh khiết, những ai xây dựng hòa bình, những ai bị bắt bớ vì lẽ công chính… (x Mt 5:3-12).
Anh chị em thân mến, niềm tin như là việc gắn bó với Chúa Kitô được tỏ hiện như tình yêu thúc đẩy chúng ta cổ võ sự thiện được Đấng Hóa Công in ấn nơi bản tính của mọi con người nam nữ chúng ta, nơi nhân cách của hết mọi con người khác cũng như nơi hết mọi sự hiện hữu trên thế giới này. Bất cứ ai tin tưởng và yêu như thế đều trở thành một nhà xây dựng ‘nền văn minh yêu thương’ đích thực, một nền văn minh có Chúa Kitô là tâm điểm. Hai mươi bảy năm trước đây, ở địa điểm này đây, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: ‘Ngày nay Balan đã trở nên một mảnh đất của một thứ chứng từ đặc biệt hữu trách’ (Warsaw, 2/6/1979). Giờ đây tôi xin anh chị em hãy vun xới gia sản đức tin phong phú này là những gì đã được truyền đạt cho anh chị em bởi các thế hệ trước đây, cái gia sản về tư tưởng và việc phục vụ của một đại nhân Balan là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hãy đứng vững trong đức tin, hãy truyền đạt đức tin ấy cho con cái của anh chị em, hãy làm chứng cho ân sủng anh chị em đã cảm nghiệm hết sức dồi dào nhờ Thánh Linh qua giòng lịch sử. Chớ gì Mẹ Maria, Nữ Vương Balan, tỏ cho anh chị em thấy đường dẫn đến với Con của Mẹ, và chớ gì Mẹ đồng hành với anh chị em trong cuộc hành trình của anh chị em tiến tới một tương lai hạnh phúc đầy an bình. Chớ gì lòng trí anh chị em không bao giờ thiếu thốn tình yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Amen!
ĐTC BĐXVI Huấn Dụ Thành Phần Tu Sĩ, Chủng Sinh và Đại Diện Các Phong Trào, ở Czestochowa Thứ Sáu 26/5/2006
Quí Tu Sĩ Nam Nữ, thành phần sống đời tận hiến, những người đã được lời Chúa Giêsu tác động vì mến yêu mà theo Người!
Quí Chủng Sinh, những người đang dọn mình làm linh mục thừa tác!
Quí đại diện các phong trào công giáo tiến hành, thành phần mang quyền năng của Phúc Âm đến cho các gia đình, đến hãng xưởng, đến đại học đường, đến thế giới truyền thông và văn hóa, đến giáo xứ họ đạo của mình!
Như các Vị Tồng Đồ đã cùng với Mẹ Maria ‘lên căn thượng lầu’ và ở đó ‘đồng tâm nhất trí nguyện cầu’ (Acts 1:12,14), cả chúng ta nữa, cũng qui tụ lại hôm nay đây ở Jasna Góra, một nơi, đối với chúng ta trong giây phút này đây, là ‘căn thượng lầu’, nơi Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô, hiện diện giữa chúng ta. Hôm nay đây, chính Mẹ là vị hướng dẫn việc suy niệm của chúng ta; Mẹ dạy chúng ta cách thức nguyện cầu. Mẹ Maria tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta có thể mở lòng trì mình ra trước quyền năng của Thánh Linh, Đấng đến với chúng ta để được mang đến cho toàn thế giới. Chúng ta cần một giây phút thinh lặng và suy tưởng trong việc ngồi vào học đường của Mẹ, nhờ đó Mẹ mới dạy cho chúng ta làm thế nào để sống bởi đức tin, làm thế nào để có thể lớn lên trong đức tin, làm thế nào để giữ được mối giao tiếp với mầu nhiệm của Thiên Chúa nơi các biến cố tự nhiên thường nhật trong cuộc sống của chúng ta. Với tính chất tế nhị của nữ giới và bằng ‘khả năng hòa hợp cái trực giác sâu xa với ngôn từ lời lẽ đỡ nâng và phấn khích’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc, đoạn 46), Mẹ Maria đã bảo trì đức tin của Thánh Phêrô và của các Vị Tông Đồ ở Căn Thượng Lầu, và hôm nay đây Mẹ bảo trì đức tin của tôi cũng như của anh chị em.
‘Đức tin là mối giao hệ với mầu nhiệm của Thiên Chúa’ (cùng nguồn vừa dẫn, đoạn 17), vì ‘tin tưởng tức là phó mình cho sự thật nơi lời của Thiên Chúa hằng sống, nhận biết và khiêm tốn nhìn nhận phán quyết của Ngài là những gì khôn dò và đường lối của Ngài thì khôn thấu’ (cùng nguồn, 14). Đức tin là một tặng ân, được ban cho chúng ta nơi Phép Rửa, một Phép Rửa làm hiện thực việc chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng ẩn thân trong mầu nhiệm; nghĩ rằng hiểu được Ngài có nghĩa là muốn giam nhốt Ngài vào ý nghĩ và kiến thức của chúng ta, bởi thế sẽ mất Ngài ngay tức khắc. Tuy nhiên, với đức tin, chúng ta có thể thấy được trước mặt một con đường xuyên qua các quan niệm, thậm chí là những quan niệm về thần học, và có thể ‘đụng chạm’ tới Vị Thiên Chúa hằng sống. Và Thiên Chúa, một khi được chạm tới, liền ban cho chúng ta quyền lực của Ngài. Khi chúng ta phó mình cho Vị Thiên Chúa hằng sống này, khi chúng ta chạy đến với Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn, thì một thứ suối nguồn của sự sống thần linh thầm kín tuôn tràn ra trong chúng ta. Quan trọng biết bao việc tin tưởng vào quyền năng của đức tin, vào khả năng của đức tin trong việc tạo nên một mối liên hệ chặt chẽ với Vị Thiên Chúa hằng sống! Chúng ta cần phải hết sức chú trọng tới việc phát triển đức tin của chúng ta, để đức tin được thực sự thấm đậm tất cả mọi thái độ, tâm tưởng, hành động và ý hướng của chúng ta. Đức tin có một chỗ đứng, chẳng những trong tình trạng của linh hồn và nơi các cảm nghiệm về đạo nghĩa, nhất là trong tâm tưởng và hành động, trong công việc làm hằng ngày, trong cuộc chiến đấu với bản thân mình, trong đời sống cộng đồng cũng như trong việc tông đồ, vì đức tin là những gì bảo đảm cho việc đời sống của chúng ta được thấm đẫm quyền năng của chính Thiên Chúa. Đức tin bao giờ cũng có thể mang chúng ta về với Thiên Chúa thậm chí cả những lúc tội lỗi dẫn chúng ta đi vào con đường sai trật lệch lạc chăng nữa.
Ở Căn Thượng Lầu ấy, các Vị Tông Đồ không biết được những gì đang đợi chờ các vị. Các vị bấy giờ đang sợ hãi và lo âu về tương lai của các vị. Các vị tiếp tục ngẫm nghĩ về cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu và đang đau buồn cảm thấy bị bỏ mặc sau khi Người thăng thiên về Trời. Mẹ Maria, ‘Vị đã tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện’ (x Lk 1:45), thiết tha nguyện cầu cùng với các Vị Tông Đồ, đã dạy sống kiên trì trong đức tin. Qua thái độ của mình, Mẹ đã chinh phục được các vị là Thánh Thần, theo đức khôn ngoan của Ngài, biết rõ đường lối Ngài dẫn dắt họ bước đi, do đó, các vị có thể tin tưởng nơi Thiên Chúa, dứt khoát hiến mình cho Ngài, cùng với tài năng của các vị, những hạn hữu của các vị và tương lai của các vị.
Nhiều người trong anh em hiện diện nơi đây đã cảm nghiệm thấy tiếng gọi thầm kín này của Thánh Thần và đã đáp lại bằng một tấm lòng hoàn toàn quảng đại. Tình yêu của Chúa Giêsu ‘được tuôn đổ vào lòng anh chị em nhờ Thánh Thần là Đấng được ban cho anh chị em’ (x Rm 5:5) là những gì cho anh chị em thấy con đường sống đời tận hiến. Không phải là anh chị em tìm kiếm tình yêu này. Chính Chúa Giêsu là Đấng đã kêu gọi anh chị em, mời gọi anh chị em đến với cuộc hiệp nhất sâu xa với Người. Nơi bí tích Thánh Tẩy, anh chị em đã từ bỏ Satan cùng với những việc làm của hắn, và đã lãnh nhận những ơn cần thiết cho đời sống Kitô hữu và cho việc nên thánh. Từ lúc ấy, ơn đức tin đã nở ra trong anh chị em, và giúp cho anh chị em có thể hiệp nhất với Thiên Chúa. Ở vào giây phút anh chị em tuyên lời khấn dòng, đức tin đã dẫn anh chị em tới chỗ hoàn toàn gắn bó với mầu nhiệm của Trái Tim Chúa Giêsu là kho tàng anh chị em đã khám phá thấy. Nên anh chị em đã từ bỏ những thứ tốt lành như việc tự do định đoạt cuộc đời mình, việc có được một gia đình, việc sở hữu sản vật, để anh chị em được tự do thanh thoát hiến mình cho Chúa Kitô và cho Vương Quốc của Người. Anh chị em chẳng lẽ không nhớ đến lòng nhiệt tình của mình khi anh chị em bắt đầu cuộc hành trình sống đời tận hiến, tin tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa hay sao? Anh chị em đừng để mất đi cái nhiệt tình ban đầu ấy, và hãy để cho Mẹ Maria dẫn anh chị em tới chỗ gắn bó trọn vẹn hơn. Quí tu sĩ nam nữ thân mến, quí tâm hồn sống đời tận hiến thân mến! Bất cứ những gì cho anh chị em được sứ vụ này ủy thác cho, bất cứ những gì anh chị em đang tham phần vào công cuộc đan tu hay tông đồ, xin anh chị em hãy bảo tồn trong lòng mình cái ưu tiên của cuộc đời tận hiến. Chớ gì cuộc đời tận hiến canh tân đức tin của anh chị em. Đời sống tận hiến, một cuộc sống theo đức tin, là cuộc sống liên kết anh chị em chặt chẽ với Thiên Chúa, là cuộc sống có sức thu hút và làm cho việc phục vụ của anh chị em trổ sinh hoa trái một cách đặc biệt.
Quí dự sinh linh mục thân mến! Rất nhiều điều có thể học được ở việc suy niệm về cách thức Mẹ Maria đã học biết nơi Chúa Giêsu! Từ Mẹ, tiếng ‘xin vâng’ ngay từ đầu của Mẹ, qua những tháng năm dài bình thường của cuộc sống ẩn dật, khi Mẹ nuôi lớn Chúa Giêsu, hay khi Mẹ xin Người làm dấu lạ đầu tay ở Cana xứ Galiêa, hoặt khi Mẹ đứng bên Cậy Thập Tự Giá nhìn lên Chúa Giêsu trên Đồi Canvê, Mẹ đã ‘học biết’ Người từng lúc một. Trước hết, nơi đức tin của Mẹ rồi mới tới nơi cung lòng của Mẹ, Mẹ đã lãnh nhận Thân Thể Chúa Giêsu và hạ sinh Người vào trần gian. Ngày ngày Mẹ ngất ngây tôn thờ Người. Mẹ đã ưu ái quan tâm phục vụ Người, hát lên bài ca vịnh Ngợi Khen trong lòng Mẹ. Trong cuộc hành trình dọn mình của quí bạn, cũng như trong thừa tác vụ linh mục của mình, quí bạn hãy để cho Mẹ Maria hướng dẫn quí bạn khi quí bạn ‘học biết’ Chúa Giêsu. Hãy gắn mắt vào Người. Hãy để Người hình thành quí bạn, nhờ đó, nơi thừa tác vụ của mình, quí bạn mới có thể tỏ Người ra cho tất cả những ai tiến đến với quí bạn. Khi quí bạn cầm trong tay mình Thánh Thể Chúa Giêsu để dưỡng nuôi Dân Người, cũng như khi quí bạn lãnh trách nhiệm đối với phần Nhiệm Thể sẽ được ủy thác cho quí bạn ấy, quí bạn hãy nhớ đến thái độ chiêm ngắm và tôn thờ là những gì làm nên đặc tính đức tin của Mẹ Maria. Như Mẹ, bằng một tình yêu ân cần từ mẫu đối với Chúa Giêsu, Mẹ đã bảo trì tình yêu trinh nguyên tràn đầy chiêm ngắm của Mẹ thế nào, quí bạn cũng hãy bảo trì trong tâm hồn mình khả năng chiêm ngắm và tôn thờ như vậy. Quí bạn hãy biết làm sao để nhìn nhận nơi Dân Chúa được úy thác cho quí bạn những dấu hiệu hiện diện của Chúa Kitô. Hãy chuyên chú tới những dấu hiệu thánh đức được Thiên Chúa tỏ cho quí bạn thấy nơi thành phần tín hữu. Đừng sợ những nhiệm vụ mai này hay những gì chưa được biết tới! Đừng sợ là những lời nói của quí bạn sẽ làm cho quí bạn thất bại hay làm cho quí bạn bị loại trừ! Thế giới và Giáo Hội cần những vị linh mục, những vị linh mục thánh hảo.
Quí đại diện các Phong Trào mới trong Giáo Hội, tính cách sinh động của các cộng đồng quí bạn là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện sống động của Chúa Thánh Thần! Sứ vụ của quí bạn đã xuất phát từ chính đức tin của Giáo Hội cũng như từ các hoa trái phong phú của Thánh Linh. Tôi cầu xin để quí bạn được gia tăng con số hơn nhờ đó phục vụ cho Vương Quốc của Thiên Chúa trong thế giới ngày nay. Quí bạn hãy tin vào ân sủng của Thiên Chúa là những gì hỗ trợ quí bạn và làm cho sứ vụ của quí bạn được ăn khớp với tấm vải sống động Giáo Hội, nhất là ở những nơi vượt ngoài tầm tay của linh mục và tu sĩ. Các phong trào của quí bạn thì nhiều. Quí bạn được dưỡng nuôi bởi nhiều trường phái tu đức được Giáo Hội công nhận. Hãy rút tỉa lấy đức khôn ngoan của các vị thánh, hãy sử dụng gia sản được các vị để lại cho chúng ta. Hãy hình thành tâm tưởng của quí bạn theo các công việc của những bậc đại sư và đại chứng nhân đức tin, với ý thức rằng các trường phái tu đức không phải là một kho tàng bị khóa chặt lại ở trong các viện tu hay các thư viện. Sự khôn ngoan của Phúc Âm, một sự khôn ngoan đã được chất chứa nơi các bút tích của những vị đại thánh và đã được chứng thực qua đời sống của các vị, cần phải được mang tới, một cách chín chắn, chứ không phải một cách ngây ngô hay bừa bãi, cho thế giới văn hóa và hoạt động, cho thế giới truyền thông và chính trị, cho thế giới gia đình và đời sống xã hội. Tính cách chân chính nơi đức tin và sứ vụ của quí bạn, một tính chất không chú trọng tới chính mình mà là thực sự chiếu tỏa đức tin và đức mến, là những gì có thể thử nghiệm xem sao bằng việc căn cứ vào đức tin của Mẹ Maria. Hãy soi mình trong trái tim Mẹ. Hãy ở lại với học đường của Mẹ!
Khi các Vị Tông Đồ, được đầy Thánh Linh, ra mặt với toàn thể thế giới để loan truyền Phúc Âm, thì một người trong họ là Thánh Gioan, Vị Tông Đồ của tình yêu, đã đón Mẹ về nhà của ngài (x Jn 19:27). Chính vì mối liên kết chặt chẽ sâu xa giữa ngài với Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà ngài có thể nhấn mạnh một cách hết sức chính xác về sự thật ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Jn 4:8,16). Đó là những lời tôi đã mở đầu cho bức Thông Điệp mở tay cho Giáo Triều của mình: Deus caritas est! Đó là những gì quan trọng nhất, là sự thật chính yếu nhất về Thiên Chúa. Tôi muốn lập lại một lần nữa hôm nay đây với tất cả những ai khó lòng tin vào Thiên Chúa rằng: ‘Thiên Chúa là tình yêu’. Quí bạn thân mến, quí bạn hãy trở thành những nhân chứng cho sự thật này. Quí bạn sẽ chắc chắn làm được điều ấy nếu quí bạn tham dự học đường của Mẹ Maria. Ở bên Mẹ, quí bạn sẽ tự cảm nghiệm thấy được rằng Thiên Chúa là tình yêu, và quí bạn sẽ truyền đạt sứ điệp này cho thế giới một cách dồi dào và đa dạng mà chỉ có Thánh Linh mới biết làm thế nào để khơi động lên thôi.
Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô.
ĐTC BĐXVI Huấn Dụ Thành Phần Giới Trẻ, ở Krakow-Błonie, Thứ Bảy 27/5/2006
Các Bạn Trẻ thân mến,
Tôi xin gửi đến các bạn lời chào mừng nồng hậu nhất của tôi! Việc hiện diện của các bạn làm cho tôi cảm thấy sung sướng. Tôi cám ơn Chúa về cuộc gặp gỡ thân tình này. Chúng ta biết rằng ‘ở đâu cho hai hay ba người qui tụ lại vì danh Chúa Giêsu thì Người ở giữa họ’ (x Mt 18:20). Hôm nay đây, các bạn còn thật là nhiều hơn như thế nữa! Bởi thế, Chúa Giêsu đang ở với chúng ta nơi đây. Người đang ở giữa giới trẻ Balan, đang nói với họ về một ngôi nhà sẽ không bao giờ bị sụp đổ vì nó được xây trên đá. Đó là bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe (x Mt 7:24-27).
Hỡi các bạn, ở trong lòng hết mọi người đều có một ước vọng về một ngôi nhà. Thậm chí còn hơn thế nữa nơi tâm hồn của con người trẻ có một khát vọng cả thể về một ngôi nhà thích đáng, một ngôi nhà vững chắc, một ngôi nhà họ chẳng nhưng không thể nào không hân hoan vui sướng trở về mà còn là nơi khách khứa có tới cũng được hân hoan đón tiếp nữa. Đó là một khát vọng về một ngôi nhà có lương thực hằng ngày là yêu thương, thứ tha và thông cảm. Nó là một nơi chân lý là nguồn mạch làm phát sinh niềm bình an nội tâm. Đó là một khát vọng về một ngôi nhà các bạn có thể lấy làm hãnh diện, nơi các bạn không bị thẹn thuồng và là nơi các bạn không hề lo sợ nó bị mất đi. Những niềm khát mong này chỉ là ước vọng về một đời sống trọn vẹn, hạnh phúc và thành đạt. Đừng sợ có nỗi ước mong ấy! Đừng xa lánh niềm mong ước này. Đừng tỏ ra thất đảm khi thấy những căn nhà bị đổ nát, những ước vọng bị bất thành và những ngóng trông bị tàn phai. Thiên Chúa Hóa Công, Đấng tác động nơi tâm hồn giới trẻ một khát vọng mãnh liệt muốn được hoan hưởng hạnh phúc, sẽ không bỏ rơi các bạn trong việc khó khăn để xây dựng ngôi nhà được gọi là đời sống ấy.
Hỡi các bạn, điều ấy đưa đến vấn đề là: ‘Làm thế nào để xây dựng ngôi nhà này đây?’ Chắc chắn đây là vấn đề các bạn đã từng đối diện nhiều lần và các bạn sẽ phải trực diện nhiều lần hơn nữa. Hằng ngày các bạn cần phải nhìn vào nội tâm của mình mà tự vấn: ‘Tôi làm sao để có thể xây dựng ngôi nhà được gọi là đời sống ấy đây?’ Chúa Giêsu, Đấng các bạn vừa nghe những lời của Người trong đoạn Phúc Âm của Thánh Mathêu, đã khuyến khích chúng ta hãy xây nhà trên đá. Thật thế, chỉ có cách đó ngôi nhà mới không bị tàn rụi mà thôi. Thế nhưng, xây nhà trên đá nghĩa là gì? Trước hết, xây nhà trên đá tức là xây nhà trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Chúa Giêsu nói: ‘Vậy ai nghe những lời này của Thày mà làm theo sẽ giống như một người khôn ngoan xây nhà mình trên đá’ (7:24). Đó không phải là những lời nói chơi chơi của một con người nào đó, mà là những lời của Chúa Giêsu. Chúng ta không lắng nghe bất cứ một con người nào mà là Chúa Giêsu. Chúng ta không được kêu gọi để chỉ làm một điều gì đó mà là dấn thân thực hiện những lời của Chúa Giêsu.
Việc dựng nhà trên Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu đây nghĩa là dựng nhà trên một nền tảng được gọi là ‘tình yêu tử giá’. Nghĩa là dựng nhà với Một Vị, biết chúng ta hơn cả chính chúng ta biết mình, nói với chúng ta rằng: ‘Các con là những gì quí hóa trước nhan Ta và là những gì được trân trọng, Ta yêu thương các con’ (Is 43:4). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị luôn trung tín, cho dù chúng ta có thiếu niềm tin tưởng, bởi ngài không thể chối bỏ chính mình Ngài (x 2Tim 2:13). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị luôn nhìn tới tấm lòng thương tích của con người mà nói: ‘Ta không kết tội con đâu, hãy đi và đừng phạm tội nữa’ (x Jn 8:11). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị, từ Cây Thập Tự Giá, vươn cánh tay của mình ra để muôn đời lập lại rằng: ‘Ôi con người, Ta hiến sự sống của Ta cho các con vì Ta yêu thương các con’. Tóm lại, dựng nhà trên Chúa Kitô tức là hướng tất cả mọi ước muốn của các bạn, khát vọng của các bạn, mơ ước của các bạn, tham vọng của các bạn và dự án của các bạn theo ý muốn của Ngài. Nghĩa là nói với chính bản thân mình, với gia đình mình, với bạn hữu mình, với toàn thế giới, và nhất là với Chúa Kitô rằng: ‘Lạy Chúa, trong cuộc sống con không muốn làm bất cứ một điều gì phạm đến Chúa, vì Chúa biết những gì tốt nhất cho con. Chỉ duy có một mình Chúa có những lời ban sự sống đời đời’ (x Jn 6:68). Hỡi các bạn, đừng sợ việc nương dựa vào Chúa Kitô! Hãy mong mỏi Người, như nền tảng cho đời sống của các bạn! Hãy khơi động lên trong các bạn ước muốn xây dựng cuộc sống của mình trên Người và cho Người! Vì không ai lệ thuộc vào tình yêu tử giá của Lời Nhập Thể lại có thể bị lạc mất cả.
Việc xây nhà trên đá nghĩa là việc dựng nhà trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô, khi nói về cuộc hành trình của thành phần dân tuyển chọn băng qua sa mạc, Thánh Phaolô đã giải thích rằng tất cả ‘đã được uống tử tảng đá siêu nhiên đã theo đuổi họ và tảng đá đó là Chúa Kitô’ (1Cor 10:4). Các vị cha ông của thành phần Dân Tuyển Chọn này chắc chắn là không hề biết gì tới chuyện tảng đá thiêng liêng ấy là Chúa Kitô. Họ không ý thức được việc họ được đồng hành bởi Người là Đấng vào lúc thời gian viên trọn đã nhập thể và mặc lấy một thân thể loài người. Họ không cần hiểu rằng cơn khát của họ được thỏa mãn bởi chính Nguồn Mạch sự sống, là một mạch nguồn có thể ban nước sự sống làm giãn cơn khát của mọi tâm can. Tuy nhiên, họ đã uống từ tảng đá thiêng liêng là Chúa Kitô này, vì họ khát vọng thứ nước hằng sống ấy và cần đến thứ nước hằng sống này. Trên con đường cuộc đời đôi khi chúng ta không ý thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chính sự hiện diện này, sự hiện diện sống động và chân thực, đã xẩy ra nơi công cuộc tạo dựng, nơi Lời Chúa và nơi Thánh Thể, nơi cộng đồng các tín hữu và nơi mọi con người được Máu châu báu Chúa Kitô cứu chuộc, một mạch nguồn khôn tận cho sức mạnh của con người. Chúa Giêsu Nazarét, Vị Thiên Chúa làm Người, ở bên chúng ta trong những lúc may lành cũng như trong những lúc chẳng may, và Người khao khát mối liên hệ ấy, một mối liên hệ thực sự là nền tảng của một nhân loại chân thực. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền những lời quan trọng này: ‘Này, Ta đứng trước cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng của Ta mà mở cửa thì Ta sẽ đến với họ và ăn uống với họ để họ được ở với Ta’ (3:20).
Hỡi các bạn, việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Xây nhà trên đá cũng có nghĩa là dựng nhà trên Một Vị đã bị loại trừ. Thánh Phêrô nói với thành phần tín hữu của Chúa Kitô như là ‘một viên đá bị con người loại bỏ song trước nhan Thiên Chúa lại là viên đá được chọn lọc và quí giá’ (1Pet 2:4). Một sự kiện không thể chối cãi về việc Thiên Chúa tuyển chọn Chúa Giêsu không che dấu mầu nhiệm sự dữ, bởi thế con người có thể loại trừ Người là Đấng đã yêu thương cho tới cùng. Việc Chúa Giêsu bị con người loại trừ như Thánh Phêrô đề cập tới trải dài suốt lịch sử nhân loại, thậm chí cho tới cả thời của chúng ta đây. Người ta không cần phải có một trí khôn sắc xảo đặc biệt để thấy được nhiều đường lối loại trừ Chúa Kitô, ngay cả trước ngưỡng cửa của chúng ta đây. Thường Chúa Giêsu bị coi thường bỏ qua, bị chế giễu và được tuyên xưng là vị vua của quá khứ, chứ không phải cho ngày nay và chắc chắn không phải cho tương lai. Người bị bỏ vào kho chức của những vấn đề và những con người mà người ta không dám công khai lớn tiếng đả động tới. Nếu trong tiến trình dựng nhà cuộc sống của các bạn có gặp phải những ai coi thường khinh bỉ cái nền tảng mà các bạn đang xây lên thì đừng thất đảm! Một đức tin mạnh mẽ cần phải chịu đựng các thứ thách đố. Một đức tin sống động bao giờ cũng cần phải tăng trưởng. Đức tin của chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô, để được như thế, cần phải đối diện đương đầu với thường xuyên với tình trạng thiếu đức tin của những người khác.
Các bạn thân mến, việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Việc xây nhà trên đá nghĩa là ý thức rằng sẽ xẩy ra những bất trắc. Chúa Kitô nói rằng: ‘Mừa trút xuống và lụt xẩy ra, gió thổi tới làm rung chuyển ngôi nhà…’ (Mt 7:25). Những hiện tượng thiên nhiên này chẳng những là hình ảnhcủa nhiều những bất trắc nơi thân phận của con người, chúng còn cho thấy rắng những bất trắc ấy là những gì bình thường cần phải chấp nhận. Chúa Kitô không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra một trận mưa như trút gây lụt lội ngôi nhà đang được xây cất, Người không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra một cơn sóng tàn phá cuốn trôi đi những gì thân thương nhất của chúng ta, Người không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra những trận cuồng phong thổi bay đi những gì chúng ta đang xây dựng, đôi khi chúng ta phải trả bằng một giá hy sinh kinh khủng. Chúa Kitô chẳng những hiểu được ước muốn của con người về một ngôi nhà vững bền, Người còn hoàn toàn biết được tất cả những gì có thể phá hoại hạnh phúc của con người nữa. Bởi thế, các bạn đừng lấy làm lạ trước những bất trắc rủi ro, cho dù chúng là gì đi chăng nữa! Đừng vì chúng mà bị thất đảm! Một dinh thự được xây trên đá không giống như một dinh thự bị biến đi bởi những lực thiên nhiên, những lực được in dấu vết nơi mầu nhiệm của con người. Việc xây nhà trên đá tức là việc có thể sử dụng một thứ kiến thức ở vào những lúc khó khăn trở thành một mãnh lực đáng các bạn tin tưởng.
Hỡi các bạn, xin cho tôi được đặt vấn đề một lần nữa: việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Nghĩa là xây nhà một cách khôn ngoan. Không phải là vô lý Chúa Giêsu đã so sánh những ai nghe lời của Người mà đem ra thực hành với một con người khôn ngoan xây nhà của họ trên đá. Thật vậy, đúng là ngu xuẩn khi xây nhà trên cát, trong khi các bạn có thể xây trên đá và vì thế có được một ngôi nhà có thể bất chấp mọi phong ba bão tố. Thật là ngu xuẩn khi xây nhà trên mảnh đất không bảo đảm việc vững chắc trong những lúc khó khăn nhất. Có thể là dễ dàng hơn để xây nhà cuộc đời mình trên cát lún theo quan điểm riêng của họ, xây dựng một tương lai xa cách lời của Chúa Giêsu và thậm chí đôi khi phản nghịch lại với lời của Người. Hãy tin chắc rằng ai xây nhà theo kiểu ấy đều là những người bất khôn, vì họ muốn thuyết phục chính mình và người khác rằng trong cuộc đời của họ không có bão tố cuồng phong và không có vấn đề sóng gió tấn công ngôi nhà của họ. Thái độ khôn ngoan đó là biết rằng việc vững chắc của một ngôi nhà là những gì lệ thuộc vào việc quyết định của cái nền tảng. Đừng sợ sống khôn ngoan; tức là đừng sợ xây nhà trên đá!
Hỡi các bạn, một lần nữa: xây nhà trên đá nghĩa là gì? Xây nhà trên đá còn có nghĩa là xây trên Phêrô và với Phêrô. Thật vậy, Chúa Kitô đã nói với ngài rằng: ‘Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực sứ chết sẽ không thắng nổi nó’ (Mt 16:18). Nếu Chúa Kitô là Tảng Đá, là viên đá xống động và quí giá, gọi vị Tông Đồ này của Người là ‘đá’, nghĩa là Người muốn Phêrô, và cùng với Phêrô là toàn thể Giáo Hội, trở thành một dấu hiệu hữu hình của Đấng Cứu Độ và là Chúa duy nhất. Ở Krakow đây, thành phố yêu dấu của Đức Gioan Phaolô II, vị Tiền Nhiệm của tôi, không ai cảm thấy bàng hoàng trước những lời ‘xây nhà với Phêrô và Phêrô’. Đó là lý do tôi nói cùng anh chị em là đừng sợ xây đời mình trên Giáo Hội và với Giáo Hội. Tất cả anh chị em đều hãnh diện về lòng yêu mến anh chị em giành cho Vị Phêrô và cho Giáo Hội được úy thác cho ngài. Đừng để bị lừa đảo bởi những ai muốn Chúa Kitô và Giáo Hội đối đầu với nhau. Chỉ có một nền tảng duy nhất đáng để xây nhà mà thôi. Nền tảng đó là Chúa Kitô. Chỉ có một tảng đá duy nhất đáng làm nền tảng cho hết mọi sự. Tảng đá này là tảng đá được Chúa Kitô nói: ‘Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thành’ (Mt 16:18). Hỡi giới trẻ, các bạn quá rõ Tảng Đá này trong thời đại của chúng ta đây. Bởi thế, đừng quên Vị Phêrô đang canh chừng cuộc tu họp của chúng ta đây từ cửa sổ của Thiên Chúa Cha, hay Vị Phêrô này giờ đây đang đứng trước các bạn đây, hoặc bất cứ một Vị Phêrô thừa kế nào sẽ tỏ ra chống lại các bạn hay chống lại việc xây nhà trên đá. Thật vậy, ngài sẽ cống hiến trái tim của ngài và đôi tay của ngài để giúp các bạn xây dựng một cuộc sống trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Quí bạn thân mến, suy niệm về những lời của Chúa Kitô diễn tả tảng đá là nền tảng thích đáng cho một ngôi nhà, chúng ta không thể nào không chú ý tới lời cuối cùng là một lời hy vọng. Chúa Giêsu nói rằng, bất chấp tình trạng cay nghiệt của các yếu tố thiên nhiên thì ngôi nhà ấy vẫn không bị hủy hoại, bởi nó được xây trên tảng đá. Lời của Người chất chưa một niềm cậy trông đặc biệt nơi cái vững chắc của nền tảng này, một đức tin không sợ những thứ nghịch thường, vì đức tin này được củng cố kiên cường bởi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Đó là đức tin mà những năm sau đó Thánh Phêrô đã tuyên xưng trong bức thư của ngài: ‘Này Ta đặt ở Sion một viên đá, một viên đá gốc được chọn lọc và quí giá, và ai tin vào Người sẽ không bị hổ thẹn’ (1Pet 2:6). Chắc chắn là ‘họ sẽ không bị hổ thẹn’. Các bạn trẻ thân mến, nỗi sợ hãi bị thất bại có những lúc làm lung lạc ngay cả những giấc mộng tuyệt vời nhất. Nó có thể làm tê liệt ý muốn, làm cho con người không thể tin rằng thực sự là có thể xây nhà trên đá. Nó có thể thuyết phục con người là nỗi khát vọng về một ngôi nhà như thế chỉ là một thứ vọng tưởng trẻ con chứ không phải là một dự án cho cuộc sống. Cùng với Chúa Giêsu, các bạn hãy nói với nỗi hãi sợ này rằng: ‘Một ngôi nhà xây trên đá không thể nào bị đổ nát được !’. Cùng với Thánh Phêrô, các bạn hãy nói cùng khuynh hướng ngờ vực rằng: ‘Ai tin vào Chúa Kitô sẽ không bị bẽ bàng hổ thẹn!’ Tất cả các bạn đều là chứng nhân cho niềm hy vọng, cho niềm hy vọng không sợ xây nhà của cuộc sống của mình, vì tin tưởng rằng niềm hy vọng ấy có thể đặt trên nền tảng không bao giờ bị tàn rụi là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
ĐTC BĐXVI: Bài Giảng ở Krakow cho Thánh Lễ Bế Mạc Chúa Nhật 28/5/2006
‘Hỡi những người Galilê, sao các người lại đứng nhìn lên trời như thế?’ (Acts 1:11)
Anh Chị Em thân mến, hôm nay, tại Công Viên Blonie ở Krakow này, một lần nữa, chúng ta nghe thấy câu hỏi này từ Sách Tông Vụ. Lần này câu hỏi ấy nhắm đến tất cả chúng ta đây: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nhìn lên trời như thế?’ Câu trả lời cho vấn nạn này bao gồm một sự thật nền tảng cốt yếu về đời sống cũng như về định mệnh của con người nam nữ.
Câu hỏi cần thiết đối với thái độ của chúng ta đây liên quan tới hai thực tại căn bản là những thực tại làm nên tất cả mọi cuộc sống của con người, đó là đất và trời. Trước hết là trái đất: ‘Tại sao anh chị em đứng đó?’ – Tại sao chúng ta sống ở trên thế gian này? Câu trả lời của chúng ta là chúng tôi đang sống trên thế gian này bởi vì Đấng Tạo Dựng của chúng tôi đã đặt chúng tôi ở nơi đây như tuyệt đỉnh của việc Ngài tạo dựng. Thiên Chúa Toàn Năng, theo dự án yêu thương bất khả phai nhòa của Ngài, đã tạo dựng nên vũ trụ, làm cho nó hiện hữu từ hư không. Thế rồi, khi hoàn tất công việc ấy, Ngài đã ban sự sống trên thành phần con người nam nữ, dựng nên họ theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài (x Gen 1:26-27). Ngài đã ban cho họ phẩm vị được làm con cái của Thiên Chúa cùng với tặng ân bất tử. Chúng tôi biết rằng con người đã đi sai đường lạc hướng, đã lạm dụng tặng ân tự do và đã ‘bất chấp’ Thiên Chúa, nên đời sống của con người đã bị ghi dấu vết sự dữ, tội lỗi, khổ đau và chết chóc. Thế nhưng, chúng tôi cũng biết rằng Thiên Chúa không bỏ cuộc trước trạng huống ấy của con người, mà đã đích thân tiến vào lịch sử của nhân loại, một lịch sử nhờ đó đã trở thành một lịch sử cứu độ. ‘Chúng tôi đứng’ trên thế gian này, chúng tôi xuất phát từ trái đất này và chúng tôi lớn lên từ trái đất đây. Ở trên đời đây chúng tôi hành thiện trong nhiều lãnh vực của cuộc sống hằng ngày, thuộc cả lãnh giới vật chất lẫn thiêng liêng, nơi các mối liên hệ giữa chúng tôi với người khác, nơi những gì chúng tôi nỗ lực xây dựng cộng đồng nhân loại và nơi văn hóa. Trên đời này, chúng tôi cũng cảm thấy cả tâm trạng buồn chán của những ai tiến về một mục đích theo những con đường dài lộng gió, giữa những ưu tư lưỡng lự, những căng thẳng, những bất định, bằng một niềm xác tín rằng cuộc hành trình ấy một ngày kia rồi cũng đi tới chỗ kết thúc thôi. Đó là lúc câu hỏi sau đây xuất hiện: Phải chăng đó là tất cả mọi sự? Phải chăng trái đất ‘chúng tôi đang đứng’ đây là đích điểm cuối cùng của chúng tôi?
Bởi thế chúng ta cần hướng đến phần thứ hai của vấn nạn thánh kinh: ‘Tại sao anh chị em lại đứng nhìn lên trời như thế?’ Chúng ta đã đọc thấy rằng, vừa lúc các vị Tông Đồ đã hỏi Chúa Kitô Phục Sinh về việc dân Yến Duyên phục hồi của vương quốc trần gian, thì ‘Người được nhắc lên và có một đám mây vây phủ Người làm cho Người khuất khỏi mắt các vị’ (x Acts 1:9-10). Các vị đứng nhìn lên trời vì các vị nhìn lên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Tử Giá và Phục Sinh, Đấng được nâng lên cao. Chúng ta không biết chính xác lúc nào các vị nhận thấy hiện lên trước mắt các vị một chân trời rạng ngời bất tận: đích điểm tối hậu cho cuộc hành trình trần gian của chúng ta. Có lẽ các vị chỉ nhận ra điều này vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, trong ánh sáng của Thánh Linh. Thế nhưng, đối với chúng ta, cách cả hai ngàn năm, thì ý nghĩa của biến côáđó lại quá rõ ràng. Trên trái đất này, chúng ta được kêu gọi để nhìn lên trời, để hướng tâm trí của chúng ta về mầu nhiệm khôn tả của Thiên Chúa. Chúng ta được kêu gọi để hướng tới thực tại thần linh này, một thực tại thần linh mà chúng ta đã từng nhắm tới từ cuộc tạo thành của chúng ta. Vì ở nơi đó chúng ta mới tìm thấy ý nghĩa tối hậu của cuộc sống.
Anh Chị Em thân mến, tôi rất cảm động khi có thể cử hành Thánh Thể hôm nay tại Công Viên Blonie ở Krakow, nơi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường cử hành Thánh Lễ trong những chuyến Tông Du Mục Vụ của ngài nơi quê hương đất nước của mình. Qua những cuộc cử hành phụng vụ của mình, ngài đã gặp Dân Chúa ở hầu hết các nơi trên thế giới, song việc ngài cử hành Thánh Lễ tại Công Viên Blonie ở Krokow chắc chắn bao giờ cũng là một cái gì đặc biệt. Ở nơi đây tâm trí ngài trở về với cội gốc của mình, với nguồn mạch đức tin của ngài cùng việc phục vụ Giáo Hội của ngài. Từ nơi đây, ngài có thể thấy được Krwkow và toàn quốc Balan. Trong cuộc tông dù đầu tiên về Balan ngày 19/6/1979, ở cuối bài giảng của mình nơi công viên đây, ngài đã nói một cách nhung nhớ như sau: ‘Xin cho tôi, trước khi lìa xa anh chị em, một lần nữa nhìn lại Krakow, một Krakow rất thân thương với tôi từng hòn đá cục gạch. Và từ đây nhìn lại Balan một lần nữa’. Trong Thánh Lễ cuối cùng ngài cử hành ở nơi đây, ngày 18/8/2002, ngài đã nói trong bài giảng của mình rằng: ‘Tôi cám ơn về việc mời tôi tới thăm Krakow của tôi và về lòng hiếu khách anh chị em đã giành cho tôi’ (đoạn 2). Kraków, thành phố của Karol Wojtyla và của Gioan Phaolô II, cũng là Krakow của tôi nữa, chiếm được một chỗ đứng đặc biệt nơi tâm can của vô vàn Kitô hữu khắp thế giới, thành phần biết rằng Gioan Phaolô II xuất hiện ở Đồi Vatican từ thành phố này, từ Đồi Wawel, ‘từ một xứ sở xa xôi’, một xứ sở nhờ đó đã trở thành thân thương với tất cả mọi người.
Mở màn năm thứ hai cho Giáo Triều của mình, tôi đã cảm thấy rất cần phải đếnviếng thăm Balan và Krakow như là một con người hành hương theo bước chân của vị tiền nhiệm tôi. Tôi muốn hít thở không khí của quê hương đây. Tôi muốn thấy mảnh đất ngài đã được sinh ra, nơi ngài đã lớn lên và đã nhiệt tình dấn thân phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội hoàn vũ. Tôi đặc biệt muốn gặp gỡ những con người nam nữ sống động của đất nước ngài, muốn cảm nghiệm thấy đức tin của anh chị em, một đức tin đã cống hiến cho ngài sự sống và sinh lực, và muốn biết rằng anh chị em tiếp tục vững mạnh trong niềm tin ấy. Ở nơi đây, tôi muốn xin Thiên Chúa hãy bảo trì cái di sản đức tin, đức cậy và đức mến được Đức Gioan Phaolô II cống hiến cho thế giới, đặc biệt là cho anh chị em.
Tôi thân ái chào tất cả những ai qui tụ lại Công Viên Blonie, vì mắt tôi có thể nhìn thấy những người đứng xa thật xa, cho dù xa hơn thế nữa. Tôi ước gì có thể gặp được từng người trong anh chị em một cách riêng tư. Tôi ôm ấp tất cả những ai đang tham dự Thánh Lễ của chúng ta đây qua truyền thanh và truyền hình. Tôi chào toàn thể Balan! Tôi chào trẻ em và giới trẻ, cá nhân và gia đình, thành phần bệnh nhân và những ai khổ đau nơi thân xác hoặc tinh thần, những ai bị hụt hang niềm vui của cuộc sống. Tôi chào tất cả những ai ngày ngày cực nhọc giúp cho xứ sở này được phát triển thịnh vượng. Tôi chào nhân dân Balan hải ngoại, ở khắp nơi trên thế giới. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Stanislaw Dziwisz, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Krakow, về những lời lẽ đón mừng nồng hậu của ngài. Tôi chào Đức Hồng Y Franciszek Macharski cùng toàn thể các vị Hồng Y, Giám Mục, linh mục và tu sĩ nam nữ, cũng như những vị khách đến từ các nơi, nhất là từ các nước láng giềng. Tôi chào Tổng Thống Cộng Hòa và Thủ Tướng cùng các vị đại diện Thẩm Quyền quốc gia, khu vực và địa phương.
Anh chị em thân mến, tôi đã chọn làm câu châm ngôn cho chuyến hành hương Balan của tôi theo bước chân Đức Gioan Phaolô II những lời là: ‘Anh chị em hãy đứng vững trong đức tin của mình!’ Lời kêu gọi này được trực tiếp ngỏ cùng tất cả chúng ta là phần tử thuộc cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, cùng mỗi người và mọi người trong chúng ta. Đức tin là một tác động nhân loại riêng tư sâu xa, một tác động có hai khía cạnh. Tin tưởng nghĩa là trước hết chấp nhận như thật những gì trí khôn chúng ta không thể thấu triệt. Chúng ta phải chấp nhận những gì Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta về chính mình Ngài, về chúng ta, về mọi sự chung quanh chúng ta, bao gồm cả những gì vô hình, khôn tả và ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Tác động chấp nhận sự thật được mạc khải là những gì nới rộng chân trời kiến thức của chúng ta và kéo chúng ta tới mầu nhiệm bao trùm chúng ta. Để trí khôn của chúng ta bị giới hạn như thế không phải là một chuyện dễ làm. Đến đây chúng ta thấy khía cạnh thứ hai của đức tin, đó là khía cạnh niềm tin tưởng nơi một con người, không phải là một con người bình thường, mà là chính Chúa Giêsu Kitô. Những gì chúng ta tin tưởng đều quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn thế nữa đó là Đấng chúng ta tin tưởng.
Thánh Phaolô đã nói về điều này trong đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô mà chúng ta nghe thấy hôm nay đây. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một thần trí khôn ngoan và ‘đã sáng soi cặp mắt tâm hồn của chúng ta, để chúng ta biết những gì là niềm hy vọng được Ngài kêu gọi chúng ta hướng tới, những gì là phong phú thuộc gia sản hiển vinh của Ngài nơi các thánh nhân, và những gì là cao cả khôn lường của quyền lực Ngài nơi chúng ta là những kẻ tin tưởng, theo việc làm quyền năng vĩ đại của Ngài nơi Chúa Kitô’ (x Eph 1:17-20). Tin tưởng nghĩa là phó mình của chúng ta cho Thiên Chúa và trao phó định mệnh của chúng ta cho Ngài. Tin tưởng nghĩa là sống liên hệ thân tình với Đấng Hóa Công và Cứu Chuộc của chúng ta trong quyền nặng của Thánh Thần và làm cho mối liên hệ này thành nền tảng cho cả cuộc đời của chúng ta.
Hôm nay chúng ta đã nghe thấy những lời của Chúa Giêsu: ‘Các con sẽ lãnh nhận quyền năng khi Thánh Thần xuống trên các con; và các con sẽ là những chứng nhân của Thày ở Giêrusalem cũng như ở khắp Giuđêa và Samaria, và cho tới tận cùng trái đất’ (Acts 1:8). Nhiều thế kỷ trước đây những lời ấy đã tiến đến Balan. Chúng đã thách đố và tiếp tục thách đố tất cả những ai nói rằng mình thuộc về Chúa Kitô, những người coi lời của Người ấy là một lý tưởng cao cả nhất. Chúng ta cần trở thành những chứng nhân của Chúa Giêsu, Đấng đang sống trong Giáo Hội và trong lòng người. Người đã trao cho chúng ta một sứ vụ. Vào ngày Người lên trời, Người đã nói cùng các Tông Đồ rằng: ‘Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật… Và các vị đã ra đi rao giảng khắp nơi, Chúa Kitô đồng thời làm việc với các vị và củng cố sứ điệp các vị rao giảng bằng các dấu hiệu kèm theo’ (Mk 16:15,20). Anh chị em thân mến! Khi Đức Karol Wojtyla được bầu lên Ngài Tòa Thánh Phêrô để phục vụ Giáo Hội hoàn vũ thì đất nước của anh chị em đã trở thành một địa điểm của chứng từ đặc biệt về niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô. Anh chị em đã được kêu gọi để cống hiến chứng từ này trước toàn thế giới. Ơn gọi này của anh chị em là những gì luôn cần thiết, và có lẽ còn khẩn trương hơn bao giờ hết khi mà Người Tôi Tớ Chúa đây đã qua khỏi đời này. Anh chị em đừng làm cho thế giới bị hụt hẫng mất chứng từ này nhé!
Trước khi tôi trở về Rôma để tiếp tục thừa tác vụ của mình, tôi kêu gọi tất cả mọi anh chị em bằng những lời được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói lên ở nơi đây vào năm 1979, đó là ‘Anh chị em thân mến, anh chị em cần phải vững mạnh. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh xuất phát từ đức tin. Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin. Anh chị em cần phải trung thành. Ngày nay, hơn bất cứ một thời đại nào khác, anh chị em cần đến sức mạnh này. Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng sức mạnh của đức cậy, một đức cậy mang lại niềm vui trọn vẹn cho cuộc sống và là niềm hy vọng làm cho chúng ta tránh được việc làm phiền lòng Thánh Linh! Anh chị em cần phải mạnh mẽ bằng đức ái, một đức ái mạnh hơn sự chết… Anh chị em cần phải vững mạnh bằng sức mạnh của đức tin, đức cậy và đức mến, một đức mến ý thức, trưởng thành và hữu trách, và là một đức mến có thể giúp chúng ta trong lúc này đây nơi lịch sử của chúng ta thực hiện việc đối thoại trao đổi đại thể với con người và thế giới, một cuộc đối thoại được bắt nguồn từ cuộc đối thoại với chính Thiên Chúa, với Chúa Cha, nhờ Chúa Con trong Thánh Thần, một cuộc đối thoại cứu độ’ (Bài Giảng 10/6/1979, đoạn 4).
Cả tôi nữa, Biển Đức XVI, Vị Thừa Kế Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cũng đang xin anh chị em hãy từ đất nhìn lên trời, hãy hướng mắt về Đấng được các thế hệ liên tục nhau trông chờ cả hai ngàn năm, và là Đấng họ khám phá thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Được kiên cường bởi niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, anh chị em hãy nhiệt thành với việc củng cố Vương Quốc của Người trên thế gian này, một Vương Quốc của thiện hảo, công lý, đoàn kết và tình thương. Tôi xin anh chị em hãy can đảm làm chứng cho Phúc Âm trước thế giới ngày nay, mang hy vọng tới cho người nghèo, cho người khổ đau, cho thành phần lầm lạc và bị bỏ rơi, thành phần thất vọng và những ai trông mong tự do, chân lý và an bình. Bằng việc làm lành cho tha nhân của mình và tỏ ra quan tâm đối với công ích, anh chị em làm chứng rằng Thiên Chúa là tình yêu.
Sau hết, tôi xin anh chị em hãy chia sẻ với các dân tộc khác ở Âu Châu cũng như với thế giới kho tàng đức tin của anh chị em, ít là như cách thức để kính nhớ tới con người đồng hương của anh chị em, vị, với tư cách là Thừa Kế Thánh Phêrô, đã thực hiện điều ấy một cách đặc biệt mãnh liệt và hiệu năng. Và xin hãy nhớ đến tôi trong lời nguyện cầu và hy sinh của anh chị em, thậm chí như anh chị em nhớ đến vị đại Tiền Nhiệm của tôi, để tôi có thể thi hành sứ vụ Chúa Kitô đã trao phó cho tôi. Tôi xin anh chị em hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em! Hãy đứng vững trong đức cậy của anh chị em! Hãy đứng vững trong đức ái của anh chị em! Amen!
"Truyền Đạt Đức Tin Trong Gia Đình"
Huấn Từ Đêm Canh Thức Cầu Nguyện Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình V Thứ Bảy 8/7/2006 tại City of Arts and Sciences, Valencia Tây Ban Nha
Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình lần thứ năm này kêu gọi chúng ta hãy suy nghĩ về một đề tài đặc biệt quan trọng, một đề tài đầy trách nhiệm, đó là đề tài việc truyền đạt đức tin trong gia đình. Đề tài này được diễn tả một cách đẹp đẽ trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: ‘Như một người mẹ dạy cho con cái mình nói năng và nhờ đó chúng hiểu biết và biết thông đạt, Giáo Hội là Người Mẹ của chúng ta cũng dạy cho chúng ta biết thứ ngôn ngữ của đức tin để dẫn chúng ta đến chỗ hiểu biết và sống đức tin’ (số 171).
Điều này được biểu hiệu nơi phụng vụ Phép Rửa, ở chỗ, qua việc trao cây nến sáng, thành phần cha mẹ thuộc về mầu nhiệm của sự sống mới, khi con cái nam nữ của họ được trở thành con cái của Thiên Chúa qua nước rửa tội.
Việc truyền đạt đức tin cho con cái, với sự trợ giúp của các cá nhân cũng như những tổ chức, như giáo xứ, học đường hay các hội đoàn Công Giáo, là một trách nhiệm cha mẹ không thể coi thường, bỏ bê hoặc hoàn toàn phó mặc cho kẻ khác. ‘Gia đình Kitô hữu được gọi là giáo hội tại gia vì gia đình biểu lộ và sống bản chất hiệp thông và thân tình của Giáo Hội như gia đình của Thiên Chúa. Mỗi phần tử gia đình, theo vai trò nam hay nữ của mình, đều thực hiện thiên chức tư tế của phép rửa và góp phần vào việc làm cho gia đình thành một cộng đồng ân sủng và nguyện cầu, thành một học đường của các nhân đức nhân bản và Kitô Giáo, và thành một nơi đầu tiên loan truyền đức tin cho con cái’ (Cuốn Tổng Tắt Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, 350). Chưa hết, ‘Cha mẹ, vì việc tham dự của họ vào vai trò thân phụ của Thiên Chúa, có trách nhiệm trước hết đối với việc giáo dục con cái mình, và họ là những người đầu tiên loan báo tin mừng đức tin cho con cái. Họ có nhiệm vụ yêu thương và tôn trọng con cái của họ như là những con người và như là những người con cái của Thiên Chúa… họ đặc biệt có sứ vụ giáo dục con cái mình theo đức tin Kitô Giáo’ (Sách Vừa Dẫn, 460).
Ngôn ngữ của đức tin được học biết tại các gia đình là nơi đức tin này phát triển và được củng cố bằng việc nguyện cầu và sống đời Kitô hữu. Trong bài đọc theo Sách Nhị Luật chúng ta đã nghe lời cầu nguyện được Dân Chúa liên lỉ lập lại, đó là lời nguyện ‘Shema Israel’, một lời nguyện cầu được chính Chúa Giêsu đã nghe và đọc trong gia đình Người ở Nazarét. Chính Người cũng nhắc đến nó trong cuộc đời công khai của mình, như chúng ta thấy trong Phúc Âm Thánh Marcô (12:29). Đó là đức tin của Giáo Hội, một đức tin được xuất phát từ mối tình yêu thương của Thiên Chúa là những gì thể hiện qua gia đình của anh chị em. Việc sống trọn vẹn đức tin này, nơi tất cả tính chất mới mẻ lạ lùng của nó, là một tặng ân cao cả. Cũng thế, vào những lúc Thiên Chúa dường như ẩn mặt đi, thì việc tin tưởng có thể trở thành khó khăn và đòi hỏi nhiều cố gắng.
Cuộc họp này cống hiến một động lực mới cho việc loan truyền Phúc Âm gia đình, cho việc tái khẳng định sức mạnh và căn tính của gia đình được thiết lập trên hôn nhân và hướng về việc quảng đại ban phát tặng ân sự sống, nơi con cái được giúp phát triển cả về thể lý lẫn thiêng liêng. Đó là đường lối hay nhất trong việc đương đầu với chủ nghĩa khoái lạc đang tràn lan là những gì biến những mối liên hệ con người thành tầm thường và làm trống rỗng giá trị đích thực cùng với vẻ đẹp của những mối liên hệ ấy. Việc cổ võ các giá trị về hôn nhân không cản trở việc hoàn toàn cảm nghiệm được niềm hạnh phúc con người nam nữ gặp được nơi tình yêu thương nhau của họ. Đức tin và đạo lý Kitô Giáo không phải là những gì để dập tắt yêu thương mà là làm cho nó lành mạnh hơn, mãnh liệt hơn và thực sự thanh thoát hơn. Tình yêu của con người cần phải được thanh tẩy và chín mùi một khi nó trở thành hoàn toàn nhân bản và là nguyên lý cho một niềm vui chân thực bền bỉ (x Huấn Từ ở Đền Thờ Gioan Latêranô ngày 5/6/2006).
Bài Giảng Thánh Lễ Bế Mạc Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình V ngày 9/7/2006 tại City of Arts and Sciences, Valencia Tây Ban Nha
Đức tin không phải chỉ là một gia sản văn hóa, mà là một tác động liên tục giữa ân sủng Thiên Chúa là Đấng đang kêu gọi với quyền tự do của con người chúng ta là những gì có thể đáp lại hay chăng tiếng gọi của Ngài. Mặc dù không ai có thể đáp ứng thay cho kẻ khác, cha mẹ Kitô hữu vẫn được kêu gọi để thực hiện một chứng từ khả tín cho thấy niềm tin tưởng và hy vọng của họ. Cần phải làm sao bảo đảm được rằng tiếng gọi của Thiên Chúa và tin mừng của Chúa Kitô tiến tới được với con cái của mình một cách rõ ràng nhất và trung thực nhất.
Qua năm tháng, tặng ân này của Thiên Chúa được cha mẹ nêu lên trước mắt những con người nhỏ bé ấy cũng cần phải được vun trồng một cách khôn ngoan và dịu dàng, để làm thấm nhập nơi chúng một khả năng nhận thức. Nhờ đó, với chứng từ liên tục của tình yêu phối ngẫu nơi cha mẹ mình, được thấm nhiễm một đức tin sống động, và với sự phụ họa ưu ái của cộng đồng Kitô hữu, thành phần con cái được hỗ trợ hơn nữa trong việc sống xứng đáng với tặng ân đức tin của mình, trong việc khám phá ra ý nghĩa sâu xa nhất của đời sống chúng, cũng như trong việc đáp ứng với lòng hân hoan cảm tạ.
Gia đình Kitô hữu truyền đạt đức tin khi cha mẹ dạy cho con cái mình biết nguyện cầu, và khi họ cầu nguyện với chúng (x Tông Huấn Familiaris Consortio, 60); khi họ dẫn chúng đến với các phép bí tích và dần dần đưa chúng vào đời sống của Giáo Hội; khi tất cả hợp nhau đọc Thánh Kinh, để cho ánh sáng đức tin chiếu soi đời sống gia đình và chúc tụng Thiên Chúa như Người Cha của chúng ta.
Tin tưởng là đường lối suy nghĩ... là đường lối hành động, là một cách thế sống.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2006 tại Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Toma Villanova ở Castel Gandolfo
Chúng ta hãy lắng nghe lại một lần nữa những lời của bà Isave đã được nên trọn nơi ca vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria: ‘Phúc cho em vì đã tin tưởng’. Tác động đầu tiên và cốt yếu để trở thành nơi trú ngự của Thiên Chúa, nhờ đó tìm được hạnh phúc vĩnh viễn đó là tin tưởng: đó là niềm tin, tin tưởng vào Thiên Chúa, vài vị Thiên Chúa đã tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô và làm cho mình được nghe thấy nơi lời thần linh của Thánh Kinh.
Tin tưởng không phải là vấn đề thêm thắt ý nghĩ này với những ý nghĩ khác. Và niềm xác tín, niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa hiện hữu, không phải là một thứ tín liệu như bất cứ tín liệu nào khác. Đối với hầu hết các tín liệu thì chẳng có gì khác đối với chúng ta về tính cách thực hư của nó; nó không thay đổi gì cuộc đời của chúng ta hết. Thế nhưng, nếu Thiên Chúa không hiện hữu thì đời sống này rỗng tuyếch, tương lai chẳng có gì. Song nếu Thiên Chúa hiện hữu thì hết mọi sự đều biến đổi, sự sống là ánh sáng, tương lai của chúng ta ánh sáng và chúng ta được hường dẫn để biết cách sống. Bởi vậy mà tin tưởng là những gì tạo nên hướng đi nống cốt cho đời sống chúng ta.
Tin tưởng tức là thưa ‘Vâng, con tin rằng Chúa là Thiên Chúa, con tin rằng Chúa Chúa đang hiện diện giữa chúng con nơi Người Con nhập thể của Chúa’, xin hướng dẫn đời sống của con, xin thúc đẩy con sống gắn bó với Thiên Chúa, kết hiệp với Thiên Chúa nhờ đó con có thể tìm được nơi cư ngụ của con và đường lối để sống động.
Tin tưởng chẳng những là đường lối suy nghĩ hay là một tư tưởng; như nó đã được đề cập tới, nó còn là đường lối hành động, là một cách thế sống. Tin tưởng nghĩa là đi theo con đường được lời Chúa vạch vẽ ra cho chúng ta. Ngoài tác động đức tin trọng yếu này, một tác động của cuộc đời, một chủ trương được duy trì cho cả cuộc sống, Mẹ Maria còn thêm những lời khác nữa, đó là ‘Ngài xót thương những ai kính sợ Ngài’.
Tuyên giữ Đức Tin Kitô Giáo trong thế giới tân tiến
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Tông Du Đức Quốc 9-14/9/2006 – Bài giảng Thánh Lễ ngày Thứ Ba 12 tại Islinger Feld, Regensburg
Chúng ta qui tụ lại đây để cử hành đức tin. Thế nhưng vấn đề liền hiện lên là: Chúng ta thực sự tin tưởng những gì? Việc có đức tin nghĩa là gì? Đức tin vẫn còn là những gì khả dĩ đối với thế giới tân tiến này hay chăng?... Giáo Hội đã cống hiến cho chúng ta một cuốn ‘Tổng Luận Thần Học’ tí hon, trong đó bào tỏ hết mọi sự thiết yếu. Nó được gọi là Kinh Tin Kính Các Vị Tông Đồ, thường được chia thành 12 điều, tương đương với 12 Tông Đồ. Nó nói về Thiên Chúa, Đấng Hóa Công và là nguồn mạch của tất cả mọi thực tại, của Chúa Kitô và công cuộc cứu độ của Người, và nó lên đến tuyệt đỉnh nơi sự sống lại của kẻ chết và sự sống trường sinh. Nơi cấu trúc căn bản của mình, Kinh Tin Kính này được bao gồm có ba phần chính, và như chúng ta thấy từ lịch sử của nó, nó chỉ là những gì nới rộng của công thức Rửa Tội được Chúa trao phó cho các môn đệ của Người qua mọi thế hệ khi Người bảo họ rằng: ‘Các con hãy đi tuyển mộ môn đồ khắp các quốc gia, rửa tôị cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần’ (Mk 28:19).
Một khi chúng ta ý thức được điều này thì hai điều trở thành sáng tỏ. Trước hết, đức tin là những gì đơn sơ giản dị. Chúng ta tin vào Thiên Chúa – vào vị Thiên Chúa là Nguyên Thủy và là Cùng Đích của sự sống con người. Chúng ta tin tưởng vào một Vị Thiên Chúa đã thực hiện mối liên hệ với chúng ta là con người, Đấng là nguồn gốc và là tương lai của chúng ta. Bởi thế, đức tin là niềm hy vọng luôn mãi, bất khả phân ly: niềm tin tưởng rằng chúng ta có một tương lai và sẽ không chết là hết. Và đức tin là yêu thương, vì tình yêu của Thiên Chúa là những gì ‘lây nhiễm’. Đó là điều thứ nhất, ở chỗ, chúng ta chỉ tin tưởng vào Thiên Chúa, và niềm tin này bao gồm niềm hy vọng và tình yêu thương.
Điều thứ hai cũng được sáng tỏ nữa, ở chỗ, Kinh Tin Kính không phải là tổng hợp những lời công bố; nó không phải là một thứ lý thuyết. Nó gắn liền với biến cố Phép Rửa – một cuộc hội ngộ chân thực giữa Thiên Chúa và loài người. Nơi mầu nhiệm của Phép Rửa, Thiên Chúa đã cúi mình xuống để gặp gỡ chúng ta; Ngài đến gần với chúng ta, nhờ đó mang chúng ta đến gần với nhau hơn. Phép rửa có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô chấp nhận chúng ta như là anh chị em của Người, đón nhận chúng ta như những người con cái vào gia đình của Thiên Chúa. Như thế Người làm cho chúng ta trở thành một đại gia đình trong mối hiệp nhất phổ quát của Giáo Hội. Thật vậy, những ai tin tưởng thì không cảm thấy bị lẻ loi cô độc. Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta. Chúng ta hãy tiến lên nghênh đón Ngài để nhờ đó chúng ta gặp nhau! Cho đến mức độ có thể, chúng ta hãy bảo đảm rằng không một ai trong thành phần làm con cái Thiên Chúa lại cảm thấy lẻ loi cộ độc!
Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa. Đó là một quyết định hệ trọng về phía chúng ta. Thế nhưng, vấn đề cần phải được đặt ra là: phải chăng ngày nay niềm tin này vẫn còn là những gì khả dĩ? Nó có hợp lý hay chăng? Từ Thời Minh Tri trở đi thì khoa học, ít là một phần nào đó, đã thực hiện việc tìm cách giải thích về một thế giới không cần đến Thiên Chúa nữa. Và nếu điều này là thế thì Ngài cũng trở thành không còn thiết yếu trong đời sống của chúng ta nữa. Thế nhưng bất cứ khi nào nỗ lực này dường như sắp sửa thành công – thì vấn đề không thể nào không sáng tỏ là có một cái gì đó thiếu mất nơi phương trình này! Khi Thiên Chúa bị khấu trừ thì một điều gì đó không được cộng thêm cho con người, cho thế giới, cho toàn thể vũ trụ. Bởi vậy mà chúng ta đứng trước hai hai chọn. Đâu là chọn lựa thứ nhất? Lý Trí Sáng tạo, Thần Linh Sáng Tạo là Đấng làm nên hết mọi sự và làm cho chúng phát triển, hay Cái Vô Tri, cái dù thiếu nghĩa lý lại có thể một cách nào đó làm phát sinh ra vũ trụ lớp lang theo toán học, cùng với con người và lý trí của họ. Tuy nhiên, cái vô tri bấy giờ chẳng là gì khác ngoài một thứ thành quả tình cờ của việc tiến hóa, nên cuối cùng cũng chỉ tương đương với vô nghĩa. Là Kitô hữu, chúng ta nói: ‘Tôi tin kính Thiên Chúa là Cha, Đấng Tạo Thành trời đất’ – Tôi tin kính Thần Linh Sáng Tạo. Chúng ta tin rằng khởi sự của tất cả mọi sự là Lời hằng hữu, có Lý Trí chứ không phải Vô Tri. Với niềm tin này, chúng ta không có lý do nào để ẩn nấp, không sợ bị đi đến ngõ cụt đường cùng. Chúng ta hân hoan là chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa! Và chúng ta cố gắng giúp cho những người khác thấy được cái hợp lý của niềm tin, như Thánh Phêrô trong Thư Thứ Nhất của mình đã thiết tha minh nhiên kêu gọi Kitô hữu thời của ngài thực hiện, và cùng với họ, cả chúng ta nữa (x 1Pt 3:15)!
Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa. Đây là những gì được các phần chính trong Kinh Tin Kính khẳng định, nhất là ở phần thứ đầu. Thế nhưng giờ đây một câu hỏi khác được đặt ra, đó là tin tưởng vào vị Thiên Chúa nào đây? Chắc chắn là chúng ta tin tưởng vào vị Thiên Chúa là Thần Linh Sáng Tạo, là Lý Trí sáng tạo, là nguồn mạch của tất cả mọi sự hiện hữu, bao gồm cả chính chúng ta. Phần thứ hai của Kinh Tin Kính nói với chúng ta hơn nữa. Lý Trí sáng tạo này thì Thiện Hảo, Lý Trí ấy là Tình Yêu. Lý Trí ấy có một dung nhan. Thiên Chúa không để chúng ta mò mẫm trong tăm tối. Ngài đã tỏ mình cho chúng ta như là một con người. Từ sự cao cả của mình, Ngài đã tự trở nên bé mọn. ‘Ai thấy Thày là thấy Cha’, Chúa Giêsu nói (Jn 14:9). Thiên Chúa đã khoác một bộ mặt nhân loại. Ngài đã yêu thương chúng ta cho đến độ để cho mình bị đóng đinh trên cây Thập Giá vì chúng ta, để mang những nỗi khổ đau của nhân loại đến với chính cõi lòng của Thiên Chúa. Ngày nay, thời điểm chúng ta thấy được những bệnh lý cùng với các chứng bệnh đe dọa tới sự sống liên hệ đến tôn giáo và lý trí, và những cách thức hình ảnh Thiên Chúa có thể bị hủy hoại bởi hận thù và cuồng tín, thì cần phải nói rõ rằng vị Thiên Chúa này là Đấng chúng ta tin tưởng, và tin tưởng loan báo rằng vị Thiên Chúa này có một bộ mặt con người. Chỉ có niềm tin này mới có thể giải phóng chúng ta khỏi cảm thấy sợ hãi Thiên Chúa – một thứ hãi sợ tận cùng là nguồn gốc của chủ nghĩa vô thần tân tiến. Chỉ có vị Thiên Chúa này mới cứu chúng ta khỏi cảm thấy sợ hãi thế giới cũng như khỏi mối lo âu trước tình trạng trống rỗng của cuộc đời. Chỉ khi nào nhìn lên Chúa Giêsu Kitô thì niềm hân hoan của chúng ta trong Thiên Chúa mới nên trọn và trở thành niềm vui cứu độ. Trong cuộc long trọng cử hành Thánh Thể này, chúng ta hãy nhìn lên Chúa bị treo trước chúng ta trên Thập Giá và hãy xin Người hãy ban cho chúng ta niềm vui tràn trề, một niềm vui được Người hứa hẹn với thành phần môn đệ của Người vào giờ khắc biệt ly (x Jn 16:24)!
Phần thứ hai của Kinh Tin Kính kết thúc bằng việc nói đến vấn đề chung thẩm và phần thứ ba nói đến việc kẻ chết sống lại. Phán quyết – phải chăng chữ này không khiến chúng ta cảm thấy sợ hãi? Mặt khác, không phải hết mọi người đều muốn thấy công lý dần dần cần phải được trả về cho tất cả những ai bị lên án bất công, cho tất cả những ai chịu khổ đau trên đời này, những ai chết đi sau một cuộc đời đầy đớn đau hay sao? Không phải là tất cả chúng ta đều muốn những gì là bất chính bạo tàn và khổ đau chúng ta thấy được nơi lịch sử loài người cuối cùng bị chấm dứt hay sao, nhờ đó, cuối cùng, mọi người sẽ tìm được hạnh phúc, và hết mọi sự mới cho thấy có ý nghĩa hay sao? Cuộc chiến thắng ấy của công lý, việc liên kết với nhiều thứ phân mảnh của lịch sử dường như là vô nghĩa này, và việc cống hiến cho chúng vị trí của chúng trong một bức tranh lớn lao hơn có chân lý và yêu thương làm chủ, đó là những gì được hiểu theo quan niệm về việc phán xét chung. Đức tin không có mục đích làm phát sinh ra sợ hãi; trái lại, nó có mục đích kêu gọi chúng ta chấp nhận trách nhiệm. Chúng ta không muốn làm cho cuộc đời của mình bị hoang phí, muốn mạo dụng nó, hay muốn chỉ sống cuộc đời ấy cho bản thân mình. Trước tình trạng bất chính, chúng ta không được dửng dưng lạnh lùng, để đi đến chỗ trở nên thành phần hợp tác âm thầm hay thành phần hoàn toàn đồng lõa. Chúng ta cần nhận ra sứ vụ của chúng ta trong lịch sử và hãy cố gắng để thi hành nó. Điều cần thiết đó là đừng sợ mà là trách nhiệm – trách nhiệm và quan tâm đến phần rỗi của mình cũng như phần rỗi của toàn thể thế giới. Mọi người đều cần thực hiện việc góp phần của mình cho mục đích ấy. Thế nhưng, khi trách nhiệm và quan tâm có khuynh hướng phát sinh sợ hãi, thì chúng ta cần phải nhớ những lời của Thánh Gioan là: ‘Hỡi các con nhỏ, tôi viết điều này để giữ cho anh em khỏi sa ngã phạm tội. Thế nhưng nếu ai sa ngã phạm tội thì chúng ta đã có một biện hộ gia trước Chúa Cha là Chúa Giêsu Kitô là người công chính’ (1Jn 2:1). ‘Cho dù lòng chúng ta có trách móc chúng ta thế nào chăng nữa thì Thiên Chúa còn lớn hơn cả lòng chúng ta và Ngài bei61t hết tất cả mọi sự’ (ibid 3:20).
Chỉ sống Đức Tin sáng suốt theo lý trí mới có thể đối thoại liên tôn và liên văn hóa
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Tông Du Đức Quốc 9-14/9/2006 – Bài diễn văn ngày Thứ Ba 12 tại Đại Học Regensburg
Mới đây tôi đã được nhắc nhớ về tất cả những điều ấy, khi tôi đọc cuốn sách của Giáo Sư Theodore Khoury (Munster) về đoạn đối thoại xẩy ra – có lẽ xẩy ra vào năm 1391 ở các doanh trại mùa đông gần Ankara – giữa vị hoàng đế Byzantine uyên bác là Manuel II Paleologus và một nhà trí thức Ba Tư về vấn đề Kitô Giáo và Hồi Giáo và về sự thật của hai tôn giáo này. Người ta cho rằng chính vị hoàng đế ấy là người đã viết lại cuộc đối thoại này, trong giai đoạn thành Constantinople bị vây hãm vào thời khoảng 1394 và 1402; và điều này có thể giải thích về lý do tại sao những lập luận của ông chi tiết hơn là những lập luận của nhân vật Ba Tư đối thoại với ông. Cuộc đối thoại này liên quan nhiều tới những cấu trúc đức tin trong Thánh Kinh và Sách Qur’an, và đặc biệt bàn luận tới hình ảnh về Thiên Chúa và về con người, trong khi đó cuộc đối thoại này nhiều lần vẫn cần phải trở về với mối liên hệ giữa – những gì được họ gọi là – tam ‘Luật’ hay ‘các qui luật sống’, đó là Cựu Ước, Tân Ước và Sách Qur’an. Tôi không có ý định bàn đến vấn đề này trong bài nói hôm nay; ở đây tôi chỉ muốn bàn đến một điểm duy nhất – một điểm tự nó lại ở bên lề cuộc đối thoại nói chung này – một điểm, theo chiều hướng của vấn đề ‘đức tin và lý trí’, tôi thấy lý thú và là điểm có thể giúp mở màn cho việc tôi chia sẻ về vấn đề này.
Trong cuộc đàm thoại thứ bảy (*4V8,>4H - controversy) được Giáo Sư Khoury thu thập, thì vị hoàng đế này đã chạm tới đề tài về cuộc thánh chiến. Vị hoàng đế này chắc chắn biết được rằng Sura 2, 256, có câu ‘Không có vấn đề võ lực nơi việc tin tưởng’. Theo các chuyên gia, thì đây là một trong những chương Sura thuộc giai đoạn đầu, thời điểm mà Đức Mahommed vẫn còn ở trong tình trạng bất lực và bị đe dọa. Tuy thế, bình thường thì vị hoàng đề này cũng biết được những điều hướng dẫn, được khai triển sau này và được ghi vào Sách Qur’an liên quan tới cuộc thánh chiến. Không đi sâu vào những chi tiết như tính cách khác nhau liên quan tới việc xử sự nơi những ai có ‘Cuốn Sách’ này với thành phần ‘vô tín ngưỡng’, vị hoàng đế này đã đột ngột cộc lốc nói cùng nhân vật đối thoại với mình về vấn đề chính yếu liên quan tới mối liên hệ giữa tôn giáo và bạo lực nói chung, mà rằng: ‘Xin tỏ cho tôi thấy chỉ những gì Tiên Tri Muhammed đã viết có tính cách mới mẻ mà ở đó nhà ngươi thấy được những gì chỉ toàn là sự dữ và phi nhân, chẳng hạn như việc ngài truyền dạy hãy dùng gươm giáo để quảng bá niềm tin được ngài rao giảng’ (‘Show me just what Mohammed brought that was new, and there you will find things only evil and inhuman, such as his command to spread by the sword the faith he preached’). Vị hoàng đế này, sau khi bày tỏ chủ trương của mình thật là mạnh mẽ, tiếp tục giải thích cặn kẽ về những lý do tại sao việc quảng bá niềm tin bằng võ lực là những gì phi lý.
Bạo động là những gì không thích hợp với bản tính của Thiên Chúa và bản tính của linh hồn. Ông nói rằng: ‘Thiên Chúa không thích việc đổ máu – và việc không tác hành một cách hợp lý (F×< 8`(T) là điều trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa. Niềm tin là những gì xuất phát từ linh hồn chứ không phải từ thân xác. Ai dẫn người nào đó tới với niềm tin thì cần phải có khả năng nói năng khéo léo và lý luận thích đáng, không có vấn đề bạo lực và đe dọa… Để chinh phục một linh hồn biết suy nghĩ thì người ta không cần đến thứ vũ khí mãnh liệt, hay bất kỳ một thứ khí giới này, hoặc bất cứ một phương tiện đe dọa sát hại nhân sự nào khác…”
Lời phát biểu quyết liệt nơi lập luận này chống lại việc hoán cải bằng võ lực là thế này: không hành động theo lý trí là việc phản lại bản tính của Thiên Chúa. Nhà biên soạn Theodore Khoury nhận định rằng: Đối với vị hoàng đế, một con người Byzantine chịu ảnh hưởng của triết lý Hy Lạp, thì lời phát biểu này là những gì minh nhiên. Thế nhưng, đối với giáo huấn của tín đồ Hồi Giáo thì Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn siêu việt. Ý muốn của Ngài không bị ràng buộc bởi bất cứ một phạm trù nào của chúng ta, thậm chí là phạm trù về lý lẽ. Đến đây giáo sư Khoury đã trích tác phẩm của một người Pháp nổi tiếng theo chủ nghĩa Hồi Giáo là R. Arnaldez, nhân vật đã vạch ra là Ibn Hazn đã đi quá xa khi nói rằng Thiên Chúa không bị ràng buộc thậm chí bởi chính lời của Ngài, cũng như nói rằng không gì ép buộc được Ngài phải mạc khải chân lý cho chúng ta. Nếu thực sự là ý Chúa muốn thì thậm chí chúng ta cần phải tôn thờ cả đến ngẫu tượng nữa.
Đến đây, đối với vấn đề hiểu biết Thiên Chúa, và nhờ đó liên hệ tới vấn đề cụ thể sống đạo, chúng ta đối diện với một vấn đề nan giải bất khả tránh. Phải chăng ý nghĩ cho rằng tác hành một cách vô lý thì trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa chỉ là một ý nghĩ của người Hy Lạp, hay nó tự bản chất bao giờ cũng đúng? Tôi tin rằng ở đây chúng ta có thể thấy được tính cách hòa hợp sâu xa giữa những gì là Hy Lạp theo đúng nghĩa nhất của ngôn từ, với kiến thức thánh kinh về niềm tin kính Thiên Chúa. Điều chỉnh lại câu đầu tiên của Sách Khởi Nguyên, câu đầu tiên của toàn bộ Thánh Kinh, Thánh Gioan đã mở đầu cuốn Phúc Âm của mình bằng những chữ: “Từ ban đầu đã có 8`(@H”. Đó chính là những lời được vị hoàng đề này sử dụng: Thiên Chúa hành động, F×< 8`(T, với logos. Logos vừa có nghĩa là lý trí vừa có nghĩa là lời – một lý trí sáng tạo và có khả năng tự truyền đạt, chính vì nó là lý trí. Vậy Thánh Gioan đã nói đến lời tối chung về quan niệm Thiên Chúa theo thánh kinh, và nơi lời này, tất cả những gì thường là khó khăn cực nhọc và những gì là quanh co uẩn khúc của niềm tin theo thánh kinh đều được đạt tới tột đỉnh của mình và sự tổng hợp của mình. Từ ban đầu đã có logos và logos này là Thiên Chúa, vị Thánh Ký viết. Cuộc hội ngộ giữa sứ điệp Thánh Kinh đây với tư tưởng Hy Lạp không xẩy ra một cách ngẫu nhiên tình cờ đâu. Thị kiến của Thánh Phaolô, vị đã thấy những con đường dẫn tới Á Châu bị ngăn chặn và trong một giấc mơ ngài đã thấy một ngưoơi đàn ông Macedonia van xin ngài rằng: ‘Xin hãy đến với Macedonia để giúp đỡ chúng tôi!’ (x Tông Vụ 16:6-10) – thị kiến này có thể được hiểu như là một thứ ‘chưng cất’ liên quan tới nhu cầu nội tại của một thứ tái kết hữu nghị giữa niềm tin theo Thánh Kinh và việc tra vấn của người Hy Lạp.
Thật ra thì việc tái kết hữu nghị này đã từng tiếp diễn mấy lần. Danh xưng mầu nhiệm của Thiên Chúa này, được mạc khải từ bụi cây bừng cháy, một danh xưng tách biệt vị Thiên Chúa này ra khỏi tất cả mọi thứ thần linh khác mang nhiều tên gọi của họ, và là một danh xưng chỉ tuyên bố rằng ‘Ta là’, đã trở thành một thách đố đối với quan niệm về thần thoại hoang đường, một danh xưng mà triết gia Socrate đã có những suy loại khít khao để làm tan biến đi cũng như để vượt lên trên những gì là thần thoại hoang đường. Trong Cựu Ước, tiến trình được mở màn ở bụi cây bừng cháy ấy đã tiến đến chỗ phát triển mới mẻ hơn nữa vào thời kỳ Lưu Đầy, khi vị Thiên Chúa của dân Yến Duyên, một dân Yến Duyên bấy giờ bị mất đi mảnh đất của mình cùng với việc phụng thờ của mình, đã tuyên bố mình như là vị Thiên Chúa của trời đất, và diễn tả bằng một công thức giản dị âm vang những lời đã được Ngài thốt ra ở bụi cây bừng cháy: ‘Ta là’. Kiến thức mới mẻ này về Thiên Chúa được kèm theo một thứ minh thức, thứ minh thức tỏ ra khắc nghiệt khi chế nhạo những vị thần linh chỉ là việc làm của loài người (x Ps 115). Bởi thế, mặc dù xẩy ra tình trạng xung khắc gay go với thành phần cai trị theo nền văn hóa Hy Lạp muốn tìm cách bắt buộc đức tin thánh kinh thích ứng với những thứ tục lệ và việc sùng bái ngẫu tượng của người Hy Lạp, niềm tin thánh kinh, trong giai đoạn văn hóa Hy Lạp, cũng đã hội ngộ với tư tưởng hay nhất của Hy Lạp một cách sâu đậm, kết quả bởi một cuộc phong phú hóa lẫn nhau, rõ ràng được thấy một cách đặc biệt nơi thứ văn chương khôn ngoan sau này. Ngày nay, chúng ta biết rằng bản dịch Cựu Ước theo tiếng Hy Lạp đã được thực hiện ở Alexandria – tức Bản 70 – còn hơn là một bản dịch từ bản văn theo tiếng Do Thái (mà bởi thế thực sự là một bản dịch không thỏa đáng cho lắm): nó là một chứng từ nguyên văn có tính cách độc lập, và là một bước tiến khác biệt và quan trọng trong lịch sử mạc khải, một bước tiến đưa đến cuộc hội ngộ quan trọng cho việc khai sinh và phát triển Kitô Giáo này. Một cuộc hội ngộ về đức tin và lý trí đang xẩy ra ở đấy, một cuộc hội ngộ giữa minh thức đích thực và tôn giáo. Từ chính tâm điểm của đức tin Kitô Giáo, cũng như từ tâm điểm của tư tưởng Hy Lạp, giờ đây liên kết lại thành niềm tin, hoàng đế Manuel II đã có thể nói rằng: Việc không tác hành ‘với logos’ là việc làm phản lại với bản tính của Thiên Chúa.
Người ta cần phải nhận định một cách hết sức thành thật rằng vào cuối Thời Trung Cổ, chúng ta thấy có những chiều hướng nơi thần học làm tách biệt cái tổng hợp giữa tinh thần Hy Lạp và tinh thần Kitô Giáo này. Ngược lại với cái được gọi là duy lý trí của Âu Cơ Tinh và Tôma, xuất hiện nơi Duns Scotus một chủ nghĩa duy ý chí là chủ nghĩa, qua những diễn tiến sau này, dẫn đến chỗ cho rằng chúng ta chỉ có thể biết voluntas ordinate (ý muốn bình thường) của Thiên Chúa mà thôi. Ngoài ý muốn bình thường này là lãnh vực thuộc quyền tự do của Thiên Chúa, từ đó, Ngài có thể làm đảo lộn hết mọi sự Ngài đã làm. Điều này làm phát sinh ra những chủ trương rõ ràng là sát cận với những chủ trương của Ibn Hazn, thậm chí có thể dẫn đến hình ảnh của một vị Thiên Chúa đồng bóng, một vị Thiên Chúa thậm chí không liên hệ gì tới sự thật và sự thiện. Siêu việt tính của Thiên Chúa và cái khác biệt của Thiên Chúa là những gì được đề cao đến nỗi, lý trí của chúng ta, giác quan của chúng ta về sự thật và sự thiện, không còn là những gì thực sự phản ảnh Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa mà những năng thể sâu xa nhất của Ngài vĩnh viễn trở thành những gì bất khả đạt và được dấu kín đằng sau những quyết định thực sự của Ngài. Ngược lại với chủ trương này, đức tin của Giáo Hội bao giờ cũng nhấn mạnh rằng giữa Thiên Chúa và chúng ta, giữa Thần Linh Sáng Tạo hằng hữu của Ngài và lý trí thụ tạo của chúng ta có một cái gì tương tự thật sự, như Công Đồng Chung Latêranô IV năm 1215 đã nói, một sự tương tự với cái không giống vĩnh viễn là nhiều hơn là cái giống, tuy nhiên không tới độ hủy loại đi cái tương tự cùng với ngôn từ của nó. Thiên Chúa không trở thành thần linh hơn khi chúng ta đẩy Ngài ra khỏi chúng ta theo chiều hướng duy ý chí hoàn toàn bất khả thấu; trái lại, vị Thiên Chúa thực sự thần linh này là vị Thiên Chúa đã tỏ mình ra như logos – lời, và như logos – lời, ngài đã tác hành và tiếp tục tác hành một cách yêu thương đối với chúng ta. Tình yêu, như Thánh Phaolô viết, thực sự là những gì ‘vượt trên’ kiến thức và vì thế có thể cảm nhận hơn là duy tưởng (x Eph 3:19); tuy nhiên, nó vẫn là tình yêu của vị Thiên Chúa là Logos – Lời. Bởi thế, việc tôn thờ của Kitô Giáo, cũng Thánh Phaolô nói, là "8@(46¬ 8"JD,\"", việc tôn thờ hợp với Lời hằng hữu và với lý trí của chúng ta (x Rm 12:1).
Việc tái tấu mối hữu nghị nội tại giữa đức tin theo Thánh Kinh và triết thức Hy Lạp là một biến cố hệ trọng thật là quyết liệt, chẳng những theo quan điểm lịch sử các tôn giáo, mà còn theo quan điểm lịch sử thế giới nữa – nó là một biến cố liên quan thậm chí tới chúng ta ngày nay nữa. Trước việc qui hợp này, không lạ gì Kitô Giáo, cho dù việc bắt nguồn và phát triển của nó ở Đông phương, cuối cùng lại mang tính cách quan trọng về lịch sử ở Âu Châu. Chúng ta có thể diễn đạt vấn đề này một cách khác như sau: việc qui hợp ấy, cùng với việc thêm thắt sau này của gia sản Rôma, đã là những gì kiến tạo nên Âu Châu và tiếp tục là nền tảng cho những gì có thể đáng được gọi là Âu Châu.
Luận đề cho rằng gia sản được can thận thanh tẩy là những gì hình thành một phần nguyên vẹn của đức tin Kitô Giáo, là luận đề đã bị phản kháng bởi tiếng gọi hãy giải thể văn hóa Hy Lạp khỏi Kitô Giáo – một tiếng gọi càng ngày càng chi phối những cuộc bàn luận về thần học từ khi mở màn thời đại tân tiến. Nhìn kỹ, người ta thấy có 3 giai đoạn trong tiến trình giải thể văn hóa Hy Lạp này: mặc dù có liên hệ với nhau, song 3 giai đoạn ấy rõ ràng là khác biệt hẳn nhau nơi những cái mới mẻ và mục tiêu của mình.
Việc giải thể văn hóa Hy Lạp đầu tiên liên quan tới những định đề của phong trào Cải Cách ở thế kỷ 16. Khi nhìn vào truyền thống của nền thần học kinh viện, thành phần Cải Cách nghĩ rằng họ phải đối đầu với một hệ thống tin tưởng hoàn toàn bị điều kiện hóa bởi triết lý, tức là họ muốn nói đến một sự kết nối của đức tin dựa trên một hệ thống tư tưởng ngoại lạ. Do đó, đức tin không còn là một Lời sống động trong lịch sử mà chỉ là một yếu tố của một hệ thống bị hệ thống triết lý bao trùm. Trái lại, nguyên lý duy thánh kinh – sola srciptura lại tìm kiếm một niềm tin hoàn toàn mặc hình thức tinh tuyền, nguyên khôi, như được thấy từ ban đầu ở Lời trong thánh kinh. Siêu hình học đã trở thành như là một tiền đề được xuất phát từ một nguồn mạch khác, là nơi đức tin đã được giải phóng để trở về với chính bản chất của mình. Khi triết gia Kant nói rằng ông cần dẹp việc suy nghĩ ra ngoài để lấy chỗ cho niềm tin, là ông đã tiền hành dự án này một cách cấp tiến chưa từng thấy nơi thành phần Cải Cách. Bởi thế ông đã cột thắt niềm tin vào thứ lý trí thực tiễn mà thôi, không để cho niềm tin tiến tới với toàn thể thực tại.
Thần học giải phóng trong thế kỷ 19 và 20 đã mở màn cho giai đoạn hai trong tiến trình giải thể văn hóa Hy Lạp, với Adolf von Harnack như nhân vật tiêu biểu nhất của thứ thần học này. Khi tôi còn là một sinh viên, và vào những năm đầu làm nghề giảng dạy của mình, thì cái cương lĩnh này cũng đã có một ảnh hươởg lớn nơi thần học Công Giáo rồi. Nó được khởi đi từ chỗ phân biệt của triết gia Pascal về vấn đề vị Thiên Chúa của thành phần triết gia với vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Trong bài khai mạc của tôi ở Bonn năm 1959, tôi đã cố gắng nói tới vấn đề này, và tôi không muốn lập lại ở đây những gì tôi đã nói vào lúc bấy giờ, thế nhưng tôi muốn diễn tả vắn gọn ít là những gì mới mẻ về giai đoạn thứ hai của việc giải thể văn hóa Hy Lạp này. Ý tưởng chính yếu của Harnack đó chỉ là việc trở về với con người Giêsu cũng như với sứ điệp bình thường của Người, một sứ điệp nằm ở bên dưới những thứ bồi đắp của thần học và thực sự của nền văn hóa Hy Lạp: sứ điệp bình thường này được thấy như là tột đỉnh của việc phát triển về đạo giáo của nhân loại. Chúa Giêsu là vị được cho rằng đã chấm dứt việc thờ phượng để hướng chiều về luân lý. Để rồi Người được trình bày như là một người cha của thứ sứ điệp về luân lý nhân đạo. Nói cho cùng thì mục đích của Harnack đó là đem Kitô Giáo vào cuộc hài hòa với thứ lý trí tân tiến, tức là giải phóng Kitô Giáo khỏi những yếu tố có vẻ triết lý và thần học, chẳng hạn như niềm tin tưởng vào thần tính của Chúa Kitô và vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, việc dẫn giải Tân Ước theo kiểm nhận về lịch sử, như ông thấy, là những gì đã trả về cho thần học vị trí của thần học trong đại học: thần học, đối với Harnack, là một cái gì đó có tính cách lịch sử thiết yếu, bởi thế thần học hoàn toàn có tính cách khoa học. Những gì có thể nói theo nhận định về Chúa Giêsu thực sự là một bày tỏ của thứ lý trí thực tiễn, từ đó, nó có thể chiếm được thế đứng thật sự của mình ở đại học đường. Đứng đằng sau việc suy nghĩ này là tính chất tự hạn hữu mới của lý trí, những gì đã được đề cập đến theo kiểu cổ điển trong cuốn “Critiques” của Kant, thế nhưng đồng thời lại được cấp tiến hóa hơn bởi ảnh hưởng của các ngành khoa học tự nhiên. Quan niệm tân tiến này về lý trí, nói tóm lại, được căn cứ vào một cuộc tổng hợp giữa chủ nghĩa Platonism (Cartesianism) và chủ nghĩa duy nghiệm, một tổng hợp được củng cố bởi việc thành đạt của kỹ thuật. Một đàng nó bao hàm cái cấu trúc toán học của chất thể, bao hàm cái lý lẽ nội tại của cuộc tổng hợp này, cái lý lẽ để có thể hiểu được chất thể hoạt động ra sao và việc sử dụng nó một cách hiệu năng: cái tiền đề căn bản này thực sự là yếu tố của triết lý Plato nơi kiến thức tân tiến về thiên nhiên tạo vật. Mặt khác, năng lực của thiên nhiên tạo vật đang bị khai thác cho các mục đích của chúng ta, và ở nơi đây, chỉ có khả năng kiểm chứng hay xuyên tạc bằng thử nghiệm mới có thể thật sự nắm vững được vấn đề mà thôi. Cán cân giữa đúng sai này, tùy theo hoàn cảnh, có thể chạy từ bên này sang bên kia. Là con người mạnh mẽ theo thực chứng chủ nghĩa, một tư tưởng gia như J. Monod đã từng tuyên bố mình là thành phần chấp nhận chủ nghĩa Plotonist/Cartesian.
Điều này làm phát sinh ra hai nguyên tắc hệ trọng đối với vấn đề được chúng ta nêu lên. Nguyên tắc thứ nhất, đó là chỉ có thứ xác nhận nào xuất phát từ việc tác động của các yếu tố toán học và thử nghiệm mới có thể được coi là khoa học. Bất cứ điều gì cho là khoa học đều phải được căn cứ vào qui chuẩn ấy. Bởi thế, các khoa học về nhân văn, như lịch sử, tâm lý, xã hội và triết học, cần phải tuân hợp với qui luật của khoa học tính này. Nguyên tắc thứ hai, một nguyên tắc quan trọng cho những suy tư của chúng ta, đó là, tự bản chất của mình, phương pháp này là những gì loại trừ vấn đề về Thiên Chúa, cho vấn đề ấy như là vấn đề phi khoa học hay tiền khoa học. Tóm lại, chúng ta đang phải đối diện với một thứ thu ngắn phạm vi khoa học và lý trí, một thứ thu ngắn cần được đặt lại vấn đề.
Tôi sẽ trở lại với vấn đề ấy sau này. Lúc này đây, vấn đề cần phải nhận định là, theo quan điểm ấy thì bất cứ một nỗ lực nào muốn bảo trì việc cho thần học là ‘khoa học’ đều tiến đến chỗ biến Kitô Giáo thành một đơn mảnh thuộc bản chất trước kia của nó. Thế nhưng, chúng ta cần phải nói thêm là: nếu tất cả khoa học là như thế và chỉ như thế mà thôi, thì chính con người cuối cùng cũng bị biến giảm, vì những vấn đề đặc biệt về con người liên quan tới nguồn gốc và định mệnh của chúng ta, những vấn đề được tôn giáo và đạo lý gợi lên, bấy giờ không có chỗ đứng trong nhãn quan của thứ lý trí vơ đũa cả nắm được cho là “khoa học”, được hiểu là như thế, và như vậy thì các vấn đề đặc biệt ấy cần phải được chuyển sang cho lãnh vực chủ quan. Để rồi chủ thể là người, căn cứ vào kinh nghiệm của mình, sẽ quyết định những gì họ coi là khả thủ nơi các vấn đề về tôn giáo, và thứ “lương tâm” chủ quan sẽ trở thành một thẩm phán viên độc đoán duy nhất về những gì có tính cách đạo lý. Cho dù là như thế chăng nữa, luân thường đạo lý và tôn giáo cũng đã mất đi quyền lực của mình trong việc kiến tạo nên một cộng đồng và hoàn toàn trở thành một vấn đề riêng tư cá nhân. Đó là một tình trạng nguy hiểm nơi những sự vụ giành cho nhân loại, như chúng ta thấy được từ những chứng bệnh đáng lo ngại về tôn giáo và lý trí là những gì đang cần phải bùng nổ, khi mà lý trí bị biến giảm đến nỗi những vấn đề về tôn giáo và đạo lý không còn liên hệ gì với nó nữa. Những nỗ lực kiến tạo nên một thứ đạo lý theo các qui luật của việc tiến hóa, hay theo tâm lý học và xã hội học, đều là những gì sẽ tiến tới chỗ bị què cụt hụt hẫng mà thôi.
Trước khi tôi rút ra những kết luận từ tất cả những điều ấy, tôi cần phải vắn tắt nói tới giai đoạn thứ ba của việc giải thể văn hóa Hy Lạp là giai đoạn đang diễn tiến hiện nay. Theo kinh nghiệm của chúng ta về tính cách đa nguyên của văn hóa, ngày nay người ta thường nói rằng cái tổng hợp với văn hóa Hy Lạp đạt được ở Giáo Hội vào lúc ban đầu là một thứ hội nhập văn hóa sơ khởi không có hiệu lực trên các nền văn hóa khác. Các nền văn hóa khác này được cho rằng có quyền trở về với sứ điệp thuần túy của Tân Ước trước cuộc hội nhập văn hóa ấy, để hội nhập sứ điệp ấy một cách mới mẻ vào môi trường riêng biệt của chúng ta. Luận đề này chẳng những sai lầm; nó còn tồi tệ và thiếu chính xác nữa. Tân Ước được viết bằng Hy ngữ và mang dấu ấn của tinh thần Hy Lạp, một tinh thần đã tiến đến chỗ chín mùi như Cựu Ước đã phát triển vậy. Thật thế, có những yếu tố trong cuộc tiến hóa của Giáo Hội sơ khai không được hội nhập vào tất cả mọi nền văn hóa. Tuy nhiên, những quyết định trọng yếu về mối liên hệ giữa đức tin và việc sử dụng lý trí con người là những gì thuộc về chính đức tin; chúng là những tiến triển hợp với bản chất của chính đức tin.
Giờ đây tôi đi đến phần kết luận của mình. Nỗ lực này, một nỗ lực được vẽ vời bằng những đường nét phóng đại, theo một thứ nhận định từ bên trong của lý trí tân tiến, không có liên quan gì tới việc quay ngược kim đồng hồ trở lại với thời gian trước Thời Minh Tri, cũng như trong việc loại trừ đi những minh thức của thời đại tân tiến hết. Những khía cạnh tích cực của tính cách tân tiến đều được công nhận một cách dễ dàng: ở chỗ, tất cả chúng ta đều cảm nhận đối với những tiềm năng tuyệt vời đang được mở ra cho nhân loại, cũng như đối với việc tiến bộ chúng ta có được nơi nhân loại. Ngoài ra, tinh thần của khoa học – như chính ngài Viện Trưởng đã nhắc tới – đó là ý muốn tỏ ra thuận phục chân lý, nhờ đó, nó thể hiện một thái độ vốn thuộc về những quyết định thiết yếu theo tinh thần Kitô Giáo. Ý hướng này ở đây không phải là một ý hướng của sự cắt xén hay của vấn đề tiêu cực kiểm định, mà là của việc nới rộng quan niệm của chúng ta về lý trí và về việc áp dụng của lý trí. Trong khi chúng ta hoan hưởng nơi những tiềm năng mới mở ra cho nhân loại thì chúng ta cũng thấy được những mối nguy hiểm xuất phát từ những tiềm năng này ,nên chúng ta vần phải tự hỏi làm sao chúng ta có thể thắng vượt được những thứ nguy hiểm ấy. Chúng ta sẽ thành công trong việc làm điều này chỉ khi nào lý trí và đức tin cùng nhau sánh bước một cách mới mẻ, chỉ khi nào chúng ta thắng vượt được cái hạn hữu tự áp đặt của lý trí đối với những gì là khả thực theo thử nghiệm, và chỉ khi nào chúng ta một lần nữa vạch ra được những vùng chân trời rộng lớn của lý trí. Theo chiều hướng này thì thần học mới đáng thuộc về đại học đường và mới đáng thực hiện cuộc đối thoại bao rộng với các khoa học, không phải chỉ như là một ngành về lịch sử và một ngành của các khoa học nhân văn, mà thực sự là thần học, là việc thẩm tra tính cách hợp lý của đức tin.
Chỉ như thế chúng ta mới có thể thực hiện một cuộc đối thoại với các nền văn hóa và tôn giáo là những gì hết sức cần thiết ngày nay. Nơi thế giới Tây phương, nhiều người chủ trương rằng chỉ có thứ lý trí có tính cách thực chứng và những hình thức của triết học theo thứ lý trí này mới có giá trị phổ quát. Tuy nhiên, các nền văn hóa về đạo giáo sâu xa của thế giới đều thấy việc loại trừ thần linh này khỏi tính cách phổ quát của lý trí là một thứ tấn công vào những niềm xác tín sâu xa nhất của những nền văn hóa ấy. Một thứ lý trí tỏ ra câm điếc trước thần linh và đẩy tôn giáo vào lãnh vực của các thứ hạ tầng văn hóa là một lý trí không thể nhập cuộc đối thoại với các nền văn hóa. Đồng thời, như tôi đã cố gắng chứng tỏ, lý trí khoa học tân tiến có yếu tố mang tính cách triết lý Plato sâu đậm chất chứa nơi mình một vấn đề hướng về những gì ở ngoài chính nó và ở ngoài cả những tiềm năng nơi phương pháp học của nó nữa. Lý trí khoa học tân tiến hoàn toàn dễ dàng chấp nhận cái cấu trúc hợp lý của chất thể, cũng như cái tương hợp giữa tinh thần của chúng ta với những cấu trúc hợp lý vốn có nơi thiên nhiên tạo vật là những gì phương pháp học của lý trí khoa học tân tiến cần phải dựa vào. Tuy nhiên, vấn đề tại sao sự việc này cần phải như thế là một vấn đề thực sự, và là một vấn đề cần phải được các ngành khoa học tự nhiên trả về cho các kiểu cách và lãnh vực suy tưởng khác – tức cho triết học và thần học. Đối với triết lý, và cho dù bằng đường lối khác nhau, đối với cả thần học, thì việc lắng nghe những cảm nghiệm và những minh thức cao cả nơi những truyền thống tôn giáo của loài người, cũng như những cảm nghiệm cùng minh thức của riêng đức tin Kitô Giáo, là một nguồn kiến thức, và việc coi thường việc lắng nghe này sẽ là một thứ hạn chế bất khả chấp cho việc lắng nghe và đáp ứng của chúng ta. Ở đây tôi nhớ tới điều triết gia Socrates nói với Phaedo. Trong hững cuộc đàm đạo đầu tiên của mình, có nhiều ý nghĩ sai lầm về triết lý đã được nêu lên, nên Socrates đã nói: “Thật là dễ hiểu khi có người cảm thấy khó chịu trước tất cả những thứ khái niệm sai lầm mà đối với cuộc đời còn lại của mình họ tỏ ra kinh thường và chế nhạo tất cả những gì nói về hữu thể – thế nhưng vì vậy mà họ lại bị hụt hẫng đi cái sự thật về việc hiện hữu và phải chịu mất mát lớn lao”. Tây phương đã lâu bị nguy hiểm bởi thái độ không ưa thích đối với những vấn nạn được tiềm tàng nơi tính chất hợp lý của mình, và vì thế chỉ có thể phải chịu đựng cái tai hại cả thể. Can đảm dấn thân cho tính cách bao rộng của lý trí và không chối bỏ tính cách cao cả của nó – đó là chương trình từ đó một khoa thần học được bắt nguồn từ niềm tin theo Thánh Kinh mới có thể tham gia vào những cuộc tranh luận của thời đại chúng ta. “Việc không tác hành hợp lý, không hành động với logos, là điều trái với bản tính của Thiên Chúa”, hoàng đế Manuel II đã nói như thế, theo kiến thức Kitô Giáo của ông về Thiên Chúa, để đáp lại đối thoại viên người Ba Tư của ông. Chính vì để tiến đến với cái logos cao cả này, đến với cái rộng lớn của lý trí ấy, mà chúng ta kêu gọi đồng bạn của chúng ta hãy thực hiện cuộc đối thoại về các nền văn hóa. Công việc cao cả của đại học đường đó là liên lỉ tái nhận thức lý trí vậy.
Chúa Nhật IV Thường Niên 28/1/2007 về Thánh Tôma Tiến Sĩ với Vấn Đề Tổng Luận Lý Trí và Đức Tin
Anh Chị Em thân mến,
Lịch phụng vụ hôm nay tưởng nhớ Thánh Tôma Aquinas, vị đại tiến sĩ của Giáo Hội. Bằng đặc sủng của một triết gia và thần học gia, ngài đã cống hiến một mẫu thức hòa hợp vững chắc giữa lý trí và đức tin, những chiều kích của tinh thần con người, những chiều kích được hoàn toàn hiện thực khi chúng gặp gỡ và trao đổi với nhau.
Theo ý nghĩ của Thánh Tôma thì lý trí con người, có thể nói là, ‘hít thở’, tức là nó chuyển động ở một chân trời rộng mở làm cho nó có thể cảm thấy khả năng tối đa của mình. Tuy nhiên, khi con người chỉ biết nghĩ về n hững đối tượng vật chất và thí nghiệm, thì họ cảm thấy bí trước những câu hỏi về đời sống, về chính mình và về Thiên Chúa, biến mình trở thành bần cùng.
Mối liên hệ giữa đức tin và lý trí là một thách đố nghiêm trọng đối với văn hóa hiện đang chi phối thế giới Tây phương, và chính vì lý do ấy mà Đức Gioan Phaolô II của chún g ta đã viết một bức thông điệp, mang tựađề chính là ‘Đức Tin và Lý Trí’. Tôi cũng đã tiếp tục luận đề này mới đây, trong bài diễn từ cho Đại Học Đường ở Regensburg.
Thực ra vấn đề phát triển tân tiến của các khoa học mang lại vô vàn hiệu quả tích cực là những gì luôn cần được nhìn nhận. Tuy nhiên, đồng thời cũng cần phải công nhận rằng cái khuynh hướng chỉ coi những gì cảm nghiệm thấy mới là xác thực đã khiến cho lý trí của con người bị giới hạn lại và gây ra một thứ tâm bệnh bất nhất đáng sợ, hiển nhiên trước mắt mọi người, bởi việc đồng hiện hữu giữa chủ nghĩa duy lý với chủ nghĩa duy vật, và giữa siêu đẳng kỹ thuật với những thứ bản năng buông thả.
Bởi thế, cần phải làm sao tái khám phá một cách mới mẻ cái lý sự của con người hướng về ánh sáng của ‘Lời’ thần linh cũng như về mạc khải tuyệt hạo của nó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Một khi đức tin Kitô giáo là những gì đích thực thì nó không làm triệt tiêu tự do hay lý trí của con người; vậy thì tại sao đức tin và lý trí lại sợ hãi nhau, nếu nhờ gặp gỡ nhau và trao đổi với nhau chúng có thể thể hiện chính bản thân mình một cách tốt đẹp nhất chứ?
Đức tin bao gồm lý trí và làm hoàn hảo lý trí, và lý trí, nhờ được soi sáng bởi đức tin, tìm thấy sức mạnh để tiến tới chỗ nhận biết Thiên Chúa và những thực tại linh thiêng. Lý trí con người chẳng mất đi một sự gì khi nó cởi mở trước những nội tại của đức tin; trái lại, đức tin cần đến việc tư do và ý thức gắn bó của lý trí.
Bằng một đức khôn ngoan bao trùm vươn rộng, Thánh Tôma Aquina đã gây nên một cuộc đối chọi phong phú đối với tư tưởng Ả Rập và Do Thái trong thời đại của ngài, đến nỗi ngài được coi như là một bậc thày muôn thuở của việc đối thoại với các nền văn hóa và tôn giáo khác. Ngài đã biết giới thiệu cái tổng luận Kitô Giáo giữa lý trí và đức tin này, cái tổng luận tiêu biểu cho một gia sản quí báu của văn minh Tây phương, cái tổng luận mà cả ngày nay cũng cần phải được sử dụng đến để đối thoại một cách hiệu nghiệm với các truyền thống văn hóa và tôn giáo lớn ở Đông phương và Nam phương trên thế giới này.
Chúng ta hãy nguyện cầu để Kitô hữu, nhất là những ai thuộc lãnh giới hàn lâm và văn hóa, làm sao có thể bày tỏ cho thấy hơn nữa cái tính chất hữu lý nơi niềm tin của họ và làm chứng cho niềm tin này bằng một cuộc đối thoại được tác động bởi yêu thương. Chúng ta xin tặng ân này của Chúa nhờ lời chuyển cầu của Thánh Tôma Aquinas, nhất là của Mẹ Maria là Tòa Đức Khôn Ngoan.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/1/2007
Bài Giảng tại Nguyện Đường Redemptoris Mater cho Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Ba 7/11/2006 trước cuộc gặp gỡ giữa ngài với các vị
Cả ngày nay nữa, Người sẽ có những đường lối mới mẻ để kêu gọi con người, và Người muốn chúng ta trở thành sứ giả và tôi tớ của Người. Chính trong thời đại của chúng ta đây, chúng ta đã quá rõ ra sao những ai được mời tới trước đã nói ‘không’ rồi. Thật vậy, Kitô Giáo Tây Phương, thành phần ‘thực khách đầu tiên’ mới, hiện nay phần lớn đang tự viện cớ khước từ nữa. Chúng ta biết các nhà thờ càng trở thành trống trơn hơn bao giờ hết, các chủng viện tiếp tục trống rỗng, các tu viện càng ngày càng trống trải; chúng ta quen thuộc với tất cả mọi hình thức trong đó có lời viện lẽ như: ‘không được, tôi còn có những điều quan trọng khác cần phải làm’. Nó làm cho chúng ta cảm thấy nản lòng và bực tức trong việc làm chứng nhân cho những thứ viện lý và khước từ của thành phần khách đầu tiên, thành phần thực sự phải biết được tầm quan trọng của lời mời gọi ấy và phải cảm thấy bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy.
Vậy chúng ta phải làm sao đây?
Trước hết, chúng ta cần phải tự hỏi là tại sao điều ấy lại xẩy ra như thế?
Trong Dụ Ngôn của mình ấy, Chúa đã đề cập tới hai lý do: đó là các thứ chiếm hữu và những liên hệ nhân bản, những gì lôi kéo con người cho tới độ họ không còn cảm thấy cần đến bất cứ một cái gì khác để làm viên trọn thời giờ của họ từ đó làm viên trọn cuộc sống nội tại của họ.
Thánh Grêgôriô Cả, trong việc giải thích đoạn bài đọc này, đã tìm cách đào sâu vào nó hơn nữa và đã ngẫm nghĩ rằng làm thế nào con người lại có thể nói ‘không’ đối với một điều cao cả nhất ấy; làm sao họ lại không có giờ cho những gì quan trọng nhất; làm sao họ lại có thể tự khóa mình lại trong cuộc sống riêng của họ chứ?
Và ngài đã trả lời: thật ra họ chẳng bao giờ có một cảm nghiệm về Thiên Chúa hết; họ không bao giờ có được một thứ ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa cả; họ không bao giờ cảm được tuyệt vời biết bao khi được Thiên Chúa ‘chạm tới’! Họ thiếu sự ‘giao chạm’ này – và vì thế không biết ‘thưởng thức Thiên Chúa’. Nên có thể nói chỉ khi nào chúng ta nếm hưởng Người thì chỉ đến lúc bấy giờ chúng ta mới tới bữa tiệc này được thôi.
Thánh Grêgôriô trích lại bài Thánh Vịnh được Ca Hiệp Lễ hôm nay sử dụng, đó là hãy nếm thử và hãy nhìn coi; hãy nếm hưởng thì các người sẽ thấy và được soi sáng! Công việc của chúng ta đó là giúp cho dân để họ có thể nếm hưởng hương vị Thiên Chúa một cách mới mẻ.
Trong một bài giảng khác, Thánh Grêgôriô Cả đã đào sâu hơn cùng một vấn nạn và tự hỏi: làm thế nào mà một người lại thậm chí có thể không muốn ‘nếm hưởng’ Thiên Chúa chứ?
Và ngài đã giải đáp là khi con người hoàn toàn bị cuốn hút vào thế giới riêng của mình, với những thứ vật chất, với những gì họ có thể làm, với tất cả những gì khả thi và làm cho họ thành đạt, với tất cả những gì họ có thể tự sản xuất và hiểu biết, thì bấy giờ khả năng nhận thức Thiên Chúa của họ bị suy yếu đi, cơ quan cảm thức Thiên Chúa bị thụt lùi, nó trở thành bất khả để nhận thức và cảm thức, nó không còn nhận thấy Thiên Chúa, vì nội quan tương xứng đã bị tàn phai, nó ngừng phát triển.
Khi họ sử dụng quá sức tất cả những cơ năng chức phận khác, những cơ năng chức phận thực nghiệm thì điều có thể xẩy ra là chính cảm quan về Thiên Chúa bị tác hại, cơ phận này chết đi, và con người, như Thánh Grêgôriô nói, không còn thấy được ánh mắt của Thiên Chúa nữa, không còn cảm thấy Người nhìn họ nữa, không còn cảm thấy sự kiện là ánh mắt của Người tác động mình nữa!
Tôi cho rằng Thánh Grêgôriô Cả đã diễn tả đúng hệt với tình trạng của thời đại chúng ta đây – thật sự là thời của ngài rất giống như thời của chúng ta. Vậy vấn nạn vẫn là thế thì chúng ta cần phải làm gì đây?
"Những dấu hiệu rõ ràng về một tình trạng đổ vỡ đáng lo ngại đến tận gốc rễ của xã hội"
Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Washington Nationals Stadium Thứ Năm 17/4/2008
Bởi thế, tôi cầu xin để cuộc mừng kỷ niệm quan trọng này nơi đời sống của Giáo Hội ở Hiệp Chủng Quốc, và sự hiện diện của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô giữa anh chị em đây sẽ là một cơ hội cho tất cả mọi người Công Giáo tái khẳng định mối hiệp nhất của họ theo đức tin tông truyền, để cống hiến cho những con người đương thời một chứng từ thuyết phục của niềm hy vọng tác động nơi họ, và được canh tân lòng nhiệt thành truyền giáo để làm lan rộng Vương Quốc của Thiên Chúa.
Thế giới cần đến chứng từ này! Ai có thể phủ nhận là thời điểm hôm nay đây là một thời điểm giao thời, chẳng những cho Giáo Hội ở Hoa Kỳ mà còn cho cả xã hội nữa? Nó là một thời điểm đầy hứa hẹn, như chúng ta thấy gia đình nhân loại qua nhiều hình thức đã sát lại gần nhau hơn và trở thành liên thuộc với nhau hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, đồng thời chúng ta cũng thấy được cả những dấu hiệu rõ ràng về một tình trạng đổ vỡ đáng lo ngại đến tận gốc rễ của xã hội những dấu hiệu chia lìa, hận thù và phân cách nơi nhiều người đương thời của chúng ta; gia tăng bạo động; suy yếu cảm quan về luân lý; thô bạo nơi các mối liên hệ xã hội; và càng ngày càng lãng quên Chúa Kitô và Thiên Chúa. Cả Giáo Hội nữa, thấy được những dấu hiệu đầy hứa hẹn nơi nhiều giáo xứ mạnh mẽ và những phong trào sinh động, nơi lòng nhiệt thành vì đức tin được tỏ hiện qua rất nhiều giới trẻ, qua số những người hằng năm chấp nhận đức tin Công Giáo, và qua tình trạng chú trọng nhiều hơn tới việc cầu nguyện và học hỏi giáo lý. Đồng thời Giáo Hội cũng cảm thấy, thường là đớn đau, tình trạng chia rẽ và phân cách trong nội bộ của mình, cũng như thực trạng trục trặc mà nhiều người đã lãnh nhận phép rửa thay vì tác hành như men thiêng trong thế giới lại chiều theo những thái độ ngược lại với chân lý Phúc Âm.