HÀNG GIÁO PHẨM THẾ GIỚI: MỤC VỤ 2005

Đại Diện Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ Xin Thống Đốc California Ân Xá Cho Tử Tội Stanley Williams

Các Vị Giám Mục Úc Đại Lợi muốn cấm việc phổ biến thứ thuốc RU-486

Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ kêu gọi chấm dứt án tử h́nh

Các Đức Giám Mục Ba Tây tấn công việc Lập Pháp Ly Dị tại quốc gia này

Một Giám Mục Hiệp Vương Quốc Tấn Công Dự Luật “Trợ Tử”

Các Vị Giám Mục Nam Dương lên án cuộc khủng bố tấn công Bali lần thứ hai

Các Vị Giám Mục Nigeria tấn công học tŕnh giảng dạy về t́nh dục

ĐHY Hiệp Vương Quốc lên tiếng kêu gọi chính quyền của ngài can thiệp vào bản hiến pháp Iraq

Bức Thư của các Giám Mục Balan và Ukraine về Việc Ḥa Giải:

Chúng ta cần phải Vượt Lên Trên Di Sản Lịch Sử, chúng Ta cần phải tha thứ cho nhau

Các Vị Giám Mục Đẩy Mạnh Việc Chấm Dứt Đạo Luật Trừng Phạt Lộng Ngôn

ĐHY O’Brien: Diễn Từ ngỏ lời với cuộc diễn hành trước Thượng Nghị G8“ – “Hăy Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ!”

Các Vị Giám Mục ngoài Tây Ban Nha: Đạo Luật Hôn Nhân Đồng Tính ở Tây Ban Nha là một “bước giật lùi”

Các Vị Giám Mục Âu Châu và chính trị gia châu lục này phân tích về “Vấn Đề Phủ Nhận” bản dự thảo Hiến Pháp Âu Châu

Ṭa Thánh với vấn đề nạn khiêu dâm đối với giới trẻ

Sắc Lệnh của Người Hồi Giáo chống lại Việc Tấn Công Tự Sát được Công Giáo hoan hô

Một Vị TGM can thiệp vào vụ 40 Kitô hữu Pakistan bị bắt giữ trong 1 Thánh Lễ ở Saudi Arabia

TGM William Levada, Tân Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin: Lời Ngỏ Mở Đầu

Các Giám Mục Pakistan tấn công Luật Lộng Ngôn của Hồi Giáo

Giáo Hội Công giáo tại Hoa Kỳ có thêm hơn 150 ngàn tân ṭng vào Lễ Vọng Phục Sinh 2005

Các Vị Giám Mục Canada tiếp tục  vận động chống đạo luật C-38 cho hôn nhân đồng tính

Các vị giám mục Tây Ban Nha phê b́nh về bản thảo hiến pháp của Âu Châu

 

 

Đại Diện Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ Xin Thống Đốc California Ân Xá Cho Tử Tội Stanley Williams

 

Vị giám mục lănh đạo Tiểu Ban Qui Chế Quốc Nội của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đă lên tiếng xin Thống Đốc California là Arnold Schwarzenegger ân xá cho bản án tử h́nh của kẻ bị cáo buộc là sát nhân Stanley Williams, 51 tuổi, một đồng sáng lập viên băng đảng, bị tử h́nh sáng Thứ Ba 13/12/2005 ở nhà tù tiểu bang San Quentin.

 

Tuy nhiên, trước đó, Đức Giám Mục Nicholas DiMarzio giáo phận Brooklyn, Nữu Ước, vị lănh đạo Tiểu Ban Qui Chế Quốc Nội của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đă kêu gọi vị thống đốc California qua một bức thư đề ngày Thứ Sáu 9/12/2005, một bức thư được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu hôm Thứ Hai 12/12/2005, trước ngày hành quyết người tử tội. Vị giám mục này viết như sau:

 

“Tôi không có ư làm giảm bớt trách nhiệm của những ai phạm những tội ác khiếp đảm; tuy nhiên, việc hành sử này chỉ có thể là những ǵ ḥa trộn với bạo lực vốn đă xẩy ra trong xă hội của chúng ta mà thôi.

 

“Là những mục tử phục vụ cho cả thành phần nạn nhân của những tử tội lẫn những ai đang ngồi ở dăy xà lim tử h́nh, chúng tôi mạnh mẽ tin tưởng rằng việc sử dụng án tử là những ǵ làm suy giảm tất cả chúng ta khi một người nam hay một người nữ bị sát hại v́ chúng ta.

 

Vị giám mục kêu gọi chính quyền hăy sử dụng “những phương tiện không gây sát hại sinh mạng” như sau:

 

“Những biện pháp bất bạo động như thế có thể cống hiến cho phạm nhân thời gian để thống hối tội ác của ḿnh và giúp cho họ có cơ hội để lănh nhận ơn Chúa….

 

“Đối với chúng tôi th́ đây không phải là điều ǵ về ư hệ cả mà là việc tôn trọng căn bản đối với sự sống thôi. Chúng tôi không tin ông có thể dạy rằng sát nhân là sai trái do bởi việc sát nhân. Chúng tôi không tin ông có thể bênh vực sự sống bằng việc sát hại sự sống. Trong thông điệp ‘Phúc Âm Sự Sống’, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă thách thức tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô làm sao để trở nên thành phần ‘pḥ sự sống vô điều kiện’. V́ đây là một đường lối không dễ dàng thực hiện mà nó trở thành một thách đố tất cả chúng ta mỗi người đều được kêu gọi thực hiện”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 13/12/2005

 

 

TOP

 

Các Vị Giám Mục Úc Đại Lợi muốn cấm việc phổ biến thứ thuốc RU-486

 

Các vị giám mục Úc Đại Lợi đă kêu gọi chính phủ tiếp tục cấm không cho nhập cảnh và biên toa mua thứ thuốc phá thai RU-486.

 

Thật vậy, hôm Thứ Sáu 25/11/2005, hội đồng giám mục nước này đă phổ biến một văn thư trên mạng lưới điện toán của ḿnh, với chủ trương rằng: “Việc giải quyết theo hóa chất này cho vấn đề xă hội và cá nhân chẳng giải quyết được ǵ hết”.

 

“Cuộc tranh luận gần đây về thứ thuốc phá thai RU-486 đă tái diễn cuộc công khai tranh căi về vấn đề phá thai. Vấn đề phá thai vẫn cứ xuất ở Úc Châu cho thấy t́nh trạng bất ổn sâu xa ở cộng đồng chúng ta về sự kiện là một trong bốn bào thai được kết thúc bằng việc phá bỏ – vào khoảng 90 ngàn một năm.

 

“Việc nghiên cứu cho thấy rằng gần ¾ người Úc nghĩ rằng mức độ này là mức độ quá cao. Tuy nhiên, thay v́ chú trọng tới những sách lược tích cực để giúp nữ giới tiếp tục việc mang thai của ḿnh th́ giờ đây chúng ta lại nghe thấy yêu cầu giới thiệu một phương pháp phá thai khác.

 

“Việc giới thiệu vấn đề phá thai bằng hóa chất sẽ không thể nào làm giảm bớt t́nh trạng phá thai xẩy ra ở Úc Đại Lợi. Thật vậy, nó có thể gia tăng số lượng rất nhiều nữa. Việc sử dụng một phương pháp phá thai khác sẽ làm gia tăng t́nh trạng suy yếu vấn đề tôn trọng giá trị sự sống con người. Việc nghiên cứu cho thấy là nhiều nữ giới hơn sẽ bị hư hại về thể lư, tâm lư và tinh thần.

 

“RU-486 là một thứ thuốc mănh liệt được chế ra chỉ để kết liễu sự sống của một con người ngay sau khi nó vừa được chớm phát. Cũng có những quan tâm về mối an toàn nghiêm trọng đối với nữ giới, thành phần sẽ có thể bị xẩy thai ở nhà. Điều này đặc biệt đáng lo ngại cho những người nữ, v́ sống cô lập về địa dư hay cá nhân, không thể dễ dàng hưởng những dịch vụ y tế cấp cứu.

 

“V́ những tường tŕnh lẫn lộn về mối nguy hiểm của loại thuốc này, cộng đồng chúng ta cần thời gian để hoàn toàn cứu xét tới tất cả mọi chứng cớ về nó và không cần ǵ phải vội vàng hấp tấp trong việc thay đổi vấn đề lập pháp”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/11/2005

 TOP

 

Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ kêu gọi chấm dứt án tử h́nh

 

Hôm Thứ Ba 15/11/2005 đă chấp thuận, với số phiếu 237-4, ‘Một Nền Văn Hóa Sự Sống và Án Tử H́nh”, một bản văn kiện chủ trương rằng việc thi hành án tử là việc góp phần vào ṿng bạo lực trong xă hội:

 

“H́nh phạt tử h́nh là những ǵ vi phạm đến việc tôn trọng sự sống và phẩm giá của con người”.

 

“Đă đến lúc quốc gia của chúng ta cần loại trừ đi cái ảo tưởng là chúng ta có thể bảo vệ sự sống bằng việc sát hại sự sống.

 

“Khi quốc gia, nhân danh chúng ta và bằng thuế má của chúng ta, chấm dứt sự sống con người trong khi có những giải pháp bất sát hại khác, làm cho chúng ta thấy rằng xă hội có thể chế ngự bạo lực bằng bạo lực.

 

“Cần phải loại bỏ án tử h́nh chẳng những về những ǵ nó gây ra cho thành phần bị hành quyết mà c̣n về những ǵ gây ra cho toàn thể xă hội nữa”.

 

“Họ đáng được chúng ta xót thương, gắn bó và nâng đỡ – về tâm linh, mục vụ và cá nhân. Tuy nhiên, việc thông cảm với các gia đ́nh của nạn nhân không thúc buộc chúng ta phải ủng hộ việc sử dụng tới án tử… Không có một hành động này, thậm chí cả việc hành quyết đi nữa, có thể trả về được một con người được mộ mến hay chữa lành những vết thương kinh hoàng. Nỗi đớn đau và cái mất mát của cái chết duy nhất không thể được tẩy trừ bởi một cái chết khác”. 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/11/2005

 TOP

 

 

Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ kêu gọi chấm dứt án tử h́nh

 

Hôm Thứ Ba 15/11/2005 đă chấp thuận, với số phiếu 237-4, ‘Một Nền Văn Hóa Sự Sống và Án Tử H́nh”, một bản văn kiện chủ trương rằng việc thi hành án tử là việc góp phần vào ṿng bạo lực trong xă hội:

 

“H́nh phạt tử h́nh là những ǵ vi phạm đến việc tôn trọng sự sống và phẩm giá của con người”.

 

“Đă đến lúc quốc gia của chúng ta cần loại trừ đi cái ảo tưởng là chúng ta có thể bảo vệ sự sống bằng việc sát hại sự sống.

 

“Khi quốc gia, nhân danh chúng ta và bằng thuế má của chúng ta, chấm dứt sự sống con người trong khi có những giải pháp bất sát hại khác, làm cho chúng ta thấy rằng xă hội có thể chế ngự bạo lực bằng bạo lực.

 

“Cần phải loại bỏ án tử h́nh chẳng những về những ǵ nó gây ra cho thành phần bị hành quyết mà c̣n về những ǵ gây ra cho toàn thể xă hội nữa”.

 

“Họ đáng được chúng ta xót thương, gắn bó và nâng đỡ – về tâm linh, mục vụ và cá nhân. Tuy nhiên, việc thông cảm với các gia đ́nh của nạn nhân không thúc buộc chúng ta phải ủng hộ việc sử dụng tới án tử… Không có một hành động này, thậm chí cả việc hành quyết đi nữa, có thể trả về được một con người được mộ mến hay chữa lành những vết thương kinh hoàng. Nỗi đớn đau và cái mất mát của cái chết duy nhất không thể được tẩy trừ bởi một cái chết khác”. 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/11/2005

 TOP

 

Các Đức Giám Mục Ba Tây tấn công việc Lập Pháp Ly Dị tại quốc gia này

Hội Đồng Giám Mục Ba Tây đă lên tiếng bày tỏ “việc hoàn toàn bất đồng” voơi việc lập pháp ở Quốc Hội đang t́m cách bất tội ác hóa vấn đề phá thai.

Theo bản văn tựa đề “Quyền Được Sinh Ra” của tiểu ban điều hành của hội đồng giám mục phổ biến hôm Thứ Sáu, 11/11/2005, th́ việc lập pháp này “là một cuộc tấn công thẳng mặt vào quyền lợi căn bản của con người, đó là quyền được sinh ra”.

“Việc vi phạm này liên quan tới những thứ nhân quyền khác, dẫn tới việc làm suy kiệt đi trật tự xă hội và pháp lư đồng thời mở đường cho những thứ lệch lạc lộn xộn không cùng về luân lư”.

Căn cứ vào những sự kiện khoa học vững chắc, cần phải “lập lại rằng sự sống con người được bắt đầu từ khi đậu thai, lúc con người có được gia sản di truyền của ḿnh cùng với hệ thống miễn dịch và phát triển một cách ḥa hợp, tăng tiến và liên tục. Cần phải tôn trọng và bênh vực sự sống con người ngày từ khi nó bắt đầu hiện hữu cho đến khi nó tự nhiên qua đi”.

Hội đồng giám mục này nhấn mạnh rằng “không thể chấp nhận một dự luật dám cho phép loại trừ một con người vô tội và không thể tự vệ. Nếu theo chiều hướng này th́ vấn đề nói đến nhân quyền trở thành những ǵ chẳng nhằm nḥ ǵ, khi việc bênh vực các thứ quyền khác bị tương khắc bởi việc chối bỏ quyền nguyên thủy là được sinh ra và sống động”.

Các vị giám mục lập lại rằng “người mẹ không có quyền tự động chấm dứt bào thai của ḿnh, khi đứa nhỏ gần tới ngày được sinh ra, bị chứng bệnh thai nghén bất khả chữa hay bị dị dạng bẩm sinh, từ ban đầu đă có căn tính của ḿnh, một căn tính khác với cha mẹ của em và là một hiệp nhất nơi việc phát triển dần dần và liên tục của em. Sự sống của người mẹ cần phải được hết sức bênh vực, tôn trọng và bảo vệ”.

Bản văn này có ba chữ kư, một của vị chủ tịch là ĐHY Geraldo Agnelo, một của vị phó chủ tịch là Giám Mục Antônio Celso Queiroz và một của bí thư là Giám Mục Phụ Tá Odilo Pedro Scherer.

Vào đêm Thứ Năm, 10/11/2005, ĐHY chủ tịch Agnelo đă gặp vị chủ tịch của Chamber of Deputies, phó liên bang Aldo Rebelo, để bày tỏ mối quan tâm của Giáo Hội về việc lập pháp vấn đề phá thai.

Theo vị hồng y th́ nội dung của việc lập pháp này “khiến cho chúng ta cảm thấy bần thần khi nó cho phép việc phá thai cả cho tới lúc sản sinh”.

“Chúng ta sống ở một quốc gia theo văn hóa Công giáo cảm thấy hết sức thảm thương trước việc hủy hoại sự sống”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/11/2005 

  TOP

 

Một Giám Mục Hiệp Vương Quốc Tấn Công Dự Luật “Trợ Tử”

 

Theo mạng điện toán toàn cầu ngày 9/11/2005 th́ Đức Tổng Giám Mục Peter Smith, chủ tịch Phân Bộ Trách Nhiệm Kitô Hữu và Vai Tṛ Công Dân thuộc Hội Đồng Giám Mục Anh Quốc và Wales, đă chính thức lên tiếng chống lại dự luật trợ tử: “Không ai được bị ảo tưởng về những ǵ ở đằng sau Dự Luật mới được điều chỉnh lần cuối bởi Lord Joffe”. Dự luật này, theo BBC, đă được cứu xét bởi House of Lords vào Tháng 10, và là một dự luật cổ vơ cho vấn đề trợ tử, cho phép y sĩ được quyền biên toa thuốc để bệnh nhân sử dụng cho việc tự tử.

 

Trong bản văn của ḿnh, v́ giám mục này viết như sau:

 

“Đây là bước đầu tiên trong chiến dịch có dự tính trong vấn đề hợp thức hóa vấn đề triệt sinh an tử. Một thứ luật cho phép các bác sĩ được giúp bệnh nhân tự sát hại ḿnh chỉ là một bước ngắn trước khi tiến tới luật cho phép các bác sĩ sát hại họ.

 

“Sẽ có nhiều người thuộc tất cả mọi niềm tin đạo giáo và chẳng theo đạo nào dội lại trước sự hoài nghi về tư tưởng của xă hội chúng ta muốn hợp thức hóa việc cho phép sát hại theo Dịch Vụ Sức Khỏe Toàn Quốc NHS (National Health Service) – một là tự sát hại lấy ḿnh hai là được thực hiện bởi một vi y sĩ. Chắc chắn là ảnh hưởng của một khoản luật như thế sẽ tác dụng trên thành phần bệnh nhân hay già lăo dễ bị tổn thương, vào lúc áp lực về tài chính gia tăng đối với các nguồn chăm sóc sức khỏe.

 

“Những ǵ chúng ta cần đó là việc chăm sóc dịu đau nhiều hơn nữa và tốt đẹp hơn nữa. Thành phần bị bệnh kịch liệt cần phải được chăm sóc cách xứng hợp, an toàn với ư thức là đời sống của họ là những ǵ cao quí, và xă hội không muốn họ chết đi. Họ cần được chăm sóc chứ không bị giết chết”.

 

Những nhà phê b́nh dự luật này, trong đó có cả ĐTGM Anh Giáo ở Canterbury là Rowan Williams, vị đă viết rằng sự sống là “một tặng ân Chúa ban chúng ta không được hành sử nó như là một sở hữu của riêng ḿnh trong việc muốn giữ lấy hay quẳng đi”. 

 

 

 TOP

 

Các Vị Giám Mục Nam Dương lên án cuộc khủng bố tấn công Bali lần thứ hai

 

Hôm Thứ Bảy 1/10/2005, tại Bali, sau 3 năm, lại xẩy ra một vụ khủng bố tấn công lần thứ hai gây thiệt mạng cho 22 người, tiếp theo cuộc khủng bố lần thứ nhất sát hại 202 nhân mạng tại một hộp đêm.

 

ĐGM Benyamin Yosef Bria giáo phận Denpasar đă phổ biến một bản công ngôn mục vụ lên án các hành động khủng bố, bày tỏ niềm cảm thông với gia đ́nh các nạn nhân, và mối liên kết cùng dân chúng ở Bali.

 

Vị giám mục này cũng động viên cộng đồng tín hữu khi loan báo rằng tất cả mọi Thánh Lễ cử hành trong giáo phận vào Chúa Nhật 9/10/2005 sẽ được dâng để nguyện cầu cho thành phần nạn nhân của cuộc khủng bố tấn công này.

 

Ngài cũng xin dân Công giáo trong giáo phận trong Tháng Mười thêm vào Kinh mân Côi họ đọc ư nguyện cầu cho người quá cố, cho gia đ́nh nạn nhân cũng như cho việc ḥa giải.

 

Theo cơ quan thông tín Fides của Ṭa Thánh th́ những cuộc khủng bố tấn công này một lần nữa liên quan tới nhóm Hồi giáo tranh đấu Jemaah Islamiyah, một nhóm được cho rằng đă tổ chức các cuộc khủng bố tấn công ở các quốc gia Đông Nam Á khác.

 

Vị chủ tịch của Nadhlatul Ulama là Kiai Haj Hasyim Muzadi, một tổ chức Hồi giáo lớn nhất của xứ sở này với trên 30 triệu tín đồ, đă lên án vụ khủng bố ấy: “Các nhóm cực đoan ở Nam Dương rất là ít. Thành phần Hồi giáo ôn ḥa ở Nam Dương chiếm đa số và họ cần phải giúp vào việc chống thành phần bảo thủ”.

 TOP

Các Vị Giám Mục Nigeria tấn công học tŕnh giảng dạy về t́nh dục

Các vị giám mục nước Nigeria đă yêu cầu chính phủ hăy hủy bỏ một học tŕnh được soạn thảo để giảng dạy về tính dục mà theo các vị coi thường tầm mức trưởng thành của thành phần học sinh được nhắm tới cũng như coi thường cả nền văn hóa và truyền thống Phi Châu.

 

Thật vậy, vào lúc kết thúc Đại Hội (12-16/9/2005) của Hội Đồng Giám Mục nước này, các vị đă công bố bản văn “Hướng Đến T́nh Trạng Quốc Gia Trưởng Thành”, một bản văn được kư bởi vị tổng giám mục chủ tịch là John Onaiyekan TGP Abuja, và vị Giám Mục thư kư Lucius Ugorji giáo phận Unuahia, trong đó, các ngài đă bày tỏ cảm nhận của ḿnh như sau:

 

“Chúng tôi lấy làm quan tâm về biến chuyển mới đây của Chính Phủ Liên Bang Nigeria trong việc đưa vào Trung Học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp, một Học Tŕnh về Vấn Đề Giáo Dục T́nh Dục, một học tŕnh tác hại cho việc phát triển về đạo đức và luân lư của giới trẻ.

 

“Chúng tôi muốn nêu lên rằng vấn đề giáo dục tính dục cần phải được ưu tiên hơn là việc giáo dục thuần  t́nh dục, và việc giáo dục như thế không thể bị tách ĺa khỏi những nguyên tắc về luân lư. Vấn đề giáo dục tính dục tŕnh bày t́nh dục trong tương quan với t́nh yêu chân chính của con người, với gia đ́nh cũng như với việc tôn trọng sự sống.

 

“Cha mẹ là những thày cô đầu tiên của con cái họ về các vấn đề tính dục”, và gia đ́nh “kiến tạo môi trường đối thoại, tin tưởng, cởi mở và tôn trọng hợp với việc giáo dục này”. Bởi thế, “phận sự của học đường là hỗ trợ và bổ khuyến cho nỗ lực này.

 

“Chúng tôi yêu cầu chính phủ hăy rút lại học tŕnh được dự thảo này”, và kêu gọi họ “hăy phác họa một học tŕnh khả chấp hơn”.



TOP

 

ĐHY Hiệp Vương Quốc lên tiếng kêu gọi chính quyền của ngài can thiệp vào bản hiến pháp Iraq

 

ĐHY Murphy-O’Connor, TGM Westminster, sau lời kêu gọi của các vị lănh đạo Kitô giáo ở Iraq, đă lên tiếng bằng một bức thư hôm Thứ Sáu 2/9/2005 kêu gọi vị ngoại trưởng Hiệp Vương Quốc là Jack Straw can thiệp vào việc soạn thảo Bản Hiếp Pháp Iraq để loại bỏ các khoản (2a chẳng hạn) phạm đến quyền lợi tự do tôn giáo của Kitô hữu cũng như của các nhóm thiểu số khác, một bản hiên pháp được đệ tŕnh từ ngày 25/8/2005.

 

Khoản hiến pháp này, theo Associated Press, viết rằng: “không một luật lệ nào được thông qua nếu mâu thuẫn với các qui luật bất khả bàn căi của Hồi giáo”.

 

Mạc dù những vị lănh đạo Kitô giáo ở Iraq “không đặt vấn đề là Iraq sẽ trở thành một quốc gia Hồi giáo hay chăng, cũng không chống Hồi giáo là tôn giáo, một tôn giáo trong số các tôn giáo, khác đang được coi là nguồn duy nhất của việc lập pháp, các vị cũng cảm thấy hết sức lo sợ”.

 

Vị hồng y này cảnh giác là nếu khoản luật ấy không được loại trừ đi th́ nó có thể gây ra “những hậu quả tàn hại” đối với thành phần thiểu số Kitô hữu xưa kia, cũng như làm “suy yếu trầm trọng” các dự án của Hiệp Vương Quốc đối với một nền dân chủ vững vàng nơi miền đất ấy.

Ngài viết rằng bản hiến pháp ấy chất chức “một thứ đe dọa thực sự đối với quyền tự do tôn giáo”.

 

Bản hiến pháp được soạn thảo này sẽ được bỏ phiếu bằng một cuộc tổng trưng cầu dân ư và được tu chính bởi tổng hội đồng vào ngày 15/10/2005, thế nhưng, theo Associated Press th́ vẫn đang có những bàn luận diễn tiến để điều chỉnh nó.

 

ĐHY Murphy đă xin ngoại trưởng Jack “hăy gây ảnh hưởng trên các đảng phái về Bản Hiến Pháp này để đưa vào những khoản đặc biệt bảo đảm thiết lập quyền b́nh đẳng của thành phần không phải là người Hồi giáo và loại trừ đi khoản hiến pháp được đề cập đến trên đây”.

 

TOP

 

 

Bức Thư của các Giám Mục Balan và Ukraine về Việc Ḥa Giải: “Chúng ta cần phải Vượt Lên Trên Di Sản Lịch Sử, chúng Ta cần phải tha thứ cho nhau

 

Sau đây là nguyên bản bức thư được phổ biến vào lúc kết thúc cuộc đại hội của hội đồng giám mục Balan đọc tại Quảng Trường Pilsudski thành phố Warsaw ngày 19/6/2005. Biến cố này xẩy ra lúc bế mạc Hội Nghị Thánh Thể Toàn Quốc. Bức thư này được đọc lên một lần nữa hôm 26/6 ở Lviv, nước Ukraine và tại đền thánh Zarvanytsia của Công Giáo Hy Lạp gần Ternopil.

 

B́nh an giữa các dân tộc là điều khả dĩ.

 

Trong Năm Thánh Thể chúng tôi xin tán thành lời kêu gọi của Thánh Phaolô: “Lời chúng tôi kêu gọi nhân danh Đức Kitô đó là an hem hăy ḥa giải với Thiên Chúa!” (2Cor 5:21). Chúng tôi đang tham dự vào một giây phút lịch sử và mục đích của nó là để hiệp nhất các quốc gia lại với nhau bằng việc nguyện cầu và tha thứ. Chúng tôi mong muốn – theo lời khuyên của Thánh Phaolô – tiến đến chỗ ḥa giải giữa tín hữu thuộc các Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp và Công Giáo Rôma.

 

Trong việc hoàn tất tác động thứ tha cho nhau – nhân danh công lư, t́nh thương và phúc hạnh của hai quốc gia chúng tôi – chúng tôi muốn tiếp tục gia sản của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của Chúng Ta – Vị Giáo Hoàng của ḥa b́nh và ḥa giải. Chúng tôi làm điều này với ư thức trách nhiệm về “việc nuôi dưỡng các thế hệ tương lai trong tinh thần ḥa giải và xây dựng một tương lai không bị hạn chế bởi lịch sử” (John Paul's II Message on the 60th anniversary of the tragic events in Wolyn; Vatican, 7 July 2003).

 

Khi ngỏ lời cùng nhân dân Ukrainian và Balan, ngài đă viết rằng: “V́ Thiên Chúa đă thứ tha cho chúng ta trong Chúa Kitô các tín hữu cũng cần phải tha thứ những đớn đau của nhau và xin thứ tha về những việc làm sai trái riêng của chúng ta, nhờ đó tham dự vào việc xây dựng một thế giới tôn trọng sự sống, công lư, an b́nh và ḥa hợp” (cùng nguồn vừa được trích dẫn).

 

Hôm nay chúng tôi gửi lời chào huynh đệ đến tín hữu ở Ukraine và Balan cũng như chư huynh thuộc lễ nghi Đông Phương của chúng tôi cùng tất cả mọi người thành tâm thiện chí. Lịch sử của chúng ta đầu những khó khăn và đôi khi có những biến cố thê thảm. Chúng ta đă bị phân chia bởi các cuộc xung đột về quân sự, chính trị và tôn giáo, cho dù chúng ta có cùng một gia sản và cùng một đức tin và là một cộng đồng phép rửa là những ǵ bất chấp căn tính quốc gia chúng ta vẫn đă được bắt nguồn sâu xa từ cái chết và cuộc thăng thiên vinh hiển của Chúa chúng ta.

 

1.         V́ trên 1 ngàn năm trước đây, hai quốc gia của chúng ta đă mở cửa cho Chúa Kitô cũng như cho Phúc Âm của Người, và ngay từ ban đầu, Kitô giáo là tâm điểm của văn hóa và của căn tính quốc gia chúng ta. Đức tin vào Chúa Kitô Phục Sinh đă giúp chúng ta chịu đựng những lúc khốn khó của chiến tranh và làm tôi mọi. Đức tin này cũng mang đến niềm hy vọng là hai quốc gia chúng ta sẽ hồi sinh trong tự do.

 

Kitô giáo đến Balan từ Âu Châu Latinh, trong khi đó trên mảnh đất Ukraine nó lại xuất phát từ truyền thống Byzantine. Đó là cái khác biệt mà đôi khi trở thành ngăng trở cho mối liên hệ hỗ tương của chúng ta, nhất là ở vào những lúc các nỗ lực chung trong việc tái lập liên hệ bị coi thường. Những điều khác biệt giữa chúng ta cũng thường trở thành thái quá theo nhân tạo bởi thành phần láng giềng hận thù của chúng ta muốn gieo rắc sự xung khắc giữa chúng ta, hay chúng gây ra bởi những xung khắc nội bộ về chính trị. Tuy nhiên, có những lần trong lịch sử của ḿnh, khi chúng ta trải qua cùng một số phận, tiến bước theo trên cùng một con đường, chĩu đựng nhiều thử thách với nhau, chúng ta đă cùng nhau lợi dụng gia sản thiêng liêng chung của chúng ta và lấy được niềm hy vọng và sức mạnh để sống c̣n từ cộng đồng Kitô hữu của chúng ta.

 

Thế kỷ 20 đă mang lại cho thế giới những cảm nghiệm thê lương của nhiều cuộc chiến tranh, của cái khiếp đảm về chính trị và của việc những chế độ độc tài hủy hoại các Giáo Hội. Nó cũng nổi bật với cả những biến cố hân hoan nữa, đó là việc sụp đổ của các thể chế độc tài (Nazi và Cộng Sản), là Công Đồng Chung Vaticanô II, là việc phục hồi quyền tự do tôn giáo, là việc phục hưng các nhà thờ Công Giáo Hy Lạp ở Ukraine và cuộc thống nhất Âu Châu.

 

Giờ đây đứng ở ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba sau khi Chúa Kitô giáng sinh, chúng ta nhận thấy rằng, để xây dựng mối hiệp nhất giữa các quốc gia và phát triển những mối liên hệ hỗ tương trong tinh thần tin tưởng, chúng ta cần phải vượt lên trên cái di sản lịch sử, thứ tha cho nhau cái quá khứ đau thương và hiểu lầm, lau chùi viên đá cho sạch và xây dựng một nền văn minh yêu thương.

 

2.         Lịch sử đă kéo dài trong việc chúng ta đă nổ lực tiến đến chỗ đạt tới sự thỏa ước chung giữa các vị giám mục Công Giáo Rôma Balan và các vị giám mục Công Giáo Hy Lạp Ukraine cũng như tiến tới chỗ hiệp nmhất giữa hai quốc gia của chúng ta. Sáu mươi năm trước đây, vào ngày 22/5/1945, tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Giuse ở Rôma, đă có một cuộc họp giữa Vị Giáo Chủ Balan là Hồng Y August Hlond và Giám Mục Ivan Bucko. Vào ngày 8 và 17/10/1987, cũng tại Rôma, các vị giám mục Balan và Ukraine lại gặp nhau. Những cuộc gặp gỡ này được diễn ra trong tinh thần yêu thương và hiểu biết như được xác nhận bởi các phần tử Balan và Ukraine thuộc hàng giáo phẩm tham dự.

 

Đó là lúc các vị lănh đạo tinh thần của hai giáo hội chúng ta là ĐHY Myroslav Ivan Libachivskyj và Josef Glemp thực hiện một lời tuyên ngôn chung: “Chúng tôi mắc nợ lẫn nhau v́ chúng tôi đă không làm sinh động giáo huấn xuất phát từ mối hiệp nhất của chúng ta trong phép thánh tẩy!”

 

Những nỗ lực chung ấy được thực hiện vào dịp ấy đă sinh nhiều hoa trái. Biến cố ngàn năm trở thành Kitô giáo của Rus’-Ukraine đă được cử hành bằng một nghi thức cả thể ở Balan tại Jasna Gora năm 1988 với sự tham dự của cả hàng giám mục Balan và Ukraine. Là người Công giáo thuộc hai giáo phái, chúng ta đă cùng nhau tới tham dự các cuộc cử hành Đại Năm Thánh 2000. Vào năm 2001, ĐTC Gioan Phaolô II, vị thừa kế Tông Đồ Phêrô, đă đến thăm Ukraine.

 

Cuộc hành hương của Đức Thánh Cha này có một ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiến tŕnh xây dựng việc hiểu biết và thắng vượt t́nh trạng ngờ vực cũng như những gánh nặng lịch sử là những ǵ không được trở thành một chướng ngại vật cho thế hệ mới của người Ukraine và Balan, những người muốn sống ở một Châu Âu hiệp nhất trong bầu khí thân t́nh của sự b́nh đẳng và tương kính. Nhờ ảnh hưởng của cuộc viếng thăm này của ĐTC Gioan Phaolô II chúng ta mới có thể cùng nhau tỏ ḷng tôn kính thành phần nạn nhân của những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn. T́nh đoàn kết của hai quốc gia chúng ta đă hiện lên một cách đặc biệt vào mùa thu năm 2004 ở Kyiv.

 

3.         Vào ngày 2/4/2005, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă về nhà Cha Trên Trời của chúng ta, thế giới đă bị mất đi một vị lănh đạo tinh thần chính yếu của nó. Những ngày đáng nhớ này giúp chúng ta có thể thậm chí nhận thấy mănh liệt hơn nữa cái giá trị của việc phục vụ của vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian – một người con của các quốc gia sắc tộc Slav. Một trong những vấn đề quan trọng nhất nơi vai tṛ làm giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II đó là mối quan tâm về ḥa b́nh giữa các dân nước. Chúng ta hăy nhớ những lời ngài đă nói: “Không có ḥa b́nh nếu không có công lư, không có công lư nếu không biết thứ tha” (đầu đề Sứ Điệp Ngày Ḥa B́nh Thế Giới XXXV 1/1/2002). Đức Thánh Cha này đă cống hiến cho chúng ta, thành phần môn dệ của Chúa Kitô, một gương mẫu tuyệt vời về việc xưng thú các thiếu sót về lịch sử của Giáo Hội và xin tha thứ, v́ nơi tâm can của một Kitô hữu không được có chỗ cho giận dữ, bất công hay gian dối.

 

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô! Việc cử hành Thánh Thể trong Đại Hội Thánh Thể ở Warsaw (19/6) cũng như ở Lviv (26/6) chúng ta sẽ hướng lời nguyện cầu của chúng ta về Thiên Chúa Toàn Năng. Trước khi việc này xẩy ra, chúng ta hăy hoàn tất nhiệm vụ thánh hảo của ḿnh theo lời Chúa Kitô dạy: “Nếu các con mang của lễ của ḿnh đến bàn thờ, và ở đó nhớ rằng anh em của các con có điều ǵ phạm đến các con, các con hăy bỏ của lễ của ḿnh ở đó trước bàn thờ, hăy đi làm ḥa với đối phương của ḿnh trước rồi hăy trở lại mà dâng lễ vật của ḿnh” (Mt 5:23-24).

 

Của lễ chúng ta đang mang đến đây là niềm mong ước làm trọn ư của Chúa Kitô muốn “họ trở thành. V́ tất cả chúng ta là những người hành hương trên trái đất này. Chúng ta bước đi trên con đường Đức Tin về cùng Người Cha trên trời duy nhất của chúng ta, về nhà thiên quốc của chúng ta, nơi mà – như chúng ta hy vọng – chúng ta sẽ được hoan hưởng trọn vẹn vinh quang của Thiên Chúa. Cũng từ quan điểm vĩnh hằng này của định mệnh con người mới có nhiệm vụ làm ḥa với nhau. Cha ông của chúng ta đă từng chọn con đường chung này, mở ḷng ḿnh và biên cương bờ cơi xứ sở ḿnh cho Chúa Kitô. Những thứ khác biệt về giáo phái và tính cách đa diện về văn hóa chỉ là một dấu hiệu cho thấy sự phong phú hơn nữa, một sự phong phú được mang lại nhờ đức tin vào vị Thiên Chúa là Cha, và Con và Thánh Thần.

 

Năm Thánh Thể chúng ta đang hiện sống đây giúp chúng ta một hiểu biết sâu xa hơn về yếu tính của bí tích thánh này. Làm thế nào để chúng ta bày tỏ ḷng biết ơn về Tặng Ân Bánh Sự Sống này, một tặng ân là nguồn mạch hy vọng cho ḥa b́nh và yêu thương giữa các dân nước? “Hy sinh của tôi đó là tấm ḷng tan nát. Một tấm long tan nát khiêm cung Chúa sẽ không chê chối” (Ps 51:19). Trong thế kỷ qua, hai quốc gia của chúng ta đă làm chứng cho sự trung thành của ḿnh cho đến chết! Máu các vị tử đạo đổ ra kêu gọi chúng ta hăy yêu thương bạn hữu và kẻ thù của chúng ta, và kêu gọi “Hăy làm ḥa với nhau!”.

 

Chúng ta hăy vượt lên trên các quan điểm về chính trị và các biến cố lịch sử, trên các lễ nghi giáo hội, thậm chí trên cả căn tính quốc gia của ḿnh nữa – căn tính Ukraine và Balan. Chúng ta trước hết và trên hết hăy nhớ rằng chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta hăy trở về cùng Cha của chúng ta: “Xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Để làm cho lời nguyện cầu này của chúng ta sinh hoa kết nhất nhất, chúng ta hăy nói cùng nhau những lời này: “Chúng tôi thứ tha và chúng tôi xin được tha thứ” – những lời vốn có tính cách quan trọng về lịch sử trong việc ḥa giải giữa các quốc gia (xem Thư của Chư Giám Mục Balan và Đức Quốc, Tôma 1965). Chớ ǵ tác động thứ tha và ḥa giải này được nên trọn trước nhan của Vị Thiên Chúa Duy Nhất trong Ba Ngôi và nhan của Đức Mẹ ở những nơi thánh đối với thành phần tín hữu chúng ta: “ở Jas na Gora và ở Zarvanytsia, ở Warsaw và ở Lviv”. Chớ ǵ lời nguyện cầu chung của chúng ta là lời nguyện cầu xuất phát từ những tấm ḷng tinh tuyền, lời nguyện cầu của những con người thiện tâm.

 

Trong tinh thần ấy, chúng tôi gửi đến anh chị em phép lành mục vụ của chúng tôi.

Warsaw-Lviv, 19-26/6/2005

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 29/8/2005

 

 

TOP

Các Vị Giám Mục Đẩy Mạnh Việc Chấm Dứt Đạo Luật Trừng Phạt Lộng Ngôn

Theo cơ quan Fides của Ṭa Thánh th́ các vị giám mục Pakistan, liên kết với một số tổ chức ton giáo và nhân quyền, trong đó có Ủy Ban Ḥa B́nh và Phát Triển Con Người – một nhóm bao gồm cả Kitô hữu và Hồi hữu – và có cả Liên Minh Tất Cả Thành Phần Thiểu Số Pakistan, đă nêu lên vấn đề tôn trọng qui tắc về luật lệ, bằng việc tường tŕnh những trường hợp mạo tố về vấn đề lộng ngôn và những trường hợp bạo động phạm đến những người Kitô hữu và không phải Kitô hữu.

Chẳng hạn, cảnh sát Karachi gần đây đă bắt nhốt một người phu quét đường Hồi giáo lăo thành tên là Yousaf Masih, v́ ông bị cáo buộc là đốt những mảnh giấy có các chữ in câu Kinh Koran. Người lao nhân mù chữ này nói là ông chỉ đốt những tờ nhật tŕnh và các giấy tờ khác theo việc làm của ḿnh thôi.

Sau đó, ở thành phố Nowshera, không cách xa Peshawar bao nhiêu, ở vùng biên giới tây bắc nơi này, một đám hỗn dân Hồi giáo đă đốt đền Ấn Giáo Lamba Vera và quăng đuốc lửa đốt các nhà của người Kitô hữu và Ấn giáo. Các gia đ́nh hoảng sợ đă thoát khỏi vùng này và nay trở thành những người vô gia cư.

Gần đây, cảnh sát Pakistan đă ập vô lục soát và tịch thu các sản phẩm được bày bán của một tiệm sách của nữ tu Ḍng Nử Tử Thánh Phaolô ở Saddar, gần Karachi.

Trong một bản văn gửi cho cơ quan Fides của Ṭa Thánh, Ủy Ban Công Lư và Ḥa B́nh của các vị giám mục Pakistan đă kêu gọi chính quyền hăy có biện pháp ngăn chặn t́nh trạng bạo lực này và tái yêu cầu chính quyền hăy rút lại khoản luật trừng phạt lộng ngôn.

Bản văn này cũng lên án các hành động bạo lực của thành phần quá khích Hồi giáo và kêu gọi thả ngay ông Yousaf Masih. Theo những tu chính được chuẩn nhận vào năm 2004 th́ một cuộc điều tra cần phải được thực hiện trước khi ra lệnh giam giữ.

Thật vậy, năm vừa rồi Quốc Hội Pakistan đă chuẩn nhận một đạo luật giảm bớt phạm vi của các khoản luật trừng phạt lộng ngôn. Việc tu chính luật lệ này có nghĩa là các viên chức cảnh sát phải điều tra các lời cáo buộc lộng ngôn, bảo đảm rằng chúng có những lư do vững chắc, trước khi cáo buộc các án h́nh sự.

Khoản luật trừng phạt lộng ngôn liên quan đến 2 phần của Bộ Luật Pakistan về Phương Thức H́nh Sự lên án các thứ xúc phạm đến Kinh Koran hay đến danh tính của vị tiên tri. Án nặng nhất là bị tù chung thân.

Tuy nhiên, khoản luật này cũng được sử dụng để chống lại thành phần thù địch về chính trị hay kẻ thù riêng tư, bởi thành phần bảo thủ Hồi giáo hay bởi việc trả thù riêng.

Theo ủy ban này th́ từ năm 1988 có khoảng 650 người đă bị cáo gian và bị giam giữ theo luật trừng phạt lộng ngôn của Pakistan. Hơn nữa, cũng vào thời khoảng này, có khoảng 20 người đă bị giết chết v́ bị tố cáo cùng một tội h́nh này. Hiện nay có khoảng 80 Kitô hữu đang bị ngồi tu v́ tội lộng ngôn. Hồi giáo chiếm 97% của xứ sở có 155 triệu dân này.

Bá Vũ Ly, theo Zenit ngày 8/7/2005

TOP

ĐHY O’Brien: Diễn Từ ngỏ lời với cuộc diễn hành trước Thượng Nghị G8“ – “Hăy Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ!”

Bằng việc hiện diện ở đây hôm nay là chúng ta tỏ ra đoàn kết với thành phần nghèo khổ trên thế giới.

Khi tiếng kêu “Hăy Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ” thốt lên từ môi miệng của chúng ta th́ nó âm vang chẳng những ở các quốc gia G8 mà c̣n ở khắp cùng thế giới nữa. Đang khi tôi nói đây, tôi nhớ đến một số người tôi đă được gặp trong những chuyến đi của tôi, nhất là ở Phi Châu, một châu lục giầu có ở rất nhiều cách thức khác nhau, ở tài nguyên, đức tin và truyền thống của ḿnh, nhất là ở dân chúng của ḿnh.

Họ là thành phần dân chúng đầy hân hoan vui vẻ, cương quyết và hy vọng, bất chấp mây mù bất công đang làm cho đời sống của họ trở nên tăm tối. Những ước mơ của họ về một đời sống tốt đẹp hơn được nâng đỡ bằng một cảm quan hy vọng sâu xa. Và niềm hy vọng của họ là những ǵ nuôi dưỡng việc chúng ta quyết tâm tham gia với cuộc chiến đấu của họ trong viện chấm dứt t́nh trạng nghèo khổ khốn cùng là những ǵ đă đóng đanh trên 1 tỉ người khắp thế giới.

Hôm nay đây, tôi đang nghĩ đến cuộc tôi đến thăm Ethiopia mấy tháng trước đây với SCIAF, cơ quan cứu trợ của nước Tô Cách Lan chúng ta, nơi tôi đă gặp một nhóm người cả nam lẫn nữ sống trong t́nh trạng hội chứng hay vi khuẩn liệt kháng. Cảm kích trước ḷng can đảm và sức mạnh của họ, tôi quyết định đặt một giải trắng trên cổ tay của vị lănh đạo nhóm này, như dấu hiệu của t́nh đoàn kết và hiệp nhất – tức muốn nói rằng cuộc tranh đấu của họ cho công lư cũng là cuộc chiến đấu của chúng ta.

Tôi nhớ lại một trong những t́nh trạng khổ ải nhất tôi chưa từng gặp đó là khi tôi thấy ở một chuỗiù những túp lều nằm dài bên bờ sông có một phụ nữ bị cùi đang chăm sóc cho 6 người bị hội chứng liệt kháng, trong khi chính bản thân chị ta rơ ràng là đang chịu khổ cực rất nhiều.

Chắc chắn một điều là nếu con người có rất ít mà c̣n cho đi nhiều như thế th́ chúng ta ở nơi những xứ sở giầu có nhất thế giới này phải có thể làm thật nhiều hơn như thế nữa!

Sứ điệp từ Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI

Như một dấu hiệu tỏ ra yêu thương thành phần nghèo khổ, một dấu hiệu thuộc một truyền thống liên lỉ của Kitô giáo là truyền thống được tác động bởi Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô, con người nghèo ở Nazarét, tôi đă đeo một cái ṿng trắng ở cổ tay ḿnh khi các vị hồng y trên thế giới mới đây qui tụ lại để tuyển bầu tân Giáo Hoàng.

Hôm qua, tôi đă nhận được từ ĐGH Biển Đức XVI một sứ điệp, trong đó ngài xin tôi chuyển đến cho tất cả mọi anh chị em hôm nay đây lời chào của ngài “hiệp nhất với mối quan tâm của anh chị em về t́nh trạng phúc hạnh của hằng triệu triệu anh chị em của chúng ta đang trải qua cảnh bần cùng”.

Ngài tiếp: “Nhân dân thuộc các xứ sở giầu thịnh nhất thế giới cần phải sẵn sàng chấp nhận gánh nặng giảm bớt nợ nần cho các xứ sở nghèo khổ nặng nề mắc phải, cũng như phải thôi thúc các vị lănh đạo của họ hoàn thành lời hứa quyết thực hiện việc giảm bớt nghèo khổ, nhất là ở Phi Chầu vào kỳ hạn năm 2015”.

ĐGH Biển Đức XVI đă kết thúc bằng việc bày tỏ “niềm hy vọng thiết tha rằng một ngày kia nạn nghèo khổ trên thế giới được kư thác cho lịch sử”.

Tại sao hôm nay chúng ta có mặt ở đây?

Chúng ta có mặt ở đây hôm nay là v́ chúng ta chướng tai gai mắt trước t́nh trạng khổ đau không cần thiết gây ra bởi t́nh trạng nghèo khổ. Việc tỏ ra thụ động hay lạnh lùng dửng dưng khi biết rằng một trẻ em bị chết đi một cách vô ích trong ṿng 3 giây một là một hành động đồng lơa dă man!

Chúng ta nói với những vị lănh đạo của các quốc gia giầu có nhất thế giới rằng chúng ta không muốn đồng lơa một cách dă man. Ngày nay đang có một ư thức mạnh mẽ nơi thành phần dân chúng trên thế giới là chúng ta có trách nhiệm về luân lư trong việc chia sẻ t́nh trạng giầu thịnh về sản vật của chúng ta với những ai không có ǵ.

Hôm nay, chúng ta đến đây với lư do duy nhất đó là v́ chúng ta muốn đứng một cách êm đẹp và dứt khoát về phía anh chị em nghèo nàn của chúng ta cũng như để lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói. Mahatma Gandhi đă nói rằng giá trị của một xă hội được thẩm định bằng giá trị nó đặt nơi thành phần yếu kém nhất của ḿnh. Những ǵ chúng ta đang làm hôm nay đây là một điều cao cả!

Bất cứ những ǵ khác xẩy ra trong đời sống của chúng ta, chúng ta sẽ không thể nào quên được những ǵ đang xẩy ra cho chúng ta hôm nay nơi đây. V́ không c̣n ǵ hơn là đoàn kết với những người chúng ta chưa từng gặp mặt, những người sống ở những nơi chúng ta chưa bao giờ viếng thăm, và ở những hoàn cảnh chúng ta không hề biết tới.

Hôm nay đây chúng ta đang nói ǵ đây?

Tiếng kêu của chúng ta hôm nay đây là tiếng kêu thân t́nh gửi tới các vị lănh đạo được chọn bầu của chúng ta thay cho hằng triệu triệu người không có tiếng nói. Tôi xin tóm gọn những tiếng kêu của chúng ta gửi tới các vị lănh đạo G8 như sau:

1.      “Hăy lắng nghe tiếng nói của dân chúng của quí vị!”

Chúng tôi yêu cầu quí vị hăy lắng nghe tiếng nói của hằng triệu triệu người ở xứ sở của quí vị và trên khắp thế giới, những người giờ đây nói rằng đây là lúc chấm dứt t́nh trạng nghèo khổ. V́, nếu t́nh trạng nghèo khổ giờ đây không chấm dứt th́ khi nào nó mới kết thúc đây? Nếu chúng ta không thực hiện phần của ḿnh trong việc chấm dứt t́nh trạng nghèo khổ vào lúc này đây th́ ai là người sẽ hoàn thành được mục đích ấy đây?

2.      “Hăy quảng đại và công bằng!”

Chúng ta cũng nói cùng quí vị lănh đạo G8 của chúng ta rằng: “Quí vị hăy quảng đại và công b́nh!” Cái giá phải trả cho việc tŕ trệ, cho việc bủn xỉn, cho việc thiếu ư chí chính trị, đang phải trả bằng những cái chết vô ích của 30 ngàn trẻ em mỗi ngày. Thành phần nghèo khổ không t́m kiếm ḷng bác ái mà là công b́nh. Việc hủy bỏ nợ nần, việc gia tăng viện trợ, việc làm cho những qui tắc giao thương công bằng không phải là những hành động của đức bác ái: chúng là những hành động công bằng đă bị hụt hẫng đă lâu. Chúng ta yêu cầu ḷng quảng đại và công b́nh trong việc ban phát của ḿnh cũng như trong vấn đề chính trị của chúng ta.

3.      “Hăy nhận thức những ǵ dân chúng của các vị đang làm!”

Chúng ta yêu cầu quí vị lănh đạo của chúng ta hăy hănh diện về thành phần dân chúng của ḿnh hôm nay đây. Như những ṿng trắng này bao bọc chung quanh cổ tay của chúng ta, chúng ta cũng thế, qua việc qui tụ của ḿnh hôm nay đây, liên kết với dân chúng trên khắp thế giới.

Việc hiện diện của chúng ta hôm nay ở đây, việc chúng ta đ̣i hỏi công bằng, là những ǵ âm vang những cuộc đại vận động lịch sử chấm dứt t́nh trạng nô lệ, và mới đây hơn, t́nh trạng kỳ thị chủng tộc Nam Phi.

Việc chúng ta hiện diện hôm nay ở đây chứng tỏ rằng chúng ta đang:

Nhận thức được t́nh trạng nghèo khổ của tha nhân;

Nhận thức được cái vô luân của việc để cho đau khổ xẩy ra;

Nhận thức được quyền lợi công dân của chúng ta cần phải được lắng nghe;

Nhận thức được con người nam nữ và trẻ em đang chết đi vào lúc chúng ta đang nói đây;

Nhận thức được việc chúng ta đoàn kết ban cho chúng ta sức mạnh;

Nhận thức được các vị lănh đạo của chúng ta có thể điếc tai nhưng Thiên Chúa Toàn Năng vẫn nghe thấy tiếng kêu của chúng ta;

Và nhận thức được rằng chỉ cùng nhau chúng ta mới có thể “Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ!”

 Kết Luận:

“Hăy Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ!” Đó thực sự là mục đích của chúng ta. Đó là tiếng kêu của thành phần nghèo khổ cũng là tiếng kêu của chúng ta hôm nay đây – và là tiếng kêu sẽ được vang vọng ở những hành lang quyền lực tại Gleneagles - “Hăy Thực Hiện một Cuộc Lịch Sử cho T́nh Trạng Nghèo Khổ!”

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 3/7/2005 & VIS 4/7/2005 

TOP

 

Các Vị Giám Mục ngoài Tây Ban Nha: Đạo Luật Hôn Nhân Đồng Tính ở Tây Ban Nha là một “bước giật lùi”


Nhiều vị giám mục Công giáo ngoài nước Tây Ban Nha đă công khai bày tỏ mối quan ngại sau khi nước này hợp pháp hóa vấn đề hôn nhân đồng tính và cảnh giác hậu quả của sự kiện này.


Tờ nhật báo Ư Avvenire hôm Thứ Sáu 1/7/2005 đă tường tŕnh là ĐHY Renato Martino, chủ tịch Hội Đồng Công Lư và Ḥa B́nh đă cảnh giác đạo luật mới này là “một thứ lệch lạc đối với các nguyên tắc xuất phát từ bản tính tự nhiên” và nhấn mạnh rằng quyết định ấy “không phản ảnh thực sự ư muốn của nhân dân Tây Ban Nha”.


ĐHY Alfonso López Trujillo, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Gia Đ́nh đă gọi đường lối của Tây Ban Nha là một thứ “đạo luật phản đạo lư”. Vị hồng ư này nói với Đài Phát Thanh Quốc Gia Colombia là khó có thể hiểu được “làm thế nào đạo luật này có thể cổ vơ gia đ́nh”, v́ nó bao hàm “việc hủy hoại” gia đ́nh.


Cũng hôm Thứ Sáu, ĐHY Juan Luis Cipriani Thorne, TGM Lima và là giáo chủ ở Peru, trong một Thánh Lễ đă cảnh giác về một thứ độc tài của chủ nghĩa luân lư tương đối. Ngài nói:


“Sự dữ đội lốt sự thiện và bị áp đặt, và khốn cho ai không chấp nhận nó khi bị gán cho là ‘đồ cố chấp’. Tôi nói tất cả những điều này v́ chúng tôi vừa nghe biết rằng … một xứ sở có một truyền thống Kitô giáo vĩ đại đă chấp thuận một thứ hôn nhân giả mạo và áp đặt trên xă hội một thứ méo mó, tức là một cuộc tấn công có tính cách giả tạo nhất”.


ĐGM José Hugo Garaycoa Hawkins ở Tacna-Moquegua, Peru, đă nói với cơ quan Fides của Ṭa Thánh rằng nó là “một mối đe dọa nặng nề cho cơ cấu gia đ́nh cũng như cho tương lai của thế giới”.


ĐTGM José Ríos Reynoso ở Arequipa, Peru, qua những nhận định gửi cho mạng điện toán Zenit đă nói rằng: “Chúng tôi tin rằng không thể nào chấp nhận một cách thụ động một cuộc tấn công trầm trọng như thế đối với đời sống hôn nhân chân thực cùng với những hậu quả đau thương và khổ đau cho các gia đ́nh. Bởi thế, cần phải bênh vực gia sản lịch sử và luân lư” là những ǵ bị ảnh hưởng bởi đạo luật ấy. Những lư do tại sao loại bỏ đạo luật này không phải là để chống lại thành phần đồng phái tính, thành phần v́ là người nên có cùng những quyền lợi như tất cả mọi người khác. Những ǵ chúng tôi muốn làm đó là bênh vực thực tại về nhân loại học và về xă hội nơi việc hợp hôn giữa nam nữ ở tính cách chuyên biệt của nó cũng như ở giá trị bất khả thay thế của nó đối với công ích”.


ĐGM Catalino Claudio Giménez Medina ở Caacupe, chủ tịch hội đồng giám mục Paratuayan đă nói với cơ quan Fides rằng: “Đối với nguyên ước muốn tỏ ra ḿnh là một quốc gia đi tiên phong trong việc chà đạp lên các nguyên tắc căn bản, chính quyền Tây Ban Nha đă chấp thuận một đạo luật hợp pháp hóa một thứ hôn nhân được gọi là đồng tính. Không c̣n cái lầm lạc nào hơn cho một xă hội sống không có mục tiêu và chân trời, một t́nh trạng gây ra vấn đề lẫn lộn một cách sâu xa, hoa trái của một thế hệ cho thấy ḿnh bị băng hoại hơn bao giờ hết”.


ĐTGM Gioan Baotixita Odama ở Gulu nước Uganda đă bày tỏ nhận định với cơ quan Fides rằng: “Tôi hy vọng là những quốc gia khác không theo gương của Tây Ban Nha. Âu Châu dường như đang mất đi cái hồn sống của ḿnh và bị trở thành mồi ngon cho một thứ chủ nghĩa tương đối phi đạo lư”.


ĐTGM Theodore Adrien Sarr ở Dakar, chủ tịch hội đồng giám mục Senegalese đă than lên rằng: “Đạo luật này là một bước giật lùi chứ không phải là một bước tiến lên theo văn minh nhân loại, v́ nó phản lại với lề luật tự nhiên. Những người Phi Châu thuộc tất cả mọi tín ngưỡng đều lấy làm bàng hoàng bỡ ngỡ trước đạo luật ấy, v́ lề luật tự nhiên cắm rễ sâu vào văn hóa của châu lục chúng tôi”.


Cha Donald De Souza, tổng bí thư và là phát ngôn viên của hội đồng giám mục Ấn Độ cũng nói với cơ quan Fides là cơ quan truyền giáo của Ṭa Thánh rằng: “Giáo Hội ở Ấn Độ cảm thấy bất đồng với việc chấp thuận đạo luật hợp pháp hóa ‘hôn nhân’ đồng tính ở Tây Ban Nha. Hội đồng giám mục Ấn Độ xin hoàn toàn liên kết với các vị giám mục Tây Ban Nha trong trận chiến đấu cho sự sống cũng như cho đời sống gia đ́nh được các vị thực hiện. Không kể đến Kitô giáo, các truyền thống Ấn Độ cổ kính công nhận hôn nhân là vấn đề giữa nam và nữ chứ không thể nào hiểu là giữa hai người nam hoặc hai người nữ cả”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 5/7/2005

  

TOP

 

 

Các Vị Giám Mục Âu Châu và chính trị gia châu lục này phân tích về “Vấn Đề Phủ Nhận” bản dự thảo Hiến Pháp Âu Châu

 

Cả Pháp (hôm Chúa Nhật 29/5/2005) và Ḥa Lan (hôm Thứ Tư 1/6/2005) đă bác bỏ bản dự thảo hiến pháp của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Trong khi đó, 10 quốc gia khác đă phê chuẩn bản hiến pháp này, 9 bởi quốc hội là Áo, Hung, Ư, Đức, Hy, Látvia, Lithuania, Slovakia và Slovenia, và một là Tây Ban Nha được phê chuẩn bởi cuộc trưng cầu dân ư. Tuy nhiên, bản hiến pháp này cần phải được chuẩn nhận bởi tất cả 25 quốc gia phần tử, hoặc bởi trưng cầu dân ư hay bởi quốc hội, mới có công hiệu vào tháng 10/2006.

 

Đức Ông Noel Treanor, tổng bí thư của Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu đă kêu gọi “các chính trị gia và công dân hăy nhận thức”.

 

“Việc bác bỏ này như là một lời cảnh giác về vấn đề nới rộng vô hạn của Khối Hiệp Nhất Âu Châu”, và những nỗi sợ hăi của thành phần công dân Âu Châu “đ̣i phải có những đáp ứng can đảm và kết đoàn về phía các vị lănh đạo chính trị của chúng ta ở cả cấp quốc gia và châu lục. Nó nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải khai triển tính cách minh bạch, hợp lư và tham phần nơi guồng máy quản trị. Cần phải nghĩ ra những đường lối mới để truyền đạt mục đích của chính dự án Âu Châu cùng tiến tŕnh soạn thảo chính sách Âu Châu. Để khá tín và được công dân Âu Châu chấp nhận, việc lập pháp Âu Châu cần phải rơ ràng bắt nguồn từ bậc thang của các giá trị biết tôn trọng và cổ vơ gia sản của Âu Châu”.

 

Dù Pháp và Hà Lan, hai nước thành lập Khối Hiệp Nhất Âu Châu, qua hai cuộc trưng cầu dân ư, một vào Chúa Nhật 29/5 và một vào Thứ Tư 1/6/2005, đă phủ nhận bản dự thảo hiến pháp Âu Châu, Quốc Hội nước Latvian vẫn chấp thuận bản dự thảo hiến pháp Âu Châu hôm Thứ Năm 2/6/2005, với 71 phiếu thuận, 5 phiếu chống và 6 phiếu trống.

 

Tuy nhiên, chính phủ Hiệp Vương Quốc vẫn cân nhắc biến cố bác bỏ này của Pháp và Hà Lan qua việc trưng cầu dân ư là có nên thực hiện việc trưng cầu dân ư để cứu xét bản dự thảo này hay chăng, hay chỉ để cho quốc hội thôi.

 

Hầu hết các vị lănh tự Âu Châu nói rằng hiện nay họ hướng đến cuộc thượng nghị Brussels 16-17/6/2005 để giải quyết t́nh h́nh và quyết định cho hướng đi tiếp tới của khối này.

 

Một trong những vị lănh đạo của Ḥa Lan vận động chống bản dự thảo hiến pháp là chủ tịch Willem Bos đă nói cho CNN biết rằng “rơ ràng là nhân dân Ḥa Lan không muốn bản hiến pháp ấy”. Tuy nhiên, vị này xác định thêm là kết quả ấy không chống lại việc thống nhất Âu Châu nhưng là chống lại đường lối đang hành sự của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Trong cuộc trưng cầu dân ư này, số phiếu chống là 61.6 c̣n số phiếu thuận là 38.4. Tuy nhiên kết quả sau cùng sẽ được biết vào ngày 6/6/2005, khi việc kiểm phiếu bầu bằng thư tín được đúc kết.

 

Các nhà phê b́nh sợ rằng Ḥa Lan, với con số 16.4 triệu dân, sẽ bị đè bẹp bởi các cường quốc được đặt trụ sở ở Brussels và bị thống trị bởi Đức, Pháp và Hiệp Vương Quốc. Theo vị chủ biên về chính trị Âu Châu của CNN là Robin Oakley cho biết th́ việc bỏ phiếu chống ở Ḥa Lan và Pháp phần lớn là v́ kinh tế bị suy yếu, là v́ quan tâm đến vấn đề di dân, đến vấn đề nới rộng Khối Hiệp Nhất và vấn đề mất căn tính quốc gia.

 

Tuy có hai nước chống, bởi thế bản hiến pháp dự thảo không thành, nhưng Pháp, Đức và Lục Xâm Bảo (đang giữ chức chủ tịch luân phiên của khối này) vẫn chủ trương tiếp tục tiến tŕnh chấp thuận bản hiến pháp này ở các nước hội viên chưa thực hiện xem sao.

 

TOP

 

Ṭa Thánh với vấn đề nạn khiêu dâm đối với giới trẻ

 

Hôm Thứ Năm 19/5/2005, trong một cuộc họp báo ở Rôma, một bản tường tŕnh thứ tư về nạn khiêu dâm ở Ư quốc đă được phổ biến. Bản tường tŕnh này cho biết có 2/3 thanh thiếu niên, tuổi từ 15 đến 18, đă có được những tài liệu về in ấn hay trên mạng điện toán toàn cầu liên quan tới vấn đề truyền thông khiêu dâm. Bản tường tŕnh này c̣n cảnh giác là con số trẻ em vị thành niên càng ngày càng tăng đang bị khai thác trên những mạng điện toán toàn cầu về truyền thông khiêu dâm.

 

Về vấn đề thương mại nạn truyền thông khiêu dâm này, như loại truyền h́nh trả tiền, các băng h́nh và mạng điện toán toàn cầu khiêu dâm là những ǵ tạo nên số lượng thương mại nhiều nhất ở lănh vực kỹ nghệ này, cộng với cả những thứ điện thoại truyền h́nh lưu động đang thông phần vào nạn truyền thông khiêu dâm này.

 

Trước nạn truyền thông khiêu dâm tràn lan như thế, Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Truyền Thông Xă Hội đă phổ biến một văn kiện với tựa đề: “Nạn Truyền Thông Khiêu Dâm và Bạo Lực nơi Vấn Đề Truyền Thông Xă Hội: Một Đáp Ứng Mục Vụ”.

 

Tổ chức thực hiện và phổ biến bản tường tŕnh trên đây là Eurispes, một Giáo Hoàng Học Viện Nghiên Cứu về Chính Trị, Kinh Tế và Xă Hội hoạt động từ năm 1982 nơi lănh vực huấn luyện và nghiên cứu về chính trị, kinh tế và xă hội.

 

ĐTGM John Foley, chủ tịch của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Truyền Thông Xă Hội, trong cuộc họp báo tường tŕnh trên đây, đă nh́n nhận những khía cạnh tích cực của một thế giới đang phát triển về các phương tiện truyền thông xă hội, nhưng cũng công nhận rằng nó thường được sử dụng như một phương tiện để “tạo nên những mẫu thức hành động mới là những ǵ không phải lúc nào cũng xây dựng phẩm vị con người”.

 

“Hy vọng rằng cuộc nghiên cứu mới nhất này của Eurispes sẽ góp phần vào việc h́nh thành những người công dân hữu trách chẳng những sống trong một cơ cấu truyền thông pháp lư bảo vệ giới trẻ mà c̣n hành sử việc tự chế và phán đoán khôn ngoan để có thể làm tiêu ma thị trường của thành phần phổ biến nạn truyền thông khiêu dâm”.

 

Theo vị TGM chủ tịch này th́ Eurispes đă “thực hiện một việc đóng góp đáng kể trong việc làm sáng tỏ vấn đề tràn lan đáng lo ngại về một thứ ô nhục như nạn truyền thông khiêu dâm là những ǵ đáng tiếc lại được coi như lợi ích. Trong bối cảnh ấy th́ thành phần bị tổn thương nhất là trẻ em và giới trẻ, thành phần đă bỏ ra nhiều giờ trước màn ảnh truyền h́nh và lục lội các mạng điện toán toàn cầu”.

 

Bởi thế, vị TGM này nhận định cần phải có “một phương pháp giáo dục thực sự về vấn đề này nơi gia đ́nh, nơi học đường cũng như nơi xă hội, kêu gọi trách nhiệm cá nhân của thành phần chuyên môn hoạt động ở lănh vực truyền thông, bằng cách thiết lập những khoản luật đặc biệt về đạo lư được tác động bởi việc tôn trọng nhân phẩm, công ích và hướng về việc phát triển con người”.

 

V́ “nạn truyền thông khiêu dâm làm bại hoại những liên hệ về con người; nó phát xuất từ việc khai thác con người, tạo nên những thái độ phản xă hội, làm tiêu ma cảm quan luân lư và không thể dẫn đến những liên hệ trưởng thành v́ nó theo chiều hướng cái tôi và tạo nên một thứ lệ thuộc thực sự”.

 

Theo ngài, chúng ta được kêu gọi để phản ứng “trước một thứ đe đọa như thế đối với việc h́nh thành lkạnh mạnh con người”. Tuy nhiên, “thái độ của chúng ta không được là một thái độ kiểm soát và lên án mà thôi”, trái lại, chúng ta phải “đáp ứng vấn đề này bằng việc thiết lập một cuộc đối thoại liên tục với thế giới truyền thông, với những ngành kỹ nghệ điện ảnh liên quan tới vấn đề phổ biến các thứ thái độ và các thứ thời trang, với các thẩm quyền quốc gia, nhất là với quần chúng, nhờ đó nó có thể được sáng suốt nhận định và chọn lựa”.

 

TOP

 

Sắc Lệnh của Người Hồi Giáo chống lại Việc Tấn Công Tự Sát được Công Giáo hoan hô

 

ĐTGM Lawrence Saldanha ở Thủ Đô Pakistan Lahore đă hoan hô một sắc lệnh được thành phần giáo sĩ Hồi giáo ban bố lên án những cuộc tấn công tự sát ở Pakistan và kêu gọi thi hành ở các xứ sở khác nữa.

 

Thật vậy, hôm Thứ Ba ngày 17/5/2005, có 58 vị giáo sĩ Hồi giáo thuộc các trường phái khác nhau đă ban hành một sắc lệnh tuyên bố rằng những cuộc tấn công tự sát là việc vi phạm đến những giáo huấn của Hồi giáo và không phải là một phương tiện cho cuộc thánh chiến.

 

Các vị giáo sĩ này đă nói rơ là sắc lệnh này chỉ được áp dụng ở Pakistan mà thôi và có ư đánh tan tư tưởng được một số tổ chức tôn giáo tuyên truyền rằng các kẻ tấn công tự sát sẽ được tự động lên thiên đàng. Sắc lệnh này tuyên bố là “Viện tuyên truyền này gán cho Hồi giáo một danh xưng xấu xa. Với sắc lệnh này, con người vô tội thoát được việc trở thành một dụng cụ trong tay thành phần thù địch của Hồi giáo”.

 

Vị chủ tịch của Tanzeemul Madaris Pakistan, một hiệp hội các chủng viện tôn giáo thuộc các trường phái khác nhau, là Mufti Muneebur Rehman, đă thêm: “Bất cứ ai tham gia vào cuộc tấn công tự sát nghĩ rằng ḿnh được Thiên Chúa chúc phúc sẽ không được coi là người Hồi giáo… Việc sát hại con người không có liên quan ǵ tới Hồi giáo cả”. Vị này nói rằng Hồi giáo lên án các cuộc nổ bom và tấn công các đền đài hay các nơi thờ phượng khác, thậm chí các nơi cộng cộng nữa.

 

Sắc lệnh này tuyên bố là việc sát hại thành phần vô tội là những ǵ “haram” (bị cấm), và phải chịu án tử h́nh.

 

Từ năm 1980 có hơn 4 ngàn người bị chết trong cuộc bạo động về giáo phái giữa phái Shiites và Sunnis. Năm ngoái có 160 người bị chết.

 

Nước Pakistan có tổng số dân là 160 triệu, 75% là Hồi giáo phái Sunni, 20% phái Shiites. Kitô hữu chiếm 2.5%, trong đó có 1.2 triệu người Công giáo.

 

ĐTGM Saldanha đă cho cơ quan Tín Vụ Á Châu AsiaNews biết rằng: “Là người Công giáo, chúng ta cũng chống lại các cuộc tấn công bạo lực, v́ sự sống là một tặng ân thánh hảo chúng ta không thể sát hại nó v́ Thiên Chúa cấm làm như vậy. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă phát động một thứ văn minh sự sống và yêu thương, chúng ta cũng phải làm như vậy. Tự sát là những ǵ thuộc về thứ văn hóa sự chết”. Vị TGM này c̣n lập lại chủ trương của Giáo Hội chống lại tất cả mọi h́nh thức sát nhân, như phá thai và triệt sinh an tử.

 

TOP

 

Một Vị TGM can thiệp vào vụ 40 Kitô hữu Pakistan bị bắt giữ trong 1 Thánh Lễ ở Saudi Arabia

 

Theo cơ quan Tín Vụ Á Châu được mạng điện toán Zenit phổ biến ngày 18/5/2005 th́ ĐTGM Lawrence Saldanha ở Lahore, được kêu gọi lấy thẩm quyền của ḿnh để can thiệp “lập tức” trong việc cứu những ai bị giam giữ ở Riyadh bởi nhóm muttawa, nhóm cảnh sát tôn giáo của Saudi Arabia.

 

Vị TGM này nói: “Chính quyền không được tỏ ra kỳ thị tôn giáo trong việc đối xử với trường hợp này, và phải hành động thay cho thành phần công dân sống ở hải ngoại của ḿnh”. 

 

40 Kitô hữu Pakistan bị bắt giữ hôm 23/4/2005 khi họ cử hành Thánh Lễ tại một tư gia thuộc thành phố Riyadh. Nhân viên cảnh sát đă ập vô ngôi nhà đang được cử hành Thánh Thể ấy để t́m kiếm các thứ sách vở và các thứ băng âm thanh và băng h́nh ảnh của Kitô hữu.

 

Ở Saudi Arabia vấn đề hành đạo bất cứ một tôn giáo nào ngoài Hồi giáo đều là việc bất hợp pháp.

 

Chính quyền Pakistan vẫn giữ thái độ thinh lặng, trong khi chính quyền Saudi cũng chưa ban bố một án lệnh nào về biến cố này.

 

ĐTGM Saldanha, vị chủ tịch đương kim Ủy Ban Toàn Quốc Đặc Trách Công Lư Và Ḥa B́nh đă gọi việc tống giam này là “một thí dụ trầm trọng cho thấy việc kỳ thị tôn giáo và vi phạm nhân quyền”, và kêu gọi chính quyền Saudi “hăy tôn trọng quyền tự do tôn giáo”.

 

Nhiều nhóm người Pakistan và quốc tế đă yêu cầu chính quyền Pakistan làm sao để giải thoát 40 Kitô hữu Pakistan. Ủy Ban Nhân Quyền Pakistan đă gửi cho ông bộ trưởng ngoại giao Pakistan một bức thư được kư bởi vị tổng thư kư Syed Iqbal Haider, với lời lẽ như:

 

“Việc ông chứng tỏ dấn thân bênh vực nhân quyền đă khiến chúng tôi xin ông hăy đặt vấn đề này với chính quyền Saudi và t́m cách thả ngay những người bất hạnh ấy đồng thời hỗ trợ và nâng đỡ họ như họ cần”.

 

TOP

 

TGM William Levada, Tân Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin: Lời Ngỏ Mở Đầu

Sau đây là những lời ngỏ mở đầu của Đức tân tổng trưởng thánh bộ tín lư đức tin của Ṭa Thánh, được phổ biến ngày Thứ Sáu 13/5/2005, ngày ngài được ĐTC Biển Đức bổ nhiệm thay thế vai tṛ trước đây của ĐTC.

“Nhân dịp thông báo về việc tôi được bổ nhiệm làm tân tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, trước hết tôi muốn bày tỏ ḷng biết ơn sâu xa của tôi với ĐTC Biển Đức XVI, vào ḷng tin tưởng ngài đặt nơi tôi trong việc yêu cầu tôi lănh nhận vai tṛ được chính ngài đă hoàn thành rất tốt đẹp trên 24 năm qua. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi sẽ làm hết sức ḿnh để sống trọn niềm tin tưởng này của ngài, với ơn Chúa giúp.

“Tôi đă biết Đức Biển Đức XVI từ năm 1981, khi ngài đến Vatican như là vị tân tổng trưởng bấy giờ của thánh bộ này, nơi tôi đang làm việc lúc ấy. Việc tôi trở về California vào năm 1982 đă được vị tiền nhiệm của ngài là ĐHY Franjo Seper, sắp xếp, trước khi vị tiền nhiệm này về hưu và trước khi xẩy ra việc bổ nhiệm vị tân tổng trưởng Joseph Ratzinger được thông báo.

“Vào năm 1987, Đức Gioan Phaolô II xin ĐHY Ratzinger thành lập một dự án thực hiện cuốn Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo mới cho Giáo Hội hoàn vũ, và tôi đă được đức hồng y bổ nhiệm vào tiểu ban soạn thảo, một nhóm có 7 vị giám mục, với nhiệm vụ sửa soạn một bản thảo cho cuốn giáo lư, tham vấn với các vị giám mục trên thế giới cũng như nhiều học giả, và hoàn thành một bản văn đúc kết dưới sự hướng dẫn của một ủy ban 12 vị hồng y do Đức Hồng Y Ratzinger làm chủ tịch. Tôi nhớ nhiều lần khi ngài bất ngờ cùng chúng tôi bàn luận, xắn tay áo lên, xem xét những thay đổi và điều chỉnh được nêu lên, hỏi ư kiến chúng tôi và bàn với chúng tôi về những ǵ chúng tôi nghĩ – chúng tôi cảm thấy may mắn có được những minh thức của ngài và lời khích lệ của ngài cũng như tinh thần thực sự làm việc theo đoàn tính của ngài.

“Từ năm 2000, tôi là phần tử của thánh bộ này, bằng việc tham dự nhiều cuộc họp dưới sự hướng dẫn của ngài với tư cách là một vị tổng trưởng. Vie5cêngài chọn tôi chắc chắn là v́, một phần, tôi đă quen thuộc với công việc của thánh bộ này nhiều năm. Việc chọn lựa ấy cũng là những ǵ tỏ ḷng ngưỡng mộ Giáo Hội ở Hiệp Chủng Quốc, và là việc nh́n nhận việc góp phần quan trọng của chúng ta cho hoạt động của Giáo Hội hoàn vũ. Tôi hy vọng 22 năm kinh nghiệm làm giám mục ở Hiệp Chủng Quốc sẽ giúp tôi thể hiện tốt đẹp Giáo Hội đây tại Ṭa Thánh, và làm cho những liên hệ giữa Ṭa Thánh Phêrô và các vị giám mục Hoa Kỳ trở nên vững mạnh hơn bao giờ hết.

“Công việc của thánh bộ này chính yếu là t́m cách phát động một kiến thức lành mạnh về nội dung của đức tin Kitô giáo, như đă được truyền đạt qua Giáo Hội từ thời của Chúa Kitô, cũng như hỗ trợ ĐGH cùng các vị giám mục của Giáo Hội trên khắp thế giới trong công việc tinh tế để làm sáng tỏ những chủ trương sai lầm về tín lư khi thấy cần thiết.

“Tôi mong đảm nhận công việc này như là việc phục vụ cho thừa tác vụ Thánh Phêrô của Đức Biển Đức XVI, vị đă được Chúa Kitô kêu gọi để phục vụ dân Chúa – nhất là các vị giám mục – trên khắp thế giới. Đồng thời tôi cũng nuối tiếc phải rời San Francisco, nơi tôi đă phục vụ gần 10 năm trời, và đă có được những mối giây liên hệ thân thiện với linh mục và dân chúng. Thế nhưng, thật là an ủi khi biết được rằng những mối liên hệ giữa tôi với San Francisco vẫn không bị gián đoạn, v́ với vai tṛ mới của ḿnh, tôi sẽ giữ mối liên hệ ấy với giáo hội địa phương này bằng tước hiệu TGM hồi hưu của San Franciscô, một tước hiệu cũng là niềm vui của vị tiền nhiệm của tôi là ĐTGM John Quinn.

“Tôi có dự tính viếng thăm thánh bộ này để gặp gỡ nhân viên và tổng quan những công việc trước mắt trong tuần đầu tiên của Tháng Sáu. Tôi sẽ dời chỗ luôn tới Rôma trong Tháng 8, vào ngày chính thức từ nhiệm làm TGM San Francisco 17/8, kỷ niệm đúng 10 năm thông báo việc bổ nhiệm tôi làm TGM ở đây. Tôi xin Chúa chúc lành và ban ơn cho thừa tác vụ mới Ngài đă kêu gọi tôi ấy, và tôi tha thiết xin tất cả mọi người nghe thấy hay đọc được sứ điệp này cầu nguyện cho tôi. Xin Mẹ Fatima là vị được Giáo Hội cử hành phụng vụ tưởng kính hôm nay chuyển cầu cho tôi và hướng dẫn tôi.
 

 

TOP

 

Các Giám Mục Pakistan tấn công Luật Lộng Ngôn của Hồi Giáo

Theo Zenit ngày 15/5/2005, Ủy Ban Công Lư và Ḥa B́nh của hội đồng giám mục Pakistan đă phổ biến một bản tường tŕnh, được cơ quan tín liệu Fides của ṭa thánh cho biết trong tuần lễ trước Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, về bản liệt kê tên tuổi của 647 người bị tố cáo là lộng ngôn và bị bỏ tù chung thân từ năm 1988, và có ít là 20 lông ngôn nhân đă bị tử h́nh.

Luật lộng ngôn được bắt đầu có từ năm 1986, ở đoạn B và C của khoản 295 luật trừng phạt Pakistan. Đoạn B đề cập đến những xúc phạm đến Kinh Koran, một vi phạm có thể bị trừng phạt tù chung thân, và đoạn C trừng phạt tử h́nh hay tù chung thân “bất cứ ai làm nhục thánh danh tiên tri Mohammad bằng lời nói, chữ viết hay việc làm hoặc biểu hiệu hữu h́nh, bao gồm cả những ǵ bóng gió trực tiếp hoặc gián tiếp”.

Các vị giám mục Pakistan tuyên bố đó là một biện pháp “bất chính và kỳ thị”, và luật này được dùng để chống lại những địch thù cá nhân, như cách để trả đũa, hay thậm chí như phương tiện cho thành phần bảo thủ Hồi giáo bách hại Kitô hữu hoặc bất cứ ai không đồng ư với họ.

Giáo Hội ở Pakistan cũng chỉ trích những thay đổi bề ngoài của chính phủ vào Tháng 10/2004 là những thay đổi chỉ liên quan tới phương cách thi hành luật này mà thôi chứ không đụng chạm ǵ tới nội dung của nó cả.

Theo bản tường tŕnh của các vị giám mục nước này th́ có hơn 80 Kitô hữu đang bị tù tội lộng ngôn, một con số lớn so với thiểu số Kitô hữu ở quốc gia này. Cũng theo bản tường tŕnh này th́ trong số 647 người bị cáo buộc tội lộng ngôn, có 50% là người Hồi giáo, 37% là người Ahmadis, 13% là Kitô hữu và 1% là Ấn giáo.

Từ năm 1988, những ṭa án cao cấp đă tha bổng 102 người bị tố phạm tội lộng ngôn. Những vụ này, theo ṭa nhận định, được kiện cáo v́ những lư do tôn giáo, tiền bạc và tư riêng.

Trong số 20 người bị tử h́nh v́ tội lộng ngôn, có 14 người là Hồi giáo và 6 là Kitô hữu. Trong số người bị tử h́nh này có Thẩm Phán Ṭa Án Cao Cấp ở Lahore là Arif Hussain Bhatto, v́ ông đă bênh vực một người bị cáo bộc là lộng ngôn.

Ở Pakistan, trong tổng số dân 155 triệu người, có 75% là Hồi giáo phái Sunni và 20% phái Shiites. Kitô hữu chiếm 2.5%, trong đó có 1.2 triệu là Công giáo.

 

TOP

 

Giáo Hội Công giáo tại Hoa Kỳ có thêm hơn 150 ngàn tân ṭng vào Lễ Vọng Phục Sinh 2005

Văn pḥng của hội đồng giám mục Hoa Kỳ đă cho biết như thế, căn cứ vào tường tŕnh từ 87% các giáo phận. Con số năm 2005 này đă vượt hơn 2004. Có cái lạ là cho dù Giáo Hội Công giáo vừa và đang bị tai tiếng về vụ các linh mục lạm dụng t́nh dục vị thành niên từ đầu năm 2002 tới nay mà con số trở lại càng ngày càng đông hơn trước!

Con số trở lại này bao gồm cả thành phần mới gia nhập Giáo Hội bằng Phép Rửa hay trở lại từ các giáo phái Tin Lành qua việc tái tuyên xưng Đức Tin theo Giáo Hội Công giáo và lănh nhận Bí Tích Thánh Thể và/hay Bí Tích Thêm Sức.

Trong số thành phần trở lại năm 2005 này, có một số giới trẻ hay độc thân, hoặc có một số cả gia đ́nh, và một người đă từng tham dự Thánh Lễ trên 30 năm.

Người đă đoạt giải huy chương vàng môn quyền anh năm 1996 là David Reid cũng sẽ gia nhập Giáo Hội ở Michigan. Người tân ṭng này được lớn lên bên giáo phái Tin Lành Baptist, rồi theo đạo Hồi trước khi t́m thấy Giáo Hội Công giáo.

 

TOP

 

Các Vị Giám Mục Canada tiếp tục  vận động chống đạo luật C-38 cho hôn nhân đồng tính

 

Theo tin của Zenit ngày 6/2/2005, các vị giám mục Canada tiếp tục cuộc vận động chống đạo luật C-38 là đạo luật cho phép hôn nhân đồng tính. Các vị giám mục đă thực hiện điều này bằng cách gửi 1 bức thư cho vị lănh đạo của Đảng Bảo Thủ.

 

ĐTGM Brendan O’Brien, chủ tịch hội đồng giám mục Canada, đă kêu gọi trong 1 bức thư gửi hôm Thứ Năm 3/2/2005, cho Stephen Harper để bỏ phiếu chống lại đạo luật được goị là Đạo Luật Hôn Nhân Dân Sự:

 

“Các vị giám mục Công giáo Rôma và và Đông phương ở Canada đồng loạt chống lại việc lập pháp muốn tái định nghĩa hôn nhân không c̣n được nh́n nhận là mối liên hệ đặc thù, thiết yếu và nồng cốt của một người nam và một người nữ. Tính cách thiết nghĩa vợ chồng giữa một người nam và một người nữ mang lại thiện ích chuyên biệt cho xă hội, v́ cung cấp một môi trường vững chắc và tích cực cho con cái nhờ đó cho các thế hệ mai hậu”.

 

Vị chủ tịch hội đồng giám mục này xin ông Harper hăy vững lập trường của ông “về việc định nghĩa hôn nhân là cuộc hiệp nhất của một người nam và một người nữ, và bảo đảm rằng tất cả mọi phần tử thuộc đảng của ông có thể bỏ phiếu theo lương tâm của họ về bản thảo lập pháp đang được tŕnh bày trước Quốc Hội”.

 

Ngoài ra, các vị giám mục Canada đă phổ biến một công văn hôm Thứ Sáu 4/2/2005 nói lên chủ trương của các vị đối với C-38. Bản công bố này cho thấy mối quan tâm về các hậu quả về xă hội lâu dài ở việc cho phép các cuộc hôn nhân đồng tính.

Các vị giám mục thấy được “cuộc tranh chấp lâu dài và quyết liệt khắp Canada về các thứ quyền lợi theo sự tự do của lương tâm và tôn giáo, trong việc không chịu tham gia vào những cuộc hôn nhân được gọi là ‘Những cuộc hôn nhân đồng phái tính’, trong việc được tự do giảng dạy về hôn nhân và đồng tính luyến ái hợp với đức tin và lương tâm của họ, cũng như cho những tổ chức được đồng hóa với những nhóm đức tin đặc biệt không bị bắt buộc sử dụng những cơ sở của họ để sửa soạn cho hay để cử hành những ǵ liên hệ tới ‘các cuộc hôn nhân đồng tính’”

 

 

TOP

Các vị giám mục Tây Ban Nha phê b́nh về bản thảo hiến pháp của Âu Châu

 

Các vị giám mục Tây Ban Nha đă phổ biến một công văn tóm tắt những khía cạnh tích cực và tiêu cực của bản hiến pháp dự thảo của Khối Hiệp Nhất Âu Châu, và khuyên tín hữu Công giáo hăy “bỏ phiếu theo lương tâm”.

 

Vào ngày 20/2/2005 Tây Ban Nha sẽ là phần tử đầu tiên của Khối Hiệp Nhất Âu Châu nộp bản hiến pháp dự thảo để trưng cầu dân ư.

 

Bản công báo của các vị giám mục này, được phổ biến hôm Thứ Sáu 4/2/2005, cho biết ư định của văn kiện này là để “giúp cho những người Công giáo và quần chúng nói chung, liên quan đến đường hướng luân lư của việc bầu cử hữu trách theo lương tâm”, v́ có “nhiều lời yêu cầu từ các phần khác nhau của cộng đồng Công giáo muốn được hướng dẫn về vấn đề này”.

 

Trong khi bản văn kiện của các vị giám mục nêu lên những điểm tích cực về bản hiến pháp dự thảo, như bản hiến pháp này đề cao “những nguyên tắc trợ thuộc”, “tự do thiết lập các trung tâm giáo dục”, cũng như việc cha mẹ có quyền cha mẹ giáo dục con cái “theo những niềm xác tín về tôn giáo, triết lư và sư phạm của họ”, “tôn giáo là một trong những yếu tố nội tại của gia sản Âu Châu”, “các giáo hội là những thực tại xă hội của một giá trị đặc biệt”.

 

Bản văn kiện của các vị giám mục đồng thời c̣n nêu lên những yếu tố tiêu cực của bản hiến pháp dự thảo, đó là việc vắng thiếu một định nghĩa rơ ràng minh bạch “về một thứ quyền lợi căn như như quyền sự sống”. Ngoài ra, “bản hiến pháp dự thảo không loại trừ việc nghiên cứu sát hại phôi bào con người, hay phá thai hoặc triệt sinh an tử; nó cũng không loại trừ việc tạo sinh sao bản con người để làm thí nghiệm hay trị liệu”.

 

Các vị giám mục cũng than tiếc rằng bản công ước hiến pháp ấy không nêu lên một “định nghĩa dứt khoát về hôn nhân như là mối hiệp nhất vững bền của người nam và người nữ, cũng như việc bảo vệ quyền lợi của con cái không bị thừa nhận bởi các loại hiệp nhất khác”. Ngoài ra, bản hiến pháp dự thảo này cũng “không minh nhiên nh́n nhận tính chất cá nhân của con người”, và “việc tự ư bỏ qua Kitô giáo như là một trong những căn gốc sống động của Âu Châu cũng như của các giá trị của châu lục này”.


TOP