Về Vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và tuyển dịch
Liên Hệ với Vị Tiền Nhiệm:
Được vững tâm dấn thân làm Giáo Hoàng
Cũng tiếp tục kêu gọi “Đừng Sợ”
Tiếp Tục chiều hướng “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần – Redemptor Hominis”
Tiếp Tục Loạt Bài Giáo Lư Thánh Vịnh theo chiều hướng “Duc in altum”
Diễn Giải Giáo Huấn của Vị Tiền Nhiệm
Tương Quan Phục Vụ với Vị Tiền Nhiệm
Nhận Định về Vị Tiền Nhiệm:
Về gương sống Đức Tin của Vị Tiền Nhiệm
Về gương theo Chúa của Vị Tiền Nhiệm
Về gương mục vụ của Vị Tiền Nhiệm
Về gương chịu khổ của Vị Tiền Nhiệm
Về tác dụng từ cái chết của Vị Tiền Nhiệm
Về Niềm Tin nơi Ḷng Thương Xót Chúa của Vị Tiền Nhiệm
Về Sự Nghiệp của Vị Tiền Nhiệm
Về "Văn Hóa Sự Sống" Của Vị Tiền Nhiệm
Về Công Giáo Tính nơi Quê Hương Balan của Vị Tiền Nhiệm
Về vai tṛ làm tông đồ cho Ḷng Thương Xót Chúa
Liên Hệ Với Vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II
Được vững tâm dấn thân làm Giáo Hoàng
Sứ Điệp đầu tiên ngoû cuøng Hồng Y Đoàn 20/4/2005
“Quí Huynh thân mến, việc nhận thức sâu xa về tặng ân của t́nh thương Chúa đă chiếm đoạt tâm hồn tôi bất chấp tất cả mọi sự. Tôi coi đây là ân huệ mà vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Gioan Phaolô II đă chiếm được cho tôi. Tôi dường như có thể cảm thấy là bàn tay mạnh mẻ của ngài đang xoắn chặt lấy tay tôi; tôi dường như thấy được ánh mắt tươi vui và nghe được tiếng của ngài ngỏ cùng tôi nhất là vào lúc này rằng: ‘Đừng sợ!’”
Cũng tiếp tục kêu gọi “Đừng Sợ”
Bài Giảng Lễ Đăng Quang 24/4/2005
“Tới đây, tôi nghĩ về ngày 22/10/1978, ngày mà Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu thừa tác vụ của ḿnh tại Quảng Trường Thánh Phêrô đây. Những lời của ngài vào dịp ấy vẫn liên tục vang vọng trong tai tôi: ‘Đứng sợ! Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!’ Vị Giáo Hoàng này đă ngỏ cùng thành phần thế lực, thành phần quyền lực của thế giới này, những thành phần sợ rằng Chúa Kitô có thể lấy đi một cái ǵ đó khỏi quyền lực của họ nếu họ để cho Người vào, nếu họ để cho đức tin được tự do. Phải, Người chắc chắn sẽ lấy đi một cái ǵ đó khỏi họ: đó là cái thế lực hư hoại, cái mạo dụng luật lệ và tự do để làm những ǵ họ thích. Thế nhưng, Người sẽ không lấy đi bất cứ điều ǵ liên quan đến tự do và phẩm vị của con người, hay liên quan đến việc dựng xây một xă hội chân chính.
“Vị Giáo Hoàng này cũng nói điều đó với hết mọi người, nhất là giới trẻ. Không phải tất cả chúng ta đều hăi sợ một cách nào đó hay chăng? Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô hoàn toàn đi vào cuộc đời của ḿnh, nếu chúng ta trọn vẹn cởi mở bản thân ḿnh cho Người, chúng ta có sợ rằng Người có thể sẽ lấy đi khỏi chúng ta một cái ǵ đó hay chăng? Chẳng lẽ chúng ta không sợ phải từ bỏ một cái ǵ đó quan trọng, một cái ǵ đó chuyên biệt, một cái ǵ đó làm cho đời sống hết sức tuyệt vời hay sao? Như thế chẳng lẽ chúng ta lại không liều ḿnh đi đến chỗ làm suy giảm đi hay làm hụt hẫng mất cái tự do của chúng ta hay sao?
“Một lần nữa, vị Giáo Hoàng này đă nói: Không đâu! Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô đi vào cuộc sống của chúng ta th́ chúng ta chẳng những không bị mất đi một sự ǵ cả, không một sự ǵ, tuyệt đối là không có một sự ǵ, trái lại, nhờ đó c̣n làm cho cuộc của chúng ta được thanh thoát, tuyệt vời và cao cả. Không đâu! Chỉ có ở nơi mối thân t́nh này các cửa sự sống mới có thể rộng mở mà thôi. Chỉ có ở nơi t́nh nghĩa ấy khả năng cao cả của sự sống con người mới thực sự thể hiện mà thôi. Chỉ có ở trong t́nh nghĩa này chúng ta mới cảm thấy được vẻ đẹp và tự do mà thôi.
“Bởi thế, hôm nay đây, bằng quyền năng mănh liệt và bằng niềm xác tín vững chắc, căn cứ vào kinh nghiệm bản thân lâu đời của ḿnh, hỡi giới trẻ thân mến, tôi muốn nói cùng quí bạn rằng: Xin đừng sợ Chúa Kitô! Ngài không lấy đi một điều ǵ đâu, mà Người lại ban cho các bạn hết mọi sự. Khi chúng ta hiến ḿnh cho Người, chúng ta nhận lại được gấp trăm. Phải, hăy mở cửa, mở rộng cửa cho Chúa Kitô – và các bạn sẽ t́m thấy sự sống đích thực”.
Tiếp Tục chiều hướng “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần – Redemptor Hominis”
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật VII Thường Niên 19/2/2006
“Ngày nay nhân loại cũng mang những dấu hiệu tội lỗi là những ǵ ngăn trở họ nhanh chóng tiến bộ nơi những giá trị về huynh đệ, công lư và ḥa b́nh , những giá trị cũng đă được ấn định nơi những bản tuyên ngôn trang trọng. Tại sao? Cái ǵ ngăn cản đường lối của họ? Cái ǵ làm tê liệt đi việc phát triển trọn vẹn này?
“Chúng ta quá rơ là, trên b́nh diện lịch sử, những nguyên nhân th́ nhiều và vấn đề lại phức tạp. Thế nhưng, Lời Chúa mời gọi chúng ta hăy nh́n bằng đức tin và hăy tin tưởng, như thành phần khiêng người bị bất toại, con người chỉ có thể được chữa lành bởi một ḿnh Chúa Giêsu mà thôi. Ước muốn căn bản nơi các vị tiền nhiệm của tôi, nhất là của Đức Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta, đó là dẫn con người của thời đại chúng ta đến với Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc, nhờ đó, qua việc chuyển cầu của Mẹ Maria Vô Nhiễm, Người có thể chữa lành cho họ.
“Tôi cũng muốn tiến theo con đường này nữa. Nhất là, bằng bức thông điệp đầu tiên ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’, tôi muốn nói với tín hữu và toàn thế giới rằng Thiên Chúa là nguồn t́nh yêu chân thực. Chỉ có t́nh yêu Thiên Chúa mới có thể canh tân ḷng người, và chỉ khi nào con tim của nhân loại bị bất toại được chữa lành th́ họ mới có thể đứng lên bước đi mà thôi. T́nh yêu của Thiên Chúa thực sự là một quyền lực canh tân thế giới vậy”.
Tiếp Tục Loạt Bài Giáo Lư Thánh Vịnh theo chiều hướng “Duc in altum”
Buổi Triều Kiến Chung hằng tuần lần đầu tiên Thứ Tư 27/4/2005
“Tôi cảm mến nghĩ lại vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của ḿnh, vị chúng ta đă mắc nợ một di sản thiêng liêng đặc biệt. Ngài đă viết trong tông thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một Thiên Niên Kỷ rằng ‘Các cộng đồng Kitô hữu chúng ta cần phải trở thành một học đường cầu nguyện, nơi cuộc gặp gỡ Chúa Kitô được thể hiện chẳng những ở chỗ nài xin ơn giúp đỡ mà c̣n ở chỗ tạ ơn, chúc tụng, tôn thờ, chiêm ngưỡng, lắng nghe và sùng mộ, cho đến khi tâm hồn thực sự say yêu’ (số 33).
“Chính ngài đă t́m cách thực hiện những ư định đó này bằng cách cống hiến các buổi giáo lư Thứ Tư vào thời gian cuối cùng để dẫn giải về các bài Thánh Vịnh cho giờ kinh phụng vụ ban mai và chiều tối. Như ngài đă làm khi mở màn cho giáo triều của ngài, lúc ngài muốn tiếp tục những bài chia sẻ được khởi xướng bởi vị Tiền Nhiệm của ngài về các nhân đức Kitô giáo (x “Insegnamenti di Giovanni Paolo II”, I [1978], tr. 60-63), tôi cũng có ư thực hiện vào các buổi triều kiến hằng tuần tới đây việc dẫn giải đă được Đức Gioan Phaolô II dọn cho phần thứ hai của các Bài Thánh Vịnh và Ca Vịnh thuộc Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối. Từ Thứ Tư tuần tới, tôi sẽ bắt đầu vào chính bài giáo lư của ngài đă bị gián đoạn sau buổi triều kiến chung 26/1/2005”.
Bài Nói về Cuốn Phim “Karol, Một Con Người đă Trở Thành Giáo Hoàng” 19/5/2005
”Chúng
ta lại không thấy được hay sao dự án thần linh nơi sự kiện là trên Ngài Ṭa
Thánh Phêrô vị Giáo Hoàng Balan được kế vị bởi một người công dân Đức Quốc, nơi
chế độ Nazi đă củng cố ḿnh bằng tính chất cực kỳ độc hại, trước khi tấn công
láng giềng của ḿnh, nhất là Balan?
”Cả hai vị Giáo Hoàng này, trong thời c̣n trẻ, mặc dù ở hai bên khác nhau và ở
hai trường hợp khác nhau, đều bị buộc phải trải qua cái dă man mọi rợ của Thế
Chiến Thứ Hai cũng như t́nh trạng bạo lực vô nghĩa được con người và các dân tộc
sử dụng để phạm đến nhau”.
Diễn Giải Giáo Huấn của Vị Tiền Nhiệm
Cuộc Phỏng Vấn Truyền H́nh Balan về Vị Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân ngày kỷ niệm 16/10/2005
“Vị Giáo Hoàng này… để lại cho chúng ta – 14 bức thông điệp, nhiều Thư Mục Vụ, và những thứ khác. Tất cả những văn kiện này là một gia sản phong phú vẫn chưa được Giáo Hội hấp thụ hết. Sứ vụ của riêng tôi không phải là ban hành nhiều văn kiện mới mà là để bảo đảm cho việc thấm nhuần các văn kiện của ngài, v́ chúng là một kho tàng dồi dào, chúng là một thứ đích thực dẫn giải cho Công Đồng Chung Vaticanô II”.
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 năm của Đức Gioan Phaolô II
"Chúng ta hăy cảm tạ Thiên Chúa v́ Người đă ban cho Giáo Hội người tôi trung can trường này. Chúng ta hăy ca ngợi và chúc tụng Trinh Nữ Maria về việc luôn canh chừng bản thân ngài và thừa tác vụ của ngài cho lợi ích của dân Kitô giáo cũng như cho toàn thể nhân loại. Và trong lúc chúng ta hiến dâng linh hồn ưu tuyển của ngài cùng với Hy Tế cứu chuộc, chúng ta hăy xin ngài tiếp tục chuyển cầu từ trời cao cho mỗi một người chúng ta, đặc biệt là cho tôi, người đưoc Đấng Quan Pḥng kêu gọi để tiếp tục gia sản thiêng liêng vô giá của ngài. Chớ ǵ Giáo Hôi, theo giáo huấn và gương lành của ngài, trung thành tiếp tục sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của ḿnh một cách bất dung ḥa, không ngừng truyền bá t́nh yêu nhân hậu của Chúa Kitô là nguồn mạch ḥa b́nh chân thực cho toàn thế giới".
Tương Quan Phục Vụ với Vị Tiền Nhiệm
Cuộc Phỏng Vấn Truyền H́nh Balan về Vị Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân ngày kỷ niệm 16/10/2005
Sau đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn của Đài Truyền H́nh Balan Quốc (TVP: Polish State Television) nhân dịp Ngày Giáo Hoàng, một ngày đă từng được Balan cử hành vào ngày 16/10 từ 5 năm qua.
Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi vị làm đầu chương tŕnh Công Giáo của TVP là Cha Andrzej Majewski, và được thâu tại Tông Dinh Castelgandolfo để phát h́nh vào chính ngày Chúa Nhật 16/10/2005. Từ 8 giờ chiều cùng ngày này, bản văn phỏng vấn đây được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu của Đài Phát Thanh Vatican bằng nguyên ngữ Ư quốc, với các phần chuyển dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Sau đây là bản tiếng Anh được VIS gửi đi ngày Thứ Hai 17/10/2005.
Vị Lm mở đầu: Con xin cám ơn Đức Thánh Cha đă ban cho chúng con được thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn gọn này, nhân dịp Ngày Giáo Hoàng là ngày vẫn đang được cử hành ở Balan.
Vào ngày 16/10/1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyla lên làm Giáo Hoàng, và từ đó, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua hơn 26 năm, đóng vai tṛ làm vị Thừa Kế Thánh Phêrô, như Đức Thánh Cha hiện nay, đă cùng với các vị giám mục và hồng y dẫn dắt Giáo Hội. Trong số các vị hồng y này, có Đức Thánh Cha đây, người được vị tiền nhiệm của ḿnh cảm mến và trân trọng: một con người được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết trong cuốn “Đứng Lên, Nào Chúng Ta Lên Đường” – con xin được trích lại ở đây những ǵ Đức Gioan Phaolô II đă viết: “Tôi cám ơn Chúa về sự hiện diện và hỗ trợ của Hồng Y Ratzinger. Ngài là một người bạn đích thực“.
Vị Lm hỏi: Tâu Đức Thánh Cha t́nh bằng hữu này đă được bắt đầu ra sao và Đức Thánh Cha đă gặp Đức Hồng Y Karol Wojtyla khi nào?
ĐTC đáp: Bản thân tôi đă được gặp ngài trong hai cuộc Mật Nghị Hồng Y năm 1978. Thật ra tôi đă nghe về Hồng Y Wojtyla, nhất là trong việc trao đổi thư từ giữa các vị Giám Mục Balan và Đức vào năm 1965. Các vị Hồng Y Đức nói với tôi về những công lênh và đóng góp lớn lao của vị Hồng Y ở Krakow này, và ngài là hồn sống của vấn đề trao đổi thư tín lịch sử này ra sao. Tôi cũng đă nghe thấy những người bạn đại học nói đến vị thế như là một triết gia và tư tưởng gia của ngài. Thế nhưng, như tôi đă nói, tôi được đích thân gặp gỡ ngài lần đầu tiên trong cuộc Mật Nghị Hồng Y năm 1978. Tôi yêu thích ngài ngay từ lúc đầu, và có Chúa biết, tôi tuy chẳng là ǵ, vị Hồng Y này lúc ấy liền làm bạn với tôi. Tôi tri ân ngài về niềm tin tưởng ngài đặt nơi tôi. Đặc biệt là khi tôi xem ngài cầu nguyện, tôi đă thấy được và hiểu được rằng ngài là một con người của Thiên Chúa. Cái ấn tượng đầu tiên của tôi về ngài thế này: ngài là một con người sống với Thiên Chúa và sống trong Thiên Chúa. Tôi cũng cảm phục về t́nh thân ái bất thành kiến trong việc ngài làm bạn với tôi. Nhân một cơ hội khác nhau, ngài đă ngỏ lời với những cuộc mật nghị hồng ư này, và nhờ thế tôi đă được dịp cảm thấy vị thế là một tư tưởng gia của ngài. Không cần phải nói nhiều, ngài cũng đă tạo được một mối liên hệ chân thành, và ngay sau khi được chọn làm Giáo Hoàng, ngài đă gọi tôi đến Rôma một số lần để nói chuyện, rồi cuối cùng ngài đă bổ nhiệm tôi làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin.
Vị Lm hỏi: Như thế th́ việc bổ nhiệm này và việc triệu mời về Rôma ấy không có ǵ là lạ?
ĐTC đáp: Thật là khó xử đối với tôi, v́ khi tôi được làm Giám Mục Munich, bằng một cuộc long trọng thánh hiến ở vương cung thánh đường Munich, tôi cảm thấy có trách nhiệm với giáo phận này, hầu như là một cuộc thành hôn vậy. Bởi thế mà tôi cảm thấy bị ràng buộc với giáo phận ấy. Cũng có một số vấn đề chưa được giải quyết, nên tôi không muốn rời giáo phận này trong t́nh trạng như thế. Tôi đă bàn tất cả những điều ấy với Đức Thánh Cha, một cách rất thẳng thắn, và ngài tỏ ḷng rất từ phụ đối với tôi. Ngài đă cho tôi thời gian để suy nghĩ và ngài nói với tôi rằng ngài cũng muốn suy nghĩ nữa. Sau cùng, ngài đă thuyết phục tôi rằng đó là ư muốn của Chúa. Thế nên tôi đă chấp nhận lời mời gọi này và trách nhiệm trọng đại này, một trách nhiệm không dễ dàng và là một trách nhiệm vượt ngoài khả năng của tôi. Thế nhưng, tin tưởng vào tấm ḷng nhân ái từ phụ của vị Giáo Hoàng này cũng như vào sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tôi đă thưa vâng.
Vị Lm hỏi: Và cái kinh nghiệm này đă kéo dài trên 20 năm…
ĐTC đáp: Phải, tôi đă đến Rôma vào tháng 2 năm 1982 và nó đă kéo dài cho tới khi vị Giáo Hoàng này qua đời năm 2005.
Vị Lm hỏi: Trong thời gian của những cuộc gặp gỡ riêng tư của Đức Thánh Cha và những cuộc nói chuyện của Đức Thánh Cha với Đức Gioan Phaolô II, Đức Thánh Cha cảm thấy điều ǵ đặc biệt nhất? Đức Thánh Cha có thể cho chúng con biết về những lần gặp gỡ cuối cùng của Đức Thánh Cha, có thể là trong năm nay, với Đức Gioan Phaolô II hay chăng?
ĐTC đáp: Được. Tôi đă gặp ngài hai lần vào lúc cuối cùng: một lần tại Bệnh Viện Gemelli, khoảng vào ngày 5 hay 6 Tháng Hai; và lần thứ hai là ngày trước khi ngài qua đời, tại pḥng của ngài. Trong lần gặp trước, vị Giáo Hoàng này thấy được là đau đớn song hoàn toàn tỉnh táo và rất ư thức. Tôi đă đến gặp ngài để bàn hỏi về công việc, v́ tôi cần ngài quyết định mấy điều. Mặc dù bề ngoài trông có vẻ đớn đau Đức Thánh Cha ấy đă hết sức chăm chú tới những ǵ tôi nói. Ngài đă nói lên quyết định của ngài chỉ bằng mấy lời, rồi ban phép lành cho tôi. Ngài đă chào tôi bằng Đức ngữ và tỏ ra ḷng ngài tin tưởng cùng thân t́nh với tôi. Tôi rất xúc động khi thấy ngài tỏ ra chịu đựng trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô khổ đau, cũng như việc ngài chấp nhận đau đớn với Chúa và cho Chúa như thế nào. Cuộc gặp gỡ lần sau xẩy ra vào ngày trước khi ngài chết: bề ngoài ngài rất ư là đau đớn, và được các bác sĩ cùng thân hữu vây quanh. Ngài vẫn tỏ ra rất tỉnh táo và ngài đă ban phép lành cho tôi. Ngài không thể nói được nhiều nữa. Việc ngài nhẫn nại vào lúc đớn đau ấy là một bài học quí giá cho tôi: khi tôi thấy được ngài tin tưởng rằng ngài ở trong tay Chúa ra sao và ngài đă phó ḿnh cho ư định của Thiên Chúa như thế nào. Mặc dù đớn đau trông thấy, ngài vẫn b́nh thản, v́ ngài ở trong bàn tay của T́nh Yêu Thần Linh.
Vị Lm hỏi: Tâu Đức Thánh Cha, thường trong các lời lẽ của ḿnh, Đức Thánh Cha đề cao h́nh ảnh Đức Gioan Phaolô II và nói Đức Gioan Phaolô II là một vị đại Giáo Hoàng, một vị cố tiền nhiệm đáng kính. Chúng con luôn nhớ những lời Đức Thánh Cha tuyên bố ở Thánh Lễ ngày 20 tháng 4 vừa rồi, những lời quả thực là dâng kính Đức Gioan Phaolô II. Tâu Đức Thánh Cha, chính Đức Thánh Cha đă nói những lời, con xin được trích lại ở đây, là “Dường như ngài đă nắm chặt lấy tay tôi, tôi thấy được đôi mắt long lanh của ngài và nghe được những lời của ngài, những lời mà vào lúc ấy ngài đặc biệt hướng về tôi: “Đừng sợ!” Tâu Đức Thánh Cha, sau cùng là một câu hỏi hết sức riêng tư, đó là Đức Thánh Cha có tiếp tục cảm thấy sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II hay chăng, và nếu có th́ như thế nào?
ĐTC đáp: Được. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách trả lời phần đầu câu hỏi của cha. Lúc đầu, khi nói về di sản của vị Giáo Hoàng này, tôi đă quên đề cập tới nhiều văn kiện được ngài để lại cho chúng ta – 14 bức thông điệp, nhiều Thư Mục Vụ, và những thứ khác. Tất cả những văn kiện này là một gia sản phong phú vẫn chưa được Giáo Hội hấp thụ hết. Sứ vụ của riêng tôi không phải là ban hành nhiều văn kiện mới mà là để bảo đảm cho việc thấm nhuần các văn kiện của ngài, v́ chúng là một kho tàng dồi dào, chúng là một thứ đích thực dẫn giải cho Công Đồng Chung Vaticanô II. Chúng ta biết rằng vị Giáo Hoàng này là người của Công Đồng, ngài đă thấm nhuần tinh thần và ngôn từ của Công Đồng này. Qua những văn kiện ấy, ngài giúp chúng ta hiểu được những ǵ Công Đồng ấy muốn hay không muốn. Điều ấy giúp cho chúng ta trở thành một Giáo Hội của thời đại chúng ta và cho tương lai. Giờ đây đến phần thứ hai của câu cha hỏi. Vị Giáo Hoàng này luôn gần gũi tôi qua những ǵ ngài viết: Tôi nghe thấy ngài và thấy ngài nói, nhờ đó mà tôi có thể tiếp tục đối thoại với ngài. Ngài luôn nói với tôi qua những ǵ ngài viết. Thậm chí tôi biết được cả nguồn gốc của một số những văn kiện ấy. Tôi có thể nhớ đến những cuộc bàn luận chúng tôi đă có với nhau về một số trong các văn kiện này. Bởi vậy mà tôi tiếp tục đàm đạo với Đức Thánh Cha đây. Việc gần gũi này không chỉ bị hạn hẹp vào các ngôn từ và văn bản mà thôi, v́ đằng sau những bản văn ấy tôi nghe thấy chính vị Giáo Hoàng này. Một con người về với Chúa vẫn không biến mất. Tôi tin rằng một con người về với Chúa thậm chí c̣n gần gũi chúng ta hơn nữa, và tôi cảm thấy ngài gần gũi tôi và tôi gần gũi Chúa. Tôi cảm thấy gần gũi vị Giáo Hoàng này, và giờ đây ngài giúp tôi được gần gũi Chúa, và tôi cố gắng để đi vào bầu khí của nguyện cầu ấy, của ḷng mến yêu Chúa, mến yêu Đức Mẹ, và tôi kư thác cho lời nguyện cầu của ngài. Đó là một cuộc đối thoại thường xuyên và chúng tôi gần gũi nhau một cách mới mẻ, một cách sâu xa.
Nhận Định về Vị Tiền Nhiệm
Về gương sống Đức Tin của Vị Tiền Nhiệm
Huấn Dụ Thành Phần Dân Chúng ở Wadowice, Rynek Square, Thứ Bảy 27
“Tôi cảm thấy đầy xúc động ở nơi sinh trưởng này của Vị Đại Tiền Nhiệm tôi là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, nơi tỉnh mà ngài đă trải qua thời thơ ấu và thanh niên. Thật vậy, tôi không thể nào không tới Wadowice khi tôi hành hương đến Balan theo bước chân của ngài. Tôi muốn dừng lại chính địa điểm này, nơi ngài đă bắt đầu sống đức tin và trưởng thành đức tin, để cùng với tất cả anh chị em nguyện cầu cho ngài sớm được tôn vinh trên bàn thờ. Johann Wolfgang von Goethe, một đại thi hào người Đức, đă nói: ‘Ai muốn hiểu được một nhà thơ th́ cần phải đến viếng thăm quê hương của nhà thơ ấy. Điều này cũng đúng với những ai muốn hiểu được đời sống và thừa tác vụ của Đức Gioan Phaolô II; cần phải đến thành phố sinh trưởng của ngài đây. Chính ngài đă thú nhận rằng, ở nơi đây, ở Wadowice này, ‘mọi sự đă được bắt đầu: đời sống, học hành, khấu trường và linh mục’ (Wadowice, 16/6/1999).
“Đức Gioan Phaolô II, khi quay về với những thuở ban đầu của ḿnh, thường đề cập tới một dấu hiệu, đó là dấu hiệu bể rửa tội, là dấu hiệu được chính ngài đặc biệt tôn kính nơi Giáo Hội ở Wadowice. Vào năm 1979, trong chuyến hành hương đầu tiên của ngài về Balan, ngài đă nói rằng: ‘Nơi bể rửa tội này đây, vào ngày 20/6/1920, tôi đă lănh nhận ơn được làm con Thiên Chúa, cùng với đức tin vào Đấng Cứu Chuộc của tôi, và tôi đă được đón nhận vào cộng đồng Giáo Hội. Tôi đă trịnh trọng hôn bể rửa tội này vào năm mừng kỷ niệm đệ nhất thiên niên Balan được lănh nhận Phép Rửa, vào lúc tôi làm Tổng Giám Mục Kraków hồi ấy. Tôi đă hôn bể rửa tội này một lần nữa vào dịp kỷ niệm 50 năm tôi được lănh nhận bí tích thanh tẩy, lúc tôi làm Hồng Y, và hôm nay đây tôi hôn bể rửa tội này lần thứ ba, khi tôi từ Rôma trở về như Vị Thừa kế Thánh Phêrô’ (Wadowice, 7/6/1979). Dường như nơi những lời này của Đức Gioan Phaolô II có chất chứa cái then chốt để hiểu được tính cách nhất trí nơi đức tin của ngài, tính cách sâu xa nơi đời sống Kitô hữu của ngài, và ước vọng nên thánh được ngài liên tục bộc lộ. Ở đây, với ư thức sâu xa về ân sủng thần linh, về t́nh yêu vô tư của Thiên Chúa đối với loài người, mà thành phần Dự Ṭng, nhờ nước và Thánh Linh được thuộc vào số muôn vàn con cái của Ngài, thành phần được Máu Chúa Kitô cứu chuộc. Đường lối của đời sống Kitô hữu chân chính là những ǵ tương đương với ḷng trung thành thực hiện các lời hứa quyết của Phép Rửa thánh. Câu khẩu hiệu cho chuyến hành hương này là ‘Hăy đứng vững trong đức tin của anh chị em’ ở nơi đây có một chiều kích cụ thể có thể được diễn đạt bằng lời huấn dụ như thế này: ‘Hăy cương quyết tuân giữ các lời hứa quyết của phép rửa’. Một chứng nhân của chính đức tin này là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, vị được nơi chốn này nói tới một cách rất đặc biệt.
“Vị đại Tiền Nhiệm của tôi đă xác nhận là Đền Thờ Wadowice, giáo xứ quê quán của ngài, là một địa điểm đặc biệt quan hệ tới việc phát triển đời sống thiêng liêng của ngài cũng như tới ơn gọi linh mục của ngài là ơn gọi tỏ hiện nơi ngài. Có lần ngài đă nói rằng: ‘Nơi nhà thờ này, tôi đă Xưng Tội lần đầu và đă Rước Lễ lần đầu. Ở nơi đây tôi đă là một chú giúp lễ. Ở nơi đây tôi tạ ơn Chúa về tặng ân linh mục, và là Tổng Giám Mục Kraków, tôi đă cử hành 25 năm lănh nhận thiên chức linh mục. Chỉ có một ḿnh Thiên Chúa, Đấng ban phát mọi ơn lành, mới biết được những ǵ là thiện hảo và đầy những ân huệ tôi đă nhận được nơi nhà thờ này cũng như nơi cộng đồng giáo xứ này. Hôm nay tôi xin tôn vinh Ngài, Vị Thiên Chúa Ba Ngôi, ở ngưỡng cửa của ngôi nhà thờ đây’ (Wadowice, 16/6/1979). Nhà thờ là dấu hiệu của mối hiệp thông của tín hữu được liên kết nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng ngự giữa họ. Cộng động này là Giáo Hội được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu. T́nh ngài mến yêu Giáo Hội được xuất phát từ giáo xứ Wadowice đây. Nơi ngôi nhà thờ này, ngài đă cảm nghiệm được đời sống bí tích, được việc truyền bá phúc âm hóa và việc h́nh thành một đức tin chín chắn trưởng thành. Đó là lư do, là một linh mục, là một giám mục và là một Giáo Hoàng, ngài đă hết sức chăm sóc cho các cộng đồng giáo xứ. Theo tinh thần của mối quan tâm ấy, trong cuộc viếng thăm ngũ niên Ṭa Thánh, tôi đă xin các Vị Giám Mục Balan hăy làm tất cả những ǵ có thể để bảo đảm rằng giáo xứ Balan thực sự là một ‘cộng đồng giáo hội’ và là một ‘gia đ́nh Giáo Hội’.
“Để kết luận, tôi muốn nhắc lại lần nữa một đặc tính về đức tin và về linh đạo của Đức Gioan Phaolô II, một đặc tính có liên hệ với nơi chốn này. Chính ngài đă nhớ đến nhiều lần việc dân sự ở Wadowice sâu xa gắn bó với tấm ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở địa phương này và thói lệ đọc kinh hằng ngày trước tượng Mẹ của các em học sinh. Việc hồi niệm ấy giúp chúng ta tiến tới nguồn mạch của niềm xác tín đă nuôi dưỡng Đức Gioan Phaolô II – niềm xác tín liên quan tới địa vị ngoại hạng của Người Mẹ Thiên Chúa trong cuộc đời của ngài, một niềm xác tín mà chính ngài, đầy ḷng sùng mộ, đă bày tỏ qua khẩu hiệu ‘Totus tuus’. Cho đến giây phút cuối cùng trong cuộc hành tŕnh trần thế của ḿnh, ngài vẫn trung thành với việc hiến dâng này.
“Theo tinh thần của việc hiến dâng ấy, trước tấm ảnh này đây, tôi xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II, và, cũng như ngài, tôi xin Đức Mẹ hăy trông coi Giáo Hội đă được Chúa muốn trao phó cho tôi hướng dẫn. Tôi cũng xin tất cả anh chị em, anh chị em thân mến, hăy nguyện cầu cho tôi như anh chị em đă nguyện cầu cho vị đồng hương cao cả ấy của anh chị em vậy. Tận đáy ḷng của ḿnh, tôi cúc lành cho tất cả anh chị em hiện diện nơi đây hôm nay cũng như cho tất cả những ai đến Wadowice để kín múc từ cái bể tinh thần đức tin của Đức Gioan Phaolô II”.
Về gương theo Chúa của Vị Tiền Nhiệm
Bài Giảng của ĐHY Joseph Ratzinger chủ tế Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005
“Hăy theo Thày! Là một sinh viên trẻ, Karol Wojtyla say sưa với văn chương, kịch nghệ và thi ca. Làm việc ở một xưởng hóa chất, bị vây bủa và đe dọa bởi việc khủng bố của Nazi, ngài đă nghe thấy tiếng gọi của Chúa: Hăy theo Thày! Trong hoàn cảnh ngoại thường ấy, ngài đă bắt đầu đọc các sách về triết lư và thần học, rồi nhập chủng viện chui do ĐHY Sapieha thiết lập. Sau chuộc chiến, ngài đă hoàn tất việc học hành của ḿnh theo phân khoa thần học ở Đại Học Jagiellonian ở Krakow. Nhiều lần, trong thư gửi cho các linh mục hằng năm cũng như trong các tác phẩm tự truyện của ḿnh, ngài đă nói cho chúng ta biết về thiên chức linh mục của ngài, một thiên chức ngài đă được thụ phong ngày 1 tháng 11 năm 1946. Trong các bản văn này, ngài đă cắt nghĩa thiên chức linh mục của ḿnh đặc biệt liên quan tới 3 câu nói của Chúa: ‘Không phải các con đă chọn Thày, song Thày đă chọn các con. Và Thày đă sai các con đi để sinh hoa kết trái, những hoa trái lâu bền’ (Jn 15:16). Câu thứ hai là ‘Vị mục tử nhân lành bỏ sự sống ḿnh cho chiên’ (Jn 10:11). Rồi câu: ‘Như Cha đă yêu thương Thày thế nào Thày cũng yêu thương các con như vậy; hăy ở lại trong t́nh yêu của Thày’ (Jn 15:9). Nơi 3 câu nói này chúng ta thấy được tâm can và linh hồn Đức Thánh Cha của chúng ta. Ngài đă thực sự đi khắp nơi, không ngừng nghỉ, để sinh hoa trái, một thứ hoa trái lâu bền. ‘Hăy chỗi dậy, Nào chúng ta lên Đường!’ là nhan đề của cuốn sách áp cuối của ngài. ‘Hăy đứng dậy, nào chúng ta lên Đường!’ – với những lời này, ngài đă thức tỉnh chúng ta khỏi một thứ đức tin lim dim, khỏi một giấc ngủ của thành phần môn đệ hôm qua và hôm nay. ‘Hăy đứng dậy, nào chúng ta lên đường!’ ngài tiếp tục nói với chúng ta cho đến cả hôm nay đây. Đức Thánh Cha là một vị linh mục cho tới cùng, v́ ngài đă hiến dâng sự sống của ḿnh cho Thiên Chúa v́ đàn chiên của ḿnh cũng như v́ toàn thể nhân loại, bằng một cuộc tự hiến hằng ngày để phục vụ Giáo Hội, nhất là giữa những đớn đau của các tháng cuối đời. Nhờ đó, ngài được nên một với Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành đă yêu thương chiên của Người. Sau hết, ‘hăy ở lại trong t́nh yêu của Thày’: Vị Giáo Hoàng này đă cố gắng gặp gỡ hết mọi người, vị đă có khả năng tha thứ và cởi mở tâm hồn với tất cả mọi người, bằng những lời của Chúa ấy, nói với chúng ta hôm nay đây một lần nữa rằng, nhờ việc ở lại trong t́nh yêu của Chúa Kitô chúng ta học được, nơi học đường của Chúa Kitô, nghệ thuật yêu thương chân thật.
”Hăy theo Thày! Vào tháng 7 năm 1958, vị linh mục trẻ Karol Wajtyla đă bắt đầu
một giai đoạn mới trong cuộc hành tŕnh của ngài với Chúa và bước theo vết chân
của Chúa. Karol đă đi đến hồ Masuri để nghỉ hè như thường lệ, cùng với một nhóm
giới trẻ yêu thích chèo thuyền. Thế nhưng, ngài đă mang theo bên ḿnh một bức
thư mời ngài gặp vị Giáo Chủ Balan là ĐHY Wyszynski. Ngài có thể đoán được mục
đích của cuộc gặp gỡ này: đó là ngài được bổ nhiệm làm Giám Mục phụ tá ở Krakow.
Rời bỏ thế giới văn học, rời bỏ việc dấn thân thách đố với giới trẻ này, rời bỏ
nỗ lực về tri thức trong việc cố gắng hiểu biết và giải thích mầu nhiệm về tạo
vật là con người cũng như về việc truyền đạt cho thế giới ngày nay vấn đề dẫn
giải của Kitô giáo đối với con người của chúng ta – tất cả những điều ấy đối với
ngài, phải nói rằng, như mất đi chính bản thân ngài vậy, mất đi những ǵ đă trở
thành chính căn tính con người của vị linh mục trẻ này. Hăy theo Thày – Karol
Wojtyla đă chấp nhận việc bổ nhiệm ấy, v́ ngài đă nghe thấy nơi tiếng Giáo Hội
mời gọi tiếng của Chúa Kitô. Và rồi ngài đă nhận thức những lời của Chúa chân
thực biết bao: ‘Những ai cố giữ sự sống ḿnh sẽ mất nó, c̣n những ai mất sự sống
ḿnh sẽ giữ được nó’ (Lk 17:33). Vị Giáo Hoàng của chúng ta – như tất cả chúng
ta đều biết điều này là – không bao giờ muốn giữ lấy sự sống của ngài, giữ lấy
nó cho bản thân của ngài; ngài muốn hoàn toàn trao tặng bản thân ḿnh, cho đến
giây phút cuối cùng, v́ Chúa Kitô và do đó cũng v́ chúng ta nữa. Nhờ đó, ngài đă
cảm thấy được rằng hết những ǵ ngài đă hiến dâng vào bàn tay Chúa đă trở về với
ngài như thế nào một cách mới mẻ. Ḷng ngài mộ mến ngôn từ, thi ca, văn chương,
đă trở nên một phần chính yếu của sứ vụ mục vụ của ngài và cống hiến cho việc
giảng dạy Phúc Âm tính cách sinh động mới, thôi thúc mới, thu hút mới, cho dù có
là một dấu hiệu phản khắc chăng nữa.
”Hăy theo Thày! Vào tháng 10/1978, ĐHY Wojtyla, một lần nữa, đă nghe thấy tiếng
Chúa gọi. Một lần nữa, lại xẩy ra cuộc đối thoại với Thánh Phêrô được tŕnh
thuật trong bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay: ‘Simon, con Jonah, con có yêu mến Thày
hay chăng?’ Hăy chăn các chiên mẹ của Thày!’ Trước câu hỏi Chúa hỏi ‘Karol, con
có yêu mến Thày hay chăng?’, ĐTGM Krakow đă đáp lại tận đáy ḷng ḿnh rằng:
‘Chúa biết hết mọi sự; Chúa biết rằng con yêu mến Chúa’. T́nh yêu Chúa Kitôđă
động lực chính yếu nơi đời sống Đức Thánh Cha thân yêu của chúng ta. Bất cứ ai
đă từng thấy ngài cầu nguyện, những ai đă từng nghe ngài giảng, đều biết được
điều ấy. Nhờ việc ngài sống sâu xa thân mật với Chúa Kitô như thế, ngài đă có
thể mang vác một gánh nặng vượt trên khả năng thuần túy của phàm nhân: gánh nặng
làm mục tử của đàn chiên Chúa Kitô, của Giáo Hội hoàn vũ của ḿnh. Đây không
phải là lúc nói về những ǵ đặc biệt của giáo triều phong phú này. Tôi chỉ xin
đọc hai đoạn phụng vụ hôm nay nói lên những yếu tố chính yếu nơi sứ điệp của
ngài. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phêrô – và cùng với Thánh Phêrô cả vị Giáo
Hoàng này nữa – nói rằng ‘Tôi thực sự hiểu được rằng Thiên Chúa đă không tỏ ra
thiên vị, thế nhưng, nơi hết mọi dân nước, ai kính sợ Ngài và làm những ǵ chân
thực đều đáng được Ngài chấp nhận. Anh em biết rằng sứ điệp Ngài đă gửi đến cho
dân Do Thái, đó là việc rao giảng ḥa b́nh của Chúa Giêsu Kitô – Người là Chúa
của tất cả mọi người’ (Acts 10:34-36). Và trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô –
và cùng với Thánh Phaolô, vị cố Giáo Hoàng của chúng ta, đă kêu gọi chúng ta khi
kêu lên rằng: ‘Anh chị em thân mến, những người tôi yêu thương và mong đợi, là
niềm vui và là vinh dự của tôi, anh chị em hăy đứng vững như thế trong Chúa, hỡi
những người tôi quí mến’ (Phil 4:1).
”Hăy theo Thày! Kèm theo lệnh truyền chăm sóc cho đàn chiên của Người, Chúa Kitô
c̣n báo cho Phêrô rằng thánh nhân sẽ phải chịu một cái chết tử đạo. Bằng những
lời này, những lời kết thúc và tóm tắt cuộc đối thoại về ḷng mến yêu cũng như
về lệnh truyền làm chủ chiên hoàn vũ, Chúa Kitô đă nhắc lại một cuộc đối thoại
khác đă diễn ra trong Bữa Tiệc Ly. Bấy giờ Chúa Giêsu đă phán: ‘Nơi Thày đi các
con không thể nào tới được’ Thánh Phêrô thưa Người rằng: ‘Lạy Thày, Thày đi đâu
thế?’ Chúa Giêsu đáp: ‘Nơi Thày đi hiện nay con không thể nào theo Thày nổi đâu;
nhưng sau này con sẽ theo Thày’ (Jn 13:33,36). Từ Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đă
tiến tới Thập Giá, tiến tới cuộc phục sinh của Người – Người đă đi vào cuộc vượt
qua của Người; và Thánh Phêrô chưa thể nào theo được Người. Giờ đây, sau cuộc
phục sinh, thời giờ ấy đă đến, thời điểm ‘sau này’ đă đến. Bằng việc chăn dắt
đàn chiên của Chúa Kitô, Thánh Phêrô đă đi vào mầu nhiệm vượt qua, thánh nhân đă
tiến về phía thập tự giá và về cuộc phục sinh. Chúa Kitô đă nói về điều này bằng
những lời: ‘… khi con c̣n trẻ, con thường tự ḿnh thắt lưng lấy và đi đâu tùy ư
con muốn’ (Jn 21:18). Trong những năm đầu của giáo triều ḿnh, những năm c̣n trẻ
trung và đầy nhiệt huyết, Đức Thánh Cha đă đi đến tận cùng trái đất theo sự dẫn
dắt của Chúa Kitô. Thế nhưng sau đó, ngài càng ngày càng đi sâu vào cuộc hiệp
thông khổ đau với Chúa Kitô; càng hiểu được sự thật của những lời này: ‘Người ta
sẽ thắt lưng cho con’. Và trong chính cuộc hiệp thông đau khổ này với Chúa Kitô
một cách liên tục và càng gia tăng hơn, ngài đă loan báo Phúc Âm, loan báo mầu
nhiệm về một t́nh yêu thương cho đến cùng tận (x Jn 13:1)”.
Về gương mục vụ của Vị Tiền Nhiệm
Trong năm 2005, ĐTC Biển Đức XVI đă gặp gỡ hai đợt các Vị Giám Mục Balan nhân dịp các vị viếng thăm Ṭa Thánh Ngũ Niên, đợt nhất và ngày 26/11 và đợt hai vào ngày 3/12.
Với các vị Giám Mục Balan đợt 2, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến vấn đề tân truyền bá phúc âm hóa theo chiều hướng của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ở bài ngài giảng trong lần về thăm quê hương đầu tiên của ngài (cf. Homily, Nowa Huta, No. 3, June 9, 1979; L'Osservatore Romano, English edition [ORE], July 16, p. 11):
“Từ Cây Thập Giá ở Nowa Huta xuất phát cuộc tân truyền bá phúc âm hóa, một cuộc truyền bá phúc âm hóa của thiên kỷ thứ hai. Giáo Hội này là chứng nhân và là khẳng định cho việc này. Nó xuất phát từ một đức tin sống động ư thức và Giáo Hội cần phải tiếp tục phục vụ đức tin. Việc truyền bá phúc âm hóa cho tân thiên niên kỷ cần phải qui chiếu về giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II. Như Công Đồng dạy, nó cần phải là việc chung của các vị giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân, của thành phần cha mẹ và giới trẻ.
“Vào lúc ấy, đây là một trong những Lên Tiếng Kêu Gọi đầu tiên, nếu không muốn nói là tiên khởi, của vị đại tiền nhiệm của tôi về đề tài tân truyền bá phúc âm hóa. Ngài nói về đệ nhị thiên kỷ, nhưng chắc chắn là ngài bấy giờ đang nghĩ tới đệ tam thiên kỷ.
“Dưới sự hướng dẫn của ngài, chúng ta đă tiến vào tân thiên kỷ Kitô Giáo, càng ư thức hơn về cái hợp thời của lời ngài kêu gọi thực hiện việc tân truyền bá phúc âm hóa. Với những lời ngắn ngủi này ngài đă nêu lên mục đích cần phải nhắm tới, đó là phục hồi một đức tin ‘sống động, ư thức và hữu trách’. Sau đó ngài nói rằng đó là công việc chung của các vị giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân.
“Hôm nay tôi muốn chia sẻ về đề tài này với an hem, hỡi chư huynh thân mến. Chúng ta biết rơ là nhân vật chính có trách nhiệm với công việc tân truyền bá phúc âm hóa là giám mục, thành phần gánh vác ‘tria munera’ là ngôn sứ, tư tế và mục vụ.
“Trong cuốn sách của ḿnh, ‘Hăy Đứng Lên, Nào Chúng Ta Lên Đường!’ và đặc biệt là ở các chương ‘Vị Mục Tử’, ‘Ta Biết Chiên Ta’ và ‘Việc Ban Phát Các Bí Tích’, Đức Gioan Phaolô II đă phác họa cuộc hành tŕnh của thừa tác vụ giáo phẩm theo kinh nghiệm của ngài, nhờ đó, thừa tác vụ này có thể mang lại hoa trái.
“Chúng ta không cần đề cập đến ở đây diễn tiến của những ǵ ngài chia sẻ. Tất cả chúng ta đều cần tới cái gia sản ngài đă để lại cho chúng ta và có thể rút tỉa dồi dào từ chứng từ của ngài. Chớ ǵ ngài là mô phạm cho chúng ta và chớ ǵ cảm quan của ngài về trách nhiệm đối với Giáo Hội cũng như đối với tín hữu được trao phó cho việc chăm sóc của giám mục trở thành niềm phấn khích cho chúng ta.
“Theo sự hướng dẫn của ngài, chúng ta đă tiến vào ngàn năm mới Kitô giáo, với ư thức về tính cách hiệu năng liên lỉ của lời ngài kêu gọi hăy thực hiện việc tân truyền bá phúc âm hóa”.
Căn cứ vào kinh nghiệm của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II người Balan này, những kinh nghiệm được ngài chia sẻ trong cuốn “Đứng lên, nào chúng ta đi” ấy, tác phẩm được xuất bản nhân dịp mừng 40 năm làm giám mục của ngài, vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nhắn nhủ các vị Giám Mục Balan về nhiệm vụ và tinh thần của các vị đối với hàng linh mục của ḿnh, nhất là việc huấn luyện cho thành phần chủng sinh, đối với thành phần tu sĩ nam nữ và đối với giáo dân.
Nói về thái độ của vị giám mục với hàng giáo sĩ của ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức đă trích lại lời của Đức Gioan Phaolô II đă viết trong tác phẩm trên như sau:
“Bằng lối sống của ḿnh, vị giám mục cho thấy rằng Chúa Kitô ‘là Mô Phạm’ vẫn sống và hằng nói với chúng ta hôm nay đây. Người ta có thể nói rằng một giáo phận phản ảnh lối sống của vị giám mục của ḿnh.
“Các nhân đức của ngài – trong sạch, tinh thần nghèo khó và cầu nguyện, ḷng chân thành, cảm thức lương tâm – có thể nói được ghi khắc trong tâm hồn của các linh mục thuộc về ngài. Về phần ḿnh, họ sẽ chuyển đạt những giá trị ấy cho thành phần tín hữu họ chăm sóc, và nhờ đó giới trẻ sẽ được dẫn dắt đến chỗ đáp ứng quảng đại lời kêu gọi của Chúa Kitô” ("Rise, Let Us Be on Our Way!", Paulines Publications Africa, 2004, p. 129).
Nói về thái độ của vị giám mục với đời sống tu tŕ nam nữ trong giáo phận của ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức cũng đă trích lại lời của Đức Gioan Phaolô II viết trong tác phẩm trên như sau:
“Các ḍng tu không bao giờ khiến tôi phải lo lắng, và việc tôi liên hệ với tất cả các ḍng tu này đều rất tốt đẹp. Họ gíup tôi rất nhiều trong sứ vụ làm giám mục. Tôi cũng nghĩ tới cả các nguồn lực thiêng liêng bị lớn lao ở các ḍng tu chiêm niệm nữa” (ibid., p. 120).
Nói về thái độ của vị giám mục với thành phần giáo dân trong giáo phận của
ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức cũng đă trích lại lời của Đức Gioan Phaolô II viết
trong tác phẩm trên như sau:
“Những lời của vị đại tiền nhiệm của tôi dẫn chúng ta tới chỗ suy nghĩ về vai tṛ của thành phần giáo dân nơi công cuộc truyền bá phúc âm hóa: ‘Giáo dân có thể hoàn thành ơn gọi thích hợp của ḿnh nơi trần thế và nên thánh chẳng những bằng việc chủ động tham gia giúp đỡ thành phần nghèo nàn và thiếu thốn, mà c̣n bằng việc làm cho xă hội thấm nhuần tinh thần Kitô Giáo khi họ thi hành các nhiệm vụ chuyên môn của họ và cống hiến một gương mẫu của đời sống gia đ́nh Kitô Giáo’ ("Rise, Let Us," p. 115).
“Vào những thời điểm khi mà Đức Gioan Phaolô II viết: ‘Văn hóa Âu Châu hiện lên như một thứ ‘âm thầm bỏ đạo’ nơi một thành phần dân chúng chủ trương có tất cả những ǵ họ cần và họ sống như thể không có Thiên Chúa’ ("Ecclesia in Europa," No. 9), Giáo Hội không bao giờ thôi loan báo cho thế giới biết rằng Chúa Giêsu Kitô là niềm hy vọng của ḿnh. Nơi công việc này, vai tṛ của giáo dân là những ǵ bất khả hoán vị. Chứng từ đức tin của họ đặc biệt trở thành sống động và hiệu nghiệm v́ nó xuất phát từ thực tại thường nhật và ở những lănh vực linh mục khó ḷng mà tới được”.
Về
gương chịu khổ của Vị Tiền Nhiệm
Bài Giảng của ĐHY Joseph Ratzinger chủ tế Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005
“Không ai trong chúng ta có thể quên được cảnh tượng diễn ra hôm Chúa Nhật Phục Sinh vừa rồi trong cuộc đời của ngài, Đức Thánh Cha, đầy những đớn đau, lại tiến đến cửa sổ Tông Dinh của ḿnh để ban phép lành ‘urbi et orbi – cho thành Rôma và cho thế giới’ một lần cuối cùng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta hôm nay đang đứng ở cửa sổ pḥng của một Người Cha, ngài đang trông thấy chúng ta và ban phép lành cho chúng ta. Vâng, xin hăy ban phép lành cho chúng con, Đức Thánh Cha ơi. Chúng con xin dâng phú linh hồn yêu dấu của cha cho Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ của cha, Vị đă hướng dẫn cha từng ngày và là vị giờ đây dẫn cha đến vinh quang đời đời của Con Mẹ là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen”.
Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005
“Tâm hồn chúng ta ngập tràn niềm vui xuất phát từ việc nhận thức này, chúng ta hăy nghĩ lại những biến cố trong năm đang tới lúc kết thúc đây. Chúng ta thấy quá khứ của chúng ta những biến cố lớn lao là những ǵ đă lưu lại dấu vết sâu đậm nơi đời sống của Giáo Hội. Trước hết và trên hết, tôi đang nghĩ tới việc ra đi của Đức Thánh Cha yêu dấu của chúng ta là Gioan Phaolô II, một cuộc ra đi được mở màn bằng một giai đoạn dài đớn đau rồi dần dần mất tiếng nói. Không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đă để lại cho chúng ta một số lượng văn bản như ngài đă lưu lại cho chúng ta; không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đă có thể viếng thăm toàn thế giới và trực tiếp nói với dân chúng ở tất cả mọi châu lục.
“Thế mà, cuối cùng, số phận của ngài là một cuộc hành tŕnh đau thương và câm nín. Chúng ta không thể nào quên được những h́nh ảnh Chúa Nhật Lễ Lá, lúc mà, cầm trong tay cành cây dầu và cảm thấy đớn đau, ngài đă tiến đến cửa sổ để Ban Phép Lành của Chúa như chính bản thân ngài sắp sửa bước tới cây Thập Tự Giá.
“Sau đó là cảnh ở trong Nguyện Đường Riêng của ngài, lúc mà, cầm Thánh Giá trong tay, ngài tham dự Đường Thánh Giá bấy giờ đang diễn tiến ở Hí Trường Colosseum, nơi ngài rất hay thường vác Thập Giá dẫn đầu đoàn người diễn hành theo sau.
“Sau hết là Phép Lành âm thầm của ngài hôm Chúa Nhật Phục Sinh, nơi phép lành âm thầm này chúng ta đă thấy niềm hứa hẹn của cuộc Phục Sinh, của sự sống đời đời, rạng ngời tỏa sáng qua tất cả mọi nỗi đớn đau của ngài. Bằng cả lời nói và hành động, Đức Thánh Cha đă cống hiến cho chúng ta rất nhiều điều cao cả; bài học này cũng không kém phần quan trọng được ngài ban cho chúng ta từ ngai ṭa khổ đau và câm nín”.
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 2/4/2006 kỷ niệm đúng một năm băng hà của vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II
“Vào ngày 2/4 năm ngoái, một ngày như hôm nay đây, Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta đă sống vào những giờ phút như thế này đoạn hành tŕnh cuối cùng của đời ngài, một cuộc hành tŕnh đức tin, đức mến và đức cậy, một cuộc hành tŕnh đă để lại một nét đậm nơi lịch sủa Giáo Hội cũng như của nhân loại. Cuộc khổ nạn và cái chết của ngài giống như một giai đoạn kéo dài của Tam Nhật Phục Sinh.
“Tất cả chúng ta vẫn c̣n nhớ các h́nh ảnh về cuộc Đi Đường Thánh Giá cuối cùng của ngài hôm Thứ Sáu Tuần Thánh: V́ không đến được Hí Trường Colosseum, ngài đă theo dơi đường thánh giá từ nguyện đường riêng của ngài, tay ôm cây thập giá. Thế rồi, vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngài đă ban phép lành ‘urbi et orbi’, song không thể nói lên lời nào, mà chỉ lấy tay ra dấu mà thôi. Đó là một phép lành đớn đau và cảm kích được ngài lưu lại cho chúng ta như chứng từ cao cả nhất về việc ngài cương quyết hoàn thành sứ vụ của ngài cho tới cùng.
“Đức Gioan Phaolô II đă chết như ngài đă sống, đă sinh động bằng một đức tin can trường bất khả lịm, phó ḿnh cho Thiên Chúa và nương thân vào Mẹ Maria Rất Thánh. Chúng ta sẽ tưởng nhớ đến ngài đêm nay bằng một đêm canh thức nguyện cầu Thánh Mẫu ở Quảng Trường Thánh Phêrô là nơi ngày mai tôi sẽ cử hành Thánh Lễ cầu cho ngài…
“Trong những năm cuối cùng của ngài, Chúa đă dần dần tước lột ngài khỏi tất cả mọi sự, để làm cho ngài hoàn toàn nên giống Người. Và khi ngài không c̣n tông du được nữa, sau đó thậm chí không c̣n bước đi được nữa, sau cùng đến nỗi không c̣n nói được nữa, th́ cử chỉ của ngài, việc loan báo của ngài được biến thành những ǵ thiết yếu, đó là việc ban tặng bản thân ḿnh cho đến cùng.
“Cái chết của ngài là việc hoàn tất một chứng từ đức tin tha thiết, một chứng từ đă đánh động tâm can của nhiều người thiện chí. Đức Gioan Phaolô II đă bỏ chúng ta mà đi vào ngày Thứ Bảy, ngày đặc biệt được giành kính Mẹ Maria, Vị ngài luôn tỏ ra sùng ái với t́nh con thảo. Giờ đây chúng ta nguyện cầu cùng Người Mẹ trên trời của Thiên Chúa để Mẹ giúp chúng ta trân quí tất cả những ǵ được vị đại Giáo Hoàng này đă ban cho chúng ta và dạy dỗ chúng ta”.
Huấn Từ kết thúc Đêm Canh Thức Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời 2/4/2006
“Một năm đă qua từ biến cố băng hà của Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, một biến cố đă xẩy ra hầu như vào đúng giờ này – 9 giờ 37 phút tối – thế nhưng việc tưởng nhớ đến ngài vẫn tiếp tục đặc biệt sống động, như được chứng thực qua nhiều nghi thức được thực hiện trong những ngày này trên khắp thế giới. Ngài tiếp tục hiện diện trong trí khôn của chúng ta và trong tâm can của chúng ta. Ngài tiếp tục thông đạt cho chúng ta t́nh ngài mến yêu Thiên Chúa và ḷng ngài mến thương con người; ngài tiếp tục tác động nơi tất cả mọi người, nhất là giới trẻ, ḷng nhiệt thành t́m kiếm sự thiện và ḷng can đảm theo Chúa Giêsu cùng giáo huấn của Người.
“Làm sao để có thể tóm lược được cái chứng từ phúc âm ấy của vị đại Giáo Hoàng này đây? Tôi cố gắng tóm lược lại bằng hai từ ngữ, đó là ‘trung thành’ và ‘dấn thân’. Hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa và dứt khoát dấn thân cho sứ vụ làm mục tử của Giáo Hội hoàn vũ. Ḷng trung thành và việc dấn thân thậm chí trở nên sống động và cảm kích hơn nữa trong những tháng cuối đời của ngài, khi ngài thể hiện bản thân ḿnh những ǵ ngài viết vào năm 1984 trong tông thư ‘Salvifici Doloris’: ‘Khổ đau đang hiện diện trên thế giới để phát tỏa yêu thương, để hạ sinh những công cuộc yêu thương đối với tha nhân, để biến đổi toàn thể văn minh con người thành một thứ ‘văn minh yêu thương’ (đoạn 30).
“Với gương mặt can trường, bệnh nạn của ngài đă làm cho mọi người chú trọng tới nỗi đớn đau của con người hơn, tới tất cả nỗi khổ đau về thể lư và tinh thần; ngài cống hiến cho khổ đau cái phẩm vị và giá trị, cho thấy rằng cái giá trị của con người không phải ở cái hiệu năng của họ hay dáng vẻ bề ngoài của họ, mà là ở trong chính bản thân họ, v́ họ đă được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương.
“Bằng lời nói và cử chỉ của ḿnh, Đức Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta không thôi chỉ cho thế giới thấy rằng nếu con người để cho Chúa Kitô chiếm đoạt th́ nó không làm hư hao đi cái phong phú của nhân tính ḿnh; nếu họ kính mến Người hết ḷng th́ sẽ không thiếu thốn ǵ hết. Trái lại, việc gặp gỡ Chúa Kitô làm cho đời sống của chúng ta trở thành phấn khởi hơn.
“Chính v́ ngài đă lôi kéo chúng ta đến gần với Thiên Chúa hơn bằng nguyện cầu, bằng chiêm niệm, bằng ḷng yêu chuộng Chân và Mỹ, mà Vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta đây biến ḿnh thành một kẻ đồng hành với mỗi người chúng ta và có thế giá để thậm chí nói với cả những ai xa cách đức tin Kitô Giáo.
“Nhân dịp đệ nhất chu niên việc ngài về Nhà Cha, tối nay chúng ta được mời gọi để tiếp tục lại cái di sản thiêng liêng ngài để lại cho chúng ta. Ngài phấn khích chúng ta hăy sống Sự Thật không ngừng t́m kiếm, v́ chỉ có duy sự thật này mới có thể thỏa măn tâm can của chúng ta mà thôi. Ngài khuyến khích chúng ta đừng sợ theo Chúa Kitô để loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi người, một phúc âm là men cho một nhân loại huynh đệ và đoàn kết hơn.
“Chớ ǵ Đức Gioan Phaolô II từ trời cao giúp chúng ta tiếp tục cuộc hành tŕnh của chúng ta, là những người môn đệ dễ dạy của Chúa Giêsu, để, như Người thích nói với giới trẻ, trở thành ‘lính canh hừng đông’ ở đầu đệ tam thiên kỷ Kitô Giáo này. V́ thế, chúng ta hăy cầu xin cùng Mẹ Maria, Người Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, Vị mà ngài lúc nào cũng tỏ ḷng sùng ái”.
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 năm của Đức Gioan Phaolô II
"Trong việc suy tư cảm kích này, những bài đọc Thánh Kinh vừa được công bố là những ǵ hướng dẫn chúng ta: 'Đừng sợ' (Mt 28:5). Những lời của vị thiên thần của biến cố Phục Sinh này đă ngỏ cùng những người phụ nữ trước ngôi mộ trống mà chúng ta vừa nghe đă trở nên một mẫu tâm niệm trên môi miệng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, từ những giây phút long trọng khởi đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài. Ngài đă lập lại những lời ấy vào các trường hợp khác nhau với Giáo Hội cũng như với thế giới trong cuộc hành tŕnh tiến tới năm 2000, và sau khi đă trải qua thời điểm lịch sử đó, cũng như sau này, vào lúc mở màn cho một tân thiên kỷ. Ngài đă luôn luôn nói đến những lời này một cách vững mạnh, đầu tiên bằng việc giơ chiếc cậy được đính thập giá của ngài lên, và sau đó, khi sức lực của ngài bị yếu kém đi, ngài đă gắn liền với cậy gậy thập giá này, cho đến Ngày Thứ Sáu cuối cùng, một ngày mà ngài đă tham dự Đường Thánh Giá ở nguyện đường riêng của ngài, bằng hai cánh tay ôm lấy cây thập tự giá.
"Chúng ta không thể nào quên được chứng từ yêu mến Chúa Giêsu của ngài cuối cùng thầm lặng ấy. Cảnh tượng hùng hồn của khổ đau nhân loại với niềm tin tưởng này, trong Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy, cũng cho tín hữu cùng thế giới thấy cái bí quyết sống của hết mọi cuộc đời Kitô hữu. Cái 'đừng sợ' ấy không phải là những ǵ dựa vào sức lực của loài người, cũng như vào những thành đạt chiếm đươc, trái lại, chỉ vào lời Chúa, vào thập giá và vào việc phục sinh của Chúa Kitô. Nơi mức độ mà ngài bấy giờ bị tước lột hết mọi sự, cuối cùng, cho đến chính cả những lời nói của ngài nữa, th́ việc hoàn toàn phó ḿnh cho Chúa Kitô của ngài lại càng được sáng tỏ.
"Như đă xẩy ra cho Chúa Giêsu, cũng xẩy ra nơi trường hợp của Đức Gioan Phaolô
II, những lời thốt ra vào lúc tận tuyệt của hy tế tối hậu, của việc trao tặng
bản thân ḿnh. Và cái chết là ấn tín của một cuộc sống hoàn toàn hiến dâng cho
Chúa Kitô, nên giống ngài thậm chí về cả thể lư với những đặc tính khổ đau và
hoàn toàn phó ḿnh vào tay Cha trên trời. ‘Nào tôi đi về nhà Cha’, những
lời này – được những ai ở bên cạnh ngài bấy giờ cho biết – là những lời cuối
cùng của ngài, lời hoàn thành của một cuộc sống hoàn toàn hướng về việc nhận
biết và chiêm ngưỡng dung nhan Chúa".
Về tác dụng từ cái chết của vị tiền nhiệm
Sứ Điệp đầu tiên ngỏ cùng Hồng Y Đoàn 20/4/2005
“Quí Huynh thân mến, việc nhận thức sâu xa về tặng ân của t́nh thương Chúa đă chiếm đoạt tâm hồn tôi bất chấp tất cả mọi sự. Tôi coi đây là ân huệ mà vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Gioan Phaolô II đă chiếm được cho tôi. Tôi dường như có thể cảm thấy là bàn tay mạnh mẻ của ngài đang xoắn chặt lấy tay tôi; tôi dường như thấy được ánh mắt tươi vui và nghe được tiếng của ngài ngỏ cùng tôi nhất là vào lúc này rằng: ‘Đừng sợ!’
“Cái chết của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và những ngày sau đó, đối với Giáo
Hội cũng như toàn thế giới là một thời điểm đặc biệt ân sủng. Nỗi đớn đau cả thể
về cái chết của ngài cùng cái trống không lưu lại nơi tất cả chúng ta đă được
tôi luyện bởi tác động của Chúa Kitô Phục Sinh, một tác động, trong những ngày
dài này, được tỏ hiện nơi một triều sóng tin tưởng, yêu thương và đoàn kết
thiêng liêng, những ǵ đă lên đến tuyệt đỉnh vào lễ an táng trọng thể của ngài.
“Chúng ta có thể nói rằng, lễ an táng của Đức Gioan Phaolô II thực sự là một cảm
nghiệm phi thường về những ǵ tỏ ra cho thấy một cách nào đó quyền năng của
Thiên Chúa là Đấng, qua Giáo Hội của Ngài, muốn h́nh thành một đại gia đ́nh bao
gồm tất cả mọi dân tộc, bằng quyền lực liên kết của Sự Thật và Yêu Thương. Trong
giờ lâm chung, giống như Sư Phụ và Chúa của ḿnh, Đức Gioan Phaolô II đă tôn
vinh giáo triều lâu dài và thành công của ḿnh, bằng việc củng cố dân Kitô giáo
trong đức tin, qui tụ họ lại bên ngài và làm cho cả nhân loại cảm thấy liên kết
với nhau hơn.
“Làm sao người ta không cảm thấy được vững mạnh trước chứng từ ấy? Làm sao người
ta không cảm thấy phấn khởi bắt nguồn từ biến cố ân sủng này?........
“Đặc biệt trước mặt của tôi là chứng từ của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài để
lại cho chúng ta một Giáo Hội cường tráng hơn, tư do hơn và trẻ trung hơn. Một
Giáo Hội mà, theo giáo huấn và gương mẫu của ngài, b́nh tâm nh́n lại quá khứ và
không sợ hướng đến tương lai. Qua Đại Năm Thánh 2000, Giáo Hội đă được dẫn vào
ngàn năm mới, nắm trong tay Phúc Âm, Phúc Âm được áp dụng cho thế giới qua việc
đọc lại một cách tường tận Công Đồng Chung Vaticanô II. Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II có lư để nhấn mạnh rằng Công Đồng này như là một ‘la bàn’ được sử dụng
để chúng ta lèo lái trên đại dương bao la của ngàn năm thứ ba. Trong di chúc thư
thiêng liêng của ḿnh, ngài c̣n nhận định là: ‘Tôi tin rằng, cho đến một thời
gian rất dài, các thế hệ mới sẽ kín múc lấy từ kho tàng được công đồng của thế
kỷ 20 ấy để cống hiến cho chúng ta’………
“Vào lúc này đây, kư ức của tôi nhớ lại cảm nghiệm không thể nào quên được tất cả chúng ta đă trải qua với cái chết và lễ an táng cho Đức Gioan Phaolô II tiếc thương. Quanh thi thể của ngài, nằm trên mặt đất trống, các vị lănh đạo chư quốc đă qui tụ lại, cùng với dân chúng thuộc tất cả mọi giai cấp xă hội, nhất là giới trẻ, để tỏ ḷng măi măi gắn bó quí mến và ca ngợi ngài. Toàn thể thế giới đă tin tưởng nh́n vào ngài. Đối với nhiều người th́ việc tham dự đông đảo này, một cuộc tham dự được các phương tiện truyền thông phóng đại đến cả những nơi xa xôi của hành tinh này, như thể là việc nhân loại văn minh tân tiến, một nhân loại bị hoang mang sợ hăi và bất ổn, đang tự hỏi ḿnh về tương lai, muốn đồng thanh yêu cầu vị Giáo Hoàng này giúp đỡ”.
Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005
“Việc đáp ứng xẩy ra khắp thế giới trước cái chết của vị Giáo Hoàng này là việc hết ḷng bày tỏ ḷng tri ân về sự kiện là ngài đă hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa v́ thế giới khi thi hành thừa tác vụ của ngài; một lời tạ ơn cho sự kiện là trong một thế giới đầy hận thù và bạo lực này, ngài đă dạy một cách mới mẻ t́nh yêu thương và khổ đau trong việc phục vụ tha nhân; có thể nói ngài đă tỏ cho chúng ta thấy trong xác thịt Đấng Cứu Chuộc, việc cứu chuộc, và đă cống hiến cho chúng ta niềm tin tưởng rằng, thật ra sự dữ không phải là phán quyết tối hậu trên thế gian này”.
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 năm của Đức Gioan Phaolô II
"Ngày 2/4 đă trở nên sâu đậm trong kư ức của Giáo Hội như là ngày của Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II chào biệt thế giới này. Chúng ta hăy sống lại cảm xúc của những giờ phút buổi chiều Thứ Bảy hôm ấy, khi mà tin tức của việc ngài qua đời được nghe thấy bởi một đám rất đông dân chúng đang nguyện cầu đầy ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Trong ṿng có ít ngày mà Đền Thờ Vatican và Quảng Trường này đă thực sự trở nên tâm điểm của thế giới. Một gịng người hành hương liên tục tuôn đến kính viếng thi hài của vị Giáo Hoàng đáng kính và lễ an táng của ngài là một chứng từ cuối cùng cho thấy ḷng quí mến và cảm mến ngai đă chiếm được nơi tâm linh của rất nhiều tín hữu và dân chúng ở khắp cùng trái đất".
Về Niềm Tin nơi Ḷng Thương Xót Chúa của Vị Tiền Nhiệm
Bài Giảng của ĐHY Joseph Ratzinger chủ tế Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005
“Ngài đă giải thích cho chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của ḷng thương xót Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của ḿnh, ngài đă viết: Cái giới hạn áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Ḷng Thương Xót Chúa’ (Hồi Niệm và Căn Tính, trang 60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống ngài bị cố sát, ngài đă nói: ‘Trong việc hy hiến ḿnh cho tất cả chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu thương… Chính cái đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu thương và rút ran gay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’ (cùng nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhăn quan ấy, vị Giáo Hoàng này đă chịu đựng khổ đau và đă yêu qúi việc hiệp thông với Chúa Kitô, nên đó là lư do tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc thinh lặng của ngài là những ǵ thất là sống động và hiệu năng.
”Ḷng Thương Xót Chúa: Đức Thánh Cha đă thấy được cái phản ảnh thuần khiết nhất
của t́nh thương Thiên Chúa nơi Người Mẹ Thiên Chúa. Ngài là người đă mồ côi mẹ
từ nhỏ đă càng tỏ ra kính mến người mẹ thần linh này hơn nữa. Ngài đă nghe thấy
những lời của Chúa Kitô tử giá như là lời nói với riêng ngài: ‘Này là Mẹ của
con’. Bởi thế, ngài thực hiện như người môn đệ yêu dấu đă làm, đó là ngài đă đem
Mẹ về nhà của ngài (eis ta idia: Jn 19:27) – ‘Totus Tuus – tất cả của con là của
Mẹ’. Và từ người mẹ này, ngài đă học nên giống Chúa Kitô”.
Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005
“Trong cuốn sách cuối cùng của ngài là ‘Hồi Niệm và Căn Tính’ (Weidenfeld and Nicolson, 2005), ngài đă để lại cho chúng ta một dẫn giải về khổ đau không phải là một thuyết về thần học hay triết lư mà là một hoa trái chín mùi qua cuộc hành tŕnh khổ đau của bản thân ngài, một cuộc hành tŕnh khổ đau ngài đă quyết chịu bằng niềm tin tưởng vào Vị Chúa tử giá. Lời dẫn giải này, một việc dẫn giải được ngài khai triển bởi đức tin và là việc dẫn giải mang lại ư nghĩa cho khổ đau của ngài, một khổ đau được ngài chấp nhận trong mối hiệp thông với nỗi khổ đau của Chúa, là việc dẫn giải đă được vang lên qua thái độ âm thầm chịu đựng của ngài, khi ngài biến việc chịu đựng này thành một sứ điệp quan trọng.
“Cả ở phần mở đầu và lập lại một lần nữa ở cuối cuốn sách được đề cập tới trên đây, vị Giáo Hoàng này đă cho thấy rằng ngài cảm thấy rất thấm thía trước cảnh tượng diễn ra của quyền lực sự dữ, một quyền lực sự dữ chúng ta đă trải qua một cách thê thảm trong thế kỷ vừa chấm dứt. Ngài nói trong cuốn sách này rằng: “Sự dữ… không phải là một thứ sự dữ có tầm mức nhỏ hẹp… Nó là một sự dữ có những tầm vóc khổng lồ, một sự dữ được tổ chức đáng hoàng để thực hiện hoạt động gian ác của nó, một sự dữ trở thành một cơ cấu (trang 189).
“Phải chăng sự dữ là những ǵ bất khả thắng? Phải chăng nó là một quyền năng tối hậu của lịch sử?” V́ kinh nghiệm về sự dữ, mà đối với Giáo Hoàng Wojtyla, vấn đề cứu chuộc đă trở thành thiết yếu và là vấn đề trọng yếu trong đời sống của ngài và được suy tưởng như là một Kitô hữu. Có một giới hạn nào đó chống lại những ǵ bị quyền lực sự dữ này hủy hoại hay chăng? “Có đấy”, vị Giáo Hoàng này đă trả lời trong cuốn sách này của ngài cũng như trong Thông Điệp về việc cứu chuộc của ngài.
“Quyền năng hạn chế sự dữ này là Ḷng Thương Xót Chúa. Bạo lực, h́nh thức thể hiện của sự dữ, bị Ḷng Thương Xót Chúa chống lại trong gịng lịch sử. Chúng ta có thể nói theo Sách Khải Huyền là Con Chiên mạnh hơn con rồng.
“Ở cuối cuốn sách, bằng việc ôn lại quá khứ về cuộc tấn công vào ngày 13/5/1981, và dựa vào căn bản của kinh nghiệm nơi cuộc hành tŕnh của ngài với Thiên Chúa cũng như với thế giới, Đức Gioan Phaolô II c̣n giải đáp vấn đề này một cách sâu xa hơn nữa.
“Cái hạn chế quyền lực sự dữ, cái quyền lực chế ngự nó, theo cách ngài nói, đó là nỗi khổ đau của Thiên Chúa, nỗi khổ đau của Người Con Thiên Chúa trên Thập Tự Giá: ‘Nỗi khổ đau của Vị Thiên Chúa Tử Giá không phải chỉ là một h́nh thức khổ đau duy nhất trong số những h́nh thức khổ đau khác…. Bằng việc hy sinh bản thân ḿnh v́ tất cả chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một tầm vóc mới, đó là tầm vóc yêu thương…. Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên Thập Giá là những ǵ cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa hoàn toàn mới mẻ, biến đổi nó tự bản chất… Chính cái đau khổ này thiêu đốt và làm tiêu hao đi sự dữ, bằng ngọn lửa yêu thương…. Tất cả khổ đau của loài người, tất cả mọi đớn đau, tất cả mọi yếu đuối bạc nhược đều chất chứa nơi ḿnh một hứa hẹn cứu độ; …. Sự dữ hiện diện trên thế giới một phần là để khơi động lên ḷng yêu thương trong chúng ta, một t́nh yêu trao hiến bản thân ḿnh trong việc phục vụ cách quảng đại và vô tư những ai bị khổ đau dằn vặt… Chúa Kitô đă cứu thế giới: “Chúng ta đă được chữa lành nhờ những vết thương của Người’ (Is 53:5)” (trang 189 và sau đó).
“Tất cả những điều này không phải chỉ là một thứ thuần kiến thức về thần học, mà là một bày tỏ của một đức tin sống động và trưởng thành qua đau khổ. Chắc chắn là chúng ta cần phải làm mọi sự có thể để giảm bớt khổ đau và ngăn ngừa t́nh trạng bất công là những ǵ gây cho thành phần vô tội khổ đau. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải làm mọi sự trong tầm tay để con người có thể khám phá ra ư nghĩa của khổ đau, nhờ đó, họ biết chấp nhận khổ đau của họ và liên kết nó với khổ đau của Chúa Kitô.
“Có thế, nó mới ḥa nhập với t́nh yêu thương cứu chuộc và nhờ vậy trở thành một quyền năng chống lại sự dữ trên thế giới này”.
Bài Giảng cho Giáo Xứ "DIO PADRE
MISERICORDIOSO" trong Cuộc Viếng Thăm Mục Vụ Chúa Nhật IV Mùa Chay 26/3/2006
“Khi suy niệm đến t́nh thương của Chúa, một t́nh
thương được tỏ hiện một cách trọn vẹn và tận tuyệt ở mầu nhiệm Thập Giá, tôi nhớ
đến bài huấn từ được Đức Gioan Phaolô II dọn cho việc ngài gặp gỡ tín hữu vào
ngày 3/4 Chúa Nhật in Albis, Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh năm ngoái.
“Theo ư định thần linh, bài huấn từ này được viết v́ ngài sẽ rời bỏ chúng ta vào
áp ngày ấy, tức vào Thứ Bảy 2/4 – tất cả chúng ta đều nhớ đến nó một cách tường
tận – và v́ lư do đó, ngài đă không thể ngỏ những lời lẽ ấy cùng anh chị em. Giờ
đây, anh chị em thân mến, tôi xin đọc những lời ấy cho anh chị em, đó là: ‘Chúa
Kitô phục sinh đă cống hiến cho nhân loại, một nhân loại có những lúc dường như
bị lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực của sự dữ, của thần tôi và của sợ hăi,
tặng ân t́nh yêu thương của Người, một t́nh yêu thương tha thứ, ḥa giải và tái
cởi mở tinh thần hy vọng. Nó là t́nh yêu hoán cải tâm can và ban phát an b́nh’.
“Vị Giáo Hoàng này, nơi bài huấn từ cuối cùng ấy, bài huấn từ giống như một lời
di chúc, bấy giờ đă thêm là: ‘Thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận T́nh
Thương Thần Linh biết bao!’ (Huấn Từ Truyền Tin, được đọc bởi TGM Leonardo
Sandri, Thay Thế Quốc Vụ Khanh, cho tín hữu qui tụ ở Quảng Trường Thánh Phêrô
ngày 3/4/2005; L'Osservatore Romano English Edition, 6 April, p. 1, n. 2)”.
(Cảm nhận của Giáo Hoàng Biển Đức về ‘bài huấn từ cuối cùng giống như một lời di
chúc’ cũng là cảm nhận của người viết được bày tỏ trong cuốn ‘Đức Gioan Phaolô
II: Sống là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng’, Cao-Bùi 5/2005, trang 32 và 34: “Và
để kết thúc một giáo triều có sứ mệnh mang con người về cho Ḷng Thương Xót Chúa
của ḿnh, ngài đă gửi một tối di chúc thư cho nhân loại, một di chúc
thư được đọc vào chính Ngày Chúa Nhật II Phục Sinh, ngày chính ngài đă thiết
lập theo lời yêu cầu của Chúa Giêsu qua chị Thánh Faustina để Kính Ḷng Thương
Xót Chúa, ngày ngài mới qua đi vào đêm vọng hôm trước. Sứ điệp của tối hậu di
chúc thư này như sau:… Theo di chúc hay ước nguyện cuối cùng này của ḿnh,
ĐTC GPII, vị giáo hoàng của ‘Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần – Redemptor Hominis’, thực
sự muốn để lại cho cả Giáo Hội lẫn toàn thể nhân loại, ‘một nhân loại có
những lúc dường như bị lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, cái tôi và
sợ hăi’, đó là ‘thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận Ḷng Thương
Xót Chúa biết bao!’ Thế nhưng, để được như vậy, để nhân loại có thể ‘chấp
nhận Ḷng Thương Xót Chúa’, Giáo Hội nói chung và vị tân giáo hoàng nói riêng,
phải trở thành Tông Đồ của Ḷng Thương Xót Chúa, nhờ ‘việc chiêm ngưỡng mầu
nhiệm vĩ đại của t́nh yêu nhân hậu xuất phát từ thánh tâm Chúa Giêsu này bằng
ánh mắt của Mẹ Maria’”).
Bài Giảng Thánh Lễ Giỗ đầy năm băng hà của vị Tiền Nhiệm Chiều Tối Thứ Hai 3/4/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô
“Ở Bài Đọc Thứ Nhất theo Sách Khôn Ngoan, chúng ta được nhắc nhở về định mệnh đời đời đang đợi chờ thành phần công chính: một định mệnh tràn đầy hạnh phúc, một phần thưởng khôn sánh về những khổ đau và thử thách họ phải đương đầu trong cuộc sống của họ. ‘Thiên Chúa đă thử thách họ và thấy rằng họ xứng đáng với Ngài; Ngài đă thử thách họ như lửa thử vàng, và Ngài đă chấp nhận họ như một hiến lễ toàn thiêu’ (Wis 3:5-6).
“Chữ ‘lễ toàn thiêu’ ám chỉ sự hy sinh nạn nhân bị toàn thiêu, bị thiêu rụi đi bởi lửa; nhờ đó, nó là một dấu hiệu hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa. Lời diễn đạt này của Thánh Kinh nhắc nhở chúng ta về sứ vụ của Đức Gioan Phaolô II, vị đă biến cuộc đời của ḿnh thành một tặng vật dâng lên Thiên Chúa cùng hiến cho Giáo Hội, và nhất là trong việc cử hành Thánh Thể, ngài đă sống trọn chiều kích hy hiến theo thiên chức linh mục của ngài.
“Trong số những lời kêu cầu được ngài yêu thích đó là lời xuất phát từ ‘Litanie de Gesù Cristo Sacerdote e Vittima’ ngài đă chọn cho vào phần kết của tác phẩm của ḿnh, Tặng Ân và Mầu Nhiệm, xuất bản nhân dịp mừng 50 năm chịu chức linh mục của ngài (xem các trang 113-116): ‘Iesu, Pontifex qui tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam – Ôi Giêsu, Vị Thượng Tế đă hiến ḿnh cho Thiên Chúa như lễ vật và thí vật, xin thương xót chúng con’.
“Ngài đă thường lập lại lời khẩn cầu này biết bao! Nó diễn tả rơ ràng tính chất linh mục sâu xa của cả cuộc đời ngài. Ngài không bao giờ huyền hoặc hóa ước muốn của ḿnh trong việc càng ngày càng nên một với Chúa Kitô Tư Tế qua Hy Tế Thánh Thể, nguồn mạch cho việc không ngừng dấn thân tông đồ.
“Dĩ nhiên, chính đức tin mới là căn nguyên của việc ngài toàn hiến này. Trong Bài Đọc Thứ Hai chúng ta vừa nghe, Thánh Phêrô cũng sử dụng h́nh ảnh lửa thử vàng và áp dụng h́nh ảnh này vào đức tin (x 1Pt 1:7). Thật thế, tính chất của đức tin nơi mỗi người chúng ta mới đặc biệt là những ǵ bị thử thách và thử nghiệm bởi những khốn khó của cuộc đời, để thấy được tính chất vững chắc của nó, tính chất tinh tuyền của nó, tính chất kiên tŕ của nó trong cuộc sống. Vậy, Đức Cố Giáo Hoàng, vị đă được Thiên Chúa trang bị cho nhiều tặng ân về nhân bản cũng như về thiêng liêng, đă càng ngày càng cho thấy ngài như một ‘tảng đá’ đức tin khi trải qua cuộc thử luyện trong việc vất vả hoạt động tông đồ và chịu đựng bệnh hoạn.
“Đối với những ai được dịp gần gũi với ngài th́ đức tin vững mạnh và cương quyết này hầu như là những ǵ hiển nhiên. Nếu nó chẳng những làm cho thành phần cộng tác với ngài phải khâm phục, mà c̣n lan tỏa trong giáo triều dài của ngài cái ảnh hưởng thiện ích của ngài khắp Giáo Hội nữa, với một cường độ mạnh dần cho tới khi đạt tới tột đỉnh của nó vào những tháng ngày cuối đời của ngài.
“Nó là một đức tin xác tín, mănh liệt, chân thực, không biết sợ hăi và thỏa hiệp của ngài, một đức tin đă tác động tới tâm can của nhiều người, cũng nhờ nhiều chuyến tông du khắp nơi trên thế giới, nhất là nhờ ‘cuộc hành tŕnh’ cuối cùng ấy, cuộc thống khổ và cái chết của ngài”.
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 năm của Đức Gioan Phaolô II
"Đó là lư do ngài đă muốn nâng lên bàn thờ Nữ Tu Faustina Kowalska, một tu sĩ khiêm hạ đă được ư nhiệm thần linh biến đổi thành vị sứ giả tiên tri của ḷng thương xót thần linh. Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II đă biết được và bản thân đă trải qua những thảm họa của thế kỷ 20, và ngài đă tự hỏi ḿnh trong một thời gian dài cái ǵ có thể ngăn chặn được bước tiến của sự dữ. Câu trả lời chỉ có thể t́m thấy nơi t́nh yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ có t́nh thương thần linh mới có thể hạn chế sự dữ; chỉ có t́nh yêu toàn năng của Thiên Chúa mới có thể lật đổ việc thống trị của những kẻ dữ và quyền lực hủy hoại của cái tôi và hận thù. V́ lư do ấy, trong chuyến viếng thăm Balan lần cuối cùng của ḿnh, khi trở về quê hương xứ sở của ḿnh, ngài đă nói rằng: 'nhân loại không c̣n hy vọng nào khác ngoài t́nh thương của Thiên Chúa'."
Về Sự Nghiệp của vị tiền nhiệm
Cuộc Phỏng Vấn Truyền H́nh Balan về Vị Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân ngày kỷ niệm 16/10/2005
Vị Lm hỏi: Tâu Đức Thánh Cha, theo Đức Thánh Cha nghĩ th́ đâu là những lúc quan trọng nhất trong Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II?
ĐTC đáp: Chúng ta có thể nh́n Giáo Triều này theo hai quan điểm: quan điểm hướng ngoại “ad extra” – hướng tới thế giới – và quan điểm hướng nội “ad intra” – hướng về Giáo Hội.
Về khía cạnh hướng tới thế giới, đối với tôi, qua những lời lẽ của ngài, qua con người của ngài, qua việc ngài hiện diện, qua khả năng thu hút của ngài, Đức Thánh Cha đây đă tạo nên được một cảm thức mới về các thứ giá trị luân lư, về tầm quan trọng của tôn giáo trên thế giới. Điều này đă mở ra một đường hướng mới, một cảm thức mới về tôn giáo, cũng như về nhu cầu cần đến một chiều kích đạo lư nơi con người. Đặc biệt là tầm quan trọng của vị Giám Mục Rôma đă tăng lên quá sức. Bất chấp những khác biệt và bất kể việc không công nhận vai tṛ Thừa Kế Thánh Phêrô của ḿnh, tất cả mọi Kitô hữu đều nh́n nhận rằng ngài là một phát ngôn viên của Kitô giáo. Không một ai trên thế giới này, ở tầm mức quốc tế có thể nhân danh Kitô giáo nói năng như con người này, làm cho thực thể Kitô giáo có tiếng vang và quyền lực trên thế giới ngày nay. Ngài là phát ngôn viên cho các thứ giá trị cao cả của nhân loại đối với những người không phải là Kitô hữu cũng như đối với các tôn giáo khác nữa. Ngài có thể kiến tạo một bầu khí đối thoại giữa các đại tôn giáo và một cảm quan đồng trách nhiệm mà tất cả chúng ta cần phải có đối với thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh rằng bạo lực và tôn giáo là những ǵ bất tương hợp, và chúng ta cần phải cùng nhau t́m kiếm đường lối dẫn đến ḥa b́nh, đảm nhận trách nhiệm chung đối với nhân loại.
Về t́nh h́nh của Giáo Hội, tôi có thể nói rằng, trước hết, ngài biết cách để làm cho giới trẻ thấm nhập ḷng nhiệt t́nh sống với Chúa Kitô. Đây là điều mới lạ, nếu chúng ta nghĩ đến giới trẻ của cuối thập niên sáu mươi và bảy mươi. Giới trẻ ấy đă trở nên hăng say sống cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội cũng như cho những thứ giá trị khó khăn thách đố. Chính tư cách của ngài và cái thu hút nơi vai tṛ lănh đạo của ngài đă góp phần vào việc động viên giới trẻ trên thế giới sống cho Thiên Chúa và v́ mến yêu Chúa Kitô. Trong Giáo Hội, ngài đă tạo nên được một ḷng kính mến mới mẻ đồi với Thánh Thể. Chúng ta vẫn c̣n sống trong Năm Thánh Thể là năm do ngài đầy ḷng mến yêu bí tích này mở ra. Ngài đă khơi dậy một ư thức mới về sự cao cả của T́nh Thương Thần Linh; và ngài hết sức tôn sùng Đức Mẹ. Nhờ đó, ngài đă hướng dẫn chúng ta tiến tới việc nội tâm hóa đức tin, đồng thời cũng tiến tới chỗ hiệu năng hóa đức tin hơn nữa. Dĩ nhiên chúng ta cần phải đề cập tới việc ngài góp phần thiết yếu vào những đổi thay cả thể trên thế giới trong năm 1989, qua việc cộng tác vào cuộc sụp đổ của xă hội chủ nghĩa.
Bài Chia Sẻ sau khi coi trước cuốn phim: ‘Karol: Một Vị Giáo Hoàng Vẫn Là Một Con Người’ ngày 30/3/2006 tại Sảnh Đường Phaolô VI
“Câu truyện về cuộc sống trần gian của vị Giáo Tông thân yêu này được chấm dứt ở phần thứ hai thuộc bộ phim này. Chúng ta đă được nghe lại lời kêu gọi tiên khởi của giáo triều ngài, một lời lêu gọi thường được tái vang vọng qua năm tháng là ‘Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô! Đừng sợ!’. Những h́nh ảnh tŕnh chiếu cho chúng ta thấy một Vị Giáo Hoàng trầm ngâm trong việc giao tiếp với Thiên Chúa, và chính v́ lư do này mà ngài luôn nhậy cảm với những trông đợi của người khác.
“Cuốn phim đă làm cho chúng ta nghĩ lại một cách tuyệt vời những cuộc tông du khắp thế giới của ngài; nó cống hiến cho chúng ta cơ hội để sống lại những cuộc ngài gặp gỡ rất ư là nhiều người, với những kẻ cả trên trái đất này cũng như với thành phần công dân b́nh thường, với những nhân vật nổi tiếng cũng như với các cá nhân vô danh tiểu tốt. Trong số những con người ấy, đặc biệt phải kể đến việc ngài tha thiết với Mẹ Têrêsa Calcutta. Mẹ đă liên kết với Đức Gioan Phaolô II bằng một mối ḥa hợp thiêng liêng sâu xa.
“Ở ngay địa điểm như thể chúng ta đă hiện diện vào lúc bấy giờ, chúng ta một lần nữa đă nghe thấy những phát súng muốn lấy mạng của ngài một cách thảm thương ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981. Từ đó tất cả mới hiện lên cho thấy h́nh ảnh về một vị ngôn sứ của niềm hy vọng và an b́nh, vị đă không biết mệt mỏi đi khắp các nẻo đường trái đất để thông đạt Phúc Âm cho hết mọi người. Những lời lẽ vang động của ngài trở về với tâm trí của chúng ta, khi ngài lên án các chế độ độc tài, t́nh trạng bạo động và chiến tranh sát hại; những lời đầy ủi an và hy vọng bày tỏ việc ngài gần gũi với thành phần thân thuộc của các nạn nhân gây ra bởi các cuộc khủng bố tấn công xung đột và thảm thương, chẳng hạn như cuộc khủng bố tấn công tháp đôi ở Nữu Ước; những lời can đảm bài bác một xă hội hưởng thụ và thứ văn hóa khoái lạc nhắm đến việc tạo nên một thứ phúc lợi thuần vật chất không thể thỏa đáng những nhu cầu sâu xa của cơi ḷng con người.
“Anh chị em thân mến, đó là những cảm thức tự nhiên xuất phát từ tâm can của tôi tối hôm nay và là những ǵ tôi muốn chia sẻ với anh chị em, bằng việc kiểm điểm lại qua những h́nh ảnh của cuốn phim đây các giai đoạn của giáo triều bất khả lăng quên của Đức Gioan Phaolô II. Xin vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta từ trời cao hỗ trợ chúng ta và xin Chúa ban cho chúng ta ơn luôn như ngài trung thành với sứ vụ của chúng ta”.
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 2/4/2006 kỷ niệm đúng một năm băng hà của vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II
“Một năm sau khi ngài vượt qua trần gian mà về nhà Cha, chúng ta hăy tự hỏi ḿnh rằng: Vị đại Giáo Hoàng này đă để lại cho chúng ta những ǵ, ai là người đă dẫn Giáo Hội vào ngàn năm thứ ba? Di sản của ngài th́ vĩ đại, thế nhưng sứ điệp của giáo triều rất dài của ngài có thể được tóm gọn vào những chữ đă được ngài nói lên ở nơi đây, ở Quảng Trường Thánh Phêrô này, vào ngày 22/10/1978, đó là: ‘Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!’.
“Đức Gioan Phaolô II đă hiện thực lời kêu gọi bất khả lăng quên này bằng cả con người của ngài cũng như bằng tất cả sứ vụ làm Vị Thừa Kế Thánh Phêrô của ngài, nhất là bằng chương tŕnh chuyến tông du nổi bật của ngài. Khi viếng thăm các quốc gia trên thế giới, lúc gặp gỡ dân chúng, gặp gỡ các cộng đồng giáo hội, gặp gỡ các vị cầm quyền, các vị lănh đạo tôn giáo và các thực tại xă hội khác nhau, ngài đều thực hiện một điều ǵ đó, như một cử chỉ đặc thù và quan trọng, để nhấn mạnh tới những lời mở đầu của ngài.
“Ngài luôn luôn loan báo Chúa Kitô, tŕnh bày về Người cho tất cả mọi người, như Công Đồng Chung Vaticanô II đă làm, để đáp ứng những niềm mong đợi của con người, những niềm mong đợi được tự do, công lư và b́nh an. Ngài thích lập lại rằng Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc nhân trần, là Đấng Cừu Độ duy nhất của mỗi người và của toàn thể nhân loại”.
Huấn Từ cho Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đ́nh
‘Di Sản của Đức Gioan Phaolô II về Hôn Nhân và Gia Đ́nh: yêu thương t́nh yêu của nhân loại’.
Trong cuộc gặp gỡ thành phần triều kiến bao gồm giáo sư, sinh viên và ra trường của Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đ́nh, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nhắc lại một trong những ấp ủ của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm rất yêu quí của ngài, một giấc mơ đă thành sự thật.
V́ học viện này, với trụ sở chính ở Rôma, tại Đại Học Lateranô, đă lan khắp năm châu, như ở Âu Châu ngoài Rôma c̣n có Gaming, Áo Quốc và Valencia, Tây Ban Nha; ở Mỹ Châu có Washington DC, Hoa Kỳ, có Mexico City và Guadalajara, Mễ Tây Cơ, và có Salvador da Bahia, Ba Tây; ở Đại Dương Châu có Melbourne, Úc Đại Lợi; ở Phi Châu có Cotonou, Benin; và ở Á Châu có Changanacherry, Ấn Độ.
Vị tân chủ tịch của học viện này là Đức Ông Livio Melina, một giáo sư về luân lư thần học. Ngài là sinh viên tiến sĩ đầu tiên tŕnh luận án của ḿnh ở học viện này trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bấy giờ là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin.
Sau đây là nguyên văn bài huấn từ của ngài.
Trọng kính Quí Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến:
Thật là một niềm vui lớn lao tôi được gặp gỡ anh chị em nhân dịp mừng kỷ niệm 25 năm thành lập Học Viện Gioan Phaolô II của Ṭa Thánh Đặc Trách Nhiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đ́nh, ở Đại Học Ṭa Thánh Latêranô. Tôi xin chào tất cả mọi anh chị em với ḷng cảm mến và tôi thành thật cám ơn Đức ông Livio Melina về những lời lẽ nồng hậu ngài thay cho anh chị em ngỏ cùng tôi.
Thuở ban đầu của học việc của anh chị em đây gắn liền với một biến cố rất đặc biệt: đó là chính vào ngày 13/5/1981, tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Đức Gioan Phaolô II, đă trải qua một cuộc ám sát nghiêm trọng nổi tiếng trong buổi triều kiến được ngài dùng để loan báo về việc thiết lập học viện của anh chị em. Biến cố này có một tầm vóc đặc biệt quan trọng nơi việc tưởng niệm hiện nay đây, một việc tưởng niệm chúng ta cử hành ngay sau khi chúng ta cử hành kỷ niệm cái chết của ngài. Anh chị em muốn đề cao nó bằng sáng kiến thích hợp liên quan tới một hộïi nghị bàn về đề tài: ‘Di Sản của Đức Gioan Phaolô II về Hôn Nhân và Gia Đ́nh: yêu thương t́nh yêu của nhân loại’.
Anh chị em có lư để cảm thấy được cái di sản này một cách hoàn toàn đặc biệt, v́ anh chị em là thành phần thụ nhận và là những người tiếp tục cái nhăn quan đă từng là một trong những noon bay cho sứ vụ và suy tưởng của ngài: dự án của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đ́nh. Di sản này không phải chỉ là tổng hợp những tín lư và ư nghĩ, mà trên hết là một giáo huấn khôn ngoan liên quan tới một mối hiệp nhất sáng ngời về ư nghĩa của t́nh yêu sự sống nơi con người. Sự hiện diện của nhiều gia đ́nh trong buổi triều kiến này là một chứng cớ hùng hồn cho thấy giáo huấn về sự thật ấy đă được đón nhận và sinh hoa trái ra sao.
Ư nghĩ ‘giảng dạy yêu thương’ đă có ở nơi vị linh mục trẻ Karol Wojtyla và sau đó đă thúc đẩy vị giám mục trẻ là ngài khi ngài đối diện với những giây phút khó khăn xẩy ra sau khi vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI ban hành bức thông điệp ‘Sự Sống Con Người’ có tính cách tiên liệu và luôn hợp thời. Chính trong hoàn cảnh đó mà ngài đă hiểu được nhu cầu cần phải thực hiện một cuộc nghiên cứu học hỏi có hệ thống và phương pháp về đề tài này.
Điều này đă tạo nên cơ sở cho giáo huấn sau đó được ngài cống hiến cho toàn thể Giáo Hội trong loạt bài ‘Giáo Lư về T́nh Yêu Con Người’. Ngài đă lợi dụng để nhấn mạnh đến hai yếu tố nồng cốt được anh chị em đă nỗ lực suy tư một cách sâu xa hơn trong những năm này và là những yếu tố định h́nh cho cái rất mới mẻ nơi học viện của anh chị em như là một thực tại về hàn lâm mang một sứ vụ đặc biệt trong Giáo Hội vậy.
Yếu tố thứ nhất đó là hôn nhân và gia đ́nh được bắt nguồn từ cốt lỡi sâu xa nhất nơi sự thật về con người và định mệnh của họ. Thánh Kinh đă mạc khải rằng ơn gọi yêu thương là những ǵ thuộc về h́nh ảnh đích thực của Thiên Chúa được Đấng Hóa Công muốn in ấn nơi tạo vật của Ngài, khi kêu gọi con người hăy trở nên giống như Ngài chính ở cách thức con người hướng về yêu thương. Sự khác nhau về phái tính ở nơi thân thể của người nam và người nữ, bởi thế, không phải là một sự kiện thuần sinh lư, mà có một ư nghĩa sâu xa hơn thế nhiều, ở chỗ nó cho thấy rằng nhờ yêu thương như vậy con người nam nữ trở nên một xác thịt duy nhất; họ có thể hiện thực mối hiệp thông chân thực giữa con người hướng về việc truyền đạt sự sống và nhờ đó cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản những con người mới.
Yếu tố thứ hai làm nên đặc tính mới mẻ nơi giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II về t́nh yêu con người đó là cách thức độc đáo được ngài sử dụng để dẫn giải dự án của Thiên Chúa qua việc qui hợp mạc khải của Thiên Chúa với kinh nghiệm của con người. Thật thế, nơi Chúa Kitô là tất cả mạc khải của t́nh yêu Chúa Cha, cũng đă bộc lộ tất cả sự thật về ơn gọi yêu thương của con người, một ơn gọi chỉ có thể hoàn toàn nơi việc trao ban bản thân ḿnh.
Trong thông điệp mới đây của ḿnh, tôi đă muốn nhấn mạnh đến cách thức làm thế nào thực sự nhờ yêu thương mà ‘h́nh ảnh của Thiên Chúa nơi Kitô hữu cùng với h́nh ảnh của nhân loại bởi đó cùng với định mệnh của nó’ được thể hiện (‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’, đoạn 1). Tức là, Ngài đă sử dụng đường lối yêu thương để mạc khải mầu nhiệm sự sống Ba Ngôi của ḿnh.
Ngoài ra, mối liên hệ sâu xa giữa h́nh ảnh Thiên Chúa T́nh Yêu và t́nh yêu nhân loại làm cho chúng ta có thể hiểu được rằng ‘hôn nhân một vợ một chồng tương xứng với h́nh ảnh của vị Thiên Chúa độc thần. Hôn nhân được đặt trên một t́nh yêu chuyên nhất và tận tuyệt trở thành h́nh ảnh cho mối liên hệ giữa Thiên Chúa với Dân của Ngài và ngược lại, đường lối yêu thương của Thiên Chúa trở thành chuẩn mực cho t́nh yêu thương của nhân loại’ (ibid. 11). Nhận định này vẫn c̣n là một lănh vực rộng lớn cần phải được khai phá thêm.
Như thế, công việc được tóm lại như sau: Học Viện Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đ́nh, qua tất cả cấu trúc hàn lâm của ḿnh, cần phải làm sáng tỏ sự thật về sự sống như một cách thức làm phong phú tất cả mọi h́nh thức hiện hữu của con người. Cái thách đố lớn lao của việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa được Đức Gioan Phaolô II đầy tâm huyết phác họa, cần phải được hỗ trợ bởi một ư thức sâu xa đíùch thực về t́nh yêu con người, v́ t́nh yêu này là một đường lối đặc biệt được Thiên Chúa dùng để tỏ ḿnh ra cho thế giới, và qua t́nh yêu thương này Ngài kêu gọi thế giới đến với mối hiệp thông sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Đường lối ấy cũng giúp cho chúng ta có thể thắng vượt quan niệm thu hẹp vào một thứ t́nh yêu thường thuần riêng tư là một thứ yêu thương rất ư là thịnh hành phổ thông ngày nay. T́nh yêu thương chân thực là những ǵ được biến đổi thành một thứ ánh sáng hướng dẫn cả cuộc sống tiến đến chỗ phong phú, phát sinh một xă hội được nhân bản hóa cho con người. Mối hiệp thông sự sống và yêu thương là hôn nhân, nhờ đó, trở thành một sự thiện đích thực cho xă hội. Việc tránh lánh sự lẫn lộn với các kiểu hiệp nhất khác xuất phát từ thứ yêu thương yếu hèn là một điều đặc biệt khẩn trương ngày nay. Chỉ có tảng đá yêu thương trọn vẹn và bất khả hủy bỏ giữa người nam và người nữ mới có thể làm nền tảng cho một xă hội trở thành nhà cho tất cả mọi dân tộc.
Tầm quan trọng mà công cuộc của học viện này có được trong sứ vụ của Giáo Hội cho thấy cái h́nh dạng của nó: Thật vậy, Đức Gioan Phaolô II đă phê chuẩn một tổ chức duy nhất có những chi nhánh khác nhau trải khắp năm châu, để tổ chức này có thể chia sẻ cái phong phú của sự thật duy nhất nơi tính cách đa dạng của các nền văn hóa.
Mối hiệp nhất về nhăn quan nơi việc nghiên cứu và giáo huấn, mặc dù có tính cách đa dạng về nơi chốn và cảm thức, tiêu biểu cho một thứ giá trị anh chị em cần phải canh giữ, bằng việc phát triển những kho tàng được chôn giấu nơi mọi nền văn hóa. Đặc tính ấy của tổ chức này đă tự chứng tỏ cho thấy là đặc biệt thích hợp với việc học hỏi về một thực tại như hôn nhân và gia đ́nh. Công cuộc của anh chị em là những ǵ có thể tỏ cho thấy làm thế nào để tặng ân thiên nhiên được thể hiện ở các nền văn hóa khác nhau này đă được ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu thăng hóa.
Để có thể thi hành sứ vụ của anh chị em một cách tốt đẹp như thành phần trung thành thừa hưởng của vị sáng lập học viện này, Đức Gioan Phaolô II của chúng ta, tôi mời anh chị em hăy chiêm ngưỡng Mẹ Maria Rất Thánh là Mẹ của T́nh Yêu Tuyệt Mỹ. T́nh yêu cứu chuộc của Lời nhập thể, đối với mỗi một cuộc hôn nhân và mỗi gia đ́nh, cần phải trở thành ‘những nguồn nước sự sống giữa một thế giới khát khao’ (Deus Caritas Est, 42). Tôi xin gửi đến những lời chúc tốt đẹp nhất, kèm theo một phép lành đặc biệt đến tất cả anh chị em, đến quí vị giáo sư thân mến, đến các sinh viên hôm qua và hôm nay, đến toàn thể nhân viên của học viện, cũng như đến các gia đ́nh thuộc học viện của anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/5/2006
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 16/10/2005 về Ngày Kỷ Niệm Được Bầu Làm Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II
Anh Chị Em thân mến:
Hai mươi bảy năm trước đây, vào một ngày như hôm nay đây, Chúa đă kêu gọi Hồng Y Karol Wojtyla, TGM Krakow, để kế vị Đức Gioan Phaolô đệ nhất qua đời ngắn ngủi sau một tháng được tuyển bầu. Với Đức Gioan Phaolô II, một trong những giáo triều dài nhất lịch sử Giáo Hội được mở màn, một giáo triều có vị Giáo Hoàng, “người đến từ một xứ sở xa xôi”, được nh́n nhận là một thẩm quyền về luân lư, kể cả nhiều người không phải Kitô hữu và vô tín ngưỡng, như được chứng tỏ qua các cuộc biểu lộ cảm t́nh trước cơn bệnh của ngài và niềm thương cảm xót xa sau cái chết của ngài.
Trước ngôi mộ của ngài trong hầm mộ Vatican, nhiều tín hữu vẫn không ngừng tiếp tục tuốn đến kính viếng, và điều này cho thấy một dấu hiệu hùng hồn là Đức Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta đă đi vào ḷng người như thế nào, trước hết, là v́ chứng từ yêu thương của ngài và việc ngài sẵn sàng chấp nhận khổ đau. Nơi ngài, chúng ta có thể ca tụng sức mạnh của đức tin và lời nguyện cầu của ngài, và cách ngài hoàn toàn phó thác bản thân ngài cho Đức Maria Rất Thánh, vị luôn đồng hành với ngài và bảo vệ chở che ngài, nhất là trong những lúc khốn khó nhất và bi thảm nhất trong cuộc đời của ngài.
Chúng ta có thể diễn tả Đức Gioan Phaolô II như là vị Giáo Hoàng hoàn toàn hiến thân cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria, như khẩu hiệu của ngài tỏ tường cho thấy: “Totus tuus”. Ngài đă được tuyển chọn vào giữa tháng mân côi, và chuỗi mân côi, thường được ngài cầm trong tay, trở thành một trong những biểu hiệu cho giáo triều của ngài, một giáo triều được Đức Trinh Nữ trông nom săn sóc bằng mối quan tâm từ mẫu. Qua truyền thanh và truyền h́nh, tín hữu trên thế giới đă có thể liên kết với ngài vào một số dịp cầu loại kinh Thánh Mẫu ấy, và nhờ gương sáng cùng các giáo huấn của ngài, họ tái nhận thức được ư nghĩa đích thực của kinh nguyện này, một ư nghĩa chiêm niệm và Kitô học (xem tông thư “Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria”, các khoản 9-17).
Thật vậy, kinh mân côi không nghịch lại với việc suy niệm Lời Chúa và kinh nguyện phụng vụ; trái lại, kinh nguyện này c̣n là một thứ bổ túc một cách tự nhiên và tuyệt vời, nhất là để sửa soạn và tạ ơn trong việc cử hành Thánh Thể. Chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Kitô là Đấng chúng ta gặp gỡ trong Phúc Âm và nơi các bí tích, ở vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời của Người, qua các mầu nhiệm mân côi vui, sáng, thương và mừng.
Nơi học đường Maria, chúng ta nhờ đó học biết liên kết bản thân ḿnh với Người Con thần linh của Mẹ và loan báo Người bằng chính cuộc sống của chúng ta. Nếu Thánh Thể, đối với Kitô hữu, là trọng tâm của ngày sống, th́ kinh mân côi góp phần một cách đặc biệt vào việc hiệp thông kéo dài với Chúa Kitrô, và kinh này dạy chúng ta sống bằng ánh mắt tâm can gắn chắt vào Người để chiếu tỏa cho mọi người và mọi sự t́nh yêu nhân hậu của Người.
Chiêm niệm và truyền giáo: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta là như thế. Ngài là thế nhờ mối hiệp nhất sâu xa của ngài với Thiên Chúa, một mối hiệp nhất hằng ngày được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể và những giây phút nguyện cầu lâu giờ.
Vào giây phút nguyện Kinh Truyền Tin này đây, một giây phút ngài rất yêu chuộng, chúng ta cần phải hân hoan và có nhiệm vụ tưởng nhớ đến ngài nhân dịp mừng kỷ niệm này, lập lại việc chúng ta tạ ơn Thiên Chúa v́ Ngài đă ban cho Giáo Hội và thế giới một vị thừa kế rất xứng đáng của Tông Đồ Phêrô. Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta biết trân quí di sản châu báu của ngài.
Bài Giảng Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy ngày 25/3/2006
Chư huynh thân mến, thật là một ân huệ cao cả biết bao khi thực hiện việc cử hành ư nghĩa này vào Lễ Trọng Truyền Tin đây! Chúng ta có thể nhận được dồi dào ánh sáng biết bao từ mầu nhiệm này cho đời sống chúng ta làm thừa tác viên của Giáo Hội đây! Nhất là các vị tân hồng y thân mến, chư huynh có thể lănh nhận nhiều bổ dưỡng là chừng nào cho sứ vụ làm ‘Nghị Viên’ cao cả của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô! Cơ hội thích đáng này giúp chúng ta coi biến cố hôm nay đây, một biến cố nhấn mạnh đến nguyên tố Phêrô của Giáo Hội, theo chiều hướng của một nguyên tố khác, đó là nguyên tố Thánh Mẫu, một nguyên tố thậm chí c̣n quan trọng hơn nữa. Tầm vóc quan trọng của nguyên tố Thánh Mẫu trong Giáo Hội, sau công đồng chung Vaticanô II, được đề cao một cách đặc biệt bởi Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm yêu dấu của tôi, hợp với khẩu hiệu của ngài ‘Totus tuus’.
Trong linh đạo của ngài, cũng như trong thừa tác vụ liên lỉ của ngài, sự hiện diện của Mẹ Maria như là Người Mẹ và là Nữ Vương của Giáo Hội đă trở thành hiển nhiên trước mắt mọi người. Nhất là ngài đă quảng bá sự hiện diện từ mẫu của Mẹ nơi vụ ám sát ngày 13/5/1981 ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Để tưởng nhớ biến cố bi thương này, ngài đă đặt một bức ảnh Đức Trinh Nữ bằng vi thạch ghép trên cao Tông Dinh Giáo Hoàng, nh́n xuống Quảng Trường Thánh Phêrô, để hỗ trợ những giây phút chính yếu và diễn tiến hằng ngày cho giáo triều dài lâu của ngài. Đúng một năm từ khi giáo triều của ngài đi vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn vượt qua đầy khổ đau nhưng thực sự là vinh thắng. Tấm h́nh Truyền Tin, hơn bất cứ tấm h́nh nào khác, giúp chúng ta thấy rơ lư do tại sao hết mọi sự trong Giáo Hội trở về với mầu nhiệm Mẹ Maria chấp nhận Lời thần linh, nhờ đó, qua tác động của Thánh Linh, giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại mới được hoàn toàn niêm ấn.
Bài Giảng Thánh Lễ Giỗ đầy năm băng hà của vị Tiền Nhiệm Chiều Tối Thứ Hai 3/4/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô
“Đoạn Phúc Âm vừa được công bố giúp chúng ta hiểu được một khía cạnh khác nơi nhân cách về nhân bản và đạo nghĩa của ngài. Chúng ta có thể nói rằng ngài, Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, đă hết sức noi gương bắt chước Gioan là ‘người môn đệ yêu dấu’ trong các Tông Đồ, vị tông đồ đă đứng dưới chân Thập Giá với Mẹ Maria vao giây phút Đấng Cứu Chuộc cảm thấy bị bỏ rơi và bị tử nạn.
“Vị thánh kư này đă thuật lại rằng Chúa Giêsu, khi thấy họ đừng gần kề th́ đă trao phó người này cho người kia: ‘Hỡi Bà, này là con của bà!’… ‘Đó là mẹ của con!’ (Jn 19:26-27). Những lời của Chúa Kitô hấp hối ấy đặc biệt được Đức Gioan Phaolô II yêu thích. Như vị Tông Đồ và Thánh Kư này, ngài cũng muốn mang Mẹ Maria về nhà của ngài: ‘et ex illa hora accepit eam discipulus in sua’ (Jn 19:27).
“Câu phát biểu ‘accepit eam in sua’ là lời chất chứa một ư nghĩa đặc biệt. Nó có ư nói đến việc tông đồ Gioan quyết định để Mẹ Maria thông phần vào cuộc đời của ḿnh, như thế mới cảm nghiệm được rằng ai mở ḷng ḿnh ra cho Mẹ Maria th́ thực sự được Mẹ chấp nhận và trở thành con riêng của Mẹ. Câu khẩu hiệu ‘Totus tuus’ được tiêu biểu nơi huy hiệu giáo triều của Đức Gioan Phaolô II cũng gói ghém cảm nghiệm linh thiêng và huyền nhiệm này nơi một cuộc sống hoàn toàn nhờ Mẹ Maria hướng về Chúa Kitô: ‘ad Iesum per Mariam – nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu’.”
(Biệt chú: trong bức thư đề ngày 8/12/2003 gửi Chư Gia Đ́nh Hội Ḍng Montfort nhân dịp kỷ niệm 160 năm [1843-2003] xuất bản tác phẩm ‘Luận Về Ḷng Thành Thực Sùng Kính Đức Trinh Nữ’ của vị sáng lập là Thánh Long Mộng Phố [Louis Montfort], chính Đức Gioan Phaolô II đă xác nhận nhận định của vị thừa nhiệm Biển Đức XVI của ḿnh trên đây):
“Từ khi được hạ sinh, nhất là vào những lúc khó khăn nhất của ḿnh, Giáo Hội đă thiết tha chiêm ngưỡng biến cố Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô được Thánh Gioan đề cập tới, đó là: ‘Đứng kề Thánh Giá Chúa Giêsu có Mẹ của Người, và chị của Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas, cùng với Maria Mai Đệ Liên. Khi Chúa Giêsu thấy Mẹ của ḿnh và môn đệ Người yêu đứng gần th́ Người nói với Mẹ ḿnh rằng: Hỡi Bà, này là con của bà! Đoạn Người nói với người môn đệ rằng: Này là người mẹ của con! Và từ lúc đó người môn đệ ấy mang Người về nhà ḿnh’ [Jn 19:25-27]. Qua gịng lịch sử của ḿnh, Dân Chúa đă cảm nghiệm được tặng ân này của Chúa Giêsu tử giá, đó là tặng ân Mẹ Người. Mẹ Maria Rất Thánh thực sự là Mẹ của chúng ta, vị đồng hành với chúng ta trong cuộc hành tŕnh đức tin, đức cậy và đức mến, tiến tới chỗ càng được hiệp nhất nên một hơn với Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ và là Trung Gian cứu độ duy nhất [x Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, các số 60, 62]. Như đă quá rơ, huy hiệu giáo phẩm của tôi cho thấy một cách tượng trưng câu Phúc Âm được trích dẫn trên đây; câu khẩu hiệu Totus tuus là câu được gợi hứng bởi giáo huấn của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort (cf. Gift and Mystery, pp. 42-43; Rosarium Virginis Mariae, n. 15). Hai chữ này diễn tả việc hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu qua Mẹ Maria: ‘Tuus totus ego sum, et omnia mea tua sunt’, Thánh Montfort đă viết như thế và ngài chuyển dịch sang ngôn từ của ḿnh như sau: ‘Tất cả con là của Chúa, và tất cả những ǵ con có là của Chúa, Ôi Chúa Giêsu rất dấu yêu, nhờ Mẹ Maria, Người Mẹ rất thánh của Chúa’ (Treatise on True Devotion, n. 233). Giáo huấn của vị Thánh này đă gây được một ảnh hưởng sâu xa nơi ḷng tôn sùng của nhiều tín hữu và nơi cuộc sống của tôi.”
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 năm của Đức Gioan Phaolô II
"Giống như 3 năm trước đây, cả đến ngày hôm nay nữa, mới chỉ sau một thời gian ngắn sau Phục Sinh. Trung tâm điểm của Giáo Hội đây lại cảm thấy ḿnh ch́m đắm trong mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta có thể giải thích cả cuộc đời của vị tiền nhiện thân yêu của tôi, đặc biệt là thức tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài, theo dấu hiệu của Chúa Kitô đă được phục sinh. Ngài đă cảm thấy một đức tin phi thường nơi Người, và cùng với Người, ngài đă giữ được một cuộc trao đổi thân t́nh, đặc biệt và liên lỉ. Trong số nhiều những tính chất nhân loại và siêu nhiên của ḿnh, ngài có một cảm quan đặc biệt về tu đức và thần bí.
"Chỉ cần thấy ngài cầu nguyện là đủ: Bề ngoài ngài ch́m đắm trong Chúa và dường như mọi sự khác trong lúc ấy đều ở ngoài cuộc. Trong khi cử hành phụng vụ, ngài đă chú tâm tới mầu nhiệm đang diễn tiến, bằng một khả năng nhận định một cách nhậy bén cái tính chất sống động của lời Chúa tiến triển qua gịng lịch sử, khi tiến sâu vào dự án của Thiên Chúa. Như ngài thường hay nói, đối với ngài Thánh Lễ là tâm điểm của ngày sống và cả cuộc đời của ngài – thực tại 'sống động và thánh hảo' Thánh Thể này đă hiến cho ngài nghị lực thiêng liêng trong việc hướng dẫn dân Chúa tiến bước trên con đường lịch sử.
"Đức Gioan Phaolô II đă qua đời vào thời điểm vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, 'ngày Chúa làm nên'. Những quằn quại của cái chết đă xẩy ra vào 'ngày' này, theo cái thời-không mới th́ đó là 'ngày thứ tám', ngày được Ba Ngôi muốn qua công cuộc của Lời nhập thế, tử nạn và phục sinh. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào những trường hợp khác nhau đă cho thấy rằng, một cách nào đó, ngài đă ch́m sâu vào chiều kích linh thiêng này trước đó, trong đời sống của ngài, nhất là trong việc làm trọn sứ vụ là Vị Giáo Chủ Tối Cao.
"Giáo triều của ngài, nếu được tổng hợp lại và qua nhiều thời khắc đặc biệt, cho chúng ta thấy như là một dấu hiệu và chứng từ của việc Chúa Kitô phục sinh. Chiều kích vượt qua ấy, một chiều kích làm cho cuộc sống của Đức Gioan Phaolô trở thành một đáp ứng hoàn toàn cho tiếng gọi của Chúa, không thể được tỏ hiện mà không tham phần vào những khổ đau và cái chết của Vị Sư Phụ thần linh và là Đấng Cứu Chuộc. Tông Đồ Phaolô đă nói: 'Đây là điều đáng tin tưởng, đó là nếu chúng ta đă chết với Người th́ chúng ta sẽ sống với Người; nếu chúng ta kiên tŕ chúng ta cũng sẽ hiển trị với Người' (2Tim 2:11-12).
"Từ thuở nhỏ, Đức Karol Wojtyla đă cảm nghiệm được chân lư của những lời ấy, khi thấy được thập tự giá trên con đường của ḿnh, trong gia đ́nh của ḿnh, với dân tộc của ḿnh. Ngài đă sớm quyết định vác thập giá bên Chúa Giêsu, theo bước chân của Người. Ngài muốn là người tôi tớ trung thành của Người cho đến độ tiếp nhận ơn gọi làm linh mục như là một tặng ấn và là một cuộc dấn thân suốt cuộc đời của ngài. Với Người, ngài đă sống, và cùng với Người ngài đă muốn được chết đi. Ngài đă làm tất cả những điều này nhờ trung gian đặc thù của Mẹ Maria rất thánh là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, người Mẹ đă sâu xa và thực sự liên kết với mầu nhiệm cứu độ nơi việc tử nạn và phục sinh của Người".
Về "Văn Hóa Sự Sống" Của Vị Tiền Nhiệm
Trao Đổi với Hàng Giáo Sĩ ở Rôma 2/3/2006
Hôm 2/3/2006, tại Hall of Blessings, Đức Thánh Cha đă ban huấn từ cho hàng giáo sĩ ở Rôma. Sau khi ĐHY Camillo Ruini, đại diện Giáo Phần Rôma, Đức Giáo Hoàng đă trả lời những câu hỏi và những phát biểu của 10 vị linh mục, rồi sau đó ngài cũng giải đáp cả những chia sẻ nhận định của 5 vị linh mục khác nữa. Sau đây là 15 câu vấn đáp giữa Đức Thánh Cha và hàng giáo sĩ ở Rôma.
“Tôi sẽ vào đề ngay, kẻo chờ cho đến khi kết thúc tất cả mọi chia sẻ nhận định th́ phần độc tấu của tôi sẽ quá dài đi.
“Trước hết, quí linh mục giáo phận Rôma thân mến, tôi muốn bày tỏ niềm hân hoan được ở cùng anh em nơi đây. Đây là niềm vui thực sự khi thấy được rất nhiều vị mục tử phục vụ ‘Vị Mục Tử Nhân Lành’ ở nơi đây, ở Giáo Phận đầu tiên của Kitô Giáo, ở một Giáo Hội ‘chủ sự trong đức ái’ và phải trở thành một mô phạm cho các Giáo Hội địa phương khác. Cám ơn việc phục vụ của anh em!
“Chúng ta có được một gương sáng của Cha Andrea, vị đă cho chúng ta thấy ư nghĩa ‘là’ linh mục như thế nào cho đến cùng, đó là chết đi cho Chúa Kitô trong giây phút nguyện cầu, nhờ đó, một đàng cho thấy cái nội tâm của đời sống ngài với Chúa Kitô, đàng khác, cho dân chúng thấy chứng từ của ngài ở vào thời điểm thực sự là ‘panpherical’ trên thế giới này, một thế giới đầy những hận thù và cuồng tín của kẻ khác. Đó là một chứng từ tác động mọi người theo Chúa Kitô, trong việc hiến mạng sống ḿnh cho người khác, nhờ đó được Sự Sống”.
Nhân dịp kỷ niệm đầy năm băng hà của Đức Gioan Phaolô II, và nhân Mùa Chay, ở đây chỉ chuyển dịch trao đổi đầu tiên giữa vị linh mục thứ nhất với Đức Thánh Cha có liên quan tới hai khía cạnh này mà thôi.
Lm 1: Tâu Đức Thánh Cha, chúng con lần đầu tiên được triều kiến Đức Thánh Cha vào dịp gặp gỡ Mùa Chay này. Con xin tưởng nhớ tới Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II thân yêu. Qua những lời Đức Thánh Cha nói ở lễ an táng của ngài, con thấy được một dấu hiệu liên tục giữa Đức Thánh Cha và Vị Tiền Nhiệm yêu dấu của Đức Thánh Cha: ‘Chúng ta có thể tin rằng Vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta hôm nay đây đang đứng ở cửa sổ Nhà Cha, ngài trông thấy chúng ta và ban phép lành cho chúng ta’. Ư nghĩ ấy đă gợi hứng cho con viết thành bài thơ thập tứ cú theo thổ âm Rôma để kính dâng Đức Thánh Cha, đó là bài: ‘Một cửa sổ trên Trời cao’.
ĐTC: Về chia sẻ nhận định đầu tiên này, trước hết tôi xin hết ḷng ‘cám ơn’ về bài thơ tuyệt vời này! Giáo Hội ở Rôma cũng có những nhà thơ và nghệ sĩ nơi hàng giáo sĩ Rôma, và tôi sẽ có cơ hội để suy tư và ngẫm nghĩ những lời lẽ mỹ lệ ấy, ư thức rằng ‘cửa sổ’ này bao giờ cũng ‘mở’. Có lẽ đây là cơ hội để nhớ lại di sản quan trọng của vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để càng ngày càng tiếp tục thấm nhuần di sản ấy.
Hôm qua chúng ta bắt đầu Mùa Chay. Phụng vụ hôm nay cống hiến cho chúng ta một tư tưởng sâu xa về ư nghĩa chính yếu của Mùa Chay: Đó là bản chỉ nam cho đời sống của chúng ta.
Bởi thế, đối với tôi - tôi nói liên quan tới Giáo Hoàng Gioan Phaolô II - đó là chúng ta cần phải nhấn mạnh một chút xíu tới Bài Đọc Thứ Nhất hôm nay. Bài giảng trọng đại của Moisen, trước ngưỡng của Thánh Địa sau cuộc hành tŕnh 40 năm trong sa mạc, là những ǵ tóm gọn toàn bộ Ngũ Kinh, toàn bộ Lề Luật. Ở đây chúng ta thấy được cái thiết yếu chẳng những đối với dân Do Thái mà c̣n đối với cả chúng ta nữa. Cái thiết yếu ấy chính là Lời Chúa: ‘Ta đặt trước các người sự sống và sự chết, phúc lành và nguyền rủa; bởi thế hăy chọn sự sống’ (Deut 30:19).
Những lời sâu xa của Mùa Chay này cũng là những lời sâu xa nơi di sản của vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta, đó là ‘hăy chọn sự sống’. Ơn gọi linh mục của chúng ta đó là chính ḿnh chọn sự sống và giúp người khác chọn sự sống. Nó là vấn đề có thể nói là canh tân trong Mùa Chay ‘việc chọn lựa trọng yếu’ của riêng chúng ta, việc chọn lựa sự sống.
Thế nhưng, vấn đề ở đây là: làm sao chúng ta có thể chọn sự sống, tại sao chúng ta lại phải làm như thế? Suy nghĩ về điều này, tôi đă nhớ lại rằng t́nh trạng bội giáo trầm trọng ở Kitô Giáo xẩy ra ở Tây Phương trong 100 năm qua chính là vấn đề nhân danh việc chọn sự sống ấy. Người ta nói rằng – tôi đang nghĩ tới Nietzche cũng như rất nhiều người khác – Kitô giáo là một thứ chọn lựa chống lại sự sống. Với Cây Thập Giá, với tất cả những giới luật, với tất cả những ‘cấm đoán’ ấn định cho chúng ta, một số người nói rằng Kitô Giáo đă đóng cửa sự sống lại.
Thế nhưng, chúng ta, chúng ta muốn có sự sống và chúng ta chọn, chúng ta lựa sự sống trên hết, khi chúng ta giải thoát ḿnh bằng Thập Giá, giải thoát ḿnh bằng tất cả những Giới Luật ấy, bằng tất cả những ‘thứ ngăn cấm’ này. Chúng ta muốn có sự sống viên măn, không ǵ khác ngoài sự sống.
Đến đây chúng ta nghĩ ngay đến những lời của bài Phúc Âm, đó là lời ‘Ai muốn cứu sự sống ḿnh sẽ mất sự sống; và ai mất sự sống ḿnh v́ Thày th́ sẽ giữ được nó’ (Lk 9:24). Đó là những ǵ mâu thuẫn ngược đời chúng ta trước hết cần phải nhận thức trong việc chọn lựa sự sống. Nó không phải là vấn đề yêu sách sự sống cho ḿnh mà là hiến ban sự sống, không phải có sự sống và giữ lấy sự sống mà là ban tặng sự sống mà chúng ta mới được sự sống. Đó là ư nghĩa tối hậu của Thập Giá, ở chỗ không t́m kiếm sự sống cho bản thân ḿnh, song hiến mạng sống ḿnh.
Như thế, Tân Ước và Cựu Ước đi với nhau. Trong Bài Đọc Thứ Nhất theo Sách Nhị Luật, đáp ứng của Thiên Chúa là: ‘Tôi truyền cho các ngươi ngày hôm nay đây là hăy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của các người, hăy bước đi theo đường lối của Ngài, và hăy tuân giữ các giới huấn của Ngài cũng như những chỉ thị của Ngài, để các người được sống’ (Deut 30:16). Thoạt tiên chúng ta có thể không thích điều này, thế nhưng đó là đường lối ở chỗ việc chọn lựa sự sống và chọn lựa Thiên Chúa là những ǵ đồng nhất. Chúa Kitô đă nói như thế trong Phúc Âm Thánh Gioan: ‘Đây là sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha’ (Jn 17:3).
Sự sống con người là một mối liên hệ. Chỉ trong mối liên hệ, chứ không thu ḿnh lại, chúng ta mới có sự sống. Và mối liên hệ sâu xa này là mối liên hệ với Đấng Hóa Công, ngoài ra, các mối liên hệ khác đều là những ǵ mong manh mỏng ḍn. Bởi thế, cần phải chọn Thiên Chúa. Một thế giới không có Thiên Chúa, một thế giới lăng quên Thiên Chúa, là một thế giới mất sự sống và rơi vào t́nh trạng của một nền văn hóa sự chết.
Bởi thế, việc chọn sự sống, việc lựa sự sống, trước hết và trên hết, nghĩa là chọn giải pháp liên hệ với Thiên Chúa. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra là: với Thiên Chúa nào? Ở đây, một lần nữa, Phúc Âm giúp cho chúng ta t́m ra câu giải đáp, đó là với Vị Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy dung nhan của Ngài nơi Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa khống chế hận thù trên Cây Thập Giá, tức là bằng yêu thương cho đến cùng. Do đó, khi chọn Vị Thiên Chúa này là chúng ta chọn sự sống vậy.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă ban cho chúng ta bức thông điệp trọng đại là ‘Phúc Âm Sự Sống’. Nơi bức thông điệp thực sự là một bức họa về các vấn đề của văn hóa, hy vọng và nguy hiểm ngày nay này, chúng ta rơ ràng thấy rằng một xă hội lăng quên Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa, chính là để có sự sống, th́ lại rơi vào một thứ văn hóa sự chết.
Chính là để có sự sống mà người ta đă nói ‘không’ với đứa nhỏ, v́ nó lấy đi mất một phần đời của tôi; ‘không’ với tương lai để có được tất cả cái hiện tại; ‘không’ với sự sống trong bụng cũng như với sự sống khổ đau sắp chết. Những ǵ là nền văn hóa sự sống trở thành một thứ phản văn hóa sự chết, nơi vắng bóng Thiên Chúa, nơi Vị Thiên Chúa không muốn hận thù mà là chế ngự hận thù vắng bóng. Ở đây chúng ta thực sự chọn sự sống.
Như thế, hết mọi sự đều có liên hệ với nhau, ở chỗ, việc chọn lựa sâu xa nhất đối với Chúa Kitô Tử Giá có liên hệ với việc chọn lựa trọn vẹn nhất đối với sự sống, từ giây phút đầu tiên cho tới giây phút cuối cùng.
Đối với tôi th́ điều này, một cách nào đó, là trọng tâm của việc chúng ta chăm sóc về mục vụ, đó là giúp cho dân chúng biết thực sự chọn sự sống, biết canh tân mối liên hệ với Thiên Chúa như là một mối liên hệ ban cho chúng ta sự sống và tỏ cho chúng ta thấy sự sống. Nhờ đó, biết yêu mến Chúa Kitô một cách mới mẻ, Đấng không phải là một Hữu Thể mờ mịt nhất, Đấng chúng ta không tới gần được và là Đấng bí ẩn, trở thành một Vị Thiên Chúa rạng ngời, một Vị Thiên Chúa với dung nhan con người, một Vị Thiên Chúa là t́nh yêu.
Chúng ta hăy quan tâm giữ lấy vấn đề cốt yếu này cả cuộc đời của ḿnh, và hăy làm sao để chương tŕnh ấy chất chứa tất cả Phúc Âm, Cựu Ước và Tân Ước, tập trung vào Chúa Kitô. Đối với chúng ta, Mùa Chay phải là thời gian canh tân việc nhận thức của chúng ta về Thiên Chúa, mối quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu, để có thể hướng dẫn người khác bằng đường lối thuyết phục trong việc chọn sự sống, mà thực sự là chọn Thiên Chúa. Chúng ta cần phải ư thức rằng trong việc chọn Chúa Kitô, chúng ta không muốn chối bỏ sự sống, mà thực sự là chọn sự sống ở tầm mức viên măn.
Việc chọn lựa của Kitô hữu là một chọn lựa thật ra rất ư là giản dị: Nó là chọn lựa việc tỏ ra ‘ưng thuận’ với sự sống. Thế nhưng, việc ‘ưng thuận’ này chỉ xẩy ra với Vị Thiên Chúa tỏ ḿnh ra, Vị Thiên Chúa mang khuôn mặt con người. Nó xẩy ra bằng việc theo Vị Thiên Chúa này vào mối hiệp thông yêu thương. Những ǵ tôi nói nẫy giờ là có ư muốn gợi lại việc chúng ta tưởng nhớ tới vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta.
Về Công Giáo Tính nơi Quê Hương Balan của Vị Tiền Nhiệm
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI Thẩm Định với về Giáo Triều của ngài trong Năm 2006
dịp Chúa Giáng Sinh cho Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu 22/12/2006
Cái tương quan giữa đề tài ‘Thiên Chúa’ với đề tài ‘ḥa b́nh’ là một khía cạnh quyết liệt của 4 chuyến Tông Du của tôi trong năm nay: tôi xin ôn lại chúng nơi đây. Trước hết là chuyến Tông Du Balan, một Xứ Sở là quê quán của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta. Đối với tôi, chuyến đi tới Quê Hương của ngài này là một nhiệm vụ sâu xa của ḷng tri ân về tất cả những ǵ ngài đă cống hiến cho riêng cá nhân tôi, nhất là cho Giáo Hội và thế giới trong một phần tư thế kỷ phục vụ của ngài.
Tặng ân cao cả nhất của ngài trao gửi đến tất cả chúng ta đó là đức tin kiên cường của ngài và tính cách tân tuyệt dấn thân của ngài. Khẩu hiệu của ngài là ‘totus tuus’. Nó phản ảnh toàn thể con người của ngài. Phải, ngài đă hiến thân dứt khoát cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, cho Mẹ của Chúa Kitô, cho Giáo Hội: cho việc phục vụ Đấng Cứu Chuộc cũng như cho việc cứu chuộc của con người. Ngài đă không giữ lại một sự ǵ. Ngài đă để cho ngọn lửa đức tin nung nấu tận thâm cung của ngài. Ngài đă tỏ cho chúng ta thấy được cách thức làm thế nào con người ngày nay có thể tin tưởng vào Thiên Chúa, vào Vị Thiên Chúa hằng sống đă đến gần với c hung ta nơi Chúa Kitô. Ngài đă tỏ cho chúng ta thấy rằng việc dứt khoát và hoàn toàn cống hiện tất cả cuộc sống của ḿnh là những ǵ khả dĩ, và chính v́ ban tặng chính ḿnh mà cuộc đời trở thành cao cả, bao la và phong phú.
Ở Balan, hết mọi nơi tôi đến tôi đều gặp thấy được niềm vui của niềm tin. ‘Niềm vui của Chúa là sức mạnh của các người’ – lời này vang lên giữa t́nh trạng khốn khổ của cái khởi đầu mới, được tư tế Ezrangỏ c ùng Dân Do Thái vừa mới trở về từ chốn lưu đầy (Neh 8:10), là những ǵ có thể nghiệm cảm thấy một cách tỏ tường ở đó. Tôi hết sức cảm kích trước mối thịnh t́nh dồi dào qua việc tôi được tiếp đón ở khắp mọi nơi. Dân chúng thấy nơi tôi là một Vị Thừa Kế Thánh Phêrô được kư thác cho thừa tác mục vụ đối với toàn thể Giáo Hội.
Họ đă thấy một người, bất chấp mọi thứ yếu hèn của loài người, được Chúa Kitô Phục Sinh nói với bấy giờ cũng như hiện nay rằng: ‘Hăy chăn các chiên của Thày’ (x Jn 21:15-19); họ đă thấy Vị Thừa Kế của một con người được Chúa Giêsu nói ở địa hạt Caesarea Philippi ‘con là Đá và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày’ (Mt 16:18). Về phần ḿnh, Phêrô không phải là một tảng đá; ngài là một con người yếu đuối và bấp bênh. Tuy nhiên, Chúa muốn làm cho chính Phêrô thành một tảng đá, để chứng tỏ rằng qua một con người yếu hèn mà chính Người mạnh mẽ nâng đỡ Giáo Hội và giữ cho Giáo Hội được hiệp nhất.
Bởi thế mà cuôc viếng thăm Balan đối với tôi là một cuộc cử hành tính cách công giáo ở một ư nghĩa sâu đậm nhất. Chúa Kitô là ḥa b́nh của chúng ta và tái kết những ǵ tách biệt, ở chỗ, Người là sự ḥa giải vượt trên và ở trên tất cả những ǵ là khác biệt nơi những giai đoạn lịch sử và các nền văn hóa. Qua Thừa Tác Vụ Thánh Phêrô, chúng ta cảm nghiệm thấy mănh lực hiệp nhất này của đức tin, một mănh lực, bắt đầu từ nhiều dân nước hằng mới mẻ, xây dựng nên một Dân Thiên Chúa duy nhất. Chúng ta thực sự hân hoan cảm nghiệm thấy rằng chúng ta từ nhiều dân tộc khác nhau làm nên một Dân Chúa duy nhất, đó là Hội Thánh của Người.
V́ lư do này Thừa Tác Vụ Thánh Phêrô có thể trở thành một dấu hiệu hữu h́nh bảo đảm mối hiệp nhất này và h́nh thành một đơn vị cụ thể. Một lần nữa, tôi xin minh nhiên hết ḷng cám ơn Giáo Hội ở Balan về cảm nghiệm cảm kích tính cách công giáo này.
Cuộc viếng thăm của tôi tới Balan bao gồm cả việc ghé thăm Auschwitz-Birkenau, thăm một chốn dă man tàn bạo nhất, một nỗ lực muốn tiêu diện Dân Do Thái, nhờ đó làm cho việc Thiên Chúa tuyển chọn họ trở thành vô bổ mà thực sự là muốn loại trừ đi chính Thiên Chúa cho khỏi lịch sử loài người.
Thật là một nguồn an ủi lớn lao cho tôi ở vào lúc thấy được một cầu vồng xuất hiện trên bầu trời, khi tôi, đứng trước những kinh hoàng của nơi chốn ấy, đă kêu lên cùng Thiên Chúa như ông Gióp, một con người bị rúng động trước nỗi hăi sợ về sự vắng mặt rơ ràng của Ngài nhưng đồng thời lại được hỗ trợ bởi niềm tin tưởng rằng thậm chí ngay trong lúc câm nín của ḿnh, Ngài vẫn không thôi ở với chúng ta. Cái cầu vồng ấy thực sự là một đáp ứng: Phải, Ta hiện hữu đây, và những lời hứa hẹn, những lời Giao Ước Ta đă phán sau trận hồng thủy vẫn c̣n hiệu năng cho tới nay (x Gen 9:12-17).
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 16/9/2007 về Các Dụ Ngôn Ḷng Thương Xót
Hôm nay, phụng vụ lại đề ra cho chúng ta một lần nữa để suy niệm đoạn 15 của Phúc Âm Thánh Luca, một trong những cao điểm và là một trong những đoạn cảm kích nhất trong tất cả các trang Thánh Kinh. Thật là tuyệt vời khiu nghĩ rằng bất cứ ở đâu trên khắp thế giới này cộng đồng Kitô hữu qui tụ lại với nhau để cử hành Thánh Thể Chúa Nhật th́ vào ngày nay âm vang tin mừng về sự thật và về ơn cứu độ ấy: Thiên Chúa là t́nh yêu nhân hậu. Thánh kư Luca đă gom góp lại với nhau 3 dụ ngôn về ḷng thương xót Chúa nơi đoạn này. Hai đoạn ngắn cũng được thấy nơi Thánh Mathêu và Marcô là những dụ ngôn về con chiên lạc và đồng bạc cắc bị mất; dụ ngôn thứ ba – dài, chi tiết và đặc thù nơi Phúc Âm Thánh Luca – là bài dụ ngôn nổi tiếng về Người Cha nhân hậu, thường được nói là “dụ ngôn người con trai hoang đàng”.
Nơi trang Phúc Âm này chúng ta hầu như có thể nghe thấy tiếng của Chúa Giêsu, Đấng đă mạc khải dung nhan Cha của Người cũng là Cha của chúng ta. Tựu kỳ trung th́ đó là những ǵ Người đă đến thế gian, đó là nói cho chúng ta biết về Cha; là làm cho Ngài được nhận biết đối với chúng ta là những đứa con lạc đường, và làm bừng lên trong tâm can chúng ta niềm vui được thuộc về Ngài, niềm hy vọng được thứ tha và được phục hồi phẩm vị, niềm ước vọng được muôn đời sống trong nhà của Ngài, một ngôi nhà cũng là nhà của chúng ta.
Chúa Giêsu thuật lại 3 dụ ngôn về t́nh thương ấy là v́ thành phần Pharisiêu và luật sĩ nói xấu về Người, khi thấy rằng Người để cho đám tội nhân đến gần Người, thậm chí Người lại ngồn ăn uống với họ (x Lk 15:1-3). Bởi vậy, Người đă giải thích, bằng ngôn ngữ thông thường của ḿnh, rằng Thiên Chúa không muốn thậm chí một trong những người con nào của Ngài bị hư đi và linh hồn của Người cảm thấy tràn đầy niềm vui khi một tội nhân hoán cải. Bởi thế, tôn giáo đích thực là ở chỗ có cùng một tâm t́nh “giầu ḷng xót thương” của trái tim ấy, một trái tim xin chúng ta hăy yêu thương hết mọi người, thậm chí là những ai xa cách và những ai là thù địch của chúng ta, bắt chước Cha trên trời là Đấng tôn trọng tự do của mọi người và kèo tất cả mọi người đến cùng Ngài bằng một quyền năng vô địch của ḷng Ngài thủy chung. Đó là con đường Chúa Giêsu đă tỏ cho những ai muốn làm môn đệ của Người: “Đừng xét đoán… đừng kết án… hăy thứ tha để các con cũng được tha thứ; hăy cho đi th́ các con sẽ được nhận lănh… hăy xót thương như Cha các con trên trời là Đấng xót thương” (Lk 6:36-38). Nơi những dụ ngôn này chúng ta thấy được chính những dấu hiệu cụ thể cho tác hành hằng ngày của chúng ta là thành phần tín hữu.
Trong thời đại của chúng ta đây, nhân loại cần thấy được ḷng thương xót của Thiên Chúa được hiên ngang loan truyền và làm chứng cho. Đức Gioan Phaolô II yêu dấu, vị đă là một đại tông đồ của ḷng thương xót Chúa, đă trực giác cảm thấy được cái khẩn trương mục vụ này. Ngài đă giành hẳn bức thông điệp thứ hai của ngài cho Người Cha nhân hậu và suốt cả giáo triều của ngài ngài đă là một vị thừa sai của ḷng xót thương cho tất cả mọi quốc gia. Sau biến cố thế thảm của ngày 11/9/2001, một biến cố đă làm lu mờ đi b́nh minh của thiên kỷ thứ ba, ngài đă mời gọi Kitô hữu và những con người thiên tâm hăy tin tưởng rằng t́nh thương của Thiên Chúa mạnh hơn hết mọi sự dữ và nơi thập giá của Chúa Kitô thế giới mới t́m được ơn cứu độ. Chớ ǵ Trinh Nữ Maria, Mẹ T́nh Thương, Vị chúng ta đă chiêm ngưỡng hôm qua như là vị sầu bi dưới chân thập tự giá, xin cho chúng ta tặng ân hằng tin tưởng vào t́nh yêu của Thiên Chúa, và xin Mẹ giúp chúng ta biết xót thương như Cha của chúng ta ở trên trời.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/9/2007
Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật Lễ Lá 30/3/2008 về Đức Gioan Phaolô II và Ḷng Thương Xót Chúa
"Như Thánh Faustina, Đức Gioan Phaolô II cũng đă trở thành một vị tông đồ của ḷng thương xót thần linh. Vào đêm Thứ Bảy 2/4/2005 không thể quên được ấy, khi ngài vĩnh viễn ĺa đời th́ chính là thời điểm lễ vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh đă được cử hành, và nhiều người nhận định thấy sự trùng hợp đặc thù này, một sự trùng hợp giữa chiều kích Thánh Mẫu là ngày Thứ Bảy Đầu Tháng và chiều kích ḷng thương xót thần linh. Thật vậy, giáo triều lâu dài và muôn mặt của ngài là ở cái cốt lơi chính yếu này; tất cả sứ vụ của ngài trong việc phục vụ chân lư về Thiên Chúa, về con người và về ḥa b́nh trên thế giới đều được tóm gọn trong lời tuyên bố này, như chính ngài đă nói ở Krakow-Lagiewniki năm 2002, khi khánh thành Đền Thờ Ḷng Thương Xót Chúa: 'Ngoài t́nh thương của Thiên Chúa sẽ không có một nguồn hy vọng nào khác cho nhân loại hết'. Sứ điệp của ngài, như sứ điệp của Thánh Faustina, cho thấy dung nhan của Chúa Kitô, mạc khải tối hậu của t́nh thương Thiên Chúa. Hăy liên lỉ chiêm ngưỡng dung nhan này: Đó là gia sản ngài đă để lại cho chúng ta mà chúng ta hân hoan đón nhận làm của ḿnh".