Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ kêu gọi cứu xét các giải pháp chuyển giao một cách hữu trách ở t́nh h́nh Iraq
Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ quan tâm tới Thành Phần Thiểu Số Tôn Giáo bị suy giảm ở Iraq
Các Vị Giám Mục Đại Hàn lên tiếng về Việc Thử Nguyên Tử của Bắc Hàn
Hồng Y chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Nam Phi Châu lên tiếng chống vấn đề hôn nhân đồng tính
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ xin Tổng Thống Bush phủ quyết Dự Luật Hàng Rào Bảo An
Các Vị Giám Mục Úc Đại Lợi tấn công Dự Luật về Phôi Thai Nhân Bào
Các Vị Giám Mục Đức lên tiếng kêu gọi Tín Đồ Hồi Giáo hăy tôn trọng Quyền Tự Do Tôn Giáo
Các Vị Giám Mục Anh Quốc và Wales Bênh Vực Đức Giáo Hoàng và Phản Đối Đài Truyền H́nh BBC Luân Đôn
Hội Đồng Giám Mục Ư lên tiếng bênh vực Đức Thánh Cha
Đức Hồng Y Murphy-O’Connor: Tuyên Cáo về Hồi Giáo
Đức Tổng Giám Mục Yangon lên tiếng bênh vực Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ Ca Ngợi Vị Thống Đốc Không Kư Chuẩn Đạo Luật Chống Trở Lại Đạo
Tổng Thống Bush hoan nghênh các việc đóng góp của Giáo Hội Công Giáo
Các vị Giám Mục Hoa Kỳ hoan nghênh Dự Án Nợ Nần Đối Với Các Quốc Gia Nghèo
Hội Đồng Giám Mục Hiệp Vương Quốc chống lại dự luật Triệt Sinh An Tử
Giáo Hội quan tâm tới dự luật Di Dân của Hoa Kỳ 26/3/2006
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ với “Bản Công Bố Về Trách Nhiệm của Người Công Giáo Trong Đời Sống Xă Hội” 10/3/2006
Các Vị Lănh Đạo Kitô Giáo ở Thánh Địa gửi Sứ Điệp Ḥa B́nh đề ngày Thứ Ba 1/2/2006 cho Hamas
Từ Thánh Địa, Các Vị Giám Mục Công Giáo Âu Châu và Bắc Mỹ kêu gọi Ḥa B́nh cho Thánh Địa 19/1/2006
Bản Tuyên Cáo 12/1/2006 của Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ về Vấn Đề Chuyển Giao Hữu Trách ở Iraq
Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ kêu gọi cứu xét các giải pháp chuyển giao một cách hữu trách ở t́nh h́nh Iraq
Hôm Thứ Hai 13/11/2006, Đức Giám Mục William Skylstad, vị giám mục giáo phận Spokane, 72 tuổi, chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ, đă phổ biến một bản tuyên cáo về vấn đề Iraq, kêu gọi một cuộc bàn luận chính yếu, dân sự và bất đảng phái về một cuộc chuyển giao hữu trách ở Iraq. Bản tuyên cáo này được tung ra vào ngay ngày đầu tiên của cuộc họp bán niên vào Mùa Thu của hội đồng này, một cuộc họp kéo dài cho tới Thứ Năm 16/11/2006. Sau đây là những ư tưởng chính tiêu biểu cho bản tuyên cáo liên quan tới vấn đề công lư và ḥa b́nh ở Iraq này.
“Chính Phủ và tân Quốc Hội cần phải dấn thân vào một cuộc đối thoại có tính cách hợp tác để thành thực thẩm định t́nh h́nh ở Iraq, nh́n nhận những khó khăn và tính toán sai lầm trong quá khứ, công nhận và xây dựng về những tiến triển tích cực, và tiến đến những thỏa thuận về những hành động cụ thể để giải quyết những thách đố nghiêm trọng trước mắt.
“Để đương đầu với những thách đố này, chúng tôi hy vọng đất nước của chúng ta vẫn tiến chuyển vượt lên trên một thứ hùng biện có tính cách chia rẽ của cuộc vận động mới đây, và cuộc tranh căi ầm ĩ hời hợt đă bóp méo thực tại và biến những giải pháp ‘dứt khoát’ đối chọi với giải pháp ‘cứ ở ĺ’.
Vị giám mục chủ tịch đề nghị rằng quân đội Hoa Kỳ vẫn ở Iraq ‘chỉ bao lâu việc hiện diện của họ góp phần vào việc chuyển giao hữu trách. Đất nước của chúng ta cần phải t́m kiếm những đường lối hiệu nghiệm để chấm dứt việc dàn quân của ḿnh vào cơ hội sớm nhất thích hợp với mục đích này.
“Ṭa Thánh và Hội Đồng của chúng tôi ủng hộ việc dấn thân bao rộng và cần thiết của quốc tế trong việc phát động t́nh trạng ổn định và tái thiết ở Iraq. Bởi thế, đất nước của chúng ta không thể nh́n lại đằng sau. T́nh h́nh phức tạp ở Iraq đ̣i đất nước của chúng ta nh́n chung quanh vào những ǵ chúng ta đang đối diện hiện tại và nh́n về phía trước đến những ǵ chúng ta có thể làm trong tương lai…
“Những mốc điểm cho một cuộc chuyển giao hữu trách ở Iraq bao gồm: việc duy tŕ những mức độ an ninh thích hợp; việc kiềm chế những cuộc cố sát, những cuộc khủng bố tấn công bất khả tự vệ và t́nh trạng bạo loạn giáo phái; củng cố qui căn bản về luật lệ; cổ vơ việc tái thiết nền kinh tế để bắt đầu tạo công ăn việc làm và cơ hội phát triển kinh tế cho nhân dân Iraq; và nâng đỡ việc diễn tiến hơn nữa cho các cơ cấu chính trị và những giải pháp phát triển sự ổn định, tham gia c hính trị, và tôn trọng quyền tự do tôn giáo cùng các thứ nhân quyền căn bản.
“Nói cho cùng th́ công việc này là công việc cần phải được nhân dân Iraq thực hiện, thế nhưng Hoa Kỳ cùng các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ có nhiệm vụ về luân lư phải tiếp tục và gia tăng nỗ lực với nhân dân Iraq, với các quốc gia khác trong vùng và với cộng đồng quốc tế để tiến tới chỗ đạt được những mốc điểm ấy. Chúng tôi đặc biệt kêu gọi các đất nước Ả Rập và các xứ sở Tây Âu hăy thực hiện những hành động cụ thể trong việc chống lại khủng bố và t́m kiếm ổn định ở miền đất ấy.
“Chưa hết, tương lai của Iraq cũng như của cả miền đất này sẽ được cải tiến nhờ vai tṛ lănh đạo ḥa hợp của đất nước chúng ta trong việc giải quyết, khi liên kết với cộng đồng quốc tế, những xung khắc khác nơi miền đất này, nhất là bằng việc theo đuổi một nền ḥa b́nh chân chính giữa người Do Thái và Palestine”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/11/2006
Thành Phố Mễ Tây Cơ ở nước Mễ Tây Cơ là nơi thứ hai, sau Buenos Aires, Á Căn Đ́nh, chấp nhận các cuộc hôn nhân đồng tính, với số phiếu 43-17 hôm Thứ Năm, 9/11/2006.
Ngày hôm trước đó, các vị giám mục ở nước này đă phổ biến một bản tuyên cáo cảnh báo về những nguy hiểm của qui tắc mới này.
“Giáo Hội luôn tôn trọng luật tự nhiên, v́ nó ở nơi chính bản tính của con người và làm cho họ được nên trọn chứ không phải chỉ ở các thứ luật lệ thực chứng. Thân xác con người tự ḿnh nói lên cái khác nhau sâu xa và bổ khuyến giữa người nam và người nữ…
“Khi giá trị của gia đ́nh bị đe dọa bởi những áp lực của xă hội và kinh tế, th́ Giáo Hội sẽ phản ứng, bằng cách tái khẳng định hôn nhân giữa một người nam và một người nữ là những ǵ cần thiết không phải v́ thiện ích tư riêng của mỗi người mà c̣n vị công ích của toàn thể xă hội, đất nước và quốc gia nữa”.
“Một thứ luật như thế chỉ thấy và t́m cách cống hiến những giải quyết què cụt và tạm thời cho một vấn đề c̣n phức tạp hơn vậy nữa…
“Chúng tôi xin đề nghị với các nhà lập pháp rằng xin họ hăy ban hành luật pháp hợp với nhân vị của con người và của gia đ́nh, v́ gia đ́nh là chuẩn mực thực sự cho thấy sự cao cả của một đất nước, cũng như nhân vị của con người là chuẩn mực đích thực cho văn minh của con người vậy”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/11/2006
Đức Tổng Giám Mục Burke, 58 tuổi, đă lên tiếng sau khi xẩy ra cuộc bỏ phiếu của dân chúng trong việc họ ủng hộ phương sách nghiên cứu thân bào liên quan tới vấn đề sát hại sự sống con người. Sau đây là một số ư tưởng tiêu biểu chính yếu của ngài:
“Chúng ta đă thua bại trước một trận chiến quan trọng trong việc bảo vệ sự sống của con người…
“Những người công dân Missouri đă ch́m đắm vào một niềm hy vọng sai lạc được khơi dậy bởi một cuộc vận động đánh trúng tim đen của tất cả chúng ta trong việc muốn giúp cho những ai đang chịu khổ sở v́ những chứng bệnh nguy tử và những thương tích trầm trọng.
Trong mấy tháng vừa rồi, Giáo Hội Công Giáo đă đặc biệt nguyện cầu và hoạt động với nhiều cá nhân và phái nhóm tín đồ và thiện chí để nói lên sự thật về những sự dữ nội tại của việc tạo sinh sao bản con người và việc hủy diệt đi những phôi thai bào con người cho việc nghiên cứu được Tu Chính thứ 2 trân quí.
“Chúng ta đă đạt được một mức tiến bộ lớn lao trong việc giúp cho thành phần công dân Missouri nhận thức được cái mập mờ và lừa đảo của thứ ngôn ngữ của Khoản Tu Chính 2. Tuy nhiên, chúng ta đă không thể thắng vượt được những nguồn trợ khổng lồ của thành phần đề xuất Khoản Tu Chính này.
(Ở đây vị TGM này có ư nói tới việc tài tử Michael J. Fox, người bị bệnh Lẩy Bẩy – Parkinson, xuất hiện trong một quảng cáo truyền h́nh để vận động ủng hộ cho khoản tu chính ấy)
“Khoản Tu Chính 2 của tiểu bang Missouri sẽ bị coi như một cuộc mở đường cho vấn đề tạo sinh sao bản, và sẽ làm trệch đi một cách buồn thảm việc chú trọng và các ngân quĩ chung giành cho việc nghiên cứu thân bào già và thân bào máu của cái nhau là việc nghiên cứu có hiệu quả và hoàn toàn hợp đạo lư.
“Nó thậm chí c̣n làm suy yếu đi việc tôn trọng tất cả mọi sự sống con người cũng như việc truyền sinh là cách thức làm xuất hiện sự sống mới của con người trên trần gian này. Ngoài ra, Khoản Tu Chính này sẽ giúp thuận lợi cho một số hăng về kỹ thuật sinh học được hưởng số tiền của thành phần đóng thuế ở Missouri cho cuộc nghiên cứu tự bản chất vô luân này, dù có hay chăng những thứ chữa trị hứa hẹn cứu sống từ cuộc nghiên cứu này.
“Việc vận động bỏ phiếu để thông qua Khoản Tu Chính 2 này đă cho tất cả chúng ta thấy rằng nền văn hóa sự sống đă ăn rễ sâu xa vào xă hội của chúng ta biết là chừng nào.
“Đối với việc nghiên cứu thân bào, Giáo Hội Công Giáo ở Tổng Giáo Phận Saint Louis cương quyết theo truyền thống khôn sánh của việc thương cảm chăm sóc sức khỏe và hứa quyết tiếp tục ủng hộ việc nghiên cứu thân bào hợp đạo lư”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 9/11/2006
Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ quan tâm tới Thành Phần Thiểu Số Tôn Giáo bị suy giảm ở Iraq
Trong một bức thư gửi ngoại trưởng Hoa Kỳ là bà Condoleeoăa Rice, Đức Giám Mục Thomas Wenski, Giám Mục giáo phận Orlando Florida, chủ tịch của Tiểu Ban về Chính Sách Quốc Tế của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đă ghi nhận rằng thành phần Kitô hữu ở Iraq tiếp tục suy giảm từ dân số thời tiền chiến là 1 triệu 2 c̣n khoảng 600,000 người, tức giảm mất 50%.
Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc th́ trên 40% tị nạn Iraq là Kitô hữu mặc dù họ chỉ có 4% trong tổng số dân Iraq.
Vị giám mục chủ tịch này viết: “Việc càng ngày càng cố ư nhắm tới thành phần Kitô hữu là một dấu hiệu gở lạ trong vấn đề sụp đổ của xă hội Iraq về lănh vực dân sự cũng như về sự tôn trọng liên tôn, và cho thấy một t́nh trạng vi phạm trầm trọng tới nhân quyền cũng như quyền tự do tôn giáo”.
Nhắc tới t́nh trạng vi phạm tới thành phần Kitô hữu, như vụ chặt đầu của một vị linh mục Chính Thống theo lễ nghi Syria ở Mosul và việc đóng đanh một thiếu niên Kitô hữu ở Albasra, vị giám mục viết tiếp, “tính cách dễ bị tổn thương của thành phần Kitô hữu và các thành phần thiểu số thuộc những tôn giáo khác là một chứng cớ thê thảm của những thách đố trầm trọng đang gia tăng về an ninh mà toàn thể quốc gia Iraq đang phải đương đầu”.
Để giải quyết vấn đề thành phần thiểu số tôn giáo ở Iraq hiện nay, vị giám mục này đă yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ hăy cứu xét tới vấn đề tạo nên một “vùng quản trị” mới ở Miền Đồng Bằng Sông Nineveh, một vùng quản trị trực tiếp liên hệ với chính quyền trung ương ở thủ đô Baghdad, và làm việc với các thẩm quyền của người Kurdish, để bảo đảm sự an toàn của thành phần Kitô hữu nơi Đồng Bằng ấy, cũng như để bảo vệ và trợ giúp thành phần thiểu số tôn giáo ở những miền trực tiếp thuộc quyền kiểm soát của người Kurt.
Vị gaím mụ cnày cũng kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ thực hiện một chính sách rộng lượng hơn nữa về tị nạn và trú nạn, bao gồm việc tái định cư khả dĩ ở Hoa Kỳ cho những trường hợp nguy hiểm, và kiểm điểm những chương tŕnh trợ giúp tái thiết về kinh tế để bảo đảm việc cứu trợ được phân phối công b́nh cho tất cả mọi yếu tố thuộc xă hội Iraq.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 31/10/2006
Các Vị Giám Mục Đại Hàn lên tiếng về Việc Thử Nguyên Tử của Bắc Hàn
Trước việc tuyên bố của Bắc Hàn về hành động của họ bất chấp quốc tế trong việc thử nghiệm vũ khí nguyên tử hôm Thứ Hai 9/10/2006, Hội Đồng Giám Mục Đại Hàn đă gửi một “Sứ Điệp Ḥa B́nh và Ḥa Giải” cho Bắc Hàn vào hôm Thứ Sáu 14/10/2006, một sứ điệp được kư tên bởi vị chủ tịch tiểu ban ḥa giải nhân dân Đại Hàn là Giám Mục phụ tá Lucas Woon-hoe TGP Seoul và vị chủ tịch tiểu ban công lư và ḥa b́nh là Giám Mục Boniface Choi Ki-san, với những ư tưởng chính yếu tiêu biểu như sau:
“Chúng ta không thể nào không cảm thấy đau buồn trước việc quyết định của anh em Bắc Hàn là những người cần phải cộng tác với chúng ta trong việc bảo tŕ ḥa b́nh. Cho dù có v́ mục đích để tự vệ đi chăng nữa th́ những thứ vũ khí nguyên tử vẫn không thể là những ǵ có thể biện minh”.
Các vị giám mục nhận định rằng trong những năm gần đây th́ miền Nam và miền Bắc có những trao đổi ôn ḥa, nhờ đó, cả hai miền đă đi tới chỗ nh́n nhận nhau không phải như là thù địch mà là một dân tộc duy nhất, “cùng là anh chị em với nhau”.
“Bởi thế, không ai được làm ngăn trở con đường ḥa giải này, một con đường đă được mở ra bởi hai miền Nam Bắc bằng tất cả mọi nỗ lực hay đừng quay ngược lại những gịng nước ḥa b́nh và hiệp nhất đang tuôn chảy qua bán đảo Triều Tiên. Ngoài ra, không ai được lợi dụng t́nh h́nh này để gây nên hận thù và đối chọi nhau”.
Các vị giám mục c̣n vạch ra rằng, để ḥa b́nh có thể đâm rễ vào mảnh đất Đại Hàn th́ Bản Tuyên Ngôn Chung về Việc Giải Thể Vũ Khí Nguyên Tử ở Bán Đảo Triều Tiên đă được chấp thuận năm 1991 cần phải được áp dụng một cách có hiệu nghiệm, một vấn đề có thể đạt được bằng “việc đối thoại và thương thảo”.
“Xă hội quốc tế cần phải tiến bước một cách khó khăn hướng về vấn đề ḥa giải và ḥa b́nh một cách nhẫn nại, chứ không phải bằng những cách chế tài về quân sự hay ngăn cản việc đối thoại và thương thảo”.
Trong khi bán đảo Triều Tiên cảm thấy rúng động trước việc thử nghiệm nguyên tử của Bắc Hàn, “chúng ta tin tưởng nơi ‘Chúa Kitô, ḥa b́nh của chúng ta’ (Eph 2:14) mà không bị bấn loạn tâm trí, và thiết tha mong muốn rằng chúng ta có thể mang lại ḥa b́nh thực sự nơi xứ sở này cùng với tất cả mọi người hoạt động cho ḥa b́nh”.
Bắc Hàn có 22 triệu dân, sống trong cảnh thiếu thốn quyền tự do tôn giáo. Nam Hàn có 48 triệu dân, trong đó có 4 triệu Công Giáo. Hai miền nam bắc Triều Tiên này đă bị phân chia từ năm 1953, như Việt Nam từ năm 1954.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
19/10/2006
Hồng Y chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Nam Phi Châu lên tiếng chống vấn đề hôn nhân đồng tính
Đức Tổng Giám Mục ở Durban đă gửi một bản tuyên cáo cho Quốc Hội Nam Phi để lập lại việc Giáo Hội chống đối vấn đề hợp thức hóa t́nh trạng hôn nhân đồng tính.
Vào Tháng 12/2005, Pháp Đ́nh Hiến Định Nam Phi đă cho là phi hiến thứ luật hiện hành chỉ công nhận các cuộc hôn nhân giữa nam nữ với nhau mà thôi.
Đó là lư do, theo Tín Vụ Công Giáo Cho Phi Châu cho biết th́ Đức Hồng Y Wilfred Napier, đương kim chủ tịch hội đồng giám mục Nam Phi vào hôm Thứ Hai 16/10/2006 đă lên tiếng với quốc hội vùng này rằng các đạo luật đồng tính là những ǵ phản với luật tự nhiên, các cuộc hiệp nhất đồng tính cũng thế: “Chúng làm tiêu hao đi chính bản tính của hôn nhân và gia đ́nh”.
Vị hồng y chủ tịch này c̣n nói hôn nhân là một tặng ân, “là một cuộc hiệp nhất thủy chung, độc nhất, trọn đời giữa một người nam và một người nữ trong một cộng đồng mật thiết sự sống và yêu thương”.
Trích dẫn cả Tân Ước lẫn Cựu Ước, vị hồng y này khẳng định rằng rơ ràng là một cuộc hiệp nhất đồng tính không thể nào tương tự như là một cuộc hôn nhân.
Theo ngài, việc hợp thức hóa hôn nhân đồng tính sẽ là những ǵ làm hại gia đ́nh và các thứ nền tảng của xă hội, nghịch lại với công ích.
Vị hồng ư này c̣n trích lại cả văn kiện “Những Quan Tâm Liên Quan Tới Những Dự Án Hợp Pháp Hóa Cuộc Liên Hợp Giữa Các Người Đồng Tính” (2003) câu nói sau đây: “Công ích đ̣i luật lệ phải nh́n nhận, cổ vơ và bảo vệ hôn nhân như là nền tảng của gia đ́nh, là mối hiệp nhất chính yếu của xă hội”.
Vị chủ tịch hội đồng giám mục Nam Phi c̣n làm sáng tỏ vấn đề là Giáo Hội không ủng hộ việc kỳ thị đối với vấn đề khuynh hướng đồng tính, và thành phần đồng tính có quyền được cá nhân cũng như xă hội đối xử một cách trân trọng.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/10/2006
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ xin Tổng Thống Bush phủ quyết Dự Luật Hàng Rào Bảo An
Đức Giám Mục William Skylstad, chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ, đă viết thư gửi Tổng Thống Bush liên quan đến Dự Luật Hàng Rào Bảo An 2006 (Security Fence Act of 2006), một dự luật dự tính cho phép xây dựng một hàng rào dài 700 dặm dọc theo biên giới phía nam của Hoa Kỳ với Mễ Tây Cơ.
“Hiển nhiên là các vị giám mục Công Giáo Hoa Kỳ ủng hộ nỗ lực áp dụng luật di dân và bảo toàn biên giới của chúng ta, miễn là đường lối và sách lược được thực hiện v́ mục đích ấy bảo vệ phẩm giá con người và bảo vệ sự sống con người.
“Tuy nhiên, chúng tôi chống lại dự luật này v́ chúng tôi tin rằng nó có thể dẫn tới những chỗ gây tử vong cho thành phần di dân cố gắng lọt vào Hiệp Chủng Quốc cũng như dẫn tới t́nh trạng bạo động gia tăng liên quan tới vấn đề buôn lậu dọc biên giới của chúng ta. Chúng tôi cũng tin nó tỏ ra một dấu hiệu sai lầm đối với nước láng giềng phía nam của chúng ta là Mễ Tây Cơ, cũng như với cộng đồng quốc tế”.
Vị giám mục chủ tịch 72 tuổi này đă nhận định là theo một cuộc nghiên cứu mới đây th́ Văn Pḥng Trọng Trách Chính Quyền đă khám phá thấy thành phần di dân chết tăng gấp đôi từ năm 1995, trong thời khoảng chính quyền bắt đầu một loạt những hoạt động áp dụng việc thi hành luật pháp ở vùng biên giới được đề ra để ngăn chận việc nhập cư bất hợp pháp ở các cửa ngơ và những con đường vượt biên quen thuộc. Từ đó, có khoảng 3 ngàn người di dân đă bỏ mạng ở những phần đất xa xôi thuộc vùng tây nam Hoa Kỳ.
“Theo ước tính của chúng tôi th́ việc xây dựng một hàng rào biên giới này là những ǵ buộc thành phần di dân, trong t́nh trạng tuyệt vọng t́m kiếm công ăn việc làm để nâng đỡ gia đ́nh ḿnh, t́m kiếm những đường lối khác nguy hiểm hơn để đột nhập vào quốc gia này, góp phần vào t́nh trạng gia tăng chết chóc, bao gồm cả nữ giới và trẻ em…
“Chúng tôi mănh liệt cảm thấy rằng việc phát triển của những chính sách kinh tế và mậu dịch chính đáng toàn cầu được phác họa ra để giúp kiến tạo nên những việc làm kiếm sống ở bản quốc là những ǵ giúp cho con người ở lại quê quán của họ để nâng đỡ chính họ và gia đ́nh họ”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/10/2006
Các Vị Giám Mục Úc Đại Lợi tấn công Dự Luật về Phôi Thai Nhân Bào
Các vị giám mục Công Giáo Úc Đại Lợi lên tiếng cảnh giác rằng dự luật mới trước Quốc Hội Liên Bang sẽ là những ǵ đưa xứ sở này rơi xuống sâu hơn nữa cái dốc tuôn trượt của việc hủy hoại sự sống con người. Trong một sứ điệp mang tựa đề “Việc Nghiên Cứu Phôi Thai Bào Con Người: Một Cuộc Tranh Luận Mới”, được phổ biến hôm Thứ Tư 11/10/2006, các vị đă viết rằng:
“Các khoản dự luật giờ đây ở trước Quốc Hội Liên Bang đang t́m cách để thực sự duyệt xét lại quyết định được thực hiện bởi cùng Quốc Hội này vào năm 2002 trong việc ngăn ngừa việc tạo sinh sao bản con người.
“Vào năm 2002, Quốc Hội Liên Bang đă thông qua dự luật cho phép hàng loạt thân bào từ nhân bào phôi thai được lấy ra từ các phôi thai con người c̣n sống ‘dư thừa’ từ tiến tŕnh IVF.
“Vào lúc ấy chúng tôi đă cảnh báo rằng Chính Quyền đă vượt quá một lằn biên mới và nguy hiểm khi tạo nên một sự sống con người có thể tiêu hủy. Chứng cớ của việc cảnh báo này giờ đây tiếc thay trở nên rơ ràng nơi dự luật hiện đang ở trước Quốc Hội.
“Những dự luật mới này t́m cách tạo nên chúng ta từ việc sử dụng những phôi thai con người ‘dư thừa’, được tạo nên để sản xuất, trong việc tạo nên một thứ mới phôi thai con người, không bao giờ được sự dụng để sinh sản mà là để nghiên cứu. Điều này hoàn toàn đảo lộn lại quyết định của Quốc Hội năm 2002 là quyết định đồng loạt loại trừ việc tạo sinh sao bản phôi thai bào con người.
“Giáo Hội Công Giáo không chống lại việc nghiên cứu thân bào. Trái lại, chúng tôi là thành phần mạnh mẽ ủng hộ việc nghiên cứu căn cứ vào các thứ thân bào trưởng thành, cũng như những thân bào được xuất phát từ máu của cái nhau. Giáo Hội của chúng tôi ủng hộ việc nghiên cứu thân bào theo đạo lư qua những tổ chức nghiên cứu của nó, qua những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, qua những bệnh viện giảng dạy và những chuyên gia về sức khỏe.
Trong phần có tiểu đề ‘Viện Kiến Tạo để Hủy Hoại: Một Băi Ḿn Đạo Lư’, các vị giám mục Úc Đại Lợi xác định rằng “Việc hủy diệt các phôi thai bào con người c̣n sống, dù chúng được tạo dựng nên thế nào chăng nữa, là những ǵ không bao giờ tha thứ được. Những dự luật mới này, tuy nhiên, tạo nên một thờz coi thường sự sống con người, bằng việc:
“Việc kiến tạo nên các phôi thai bào chỉ có ư hủy diệt đi là những ǵ càng hạ giá phôi thai bào con người.
Việc đưa tới những loại phôi thai bào con người, bao gồm cả những phôi thai bào sao bản và những thứ phôi thai bào có loại DNA hỗn hợp.
“Tất cả chúng ta đă từng là các phôi thai. Trong những tế bào hợp lại thành phôi bào ấy bao gồm tất cả những dấu hiệu về việc di giống thiết yếu cho thành phần chúng ta ngày nay. Phôi thai bào con người không thể tiếp tục phá triển thành bất cứ một cái ǵ khác ngoài chính con người…
“Đây không phải là một lập luận về tôn giáo. Chúng ta không biện luận chống lại việc thử nghiệm hủy hoại các phôi thai bào ấy chỉ v́ chúng ta là Công Giáo, nhưng v́ các giá trị nhân bản cốt yếu… Chúng tôi cầu xin để trong việc bỏ phiếu theo lương tâm chân chính về vấn đề này, các nghị viên liên bang sẽ chú ư tới ảnh hưởng của những thứ đổi thay như thế có thể xẩy ra, và hủy bỏ việc nghiên cứu khoa học về những ǵ quí hóa nhất và mong manh nhất của anh chị em chúng ta, đó là phôi thai bào con người”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/10/2006
Sau đây là nguyên văn bài nhận định của Đức Giám Mục Thomas Wenski giáo phận Orlando về sự liên hệ giữa tín đồ Hồi Giáo và tín đồ Công Giáo, một bài nhận định được phổ biến trên tờ Orlando Sentinel hôm 26/9/2006.
“Những phản ứng bạo động của một số trong thế giới Hồi Giáo, sau bài diễn văn về hàn lâm của Đức Giáo Hoàng ở một đại học đường ngài đă từng giảng dạy, đă bừng lên không phải v́ các lời lẽ của ngài cho bằng bởi những kẻ t́m cách mạo dụng các nhiệt t́nh tôn giáo để phục vụ một thứ ư hệ hân thù. Những ai lạm dụng đức tin tôn giáo như thế là tác hại các giáo huấn của Hồi Giáo c̣n trầm trọng hơn là cái va chạm nhẹ nhàng xẩy ra (một cách vô t́nh) từ Vị Giám Mục Rôma.
“Những ǵ ngài thực sự nói, nếu được trích dẫn theo đúng bố cục của nó, không thể nào lại biện minh cho việc bạo động được dính dáng tới những cuộc phản đối được tổ chức thực hiện khoảng 3 ngày sau bài diễn văn. Có đọc kỹ bài nói của ngài mới thấy được lập luận rất hợp lư chống lại vấn đề bạo lực nhân danh tôn giáo và một tấm ḷng thiết tha kêu gọi thực hiện “một cuộc đối thoại chân thực các nền văn hóa và tôn giáo rất ư là khẩn trương ngày nay”. Những ǵ ngài đă trích dẫn từ nguồn liệu lịch sử chỉ làm sáng tỏ một lịch sử dài cùng với cái cảm thức sâu đậm chất chứa nơi những chia rẽ giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo – và cho thấy khẩn trương biết bao cần phải thực hiện việc đối thoại như vậy.
“Năm ngoái, vị Giáo Hoàng này đă gặp thành phần lănh đạo tín đồ Hồi Giáo ở Cologne, và cũng ở tại đó, ngài đă diễn tả việc đối thoại với Hồi Giáo “là một nhu cầu sống c̣n chi phối một phần lớn tương lai của chúng ta”. Cái nhu cầu sống c̣n đă được Giáo Hội nhận thấy lâu đời này là những ǵ cũng đă được các vị lănh đạo Công Giáo lập lại cách đây 40 năm trước ở Công Đồng Chung Vaticanô II.
“Các vị giám mục, thành phần có Cha Ratzinger trẻ trung làm cố vấn thần học, bấy giờ viết trong tuyên ngôn ‘Nostra Aetate’ rằng: ‘Giáo Hội tỏ ra trân trọng tín đồ Hồi Giáo. Họ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và tự hữu, nhân hậu và toàn năng, Đấng Tạo Dựng nên trời đất, Đấng đă nói với con người; họ tỏ ra hết ḷng thuận phục những chỉ thị khôn thấu của Ngài, như Abraham, vị được niềm tin Hồi Giáo thiết tha gắn bó, thuận phục Thiên Chúa. Mặc dù họ không nh́n nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa, họ cũng tôn kính Người như là một vị tiên tri.
“‘Họ cũng tôn kính Đức Maria, vị trinh mẫu của Người; có những lúc họ c̣n tha thiết kêu cầu Mẹ. Ngoài ra, họ c̣n trông đợi ngày thẩm phán là lúc Thiên Chúa sẽ trả công cho tất cản những ai được sống lại từ trong kẻ chết. Sau hết, họ trân trọng đời sống luân lư và việc tôn thờ Thiên Chúa, nhất là bằng việc nguyện cầu, bố thí và chay tịnh’.
“Qua các thế kỷ, không ít vụ cải vă và hận thù xẩy ra giữa tín hữu Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo. Phải công nhận rằng mối liên hệ giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo bao giờ cũng là những ǵ monh manh mỏng ḍn. Bởi vậy vấn đề vẫn chưa sáng tỏ là cơn băo tố căm phẫn hiện nay có đe dọa tới việc liên hệ khả dĩ sau này hay chăng giữa tín đồ Hồi Giáo và tín đồ Kitô Giáo, hay những bộ óc hạ nhiệt sẽ xẩy ra , nhờ đó việc thẳng thắn tôn trọng toàn bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng sẽ cống hiến những cơ hội mớicho một cuộc đối thoại vô tư và thực sự hơn giữa các phần tử của hai tôn giáo toàn cầu.
“Trong quá khứ, thường những tiếng nói của thành phần tín đồ Hồi Giáo ôn ḥa, hoặc v́ sợ hay v́ một cảm quan sai lầm về t́nh đoàn kết phái nhóm, đă chưa từng được nghe thấy. Thế nhưng, may mắn thay, ở đây đó đang có những dấu hiệu phấn khởi cho thấy điều này đang đổi thay – và nếu vậy sẽ có một số thành phần thiện chí xuất hiện vào giai đoạn này.
“Và trong khi thế giới Hồi Giáo và tín đồ Hồi Giáo rất nhậy cảm với những ai nói về Hồi Giáo, nhất là khi những người nói ấy không thuộc về niềm tin Hồi Giáo, khi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI lên án động lực tôn giáo biện minh cho bạo lực, ngài thật sự là thể hiện được cảm thức và ước mong của hằng triệu tín đồ Hồi Giáo khắp thế giới đồng ư rằng tôn giáo không thể nào là nguồn gốc của một cuộc xung khắc, một cuộc chiến tranh hay bất cứ một thứ bạo động nào.
“Vấn đề có thể là và thực sự là nhiều điều chung nơi ba tôn giáo lớn của Thánh Kinh, như Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo đôi khi được diễn tả. Thành phần tín đồ của từng đạo trong 3 tôn giáo này công nhận Abraham là cha của ḿnh trong đức tin. Thế nhưng, cái căn gốc chung này chỉ có thể t́m thấy, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nhấn mạnh, bằng một thái độ tương kính và chân t́nh đối thoại.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/10/2006
Các Vị Giám Mục Đức lên tiếng kêu gọi Tín Đồ Hồi Giáo hăy tôn trọng Quyền Tự Do Tôn Giáo
Thứ Năm tuần trước, 28/9/2006, khi kết thúc cuộc họp thường niên của ḿnh, các vị giám mục Đức đă thẳng thắn bài bác thái độ của những ai tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa qua việc giải thích lệch lạc về một trích đoạn trong bài diễn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nói ở Đại Học Đường Regensburg hôm Thứ Ba 12/9/2006, đi đến chỗ “cáo giác, đ̣i hỏi và thậm chí đe dọa”.
“Giáo Hội Công Giáo và tất cả mọi người, ở Đức cũng như trên khắp thế giới, thành phần tôn trọng và bênh vực quyền tự do ngôn luận, sẽ không bao giờ để ḿnh cảm thấy bị đe dọa”.
Các vị giám mục Đức đồng loạt bày tỏ niềm hy vọng rằng các vị thẩm quyền Hồi Giáo trên thế giới sẽ biết kiềm chế ḿnh khỏi bất cứ điều ǵ góp phần vào “việc làm gia tăng trầm trọng t́nh trạng này một lần nữa”, v́ “bất cứ những ǵ là mờ ám chỉ dẫn tới t́nh trạng bất ḥa và cần phải tránh né”.
Về vấn đề này, các vị đă tỏ ra quan tâm tới việc quay nhiễu và tấn công các nhóm thiểu số Kitô hữu ở một số quốc gia Hồi Giáo, nhất là việc sát hại một nữ tu ở Somalia.
Các vị Giám Mục Công Giáo này cũng nh́n nhận rằng trong gịng lịch sử các giáo hội Kitô giáo đă bị lôi kéo vào việc sử dụng bạo lực – và nhiều lần đă chiều theo việc này.
V́ kính nghiệm ấy mà hơn bao giờ hết mới cần phải có một cuộc đối thoại giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo “để cả đôi bên thanh tẩy kư ức và cống hiến một cách khả tín một chứng từ chung của tôn giáo cho nền ḥa b́nh và chống bạo lực”.
Các vị nhắc nhở rằng nhờ Hiến Pháp Đức quốc mà những người Hồi Giáo sống ở xử sở này mới được hưởng quyền tự do tôn giáo, nên các vị cũng mong rằng ở các quốc gia Hồi Giáo quyền tự do tôn giáo cũng được tôn trọng như thế.
“Chúng tôi tha thiết van xin các tổ chức Hồi Giáo ở Đức hăy thực ḷng quyết tâm tranh đấu cho việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo ở các quốc gia bản xứ của những người Hồi Giáo đang sống giữa chúng ta đây”.
Sau khi công nhận rằng “việc làm xỉ nhục hay trần tục hóa niềm tin tôn giáo là việc làm dụng quyền tự do”, các vị giám mục Đức giải thích rằng có một sự quân b́nh rất ư là mong manh giữa quyền tự do ngôn luận và quyền niềm tin tưởng của con người được tôn trọng”.
Để kết luận, các vị giám mục Đức đă đề cập tới một bài diễn văn khác của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngày 20/8/2005 ngỏ cùng tín đồ Hồi Giáo vào dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne: “Việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo… thực sự là một nhu cầu sống c̣n chi phối phần lớn tương lai của chúng ta”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/10/2006
Các Vị Giám Mục Anh Quốc và Wales Bênh Vực Đức Giáo Hoàng và Phản Đối Đài Truyền H́nh BBC Luân Đôn
Các vị giám mục ở Anh quốc và Wales đă tố giác đài truyền h́nh BBC về việc tŕnh bày sai lầm về 2 văn kiện của Vatican được cơ quan ngôn luận này nói rằng Đức Giáo Hoàng Biển Đứcv XVI đă sử dụng để che nay việc lạm dụng t́nh dục vị thành niên.
Theo các vị giám mục này th́ chương tŕnh “Các Tội Ác T́nh Dục và Vatican”, được truyền h́nh vào hôm Chúa Nhật 1/10/2006 bởi Panorama, một màn điều tra tin tức của Đài Truyền H́nh BBC, là những ǵ không chính xác và lừa đảo.
Chương tŕnh này cho rằng họ có những văn kiện mật của Vatican chưa từng được tiết lộ cho thấy đă áp đặt việc câm nín liên quan tới tất cả những điều trách cứ về việc lạm dụng trẻ em, và tố cáo Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bấy giờ – hiện nay là Giáo Hoàng Biển Đức XVI – đă ra tay che chở những vị linh mục cho khỏi bị điều tra trong vai tṛ làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin.
Một văn kiện được đề cập đến trên đây là “Crimen sollicitationis” (Tội Ác Dụ Dỗ, 1962), được phổ biến bởi Congregation of the Holy Office – sau này là Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin – một văn kiện được công bố vào năm 2003.
Đức Hồng Y Cormac Murphy-O’Connor, tổng giám mục Westminster, hôm Thứ Hai 2/10/2006, đă gửi một bức thư cho Mark Thompson, tổng giám đốc của đài truyền h́nh BBC “để bày tỏ nỗi phiền muộn hết sức và báo động cho cộng đồng Công Giáo” liên quan tới chương tŕnh ấy.
“Không ai có thể chối căi được những hậu quả tàn hại của việc lạm dụng trẻ em trong xă hội của chúng ta và sự thiệt hại gây cho thành phần nạn nhân cùng gia đ́nh của họ. Đó là những ǵ thật là hổ thẹn nếu việ claim dụng ấy lại được vấp phạm bởi một vị linh mục và dĩ nhiên hợp lư để nói lên những yếu tố xé nát tâm can của thứ sự dữ này.
“Tuy nhiên, chương tŕnh của ông lại bắt đầu gây ra cái thiệt hại nặng nề cho Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị lănh đạo của một tỉ người Công Giáo trên khắp thế giới. Đối với tôi rơ ràng mục đích chính của chương tŕnh này là t́m cách móc nối Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI với việc bao che cho vấn đề lạm dụng trẻ em trong Giáo Hội Công Giáo. Đây là những ǵ hiểm độc và không thật, căn cứ vào việc tŕnh bày sai lầm các văn kiện của Giáo Hội”.
Vị hồng y đương kim chủ tịch hội đồng giám mục Anh quốc và Wales nói rằng ngài “không thể hiểu được tại sao không một ai trong tổ hợp của ông thực hiện việc liên lạc với Giáo Hội Công Giáo ở đất nước này để được giúp đỡ về việc t́m kiếm tín liệu chính xác nơi vấn đề này”.
“Tôi cần phải đặt vấn đề là phải chăng trong nội bộ của đài truyền h́nh BBC luôn liên lỉ có khuynh hướng chống lại Giáo Hội Công Giáo. Sẽ có nhiều người, không chỉ là người Công Giáo mà thôi, sẽ nghĩ rằng phải chăng BBC không c̣n muốn thật sự khách quan nơi một số vấn đề tŕnh bày của họ”.
Đức Tổng Giám Mục Vincent Nichols ở Birmingham, và là chủ tịch của Văn Pḥng Công Giáo Bảo Vệ Trẻ Em và Người Lớn Dễ Bị Tổn Hại, cũng phổ biến một công văn cùng ngày, viết rằng: “là một đài phát thanh phục vụ công ích, BBC cần phải cảm thấy hổ ngươi về tiêu chuẩn phóng viên kư giả được sử dụng để tạo nên việc tấn công phi lư vào Đức Thánh Cha Biển Đức XVI”.
“Thành phần khán giả sẽ nhận ra rất rơ những mưu mẹo giật gân và sự diễn giải lừa đảo của chương tŕnh ấy, một chương tŕnh sử dụng cảnh sắc cũ và những cuộc phỏng vấn không có ngày tháng. Họ sẽ biết rằng các khía cạnh của chương tŕnh này chung qui là một cuộc tấn công có tính cách sâu đậm về thành kiến đối với một vị lănh đạo tôn giáo đáng kính trên thế giới. Nó sẽ làm suy yếu đi hơn nữa niềm tin tưởng của quần chúng nơi ‘Panorama’”.
Theo vị TGM này th́ các việ ctấn công của chương tŕnh chống lại Giáo Hoàng Biển Đức XVI ấy là những ǵ “sai lầm và hoàn toàn lừa đảo”:
“Nó sai lầm v́ nó tŕnh bày lệch lạc về hai văn kiện của Ṭa Thánh Vatican và sử dụng hai văn kiện này hoàn toàn theo chiều hướng lừa đảo để móc nối những thứ ghê tởm của việc lạm dụng trẻ em với con người của Đức Giáo Hoàng.
“Văn kiện thứ nhất, được phổ biến năm 1962, không trực tiếp liên quan tới vấn đề lạm dụng trẻ em một chút nào, nhưng với việc mạo dụng ṭa giải tội. Điều này luôn là một tội ác hết sức trầm trọng theo luật lệ của Giáo Hội. Chương tŕnh này lẫn lộn việc mạo dụng ṭa giải tội với những nỗ lực vô luân của một vị linh mục muốn làm nạn nhân câm nín.
“Văn kiện thứ hai, được ban hành năm 2001, đă làm sáng tỏ luật lệ của Giáo Hội, bảo đảm rằng Ṭa Thánh Vatican cần phải được báo cáo cho biết hết các vụ lạm dụng trẻ em và một một trường hợp cần phải được đối xử một cách thích đáng.
“Văn kiện này không gây ngăn trở cho việc điều tra của thành phần thẩm quyền về dân sự đối với các tố cáo liên quan tới việc lạm dụng trẻ em, cũng không phải là một phương pháp để che đậy, như chương tŕnh này nhất quyết chủ trương. Thật vậy, nó là một biện pháp nghiêm trọng được Ṭa Thánh Vatican quan niệm về những thứ vi phạm ấy.
“Từ năm 2001, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, bấy giờ làm đầu Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, đă thực hiện nhiều việc để áp dụng luật lệ này của Giáo Hội đối với những cáo giác và vi phạm trong việc lạm dụng trẻ em một cách hoàn toàn và cân nhắc”.
Một phát ngôn viên của BBC thông báo cùng ngày rằng ban điều hành công ty sẽ hồi âm thư của Đức Hồng Y Murphy-O’Connor.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/10/2006
Hội Đồng Giám Mục Ư lên tiếng bênh vực Đức Thánh Cha
Trong phiên họp mở màn cho Hội Đồng Thường Trực của hội đồng giám mục Ư hôm Thứ Hai 19/9/2006, Đức Hồng Y Camillo Ruini, đại diện giáo phận Rôma, đă lên tiếng ủng hộ Đức Thánh Cha và chỉ trích các cuộc vận động xuống đường chống lại ngài.
Trước hết, vị hồng y đại diện giáo phận này đă ngỏ lời chào Đức Thánh Cha, khi nhắc lại chuyến tông du của ngài về Bavaria, ngài đă làm chứng “bằng việc chia sẻ hết sức sâu xa và nhẹ nhàng thuyết phục, niềm tin vào vị Thiên Chúa là Đấng nơi Ngài con người, lư trí của họ và tự do của họ mới đạt được t́nh trạng viên trọn cao cả và đích thực”.
Vị chủ tịch hội đồng giám mục Ư này tiếp tục nói: “Trong bài nói rạng ngời ở Đại Học Regensburg, ngài chẳng những có thể nêu lên mà c̣n biện luận cho chân lư, cho tính chất hiệu năng và hợp thời của Kitô Giáo nơi mô h́nh thần học cả thể, cùng một lúc vừa có tính cách lịch sử lại vừa có tính cách triết lư, khả dĩ có được mối liên hệ thiết yếu giữa lư trí của con người với niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, Đấng là ‘Logos’, khi cho thấy rằng mối liên hệ này không bị giới hạn vào quá khứ mà c̣n hướng tới những nhăn quan rộng lớn ngày nay đối với ḷng chúng ta ước muốn biết và sống một sự sống trọn vẹn và tự do”.
Vị hồng y nhấn mạnh rằng, bài nói này, cùng với bức thông điệp “Thiên Chúa là T́nh Yêu” và bài của Đức Thánh Cha ngỏ cùng Giáo Triều Rôma hôm 22/12/2005 vừa qua, đă là những ǵ cống hiến cho “những điều phối hợp thiết yếu nơi sứ điệp của vị Giáo Hoàng này, những ǵ cần phải được suy niệm và sâu xa thấm nhiễm, liên quan tới hội nghị giáo hội toàn quốc đang chờ đợi chúng ta ở Verona”.
Về vấn đề những phản ứng ồn ào đối với bài diễn văn của Đức Thánh Cha ở Regensburg, vị hồng y này nói rằng ngài cảm thấy “lạ lùng và buồn bă” là “có những điều khẳng định trong bài diễn văn này được giải thích sai lạc như là những ǵ xúc phạm tới đạo Hồi và v́ thế gây ra những hành động ghê rợn cùng với những lời đe dọa khôn tả – có lẽ cũng đă cung cấp cho việc viện cớ để sát hại một cách ghê gớm D́ Leonella Sgobarti ở Mogadishu”.
Theo vị hồng y này th́ Đức Thánh Cha thực sự là muốn kêu gọi “một cuộc đối thoại thực sự các nền văn hóa và tôn giáo, một cuộc đối thoại chúng ta đang thật là cần đến”, như chính bài diễn văn đề cập tới, cũng như vị quốc vụ khanh của Ṭa Thánh nói tới trong lời tuyên cào hôm Thứ Bảy vừa rồi.
Vị hồng y 75 tuổi này cho biết rằng “về phần các vị giám mục Ư, chúng tôi bày tỏ cùng vị Giáo Hoàng này tất cả ḷng gắn bó và đoàn kết của chúng tôi và gia tăng lời chúng tôi nguyện cầu cho ngài, cho Giáo Hội, cho quyền tự do tôn giáo của chúng tôi, cho việc đối thoại và t́nh hữu nghị giữa các tôn giáo và chư dân”.
Vị ông y kết luận: “Trái lại, chúng tôi cảm thấy tiếc cho những lời giải thích, cũng chẳng thiếu ǵ nơi xứ sở của chúng tôi, những lời giải thích qui cho Đức Thánh Cha trách nhiệm mà ngài tuyệt đối không có hay những sai lầm mà ngài không vi phạm, và là những lời dẫn giải có khuynh hướng tấn công con người của ngài và thừa tác vụ của ngài”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/9/2006
Vị chủ tịch của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ là Đức Giám Mục William Skylstad đă phổ biến một văn thư tỏ ra ủng hộ việc đối thoại của Giáo Hoàng Biển Đức XVI kêu gọi thực hiện giữa đức tin Kitô Giáo và thế giới tân tiến, cũng như giữa tất cả mọi nền văn hóa và các tôn giáo. Ngài cho biết rằng cơ cấu giáo phẩm này “nhiệt liệt ủng hộ lời Đức Thánh Cha của chúng tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XVI kêu gọi đối thoại, trong bài nói của ngài hôm nay, Thứ Tư, 30/9…”
“Trước những trạng huống xẩy ra trong tuần vừa rồi, rơ ràng là cần phải có một cuộc đối thoại giữa Kitô hữu và tín đồ Hồi Giáo, một cuộc đối thoại chúng ta tỏ ra tôn trọng, như lời của Đức Thánh Cha, ‘những ǵ là linh thánh của người khác’.
“Ở Hiệp Chủng Quốc, các vị giám mục đang tham dự một cuộc đối thoại như thế. Cùng với vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI, chúng tôi nh́n nhận rằng người Công Giáo và Hồi Giáo ‘đều thờ phượng một vị Thiên Chúa duy nhất’. V́ những biến cố xẩy ra trong 5 năm qua (ở đây, theo người chuyển dịch này th́ vị giám mục chủ tịch này cố ư nói từ ngày 11/9/2001), cuộc đối thoại này là những ǵ đặc biệt khẩn trương, nhờ đó Kitô hữu và tín đồ Hồi Giáo mới có thể cùng nhau hoạt động trong việc cổ vơ ‘ḥa b́nh, tự do, công bằng xă hội và các giá trị luân lư cho lợi ích của toàn thể nhân loại’, như vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nói.
“Chúng tôi hy vọng rằng nội dung của bài nói được Đức Thánh Cha tŕnh bày tuần vừa rồi tại Đại Học Regensburg ở Đức, một bài nói ngài muốn diễn tả mối liên hệ xác đáng giữa niềm tin và lư trí, sẽ được hiểu biết một cách toàn vẹn và đúng đắn.
“Tức, như Đức Thánh Cha đă nói trong huấn từ Truyền Tin Chúa Nhật 17/9, nó là một bài nói ‘theo nội dung toàn diện của ḿnh đă là và đang là lời mời gọi thực hiện một cuộc thẳng thắn và chân thành đối thoại một cách hết sức tương kính.
“Chính thái độ này của Đức Thánh Cha mới là những ǵ xứng đáng kéo chú ư của thế giới hơn là những lời lẻ cũ kỹ thuộc bao thế kỷ của một con người bày tỏ một quan điểm mà chúng ta không thể phủ nhận là không có song vẫn không c̣n là những ǵ khơi động một thứ Kitô Giáo chân thực”.
Cũng vào hôm Thứ Tư 20/9/2006, vị phó chủ tịch Quốc Hội Âu Châu là Mario Mauro đă gửi 732 bản văn bài nói của Giáo Hoàng Biển Đức XVI tại Đại Học Regensburg hôm Thứ Ba 12/9/2006 cho mọi thành viên của cơ cấu này.
Trong thư được gửi kèm theo, vị phó chủ tịch này bày tỏ là ông hy vọng rằng “tương lai sẽ tránh được những thứ mạo dụng, và Quốc Hội Âu Châu sẽ minh nhiên chủ trương ủng hộ quyền tự do ngôn luận”.
Nhân vật này viết tiếp: “Trong bài diễn văn của ḿnh, v́ Giáo Hoàng này chỉ kêu gọi đối thoại, một lời ngỏ rơ ràng là đă bị hiểu lầm và mạo dụng bởi thế giới Hồi Giáo một phần và bởi truyền thông một phần, thành phần không hiểu được ư nghĩ thực sự của v́ Giáo Hoàng”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 21/9/2006
Đức Hồng Y Murphy-O’Connor: Tuyên Cáo về Hồi Giáo
Sau đây là nguyên văn bản tuyên cáo của ĐHY Murphy-O’Connor, Tổng Giám Mục ở Westminster, Anh Quốc, được đọc trong tất cả mọi Thánh Lễ Chúa Nhật trong giáo phận của ngài vào cuối tuần lễ 16-17/9/2006.
“Giáo Hoàng Biển Đức XVI, trong một bài nói được tường tŕnh một cách rộng răi, đă thực sự kêu gọi một cuộc đối thoại của các nền văn hóa căn cứ vào đức tin và lư trí. Đối với tôi, hoàn toàn rơ ràng là Giáo Hoàng Biển Đức XVI không có ư phạm tới những cảm thức của anh chị em Hồi Giáo của chúng ta. Chính Đức Thánh Cha đă bày tỏ nỗi buồn phiền của ngài nếu bất cứ đoạn văn nào trong bài nói của ngài có thể phạm tới các tín đồ Hồi Giáo. Những ǵ chất chứa rơ ràng trong bài diễn văn của ngài đó là việc ngài thật sự bác bỏ bất cứ một động lực tôn giáo liên quan đến bạo lực.
“Về phần ḿnh, chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển những mối liên hệ tốt đẹp với cộng đồng Hồi Giáo trong xứ sở của chúng ta theo chiều hướng tôn trọng nhau và cùng mong muốn xây dựng công lư và ḥa b́nh trên thế giới của chúng ta. Chính tôi sẽ đứng bên các vị lănh đạo Hồi Giáo và Do Thái ở Đường Downing vào Chúa Nhật này để thiết tha kêu gọi các chính quyền hăy làm hết sức trong khả năng của ḿnh để ngăn chặn chết chóc và hủy hoại hơn nữa ở Sudan. Xin nhớ đến ư chỉ này trong lời cầu nguyện của anh chị em. Cũng hăy cầu nguyện cho việc đối thoại và hợp tác liên tôn được thành quả tốt đẹp trong tương lai.
Đức Hồng Y Cormac Murphy-O’Connor
Tổng Giám Mục Westminster
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17/9/2006
Đức Tổng Giám Mục Yangon lên tiếng bênh vực Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đức Tổng Giám Mục Charles Bo ở Yangon, nước Myanmar, một xứ sở có 47 triệu dân, trong đó hầu hết theo Phật Giáo, chỉ có 4% Hồi Giáo, chia sẻ nhận định của ḿnh với mạng điện toán toàn cầu Zenit về t́nh h́nh thế giới Hồi Giáo liên quan tới cầu nói của Đức Thánh Cha trong dịp ngài viếng thăm Bavaria Đức Quốc hôm Thứ Ba 12/9/2006. Nguyên văn những lời vị tổng giám mục này nói như sau:
“Giáo hoàng Biển Đức XVI đă nói một câu rất rơ ràng, ở chỗ bạo lực không thích hợp với bản tính của Thiên Chúa. Bạo lực và sát hại là những ǵ trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa.
“Ngài làm sáng tỏ vấn đề Thiên Chúa là t́nh yêu và t́nh yêu là những ǵ bảo đảm và làm phát sinh sự sống. Thiên Chúa là Đấng ban phát sự sống. Đó là lư do sâu xa tại sao một nhà thần học được kính trọng và rất được ca ngợi như vị Giáo Hoàng này đă cống hiến một sứ điệp minh nhiên như thế trong bức thông điệp đầu tay ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’ của ngài.
“Vị Giáo Hoàng này đă nói ở một viện đại học, nơi ngài đă chọn để lập lại rằng chiều kích tôn giáo là những ǵ cần thiết cho tất cả mọi người, và niềm tin là những ǵ trọng yếu để cảm nghiệm được sự sống viên măn.
“Cái lạnh lùng của lư lẽ thường đưa đến một đời sống phạm thánh – đó là những ǵ ngài đă cố gắng nói lên.
“Về vấn đề này, vị Giáo Hoàng đă hoàn toàn nói lên được cảm thức và ước muốn của hằng triệu tín đồ Hồi Giáo là thành phần không cách này th́ cách khác nói rằng: ‘Bạo lực và Hồi Giáo không thể nào dính dáng với nhau… Chúng tôi là những tín đồ Hồi Giáo và chúng tôi muốn là những tín đồ Hồi Giáo trong thế giới ngày nay, và chống lại những ai sử dụng tôn giáo để phạm đến người khác. Tôn giáo không thể nào là nguồn gốc của xung đột, chiến tranh, hay bất cứ một loại bạo động nào khác’.”
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
17/9/2006
Sau đây là nguyên văn bản Tuyên Cáo của Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu (COMECE) được phổ biến hôm 26/7/2006 về những ứng dụng của Nội Dung Chương Tŕnh Nghiên Cứu thứ 7 của Khối Hiệp Nhất Âu Châu trong thời đoạn 2007-2013, bao gồm cả việc tài trợ để thực hiện chương tŕnhg nghiên cứu bằng việc sử dụng phôi thai bào con người rồi sau đó hủy diệt đi những phôi thai bào con người ấy. Nhan đề của bản Tuyên Cáo này là: “Kiểm Điểm Về Việc Bảo Vệ Các Phôi Thai Bào: Khối Hiệp Nhất Âu Châu Trước Cuộc Thánh Đố Về Đạo Lư Sinh Học”.
Văn Pḥng Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu đă theo dơi việc sửa soạn của Nội Dung Chương Tŕnh Nghiên Cứu thứ 7 của Khối Hiệp Nhất Âu Châu trong thời đoạn 2007-2013. Văn pḥng này cảm thấy hết sức thất vọng về quyết định của Hôi Đồng Chư Vị Bộ Trưởng Âu Châu hôm 24/7/2006.
Giáo Hội Công Giáo công nhận tầm quan trọng của việc phát triển một nền kinh tế được xây dựng trên kiến thức, nghiên cứu và đổi mới của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Để đạt được mục đích phát triển theo chiều hướng như thế, Nội Dung Chương Tŕnh Nghiên Cứu Thứ 7 là một phương tiện thiết yếu để ủng hộ việc nghiên cứu và canh tân ở tầm cấp Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Khóa họp thường niên của COMECE vào tháng 11/2005 đă nh́n nhận rằng: ‘Khoa học và việc nghiên cứu đă thực hiện những việc đóng góp chính yếu cho phẩm chất của sự sống, nhất là nơi lănh vực sức khỏe, một lănh vực thuận lợi với những giải pháp trị liệu mới. Chúng cũng là một yếu tố quan trọng cho việc phát triển kinh tế nữa’.
Như chương tŕnh trước đây, qua h́nh thức hiện tại của ḿnh, Nội Dung Chương Tŕnh Nghiên Cứu Thứ 7, được Quốc Hội Âu Châu ủng hộ, vẫn tiếp tục cổ vơ việc nghiên cứu thân bào từ những phôi thai bào con người. Đó là t́nh trạng hiện nay, bất chấp xẩy ra việc chống đối của một số Quốc Gia Phần Tử đă không thể chiếm được những sự bảo vệ hơn nữa đối với vấn đề tôn trọng phẩm giá con người trong các cuộc điều đ́nh ở Hội Đồng Chư Bộ Trưởng Âu Châu hôm Thứ Hai 24/7.
Để bổ khuyết cho sự thỏa thuận ở Hội Đồng Chư Bộ Trưởng này, Ủy Ban Âu Châu đă thêm vào lời tuyên ngôn 12 điểm đặc biệt dự liệu là Nội Dung Chương Tŕnh Nghiên Cứu Thứ 7 sẽ không tài trợ việc hủy diệt các phôi thai bào con người, song sẽ tài trợ cho việc nghiên cứu thân bào từ phôi thai bào bị hủy diệt như thế.
Lời tuyên ngôn này hầu như không thỏa đáng, v́ việc Âu Châu tài trợ nghiên cứu thân bào từ phôi thai bào bao gồm cả cái nguy cơ cổ vơ việc hủy diệt các phôi thai bào con người ở cấp Các Quốc Gia Hội Viên. Bởi thế, Văn Pḥng Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu lập lại việc phản đối của ḿnh đối với việc Khối Hiệp Nhất Âu Châu tài trợ cho cuộc nghiên cứu liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới vấn để hủy diệt các phôi thai bào con người. Theo chiều hướng ấy, văn pḥng này xin được nhắc lại bản tuyên cáo do Tiểu Ban Điều Hành của Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu phổ biến ngày 31/5/2006 như sau: ‘Việc đối xử với phôi thai bào con người như là một thứ đồ vật để nghiên cứu là những ǵ không xứng hợp với phẩm giá con người’.
Việc sử dụng các phôi thai bào con người cho những mục đích nghiên cứu (chẳng hạn như cho việc hủy hoại chúng hay việc nghiên cứu thân bào từ những phôi thai bào này) là những ǵ bất khả chấp. Ngoài ra, không cần phải thực hiện việc nghiên cứu ấy; theo các chuyên gia th́ các thân bào từ tế bào già và các thân bào từ cái nhau, cũng cống hiến một cách thức khác mở ra một viễn tượng lợi ích thực sự cho vấn đề trị liệu.
Văn Pḥng Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu cảm thấy khó hiểu trước sự mâu thuẫn giữa cái quyết định tấn công phẩm giá con người ở vào lúc sơ khai của sự sống với mục tiêu của Khối Hiệp Nhất Âu Châu muốn cổ vơ các thứ trị liệu nhằm mục đích cứu lấy sự sống con người. Quyết định này cũng nghịch lại với bản Hiến Chương của Khối Hiệp Nhất Âu Châu về Các Quyền Lợi Chính Yếu là bản tuyên ngôn đă xác định ở Khoản 1 như sau: ‘Phẩm giá của con người là những ǵ bất khả vi phạm. Nó cần phải được tôn trọng và bảo vệ’.
Bởi thế, chúng tôi kêu gọi dư luận quần chúng hăy chú trọng tới tầm quan trọng của quyết định này. Chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa về tầm quan trọng sâu xa của các chiều kích đạo lư xă hội và đạo lư sinh học nơi cuộc tranh luận này đối với Âu Châu cũng như với tương lai của Âu Châu. Chúng tôi mời gọi đồng bào của chúng tôi, nhất là những người Công Giáo, hăy nhận thức tầm quan trọng về nhân loại học này nơi cuộc tranh luận liên quan tới phẩm giá con người ấy. Chúng tôi kêu gọi họ hăy làm tất cả những ǵ có thể để bảo tŕ một cuộc tranh luận như thế ở tầm mức các cơ cấu tổ chức Âu Châu, ở các Quốc Gia Phần Tử và ở xă hội dân sự. Đây là điều hệ trọng liên quan tới việc Quốc Hội Âu Châu nhóm họp lần thứ hai vào mùa thu tới.
Giám Mục Adrianus Van Luyn, giám mục Rotterdam, chủ tịch
Đức Ông Noel Treamor, tổng thư kư
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/7/2006
Vào ngày 15/6/2006, Quốc Hội Âu Châu trong phiên họp đầu tiên đă bỏ phiếu về Nội Dung Chương Tŕnh Thứ 7 liên quan tới việc nghiên cứu khoa học và phát triển khoa học, và kêu gọi Khối Hiệp Nhất Âu Châu tài trợ cho việc nghiên cứu phôi thài bào con người và thân bào từ phôi thai bào. V́ bản chất của quyết định này hiển nhiên có chiều kích về đạo lư, hội đồng giám mục Balan nhóm họp lần 336 ở Poznan muốn tŕnh bày quan điểm của ḿnh về vấn đề ấy.
Chúng tôi ủng hộ việc phát triển khoa học ở Khối Hiệp Nhất Âu Châu và chúng tôi tranh đấu cho vấn đề tài trợ nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu khoa học. Chúng tôi tôn trọng và chúng tôi ủng hộ quyền tự do nghiên cứu, quyền của mỗi người về vấn đề sức khỏe và chữa trị, và phận vụ trợ giúp những ai bị yếu bệnh. Chúng tôi nhận thấy sự kiện là việc nghiên cứu về các thứ thân bào con người có nhiều hứa hẹn theo quan điểm kiến thức và trị liệu.
Tuy nhiên, thành quả của việc bỏ phiếu nơi Quốc Hội Âu Châu đă khiến chúng tôi phải phản đối về vấn đề đạo lư hệ trọng, v́ việc nghiên cứu thân bào từ phôi thai bào con người không màng chi tới mối quan tâm về sức khỏe và sự sống của một số người là những ǵ được thực hiện bằng giá hủy hoại con người khác. Những việc phản đối này không thể nào qua đi trong thinh lặng, bởi thế, chúng tôi cần phải bày tỏ việc cương quyết phản đối của ḿnh đối với việc Khối Hiệp Nhất Âu Châu tài trợ nghiên cứu gây ra việc hủy diệt các phôi thai bào con người. Cuộc nghiên cứu các tế bào phôi thai được thực hiện với giá của các phôi thai bào con người là thành phần ngay từ ban đầu, tức ngay từ lúc được thụ thai, đă có quyền phải được tuyệt đối tôn trọng về luân lư v́ là con người (Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, 60).
Bản Hiến Chương của Khối Hiệp Nhất Âu Châu về Những Quyền Lợi Căn Bản có khoản nói rằng: ‘Phẩm giá của con người là những ǵ bất khả vi phạm. Nó cần phải được tôn trọng và bảo vệ’ (khoản 1). Phẩm giá này hợp với hết mọi con người từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đi. Việc đối xử với một phôi thai bào như là một đồ vật để thực hiện các cuộc thí nghiệm, và v́ thế phôi thai bào này bị biến thành phương tiện là một thứ vi phạm ràng ràng tới phẩm giá ấy.
Ṭa Hiến Định Cộng Ḥa Balan đă ấn định rằng các hoạt động như thế là những ǵ bất xứng với nguyên tắc của một quốc gia dân chủ được cai trị bằng qui tắc luật lệ: ‘Một quốc gia dân chủ được cai trị bằng qui tắc luật lệ coi con người cùng với hạnh phúc quí báu của họ là một giá trị tối hậu. Nói tới hạnh phúc này chúng tôi hiểu đó là sự sống trong một quốc gia dân chủ được cai trị bởi qui tắc luật lệ cần phải được hưởng sự bảo vệ theo hiến pháp nơi từng giai đoạn phát triển của nó’ (Ruling by the Constitutional Court of the Republic of Poland dated May 28, 1997).
Quyết định của Quốc Hội Âu Châu cũng gây ra những chống đối hệ trọng liên quan tới sự kiện là nguyên tắc phụ trợ căn bản của Khối Hiệp Nhất Âu Châu là những ǵ không được tôn trọng trong trường hợp này. Khối Hiệp Nhất Âu Châu được yêu cầu tài trợ cho việc nghiên cứu không xứng hợp với những thể chế pháp lư của quốc gia đang có nơi nhiều quốc gia hội viên, bao gồm cả Balan. Lănh vực khơi lên cuộc tranh luận như thế là ở chỗ việc qui định về các vấn đề đạo lư chỉ thuộc về thẩm quyền của các quốc gia hội viên mà thôi.
Theo quyết định của Quốc Hội Âu Châu th́ việc nghiên cứu bất hợp pháp theo luật lệ quốc gia cần phải được tài trợ bởi ngân quĩ Khối Hiệp Nhất Âu Châu, nếu vậy, cũng bởi cả những đóng góp của các quốc gia không cho phép cuộc nghiên cứu này. Việc cổ động một việc làm như thế ở Khối Hiệp Nhất Âu Châu sẽ gây hại cho mối liên kết của nó, cho chủ tính của nó, và chắc chắn sẽ dẫn tới những thứ xung khắc vô ích. Đó là lư do tại sao chúng tôi lớn tiếng chống lại những giải pháp như thế.
Các vị giám mục Balan đang tham dự phiên họp thứ 336 của hội đồng giám mục Balan hoàn toàn tán thành với chủ trương của ủy ban chư hội đồng giám mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu, như đă được bày tỏ trong cuộc họp thường niên của ḿnh vào tháng 11/2005. Chủ trương này sau đó c̣n được lập lại bởi văn pḥng Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục thuộc Cộng Đồng Âu Châu trong tháng 5 năm nay. Chúng tôi tin rằng Khối Hiệp Nhất Âu Châu cần phải tập trung việc nghiên cứu của ḿnh vào nhiều lănh vực hứa hẹn khác cũng liên quan tới những thứ thân bào nhưng là những thứ thân bào được lấy từ thành phần người lớn.
Như được bày tỏ theo chủ trương của Hội Đồng Thường Trực và Hội Đồng Khoa Học của hội đồng giám mục Balan ngày 26/2/2004: ‘một thứ h́nh thức trị liệu như thế không gây ra bất cứ một nghi nan nào về đạo lư và là một niềm hy vọng chân thực cho những ai bị bệnh và khổ đau, không giống như cuộc kiến tạo và sử dụng các thân bào từ phôi thào bào con người’.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi Quốc Hội Âu Châu hăy điềi chỉnh lại quyết định của ḿnh về vấn đề này. Nó không cổ vơ vấn đề tôn trọng phẩm giá của con người cũng không giúp cho công ích. Một quyết định sai lầm như thế không chú ư ǵ tới một thứ giá trị nồng cốt, đó là giá trị sự sống con người, làm suy yếu đi niềm tin tưởng vào Khối Hiệp Nhất Âu Châu và các tiến tŕnh quyết định của nó.
Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người thiện chí, kêu gọi Hội Đồng và Ủy Ban Âu Châu, hăy thực hiện tất cả mọi biện pháp để ngăn ngừa việc áp dụng quyết định của Quốc Hội Âu Châu về vấn đề tài trợ cho việc nghiên cứu phpôi thai bào và thân bào từ phôi thai bào.
Chữ kư của các vị hồng y, các vị tổng giám mục và giám mục tham dự hội nghị
Poznan – Gniezno, 25/6/2006
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 29/6/2006
Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ Ca Ngợi Vị Thống Đốc Không Kư Chuẩn Đạo Luật Chống Trở Lại Đạo
Hội đồng giám mục Ấn Độ đă lên tiếng ca ngợi quyết định của vị thống đốc Pratibha Patil đă không kư chuẩn dự luật chống lại việc trở lại đạo, một đạo luật đă bị kịch liệt chống đối bởi các nhóm tôn giáo thiểu số ở đất nước Ấn Giáo này. Dự Luật Tự Do Tôn Giáo ‘draconian’, theo bản thông báo của hội đồng giám mục Ấn Độ, “đă được vội vă chấp thuận” bởi Hạ Viện tiểu bang một tháng trước đây, một dự luật cho phép sử dụng “vơ lực, hay những phương tiện quyến rũ hoặc gian lận” để cấm cản việc trở lại đạo.
Theo dự luật này th́ nếu có lời tố cáo về tội trở lại đạo th́ người vi phạm sẽ bị tống giam không được quyền tại ngoại hầu ṭa, cho dù trước khi được điều tra nội vụ đi nữa. Họ sẽ bị tù 5 năm và bồi thường 1.100 Mỹ kim.
Đức Giám Mục Oswald Lewis ở Jaipur, thủ đô của tiểu bang này, đă tấn công dự luật này: “Nó là dự luật phản hiến pháp Ấn Độ và cướp đi quyền tự do của con người. Chúng tôi cảm thấy rằng nó sẽ bị lạm dụng để chống lại chúng tôi”.
Ở tiểu bang Rajasthan, Kitô giáo chỉ có 0.11% dân số trong đó có 89% Ấn giáo và 8% Hồi giáo. Có 5 tiểu bang khác như Madhya Pradesh, Orissa, Tamil Nadu, Gujarat và Chhattisgarh cũng đă ban hành một đạo luật tương tự như thế.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/5/2006
Tổng Thống Bush hoan nghênh các việc đóng góp của Giáo Hội Công Giáo
Trong bài diễn văn cho Bữa Điểm Tâm Nguyện Cầu của Giáo Hội Công Giáo Toàn Quốc ở thủ đô Hoa Kỳ hôm Thứ Sáu 7/4/2006, Tổng Thống Bush đă khen ngợi những đóng góp của Giáo Hội Công Giáo vào việc phảt triển nhân bản cho quốc gia Hoa Kỳ với những ư tưởng chính tiêu biểu như sau.
“Giáo Hội Công Giáo cống hiến một nhăn quan về quyền tự do và phẩm vị của con người là những ǵ được bắt nguồn từ cùng những sự thật minh nhiên cho việc thành lập quốc gia Hoa Kỳ.
“Sáng hôm nay chúng ta xin Thiên Chúa hăy hướng dẫn chúng ta v́ chúng ta cùng nhau thực hiện việc sống trọn những sự thật bất biến ấy.
“Tự do là một tặng ân của Đấng Toàn Năng, và Giáo Hội Công Giáo cùng với những cơ cấu tổ chức của ḿnh đang đóng một vai tṛ quan trọng trong việc giúp cho thành phần công dân của chúng ta có được tính chất chúng ta cần đến để sống như là một dân tộc tự do…
“Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói với chúng ta rằng: ‘Đừng sợ’, v́ ngài biết rằng một đế quốc được thiết lập trên những ǵ là gian trá cuối cùng cũng đi đến chỗ sụp đổ mà thôi.
“Như vị tiền nhiệm của ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng hiểu rằng đường lối cho một xă hội tự do đó là cách thức nó đối xử với thành phần yếu kém nhất và yếu mềm dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta”.
Nhân dịp này Tổng Thống Bush cũng tỏ ḷng biết ơn Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ trong “vai tṛ dẫn đầu được các tổ chức theo đức tin Công Giáo thực hiện trong đạo quân cảm thương của quốc gia chúng ta”, nhất là hoạt động của họ trong việc đón nhận thành phần mới tới xứ sở Hoa Kỳ. Tổng Thống nói về vấn đề di dân theo chiều hướng Công Giáo như sau:
“Một hệ thống di dân đẩy dân chúng vào những ngơ tối tăm của xă hội chúng ta, hay để cho họ trở thành mồi ngon cho việc phạm tội ác là một hệ thống cần phải được thay đổi”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 7/4/2006
Dự Luật Cải Tiến Toàn Bộ Vấn Đề Di Dân, mới đây đă được Tiểu Ban Pháp Lư gửi đến cho Thượng Viện Hoa Kỳ là ‘một khởi điểm khá’.
Thật vậy, Đức Giám Mục Gerald Barnes, trưởng Tiểu Ban Về Di Dân của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đă thẩm định trong một bức thư gửi cho tất cả Thượng Viện hôm Thứ Ba 4/4/2006.
Bức thư này kêu gọi các thượng nghị sĩ hăy ‘thực hiện nhưng nỗ lực ủng hộ để đem dự luật được tiểu ban Pháp Lư tường tŕnh ra bỏ phiếu’.
Vị giám mục trưởng ban này bày tỏ việc ủng hộ những đoạn pháp luật như thiết lập một chương tŕnh tạm thời cho người lao công, như việc giảm bớt t́nh trạng ứ đọng về di dân theo gia đ́nh, và việc thiết lập một chương tŕnh được hưởng t́nh trạng hợp thức hóa cho 11 triệu người sống bất hợp lệ ở đất nước này.
“Chương tŕnh được hưởng t́nh trạng hợp thức hóa… cho thấy một chính sách lành mạnh về xă hội, v́ nó không chỉ nâng cao t́nh trạng an ninh của đất nước chúng ta trong khi củng cố được lực lượng lao động nơi nhiều thứ kỹ nghệ quan trọng, mà c̣n giúp cho các gia đ́nh tiếp tục sống với nhau nữa”.
Tuy nhiên, vị giám mục này cũng vạch ra cho thấy một số điểm được hội đồng giám mục quan tâm. Đó là những khoản buộc phải giam giữ; việc nới rộng vấn đề thi hành tẩy chay; những giới hạn về vấn để kiểm điểm pháp lư; và việc gia tăng thẩm quyền cho vấn đề áp dụng luật ở địa phương buộc phải thi hành luật liên bang về di dân.
Bởi thế vị giám mục đại diện hội đồng giám mục Hoa Kỳ này đă xin các thượng nghị sĩ hăy ‘loại trừ hay cải tiến những khoản này hay những khoản gây nhiều rắc rối ở Tiết II khi Thượng Viện bàn về việc lập pháp dự luật ấy’.
Vị giám mục này tỏ ra lạc quan là Thượng Viện Hoa Kỳ, nói chung là Quốc Hội, sẽ thông qua một dự luật xứng đáng với một quốc gia của thành phần di dân:
“Các vị Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ hết sức ủng hộ một đường lối toàn diện đối với việc cải tiến vấn đề di dân cải cách hệ thống di dân của Hoa Kỳ, để nó có tính cách nhân bản, an ṭan và phản ảnh những thứ giá trị làm nền tảng cho quốc gia của chúng ta, một quốc gai của thành phần di dân”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/4/2006
Các vị Giám Mục Hoa Kỳ hoan nghênh Dự Án Nợ Nần Đối Với Các Quốc Gia Nghèo
Đức Giám Mục Thomas Wenski, vị giám mục ở Florida, Trưởng Ủy Ban của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ Về Chính Sách Quốc Tế, đă phổ biến một văn thư trên mạng điện toán toàn cầu của hội đồng giám mục Hoa Kỳ hôm Thứ Sáu 31/3/2006, tỏ ra hưởng ứng quyết định của Ngân Hàng Thế Giới trong việc chấp nhận tha nợ cho 17 quốc gia đầu tiên từ ngày 1/7/2006.
“Bước quan trọng này có nghĩa là các quốc gia nghèo sẽ không phải đợi trên một năm để được tha nợ một khi họ hội đủ điều kiện. Bước này sẽ giảm bout gánh nặng trên một số anh chị em yếu kém nhất của chúng ta trên thế giới”.
Quyết định này là quyết định hoàn toàn tha nợ 100% cho 17 quốc gia nghèo thiếu tiền của International Monetary Fund, World Bank, và African Development Bank trong năm 2006.
Vị giám mục trưởng ủy ban này gọi quyết định ấy là “một áp dụng cụ thể lời kêu Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kêu gọi thực hiện ‘việc toàn cầu hóa t́nh đoàn kết’. T́nh trạng nghèo khổ đang ḱm kẹp một phần rất lớn của gia đ́nh nhân loại chúng ta làm chúng ta cảm thấy kinh hoàng”.
Tuy nhiên, theo quyết định này th́ các quốc gia bần cùng nào thực hiện việc bắt buộc cải cách về kinh tế và tiến đến ‘điểm hoàn thành’ nơi chương tŕnh giảm nợ của International Monetary Fund và World Bank sẽ được tha nợ trong ṿng 3 tháng. Đây sẽ là trường hợp của nước Malawi, được cho là đă tiến tới điểm hoàn thành vào tháng 6 này để được tha nợ vào ngày 1/7, thay v́ phải đợi tới tháng 7/2007.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/4/2006
Hội Đồng Giám Mục Hiệp Vương Quốc chống lại dự luật Triệt Sinh An Tử
Hội Đồng Giám Mục Anh Quốc và Wales thuộc Hiệp Vương Quốc đă gửi cả nửa triệu tờ phổ biến cho tất cả mọi giáo xứ để kêu gọi tín hữu hăy chống lại những khởi động đang được thực hiện cho việc hợp pháp hóa vấn đề triệt sinh an tử và trợ giúp tự tử.
Hành động mục vụ này của các vị giám mục ở đây đă hỗ trợ cho tổ chức Liên Minh Chăm Sóc Chứ Không Giết Chóc được tung ra từ Tháng Giêng 2006.
Tổ chức liên minh này gồm có các nhóm y khoa, các nhóm quyền lợi của người khuyết tật, các cộng đồng đức tin và các nhóm khác chống lại bất cứ thay đổi ǵ ở luật triệt sinh an tử.
Vào ngày 12/5/2006, Quốc Hội Hiệp Vương Quốc sẽ tranh căi về một dự luật được Joel Joffe soạn thảo để hợp pháp hóa vấn đệ trợ giúp tự tử đối với những bệnh nhân bị bệnh gần chết.
Đức Tổng Giám Mục Peter Smith, chủ tịch của Phân Bộ Về Trách Nhiệm và Công Dân Kitô Giáo của Hội Đồng Giám Mục này, đă kêu gọi tín hữu Công Giáo hăy liên lạc với vị đại diện của họ ở Quốc Hội để yêu cầu đừng ủng hộ dự luật ấy:
“Chúng tôi khuyến khích nhiều người Công Giáo bao nhiêu có thể hăy hỗ trợ cho hoạt động của tổ chức Chăm Sóc Chứ Không Giết Chóc bằng bất cứ cách nào có thể”.
Ngoài những tờ phổ biến giải thích những vấn đề và cổ vơ cho tổ chức liên minh này, các giáo xứ c̣n nhận được một bản văn kiện dài 12 trang liên quan tới những tài liệu được đề nghị sử dụng để nâng cao ư thức về vấn đề Chăm Sóc Chứ Không Giết Chóc cũng như về khoản luật liên quan tới vấn đề trợ giúp tự tử. Ngoài ra, c̣n có một đĩa h́nh DVD tŕnh chiếu các cuộc phỏng vấn với các vị bác sĩ tiếng tăm, cùng với các lá thư gửi cho những vị linh mục coi xứ.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 31/3/2006
Giáo Hội quan tâm tới dự luật Di Dân của Hoa Kỳ 26/3/2006
Các vị đại diện của Ṭa Thánh và của Giáo Hội Công Giáo ở Mễ Tây Cơ đang chống lại dự luật về di dân của Hoa Kỳ, cho dự luật này là những ǵ phạm đến nhân quyền. Cuối tuần vừa qua, 25-27/3/2006, những người Mễ Tây Cơ thuộc nhiều thánh phố lớn ở Hoa Kỳ, nhất là ở Los Angeles, đă xuống đường cả nửa triệu người để biểu t́nh chống dự luật mang tên của nhà lập pháp Sensenbrenner này.
Có 3 giải pháp Thượng Viện sẽ phải quyết định: thứ nhất là xây một bức tường dài 1 ngàn cây số hay 620 dặm dọc theo biên giới Mễ Tây Cơ và ghép thành phần di dân trái phép vào trường hợp vi phạm trọng tội; thứ hai là việc ân xá ôn ḥa, và thứ ba là qui chế lao động chứ không ân xá.
Hôm Chúa Nhật 26/3/2006, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo California đă kêu gọi cải cách toàn bộ vấn đề di dân, bao gồm cả việc hợp thức hóa do thành phần lao công bất hợp pháp tranh đấu có được. Ngoài ra, các vị c̣n nhấn mạnh đến cả một chương tŕnh cho thành phần lao công tạm thời và một qui chế đoàn tụ gia đ́nh của họ.
Đức Giám Mục José Guadalupe Martín Rábago giáo phận Leon đă kêu gọi Tổng Thống Mễ là Vicente Fox hăy kêu gọi đồng bạn Hoa Kỳ của ḿnh tôn trọng nhân quyền của những người Mễ Tây Cơ làm việc ở Hoa Kỳ. Ông Fox sẽ gặp ông Bush trong tuần này ở Cancun.
Vị giám mục này nói rằng đây không phải là lúc “dựng lên những bức tường mà là những chiếc cầu cho phép việc hội nhập của các quốc gia cho việc phát triển hỗ tương, v́ lợi ích của dân chúng đôi bên”.
Đức Giám Mục Marcelo Sánchez Orondo Á Căn Đ́nh, chưởng ấn của Học Viện Ṭa Thánh Về Các Khoa Xă Hội Học, đang tham dự một cuộc hội luận về di dân ở Mễ Tây Cơ, cho biết là Ṭa Thánh Rôma rất quan tâm tới dự luật này:
“Con người không được sinh ra để gắn liền với một mảnh đất. Tất cả mọi người đều lúc nào cũng tiến bước, tất cả mọi người đều là thành phần di dân. Các cánh cửa không thể lại khép lại không cho họ vào. Nó là những ǵ đi ngược lại với trật tự thiên nhiên, ngược lại với trật tự Kitô Giáo, nhất là với những ai làm việc, v́ tất cả chúng ta đều có quyền làm việc”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/3/2006
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ với “Bản Công Bố Về Trách Nhiệm của Người Công Giáo Trong Đời Sống Xă Hội”
Sau đây là nguyên văn bản văn kiện được Hội Đồng Giám Mục phổ biến hôm Thứ Sáu 10/3/2006:
Bản công bố chung mới đây của 55 phần tử Công Giáo thuộc Đảng Dân Chủ ở Hạ Viện đă là một cơ hội để nói lên một số vấn đề quan trọng về trách nhiệm của người Công Giáo trong đời sống xă hội.
Chúng tôi hoan nghênh nỗ lực này và các nỗ lực khác là những nỗ lực t́m cách xem xét về cách thức để làm thế nào thành phần lập pháp Công Giáo có thể làm cho đức tin của ḿnh và các quyết định về chính sách của ḿnh ḥa hợp với nhau. Như những giám mục Công Giáo ở Hiệp Chủng Quốc đă nói trong bản công bố năm 2004 mang tựa đề ‘Người Công Giáo trong Đời Sống Chính Trị’: ‘Chúng ta cần làm nhiều hơn nữa để thuyết phục tất cả mọi người rằng sự sống con người là những ǵ cao quí và phẩm vị con người là những ǵ cần phải bênh vực. Điều này đ̣i phải thực hiện việc đối thoại hiệu nghiệm hơn nữa cùng với việc dấn thân của tất cả những viên chức phục vụ quần chúng, nhất là các viên chức Công Giáo phục vụ quần chúng. Chúng tôi hoan hô việc đối thoại được chính thành phần lănh đạo chính trị khởi xướng’.
Bởi thế, chúng tôi hoan nghênh việc thành phần đại diện dân chúng này nh́n nhận là người Công Giáo trong đời sống xă hội cần phải hoạt doing một cách nghiêm can và hữu trách về nhiều vấn đề xă hội quan trọng. Đức tin của chúng ta là những ǵ liên kết nguyên vẹn kêu gọi người Công Giáo hăy bênh vực sự sống con người và phẩm vị con người bất cứ khi nào những thứ này bị đe dọa. Việc coi trọng người nghèo, việc bảo vệ đời sống gia đ́nh, việc theo đuổi công lư và việc cổ vơ ḥa b́nh là những thứ ưu tiên trọng yếu của truyền thống luân lư Công Giáo không thể coi thường hoặc bỏ qua. Chúng tôi phấn khích và sẽ tiếp tục hoạt động với những ai thuộc cả hai đảng đang t́m cách hoạt động theo những nguyên tắc thiết yếu này trong việc bênh vực người nghèo và người cô thân yếu thế.
Đồng thời chúng tôi cũng cần phải tái khẳng định giáo huấn liên tục của Giáo Hội Công Giáo là vấn đề phá thai là một vi phạm trầm trọng đến quyền lợi nống cốt nhất của con người – đó là quyền sống được bẩm sinh nơi tất cả mọi con người, và là nền tảng cho tất cả mọi quyền lợi khác chúng ta có được.
Tông huấn về ơn gọi và sứ vụ của người giáo dân ‘Christifideles Laici’ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một văn kiện được các vị đại diện này trích dẫn, đă tuyên bố là: ‘Tính cách bất khả vi phạm của con người, một tính cách phản ảnh tính cách tuyệt đối bất khả vi phạm Thiên Chúa, được thể hiện một cách chính yếu và sâu xa nơi tính cách bất khả vi phạm đến sự sống con người. Nhất là, tiếng kêu la chung, những tiếng kêu la xứng đáng vang lên nhân danh nhân quyền – như quyền được sống khỏe mạnh, quyền có nhà cửa, quyền có công ăn việc làm, quyền có gia đ́nh, quyền sống theo văn hóa – đều là những ǵ giả trá và ảo tưởng nếu quyền được sống, một quyền căn bản và nồng coat nhất và là điều kiện cho tất cả mọi quyền lợi khác, không được cương quyết bênh vực tối đa… Con người được quyền hưởng những quyền lợi này, ở hết mọi giai đoạn phát triển, từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đi; cũng như qua hết mọi điều kiện, dù khỏe mạnh hay yếu đau, dù lành mạnh hay tật nguyền, dù giầu có hay nghèo khổ’ (đoạn 38).
Giáo lư Công Giáo, trong lúc bao giờ cũng cần phải hoạt động để giảm thiểu con số phá thai bằng cách cung cấp những giải pháp thay thế và cứu giúp thành phần cha mẹ cùng trẻ em yếu kém, kêu gọi tất cả mọi người Công Giáo hăy chủ động làm việc để ngăn cản, hạn chế, và chấm dứt việc hủy hoại sứ sống thai nhi.
Cần phải nhớ rằng, v́ Giáo Hội thi hành nhiệm vụ chính yếu của ḿnh trong việc giảng dạy một cách rơ ràng và giúp h́nh thành lương tâm, và v́ thành phần lập pháp Công Giáo t́m cách hoạt động hợp với lương tâm của ḿnh, mà lương tâm cần phải hợp với những nguyên tắc luân lư căn bản. Là phần tử của Giáo Hội, tất cả mọi người Công Giáo buộc phải uốn nắn lương tâm của ḿnh theo giáo huấn về luân lư của Giáo Hội.
Là giám mục, chúng tôi cũng buộc theo lương tâm trung thành giảng dạy và tái dấn thân ḿnh vào việc tiếp tục suy tư và bàn luận về cách thức làm sao để đức tin Công Giáo và việc phục vụ quần chúng có thể cùng nhau hoạt động để cổ vơ sự sống con người cùng phẩm vị con người và việc phát ttriển công ích. Qua việc đối thoại, nhất là việc đối thoại bất khả thay thế giữa thành phần lănh đạo chính trị và các vị giám mục của họ, chúng tôi hy vọng là sẽ phát động được việc hiểu biết hơn nữa về cách thức giáo huấn của Giáo Hội đối với sự sống con người và phẩm vị con người đ̣i hỏi tất cả chúng ta.
Hồng Y William Keeler, Trưởng Ban Hoạt Động Pḥ Sự Sống của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ
Hồng Y Theodore McCarrick, Trưởng Ban Đặc Nhiệm của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về Các Vị Giám Mục Công Giáo và Chính Trị Gia Công Giáo.
Giám Mục Nicholas Dimarzio, Trưởng Ban của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về Chính Sách Quốc Nội
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/3/2006
Các Vị Lănh Đạo Kitô Giáo ở Thánh Địa gửi Sứ Điệp Ḥa B́nh đề ngày Thứ Ba 1/2/2006 cho Hamas
“Sứ điệp của chúng tôi gửi chính phủ Hamas, cho các phần tử và lănh đạo, là sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô, trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5:3-10): ‘Phúc cho những ai xây dựng ḥa b́nh, họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa’…
“Chúng tôi bày tỏ ḷng tôn trọng và việc ủng hộ của chúng tôi trước ư muốn của dân chúng được bày tỏ trong những cuộc tuyển cử này. Chúng tôi chúc mừng tất cả những ai được tuyển chọn…
“Một số người có thể cảm thấy lo sợ hay bối rối v́ giai đoạn mới này. Trước hết, chúng tôi xin trả lời bằng những lời của Chúa Giêsu Kitô là ‘Đừng để cho ḷng các con xao xuyến hay sợ hăi. Thày để lại b́nh an cho các con; Thày ban b́nh an của Thày cho các con, một b́nh an thế gian không thể ban tặng…
“Chúng tôi nguyện cầu cho tất cả những ai sẽ cai trị trong giai đoạn khó khăn này, và chúng tôi nối ṿng tay cộng tác với họ cho thiện ích chung, cũng như cho những ước vọng của quốc dân Palestine cùng với mục tiêu công lư và ḥa b́nh bằng đường lối bất bạo động, dù liên quan tới những liên hệ hải ngoại, hay tới qui tắc luật lệ cùng với quyền tự do tôn giáo trọn vẹn, nhất là ở những lănh vực xă hội và giáo dục.
“Xin Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta tới những ǵ là thiện ích cho tất cả mọi người và cho Thánh Địa này cùng với tất cả mọi cư dân ở đây, dân Palestine và Do Thái, là Hồi Giáo, Kitô hữu hay Do Thái”.
Thượng Phụ
Theophilos III, Greek Orthodox Patriarchate
Thượng Phụ Michel Sabbah, Latin Patriarchate
Thượng Phụ Torkom II, Armenian Apostolic Orthodox Patriarchate
Franciscan Father Pierbattista Pioăaballa, Custos of the Holy Land
Anba Abraham, Ṭa Thượng Phụ Chính Thống Coptic Orthodox
Swerios Malki
Mourad, Ṭa Thượng Phụ Chính Thống Syrian
Abune Grima, Ṭa Thượng Phụ Chính Thống Ethiopian
Paul Nabil Sayyah, Ṭa Thượng Phụ Chính Thống Maronite Patriarchal Exarchate
Giám Mục Riah Abu El-Assal, Episcopal Church of Jerusalem and the Middle East
Giám Mục Mounib Younan, Lutheran Evangelical Church
Pierre Melki, exarch for the Syrian Catholics-Jerusalem
André Dikran Bedoghlyan, Armenian Catholic Patriarchal Exarchate
Archimandrite Mtanious Haddad: Greek Catholic Patriarchal Exarchate.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 1/2/2006
Từ Thánh Địa, Các Vị Giám Mục Công Giáo Âu Châu và Bắc Mỹ kêu gọi Ḥa B́nh cho Thánh Địa
Sau đây là nguyên văn lời kêu gọi của các vị giám mục được phổ biến Ngày Thứ Năm 19/1/2006 khi bế mạc hội nghị giữa tổ chức Điều Hợp Chư Hội Đồng Giám Mục Trong Việc Nâng Đỡ Giáo Hội Ở Thánh Địa với Hội Đồng Bản Quyền Công Giáo Ở Thánh Địa.
Lời kêu gọi ḥa b́nh trong công lư cho tất cả mọi dân tộc và cho 3 niềm tin ở Thánh Địa được các vị Công Giáo phổ biến hôm nay đây. Các Vị Giám Mục thuộc Ban Điều Hợp Chư Hội Đồng Giám Mục Trong Việc Nâng Đỡ Giáo Hội Ở Thánh Địa đă thực hiện lời kêu gọi này vào lúc kết thúc cuộc viếng thăm mục vụ được điều hành bởi Hội Đồng Bản Quyền Công Giáo Ở Thánh Địa. Ban Điềp Hợp này là việc thể hiện sự nâng đỡ của Giáo Hội Hoàn Vũ cho Giáo Hội địa phương đây.
Là các giám mục Công Giáo, chúng tôi đến Thánh Địa để được hiệp thông và liên kết với nhân dân cũng như các vị giám mục của Giáo Hội Mẹ khi chúng tôi bước đi với họ trên con đường dẫn đến ḥa b́nh, công lư và ḥa giải.
Chúng tôi hết sức biết ơn Hội Đồng Bản Quyền Công Giáo Ở Thánh Địa đă điều hành việc viếng thăm này của chúng tôi. Chúng tôi đến như thành phần hành hương trong nguyện cầu, nguyện cầu cho t́nh trạng phúc hạnh của Giáo Hội và của tất cả mọi dân tộc ở Thánh Địa.
Cuộc viếng thăm này là lần thứ sáu của Ban Điều Hợp Chư Hội Đồng Giám Mục Trong Việc Nâng Đỡ Giáo Hội Ở Thánh Địa. Cơ Quan Điều Hợp này đại diện cho Chư Hội Đồng Giám Mục Âu Châu, Ủy Ban Chư Hội Đồng Giám Mục Khối Hiệp Nhất Âu Châu, và Chư Hội Đồng Giám Mục Áo, Gia Nă Đại, Anh và Wales, Pháp, Đức, Ư, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Một lần nữa, chúng tôi lại chứng kiến thấy đức tin năng động của Giáo Hội trong việc thờ phượng cũng như qua việc phục vụ dân chúng qua nhiều tổ chức của Giáo Hội. Chúng tôi tham dự vào việc diễn hành của trẻ em và việc cử hành Giáng Sinh. Nhiều trẻ em học sinh đă di chuyển nhiều giờ qua các trạm kiểm soát để đến Bêlem lần đầu tiên.
Chúng tôi đă gặp gỡ giới trẻ ở Ramallah và đă biết được hoạt động của họ. Chúng tôi cũng cử hành Thánh Lễ và đă viếng thăm những người Công Giáo nói tiếng Do Thái và các giáo xứ ở Aboud, Nablus, Ramallah, Taybeh, Bethlehem và Jerusalem. Chúng tôi đă cùng nhau cầu nguyện và đă lắng nghe những chứng từ của dân chúng và giám mục địa phương chia sẻ những cuộc đấu tranh của Giáo Hội nơi một thự ctại khó khăn về xă hội và chính trị.
Là những mục tử, chúng tôi một lần nữa kêu gọi tín hữu ở chư quốc của chúng tôi hăy nhớ tới Giáo Hội ở Thánh Địa trong nguyện cầu, hăy đến hành hương nơi đây, hăy quảng đại nâng đỡ các cơ quan tổ chức ở đây, và hăy cổ vơ những sáng kiến mang lại ḥa b́nh và công lư cho tất cả mọi dân tộc ở Mảnh Đất này. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nói về sứ vụ ḥa b́nh của Giáo Hội trong bài diễn từ của ngài ngỏ cùng ngoại giao đoàn chư quốc vào đầu tháng này.
Chúng tôi xin âm vang lời khuyên của Đức Thánh Cha về Thánh Địa như sau: “Ở đó quốc gia Do Thái phải có thể hiện hữu một cách an b́nh hợp với tiêu chuẩn quốc tế; ở đó, cũng thế, nhân dân Palestine phải phát triển cách yên hàn các cơ cấu dân chủ của ḿnh cho một tương lai tự do và thịnh vượng.
“Các mối quan tâm mục vụ của chúng tôi về Giáo Hội địa phương này khiến chúng tôi chia sẻ những nỗi sợ hăi và khổ đau cũng như các niềm vui và hy vọng của nhân dân đây. Chúng tôi nh́n nhận quyền hợp lệ của Do Thái trong việc thực hiện những biện pháp an ninh thích đáng, thế nhưng, tất cả mọi biện pháp ấy cần phải là những ǵ bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền, đất đai và nước nôi của nhân dân Palestine. Chúng tôi đă chứng kiến thấy những người Palestine gặp khó khăn và nghèo khổ gây ra trực tiếp bởi các trạm kiểm soát và bức tường làm cản trở việc phát triển về kinh tế cùng sự tự do đi lại. Vấn đề an ninh cho người Do Thái lại là những ǵ liên hệ với công lư cho người Palestine.
Chúng tôi không thi hành quyền lực chính trị, nhưng chúng tôi phổ biến lời kêu gọi luân lư để thực hiện cho một nền ḥa b́nh chân chính. Xin mượn h́nh ảnh được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sử dụng, chúng ta hăy cùng nhau cất những chiếc cầu nối chứ đừng thiết lập những bức tường rào cản. Chúng ta cần phải hoạt động cho một nền ḥa b́nh chân chính nh́n nhận nhân quyền cho tất cả mọi người: an ninh cho người Do Thái; tự do cho người Palestine; hai quốc gia sống động và ba niềm tin sát cánh sống trong ḥa b́nh.
Chúng tôi sẽ khuyến khích các cộng đồng và chính quyền đương nhiệm của chúng tôi trong việc kiến tạo một giải pháp chân chính cho cuộc xung đột này, nhờ đó mỗi cá nhân ở khắp Thánh Địa có thể sống cách xứng đáng và làm trọn khả năng con người của ḿnh. Lần đầu tiên Ban Điều Hợp chúng tôi đến viếng thăm Vương Quốc Hashemite nước Jordan. Chúng tôi đă gặp Vua Abdullah II nước Jordan. Chúng tôi đă bàn đến tầm quan trọng của việc Kitô hữu hiện diện ở Thánh Địa, đến niềm hy vọng về một nền ḥa b́nh chân chính và đến việc vua mời gọi hăy cùng nhau hoạt động. Chúng tôi đă cử hành Thánh Thể với giáo xứ Madaba, viếng thăm các nơi thánh ở Jordan, và biết được nhiều cách thức Giáo Hội Công Giáo phục vụ cả người Hồi Giáo và Kitô Giáo ở Jordan, nhất là về vấn đề giáo dục và việc chăm sóc sức khỏe.
Tính cách sinh động của Giáo Hội Công Giáo địa phương này ở Jordan chứng thực tầm quan trọng của t́nh trạng an ninh, ổn định và tôn trọng nhân quyền và quyền tự do tôn giáo. Cuộc hành hương của chúng tôi mang chúng tôi lên tới đỉnh Núi Nebo, nơi Moisen đă thấy Mảnh Đất Hứa, một mảnh đất chúng tôi nguyện cầu cho một hứa hẹn ḥa b́nh. Từ đó, chúng tôi đă đến viếng thăm địa điểm Chúa Giêsu lănh nhận phép rửa ở Bêthania bên kia sông Dược Đăng, nơi chúng tôi ngỡ ngàng trước sự hiện diện của cả hằng ngàn người hành hương thuộc Giáo Hội Chính Thống.
Chúng tôi nguyện xin để các gịng nước công lư sẽ chảy khắp Mảnh Đất này. T́nh h́nh khó khăn ở Thánh Địa không làm cho chúng tôi lạc quan, nhưng niềm tin tưởng của chúng tôi và việc chúng tôi gặp gỡ giới trẻ khiến chúng tôi hy vọng vào một khởi điểm mới. Chúng tôi nguyện cầu cho việc triển nở Giáo Hội Mẹ ở đây cũng như cho việc phát triển ḥa b́nh trong công lư cho tất cả mọi dân tộc cũng như cho 3 niềm tin ở Mảnh Đấy chúng ta gọi là Thánh này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày
20/1/2006
Bản Tuyên Cáo ngày 12/1/2006 của Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ về Vấn Đề Chuyển Giao Hữu Trách ở Iraq
Về Việc Chuyển Giao Hữu Trách ở Iraq
Bản Tuyên Cáo của Giám Mục Thomas G. Wenski
Giám Mục Orlando
Chủ Tịch Tiểu Ban của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về Chính Sách Quốc Tế
Cuộc Thánh Đố Ở Iraq
Khi chúng ta bắt đầu một năm mới và gần 3 năm sau cuộc khởi chiến th́ t́nh h́nh ở Iraq vẫn c̣n phức tạp, bất ổn và nguy hiểm – đối với nhân dân Iraq, với miền đất ấy, với quốc gia chúng ta, và với nhân viên quân sự của chúng ta. Cái giá phải trả cho cuộc chiến tranh này là những mạng sống bị mất đi và con số bị thương tích c̣n nhiều hơn thế nữa, trong t́nh trạng liên lỉ bạo loạn và nổi loạn, cũng như trong những cuộc đấu tranh từng ngày của nhân dân Iraq để xây dựng tương lai cho một quốc gia tan nát của họ. Hội Đồng giám mục chúng tôi thương khóc cho trên 2.100 những người con nam nữ của đất nước chúng ta cũng như cả hằng chục ngàn người Iraq. Chúng tôi chia sẻ niềm đau với vô số người đă bị thương tật và những ai cuộc sống không bao giờ c̣n được như trước nữa. Có những thành đạt đă được thực hiện. Nhà độc tài đă bị truất phế và các cuộc tuyển cử đă được tổ chức, thế nhưng cũng cần phải công nhận về những cái giá về nhân bản và xă hội đă phải trả cho những thành đạt này nữa.
Không có một con đường nào giản dị hay dễ dàng trước mắt hết. T́nh trạng vững chắc vẫn là những ǵ mong manh, và các nỗ lực tái thiết vẫn là những ǵ bấp bênh, hụt hẫng và thường bị suy yếu bởi việc thiếu an ninh. Hội Đồng của chúng tôi cảm thấy phấn khởi trước ḷng can đảm và quyết tâm của rất nhiều người Iraq đă bỏ phiếu trong cuộc tuyển cử quốc hội mới đây. Chúng tôi hy vọng cuộc tuyển cử này sẽ là một bước tiến quan trọng, thế nhưng mọi người đều nhận thấy rằng cuộc tuyển cử ấy chỉ cho thấy đó mới là một bước tiến trên con đường dài phải đi mà thôi.
Là những giám mục và là mục tử, chúng tôi t́m cách cống hiến một số những ư nghĩ về luân lư hầu giúp phần vào việc hướng dẫn quốc gia của chúng ta trên con đường khó khăn trước mắt. Chúng tôi công nhận rằng con người thành tâm thiện chí có thể bất đồng với những phán đoán khôn ngoan chuyên biệt do chúng tôi cống hiến, nhưng truyền thống tôn giáo của chúng tôi kêu gọi chúng tôi hăy chiếu sáng đức tin cùng với giáo huấn về xă hội của Giáo Hội nơi những chiều kích luân lư liên quan tới những quyết định tương lai cần phải thực hiện. Chúng tôi hy vọng những ư nghĩ của chúng tôi đây sẽ góp phần vào việc đối thoại nghiêm cẩn và dân sự của quốc gia, hầu giúp đất nước chúng ta có thể phác họa ra một con đường tiến tới có thể đáp ứng được những chiều kích về luân lư và nhân bản của t́nh h́nh ở Iraq.
Cuộc Thánh Đố Đối Thoại
Hội Đồng Giám Mục chúng tôi tiệc rằng những cuộc bàn luận về vấn đề Iraq rất hay
thường dẫn tới những cuộc tranh căi vô hiệu quả là những ǵ bị đánh dấu bởi phân
hóa và bởi chủ trương chính trị từ nhiều phía. Tất cả cần phải nh́n nhận rằng
việc nói lên các vấn đề liên quan tới những quyết định dẫn chúng ta tới cuộc
chiến, cũng như về hành vi của chiến tranh cùng với hậu quả của nó, đều là những
ǵ cần thiết và là những ǵ ái quốc. Cũng cần phải bàn đến những vấn đề này một
cách khéo léo để việc suy tư cần thiết và cẩn thận cân nhắc không bị lọt vào
những cuộc tấn công và phản công. Trái lại, quốc gia của chúng ta cần phải thực
hiện những cuộc bàn luận thận trọng và dân sự về những giải pháp nhấn mạnh tới
việc hoạch định vấn đề chuyển nhượng hữu trách ở Iraq. Hội Đồng của chúng tôi hy
vọng rằng bản tuyên cáo này có thể góp phần vào một cuộc đối thoại như thế.
V́ có quá nhiều nguy cơ xẩy ra cho Iraq, cho quốc gia của chúng ta, cho miền đất ấy cũng như cho thế giới của chúng ta, mà đất nước của chúng ta không thể để cho những thứ biện minh của những chủ trương trong quá khứ và những cuộc tấn công nhau về đảng phái thay thế cho cuộc tranh luận thực sự, khả thủ, trân trọng và dân sự. Cuộc đối thoại không tiến triển khi gặp khó khăn về những động lực đối thoại hay về tính cách liêm chính của nhau, hoặc khi tỏ ra quá coi thường những thách đố chúng ta đang phải đối diện đương đầu.
Ngày nay, có một số người thực sự không thấy ǵ là tiến triển ở Iraq cả và lập luận về một cuộc triệt thoái mau chóng theo sách lược. Những người khác lại thấy hết sức tiến bộ và kêu gọi hăy kiên tŕ tiếp tục can thiệp vào nội cuộc. Hội Đồng Giám Mục chúng tôi bác bỏ bất cứ thẩm định nào quá bi quan hay quá lạc quan về thực tại này. Quốc gia của chúng ta không thể chấp nhận một cuộc tranh căi om ṣm và nông nổi làm méo mó đi cái thực tại ấy và biến những giải pháp chọn lựa ngược nghịch giữa “bỏ chạy” với “cố thủ”. Thay vào đó, chúng ta cần thực hiện một cuộc bàn luận thẳng thắn, được bắt đầu bằng một thẩm định thành thực về t́nh h́nh ở Iraq, và nh́n nhận cả những lỗi lầm chúng ta vấp phạm lẫn những dấu hiệu hy vọng vươn lên. Vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ, cuộc thẩm định chân thành về các thứ trách nhiệm luân lư của chúng ta đối với Iraq phải là những ǵ khiến cho quốc gia của chúng ta dấn thân thực hiện một chính sách chuyển giao hữu trách.
Cuộc Thánh Đố Về Luân Lư
Vấn đề đă quá rơ là Hội Đồng giám mục chúng tôi nhiều lần từng bày tỏ những mối
quan tâm hệ trọng về luân lư đối với việc can thiệp bằng quân sự ở Iraq cùng với
các hậu quả khôn lường bất khả chế ngự có tính cách tiêu cực của một cuộc xâm
chiếm và chiếm đóng. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Ṭa Thánh Vatican cũng đă
mạnh mẽ bày tỏ những mối quan tâm như vậy. Những biến cố trong 3 năm qua, việc
thiếu vắng chứng cớ về các thứ vũ khí đại công phá cùng với t́nh trạng liên tục
bạo loạn và bất ổn ở Iraq đă tái khẳng định những mối quan tâm đạo lư này. Theo
chiều hướng của những qui chuẩn luân lư về truyền thống chiến tranh chính đáng,
Hội Đồng chúng tôi vẫn hết sức ngờ vực về quan điểm của một “thứ chiến tranh
pḥng bệnh”. V́ Cuốn Tổng Luận Giáo Huấn Xă Hội của Giáo Hội đă viết: “Việc dấn
thân vào một thứ chiến tranh pḥng bệnh mà không có chứng cớ rơ ràng cho thấy
cần phải thực hiện một cuộc tấn công cấp thời th́ không khỏi gây ra những vấn đề
nghiêm trọng về luân lư và pháp lư” (Pontifical Council for Justice and Peace,
Compendium of the Social Doctrine of the Church [2004], no. 501).
Đồng thời quốc gia của chúng ta cũng không thể nào chỉ nh́n lại mà thôi. Giờ đây chúng ta cần phải nh́n chung quanh và nh́n về phía trước nữa. Việc nhúng tay vào Iraq đă mang đến một loạt trách nhiệm mới về luân lư trong việc giúp nhân dân Iraq sống an ninh và tái thiết quê hương của họ, cũng như trong việc giải quyết các hậu quả của cuộc chiến này gây ra cho miền đất ấy cũng như cho thế giới. Vấn đề luân lư chính yếu ở đây không phải chỉ là vấn đề thời điểm triệt thoái, mà là vấn đề bản chất cũng như mức độ của việc Hoa Kỳ và quốc tế tham phần vào việc chuyển giao một cách hữu trách hầu mang lại an ninh và vững chắc cho nhân dân Iraq.
Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói sau khi xẩy ra chiến tranh Iraq như sau:
“Việc Ṭa Thánh đă thực hiện nhiều nỗ lực để tránh xẩy ra cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Iraq là những ǵ đă quá rơ ràng. Ngày nay, vấn đề là ở chỗ cộng đồng quốc tế giúp cho nhân dân Iraq, sau khi được thoát khỏi chế độ đàn áp, được sống trong một điều kiện có thể tái quản trị lấy xứ sở của ḿnh, củng cố chủ quyền của ḿnh và quyết định thể chế chính trị và kinh tế một cách dân chủ theo ḷng mong ước của họ, nhờ đó, Iraq một lần nữa trở thành một đồng bạn uy tín trong Cộng Đồng quốc tế” (Pope John Paul II, Address to the Diplomatic Corps, January 12, 2004).
Thánh Đố của một Cuộc Chuyển Giao Hữu Trách
Các lực lượng quân sự của chúng ta chỉ lưu lại ở Iraq bao lâu việc chuyển giao hữu trách này cần thiết, triệt thoái sớm hơn là muộn. Chúng tôi hoan nghênh những tin tức mới đây tường tŕnh rằng mức độ quân nhân sẽ được giảm bớt khi người Iraq đảm nhiệm hơn nữa trách nhiệm cho nền an ninh của họ. Thế nhưng, Hiệp Chủng Quốc thậm chí cũng cần phải tỏ ra minh bạch hơn cho thấy rằng mục đích của chính sách Hoa Kỳ là để giúp nhân dân Iraq nắm trọn quyền kiểm soát chính quyền của họ, chứ không phải chiếm đóng quốc gia này trong một thời gian vô hạn định. Chẳng hạn như chính quyền của chúng ta tuyên bố rằng việc hiện diện của nhân viên quân sự và của các khu quân sự Hiệp Chủng Quốc cần phải là những ǵ do người Iraq quyết định liên quan tới nhu cầu và chủ quyền của nhân dân Iraq.
Bất chấp những lỡ làng trong quá khứ và những khó khăn trong hiện tại, quốc gia của chúng ta rất cần phải t́m kiếm việc hỗ trợ và tham dự rộng răi của quốc tế trong việc ổn định hóa và tái thiết Iraq. Công việc này là một việc làm khó khăn, thế như nó vẫn là việc cần thiết. Việc bảo đảm được quốc tế hỗ trợ một cách rộng răi và sâu đậm là những ǵ sẽ củng cố tính cách hợp pháp và hiệu năng cho các nỗ lực của quốc gia chúng ta, thế nhưng nó cũng đ̣i phải cống hiến cho các đồng bạn và đồng minh quốc tế một tiếng nói thực sự cùng với những trách nhiệm thực sự. Việc chuyển giao một số trách nhiệm và quyền kiểm soát hoạt động của tiến tŕnh ổn định và tái thiết cho một thực thể quốc tế khả dĩ hơn, hoạt động sát cánh với nhân dân Iraq, đ̣i hỏi Hiệp Chủng Quốc vừa phải cung cấp việc hỗ trợ về tài chính và quân sự vừa phải nhượng một số quyền kiểm soát cho người khác.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói với Tổng Thống Bush năm 2004 như sau:
“Mọi người đều rơ ràng mong muốn là giờ đây t́nh h́nh này được b́nh thường hóa sớm bao nhiêu có thể với sự tham dự chủ động của cộng đồng quốc tế, và nhất là Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm việc mau chóng trả về cho Iraq chủ quyền của họ, trong những điều kiện an ninh cho toàn dân nước này” (Pope John Paul II, Address to President Bush, June 4, 2004).
Việc chuyển giao một cách hữu trách ở Iraq có nghĩa là thiết lập một loạt những chuẩn mức căn bản, bao gồm những điều sau đây:
- Đạt được mức độ an ninh thích hợp;
- Thiết lập qui tắc luật lệ;
- Phát động việc tái thiết kinh tế để giúp tạo lập được mức độ hữu lư về công ăn việc làm và cơ hội kinh tế; và
- Nâng đỡ việc phát triển các cấu trúc chính trị trong vấn đề gia tăng tính cách bền vững, việc tham gia chính trị và tôn trọng quyền tự do tôn giáo cùng các thứ nhân quyền.
Theo giáo huấn Công Giáo về xă hội th́ ḥa b́nh không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh; nó được xây dựng trên nền tảng công lư. Ḥa b́nh bao gồm việc bênh vực nhân quyền, theo đuổi việc phát triển toàn diện con người và việc phát động công ích (See the Compendium of the Social Doctrine of the Church, nos. 494-495). Đức Thánh Cha của chúng tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XVI mới đây đă viết như sau:
“Ḥa b́nh như thế được thấy theo chiều hướng mới: không phải như là t́nh trạng không xẩy ra chiến tranh, là là một cuộc chung sống hài ḥa giữa người công dân trong một xă hội được công lư ngự trị, một xă hội mà trong đó sự thiện cũng được chiếm hữu bao nhiêu có thể cho mỗi người công dân” (Pope Benedict XVI, World Day of Peace Message (January 1, 2006), no. 6).
Giáo Hội Công Giáo có một kinh nghiệm đáng kể và gia tăng trong việc nuôi dưỡng việc xây dựng ḥa b́nh hậu chiến và việc ḥa giải ở các miền đất khác nhau trên thế giới, bao gồm cả ở Phi Luật Tân, Nam Phi, Burundi, Mazambique, Guatemala, the Balkans và các nơi khác. Các vị lănh đạo Giáo Hội và những tổ chức của Giáo Hội đă hỗ trợ nhiều người tiến bước trên con đường khổ đau nhưng cần thiết cho nền ḥa b́nh hậu chiến và bạo lực. Kinh nghiệm này của Giáo Hội và của những người khác có thể giúp hiểu biết về công cuộc khó khăn để xây dựng ḥa b́nh sau chiến tranh ở Iraq.
Những Thách Đố Đặc Biệt Cho Việc Chuyển Giao Hữu Trách
Hội Đồng giám mục chúng tôi tin rằng quốc gia của chúng ta và nhân dân Iraq đang phải đương đầu đối diện với một số những thách đố đặc biệt xuất phát từ t́nh h́nh phức tạp, bất ổn và nguy hiểm ở Iraq. Những thách đố này bao gồm:
- Nạn khủng bố và việc chúng ta chống khủng bố;
- Việc vi phạm nhân quyền của những người bị các lực lượng Hoa Kỳ và Iraq giam giữ;
- Những mối đe dọa về quyền tự do tôn giáo và về thành phần thiểu số tôn giáo ở Iraq;
- Cảnh khốn cực của thành phần tị nạn; và
- Việc đáp ứng các trách nhiệm khác của quốc gia chúng ta.
Bạo động và khủng bố: Hội Đồng chúng tôi đồng ḷng lên án tất cả mọi cuộc khủng bố tấn công, nhất là những cuộc khủng bố tấn công thành phần dân sự. Chúng tôi xin lập lại giáo huấn của Đức Thánh Cha chúng tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XVI: “Ngày nay, ḥa b́nh chân chính tiếp tục bị tổn thương và loại trừ một cách thảm thương bởi nạn khủng bố, một nạn khủng bố thực hiện những mối đe dọa và các cuộc tấn công gây tội ác làm cho thế giới ở trong một t́nh trạng sợ hăi và mất an ninh” (Pope Benedict XVI, World Day of Peace Message [January 1, 2006], no. 9). Việc sử dụng vơ lực không bao giờ chính đáng khi nó không biết phân biệt giữa thành phần chiến đấu và thành phần không chiến đấu trong cuộc xung đột.
Hội Đồng chúng tôi đồng thời cũng xin lập lại là không thể nào chiến đấu với nạn khủng bố chỉ bằng phương pháp quân sự mà thôi, thậm chí cho dù theo nguyên tắc đi nữa. Tiểu Ban Điều Hành Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đă cảnh giác vào năm 2002 như sau:
Cuộc “chiến về khủng bố” này cần phải được chiến đấu với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và chính yếu bằng phương tiện phi quân sự, như ngăn chặn các nguồn lợi cho việc khủng bố, ngăn chặn việc tuyển mộ khủng bố, và ngăn chặn các cơ hội thực hiện các hành động ác độc của họ… V́ chúng ta đương đầu với các hành động ác độc bất khả biện minh mà “cuộc chiến về khủng bố” này không được làm cho chúng ta bị lạc hướng trong việc dấn thân khả thủ để chế ngự t́nh trạng bần cùng, xung đột và bất công, nhất là ở Trung Đông và thế giới đang phát triển, nơi có thể trở thành mảnh đất ph́ nhiêu cho nỗi thất vọng và nạn khủng bố hoành hành. (Administrative Committee, United States Conference of Catholic Bishops, Statement on the Anniversary of September 11th, September 10, 2002).
Trong công việc đương đầu một cách chới với và nguy hiểm với những kẻ khủng bố, thành phần khủng bố giờ đây đă lọt vào và đang hoạt động ở Iraq, đất nước của chúng ta cần phải coi chừng những phản ứng quá hung hăng và quân sự bất khôn gây nguy hại cho thường dân, v́ thế làm suy yếu đi việc chinh phục các tâm trí đang chỉ trích cuộc chiến đấu dài hạn với thành phần khủng bố và nổi loạn. Truyền thống luân lư của chúng tôi nhấn mạnh rằng việc sử dụng lực lượng quân sự cần phải là những ǵ tương xứng và biệt phân. Khi cần phải có những phản ứng về quân sự theo sách lược, chúng ta không bao giờ được quên rằng cuộc chiến đấu càng rộng lớn với nạn khủng bố, cùng với những đ̣i hỏi căn bản về luân lư của chúng ta và những trách nhiệm về pháp lư của chúng ta, là những ǵ đ̣i phải tôn trọng nhân quyền.
Chúng ta cần phải nghe lời cảnh giác của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Sứ Điệp Cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới Năm 2002 sau đây:
“Việc hợp tác quốc tế trong cuộc chiến đấu chống các hoạt động khủng bố cũng cần phải bao gồm cả việc dấn thân can đảm và dứt khoát về chính trị, ngoại giao và kinh tế để làm giảm thiểu các trường hợp áp bức và loại trừ nhau là những ǵ dể đưa đến những mưu đồ khủng bố. Việc tuyển mộ thành phần khủng bố thật sự trở nên dễ dàng ở những nơi nhân quyền bị chà đạp và bất công được dung túng trong một thời gian lâu dài” (John Paul II, 2002 World Day of Peace Message [January 1, 2002], no. 5).
Cần phải phân biệt giữa sách lược của các cuộc khủng bố tấn công là những ǵ không bao giờ được gọi chính đáng với những mối quan tâm về chính trị gây ra t́nh trạng nổi loạn. Để giảm bớt việc hỗ trợ thông dụng cho t́nh trạng nổi loạn, rất cần phải giúp kiến tạo nên một chỗ đứng chính trị quan trọng cho phái Sunni và việc tham phần vào Iraq của thành phần thiểu số.
Nhân Quyền: Theo chiều hướng của những bản tường tŕnh quan ngại và liên tục về các việc liên miên vi phạm các thứ nhân quyền của những người đang bị giam giữ bởi quân đội Hoa Kỳ, và những bản tường tŕnh mới nhất về những lạm dụng tương tự bởi các lực lượng Iraq mới tái thiết, Hội Đồng giám mục chúng tôi, một lần nữa, hết sức xin ra tay ngay việc chấm dứt các thứ vi phạm ấy, ngăn ngừa những tái diễn trong tương lai và điều tra xem nguyên do của nội vụ. Việc lạm dụng và hành hạ thành phần bị giam nhốt là những ǵ vi phạm tới nhân quyền. Những hành động này đồng thời cũng làm suy yếu đi cuộc chiến đấu chống khủng bố và những quan điểm về một cuộc chuyển giao hữu trách ở Iraq. Việc lạm dụng này gây tai tiếng cho uy tín luân lư của đất nước chúng ta và tác hại tới khả năng đất nước chúng ta chiếm được sự hỗ trợ của dân chúng ở các quốc gia khác, những nơi cần ủng hộ cho những cuộc chiến đấu ở Iraq và chống lại nạn khủng bố toàn cầu. Việc bênh vực các thứ nhân quyền căn bản của thành phần bị giam nhốt cũng là những ǵ có thể củng cố cho việc chúng ta muốn nhân viên quân sự của chúng ta bị bắt được đối xử một cách nhân đạo nữa.
Quốc gia của chúng ta cần phải sống trọn việc Hiến Pháp của chúng ta cấm thực hiện việc trừng phạt dă man và dị thường, và gắn bó với Những Công Ước Geveva năm 1949 và Công Ước Chống Hành Hạ Và Những Hành Động Tàn Ác Khác, Việc Đối Xử Hoặc Trừng Phạt Phi Nhân Hay Hạ Nhục năm 1984. Là một nước lănh đạo thế giới, quốc gia của chúng ta cần phải làm gương trong việc gắn bó với những chuẩn tắc quốc tế. Đó là những lư do Hội Đồng chúng tôi đă ủng hộ những nỗ lực của Quốc Hội trong việc cấm đoán việc đối xử hay trừng phạt dă man, phi nhân và hạ nhục con người cũng như trong việc đưa ra những tiêu chuẩn đồng loạt về việc chất vấn những ai bị Bộ Pḥng Vệ giam giữ. Hội Đồng của chúng tôi cũng ủng hộ dự thảo chỉ định một viên chức đặc biệt về nhân quyền cho Ṭa Lănh Sự Hoa Kỳ ở Baghdad.
Mới đây Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă khẳng định tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế và kêu gọi tất cả mọi quốc gia hăy tuân giữ những đ̣i hỏi của nó. Trong Sứ Điệp cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 2006, Đức Thánh Cha đă tuyên bố rằng:
“Ḥa b́nh đích thực cũng cần phải chiếu giăi ánh sáng thiện hảo của ḿnh ra thậm chí ngay giữa thảm trạng chiến tranh. Các vị Nghị Phụ của Công Đồng Chung Vaticanô II, trong Hiến Chế Mục Vụ ‘Vui Mừng và Hy Vọng’, đă vạch ra rằng ‘không phải là mọi sự đều tự động được phép hành động giữa đôi bên hận thù nhau một khi chiến tranh bùng nổ một cách đáng tiếc’ (khoản 79). Là phương tiện giới hạn bao nhiêu có thể những hậu quả tàn hại của chiến tranh gây ra, nhất là cho thành phần dân sự, cộng đồng thế giới đă thiết lập một khoản luật nhân đạo quốc tế. Ở các trường hợp khác nhau cũng như nơi các môi trường khác nhau, Ṭa Thánh đă bày tỏ việc ủng hộ của ḿnh về khoản luật nhân đạo này, và đă yêu cầu tôn trọng nó và mau mắn áp dụng nó, v́ Ṭa Thánh xác tín rằng sự thật của ḥa b́nh hiện hữu thậm chí ngay cả giữa chiến tranh nữa” (khoản 7).
Quyền tự do tôn giáo bao gồm nhiều quyền lợi; nó không thể bị giới hạn vào quyền tự do cử hành các lễ nghi về tôn giáo hay tự do thờ phượng mà thôi. Quyền tự do tôn giáo cần phải bao gồm cả quyền thực hành đức tin tôn giáo riêng tư hay với nhau, nơi riêng tư cũng như công khai; cả quyền được chiếm hữu và có tài sản; quyền được giáo dục con cái theo niềm tin tưởng của ḿnh; và quyền được thiết lập các tổ chức tôn giáo, như học đường, bệnh viện cùng các cơ quan bác ái. Quyền tự do tôn giáo cũng là quyền liên hệ trực tiếp tới các quyền khác nữa, như quyền tự do nói năng và quyền tự do hiệp hội, nhờ đó thành phần tín ngưỡng có thể tự do chia sẻ tư tưởng cùng hành động nơi quần chúng. Một Iraq thực sự dân chủ cần phải tiếp tục thích ứng với các thành phần thiểu số tôn giáo, nhất là Kitô Giáo của ḿnh.
Tị Nạn: Cuộc chiến tranh này cùng với t́nh trạng bất ổn ở Iraq đă gây ra một làn sóng đáng kể thành phần di cư từ Iraq, nhất là trong số Kitô hữu và các thành phần thiếu số tôn giáo khác là những người đang bị tấn công và kỳ thị. Đức Thượng Phụ Lễ Nghi Chaldean là Emmanuel-Karim Delly ở Baghdad đă van xin các chính quyền Tây Phương hăy bảo vệ những người tị nạn Iraq. Ngài nhận thấy rằng cho dù ngài có hy vọng dân chúng ở lại Iraq, ngài cũng phải thông cảm v́ trường hợp dân chúng phải ra đi khi “con cái bị bắt cóc hay sát hại, khi không c̣n an ninh, không có ḥa b́nh” (Catholic News Service, "Chaldean patriarch says nations should not turn away fleeing Iraqis," October 17, 2005x). Hội Đồng chúng tôi tha thiết xin Hiệp Chủng Quốc và cộng đồng quốc tế hăy nâng đỡ và chú trọng hơn nữa tới t́nh trạng khốn khổ của thành phần dân chúng Iraq tị nạn và t́m nơi an trú. Chúng tôi vẫn cho rằng chính sách của Hiệp Chủng Quốc đối với thánh phần dân chúng Iraq tị nạn và t́m nơi an trú rất ư là hạn hẹp.
Hội Đồng chúng tôi kêu gọi Hiệp Chủng Quốc hăy bảo vệ thành phần dân chúng Iraq tị nạn và t́m nơi an trú, bao gồm cả Kitô hữu và các người thiểu số tôn giáo khác đang trốn chạy khỏi Iraq. Đặc biệt chúng tôi kêu gọi chính quyền này hăy (1) chú trọng tới thành phần dân chúng Iraq thiểu số về tôn giáo như là một nhóm đáng được quan tâm cách riêng trong vấn đề quyết định cho họ được hưởng quyền tái định cư của người tị nạn, (2) loại trừ những hạn chế hiện thời về vấn đề hợp lệ cho việc đoàn tụ gia đ́nh nơi chương tŕnh thu nhập người tị nạn, (3) cung cấp tiến tŕnh tị nạn khẩn trương mau chóng trực tiếp từ Iraq đối với những trường hợp đặc biệt nguy hiểm, và (4) cẩn thận cứu xét những yêu cầu của thành phần dân chúng Iraq muốn t́m nơi an trú, nhất là những thành phần thiểu số về tôn giáo cũng như các cá nhân khả nguy khác, và không loại trừ những yêu cầu muốn t́m nơi an trú của họ v́ cho rằng có những điều kiện cho phép an toàn trở về Iraq.
Những Trách Nhiệm Khác của Hiệp Chủng Quốc: Cuộc xung đột quá đắt giá ở Iraq đ̣i phải thực hiện một cuộc dấn thân chính yếu về các nguồn nhân lực và tài chính, thế nhưng Iraq không thể nào trở thành cái cớ để bỏ qua những nhu cầu khẩn trương khác ở nhà và hải ngoại, nhất là các thứ trách nhiệm về luân lư của chúng ta đối với thành phần nghèo nơi xứ sở của chúng ta cũng như ở các quốc gia đang phát triển. Hội Đồng của chúng tôi lập lại rằng nhu cầu cần bảo vệ thành phần nghèo ở nhà cũng như ở hải ngoại cần phải là những ưu tiên của đất nước chúng ta. Chúng tôi đă nhận định trong bức thư Hội Đồng chúng tôi gửi Quốc Hội vào Tháng Hai 2005:
Là những mục tử, chúng tôi tin rằng mức độ căn bản về luân lư nơi chính sách tài trợ của quốc gia chúng ta một là nâng cao hai là hạ cấp đời sống và phẩm vị của những người thiếu thốn nhất. Tiếc thay, áp lực chính trị thường lăng quên những trẻ em và các gia đ́nh nghèo trong cuộc bàn căi về đất nước và không có chỗ đứng nơi bàn họp. Quốc gia của chúng ta cần thực hiện một cuộc dấn thân lưỡng đảng thực sự trong việc chú trọng tới công ích của tất cả mọi người, cũng như tới các nhu cầu đặc biệt của thành phần nghèo và yếu thế nói riêng. Đây là những lúc khó khăn. Có ít chọn lựa dễ dàng. Thế nhưng có một số chọn lựa “đúng đắn”. Trong thời chiến, thời chồng chất bội chi và gia tăng các thứ nhu cầu, thành phần lănh đạo quốc gia của chúng ta cần phải bảo đảm có đầy đủ nguồn lợi thích đáng để bảo vệ những ai nghèo khổ và yếu thế cả ở quốc nội lẫn khắp nơi trên thế giới (Bishop William S. Skylstad, Letter to Congress on FY 2006 Budget Priorities, February 15, 2005).
Quan Tâm Mục Vụ đối với Nhân Viên Quân Sự Hoa Kỳ
Là các giám mục, chúng tôi muốn đặc biệt nói về việc chăm sóc và quan tâm cho các phần tử quân sự của chúng ta cũng như gia đ́nh của họ đang trăn trở giữa cuộc xung đột kinh hoàng này. Chúng tôi cũng khẳng định công việc hết sức quan trọng của những vị tuyên úy quân đội. Họ nhân danh Giáo Hội góp phần vào việc mục vụ quan trọng. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI mới đây đă nhắc lại giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II là “những ai nhập ngũ đệ phục vụ quê hương của ḿnh cần phải coi ḿnh như thành phần canh giữ an ninh và tự do”, và như những đóng góp viên vào “việc thiết lập ḥa b́nh”. Ngài tiếp tục “khuyến khích cả những Vị Bản Quyền quân đội và tuyên úy quân đội, trong mọi trường hợp và hoàn cảnh, hăy trung thành làm người rao giảng ḥa b́nh đích thực” (Pope Benedict XVI, World Day of Peace Message [January 1, 2006], no. 8).
Hội Đồng chúng tôi muốn làm sáng tỏ vấn đề. Khi nêu lên những vấn đề hệ trọng về luân lư liên quan tới việc quyết định xâm chiếm Iraq không phải là chúng tôi muốn chất vấn tính cách liêm chính về luân lư của những ai phục vụ trong quân đội. Khi bày tỏ những vấn đề về luân lư liên quan tới việc đối xử các tù nhân hay thành phần tạm giam giữ của Hoa Kỳ không phải là chúng tôi đặt vấn đề về tính cách chuyên chính của đại đa số những ai đang tại ngũ ở hiện trường. Thật vậy, việc hỏi những vấn đề khó khăn là một nhiệm vụ ái quốc và luân lư cho thấy các thứ giá trị của chúng ta và mang lại lợi ích nhất cho đất nước của chúng ta cũng như cho những ai hân hạnh phục vụ nó.
Cẩn Trọng và Hy Vọng
Hội Đồng chúng tôi vẫn đang tiếp tục đối thoại với các vị hoạch định chính sách Hoa Kỳ về Iraq. Chúng tôi đă bày tỏ mối quan tâm quan hệ về luân lư liên quan tới “thứ chiến tranh pḥng ngừa”, đă nhận định những trách nhiệm mới về luân lư mà quốc gia của chúng ta đă chấp nhận ở Iraq, đă tranh đấu bảo vệ quyền tự do tôn giáo ở Iraq, đă ủng hộ những nỗ lực giải quyết việc lạm dụng thành phần tù nhân và thành phần bị quản thúc, đă chia sẻ những yếu tố về luân lư của một “thứ chuyển giao hữu trách”, và đă t́m cách đóng góp vào cuộc bàn luận nghiêm cẩn và dân sự liên quan tới đường lối chuyển giao ở Iraq (điển h́nh là “Cuộc Hội Luận Đạo Lư về Chiến Tranh Hậu 9/11 và Iraq” được tổ chức ngày 11/11/2005 ở Đại Học Georgetown). Chúng tôi biết rằng những lời phát biểu này không đủ. Đă đến lúc cần phải chia sẻ chung để ra tay hành động.
Đất nước của chúng ta đang đứng giữa ngă ba đường ở Iraq. Chúng ta cần phải tránh hai chiều hướng làm méo mó thực tại và hạn chế những đáp ứng thích đáng. Chúng ta cần phải chống lại chiều hướng bi quan có thể đẩy quốc gia chúng ta đến chỗ loại bỏ các thứ trách nhiệm về luân lư nó đă chấp nhận trong việc sử dụng vơ lực và có thể xui khiến chúng ta rút lui khỏi Iraq một cách hấp tấp bất kể đến những hậu quả về luân lư và nhân bản. Chúng ta cần phải loại trừ chiều hướng lạc quan đến độ không nh́n nhận những lầm lỗi rơ ràng trong quá khứ, lỗi lầm về vấn đề t́nh báo thất bại, cũng như lỗi lầm về vấn đề hoạch định thất sách về Iraq, và coi nhẹ những thách đố trầm trọng cùng với những tổn hại về con người trước mắt.
Trái lại, đất nước của chúng ta cần phải tác hành theo chiều hướng thực tiễn có tính cách xây dựng và khôn ngoan giúp chúng ta rút kinh nghiệm quá khứ và tiến về tương lai. Thành phần phác họa chính sách và công dân cần phải tự ư đặt ra những vấn nạn khó khăn về luân lư liên quan tới thứ chiến tranh pḥng ngừa và học lấy kinh nghiệm của ḿnh ở Iraq. Khẩn trương hơn là vấn đề quốc gia của chúng ta cần phải thực hiện một cuộc đối thoại nghiêm cẩn và dân sự để tiến bước trên con đường khó khăn hướng tới một việc chuyển giao hữu trách t́m cách giúp nhân dân Iraq đảm nhận trách nhiệm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho họ – một tương lai góp phần cho nền ḥa b́nh trong và ngoài miền đất này. Cuộc đối thoại đất nước này cần phải được bắt đầu bằng việc t́m kiếm “sự thật” về chỗ đứng của chúng ta ở Iraq, chứ không phải việc t́m kiếm lợi ích chính trị hay những biện minh cho các chủ trương trong quá khứ.
Bằng việc thiết tha với tính cách
chân thành cần cho cuộc đối thoại đích thực t́m kiếm con đường dẫn đến nền ḥa
b́nh chân chính ở Iraq, quốc gia của chúng ta đang nỗ lực t́m kiếm “ḥa b́nh
trong chân lư”. Đức Thánh Cha của chúng tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă chia
sẻ về đề tài này trong Sứ Điệp cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 2006. “Ḥa b́nh trong
chân lư” là một đề tài “diễn đạt niềm xác tín là bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào
nếu con người nam nữ được soi động bởi ánh quang chân lư, th́ họ tự nhiên mới
bắt đầu tiến bước trên con đường ḥa b́nh” (Pope Benedict XVI, World Day of
Peace Message [January 1, 2006], no. 3)