BẢN TUYÊN NGÔN
của
THÁNH BỘ TÍN LƯ ĐỨC TINVAI TR̉ CHUYÊN NHẤT CỦA CHÚA KITÔ VÀ GIÁO HỘI
G
iáo Hội Công Giáo, kể từ Công Đồng Chung Vaticanô II, đă phát động và hết sức nỗ lực thực hiện việc Đại Kết Kitô Giáo khẩn thiết, để có thể phục hồi t́nh trạng Giáo Hội Chúa Kitô hoàn toàn được hiệp nhất nên một như ư muốn của Chúa Kitô, cũng như để khỏi gây ngăng trở trong việc truyền giáo, và trong giáo triều của ḿnh, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đă đẩy mạnh việc Đối Thoại Liên Tôn hơn bao giờ hết. Thế mà, Ṭa Thánh, qua Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, vừa chính thức ban bố một văn kiện, như phản ứng của một số nhân vật cho thấy, một văn kiện có thể gây nguy hại đến tiến tŕnh Đại Kết Kitô Giáo đang xích lại gần nhau, cũng như đến công cuộc Đối Thoại Liên Tôn đang diễn tiến tốt đẹp. Vậy:
- Bản văn kiện này là ǵ?
- Tại sao được phổ biến??
- Nội dung như thế nào???
BẢN CHẤT CỦA VĂN KIỆN
Sáng ngày 5 tháng 9 năm 2000, tại Pḥng Báo Chí của Ṭa Thánh, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă cho phổ biến một Bản Tuyên Ngôn mang tựa đề “Chúa Giêsu - Dominus Jesus”, liên quan đến Duy Nhất Tính của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội cùng Phổ Quát Tính Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội. Hiện diện trong cuộc họp báo để ban bố văn kiện lịch sử quan trọng này, người ta thấy có Đức Hồng Y Tổng Trưởng, Giuse Ratzinger, Tổng Thư Kư Thánh Bộ, Đức Tổng Giám Mục Tarcisio Bertone, SDB, và hai vị tham vấn là Đức Ông Fernando Ocariz và Cha Angelo Amato, SDB.
Trong phần vấn đáp trước khi kết thúc cuộc họp báo, có hai vấn đề tế nhị được các phóng viên báo chí nêu lên. Vấn đề thứ nhất là bức văn kiện có thể gây nguy hại cho việc Đại Kết Kitô Giáo và Đối Thoại Liên Tôn hay chăng? Cha Angelo Amato đă trả lời cho biết, về vấn đề Đại Kết Kitô Giáo, bản văn kiện không nói một điều ǵ mới lạ, ngoài việc lập lại những ǵ đă được Công Đồng Chung Vaticanô II xác tín; c̣n về vấn đề Đối Thoại Liên Tôn, bản văn kiện chỉ đề ra một đường hướng ḥa hợp, an b́nh và tương kính, do đó, sẽ không gây trở ngại ǵ. Vấn đề thứ hai là bức văn kiện có được tham khảo với các vị Giám Mục Á Châu hay chăng? Đức Tổng Giám Mục Bertone, Tổng Thư Kư của Thánh Bộ, cho biết bản văn kiện đă được tham vấn với các Hội Đồng Giám Mục Á Châu, đặc biệt riêng với các Giám Mục Ấn Độ qua một số phiên họp.
Đức Tổng Thư Kư c̣n cho biết, sở dĩ bức văn kiện này được gọi là “Bản Tuyên Ngôn”, v́ nó “không truyền dạy những tín lư mới mẻ..., hơn là chỉ tái khẳng định và tóm gọn tín lư của đức tin Công Giáo đă được xác nhận và truyền dạy trong các văn kiện trước đây thuộc Huấn Quyền; từ đó, bản văn kiện đưa ra những giải thích chân thực đối với những sai lầm cũng như những mập mờ về tín lư đang lan tràn trong phạm vi thần học và giáo hội học tân tiến”. Tuy nhiên, Đức Tổng Thư Kư cũng nhấn mạnh đến giá trị đức tin của văn kiện này, ở chỗ, cho dù là một Bản Tuyên Ngôn của một Thánh Bộ, nhưng v́ được Đức Thánh Cha minh nhiên chuẩn nhận trong buổi triều kiến ngày 16/6/2000, qua công thức phê chuẩn ở đoạn cuối cùng của Bản Tuyên Ngôn: “certa scienta et apostolica Sua auctoritate” (bằng ư thức rơ ràng và theo tông quyền của ḿnh), bức văn kiện ấy cũng thuộc về Huấn Quyền của Giáo Hội: “Công thức này cho thấy tầm quan trọng và chính yếu của tín lư được tŕnh bày trong bản tuyên ngôn: tức là những ǵ trong bản tuyên ngôn đều là những chân lư thuộc đức tin thần linh Công Giáo, hay là những sự thật của tín lư Công Giáo cần phải được mạnh mẽ nắm giữ... Bởi thế, tín hữu buộc phải cương quyết và dứt khoát chấp nhận”.
CĂN NGUYÊN CỦA VĂN KIỆN
Mục đích của Bản Tuyên Ngôn được xác định ở ngay đầu đoạn 3: “Bản Tuyên Ngôn đây muốn nhắc nhở cho các Vị Giám Mục, thần học gia, và toàn thể tín hữu Công Giáo, một số những yếu tố không thể bỏ qua về tín lư Kitô Giáo, những yếu tố có thể giúp cho thần học suy tư trong việc t́m kiếm những giải quyết hợp với đức tin và trong việc đáp ứng nhu cầu cấp thiết của văn hóa hiện đại”. Thế nhưng, vấn đề ở đây là tại sao Bản Tuyên Ngôn này lại nêu lên “những yếu tố không thể bỏ qua về tín lư Kitô Giáo” ấy vào lúc này đây?
Trong cuộc họp báo để ban bố Bản Tuyên Ngôn này, Đức Hồng Y Tổng Trưởng tiết lộ cho biết bối cảnh của bức văn kiện như sau: “Một số thần học gia hơi có vẻ ḥa dịu tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, song cũng chủ trương rằng, v́ bản tính nhân loại hạn hẹp của Đức Giêsu, do đó mạc khải của Thiên Chúa nơi Người không thể nào hoàn toàn và tối hậu được cả; bởi thế, mạc khải này cần phải được đối chiếu với ánh sáng của các mạc khải khả dĩ khác của Thiên Chúa nữa, những mạc khải được thể hiện qua các tinh hoa tôn giáo của nhân loại cũng như qua giáo tổ của các tôn giáo trên thế giới. Như thế, khách quan mà nói, người ta đă thấy được những tư tưởng sai lầm xuất hiện đó là chủ trương các tôn giáo trên thế giới hoàn trọn mạc khải Kitô Giáo”.
Đề cập đến chủ nghĩa tương đối và các hậu quả của nó, Đức Hồng Y Tổng Trưởng c̣n cho biết rằng, vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa này xuất hiện như “một thứ triết lư nhân bản, thứ triết lư có khả năng bảo toàn t́nh cách nhân nhượng và dân chủ, song lại khiến thành phần cho ḿnh là người bảo vệ căn tính Kitô Giáo và chủ trương truyền bá sự thật phổ quát cứu độ nơi mạc khải của Chúa Giêsu Kitô, càng trở nên xa lạ hơn”. “Xa lạ hơn” ở chỗ nào, Đức Hồng Y Ratzinger tiếp tục vạch rơ vấn đề như sau: “Nguyên tắc về sự nhân nhượng cùng tương kính theo tự do đă bị lèo lái và đi quá trớn đến độ mất quân b́nh, khi con người chấp nhận những nội dung, như thể tất cả các nội dung của mọi tôn giáo khác nhau cũng như những quan niệm phi tôn giáo về đời sống, đều có thể được đặt ngang hàng với nhau; và như thể chân lư phổ quát khách quan không c̣n hiện hữu nữa, v́ Thiên Chúa hay Đấng Tối Cao tỏ ḿnh ra dưới nhiều thứ danh xưng, và tất cả mọi danh xưng đều chân thực. Đây là một ư nghĩ nhân nhượng sai lầm có liên quan đến việc không biết và phủ nhận vấn đề về sự thật, một vấn đề thực sự đối với nhiều người ngày nay chỉ có một tầm vóc quan trọng thứ yếu không liên quan ǵ tới họ”.
Chính v́ “ư nghĩ nhân nhượng sai lầm” này, “những sai lầm cũng như những mập mờ về tín lư đang lan tràn trong phạm vi thần học và giáo hội học tân tiến”, mới có Bản Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu - Dominus Jesus”, liên quan đến Duy Nhất Tính của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội cùng Phổ Quát Tính Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội, một văn kiện được kư ban hành vào ngày Lễ Chúa Biến H́nh, 6/8/2000.
NỘI DUNG CỦA VĂN KIỆN
Ngoài hai phần mở và kết, Bản Tuyên Ngôn được chia ra làm 5 phần thứ tự như sau:
- Tính Cách Trọn Vẹn và Tối Hậu nơi Mạc Khải của Chúa Giêsu Kitô
- Lời Nhập Thể và Chúa Thánh Thần trong Công Cuộc Cứu Độ
- Duy Nhất Tính và Phổ Quát Tính nơi Mầu Nhiệm Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô
- Duy Nhất Tính của Giáo Hội và Việc Hiệp Nhất của Giáo Hội
- Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa và là Vương Quốc của Chúa Kitô
Qua 5 phần chính yếu làm nên nội dung của toàn Bản Tuyên Ngôn này, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă trước hết nêu lên những “ư nghĩ nhân nhượng sai lầm”, rồi sau đó “tái khẳng định và tóm gọn tín lư của đức tin Công Giáo” trong 10 điều chính yếu như sau.
“Ư Nghĩ Nhân Nhượng Sai Lầm”
Ngay ở phần mở đầu, Bản Tuyên Ngôn đă điểm mặt “những ư nghĩ nhân nhượng sai lầm” như sau (những chỗ in đậm là do người dịch tự ư muốn nhấn mạnh để làm nổi bật những chi tiết trọng yếu của từng chỗ):
“Việc liên tục rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội ngày nay đang gặp phải nguy hiểm bởi những lư thuyết tương đối t́m cách biện minh cho chủ nghĩa đại đồng tôn giáo, chẳng những về mặt thực tế (de facto) mà c̣n về mặt nguyên tắc (de iure). Từ đó, mới có chủ trương thay thế một số chân lư; chẳng hạn như chân lư về tính chất tối hậu và hoàn bị nơi mạc khải của Chúa Giêsu Kitô, về bản chất của đức tin Kitô Giáo được đem so sánh với bản chất của niềm tin nơi các tôn giáo khác, về bản chất linh ứng của các sách Thánh Kinh, về việc hiệp nhất ngôi vị giữa Lời Hằng Sống và Đức Giêsu Nazarét, về việc hiệp nhất trong công cuộc của Lời Nhập Thể và Chúa Thánh Linh, về duy nhất tính và cứu độ phổ quát tính nơi mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, về vai tṛ môi giới cứu độ phổ quát của Giáo Hội, về tính cách bất khả phân ly – trong đó có cả những ǵ khác biệt - nơi vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của Chúa Kitô, và Giáo Hội, và về việc hiện hữu của một Giáo Hội duy nhất trong Giáo Hội Công Giáo.
“Các căn nguyên của những vấn đề này được t́m thấy nơi một số những dự tưởng vừa mang tính chất triết lư lẫn thần học, những dự tưởng gây trở ngại cho việc hiểu biết và chấp nhận chân lư mạc khải. Có thể kể đến một số những dự tưởng này như sau: dự tưởng về xác tín cho rằng không thể nắm vững và diễn đạt chân lư thần linh, cho dù có bởi mạc khải Kitô Giáo chăng nữa; dự tưởng về những thái độ tương đối hướng về chân lư cho thấy có những cái đúng với người này song lại không đúng với người khác; dự tưởng về mối tương khắc sâu xa giữa ư hệ thiên lư lẽ của Tây Phương với ư hệ thiên biểu tượng của Đông Phương; dự tưởng về chủ quan tính, cho rằng lư trí là nguồn duy nhất của kiến thức, lại không thể hướng ‘tầm mắt lên cao vời, không dám tiến đến chân lư về hữu thể’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Đức Tin và Lư Trí, 5: AAS 91 năm 1999, 5-88); dự tưởng về vấn đề khó khăn trong việc hiểu biết và chấp nhận sự hiện diện của những biến cố cánh chung tối hậu nơi lịch sử; dự tưởng về biến cố nhập thể lịch sử của Lời Hằng Hữu không có tính cách siêu h́nh, mà chỉ là việc Thiên Chúa xuất hiện trong lịch sử mà thôi; dự tưởng về việc vượt biên của thành phần say mê những tư tưởng phóng khoáng từ các môi trường triết lư và thần học khác nhau trong việc tra cứu thần học, không để ư ǵ đến mối liên hệ chặt chẽ theo hệ thống hay đến tính cách tương xứng với chân lư Kitô Giáo; sau hết là dự tưởng về khuynh hướng muốn đọc và cắt nghĩa Sách Thánh không theo Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội”.
“Từ những dự tưởng này, những dự tưởng cho thấy những uyển chuyển khác nhau, đă xuất hiện một số những dự thảo về thần học, lúc th́ được tŕnh bày như là những chủ trương, lúc th́ như những giả thiết, những dự thảo cho rằng mạc khải Kitô Giáo cùng với mầu nhiệm về Chúa Giêsu Kitô cũng như về Giáo Hội không có tính chất chân thật tuyệt đối và tính cách phổ quát cứu độ, hay tối thiểu cũng cho thấy có những ngờ vực và nghi ngại về Chúa Kitô và Giáo Hội”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 4.1, 4.2 và 4.3)
“Tái Khẳng Định và Tóm Gọn Tín Lư của Đức Tin Công Giáo”
(Những tiểu đề theo thứ tự từ 1 tới 10 là do người viết đặt ra cho rơ ràng những vấn đề Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin muốn khẳng định trong Bản Tuyên Ngôn)
1. Thiên Chúa đă mạc khải đầy đủ và trọn vẹn mầu nhiệm cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô.
“Thuyết chủ trương tính chất giới hạn, không trọn vẹn hay không hoàn hảo nơi mạc khải của Chúa Giêsu Kitô, một mạc khải cần được bổ khuyết nơi mạc khải của các tôn giáo khác là một thuyết trái với đức tin Kitô Giáo. Chủ trương này căn cứ vào quan niệm cho rằng bất cứ một tôn giáo nào trong lịch sử, kể cả Kitô Giáo hay Đức Giêsu Kitô đi nữa, cũng không thể nào hiểu thấu và không thể nào bộc lộ một cách phổ quát và trọn vẹn sự thật về Thiên Chúa.
“Chủ trương như vậy hoàn toàn trái với những tuyên xưng trước đây của đức tin Công Giáo, những tuyên xưng về một mạc khải đầy đủ và trọn vẹn nơi mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa đă được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. V́ lư do đó, những lời nói, việc làm và tất cả các biến cố lịch sử của Đức Giêsu, mặc dù bị giới hạn theo thực tại loài người, cũng được làm chủ bởi Ngôi Vị thần linh của Lời Nhập Thể, Đấng là ‘Thiên Chúa thật và là người thật’ (Công Đồng Chung Chalcedon, Symbolum Chalcedonense: DS 301; x Thánh Athanasius, De Incarnatione, 54, 3: SC 199, 458). Bởi thế, những lời nói, việc làm và biến cố đó tự ḿnh có tính chất mạc khải tối hậu và hoàn toàn theo những đường lối cứu độ của Thiên Chúa, cho dù mức độ sâu xa của mầu nhiệm thần linh tự nó vốn siêu việt và bất tận. Sự thật về Thiên Chúa không bị hủy bỏ hay bị suy giảm khi nó được phát biểu bằng ngôn ngữ loài người; trái lại, nó chuyên nhất, hoàn toàn và trọn vẹn, v́ Đấng nói năng và tác hành chính là Con Thiên Chúa Nhập Thể. Như thế, đức tin đ̣i chúng ta phải tuyên xưng Lời nhập thể, nơi toàn thể mầu nhiệm của Người, từ khi nhập thể tới vinh quang, là nguồn mạch, tuy dự phần song thực sự, và là viên trọn của hết mọi mạc khải cứu độ Thiên Chúa muốn tỏ ra cho loài người biết (Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải, 4), cũng như tuyên xưng Thánh Linh, Đấng là Thần Linh của Đức Kitô, sẽ dạy “tất cả sự thật” này (Jn 16:13) cho các Vị Tông Đồ và nhờ các ngài cho toàn thể Giáo Hội”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 6.1 và 6.2)
2. Đức Tin Đối Thần nơi Kitô Giáo và niềm tin nơi các tôn giáo khác hoàn toàn khác hẳn nhau.
“Đáp ứng xứng hợp với mạc khải của Thiên Chúa là ‘việc tin tưởng tuân phục (Rm 16:26; x. Rm 1:5; 2Cor 10:5-6), một tác động khiến con người hoàn toàn tự do phó ḿnh cho Thiên Chúa, ở chỗ trí khôn và ḷng muốn của họ hết sức thuận phục Thiên Chúa, Đấng tỏ ḿnh ra, và tự nguyện chấp nhận mạc khải của Ngài’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải, 5). Đức tin là quà tặng do ân sủng: ‘để lănh nhận đức tin trước hết cần phải có ơn Chúa và sự trợ giúp của ơn Chúa; cũng cần phải có cả việc hỗ trợ nội tâm của Chúa Thánh Linh nữa, Đấng tác động tâm hồn và qui hướng nó về Thiên Chúa, Đấng mở mắt trí khôn và ban cho mọi người niềm vui và dễ dàng trong việc ưng thuận và tin tưởng vào chân lư’” (cùng nguồn vừa dẫn).
“Việc tin tưởng tuân phục bao gồm tác động chấp nhận chân lư do Chúa Kitô mạc khải, căn cứ vào thế giá của Thiên Chúa, Đấng là chính Sự Thật (x. Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, số 144): ‘Đức tin trước hết là việc con người gắn bó bản thân ḿnh với Thiên Chúa. Đi liền với việc này đồng thời c̣n là tác động hoàn toàn chấp nhận tất cả sự thật được Thiên Chúa mạc khải’ (cùng nguồn vừa dẫn, số 150). Thế nên, đức tin, như ‘một tặng ân của Thiên Chúa’ và như ‘một nhân đức siêu nhiên do Ngài phú bẩm cho’ (cùng nguồn vừa dẫn, số 153), bao gồm một gắn bó kép đôi, đó là việc gắn bó với Thiên Chúa là Đấng tỏ ḿnh ra và cả việc gắn bó với sự thật được Ngài tỏ ra cho biết nữa, một gắn bó kép đôi phát xuất từ ḷng tin tưởng vào Ngài là Đấng phán bảo. Như thế, ‘chúng ta không tin vào một ai khác ngoài Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần’ (cùng nguồn vừa dẫn, số 178).
“V́ thế, phải nắm vững sự khác biệt giữa đức tin đối thần với niềm tin nơi các tôn giáo khác. Nếu đức tin là việc theo ơn Chúa chấp nhận chân lư mạc khải, một thứ chân lư ‘tự ḿnh có thể thấu nhập mầu nhiệm ở chỗ giúp chúng ta hiểu được mầu nhiệm ấy một cách chặt chẽ’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Đức Tin và Lư Trí, 13), th́ niềm tin nơi các tôn giáo khác là tất cả cảm nghiệm và tâm tưởng làm nên kho tàng khôn ngoan và nguyện vọng đạo lư của con người, những kho tàng khôn ngoan và nguyện vọng mà con người, trong lúc đi t́m kiếm chân lư, đă cưu mang và tác hành trong mối liên hệ với Thiên Chúa và Đấng Tối Cao (cùng nguồn vừa dẫn, 31-32).
“Việc phân biệt này không luôn luôn được thể hiện nơi tâm trí của suy tư thần học hiện nay. Bởi thế, đức tin đối thần (việc chấp nhận chân lư được Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi mạc khải) thường bị đồng hóa với niềm tin nơi các tôn giáo khác, tức với cảm nghiệm tôn giáo vẫn c̣n đang trên đường t́m kiếm chân lư tuyệt đối và vẫn chưa có thuận theo Thiên Chúa là Đấng mạc khải bản thân ḿnh ra. Đó là một trong những lư do tại sao cái khác nhau giữa Kitô Giáo và các tôn giáo có những lúc như bị giảm xuống tới mức độ biến mất”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 7.1, 7.2, 7.3, 7.4)
3. Không có vấn đề khác biệt giữa Đức Giêsu Kitô và Ngôi Lời, cũng như giữa tác động cứu độ của Ngôi Lời và của Lời Nhập Thể.
“Nơi suy tư thần học hiện đại thường có khuynh hướng cho Đức Giêsu Nazarét là một nhân vật lịch sử hạn hữu riêng biệt, Đấng tỏ thần linh ra không phải một lần duy nhất mà bằng một đường lối cần được bổ khuyết bởi các nhân vật khải huyền và cứu độ khác nữa. Như thế, Mầu Nhiệm Vô Cùng, Tuyệt Đối, Tối hậu của Thiên Chúa được tỏ hiện cho nhân loại thấy bằng nhiều đường lối và nơi nhiều nhân vật lịch sử, trong số đó có cả Đức Giêsu Nazarét. Cụ thể hơn, một số người c̣n cho Đức Giêsu là một trong nhiều bộ mặt được Lời tỏ hiện trong gịng thời gian để tiếp xúc với nhân loại bằng đường lối cứu độ.
“Ngoài ra, để biện minh tính cách phổ quát của ơn cứu độ Kitô Giáo cũng như sự kiện về việc đại đồng tôn giáo, vấn đề đă được đặt ra là công cuộc của Lời hằng hữu cũng có tác hiệu cả ở ngoài Giáo Hội và không có liên hệ ǵ với Giáo Hội cả, một công cuộc thêm thắt vào công cuộc của Lời nhập thể. Công cuộc của Lời hằng hữu có một giá trị phổ quát bao rộng hơn công cuộc của Lời nhập thể là công cuộc chỉ hạn hẹp nơi thành phần Kitô hữu, cho dù Thiên Chúa có hiện diện tràn đầy hơn ở công cuộc của Lời nhập thể.
(Tuyên Ngôn, đoạn 9.1 và 9.2)
Những luận đề này hoàn toàn trái với đức tin Kitô Giáo. Tín lư đức tin cần phải được mạnh mẽ tuyên xưng Đức Giêsu Nazarét, con của Đức Maria, cũng là Con và Lời của Chúa Cha. Lời, Đấng ‘từ ban đầu đă ở nơi Thiên Chúa’ (Jn 1:2) cũng là Đấng ‘đă hóa thành nhục thể’ (Jn 1:14). Nơi Giêsu ‘là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’ (Mt 16:16), ‘toàn thể tầm mực viên toàn của thần tính ngự trị một cách thể lư’ (Col 2:9). Người là ‘Người Con duy nhất của Cha, Đấng ở trong Cha’ (Jn 1:18), ‘Người Con yêu dấu của Ngài, nơi Người chúng ta được cứu chuộc... Nơi Người tầm mức viên măn của Thiên Chúa hân hoan ngự trị, và qua Người, Thiên Chúa muốn ḥa giải tất cả mọi sự với chính ḿnh Ngài, cả dưới đất cũng như trên trời, giải ḥa bằng máu thập tự giá của Người’ (Col 1:13-14, 19-20).
“Về vấn đề này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă minh nhiên công bố là: ‘Đặt ra bất cứ một vấn đề phân chia nào giữa Lời và Đức Giêsu Kitô đều trái với đức tin Kitô Giáo... Đức Giêsu là Lời nhập thể – một ngôi vị duy nhất bất phân... Đức Kitô không là ai khác ngoài Giêsu Nazarét; Người là Lời Thiên Chúa làm người v́ phần rỗi của tất cả mọi người...” (Thông Điệp Redemptoris Missio, 6).
“Cũng trái với đức tin Công Giáo như vậy nữa khi đặt ra vấn đề phân chia giữa tác động cứu độ của Lời với tác động cứu độ của Lời hóa thân làm người. Qua việc nhập thể, tất cả mọi tác động cứu độ của Lời Thiên Chúa luôn luôn được thực hiện trong mối hiệp nhất với bản tính loài người được Người mặc lấy v́ phần rỗi của tất cả mọi người. Chủ thể duy nhất tác hành nơi cả hai bản tính, bản tính nhân loại và bản tính thần linh, là ngôi vị duy nhất của Lời (x Thánh Lêô Cả, Tomus ad Flavianum: DS 294).
“Bởi thế, thuyết qui hoạt động cứu độ cho Lời theo thần tính của Người sau khi nhập thể như vậy, một hoạt động cứu độ được thực hiện ‘thêm vào’ hay ‘ở ngoài’ nhân tính của Đức Kitô, không hợp với đức tin Công Giáo (x. Thánh Lêô Cả, Thư gửi Hoàng Đế Lêô I Promisisse me memini: DS 318 ‘... in tantam unitatem ab ipso conceptu Birginis deitate et humanitate conserta, ut nec sine homine divina, nec sine Deo agerentur humana’. Cũng x DS 317)”
(Tuyên Ngôn, đoạn 10.1, 10.4, 10.5 và 10.6)
4. Không có vấn đề hoạt động của Chúa Thánh Thần bao rộng hơn, ở ngoài hay song song với hoạt động của Lời Nhập Thể.
“Cũng có những người nêu lên giả thiết cho rằng công cuộc của Chúa Thánh Thần th́ bao rộng phổ quát hơn công cuộc của Lời Nhập Thể, Đấng tử giá và phục sinh. Chủ trương này cũng trái với đức tin Công Giáo, một đức tin chủ trương ngược lại, ở chỗ, coi việc nhập thể cứu độ của Lời như là một biến cố của cả Ba Ngôi Thiên Chúa vậy. Theo Tân Ước, mầu nhiệm về Chúa Giêsu, Lời Nhập Thể, làm nên nơi cho Chúa Thánh Thần hiện diện cũng như trở thành nguyên lư cho việc tuôn tràn Thần Linh xuống trên nhân loại, chẳng những vào thời kỳ cứu độ (x Acts 2:32-36; Jn 7:39, 20-22; 1Cor 15:45), mà c̣n vào cả trước thời gian Người đi vào lịch sử nữa (x 1Cor 10:4; 1Pet 1:10-12)...
“Bởi vậy, Huấn Quyền gần đây của Giáo Hội đă mạnh mẽ và rơ ràng nhắc lại sự thật về một công cuộc thần linh duy nhất: ‘Sự hiện diện và hoạt động của Thần Linh chẳng những chi phối cá nhân con người mà c̣n cả xă hội và lịch sử, các dân tộc, văn hóa và tôn giáo nữa... Chúa Kitô hiện đang hoạt động nơi tâm can nhân loại bằng quyền lực của Thần Linh Người... Chính Thần Linh là Đấng gieo ‘hạt giống lời Chúa’ hiện diện nơi các tập tục và văn hóa khác nhau, làm cho những lănh vực này hoàn toàn nên trọn trong Chúa Kitô’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 28; về ‘hạt giống Lời Chúa’ cũng xem cả Thánh Justine tử đạo, Hộ Giáo Thứ Hai 8, 1-2; 10, 1-3; 13, 3-6; ed. E.J. Goodspeed, 84; 85; 88-89). Trong khi công nhận sứ vụ cứu độ trong lịch sử của Thần Linh nơi toàn thể vũ trụ cũng như trong toàn bộ lịch sử nhân loại (cùng nguồn của ĐTC/GPII vừa dẫn, 28-29), Huấn Quyền c̣n xác nhận: ‘Đây là chính Vị Thần Linh đă hoạt động trong việc nhập thể, trong đời sống, trong cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, cũng là Đấng hoạt động trong cả Giáo Hội nữa. Bởi thế, Ngài không phải là một thứ hoán vị thay cho Chúa Kitô, và Ngài cũng không phải là một thứ khỏa lấp, đôi khi theo người ta nghĩ, giữa Đức Kitô và Ngôi Lời. Bất cứ những ǵ Thần Linh làm phát sinh nơi tâm trí con người cũng như nơi lịch sử của các dân tộc, nơi văn hóa và tôn giáo, đều giúp vào việc sửa soạn cho Phúc Âm, và chỉ có thể hiểu được trong mối tương quan với Chúa Kitô là Lời, Đấng đă mặc lấy xác thịt bởi quyền phép Thần Linh, và, v́ là một con người toàn vẹn, Người đă cứu độ toàn thể nhân loại và thâu tóm tất cả mọi sự’ (cùng nguồn của ĐTC/GPII vừa dẫn, 29).
“Tóm lại, hoạt động của Thần Linh không ở ngoài hay song song với hoạt động của Chúa Kitô. Chỉ có một công cuộc cứu độ duy nhất của một Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi, được thể hiện nơi mầu nhiệm nhập thể, nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Con Thiên Chúa, được hiện thực nhờ việc hợp tác của Thánh Linh, và được vươn tới toàn thể nhân loại cùng toàn thể vũ trụ ở giá trị cứu độ của công cuộc này: ‘Thế nên, không ai có thể được hiệp thông với Thiên Chúa ngoại trừ qua Chúa Kitô và nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần’ (cùng nguồn của ĐTC/GPII vừa dẫn, 5)”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 12.1, 12..5 và 12.6)
5. Không có vấn đề tương đương hay bổ khuyết cho Chúa Giêsu Kitô trong vai tṛ môi giới duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người của Người.
“Công Đồng Vaticanô II dạy rằng: ‘Vai tṛ môi giới chuyên biệt của Đấng Cứu Thế không loại trừ song làm phát sinh việc hợp tác đa diện, một việc hợp tác với nguồn mạch duy nhất ấy’ (Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 62). Nội dung của vai tṛ môi giới dự phần này cần phải được t́m hiểu sâu xa hơn nữa, thế nhưng, vẫn phải luôn luôn hợp với nguyên lư của vai tṛ làm môi giới chuyên nhất của Chúa Kitô: ‘Mặc dù không loại bỏ những thể thức môi giới dự phần thuộc các thứ loại hay ở các cấp độ, nhưng những thể thức môi giới dự phần này chỉ có ư nghĩa và giá trị từ vai tṛ môi giới của Chúa Kitô mà thôi, chứ chúng không thể được cho là tương đương với hay bổ khuyết cho vai tṛ môi giới của Người’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 5). Bởi thế, những luận giải cho rằng tác động cứu độ của Thiên Chúa ở ngoài vai tṛ môi giới chuyên nhất của Chúa Kitô là những luận giải trái với đức tin Kitô Giáo và Công Giáo”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 14.2)
6. Không cần phải tránh né việc sử dụng những từ ngữ đă được mạc khải trong Thánh Kinh.
“Không phải là ít khi có vấn đề đặt ra rằng thần học phải tránh sử dụng những từ ngữ như ‘duy nhất tính’, ‘phổ quát tính’ và ‘tuyệt đối tính’, những từ ngữ có liên quan đến các tôn giáo khác, ở chỗ, chúng gây ấn tượng về việc quá nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng và giá trị nơi biến cố cứu độ của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, thực tế th́ thứ ngôn ngữ này chỉ phản ánh mạc khải mà thôi, v́ nó biểu hiệu cho việc phát triển của chính các nguồn mạch đức tin. Ngay từ ban đầu, cộng đồng tín hữu đă nhận biết nơi Chúa Giêsu một giá trị cứu độ, ở chỗ, một ḿnh Người, với tư cách là Con Thiên Chúa làm người, tử giá và phục sinh, theo sứ vụ được Cha trao cho và trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, đă ban bố mạc khải (x Mt 11:27) và sự sống thần linh (x Jn 1:12, 5:25-26, 17:2) cho toàn thể nhân loại cũng như cho hết mọi người”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 15)
7. “Giáo Hội Chúa Kitô, mặc dù có những phân rẽ nơi các Kitô hữu, vẫn tiếp tục hiện hữu một cách trọn vẹn nơi duy một ḿnh Giáo Hội Công Giáo mà thôi”.
“Chúa Giêsu, Vị Cứu Thế duy nhất, đă không phải chỉ thiết lập một cộng đồng môn đệ đơn thuần thôi, mà c̣n làm cho Giáo Hội thành một mầu nhiệm cứu độ nữa, ở chỗ, chính Người sống trong Giáo Hội và Giáo Hội sống trong Người (x Jn 15:1ff; Gal 3:28; Eph 4:15-16; Acts 9:5). Thế nên, tầm mức viên trọn nơi mầu nhiệm của Chúa Kitô cũng thuộc về Giáo Hội được hiệp nhất bất khả phân ly với Chúa của ḿnh. Thật vậy, Chúa Giêsu Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động cứu độ nơi Giáo Hội và nhờ Giáo Hội (x Col 1:24-27) (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 14) là thân thể của Người (x 1Cor 12:12-13, 27; Col 1:18) (cùng nguồn vừa dẫn, 7). Do đó, như đầu và các chi thể trong cùng một thân xác sống động, mặc dù không đồng nhất với nhau, cũng không thể phân ly thế nào, Chúa Kitô và Giáo Hội cũng không thể bị lẫn lộn và phân rẽ như vậy, và cả hai cũng làm nên một ‘toàn thể Chúa Kitô’ duy nhất như vậy (x Thánh Âu Quốc Tinh, Enarratio in Psalmos, Ps. 90, sermo 2, 1: CCSL 39, 1266; Thánh Gregory Cả, Moralia in Iob, Praefatio, 6, 14: PL 75, 525; Thánh Thomas Aquinas, Summa Theologiae, III, q. 48, a. 2 ad 1). Tính cách bất khả phân ly này c̣n được diễn tả trong Tân Ước qua sự so sánh Giáo Hội như Hiền Thê của Chúa Kitô (x 2Cor 11:2; Eph 5:25-29; Rev 21:2, 9) (x Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế Lumen Gentium, 6).
“Bởi thế, trong mối liên hệ với duy nhất tính và phổ quát tính nơi vai tṛ môi giới cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, th́ duy nhất tính của Giáo Hội do Chúa Kitô thiết lập phải được tin tưởng một cách vững vàng như là một chân lư thuộc đức tin Công Giáo. Như chỉ có một Chúa Kitô duy nhất thế nào, th́ cũng chỉ có một thân thể của Chúa Kitô, một Hiền Thê của Chúa Kitô như vậy, đó là ‘một Giáo Hội Công Giáo và tông truyền duy nhất’ (Symbolum maius Ecclesiae Armeniacae: DS 48. x Boniface VIII, Unam sanctam: DS 870-872; Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 8). Ngoài ra, Chúa đă hứa Chúa sẽ không bỏ rơi Giáo Hội của Người (x Mt 16:18, 28:20), và Người sẽ hướng dẫn Giáo Hội bằng Thần Linh của Người (x Jn 16:13), nghĩa là, theo đức tin Công Giáo, duy nhất tính và việc hiệp nhất của Giáo Hội – giống như tất cả những sự khác thuộc về toàn thể Giáo Hội – sẽ không bao giờ bị thiếu hụt (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 4; ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ut Unum Sint, 11: AAS 87 năm 1995, 927).
“Tín hữu Công Giáo buộc phải tuyên xưng rằng, giữa Giáo Hội được Chúa Kitô thiết lập và Giáo Hội Công Giáo có một sự liên tục về lịch sử, được bắt nguồn nơi việc thừa kế tông đồ: ‘Đó là một Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất... một Giáo Hội được Đấng Cứu Thế của chúng ta, sau khi phục sinh, đă kư thác cho Thánh Phêrô công cuộc mục vụ (x Jn 21:17), bằng việc truyền cho ngài cũng như cho các Vị Tông Đồ khác phải trông coi và quản trị Giáo Hội (x Mt 28:18ff), đă dựng nên cho mọi đời thấy như ‘cột trụ và nền tảng của chân lư’ (1Tim 3:15). Giáo Hội này, được cấu tạo và tổ chức như là một xă hội trong hiện thế, thuộc hữu nơi Giáo Hội Công Giáo, một Giáo Hội được cai quản bởi Vị Thừa Kế Thánh Phêrô cùng với các Vị Giám Mục hiệp thông với ngài’ (Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế Lumen Gentium, 8). Khi nói đến việc thuộc hữu này, Công Đồng Chung Vaticanô II muốn dung ḥa hai điều về tín lư sau đây: thứ nhất, đó là việc Giáo Hội Chúa Kitô, mặc dù có những phân rẽ nơi các Kitô hữu, vẫn tiếp tục hiện hữu một cách trọn vẹn nơi duy một ḿnh Giáo Hội Công Giáo mà thôi, thứ hai, đó là vấn đề ‘ở ngoài cơ cấu của Giáo Hội cũng có nhiều yếu tố về vấn đề thánh hóa và chân lư’ (cùng nguồn vừa dẫn như đoạn 8 trên và cả đoạn 15; x ĐTC Gioan Phaolô, Thông Điệp Ut Unum Sint, 13; cũng xem Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 3), tức là, nơi những Giáo Hội và cộng đồng giáo hội chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo (x Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, Thông Báo về Cuốn ‘Giáo Hội: Đặc Sủng và Quyền Bính’ của Cha Leonardo Boff: AAS 77 năm 1985, 756-762). Thế nhưng, trong khi tôn trọng những yếu tố này, cũng cần phải nói là ‘chúng nhận được hiệu năng từ chính mức độ viên măn ân sủng và chân lư đă được kư thác cho Giáo Hội Công Giáo’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 3).
(Tuyên Ngôn, đoạn 16.1, 16.2 và 16.3)
“Do đó, chỉ có một Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất, một Giáo Hội thuộc hữu nơi Giáo Hội Công Giáo do Vị Thùa Kế Thánh Phêrô cai quản cùng với các Vị Giám Mục hiệp thông với ngài (x Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, Tuyên Ngôn về Mầu Nhiệm Giáo Hội, 1: AAS 65 năm 1973, 396-398). Những Giáo Hội, dù không hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo mà vẫn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo nhờ những mối liên kết gắn bó nhất, tức là, nhờ việc thừa kế tông đồ và Bí Tích Thánh Thể hiệu thành, th́ đó là những Giáo Hội riêng biệt thực sự (x Công Đồng Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 14 và 15; Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, Letter Communionis Notio, 17: AAS 85 năm 1993, 848). Bởi thế, Giáo Hội của Chúa Kitô cũng đang hiện diện và hoạt động nơi cả những Giáo Hội này nữa, mặc dù họ không hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, v́ họ không chấp nhận tín lư Công Giáo về Thượng Quyền, một thượng quyền mà, theo ư muốn của Thiên Chúa, Vị Giám Mục Rôma được khách quan nắm giữ và thi hành trên toàn thể Giáo Hội (x Công Đồng Chung Vaticanô I, Hiến Chế Pastor Aeternus: DS 3053-3064; Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 22).
“Mặt khác, các cộng đồng giáo hội nào không bảo tồn Hàng Ngũ Giám Mục được công nhận cũng như bản chất đích thực trọn vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 22) th́ không phải là những Giáo Hội đúng nghĩa; tuy nhiên, những ai đă lănh nhận phép rửa trong các cộng đồng này th́, nhờ Bí Tích Rửa Tội, được tháp nhập với Chúa Kitô, nhờ đó họ cũng thật sự được hiệp thông với Giáo Hội, mặc dù không trọn vẹn (cùng nguồn vừa dẫn, 3). Bí Tích Rửa Tội tự ḿnh hướng tới t́nh trạng phát triển trọn vẹn đời sống trong Chúa Kitô, qua việc tuyên xưng trọn vẹn đức tin, qua Bí Tích Thánh Thể cũng như qua việc hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội (cùng nguồn vừa dẫn, 22).
“Thế nên, tín hữu Kitô Giáo không được phép cho rằng Giáo Hội của Chúa Kitô chỉ là một tổng hợp – bị phân rẽ song một cách nào đó vẫn là một – bao gồm các Giáo Hội và cộng đồng giáo hội; hay được tự do chủ trương cho rằng ngày nay Giáo Hội Chúa Kitô thực sự không hiện hữu ở đâu cả, và phải được coi đó như chỉ là một mục tiêu mà tất cả mọi Giáo Hội cũng như cộng đồng giáo hội cần phải nỗ lực hướng đến’ (Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, Tuyên Ngôn Mầu Nhiệm Giáo Hội, 1). Thật vậy, ‘những yếu tố nơi Giáo Hội sẵn có này hiện hữu được liên kết với nhau theo tầm mức trọn vẹn của ḿnh nơi Giáo Hội Công Giáo và không trọn vẹn nơi các cộng đồng khác’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ut Unum Sint, 14). ‘Thế nên, những Giáo Hội và cộng đồng ly khai này, dù chúng ta tin là họ có những thiếu sót, vẫn không mất đi ư nghĩa và tầm quan trọng của ḿnh trong mầu nhiệm cứu độ. V́ Thần Linh của Chúa Kitô không phải là không sử dụng họ như phương tiện cứu độ với hiệu năng có được từ chính tầm mức viên trọn ân sủng và chân lư được kư thác cho Giáo Hội Công Giáo’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 3)”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 17.1, 17.2 và 17.3)
8. Không được chối bỏ duy nhất tính nơi mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội với vương quốc của Thiên Chúa.
“Sứ vụ của Giáo Hội là ‘loan báo và thiết lập nơi tất cả mọi dân nước vương quốc của Chúa Kitô cũng như của Thiên Chúa, và trên thế gian này, Giáo Hội là hạt giống và là khởi điểm của vương quốc ấy’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Lumen Gentium, 3). Một đàng, Giáo Hội là ‘một bí tích – tức là một dấu hiệu và là dụng cụ cho việc hiệp nhất thân mật với Thiên Chúa cũng như cho việc hiệp thông với toàn thể nhân loại’ (cùng nguồn vừa dẫn, 1). Bởi thế, Giáo Hội là dấu hiệu và là dụng cụ của vương quốc này; Giáo Hội được kêu gọi để loan báo và thiết lập vương quốc này. Đàng khác, Giáo Hội là ‘một dân tộc được qui tụ bởi sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’ (cùng nguồn vừa dẫn, 4; x Thánh Cyprian, De Dominica Oratione 23: CCSL, 3A, 105); bởi thế, Giáo Hội là ‘vương quốc của Chúa Kitô hiện diện một cách mầu nhiệm’ (cùng nguồn Công Đồng vừa dẫn, 3), và làm thành mầm mống cùng khởi điểm cho vương quốc này. Thật vậy, vương quốc của Thiên Chúa có một chiều kích cánh chung, tức vương quốc ấy là một thực tại hiện diện trong thời gian, nhưng t́nh trạng toàn vẹn của nó chỉ được thể hiện khi lịch sử nên trọn hay hoàn tất mà thôi’ (x cùng nguồn Công Đồng vừa dẫn, 9; cũng xem kinh nguyện cầu cùng Thiên Chúa trong Didache 9, 4: SC 248, 176: ‘Chớ ǵ Giáo Hội được qui tụ lại từ tận cùng trái đất để làm nên vương quốc của Ngài’, và xem cùng nguồn ở 10, 5: SC 248, 180: ‘Lạy Chúa, xin hăy nhớ đến Giáo Hội của Chúa... và, là một Giáo Hội đă được thánh hóa, xin Chúa hăy qui tụ Giáo Hội lại từ bốn phương trời để làm nên vương quốc của Chúa, một vương quốc Chúa đă sửa soạn cho Giáo Hội’).
“... Thật vậy, vương quốc của Thiên Chúa như mạc khải tỏ cho chúng ta biết ‘không thể tách khỏi Chúa Kitô hay Giáo Hội... Nếu vương quốc ấy tách khỏi Chúa Giêsu th́ nó không c̣n là vương quốc của Thiên Chúa được Người mạc khải cho biết nữa. Như thế ư nghĩa của vương quốc này sẽ bị méo mó, một ư nghĩa có nguy cơ bị biến thành mục tiêu thuần nhân bản hay ư hệ, và căn tính của Chúa Kitô cũng bị bóp méo nữa, Đấng sẽ không c̣n tỏ ra ḿnh là Chúa Tể mà một ngày kia tất cả mọi sự phải qui phục Người nữa (x 1Cor 15:27). Người ta cũng không thể tách vương quốc này khỏi Giáo Hội. Đúng, Giáo Hội tự ḿnh thật sự không phải là cùng đích, v́ Giáo Hội hướng về vương quốc của Thiên Chúa, một vương quốc mà Giáo Hội là mầm mống, là dấu hiệu và là dụng cụ. Tuy nhiên, trong lúc c̣n xa cách Chúa Kitô và vương quốc này, Giáo Hội vẫn hiệp nhất bất khả phân ly với cả hai’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 18; x Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, 17: Tuần San L’Osservatore Romano ngày 7/11. Vương quốc không thể tách khỏi Chúa Kitô đến độ, ở một ư nghĩa nào đó, được đồng hóa với Người - x Origen, In Mt. Hom., 14, 7: PG 13, 1197; Tertullian, Adversus Marcionem, IV, 33, 8: CCSL 1, 634).
(Tuyên Ngôn, đoạn 18.1 và 18.2)
“Khi nói đến mối liên hệ bất khả phân ly giữa Chúa Kitô và vương quốc này th́ không được bỏ qua sự kiện là vương quốc của Thiên Chúa – cho dù có để ư tới vấn đề vương quốc này c̣n ở trong giai đoạn lịch sử đi nữa – cũng không đồng hóa với Giáo Hội theo thực tại hữu h́nh và cơ cấu tổ chức của Giáo Hội. Thật vậy, không được gạt bỏ ‘tác động của Chúa Kitô và của Thần Linh ở bên ngoài biên giới hữu h́nh của Giáo Hội’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 18). Thế nên, người ta cũng phải nhớ rằng, ‘vương quốc này quan tâm đến hết mọi người, đến cá nhân, xă hội và thế giới. Hoạt động cho vương quốc này nghĩa là nhận biết và phát triển việc làm của Thiên Chúa, những việc làm đang hiện diện trong lịch sử loài người và biến đổi lịch sử loài người. Xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nghĩa là hoạt động cho việc giải thoát con người khỏi tất cả mọi h́nh thức của sự dữ. Tóm lại, vương quốc của Thiên Chúa là việc biểu dương và hiện thực trọn vẹn hoàn toàn dự án cứu độ của Thiên Chúa” (cùng nguồn vừa dẫn, 15).
“Trong việc xét đến mối liên hệ giữa vương quốc của Thiên Chúa, với vương quốc của Chúa Kitô và với Giáo Hội, cần phải tránh những việc nhấn mạnh một chiều, như trường hợp của những ‘quan niệm cố ư đề cao vương quốc và đặt vương quốc này là trọng tâm của ḿnh. Những quan niệm này nhấn mạnh đến h́nh ảnh của một Giáo Hội không quan tâm ǵ đến bản thân ḿnh, mà chỉ hoàn toàn để ư tới việc làm chứng nhân và phục vụ vương quốc. Đó là một Giáo Hội cho người khác, như Chúa Kitô là một con người cho người khác vậy... Ngoài những khía cạnh tích cực, những quan niệm này thường cho thấy cả những khía cạnh tiêu cực nữa. Trước hết, chúng không nói ǵ đến Chúa Kitô, ở chỗ, vương quốc chúng nói tới đây lấy Thiên Chúa làm chính, v́, theo những quan niệm ấy, những người không có đức tin Kitô Giáo không thể hiểu được Chúa Kitô, trong khi các dân tộc, văn hóa và tôn giáo khác nhau có thể gặp nhau ở cùng một nền tảng chung nơi thực tại thần linh duy nhất, bất cứ dưới danh xưng nào. Bởi thế, những quan niệm ấy nhấn mạnh đến mầu nhiệm tạo dựng, một mầu nhiệm được phản ánh nơi tính cách đa văn hóa và niềm tin, song chúng không nói ǵ tới mầu nhiệm cứu chuộc cả. Ngoài ra, những quan niệm ấy c̣n cho thấy, vương quốc này không dành một chỗ nhỏ bé nào hết cho Giáo Hội cả, hay chỉ cho Giáo Hội một giá trị rất thấp để phản lại chủ trương Giáo Hội đă lấy ḿnh làm chủ chốt trong quá khứ, và v́ những quan niệm ấy coi Giáo Hội chính là một dấu hiệu, một dấu hiệu tất nhiên không thể nào không có tính cách mập mờ’ (cùng nguồn vừa dẫn, 17). Những luận giải này trái với đức tin Công Giáo, v́ chúng chối bỏ duy nhất tính nơi mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội với vương quốc của Thiên Chúa”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 19.1 và 19.2)
9. Không được coi Giáo Hội như là một đường lối cứu độ tương đương hay cần được bổ khuyết bởi đường lối cứu độ nơi các tôn giáo khác.
“Từ những ǵ đă được nói đến trên đây, một số điểm theo đó cần phải được thần học suy tư trong việc đào sâu vào mối liên hệ giữa Giáo Hội và các tôn giáo khác đối với ơn cứu độ.
“Trước tất cả mọi sự, cần phải vững tin rằng ‘Giáo Hội, hiện nay đang lữ hành trên trái đất, cần thiết cho phần rỗi, ở chỗ, Chúa Kitô duy nhất là vị trung gian và là đường lối cứu độ; Người hiện diện đối với chúng ta nơi thân thể của ḿnh là Giáo Hội. Chính Người đă minh định nhu cầu cần đến đức tin và phép rửa (x Mk 16:16; Jn 3:5), do đó, Người đồng thời cũng xác nhận nhu cầu cần đến Giáo Hội mà con người tiến vào qua cửa phép rửa’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 14; x Sắc Lệnh Ad Gentes, 7; Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio, 3). Điều tín lư này không được cho là phản lại với ư muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa (x 1Tim 2:4); ‘hai chân lư này cần phải ḥa hợp với nhau, tức là chân lư về cơ hội thực sự cho ơn cứu rỗi nơi Chúa Kitô đối với tất cả nhân loại và chân lư về nhu cầu cần đến Giáo Hội để được cứu độ’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 9; x Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, 846-847)”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 20.1 và 20.2)
“Về vấn đề đường lối Thiên Chúa ban ơn cứu độ của Ngài – một ơn cứu độ bao giờ cũng được ban phát nhờ Chúa Kitô, trong Thần Linh, và có liên hệ một cách mầu nhiệm với Giáo Hội – cho cá nhân không phải là Kitô hữu, Công Đồng Chung Vaticanô II đă thu gọn trong một câu, đó là Thiên Chúa ban ơn này ‘theo những cách thức chỉ có một ḿnh Ngài biết’ (Công Đồng Vaticanô II, Sắc Lệnh Ad Gentes, 7). Các thần học gia đang t́m cách để hiểu rơ ràng hơn vấn đề này. Công việc của họ phải được khích lệ, v́ chắc chắn nó giúp ích cho việc hiểu biết hơn dự án cứu độ của Thiên Chúa cũng như những cách thức Ngài hoàn thành ơn cứu độ này. Tuy nhiên, từ những ǵ đă được nói đến trên đây về vai tṛ môi giới của Chúa Giêsu Kitô cũng như về ‘mối liên hệ chuyên nhất và đặc biệt’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 18) Giáo Hội có đối với vương quốc của Thiên Chúa nơi loài người, một vương quốc tự bản chất là vương quốc đại đồng của Chúa Kitô Cứu Thế, cần phải làm sáng tỏ vấn đề là, nó sẽ trái với đức tin nếu coi Giáo Hội như một đường lối cứu độ cùng với những đường lối cứu độ được các tôn giáo khác phác tạo, những đường lối được coi như bổ khuyết cho Giáo Hội hay thực sự tương đương với Giáo Hội, cho dù những đường lối này được cho rằng cùng sánh vai với Giáo Hội để tiến đến vương quốc cánh chung của Thiên Chúa.
“Chắc chắn các truyền thống tôn giáo khác nhau đều chất chứa và có những yếu tố tôn giáo phát xuất từ Thiên Chúa (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Ad Gentes, 11; Tuyên Ngôn Nostra Aetate, 2), và đó là một phần của những ǵ ‘Thần Linh mang lại trong ḷng người cũng như nơi lịch sử các dân tộc, nơi các nền văn hóa và nơi các đạo giáo’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 29). Thật vậy, một số những kinh nguyện và lễ nghi nơi các tôn giáo khác có thể ở trong t́nh trạng sửa dọn cho Phúc Âm, ở chỗ, chúng là những cơ hội hay là những trợ giúp về huấn giáo trong việc làm cho ḷng người mở ra trước tác động của Thiên Chúa (cùng nguồn vừa dẫn; Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, 843). Tuy nhiên, người ta cũng không thể qui cho những thứ này một nguồn gốc thần linh hay một năng lực cứu độ ex opere operato (tác hiệu), một năng lực xứng hợp với các bí tích của Kitô Giáo (x Công Đồng Chung Triđentinô, Decretum de Sacramentis, khoản 8, de sacramentis in genere: DS 1608). Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua vấn đề là, nếu lệ thuộc vào những mê tín dị đoan hay những sai lầm (x 1Cor 10:20-21), những lễ nghi ấy c̣n làm ngăn trở cho ơn cứu độ nữa (x ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 55)”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 21.1 và 21.2)
10. Không có vấn đề đạo nào cũng tốt như nhau.
“Qua việc Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô đă đến, Thiên Chúa muốn rằng Giáo Hội được Người thiết lập để làm dụng cụ cứu độ toàn thể nhân loại (x Acts 17:30-31) (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Lumen Gentium, 17; ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 11). Chân lư đức tin này không làm giảm bớt ḷng Giáo Hội chân thành trọng kính đối với các tôn giáo trên thế giới, trái lại, nó c̣n đồng thời cho thấy một cách sâu xa cái ư hệ chiết trung ‘làm nên đặc tính của khuynh hướng tương đối về đạo giáo, khiến cho người ta tin tưởng rằng đạo nào cũng tốt như nhau’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 36). Nếu thực sự tín đồ của các tôn giáo khác cũng có thể lănh nhận ân sủng thần linh, th́ phải tin rằng, khách quan mà nói, họ đang ở trong một t́nh trạng thiếu hụt trầm trọng, nếu so với thành phần thuộc về Giáo Hội với đầy đủ những phương tiện cứu độ (x Đức Piô XII, Thông Điệp Nhiệm Thể: DS 3821)…. Tuy nhiên, ‘tất cả mọi con cái của Giáo Hội vẫn phải nhớ rằng t́nh trạng ḿnh được nâng lên như vậy không phải là do công nghiệp riêng của ḿnh, mà là do ân sủng của Chúa Kitô. Nếu họ không đáp lại ân sủng ấy trong tư tưởng, lời nói và việc làm, th́ chẳng những họ không được cứu độ mà c̣n bị xét xử nghiêm thẳng nữa’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, 14)”.
(Tuyên Ngôn, đoạn 22.1)
Tóm lại, qua những điểm chính yếu được phân tích, tóm gọn và nhấn mạnh trên đây, chúng ta thấy rằng Bản Tuyên Ngôn thiên về, nếu không muốn nói là “đụng đến”, vấn đề Đối Thoại Liên Tôn nhiều hơn là vấn đề Đại Kết Kitô Giáo (trong vỏn vẹn có 2 trong số, đó là số 16 và nhất là 17). Thế nhưng, trong số 22.2, tức ngay trước khi sang phần kết của bức văn kiện, Bản Tuyên Ngôn đă nói đến chính chủ trương của Giáo Hội về vấn đề Đối Thoại Liên Tôn trong sứ mệnh truyền giáo của ḿnh như sau:
“Trong cả việc đối thoại liên tôn nữa, việc truyền giáo ad gentes (cho muôn dân) ‘ngày nay cũng như tất cả mọi lúc vẫn c̣n nguyên hiệu lực và khẩn thiết’ (Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Ad Gentes, 7). ‘Thật vậy, Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư (1Tim 2:4); tức là, Thiên Chúa muốn ơn cứu độ của mọi người qua việc họ nhận biết chân lư. Ơn cứu độ được t́m thấy nơi chân lư. Những ai nghe theo những tác động của Thần Linh chân lư th́ đang đi trên con đường cứu độ rồi vậy. Thế nhưng, Giáo Hội được trao phó chân lư này cho phải ra đi để đáp lại ḷng ước vọng của họ để mang họ về với chân lư. V́ tin vào dự án cứu độ phổ quát của Thiên Chúa mà Giáo Hội phải là truyền giáo’ (Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, 851 và xem cả các số 849-856). Thế nên, việc đối thoại liên tôn, v́ là một phần trong sứ mệnh truyền bá phúc âm hóa, chỉ là một trong những hoạt động của Giáo Hội trong việc truyền giáo ad gentes của Giáo Hội (x ĐTC Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio, 55; Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, 31). Vấn đề b́nh đẳng, vấn đề dĩ nhiên cần phải có trong việc đối thoại liên tôn, chỉ liên quan đến phẩm vị ngang nhau theo nhân bản giữa đôi bên đối thoại, chứ không liên quan đến nội dung của vấn đề tín lư, lại càng không liên quan đến vị thế của Chúa Giêsu Kitô – Đấng là chính Thiên Chúa làm người – so với những vị sáng lập các đạo giáo khác. Theo đức bác ái và ḷng tôn trọng tự do của con người (x Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên Ngôn Dignitatis Humanae, 1), Giáo Hội cần phải ưu tiên dấn thân trong việc công bố cho tất cả mọi người chân lư đă được Chúa hoàn toàn mạc khải cho biết, và loan báo nhu cầu con người cần phải trở về cùng Chúa Giêsu Kitô cũng như phải liên kết với Giáo Hội qua Bí Tích Rửa Tội cùng các bí tích khác, để nhờ đó họ có thể tham dự trọn vẹn vào mối hiệp thông với Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần. Như thế, việc tin tưởng vào ư định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa chẳng những không làm suy yếu mà trái lại c̣n làm tăng thêm nhiệm vụ và động lực để loan báo ơn cứu độ và việc hoán cải trở về cùng Chúa Giêsu Kitô nữa”.
Trong Chương Tŕnh Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống trên làn sóng 106.3 FM Nam California ngày 24/9/2000 và 1/10/2000, tôi đă thứ tự chia sẻ hai cảm nhận của tôi về Bản Tuyên Ngôn này như sau:
Cảm nhận thứ nhất về nội dung của chính bản văn kiện qua nhan đề của nó:
“Đúng thế, Bản Tuyên Ngôn này có tựa đề là ‘Dominus Jesus’, tiếng Việt nghĩa là ‘Chúa Giêsu’. Nếu đọc kỹ nội dung của toàn văn kiện này, người ta hiểu ngay tại sao bản văn có tên là ‘Chúa Giêsu’. Theo tôi, ‘Giêsu’ là tên của một con người lịch sử ở Nazarét hai ngàn năm trước, Con Người này là con của bà Maria và bác thợ mộc Giuse (xem Mt 13:55; Mc 6:3). Và ‘Chúa’ đây chẳng những ám chỉ đến nguồn gốc thần linh của Con Người mang tên Giêsu này là Vị Thiên Chúa nhập thể, mà c̣n ám chỉ đến vai tṛ thượng tôn và uy quyền tuyệt đối của Con Người Giêsu Kitô’ (1Tim 2:5) ấy nữa, trên mọi tạo vật nói chung và trên toàn thể loài người nói riêng”.
Cảm nhận thứ hai về chiều hướng của bản văn kiện đối với vấn đề đối thoại liên tôn theo chủ trương của Giáo Hội:
“Thái độ trước nhất của Giáo Hội trong vấn đề Đối Thoại Liên Tôn là kính trọng các tôn giáo khác và công nhận nơi các đạo khác có những mầm mống Thần Linh để sửa soạn cho hạt giống Phúc Âm của Chúa Kitô. Thái độ thứ hai là việc nỗ lực hội nhập văn hóa, tức là làm sao để gieo rắc hạt giống Phúc Âm vào ḷng đạo của con người để hạt giống Phúc Âm biến đổi và thăng hóa những khiếm khuyết nơi niềm tin tự nhiên của con người. Thái độ thứ ba là cùng với các đạo giáo trên thế giới hết sức cổ vơ và tích cực hoạt động cho công lư và ḥa b́nh để xây dựng một cộng đồng nhân loại an vui hạnh phúc. Đó là ba thái độ chính yếu của Giáo Hội liên quan đến vấn đề Đối Thoại Liên Tôn.
“C̣n vấn đề cùng nhau ngồi xuống để t́m hiểu giáo thuyết của nhau, theo Bản Tuyên Ngôn ở đoạn áp kết, đă nêu lên vấn đề b́nh đẳng, nhưng là một b́nh đẳng về phẩm vị nhân bản của hai bên đối thoại mà thôi, chứ không phải tương đương nhau về nội dung của giáo thuyết hay thân phận của vị giáo tổ.
“Thật vậy, điều kiện thiết yếu để có việc đối thoại liên tôn và tiến đến việc đối thoại liên tôn thực sự chính là ở vấn đề ‘không phải đạo nào cũng tốt như nhau’, nghĩa là phải hoàn toàn phủ nhận chủ trương ḥa đồng tôn giáo cho rằng ‘đạo nào cũng là đạo’. Nếu ‘đạo nào cũng là đạo’ th́ cần ǵ phải đối thoại nữa. Nếu đạo nào cũng là đạo th́ tại sao anh theo đạo của anh bây giờ mà không theo đạo khác. Nếu ‘đạo nào cũng là đạo’ th́ tôi theo đạo có thể v́ nể nang hay v́ cảm thấy vui thích, hoặc v́ nhu cầu tâm linh đ̣i hỏi v.v., th́ một lúc nào đó, bị mất ḷng hay thấy buồn chán hoặc không cần nữa th́ bỏ đạo hay sao? Như thế, có khác ǵ đạo chỉ là một tṛ chơi, một thứ trang sức, một thứ xa xỉ phẩm của con người.
“Bởi vậy, theo lời Chúa Kitô phán: ‘Không phải các con đă chọn Thày mà là Thày đă chọn các con để các con đi sinh hoa kết trái’ (Gioan 15:16), Kitô hữu chúng ta theo Người là v́ chúng ta nhận biết Người và chấp nhận Người ‘là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống’ (Gioan 14:6): ‘Lạy Thày, chúng con c̣n biết theo ai, Thày có những lời ban sự sống đời đời’ (Gioan 6:68).
“Theo tôi, một đạo xứng danh phải là một đạo không có những ǵ phản nhân bản, như không có vấn đề cho phép đa thê, và một đạo chân thật phải là một đạo chẳng những có sức cứu độ con người khỏi tội lỗi và sự chết mà c̣n làm cho họ được sống viên măn hơn, trong việc làm cho con người theo đạo hăng say dấn thân phục vụ tha nhân đến cùng, dù có bị bắt bớ v́ việc lành ấy chăng nữa. Như thế, theo nguyên tắc, con người hướng về tôn giáo thế nào, th́ trên thực tế, tôn giáo cũng hướng về con người như vậy.
“Nếu vấn đề đối thoại liên tôn không phải là vấn đề con người hướng về tôn giáo hơn là vấn đề tôn giáo hướng về con người, th́ việc đối thoại liên tôn chính là một hành động con người đang tỏ ra tinh thần đoàn kết với nhau hơn bao giờ hết”.
(Bản Tuyên Ngôn được trích dịch từ L’Osservatore Romano ấn bản Anh ngữ, 6/9/2000;
tin tức về buổi họp báo để ban hành văn kiện được lấy từ Hệ Điện Toàn Cầu Vatican Information Services ngày 5/9/2000)