“’Dignitas connubii’ (Phẩm Giá Hôn Nhân),
Bản Hướng Dẫn Cần Được Các Tòa Hôn Phối Giáo Phận và Liên Giáo Phận Tuân Giữ Trong Việc Cứu Xét Các Lý Do Hủy Hôn”
Sáng Thứ Ba 8/2/2005, tại văn phòng báo chí của tòa thánh đã diễn ra một cuộc trình bày về văn kiện “’Dignitas connubii’ (Phẩm Giá Hôn Nhân), Bản Hướng Dẫn Cần Được Các Tòa Hôn Phối Giáo Phận và Liên Giáo Phận Tuân Giữ Trong Việc Cứu Xét Các Lý Do Hủy Hôn”. Bản hướng dẫn dầy 209 trang với 15 chương gồm 308 khoản này do Hội Đồng Tòa Thánh Về Các Văn Kiện Lập Pháp soạn thảo cùng với sự hợp tác của các phân bộ khác.
Thành phần tham dự gồm có ĐHY Julian Herranz, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Các Văn Kiện Lập Pháp, ĐTGM Angelo Amato S.D.B., thư ký Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ĐTGM Domenico Sorrentino, thư ký Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích, ĐGM Valesio De Paolis C.S., thư ký của Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh Signatura, và ĐGM Antoni Stankiewicz, pháp viện trưởng Tòa Án Rôma Rota.
ĐHY Julian Herranz đã dẫn giải là Bản Hướng Dẫn Dignitas connubii được soạn thảo và ban hành là để cống hiến cho các vị thẩm phán ở các tòa án giáo hội “một văn kiện thực tiễn, một loại vademecum để sử dụng như là một bản hướng dẫn tiện lợi trong việc thi hành phận sự của họ ở những cuộc điều trần được qui định liên quan đến vấn đề hủy hôn”. Một văn kiện tương tự như thế, đó là Bản Hương Dẫn “Provida Mater”, cũng đã được phổ biến vào năm 1936 liên quan tới Bộ Giáo Luật Năm 1917.
Theo vị hồng y này thì bản hướng dẫn Dignitas connubii là văn kiện tìm cách làm dễ dàng hóa việc tham khảo và áp dụng Bộ Giáo Luật ấn bản 1983, bằng cách tổng hợp tất cả mọi qui tắc liên quan đến tiến trình được qui định để hủy hôn (không giống như CIC có những qui tắc ấy rải rác những nơi khác nhau trong bản văn), và bao gồm cả những diễn tiến về pháp lý phát hiện từ khi ban hành Bộ Giáo Luật ấy, như những dẫn giải đích thực của Hội Đồng Tòa Thánh Về Các Bản Văn Lập Pháp, những giải đáp của Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh Signatura, khoa luật pháp học của Tòa Án Rôma Rota. Bản Hướng Dẫn này “không chỉ lập lại văn từ của các khoản Giáo Luật mà còn chất chứa những dẫn giải, những điều sáng tỏ về những khoản luật ấy, và những khoản luật khác về các phương thức áp dụng nó.
“Bản Hướng Dẫn này ra đời như là một khẳng định về nhu cầu cần phải trình vấn đề thành hiệu hay bất thành hiệu nơi hôn nhân của tín hữu cho một tiến trình pháp lý thật sự”. Vì, theo vị hồng y chủ tịch nhận định, có những lúc diễn ra những giải quyết “dễ dàng”, thậm chí giải quyết vấn đề một cách trực tiếp “theo lòng của cá nhân con người, bằng một thứ được gọi là ‘hủy hôn theo lương tâm’”, một thứ hủy hôn mà Giáo Hội “chẳng đóng một vai trò nào khác ngoài việc ghi nhận niềm xác tín của chính đôi phối ngẫu liên quan đến tính cách hiệu thành hay chăng nơi hôn nhân của họ”. Cũng có những lúc “Giáo Hội chối từ bất cứ hình thức điều trần nào, mặc kệ cho những vấn đề về pháp lý này cho các tòa đời”.
“Ngược lại, Giáo Hội lập lại năng quyền của mình trong việc quan tâm đến những căn do ấy, vì việc hiện hữu của hôn nhân tùy thuộc vào những căn do này, trước hết bằng việc coi hôn nhân là một trong 7 phép bí tích được chính Chúa Kitô thiết lập”. Nếu không để ý tới vấn đề này thì trong thực hành “chẳng khác gì làm lu mờ đi bản chất bí tích của chính hôn nhân. Điều này lại càng khó thấu triệt ở những hoàn cảnh hiện nay, liên quan tới vấn đề lầm lẫn về căn tính tự nhiên của hôn nhân cũng như của gia đình ở một số hình thực lập pháp dân sự chẳng những đón nhận và giúp dễ dàng cho việc ly dị mà còn, ở một số trường hợp, đặt vấn đề về tính chất dị tính là khía cạnh thiết yếu của hôn nhân nữa”.
Để kết thúc, vị hồng y chủ tịch này đã xác nhận là trong môi trường của một tâm thức “ly dị”, “thậm chí những cuộc điều trần hủy hôn theo giáo luật cũng có thể bị giải thích sai lạc một cách dễ dàng, như thể chúng chính là những cách thức để được lý dị bằng việc chuẩn nhận rõ ràng của Giáo Hội”. Bởi thế, tính cách khác nhau giữa hủy hôn và ly dị sẽ “chỉ hoàn toàn thuần túy về danh xưng, và bằng việc khéo léo mạo dụng những lý do triệt tiêu tất cả mọi cuộc hôn nhân đổ vỡ đều được giải hôn”. Trái lại, Các Vị Giáo Hoàng Rôma “thường bày tỏ ý nghĩa thực sự của việc hủy hôn, một ý nghĩa bất khả tách biệt khỏi việc tìm kiếm sự thật vì việc hủy hôn không có nghĩa là giải tỏa một mối liên hệ đang có mà là việc nhân danh Giáo Hội nhìn nhận việc vốn không hiện hữu của một cuộc hôn nhân đích thực ngay từ ban đầu. Ngoài ra, Giáo Hội thiên về việc thành hiệu của các cuộc hôn nhân bị triệt tiêu khi việc hiệu thành này có thể thực hiện. Đức Gioan Phaolô II đã giải thích vấn đề này bằng những lời lẽ như sau: ‘Chính đôi phối ngẫu phải là những người đầu tiên nhận thấy rằng chỉ trong việc trung thành tìm cầu sự thật họ mới có thể tìm thấy được thiện ích đích thực của mình, mà không loại trừ đi tính cách hiệu thành khả dĩ của một cuộc hiệp nhất mà, cho dù nó chưa phải là một cuộc hôn nhân theo bí tích, một cuộc hiệp nhất chất chứa những yếu tố thiện ích, cho chính họ cũng như cho con cái họ, một thiện ích cần phải thận trọng thẩm định theo lương tâm trước khi tiến đến một quyết định khác đi’(Address to the Roman Rota, January 28, 2002).”
Về vấn đề tìm kiếm sự thật trong các cuộc điều trần về việc hủy hôn, ĐTGM Angelo Amato SDB cũng nhấn mạnh đến sự kiện là khoản 65, đoạn 2 trong Bản Hướng Dẫn nói rằng vị thẩm phán phải thúc giục đôi bên hãy thành tâm tìm kiếm sự thật. Nếu vị thẩm phán không làm cho đôi phối ngẫu đi đến chỗ thành hiệu cuộc hôn nhân của họ và tái thiết cuộc sống hôn nhân, thì “vị thẩm phán cần phải thôi thúc đôi phối ngẫu hãy chân tình làm việc với nhau, loại trừ đi bất cứ ước muốn tư riêng nào và sống sự thật theo đức ái, để có thể tiến đến được sự thật khách quan, như chính bản chất của lý tưởng hôn nhân đòi hỏi”.
ĐGM De Paolis nhận định rằng “Bản Hướng Dẫn này liên quan đến gần 850 tòa án giáo phận và liên giáo phận thuộc Giáo Hội Latinh hầu như hoàn toàn giải quyết vấn đề hủy hôn”, một vấn đề “gia tăng khủng khiếp trong các thập niên gần đây, nhất là ở những xứ sở có truyền thống Kitô giáo lâu đời”. Vị giám mục này còn thêm là trong số các căn nguyên đưa đến những cuộc hủy hôn này đó là “khuynh hướng tục hóa đang thịnh hành có một quan niệm sai lầm về hôn nhân so với lý tưởng được Giáo Hội đề ra; một kiến thức xác đáng hơn về tâm lý con người giúp cho việc quyết định được tốt đẹp hơn khi cho rằng việc đồng ý kết hôn vẫn không đủ, và sự kiện có “nhiều tín hữu, khi được phép ly dị ở tòa đời và có thể tái hôn theo luật đời, ngỏ ý muốn được tuyên bố hủy hôn vì họ biết rằng, đối với một người Công giáo, cuộc hôn nhân thành hiệu chỉ có thể là cuộc hôn nhân cử hành theo luật lệ của Giáo Hội”.
Vị giám mục này đã đưa ra một số thống kê vào năm 2002 như sau: trong 56.236 cuộc điều trần bình thường để xin hủy hôn có 46.092 được chấp thuận, trong số này có 343 vụ ở Phi Châu, 676 vụ ở Đại Dương Châu, 1.562 vụ ở Á Châu, 8.855 vụ ở Âu Châu và 36.656 vụ ở Mỹ Châu (30.968 ở Bắc Mỹ và 5.688 ở Trung Mỹ và Nam Mỹ).
ĐGM Antoni Stankiewicz giải thích là “những kỷ luật trong bản Hướng Dẫn vừa được trình bày trong 61 khoản (155-216 ở Tiết VII: “Những Chứng Cớ”) là những dụng cụ, tức là phương tiện minh chứng việc tìm kiếm chân lý khách quan nơi những cuộc điều trần về hôn nhân, những cuộc điều trần tùy thuộc vào đôi bên và vị thẩm phán, để có thể nắm vững được những sự kiện do đôi bên cáo buộc và liên quan tới việc hủy hôn của một cuộc hôn nhân có vấn đề. Chỉ căn cứ vào sự hiệu nghiệm của thành quả nơi phương tiện về chứng cớ có được trong các cuộc điều tra về hôn nhân, như những lời công bố của hai bên (khoản 177-182), những tài liệu (khoản 183-192), những chứng nhân (khoản 193-202), các chuyên viên (khoản 203-213), và những luận tưởng (khoản 214-216), vị thẩm phán mới có thể tiến đến việc chắc chắn về luân lý liên quan tới lý do để quyết định bằng một án lệnh hay sắc lệnh vững vàng”.
Vị giám mục này nói rằng: “Đây không phải là vấn đề tuyệt đối chắc chắn,… hay chỉ chắc chắn một cách chủ quan,… mà là chắc chắn một cách khách quan về luân lý, được căn cứ một cách khách quan vào những việc làm và thành quả của các chứng cớ. Thật vậy, theo qui tắc mới, ‘để tuyên bố hủy hôn cần phải có trong tâm trí vị thẩm phán cái chắc chắn về luân lý của việc hủy hôn này (khoản 247, đoạn 1)’”.