TUYÊN NGÔN CỦA CÁC PHÂN BỘ T̉A THÁNH 2006
Hội Đồng Ṭa Thánh Về Di Dân và Du Hành: Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Du Lịch 27/9/2006
Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Du Lịch Thứ Tư 27/9/2006
Lời Phát Biểu Cuối Cùng của Vị Đặc Sứ Giáo Hoàng ở Lebanon
“Vấn đề di dân và di chuyển từ các quốc gia đa số Hồi Giáo và đến các quốc gia đa số Hồi Giáo”
(xem Sứ Điệp của Thượng Nghị Chư Lănh Đạo Tôn Giáo 2006)
Ṭa Thánh Vatican gửi Sứ Điệp Mừng Lễ Phật Đản của Tín Đồ Phật Giáo: “Phật Tử và Kitô Hữu cùng Phục Vụ Nhân Loại”
Sứ Điệp của Ṭa Thánh cho Ngày Thế Giới Phong Cùi Thứ 53 cử hành Ngày 29/1/2006
1. Hội Nghị Quốc Tế do Hội Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh tổ chức về đề tài ‘Việc Chiến Đấu Chống T́nh Trạng Băng Hoại’ đă diễn ra tại Vatican vào những ngày 2-3/6/2006. Thành phần tham dự bao gồm những viên chức cao cấp thuộc các tổ chức quốc tế, những chuyên gia và những học giả, các vị lănh sự làm việc với Ṭa Thánh, các giáo sư và chuyên viên.
Mục đích của hội nghị này, như được Đức Hồng Y Renato Raffaele Martino đă nói tới, đó là để hiểu rơ hơn về hiện tượng băng hoại, để t́m ra những phương pháp hay nhất trong việc đối phó với nó và để cho thấy việc Giáo Hội có thể góp phần vào việc thực hiện này. Các vị phát ngôn, các học giả và các chuyên viên về hiện tượng được bàn đến này đă giúp cho thành phần tham dự viên có được những minh thức đâu là t́nh trạng băng hoại và làm thế nào để đương đầu với nó ở cấp độ toàn cầu (Antonio Maria Costa), ở lănh vực riêng tư (Francois Vincke), ở lănh vực công cộng (David Hall), ở xă hội dân sự (Jong-Sung You), ở các quốc gia phồn thịnh cũng như ở các quốc gia nghèo khổ (Eva Joly), phác tả tầm ảnh hưởng ác nghiệt của hiện tượng này nơi thành phần nghèo khổ trên thế giới (Cobus de Swardt) và những đặc tính của một thứ văn hóa băng hoại (Paul wolfowitz). Đức Giám Mục Giampaolo Crepaldi đă tŕnh bày tổng quan liên quan tới các khía cạnh thuộc giáo huấn về xă hội của Giáo Hội liên quan tới những vấn đề ấy.
Hiện tượng băng hoại: Bản Chất, Nguyên Nhân và Hậu Quả
2. Hiện tượng băng hoại bao giờ cũng có, cho dù chỉ trong ṿng mấy năm gần đây mới gia tăng việc nhận thức về nó ở tầm cấp quốc tế. Thật vậy, đối với những công ước về t́nh trạng băng hoại và những dự án tác hành được mỗi quốc gia và mỗi nhóm quốc gia tán thành cũng như được các tổ chức quốc tế chấp nhận nơi lănh vực mậu dịch quốc tế, theo qui tắc của vấn đề thương mại toàn cầu, nhất là nơi ngành tài chính, th́ đa số những nỗ lực ấy đă được thực hiện trong 15 năm qua. Điều này có nghĩa là t́nh trạng băng hoại chỉ gần đây mới được công nhận như là một hiện tượng quan trọng và phán đoán tiêu cực về nó là những ǵ đang được lan tràn khắp thế giới, trong khi đó, đồng thời cũng có gia tăng ư thức về việc cần phải chống lại nó. Để đạt được mục đích ấy, các phương pháp thực hiện một thứ phân tích theo kinh nghiệm và việc thẩm định về số lượng băng loại đă được diễn tiến để giúp hiểu biết hơn những động lực ẩn nấp đằng sau những việc làm bất hợp pháp liên quan tới nó. Bởi vậy cần phải có những phương pháp thích hợp hơn nữa, không phải chỉ là những hệ thống và việc đàn áp theo luật pháp, để chiến đấu chống lại những hiện tượng này.
Việc thay đổi gần đây đă gặt hái được đặc biệt nhờ hai yếu tố lịch sử quan trọng, đó là việc sụp đổ của khối ư hệ sau năm 1989 và việc toàn cầu hóa vấn đề tín liệu. Cả hai tiến tŕnh này đă góp phần vào việc làm sáng tỏ hơn về t́nh trạng băng hoại và khiến cho dân chúng nhận thức được nó một cách hiệu nghiệm hơn. Việc mở cửa các biên giới như thành quả của tiến tŕnh toàn cầu hóa đă làm cho t́nh trạng băng hoại khả dĩ làm tràn một cách dễ dàng hơn so với quá khứ, song cũng cống hiến nhiều cơ hội hơn để chiến đấu chống lại nó, bằng việc hợp tác quốc tế một cách dứt khoát và ḥa hợp hơn.
3. Băng hoại là một hiện tượng không chỉ xẩy ra ở lănh vực chính trị hay địa dư. Nó hiện diện nơi các nước giầu và các xứ sở nghèo. Ảnh hưởng về kinh tế của t́nh trạng băng hoại khó có thể định xác; thật vậy, các dữ kiện hiện có thường bất nhất. Tuy nhiên, chúng ta đang quan tâm tới những số lượng khổng lồ nơi các nguồn tài nguyên đă bị thất thoát khỏi lănh vực kinh tế, khỏi việc sản xuất và khỏi những chương tŕnh về xă hội. Những giá thành phần công dân phải chịu đựng: Cái giá phải trả bởi t́nh trạng băng hoại đó là việc sử dụng tiền bạc ngân quĩ hợp lệ vốn được chi dùng cho xă hội.
T́nh trạng băng hoại lan khắp tất cả mọi lănh vực xă hội: Nó không thể chỉ qui cho những ai hoạt động trong lănh vực kin h tế hay cho các viên chức phục vụ quần chúng; xă hội dân sự cũng không tránh được t́nh trạng này. Băng hoại là một hiện tượng bao gồm các quốc gia riêng cũng như những tổ chức quốc tế.
Một bầu khí tiện lợi cho t́nh trạng băng hoại được nuôi dưỡng bởi việc thiếu minh bạch nơi những vấn đề tài chính quốc tế, bởi việc hiện hữu của những thứ dấu nut về tài chính, cũng như bởi sự chênh lệch giữa mức độ chiến đấu chống lại băng hoại – thường bị giới hạn vào cấp độ từng quốc gia – và mức độ xẩy ra băng hoại, thường ở cấp độ diêu quốc và quốc tế. Bầu khí này cũng dễ dàng xẩy ra do việc hợp tác hạn chế giữa các quốc gia trong việc chống lại băng hoại, do những khác nhau thái quá nơi những chuẩn mức ở các thể chế pháp lư khác nhau, do sự truyền thông giấu diếm vấn đề băng hoại ở những nơi trên thế giới, và do sự thiếu dân chủ ở những xứ sở khác nhau. Không được quyền tự do báo chí, không có những hệ thống dân chủ trong việc kiểm soát và cân bằng, không có sự minh bạch th́ lại càng dễ dàng hơn cho vấn đề băng hoại xẩy ra. Băng hoại là nguyên nhân của mối lo âu lớn lao ngày nay, một mối quan tâm về vấn đề băng hoại liên quan cả tới việc buôn lậu thuốc phiện, tới việc chuyển tiền bạc, tới việc buôn bán bất hợp pháp các loại vũ khí, cũng như tới các h́nh thức có tính cách tội ác khác.
4- Nếu vấn đề băng hoại gây thiệt hại trầm trọng theo quan điểm vật chất và gây gánh nặng cho việc tăng trưởng về kinh tế th́ nó lại càng gây thiệt hại hơn nữa bởi ảnh hưởng của nó nơi những sản vật không phải là vật chất, những ǵ có liên hệ chặt chẽ với phẩm chất và chiều kích nhân bản của đời sống trong xă hội. Vấn đề băng hoại về chính trị, như Cuốn Tổng Lược Giáo Huấn Về Xă Hội của Giáo Hội dạy, ‘làm tổn hại tới phận vụ đúng đắn của quốc gia, gây ra một ảnh hưởng tiêu cực cho mối liên hệ giữa thành phần cai trị với thành phần bị trị. Nó gây ra t́nh trạng gia tăng ngờ vực đối với các tổ chức công cộng, mang lại một niềm ác cảm mỗi ngày một hơn nơi thành phần công dân về vấn đề chính trị và thành phần đại diện chính trị, tiến tới chỗ làm suy yếu đi các cơ cấu tổ chức’ (khoản 411).
Có những liên hệ rất rơ ràng và được chứng thực bằng kinh nghiệm giữa vấn đề băng hoại và việc thiếu vắng văn hóa, giữa băng hoại và những hạn chế về tác hành nơi các hệ thống tổ chức, giữa băng hoại với chỉ số phát triển của con người, giữa băng hoại với các thứ bất công trong xă hội. Đó không phải chỉ là một tiến tŕnh làm suy yếu đi guồng máy kinh tế: Băng hoại là những ǵ làm cản trở việc phát động con người và làm cho xă hội trở nên kém chân chính và ít vươn lên.
5. Giáo Hội coi t́nh trạng băng hoại là một sự kiện rất trầm trọng làm méo mó guồng máy chính trị. Cuốn Tổng Lược Giáo Huấn Xă Hội của Giáo Hội cho thấy một nhận định rất tiêu cực như sau: ‘Băng hoại làm méo mó một cách sâu xa vai tṛ của các cơ cấu đại diện, v́ chúng được sử dụng như một đấu trường đổi chác về chính trị giữa những yêu cầu của thân chủ và các dịch vụ của chính quyền. Bởi đó, những quyết định chính trị thiên về những mục tiêu nhỏ hẹp của những ai có được phương tiện ảnh hưởng đến các quyết định ấy, và là một trở ngại trong việc mang lại công ích cho tất cả mọi người công dân’ (khoản 411). Băng hoại được liệt kê ‘trong số những căn nguyên góp phần rất nhiều vào t́nh trạng chậm phát triển và nghèo khổ’ (khoản 447), và đôi khi nó cũng xẩy ra trong chính guồng máy viện trợ cho các quốc gia nghèo nữa.
T́nh trạng băng hoại làm cho dân chúng bị hụt hẫng một thứ công ích căn bản, đó là thứ công ích về tính cách hợp pháp, ở chỗ tôn trọng các qui luật, ở chỗ hành sử đúng đắn các cơ cấu kinh tế và chính trị cùng với tính cách minh bạch. Tính cách hợp pháp thực sự là một thứ công ích giành cho hết mọi người. Thật vậy, nó là một yếu tố quan trọng cho việc phát triển, v́ tính cách hợp pháp có thể thiết lập mối liên hệ đúng đắn giữa xă hội, kinh tế và chính trị, cũng như v́ nó có thể hiện thực môi trường tin tưởng làm nền tảng cho hoạt động kinh tế. Là ‘một thứ công ích’, nó cần phải được tất cả mọi dân tộc cổ vơ, thật sự là tất cả mọi dân tộc đều có quyền hưởng cái sự thiện là tính cách hợp pháp này. Tính cách hợp pháp là một trong số những ǵ con người nam nữ có quyền sở hữu bởi việc làm người của họ. Việc thực hiện và nền văn hóa băng hoại cần phải được thay thế bằng việc thực hành và văn hóa có tính cách hợp pháp.
6. Theo quan điểm chế ngự nạn băng hoại th́ hết mọi diễn tiến tích cực đều được thấy việc chuyển tiếp từ những xă hội độc đoán đến các xă hội dân chủ, từ các xă hội khép kín đến những xă hội cởi mở, từ những xă hội theo hàng dọc đến các xă hội theo hàng ngang, từ các xă hội tập quyền đến những xă hội phân quyền. Thế nhưng, cuộc chuyển giao không phải là một cái ǵ tích cực tự nhiên xẩy ra. Rất cần phải cẩn thận để việc cởi mở mới không làm suy yếu đi sức mạnh của những niềm xác tín về luân lư và tính cách đa nguyên không trở thành những ǵ cản trở cho những liên hệ xă hội vững chắc. Việc khủng hoảng về những tiêu chuẩn luân lư nơi nhiều xă hội tiến bộ có thể là những ǵ che đậy một mối hiểm nguy cả thể của nạn băng hoại, cả thể như mối nguy hiểm xẩy ra nơi cái khắt khe của nhiều xă hội cổ xưa. Có những thứ xă hội được cấu tạo cao, rất khắt nghiệt và khép kín, và thậm chí có những xă hội độc đoán về nội tại hay đối với thế giới bên ngoài. Có những xă hội tỏ ra linh động nhiều hơn và di động nhiều hơn, với những cấu trúc hợp lư cùng với những tổ chức dân chủ cởi mở và tự do.
Một mặt chúng ta có thể nhận thấy làm thế nào nạn băng hoại có thể dễ dàng xẩy ra nơi loại đầu tiên của các xă hội, v́ nó khó nhận thấy được sự hiện diện của nạn băng hoại nơi những xă hội ấy: Những ai gây ra băng hoại và những ai làm kẻ khác bị băng hoại vẫn có thể là thành phần thầm kín, thậm chí họ c̣n được bảo vệ khi xẩy ra vấn đề thiếu minh bạch và khi quốc gia không biết căn cứ một cách chính đáng vào qui tắc của luật lệ. Nạn băng hoại có thể tự ḿnh vĩnh tồn v́ nó có thể dựa vào t́nh trạng ổn định. Tuy nhiên, mặt khác, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy làm cách nào mà, nơi loại thứ hai của các xă hội cũng có cả những thứ nguy hiểm ẩn nấp ở đó nữa. Tính cách đa nguyên thái quá có thể trở thành nguyên nhân gây ra việc làm suy yếu đi việc đồng thuận về đạo lư của thành phần công dân. Cái lộn xộn xuất phát từ những lối sống khác nhau cũng có thể làm yếu kém đi nhận định về luân lư liên quan tới vấn đề băng hoại. Việc biến mất những giới hạn về nội tại cũng như ngoại tại ấy của các xă hội này có thể là những ǵ dẫn tới chỗ làm dễ dàng hóa việc xuất cảng nạn băng hoại trên thế giới.
Những phương pháp hay nhất trong việc đối phó với nạn băng hoại
7. Để tránh khỏi những mối nguy hiểm này, giáo huấn về xă hội của Giáo Hội đưa ra quan niệm về ‘môi sinh nhân bản’ (Thông Điệp ‘Bách Niên’, khoản 38), một quan niệm cũng có thể trở thành một qui chuẩn hữu dụng để chống lại nạn băng hoại. Những thái độ của nạn băng hoại có thể được hiểu một cách thỏa đáng chỉ khi nào chúng được thấy như là hậu quả của một cuộc khủng hoảng về môi sinh nhân bản mà thôi. Nếu gia đ́nh không được nắm vị thế chu toàn vai tṛ giáo dục của ḿnh, nếu những thứ luật lệ ngược lại với sự thiện đích thực của con người nam nữ – như những thứ luật phạm đến sự sống – giáo dục thành phần công dân một cách sai lầm về những ǵ là tốt lành, nếu tốc độ công lư hết sức bị tŕ trệ, nếu nền luân lư căn bản bị kiệt quệ bởi vấn đề nhân nhượng cho những thứ vi phạm, nếu những điều kiện sinh sống từng bị suy thoái, nếu các học đường không kích thích việc tăng trưởng con người và không kiến tạo nên tính cách độc lập, nếu không thể bảo đảm được ‘môi sinh nhân bản’; th́ t́nh trạng thiếu vắng vấn đề môi sinh nhân bản này sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho hiện tượng băng hoại sinh sôi nẩy nở.
Thật vậy, không được quên rằng nạn băng hoại là những ǵ bao gồm cả một chuỗi những thứ liên hệ và tính cách đồng lơa; nó bao gồm cả t́nh trạng chai đá của lương tâm, cả việc tống tiền và hăm dọa, cả những thứ hợp đồng lén lút cùng với những thứ mưu mô trước hết liên quan tới dân chúng cũng như lương tâm của dân chúng, rồi sau đó tới những cơ cấu của họ. Bởi thế, đây là lănh vực đối với công việc hết sức quan trọng của vấn đề giáo dục về luân lư và việc huấn luyện thành phần công dân, cũng như đối với nhiệm vụ của Giáo Hội, một nhiệm vụ - mà qua các cộng đồng, các tổ chức, các phong trào và và hội đoàn của ḿnh, và qua sự hiện diện của các phần tử tín hữu ở hết mọi lănh vực xă hội tân tiến – có thể đóng một vai tṛ quan trọng hơn bao giờ hết trong việc ngăn ngừa nạn băng hoại. Giáo Hội có thể vun trồng và cổ vơ những nguồn luân lư để giúp vào việc xây dựng một ‘môi sinh nhân bản’ là những ǵ băng hoại sẽ không thể nào được ân cần tiếp đón.
8. Giáo huấn về xă hội của Giáo Hội sử dụng tất cả những nguyên tắc hướng dẫn căn bản, những nguyên tắc được giáo huấn này nêu lên như là những biểu hiện cho hành vi cử chỉ cá nhân và tập đoàn, đặt chúng lên hàng đầu của trận chiến chống nạn băng hoại. Những nguyên tắc ấy là nhân phẩm, là công ích, là t́nh đoàn kết, là việc phụ trợ, là vấn đề ưu tiên hơn cho người nghèo, là mục đích chung của các sản vật. Băng hoại là những ǵ hoàn toàn nghịch lại với tất cả những nguyên tắc ấy. Nó khai thác con người, khinh khi sử dụng con người nam nữ cho những lợi lộc vị kỷ. Nó trở thành một thứ ngăng trở cho việc chiếm đạt công ích, v́ nó dựa vào các thứ qui chuẩn theo cá nhân chủ nghĩa đầy yếm thế vị kỷ cùng với những lợi lộc đặc biệt trái khuấy.
Nó là những ǵ phản lại t́nh đoàn kết v́ nó gây ta bất công và nghèo khổ, và trái với vấn đề phụ trợ v́ nó không tôn trọng những vai tṛ khác nhau về xă hội và về cơ cấu song lại làm bại hoại những vai tṛ ấy. Nó cũng tác hành phản lại với mối quan tâm ưu tiến đối với người nghèo, bằng việc gây trở ngại cho việc thích hợp chuyển tới thành phần nghèo khổ những nguồn lợi giành cho họ. Sau hết, nó phản lại với mục đích chung của sản vật v́ sự thiện của tính cách hợp pháp, như chúng ta đă thấy trên đây, là một sự thiện nhân bản cho hết mọi con người nam nữ, một sự thiện giành cho tất cả mọi dân tộc.
Toàn thể giáo huấn về xă hội của Giáo Hội đề ra một quan điểm về những mối liên hệ xă hội hoàn toàn trái với hoạt động của băng hoại. Bởi thế, chúng ta có thể hiểu được sự trầm trọng của hiện tượng này cùng với nhận định hoàn toàn tiêu cực của Giáo Hội liên quan tới nó. Chúng ta cũng có thể hiểu được gốc gác của một nguồn lợi lớn được Giáo Hội góp phần vào việc chiến đấu chống lại nạn băng hoại, đó là toàn bộ giáo huấn về xă hội của Giáo Hội và hoạt động của những ai được giáo huấn này tác động.
9- Cuộc chiến đấu chống lại t́nh tạng băng hoại đ̣i hỏi phải có một niềm xác tín mạnh mẽ, bằng việc chấp nhận chứng cớ về luân lư, và một ư thức hơn nữa là cuộc chiến đấu này sẽ mang lại những thuận lợi quan trọng về xă hội. Theo giáo huấn của Thông Điệp ‘Bách Niên’ th́ ‘Con người hướng về sự thiện song họ cũng có thể làm ác. Họ có thể vượt lên trên lợi lộc thân thiết của họ mà vẫn ràng buộc với lợi lộc ấy. Trật tự xă hội sẽ càng trở nên hoàn toàn vững vàng hơn, th́ nó càng phải lưu ư tới sự kiện ấy và không làm ǵ phản lại với lợi lộc tư riêng cũng như các lợi lộc của toàn thể xă hội, trái lại, t́m kiếm những đường lối để làm cho chúng trở thành ḥa hợp với nhau một cách hiệu quả’ (khoản 25)
Đó là một qui chuẩn rất hiệu nghiệm và thực tế. Nó nói với chúng ta là hăy nhắm tới những tính chất nổi nang của những hành vi đức độ nơi con người nam nữ, cũng như phấn khích những tính chất ấy; hăy nghĩ tới việc chiến đấu chống nạn băng hoại như là một thứ giá trị cũng như là một nhu cầu cần phải làm; nó nói với chúng ta rằng băng hoại là một sự dữ và nó đ̣i phải trả bằng một giá cao; rằng việc loại bỏ nạn băng hoại là một điều tốt và cũng là một thắng lợi nữa; rằng việc trừ khử đi những việc làm băng hoại có thể là những ǵ dẫn tới việc phát triển và phúc hạnh; rằng hành vi cử chỉ lương thiện là những ǵ đáng được khích lệ và hành vi bất lương là những ǵ đáng bị trừng phạt. Trong việc chiến đấu chống lại nạn băng hoại, cần phải tỏ ra trách nhiệm đối với những hành động trái phép, tội lỗi cần phải trừng trị bằng những phương sách đền bù nhắm tới chỗ phục hồi hành vi cử chỉ hữu trách trong xă hội. Cũng thế, cần phải tưởng thưởng cho các quốc gia và các hiệp hội công ty về kinh tế hoạt động hợp với luật đạo đức là thứ luật không chấp nhận những việc làm băng hoại.
10- Về lănh vực quốc tế, cuộc chiến đấu chống nạn băng hoại đ̣i hỏi là dân chúng cùng nhau hoạt động để gia tăng tính cách minh bạch nơi những giao dịch về kinh tế và tiền tệ cũng như ban hành ở các quốc gia khác nhau một thứ luật pháp đồng nhất với nhau về lănh vực ấy. Hiện nay những ngân khoản từ t́nh trạng băng hoại là những ǵ được che đậy một cách dễ dàng, khi vấn đề bất lương lọt vào những chính phủ băng hoại; những chính phủ này có thể xuất khẩu những số lượng khổng lồ vốn liếng một cách dễ dàng bằng nhiều h́nh thức đồng lơa. Việc lập luật ḥa hợp hóa hay đồng nhất cần phải được khích lệ như là một tác động trong vấn đề ngăn ngừa, nhờ đó các quốc gia nghèo không lôi cuốn cái vốn liếng trái phép này chỉ v́ thiếu một thứ pháp luật đồng nhất như thế.
V́ tội ác được cấu kết với nhau vượt ra ngoài mọi biên giới mà việc hợp tác quốc tế giữa các chính quyền cũng cần phải được gia tăng, ít là liên quan tới việc hợp tác về pháp lư nơi lănh vực của việc dẫn độ. Việc phê chuẩn những thỏa ước chống lại nạn băng hoại là những ǵ rất hệ trọng, và một số quốc gia cần phải chuẩn ưng và áp dụng Bản Công Ước Liên Hiệp Quốc chống t́nh trạng gia tăng Nạn Băng Hoại. Tuy nhiên, vẫn c̣n vấn đề trong việc cụ thể áp dụng những thỏa ước này, bởi – v́ một động cơ chính trị nào đó – nhiều quốc gia đă không được tuân giữ chúng, thậm chí nơi cả các quốc gia đă kư kết chúng. Cần phải có một sự đồng ḷng chung ở cấp độ quốc tế đối với việc tịch thu hay lấy lại những ǵ đă bị chiếm đoạt một cách trái phép; hiện nay, những qui chuẩn chi phối những phương cách như thế chỉ hiện hữu trong từng Đất Nước mà thôi.
Nhiều người hy vọng rằng một thẩm quyền quốc tế chống lại nạn băng hoại sẽ được thiết lập, có khả năng tác hành một cách tự lập, cho dù làm việc với các Quốc Gia, và có khả năng chứng thực có xẩy ra tội ác liên quan tới nạn băng hoại quốc tế hay chăng, và nếu được chứng thực như thế th́ có khả năng trừng phạt thành phần gây ra tội ác. Nguyên tắc phụ trợ này có thể hữu ích trong lănh vực ấy, khi áp dụng nó vào các tầm cấp khác nhau của quyền bính đang nỗ lực chống lại nạn băng hoại.
11. Cần phải chú trọng tới các quốc gia nghèo khổ: như đă được nhận định trên đây, họ cần phải được giúp đỡ, khi có những hụt hẫng về phương diện pháp luật, và khi chưa có đủ các cơ cấu pháp lư cho cuộc chiến chống nạn băng hoại. Việc hộp tác song phương hay đa phương trong lănh vực công lư này – đối với vấn đề cải tiến hệ thống ngục tù, đối với việc có được khả năng điều tra, đối với việc độc lập về cơ cấu của các ṭa án liên quan tới chính quyền – là những ǵ hữu ích nhất và cần phải được hoàn toàn bao gồm trong việc trợ giúp vấn đề phát triển.
Nạn băng hoại trong các quốc gia đang trên đà tiến triển đôi khi gây ra bởi những doanh nghiệp Tây phương, hay thậm chí bởi các cơ quan quốc gia hay quốc tế; có những lúc nó xẩy ra bởi thành phần tập đoàn đầu sỏ chính trị. Các quốc gia giầu thịnh chỉ có thể trợ giúp các chính quyền ở các quốc gia nghèo khổ hơn ḿnh để họ trong việc có được uy tín bằng một phương sách nhất trí và có kỷ cương mà thôi. Một phương sách đáng ước mong nhất chắc chắn là việc cổ vơ nền dân chủ ở tất cả mọi quốc gia, việc cổ vơ một thứ tự do và thận trọng thông tin báo chí, và việc đem lại sức sống mới cho xă hội dân sự. Những dự án đặc biệt của các cơ quan quốc tế, những dự án được khai triển căn cứ vào từng quốc gia, là những ǵ có thể mang lại những thành quả tốt đẹp trong lănh vực này.
Các Giáo Hội địa phương đang tha thiết với việc đào luyện một thứ lương tâm dân sự cũng như với việc giáo dục thành phần công dân hiểu được một nền dân chủ chân thực; các hội đồng giám mục ở nhiều quốc gia, đă từng can thiệp vào việc chống lại nạn băng hoại, thay cho một xă hội được luật lệ chi phối. Các Giáo Hội địa phương cần phải hợp tác một cách đáng giá với những tổ chức quốc tế trong việc chống lại nạn khủng bố.
Thành Vatican ngày 21/9/2006
Lễ Thánh Mathêu, Tông Đồ và Thánh Kư
Hồng Y Renato Raffaele Martino
Chủ Tịch
Giám Mục Giampaolo Crepaldi
Thư Kư
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/10/2006 (người dịch tự
chia văn kiện này thành hai phần dưới hai tiểu đề cho dễ nhận thức bố cục và nội
dung của vấn đề được tŕnh bày)
Hội Đồng Ṭa Thánh Về Di Dân và Du Hành: Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Du Lịch 27/9/2006
Các bạn thân mến,
“Du lịch thăng hoa”. Đó là đề tài được chọn cho việc cử hành Ngày Thế Giới Du Lịch năm nay, vào ngày 27/9/2006.
Nhân dịp này, chúng tôi xin gửi lời chào thân ái và đặc biệt đến những ai hoạt động ở lănh vực du lịch, cũng như chúng tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến thành phần du lịch và những ai tiếp đón họ một cách bặt thiệp, tốt lành và, đối với nhiều người trong họ, một cách Kitô Giáo nữa.
Con số người trả qua hiện tượng du lịch rộng lớn và quan trọng này theo cá nhân hay qua những người khác là những ǵ đang trên đà tăng triển.
Thật vậy, du lịch và viếng thăm là những động từ liên quan tới nhiều người, thành phần được thu hút bởi cái mê hoặc về những ǵ chưa được biết tới, mặc dù được thoáng thấy một cách nào đó, nhờ truyền thông đại chúng, nhờ các cơ quan du lịch hay những người khác kể lại. Việc ca ngợi và ước mong cũng là đặc tính nơi một phần nhân loại đáng kể, có được bởi rất nhiều chuyến du lịch và viếng thăm.
Bởi thế, điều này nhắm đến tính cách hỗ tương nơi một thứ cảm nghiệm thực sự về không gian và văn hóa, một thứ cảm nghiệm đầy những cái khác biệt và ước mong làm phát sinh một loạt những vấn đề, trong đó có nhiều vấn nạn chưa được giải đáp. Điều ấy nhắm đến một tính cách hỗ tương chủ động và thụ động, những ǵ đổ thêm dầu vào t́nh trạng bất quân b́nh trên cái hành tinh chúng ta cùng nhau có được đây, những ǵ mở ra những cơ hội mới cho việc hội ngộ gặp gỡ, phấn khích việc phát triển, và thậm chí gây ra nỗi hoang mang hốt hoảng và thách đố lương tâm về phương diện đạo lư.
Thế nhưng, đó là một thứ cảm nghiệm nào đây? Câu giải đáp th́ nhiều, mặc dù bối cảnh th́ giống như nhau. Đối với nhiều người th́ nó có nghĩa là đất đai, khí quyển và bầu trời – tóm lại là thiên nhiên – rừng núi, nước nôi, biển cả và gió thổi. C̣n những người khác th́ lại nghĩ đến những loại máy bay, xe lửa hay xe hơi.
Đối với hầu hết một ít người th́ nó liên quan tới cơ hội về tài chính, tới thương mại, tới tư bản độc quyền hay một loại thể tín dụng, tới vốn liếng, tới lợi lộc về tài chính hay với thị trường chứng khoán.
Đối với một số người – thành phần chúng ta hy vọng là nhiều và đang gia tăng về con số – th́ nó lại tiêu biểu cho những liên hệ với dân chúng, với tha nhân, với gia đ́nh và cộng đồng, một vấn đề của tâm can và t́nh cảm, có tính cách chú trọng và tôn trọng.
Đối với một phần lớn th́ nó liên quan tới niềm trông đợi và hy vọng, đến niềm tin tưởng và sự bkiên tŕ, đến tinh thần và đức tin cùng tương lai. Đối với những người khác nữa th́ nó là lịch sử tỏ hiện, là gia sản nghệ thuật, là văn khố và các thư viện, là tranh vẽ và pho tượng, là thi ca, là văn chương, là các ngôi vương cung thánh đường, là các nhà thời, các đền đài các đền chùa, các dinh thực, các văn kiện ngoại giao, tóm lại là văn hóa, và thậm chí… là cách nấu nướng.
Bởi thế, đó là những bộ mặt dồi dào phong phú đa dạng được nối kết với nhau trên khắp thế giới. Một thứ dồi dào phong phú độc đoán cách phân, theo thời gian và không gian.
Dân chúng gặp gỡ nhau và con số những cuộc viếng thăm gia tăng theo một trào lưu du lịch bất khả ngăn chặn. Cái dồi dào phong phú của các dân tộc, thành phần đồng thời cũng đang trải qua t́nh trạng kém phát triển, được ca ngợi. Những cảm t́nh về việc đoàn kết, những ǵ thường yếu kém về dạng thức, sau chuyến đi lại được bùng lên.
Tuy nhiên – tạ ơn Chúa – cái ấn tượng c̣n lại đó là guồng máy kinh tế và tài chính không phải là những ǵ đặc thù duy nhất, mà là những ǵ bá chủ thống trị, và nó không phải là những ǵ thượng đẳng đệ nhất thiên hạ, mà là hệ thống hiện đại, một nguồn mạch của nhiều t́nh trạng mất thăng bằng cả thể.
Cái c̣n lại đó là ấn tượng về một nhân loại giầu thịnh hơn khi các cửa ngơ của hệ thống này được mở ra cho người khác, nhờ đó, cống hiến cho họ phương tiện tiến đến với các kho tàng về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, mỹ thuật, nhân bản và thiêng liêng là những ǵ mỗi dân tộc đều muốn ǵn giữ lấy một cách ganh tị ở một mức độ nhiều ít nào đó.
Về vấn đề này không thể quên được những lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị đă nói: “Việc giao tiếp với người khác là những ǵ dẫn tới việc khám phá ra ‘cái bí mật’, là hướng tới họ để tiếp nhận những khía cạnh đáng giá của họ, nhờ đó góp phần vào việc hiểu biết nhau hơn nữa. Đó là một tiến tŕnh dài nhắm tới việc h́nh thành các xă hội cùng các nền văn hóa, làm cho chúng càng ngày càng phản ánh tặng ân muôn mặt của Thiên Chúa ban cho loài người” (Pope John Paul II, "Message for the World Day of Migrants and Refugees 2005," 1).
Du lịch thăng hoa chính là ở chỗ nó góp phần vào việc mang lại cái tương đối cho những hệ thống được gọi là giầu thịnh, và hướng chúng tới quan niệm về những h́nh thức “được giầu thịnh” khác.
Thiên nhiên, nơi tính chất dồi dào phong phú của ḿnh, được biểu lộ nơi chu kỳ của vũ trụ, là một người mẹ đón tiếp trước con mắt của chúng ta khi nó chiêm ngưỡng rặng núi Everest hay Hy Mă Lạp Sơn, những ǵ được bàn tay chúng ta chạm đến nơi mầu xanh của biển cả, những ǵ chúng ta ân cần đón nhận nơi cái mấu xám sâu thẳm của thứ Rừng Đen, hay những ǵ được chúng ta ca ngợi khi chúng ta bay trên cánh của một chiếc phi cơ chúng ta thấy như là một bức thảm len trắng ở bên dưới ḿnh trong khi đó mầu xanh của bầu trời lại phủ ở bên trên chúng ta.
Gia sản văn hóa là những ǵ nhấn mạnh tới lịch sử của hết mọi người, những ǵ lưu vết văn minh trên những tháp chuông và những tháp đền chùa, trên những bức bích họa và những kim tự tháp, trên những cây cầu và những vệ tinh ở ngoài không gian. Đó là một thứ dồi dào vô tận thuộc về tất cả chúng ta, một gia sản chung của nhân loại.
Nó không chỉ âm vang những nỗ lực của con người, mà c̣n cống hiến cho mỗi người một thứ kư ức về những liên kết thắt kết chúng ta với các thế hệ trước và cái cấu trúc lịch sử.
Bởi thế, du lịch cho thấy một thứ phong phú toàn cầu, không loại trừ con người, trái lại, c̣n bảo tŕ những vết chân của họ, bảo tŕ dấu tích của họ.
Nó cũng bảo tŕ cái cửa sổ kính mầu mè mà mỗi người chúng ta, với tư cách cá nhân và phần tử của cộng đồng, nơi những cái khác biệt và tương tự của ḿnh, đồng thời cũng nơi cả cái bối cảnh và phẩm vị của ḿnh, là một kho tàng được chúng ta chứng thực là những ǵ bất tử: “Ai tin vào Tôi th́ dù có chết cũng sẽ được sống”, Chúa Kitô phán (Jn 11:25).
Cái cửa sổ tráng lệ này là cái cửa sổ của chúng ta, cái cửa sổ mầu mè và được cấu tạo bằng một số yếu tố, với cái phong phú bao gồm t́nh đoàn kết. Cái vẻ đẹp của nó cũng xuất phát từ việc chấp nhận khuôn mặt của kẻ khác, nhờ đó cái cửa sổ kính mầu mè này trở thành một h́nh ảnh của toàn thể nhân loại.
Không ai là một bản sao cả. Tất cả chúng ta đều là những tạo vật độc nhất vô nhị chứ không phải là một thứ tạo sinh sao bản. Chúng ta là tỏ hiện sự sống của Đấng là sự sống: “Ông đă đến để làm chứng, để làm chứng cho ánh sáng, nhờ đó tất cả mọi người qua ông mà tin tưởng” (Jn 1:7).
Hết mọi người đều mang dấu ấn của nhiệm mầu, và hết mọi người đều cảm thấy ước vọng tuyệt đối, một dấu ấn cho thấy là Thiên Chúa đă dựng nên chúng ta theo h́nh ảnh của Ngài và tương tự như Ngài (x Gen 1:27).
Bởi thế, con người là một gia sản quí giá nhất (cf. John Paul II, "Centesimus annus," 35), có một giá trị thẩm mỹ ngoài ḷng mong đợi trước con mắt đức tin, trong cộng đồng cũng thế, v́ họ là hoa trái từ T́nh Yêu của Cộng Đồng Hằng Sống (cf. Benedict XVI, "Deus Caritas Est," 17), bằng một hơi thở chất ngất (Gen 2:7) của mối hiệp thông bất khả sánh ví, nhờ đó hiện lên như h́nh ảnh của Ngài, với một dung nhan thanh thản hay bối rối, có những mầu da khác nhau, nơi có những giọt lệ của một thứ nước nguyên sơ thường chảy xuống.
Tuy nhiên, những giọt lệ này cuối cùng thường được khô đi bởi niềm hy vọng được chia sẻ với “những kho tàng khôn lường của Chúa Kitô” (Eph 3:8). Và việc du lịch, liên hệ với những địa điểm khác và các nền văn hóa khác, hiện lên như là một b́nh minh mới, một thứ dồi dào phong phú được cống hiến trên dung nhan của mỗi một người anh chị em của chúng ta, một tặng ân thường xuyên và vĩnh viễn của Thiên Chúa là Đấng đă trở thành một khách lữ hành và viếng thăm mỗi người chúng ta qua dunh nhan của Người Con ân phúc của Ngài. “Vinh quang và quyền năng muôn đời thuộc về Ngài” (Rev 1:6).
Chớ ǵ sứ điệp này cũng là một sứ điệp của niềm an ủi và phấn khởi, nhất là cho những ai phục vụ ở lănh vực của hoạt động quan trọng này, của việc cổ vơ nhân bản và truyền bá phúc âm hóa này.
Hiệp thông với tất cả anh chị em, tin tưởng rằng lời nguyện cầu của chúng tôi cho anh chị em đạt được thành quả tốt đẹp trong Ngày Thế Giới Du Lịch theo quan điểm mục vụ.
Hồng Y Renato Martino,
Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Di Dân và Du Hành,
Tổng Giám Mục,
Thư Kư Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Di Dân và Du Hành.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh,
BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 24/8/2006
Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Du Lịch Thứ Tư 27/9/2006
Sau đây là nguyên văn sứ điệp được nguyên hồng y quốc vụ khanh Angelo Sodano nhân danh Đức Thánh Cha gửi cho vị tổng thư kư của Tổ Chức Du Lịch Thế Giới là Francesco Frangialli, đề ngày 8/9/2006.
Kính Ông Tổng Thư Kư,
Nhân dịp cử hành Ngày Thế Giới Du Lịch, được cử hành vào ngày 27/9 tới đây, tôi hân hoan gửi đến ông lời chào thân ái của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, cũng như lời Ngài cầu chúc cho biến cố tái diễn quan trọng này trở thành cơ hội góp phần vào việc làm tỏ hiện ảnh hưởng tích cực của vấn đề du lịch một khi nó được tác động bởi những thứ giá trị nhân bản và thiêng liêng.
Đề tài cho năm nay được Tổ Chức Thế Giới nêu lên, “Du Lịch là những ǵ thăng hoa”, cống hiến một dịp để suy nghĩ về vấn đề làm thế nào để gia tăng giá trị hơn nữa cho một thứ văn hóa du hành cũng như cho việc di động của con người như hiện nay, với những kiểu cách khác nhau của vấn đề du lịch hiện đại. Đồng thời nó cũng trở thành cách thức để phân tích nhiều thứ ích lợivề tài chính và kinh tế, cũng như những liên quan rộng răi của nó đối với vấn đề xă hội, tôn giáo, văn hóa, chính trị và môi sinh là những ǵ được chiều kích toàn cầu hóa của vấn đề du lịch đặt ra cho mối quan tâm hữu trách của các Quốc Gia và Dân Tộc.
Vấn đề du lịch chắc chắn là một nguồn phúc lợi, v́ nó giúp vào việc đẩy mạnh nền kinh tế của Chư Dân và tiêu biểu cho một phần chính trong tổng sản phẩm quốc nội cũng như trong mức cân bằng những ǵ cần phải trang trải của Chư Quốc. Hơn nữa, ở những lănh vực khác nhau liên quan tới hoạt động du lịch, hằng triệu người được có công ăn việc làm và các thành phần đa tạp nhất trong xă hội t́m được những nơi làm việc.
Những liên doanh về tài chính của đa quốc và những ngành thương mại khác nhau của quốc gia được thiết lập, để làm dễ dàng hóa hơn nữa những trao đổi về vấn đề du lịch ở vào mọi mùa trong năm, cho dù đối với các nhóm tuổi khác nhau, như lứa tuổi trẻ và lứa tuổi hồi hưu. Hằng triệu con người và các gia đ́nh thực hiện việc du lịch; nó làm phát sinh ra những hiệp hội nhân viên và những tổ hợp gia đ́nh, và tùy theo thứ loại của ḿnh, nó bao gồm thành phố cùng quận hạt, nó chú trọng đến những địa điểm núi non hay biển cả, những địa điểm thiên nhiên hay thậm chí những nơi quan trọng về văn hóa.
Vấn đề du lịch bởi thế là một cơ hội hoan hưởng và là một nguồn lợi không thể phủ nhận về nghệ thuật và thủ công nghệ. Nhờ những thứ kỹ thuật tân tiến nhất hiện nay (phương tiện truyền liệu, máy bay, tầu thủy, siêu xa lộ, xe lửa tốc hành v.v.), không c̣n khoảng cách về thời gian và không gian nữa, nhờ đó thành phần du lịch có thể dễ dàng đi đến mọi hang cùng ngơ hẻm của trái đất này. Trong việc đón tiếp nhau giữa người thăm viếng và thành phần chủ nhà, người ta có thể hiện thực việc trao đổi các thứ sản vật của trái đất và của văn hóa, những ǵ mang lại cho đời sống con người t́nh nghĩa huynh đệ hơn và đoàn kết với nhau hơn.
Tổ Chức Thế Giới này có nhiều cơ hội để nhắc nhở rằng vấn đề du lịch trước hết là một công chuyện của con người. Cái phong phú nó có thể cung cấp, bởi thế, không được trở thành những ǵ thuần kinh tế hay vật chất. Về vấn đề này, Công Đồng Chung Vaticanô II đă có một nhận định liên hệ sau đây: “Giờ giấc làm việc ngắn hơn đă trở thành luật chung ở khắp mọi nơi và cung cấp cho có nhiều cơ hội hơn đối với phần lớn dân chúng. Thời gian giải trí này cần phải được sử dụng một cách thích đáng để bồi bổ tinh thần và cải tiến sức khỏe tâm thần cùng xác thân… bằng việc du hành để mở rộng và thăng hóa trí khôn con người nhờ học hỏi từ người khác” (Hiến Chế ‘Gaudium et Spes’, 61).
Vấn đề du lịch có thể cổ vơ việc phát triển thực sự về nhân bản và xă hội, nhờ có nhiều cơ hội được nó cống hiến cho trong vấn đề chia sẻ các sản vật, vấn đề dồi dào trao đổi văn hóa, vấn đề vươn tới vẻ đẹp của thiên nhiên hay nghệ thuật, vấn đề so sánh giữa các tâm thức, truyền thống và tôn giáo khác nhau. Việc du hành là những ǵ làm phong phú tâm linh con người khi họ bắt đầu khám phá ra một điều ǵ đó mới mẻ, khi người ta được thu hút vào việc t́m hiểu những giải đáp được người khác cống hiến để cho những vấn nạn lớn lao về cuộc sống của con người.
Đặc biệt trong thời đại của chúng ta đây, vấn đề du lịch kêu gọi con người, thành phần muốn gia tăng kiến thức và kinh nghiệm về cách thức làm thế nào để con người nam nữ trở nên thành phần ôm ấp văn minh và sự thiện. Để điều này trở thành khả dĩ, cần phải được trân trọng sửa soạn, một cuộc sửa soạn tránh được những ǵ là ứng biến và nông nổi hời hợt. Bởi thế, các Quốc Gia, các hiệp hội của thành phần hướng dẫn đi du lịch, những cơ cấu về hàn lâm và văn hóa và những hiệp hội của lănh vực du lịch cần phải thực hiện việc đào luyện những khả năng chuyên môn, nhờ đó chủ động bảo đảm được việc đón tiếp thành phần du lịch.
Cũng cần phải khai triển một chương tŕnh giáo dục hấp dẫn về những giá trị của vấn đề du lịch liên hệ tới và trong việc bênh vực con người, cộng đồng và những sản vật thiên nhiên cùng văn hóa của chủ quốc. Chỉ có thể những thị trường du lịch và giải trí mới trở thành nguồn lợi thực sự thăng hoa tất cả mọi người, không loại trừ những ai xuất thân từ những thân phận bất hạnh bởi nguồn gốc tự nhiên hay xă hội và văn hóa của họ.
Đức Thánh Cha mời gọi tất cả mọi người hoạt động đồng hành với hoạt động nổi tiếng của Tổ Chức Du Lịch Thế Giới này hăy thực hiện một cuộc dấn thân thực sự, mỗi người trong lănh vực khả năng đặc biệt của ḿnh, nhờ đó vấn đề du lịch được sống như một cơ hội thăng hóa về nhân bản và tâm linh. Như thế, vấn đề du lịch có thể trở thành một nguồn lợi đáng giá khác cho việc thực sự thăng hóa nhân loại. Thật vậy, nhờ du lịch, nam nhân, nữ giới và các nền văn hóa trao đổi những thứ giá trị về kiến thức và phúc hạnh, về công lư và tự do, về thiện hảo và ḥa b́nh – những thứ giá trị mang lại cho đời sống trọn vẹn ư nghĩa.
Kèm theo những lời chúc này, Đức Thánh Cha hứa sẽ nhớ đặc biệt nguyện cầu xin Thiên Chúa ban xuống cho mọi phúc lành. Tôi muốn liên kết những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi với những lời chúc của Đức Thánh Cha, và trong dịp này tôi xin bày tỏ cùng quí vị tấm ḷng trân trọng cảm miến của tôi.
Chân thành,
Tại Điện Vatican ngày 8/9/2006
Hồng Y Angelo Sodano,
Quốc Vụ Khanh
Ṭa Thánh
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 26/9/2006
Lời Phát Biểu Cuối Cùng của Vị Đặc Sứ Giáo Hoàng ở Lebanon
V́ t́nh h́nh xung đột xẩy ra hơn một tháng trời giữa Do Thái và nhóm dân quân Hezbollah ở Lebanon, vị giáo hoàng đương kim Biển Đức XVI của chúng ta đă gửi vị đặc sứ của ngài tới đất nước Lebanon, cũng cùng vị đặc sứ cũng đă được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II sai đến Iraq gặp tổng thống Iraq để ngăn cản chiến cuộc Iraq xẩy ra trước hăm dọa của Hoa Kỳ, đó là Đức Hồng Y người Pháp hưu trí nguyên chủ tịch hội đồng công lư và ḥa b́nh của Ṭa Thánh Roger Etchegaray.
Hôm Thứ Hai, 14/8, ngài đă gặp tổng thống Lebanon, gặp vị chủ tịch của Hội Đồng Chư Bộ Trưởng, vị phó chủ tịch Hội Đồng Cao Cấp Giáo Phái Hồi Giáo Shiite, và vị thượng phụ của Kitô hữu theo lễ nghi Maronite, đồng thời ngài cũng viếng thăm những trụ sở chính của Hội Bác Ái Caritas Lebanon. Sáng Thứ Ba, ngài đă chủ tế Thánh Lễ trọng kính Đức Mẹ Mông Triệu ở Đền Thánh Mẫu Đức Bà Lebanon ở Harissa, với sự tham dự của Đức Hồng Y Pierre Nasrallah Sfeir, Thượng Phụ ở Antioch thuộc lễ nghi Maronites. Buổi chiều cùng ngày, ngài đă đến viếng thăm những người tị nạn ở Haret Sakher, và gặp Đức Aram I giáo chủ Công Giáo Armenia.
Sau đây là những lời phát biểu của ngài hôm Thứ Tư 16/8, trước khi ngài lên đường trở về sau thời gian 3 ngày thi hành nhiệm vụ của vị đặc sứ giáo hoàng.
“Tôi đến Lebanon để cử hành lễ Mẹ Maria Mông Triệu, nhân danh Giáo Hoàng Biển Đức XVI cầu nguyện cho ḥa b́nh ở Lebanon và Trung Đông.
“Cuộc viếng thăm của tôi trùng hợp với những giờ phút đầu tiên của cuộc ngưng bắn, một điều đă cần phải mất nhiều thời gian và nghị lực và là những ǵ chúng ta hy vọng sẽ chân thực và lớn lao. Cuộc ngưng bắn cần phải giúp cho việc tất cả mọi lực lượng ḥa b́nh có thể giải quân. Chúng ta phải cám ơn những ai, thuộc các cấp độ quốc gia và quốc tế khác nhau, đă kế hoạch mở ra một cách lâu dài một con đường có thể áp dụng ở mức độ tất cả mọi người sát cánh dấn thân thực hiện, ở chỗ không ai có thể đứng về một phía cả.
“Con đường này, lâu dài và gian nan, trước hết, cũng là một con đường linh thiêng nữa. Không một nỗ lực nào sẽ kéo dài nổi nếu nó không được hỗ trợ bởi sự b́nh an của những tinh thần và các cơi ḷng. Chúng đă nguyện xin điều này cùng Đức Bà Harissa, và nhân dân Lebanon đă hiểu được nó rơ ràng, khi họ bất chấp những khó khăn đông đảo tuốn đến.
“Chỉ khi nào thuần phục ư muốn của Thiên Chúa mới giúp chúng ta có thể bẻ gẫy cái lư lẽ của sự dữ bửa vây con người, một sự dự được đánh dấu bằng việc bạo động mù quáng và tự sát. Qua những cuộc gặp gỡ giữa tôi với các vị thẩm quyền tôn giáo và chính trị, tôi có thể chứng thực rằng những người Kitô hữu và Hồi hữu đang sẵn sàng làm mọi sự có thể để cùng nhau tái thiết xứ sở bị thương tích này. B́nh an không phải chỉ là việc bóp nghẹt những ai đă đánh nhau. Nó là một sự cổ vơ nguyên tuyền của một gia đ́nh thực sự tin rằng tất cả mọi phần tử của ḿnh đều là huynh đệ, v́ họ được Thiên Chúa yêu thương cùng một cách thế như nhau.
Tôi nghĩ rất nhiều tới thành phần bị phân tán ở miền nam Lebanon, những người đang cố gắng – thường bằng lệ rơi – để t́m lại nhà cửa ruộng vườn của ḿnh. Tôi xin tất cả mọi tổ chức chính quyền và ngoài chính quyền đừng thôi song hăy gia tăng việc cứu trợ cần thiết trong một thời gian lâu dài.
Tôi có thể bảo đảm là Đức Giáo Hoàng tiếp tục chú ư rất nhiều tới những khổ đau và nhu cầu, cả về tinh thần lẫn vật chất, của tất cả mọi người dân Labanon.
Giờ đây, các thứ vũ khí đă im hơi lặng tiếng, Lebanon mới có thể cho thấy rằng con tim của ḿnh luôn đập nhịp hiệp nhất quê hương và nhịp ḥa b́nh giữa các dân tộc vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17/8/2006
“Vấn đề di dân và di chuyển từ các quốc gia đa số Hồi Giáo và đến các quốc gia đa số Hồi Giáo”
(Bản Đúc Kết Đại Hội Thường Niên của Hội Đồng Ṭa Thánh về Di Dân và Du Hành 15-17/5/2006)
Những Đúc Kết và Khuyến Dụ
Thành phần di dân Hồi Giáo ở các xứ sở đa số Kitô Giáo
1. Về vấn đề này, việc di dân của những người Hồi Giáo được nhận thấy là gia tăng ở các xứ sở Âu Châu và Bắc Mỹ, những xứ sở thuộc truyền thống Kitô Giáo cổ thời (xem bản hướng dẫn EMCC - "Erga Migrantes Caritas Christi", các số 59 và 65). Họ đến t́m kiếm việc làm hay nền dân chủ, hoặc để đoàn tụ gia đ́nh.
2. Bởi thế mới cần phải khuyến khích việc hội nhập (chứ không phải việc đồng hóa) của thành phần di dân Hồi Giáo (x EMCC 2, 60-61).
3. Do đó, đặc biệt là thành phần Công Giáo được kêu gọi để tỏ ra đoàn kết với những người di dân Hồi Giáo, để cởi mở chia sẻ với họ và để hiểu biết hơn nữa về văn hóa cùng tôn giáo của họ. Đồng thời họ cũng làm chứng cho các giá trị Kitô Giáo của ḿnh, cũng theo chiều hướng của một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa dĩ nhiên là cần phải tôn trọng quyền tự do lương tâm và tôn giáo (x EMCC, 59 và 69).
4. Điều này có nghĩa là Kitô hữu cần phải hiểu biết sâu xa hơn nữa căn tính của ḿnh (x EMCC, 60) như là thành phần môn đệ của Chúa Kitô, làm chứng cho cán căn tính này trong đời sống của ḿnh và tái khám phá ra vai tṛ của ḿnh nơi việc tân truyền bá phúc âm hóa (x EMCC 86-88).
5. V́ vậy cần phải khẳng định việc tương kính và mối liên đới loài người, trong bầu khí an b́nh, lấy con người, phẩm giá của họ và quyền lợi cùng phận vụ của họ làm chính.
6. Dĩ nhiên các thứ nhân quyền và quyền tự do của con người phải đi song song với những thứ nhân quyền và quyền tự do của người khác.
Vấn đề đối thoại
7. Thành phần tham dự viên Đại Hội Thường Niên này hết sức tỏ ra ư thức về nhu cầu cần thực hiện việc đối thoại thực sự giữa các tín hữu thuộc những tôn giáo khác nhau, nhất là giữa Kitô hữu và Hồi hữu (x EMCC, 69).
8. Về vấn đề này th́ các mối liên hệ theo ‘sự ganh đua về tinh thần’ được coi là những ǵ quan trọng.
9. Như thế, nếu việc đối thoại giữa thành phần Kitô hữu và Hồi hữu là những ǵ bất khả châm chước ở khắp mọi nơi th́ nó đặc biệt ở các xă hội Tây phương, để cải tiến sự tương kính và thông cảm, cũng như việc tương kính và ḥa b́nh.
10. Dù sao đi nữa, trong khi cần phải đón nhận thành phần di dân Hồi Giáo liên quan tới vấn đề tôn trọng quyền tự do tôn giáo của họ, th́ họ cũng không thể châm chước trong việc tôn trọng căn tính văn hóa và tôn giáo của các xă hội chủ quốc.
11. Dường như cũng cần phải phân biệt giữa những ǵ các xă hội thụ nhận có thể và bất khả nhân nhượng theo văn hóa Hồi Giáo, với những ǵ có thể được tôn trọng hay chia sẻ liên quan tới thành phần môn đồ thuộc các tôn giáo khác (x EMCC, 65-66), và cần phải có khả năng để lên tiếng về vấn đề này với cả thành phần lập pháp, hướng tới việc h́nh thành một cách xứng hợp luật lệ dân sự, tùy theo quyền hạn của mỗi một người.
12. Điều này cũng có nghĩa là đề ra một kiểu mẫu cho một việc đối thoại tôn giáo không phải chỉ là việc trao đổi hay lắng nghe nhau, mà c̣n tiến tới tỏ cho nhau thấy những niềm xác tín thiêng liêng sâu xa của ḿnh.
13. Bởi thế cần phải đồng hành với thân hữu đối thoại trong tiến tŕnh của việc thấu đáo những chiều kích đạo lư và thực tiễn, không những là những chiều kích về thần học và đạo giáo, của những thành quả nơi các lời yêu cầu được ngỏ cùng xă hội dân sự, mà vẫn tôn trọng một cách thích đáng việc phân biệt giữa vấn đề đối thoại dân sự và tôn giáo.
14. Một khi tầm quan trọng của nguyên tắc hỗ tương được tái khẳng định (x EMCC, 64), một nguyên tắc được Đức Thánh Cha xác nhận trong bài ngài nói cùng thành phần tham dự đại hội này, th́ cần phải hướng tới việc phân biệt giữa các lănh vực về dân sự và tôn giáo ở cả các xứ sở Hồi Giáo nữa.
15. Về vấn đề này, dù sao cũng cần phải phân biệt giữa Tây phương và Kitô Giáo, v́ thường các giá trị Kitô Giáo không c̣n ảnh hưởng ǵ tới thái độ, chủ trương hay những hành động (cũng như tới cả công luận nữa) nơi một thế giới được gọi là Tây phương (x EMCC, 60).
16. Thành phần tham dự đại hội này cũng bày tỏ niềm hy vọng rằng ở những miền có người Kitô hữu và Hồi hữu ‘chung sống với nhau’. Họ có thể liên kết nỗ lực của ḿnh, cùng với tất cả các đồng bào khác, bảo đảm cho hết mọi người, bất phân biệt tôn giáo, việc hành sử trọn vẹn các quyền lợi và các quyền tự do cá nhân của họ, một cách riêng tư cũng như với tư cách là một phần tử của cộng đồng.
T́nh trạng ở một số xứ sở đa số Hồi Giáo
17. Mặt khác, ở các xứ sở đa số Hồi Giáo, thành phần Kitô hữu và thành phần lao công di dân, nói chung, là thành phần nghèo nàn và chẳng có quyền giao kèo thực sự, việc những nhân quyền của họ được nh́n nhận gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, thành phần lao công di dân có rất ít khả năng để sự vụ của họ được công lư tôn trọng, v́ họ có thể dễ dàng bị trừng phạt hay trục xuất.
18. Bởi thế Giáo Hội được kêu gọi để giúp thành phần di dân Kitô hữu ở các xứ sở đó, cũng như trên khắp thế giới, liên quan tới việc tôn trọng phạm vi luật pháp cũng như tới việc chú trọng đến vấn đề thành lập những luật lệ chính đáng về sự di chuyển của con người cùng vần đề bảo vệ theo pháp lư tất cả những ai trong cuộc. Tuy nhiên, có những tham dự viên nhắc nhở rằng, ở những xứ sở khác nhau, t́nh h́nh này cần phải như thế để thành phần công dân của những xứ sở ấy không cần phải xuất ngoại để sống c̣n.
19. Ngoài ra, theo những chỉ dẫn của sắc lệnh công đồng ‘Christus Dominus’ (số 18), Giáo Hội phải bảo đảm rằng tín hữu, thành phần không được bản quyền địa phương phục vụ một cách thích đáng, chẳng hạn, thừa tác mục vụ trong khu vực đối với việc di chuyển của họ, hay hoàn toàn hụt hẫng thừa tác mục vụ này, có được một việc chăm sóc mục vụ đặc biệt và thậm chí là việc chăm sóc mục vụ hội nhập. Điều này cũng đúng cả ở các xứ sở đa số Hồi Giáo nữa.
20. Ở những xứ sở ấy, công việc của Giáo Hội địa phương là đón nhận thành phần di dân và thành phần du hành, bất kể t́nh trạng thiếu thốn nhân viên và bất kể cả những cơ cấu không thích hợp.
21. Về khía cạnh này, vấn đề đối thoại và hợp tác là những ǵ cần thiết giữa Giáo Hội nguyên thủy của thành phần di dân và thành phần du hành với giáo hội ở các quốc gia mục tiêu của họ, đối với vấn đề chăm sóc đời sống thiêng liêng của họ. Thật vậy, đó là một qui luật chung đối với tất cả mọi quốc gia (x EMCC, 70 và 50-55).
22. Ngoài ra, thành phần di dân quố ctế cũng cần phải được giúp đỡ để làm cho việc đóng góp của họ vào cộng đồng họ sống, cũng như vào thành phần Dân Chúa địa phương.
23. Cộng đồng tiếp nhận đồng thời cũng phải phát triển một cảm quan đoàn kết với thành phần di dân cũng như với các thành phần khác ở trong những trường hợp tương tự.
Mối quan tâm của Giáo Hội nơi một vài lănh vực của vấn đề di chuyển của nhân loại
Thành phần tham dự viên đại hội này cũng xem xét những lănh vực khác nhau của vấn đề di dân và du hành. Hết mọi người tin rằng đối với thành phần di dân:
24. Giáo Hội cần phải lưu ư là họ hội nhập một cách thích hợp, xứng với văn hóa và tôn giáo của từng người (cf. Pope John Paul, Message for the World Day of Peace 2001, No. 8, and Message for the World Day of Migrants and Refugees 2005, No. 3).
25. Bởi thế, Giáo Hội cần phải khuyến khích việc đối thoại có tính cách liên văn hóa và xă hội cũng như liên tôn, hợp với những phân biệt cần thiết (cf. Pope John Paul II, Message for the World Day of Peace 2001, No. 12).
Đối với các lănh vực khác nhau th́ những điều sau đây đặc biệt cần phải giữ:
26. Cần phải kiến tạo những liên hệ thân hữu, trong một bầu khí tôn trọng những thứ khác biệt về văn hóa và tôn giáo, với thành phần nghĩ đến việc trở về với nguyên trú của họ, như những người di dân chẳng hạn, hay với những sinh viên ngoại quốc (quốc tế) tương lai sẽ trở nên thành phần lănh đạo của nước họ.
27. Việc làm tuyên úy là những ǵ đáng làm đối với thành phần tị nạn và sinh viên hải ngoại, song không phải chỉ có những thành phần này thôi.
28. Đối với những cuộc hành hương, cần phải nhấn mạnh tới việc thúc đẩy thành phần hành hương t́m kiếm dung nhan của Thiên Chúa nơi cả những tín đồ thuộc các tôn giáo khác nữa.
29. Nên có những nguyện đường Công Giáo ở các phi trường, những giao điểm bộ hành, và nơi các trạm xe lửa, hoặc những nơi nguyện cầu, cho dù là những nơi dành cho các tôn giáo khác nhau khi có thể.
30. Trong Các Trung Tâm Stella Maris (Tông Đồ trên Biển Cả), nên tiếp tục tiếp đón cả những thủy thu Hồi Giáo nữa, để trân trọng giúp đỡ về mặt thiêng liêng nếu được yêu cầu.
31. Đối với thành phần du mục, đối tượng bị loại trừ, bài xích và dị chủng, xem ra cần phải củng cố tính cách trưởng thành nơi các xă hội dân chủ cùng với khả năng của các xă hội này trong việc thông cảm và tôn trọng tính cách đa dạng về xă hội, văn hóa và tôn giáo của thành phần ấy (cf. Guidelines for a Pastoral Care of Gypsies, No. 50).
32. Đối với thành phần ‘nữ giới bụi đời’ – v́ nghèo nàn và việc buôn bán con người thường dẫn tới chỗ bán thân, và v́ việc làm điếm này có thể là những ǵ tùy thuộc vào những Kitô hữu và Hồi hữu – vấn đề được cho rằng cần phải kiến tạo ư thức nhắm tới toàn thể xă hội.
33. Tuy nhiên, cần phải tái quyết tâm bao gồm cả nữ giới trong việc định đoạt nữa, nhất là những vấn đề liên quan tới họ, cũng như trong việc thuyết phục cha mẹ cung cấp vấn đề giáo dục cho con gái tương đương với vấn đề giáo dục cho con trai, việc giáo dục hiển nhiên là bao gồm cả việc đào luyện về đạo lư.
Học đường và việc giáo dục
Thành phần tham dự viên đại hội này đặc biệt nhấn mạnh tới sự kiện là:
34. Cần phải bảo đảm việc giáo dục cho các tân thế hệ, bởi v́ nhà trường cũng đóng một vai tṛ nồng cốt trong việc thắng vượt t́nh trạng xung khắc của vô thức cùng với các thành kiến, cũng như trong việc cống hiến một thứ kiến thức đúng đắn cùng khách quan về tôn giáo của người khác, đặc biệt nhấn mạnh tới quyền tự do lương tâm và tôn giáo (x EMCC, 62). Ngoài ra, đối với Kitô hữu, họ cũng cần phải được trang bị những ǵ là căn bản cho việc ư thức truyền bá phúc âm hóa đối với cảm nghiệm của các tín đồ thuộc những tôn giáo khác (x EMCC, 65), cũng như đối với những dấu chỉ thời đại.
35. Bởi thế, không thể nào bỏ qua việc kiểm chứng các sách giáo khoa liên quan cả tới việc tŕnh bày lịch sử nơi mối liên hệ của các tôn giáo, một việc tŕnh bày h́nh thành căn tính của con người, và truyền đạt một h́nh ảnh về căn tính nơi tôn giáo của người khác.
36. Dù sao cũng cần phải đào sâu hơn nữa vào những việc học hỏi, giáo huấn và nghiên cứu liên quan tới những bộ mặt khác nhau của Hồi Giáo thuộc về lịch sử và/hoặc thuộc thời hiện đại, bao gồm cả những mức độ khác nhau tôn giáo này chấp nhận tính cách tân tiến lành mạnh (x EMCC, 66).
37. Cần phải giúp cho các cha mẹ Hồi Giáo và những vị lănh đạo tôn giáo hiểu được những ư hướng nơi các thể chế giáo dục Tây phương cũng như những thành quả cụ thể của việc họ chối từ vấn đề giáo dục thiên lệch bất công nơi các học đường thuộc các thể chế mà con cái họ sinh hoạt ấy.
Các quốc gia và quyền tự do tôn giáo
38. V́ rất thường xẩy ra là quốc gia là thẩm quyền đưa ra những ‘h́nh thức’ về Hồi Giáo ở một số xứ sở đa số Hồi Giáo, tổ chức việc thờ phụng của tôn giáo này, dẫn giải t́nh thần của tôn giáo ấy, truyền đại gia sản của tôn giáo này, bởi đó biến toàn thể xă hội có tính chất Hồi Giáo đại đồng, nên thành phần không phải Hồi Giáo rất thường cảm thấy rằng họ thuộc về loại công dân hạng hai. Bởi thế, t́nh trạng này lại càng trở nên khó khăn hơn nữa đồi với thành phần di dân Kitô hữu.
39. Bởi thế, cần phải nỗ lực thực hiện khắp nơi để những ǵ thịnh hành sẽ là một thứ văn hóa ‘chung sống với nhau’ giữa thành phần bản quốc và thành phần di dân, trong một tinh thần tương kiến và tương kính về dân sự đối với các quyền lợi của con người. Cũng cần phải t́m kiếm những cách thức ḥa giải và thanh tẩy kư ức (x EMCC, 65). Chúng ta cũng cần phải trở thành những biện hộ gia bênh vực quyền tự do tôn giáo – trách nhiệm liên tục của chúng ta – và công ích, và mang lại việc tôn trọng thành phần thiểu số là những ǵ cho thấy thực là một dấu hiệu của một nền văn minh chân chính.
40. Thật là măn nguyện khi thấy rằng nhiều quốc gia đa số Hồi Giáo đă thiết lập liên hệ ngoại giao với Ṭa Thánh, bởi đó, trở nên cảm nhậy với việc bảo đảm các thứ nhân quyền, khẳng định ư muốn thiết lập một cuộc đối thoại liên văn hóa và liên tôn, trong cung cách đa nguyên lành mạnh.
41. Theo chiều hướng ấy, cần phải than tiếc nơi một số xứ sở về những giới hạn đối với những thứ nhân quyền, đặc biệt là những quyền liên quan tới những khác biệt về tôn giáo, cũng như về sự thiếu vắng của quyền tự do thay đổi đạo giáo. Tuy nhiên, hy vọng rằng các thẩm quyền dân sự của các xứ sở nguyên quán của thành phần di dân Kitô hữu sẽ giúp công dân của ḿnh, tại các xứ sở Hồi Giáo, đạt được việc hành sử thực sự quyền tự do tôn giáo.
42. Thế nên, những xứ sở nguyên quán này cần phải tạo nên những cơ hội để trao đổi với những xứ sở đa số Hồi Giáo, về các đề tài liên quan tới công ích đại đồng, tôn trọng thành phần thiểu số, nhân quyền và nhất là quyền tự do tôn giáo là nền tảng của tất cả mọi thứ quyền tự do khác.
43. Dù sao Giáo Hội cũng phải tiếp tục việc khởi xướng của ḿnh trong vấn đề đối thoại liên văn hóa và liên tôn, ở các cấp trật khác nhau, nhất là khi những việc khởi xướng này được dễ dàng hóa bởi những nhà lănh đạo chính trị.
44. Việc hợp tác giữa các cơ cấu Kitô hữu và Hồi hữu là những ǵ trợ giúp cho cá nhân cũng như dân chúng đang thiếu thốn, không phân biệt tôn giáo, là một dấu hiệu thực sự tiêu diệt các thành kiến và t́nh trạng khép kín đối với việc cởi mở hợp t́nh hợp lư đối với nhau.
45. Mức độ gia tăng để Hồi hữu và Kitô hữu ‘chung sống với nhau’ là những ǵ trở thành cơ hội để cùng nhau hợp tác cho một thế giới an b́nh hơn, tôn trọng căn tính của nhau và liên kết hơn để phục vụ công ích, thấy rằng tất cả chúng ta đều làm nên một gia đ́nh nhân loại duy nhất là gia đ́nh đang cần niềm hy vọng (x EMCC, 101-103).
46. Về vấn đề này, việc hợp tác giữa các phân bộ khác nhau của Giáo Triều Rôma, của các hồi đồng giáo phẩm và Chư Giáo Hội riêng là những ǵ hết sức quan trọng.
47. Một yếu tố cho mối hiệp nhất, có tính cách đa dạng hữu lư, sẽ là việc ư thức về phẩm giá của hết mọi con người, dù họ thuộc chủng tộc nào, văn hóa nào, công dân nào hay tôn giáo nào. Đó là một thứ giá trị càng ngày càng được xác nhận một cách phổ cập, bất chấp tất cả những ǵ là tách ly cùng với việc chối bỏ cụ thể trong sinh hoạt hằng ngày.
48. Theo chiều hướng ấy, thành phần tham dự đại hội này đặc biệt chú trọng tới đại lục Phi Châu là châu lục đặc biệt cần được ổn định về chính trị và hợp tác đa phương, cho việc phát triển an b́nh và trọn vẹn của nó.
49. Cả về vấn đề này nữa, một số nguyên nhân gây ra căng thẳng và xung đột đă được bàn tới, hy vọng rằng những t́nh trạng này sẽ được giải quyết một cách chính đáng và mau chóng, cũng như để ngăn ngừa chiến tranh, bạo động và khủng bố. Dù sao cũng cần phải tránh việc làm dụng tôn giáo để giao rắc hận thù đối với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác hay v́ những lư do ư hệ cùng chính trị.
50. Bởi thế, hy vọng rằng thành phần trí thức Hồi hữu và Kitô hữu, nhân danh chủ nghĩa nhân bản chung và những niềm tin xứng hợp riêng của ḿnh, sẽ đặt ra cho ḿnh những vấn nạn thảm thiết liên quan tới việc sử dụng vơ lực, là những ǵ vẫn thường được thực hiện nhân danh tôn giáo.
Vai tṛ của truyền thông đại chúng
51. Cần phải nh́n nhận rằng truyền thông là những ǵ đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo nên môä bầu khí thích đáng cho vấn để thông cảm và tôn trọng khi chúng thông tin về những vấn đề tôn giáo. Bởi thế, thành phần phóng viên kư giả và những chuyên viên điều hành truyền thông, nói chung, cần phải thực hiện trách nhiệm của ḿnh đặc biệt liên quan tới vấn đề thông tin, chứ không phải chỉ liên quan tới vấn đề quyền tự do ngôn luận, trong một thế giới càng ngày càng được toàn cầu hóa.
52. Truyền thông đại chúng cũng có thể góp phần quan trọng vào việc ‘đào luyện’ (song tiếc thay, ngược lại, vào việc làm méo mó) những người Kitô hữu và Hồi hữu.
Chúng tôi kết thúc bản đúc kết này bằng việc thành phần tham dự viên đại hội cảm thấy hết sức măn nguyện về nội dung, phương pháp làm việc và vấn đề cập nhật hóa của đại hội này là những ǵ khơi lên nhiều quan tâm.
Thánh Đô Vatican ngày 19/6/2006
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Văn Pḥng Báo Chí của Ṭa Thánh phổ biến hôm 22/6/2006 và được Zenit phổ biến cùng ngày
1. Tôi lấy làm hân hạnh và hân hoan liên kết tiếng nói của tôi với tiếng nói của tất cả các phần tử khác thuộc phái đoàn đại biểu của Giáo Hội Công Giáo, để cám ơn Đức Thượng Phụ Alexy II và Hội Đồng Liên Tôn Nga Sô về việc xướng xuất quan trọng lên một cuộc thượng nghị qui tụ lại nơi phố thị lịch sử này các vị đại diện thuộc các tôn giáo lớn trên thế giới.
Nhờ đó, chúng ta có thể chia sẻ những mối quan tâm chung vào lúc mở đầu cho đệ tam thiên kỷ này, và khẳng định việc chúng ta quyết tâm hợp tác bằng một nhiệt t́nh mới trong việc tin tưởng đối thoại liên văn hóa và liên tôn để phục vụ một chủ nghĩa nhân bản toàn vẹn và đoàn kết.
Mỗi một người được kêu gọi để t́m thấy vị trí của ḿnh trong cuộc ḥa tấu của chư quốc, bằng một tầm vóc trọn vẹn con người theo chiều kích tôn giáo. Cùng nhau chúng ta muốn tái khẳng định trước thành phần chính trị gia và công dân trên thế giới vai tṛ bất khả thay thế của các tôn giáo trong việc xây dựng những xă hội công bằng chính trực hơn, những xă hội b́nh an thái ḥa. Chúng ta muốn tái xác nhận ở đây ư muốn chung của chúng ta về việc củng cố vấn đề đối thoại giữa các tôn giáo cũng như với các thẩm quyền dân sự cùng chính trị, mỗi lănh vực nhận thức được phần nhiệm của ḿnh.
2. Hiện tượng gia tăng vấn đề toàn cầu hóa mang đến cho con người nam nữ của thời đại chúng ta những thách đố chúng ta muốn can đảm đối phó. Môi trường lịch sử và văn hóa đang tiến hóa mau chóng này mang lại những đổi thay về những thứ trật tự đa dạng làm nên thứ tác hành mới. Tuy nhiên, mục tiêu chính yếu vẫn măi c̣n đó như nhau, đó là việc xây dựng một thành đô xứng hợp với con người.
Để làm điều này, cần phải bảo đảm rằng con người nam nữ thuộc thời đại của chúng ta không được chiều theo tính cách lănh đạm đối với các giá trị nhân bản phổ quát, và v́ thế chúng ta chú trọng tới tất cả những ǵ có thể làm suy yếu đi việc truyền đạt những giá trị ấy. Trong những giá trị này, quan trọng nhất là việc tôn trọng phẩm vị con người, một phẩm vị của toàn thể con người và của hết mọi người, v́ họ được dựng nên theo h́nh ảnh của Thiên Chúa, con người là nền tảng của đời sống trong xă hội.
Điều này bao gồm cả việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo như là một quyền lợi chủ yếu của con người. Không một quyền bính nào được chối bỏ nó, thay vào đó, có nhiệm vụ phải tôn trọng quyết định của nó và nâng đỡ việc thực hành êm thắm của nó ở mọi nơi và trong mọi lúc.
3. Là thành phần lănh đạo tôn giáo, ngày nay chúng ta rất quan tâm tới những chiều hướng của các thể chế chính trị chỉ chú trọng tới quyền lực về kinh tế hơn là t́nh trạng thiệt hại gây ra cho công lư và t́nh liên đới, cũng như tới cuộc khủng hoảng về các thứ giá trị đang càn quét cả những đám quần chúng lớn trên thế giới, đặc biệt là giới trẻ, gây ra những trục trặc trầm trọng cho tương lai của nhân loại. Việc toàn cầu hóa các mẫu thức về văn hóa trống rỗng các giá trị nhân bản là việc đang hỗ trợ cho t́nh trạng lạc mất đi căn tính nơi tất cả những phần xă hội của chúng ta, v́ chúng ch́m vào một thứ đồng nhất nhân tạo của một mẫu thức kinh tế có những kỳ vọng chung.
Từ đó phát sinh ra khuynh hướng khép kín vào cái căn tính riêng của ḿnh mà thôi, đó là cái cảm thức về sự bất công bởi sự thiếu vắng việc đồng đều nơi vấn đề phân chia cái giầu thịnh kèm theo nỗi thất vọng về một nền văn minh mất đi những nguyên tắc chính yếu của nó cùng với các qui chiếu đạo lư của nó, là những ǵ có thể dẫn tới t́nh trạng bất măn, biến thành những loại hành động bạo động khác nhau, bao gồm cả việc khủng bố bị chúng ta dứt khoát lên án bằng những lời của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: ‘Hận thù, cuồng tín và khủng bố là những ǵ làm ô danh Thiên Chúa và méo mó h́nh ảnh chân thực về con người’.
4. Đối diện với những đổi thay của trào lưu bảo thủ đang làm gia tăng cái ô nhục nơi một số tín đồ khi các quốc gia tước đoạt đi các quyền lợi về văn hóa và tôn giáo của họ, đối diện với những hiệu quả của chủ nghĩa duy cộng đồng được khơi động bởi cái nhức nhối khó chịu của một số nhóm trong thế giới bất quân b́nh này, và đối diện với những nguy cơ về việc áp dụng một cách phi nhân một số tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, chúng ta muốn nhấn chuông báo động rằng: Cả những vấn đề ấy nữa cũng là các thứ thách đố cần đến những đáp ứng cấp tốc, thích đáng và hoàn toàn nhân bản, những thách đố đang trải qua một cuộc sụp đổ trầm trọng nơi các xă hội của chúng ta.
Một số các xứ sở đă ở vào giai đoạn tự sát về dân số, và hầu như mất đi cái cảm thức về tính chất linh thánh của sự sống, đưa vào luật lệ của ḿnh những qui định làm méo mó hôn nhân và bất ổn gia đ́nh là tế bào căn bản của xă hội, bởi thế mở đường thậm chí cho những lệch lạc trầm trọng hơn nữa và cho một tương lai đầy những đe dọa.
5. Đối với đại lục Châu Âu, Kitô Giáo đă từng là một yếu tố nguyên khởi cho mối hiệp nhất giữa các dân tộc và các nền văn hóa của những dân tộc ấy. Qua hai ngàn năm, Kitô Giáo liên tục cổ vơ một nhăn quan toàn vẹn về con người và về những quyền lợi cùng phận vụ của họ, và lịch sử của một đại số quốc gia đang chứng kiến thấy cái phong phú về văn hóa đặc biệt của nó. Về phần ḿnh, Giáo Hội Công Giáo đă dứt khoát dấn thân vào việc đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo, ư thức về vai tṛ bất khả thay thế của các tôn giáo trong việc nhân bản hóa xă hội, về khả năng của các tôn giáo, trong việc hoạt động ở tâm điểm của vấn đề đối thoại, như men thực sự có thể làm phong phú các việc trao đổi giữa dân chúng cùng văn hóa của họ về các giá trị cao nhất mà nếu thiếu vắng các giá trị ấy th́ con người sẽ trở thành sói đối với con người.
Những giá trị này là việc tôn trọng phẩm giá của tất cả mọi người chẳng trừ ai, như thành phần tạo vật được Thiên Chúa Hóa Công yêu thương và mong muốn dựng nên theo h́nh ảnh Ngài và tương tự như Ngài, là việc tôn trọng quyền tự do theo lương tâm và quyền được tự do công khai thờ phượng theo tôn giáo, và là việc ư thức định mệnh chung của con người được kêu gọi cùng nhau thiết dựng một nền văn minh yêu thương trong công lư và trong ḥa b́nh.
6. Qua nhiều ngàn năm, các tôn giáo đă đóng góp đáng kể vào việc phát triển và bảo tŕ gia sản văn hóa của nhân loại. Các tôn giáo, khi nhận thấy công của ḿnh về tính cách phong phú sáng tạo của văn hóa, đ̣i hỏi là các thẩm quyền hữu trách ở khắp nơi bảo đảm là những sản vật linh thánh và những lâu đài dinh thự có thể tiếp tục bày tỏ niềm tin của chúng và sống động nơi chúng.
Trong một thế giới có tính cách linh đ́nh an vui và trao đổi những phong phú về văn hóa, vật chất và tinh thần, th́ các tôn giáo là những ngôi nhà cởi mở có thể dạy và thực hành việc đối thoại, việc tôn trọng sự khác biệt và phẩm giá của toàn thể con người, việc yêu mến chân lư, việc ư thức vấn đề thuộc về một đại gia đ́nh duy nhất các dân tộc theo ư muốn của Thiên Chúa, và được kêu gọi để sống dưới sự canh chừng của Ngài trong t́nh yêu thương chung. Lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội, về phần ḿnh, qua giáo huấn về luân lư và tôn giáo của Giáo Hội, đang chủ động và đáng kể góp phần vào việc gia tăng mối liên kết xă hội.
7. V́ mong muốn tôn trọng nhu cầu mới về một tính cách trần thế mới mẻ của quốc gia nơi tất cả những yếu tố tôn giáo và trần thế của nó, nhưng thận trọng về h́nh thức suy giảm của tính cách trần thế đứng ở đằng sau một số khuynh hướng chính trị, Ṭa Thánh tái xác nhận việc sẵn sàng và khả năng của các tôn giáo trong việc góp phần vào vấn đề xây dựng cộng đồng con người, để đặc biệt mang sự trợ giúp của ḿnh làm phương dược chữa trị cái thách đố về t́nh trạng phân mảnh xă hội, cũng như để cống hiến một lư tưởng cho giới trẻ và một ư nghĩa cho đời sống và lịch sử.
Lời kết thúc của tôi sẽ là lời của Đức Tổng Giám Mục Kirill ở Smolensk và Kaliningrad: ‘Cuộc khủng hoảng được cuộc toàn cầu hóa đang dẫn đưa nhân loại đây chỉ có thể tránh được bằng các nỗ lực chung của tất cả mọi tín hữu và tất cả mọi người thiện chí trong lănh vực h́nh thành đạo lư nơi con người, cuộc thiết lập một nền tảng chính đáng cho việc con người chung sống’ (Metropolitan Kirill, "L’Évangile et la liberté. Les valeurs de la Tradition dans la société laique," Cerf, Paris, 2006, p. 239).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/7/2006
Phái đoàn đại biểu Kitô Giáo được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI sai tới xin bày tỏ niềm cảm nhận sâu xa và biết ơn của ḿnh về sáng kiến của Đức Thượng Phụ Alexy II, và chúng tôi cũng xin cám ơn lời mời chúng tôi cùng với các vị lănh đạo tôn giáo trên thế giới tham dự cuộc thượng nghị này.
I- Chúng tôi coi cuộc thượng nghị này có một tầm vóc quan trọng, khẩn trương và rất đúng lúc để đương đầu với rất nhiều trục trặc, rất nhiều xung khắc, rất nhiều thách đố và rất nhiều t́nh trạng thảm thương xẩy ra trên thế giới của chúng ta hôm nay đây:
· Chúng ta quan tâm tới vấn đề ḥa b́nh. Chúng ta bị đe dọa bởi những thứ căng thẳng và xung khắc về chủng tộc, văn hóa, quốc gia và bất hạnh thay cả tôn giáo nữa; chúng ta đối diện với vấn đề của nạn khủng bố quốc tế, một thứ khủng bố lạm dụng lư tưởng tôn giáo cho những mục đích ư hệ tồi bại, sát hại thành phần vô tội một cách bừa băi, và gieo văi nỗi sợ hăi cùng cảnh kinh hoàng nơi dân chúng.
· Chúng ta quan tâm tới vấn đề công lư trên thế giới của chúng ta, nơi hơn 1/3 dân số thế giới sống trong những t́nh trạng nghèo khổ và bất hạnh, trong khi đó có những người lại sống một cách giầu sang sung túc. Ngoài ra, c̣n xẩy ra những trường hợp khai thác, kỳ thị và đàn áp tự do của con người và những quyền lợi căn bản của con người nữa.
· Chúng ta quan tâm tới t́nh trạng của nạn tục hóa, nhất là ở thế giới Tây phương, một thứ tục hóa làm mất đi các giá trị về nhân bản, cả những giá trị riêng tư lẫn xă hội, theo những chiều hướng cốt yếu tối hậu của tôn giáo. Hậu quả đó là những giá trị ấy bị loại trừ và trở thành tương đối, đến độ chính chủ nghĩa tương đối và tính cách nhân nhượng ấy lại biến thành những ǵ bất khoan dung và đàn áp. Chúng ta đặc biệt than van cho t́nh trạng suy đồi của các giá trị về gia đ́nh.
Sau hết, nạn tục hóa hủy diệt những truyền thống văn hóa bắt nguồn từ tôn giáo, khiến cho con người, đặc biệt là giới trẻ, lạc hướng luân lư và tôn giáo trong một thế giới trống rỗng ư nghĩa sâu xa mà chỉ toàn là những thứ cống hiến cho các cảm t́nh nông cạn và sai lạc về cái hạnh phúc chốc lát mau qua. Rượu chè và thuốc phiện thường được sử dụng như là những ǵ trợ giúp để sống trong một thế giới phi ư nghĩa và như là những ǵ thay thế cho niềm hạnh phúc đích thực.
Dĩ nhiên đó chỉ là một số những khía cạnh mà thôi. Thế nhưng, chúng cũng hiển nhiên cho thấy cái trách nhiệm của tất cả mọi thành phần lănh đạo, cả về chính trị lẫn tôn giáo; chúng làm cho chúng ta nhận thức được trách nhiệm đặc biệt mà thành phần lănh đạo tôn giáo phải có nơi t́nh h́nh này, và tôi xin được nói thêm là: Chúng làm cho chúng ta nhận thức được tính cách khẩn trương biết bao cái trách nhiệm chung của thành phần lănh đạo tôn giáo đối với việc phục hồi trật tự về luân lư và xă hội, đối với vấn đề công lư và ḥa b́nh.
Việc Đóng Góp của Kitô Hữu
II- Đâu là việc đóng góp mà Kitô hữu chúng ta và Giáo Hội Công Giáo chúng tôi cần phải cống hiến? Không có một phương cách giản dị nào cả. Một phương cách như thế chẳng bao giờ có. Nhưng vẫn có những nguyên tắc, những nguyên tắc không phải là những ǵ từng được sáng chế ra hôm qua hay hôm nay, mà là những ǵ được chứng thực bởi kinh nghiệm và truyền thống ngàn năm của chúng ta, và là những ǵ được bắt nguồn sâu xa từ mạc khải thần linh.
Nguyên tắc thứ nhất, đó là việc tôn trọng con người, và tôi muốn nhấn mạnh là tôn trọng mỗi một con người. Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa đă dựng nên con người, có nam có nữ, theo h́nh ảnh và tương tự như Ngài, nhờ đó, mỗi một con người, bất kể họ thuộc về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo hay quốc gia nào, có một giá trị vô giá và đáng mọi người khác tuyệt đối tôn trọng.
Mỗi một cá nhân có quyền căn bản để sống một cách xứng đáng theo văn hóa và niềm xác tín của ḿnh. Việc tôn trọng đối với từng người như thế là nền tảng cho công lư, v́ công lư là nền tảng cho ḥa b́nh. Không thể nào có ḥa b́nh mà lại phi thứ công lư được đặt căn bản trên việc tương kính.
Ở tâm điểm của chính bản tính con người là lương tâm về tôn giáo của họ. Từ đó xuất phát cái trách nhiệm luân lư thúc đẩy con người theo đuổi ơn gọi tôn giáo của ḿnh và t́m kiếm chân lư, v́ thế mà họ cũng cần phải được tự do nơi các vấn đề về đạo nghĩa, bao gồm cả khả năng thay đổi tôn giáo của ḿnh, hay thậm chí tuyên bố ḿnh là một kẻ vô thần chăng nữa.
Việc cởi mở của các quốc gia, các thẩm quyền tôn giáo và các vị lănh đạo dân sự về vấn đề này sẽ dẫn đến việc thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo, một việc tôn trọng, cùng với Đấng Quan Pḥng Thần Linh, là cốt lơi của ḥa b́nh giữa các quốc gia, cũng như giữa các nhóm chủng tộc và tôn giáo sống bên nhau trong ḥa b́nh và hợp tác.
Thế nhưng, không thể nào có vấn đề nhân quyền cho cá nhân mà thôi, nhân quyền phi trách nhiệm đối với người khác cũng như đối với công ích. Không có vấn đề tự do phi trách nhiệm cá nhân và xă hội; tự do của con người cá thể chỉ khả dĩ theo chiều hướng liên đới với tất cả mọi người mà thôi.
Như chúng ta phê b́nh chỉ trích đường lối cá nhân một chiều đối với các thứ quyền lợi của con người thế nào chúng ta cũng phê b́nh chỉ trích một thứ quan niệm qui kết như vậy. Cá nhân tính và liên đới tính là hai mặt của cùng một đồng tiền. Điều này dẫn chúng ta đến chỗ kết luận rằng, chúng ta cần phải cổ vơ, cùng với cảm quan về phẩm giá của từng người, cái cảm quan liên đới giữa dân chúng, giữa các nhóm chủng tộc, giữa các quốc gia và giữa các tôn giáo.
Vấn Đề Tương Kính
Vấn đề này đưa tôi đến nguyên tắc thứ hai, đó là việc tương kính giữa các tôn giáo. Như vẫn thường được nói rằng không thể có ḥa b́nh trên thế giới mà lại thiếu ḥa b́nh giữa các tôn giáo. Dĩ nhiên là các tôn giáo không phải đều tương tự như nhau; trái lại, các tôn giáo có những khác biệt nồng cốt không thể chối căi.
Tuy nhiên, các tôn giáo có một điều chung duy nhất, một điều đang bị hụt hẫng theo quan niệm thuần trần tục về thế giới và về sự sống con người: đó là các tôn giáo khơi lên ḷng khao khát siêu việt thể và nhiều tôn giáo tin vào một thực tại thần linh như là nền tảng và là cùng đích của tất cả mọi thực tại; bởi thế, các tôn giáo đều kêu gọi tôn trọng những ǵ là thánh hảo và chống lại cái thái độ lan tràn ngay nay đang tỏ ra nhạo báng và bất kính đối với thiên nhiên tạo vật và con người. Ở đâu mất đi sự tôn trọng đối với siêu việt thể th́ ở đó sự tôn trọng đối với con người cũng gặp hiểm nguy nữa.
Giáo Hội Công Giáo, qua Công Đồng Chung Vaticanô II, đă chính thức tuyên bố rằng: ‘Giáo Hội Công Giáo không loại bỏ điều ǵ là chân thực và thánh hảo nơi những đạo giáo (như nơi những tôn giáo ngoài Kitô giáo). Giáo Hội rất trân trọng đường lối sống động và tác hành, những luật phép và những tín lư cho dù có rất khác với giáo huấn của ḿnh song thường phản ảnh tia sáng của một chân lư chiếu soi tất cả mọi người’ (Tuyên Ngôn Nostra Aetate, 1).
Giáo Hội Công Giáo cảm thấy ḿnh đặc biệt gần gũi với Do Thái Giáo là tôn giáo thuộc về chính gốc gác của Kitô Giáo. Chúng tôi lên án tất cả mọi h́nh thức bài Do Thái. Sau một lịch sử khốn khó và phức tạp, từ Công Đồng Chung Vaticanô II, chúng tôi đă phát triển một mối liên hệ mới mẻ và thân t́nh hơn theo chiều hướng tương hợp một cách hữu hiệu (cùng nguồn, 4).
Cũng thế, Công Đồng này đă bày tỏ ‘một niềm rất trân trọng đối với các tín đồ Hồi Giáo’ (cùng nguồn, 3). Chúng tôi cùng chia sẻ với họ về niềm tin độc thần. Người Do Thái, Kitô hữu và Hồi Giáo đều gọi Abraham là người cha chung của ḿnh. Bởi thế, chúng tôi mong muốn có được cả những mối liên hệ thân t́nh và gần gũi tốt đẹp với các tín đồ Hồi Giáo nữa.
Chúng ta cũng không bỏ qua được việc Giáo Hội Công Giáo tỏ ra hết sức tôn trọng đối với những môn đồ thuộc các tôn giáo khác. Ngay sau ngày bắt đầu thừa tác vụ của ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă tiếp các vị lănh đạo thuộc những tôn giáo khác, những tôn giáo được Công Đồng Chung Vaticanô II diễn đạt như ‘đang nỗ lực một cách khác nhau để đáp ứng việc không ngừng tâm can con người t́m kiếm theo những đường lối được đề xuất, bao gồm các giáo huấn, luật sống và những nghi thức’ (cùng nguồn, 2).
V́ chúng ta tôn trọng các tôn giáo khác, chúng ta cần phải dứt khoát bài bác việc khai thác, lạm dụng và mạo dụng tôn giáo, nhất là khi nó được sử dụng như b́nh phong để ghen ghét, đàn áp và khủng bố. Thiên Chúa là một danh xưng ḥa b́nh, không thể bị sử dụng như một lư lẽ để sát hại dân chúng vô tội. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Ḥa B́nh 2002 đă nói: ‘Việc khủng bố khai thác không phải chỉ dân chúng, nó khai thác Thiên Chúa: nó tiến đến chỗ biến Ngài thành một thứ ngẫu tượng được sử dụng cho mục đích riêng tư của con người’.
Vấn Đề Đối Thoại
Điểm thứ ba cũng là điểm cuối cùng, giải pháp duy nhất cho mối nguy hiểm ‘đụng độ giữa các nền văn minh’ thường được đề cập tới đó là vấn đề đối thoại giữa các nền văn minh và tôn giáo. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới mà các tôn giáo không c̣n sống biệt lập với nhau nữa, trong một tiến tŕnh đang xẩy ra của một cuộc được gọi là toàn cầu hóa mà dân chúng thuộc các tôn giáo khác nhau đang xích lại gần nhau hơn và thường sống bên nhau.
Bởi thế, các tôn giáo được kêu gọi chẳng những chấp nhận nhau và kính trọng nhau là những ǵ tự chúng không nhỏ, mà c̣n phải tiến xa hơn nữa, ở chỗ, các tôn giáo phải tiếp tục đối thoại và hợp tác với nhau cho việc phục hồi các thứ giá trị luân lư và xă hội, cho công lư và ḥa b́nh trên thế giới.
Vấn đề đối thoại không có nghĩa là ḥa đồng tôn giáo, chẳng hạn như một thứ hỗn hợp hay lẫn lộn về các tôn giáo, hoặc một thứ thỏa hợp về một mẫu số chung nhỏ nhất. Đối thoại là việc xây dựng trên sự thật và việc tôn trọng sự thật, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thường nhấn mạnh (xem Sứ Điệp Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 2006). Đối thoại nhắm đến chỗ chia sẻ những giá trị chung và truyền đạt những giá trị này cho một thế giới hết sức cần đến chúng. Một cuộc đối thoại trong sự thật và tương kính như thế bao gồm những khía cạnh khác nhau sau đây:
· Thanh tẩy kư ức: Mỗi tôn giáo có thể nhận thấy những việc làm xấu xa của nhau; c̣n về những việc xấu xa của ḿnh chúng ta thường ít khi nói tới. Chúng ta hăy thành thật và nh́n thẳng vào quá khứ, theo quan điểm của những ǵ chúng ta cùng có cũng như của những ǵ chúng ta được kêu gọi cùng nhau thực hiện hôm nay và mai này.
· Ư thức gia sản chung của chúng ta. Bất kể tất cả những ǵ khác biệt nơi chúng ta, chúng ta đều có chung những giá trị. Thế giới sẽ nh́n thấy một cách rất đặc biệt nếu chúng ta nhận ra những ǵ chúng ta cùng có. Tôi đang nghĩ đến chẳng những cảm quan về sự thánh hảo mà c̣n về cả ‘luật vàng’ nữa, những ǵ có thể thấy được nơi tất cả mọi truyền thống tôn giáo chính, đó là ‘Điều ǵ anh chị em không muốn làm cho anh chị em th́ anh chị em cũng không được làm cho kẻ khác’, hay theo công thức tích cực hơn: ‘Tất cả những ǵ anh chị em muốn kẻ khác làm cho ḿnh th́ anh chị em hăy làm cho họ’.
Chúng ta cũng có cùng một sứ vụ trong việc trở thành chứng nhân khả tín cho siêu việt thể. Đó là cốt lơi của những ǵ chúng ta cùng nhau quan tâm và đ̣i phải hợp tác, nhất là đối với nền văn hóa hiện đại và những cấu trúc về phương diện chính trị xă hội, nhờ đó, cả những thứ này nữa cũng hướng về siêu việt thể.
· Vấn đề giáo dục thế hệ trẻ. Đối với tôi điểm này dường như là điều ưu tiên nhất đối với việc cấu trúc một tương lai an b́nh chung. Chúng ta không được làm nhập nhiễm vào tâm can của giới trẻ thái độ bất kể và thù ghét người khác, mà phải thăng hóa chúng theo tinh thần nhân nhượng, tương kính, kết đoàn và trách nhiệm đối với công ích.
· Hoạt động chung. Đă đến lúc cần phải thực hiện một cuộc hoạt động chung với nhau để chống lại t́nh trạng đàn áp và kỳ thị, chống lại t́nh trạng leo thang các thứ vũ khí và thuốc phiện, và hoạt động cho việc cổ vơ vấn đề nhân nhượng và tự do tôn giáo, cho công lư và ḥa b́nh, cho các giá trị của gia đ́nh, cho việc hợp tác ở lănh vực chăm sóc sức khỏe, chẳng hạn, nơi cuộc chiến chống lại dịch Hội Chứng Liệt Kháng, nơi việc chăm sóc cho thành phần tị nạn, cho những người bị phân tán và di dân, cho việc hợp tác cả trong những lúc thảm họa và bi thương (như biển động sóng thần, động đất v.v.), và trong nhiều lănh vực khác.
Tôi xin kết luận bằng một vấn đề dương như quan thiết đối với tôi: Đó là việc tôi như một đứa bé lớn lên trong những cảnh kinh hoàng của Thế Chiến Thứ Hai. Từ kinh nghiệm thương đau này, tôi xin quí vị hăy nói với hết mọi người đang mạng trách nhiệm rằng chiến tranh không bao giờ lại là phương tiện để giải quyết những trục trặc hết; chiến tranh bao giờ cũng tạo nên các trục trặc mới; chiến tranh là một sự dữ, và v́ nó tùy thuộc vào chúng ta, chúng ta cần phải làm tất cả những ǵ trong tầm tay của ḿnh để ngăn tránh nó và cấm cản nó khỏi bộ mặt trái đất này.
Chúng ta hăy nói với thế giới rằng: Là thành phần tôn giáo, chúng tôi chiến đấu cho ḥa b́nh: Ḥa b́nh trong tâm hồn, ḥa b́nh nơi đất nước của chúng tôi và giữa các quốc gia, ḥa b́nh giữa các tôn giáo và v́ thế ḥa b́nh trên cả thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/7/2006
Vào dịp Tổng Nghị lần thứ 12, Học Viện Ṭa Thánh Về Sự Sống đă thực hiện một Hội Nghị quốc tế về đề tài: ‘Nhân bào phôi thai trong thời kỳ tiền cấy: các khía cạnh khoa học và các cân nhắc về đạo đức sinh học’. Vào lúc kết thúc hội nghị, học viện này đă cống hiến cho cộng đồng giáo hội cũng như cho chung quần chúng một số điều cân nhắc về đề tài này qua việc suy tư bàn thảo của ḿnh.
1.- Không ai có thể chối căi được rằng cuộc tranh căi về khoa đạo lư sinh học hiện đại, nhất là trong những năm gần đây, đă chú trọng chính yếu tới thực tại của nhân bào phôi thai, thứ nhân bào phôi thai được cứu xét theo bản chất của nó hay liên quan tới cách thức con người tác hành đối với nó. Điều này chỉ là những ǵ tự nhiên v́ những liên hệ đa dạng (khoa học, triết lư, đạo đức, tôn giáo, pháp luật, tài chính, ư hệ v.v.) dính dáng tới những lănh vực đa dạng ấy là những ǵ không thể nào tránh được việc hóa giải những xu hướng khác nhau, cũng như việc thu hút sự chú trọng của những ai t́m cách tác hành về đạo lư một cách chân thực.
Nhu cầu cần phải đặt vấn nạn căn bản ‘Phôi thai nhân bào là ai hay là ǵ?’ bởi thế đă là vấn đề không thể nào tránh được, để có thể rút ra từ một giải đáp thích đáng nhất quán cho vấn nạn ấy cái qui chuẩn hoạt động hoàn toàn tôn trọng sự thật nguyên vẹn về chính phôi bào.
Để đạt được mục đích ấy, theo phương pháp học đứng đắn của khoa đạo lư sinh học th́ trước hết cần phải nh́n vào dữ kiện hôm nay chúng ta có được nhờ kiến thức cập nhật hóa nhất, nhờ đó chúng ta biết rơ về những tiến tŕnh khác nhau giúp con người mới bắt đầu h́nh thành việc hiện hữu của ḿnh. Bởi vậy mà những dữ kiện ấy cần phải tùy thuộc vào việc dẫn giải về nhân loại học để nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng của chúng cùng với những giá trị kèm theo là những ǵ cần phải qui chiếu để rút lấy những qui tắc về luân lư cho hoạt động cụ thể cũng như cho các phương thức mẫu mực.
Sự sống con người được bắt đầu từ lúc được thụ thai
2.- Bởi thế, căn cứ vào những khám phá mới nhất của khoa phôi bào học th́ có thể thiết lập một số những điểm được công nhận chung như sau:
a) Một ‘con người’ mới được bắt đầu hiện hữu vào giây phút tinh trùng kết hợp với noăn bào. Việc thụ thai diễn ra cả một chuỗi những biến cố liên tục và biến đổi tế bào trứng thành một ‘thai trứng’. Nơi loài người th́ nhân bào của tinh trùng (ở đầu tinh trùng) cùng với centriole (cái sẽ đóng một vai tṛ quyết định trong việc h́nh thành sự thẩm thấu phân bào nơi tác động phân bào đầu tiên) tiến vào noăn bào; c̣n màng huyết tương vẫn ở bên ngoài. Nhân bào nam trải qua những thay đổi sâu xa về sinh hóa và cấu trúc, những đổi thay lệ thuộc vào tế bào chất của noăn sào để sửa soạn cho vai tṛ được tế bào nam bắt đầu đóng ngay sau đó. Ở đây chúng ta chứng kiến thấy việc giải tỏa của nhiễm sắc thể (gây ra bởi những yếu tố được tổng hợp hóa ở những giai đoạn cuối cùng của ovogenesis) để thực hiện việc sao giống của cha mẹ.
Sau khi tinh trùng kết hợp với noăn sào, nó hoàn tất việc phân bào thứ hai của ḿnh và làm bật ra một cực thể thứ hai, giảm toàn bộ chất giống của ḿnh thành một nửa số nhiễm sắc thể để liên kết với những nhiễm sắc thể từ nhân bào nam cái tính chất karyotype của giống loại. Đồng thời nó cũng diễn ra một ‘cuộc phóng xạ’ theo quan điểm của vấn đề trao đổi chất liệu liên quan tới việc phân bào đầu tiên.
Bao giờ cũng thế, môi trường của tế bào chất nơi noăn sào là những ǵ khiến cho centriole của tinh trùng tự động nẩy nở, nhờ đó cấu tạo nên cái centrosome nơi thai trứng. Cái centrosome này tự động nẩy nở để tạo nên cái microtubule là những ǵ sẽ giúp vào việc cấu hợp phân bào.
Hai bộ nhiễm sắc thể này thấy được việc cấu hợp phân bào ấy đă h́nh thành nên tự dàn thành vị thế như kiểu ṿng xích đạo cho giai đoạn phân bào nửa chừng. Sau đó xẩy ra những giai đoạn phân bào khác, và cuối cùng tế bào chất nơi noăn sào phân ra và thai trứng cống hiến sự sống cho hai sơ thai bào.
Việc hoạt động của phôi bào giống có lẽ là một tiến tŕnh tuần tự như tiến. Nơi đơn phôi thai bào của con người đă có 7 nhân giống hoạt động; c̣n những nhân giống khác được thể hiện trong cuộc chuyển từ giai đoạn thai trứng sang giai đoạn hai sơ thai bào.
b) Khoa sinh học, đặc biệt hơn là khoa phôi thai bào học, cho thấy dữ kiện về chiều hướng nhất định của một cuộc phát triển: Điều này có nghĩa là tiến tŕnh ấy ‘hướng theo’ – trong thời gian - chiều hướng của một cuộc biệt phân tiến triển cùng với việc có được tính chất cấu hợp và không thể thoái hóa từ những giai đoạn đă trải qua.
c) Một vấn đề khác nữa có được ở những giai đoạn phát triển sơ khởi này đó là ‘tính cách tự động’ của hữu thể mới trong tiến tŕnh tự nẩy sinh của giống chất.
d) Những đặc tính của ‘việc tuần tự như tiến’ này (thời gian cần để vượt qua từ giai đoạn ít biệt phân sang giai đoạn phân biệt hơn) cũng như của ‘việc điều hợp’ của việc phát triển (sự hiện diện của những động cơ điều hành toàn bộ tiến tŕnh phát triển) cũng liên quan chặt chẽ với tính chất của ‘vấn đề liên tục’.
Những đặc tính này – hầu như bị bỏ qua vào lúc ban đầu của cuộc tranh căi về khoa đạo đức sinh học – càng được coi là vấn đề quan trọng vào những thời gian gần đây, nhờ những khám phá liên tục từ việc nghiên cứu về cơ cấu của việc phát triển phôi thai bào cũng ở giai đoạn ‘morula’ (hai sơ thai bào) là giai đoạn xẩy ra trước việc h́nh thành những giai đoạn phát triển tiền phôi thai bào.
Nói tóm lại th́ những chiều hướng ấy đă làm nền tảng cho việc giải thích thai trứng vốn là một ‘cơ cấu’ sơ khai (một cơ cấu đơn bào liên tục thể hiện khả năng phát triển của ḿnh qua một cuộc hội nhập liên tục, trước hết nơi những yếu tố nội tại khác nhau, rồi nơi những tế bào nó làm tuần tự làm cho xuất hiện. Việc hội nhập của chúng vừa có tính cách h́nh thái học vừa có tính cách sinh hóa học. Cuộc nghiên cứu đă từng được thực hiện mấy năm nay giờ đây mới cung cấp thêm những ‘chứng cớ’ về thực tại này.
3.- Những khám phá của khoa phôi thai bào tân tiến này cần phải tùy thuộc vào việc khảo sát tường tận của việc dẫn giải theo triết học và nhân loại học nữa, để có thể hiểu được cái giá trị cao quí bẩm sinh và được thể hiện nơi hết mọi con người, cũng ở vào giai đoạn phôi thai bào ấy. Như thế, vấn đề căn bản liên quan tới vị thế về luân lư của phôi thai bào cần phải được thẳng thắn đối diện.
Trong số những dự thảo liên quan tới việc giải thích khác nhau nơi cuộc tranh căi về khoa đạo đức sinh học hiện nay, th́ có một vấn đề quá rơ đó là có những lúc khác nhau nơi cuộc phát triển phôi thai bào của con người được xác định có thể gán cho phôi thai bào ấy một vị thế luân lư, và có những chủ trương nhấn mạnh tới các tiêu chuẩn ‘ngoại tại’ (tức là bắt đầu với những yếu tố ở bên ngoài chính phôi thai bào).
Tuy nhiên, đường lối này không cho thấy xứng hợp để thực sự ấn định được cái vị thế về luân lư của phôi thai bào, v́ bất cứ một thẩm định khả dĩ nào ấy chỉ kết thúc ở việc dựa trên những yếu tố hoàn toàn theo thông lệ và độc đoán.
Để có thể có được một ư nghĩ khách quan hơn về thực tại phôi thai nhân bào, nhờ đó rút ra được từ đó những ư nghĩa về đạo đức học, th́ cần phải cứu xét tới những qui tắc ‘nội tại’ đối với chính phôi thai bào, thực sự được bắt đầu từ các dữ kiện về kiến thức khoa học chúng ta đang có trong tầm tay.
Phải chăng phôi thai bào đă là một con người?
Từ những dữ kiện này có thể kết luận rằng phôi thai nhân bào ở giai đoạn tiền cấy đă là: a) một hữu thể của loài người; b) một cá thể; c) một hữu thể có nơi chính bản thân ḿnh cái đích phát triển làm người cùng với khả năng nội tại để có thể đạt được việc phát triển ấy.
Từ tất cả những điều này người ta có thể kết luận rằng phôi thai nhân bào ở trong giai đoạn tiền cấy thực sự đă là một ‘con người’ hay sao? Dĩ nhiên đó là việc dẫn giải theo triết học, câu trả lời cho vấn nạn này không phải là một ‘thứ tối hậu’ nhưng dù sao vẫn c̣n cởi mở đối với những cứu xét khác nữa.
Tuy nhiên, căn cứ vào những dữ kiện về sinh học sẵn có, chúng tôi chủ trương rằng không có lư do đặc biệt nào để có thể phủ nhận phôi thai nhân bào đă là một con người ở trong giai đoạn ấy.
Dĩ nhiên, việc giả tưởng nơi vấn đề dẫn giải về quan niệm con người có một tầm vóc quan trọng liên quan tới chính bản tính của con người nữa, một bản tính dồi dào khả năng được thể hiện trong việc phát triển của phôi thai bào cũng như sau khi được sinh ra. Để bênh vực cho chủ trương này, cần phải ghi nhận rằng lư thuyết về việc tức thời sinh động, được áp dụng vào hết mọi con người đến trong đời, chứng tỏ cho thấy hoàn toàn hợp với thực tại về sinh học của họ (chưa kể tới tính cách liên tục ‘trọng yếu’ với quan niệm của Truyền Thống).
Thánh Vịnh đă nói: ‘V́ Chúa đă h́nh thành những phần thể nội tạng của con, Chúa đă đan kết con trong ḷng mẹ. Con chúc tụng Chúa, v́ Chúa đáng kính sợ và tuyệt vời. Lạ lùng thay công việc Chúa làm! Chúa biết con rất rơ’ (Ps 139[138]:13-14), khi ám chỉ tới việc Thiên Chúa trực tiếp nhúng tay vào việc tạo dựng mỗi một linh hồn mới nơi con người.
Ngoài ra, theo quan điểm luân lư, vượt trên và ở trên bất cứ một cân nhắc nào về cá thể của nhân bào phôi thai, th́ nguyên sự kiện hiện diện của con người (thậm chí kể cả việc c̣n nghi ngờ về sự kiện này cũng đủ) đ̣i phải tôn trọng đối với tính cách toàn vẹn và phẩm vị của phôi thai bào ấy: Bất cứ một hành vi cử chỉ nào một cách nào đó tạo nên mối đe dọa hay vi phạm đến các quyền lợi căn bản của nó, mà trước hết và trên hết là quyền sống, đều phải coi như là những ǵ hết sức vô luân.
Để kết luận, chúng tôi xin trích lại nguyên văn những lời Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nói với hội nghị của chúng tôi trong bài diễn từ của ngài như sau: “T́nh yêu thương của Thiên Chúa không phân biệt giữa thành phần phôi nhi mới được thụ thai trong ḷng mẹ ḿnh, với thành phần thơ nhi, thành phần giới trẻ, thành phần người lớn và thành phần lăo nhân. Thiên Chúa không phân biệt họ, v́ nơi mỗi một người trong họ, Ngài đều thấy dấu hiệu về h́nh ảnh của Ngài và những ǵ giống như Ngài.
“Ngài không biết phân biệt v́ Ngài nhận thấy nơi tất cả mọi người trong họ phản ảnh dung nhan của Người Con duy nhất của Ngài, Đấng ‘Ngài đă chọn… trước khi tạo dựng thế giới… Ngài định cho chúng ta được trở thành con cái của Ngài trong yêu thương… theo mục đích của ư Ngài định’ (Eph 1:4-6)”. (Address, Feb. 27; L'Osservatore Romano English edition, March 8, p. 7).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 1/5/2006 cũng là tài liệu được tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, phát hành ngày 26/4/2006, trang 6
Học Viện Ṭa Thánh Về Các Khoa Xă Hội Học được thành lập vào năm 1994 để kiến thức tốt đẹp nhất nơi những ngành xă hội học này mưu ích cho giáo huấn về xă hội của Giáo Hội. Mỗi năm học viện này tổ chức một đại hội về một đề tài đặc biệt. Năm nay đại hội đă có trên 30 bài thuyết tŕnh của các học giả trên khắp thế giới, một cuộc họp trên 30 tiếng trong 5 ngày. Như b́nh thường, các diễn tŕnh của cuộc hội nghị này sẽ được phổ biến sau khi nó được thu thập đầy đủ theo thông lệ một cách khoa học.
Hôm qua là ngày kỷ niệm 15 năm bức thông điệp lịch suử “Bách Chu Niên - Centesimus Annus”. Đức cố Thánh Cha là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị đă khởi xướng việc thành lập Học Viện Ṭa Thánh Về Các Khoa Xă Hội Học, đă viết rằng giáo huấn về xă hội của Giáo Hội cần phải được giao tiếp với thế giới của các khoa xă hội học:
“Giáo huấn về xă hội của Giáo Hội có một chiều kích quan trọng liên phân khoa. Để hiện thực hơn nữa sự thật duy nhất về con người trong các môi trường đổi thay một cách khác nhau và liên tục về xă hội, kinh tế và chính trị, giáo huấn này cần phải đối thoại trao đổi với các phân khoa khác nhau liên quan tới con người. Giáo huấn ấy đồng hóa với những ǵ được các phân khoa ấy đóng góp, và giúp cho chúng hướng về một chân trời bao rộng hơn, nhắm tới chỗ phục vụ từng cá thể là thành phần được nhận biết và yêu thương với tất cả ơn gọi của họ” (đoạn 59).
Học viện này, một học viện có cả các phần tử ngoài Công Giáo, cống hiến cho Giáo Hội một học thức về khoa học xă hội tốt đẹp nhất. Ngược lại, giáo huấn về xă hội của Giáo Hội cũng cống hiến cho các khoa xă hội học một chân trời bao rộng hơn để ḥa nhập các phân khoa khác nhau liên quan tới con người với các chiều kích cá nhân, xă hội, kinh tế, chính trị, pháp lư, văn hóa và tôn giáo của họ.
Năm nay đại hội cũng bao gồm hai điều mới mẻ: 1) những tường tŕnh theo miền ở Bắc Mỹ, Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu Latinh và Âu Châu, và 2) sáu người trẻ được mời từ các châu lục khác nhau để lắng nghe những diễn tŕnh của đại hội và cho chúng tôi cảm nghĩ của họ.
Chúng tôi đă mời các người trẻ là v́ năm nay đề tài của chúng tôi là “Phải chăng giới trẻ đang tiêu tán? T́nh Đoàn Kết với Trẻ Em và Giới Trẻ trong Một Thời Đại Hỗn Loạn”.
Đề tài này là một phần trong dự phóng nhiều năm của học viện trong vấn đề khảo sát những ư nghĩa rộng lớn của những đổi thay về nhân khẩu của mấy thập niên vừa qua. Hai năm trước đây, đại hội của học viện này đă chú ư tới thành phần lăo thành, đặc biệt liên quan tới vấn đề an sinh xă hội và hệ thống sức khỏe.
Năm nay chúng ta nh́n vào cũng những đổi thay này cùng với ảnh hưởng của chúng nơi trẻ em và giới trẻ khắp thế giới. Điều này mở ra một cơ hội mới cho giáo huấn về xă hội của Giáo Hội mà cho tới nay chưa tập trung một cách chuyên biệt tới t́nh h́nh giới trẻ gặp phải, chẳng hạn, về vấn đề lao động, hay vấn đề nữ giới, hoặc vấn đề sống trong nghèo khổ.
Những cân nhắc của học viện này không cố ư nhắm tới việc cung cấp một bản đúc kết trực diện, nhưng tôi xin nhấn mạnh cùng quí vị về một số đề tài chính trong các cuộc bàn thảo cân nhắc của chúng tôi:
Những bóng tối tăm
Nhiều trẻ em trên thế giới sống trong những bóng tối tăm của đàn áp và khai thác. Nhiều em không được sống để thấy được ánh sáng mặt trời, hay bị bỏ cho chết vào những ngày đầu tiên trong cuộc sống. Điều này đặc biệt xẩy ra cho các em gái, v́ t́nh trạng mất quân b́nh nam nữ hiện nay đang xẩy ra ở những phần đất đông dân trên thế giới.
Giáo sư Mina Ramirez thuộc Học Viện Xă Hội Á Châu ở Manila Phi Luật Tân đă nghiên cứu về t́nh trạng luật pháp của gia đ́nh và trẻ em khắp Á Châu, nhận định về việc làm thế nào các chính sách về việc lao động trẻ em, về luật pháp gia đ́nh và về những thực hành hôn nhân thường hạn chế những cơ hội của giới trẻ đối với việc phát triển của xă hội.
Giáo sư Paulus Zulu thuộc Đại Học Kwazulu-Natal ở Durban, Nam Phi, đă cặn kẽ tŕnh bày làm thế nào t́nh trạng nghèo khổ, chính quyền yếu kém, cuộc xung đột vơ trang và hội chứng hay vi khuẩn liệt kháng đă đẩy trẻ em ra ŕa, thậm chí hoàn toàn loại trừ các em khỏi xă hội.
“Mùa đông dân khẩu”
Trong khi thế giới quá quen thuộc với chính sách một con của Trung Hoa th́ Giáo Sư Gérard-Francois Dumont, Viện Trưởng Đại Học Sorbone ở Paris đă nhận định rằng những gia đ́nh một con hiện nay đang nắm ưu thế ở Âu Châu – không cần phải có chuyện chính quyền áp lực. T́nh trạng này liên quan tới ‘một thứ chối từ tương lai’ dẫn tới một thứ văn hóa phi anh chị em cô d́ chú bác họ hàng.
‘Tự bản chất, t́nh yêu hướng tới tương lai’, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă viết như thế trong sứ điệp của ḿnh cho học viện đây khi ngài khai triển cùng một đề tài với học viện này. ‘Có lẽ v́ thiếu một thứ yêu thương sáng tạo và hướng tới như thế là lư do tại sao nhiều cặp nam nữ ngày nay đă quyết định không lập gia đ́nh, tại sao nhiều cuộc hôn nhân bị đổ vỡ, và tại sao mức sinh sản bị giảm sút một cách đáng kể’.
Phải chăng thành phần cha mẹ đang tan biến?
Phu nhân Chrie Booth, Q.C., một luật sư về nhân quyền quốc tế và là vợ của Thủ Tướng Tony Blair ở Hiệp Vương Quốc, đă nói về việc làm thế nào ‘trẻ em bị bắt buộc phải lớn lên quá mau… đă mang lấy những trách nhiệm của người lớn hay bị áp lực chấp nhận những mối bận tâm và vấn đề của người lớn mà không được chúng ta nâng đỡ một cách xứng đáng’. Phu nhân Booth, một vị khách được mời, đă nhấn mạnh rằng mối đoàn kết với giới trẻ nghĩa là bỏ giờ ra với chúng – một trách nhiệm khó khăn nhưng cần thiết của cha mẹ tân tiến bận bịu ngày nay.
Tuổi thanh thiếu niên kéo dài
Hồng Y Alfonso Lopéz Trujillo đă đề cập tới một khía cạnh khác của văn hóa giới trẻ khi nói về ‘hội chứng của thành phần thanh thiếu niên khôn tận’. Mang đặc tính của thái độ tránh né trách nhiệm, một ước muốn duy tŕ tất cả những ǵ là thuận lợi hơn là việc thường xuyên dấn thân, và một thứ chối bỏ những hạn chế về luân lư nơi lănh vực tính dục con người, hội chứng này làm cho giới trẻ hầu như không thể chấp nhận những hy sinh chịu đựng cần phải có để xây dựng cuộc sống hôn nhân và gia đ́nh vững chắc.
T́nh trạng trống rỗng về tâm linh
Giáo sư Kevin Ryan thuộc Đại Học Massachusetts đă tiếp tục cùng một đề tài, khi nhận định rằng giới trẻ Bắc Mỹ có quá nhiều thứ giải trí và không đủ vấn đề giáo dục. T́nh trạng thịnh hành vấn đề giải trí về điện tử – nhiều đến 40 tiếng một tuần – nghĩa là lănh vực về các thứ giá trị và giáo dục tôn giáo bị loại bỏ. Cần phảu cung cấp một chương tŕnh đại thể giáo lư đặc biệt cho giới trẻ Công Giáo để giúp cho chúng có một nền tảng cần thiết để sống một cuộc đời sâu xa thỏa nguyện tâm thần.
Giáo sư Mloch ở Đại Học Charles, Prague, và Giáo Sư Vymêtaĺk, cả hai đều nhấn mạnh rằng ở Trung Âu và Đông Âu hậu cộng sản đang xẩy ra một thứ trống rỗng về tâm linh nào đó. Những bất măn nơi cuộc chuyển sang một xă hội tự do đă làm phát sinh ra một thứ vỡ mộng làm ngăn cản việc theo đuổi những lư tưởng sâu xa. Giáo Sư José Raga ở Maní cũng nhận định t́nh trạng trống rỗng hiện nay nơi giới trẻ hiện đại là kết quả của tự do phi giá trị.
Hy vọng về tương lai
Bản chất của việc nghiên cứu khoa xă hội học là ở chỗ nó nhận ra những vấn đề – nhất là những vấn đề dai dẳng không dễ có được những giải pháp. Tuy nhiên, các phần tử của học viện này không thể bỏ qua sự kiện là giới trẻ bẩm sinh vốn hy vọng, họ chẳng những mang đến những vấn đề mà c̣n cả những giải pháp nữa, và ḷng nhiệt thành cùng óc sáng tạo của họ bao giờ cũng vẫn là một nguồn mạch cao cả nhất ở bất cứ một xă hội nào. Giáo sư Ombretta Fumagalli Carulli thuộc Đại Học Công Giáo Milan nhận định rằng thế kỷ 20 là ‘thế kỷ của trẻ em’, v́ có những bản hiến chương và thỏa hiệp quốc tế bảo vệ giới trẻ. Kinh nghiệm của Giáo Hội trong những thập niên vừa qua cũng đă là một kinh nghiệm về tính chất sống động lạ lùng nơi giới trẻ.
Không có một xă hội nào, không có một nền văn hóa nào, có thể chấp nhận được vấn đề ‘giới trẻ tan biến’, v́ với họ cũng sẽ tan biến đi niềm hy vọng thực sự cùng với những lư tưởng cao quí của mọi dân tộc.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/5/2006
Ṭa Thánh Vatican gửi Sứ Điệp Mừng Lễ Phật Đản của Tín Đồ Phật Giáo: “Phật Tử và Kitô Hữu cùng Phục Vụ Nhân Loại”
Quí Bạn Phật Tử thân mến,
1. Thay mặt cho Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, tôi xin gửi đến quí bạn cùng tất cả mọi cộng đồng Phật Tử trên thế giới lời chúc tốt đẹp nhất cho ngày Lễ Phật Đản. Tôi hy vọng rằng quí bạn có được một ngày mừng lễ vui.
2.- Nhưng thông lệ cho tới nay, tôi xin lợi dụng dịp này để chia sẻ với quí bạn một số ư nghĩ có thể giúp vào việc làm kiên cường mối liên hệ giữa hai cộng đồng của chúng ta. Năm nay những chia sẻ này được căn cứ vào bức thông điệp đầu tiên của Giáo Hoàng Biển Đức XVI gửi cho người Công Giáo khắp thế giới. Bức thông điệp này, bức thông điệp ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’, hay theo nhan đề tiếng Latinh ‘Deus Caritas Est’ (DCE), là bức thông điệp khảo sát về bản chất của t́nh yêu. Dức Giáo Hoàng này tin rằng chữ yêu thương ấy, một chữ rất thường được sử dụng nhưng lại cũng rất thường bị hiểu lầm, cần phải phục hồi ư nghĩa đích thực của nó để nó có thể trở nên một hải đăng soi chiếu cuộc sống hằng ngày.
3.- Giáo Hoàng Biển Đức nói về hai loại yêu thương, trước hết là t́nh ái, t́nh yêu giữa một người nam và một người nữ, một t́nh yêu t́m thỏa măn bản thân; rồi tới ‘từ ái’, một t́nh yêu t́m kiếm sự thiện của người khác, cho dù người đó chúng ta không thích hay thậm chí không quen biết. Đối với Kitô hữu th́ chỉ có thể thực hiện loại yêu thương thứ hai này chỉ khi nào nó được bắt nguồn nơi t́nh yêu mến Thiên Chúa, một t́nh yêu đáp lại t́nh Ngài yêu thương loài người. Bởi vậy mà t́nh yêu mến Thiên Chúa và t́nh yêu thương nhau là những ǵ bất khả phân ly, làm nên một giới huấn duy nhất. ‘Yêu thương phát triển nhờ thương yêu. T́nh yêu là thần linh v́ nó xuất phát từ Thiên Chúa và liên kết chúng ta với Thiên Chúa’ (DCE 18).
4. Kitô hữu chúng tôi tin rằng việc bộc lộ trọn vẹn ‘từ ái’ này được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hóa thân làm người, Đấng đă sống trọn cuộc đời của ḿnh bằng việc loan truyền Tin Mừng về t́nh yêu của Thiên Chúa bằng cả lời nói và việc làm. Việc thể hiện cao cả nhất của t́nh yêu này xẩy ra khi Đức Giêsu hiến sự sống ḿnh cho toàn thể nhân loại. Chưa hết, Đức Giêsu c̣n là nguồn ‘từ ái’, đặc biệt qua việc Người ban ḿnh nơi Bí Tích Thánh Thể. Rút tỉa từ nguồn mạch này, Kitô hữu cố gắng theo chân Đức Giêsu bằng việc thể hiện t́nh yêu thương anh chị em ḿnh, nhất là cho người nghèo khó và khổ đau.
5.- Nhờ việc đối thoại của chúng ta, chúng tôi đă cảm nhận được tầm quan trọng mà quí bạn Phật Tử gán cho t́nh yêu thương đối với tha nhân đồng loại, một t́nh yêu được diễn đạt nơi ư niệm về ‘metta’, tức ư niệm về một t́nh yêu không có một tham vọng chiếm hữu nào ngoài việc giúp đỡ kẻ khác. Nó được hiểu như là một thứ yêu thương sẵn sàng hy sinh tư lợi cho thiện ích của nhân loại. Bởi vậy ‘metta’, theo giáo huấn của Phật Tổ, không chỉ thu hẹp trong ư tưởng từ thiện mà c̣n bao gồm cả việc thực hiện các việc bác ái nữa, việc phục vụ từng người và mọi người. Nó thực sự là một thứ từ tâm phổ quát. Người ta cũng không được quên một nhân đức khác là ‘karuna’ là nhân đức cho thấy ḷng thương cảm cả với tất cả mọi sinh vật nữa.
6.- Trong thế giới ngày nay, nơi tiếng yêu thương rất thường được sử dụng và lạm dụng, th́ Phật Tử và Kitô Hữu chẳng lẽ lại không cần phải tái khám phá ra ư nghĩa nguyên tuyền của tiếng này theo truyền thống tương xứng của ḿnh cũng như chia sẻ việc hiểu biết của ḿnh với nhau hay sao? Đây là niềm phấn khích cho môn đồ của cả hai truyền thống trong việc cùng nhau làm việc để xây dựng những mối liên hệ dựa trên yêu thương và sự thật, để cổ vơ niềm tương kính, để nuôi dưỡng việc đối thoại và để phát triển việc hợp tác phục vụ những ai đang cần đến chúng ta.
7.- Theo chiều hướng những suy nghĩ ấy ước nguyện cuối cùng của tôi là lễ Phật Đản này trở thành một thời điểm củng cố t́nh bằng hữu giữa Phật Tử và Kitô Hữu, và kiên cường việc hợp tác trong tinh thần ‘từ ái’ và ‘metta’. Trong tinh thần này tôi xin chúc quí bạn một Lễ Phật Đản rất Phúc Hạnh.
Thành Vatican ngày 14/2/2006
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/5/2006
Do Thái và Công Giáo Tuyên Ngôn Tôn Trọng Sự Sống Con Người
Sau đây là nguyên vănbản tuyên ngôn của Do Thái và Công Giáo đúc kết Cuộc Họp của Ủy Ban Song Phương ở Rôma (26-28/2/2006 theo niên lịch Kitô Giáo hay 28-30 Tháng Shevat năm 5766 niên lịch Do Thái Giáo), giữa phái đoàn Đại Biểu của Ủy Ban Ṭa Thánh Về Liên Hệ Tôn Giáo Với Người Do Thái và Đại Biểu của Do Thái Về Liên Hệ Với Giáo Hội Công Giáo.
1. Trong cuộc họp lần thứ sáu của ủy ban song phương được tổ chức ở Rôma này, chúng tôi đă nói tới vấn đề liên hệ giữa sự sống con người và kỹ thuật – suy tư về những tiến bộ vượt bực nơi khoa y học cùng với những thách đố cũng như những cơ hội bao gồm nơi những thứ tiến bộ này.
2. Chúng tôi xin khẳng định những nguyên tắc theo các Truyền Thống tương xứng của chúng tôi như sau: Thiên Chúa là Đấng Hóa Công và là Chúa của tất cả mọi sự sống, và sự sống của con người là những ǵ linh thánh chính v́, như Thánh Kinh dạy, con người được dựng nên theo H́nh Ảnh Thần Linh (x Gen 1:26-27). V́ sự sống là một tặng ân Thần Linh cần phải được tôn trọng và bảo tŕ, mà chúng tôi buộc phải bác bỏ những ư nghĩ cho rằng con người làm chủ sự sống và bất cứ đảng phái con người nào có quyền định đoạt về giá trị hay giới hạn của nó. Do đó chúng tôi phản đối chủ trương chủ động triệt sinh an tử (được gọi là thương hại sát sinh) như là một việc con người lộng quyền trái phép đối với việc độc quyến của Thần Linh trong vấn đề định đoạt thời gian qua đời của con người.
3. Chúng tôi dâng lời tạ ơn Đấng Hóa Công về những khả năng Ngài đă ban cho nhân loại để chữa lành và bảo tŕ sự sống, cũng như về những thánh đạt đáng kể trong việc dễ dàng hóa được khoa học, y học và kỹ thuật hiện đại thực hiện về khía cạnh này. Tuy nhiên, chúng tôi công nhận rằng những thành đạt phúc lợi này cũng bao gồm cả nhiều trách nhiệm hơn nữa, bao gồm cả những thách đố sâ xa về đạo lư cùng với những nguy hiểm khả dĩ.
4. Về vấn đề này, chúng tôi xin lập lại các giáo huấn của di sản chúng tôi là tất cả mọi kiến thức và khả năng của con người cần phải phục vụ và cổ vơ sự sống con người cùng phẩm vị con người, nên chúng phải ḥa hợp ăn khớp với các thứ giá trị về luân lư được bắt nguồn từ các nguyên tắc được nói đến trên đây. Bởi vậy cần phải hạn chế việc áp dụng khoa học và kỹ thuật với nhận thức về sự kiện là không phải mọi sự khả dĩ về kỹ thuật đều hợp đạo lư.
5. Việc tôn trọng và chăm sóc cho sự sống của con người cần phải là mệnh lệnh luân lư phổ quát được hết mọi xă hội dân sự cùng với luật lệ của họ bảo đảm, hầu phát động một nền văn hóa sự sống.
6. V́ bác bỏ chủ trương của con người trong việc cướp quyền Thần Linh trong việc định đoạt thời gian chết chóc, chúng tôi khẳng định trách nhiệm phải làm hết sức để giảm bout t́nh trạng khổ đau của con người.
7. Chúng tôi kêu gọi những người hoạt động về y khoa và các khoa học gia hăy gắn bó với và tuân theo sự khôn ngoan chỉ dẫn của tôn giáo trong tất cả mọi vấn đề về sự sống và sự chết. Bởi đó, chúng tôi khuyến dụ là trong những vấn đề như thế, ngoài việc tham vấn cần phải có đối với những gia đ́nh trong cuộc, vấn đề bao giờ cũng cần phải được tham vấn với các vị thẩm quyền tôn giáo đương nhiệm.
8. Niềm xác tín chúng tôi chia sẻ, niềm xác tín rằng sự sống trên trần gian này chỉ là một giai đoạn duy nhất cho cuộc hiện hữu của linh hồn, chẳng những cần phải dẫn chúng ta tới chỗ tôn trọng hơn đối với cái b́nh – là h́nh thể con người – chất chứa linh hồn ở trên đời này. Bởi đó, chúng tôi hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng bản chất tạm bợ của việc con người hiện hữu trên trái đất này cho phép chúng ta được dụng cụ hóa nó. Về vấn đề này, chúng tôi mạnh mẽ lên án bất cứ loại đổ máu nào để phát động bất cứ ư hệ nào – nhất là nếu điều này lại được thực hiện nhân danh Tôn Giáo. Hành động như thế chính là tục hóa Danh Thánh Thần Linh vậy.
9. Bởi thế, chúng tôi t́m cách thăng tiến công ích của nhân loại bằng việc cổ vơ ḷng trọng kính đối với Thiên Chúa, đối với tôn giáo, đối với những biểu hiệu của tôn giáo, đối với những Nơi Thánh và những Nhà Thờ Phượng. Cần phải loại trừ và lên án việc lạm dụng bất cứ sự ǵ trong những điều này.
10. Những việc lạm dụng như thế cùng với những căng thẳng hiện nay giữa các nền văn minh cũng đồng thời đ̣i chúng ta phải vượt ra ngoài cuộc đối thoại song phương của chúng ta là cuộc đối thoại có tính chất thúc bách đặc thù của nó. Bởi thế chúng tôi tin rằng chúng tôi có nhiệm vụ bao gồm cả thế giới Hồi Giáo cùng thành phần lănh đạo của thế giới này trong việc tham gia vào cuộc trân trọng đối thoại và hợp tác. Ngoài ra chúng tôi kêu gọi các vị lănh đạo thế giới hăy cảm nhận khả năng thiết yếu của chiều kích tôn giáo trong việc giúp giải quyết các vấn đề xung khắc và xung đột, và kêu gọi họ hăy ủng hộ việc đối thoại liên tôn cho mục đích ấy.
Rôma ngày 28 Tháng Hai năm 2006 – ngày 30 Tháng Shevat năm 5766
Tôn Sư Trưởng Shear Yashuv Cohen, (Chủ Tịch Phái Đoàn Đại Biểu Do Thái)
Tôn Sư Trưởng Ratson Arussi
Tôn Sư Trưởng Yossef Azran
Tôn Sư Trưởng David Brodman
Tôn Sư Trưởng David Rosen
Ông Oded Wiener
Vị Lănh Sự Shmuel Hadas
Đức Hồng Y Jorge Mejía, (Chủ Tịch Phái Đoàn Đại Biểu Công Giáo)
Đức Hồn