ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI VỚI ÂU CHÂU

 

“Lối sống của Âu Châu”

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Tông Du Áo Quốc 7-9/9/2007: Diễn Từ ở Dinh Tổng Thống Hofburg chiều Thứ Sáu 7/9

“Ngôi Nhà Âu Châu”, như chúng ta có thể ám chỉ về cộng đồng của châu lục này, sẽ là một nơi chốn tốt đẹp để sống cho hết mọi người chỉ khi nào nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của các thứ giá trị chung về văn hóa và luân lư được rút tỉa từ lịch sử của chúng ta và từ các truyền thống của chúng ta. Âu Châu không thể và không được chối bỏ các cội rễ Kitô Giáo của ḿnh. Những cội rễ này tiêu biểu cho một yếu tố sinh động của nền văn minh chúng ta khi chúng ta tiến vào ngàn năm thứ ba. Kitô Giáo đă sâu xa h́nh thành nên châu lục này: một điều tỏ tường hiển nhiên ở mọi xứ sở, nhất là ở Áo quốc, với đầy những ngôi nhà thờ và những đan viện quan trọng. Nhất là, đức tin được thấy nơi vô số người, thành phần mà trong gịng lịch sử, cũng như ở cả vào thời đại của chúng ta đây nữa, nó đă mang lại sinh động cho niềm hy vọng, cho t́nh yêu thương và cho ḷng nhân hậu. Mariazell, đền thánh quốc gia lớn của Áo quốc, cũng là một điểm hội ngộ đối với nhiều dân tộc của Châu Âu. Nó là một trong những nơi chốn mà con người nam nữ đă từng kín múc được, và tiếp tục kín múc, “sức mạnh từ trời” cho một đời sống chính trực. 

 

Trong những ngày này, chứng từ của đức tin Kitô Giáo ở tâm điểm của Âu Châu đây cũng đang được thể hiện trong Hội Nghị Đại Kết Âu Châu Lần Ba gặp nhau ở Sibiu/Hermannstadt (nước Romania), với tâm niệm là “Ánh Sáng Chúa Kitô Chiếu Soi Tất Cả Mọi Người. Niềm Hy Vọng Canh tân và Hiệp Nhất ở Âu Châu”. Người ta tự nhiên nghĩ lại biến cố Central European Katholikentag năm 2004, về đề tài: “Chúa Kitô – Niềm Hy Vọng của Âu Châu”, một biến cố đă lôi kéo rất nhiều tín hữu lại với nhau ở Mariazell!

 

Ngày nay, chúng ta nghe nhiều bề “lối sống của Âu Châu”. Từ ngữ này ám chỉ một trật tự xă hội bao gồm một nền kinh tế lành mạnh với công lư xă hội, tính cách đa nguyên về c hính trị với sự khoan nhượng, ḷng quảng đại và sự cởi mở, thế nhưng nó cũng có nghĩa là sự bảo tŕ các thứ giá trị từng làm nên châu lục này. Cái mẫu mực ấy, dưới áp lực của những quyền lực kinh tế tân tiến, đang phải đương đầu với một thử thách lớn lao. Tiến tŕnh vẫn thường được gọi là toàn cầu hóa không thể nào bị khựng lại, song nó là một công việc khẩn trương và là một trách nhiệm cao cả về chính trị trong việc điều hành và giới hạn vấn đề toàn cầu hóa, nhờ đó nó không xẩy ra trước giá phải trả của các quốc gia nghèo và của người nghèo ở những quốc gia giầu có, và gây tác hại cho các thế hệ mai hậu.

 

Như chúng ta biết, thật ra Âu Châu cũng từng trải qua và chịu đựng bởi những trào lưu hành động hết sức sai lệch. Những điều này bao gồm các ư hệ hạn hẹp đă áp đặt trên  triết lư, khoa học và cả đức tin, việc lạm dụng tôn giáo và lư trí cho những mục đích đế quốc, việc hạ giá con người gây ra bởi chủ nghĩa duy vật về lư thuyết và thực hành, và sau cùng là việc làm giảm giá ḷng khoan nhượng thành thái độ dửng dưng chẳng dựa vào các thứ giá trị vững tồn. Thế n hưng, Âu Châu vẫn từng được ghi dấu bởi khả năng tự kiểm, một khả năng cống hiến cho nó một vị thế đặc biệt nơi bức phông toàn cảnh bao rộng của những nền văn hóa trên thế giới.

 

Sự Sống

 

Chính ở nơi Âu Châu mà khái niệm về nhân quyền bắt đều được h́nh thành. Thứ quyền lợi căn bản của con người, được cho là có trước mọi thứ quyền khác, đó là chính quyền sống. Sự sống thực sự có từ giây phút được thụ thai cho tới khi nó tự nhiên qua đi. Bởi thế, việc phá thai không thể là một thứ quyền lợi của con người – nó là một cái ǵ hoàn toàn ngược lại. Nó là “một vết thương xâu xa nơi xă hội”, như cố Hồng Y Franz Konig không ngừng nhắc nhở.

 

Khi nói lên điều này, tôi không chỉ bày tỏ một mối quan tâm đặc biệt của Giáo Hội. Hơn nữa, tôi muốn tác hành như là một biện hộ viên cho một nhu cầu sâu xa của con người, lên tiếng cho những thai nhi không có tiếng nói. Làm điều này không phải là tôi nhắm mắt trước những khó khắn và những xung khắc nơi cảm nghiệm của nhiều người phụ nữ, và tôi nh́n nhận rằng cái uy tín của những ǵ chúng ta nói đây c̣n lệ thuộc vào những ǵ chính Giáo Hội đang làm để giúp đỡ thành phần nữ giới đang gặp phải khó khăn nữa.

 

Bởi thế, theo chiều hướng ấy, tôi kêu gọi những vị lănh đạo chí nh trị đừng để cho trẻ em bị coi như là một h́nh thức bệnh hoạn, và trong thực hành cũng đừng loại trừ việc hệ thống pháp lư công nhận rằng vấn đề phá thai là sai lầm. Tôi nói điều này v́ quan tâm đến nhân loại. Thế nhưng, đó mới chỉ là một phía của vấn đề lũng đoạn này. Mặt khác của vấn đề này đó là nhu cầu cần phải làm mọi sự có thể để làm cho các quốc gia Âu Châu một lần nữa hướng tới việc đón nhận trẻ em. Hăy khuyến khích cặp vợ chồng trẻ hăy thiết lập gia đ́nh mới và hăy trở thành những người làm mẹ làm cha! Quí vị chẳng những hỗ trợ hô mà c̣n làm ích choc hung xă hội nữa. Tôi cũng quyết tâm ủng hộ quí vị trong những nỗ lực chính trị của quí vị giúp thuận lợi cho các cặp vợ chồng trẻ trong việc nuôi dưỡng con cái. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy đều trở thành vô bổ, nếu chúng ta không tiếp tục kiến tạo nên một lần nữa ở các xứ sở của chúng ta bầu khí vui tươi và tin tưởng trong đời sống, một bầu khí khiến không coi trẻ em là một gánh nặng song là một tặng ân cho tất cả mọi người. 

 

Tôi c̣n một quan tâm lớn nữa đó là vấn đề tranh căi về những ǵ được gọi là “chủ động giúp cho chết đi”. Vấn đề lo âu ở đây là vào một lúc nào đó thành phần bị trầm trọng yếu đau hay già yếu sẽ bị áp lực một cách mặc nhiên hay thậm chí minh nhiên trong việc yêu cầu để ḿnh chết đi hay tự liệu cách giải quyết lấy cho ḿnh. Việc đáp ứng thích đáng với nỗi khổ đau cuối đời đó là việc yêu thương chăm sóc và hỗ trợ trong cuộc hành tŕnh tiến đến cửa tử – nhất là bằng sự trợ giúp của việc chăm sóc giảm đau – và không “chủ động giúp cho chết đi”. Thế nhưng, nếu coi trọng việc hỗ trợ về nhân bản trên con đường tiến đến cửa tử, th́ cần phải có những h́nh thức về cơ cấu ở  hết mọi lănh vực nơi guồng máy xă hội và việc chăm sóc sức khỏe, cũng như những cơ cấu được tổ chức lo việc chăm sóc giảm đau. Cũng cần  phải thực hiện những việc cụ thể, trong việc hỗ trợ về tâm lư và mục vụ cho thành phần trầm trọng yếu đau và hấp hối, cho các phần tử trong gia đ́nh của họ, cũng như cho các vị y sĩ và nhân viên y tế.

 

Việc đối thoại của lư trí

 

Sau hết, một yếu tố khác nơi gia sản của Âu Châu đó là một truyền thống tư tưởng coi là thiết yếu sự tương ứng giữa đức tin, sự thật và lư trí. Ở đây, vấn đề đă rơ ràng là lư trí có phải là khởi điểm và là nền tảng của tất cả mọi sự hay chăng. Vấn đề ở đây đó là phải chăng thực tại là do t́nh cờ hay cần thiết, nên  phải chăng lư trí chỉ là một sản phẩm ngẫu nhiên của cái vô tri và ở trong một đại dương vô lư tính, để rồi cuối cùng cả nó nữa cũng chỉ là một cái ǵ đó vô nghĩa, hay ngược lại, phải chăng niềm xác tín vững vàng của niềm tin Kitô Giáo vẫn c̣n chân thực: In principio erat Verbum – từ ban đầu đă có Lời; nguồn gốc của hết mọi sự đó là lư trí sáng tạo của Thiên Chúa là Đấng muốn  tỏ ḿnh ra cho loài người chúng ta.

 

Theo chiều hướng này, tôi xin trích lại lời của Jurgen Habermas, một triết gia không theo niềm tin Kitô Giáo. Ông đă nói rằng: “Đối với cái tự nhận thức qui cách của giai đoạn tân tiến này th́ Kitô Giáo vẫn nguyên là một chất xúc tác. Cái chủ nghĩa đại đồng quân b́nh đưa đến những ư nghĩ về tự do và sống chung trong xă hội là một gia sản trực tiếp từ khái niệm về công chính của người Do Thái cũng như từ đạo lư về yêu thương của Kitô Giáo. Những ǵ chính yếu vẫn không thay đổi, cái gia sản này bao giờ cũng được khéo léo tái thích đáng và tái dẫn giải. Cho đến ngày nay vẫn không có vấn đề thay thế cái gia sản này”.

 

Những việc làm của Âu Châu trên thế giới

 

Với tính cách đặc thù nơi ơn gọi của ḿnh, Âu Châu cũng có một trách nhiệm đặc thù trên thế giới nữa. Trước hết, nó không được buông xuôi. Châu lục này, một châu lục về phương diện sinh ra và chết đi đang mau chóng cằn cỗi, không được trở thành già nua về tinh thần. Ngoài ra, Âu Châu sẽ càng đứng vững hơn nếu nó chấp nhận trách nhiệm trên thế giới tươn g ứng với truyền thống về trí thức đặc thù của nó, với những phương tiện đặc biệt của nó và với quyền  lực to lớn của nó về kinh tế. Khối Hiệp Nhất Âu Châu bởi thế cần phải gánh một vai tṛ lănh đạo trong việc chống lại t́nh trạng nghèo khổ toàn cầu cũng như trong những nỗ lực cổ vơ ḥa b́nh. Với ḷng tri ân, chúng ta có thể nhận thấy rằng các quốc gia ở Âu Châu và của Khối Hiệp Nhất Âu Châu ở trong số những quốc gia đang đóng góp nhiều nhất cho việc phát triển quốc tế, thế nhưng họ cũng cần phải có một tầm vóc quan trọng về chính trị nữa, chẳng hạn, liên quan tới những thách đố khẩn trương đă xẩy ra ở Phi Châu, trước những tai họa đang gây khốn đốn cho châu lục này, như hiểm họa Hội Chứng Liệt Kháng, t́nh h́nh ở Darfur, việc khai thác bất chính các tài nguyên thiên nhiên và việc chuyên chở một cách rối loạn các thứ vũ khí. Những nỗ lực về chính trị và ngoại giao của Âu Châu và các quốc gia của nó cũng không lơ là với t́nh h́nh liên tục trầm trọng ở Trung Đông, nơi cần đến việc góp phần của hết mọi người để cổ vơ việc loại trừ bạo động, đối thoại hỗ tương và chung sống ḥa b́nh thực sự. Mối liên hệ của Âu Châu với các quốc gia Mỹ Châu Latinh và Á Châu cũng cần phải tiếp tục gia tăng bằng những hợp ước thương mại.

 

 

"Những thành đạt lẫn những trục trặc của thế giới Tây phương"

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Vấn Đáp với giới truyền thông Thứ Bảy 12/7/2008 trên chuyến bay sang Sydney Úc Đại Lợi cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXIII

 

Úc Đại Lợi nơi cấu trúc về lịch sử hiện nay của ḿnh là một phần của ‘thế giới Tây phương’, về kinh tế cũng như chính trị, nên rơ ràng là Úc Đại Lợi cũng thông dự vào những thành đạt lẫn những trục trặc của thế giới Tây phương. Thế giới Tây phương đă có 50 năm qua những thành đạt lớn lao – những thành đạt về kinh tế, những thành đạt về kỹ thuật; tuy nhiên, tôn giáo – đức tin Kitô giáo – ở một nghĩa nào đó lại đang bị khủng hoảng. Điều này là những ǵ hiển nhiên v́ đang xẩy ra một ấn tượng là chúng ta không cần đến Thiên Chúa, chúng ta có thể tự ḿnh làm được tất cả mọi sự, chúng ta không cần Thiên Chúa để được hạnh phúc, chúng ta không cần Thiên Chúa để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn, Thiên Chúa không cần thiết, chúng ta tự ḿnh có thể làm được tất cả mọi sự. Đàng khác, chúng ta thấy rằng tôn giáo lại luôn hiện diện trên thế giới này và sẽ luôn hiện diện v́ Thiên Chúa đang hiện diện trong ḷng của con người và không bao giờ có thể biến mất. Chúng ta thấy tôn giáo thực sự là một quyền lực ra sao trên thế giới này cũng như ở các xứ sở. Tôi không chỉ muốn nói về một thứ suy thoái tôn giáo ở Âu Châu: thực sự là đang có một cuộc khủng hoảng ở Âu Châu, không nhiều lắm ở Mỹ Châu song dù sao cũng xẩy ra ở đó nữa, và ở Úc Châu. Thế nhưng, đàng khác, bao giờ cũng vẫn có sự hiện diện của đức tin ở những h́nh thức mới mẻ và qua những cách thức mới mẻ; có lẽ ở một thiểu số nhưng bao giờ cũng hiện hữu cho tất cả xă hội đều thấy. Và giờ đây, trong thời điểm lịch sử này, chúng ta bắt đầu thấy rằng chúng ta thực sự là cần đến Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm được nhiều điều, nhưng chúng ta không thể tạo nên đươc khí hậu của ḿnh. Chúng ta tưởng chúng ta có thể làm được nó nhưng chúng ta không thể nào làm được nó. Chúng ta cần tặng ân Trái Đất, tặng ân nước nôi, chúng ta cần đến Đấng Hóa Công; Đấng Hóa Công tái xuất hiện trong việc tạo dựng của Ngài. Thế nên chúng ta cũng tiến đến chỗ hiểu được rằng chúng ta không thể nào thực sự hạnh phúc, không thể nào thực sự phát động công lư cho toàn thế giới, mà không có một tiêu chuẩn hiệu năng trong dự án của chúng ta, không có một Vị Thiên Chúa là Đấng công minh và là Đấng ban cho chúng ta ánh sáng cùng sự sống. Bởi vậy, tôi nghĩ rằng ở một nghĩa nào đó sẽ có một cuộc khủng hoảng về đức tin của chúng ta nơi ‘thế giới Tây phương’, song chúng ta bao giờ cũng có một cuộc phục hồi đức tin, v́ đức tin Kitô Giáo là những ǵ chân thực, và chân lư bao giờ cũng hiện diện trên  thế giới loài người này, và Thiên Chúa bao giờ cũng là sự thật. Như thế, cuối cùng tôi vẫn cảm thấy lạc quan.

 

 

"Những cội gốc của Pháp quốc – như những cội gốc của Âu Châu – là Kitô Giáo"

 

Với thành phần chính trị gia thuộc chính quyền Pháp quốc 12/9

 

Trong chuyến viếng thăm Rôma của ḿnh, kính Tổng Thống, ông đă nhắc lại rằng những cội gốc của Pháp quốc – như những cội gốc của Âu Châu – là Kitô Giáo. Chính lịch sử đă cống hiến đủ chứng cớ về vấn đề này, ở chỗ, từ ban đầu của ḿnh, xứ sở của quí vị đă lănh nhận sứ điệp Phúc Âm. Cho dù đôi khi không có chứng cớ về văn kiện, th́ việc hiện hữu của các cộng đồng Kitô giáo ở Gaul đă chứng thực về một giai đoạn rất xa xưa; thật là cảm động khi nhớ lại là thành phố Lyons đă có một vị Giám Mục vào giữa thế kỷ thứ hai, và Thánh Irenaeus, tác giả của cuốn Adversus Haereses, đă cống hiến một chứng từ hùng hồn cho tư tưởng vững mạnh của Kitô Giáo. Thánh Irenaeus xuất thân từ Smyrna để giảng dạy niềm tin tưởng vào Chúa Kitô Phục Sinh. Vị Giám Mục Thành Lyon này đă nói tiếng Hy Lạp như tiếng mẹ đẻ của ḿnh. C̣n dấu hiệu nào tuyệt vời hơn về bản chất phổ quan và tiêu đích của sứ điệp Kitô Giáo nữa đây? Giáo Hội, được thiết lập ở giai đoạn sơ khai của xứ sở quí vị, đă đóng một vai tṛ làm nên văn minh mà tôi hân hoan tỏ ḷng ngưỡng mộ vào dịp này. Chính ông đă đề cập tới điều này trong bài diễn văn của ông ở Điện Lateran vào tháng 12 năm ngoái và một lần nữa hôm nay đây. Việc truyền đạt của nền văn hóa cổ kính qua các vị đan sĩ, các giáo sư và những biên chép viên, việc khuôn đúc tâm hồn và tinh thần yêu thương người nghèo khổ, việc tỏ ra hỗ trợ đối với thành phần bị bỏ rơi nhất, bởi việc thành lập đầy những hội ḍng, việc đóng góp của Kitô hữu trong vấn đề thiết lập những cơ cấu của Gaul sau này là Pháp quốc, tất cả những điều này là những ǵ quá hiển nhiên mà tôi cần phải ngẫm nghĩ. Cả hằng ngàn nguyện đường, thánh đường, đan viện và vương cung thánh đường làm duyên dáng tâm điểm các phố thị của quí vị hay cái b́nh lặng của miền quê là những ǵ rơ ràng nói lên các vị cha ông của anh chị em trong đức tin muốn tôn vinh Đấng đă ban cho họ sự sống và là Đấng đă bảo tŕ sự hiện hữu của chúng ta....

 

Nhiều người, ở Pháp quốc đây cũng như ở các nơi khác, đă suy nghĩ về những mối liên hệ giữa Giáo Hội và Quốc Gia. Thật vậy, Chúa Kitô đă cống hiến nguyên tắc căn  bản cho việc giải quyết chính đáng về vấn đề liên hệ giữa lănh vực chính trị và lănh vực tôn giáo này, khi Người trả lời cho một vấn nạn, với câu nói: ‘Hăy trả cho Caesar những ǵ của Caesar, và hăy trả cho Thiên Chúa những ǵ của Thiên Chúa’ (Mk 12:7). Giáo Hội ở Pháp đang được hưởng ‘một chế độ tự do’. T́nh trạng ngờ vực trong quá khứ dần dần đă được biến thành một cuộc đối thoại b́nh lặng và tích cực càng ngày càng gia tăng mạnh mẽ hơn. Một khi cụ mới về việc đối thoại đă được thực hiện từ năm 2002, và tôi rất tin tưởng vào hoạt động của nó dựa trên thiện chí của nhau. Chúng ta biết rằng vẫn c̣n một số lănh vực cần phải trao đổi cần chúng ta thực hiện và tái khai triển từng bước một cách dứt khoát và nhẫn nại. Đích thân ḿnh, Tổng Thống đă sử dụng một lời diễn tả hay ho, đó là “lạicité positive” (vấn đề trần thế tích cực) để nói lên cái hiểu biết cởi mở hơn này. Ở vào lúc này đây của lịch sử, khi mà các nền văn hóa tiếp tục sang ngang thường xuyên hơn, tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng giờ đây cần phải suy nghĩ lại về ư nghĩa đích thực và tầm quan trọng của vấn đề thế tục. Thật vậy, một đàng cần phải phân biệt giữa lănh vực chính trị và lănh vực tôn giáo để bảo tŕ cả quyền tự do tôn giáo của công dân cũng như trách nhiệm của Quốc Gia đối với họ; đàng khác, cần phải nhận thức hơn nữa về vai tṛ bất khả thay thế của tôn giáo đối với việc huấn luyện lương tâm và việc góp phần nó có thể mang lại – trong những sự khác – vấn đề tạo được một sự đồng thuận căn bản về đạo lư trong xă hội.

 

Với thành phần thuộc lănh vực văn hóa Pháp quốc 12/9

 

T́nh h́nh hiện tại của chúng ta là một t́nh h́nh khác về nhiều quan điểm với t́nh h́nh Thánh Phaolô đă đụng đầu ở Nhă Điển, tuy có khác nhau, hai trường hợp cũng có nhiều điểm chung. Các thành đô của chúng ta không c̣n có đầy những bàn thờ và đầy những h́nh ảnh thần linh. Đối với nhiều người Thiên Chúa thực sự đă trở thành một thứ đại vô danh. Thế nhưng, giống như trong quá khứ, khi mà ẩn dấu ở đằng sau vô vàn h́nh ảnh về Thiên Chúa vẫn là vấn nạn liên quan tới Vị Thiên Chúa vô danh này, cũng thấy xẩy ra việc vắng bóng hiện nay của Thiên Chúa lại được âm thầm xâm chiếm bởi vấn nạn liên quan tới Ngài. Quaerere Deum – việc t́m  kiếm Thiên Chúa và việc con người để cho Ngài t́m thấy họ là những ǵ ngày nay cần thiết không kém ngày xưa. Một thứ văn hóa thuần thực chứng cố gắng lái vấn nạn về Thiên Chúa vào lănh vực chủ quan, như thể những ǵ phản khoa học, sẽ là một thứ hàng phục của lư trí, một thứ chối từ những triển vọng tuyệt vời nhất, và v́ thế là một thảm họa cho loài người với đầy những hậu quả rất trầm trọng. 

 

Những ǵ đă cống hiến nền tảng cho văn hóa Âu Châu – đó là việc t́m kiếm Thiên Chúa và việc sẵn ḷng lắng nghe Ngài – ngày nay vẫn là nền tảng cho bất cứ một thứ văn hóa chân chính nào.