Huấn dụ hàng giáo sĩ sống thân t́nh với Chúa Kitô
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, phân tích, tổng hợp và chuyển dịch
“Yếu tính của thiên chức linh mục đó là làm bạn hữu với Chúa Giêsu Kitô”
“Tất cả những ǵ chúng ta làm đều được thực hiện trong mối hiệp thông với Người”
“Chúng ta cần phải làm cho ḿnh tưởng nghĩ như Chúa Giêsu”
"Chúng ta khuấy động tâm can của Thiên Chúa"
"Theo Chúa Kitô – nếu chúng ta muốn theo Chúa Kitô – th́ theo Chúa Kitô nghĩa là mặc lấy cách trọn vẹn hơn nữa tâm trí và đời sống của Người”
"Việc sâu xa nên giống Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành, là cốt lơi cho việc thừa tác mục vụ của chúng ta"
Nếu Mùa Phục Sinh Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Sự Sống Lại và Là Sự Sống (x Jn 11:25) th́, qua nội dung của các bài Phúc Âm, 3 tuần đầu liên quan tới Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Sự Sống Lại, v́ Phúc Âm thuật lại các lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các môn đệ của Người, và 4 tuần c̣n lại liên quan tới Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Sự Sống, v́ Phúc Âm nói tới vai tṛ Chúa Chiên Lành cũng như đến Cây Nho và Cành v.v. Nếu tuần Thứ Tư Phục Sinh Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Sự Sống liên quan tới chiên (đặc biệt liên quan tới giáo dân nhiều hơn, v́ Chúa Kitô nói với dân Do Thái trong bài Phúc Âm) th́ tuần Thứ Năm Phục Sinh Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Sự Sống liên quan tới thành phần lănh đạo Kitô Giáo (giáo phẩm, giáo sĩ và tu sĩ nhiều hơn, v́ Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ trong bài Phúc Âm).
Thật vậy, Lời Chúa trong bài Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh ngỏ riêng với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Kitô Phục Sinh, qua h́nh ảnh Cây Nho Đích Thực, là “Sự Sống” đối với chung Giáo Hội và đối với riêng thành phần giáo sĩ cũng như tu sĩ, nhất là giáo phẩm, thành phần được Người tuyển chọn để làm bạn hữu với Người (x Jn 15:14-15), nhờ đó họ có thể cảm nghiệm Người, hầu làm chứng nhân cho Người và chăn dắt đàn chiên của Người như Người chăn dắt chúng với tinh thần của một vị Mục Tử Nhân Lành hiến mạng sống ḿnh v́ chiên. Bằng không, kinh nghiệm tu đức và mục vụ cho thấy, nạn linh mục lạm dụng t́nh dục không nhiều th́ ít vẫn cứ tiếp tục xẩy ra, cho dù đă có một số Giáo Phận khai phá sản, và chung Giáo Hội Hoa Kỳ đă phải tốn phí trên 1 tỉ Mỹ kim v́ vụ này trong 4 năm nay. Thế nhưng làm sao để có thể thực hiện được việc sống thân t́nh với Chúa Kitô, hầu chẳng những tránh khỏi bị chặt đi như cành nho khô héo, mà c̣n trổ sinh hoa trái nữa. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, vị Giáo Hoàng của nội tâm, với bức Thông Điệp đầu tay “Thiên Chúa Là T́nh Yêu” có đă huấn dụ ra sao về vấn đề này với hàng giáo sĩ?
Phải công nhận rằng như vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II rất quan tâm đặc biệt tới hàng giáo sĩ, tới độ, hằng năm, trong suốt cả giáo triều 26 năm của ḿnh, liên tục năm nào ngài cũng gửi cho hàng giáo sĩ một bức thư vào Thứ Năm Tuần Thánh thế nào, th́ vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI đương kim của chúng ta cũng hết sức quan tâm chẳng những tới hàng giáo sĩ mà c̣n với cả thành phần chủng sinh nữa. Điển h́nh là trong Ngày Giới Trẻ Thế XX ở Cologne Đức Quốc, ngài đă gặp riêng thành phần chủng sinh vào chiều Thứ Sáu 19/8/2005 vốn là thời gian giành để giới trẻ đi Đường Thánh Giá như trong các ngày giới trẻ thế giới trước đó. Riêng về vấn đề hàng giáo sĩ cũng như chủng sinh sống thân t́nh với Chúa Giêsu, không lần gặp gỡ nào với các vị linh mục hay chủng sinh, đặc biệt là lần vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 ở Đền Thờ Gioan Latêranô với hàng giáo sĩ Rôma, và nhất là vào Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô, và cả những lần sau đó nữa, ở các nơi khác nhau. Sau đây là những huấn dụ của ngài.
Trước hết, ngài khẳng định về ơn gọi của thiên chức linh mục và tác hiệu của bí tích truyền chức thánh:
“Yếu tính của thiên chức linh mục đó là làm bạn hữu với Chúa Giêsu Kitô”
Huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 ở Đền Thờ Gioan Latêranô:
“Quí linh mục Rôma thân mến, Chúa Kitô đă gọi chúng ta là bạn hữu, Người đă làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người, Người kư thác bản thân Người cho chúng ta, Người trao phó cho chúng ta Thân Ḿnh của Người nơi Thánh Thể, Người ủy thác cho chúng ta Giáo Hội của Người. Bởi thế mà chúng ta cần phải trở thành những người bạn thực sự của Người, chúng ta cần phải có cùng một quan điểm như Người, chúng ta cần phải muốn những ǵ Người muốn và không muốn những ǵ Người không muốn. Chính Chúa Giêsu đă nói với chúng ta rằng: ‘Các con là bạn hữu của Thày nếu các con thi hành những ǵ Thày truyền dạy các con’ (Jn 15:14). Vậy chúng ta hăy cùng nhau quyết tâm như thế này, đó là tất cả chúng ta cùng nhau thực hiện ư muốn thánh hảo của Người là những ǵ bao gồm tự do và niềm vui của chúng ta.
“Do đó, tôi muốn lập lại cùng quí huynh trong hàng giáo sĩ thân mến những lời không thể quên được của Đức Gioan Phaolô II: “Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống” (Address at a Symposium in honor of the 30th anniversary of the Decree "Presbyterorum Ordinis," Oct. 27, 1995, n. 4; L'Osservatore Romano English edition, Nov. 15, 1995, p. 7). Mỗi một người trong chúng ta làm sao để có thể nói những lời ấy như là những lời của ḿnh: Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống.
Bài giảng trong Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô:
“Chúa Kitô đă đặt tay của Người trên chúng ta. Người đă bày tỏ ư nghĩa của cử chỉ như thế qua những lời Người nói rằng: ‘Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa, v́ tôi tớ không biết ǵ về những việc chủ làm. Thày gọi các con là bạn hữu, v́ Thày đă nói với các con hết mọi sự Thày đă nghe nơi Cha Thày’ (Jn 15:15). Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu: Nơi những lời ấy người ta thậm chí có thể thấy được việc thiết lập thiên chức linh mục. Chúa Kitô làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người, ở chỗ, Người kư thác cho chúng ta tất cả mọi sự; Người phó chính bản thân Người cho chúng ta để chúng ta có thể nói bằng cái tôi của Người: ‘in persona Christi capitis’. Ôi Người tin tưởng chúng ta biết là dường nào! Người thực sự phó ḿnh vào tay của chúng ta.
“Những dấu hiệu thiết yếu của việc truyền chức linh mục là tất cả những biểu lộ sâu xa của lời ấy: dấu hiệu đặt tay; trao sách – trao lời Người ủy thác cho chúng ta; trao chén biểu hiệu cho việc Người truyền đạt cho chúng ta mầu nhiệm sâu xa và thân mật nhất của Người. Trong tất cả những sự ấy c̣n có quyền năng tha tội nữa: Người cũng làm cho chúng ta tham dự vào việc Người nhận thức thấy t́nh trạng thảm thương của tội lỗi cùng với tất cả những ǵ là tối tăm trên thế giới, và trao cho ch́a khóa vào tay chúng ta để mở lại cửa Nhà Cha trên trời. Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa mà là bạn hữu. Đó là ư nghĩa sâu xa của việc làm linh mục, đó là trở thành bạn hữu của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cần phải tái dấn thân cho mới thân hữu hằng ngày này.
Sau nữa, ngài nói tới việc sống thân t́nh với Chúa Kitô bằng cách ở với Chúa Kitô bằng mọi giá:
“Tất cả những ǵ chúng ta làm đều được thực hiện trong mối hiệp thông với Người”
Huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 ở Đền Thờ Gioan Latêranô:
“Quí linh mục Rôma thân mến, Chúa Kitô Phục Sinh đang kêu gọi chúng ta hăy trở thành chứng nhân của Người và ban cho chúng ta sức mạnh Thần Linh của Người để chúng ta có thể thực sự trở thành như thế. Thế nên cần phải ở với Người (x Mk 3:14; Acts 1:21-23) trong cả cuộc sống. Như trong lời diễn tả đầu tiên về ‘sứ vụ tông đồ – munis apostolicum’ ở Phúc Âm Thánh Marcô đoạn 3, một tŕnh thuật nói về những ǵ Chúa Kitô nghĩ về ư nghĩa của một vị tông đồ, đó là ở với Người và sẵn sàng thi hành sứ vụ. Hai điều này đi đôi với nhau và chỉ ở với Người chúng ta cũng và luôn cùng Phúc Âm tiến đến với những người khác mà thôi.
“Như thế, rất cần phải ở với Người, có thế, nỗi khắc khoải ấy mới thấm nhập chúng ta và mới làm cho chúng ta có thể mang quyền lực và niềm vui của đức tin đến cho những người khác bằng cả cuộc sống của chúng ta chứ không phải chỉ bằng mấy lời nói suông.
“Dĩ nhiên, đối với chúng ta, việc gắn bó và hiến thân này mỗi một người trong anh em phải trả giá riêng. Cái giá phải trả này bao gồm nào là giờ giấc, lo toan, tiêu hao sinh lực. Tôi biết các nỗ lực hằng ngày của anh em và xin thay Chúa cám ơn anh em. Thế nhưng, tôi cũng muốn giúp anh em bao nhiêu có thể để anh em không đứt gánh giữa đường.
“Thật vậy, để có thể mang vác, thậm chí có thể tăng trưởng, với tư cách là một con người và là một linh mục, trước hết cần phải sống hiệp thông với Chúa Kitô, Đấng được dinh dưỡng bằng ư muốn của Chúa Cha (x Jn 4:34): tất cả những ǵ chúng ta làm đều được thực hiện trong mối hiệp thông với Người, nhờ đó, chúng ta luôn tái nhận thức được mối hiệp nhất của cuộc sống chúng ta nơi nhiều phương diện trong các mối quan tâm hằng ngày của ḿnh.
“Chúng ta cũng học được từ Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă tự hiến để làm theo ư muốn của Cha, nghệ thuật khổ chế của linh mục là những ǵ ngày nay cần thiết: nó không được thực hiện như là một gánh nặng chồng chất thêm vào các hoạt động mục vụ khiến cho ngày sống của chúng ta càng trở nên khó khăn hơn. Trái lại, chúng ta cần phải biết cách thắng vượt bản thân ḿnh, biết cách ban tặng và biết cách cống hiến đời sống của ḿnh.
“Thế nhưng, nếu tất cả những điều này thực sự xẩy ra nơi chúng ta, nhờ đó chính hành động của chúng ta thực sự trở thành việc khổ chế của chúng ta và là việc tự hiến của chúng ta, có thế tất cả những điều ấy không phải chỉ là một điều ước muốn suông, th́ chắc chắn chúng ta cần đến những giây phút để lấy lại nghị lực của ḿnh, bao gồm cả nghị lực về thể lư, nhất là để cầu nguyện và suy niệm, trở về với con người nội tâm của chúng ta và t́m Chúa trong chúng ta”.
“Như thế, vấn đề bỏ giờ ra sống trước nhan Chúa bằng việc nguyện cầu là một ưu tiên mục vụ thực sự; nó không phải là một thứ thêm thắt vào hoạt động mục vụ: ở trước nhan Chúa là một ưu tiên mục vụ và phải nói là một ưu tiên quan trọng nhất. Đức Gioan Phaolô II đă cho chúng ta thấy điều này một cách cụ thể và rạng ngời nhất qua tất cả mọi hoàn cảnh sống và thi hành thừa tác vụ của ngài.
“Quí linh mục thân mến, chúng ta không bao giờ có thể nhấn mạnh cho đủ tính cách sâu xa và quan trọng của việc bản thân chúng ta đáp ứng với ơn gọi nên thánh. Nó không những là một điều kiện để việc tông đồ riêng của chúng ta sinh hoa kết trái mà, nói một cách tổng quan hơn, c̣n để cho dung nhan của Giáo Hội phản quang ánh sáng của Chúa Kitô nữa (x Ánh Sáng Muôn Dân, 1), nhờ đó lôi kéo dân chúng nh́n nhận và tôn thờ Chúa Kitô.
Tiếp theo, ngài nói đến bản chất của việc sống thân t́nh với Chúa Giêsu là ở tại có cùng một tâm tưởng như Người:
“Chúng ta cần phải làm cho ḿnh tưởng nghĩ như Chúa Giêsu”
Bài giảng trong Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô:
“T́nh thân hữu là để chia sẻ tâm tư và ước muốn. Trong mối hiệp thông này, Thánh Phaolô nói với chúng ta ở Thư gửi giáo đoàn Philiphê (x 2:2-5), chúng ta cần phải làm cho ḿnh tưởng nghĩ như Chúa Giêsu. Và mối hiệp thông về tâm tưởng này không phải chỉ là những ǵ về tri thức, mà là một thứ chia sẻ về những cảm thức cùng ư muốn nên cũng chia sẻ về cả hành động nữa”.
Huấn dụ Các Chủng Sinh tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX hôm 19/8/2005:
“Cái bí mật của thánh đức đó là mối thân t́nh với Chúa Kitô và trung thành tuân phục ư muốn của Người. Thánh Ambrôsiô đă nói: ‘Chúa Kitô là tất cả đối với chúng ta’; và Thánh Biển Đức đă cảnh giác việc coi bất cứ sự ǵ hơn t́nh yêu Chúa Kitô. Chớ ǵ Chúa Kitô là tất cả mọi sự cho các bạn. Các chủng sinh thân mến, các bạn hăy là những người đầu tiên hiến dâng lên Người những ǵ cao quí nhất đối với các bạn, như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nêu lên trong sứ điệp ngài viết cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới này: đó là thứ vàng tự do của các bạn, nhũ hương thiết tha nguyện cầu của các bạn, mộc dược cảm t́nh sâu xa nhất của các bạn (x khoản số 4)”.
Chưa hết, ngài nói tới vấn đề thực hiện cụ thể việc sống thân t́nh với Chúa Kitô bằng cách đọc Thánh Kinh:
Bài giảng trong Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô:
“Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải nhận biết Chúa Giêsu một cách thân t́nh hơn bao giờ hết, lắng nghe Người, chung sống với Người, bỏ giờ ra với Người. Việc lắng nghe Người – nơi việc ‘lectio dinina’, tức là việc đọc Thánh Kinh, không phải theo kiểu học thức mà là theo kiểu thiêng liêng; nhờ đó chúng ta biết cách gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng đang hiện diện và nói với chúng ta. Chúng ta cần phải suy nghĩ và phản tỉnh những lời của Người cũng như những hành động của Người trước nhan Người và cùng với Người.
“Việc đọc Thánh Kinh là việc cầu nguyện, nó phải là việc cầu nguyện – nó phải xuất phát từ việc nguyện cầu và dẫn tới việc nguyện cầu. Các thánh kư nói với chúng ta rằng Chúa Kitô thường ẩn ḿnh ở trên núi cầu nguyện thâu đêm. Chúng ta cũng cần đến thứ ‘núi’ này: đó là độ cao nội tâm chúng ta cần phải leo lên, đó là ngọn núi nguyện cầu. Chỉ có thế mối thân hữu mới phát triển. Chỉ có thế chúng ta mới có thể thi hành công việc phục vụ tư tế của chúng ta, chỉ có thế chúng ta mới có thể đem Chúa Kitô và Phúc Âm của Người đến cho con người. Việc chỉ biết hăng say hoạt động thậm chí có thể là những ǵ anh hùng. Thế nhưng hoạt động bề ngoài, cuối cùng, vẫn chẳng sinh hoa kết trái và mất đi hiệu năng, nếu nó không được xuất phát từ mối hiệp thông sâu xa thân mật với Chúa Kitô.
“Thời gian chúng ta giành cho việc làm này thực sự là thời gian của hoạt động mục vụ, của hoạt động mục vụ đích thực. Một linh mục trước hết là một con người nguyện cầu. Thế giới thường lạc hướng của ḿnh theo chiều hướng duy hoạt động cuồng loạn của nó. Hoạt động của nó và các khả năng của nó trở thành những ǵ hủy hoại, nếu không có sức mạnh của việc nguyện cầu là những ǵ xuất phát gịng nước sự sống có khả năng làm cho đất đai khô cằn trở nên mầu mở ph́ nhiêu.
Huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Balan trong chuyến tông du Balan Thứ Sáu 26/5/2006
“Sự cao cả nơi thiên chức linh mục của Chúa Kitô khiến chúng ta cảm thấy rùng ḿnh. Chúng ta có thể bị thôi thúc mà kêu lên như Thánh Phêrô rằng: ‘Lạy Chúa, xin xa con ra, v́ con là một kẻ tội lỗi’ (Lk 5:8), v́ chúng ta thấy khó có thể tin được rằng Chúa Kitô đă đặc biệt kêu gọi chúng ta. Người chẳng lẽ không chọn được một người khác có khả năng hơn tôi, thánh thiện hơn tôi hay sao? Thế nhưng Chúa Giêsu đă âu yếm nh́n đến mỗi một người trong chúng ta, để rồi chúng ta cảm thấy tin tưởng trước ánh mắt này của Người. Chúng ta đừng bị vội vă cuốn hút, như thể thời giờ giành cho Chúa Kitô trong thinh lặng nguyện cầu là thời gian lăng phí. Trái lại, chính vào lúc bấy giờ mà những hoa trái tuyệt vời nhất của việc mục vụ mới phát sinh. Không nên chán nản v́ sự kiện cần phải cố gắng mới thực hiện được việc nguyện cầu, hay v́ cảm giác Chúa Giêsu vẫn cứ lặng thinh. Người thực sự là thinh lặng, thế nhưng Người cũng đang hành động. Về vấn đề này tôi cảm thấy vui nhắc lại cảm nghiệm của tôi năm ngoái ở Cologne. Tôi bấy giờ đă chứng kiến thấy một sự thinh lặng sâu xa không thể nào quên được của một triệu con người trẻ vào lúc Chầu Thánh Thể! Cái thinh lặng nguyện cầu ấy liên kết chúng ta, cống hiến cho chúng ta niềm an ủi lớn lao. Trong một thế giới đầy những ồn ào náo động, đầy những hoang mang bối rối, cần phải thực hiện việc thinh lặng chầu Chúa Giêsu ẩn ḿnh trong Bánh Thánh. Hăy siêng năng thực hiện việc nguyện chầu ấy và dạy cho giáo dân biết làm việc này. Nó là mạch nguồn của niềm ủi an và ánh sáng đặc biệt cho những ai đang cảm thấy khổ đau”.
Sau hết, ngài nói tới thành quả của việc sống thân t́nh với Chúa Kitô, đó là sinh hoa trái mục vụ:
Huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 ở Đền Thờ Gioan Latêranô:
“Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu. Yếu tính của thiên chức linh mục đó là làm bạn của Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có thế chúng ta mới thực sự nói ‘thay cho Chúa Kitô – in persona Christi’, cho dù nội tâm chúng tax a ĺa Chúa Kitô vẫn không thể làm tổn thương tới tính cách hiệu thành của bí tích. Làm bạn với Chúa Giêsu, làm linh mục nghĩa là làm một con người nguyện cầu. Vậy chúng ta hăy t́nh bạn này và hăy thoát khỏi cảnh vô tri của những người tôi tớ quê mùa. Vậy chúng ta hăy biết làm sao để sống, để chịu khổ và để tác hành với Người và cho Người”.
Huấn dụ Các Chủng Sinh tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX hôm 19/8/2005:
“Những năm chủng viện là một thời gian hành tŕnh, một thời gian thăm ḍ, nhất là một thời gian khám phá ra Chúa Kitô. Chỉ khi nào một con người trẻ có được một cảm nghiệm riêng tư về Chúa Kitô họ mới có thể thực sự hiểu được ư của Chúa và nhờ đó hiểu được ơn gọi của ḿnh. Các bạn càng biết Chúa Giêsu th́ mầu nhiệm của Người càng thu hút các bạn. Các bạn càng khám phá ra Người các bạn càng được thúc đẩy t́m kiếm Người. Đó là một biến động của một tinh thần kéo dài suốt cuộc đời của các bạn, và là tinh thần làm cho chủng viện trở thành một thời gian đầy hứa hẹn, một “mùa xuân” thực sự vậy”.
Bài giảng trong Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô:
“Là linh mục tức là làm bạn với Chúa Giêsu Kitô, và điều này càng trở nên hơn thế nữa qua cả cuộc sống của chúng ta. Thế giới cần đến Thiên Chúa – không cần đến bất cứ một thần linh nào, mà là cần đến Vị Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, đến Vị Thiên Chúa hóa thành huyết nhục, Vị đă yêu thương chúng ta đến chết v́ chúng ta, Vị đă phục sinh và đă tao nên nơi bản thân Ngài một khoảng trống cho con người. Vị Thiên Chúa này cần phải sống trong chúng ta và chúng ta cần phải sống trong Ngài. Đó là ơn gọi linh mục của chúng ta: Chỉ có thế hoạt động linh mục của chúng ta mới sinh hoa kết trái mà thôi.
“Tôi muốn kết thúc bài giảng này bằng một câu nói của Andres Santoro, vị linh mục của Giáo Phận Rôma bị sát hại ở Trebisonda đang khi nguyện cầu; Đức Hồng Y Cé đă nói cho chúng ta biết câu ấy trong Tuần Pḥng (đầu Mùa Chay cho giáo triều Rôma vừa rồi). Lời đó là: ‘Tôi ở nơi đây để sống giữa những thành phần dân chúng này, nhờ đó Chúa Giêsu hiện diện giữa họ qua xác thịt của tôi… Người ta có khả năng cứu độ chỉ bằng việc hiến ban xác thịt của ḿnh mà thôi. Sự dữ của thế giới này được hạ sinh và khổ đau được cảm nghiệm thấy, chính yếu là ở chỗ thấm nhập vào xác thịt riêng của người ta, như Chúa Giêsu đă làm’. Chúa Giêsu đă mặc lấy xác thịt của chúng ta. Chúng ta hăy hiến nó cho Người, để nhờ đó Người có thể vào đời mà đổi đời. Amen”.
Huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Balan trong chuyến tông du Balan Thứ Sáu 26/5/2006
“Hôm nay tôi đang gặp gỡ anh em, những vị linh mục được Chúa Kitô kêu gọi để phục vụ Người trong ngàn năm mới. Anh em đă được chọn trong dân, được chỉ định để tác hành liên quan với Thiên Chúa, để hiến dâng những lễ vật và hy sinh đền bù tội lỗi. Hăy tin tưởng vào quyền năng thiên chức linh mục của anh em! Bởi bí tích này, anh em đă lănh nhận tất cả những ǵ anh em có. Khi anh em thốt lên những lời ‘Ta’ và ‘của Ta’ (‘Ta tha tội cho con… Này là ḿnh của Ta…’), là anh em làm điều này không phải nhân danh anh em mà là nhân danh Chúa Kitô, ‘in persona Christi’, Đấng muốn sử dụng môi miệng và bàn tay của anh em, tinh thần hy sinh của anh em và tài năng của anh em. Vào lúc anh em được thụ phong, qua dấu hiệu đặt tay theo phụng vụ, Chúa Kitô đă đến để bênh vực anh em; anh em đă được bàn tay của Người và Trái Tim của Người bao bọc chở che. Hăy d́m ḿnh vào t́nh yêu thương của Người, và hăy dâng cho Người t́nh yêu của anh em! Khi bàn tay của anh em được xức dầu, một dấu hiệu Thánh Linh, là chúng được giành để phục vụ Chúa như bàn tay riêng của Người trong thế giới hôm nay. Chúng không c̣n phục vụ những mục đích vị kỷ nữa, mà phải tiếp tục làm chứng cho t́nh yêu của Người trên thế giới”.
"Chúng ta khuấy động tâm can của Thiên Chúa".
Huấn Từ (tự phát thay bài đă dọn) Thứ Năm 14 tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Maria và Thánh Corbinian, ở Freising trong chuyến tông du Bavaria Đức Quốc 9-14/9/2006.
Giờ đây chúng ta hăy tiến tới bài giảng là bài tôi muốn nêu lên hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất liên hệ tới bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, một đoạn Phúc Âm tất cả chúng ta đă nghe quá quen, một đoạn phúc âm chúng ta đă dẫn giải và suy niệm trong ḷng, đó là lời Chúa Giêsu nói “mùa gặt th́ bệ bộn”. Khi nói mùa gặt “bề bộn”, Người không ám chỉ tới một thời điểm đặc biệt nào đó, cũng như tới những con đường Palestine Người đă hành tŕnh trong cuộc sống trần thế của Người: những lời lẽ của Người vẫn c̣n hiệu lực cho cả ngày hôm nay nữa. Những lời ấy có nghĩa là một mùa màng đang gia tăng trong tâm can con người; những lời ấy có nghĩa là, nói cách khác, sâu xa tận bên trong, đó là con người đang đợi chờ Thiên Chúa, đang chờ đợi một thứ ánh sáng hoàn toàn soi dẫn cho thấy con đường tiến lên, đang đợi chờ một sứ điệp không phải thuần ngôn từ, mà là hy vọng, là chờ đợi một t́nh yêu thương sẽ đón nhận và nâng đỡ chúng ta cho cuộc sống vĩnh cửu vượt trên giây phút hiện tại. Mùa màng th́ bề bộn, và thợ gặt là thành phần cần thiết ở hết mọi thế hệ. Phần c̣n lại “thợ gặt lại ít oi” của câu được trích dẫn cũng là những ǵ xác thực nữa đối với mọi thế hệ ở một nghĩa khác.
“Hăy cầu xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến làm mùa”. Điều này có nghĩa là mùa gặt đang sẵn sàng, thế nhưng Thiên Chúa muốn chiêu mộ thành phần hộ mùa để gặt hái cho vào kho lẫm. Thiên Chúa cần đến họ. Ngài cần thành phần nói: vâng, con sẵn sàng trở thành thợ gặt của Chúa; con sẵn sàng góp phần để mùa gặt đang chín trong ḷng người này được thực sự cho vào kho lẫm đời đời và trở thành một cuộc hiệp thông thần linh tồn tại của niềm vui và yêu thương. “Hăy xin Chủ ruộng” cũng có nghĩa là chúng ta không thể nào “sản xuất” ra các ơn gọi; các ơn gọi cần phải được Thiên Chúa ban tặng. Đây không phải là những ǵ giống như những nghề nghiệp khác, chúng ta không thể nào tuyển mộ người ta bằng việc sử dụng một thứ phổ biến đúng kiểu hay một loại sách lược thích đáng. Lời mời gọi được xuất phát từ tâm can của Thiên Chúa ấy lúc nào cũng cần phải t́m cách thấm nhập vào ḷng trí của con người. Tuy nhiên, chính v́ để nó có thể tiến vào tâm can của con người mới cần đến việc hợp tác của chúng ta. Việc cầu xin cùng Chủ ruộng trước hết có nghĩa là cầu xin Ngài ban cho điều ấy, là khuấy động ḷng Ngài mà nói: “Xin hăy làm điều ấy! Xin hăy khơi động thành phần thợ gặt! Xin hăy gợi lên trong họ ḷng nhiệt thành và niềm vui sống cho Phúc Âm! Xin hăy làm cho họ hiểu rằng đó là một kho tàng c̣n cao cả hơn bất cứ kho tàng nào khác, và ai khám phá ra nó cần phải truyền đạt nó!”
Chúng ta khuấy động tâm can của Thiên Chúa. Thế nhưng, việc chúng ta nguyện cầu cùng Thiên Chúa không chỉ bao gồm có ngôn từ mà thôi; những lời lẽ ấy cần phải dẫn tới hành động để từ con tim nguyện cầu của chúng ta bừng lên một tia niềm vui trong Thiên Chúa và trong Phúc Âm, khiến ḷng của người khác cũng sẵn sàng xin “vâng”. Là con người của nguyện cầu, tràn đầy ánh sáng của Ngài, chúng ta vươn tới người khác và mang họ vào lời nguyện cầu của chúng ta và đến trước nhan Thiên Chúa, Đấng sẽ không ngừng thực hiện phần của Ngài. Theo đó chúng ta cần phải tiếp tục nguyện cầu cùng Chúa ruộng, hăy khuấy động tâm can của Ngài, và cùng với Thiên Chúa chạm tới tâm can của người khác bằng việc nguyện cầu của chúng ta. Và theo dự định của ḿnh, Ngài sẽ làm cho tiếng xin “vâng” của họ được trở nên chín chắn, làm cho họ sẵn sàng đáp ứng; nói cách khác, làm cho họ kiên tŕ qua tất cả mọi thứ rắc rối trên đời này, qua cái nóng của ban ngày và cái tối của ban đêm, để họ kiên tŕ một cách trung thành với việc phục vụ của họ. Nhờ đó họ sẽ biết rằng các nỗ lực của họ, dù cực nhọc đến đâu đi nữa, cũng là những ǵ cao quí và bơ công, v́ chúng dẫn tới những ǵ là thiết yếu, chúng bảo đảm rằng con người lănh nhận những ǵ họ hy vọng, đó là ánh sáng của Thiên Chúa và t́nh yêu của Thiên Chúa.
"Cần phải ḥa hợp giữa ḷng nhiệt thành với sự khiêm nhượng, với sự nhận thức được những hạn hẹp của chúng ta".
Huấn Từ (tự phát thay bài đă dọn) Thứ Năm 14 tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Maria và Thánh Corbinian, ở Freising trong chuyến tông du Bavaria Đức Quốc 9-14/9/2006.
Điểm thứ hai tôi muốn đề cập tới là một vấn đề cụ thể. Con số linh mục đă bị giảm sút, cho dù vào lúc này đây chúng ta đang có thể đương đầu, v́ chúng ta có những vị linh mục trẻ và linh mục già, và có những nam nhân trẻ trung đang trên đường tiến tới thiên chức linh mục. Tuy nhiên, gánh nặng vẫn gia tăng. Việc phải coi sóc hai, ba hoặc bốn giáo xứ một lúc, cộng thêm với những công việc mới xẩy ra, có thể là những ǵ làm cho ḿnh cảm thấy chán chường. Tôi thường tự hỏi, hay mỗi người chúng ta tự hỏi ḿnh và hỏi anh em ḿnh rằng: chúng ta sẽ làm sao để đương đầu đây? Phải chăng đó không phải là một thứ nghề nghiệp làm tiêu hao chúng ta đi hay sao, một thứ nghề nghiệp không c̣n mang lại cho chúng ta niềm vui, v́ chúng ta thấy rằng bất cứ chúng ta làm ǵ cũng chẳng bao giờ đủ cả? Chúng ta cảm thấy ḿnh bị đè bẹp!
Cần phải đáp ứng như thế nào đây? Hiển nhiên tôi không thể cống hiến những phương dược bất khả sai lầm: tuy nhiên, tôi xin đề nghị mấy hướng dẫn căn bản sau đây. Tôi lấy điều đề nghị thứ nhất từ Thư gửi Giáo Đoàn Philiphê (x 2:5-8), nơi Thánh Phaolô nói cùng tất cả mọi người, dĩ nhiên là nói riêng với những ai đang làm việc trong cánh đồng của Thiên Chúa, đó là: “anh em hăy mặc lấy tâm trí của Chúa Giêsu”. Tâm trí của Người là tâm trí mà, trước định mệnh của nhân loại, Ngài không thể cứ sống trong vinh quang, trái lại, đă cúi ḿnh xuống và làm những ǵ không thể nào tin nổi, khoác vào ḿnh t́nh trạng hoàn toàn bần cùng của đời sống con người cho đến độ khổ đau trên Thập Giá. Đó là tâm trí của Chúa Giêsu Kitô: ở chỗ Người cảm thấy được thôi thúc mang đến cho nhân loại ánh sáng của Cha, cứu giúp chúng ta bằng việc h́nh thành Vương Quốc của Thiên Chúa với chúng ta và trong chúng ta. Và tâm trí của Chúa Giêsu Kitô đă tiến sâu xa vào mối hiệp thông hoàn toàn thân mật với Cha. Một dấu hiệu bề ngoài cho thấy t́nh trạng này thực sự ở chỗ được các vị Thánh Kư tŕnh thuật nhiều lần Người đă một ḿnh lên núi nguyện cầu. Hoạt động của Người xuất phát từ mối hiệp nhất sâu xa của Người với Cha, và chính v́ điều ấy mà Người phải lên đường, viếng thăm tất cả mọi phố hội và làng quê để loan truyền Vương Quốc Thiên Chúa, loan báo rằng Vương Quốc này đang hiện diện giữa chúng ta. Người đă phải khai mào Vương Quốc này giữa chúng ta, nhờ đó, qua chúng ta, nó có thể biến đổi thế giới; Người cần phải bảo đảm rằng ư muốn của Thiên Chúa được thể hiện trên trần gian cũng như trên Trời và Trời đă đến trên trần gian. Hai khía cạnh này ở trong tâm trí của Chúa Kitô. Đàng khác, chúng ta cần phải nhận biết Thiên Chúa từ bên trong, nhận biết Chúa Kitô từ bên trong, và ở với Người; chỉ có thế chúng ta mới “khám phá” ra chính ḿnh; chúng ta cần phải truyền đạt điều này nữa.
Tôi muốn nói rơ hơn về điều hướng dẫn căn bản liên quan tới hai khía cạnh của nó này. Cần phải ḥa hợp giữa ḷng nhiệt thành với sự khiêm nhượng, với sự nhận thức được những hạn hẹp của chúng ta. Một đàng cần phải có ḷng nhiệt thành, ở chỗ, nếu chúng ta tiếp tục gặp gỡ Chúa Kitô th́ chúng ta không thể giữ lấy Người cho bản thân ḿnh. Chúng ta cảm thấy được thúc đẩy để ra đi đến với thành phần nghèo khổ, yếu kém, trẻ em và giới trẻ, tới với những ai cần thiết nhất. Chúng ta cảm thấy được thôi thúc trở thành “những người loan tin vui”, thành những tông đồ của Chúa Kitô. Tuy nhiên, ḷng nhiệt thành của chúng ta, nếu muốn nó không trở thành trống rỗng và bắt đầu làm cho chúng ta kiệt quệ, nó cần phải được liên kết với sự khiêm nhượng nữa, với sự điều độ, với việc chấp nhận những giới hạn của chúng ta nữa. Có rất nhiều điều cần phải thực hiện, nhưng tôi thấy rằng tôi không thể làm được hết những điều ấy. Tôi nghĩ rằng đó là một sự thật đối với nhiều vị mục tử, và cũng đúng với cả vị Giáo Hoàng này nữa, vị cần phải làm rất ư là nhiều thứ! Tôi không đủ sức làm. Có thế, tôi biết làm những ǵ tôi có thể và tôi phó cho Thiên Chúa phần c̣n lại cũng như cho các người phụ tá của tôi, mà rằng: “Lạy Chúa, dầu sao th́ Chúa cần phải làm việc ấy, v́ Giáo Hội là của Chúa. Chúa chỉ ban cho con sức lực con hiện có mà thôi. Con dâng nó cho Chúa, v́ nó bởi Chúa mà ra; con phó dâng cho Chúa hết mọi sự khác”. Tôi tin rằng ḷng khiêm nhượng này cần phải khiến chúng ta thốt lên rằng: “nghị lực của tôi không thể nào làm hơn được nữa, Chúa ơi, xin Chúa hăy làm phần c̣n lại cho con”. Bấy giờ cần phải có ḷng tin tưởng: Ngài sẽ ban cho tôi những người phụ tá tôi cần, và họ sẽ làm những ǵ tôi không thể làm.
Hơn thế nữa, việc liên kết giữa ḷng nhiệt thành với đức khiêm nhượng cũng có nghĩa là liên kết tất cả mọi khía cạnh phục vụ với đời sống nội tâm của chúng ta. Chúng ta có thể phục vụ kẻ khác và cống hiến cho họ chỉ khi nào bản thân chúng ta được lănh nhận, chỉ khi nào bản thân chúng ta không bị trống rỗng. Đó là lư do tại sao Giáo Hội cống hiến cho chúng ta những khoảng trống, những khoảng trống, một mặt, giúp cho chúng ta “hít vào” và “thở ra” một cách mới mẻ, mặt khác, trở thành một nguồn và tâm điểm cho việc chúng ta phục vụ. Trước hết là việc cử hành Thánh Lễ hằng ngày. Chúng ta không bao giờ được làm điều này chỉ v́ thói quen, như “một điều ǵ đó chúng ta cần phải làm”, trái lại, xuất phát “từ bên trong”! Chúng ta hăy ư thức những ngôn từ và tác động, cùng biến cố thực sự hiện diện bấy giờ! Nếu chúng ta cử hành Thánh Lễ một cách chăm chú nguyện cầu, nếu lời chúng ta đọc “này là ḿnh ta” được xuất phát từ việc chúng ta hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô là Đấng đặt tay của Người trên chúng ta và ban quyền cho chúng ta được nhân danh “Cái Tôi” của Người mà phán, nếu chúng ta cử hành Thánh Thể bằng việc tham dự sâu xa trong đức tin và cầu nguyện, th́ nó không phải chỉ là một nhiệm vụ bề ngoài; th́ bấy giờ tự nhiên chúng ta biết được cách thức cử hành ars celebrandi, v́ việc cử hành theo quan điểm của Chúa và bằng mối hiệp thông với Người, nhờ đó, nó mang lại lợi ích nhất cho con người. Để rồi chính bản thân chúng ta được liên lỉ trở nên phong phú, đồng thời chúng ta cũng truyền đạt cho người khác một cái ǵ đó ngoài chính ḿnh chúng ta, tức là việc hiện diện của Chúa Kitô.
Một khoảng trống khác, có thể nói, Giáo Hội bắt buộc chúng ta làm, và nhờ làm thế chúng ta được giải thoát, đó là Phụng Vụ Giờ Kinh. Chúng ta hăy đọc giờ kinh phụng vụ này như là một giờ nguyện cầu thực sự, một việc nguyện cầu hiệp thông với thành phần Yến Duyên Cựu Ước lẫn Tân Ước, một việc nguyện cầu xuất phát từ “cái Tôi” sâu xa nhất, từ chủ thể sâu xa nhất của những lời nguyện cầu ấy. Nhờ đó, chúng ta lôi kéo vào lời nguyện cầu của chúng ta những ai thiếu thời giờ hay nghị lực hoặc khả năng nguyện cầu. Như thành phần dân nguyện cầu, chúng ta đại diện cho những người khác khi chúng ta cầu nguyện, và làm thế, chúng ta hoàn thành một thừa tác mục vụ tiên khởi. Đây không phải là việc rút lui vào một lănh vực tư riêng, nó là một thứ ưu tiên về mục vụ, nó là một hoạt động mục vụ nhờ đó thiên chức linh mục của chính chúng ta được đổi mới, và chúng ta lại được Chúa Kitô làm cho tràn đầy. Chúng ta bao gồm những người khác vào mối hiệp thông của Giáo Hội nguyện cầu, đồng thời chúng ta làm cho quyền năng của việc nguyện cầu, làm cho sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô, lan tỏa vào thế giới này.
Câu tâm niệm chủ đề trong những ngày này là “những ai tin tưởng th́ không bao giờ cảm thấy lẻ loi cô quạnh”. Những lời ấy áp dụng và cần phải được áp dụng đặc biệt cho thành phần linh mục, cho mỗi người chúng ta. Chúng được áp dụng theo hai ư nghĩa, đó là một vị linh mục không bao giờ bị lẻ loi v́ Chúa Giêsu Kitô luôn ở với họ. Người ở với chúng ta, vậy chúng ta hăy ở với Người! Thế nhưng những lời ấy cũng áp dụng theo một ư nghĩa khác nữa. Ai trở nên một vị linh mục là gia nhập vào thành phần giáo sĩ , vào một cộng đồng linh mục cùng với vị Giám Mục của ḿnh. Ngài là vị linh mục trong mối hiệp thông với anh em linh mục của ngài. Chúng ta hăy quyết tâm sống điều này, chẳng những như là một qui định về thần học và pháp lư, mà c̣n như một cảm nghiệm thực tiễn đối với mỗi người chúng ta nữa. Chúng ta hăy cống hiến mối hiệp thông này cho nhau, chúng ta hăy cống hiến nó nhất là cho những ai chúng ta biết đang chịu đựng t́nh trạng lẻ loi cô độc, những ai chúng ta biết đang trăn trở bởi những vấn nạn và rắc rối trục trặc, và có thể bởi những ngờ vực và lung lạc! Chúng ta hăy cống hiến mối hiệp thông này cho nhau, nhờ đó chúng ta cảm nghiệm được mối hiệp thông của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô mới mẻ hơn bao giờ hết, trọn vẹn hơn và hân hoan hơn, nhờ sống với nhau, nhờ sống với những người khác. Amen.
Thẩm Định với về Giáo Triều của ngài trong Năm 2006 dịp Chúa Giáng Sinh cho Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu 22/12/2006
Có hai đề tài nổi bật trong những ngày Viếng Thăm Bavaria của tôi. Chúng là những đề tài và đang là những đề tài liên quan tới đề tài về Thiên Chúa: ‘thiên chức linh mục’ và ‘việc đối thoại’. Thánh Phaolô đă gọi Timôthêu – và nơi Timothêu, vị Giám Mục và nói chung là linh mục – là ‘người của Thiên Chúa’ (1Tim 6:11). Công việc chính yếu của vị linh mục đó là mang Thiên Chúa đến cho con người nam nữ. Dĩ nhiên, vị linh mục chỉ có thể làm điều này nếu chính ngài đến từ Thiên Chúa, nếu ngài sống với và sống bởi Thiên Chúa. Điều này được diễn tả một cách tuyệt vời ở một câu trong bài Thánh Vịnh về linh mục mà chúng ta – thuộc thế hệ lăo thành – đă nói lên trong lúc chúng ta gia nhập hàng giáo sĩ: ‘Chúa là ohần gia nghiệp của tôi và là phần chén của tôi, Ngài nắm giữ vận mệnh của tôi’ (Ps 16[15]:5).
Vị linh mục nguyện cầu bằng bài Thánh Vịnh này dẫn giải của đời của ḿnh theo chiều hướng phân chia đất đai như được ấn định trong Sách Nhị Luật (x 10:9). Sau khi chiếm hữu được Đất Hứa, hết mọi chi tộc được phân chia đất đai bằng cách bốc thăm phần đất ở Thánh Địa của ḿnh, nhờ đó tham hưởng tặng ân được Thiên Chúa hứa ban cho tổ phụ Anbraham.
Chỉ có chi tộc Levi là không có phần đất nào hết: đất của họ là chính Thiên Chúa. Điều ấn định này chắc chắn có một ư nghĩa hoàn toàn cụ thể. Các vị tư tế không sống như các chi tộc khác bằng việc cầy sới đất đai mà bằng những của dâng cúng. Tuy nhiên, điều ấn định này c̣n có tính cách sâu xa hơn nữa. Nền tảng thực sự của đời sống linh mục, cái căn nguyên cho việc hiện hữu của họ, cái gốc rễ cho cuộc đời của họ, là chính Thiên Chúa.
Giáo Hội, theo dẫn giải của Cựu Ước này về đời sống linh mục – một dẫn giải cũng xuất hiện một số lần nơi bài Thánh Vịnh 119[118] – đă thực sự thấy được nơi việc các Vị Tông Đồ theo Chúa Kitô, trong việc các vị hiệp thông v ới chính Chúa Giêsu, như là những ǵ cho thấy ư nghĩa của sứ vụ linh mục. Hôm nay đây vị linh mục có thể và cần phải nói cùng với thành phần Levi rằng: "Dominus pars hereditatis meae et calicis mei". Chính Chúa là phần đất của tôi, là nền tảng cả bên trong lẫn bên ngoài cho đời sống của tôi.
Tính cách thần trung này của đời sống linh mục thực sự là những ǵ cần thiết nơi thế giới hoàn toàn hướng động của chúng ta, một thế giới mà trong đó hết mọi sự đều được căn cứ vào việc thực hiện có tính cách đo đếm và ăn chắc. Vị linh mục thực sự cần phải biết Thiên Chúa từ bên trong, nhờ đó mang Ngài đến cho c on người nam nữ: đó là dịch vụ chính yếu cần thiết cho nhân loại hiện đại. Nếu tính cách tâm điểm này của Thiên Chúa nơi đời sống của vị linh mục bị mất đi, th́ từ từ ḷng nhiệt thành nơi các hoạt động của ngài cũng bị mất. Trong một t́nh trạng thái quá về những ǵ ngoại tại th́ cái tâm điểm mang ư nghĩa lại cho hết mọi sự và dẫn những thứ ngoại tại ấy đến mối hiệp nhất là những ǵ đang bị hụt hẫng. Ở đó, nền tảng của đời sống là ‘mảnh đất’ nâng đỡ tất cả mọi sự và làm phong phú mọi sự đang bị mất mát đi.
Đời sống độc thân, những ǵ buộc các vị Giám Mục phải giữ ở khắp Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương, và theo một truyền thống ở vào giai đoạn gần thời điểm của các vị Tông Đồ, cũng buộc các vị linh mục nói chung thuộc Giáo Hội Latinh nữa, chỉ c ó thể hiểu được và sống nổi nó được đặt trên cấu trúc căn bản này.
Những lư do có tính cách thuần thực dụng, liên quan tới tính cách thuận hơn nhiều hơn, vẫn là những ǵ không đủ, v́ cái thuận lợi nhiều hơn về thời gian ấy có thể dễ dàng trở thành một h́nh thức của chủ nghĩa vị kỷ, giúp cho con người tránh khỏi phải hy sinh cùng với những cố gắng cần phải có trong việc chấp nhận nhau và chịu đựng nơi đời sống hôn nhân; bởi thế, nó có thể dẫn tới một thứ bần cùng hóa về mặt thiêng liêng hay tới chỗ chai cứng cơi ḷng.
Nền tảng đích thật của cuộc sống độc thân có thể được chất chứa nơi cụm từ: Dominus pars – Chúa là phần đất của tôi. Nó chỉ có thể là những ǵ có tính cách thần trung. Nó không thể nào có nghĩa là bị hụt hẫng yêu thương, song thật sự có nghĩa là để cho ḿnh được chiếm đạt bởi niềm khát khao Thiên Chúa, để sau đó, nhờ ở với Ngài một cách thân t́nh hơn, biết phục vụ con người nam nữ nữa. Đời sống độc thân cần phải là một chứng từ cho niềm tin: niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa được hiện thân nơi một lối sống chỉ có ư nghĩa nếu nó lấy Thiên Chúa làm nền tảng.
Xây dựng đời sống của ḿnh trên nền tảng Thiên Chúa, bằng cách từ bỏ cuộc sống hôn nhân và gia đ́nh, nghĩa là tôi chấp nhận và cảm thấy Thiên Chúa như là một thực tại, và bởi thế tôi có thể mang Ngài đến cho con người nam nữ. Thế giới của chúng ta, một thế giới đă trở thành hoàn toàn thực chứng, trong đó, Thiên Chúa cùng lắm chỉ là một thứ giả thuyết chứ không phải là một thực tại cụ thể, là một thế giới cần phải được xây dựng trên Thiên Chúa một cách cụ thể nhất và sâu xa nhất bao nhiêu có thể.
Thiên Chúa cần một thứ chứng từ về Thiên Chúa, một thứ chứng từ được chất c hứa nơi quyết định đón nhận Thiên Chúa như là một mảnh đất là nơi người ta có thể t́m thấy cuộc sống riêng của ḿnh. V́ lư do ấy, cuộc sống độc thân là những ǵ hết sức quan trọng cho ngày hôm nay đây, nơi thế giới hiện đại của chúng ta đây, cho dù việc giữ trọn nó trong thời đại của chúng ta đây liên lỉ trở thành những ǵ bị đe dọa và khúc mắc.
Cần phải thực hiện một cuộc sửa soạn thận trọng trong cuộc hành tŕnh tiến đến mục tiêu ấy, cùng với việc kiên tŕ hướng dẫn của vị Giám Mục, của các thân hữu linh mục và của giáo dân muốn duy tŕ chứng từ linh mục này. Chúng ta cần liên lỉ nguyện cầu cùng Thiên Chúa là Vị Thiên Chúa hằng sống, và cậy dựa vào Ngài trong những lúc bối rối cũng như trong những lúc hân hoan. Nhờ đó, ngược lại với khuynh hướng văn hóa đang t́m cách thuyết phục chúng ta rằng chúng ta không thể thực hiện được những quyết định như thế, chứng từ này là những ǵ có thể sống và nhờ đó, nó có thể phục hồi việc Thiên Chúa như là một thực tại trên thế giới của chúng ta.
"Theo Chúa Kitô – nếu chúng ta muốn theo Chúa Kitô – th́ theo Chúa Kitô nghĩa là mặc lấy cách trọn vẹn hơn nữa tâm trí và đời sống của Người”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Tông Du Áo Quốc 7-9/9/2007: Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối với các vị linh mục, tu sĩ, phó tế và chủng sinh ở Đến Mariazell ngày Thứ Bảy 8/9/2007
Theo Chúa Kitô – nếu chúng ta muốn theo Chúa Kitô – th́ theo Chúa Kitô nghĩa là mặc lấy cách trọn vẹn hơn nữa tâm trí và đời sống của Người; đó là những ǵ được Bức Thư gửi Kitô Hữu ở Philippi nói với chúng ta: “anh chị em hăy có cùng một tâm trí như Chúa Kitô!” (x 2:5). “Hăy nh́n lên Chúa Kitô” là đề tài của những ngày này. Khi nh́n lên Người, vị đại Sư của đời sống, Giáo Hội đă nhận thấy 3 đặc tính nổi bật nơi thái độ của Chúa Giêsu. Ba tính chất này – theo Truyền Thống chúng ta gọi là “những lời khuyên của Phúc Âm” – đă trở thành những yếu tố riêng biệt của một đời sống dấn thân tận tuyệt theo Chúa Kitô, đó là khó nghèo, thanh tịnh và tuân phục. Giờ đây chún g ta hăy suy nghĩ một chút về chúng.
Chúa Giêsu Kitô, Đấng giầu sang với chính sự sang giầu của Thiên Chúa, đă trở nên nghèo khổ v́ chúng ta, như Thánh Phaolô cho chúng ta biết trong Thư Thứ Hai gửi Kitô hữu ở Corintô (x 8:9); đây là một lời phát biểu khôn ḍ, một lời phát biểu chúng ta cần phải luôn luôn để suy niệm sâu xa hơn. Và trong Thư gửi cho Kitô hữu Philippi chúng ta đọc thấy rằng: Người đă tự hủy ra như không; Người đă tự hạ và đă vâng lời cho đến chết trên Thập Giá (cf. 2:6ff). Đấng tự ḿnh trở nên nghèo nàn, đă gọi thành phần nghèo là “phúc đức”. Thánh Luca, trong đoạn về Phúc Đức, đă làm cho chúng ta hiểu rằng lời phát biểu ấy – cho thành phần nghèo nàn là có phúc – thật sự là nói về người nghèo, thành phần thực sự nghèo, trong dân Yến Duyên bấy giờ, một dân tộc có một phân cách kịch liệt giữa giầu và nghèo. Thế nhưng, Thánh Mathêu, trong đoạn của ḿnh về Phúc Đức , đă giải thích cho chúng ta rằng nguyên t́nh trạng bần cùng về vật chất mà thôi chưa đủ để bảo đảm được t́nh trạng gần gũi với Thiên C húa, v́ con tim có thể trở nên chai cứng và đầy những thèm muốn giầu sang. Bởi thế vấn đề trở nên rơ ràng đó là Kitô hữu thấy Chúa Kitô là Đấng đợi chờ kẻ nghèo, đợi chờ việc dấn thân của họ. Ai muốn theo Chúa Kitô cách dứt khoát cần phải từ bỏ những sản vật thể chất. Nhưng họ cần phải sống đức khó nghèo này một cách mô phỏng theo Chúa Kitô, nhờ đó được thanh thoát nội tâm cho tha nhân của ḿnh. Đối với tất cả mọi Kitô hữu, đặc biệt linh mục chúng ta cũng như tu sĩ, cá nhân cũng như cộng đồng, vấn đề nghèo khó và thành phần nghèo khó cần phải trở thành đối tượng trong việc liên lỉ và triệt để kiểm điểm lương tâm. Nơi trường hợp riêng của chúng ta đây, một trường hợp cho thấy chúng ta không tệ lắm, chúng ta không phải là thành phần nghèo khó. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải đặc biệt suy nghĩ về cách làm sao chúng ta có thể sống trọn ơn gọi này một cách chân thành. Tôi xin để tùy việc kiểm điểm lương tâm của anh chị em cũng như của chúng ta về nó.
Để hiểu được đúng ư nghĩa của đức thanh tịnh, chúng ta cần phải bắt đầu với chiều hướng tích cực của nó. Một lần nữa, chúng ta lại chỉ thấy đức này khi nh́n lên Chúa Kitô thôi. Đời sống của Chúa Giêsu có một chiều hướng lưỡng diện, ở chỗ, Người đă sống cho Chúa Cha và cho người khác. Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy Chúa Giêsu như một con người nguyện cầu, một con người thức cả đêm để đàm đạo với Cha. Qua việc nguyện cầu của ḿnh, Người đă làm cho nhânm tính của riêng Người, và nhân tính của tất cả chúng ta, trở thành yếu tố cho mối liên hệ con cái của Người với Chúa Cha. Cuộc đối thoại này với Cha, như thế, trở thành một sứ vụ được liên lỉ canh tân đối với thế giới, đối với chúng ta. Sứ vụ của Chúa Giêsu đă dẫn Người tới chỗ dấn thân một cách tinh tuyền và hoàn toàn cho con người nam nữ. Thánh Kinh cho chúng ta thấy rằng không có khi nào trong đời của ḿnh Người đă bội phản nơi mối liên hệ của Người với kẻ khác, cho dù là một mảy may tư lợi hay vị kỷ. Chúa Giêsu đă yêu thương người khác trong Chúa Cha, bắt đầu từ Chúa Cha – bởi thế, Người đă yêu thương họ nơi hữu thể thực sự của họ, nơi thực tại của họ. Việc thông phần vào những niềm cảm thức này của Chúa Giêsu Kitô – trong mối hiệp thông hoàn toàn với Vị Thiên Chúa hằng sống cũng như trong mối hiệp thông hoàn toàn tinh tuyền này với kẻ khác, một cách trọn vẹn – việc thông phần vào tâm trí của Chúa Kitô ấy đă soi động nơi Thánh Phaolô một khoa thần học và một lối sống hợp với những lời nói của Chúa Giêsu về vấn đề độc thân v́ Nước Trời (x Mt 19:12).
Linh mục và tu sĩ là những con người không xa cách với những mối tương quan liên vị. Đức thanh tịnh, ngược lại, có nghĩa là – và đây là những ǵ tôi muốn bắt đầu – một mối liên hệ sâu xa; tích cực mà nói th́ nó là một mối liên hệ với Chúa Kitô sống động, và nhờ đó, với Chúa Cha. Thế n ên, bằng lời khấn độc thân than h tịnh, chúng ta không thánh hiến bản thân ḿnh cho cá nhân chủ nghĩa hay cho một đời sống cô lập; trái lại, chúng ta long trọng thề hứa sử dụng những mối liên hệ sâu xa chúng ta có thể và chúng ta lănh nhận như một tặng ân vào việc phục vụ Vương Quốc của Thiên Chúa – từ đó phục vụ cả kẻ khác nữa – một cách hoàn toàn và dứt khoát. Nhờ đó linh mục và tu sĩ trở thành những con người nam nữ của niềm hy vọng: ở chỗ khi liên kết hết mọi sự với Thiên Chúa để chứng tỏ rằng Thiên Chúa là một sự ǵ đó chân thực đối với họ, là họ giành chỗ cho sự hiện diện của Ngài – sự hiện diện của Vương Quốc Thiên Chúa – tr ên thế giới này. Quí vị linh mục và tu sĩ thân mến, anh chị em cần phải thực hiện một đóng góp quan trọng, đó là, giữa t́nh trạng tràn lan những ǵ là tham lam, chiếm hữu, hưởng thụ và tôn thờ cá nhân, chúng ta lại đang nỗ lực tỏ ra một t́nh yêu vô vị kỷ đối với con người nam nữ. Chúng ta đang sống cuộc sống của niềm hy vọng, một niềm hy vọng được chúng ta phú thác vào bàn tay Thiên Chúa cái măn nguyện của nó, v́ chúng ta tin rằng Ngài sẽ làm cho nó nên trọn. Điều ǵ sẽ xẩy ra khi lịch sử Kitô Giáo thiếu vắng đi những nhân vật và gương mẫu trổi vượt như thế? Thế giới của chúng ta sẽ ra sao nếu không có linh mục, nếu không có những con người nam nữ ở trong các hội ḍng và cộng đồng sống đời tận hiến – những con người sống chứng thực cho một niềm hy vọng được thỏa nguyện vượt trên hết mọi ước vọng của con người và của một cảm nghiệm về t́nh yêu Thiên Chúa siêu việt hơn tất cả mọi t́nh yêu nhân loại? Ngày nay thực sự thế giới đang cần đến chứng từ của chúng ta.
Giờ đây chúng ta tiến đến đức tuân phục. Chúa Giêsu đă sống trọn cuộc đời của Người, từ những năm tháng ẩn dật ở Nazarét cho đến chính giây phút Người chết trên Thập Giá trong việc lắng nghe tiếng Chúa Cha, trong sự tuân phục Cha. Chúng ta thấy điều này nơi cách thức sáng ngời ở Vườn Cây Dầu. “Xin hăy thực hiện ư của Cha chứ đừng ư Con”. Trong lời nguyện cầu này Chúa Giêsu nhận lấy nơi ư muốn làm con cái của ḿnh cái chống cự ngạo mạn của tất cả chúng ta, và biến đổi việc nổi loạn của chúng ta bằng đức tuân phục của Người. Chúa Giêsu là một con người của sự cầu nguyện. Thế nhưng, đồng thời Người cũng là một con người biết lắng nghe và tuân phục: Người đă tỏ ra “vâng lời cho đến chết cho dù chết trên thập giá” (Phil 2:8). Kitô hữu đă luôn học biết từ cảm nghiệm này là, trong việc phó ḿnh cho ư muốn của Cha, họ chẳng mất mát ǵ hết, thay vào đó, nhờ vậy, họ khám phá ra căn tính sâu xa nhất của họ và niềm tự do nội tại. Nơi Chúa Giêsu, họ đă khám phá ra rằng những ai đánh mất bản thân ḿnh th́ lại t́m thấy, và những ai cầm buộc ḿnh bằng đức tuân phục v́ Thiên Chúa và muốn t́m kiếm Thiên Chúa th́ họ là những con người được tự do. Việc lắng nghe Thiên Chúa và tuân phục Ngài không phải là những ǵ bị kềm kẹp bề ngoài và đánh mất đi bản thân ḿnh. Chỉ nhờ tham dự vào ư muốn của Thiên Chúa mà chúng ta mới đạt được căn tính thực sự của chúng ta. Thế giới của chúng ta ngày nay đây cần chứng từ của cảm nghiệm này chính v́ nó mong muốn “hiện thực bản thân ḿnh” và “chủ định bản thân ḿnh”.
Romano Guardini đă thuật lại trong cuốn tự thuật của ḿnh về cách thức, ở vào giây phút nghiêm trọng cho cuộc hành tŕnh của ḿnh, khi mà đức tin non dại của ông bị rung chuyển, làm thế nào quyết định nống cốt cho cả cuộc đời của ông – việc ông hoán cải – đă xẩy ra cho ông qua một cuộc gặp gỡ câu nói của Chúa Giêsu là chỉ có kẻ nào mất bản thân ḿnh mới t́m lại được nó mà thôi (x Mt 8:34ff; Jn 12:25); không thể nào có vấn đề tái nhận thức bản thân ḿnh hay hiện thực bản thân ḿnh mà lại không bỏ ḿnh, không đánh mất bản thân ḿnh đi. Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là: việc đánh mất bản thân ḿnh đến đâu mới gọi là chính đáng? Tôi có thể hiến ḿnh cho ai đây? Hiển nhiên là chúng ta hoàn toàn phó ḿnh một khi chúng ta nhờ đó rơi vào bàn tay Thiên Chúa. Cuối cùng, chỉ ở nơi một ḿnh Ngài chúng ta mới mất bản thân ḿnh và chỉ ở nơi Ngài chúng ta mới t́m thấy bản thân của chúng ta. Thế nhưng vấn nạn nữa là Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa ở đâu? Bấy giờ họ mới tiến đến chỗ hiểu rằng vị Thiên Chúa mà chúng ta phó ḿnh cho Ngài là vị Thiên Chúa duy nhất, Đấng đă trở nên hữu h́nh và gần gũi chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô. Thế nhưng, vẫn c̣n một vấn nạn nữa, đó là Chúng ta t́m thấy Chúa Giêsu Kitô ở đâu? Làm thế nào tôi có thể thực sự hiến thân cho Người? Câu trả lời mà Guardini đă t́m thấy sau nhiều t́m kiếm đó là thế này: Chúa Giêsu cụ thể hiện diện với chúng ta chỉ ở nơi Thân Thể của Người là Giáo Hội. Bởi thế, việc tuân phục ư muốn của Thiên Chúa, tuân phục Chúa Giêsu Kitô, một cách thực sự và cụ thể, cần phải là việc khiêm tốn tuân phục Giáo Hội. Tôi nghĩ rằng cả điều này nữa cũng kêu gọi chúng ta hăy liên tục sâu xa kiểm điểm lương tâm. Tất cả được tóm lại trong lời nguyện cầu của Thánh I Nhă Loyola – một lời nguyện cầu đối với tôi bao giờ cũng quá cao cả đến nỗi tôi hầu như sợ đọc nó, tuy nhiên lại là một người nguyện mà, v́ tất cả sự khó khăn của nó, chúng ta cần phải luôn luôn lập đi lập lại: “Ôi Chúa, xin hăy lấy đi và hăy nhận lấy tất cả niềm tự do của con, trí tưởng của con, kiến thức của con và trọn ư muốn của con. Tất cả những ǵ con có và tất cả những ǵ con sở hữu mà Chúa đă ban cho con: con xin dâng tất cả chúng cho Chúa; tất cả chúng đều là của Chúa, xin Chúa hăy sử dụng chúng theo ư Chúa. Xin chỉ cần ban cho con t́nh yêu của Chúa và ân sủng của Chúa; nhờ những điều ấy con sẽ được đủ giầu có và con sẽ chẳng c̣n thiết ǵ hơn”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
"Việc sâu xa nên giống Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành, là cốt lơi cho việc thừa tác mục vụ của chúng ta"
Nếu chính chư huynh sống một cách thật giống Chúa Kitô là Mục Tử Nhân Lành, Đấng đă hiến mạng sống ḿnh v́ chiên của ḿnh, th́ chư huynh sẽ tác động chư huynh linh mục của ḿnh trong việc họ tái dấn thân phục vụ đàn chiên của ḿnh bằng ḷng quảng đại như Chúa Kitô. Thật vậy, việc chú trọng rơ ràng hơn nữa trong vấn đề bắt chước Chúa Kitô sống thánh thiện chính là những ǵ cần thiết để chúng ta tiến lên. Chúng ta cần tái khám phá ra niềm vui sống một cuộc đời có Chúa Kitô làm chủ, van trồng các nhân đức, và d́m ḿnh vào việc cầu nguyện. Khi tín hữu biết rằng vị mục tử của ḿnh là một con người cầu nguyện và dấn thân phục vụ họ th́ họ đáp ứng bằng một ḷng ân cần và ưu ái là những ǵ nuôi dưỡng và bảo tŕ đời sống của cả cộng đồng.
Không bao giờ được bỏ thời gian cầu nguyện, cho dù có bề bộn với đủ thứ phận vụ khẩn trương. Việc tôn thờ Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh là những ǵ kéo dài và gia tăng mối hiệp nhất với Người từ việc cử hành Thánh Thể (cf. Sacramentum Caritatis, 66). Việc chiêm ngắm các mầu nhiệm Mân Côi là việc làm xuất phát ra tất cả quyền năng cứu độ của những mầu nhiệm này, và việc chiêm ngắm ấy làm cho chúng ta nên giống, hiệp nhất và thánh hiến cho Chúa Giêsu Kitô (cf. Rosarium Virginis Mariae, 11, 15). Việc trung thành với Phụng Vụ Giờ Kinh là những ǵ bảo đảm rằng tất cả ngày sống của chúng ta được thánh hóa và tiếp tục nhắc nhở chúng ta về việc caân phải tập trung vào việc hoạt động cho công cuộc của Thiên Chúa, cho dù công việc đang làm gây ra đầy những áp đặt và chia trí. Như thế, ḷng đạo hạnh của chúng ta giúp cho chúng ta nói năng và tác hành nhân danh Chúa Kitô - in persona Christi, trong việc giảng dạy, quản trị và thánh hóa tín hữu nhân danh Chúa Giêsu, trong việc mang ơn ḥa giải của Người, việc chữa lành của Người và t́nh yêu thương của Người cho tất cả mọi anh chị em yêu dấu của Người. Việc sâu xa nên giống Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành, là cốt lơi cho việc thừa tác mục vụ của chúng ta, và nếu chúng ta mở ḷng ra trước quyền năng của Thần Linh, bằng việc nguyện cầu, ngài sẽ ban cho chúng ta những tặng ân chúng ta cần để thi hành công việc gay go này, nhờ đó chúng ta không bao giờ được ‘lo lắng về cách thức phải nói và những ǵ cần nói’ (Mt 10:19).