BẢN TUYÊN NGÔN CHUNG VỀ TÍN LƯ CÔNG CHÍNH HÓA

giữa Liên Hiệp Lutherô Thế Giới và Giáo Hội Công Giáo

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và chuyển dịch

  

Để có một cái nh́n khái lược và chính xác về Bản Tuyên Ngôn Chung, Đức Hồng Y Edward I. Cassidy, Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Phụ Trách Cổ Động Hiệp Nhất Kitô Giáo, cũng là vị đại diện Giáo Hội Công Giáo, cùng với Giám Mục Christain Krause, đại diện Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, chính thức kư vào Bản Tuyên Ngôn Chung tại Augsburg, nước Đức, ngày 31-10-1999, đă tŕnh bày cho biết rơ ràng về tiến tŕnh và nội dung của văn kiện này trong tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, phát hành ngày 24/11/1999, trang VI và VII, những điểm chính yếu sau đây.

        Đức Giáo Hoàng đă xin Giáo Hội hăy kêu cầu Thánh Linh ban cho ḿnh ơn hiệp nhất Kitô Giáo. Việc thắng vượt những chia rẽ trong quá khứ là những ǵ tỏ tường phản lại với ư muốn của Chúa Kitô và là nguyên nhân gây gương mù trước mắt thế giới, cũng như việc góp phần vào vấn đề hiệp nhất Kitô Giáo lại với nhau ‘là một trong những việc làm của Kitô hữu trong lúc chúng ta đang tiến đến năm 2000’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến, đoạn 34). Bởi thế, theo Đức Thánh Cha:

        ‘Thời điểm kết thúc ngàn năm thứ hai đ̣i mọi người phải xét lại lương tâm của ḿnh và phải phát động những sáng kiến đại kết thích hợp, để chúng ta có thể cử hành Cuộc Mừng Kỷ Niệm Trọng Thể, nếu không hoàn toàn hiệp nhất với nhau th́ ít là cũng xích lại gần nhau hơn trong việc thắng vượt được  những chia rẽ của ngàn năm thứ hai’ (cùng nguồn, cùng đoạn như trên).

         Trước ngưỡng cửa ngàn năm mới của Kitô Giáo, Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới và Giáo Hội Công Giáo đă tiến một bước quan trọng đến việc giải quyết căn nguyên gây ra chia rẽ trong quá khứ. Cả hai bên, vào tháng 6 năm 1998, đă chính thức xác nhận và chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa

 

        Bản văn kiện này là hoa trái của hơn 30 năm đối thoại, cả ở cấp quốc tế cũng như quốc gia, giữa anh em Luthêrô và Công Giáo.

 

        Bản Tuyên Ngôn Chung không phải là một lời Tuyên Xưng mới, cũng không phải là  một văn kiện dung ḥa. Bản Tuyên Xưng Chung đây muốn tóm tắt những thành quả đối thoại sau một thời đoạn kéo dài 30 năm trời giữa Luthêrô và Công Giáo Rôma về khoản tín lư này, bằng cách nói lên những ǵ được mỗi một cộng đồng tin tưởng chủ trương nơi những sự thật nền tảng về khoản tín lư ấy, cũng như cho thấy việc hai bên cắt nghĩa về những sự thật nền tảng ấy không tương khắc với nhau… 

        Phương pháp tŕnh bày đó là, đầu tiên nêu lên đức tin chung đối với mỗi một sự thật được bàn tới, sau đó, nếu cần th́ cắt nghĩa đường hướng hay những điểm nhấn mạnh được mỗi bên chủ trương theo truyền thống của ḿnh về sự thật đặc biệt ấy.  

        Bản văn kiện tŕnh bày khá chi tiết về bảy vấn đề căn bản cùng được hiểu chung với nhau sau đây:

1.      T́nh Trạng Loài Người Bất Lực và Tội Lỗi Liên Quan đến Việc Công Chính Hóa;

2.      Việc Công Chính Hóa là Việc Tha Thứ Tội Lỗi và là Việc Làm Nên Chính Trực;

3.      Việc Công Chính Hóa bởi Ân Sủng và nhờ Đức Tin;

4.      Người Được Công Chính Hóa như là Một Tội Nhân

5.      Lề Luật và Phúc Âm;

6.      Việc Bảo Đảm Phần Rỗi;

7.      Các Việc Lành Phúc Đức của Người Được Công Chính Hóa.

         Không thể nào đi sâu vào chi tiết của những ǵ chất chứa trong Bản Tuyên Ngôn Chung ở bài viết này. Tuy nhiên, tôi phải tŕnh bày những ǵ nói lên ba sự thật căn bản về khoản tín lư công chính hóa, được Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới cùng nhau công nhận. Những sự thật này được thấy ở Tiết 3, các số từ 14 đến 18, trong Bản Tuyên Ngôn Chung.

 

        Thứ nhất, việc công chính hóa là một tặng ân nhưng không do Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho, được bắt nguồn từ con người của Đức Kitô, Đấng đă nhập thể, tử nạn và phục sinh. Được liên kết với con người của Đức Kitô, nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, chúng ta được ở trong t́nh trạng công chính hóa. T́nh trạng này không phải là những ǵ chúng ta lập được mà là do hoàn toàn nhận lănh… (xem số 15)

 

        Thứ hai, chúng ta nhận được ơn cứu độ này bằng đức tin. Chính đức tin cũng là một tặng ân của Thiên Chúa ban qua Thánh Thần, Đấng hoạt động bằng lời Chúa cũng như bằng bí tích trong cộng đồng các tín hữu, và là Đấng cũng làm cho các tín hữu canh tân đời sống sẽ được Thiên Chúa hoàn thành ở sự sống đời đời. Bởi thế, thực tại của việc công chính hóa được gắn liền với đức tin, không phải như là một ưng thuận thuần lư của trí khôn. Trái lại, người tín hữu phải hiến bản thân nam/nữ của ḿnh cho Chúa Kitô bằng việc canh tân đời sống.

 

        Thứ ba, việc công chính hóa nhắm đến chính cốt lơi của sứ điệp Phúc Âm, thế nhưng việc này cần phải được đặt trong một cơ cấu duy nhất liên quan đến tất cả mọi chân lư khác của đức tin nữa, như chân lư đức tin về Chúa Ba Ngôi, về Kitô Học, về Giáo Hội Học và về Các Bí Tích… (xem số 18)

 

        Việc cùng nhau hiểu về việc công chính hóa được diễn tả trong Bản Tuyên Ngôn Chung có tính chất Ba Ngôi và lấy Đức Kitô làm tâm điểm. Bản Tuyên Ngôn Chung (số 15) đă nói lên cốt lơi của kiến thức chung này là: ‘Theo đức tin, chúng ta cùng nhau xác tín rằng, công chính hóa là việc Thiên Chúa Ba Ngôi làm… Bởi thế, việc công chính hóa có nghĩa là chính Chúa Kitô là sự chính trực của chúng ta, một sự  chính trực chúng ta được thông phần vào nhờ Chúa Thánh Thần theo ư Chúa Cha’…

 

        Trong việc xác nhận Bản Tuyên Ngôn Chung này, thẩm quyền bên Luthêrô cũng như bên Công Giáo đă thực sự cho thấy rằng, khoản tín lư về việc công chính hóa được tŕnh bày trong văn kiện ấy không phản nghịch với giáo huấn về khoản tín lư này, nơi những nguồn huấn quyền của cả đôi bên, Công Đồng Chung Triđentinô bên phía Công Giáo, và Bản Các Điều Tuyên Tín bên phía Luthêrô. Trái lại, khoản tín lư này vẫn được minh nhiên tiếp tục hiểu một cách chính thức như nó đă được cả hai bên phác họa từ thế kỷ 16.

 

        Thế nhưng, làm sao chúng ta lại kết luận như vậy được? Những nghiên cứu về lịch sử cũng như về tín điều, nhất là theo mối liên hệ về đại kết qua những thời gian gần đầy, đă cho thấy cái môi trường tranh căi ở thế kỷ 16, dính dáng đến cả chính trị, xă hội, thần học và triết lư là những ǵ lúc bấy giờ đă gây ảnh hưởng đến việc mỗi bên phác họa ra những hiểu biết của ḿnh về khoản tín lư này, cũng như đến việc mỗi bên lên án quan niệm của nhau về khoản tín lư ấy…

 

        Nếu khoản tín lư về việc công chính hóa là ‘điểm chính yếu của cuộc tranh căi hồi thế kỷ 16’, th́ giờ đây chúng ta có thể đặt vấn đề, vậy việc đồng ư với nhau giữa Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới và Giáo Hội Công Giáo về khoản tín lư này để giải quyết t́nh trạng xung khắc giữa người Công Giáo và Luthêrô cho xong, là việc đồng ư ở mức độ nào?… Bản tuyên ngôn này đă mang Giáo Hội Công Giáo và các giáo hội thuộc Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới xác nhận nó tiến đến một bước gần gũi nhau rơ ràng hơn. Tuy nhiên, cả hai vẫn chưa đạt tới mục tiêu hiệp nhất với nhau hoàn toàn về h́nh thức…”

 

        Quan niệm về ‘đam mê’ được hiểu khác nhau giữa hai bên Công Giáo và Luthêrô. Theo bản văn về Các Điều Tuyên Tín của Luthêrô th́ ‘đam mê’ được hiểu là ước muốn t́m ḿnh nơi con người, là những ǵ, nếu hiểu tinh thần về ư nghĩa của Lề Luật, được coi như tội lỗi. Theo Công Giáo hiểu th́ đam mê chỉ là một khuynh hướng hạ, c̣n tồn tại nơi con người, ngay cả sau khi họ đă lănh nhận phép rửa, một khuynh hướng hạ bởi tội lỗi mà có và đẩy con người đến việc phạm tội. Mặc dầu hai bên khác nhau ở điểm này, theo quan điểm Luthêrô, cũng được hiểu là ước muốn đó có thể mở đường làm dịp cho tội lỗi tấn công. V́ quyền lực tội lỗi mà toàn thể nhân loại mang trong ḿnh khuynh hướng chống lại Thiên Chúa. Khuynh hướng này, theo cả quan niệm của bên Luthêrô và Công Giáo, đều ‘không xứng hợp với ư định nguyên thủy của Thiên Chúa về con người’…” (Chi tiết cuối cùng này được trích từ Phần Phụ Thêm của Bản Công Bố Chung, một bản công bố chung để cùng nhau xác nhận Bản Tuyên Ngôn Chung: cùng nguồn, trang V)

 Sau đây là nguyên văn Bản Tuyên Ngôn Chung về Khoản Tín Lư Công Chính Hóa

 DẪN NHẬP

  

1-      Tín lư về việc công chính hóa là một tín lư quan trọng bậc nhất đối với Phong Trào Cải Cách Luthêrô ở thế kỷ 16. Tín lư về việc công chính hóa này được coi là ‘tiên sự và chính sự’ (The Smalcald Articles, II, 1; Book of Concord, 292), đồng thời cũng là ‘vị lănh đạo và là quan phán trên tất cả mọi tín lư Kitô Giáo khác’ (‘Rector et judex super omnia genera doctrinarum’ Weimar Edition of Luther’s Works [WA], 39, I, 205). Tín lư về việc công chính hóa được nắm giữ và bảo vệ một cách riêng biệt theo thể thức Cải Cách và theo thẩm định đặc biệt, trái với Giáo Hội Công Giáo Rôma cũng như thần học Công Giáo Rôma thời bấy giờ, một giáo hội và một nền thần học nắm giữ và bảo vệ tín lư về việc công chính hóa có tính chất khác. Theo quan điểm Cải Cách, việc công chính hóa là phần nan giải nhất trong tất cả mọi tranh luận. Việc lên án nhau về phương diện tín lư đă được đặt ra, ở cả trong Các Điều Tuyên Tín của Luthêrô cũng như ở Công Đồng Chung Triđentinô của Giáo Hội Công Giáo Rôma. Những điều lên án này vẫn c̣n hiệu lực tới ngày nay, và cũng v́ thế đă gây nên việc chia rẽ giáo hội.

 

2-      Đối với truyền thống Luthêrô, tín lư về việc công chính hóa vẫn nắm giữ vai tṛ đặc biệt của ḿnh. Bởi thế, từ ban đầu, tín lư về việc công chính hóa ấy đă chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đối thoại chính thức giữa Luthêrô và Công Giáo Rôma.

 

3-      Phải đặc biệt lưu ư đến những bản tường tŕnh sau đây: ‘Phúc Âm và Giáo Hội’ (1972) cũng như ‘Giáo Hội và Việc Công Chính Hóa’ (1994) của Ủy Ban Chung giữa Luthêrô và Công Giáo Rôma, ‘Việc Công Chính Hóa bởi Đức Tin’ (1983) của cuộc đối thoại giữa Luthêrô và Công Giáo Rôma ở Hoa Kỳ, và ‘Những Điều Lên Án Thời Cải Cách – Chúng có c̣n Chia Cách hay chăng?’ (1986) của Nhóm các Thần Học Gia Thệ Phản và Công Giáo ở Đức Hoạt Động cho Đại Kết. Có một số trong những bản tường tŕnh này đă được các giáo hội chính thức công nhận. Điển h́nh quan trọng trong vấn đề công nhận này đó là việc Giáo Hội Luthêrô Tin Lành Liên Hiệp ở Đức đă đáp ứng chặt chẽ đối với việc nghiên cứu ‘Các Điều Lên Án’ được thực hiện năm 1994, ở mức độ nh́n nhận cao nhất của giáo hội, cùng với các giáo hội khác thuộc Giáo Hội Tin Lành ở Đức.

 

4-      Trong vấn đề hai bên bàn luận về tín lư của việc công chính hóa, tất cả những bản tường tŕnh về đối thoại cũng như các đáp ứng đều cho thấy mức hợp nhau cao độ nơi những đường lối và kết luận của ḿnh. Bởi thế, đă đến lúc cần phải thẩm định và tóm lại các thành quả của các lần đối thoại về việc công chính hóa, để các giáo hội của chúng ta biết đến các hoa trái tổng quát về cuộc đối thoại này một cách chính xác và ngắn gọn cần thiết, nhờ đó có thể đưa ra những quyết định liên hệ.

 

5-      Bản Tuyên Ngôn Chung đây có ư định ấy, ư định là tŕnh bày cho thấy rằng, nhờ việc đối thoại của ḿnh, các giáo hội Luthêrô liên hệ và Giáo Hội Công Giáo Rôma giờ đây có thể nói lên rơ ràng việc hiểu biết chung về việc công chính hóa của chúng ta nhờ ơn Thiên Chúa qua đức tin vào Chúa Kitô. Bản Tuyên Ngôn Chung này không bao gồm tất cả những ǵ giáo hội hai bên giảng dạy về việc công chính hóa; nhưng bản tuyên ngôn này thực sự bao gồm việc đồng ư với nhau về những sự thật căn bản nơi khoản tín lư công chính hóa, và cho thấy rằng những khác nhau nơi việc cắt nghĩa khoản tín lư này không c̣n là cớ để kết án nhau về tín lư nữa.

 

6-      Bản Tuyên Ngôn của chúng ta đây không phải là một tŕnh bày mới mẻ không có dính dáng ǵ tới các bản tường tŕnh và văn kiện đối thoại từ trước đến nay, một bản tŕnh bày thay thế cho những bản tường tŕnh và văn kiện này. Trái lại, như phần phụ đính của các nguồn liệu cho thấy (cùng nguồn, trang III và IV), bản tuyên ngôn đây lập lại các điều cần phải căn cứ cùng những luận cứ của các điều cần phải căn cứ ấy.

 

7-      Như chính các cuộc đối thoại, Bản Tuyên Ngôn Chung này cũng được dựa vào niềm xác tín là, trong việc thắng vượt các vấn đề tranh luận và lên án nhau về tín điều xưa kia, giáo hội hai bên không được coi nhẹ các điều lên án ấy, cũng như không được chối bỏ quá khứ của ḿnh. Ngược lại, Bản Tuyên Ngôn này được thành nên bởi niềm xác tín là, theo gịng lịch sử tương kính của ḿnh, giáo hội hai bên chúng ta đă có những cái nh́n thấu đáo mới mẻ. Có những phát triển đă diễn tiến, những phát triển chẳng những khả dĩ mà c̣n đ̣i giáo hội hai bên phải khảo sát các vấn nạn về việc phân rẽ cùng với các điều lên án nhau nữa, và nh́n vào những điều lên án nhau này theo chiều hướng mới.

 

 

1-     SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH KINH VỀ VIỆC CÔNG CHÍNH HÓA

 

8.      Con đường cùng nhau lắng nghe lời Chúa trong Thánh Kinh đă dẫn chúng ta đến một cái nh́n thấu đáo mới mẻ như vậy. Chúng ta đă cùng nhau nghe thấy lời phúc âm là ‘Thiên Chúa đă quá yêu thương thế gian đến ban Con một của ḿnh, để ai tin vào Con th́ không phải chết song được sự sống đời đời’ (Jn 3:16). Tin mừng này đă được tŕnh bày trong Thánh Kinh bằng nhiều cách thức khác nhau. Trong Cựu Ước, chúng ta đă nghe lời Chúa về vấn đề tội lỗi của con người (Ps 51:1-5; Dan 9:5f; Eccl/Qo 8:9f; Ezra 9:6f) và việc con người bất phục tùng (Gen 3:1-19; Neh 9:16f, 26), cũng như về ‘đức chính trực’ của Thiên Chúa (Is 46:13, 51:5-8, 56:1 [cf 53:11]; Jer 9:24) và về ‘phán quyết’ của Ngài (Eccl/Qo 12:14; Ps 9:5f, 76:7-9).

 

9.      Tân Ước cũng có những tŕnh bày khác nhau về ‘đức chính trực’ và ‘việc công chính hóa’, nơi các bản văn của Thánh Mathêu (5:10, 6:33, 21:32), Thánh Gioan (16:8-11), Thư gửi Do Thái (5:3, 10:37f), và Thánh Giacôbê (2:14-26). Trong các thư của Thánh Phaolô cũng thế, tặng ân cứu độ được tŕnh bày bằng nhiều cách thức khác nhau: ‘v́ tựï do mà Chúa Kitô đă giải cứu chúng ta’ (Gal 5:1-13; cf Rm 6:7), ‘đă giải ḥa chúng ta với Thiên Chúa’ (2Cor 5:18-21; cf Rm 5:11), ‘làm ḥa với Thiên Chúa’ (Rm 5:1), ‘tạo vật mới’ (2Cor 5:17), ‘sống cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô’ (Rm 6:11, 23), hay ‘được thánh hóa trong Đức Giêsu Kitô’ (cf 1Cor 1:2, 1:30; 2Cor 1:1). Trong số những đoạn này có đoạn về ‘việc công chính hóa’ con người tội lỗi bởi ơn Chúa nhờ đức tin (Rm 3:23-25), một đoạn đă chiếm được một địa vị trọng yếu đặc biệt vào thời Cải Cách.

 

10.  Thánh Phaolô đă tŕnh bày phúc âm như là quyền năng của Thiên Chúa để cứu độ con người là thành phần bị rơi vào tay quyền lực tội lỗi, như là sứ điệp loan báo ‘đức chính trực của Thiên Chúa được mạc khải cho thấy qua đức tin và cho đức tin’ (Rm 1:16f), và đức chính trực của Ngài làm cho con người được ‘công chính hóa’ (Rm 3:21-31). Thánh nhân công bố Chúa Kitô như là ‘đức chính trực của chúng ta’ (1Cor 1:30), khi áp dụng vào Chúa phục sinh những ǵ tiên tri Giêrêmia đă loan báo về chính Thiên Chúa (Jer 23:6). Trong cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô, tất cả mọi chiều kích nơi công việc cứu độ của Người đều có nguồn gốc của ḿnh, v́ Người là ‘Chúa chúng ta, Đấng đă bị giết chết v́ các vấp phạm của chúng ta và đă phục sinh cho chúng ta được công chính hóa’ (Rm 4:25). Tất cả loài người đều cần đến đức chính trực của Thiên Chúa, ‘v́ tất cả mọi người đă phạm tội và bị mất đi vinh quang của Thiên Chúa’ (Rm 3:23; cf Rm 1:18-3:20, 11:32; Gal 3:22). Trong thư Galata (3:6) và Rôma (4:3-9), Thánh Phaolô cho thấy đức tin của Abraham (Gen 15:6) như là niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng công chính hóa tội nhân (Rm 4:5), và thánh nhân dựa vào chứng từ của Cựu Ước để làm nổi bật phúc âm ngài rao giảng, đó là đức chính trực của Thiên Chúa sẽ được áp dụng cho tất cả những ai, như Abraham, tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa. ‘V́ kẻ chính trực sẽ sống bằng đức tin’ (Hab 2:4; cf Gal 3:11; Rm 1:17). Đức chính trực của Thiên Chúa, qua các bức thư của Thánh Phaolô, cũng chính là quyền năng của Ngài đối với những kẻ có ḷng tin (Rm 1:16f; 2Cor 5:21). Thiên Chúa dùng quyền năng của ḿnh để làm cho chúng ta được nên công chính trong Đức Kitô (2Cor 5:21). Chúng ta được công chính hóa nhờ Chúa Giêsu Kitô, ‘Đấng Thiên Chúa muốn làm như một hy tế đền tội bằng máu của Người, mang lại công hiệu nơi đức tin’ (Rm 3:25; xem 3:21-28). ‘V́ bởi ân sủng, anh em đă dược cứu độ nhờ đức tin, và đó không phải là việc anh em làm; đó là tặng ân của Thiên Chúa – không phải là thành quả của việc làm’ (Eph 2:8f).

 

11.  Việc công chính hóa là việc thứ tha tội lỗi (cf Rm 3:23-25; Acts 13:39; Lk 18:14), là việc giải thoát khỏi quyền lực thống trị của tội lỗi và sự chết (Rm 5:12-21) cũng như khỏi t́nh trạng khốn nạn của lề luật (Gal 3:10-14). Việc công chính hóa là việc chấp nhận hiệp thông với Thiên Chúa, ngay lúc này đây, nhưng toàn vẹn khi vương quốc Thiên Chúa trị đến (Rm 5:1f). Việc công chính hóa liên kết với Đức Kitô và cuộc tử nạn cũng như phục sinh của Người (Rm 6:5). Việc công chính hóa được thực hiện trong việc chấp nhận Chúa Thánh Thần nơi phép rửa và là việc gia nhập một thân thể duy nhất (Rm 8:1f, 9f; 1Cor 12:12f). Tất cả những việc này đều do bởi một ḿnh Thiên Chúa làm v́ Đức Kitô, bằng ân sủng, qua đức tin vào ‘phúc âm của Con Thiên Chúa’ (Rm 1:1-3).

 

12.  Người được công chính hóa sống bởi đức tin, một đức tin phát xuất từ Lời của Đức Kitô (Rm 10:17), và là một đức tin hoạt động qua đức mến (Gal 5:6), hoa trái của Thần Linh (Gal 5:22f). Thế nhưng, v́ người được công chính hóa bị tấn công cả từ bên trong lẫn bên ngoài bởi những quyền lực cũng như bởi các ước muốn (Rm 8:35-39; Gal 5:16-21) và đă sa ngă phạm tội (1Jn 1:8, 10), nên họ phải liên lỉ nghe lại các lời hứa của Thiên Chúa, phải xưng thú tội lỗi của ḿnh (1Jn 1:9), phải tham dự vào ḿnh máu Chúa Kitô, và phải được khuyên nhủ sống chính trực theo ư muốn của Thiên Chúa. Đó là lư do tại sao Thánh Tông Đồ nói với thành phần được công chính hóa rằng: ‘Anh em hăy lo sợ và gắng sức để làm sao cho được cứu độ; v́ Thiên Chúa là Đấng hoạt động nơi anh em, giúp anh em chẳng những muốn mà c̣n làm hài ḷng Ngài’ (Phil 2:12f). Thế nhưng, tin mừng vẫn là ở chỗ ‘giờ đây không c̣n luận phạt cho những ai sống trong Chúa Giêsu Kitô’ (Rm 8:1), cũng như cho những ai được Chúa Giêsu sống động trong họ nữa (Gal 2:20). ‘Tác động chính trực’ của Đức Kitô ‘làm chúng ta nên công chính và sống cho tất cả mọi người’ (Rm 5:18).

  

2- TÍN LƯ VỀ VIỆC CÔNG CHÍNH HÓA LÀ VẤN NẠN CỦA VIỆC ĐẠI KẾT

 

13.  Nguyên nhân chính gây ra chia rẽ nơi Giáo Hội Tây Phương, đưa tới cả việc lên án nhau về tín lư vào thế kỷ 16, đă phản lại các điều dẫn giải và áp dụng của sứ điệp thánh kinh về việc công chính hóa. Bởi thế, dứt khoát cần phải cùng nhau t́m hiểu về việc công chính hóa để vượt qua t́nh trạng chia rẽ này. Bằng việc chấp nhận những cái nh́n thấu đáo từ các cuộc t́m hiểu thánh kinh cận đại, cũng như bằng việc rút lấy những cứu xét tân thời về lịch sử thần học và tín điều, cuộc đối thoại đại kết hậu Công Đồng Chung Vaticanô II đă dẫn đến một điểm đồng qui về việc công chính hóa, nhờ đó, Bản Tuyên Ngôn Chung này mới có thể phác họa nên việc đồng thuận về các sự thật căn bản liên quan đến tín lư công chính hóa. Theo chiều hướng đồng thuận này, những điều lên án nhau về khoản tín lư liên hệ thuộc thế kỷ 16 không c̣n áp dụng cho đôi bên hiện nay nữa.

 

 

3. KIẾN THỨC CHUNG VỀ VIỆC CÔNG CHÍNH HÓA

 

14.  Các giáo hội Luthêrô và Giáo Hội Công Giáo Rôma đă cùng nhau lắng nghe tin mừng do Thánh Kinh loan báo. Việc cùng nhau lắng nghe này, cùng với việc trao đổi về thần học trong những năm gần đây, đă dẫn nhau đến việc hiểu biết chung về việc công chính hóa. Điều này bao gồm cả việc đồng thuận với nhau về những sự thật căn bản; những giải thích khác nhau qua các câu phát biểu riêng biệt đều hợp với việc đồng thuận này.

 

15.  Theo đức tin, chúng ta cùng nhau xác tín rằng, công chính hóa là việc Thiên Chúa Ba Ngôi làm. Chúa Cha sai Chúa Con vào thế gian để cứu độ các tội nhân. Nền tảng và điều kiện tiên quyết để được công chính hóa là việc nhập thể, tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Bởi thế, việc công chính hóa nghĩa là chính Chúa Kitô là sự chính trực của chúng ta, một sự chính trực chúng ta được thông phần nhờ Chúa Thánh Thần theo ư muốn của Chúa Cha. Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng: Chúng ta được Thiên Chúa chấp nhận và chúng ta lănh nhận Chúa Thánh Thần, Đấng canh tân cơi ḷng của chúng ta để trang bị và kêu gọi chúng ta làm những việc lành, hoàn toàn là do ân sủng, bởi niềm tin tưởng vào công việc cứu độ của Chúa Kitô, chứ không phải bởi bất cứ công lênh nào của chúng ta.

 

16.  Tất cả mọi người được Thiên Chúa kêu gọi lănh nhận ơn cứu độ trong Chúa Kitô. Chúng ta được công chính hóa bởi duy một ḿnh Chúa Kitô mà thôi, khi chúng ta lấy đức tin để lănh nhận ơn cứu độ này. Chính đức tin cũng là một tặng ân của Thiên Chúa ban cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động bằng lời nói và bằng bí tích nơi cộng đồng các tín hữu, và cũng là Đấng dẫn tín hữu đến việc canh tân đời sống sẽ được Thiên Chúa hoàn tất ở sự sống đời đời.

 

17.  Chúng ta cũng chia sẻ niềm xác tín là, sứ điệp về việc công chính hóa đặc biệt hướng chúng ta đến tâm điểm của chứng từ Tân Ước đối với hoạt động cứu độ của Thiên Chúa thực hiện trong Chúa Kitô: chứng từ này cho chúng ta thấy rằng, là tội nhân, đời sống mới của chúng ta hoàn toàn là do t́nh thương tha thứ và canh tân Thiên Chúa ban cho chúng ta như là một tặng ân, một tặng ân chúng ta lấy đức tin lănh nhận, chứ không phải bởi công lênh ǵ của chúng ta bao giờ cả.

 

18.  Bởi thế, căn cứ vào sứ điệp và những dẫn giải ấy, tín lư về việc công chính hóa c̣n hơn là một phần thuộc tín lư Kitô Giáo nữa. Khoản tín lư này có liên hệ chính yếu đến tất cả những chân lư đức tin khác, những chân lư đức tin có liên hệ nội tại với nhau. Khoản tín lư này là một qui luật liên lỉ giúp vào việc hướng tất cả mọi giáo huấn và thực hành của các giáo hội chúng ta về Chúa Kitô. Khi bên Luthêrô nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc thù của qui luật này, họ cũng không chối bỏ mối liên hệ chung và tầm quan trọng của tất cả các chân lư đức tin. Khi bên Công Giáo buộc phải theo một số qui luật, họ cũng không phủ nhận vai tṛ đặc biệt của sứ điệp công chính hóa. Cả Luthêrô và Công Giáo cùng nhắm đến mục tiêu tuyên xưng Chúa Kitô trong tất cả mọi sự, một ḿnh Người là Đấng duy nhất phải được tin tưởng trên hết mọi sự như là Đấng Trung Gian duy nhất (1Tim 2:5f), Đấng mà nhờ Người Thiên Chúa ban ḿnh cho chúng ta trong Chúa Thánh Thần và tràn ban các tặng ân canh tân của Ngài cho chúng ta.

  

4- GIẢI NGHĨA KIẾN THỨC CHUNG VỀ VIỆC CÔNG CHÍNH HÓA

 4.1- T́nh Trạng Bất Lực và Tội Lỗi của Con Người đối với Việc Công Chính Hóa

 19.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, để được cứu rỗi, tất cả mọi người đều phải lệ thuộc hoàn toàn vào ân sủng cứu độ của Thiên Chúa. Niềm tự do họ có đối với con người cũng như đối với sự vật trên thế gian này không phải là tự do đối với phần rỗi, v́ là những tội nhân, họ phải chịu Thiên Chúa phán quyết và không thể tự ḿnh trở về với Chúa để được giải cứu, không thể nên công chính trước nhan Thiên Chúa, hay không thể dùng khả năng của ḿnh để chiếm lấy ơn cứu độ. Việc công chính hóa được thực hiện hoàn toàn là do ơn Chúa. V́ Công Giáo và Luthêrô cùng nhau tuyên xưng điều này, nên phải công nhận:

 20.  Khi người Công Giáo nói rằng, con người ‘cộng tác’ trong việc sửa soạn cũng như trong việc chấp nhận trở nên công chính, bằng cách ưng thuận tác động công chính hóa của Thiên Chúa, là họ thấy việc ưng thuận riêng tư này tự nó là hiệu quả của ân sủng, chứ không phải là một tác động phát xuất từ những khả năng bẩm sinh của loài người.

 

21.  Theo giáo huấn của người Luthêrô, con người không thể cộng tác vào việc cứu rỗi của ḿnh, v́ là tội nhân, họ chủ động chống lại Thiên Chúa và chống lại tác động cứu độ của Ngài. Người Luthêrô không phủ nhận là người ta có thể từ chối hoạt động của ân sủng. Khi họ nhấn mạnh là con người chỉ có thể lănh nhận (hoàn toàn thụ động) việc công chính hóa, là v́ họ có ư loại trừ hết mọi khả năng đóng góp của con người vào việc công chính hóa bản thân ḿnh, nhưng họ cũng không phủ nhận là bản thân tín hữu cần phải hoàn toàn dấn thân sống đức tin của ḿnh theo tác dụng của Lời Chúa. 

 

4.2- Công Chính Hóa là Việc Tha Thứ Tội Lỗi và Làm Cho Nên Chính Trực

 

22.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, Thiên Chúa lấy ân sủng mà tha thứ tội lỗi cho con người, đồng thời giải thoát con người khỏi quyền lực cai trị của tội lỗi, cùng ban cho con người tặng ân sự sống mới trong Chúa Kitô. Khi con người nhờ đức tin được thông phần với Chúa Kitô, Thiên Chúa không c̣n qui tội cho họ nữa, và nhờ Thánh Linh Ngài thực hiện nơi họ một t́nh yêu chủ động. Hai khía cạnh này nơi tác động sủng ái của Thiên Chúa: cả việc thứ tha tội lỗi và việc hiện diện cứu độ của chính Thiên Chúa, không được tách ĺa nhau, v́ con người nhờ đức tin được liên kết với Chúa Kitô, Đấng là đức chính trực của chúng ta nơi bản thân Người (1Cor 1:30). V́ Công Giáo và Luthêrô cùng nhau tuyên xưng điều ấy nên phải công nhận:

 

23.  Khi người Luthêrô nhấn mạnh rằng, đức chính trực của Chúa Kitô là đức chính trực của chúng ta, th́ trước hết họ có ư nhấn mạnh là tội nhân được làm cho nên chính trực trước nhan Thiên Chúa trong Chúa Kitô, nhờ việc công bố thứ tha tội lỗi, và cũng có ư nhấn mạnh là đời sống của con người chỉ được đổi mới ở tại việc hiệp nhất với Chúa Kitô mà thôi. Khi họ nhấn mạnh ân sủng của Thiên Chúa là t́nh yêu tha thứ (‘hồng ân của Thiên Chúa’), th́ họ không phủ nhận việc canh tân đời sống Kitô hữu. Trái lại, họ có ư nói lên rằng, công chính hóa vẫn không dính dáng đến việc cộng tác của con người, cũng như không lệ thuộc vào các hiệu quả canh tân đời sống của ân sủng nơi con người.

 

24.  Khi người Công Giáo nhấn mạnh đến việc canh tân con người nội tâm bằng việc lănh nhận ân sủng được ban xuống như tặng ân cho người tín hữu, là họ muốn nhấn mạnh ơn tha thứ của Thiên Chúa luôn luôn mang lại tặng ân sự sống mới, một sự sống trở nên hiệu nghiệm bởi t́nh yêu chủ động trong Chúa Thánh Thần. Bởi thế, họ không chối bỏ việc Thiên Chúa ban phát ơn công chính hóa cho con người mà vẫn không dính dáng ǵ tới việc cộng tác của con người.

 

4.3- Công Chính Hóa bởi Đức Tin và nhờ Ân Sủng

 

25.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, tội nhân được công chính hóa bởi đức tin theo tác động cứu độ của Thiên Chúa trong Chúa Kitô. Bằng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi phép rửa, họ được ban tặng ân cứu độ, tặng ân làm nền tảng cho cả đời sống Kitô hữu. Họ đặt ḷng tin tưởng của ḿnh nơi lời hứa sủng ái của Thiên Chúa bằng đức tin công chính hóa, đức tin bao gồm cả ḷng cậy trông Thiên Chúa và ḷng mến yêu Ngài. Một đức tin như vậy linh hoạt trong yêu thương, nhờ đó, Kitô hữu không thể và không được thụ động không làm ǵ. Thế nhưng, bất cứ những ǵ nơi con người được công chính hóa có trước hay theo sau tặng ân đức tin nhưng không này đều không phải là nguồn gốc của việc công chính hóa hay làm nên việc công chính hóa.

 

26.  Theo người Luthêrô hiểu, Thiên Chúa công chính hóa tội nhân bằng đức tin mà thôi (sola fide). Với đức tin, họ hoàn toàn đặt ḷng tin tưởng vào Đấng Tạo Hóa cũng là Đấng Cứu Chuộc của họ, nhờ đó, họ sống hiệp thông với Ngài. Chính Thiên Chúa tác động đức tin khi Ngài dùng lời tác tạo của ḿnh làm phát sinh ra một ḷng tin tưởng như thế. V́ tác động của Thiên Chúa là một việc sáng tạo mới, tác động của Ngài ảnh hưởng đến tất cả mọi chiều kích của con người và dẫn họ đến một đời sống hy vọng cũng như yêu thương. Theo tín lư về ‘việc công chính hóa bởi duy một ḿnh đức tin’, cần phải phân biệt, chứ không phải tách biệt, giữa chính việc công chính hóa và việc canh tân lối sống của con người, một việc canh tân cần phải có bởi được công chính hóa, mà nếu thiếu việc canh tân này cũng kể như đức tin không có. Nhờ có căn bản rơ ràng mới tiến hành đến việc canh tân đời sống, một việc canh tân phát xuất từ t́nh yêu Thiên Chúa đă ban cho con người được công chính hóa. Việc công chính hóa và việc canh tân được liên kết với nhau trong Chúa Kitô, Đấng hiện diện trong đức tin.

 

27.  Theo sự hiểu biết của ḿnh, người Công Giáo cũng thấy rằng, đức tin là nền tảng trong việc công chính hóa. V́ không có đức tin không thể nào có việc công chính hóa. Những con người được công chính hóa nhờ phép rửa là những người nghe lời Chúa và là những người tin vào lời Chúa. Công chính hóa tội nhân là việc tha thứ tội lỗi và làm cho họ nên chính trực bằng ơn công chính hóa, ơn làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Được công chính hóa, người chính trực lănh nhận nơi Chúa Kitô đức tin, đức cậy và đức mến, nhờ đó, họ được hiệp thông với Ngài. Mối liên hệ mới mẻ với Thiên Chúa ấy hoàn toàn là do ḷng ưu ái của Thiên Chúa, hằng liên lỉ lệ thuộc vào tác động cứu độ và sáng tạo của Vị Thiên Chúa là Đấng chân thực để con người có thể tin cậy nơi Ngài này. Như thế, ơn công chính hóa không bao giờ thuộc về con người, làm cho họ có thể lên mặt với Thiên Chúa. Nếu giáo huấn của Công Giáo nhấn mạnh đến việc canh tân đời sống bằng ơn công chính hóa, th́ việc canh tân trong đức tin, đức cậy và đức mến này luôn luôn tùy thuộc vào ân sủng khôn lường của Thiên Chúa, và không đóng góp ǵ cho việc công chính hóa làm cho con người có thể hănh diện trước nhan Thiên Chúa (Rm 3:27).

 

4.4- Người Được Công Chính Hóa là Một Tội Nhân

 

28.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, trong phép rửa, Chúa Thánh Thần đă liên kết con người với Chúa Kitô, đă công chính hóa và thực sự đă canh tân con người. Thế nhưng, con người được công chính hóa, trong cả đời sống, phải liên lỉ cần đến ơn công chính nhưng không của Thiên Chúa. Họ cũng luôn luôn chịu ảnh hưởng đàn áp tấn công của quyền lực tội lỗi (cf Rm 6:12-14), và không tránh khỏi cuộc đối chọi kéo dài cả đời với những ǵ phản lại Thiên Chúa nơi các ước muốn vị kỷ của Adong xưa (cf Gal 5:16; Rm 7:7-10). Người được công chính hóa cũng phải xin Chúa hằng ngày thứ tha cho ḿnh như trong Kinh Chúa Dạy (Mt 6:12; 1Jn 1:9), hằng được kêu gọi ăn năn cải thiện cùng thống hối, và hằng được nhận lại ơn Chúa thứ tha.

 

29.  Người Luthêrô cho thân phận của Kitô hữu này là một thân phận ‘vừa là chính nhân vừa là tội nhân’. Tín hữu hoàn toàn là con người chính trực, bởi Thiên Chúa thứ tha tội lỗi cho họ bằng Lời Chúa cũng như bằng Bí Tích, và ban cho họ đức chính trực của Chúa Kitô mà họ đáng được trong đức tin. Nơi Chúa Kitô, họ được nên người công chính trước nhan Thiên Chúa. Tuy nhiên, nh́n vào ḿnh theo lề luật, họ nhận thấy rằng họ vẫn hoàn toàn là tội nhân. Tội lỗi vẫn sống trong họ (1Jn 1:8; Rm 7:17, 20), v́ họ không thôi quay về với các ngụy thần và không kính mến Thiên Chúa bằng một t́nh yêu nguyên vẹn như Thiên Chúa là Đấng Dựng Nên họ đ̣i hỏi (Deut 6:5; Mt 22:36-40 pr.). T́nh trạng phản nghịch với Thiên Chúa ấy thực là tội lỗi vậy. Tuy nhiên, quyền lực làm chủ của tội lỗi đă bị chế ngự bởi công nghiệp của Chúa Kitô. Tội lỗi không c̣n ‘làm chủ’ Kitô hữu nữa, v́ chính nó đă bị Chúa Kitô là Đấng kẻ được công chính hóa gắn bó trong đức tin ‘làm chủ’ rồi. Bởi thế, trong cuộc sống này, Kitô hữu có thể sống công chính một phần nào. Cho dù tội lỗi, Kitô hữu vẫn không ĺa xa Thiên Chúa, v́ hằng ngày, trong việc trở về với phép rửa, con người đă được tái sinh bởi phép rửa và bởi Thánh Thần lại được thứ tha tội lỗi. Như thế, tội lỗi ấy không c̣n làm cho con người bị trầm luân hay bị chết đời đời nữa. Vậy, khi người Luthêrô nói rằng, những người được công chính hóa cũng là những tội nhân, và nói rằng t́nh trạng họ phản chống Thiên Chúa thực sự là tội lỗi, th́ họ không phủ nhận là, dù có tội như thế, thành phần này vẫn không ĺa xa Thiên Chúa và tội lỗi ấy là tội lỗi đă được ’làm chủ’. Theo những xác nhận này, cho dù có hiểu khác với người Công Giáo về tội lỗi nơi con người được công chính hóa, người Luthêrô cũng đồng ư với người Công Giáo Rôma.

 

30.  Người Công Giáo chủ trương rằng, ân sủng của Chúa Giêsu Kitô ban cho khi lănh nhận phép rửa tẩy sạch tất cả những ǵ là tội lỗi ‘theo đúng nghĩa của nó’ và là tội lỗi ‘đáng bị trầm luân’ (Rm 8:1). Tuy nhiên, con người vẫn c̣n một khuynh hướng hạ (đam mê) bởi tội mà ra và đẩy con người đến việc phạm tội. V́, theo niềm tin Công Giáo, tội lỗi của con người bao giờ cũng dính dáng đến yếu tố cá nhân, và bởi yếu tố cá nhân này không có ở nơi khuynh hướng hạ ấy, nên người Công Giáo không cho rằng khuynh hướng hạ này là tội lỗi theo đúng nghĩa của nó. Họ không phủ nhận là khuynh hướng hạ này không xứng hợp với dự án nguyên thủy của Thiên Chúa về con người, và theo khách quan, nó nghịch lại với Thiên Chúa và vẫn là kẻ thù mà con người cả đời phải chống chọi. Người Công Giáo nhấn mạnh là, được ơn Chúa Kitô giải cứu, khuynh hướng hạ phản nghịch với Thiên Chúa này không đáng bị phạt chết đời đời, cũng như không tách ĺa con người được công chính hóa khỏi Thiên Chúa. Thế nhưng, khi cá nhân con người tự ư tách ḿnh ĺa khỏi Thiên Chúa, th́ việc họ tuân giữ lại các giới răn cũng chưa đủ, v́ họ phải lănh nhận ơn tha thứ và b́nh an nơi Bí Tích Ḥa Giải qua lời xá tội lỗi của họ, căn cứ vào việc Thiên Chúa giải ḥa trong Chúa Kitô.

 4.5- Lề Luật và Phúc Âm

 31.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, con người được công chính hóa bởi đức tin vào phúc âm ‘tách biệt với các việc làm theo lề luật qui định’ (Rm 3:28). Chúa Kitô đă làm trọn lề luật, và bằng cuộc tử nạn và phục sinh của ḿnh, Người đă làm chủ lề luật như là một đường lối cứu độ. Chúng ta cũng tuyên xưng rằng, các giới luật của Thiên Chúa vẫn c̣n hiệu lực của ḿnh đối với thành phần được công chính hóa, và giáo huấn cũng như gương mẫu của Chúa Kitô là những ǵ cho thấy ư muốn của Thiên Chúa sẽ là tiêu chuẩn cho người được công chính hóa tác hành theo.

 

32.  Người Luthêrô cho rằng, việc phân biệt và thứ tự trên dưới giữa lề luật với phúc âm là những ǵ thiết yếu để hiểu được việc công chính hóa. Theo phương diện thần học thực dụng của họ th́ lề luật là điều bó buộc và là điều cáo buộc. Suốt cuộc sống của ḿnh, tất cả mọi người, kể cả Kitô hữu, một cuộc sống họ là những tội nhân, phải chịu đựng việc cáo buộc này, một cáo buộc tố giác tội lỗi của họ, để rồi, bằng niềm tin vào phúc âm, họ sẽ không ngần ngại trở về với t́nh thương của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, Đấng duy nhất công chính hóa họ.

 

33.  V́ lề luật như là một đường lối cứu độ đă được phúc âm làm cho nên trọn và chế ngự, người Công Giáo mới cho rằng Chúa Kitô không phải là nhà ban bố luật theo kiểu Moisen. Khi người Công Giáo nhấn mạnh là người chính trực buộc phải tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa th́ họ cũng không chối bỏ là, nhờ Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa đă xót thương hứa cho con cái Ngài ơn được sống đời đời. 

 

4.6- Việc Bảo Đảm Phần Rỗi

 

34.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, người tín hữu có thể tin cậy vào t́nh thương và các lời hứa của Thiên Chúa. Bất chấp nỗi yếu hèn của ḿnh, cũng như bất chấp những đe dọa nhiều mặt nguy hiểm đến đức tin của ḿnh, cậy dựa vào sức mạnh của việc Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, họ cũng có thể vững tâm vào lời hứa hiệu năng của ơn Thiên Chúa nơi Lời Chúa và Bí Tích, nhờ thế họ nắm chắc được ơn này.

 

35.  Người Cải Cách đặc biệt nhấn mạnh đến điều này, đó là, giữa thử thách cám dỗ, người tín hữu không được cậy dựa vào ḿnh mà phải hoàn toàn cậy dựa vào Chúa Kitô và tin tưởng nơi một ḿnh Người. Bằng việc tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa, chứ không bao giờ cậy dựa vào bản thân, họ nắm chắc được phần rỗi của ḿnh.

 

36.  Người Công Giáo có thể chung một quan tâm với người Cải Cách trong việc đặt đức tin vào thực tại khách quan của lời Chúa Kitô hứa, trong việc bỏ đi cảm nghiệm riêng tư của ḿnh, cũng như trong việc tin tưởng vào nguyên lời thứ tha của Chúa Kitô mà thôi (cf Mt 16:19, 18:18). Theo Công Đồng Chung Vaticanô II, người Công Giáo cho rằng sống đức tin là hoàn toàn phó ḿnh cho Thiên Chúa, Đấng giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi cùng sự chết và làm cho chúng ta bừng lên sự sống đời đời. Bởi thế, con người không thể tin tưởng nơi Thiên Chúa, đồng thời lại coi lời hứa thần linh là không đáng tin tưởng. Không ai được ngờ vực t́nh thương của Thiên Chúa và công nghiệp của Chúa Kitô. Tuy nhiên, mọi người có thể quan tâm đến phần rỗi của ḿnh khi họ thấy ḿnh yếu đuối và kém cỏi. Thế nhưng, nhận thấy ḿnh sa ngă, tín hữu mới có thể tin là Thiên Chúa muốn cứu độ họ.

 

4.7- Các Việc Lành Phúc Đức của Người Được Công Chính Hóa

 

37.  Cùng nhau chúng ta tuyên xưng rằng, các việc lành phúc đức – một đời sống Kitô hữu sống đức tin, đức cậy và đức mến – là do việc công chính hóa và là hoa trái của việc công chính hóa. Khi thành phần được công chính hóa sống trong Đức Kitô và hoạt động theo ân sủng nhận được, là họ làm trổ sinh trái tốt, theo từ ngữ thánh kinh. Bởi Kitô hữu chống chọi với tội lỗi suốt cuộc đời của ḿnh, họ cũng buộc phải chiếm được thành quả của việc công chính hóa ấy. Thế nên, cả Chúa Giêsu lẫn các Sách Thánh tông tuyền đều khuyên giục Kitô hữu hăy làm trổ sinh các việc yêu thương.

 

38.  Theo người Công Giáo hiểu th́ các việc lành phúc đức, được thực hiện nhờ ân sủng và hoạt động của Chúa Thánh Thần, góp phần vào việc lớn lên trong ân sủng, nhờ đó đức chính trực do Thiên Chúa ban cho được bảo tồn, và cũng nhờ đó việc hiệp thông với Chúa Kitô được sâu đậm hơn. Khi người Công Giáo xác nhận tính chất ‘công nghiệp’ của các việc lành phúc đức, là họ muốn nói lên rằng, theo chứng từ thánh kinh, phần thưởng trên trời được hứa ban cho những việc làm ấy. Họ có ư nhấn mạnh đến trách nhiệm của con người đối với hành động của ḿnh, chứ không đặt vấn đề tính chất nơi những việc làm như là các tặng ân ấy, và họ lại càng không chối bỏ việc công chính hóa bao giờ cũng là một quà tặng nhưng không của ân sủng.

 

39.  Người Luthêrô cũng chủ trương quan niệm về việc bảo tŕ ân sủng và việc lớn lên trong ân sủng cùng đức tin. Họ thực sự nhấn mạnh là đức chính trực được Thiên Chúa ban cho và việc thông phần vào đức chính trực của Chúa Kitô là những ǵ luôn luôn trọn vẹn. Họ đồng thời cũng cho rằng, các hiệu quả của những sự ấy có thể được phát triển trong đời sống Kitô hữu. Tuy nhiên, khi họ quan niệm về các việc lành phúc đức của người Kitô hữu như là hoa trái và dấu chỉ của việc công chính hóa, chứ không phải là các ‘công nghiệp’ riêng của con người, th́ họ cũng hiểu được sự sống đời đời, theo ư nghĩa của Tân Ước, là một ‘phần thưởng’ nhưng không trong việc người tín hữu làm trọn lời hứa của Thiên Chúa.

 

5. Tầm Quan Trọng và Mục Tiêu nhắm đến của Việc Đồng Ưng Thuận

 

40.  Việc t́m hiểu về tín lư công chính hóa được tŕnh bày trong Bản Tuyên Ngôn này cho thấy rằng, người Luthêrô và người Công Giáo đă cùng nhau chấp nhận những sự thật căn bản của tín lư về việc công chính hóa. Theo chiều hướng đồng ưng thuận này, th́ những khác nhau c̣n lại về ngôn ngữ, về việc diễn giải theo thần học, và về các điểm được nhấn mạnh trong việc hiểu biết về vấn đề công chính hóa ở các đoạn từ 18 đến 39, đều được chấp nhận. Bởi thế, những cắt nghĩa về việc công chính hóa của người Luthêrô và người Công Giáo khác nhau th́ hướng đến nhau và không làm tiêu hủy việc đồng thuận liên quan đến các sự thật căn bản này.

 

41.  Do đó, những điều lên án nhau về tín lư ở thế kỷ 16 liên quan đến tín lư về việc công chính hóa có một chiều hướng mới, đó là: Giáo huấn của các giáo hội Luthêrô được tŕnh bày trong Bản Tuyên Ngôn này không bị rơi vào số các luận bác của Công Đồng Chung Triđentinô. Những bác bỏ trong Các Điều Tuyên Tín của bên Luthêrô cũng không áp dụng cho giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo Rôma được tŕnh bày trong Bản Tuyên Ngôn này.

 

42.  Như thế, không có ǵ làm mất đi tính cách nghiêm trọng của các điều lên án liên quan đến tín lư về việc công chính hóa cả. Một số điều lên án này không phải là hoàn toàn vô bổ đâu. Đối với chúng ta, chúng vẫn là ‘những cảnh giác công hiệu’ làm cho chúng ta phải lưu ư về việc giảng dạy và việc thực hành của chúng ta.

 

43.  Việc đồng thuận của chúng ta nơi các sự thật căn bản của tín lư về việc công chính hóa phải gây tác dụng trên đời sống cũng như nơi các giáo huấn của giáo hội chúng ta. Việc đồng thuận này phải tự chứng tỏ cho thấy là ở chỗ đó. Về khía cạnh này, vẫn c̣n nhiều vấn đề quan trọng khác nhau cần phải được làm cho sáng tỏ hơn. Trong số những vấn đề đó là vấn đề về mối liên hệ giữa Lời Chúa và tín lư giáo hội, cũng như vấn đề giáo hội học, vấn đề quyền bính giáo hội, vấn đề hiệp nhất giáo hội, vấn đề thừa tác vụ, vấn đề các bí tích, và vấn đề liên hệ giữa việc công chính hóa với đạo đức xă hội. Chúng ta tin tưởng rằng, việc chúng ta tiến đến vấn đề đồng thuận này cống hiến cho chúng ta một căn bản vững chắc cho việc làm sáng tỏ ấy. Các giáo hội Luthêrô và Giáo Hội Công Giáo Rôma sẽ cùng nhau tiếp tục gắng sức đào sâu vào việc t́m hiểu chung về việc công chính hóa này, để làm cho việc t́m hiểu ấy sinh hoa kết trái trong đời sống cũng như trong giáo huấn của các giáo hội.

 

44.  Chúng ta tạ ơn Chúa cho bước tiến trọng yếu hướng tới đường lối thắng vượt t́nh trạng chia rẽ của giáo hội này. Chúng ta xin Thánh Linh dẫn chúng ta tiến xa hơn nữa tới việc hiệp nhất hữu h́nh theo ư muốn của Chúa Kitô.

 (Trích dịch từ tuần san L’Osservatore Romano,

ấn bản Anh ngữ, phát hành ngày 24/11/1999, trang I-III)