Mặt Trời Khổ Ải” (De Labore Solis): Đức Gioan Phaolô II

Vinh Quang Oliu” (Gloria Olivae): Giáo Hoàng Biển Đức XVI

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, viết cho ngày kỷ niệm đầy năm 19/4/2005-2006 vị tân Giáo Hoàng được tuyển bầu 

 

 

Vào đầu tháng 4 năm ngoái 2005, tức vào ngày Thứ Bảy 2/4, cả thế giới đă chứng kiến thấy cảnh một vị Giáo Hoàng đi khắp thế giới qua 104 chuyến tông du của ḿnh vĩnh viễn nằm xuống ở vào tuổi gần 85, sau 26 năm rưỡi làm giáo hoàng, và sau mấy tháng cuối đời bị kịch bệnh. Sau đó, vào Thứ Sáu 8/4, chỉ một tuần lễ sau, thế giới đă chứng kiến thấy một lễ an táng vĩ đại chưa từng thấy, đông đảo chưa từng thấy và nhất là vui tươi hớn hở chưa từng thấy, tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Thế rồi, vào ngày Thứ Hai 18/4 sau đó 10 ngày, thế giới hồi hộp theo dơi Mật Nghị Hồng Y bầu tân giáo hoàng. Chỉ sau một ngày, tức vào chiều ngày 19/4, thế giới đă ngỡ ngàng sửng sốt thấy một vị hồng y già lăo có vẻ rất truyền thống và nghiêm ngặt được bầu làm Giáo Hoàng, đó là đức hồng y Đức quốc Joseph Ratzinger, 78 tuổi. Nhưng dù có bị thế giới truyền thông và trí thức Công Giáo lên tiếng mỉa mai chỉ trích đủ thứ với những giọng điệu đầy tiêu cực và yếm thế, vị tân Giáo Hoàng cũng đă chính thức đăng quang vào Chúa Nhật 24/4.

 

Sau mấy tháng làm giáo hoàng của vị thừa kế Đức Gioan Phaolô II, truyền thông vốn ồn ào về vị tân giáo hoàng này đă hoàn toàn im hơi lặng tiếng trước những ǵ ngài âm thầm làm, và làm một cách không thể ngờ được. Chẳng hạn, nếu danh hiệu Giáo Hoàng Biển Đức được ngài chọn đă làm riêng Giáo Hội và chung thế giới lấy làm lạ lùng thế nào, th́ việc ngài ban hành bức thông điệp đầu tay của ngài vào ngày 25/1/2006, Lễ Thánh Phaolô trở lại, một bức thông điệp hầu như lạc đề trước một thế giới đầy những vấn đề nóng bỏng về luân lư, cũng làm cho người ta cảm thấy nơi ngài h́nh như có một cái ǵ đó khác thường. Thế giới truyền thông như bị tẩu hỏa nhập ma không biết nói sao về ngài nữa. Thật ra, nếu họ biết chú ư tới dấu chỉ thời đại, họ sẽ thấy ngài và vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II có một mối liên hệ chặt chẽ thiên định liên quan tới vận mệnh thế giới.

 

Thật vậy, Nhị Vị Giáo Hoàng của chúng ta là Gioan Phaolô II và Biển Đức XVI có một mối liên hệ sâu xa theo Quan Pḥng Thần Linh liên quan đến lịch sử thế giới hiện đại. Theo sấm truyền nổi tiếng (được phổ biến từ năm 1559) của vị Thánh Tổng Giám Mục Ái Nhĩ Lan được gọi là tiên tri Malachy (1095-1148) th́ sau Đức Gioan Phaolô I, làm Giáo Hoàng 33 ngày, vị Giáo Hoàng được tiêu biểu như “nửa vầng trăng” (De Medietate Lunae), chỉ c̣n 3 đời giáo hoàng nữa là tới ngày cùng tháng tận của thế giới.

 

Vậy phải chăng Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng đă đạt tới tột đỉnh vinh quang trong lịch sử Giáo Hội cũng là vị Giáo Hoàng bị ám sát hụt và chết một cách hết sức đớn đau, là “Mặt Trời Khổ Ải” (De Labore Solis), và Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị chủ trương ưu tiên thực hiện Đại Kết Kitô Giáo và Ḥa B́nh Thế Giới, là “Vinh Quang Oliu” (Gloria Olivae)?

 

Nếu Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng xuất thân từ một nước Cộng Sản Balan đă được bất ngờ sai đến để làm Bức Tường Bá Linh ở Đức tiêu biểu cho cuộc phân rẽ Âu Châu sụp đổ, th́ phải chăng Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị Giáo Hoàng xuất thân từ Đức Quốc, một quốc gia đă gây ra 2 Thế Chiến ở Âu Châu trong thế kỷ 20, cũng là một nước đă xuất phát phong trào Thệ Phản Tin Lành từ thế kỷ 16, cũng được sai đến cho một Âu Châu Hiệp Nhất bằng cuộc Đại Kết của Kitô Giáo?

 

Năm 2017, 11 năm nữa, thời điểm kỷ niệm đúng 500 năm Phong Trào Thệ Phản Tin Lành, cũng đúng là năm kỷ niệm 100 năm Biến Cố Fatima, phải chăng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên?

 

Nếu Bí Mật Fatima phần thứ ba tiết lộ cho biết là Vị Giáo Hoàng bị bắn chết, mà Đức Gioan Phaolô II bị bắn ngày 13/5/1981 song không chết, th́ phải chăng vị Giáo Hoàng cuối cùng được sấm truyền Malachy tiên báo là “Phêrô Người Rôma” (Petrus Romanus) sẽ là vị Giáo Hoàng của Bí Mật Fatima phần thứ ba này?

 

Theo lịch sử, chúng ta thấy Nhị Vị của chúng ta có ít là 5 điểm tương dị sau đây:

 

1.      Đức Gioan Phaolô II là triết gia về nhân bản ngôi vị, c̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một thần học gia về Giáo Hội hiệp thông (nhận định này được chứng thực qua những tâm tưởng của ngài, như trong bài ‘Khoa Giáo Hội Học Hiệp Thông của Công Đồng Chung Vaticanô II’, được phổ biến trong cuốn ‘Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Đại Kết Kitô Giáo và Cho Một Tân Âu Châu’, Cao-Bùi 2005, phần I, chương 4, trang 62-88; cũng như trong loạt bài giáo lư vào các ngày Thứ Tư hằng tuần, bắt đầu từ ngày 15/3/2006, về chủ đề mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, nhất là bài thứ ba ngày 29/3/2006 về chính vấn đề hiệp thông của Giáo Hội)

 

2.      Đức Gioan Phaolô II thiên về mục vụ, c̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI thiên về giảng dạy;

 

3.      Đức Gioan Phaolô II thuộc về một quốc gia bị trị là Balan, c̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI thuộc về một quốc gia thống trị là Đức Quốc;

 

4.      Đức Gioan Phaolô II lên làm giáo hoàng khi c̣n trẻ với tuổi đời 58, c̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI lên làm giáo hoàng khi đă lăo thành với tuổi đời 78;

 

5.      Đức Gioan Phaolô II nhận danh hiệu giáo hoàng mới mẻ hợp thời, c̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI nhận danh hiệu cổ kính xa xưa.

 

Tuy nhiên, nhị vị Giáo Hoàng của chúng ta đây đều có liên quan tới Fatima, một vị hiển nhiên và một vị mặc nhiên. Vị hiển nhiên liên quan tới Fatima đây chính là Đức Gioan Phaolô II, v́ ngài chẳng những đă bị ám sát vào ngày 13/5/1981, ngày kỷ niệm Mẹ Maria hiện ra ở Fatima lần đầu tiên, mà c̣n sau đó đă thi hành điều trời cao yêu cầu là hiệp cùng hàng giáo phẩm trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Ngoài ra, chính ngài đă cho công bố Bí Mật Fatima phần thứ ba.

 

C̣n Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă mặc nhiên liên quan tới Fatima qua các sự kiện sau đây: trước hết, ngài đă được đọc Bí Mật Fatima phần thứ ba khi mới làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, như ngài tiết lộ cho biết trong cuốn Ratzinger’s Report, (trang 109), nhưng ngài không tiết lộ nội dung và cho biết lư do tại sao Đức Thánh Cha không tiết lộ (trang 110); sau nữa, v́ chính ngài, với vai tṛ làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă viết lời dẫn giải phần Bí Mật Fatima thứ ba này trước khi nó được chính thức công bố ngày 26/6/2000; chưa hết, v́ ngài lấy danh hiệu Giáo Hoàng Biển Đức XVI giống như vị Giáo Hoàng Biển Đức XV phục vụ Giáo Hội vào Thời Điểm Fatima mở màn; sau hết, v́ ngài đă có một nhận thức Thánh Mẫu, rất hợp với linh cảm của chị Lucia, vị thụ khải Fatima đă viết Bí Mật Fatima và chú giải thêm là chỉ nên tiết lộ bí mật này sau năm 1960, tức chỉ nên tiết lộ vào thời điểm Công Đồng Chung Vaticanô II là công đồng chẳng những đề cao Mẹ (bằng cách giành hẳn 1 chương VIII cho Mẹ) trong Hiến Chế Tín Lư “Ánh Sáng Muôn Dân” về Giáo Hội, mà c̣n tuyên tụng Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi công bố hiến chế chính yếu của công đồng này nữa.

 

Nếu Công Đồng Chung Vaticanô II, trong 16 văn kiện, có 4 văn kiện có một giá trị giáo huấn cao nhất là 4 Hiến Chế: Hiến Chế về Phụng Vụ “Thánh Công Đồng - Sacrosanctum Concilium” ban hành ngày 4/12/1963, Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân – Lumen Gentium” ban hành ngày 21/11/1964, Hiến Chế về Mạc Khải “Lời Chúa - Dei Verbum” ban hành ngày 18/11/1965, và Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội “Vui Mừng Và Hy Vọng – Gaudium Et Spes” ban hành ngày 7/12/1965, th́ Đức Phaolô VI liên quan tới Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân”, Đức Gioan Phaolô II liên quan tới Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội “Vui Mừng Và Hy Vọng”, và Vị Giáo Hoàng Biển Đức liên quan tới hai Hiến Chế c̣n lại là Hiến Chế về Phụng Vụ và Hiến Chế về Lời Chúa.

 

Đức Phaolô VI liên quan đến Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội ‘Ánh Sáng Muôn Dân’, v́ ngài là vị Giáo Hoàng chủ sự Công Đồng về Giáo Hội và chính ngài ban bố hiến chế này ngày 21/11/1964; ngoài ra ngài c̣n ban bức thông điệp đầu tiên của ngài về ‘Giáo Hội của Người’ (Ecclesiam Suam) ngày Lễ Chúa Biến H́nh 6/8/1964, và ngài cũng qua đời vào chính ngày Lễ Chúa Hiển Sáng này năm 1978.

 

Đức Gioan Phaolô II liên quan tới Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội ‘Vui Mừng Và Hy Vọng’, v́ ít là 8 lư do sau đây: thứ nhất, ngài là một triết gia nhân bản; thứ hai, ngài xuất thân từ một quốc gia Balan bị trị bởi hai chế độ độc quyền ngoại bang là Nazi Đức Quốc và Cộng Sản Liên Sô thời Thế Chiến Thứ Hai; thứ ba, ngài ở trong ủy ban soạn thảo chính Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội này; thứ bốn, ngài đă kêu gọi con người trong bài giảng Lễ Đăng Quang 22/10/1978 là ‘Đừng Sợ, Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô’; thứ năm, ngài ban bố Thông Điệp ‘Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần’ ngày 4/3/1979 để cho con người thấy rằng Người đă Vị Cứu Tinh duy nhất có thể cứu họ khỏi lo âu và sợ hăi bị tự diệt; thứ sáu, ngài cử hành Đại Năm Thánh 2000 để sửa soạn cho Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ ba Kitô Giáo một cách ‘duc in altum – nước sâu thả lưới’ cho một mùa xuân mới của lịch sử loài người; thứ bảy, ngài tích cực hoạt động và giảng dạy cho công lư và ḥa b́nh, nhất là thực hiện 104 chuyến tông du khắp thế giới, để củng cố đức tin Kitô Giáo, đối thoại liên tôn và cổ vơ nền ‘văn hóa sự sống’ khắp nơi (thành ngữ nổi tiếng của ngài nay đă trở thành phổ thông khắp thế giới); thứ tám, ngài để lại cho thế giới tác phẩm ‘Hồi Niệm Và Căn Tính’ trước khi qua đời 1 tháng rưỡi (phát hành ngày 22/2/2005), cùng với tác phẩm ‘Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng’ năm 1994, để giúp con người giác ngộ trở về nguồn sống thần linh của ḿnh. 

 

Sở dĩ Vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI có liên quan tới hai Hiến Chế này là v́ chủ trương ưu tiên hàng đầu của giáo triều ngài là vấn đề đại kết Kitô giáo, một vấn đề lại có liên quan đến cả hai Hiến Chế Phụng Vụ lẫn Lời Chúa này: Phụng Vụ th́ liên quan tới các Giáo Hội Chính Thống là những Giáo Hội Đông Phương đă tách rời Giáo Hội Công Giáo Rôma từ thế kỷ 11, năm 1054, những Giáo Hội theo những truyền thống lễ nghi phụng vụ khác nhau; Lời Chúa th́ liên quan tới các cộng đồng giáo hội thuộc Phong Trào Cải Cách được Việt Nam gọi là anh chị em Tin Lành, một phong trào bắt đầu từ đầu thế kỷ 16, năm 1517, một phong trào chủ trương sola scriptura – chỉ duy có Thánh Kinh, chỉ có Lời Chúa mà thôi, ngoài ra không có Thánh Truyền hay Huấn Quyền Giáo Hội ǵ hết.

 

Sự kiện ngài ban hành bức Thông Điệp “Thiên Chúa Là T́nh Yêu” của ḿnh vào Ngày Kết Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo không phải là một dấu chỉ thời đại cho thấy Kitô hữu cần phải trở về với căn tính đức ái trọn hảo, với “Thiên Chúa Là T́nh Yêu” của ḿnh mới có thể hiệp nhất nên một.

 

Tóm lại, sau một năm kỷ niệm Nhị Vị Giáo Hoàng này, chúng ta thấy được có một cái ǵ đó trùng hợp và liên tục giữa hai vị Giáo Hoàng ấy, như dấu chỉ thời đại cho thấy một chân trời lịch sử nhân loại sắp sửa xẩy ra, có thể tóm gọn như sau:

 

Thứ nhất, nếu Đức Gioan Phaolô II thuộc Đông Âu (ở một nước Balan bị trị bởi cả Đảng Nazi Đức Quốc lẫn Cộng Sản Liên Sô) được sai đến để làm cho Bức Tường Bá Linh ngăn cách Âu Châu sụp đổ, th́ Giáo Hoàng Biển Đức XVI thuộc Tây Âu (ở một quốc gia Đức Quốc gây ra hai Thế Chiến I và II) được sai đến để tiếp tục làm cho Âu Châu hiệp nhất, một Âu Châu đang mất căn tính Kitô Giáo của ḿnh chỉ có thể Hiệp Nhất một khi Kitô Giáo hiệp nhất ở Âu Châu, nhờ đó, Âu Châu theo Văn Hóa Kitô Giáo mới có thể “Hồi Niệm (lấy lại) Căn Tính” của ḿnh, để trở thành một lực lượng chẳng những có thể chống lại Hiện Tượng Khủng Bố của những thành phần Hồi Giáo quá khích hiện nay chính yếu nhắm vào Tây Phương, mà c̣n làm cho Do Thái nhận thấy Đấng Thiên Sai của họ nơi Kitô Giáo, hầu trở về với Người là Đấng sẽ trở lại trong vinh quang để cứu độ những ai trông đợi Người và vĩnh viễn thiết lập Vương Quốc của Người trên trần gian. 

 

Thứ hai, nếu Đức Gioan Phaolô II liên quan tới Biến Cố Đông Âu nhờ lực lượng Công Đoàn Balan thế nào, th́ Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng liên quan tới t́nh trạng Hiệp Nhất Âu Châu bằng lực lượng Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức Quốc như vậy, (nơi đă xuất phát ra phong trào Thệ Phản Tin lành từ năm 1517), một lực lượng đă thực hiện bản tuyên ngôn chung với Giáo Hội Công Giáo về Tín Lư Công Chính Hóa vào ngày 31/10/1999.

 

Thứ ba, nếu chuyến tông du hồi hương Balan lần đầu tiên của Đức Gioan Phaolô II vào tháng 6/1979 là chuyến tông du lịch sử liên quan tới Biến Cố Đông Âu sụp đổ sau đó 10 năm (1989) thế nào, th́ chuyến tông du hồi hương Đức Quốc đầu tiên của Giáo Hoàng Biển Đức XVI vào tháng 8/2005 cũng liên quan tới t́nh trạng Hiệp Nhất Âu Châu như vậy, vào thời điểm có thể vào năm 2017, thời điểm kỷ niệm đúng 500 năm phong trào Thệ Phản Tin Lành và 100 năm Biến Cố Fatima, thời điểm liên quan tới hai biến cố lịch sử trùng hợp này lại được gói ghém trong danh hiệu Giáo Hoàng Biển Đức, một danh hiệu Giáo Hoàng trở về với Thời Điểm Fatima, và là một danh hiệu Giáo Hoàng liên quan tới vị Thánh Biển Đức là đệ nhất Quan Thày của Âu Châu, vị Thánh đă khởi công phát triển văn minh Âu Châu cũng là văn minh Tây Phương.