T́nh Trạng Giáo Hội ở Mỹ Châu La Tinh
Chúng ta vẫn nghe thấy Mỹ Châu Latinh, một vùng đất hầu như toàn ṭng Công giáo nhưng nghèo khổ, do đó, cũng là nơi đă xuất phát ra phong trào thần học giải phóng từ thập niên 1970, và đă bị ảnh hưởng bởi các cuộc truyền giáo của các giáo phái Tin Lành đến từ các xứ sở giầu thịnh ở Bắc Mỹ, đến nỗi vùng đất này đă xẩy ra một hiện tượng bỏ Công giáo theo Tin Lành.
Trong cuộc phỏng vấn của mạng điện toán toàn cầu Zenit, ông Miguel Ángel Pastorino, giám đốc Dịch Vụ của Uruguay Nghiên Cứu và Tham Vấn về Các Hệ Phái và Các Nhóm Tân Giáo, và là phần tử Ủy Ban Toàn Quốc của các vị Giám Mục về Đại Kết và Đối Thoại Liên Tôn, cho biết về hiện tượng tôn giáo hiện nay ở Châu Mỹ La Tinh như sau.
Vấn: Trong thập niên 1980, các chuyên viên đă nói về một cuộc xuất hành hàng loạt của những người Công Giáo Mỹ Châu Latinh đi theo các giáo phái, nhanh đến nỗi con số đào ngũ lên tới 400 tín hữu mỗi giờ đồng hồ.
Đáp: Dĩ nhiên là cuộc “đào thoát” này của người Công Giáo vẫn tiếp tục cho tới ngày hôm nay đây. Chẳng những là một cuộc xuất hành tiến sang những dự tưởng bất khả thần thức và bí hiểm, những thứ sùng bái Phi Mỹ Châu, những thứ bán hệ phái Kitô giáo, sang khuynh hướng duy linh và sang những hệ phái “platillista” tức tin vào UFO (những vật bay bất định), mà c̣n là một cuộc xuất hành âm thầm trở về t́nh trạng lạnh lùng dửng dưng với tôn giáo, một sản phẩm của vấn đề tục hóa cao cấp ở những thành phố lớn.
Phong trào Thánh Linh là một phong trào phát triển nhất, và không có ǵ cho thấy là nó bị ngừng đọng; trái lại, nó phát triển một cách cuồng loạn.
Người ta đă nói đến con số gần 150 triệu tín đồ theo giáo phái Thánh Linh ở Mỹ Châu Latinh, chưa kể đến những người theo các giáo phái lịch sử khác. Các chuyên gia không ngần ngại nói về vấn đề “Phong Trào Thánh Linh hóa” Mỹ Châu La Tinh. Vào năm 1996, bản kiểm điểm Concilium cho biết là đă có 400 triệu Kitô hữu theo phong trào Thánh Linh, nhưng con số này bao gồm cả thành phần đặc sủng.
Khi Franz Damen nói về con số được quí vị đề cập tới, ông ta đă muốn nói chính yếu tới những nhóm phong trào Thánh Linh, những nhóm có lúc tất cả được coi là “các hệ phái bảo thủ”; ngày nay đang có một cuộc đối thoại đại kết với nhiều nhóm trong họ. Nhưng cuộc thử thách không phải là dễ, v́ phạm trù về phong trào Thánh Linh rộng lớn rất ư là phức tạp cùng có nhiều trào lưu, từ các giáo hội được thiết lập dấn thân cho việc đại kết và xă hội, đến những hệ phái nguy hiểm tấn công tính chất tuyền vẹn của con người.
Ngoài ra, c̣n có một thứ tự lừa đảo về Công Giáo liên quan đến con số, trong một châu lục được tuyên bố là nhiều Công Giáo nhất, một châu lục không nhiều Công giáo như thế.
Nếu Giáo Hội đếm con số người được rửa tội và không chú ư tới vấn đề đa số họ không bảo tŕ Công giáo tính, th́ các nhà phân tính xă hội cho biết là ở Mỹ Châu Latinh đa số là tin lành.
Trong năm 2000 đă có 26% theo phong trào Thánh Linh ở Chí Lợi, 16% ở Ba Tây, 34% ở Guatemala, và tôi nghĩ rằng ngày nay con số đă vượt hẳn những con số được thống kê ấy.
Về lănh vực tài chính, thị trường tin lành chuyển trên 1 tỉ Mỹ kim hằng năm và tạo ra được khoảng 2 triệu công việc. Theo một cuộc nghiên cứu mới đây th́ từ năm 1960, thành phần tin lành đă gấp đôi tỉ lệ hiện diện ở Paraguay, Venezuela, Panama và Haiti; họ tăng gấp ba ở Argentina, Nicaragua và Cộng Ḥa Dominican, cũng như tằng gấp 4 lần ở Brazil và Puerto Rico. Họ tăng gấp 6 lần ở Colombia và Eduador, tăng gấp bảy ở Guatemala.
Ở Uruguay, có nhiều Kitô hữu chỉ mang danh vậy thôi, v́ 54% nói rằng họ là người Công giáo, nhưng chỉ có 2.3% tham dự Thánh Lễ; và trong số những người tham dự Thánh Lễ không phải tất cả đều dấn thân sống đức tin của Giáo Hội và cho việc truyền giáo của Giáo Hội.
Trái lại, mỗi một người theo phong trào Thánh Linh là một quân binh trong đức tin và điều này là một thứ thật sự bất lợi cho các Giáo Hội lịch sử. Thành phần Tin Lành ở Uruguay đă tăng lên 11% và những người Ba Tây Phi Châu ở đấy tăng lên 9%.
T́nh h́nh trên xẩy ra nhưng không xẩy ra cho các phong trào giáo hội Công giáo là những phong trào đang phát triển mạnh mẽ ở Mỹ Châu, phản lại t́nh trạng phát triển của các hệ phái và trở thành niềm hy vọng cho Giáo Hội Công Giáo, thành nguồn mạch ơn gọi và thành phần giáo dân được đào tạo để dấn thân.
Vấn: Đâu là Những nguyên nhân chính yếu về cuộc xuất hành này?
Đáp: Mặc dù có nhiều nguyên do về lănh vực ngoại tại của các Giáo Hội lịch sử, mà đa số những nguyên do này thuộc về lănh vực văn hóa xă hội, tôi nghĩ rằng lư do không kém phần quan trọng là những ǵ được Đức Gioan Phaolô II gọi là “khoảng trống mục vụ” (pastoral vacuum), tức là t́nh trạng thiếu hăng say chăm sóc về phần thiêng liêng đạo đức và thiếu huấn luyện tín lư vững chắc về phía Giáo Hội Công Giáo, cũng như của các giáo hội Thệ Phản lịch sử khác là những giáo hội cũng đang suy giảm tín hữu cùng một cách như thế.
Sau Công Đồng Chung Vaticanô II, nơi môi trường của chúng ta, hoạt động mục vụ b́nh thường thiên về các tiến tŕnh cá nhân và khía cạnh xă hội, bỏ bê hai khía cạnh nống cốt của kinh nghiệm tôn giáo, đó là chiều kích tu đức và tín lư, do đó đă để cả một lỗ hổng cho những giải đáp “thay thế khác” thừa thắng xông lên.
Việc lơ là bỏ bê này, cùng với việc truyền bá phúc âm hóa nông nổi sơ sài không nhấn mạnh đến căn tính Kitô giáo nhiều lắm, đă đi đến chỗ làm loăng mất căn tính Công giáo, biến nó thành những thứ dấn thân về luân lư hay những thực hành theo bí tích mà thôi.
Một khi Giáo Hội ḥa hợp ḿnh với tính cách tân tiến và đức tin của Giáo Hội ḥa hợp với lư trí và với tiến bộ, th́ thế giới tân tiến với tất cả những thứ hoang đường của nó cùng với các thần linh trần tục của nó đang bị sụp đổ.
Bởi thế mà con người nam nữ ngày nay, thành phần bị mệt mỏi bởi những cơ cấu tân tiến, bởi cái quan liêu, bởi lư trí, và bởi kiệt lực trước quá nhiều những dự phóng không tưởng, mới đang t́m kiếm cảm nghiệm, thần bí, một thứ tâm linh cảm xúc; họ không c̣n hào hứng với “những thứ lư lẽ” mà là vào “cái sống động”, họ không quan tâm ǵ tới “tín lư” nữa mà là tới “thành quả”.
Việc chăm sóc mục vụ được hợp lư hóa cho tới độ kiệt sức; nó quá ư là tân tiến hóa và quan liêu hóa. Mà con người hậu tân tiến, con người mong được gặp gỡ Thiên Chúa, chỉ gặp thấy những thứ ư hệ, những cuộc họp hành, và việc phác họa quá trớn trong các giáo hội của họ – chứ không có cảm nghiệm nội tâm. Nên đă khiến họ tiến đến chỗ t́m kiếm nơi những giếng nước khác thứ “nước hằng sống” không có ở nơi họ cần phải gắn bó.
Về vấn đề này, Đức Gioan Phaolô II đă nói vào năm 1992 rằng: “Cũng có thể xẩy ra là tín hữu không t́m thấy nơi các tác nhân mục vụ cái cảm quan mạnh mẽ về Thiên Chúa là những ǵ cần phải được truyền đạt nơi đời sống của thành phần tác nhân ấy”.
Đó là lư do tại sao tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng đức tin và linh đạo nơi nhiều phần của các giáo hội lịch sử là một trong những nguyên do chính cho cuộc xuất hành hàng loạt theo các hệ phái – hay theo khuynh hướng lạnh lùng dửng dưng khô đạo – nhưng không theo những ǵ phi tôn giáo.
81% ngưồi Uruguayan nói rằng họ tin vào Thiên Chúa; tuy nhiên phần đông họ tin “vào đường lối của ḿnh” và đường lối thông dụng nhất của việc sống đức tin đó là đường lối “a la carte”, hay theo lời của Peter Berger, đó là “tin tưởng nhưng không thuộc về”. Như tôi đă đề cập, chỉ c̣n một tỷ lệ hết sức nhỏ nhoi nơi các niềm tin tôn giáo truyền thống mà thôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 7/7/2005