NGÀY HỘI NGỘ LIÊN TÔN CẦU CHO H̉A B̀NH THẾ GIỚI 24/1/2002 

 


Những Chứng Từ Ḥa B́nh Liên Tôn

 


Trong lúc t́nh h́nh thế giới đang biến động trước t́nh h́nh khủng bố, t́nh h́nh vũ khí nguyên tử ở Bắc Hàn và nhất là t́nh h́nh chiến tranh Hoa Kỳ giải giới Iraq, chúng ta hăy cùng nhau ôn lại một số ư thức về ḥa b́nh của những vị đại diện Liên Tôn trong Ngày Cầu Nguyện Cho Ḥa B́nh Thế Giới tại Assissi 24/1/2002. Chứng từ ḥa b́nh liên tôn này, Kitô Giáo đă mở đầu, theo thứ tự, gồm có Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Giáo Bartholomew I tự đọc bằng tiếng Hy Lạp, ĐTGM Canterbury Anh Giáo do ĐGM Richard Garrard đọc bằng tiếng Anh, Tiến Sĩ Ishmael Noko thuộc đại diện Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, Tiến Sĩ Setri Nyomi, đại diện Liên Minh Các Giáo Hội Cải Cách Thế Giới, và ba vị nữa ở phần kết thúc là Bà Chiara Lubich, Sáng Lập Phong Trào Focolare, Andrea Riccardi và Đức Theoctist Thượng Phụ Chính Thống Romania. Ở khoảng giữa là chứng từ của các tôn giáo ngoài Kitô Giáo, thứ tự của Phật Giáo, Phi Châu Cổ Truyền Đạo, Ấn Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo. Chúng tôi chỉ xin trích lại những chứng từ của các vị đại diện tôn giáo ngoài Kitô Giáo mà thôi, để xem những ư thức đó như thế nào so với của Kitô Giáo nói chung và của Giáo Hội Công Giáo nói riêng.

Chứng Từ Ḥa B́nh (bằng tiếng Anh) của Phật Giáo: Geshe Tashi Tsering (Hiệp Vương Quốc, đại diện Đức Dalai Lama)

Chớ ǵ, hiện tại và muôn đời, lúc nào tôi cũng trở thành một bảo vệ nhân cho những ai không được bảo vệ, một hướng đạo viên cho những ai lầm đường lạc lối, một con tầu cho những ai vượt qua qua đại dương, một cây cầu cho những ai đi ngang qua sông, một cung tah1nh cho những ai gặp hiểm nguy, một cây đèn cho những ai cần ánh sáng, một chốn ẩn náu cho những ai cần trú trọ, và là tôi tớ cho tất cả những ai cần giúp đỡ.

Bao lâu không gian c̣n tồn tại, bao lâu c̣n những vật biết cảm thức, chớ ǵ cho tới bấy giờ tôi vẫn tồn tại và đánh tan những khốn cùng của thế giới này.

(A Guide to the Bodhisattva’s Way of Life, Shantideva)


Chứng Từ Ḥa B́nh (bằng tiếng Pháp) của Phi Châu Cổ Truyền Giáo: Đạo Trưởng Ainadou Gasseto

Sáng kiến của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cổ vơ ḥa b́nh đă làm cho tôi rất vui mừng và hy vọng cho thế giới của chúng ta vẫn thường bị xâu xé bởi bạo lực và các cuộc chiến tranh. Việc Ngài mời tới tham dự vào Cuộc Cầu Nguyện Cho Ḥa B́nh ở Assissi đây là một vinh dự lớn lao cho tôi cũng là một vinh dự cho tất cả mọi tín đồ Avelekete Vodou mà tôi là vị thượng tế của họ. Trong việc nhận lời đến tham dự vào buổi cầu nguyện này, tôi cũng chấp nhận việc dấn thân cổ vơ tinh thần ḥa b́nh và hành vi cử chỉ ôn ḥa có khả năng gây ảnh hưởng thuận lợi ở xă hội Benin.

Thế nhưng, trước hết, tôi nh́n nhận là ḥa b́nh là tặng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta. Tuy nhiên, tặng ân này được trao cho trách nhiệm của con người là thành phần được Đấng Hóa Công kêu gọi để góp phần xây dựng ḥa b́nh trên thế giới này. Đây là một trách nhiệm chung liên quan đến tất cả tạo sinh.

Là một vị lănh đạo của đạo cổ truyền Vodou, tôi tin rằng ḥa b́nh không thể nào có được bao lâu c̣n xẩy ra những xâu xé, chia rẽ và hận thù giữa dân chúng. Chúng ta cần phải bắt đầu bằng việc làm chủ ḿnh, chẳng hạn không nói những lời lẽ gây ra những cảm xúc đối chọi, tẩy chay hay bạo động. Chúng ta cần phải có trách nhiệm đối với tinh thần phát xuất bởi những lời lẽ của chúng ta. Đó phải là tinh thần làm phát sinh sự ḥa hợp, thân hữu và huynh đệ. Ḥa b́nh bấy giờ mới t́m được chỗ đứng thuận lợi để phát triển nơi dân chúng.

Tôi thâm tín về một điều duy nhất, đó là ḥa b́nh trên thế giới lệ thuộc vào ḥa b́nh nơi dân chúng. Trách nhiệm của con người trên thế giới này chẳng những ảnh hưởng tới xă hội c̣n ảnh hưởng cả đến toàn thể tạo sinh nữa. Khi không có ḥa b́nh nơi dân chúng, cũng sẽ không có ḥa b́nh giữa tạo sinh và con người. Thế nhưng, khi dân chúng hoạt động cho ḥa b́nh nơi quốc gia dân tộc th́ đất đai của quốc gia họ trở nên phi nhiêu và súc vật sinh sôi nẩy nở cho con người hưởng thêm nhiều thiện ích. Đây là lề luật chính của thiên nhiên phát xuất từ Đấng Hóa Công, Đấng đă liên kết số mệnh của tạo vật với trách nhiệm của con người. Đó là lư do tại sao cần phải mời gọi dân chúng hằng năm hoán cải tâm hồn từ bỏ hận thù, bạo lực và bất công. Những vị lănh đạo tôn giáo trên thế giới đừng quên và cũng đừng bỏ bê việc thực hành này. Nó là vấn đề bù đắp lại những ǵ con người gây tổn hại cho tạo vật, là vấn đề xin được thứ tha từ những vị thần bảo vệ các miền đất bị lũng đoạn bởi bạo lực và sự dữ do con người gây ra, cũng là vấn đề xin được tha thứ bằng cách hiến dâng những hy tế đền bù và thanh tẩy để nhờ đó có thể phục hồi lại b́nh an. Tôi khẳng định là việc thanh tẩy thiên nhiên tạo vật này cần thiết để phục hồi ḥa b́nh nơi dân chúng cũng như với tất cả mọi tạo sinh. Trong các thời xa xưa, thời của các vua chúa, Benin rất lưu ư đến việc tuân giữ điều này nên xứ sở này đă được hoan hưởng thái b́nh cùng với những lợi lộc nơi thiên nhiên tạo vật. Các vị lănh đạo thời nay cũng phải quan tâm đến vấn đề ấy. Chúng tôi sẽ nhắc nhở họ điều này khi chúng tôi từ Assisi về, như cách thức làm phát sinh ở Benin những ǵ chúng tôi cảm nghiệm được ở cấp độ quốc tế nơi Ư Quốc này.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh đến một điều thiết yếu nữa, đó là việc tôn trọng các hồn thiêng của kẻ chết. Chúng ta phải nhớ rằng các vị tổ tiên đă ra đi trước chúng ta ở một thế giới các vị đă sống trong mối liên hệ kính tôn Thiên Chúa cũng như thiên nhiên tạo vật, nhờ đó để lại cho chúng ta một thế giới vẫn c̣n khả dung và hữu ích cho con người. Thế giới mà các vị tổ chức ở thời của các vị không được hoàn hảo ở mọi phương diện, nhưng nó vẫn giữ được cái hay của một t́nh trạng ḥa hợp giữa dân chúng và thiên nhiên. Những thứ cấm đoán đă bảo tŕ suối nguồn, rừng cây và những khu vực cho thú vật và hoa lá tự ḿnh sinh sôi nẩy nở. Những thứ cấm đoán đă ấn định cho các mối liên hệ gia đ́nh và xă hội. Việc bảo tŕ môi sinh cùng với t́nh trạng hết sức thăng bằng trong xă hội đă góp phần hữu hiệu vào việc bảo tŕ t́nh trạng ḥa hợp giữa dân chúng và thiên nhiên tạo vật ấy. Chúng ta không thể nói đến ḥa b́nh hôm nay đây mà lại không tôn trọng cái thế giới được các vị tiền bối để lại cho chúng ta đây, những vị đă từng t́m cách cải tiến nó v́ lợi ích của dân chúng thuộc thời đại của chúng ta.

Trong số những thực hành về xă hội được các vị tiền bối của chúng tôi để lại cho chúng tôi ở mảnh đất Phi Châu của Benin đó là nghệ thuật bàn luận để giải quyết những xung khắc liên cá nhân và xă hội. Chúng tôi đă học được nơi nghệ thuật nàycách thức tôn trọng đối phương của nhau, chấp nhận những khác biệt và hiểu được những xác tín của nhau. Việc thực hành này phải phấn khích những ai lănh trách nhiệm đối với ḥa b́nh trên thế giới này, để họ làm sao có thể đem đối phương của ḿnh đến chỗ đối thoại là điều duy nhất có thể phục hồi ḥa b́nh trong tâm hồn cũng như nơi các quốc gia. Không ǵ quí hơn là việc đối thoại là việc giúp cho chúng ta có thể đi đến chỗ hiểu biết nhau. Nhờ đó chúng ta đi từ chỗ hận thù đến chỗ cảm nhận nhau. Vai tṛ quan trọng của việc bàn luận cần phải được bảo toàn nơi các cơ cấu quốc tế là những nơi quyết định về ḥa b́nh giữa các quốc gia, và trong những quốc gia khi những con người cá nhân cần phải có những quyết định. Việc bàn luận phải giúp cho chúng ta hôm nay đây điều hành thế giới của thời chúng ta với tất cả mọi khó khăn của nó là những vấn đề bao giờ cũng thuộc trách nhiệm giải quyết của con người.

Qua những ǵ vừa được tŕnh bày, tôi đă nói lên những niềm xác tín của tôn giáo ḿnh, liên quan đến việc tôi dấn thân cổ vơ ḥa b́nh ở xứ sở của tôi cũng như trên thế giới. Và tôi sẽ không thể nào kết thúc ở đây mà không khẳng định một cách cương quyết là công lư và t́nh yêu huynh đệ là hai cột trụ bất khả thiếu cho ḥa b́nh thực sự nơi dân chúng. Mảnh đất Ư quốc này, nơi tôi đang có mặt tham dự vào cuộc họp thiêng liêng ở Assisi đây là một mảnh đất có những truyền thống tôn giáo cao quí. Thành phần lănh đạo tôn giáo chúng ta phải nhấn mạnh ở xứ sở của ḿnh về việc tôn trọng các quốc gia khác cũng như về t́nh đoàn kết giữa các dân tộc. Vấn đề phát triển các nước nghèo khổ, kể cả nước của tôi, chắc chắn là một mối đe dọa lớn nhất cho ḥa b́nh thế giới. Mối liên kết giữa các dân tộc phải dẫn đến chỗ chia sẻ cân bằng hơn nữa những nguồn phong phú trên thế giới. Các nước phát triển phải nâng đỡ những nước kém phát triển trong việc họ cố gắng phát triển. Vấn đề thương vụ quốc tế không được chỉ thiên về phía những ai mạnh về kinh tế mà phải tôn trọng hoạt động cùng việc sản xuất thực sự của mỗi người. Thế kỷ 21 chúng ta đang tiến vào đây phải là một thế kỷ xây dựng một xă hội công chính và huynh đệ hơn. Các giá trị chúng ta cần phải cổ vơ với tư cách là những vị lănh đạo tôn giáo đó là những giá trị về yêu thương cũng như về việc giao tiếp xă hội trong một thế giới mà thực sự tất cả chúng ta đều là anh chị em của nhau. Có thực hiện như thế chúng ta mới xây dựng ḥa b́nh trên thế giới của chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho cuộc hội ngộ Assisi và ban ḥa b́nh cho thế giới.

 

Chứng Từ Ḥa B́nh (bằng tiếng Anh) của Ấn Giáo: Didi Talwalker

Xin cho tôi được bắt đầu bằng việc cám ơn Hội Đồng Ṭa Thánh về Đối Thoại Liên Tôn đă mời tôi chia sẻ về ḥa b́nh thế giới. Tôi thực sự cảm thấy rất vinh dự và phúc hạnh trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng.

Ấn Giáo là một nguồn mạnh sâu xa tác động nơi tôi, thế nhưng, tôi không thể nào nói ǵ hơn v́ tôi chỉ là một môn sinh của một truyền thống tôn giáo cả mấy thiên kỷ trước đây. Tôi xin Đức Giáo Hoàng và anh chị em đạo hữu hội họp nơi đây ân xá cho.

Những ư nghĩa liên quan đến quan niệm ḥa b́nh th́ khác nhau. Đối với các nhà tư tưởng đời th́ ḥa b́nh là vắng bóng bạo lực và là việc giải quyết xung khắc phi bạo lực. Tuy nhiên, nó dường như là một thứ hiểu biết rất hạn hẹp về ḥa b́nh. Dĩ nhiên t́nh trạng vắng bóng bạo lực là đáng đón nhận và ước mong. Những cơ quan khác nhau ở tất cả mọi cấp độ, như các cơ cấu chính trị, nhiều nhóm tôn giáo và xă hội dân sự v.v., đă từng thực hiện và c̣n đang thực hiện công việc đáng khen trong vấn đề hành sử ôn ḥa t́nh trạng xung khắc trong các cộng đồng và giữa các cộng động. Tuy nhiên, một thứ ḥa b́nh như vậy vẫn cứ bị ngắc ngứ. Cho đến nay, cái căn bản vững chắc về ḥa b́nh vẫn không ở trong tầm tay của chúng ta. Đối với tôi, ḥa b́nh là t́nh trạng bảo tồn mức quân b́nh và ḥa hợp cả trong lẫn ngoài. V́ không hiểu được như thế, chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến thấy t́nh trạng bất dung nhượng, khổ sở, khai thác, phân rẽ và bất công.

Tôn giáo, nếu hiểu đúng đắn, là một lực đẩy có thể phục hồi t́nh trạng ḥa hợp và tính cách thánh hảo giữa thế giới bên trong và bên ngoài. Mặc dù các đạo giáo cho rằng và được mong là một thứ lực phối hợp, lịch sử vẫn cho thấy những trường hợp các vị tự xưng ḿnh là cứu tinh tôn giáo đă lạm dụng tôn giáo để phục vụ cho quyền lực và những lực lượng phân tranh. Chúng ta đă thấy dân chúng đang t́m kiếm một thứ chiều hướng tôn giáo thường có tính cách băng hoại hơn bao giờ hết ra sao. Sứ điệp thực sự của tôn giáo không phải và không thể là một thứ chủ trương thiện cận.

Tôi xuất thân từ một nền văn hóa có những cái hết sức giống với tôn giáo được chúng tôi gọi là dharma. Nó là một truyền thống phổ quát liên quan đến một thứ trật tự về luân lư để nói lên mối liên hệ giữa “bản ngă” với “tha ngă” cũng như với năng lực thần linh. Mối liên hệ này bao gồm “một trật tự” giúp cho tâm thức của con người vươn ḿnh ra từ cuộc sống vị kỷ đến t́nh trạng giao tiếp với thần linh.

Việc thần linh hóa con người như thế hiến cho chúng ta một cảm quan về giá trị của sự sống. Không phải chỉ có một ḿnh tôi là thần linh theo yếu tính mà hết mọi người khác theo yếu tính cũng là thần linh nữa, và đó là những ǵ liên kết chúng ta lại với nhau trong T́nh Nghĩa Phụ Thân của Thiên Chúa (vasudhaiva kutumbhakam). Nếu chúng ta có một sự hiểu biết như thế th́ t́nh trạng xung khắc không c̣n phát xuất từ vô vàn những cái thuộc hữu nữa. Những ǵ được Hội Đồng Ṭa Thánh này đề ra hôm nay đây là một kiểu mẫu của mối giao hệ liên đức tin. Nó là vấn đề dấn thân mang lại việc trao đổi cởi mở giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau hướng đến chỗ phát triển sự hiểu biết về chiều hướng nhân bản linh thiêng kia.

Đối với tôi, t́nh nghĩa huynh đệ đại đồng này, một yếu tố của parivar (gia đ́nh) Swadhyaya, do Đức Pandurang Shastri Athawale dạy, là những ǵ tự nhiên mà có, v́ ngài đă từ từ đưa chúng ta đến tư tưởng biết chấp nhận tất cả mọi truyền thống tôn giáo (sarva dharma sweekaar). Các thứ truyền thống tôn giáo không loại trừ nhau. Nền tảng của Swadhyaya là tư tưởng về việc Thiên Chúa ngự nơi tất cả mọi người và chúng ta đều là con cái của cùng một Thiên Chúa. Tiến sâu vào gia sản cổ kính của Ấn Độ ngài đă t́m thấy những trở ngại hạ cấp giữa con người với con người, và đă giải thoát tư tưởng về tôn giáo khỏi xu hướng tín điều, tách biệt và lệnh truyền. Đối với chúng tôi th́ việc dấn thân vào lănh vực xă hội, vào việc tái tạo và chữa lành cộng đồng không phải là những hành động cải cách xă hội mà là các hành động tỏ ḷng tri ân cảm tạ Hữu Thể Tối Cao. Chúng tôi gọi đó là bhakti hay việc sùng bái Thiên Chúa. Chúng tôi gọi đó là là một lực xă hội, v́ nó khiến cho cá nhân có thể biến đổi cái ti tiểu, giận hờn và tham lam (kshudrata, krodh và lobha). Chính việc biến đổi này nơi con người là những ǵ giúp cho họ có thể biến những ǵ họ theo đuổi hằng ngày trở thành những lực lượng giải phóng cho khỏi đủ mọi thứ nô lệ và thắng vượt được các thứ căng thẳng, phiền tạp, cùng với cảm quan cô lập, bất an và bất xứng. Nó giúp cho chúng ta có thể tiến từ chỗ chỉ biết bảo toàn các thứ nhân quyền đến mức độ cao hơn của việc bảo toàn phẩm giá con người và nhiệm vụ của con người.

Anh chị em thần linh thân mến, từ những ǵ tôi cảm nghiệm thấy trên đây, tôi dám kêu gọi nhân loại, qua buổi diễn đàn uy nghi trang trọng này, trước sự hiện diện phúc đức của Đức Giáo Hoàng đây, hăy vươn ḿnh lên trên những ǵ là tách biệt, hăy triển nở một t́nh yêu vị kỷ và vô vị lợi đối với Thiên Chúa cũng như đối với tạo vật của Ngài trong việc thắng vượt những cuộc khủng hoảng thường t́nh. Nó không phải là vấn đề kiến tạo theo lư thuyết. Bằng đường lối nhỏ bé của ḿnh, chúng ta đă chứng tỏ là trật tự xă hội có thể đạt được. V́ ḥa b́nh, chớ ǵ chúng ta đừng để cho các nguồn mạch nội tại của chúng ta bị thất thoát đi. Việc chúng ta đối thoại với nhau, việc cử hành mối hiệp nhất của các truyền thống khác nhau, một ngày trước đây chưa được xẩy ra. Từ nơi đây, chúng ta có thể tiến đến chỗ trở thành một khối liên minh tôn giáo thế giới để bảo toàn một tương lai chung đầy phúc lành của Thiên Chúa.

 

Chứng Từ Ḥa B́nh (bằng tiếng Pháp) của Hồi Giáo: Sheik Al-Azhar Mohammed Tantwai

Nhân danh Thiên Chúa, Đấng Toàn Từ Ái, Đấng Rất Xót Thương.

Trước hết, tôi muốn cám ơn Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị mà hôm nay đây đă qui tụ các đại diện truyền thống tôn giáo khác nhau, tất cả đều được tác động bởi cùng một nhiệt t́nh muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Để soi dẫn cho chúng ta trong cuộc hành tŕnh của chúng ta tiến đến ḥa b́nh, niềm tin của người Hồi Giáo cống hiến cho chúng ta những dấu hiệu mà tôi sẽ vắn tắt tŕnh bày cho quí vị:

Thứ nhất,

Thiên Chúa đă dựng nên tất cả mọi con người từ một người cha và một người mẹ duy nhất. Như Thiên Chúa đă phán trong Sách Thánh: “Ôi con người! Hăy kính sợ Chúa của các người, Đấng đă dựng nên các người từ một hữu thể duy nhất và rồi từ hữu thể được tạo dựng này Ngài đă tạo dựng nên đồng bạn của nó và làm cho hai con người này truyền lan ra nhiều con người nam nữ. Hăy kính sợ Thiên Chúa! Các người đ̣i hỏi các thứ quyền lợi hỗ tương và hăy nhớ đến ḷng dạ đă cưu mang các người. Thiên Chúa luôn canh chừng các người” (Surah 4, Women, 1).

Thứ hai,

Tất cả mọi tôn giáo độc thần được Thiên Chúa mạc khải cho các vị tiên tri khả kính của Ngài đều giống nhau ở hai điểm chính yếu, đó là

– Thành tâm tôn thờ Đấng Độc Nhất và là Đấng Duy Nhất, như Thiên Chúa đă phán: “Cũng một thứ tôn giáo mà Ngài đă thiết lập cho các người như tôn giáo Ngài đă truyền cho Noe, thứ tôn giáo chúng ta đă mạc khải cho ngươi (Mohammed), và là thứ tôn giáo chúng ta đă truyền cho Abraham, Moisen và Giêsu, tức là các người phải kiên tâm giữ đạo và đừng phân rẽ nơi đạo giáo: với những kẻ tôn thờ những thứ không phải là Thiên Chúa th́ con đường mà các người kêu gọi họ tới kể là khó khăn. Thiên Chúa tuyển chọn và kêu gọi theo thứ tôn giáo này những ai Ngài muốn và dẫn về với Ngài những ai hướng về Ngài mà thôi” (Surah 42, Consultation, 13).

– Tôn trọng các giá trị: Allah đă v́ hạnh phúc của nhân loại mà mạc khải tôn giáo độc thần. Tất cả mọi tôn giáo đều dạy các giá trị về luân thường đạo lư như thành thật, công lư, ḥa b́nh và thịnh vượng, cùng với việc trao đổi tất cả những việc làm thiện lợi do Allah truyền khiến, việc cộng tác nơi tất cả mọi dân nước trong vấn đề bồi dưỡng dịch vụ thiện nguyện và ḷng đạo hạnh, không vi phạm và hung hăng.

Thứ ba,

Thiên Chúa đă tạo dựng nên chúng ta ở đời này để chúng ta biết nhau, như Ngài đă phán: “Ôi nhân loại! Chúng ta đă dựng nên các người từ một người nam và một người nữ, và đă làm cho các người trở thành các dân tộc và bộ lạc, để các người biết nhau. Người cao trọng nhất trong các người trước nhan Thiên Chúa là kẻ trong các người chú trọng hết sức đến nhiệm vụ của ḿnh. Thiên Chúa là Đấng thông biết và thừa hiểu biết” (Surah 49, The Inner Apartments, 13).

Thứ bốn,

Tất cả mọi tôn giáo độc thần đều dạy rằng con người phải bênh vực lề luật và công lư, bằng cách phục hồi cho các sở chủ các quyền lợi của họ. Về trường hợp này, al-Azhar al-Sharif muốn tỏ ḷng ngưỡng mộ Ṭa Thánh Vatican về việc Ṭa Thánh thành tâm nâng đỡ nhân dân Palestine.

Thứ năm,

Ở Ai Cập, qua 14 thế kỷ, các người Hồi Giáo và Kitô Giáo đă từng sống với nhau như anh chị em dưới cùng một bầu trời, trên cùng một mảnh đất, b́nh đẳng trước pháp luật và về trách nhiệm. Hết mọi người hành đạo của ḿnh như Sách Thánh Qur’an dạy: “Không có vấn đề bắt ép nơi tôn giáo. Con đường ngay chính khác hẳn lầm lạc. Ai không tin vào các thứ ngẫu tượng mà tin vào Thiên Chúa th́ hết sức vững vàng không bao giờ bị đổ vỡ. Thiên Chúa là Đấng nghe biết và hiểu biết hết mọi sự” (Surah 2, The Cow, 256).

Al-Azhar và các vị chuyên gia Hồi Giáo trong ngày nguyện cầu này đây cùng nhau ư thức kêu gọi một thứ ḥa b́nh trực tiếp gắn liền với công lư.




Chứng Từ Ḥa B́nh (bằng tiếng Anh) của Do Thái Giáo: Tôn Sư Israel Singer

Chỉ có một ḿnh ngài, Gioan Phaolô II, mới có thể qui tụ chúng tôi lại đây thôi. Chỉ có một ḿnh Ngài mới có thể làm cho điều này xẩy ra, chúng tôi có thể giúp ngài làm điều ấy.

“Ḥa b́nh th́ cao cả, như tên của Thiên Chúa được gọi là Ḥa B́nh”.

Lịch sử đă cho chúng ta thấy rằng trong khi các vị lănh đạo tôn giáo trên thế giới luôn luôn nói về ḥa b́nh, cũng như trong khi thành phần giảng thuyết của họ đă thuyết không biết bao nhiêu là bài giảng về ḥa b́nh là mục đích tối hậu của họ, th́ thực tế cụ thể là các tôn giáo đă trở thành những lư do gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc và đẫm máu. Rất nhiều cuộc chiến tranh xẩy ra ở Âu Châu và Á Châu giữa những tôn giáo lớn, những trận chiến nổi lên suốt gịng lịch sử giữa những giáo phái khác nhau trong cùng những tôn giáo, đă được tất cả các học sinh về sử kư và tôn giáo thấu đáo. Cho tới ngày hôm nay đây, con người tiếp tục đánh nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan, đánh nhau ở Kashmir và Pakistan, và sát hại nhau ở Trung Đông.

Dĩ nhiên tất cả chúng ta quá rơ về cách thức mà vào ngày 11 tháng 9 năm ngoái những kẻ điên khùng đă tác hành nhân danh tôn giáo để lao 3 chiếc máy bay vào hai ṭa nhà Trung Tâm Thương Vụ Quốc Tế và Ngũ Giác Đài, sát hại hàng ngàn người trong ṿng mấy phút, do đó gây ra cuộc xung đột quân sự quốc tế đầu tiên của thế kỷ 21.

Người Do Thái chúng tôi nói thẳng là các truyền thống tôn giáo của chúng tôi không bao gồm vai tṛ chính yếu đối với quan niệm về một thứ chiến tranh tôn giáo. Thế nhưng, chúng tôi cũng không ngu dại ǵ, ở vào những thời điểm khác nhau trong quá khứ đẫm máu và thê thảm khủng khiếp của ḿnh, chúng tôi đă tự vệ và chiến đấu chống lại kẻ thù khi cần thiết. Và khi chiến đấu, chúng tôi cẩn thận đọc những lời Thánh Kinh của ḿnh không phải để biện minh cho chiến tranh mà là t́m nền tảng tôn giáo cho hành động của ḿnh. Thánh Kinh đầy những mệnh lệnh của Thiên Chúa ban bố cho dân Do Thái trong việc chiến đấu chống lại kẻ thù của họ khi cần thiết. Truyền thống của chúng tôi có quan niệm “lo tehayyun kol neshamah” về những cuộc chiến tranh chống lại những nhóm đặc biệt cần phải chiến đấu một cách tàn bạo không nương tay. Đề tài này được âm dội mănh liệt nhất theo cái mệnh lệnh hiện hành của tôn giáo “mah eni meheh et zakar ‘amalek’”, mệnh lệnh gây ra một cuộc chiến tranh tối hậu chống lại một sự dữ tối hậu được tiêu biểu nơi dân Amalek, một chiến tranh không được bắt một tù nhân nào, mà phải giết chết hết tất cả.

Tuy nhiên, chiến tranh về quân sự không phải là cốt lơi của Do Thái Giáo. Thánh Kinh Do Thái, Luật Truyền Khẩu của chúng tôi, Bộ Tổng Luận Lề Luật và Giáo Huấn của chúng tôi, bộ tôn sư dẫn giải của chúng tôi và các bản văn tôn sư của chúng tôi, tất cả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ḥa b́nh, cả nơi giữa chúng tôi với nhau cũng như với các cận nhân của chúng tôi. Những người Do Thái chúng tôi dấn thân cho một thứ ư hệ, cho một thứ tôn giáo và cho một thứ triết lư qui về những tư tưởng ḥa b́nh, nhân ái và huynh đệ, là những ǵ quen thuộc với các tôn giáo trên thế giới, nhất là với Kitô Giáo, một tôn giáo đă chấp nhận và thích ứng với rất nhiều tư tưởng về tôn giáo của người Do Thái. Chúng tôi đă được các sách thánh Do Thái dạy bảo, cũng như các người Kitô hữu được Tân Ước dạy bảo, trong việc cầm hăm các thứ bất măn đối với những ai làm tổn thương đến chúng tôi, cũng như luôn luôn t́m cách ḥa giải và t́nh yêu thương huynh đệ. Ngay cả khi chúng tôi được sai đi gây chiến chống lại quân thù của ḿnh, chúng tôi , chúng tôi được lệnh Thiên Chúa trước hết cống hiến cho họ cơ hội đầu hàng một cách ôn ḥa, chỉ khi nào cái cống hiến đó không được chấp nhận chúng tôi mới được phép cấm khí giới lên chống lại họ. Ngoài ra, các vị tiên tri của chúng tôi đă nêu lên nhiều lần cho chúng tôi thấy một thị kiến về ngày cùng tháng tận khi mà gươm giáo được đúc thành cầy và tất cả mọi dân tộc sẽ sống trong an b́nh.

Thế nên chiến tranh không phải là văn hóa của chúng tôi, nó không phải là hoạt động của chúng tôi, nó không phải là sự mệnh của chúng tôi là những người Do Thái. Nó thật sự không phải là công việc của các tôn giáo khác trên thế giới nữa. Không được làm phân tán đi cuộc nói chuyện về ḥa b́nh nhân danh tôn giáo – nó được căn cứ vào thực tại của tất cả mọi lư tưởng của tôn giáo chúng ta, và nó là mục đích tối hậu mà tất cả chúng ta đều khát vọng. Chúng ta phải loại trừ đi những thứ méo mó về giáo huấn tôn giáo đă được sử dụng trong quá khứ, tôn giáo truyền khiến không được sử dụng bạo lực chống lại các phần tử thuộc tôn giáo khác hay thuộc các giáo phái khác.

Chúng ta phải nhớ rằng không có một tôn giáo nào khuyên dạy chúng ta sát hại một cách bất phân, và những ai được dạy khác đi đă thực hiện như thế, bằng việc cướp đoạt tôn giáo và bóp méo các tôn giáo được họ nhân danh nói. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă sửa lại những lạm dụng mà theo lịch sử đă được dùng để biện minh cho bạo lực để tấn công những người không phải là Kitô hữu.

Chỉ bằng việc nghiêm cẩn đối thoại và chân thành dấn thân cụ thể hoạt động cho ḥa b́nh nơi những nhà lănh đạo các tôn giáo chính, bằng những hy sinh cho ḥa b́nh, hơn là chỉ bằng những lời ban bố, chúng ta mới bắt đầu thay đổi được t́nh trạng của nhân loại hiện nay. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bản thân đă đóng một vai tṛ theo kiểu cách này bằng những việc Ngài nỗ lực ḥa giải với Do Thái Giáo, và đă làm thay đổi lịch sử giữa những người Kitô hữu và Do Thái Giáo. Đây thực sự có thể là một mẫu gương cho tất cả chúng ta theo, con đường của những người lữ hành đi t́m kiếm ḥa b́nh.

“Về vấn đề cầu nguyện Cuốn Midrash đă nói: những lời chúc tụng vẫn chưa đủ, trừ phi chúng chất chứa chữ H̉A B̀NH” (Bamidbar Raba).

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Tuần San L’Osservatore Romano, 30/1/2002, trang 8 và 9)