NỖ LỰc ĐẠI KẾT
2003
Một người Nga thách thức Chính Thống Nga dám ḥa giải với Giáo Hội Công Giáo Rôma
Alexander Soloviev, thay v́ chú ư tới những điều khác nhau, đă nhấn mạnh tới đức tin chung của cả hai Giáo Hội: “Những ǵ thánh hảo và linh thánh đối với chúng ta cũng là những ǵ thánh thiện và linh thánh đối với họ”. Soloviev đă không thấy được hai Giáo Hội này hiệp nhất với nhau khi ông c̣n sống (1853-1900), nhưng những nỗ lực của ông không phải là không được lưu tâm. Đức Gioan Phaolô II gần đây đă khen ông như là “một vị tiên phong và là mẫu gương đối thoại cho Kitô hữu Đông Tây”. Cha Ray Ryland ở Steubenville, Ohio, một chuyên gia về Soloviev, đă chia sẻ với màn điện toán Zenit về cách thức con người Nga tiên phong này đă kêu gọi các người muốn thiết lập vương quốc của Thiên Chúa trên trần gian này. Vị linh mục này là giáo sư phụ tá dạy thần học ở Đại Học Phanxicô ở Steubenville, gần đây mới hiệu chính một ấn bản của tác phẩm Soloviev viết, cuốn “Giáo Hội Nga và Vai Tṛ Giáo Hoàng”.
Vấn Vladimir Soloviev là ai và tại sao ngày nay ông được chú ư tới?
Đáp Vladimir Soloviev là một triết gia người Nga, một tư tưởng gia về chính trị, một thần học gia, một b́nh luận gia văn chương, một thi sĩ và là một nhà thần bí. Trí khôn của ông bao gồm một cách bao rộng trong số các triết thuyết Tây phương và thậm chí cả Đông phương, không phải là chiết trung mà là trích xuất ra từ nhiều trường phái tư tưởng khác nhau cái sự thật được chất chứa trong đó.
Thần học gia Hans Urs von Balthasar đă nhận thấy nơi Soloviev “cái khả năng về kỹ thuật hội nhập tất cả mọi sự thật bán phần vào một nhăn quan duy nhất”. Thần học gia Von Balthasar đă liệt kê Soloviev vào loại đứng sau Thánh Tôma Aquinas với vai tṛ là “nhà nghệ sĩ đệ nhất xây dựng trật tự và tổ chức về lịch sử tư tưởng”.
ĐGH Gioan Phaolô II đă liệt Soloviev trong bức thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” năm 1998 của Ngài vào hạng các triết gia Kitô giáo thượng thặng. Mấy năm sau, ĐTC đă tuyên bố là công việc “ngôn sứ” của Soloviev đă làm cho ông ở thời đại chúng ta trở thành một trong những đại “chứng nhân của đức tin và là những nhà tư tưởng Kitô giáo lừng danh”.
Gần đây diễn ra một cuộc qui tụ quốc tế các vị học giả cả Đông lẫn Tây ở Ukraine để bàn về tác phẩm “Nga Sô và Giáo Hội Hoàn Vũ” của Soloviev. Vị tác giả nổi tiếng này bao giờ cũng nói đến Giáo Hội Công Giáo Rôma là “Giáo Hội hoàn vũ”. Phần thứ nhất của tác phẩm này, phần đặc biệt nói đến mối liên hệ của Giáo Hội Nga với Giáo Hội Công Giáo Rôma, đă được phổ biến dưới nhan đề “Giáo Hội Nga và Vai Tṛ Giáo Hoàng”.
Sự nghiệp nổi nang của Soloviev với vai tṛ là một vị giáo sư đại học bị chấm dứt tức khắc khi ông công khai xin triều đại czar tha cho một kẻ cho là sát nhân. Trong thời gian và sau thời gian theo đuổi nghề hàn lâm, Soloviev đă xuất bản nhiều tác phẩm về luận lư, siêu h́nh, triết lư, thần học và triết thần học, một khoa phối hợp triết lư và thần học.
Suốt cuộc đời thành nhân của ḿnh, ông đă sống đời b́nh dị của ḍng Phanxicô. Ông hầu như bao giờ cũng không có tiền bạc ǵ cả, vị ông có thói quen móc hết túi cho bất cứ ai xin ông giúp đỡ. Khi ông không có tiền, ông cho cả chiếc áo khoác của ông khi có ai nghèo nàn đến xin ông. Cái chết trẻ của ông chắc chắn đă bị gây ra bởi ông đă làm việc quá sức cũng như bởi những ảnh hưởng về thể lư nơi cuộc đời nhiệm nhặt bỏ ḿnh của ông.
Trong hai thập niên cuối đời của ḿnh, Soloviev đă hết sức chú trọng tới việc hiệp nhất Kitô giáo. Năm 1886 ông đă đệ tŕnh cho ĐTGM Công Giáo người Croatian bản dự thảo của ông về việc mang Giáo Hội Chính Thống Nga trở về hiệp thông với Rôma. Vị TGM này đă sắp xếp để được triều kiến Đức Giáo Hoàng Lêô XIII vào mùa xuân nằm 1888. Trong cuộc triều kiến này, ĐGH đă ban cho Soloviev phép lành ṭa thành v́ ông nỗ lực ḥa giải Giáo Hội Nga cho mối hiệp thông Công Giáo.
Năm 1896, Soloviev đă tuyên xưng đức tin trước một vị linh mục Công Giáo Đông Phương, và đă được tiếp nhận vào mối hiệp thông Công Giáo. Ông đă không coi việc này là vấn đề từ bỏ các thứ liên hệ của ông với Giáo Hội Nga mà là làm trọn những mối liên hệ này. Có một nguồn tin vô bằng cớ nói rằng ông đă lănh nhận các phép cuối cùng bởi một vị linh mục Chính Thống Nga, v́ không hy vọng t́m được một vị linh mục Công Giáo bấy giờ. Thế nhưng, cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời ḿnh, Soloviev vẫn nh́n nhận Đức Giáo Hoàng là “vị thẩm phán tối cao trong các vấn đề về tôn giáo”.
Vấn Làm sao Soloviev, với tư cách là một Kitô hữu Chính Thống giáo, hiểu được giáo huấn vô ngộ của quyền giáo hoàng là một tặng ân vĩnh viễn Chúa Kitô ban cho Giáo Hội của Người?
Đáp Soloviev đă phủ nhận những nỗ lực của các nhà hộ giáo Nga cũng như của tất cả mọi hộ giáo gia không phải là Công Giáo cho rằng quyền bính chính yếu được ban cho Thánh Phêrô tương đương với quyền cầm buộc và cởi mở được ban cho các tông đồ. Theo ông, quyền cầm buộc và cởi mở được ban cho các tông đồ chỉ liên quan đến từng trường hợp riêng, như những vấn đề riêng tư về lương tâm. Ngược lại, quyền bính chính yếu được ban cho Phêrô liên quan đến toàn thể Giáo Hội. Ông nhấn mạnh là Chúa Kitô trao đặt tối thượng quyền và sự vô ngộ nơi Thánh Phêrô và các vị thừa kế ngài là để bảo toàn mối hiệp nhất của Giáo Hội trong chân lư. Ông đă hùng biện thế này: Nếu Giáo Hội Nga có thể công bố sự thật không cần đến Phêrô và các vị thừa kế của ngài th́ người ta làm sao có thể cắt nghĩa được “cái thinh lặng đáng kể của hàng giáo phẩm Đông phương” từ khi xẩy ra ly giáo? Soloviev không ngần ngại sử dụng chữ “ly giáo” để ám chỉ việc Giáo Hội Nga tách khỏi Rôma.
Vấn Tại sao Soloviev tin rằng việc hiệp nhất với Rôma là đường lối duy nhất để các Giáo Hội Đông Phương tách biệt có thể thực sự trở thành Công Giáo?
Đáp Soloviev không ngừng lập đi lập lại có lần ông đă vạch ra rằng Giáo Hội Nga loại bỏ quyền bính Rôma th́ khó ḷng tránh được t́nh trạng bị chính quyền kiểm soát. Ông nói đó là số phận của tất cả mọi giáo hội thuần túy quốc gia. Đường lối duy nhất một giáo hội quốc gia, như Giáo Hội Nga chẳng hạn, có thể tránh được lệ thuộc vào quyền bính của quốc gia đó là có một trung tâm hiệp nhất ở ngoài nước. Trung tâm hiệp nhất siêu quốc gia này chỉ có thể là Rôma mà thôi. Tách khỏi Rôma, quan niệm của Giáo Hội Nga về một giáo hội hoàn vũ chỉ là một quan niệm thuần lư. Soloviev đă nói: “Các phần thể của nó có thực, nhưng cái toàn khối chẳng là ǵ ngoài một thứ trừu tượng chủ quan”. Chính Thống Đông Phương chỉ là một khối liên hiệp lỏng lẻo thuộc những truyền thống như thể thiên kiến. Ở Đông phương, theo Soloviev, chỉ có các giáo hội quốc gia bị cô lập mà thôi. Chỉ khi nào các giáo hội này trở về với trung tâm hiệp nhất được Thiên Chúa ấn định họ mới thực sự là công giáo.
Vấn Soloviev đă dự tính ra sao về mối liên hệ xứng hợp giữa Đức Giáo Hoàng và các vị thượng phụ Đông phương?
Đáp Ở những thế kỷ trước khi xẩy ra t́nh trạng phân rẽ giữa Đông và Tây th́ các vị giáo hoàng liên lỉ nh́n nhận các vị thượng phụ có thẩm quyền riêng của các vị. Tuy nhiên, Soloviev đă nhắc nhở độc giả của ḿnh là trong các thế kỷ đầu những người Đông Phương không ngớt tái diễn những lạc thuyết mà họ không thể giải quyết nổi. Những bè rối đă liên lỉ trao cho hoàng đế quyền hành nhân danh họ. Các vị thượng phụ chỉ thành công trong việc chiến đấu với các bè rối khi các vị kêu gọi Đức Giáo Hoàng giải quyết cho. Như thế là các vị rơ ràng là nh́n nhận thẩm quyền tối cao của Ngài.
Vấn Soloviev có nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo Rôma cần phải truyền bá phúc âm hóa ở Nga hay chăng?
Đáp Soloviev không minh nhiên bàn đến vấn đề này trong các văn kiện của ḿnh. Tuy nhiên, người ta có thể nghĩ rằng ông ta không chống lại việc Giáo Hội Công Giáo nỗ lực truyền bá phúc âm hóa ở Nga. Ông đă nh́n nhận tầm quan trọng của các giáo hội Công Giáo Đông Phương bằng việc tự ḿnh t́m kiếm một trong những vị linh mục của Giáo Hội này để thực hiện tác động suy phục giáo huấn và thẩm quyền của Rôma
Vấn Làm cách nào Soloviev giải quyết các vấn đề đặc biệt thách đố mối liên hệ giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo ngày nay?
Đáp Soloviev nhấn mạnh là về vấn đề liên hệ của ḿnh với Rôma, những nhà hộ giáo bài Công Giáo Đông phương tỏ ra hoàn toàn tiêu cực. Ông nói với họ rằng tôn giáo của quí vị là ở chỗ chối bỏ “filioque” (“bởi Chúa Con mà ra”), chối bỏ việc Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội (mặc dù có xác nhận tín lư này bằng phụng vụ Đông Phương), cũng như chối bỏ phạm vi quyền hạn và thẩm quyền phổ quát của vị giám mục Rôma.
Ông nói rằng chúng ta hăy đối diện với nó: “Chính điểm cuối cùng làm quí vị quan tâm nhiều nhất. Những điểm khác, quí vị quá rơ, chỉ là những cái cớ; Vị Giáo Tông Thượng Chủ mới là con ma thật sự của quí vị”. Soloviev đồng ư với các thần học gia Chính Thống Đông phương là thành phần thừa nhận rằng vấn đề sâu xa giữa họ và Rôma là vấn đề quyền bính.
Ông thách thức những người Đông phương đối thủ của vai tṛ giáo hoàng dám đưa ra một nguyên tắc quyền bính tích cực thay thế nào đó cho Giáo Hội. Ông chế nhạo việc Đông phương khư khư với chính sách hội đồng giáo trị như là một h́nh thức xứng hợp của cơ cấu Giáo Hội. Những công đồng chung đối với họ làm nên thẩm quyền tối cao về các vấn đề tín lư. Thế nhưng, ông nói, Đông phương đă chưa từng triệu tập một công đồng chung nào và cho đến ngày nay vẫn không thể triệu tập một công đồng chung như thế.
Soloviev có thể c̣n thêm rằng không có một công đồng chung nào đă ra chỉ thị là các công đồng chung có một thẩm quyền tối cao trong Giáo Hội. Thật vậy, ông nói, nếu cơ cấu xứng hợp của Giáo Hội là đường lối hội đồng giáo trị th́ Chính Thống Đông phương không có “một hiến pháp giáo hội thực sự hay một chính quyền giáo hội thông thường”, v́ họ không thể triệu tập nổi một công đồng chung.
Soloviev nói rằng đường lối hội đồng giáo trị của Chính Thống Đông phương không trọn vẹn. Chúa Giêsu Kitô đă không thành lập Giáo Hội của Người trên hội đồng các vị tông đồ, nhưng Người đă thiết lập vai tṛ giáo hoàng để giúp cho cơ cấu hội đồng giáo trị này hoạt động một cách xứng hợp.
Bằng nhiều cách khác nhau, Soloviev thách thức các Kitô hữu Chính Thống Nga đồng đạo của ông hăy làm ḥa với Rôma. Ông nhấn mạnh đến sự kiện là các giáo hội Chính Thống cũng tuân giữ rất nhiều điều đức tin giống như Giáo Hội Công Giáo: “Những ǵ thánh hảo và linh thánh đối với chúng ta (Chính Thống Nga) cũng là những ǵ thánh thiện và linh thánh đối với họ (Công Giáo)”.Không được xẩy ra chia rẽ v́ ḷng đạo của các giáo hội Chính Thống thiên về chiêm niệm, c̣n ḷng đạo của Giáo Hội Cong Giáo lại năng động hơn. Sự kiện những thứ ḷng đạo này bổ túc cho nhau phải là động lực đưa đến chỗ hiệp nhất chứ không phải chia rẽ. Nếu các giáo hội Đông phương tái hiệp nhất với Rôma th́ họ sẽ không phải hy sinh bất cứ sự ǵ nơi gia sản chuyên biệt của họ cả.
Soloviev nói với những ai, như ông, hướng vọng thiết lập vương quốc của Thiên Chúa trên thế gian này. Những người này cũng phải hướng vọng vai tṛ giáo hoàng và Giáo Hội hoàn vũ là phương tiện được Thiên Chúa ấn định để Vương Quốc Ngài trị đến trên thế gian.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày 19/11/2003
Cuộc đời dấn thân cho mối hiệp nhất Đông Tây Kitô Giáo – Hồng Y linh mục Thomas Spidlik
Cha Thomas Spidlik, ḍng Tên, thuộc Cộng Ḥa Czech, được ĐTC Gioan Phaolô II phong tước hồng y ngày 21/10/2003, trong số 32 vị, trong đó có 4 vị linh mục mà ngài là một. Phải chăng v́ v́ linh mục này đă nỗ lực trong việc dấn thân cho mối hiệp nhất Đông Tây Kitô Giáo? Là một giáo sư ở Viện Ṭa Thánh Về Đông Phương, ĐHY đă sống và làm việc tại Trung Tâm Aletti ở Rôma là trung tâm phát động việc giao tiếp riêng tư với những vị học giả ở Đông Âu. Trong thập niên 1990, ĐHY đă thi hành những sứ vụ quan trọng ở Nga, bao gồm việc gặp gỡ Tổng Thống Putin, cũng như gặp gỡ cả Đức Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexy II vào năm 1992. Vào năm 1995, ngài đă giảng pḥng Mùa Chay cho ĐTC và giáo triều Rôma và đă xin ĐTC viết thông điệp “Ut Unum Sint” về vấn đề đại kết.
Vấn Thưa ĐHY, ngài được sinh ra ở Moravia, hiện nay là Cộng Ḥa Czech, nơi nhị thánh Cyrilô và Methodiô đă thi hành sứ vụ của các vị nơi sắc dân Slavs, vào thời điểm Giáo Hội chưa phân rẽ. Phải chăng tính cách địa dư và linh thiêng gần gũi với nhị vị tông đồ của sắc dân Slavs này đă ảnh hưởng tới ơn gọi linh mục của ngài cũng như sứ vụ của ngài trong việc trở thành mội giới giữa văn hóa Tây và Đông?
Đáp Khi tôi nhận được thư của ĐTC cho biết tôi trở thành một vị hồng y tôi cảm thấy hết sức biết ơn Ngài, tôi xin nói hết sức thành thực là, đối với tôi, về phương diện cá nhân, điều này không quan trọng lắm ở vào tuổi của tôi, tôi không c̣n điều hành giáo phận. Tôi lớn tuổi hơn ĐTC một chút. Thế nhưng, tôi đă cám ơn Ngài rất nhiều v́ qua cử chỉ này, Giáo Hội muốn tỏ ra nh́n nhận cái giá trị của linh đạo Đông Phương là những ǵ tôi đă liên hệ một thời gian lâu dài. Đây cũng là cách cử chỉ này đă được Đông Phương cảm nhận. Tôi đă nhận được nhiều bức thư chúc mừng từ thành phần Chính Thống, những vị rất quen biết tôi và là những vị tôi đă có nhiều liên hệ. Họ hiểu rằng, bằng cử chỉ ấy, Giáo Hội Rôma muốn nh́n nhận giá trị linh đạo Đông Phương là những ǵ cũng giúp vào mối hiệp nhất Âu Châu. Tôi đă từng nói với vị Bộ Trưởng Văn Hóa Nga là khi nhị thánh Cyrilô và Methodiô đến Rôma, các vị đă nhận được nhiều đặc ân chưa từng ban cho ai trước các vị, v́ niềm hy vọng là những vị thuộc sắc dân Slavs này có thể là chiếc cầu nối giữa một Âu Chấu gần bị phân rẽ bấy giờ. Tiếc thay, vào thế kỷ thứ 9, Âu Châu đă bị phân chia làm cho chính sắc dân Slavs phân ly giữa thành phần Kitô giáo theo lễ nghi Latinh và Byzantine. Ngày nay, v́ Tây và Đông đă quá cách biệt mà toàn thể Âu Châu phải trở thành một chiếc cầu nối. Âu Châu, một châu lục đang t́m cách hiệp nhất về kinh tế và chính trị, cũng cần phải nghĩ cả về vấn đề hiệp nhất thiêng liêng nữa. Ở điểm này th́ linh đạo Đông Phương có một tầm vóc quan trọng. Sự kiện này đă được Giáo Hội nh́n nhận.
Vấn Mặc dù được đào luyện bởi ḍng Tên, đời sống và hoạt động của ngài bao giờ cũng hướng về Đông Phương.
Đáp Tôi đă đến Ḥa Lan để học thần học, nhưng bấy giờ xẩy ra nạn Cộng Sản nên tôi không thể trở về Czechoslovakia, mà phải đến Rôma. Khi tôi hoàn tất việc học của tôi về tu đức ở Viện Ṭa Thánh Về Đông Phương, vị tiền nhiệm của tôi là Cha Hoser, vị tạo nên bề thế cho phân khoa linh đạo Đông Phương, đă chọn tôi kế vị ngài. Trong thời gian ở đó, tôi đă dồn lực thực hiện rất nhiều việc nghiên cứu; nhiều tài liệu nghiên cứu của tôi đă được chuyển dịch sang các thứ tiếng Âu Châu khác nhau. Chẳng hạn cách đây ít lâu một cuốn sách nhỏ của tôi đă được phát hành ở Baghdad, sau khi đă có phép của Tổng Thống Saddam Hussein. Chính Thống giáo cũng đă chuyển dịch tất cả mọi sách vở của tôi. Họ sử dụng những sách vở của tôi cho các trường thần học. Tôi cũng đă nhận được tước hiệu "honoris causa" (hết sức đáng kính) từ một số giáo sư Chính Thống ở các xứ sở Đông phương. Mấy năm trước đây tôi đă nói chuyện với Đức Alexy II, giáo chủ Moscow, hơn một tiếng đồng hồ. Chúng tôi chỉ nói về tu đức mà thôi, chứ không hề nói ǵ về chính trị và các thứ ngoại giao khác.
Vấn Thưa ĐHY, ngài đă viết 140 cuốn sách và trên 600 bài báo. Cuốn sách nào của ngài là cuốn quan trọng nhất và nổi tiếng nhất?
Đáp Cuốn sách về “Linh Đạo Đông Phương” chẳng hạn, đă được dịch sang tiếng Nga, và sau 3 tuần, đă bán hết sạch 3 ngàn cuốn. Cuốn sách của tôi về “Tư Tưởng về Người Nga” viết cho những người Tây Phương, v́ chính những người Nga coi là quá tân tiến những tác giả tôi đề cập đến trong cuốn sách này, như Bulgakov và Florenski. Tôi nghe nói Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand có cuốn sách này của tôi được dịch sang Pháp văn (“L’Idee Russe”) khi ông bị bệnh nặng nằm trong bệnh viện. Tôi hy vọng là ông ấy không chết v́ cuốn sách này. Đức Giáo Hoàng này cũng đọc cuốn ấy nữa.
Vấn Vào năm 1995 ĐHY đă được chọn để giảng pḥng cho ĐTC và giào triều Rôma.
Đáp Phải, ĐTC đă cám ơn tôi v́ tôi đă nói về linh đạo Đông Phương trong tuần pḥng này. Sau tuần pḥng, ĐGH nẩy ra tư tưởng thực hiện một nguyện đường mới ở Vatican để sử dụng cho tuần pḥng hằng năm, v́ Nguyện Đường Sistine lúc nào cũng có khách du lịch thăm viếng. Nguyện đường mới này sau được gọi là nguyện đường Mẹ Chúa Cứu Thế phải là nơi “thở hít bằng hai buồng phổi”. Tư tưởng này được một thi sĩ Nga nổi tiếng là Viaceslav Ivanov đặt thành lời, khi ông gia nhập Giáo Hội Công Giáo với câu nói: “Tôi vẫn không thôi là người Chính Thống giáo. Tôi chỉ muốn hít thở bằng hai buồng phổi mà thôi”. Thế rồi ngôi nguyện đường này được trang trí bởi người anh em ḍng Tên họa sĩ của tôi là Marco Rupnik và nghệ sĩ Chính Thống Nga Alexander Lornooukhov, với một phối trí bằng những vụn đá tiêu biểu cho cuộc gặp gỡ giữa hai truyền thống nghệ thuật, một kiểu tân thời bán trừu tượng và một thứ hội họa truyền thồng của ảnh tượng Nga Sô.
Vấn Trong tuần pḥng này, ngài cũng đă đề cập đến cuốn sách của Vladimor Soloviev về “Tên Ngụy Kitô”. Phải chăng ngài muốn ám chỉ về tính cách hợp thời của cuốn sách này trong thời đại của chúng ta đây?
Đáp Soloviev thật sự là một con người rất tinh sáng. Ông đă có một số quan điểm không thể nào tin được, nhưng tất cả cần phải được hiểu theo nghĩa biểu tượng. Những ǵ tôi nghĩ rất ư là hợp thời nơi triết lư của Soloviev đó là khi ông nói rằng tất cả văn hóa được chia ra: Triết Lư, các khoa học tự nhiên, khoa thần bí không c̣n thông đạt với nhau nữa. Mối hiệp nhất này không thể gây tác hiệu ǵ nơi các khoa học này nữa; chỉ có những cuốn bách khoa tự điển và phương tiện Điện Toán Toàn Cầu mới tạo được mà thôi. Mối hiệp nhất này được t́m thấy ở đâu? Soloviev đă thấy được câu trả lời nơi Dostoyevsky là người đă nói: Vẻ đẹp sẽ cứu thế giới. Mối hiệp nhất có thể được thấy nơi nghệ thuật. Thế nên, ở Trung Tâm Aletti này chúng tôi mới nuôi dưỡng nghệ thuật Kitô giáo, chứ không phải khoa học Kitô giáo, v́ đức tin được diễn tả nơi những biểu hiệu hay hơn nơi những tư tưởng trừu tượng.
Vấn Người ta nói rằng Soloviev đă trở lại Công giáo trước khi chết. Điều này có thật hay chăng? V́ theo Chính Thống giáo th́ không đúng.
Đáp Như Ivanov, cả ông này nữa cũng không muốn thôi là người Chính Thống. Ông chỉ nh́n nhận quyền bính Đức Giáo Hoàng. C̣n thiếu ǵ nữa để làm một người Công Giáo hay chăng? Điều ấy đă đủ rồi. Một trường hợp khác là có lần tôi đi thăm một người bạn thân của tôi người Romania, đó là đại thần học gia Chính Thống Staniloe, trước khi ông qua đời. Ông bảo tôi rằng ông không thể nào hiểu được sự vô ngộ của Đức Giáo Hoàng. Bấy giờ tôi trả lời là ông và tôi đều vô ngộ. Ông ta lạ lùng về câu trả lời của tôi nên tôi đă cắt nghĩa thế này: Khi tôi đọc trong Thánh Lễ: “Này là Ḿnh Ta…, này là Máu Ta…” hay khi tôi nói: “Tôi tha tội cho anh chị em, th́ những lời này là những lời vô ngộ và điều này cũng là sự vô ngộ của Giáo Hoàng nữa, ngoài ra chẳng có ǵ khác nữa. Bấy giờ Staniloe nói: Nếu sự vô ngộ được hiểu theo chiều hướng này th́ đễ hiểu hơn. Không phải chỉ có ĐGH vô ngộ khi Ngài nhân danh Giáo Hội mà nói song cả trường hợp Người Mẹ cố gắng nói về Thiên Chúa cho con cái của ḿnh nữa. Vị linh mục vô ngộ nơi các phép bí tích, và ĐGH vô ngộ khi Ngài nói nhân danh đại bí tích là toàn thể Giáo Hội.
Vấn Cũng trong năm 1995, thông điệp “Ut Unum Sint” đă được ban bố, trong đó, ĐGH nói nhiều về nhu cầu cần phải tái diễn tiến giữa các Giáo Hội, nhất là đến việc ḥa giải với Giáo Hội Chính Thống. Những bài giảng pḥng của ngài chắc đă gây nhiều ảnh hưởng đến bức thông điệp sắp được ban bố ấy.
Đáp Tôi không biết đâu, thế nhưng sau tuần pḥng này tôi đă viết một bài được phổ biến trên tờ L’Osservatore Romano ấn bản Balan nói rằng ĐGH cũng là dân Slav hiểu được khía cạnh cá thể rất nhiều, tức là, đời sống của một con người đi trước các thứ học thuyết. Đó là khía cạnh nền tảng của linh đạo Slav. Tôi bao giờ cũng nói rằng: Những người Hy Lạp nhận biết Thiên Chúa qua Thiên Nhiên. Đối với họ, vũ trụ bao la giống như một cái đồng hồ cần người làm đồng hồ. Những người Do Thái nhận biết vị Thiên Chúa của lịch sử v́ đối với họ Thiên Chúa là một vị dẫn dắt họ qua gịng lịch sử. Ngày nay, vấn đề là ở chỗ hết mọi người chú trọng tới cá nhân con người. Bởi thế, cấn phải biết Thiên Chúa bắt đầu từ chính con người, v́ con người là h́nh ảnh của Thiên Chúa và Thiên Chúa được nhận thấy nơi h́nh ảnh này. Đây là khía cạnh nhân loại học rất quan trọng ngày nay và là khía cạnh cũng được thấy nơi triết lư của vị Giáo Hoàng này.
Vấn Chúng ta có thể học được những ǵ nơi linh đạo phong phú của Đông Phương?
Đáp Đây không phải là vấn đề c̣n thiếu một cái ǵ đó đối với người Tây Phương chúng ta. Trái lại, vấn đề ở đây là có những đặc điểm khác nhau nơi hai truyền thống linh đạo. Có một số khía cạnh được nhấn mạnh hơn ở Tây Phương và có những khía cạnh khác ở Đông Phương. Chẳng hạn, theo cá nhân ḿnh, tôi rất khó chấp nhận linh đạo Trái Tim Chúa hay nói về trái tim con người. Đối với người Tây Phương chúng ta vấn đề bao giờ cũng quan trọng hơn ở chỗ để cho lư trí và ư muốn bộc phát; các thứ cảm giác h́nh như quá sơ sài đối với chúng ta. Chúng ta đă chê bai con tim. Thế nhưng, Thánh Kinh lại nói nhiều đến con tim; Thánh Linh ở trong tâm can con người. Bởi thế, 10 năm trước đây, cuốn sách đầu tiên của tôi, trong đó tôi đă nói về tầm quan trọng của con tim, đă gây ra lúng túng và khó khăn, v́ nó dường như gắn liền với chiều hướng t́nh cảm. Thế nhưng hiện nay cuốn sách này đă được chấp nhận một cách chung chung, và chẳng bao lâu nữa Văn Pḥng Báo Chí của Ṭa Thánh sẽ phát hành ấn bản bằng Ư ngữ. Cuốn sách này viết về một vị ẩn sĩ nổi tiếng người Nga là Theophane the Recluse, với một phụ đề chính thức là “Lời Cầu Nguyện của Con Tim”. Có lần tôi đă tham dự một hội nghị ở Crete với Chính Thống giáo, và tôi đă góp phần vào hội nghị này bằng bài nói về “việc cầu nguyện bằng con tim của Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Ignatiô Loyola”. Một người Chính Thống bạn tôi, một giáo sư ở Salonika, đă nói với tôi rằng tôi không được nói về vấn đề này v́ việc cầu nguyện bằng con tim là việc diễn đạt nguyện cầu theo kiểu Chính Thống giáo. Tuy nhiên, tôi đáp lại là nếu tôi chứng tỏ cho thấy việc cầu nguyện bằng con tim cũng có nơi cả truyền thống Tây phương nữa th́ ông có mua cho tôi một chai rượu không? Cuối cùng tôi đă thắng. Bởi thế, chúng ta cũng có cả kho tàng thiêng liêng này nữa, song việc sử dụng từ ngữ theo kỹ thuật của chúng ta đă trở thành quá lư lẽ, do đó chúng ta đă tạo nên những thứ thể loại quá cứng cỏi. Giờ đây là lúc cần trở về với con tim.
Vấn Thế nhưng, đó là cuộc tranh luận về thần học đă có từ thời trung cổ, khi mà những vị đan sĩ Núi Athos thực hành linh đạo Hesychasm tức linh đạo cầu nguyện bằng con tim, tranh căi với các thần học gia Tây Phương bị ảnh hưởng thần học Kinh Viện.
Đáp Đúng là thế, song các lập luận này cũng xẩy ra giữa các tu sĩ ḍng Phanxicô và Đaminh nữa. Những so sánh này giữa các linh đạo khác nhau đă góp phần vào việc xác định ư nghĩa của từ ngữ, song bấy giờ những lập luận này trở thành những lập luận vô bổ. Thay vào đó, cần phải t́m cách hiểu được theo ư nghĩa nào các thần học gia sử dụng một số từ ngữ, nếu ư nghĩa ấy không được sáng tỏ, th́ chúng ta chỉ có thể cứ bàn căi từ tối cho tới sáng.
Vấn Có lẽ đó cũng là vấn đề rắc rối về ngôn ngữ đă tạo nên những hiểu lầm này: Những người Hy Lạp không hiểu tiếng Latinh hay ngược lại cũng thế
Đáp Theo tôi th́ đây cũng là vấn đề của ngày hôm nay nữa. Các dân tộc lẫn lộn với nhau, các thứ tâm thức của họ cũng rất khác nhau. Nếu không biết cố gắng t́m hiểu những tâm thức khác nhau, th́ hiện tượng cuồng tín sẽ nổi lên. Hiện tượng cuống tín phát xuất từ sự kiện là tuyệt đối hiểu một từ ngữ nào đó song không nghĩ được cách thức những người khác hiểu từ ngữ đó. Chẳng hạn có lần tôi thấy người Việt Nam ở Hiệp Chủng Quốc, người đă bỏ Giáo Hội Công Giáo để đi theo một giáo phái v́ họ hiểu được lễ nghi ở giáo phái này khá hơn. Có lần tôi ở Congo và dạy một khóa về linh đạo Slav cho các chủng sinh ở Kinshasa, những người Phi Châu nói với tôi rằng phương pháp này họ dễ hiểu hơn là những tư tưởng trừu tượng về một thứ thần học Pháp quốc. Họ cảm thấy gần gũi với tâm thức của họ hơn. Thế nên, Kitô giáo được truyền đạt ở các xứ sở Phi Châu hay Á Châu cần phải cố gắng thấm nhuần tâm thức của họ.
Vấn Xin trở lại với Giáo Hội Chính Thống một lần nữa.
Đáp Hăy cẩn thận, tôi không thích phân biệt giữa người Chính Thống và Công Giáo. Tôi không bao giờ đến viếng thăm người Chính Thống mà đến thăm các bạn bè mà thôi. Những người bạn của tôi tiếp đón tôi nồng hậu. Tôi không thích những thứ phân loại này, những thứ tổng lược ấy, v́ hết mọi người đều khác nhau. Nếu chúng ta không phải là bạn hữu th́ làm sao chúng ta có thể bàn đến những đề tài này được đây? Cần phải làm bạn với nhau. Thiếu ḷng tin tưởng th́ không thể bàn đến vấn đề đức tin. Nó không phải là vấn đề kỹ thuật máy móc.
Vấn Thật vậy, hôm nay Đức Giáo Hoàng đă tiếp Tổng Thống Putin ở Vatican. Cách đây mấy hôm, Tổng Thống Putin đă nói ở trong một cuộc phỏng vấn với nhật báo II Corriere della Sera là sứ vụ của ông không phải là chú trọng nhiều đến việc mời ĐGH đến Nga mà là giúp cho hai Giáo Hội xích lại gần nhau hơn. Ngài nghĩ thế nào về sứ vụ này của Tổng Thống Putin?
Đáp Đây là việc làm của những chính trị gia, chứ không phải là việc của tôi. Có lần tôi được dẫn phu nhân Tổng Thống Putin cũng như phu nhân của Ngoại Trưởng Ivanov đến Nguyện Đường Redemptoris Mater, cắt nghĩa cho họ nghe về ư nghĩa liên quan đến nguyện đường này, th́ bà Ivanov nói với tôi rằng bà đă đọc cuốn sách của tôi về những nhà thần bí Nga bằng tiếng Pháp. Bấy giờ tôi tặng cho bà cuốn sách “L’Idee Russe” của tôi. Tôi không khinh thường chính trị, nhưng nó là một vấn đề cuối cùng cũng tạo nên được các mối liên hệ riêng tư.
Vấn Thế nhưng ĐGH này rất muốn được viếng thăm Nga trước khi Ngài qua đời.
Đáp Các tờ nhật báo nói như thế. Nhưng tại sao một vị Giáo Hoáng người Slav lại muốn gặp những người Slavs? Hết mọi người Kitô hữu đều muốn Kitô hữu hiệp nhất lại, và vị Giáo Hoàng này cũng muốn điều ấy. Tuy nhiên, nó xẩy ra thế nào th́ c̣n tùy ở các hoàn cảnh khác nữa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày 18/11/2003
ĐTC với Đại Hội của Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo về Tiến Bộ của Việc Đại Kết
Nhân dịp đại hội của Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo về đề tài “Linh Đạo Đại Kết”, ĐTC đă gửi bức thư đề ngày 3/11/2003 cho ĐHY Chủ Tịch của hội đồng này là Walter Kasper như sau:
“Sau 25 năm được chọn lên Ṭa Thánh Phêrô, Tôi tạ ơn Chúa v́ Tôi có thể nói rằng, bất chấp một số biến cố xẩy ra, những bước tiến quan trọng và đáng kể đă được thực hiện trên con đường đại kết hướng đến mục tiêu hiệp nhất Kitô giáo. Con đường đại kết chắc chắn không phải là dễ bước…. Mục tiêu của mối hiệp thông hữu h́nh trọn vẹn có những lúc đă tạo nên những hoàn cảnh và những phản ứng đau đớn nơi những ai muốn đẩy mạnh tiến tŕnh này bằng mọi giá, hay nơi những ai cảm thất nản chí trên con đường dài mà vẫn chưa được bắt đầu. Tuy nhiên, nơi học đường đại kết, chúng ta đang học sống bằng một đức tin khiêm tốn cái giai đoạn trung gian này, ư thức rằng nó tiếp tục là một giai đoạn không lui bước. Chúng ta muốn cùng nhau thắng vượt những khác biệt cũng như những khó khăn, chúng ta muốn cùng nhau nh́n nhận những thiếu sót và tŕ trệ trên con đường hiệp nhất, chúng ta muốn tái thiết lập ước mong ḥa giải ở nơi có thể bị đe dọa bởi sự khác biệt và nghi ngờ… Chỉ có một thứ linh đạo đại kết chặt chẽ được sống theo tinh thần đơn sơ dễ dạy với Chúa Kitô và hoàn toàn cởi mở trước những tác động của Thần Linh, mới giúp chúng ta sống bằng một nghị lực cần thiết giai đoạn trung gian này, một giai đoạn chúng ta cần phải chấp nhận cả tiến bộ và thách đố của chúng ta, ánh sáng và bóng tối diễn ra trên con đường đại kết”.
Về phần vị HY chủ tịch, hôm Thứ Hai, 3/11, trong phần mở đầu, đă đề cập đến khía cạnh tích cực và tiêu cực của nỗ lực đại kết như sau:
“Những căng thẳng giữa các Giáo Hội Chính Thống độc lập, hay những căng thẳng hiện nay nơi Giáo Hội Anh Giáo, nơi các cộng đồng theo truyền thống Cải Cách, cũng như nơi Giáo Hội Công Giáo, đang tác hại đến việc đối thoại. Việc thiếu hụt một thứ hiệp ước nội tại đang tạo nên chướng vật và có những lúc làm ngăn cản việc thỏa thuận để đạt tới một hiệp ước ngoại diện”. Vị chủ tịch nhận định thêm là việc thiếu hiệp nhất nội tại “dẫn đến t́nh trạng tê liệt vấn đề đại kết thậm chí làm cho nó trở thành bất lực”. ĐHY cho biết thêm: Một đàng th́ những đối đầu đang được thắng vượt, hay ít là chúng ta đang xích lại gần nhau, đàng khác lại xẩy ra những khác biệt mới”. Những khác biệt mới này, theo ĐHY, như Đài Phát Thanh Vatican trích lời của ngài, liên quan đến những vấn đề đạo lư, “như vấn đề phá thai, ly dị, trợ an tử và đồng tính luyến ái. Thế nhưng cả những vấn đề về sắc tộc, xă hội và chính trị cũng thường gây ra chia rẽ nữa”.
Giáo Hội Anh Giáo đang bị khủng hoảng trầm trọng về vấn đề Đồng Tính Luyến Ái
ĐTGM giáo chủ Anh Giáo viếng thăm Ṭa Thánh Vatican
Vị TGM tân giáo chủ này đă đến viếng thăm Ṭa Thánh Vatican 3 ngày liền từ tối 2/10, và sẽ gặp ĐTC vào ngày Thứ Bảy 4/10. Ngài đă được ĐHY chủ tịch Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo là Walter Kasper và các viên chức ṭa thánh khác tiếp đón tại phi trường. Phái đoàn của ngài sẽ ngụ ở Venerable English College, một phái đoàn 13 người, trong đó có vợ của ngài, những vị hợp tác thân cận nhất, những vị đặc trách Văn Pḥng Hiệp Thông Anh Giáo và các vị đại diện Giáo Hội Anh Giáo ở Âu Châu. ĐTGM Cormac Murphy O’Connor TGP Westminster, thuộc Giáo Hội Công Giáo, đến Rôma sau một ngày, để cùng tham dự với phái đoàn Anh Giáo này.
Lịch tŕnh của cuộc viếng thăm đặc biệt này đă diễn tiến như sau. Thứ Sáu 3/10, ĐTGM giáo chủ sẽ nói chuyện với ĐHY Kasper chủ tịch và các viên chức thuộc Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, cũng như với ĐTGM Michael Fitzgerald chủ tịch Hội Đồng Đối Thoại Liên Tôn. ĐHY Kasper khoản đăi bữa tối tại Nhà Lưu Trú Thánh Matta ở Vatican. Sáng Thứ Bảy 4/10, ĐTGM giáo chủ cầu nguyện trong Đền Thờ Thánh Phêrô. 11 giờ ngài đến tiếp kiến Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Sau đó ngài đă thăm hầm mộ dưới ḷng Đền Thờ Thánh Phêrô trước khi trở về English College dùng bữa trưa. Chiếu Thứ Bảy có một cuộc họo báo ở đây, kinh tối ở Santa Maria Sopra Minerva và lễ nghi tấn phong vị tân giám đốc của Trung Tâm Anh Giáo ở Rôma. Sau đó là tiệc mừng vị TGM giáo chủ do bà Kathryn Colvin, lănh sự Hiệp Vương Quốc tại Ṭa Thánh khoản đăi. Chúa Nhật 5/10, ĐTGM giáo chủ chủ tế Thánh Thể ở Thánh Đường Chư Thánh Anh Giáo, sau đó là bữa trưa và ngài đă rời Rôma lúc 5 giờ 20 trở về Luân Đôn.
Đây là cuộc viếng thăm Đức Giáo Hoàng Rôma đầu tiên của vị TGM giáo chủ này từ khi ngài được Nữ Hoàng Elizabeth bổ nhiệm làm TGM Canterbury thứ 104 hôm 23/7/2002, một chức vụ đă được chính thức tiếp nhận ngày 2/12/2002. Ngài đăng quang tại nhà thờ chính ṭa Canterbury vào Tháng 2/2003. ĐHY Kasper đă hiện diện trong buổi lễ đăng quang này và đă đọc lời chúc mừng tốt đẹp nhất của ĐTC. Được biết là Trung Tâm Anh Giáo ở Rôma được khánh thành năm 1966 và từ đó vị giám đốc của trung tâm này mang trách nhiệm đại diện cho ĐTGM Canterbury và các chức sắc thuộc Giáo Hội Anh Giáo với Ṭa Thánh Rôma. Theo bản thông báo của Ṭa Thánh Vatican th́ trung tâm này “qua nhiều năm đă là một dụng cụ đáng giá và hữu hiệu trong việc phát triển và bảo tŕ những mối giây thân thiết giữa Ṭa Thánh và các chức sắc thuộc Giáo Hội Anh Giáo”.
Việc đối thoại về thần học giữa Anh Giáo và Công Giáo đă diễn tiến qua hai cơ cấu: ARCIC (Anglican-Roman Catholic International Commission) được thành lập năm 1970, và IARCCUM (International Roman Catholic Commission for Unity and Mission). ARCIC tập trung hoạt động của ḿnh vào những đề tài thần học cần tranh luận giữa Công giáo và Anh giáo, và đă phổ biến những văn kiện về Thánh Thể, thừa tác vụ, thẩm quyền, ơn cứu độ, Giáo Hội, và các vấn đề về luân lư. Những văn kiện này được trao cho cả hai bên để xem xét và bàn luận. Văn kiện mới nhất là văn kiện năm 1999 về “Tặng Ân Quyền Bính”. Văn kiện tới đây của cơ cấu này chú trọng đến vai tṛ của Đức Maria trong đời sống và giáo huấn của Giáo Hội. Bản thông báo của Ṭa Thánh về cuộc viếng thăm của ĐTGM giáo chủ Anh giáo cho biết: “Theo phận vụ của ḿnh, Ủy Ban này đă cứu xét đến các tín điều Mông Triệu và Vô Nhiễm Tội của Đức Maria theo ánh sáng Thánh Kinh cũng như theo truyền thống cổ kính của chung Anh giáo và Công giáo”. ĐHY Kasper chủ tịch hội đồng cổ vơ hiệp nhất Kitô giáo, vào cuối cuộc gặp gỡ ĐTGM giáo chủ Anh Giáo 3/10 đă cho biết văn kiện này đă được soạn thảo xong
IARCCUM được thành lập trong một cuộc họp ở Canada vào Tháng 5/2000 và được lănh đạo bởi ĐHY Edward Cassidy, vị bấy giờ là chủ tịch Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, sau đó tới ĐTGM Canterbury thời bấy giờ. Có 13 vị chức sắc thuộc các giáo tỉnh Anh Giáo và 13 vị chủ tịch hội đồng Giám Mục ở Hiệp Chủng Quốc tham dự cuộc họp này cùng với các vị đại diện Giáo Hội Công Giáo. Nhiệm vụ của cơ cấu mới này là bảo tŕ và nâng đỡ những mục đích của cơ cấu ARCIC. Cơ cấu mới này cũng t́m những giải pháp có thể chuyển mức độ hiệp thông thiêng liêng có được trở nên những thành đạt hữu h́nh và cụ thể.
ĐTC chia sẻ với Vị giáo chủ Anh Giáo
Sau đây là bài chia sẻ của Đức Thánh Cha nói với ĐTGM giáo chủ Anh Giáo và phái đoàn chủ tŕ các giáo hội Anh giáo địa phương ngày Thứ Bảy 4/10/2003:
Thật là sung sướng được tiếp đón ngài nơi đây vào dịp ngài lần đầu tiên viếng thăm Ṭa Thánh Rôma với tư cách là TGM Canterbury. Ngài tiếp tục một truyền thống được bắt đầu trước Công Đồng Chung Vaticanô II, mộỉt truyền thống được bắt đầu với cuộc viếng thăm của ĐTGM Geoffrey Fisher, và ngài là vị TGM Canterbiry thứ tư Tôi hân hạnh được tiếp đón trong Giáo Triều của Tôi. Tôi cũng nhớ lại h́nh ảnh sống động lần Tôi viếng thăm Canterbury năm 1982, và cảm nghiệm xúc động khi cầu nguyện nơi mộ Thánh Thomas Becket với ĐTGM Robert Runcie.
Bốn thế kỷ sau cuộc chia rẽ đáng buồn giữa chúng ta, một thời gian không có bao nhiêu hay chẳng có liên lạc ǵ giữa các vị tiền nhiệm của chúng ta, đă mở đường cho một thể thức gặp gỡ tràn đầy hồng ân giữa Giám Mục Rôma, Vị Thừa Kế Thánh Phêrô và ĐTGM Canterbury. Những cuộc gặp gỡ hội ngộ này đă đi đến chỗ canh tân những mối liên hệ giữa Ṭa Thánh Canterbury, và Ṭa Thánh Rôma là nơi Đức Grêgôriô Cả bắt đầu sai Thánh Augustinô, Vị TGM đầu tiên ở Canterbury, đến với các Vương Quốc của sắc dân Anglo-Saxon vào hậu bán thế kỷ thứ sáu. Vào thời điểm của chúng ta đây, những cuộc gặp gỡ này cũng thể hiện việc chúng ta ngưỡng vọng tới mối hiệp thông trọn vẹn được Chúa Thánh Thần mong muốn cho chúng ta và yêu cầu chúng ta thực hiện.
Khi cảm tạ về mức tiến bộ đă đạt dược, chúng ta cũng cần phải nh́n nhận là những khó khăn mới mẻ và trầm trọng đă xuất hiện trên con đường tiến đến mối hiệp nhất. Những khó khăn này không phải tất cả có bản chất thuần về kỷ luật; có một số liên quan đến những vần đề chính yếu thuộc đức tin và luân lư. Trước t́nh trạng ấy, chúng ta phải tái xác nhận trách nhiệm của chúng ta trong việc chú ư và chân thành lắng nghe tiếng Chúa Kitô nói với chúng ta qua Phúc Âm cũng như qua Truyền Thống Tông Đồ của Giáo Hội. Đương đầu với chiều hướng tục hóa càng ngày càng tăng tiến của thế giới ngày nay, Giáo Hội cần phải bảo đảm là kho tàng đức tin được loan báo một cách trọn vẹn và được bảo tŕ cho khỏi những giải thích lầm lạc và xuyên tạc.
Khi cuộc đối thoại về thần học của chúng ta được bắt đầu, những vị tiền nhiệm của chúng ta là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và ĐTGM Michael Ramsey không thể biết được con đường xác đáng hay cuộc kéo dài con đường tiến đến mối hiệp thông này, song các vị biết rằng nó đ̣i phải nhẫn nại và kiên tŕ, và nó chỉ xẩy ra như một tặng ân của Chúa Thánh Thần mà thôi. Cuộc đối thoại các vị đă khởi xướng đă được “xây dựng trên Phúc Âm cũng như trên các truyền thống cổ kính chung”; nó đă được phối hợp với việc nuôi dưỡng một sự hợp tác “dẫn đến chỗ hiểu biết hơn và bác ái sâu xa hơn”; và niềm hy vọng đă được thể hiện theo mức tiến bộ đối với mối hiệp nhất sẽ “làm củng cố nền ḥa b́nh thế giới, nền ḥa b́nh mà chỉ Người mới có thể ban Đấng hiến ‘một thứ ḥa b́nh vượt trên mọi kiến thức’ (Tuyên Ngôn Chung, 1996).
Chúng ta cần phải kiên tŕ trong việc xây dựng công việc đă đạt được bởi ARCIC, cũng như các việc thực hiện của Ủy Ban mới được thiết lập IARCCUM. Thế giới cần chứng từ hiệp nhất của chúng ta, một chứng từ phát xuất từ t́nh chúng ta cùng nhau yêu mến và tuân phục Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Chính ḷng trung thành với Chúa Kitô đă thúc bách chúng ta tiếp tục t́m kiếm mồi hiệp nhất hữu h́nh một cách trọn vẹn cũng như t́m những đường lối thích hợp trong việc cùng nhau để làm chứng và truyền giáo bao nhiêu có thể.
Tôi cảm động khi thấy ngài muốn thực hiện cuộc thăm viếng Tôi ngay khi mới bắt đầu thừa tác vụ làm TGM Canterbury của ngài. Chúng ta có cùng một niềm ước mong đi sâu vào mối hiệp thông của chúng ta. Tôi cầu xin Chúa Thánh Thần tuôn đổ một lần nữa xuống trên ngài và những người thân yêu của ngài, trên những người cùng đi với ngài đến đây, cũng như trên tất cả mọi phần tử của Giáo Hội Anh Giáo. Chớ ǵ Thiên Chúa ǵn giữ ngài an toàn, chăm sóc ngài luôn măi, và dẫn dắt ngài trong việc thực thi các thứ trách vụ cao cả của ngài. Trong ngày lễ Thánh Phanxicô Assisi hôm nay, vị tông đồ của ḥa b́nh và ḥa giải, chúng ta hăy cùng nhau cầu nguyện để Chúa làm cho chúng ta trở thành khí cụ b́nh an của Ngài. Đâu có tổn thương chúng ta mang lại tha thứ; đâu có hận thù ghen ghét chúng ta gieo văi yêu thương; đâu có chán chường thất vọng, chúng ta t́m kiếm mối hiệp nhất phát sinh niềm hy vọng.
Công Nghị Bất Thường để giải quyết vấn đề giáo sĩ Anh giáo công khai sống đồng tính luyến ái
|
|
Sau cuộc gặp gỡ với ĐTGM giáo chủ Anh Giáo hôm Thứ Sáu 3/10, ĐHY chủ tịch hội đồng cổ vơ hiệp nhất Kitô giáo đă cho Đài Phát Thanh Vatican biết rằng vấn đề truyền chức cho thành phần sống đồng tính luyến ái là một trục trặc trong mối liên hệ giữa Anh giáo và Công giáo. ĐHY nói: “Chúng tôi đă… nói về những xung khắc và căng thẳng xuất hiện mấy tháng gần đây trong Giáo Hội Anh Giáo sau việc truyền chức cho các vị linh mục sống đồng tính luyến ái. Tôi đă bày tỏ mối quan tâm của tôi về vấn đề này v́ nó chẳng những là vấn đề nội bộ của Giáo Hội Anh Giáo mà c̣n là vấn đề liên quan đến mối liên hệ của chúng ta nữa. Chúng ta đă rơ ràng chủ trương về vấn đề này trong cuốn Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo; chúng ta cũng có cả một truyền thống, một gia sản chung về vấn đề này. Chúng ta hy vọng họ sẽ không loại bỏ truyền thống chung này. Tôi đă bày tỏ ḷng ao ước của tôi, ư muốn của tôi là sẽ t́m thấy một giải pháp được Giáo Hội Anh Giáo chấp nhận và là một giải pháp không gây tác dụng đến những mối liên hệ với Giáo Hội của chúng ta”. Giáo Hội Anh Giáo (thường được gọi là The Anglican Comminion) hiện diện ở 160 quốc gia, với 70 triệu tín hữu, thuộc 38 giáo hội tự lập.
Thứ Tư 15/10/2003, 38 vị lănh đạo 38 giáo hội tự trị Anh Giáo, theo hiệu triệu của ĐTGM giáo chủ ở Canterbury, đă đến tham dự cuộc họp đặc biệt ở Lambeth Palace, để bàn đến cách thức để làm sao thống nhất giáo hội của các vị lại đối với một vấn đề đă gây ra phân rẽ giữa thành phần thủ cựu và thành phần cấp tiến, và cũng là vấn đề đưa đến ly giáo giữa giáo hội ở Phi Châu và Hoa Kỳ.
Cuộc họp thượng đỉnh này xẩy ra sau cuộc viếng thăm Ṭa Thánh vatican của ĐTGM giáo chủ và sau khi giáo hội Episcopal Hoa Kỳ chọn linh mục Gene Robinson công khai sống đồng tính luyến ái làm giám mục ở New Hampshire trước đây trong năm nay. Cuộc họp thượng đỉnh này cũng xẩy ra sau vụ cho phép thực hiện lễ nghi chúc lành cho thành phần đồng tính luyến ái ở giáo phận Tân Westminster Canada, và vụ ứng danh Canon Jeffrey John sống đồng tính luyến ái vào chức vụ Giám Mục ở Reading Hiệp Vương Quốc. Vị ứng danh này đă thôi không chấp nhận vị thế mới của ḿnh sau cuộc vận động chống đối trong nội bộ Anh giáo ở Anh quốc cũng như trên khắp thế giới.
Sau 7 tiếng bàn luận, cuộc họp đă tiến đến chỗ bỏ phiếu quyết định vào ngày hôm sau, 16/10/2003. Có 5 vấn đề được thượng hội Anh giáo bất thường này bàn đến, trong đó có vấn đề yêu cầu giáo hội Anh giáo ở Hoa Kỳ hăy văn hồi t́nh thế của ḿnh hay không c̣n hiệp thông với Anh giáo nữa. Một vấn đề khác nữa là việc thành lập “một pháp quyền song song” cho thành phần thủ cựu với một giáo tỉnh riêng biệt và một vị tổng giám mục vượt ra ngoài ranh giới quốc gia. Một hệ thống tương tự như thế này đă được thiết lập vào năm 1993 cho các giáo xứ và hàng giáo sĩ chống lại vấn đề phụ nữ làm linh mục.
TGM Anh giáo Ái Nhĩ Lan là Robinson và vị chủ tịch Giáo Hội Bao Gồm là Giles Fraser đều theo chiều hướng cởi mở. TGM Robinson tin rằng Thiên Chúa đang “làm một điều mới liên quan đến việc bao gồm đối với thành phần đồng tính nam hay nữ trên thế giới cũng như trong giáo hội”. Vị chủ tịch Fraser nói: “Giáo hội hiện đại đang gặp nguy khốn v́ đánh mất đi đường lối cởi mở và bao gồm của ḿnh”.
Tuy nhiên, các vị thủ cựu phản đối chiều hướng cởi mở nhưng phản Thánh Kinh này. ĐTGM Peter Akinola ở Nigeria nói: “Tôi không chấp nhận vấn đề các vị nói rằng Thánh Kinh có ư nói thế này ở Nigeria và nói thế kia ở Hoa Kỳ. Chỉ có một Thiên Chúa, một Thánh Kinh, và một đức tin mà thôi”. Nam bán cầu là nơi đang tăng số tín hữu Anh giáo đáng kể. Hơn một nửa thế giới Anh giáo sống ở Phi Châu mà đại đa số là thủ cựu.
|
|
ĐTGM Williams, được coi là cấp tiến, vừa được bổ nhiệm năm trước đây, đă cho biết về vấn đề này Giáo Hội Anh Giáo đang đối diện với một tương lai “hỗn loạn”.
Và hôm Thứ Năm, 16/10, các vị lănh đạo các giáo hội Anh Giáo độc lập trên thế giới đă nhất trí yêu cầu Giáo Hội Episcopal Hoa Kỳ đừng tấn phong một con người công khai sống đồng tính luyến ái làm giám mục kẻo làm phân tán Giáo Hội Anh Giáo nói chung. Trong bản văn đúc kết, các vị lănh đạo nhận định rằng nếu Rev. Gene Robinson đực tấn phong làm giám mục New Hampshire th́ “tương lai của chính mối hiệp thông sẽ gặp nguy khốn. Việc này sẽ xé nát tấm vải hiệp thông của chúng ta”. Các vị lănh đạo trong phiên họp thượng đỉnh khẩn trương này cũng kêu gọi thiết lập một ủy ban thực hiện một cuộc nghiên cứu cả năm về đường lối giải quyết những bất đồng sâu xa về thần học giữa những giáo hội riêng trong một Giáo Hội Anh Giáo 77 triệu tín đồ phi tập quyền. Các vị đồng thời cũng yêu cầu các giáo hội độc lập đừng có những thái độ phản ứng vội vă hấp tấp. Thành phần bảo thủ thuộc giáo hội Anh Giáo ở Hoa Kỳ, theo chiều hướng Giáo Hội Anh Giáo thuộc thế giới thứ ba, nhất là Phi Châu, chống lại quyết định tấn phong giám mục sống đồng tính luyến ái, căn cứ vào Thánh Kinh và truyền thống Kitô giáo.
ĐTGM Canterbury là Rowan Williams, giáo chủ Anh Giáo về danh hơn là thực quyền, (Anh Giáo và Chính Thống Giáo vốn không phục quyền Giáo Hoàng, nên cũng không có một quyền bính tối cao như Giáo Hội Công Giáo, họ họp đấy nhưng mỗi giáo hội tự trị tùy nghi thực hiện quyết định chung), đă triệu họp phiên họp khẩn cấp này, đă phải công nhận là quyết định chung hoàn toàn tùy quyền áp dụng của mỗi giáo hội.
Trong bản văn đúc kết, các vị lănh đạo Giáo Hội Anh Giáo c̣n bày tỏ là “với tư cách là một thân thể, chúng tôi hết sức lấy làm tiếc” về những quyết định của giáo hội Anh Giáo ở Hoa Kỳ và Vancouver, v́ hai giáo hội này “đă đơn phương thay đổi giáo huấn của Giáo Hội Anh Giáo”. Các vị cũng tái xác nhận quyết định 1998 về tính dục của con người ở Hội Nghị Lambeth, một cuộc đại hội Anh Giáo thế giới, là chỉ có một loại liên hệ tính dục duy nhất xứng hợp đó là cuộc hôn nhân trọn đời giữa một người nam và một người nữ, c̣n trường hợp chế dục là sự lựa chọn cho “những ai không được kêu gọi lập gia đ́nh”.
Lời phát biểu này được các vị lănh đạo ở Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu Latinh và Caribbean, một câu phát biểu loại trừ cả việc chúc lành cho những cặp đồng tính hôn nhân lẫn việc truyền chức linh mục cho người công khai sống đồng tính luyến ái. Câu phát biểu này đă bị tín hữu Anh Giáo ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi và Hiệp Vương Quốc loại bỏ.
Phản ứng của đương sự giám mục đồng tính được tuyển
|
|
Giáo sĩ V. Gene Robinson, vị giám mục được tuyển chọn cho Giáo Phận New Hampshire, nói với Hăng Thông Tấn Associated Press, là ông đă cầu nguyện nhiều năm mới được trở thành giám mục. Ông cảm thấy rất mạnh mẽ là Thiên Chúa muốn ông đi tới ngày 2/11/2003 được tấn phong này cho bằng được.
“Thiên Chúa và tôi đă trải qua vấn đề này khá lâu cho đến nay, và tôi thật sự là ngạc nhiên khi thấy Thiên Chúa muốn tôi giờ đây ngừng lại ở đây”.
Vị giáo sĩ Anh giáo này dù nhận thức được việc ông được tấn phong sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng cho Giáo Hội, nhưng vẫn cho rằng sự thiện có thể phát xuất tứ đó.
“Nếu thực sự đây là việc của Chúa… th́ nó là một cuộc khủng hoảng cần giáo hội phải là ḿnh nhất, đừng sợ bị mất chính ḿnh cho điều xác đáng. Đôi khi có những sự đáng quí vị liều cả mạng sống ḿnh. Chính Chúa Giêsu đă nói nếu các con muốn cứu mạng sống ḿnh các con sẽ đánh mất nó”.
Vị giáo sĩ Anh giáo này cho biết ông nhận được một bức thư từ các vị lănh đạo Giáo Hội Anh Giáo ở West Indies, Nam Mỹ và Nigeria xin ông đừng tiếp tục việc được tấn phong. Ba vị này mạnh mẽ chỉ trích Giáo Hội Episcopal Hoa Kỳ về quyết định của họ hồi Tháng 8/2003 vừa rồi về việc xác nhận một người làm cha của hai đứa con song lại vẫn công khai sống đồng tính luyến ái với một người nam khác từ năm 1989 tới nay. Ông nói dù vị giáo chủ Anh Giáo thế giới hiện nay là ĐTGM Rowan Williams có khuyên can ông đi nữa, cũng không thuyết phục được ông. Ông c̣n cho biết dù ông có từ bỏ chức gám mục sắp tới đi nữa cũng không chấm dứt vấn đề đồng tính luyến ái này đâu. Ông biết có một số khá các vị giám mục đồng tính luyến ái ở cả Hoa Kỳ lẫn hải ngoại, mà ông là người đầu tiên được nói đến thôi.
Thành phần Anh Giáo bảo thủ ở Hoa Kỳ đă có dự tính tiến đến chỗ tách ĺa khỏi Giáo Hội Episcopal trong việc chọn một vị giám mục đồng tính luyến ái như vậy. Hội Đồng Anh Giáo Hoa Kỳ là đại diện cho thành phần truyền thống tính gửi đại diện tới tham dự cuộc tấn phong này để thực hiện một cuộc phản đối chính thức. Cuộc lễ tấn phong này sẽ có mặt của người bạn đồng tính của ông, hai đứa con gái của ông, người vợ ly dị của ông và cha mẹ của ông. Về vấn đề được tấn phong giám mục của ḿnh, ông nhận thấy có lợi cho thành phần đồng lính luyến ái như sau:
|
|
“Tôi nghĩ việc được tuyển chọn của tôi là một trong những dấu hiệu cho thấy rằng những người đồng tính luyến ái nam nữ đang được trở thành tâm điểm của nhiều sự. Tôi cho rằng việc tôi được tuyển chọn này là dấu hiệu tôi mang thành phần đồng tính nam nữ vào ngay tâm điểm của giáo hội. Nó không phải là một cái ǵ về tôi. Nó không phải là một cái ǵ cần phải hổ ngươi”.
Chúng ta hăy nhớ rằng, vào hậu bán thập niên 1990, Giáo Hội Anh Giáo đă xẩy ra một cuộc khủng hoảng nội bộ cũng liên quan đến hàng giáo sĩ cũng như đến phái tính. Đó là vấn đề Giáo Hội này truyền chức linh mục cho nữ giới rồi sau đó truyền chức giám mục cho họ nữa, một biến cố đă làm cho Giáo Hội này mất trên 100 giáo sĩ và 1 giám mục trở lại Giáo Hội Công Giáo. Biến cố khủng hoảng lần này chẳng những sẽ làm phân tán Giáo Hội Anh Giáo mà c̣n có thể đẩy một số trở về với Giáo Hội Công Giáo như lần trước nữa cũng không biết chừng...
Giáo Hội Anh Giáo ở Hoa Kỳ tấn phong vị tân Giám Mục đồng tính luyến ái và hậu quả
|
|
Bất chấp mọi chống đối và mối nguy cơ làm phân rẽ Giáo Hội Anh Giáo thế giới, như đă được bộc lộ từ khi Giáo Hội Anh Giáo Hoa Kỳ tuyển chọn một vị giáo sĩ công khai sống đồng tính luyến ái, nhất là qua cuộc họp thượng đỉnh của giáo hội này mới đây trong Tháng Chín, Giáo Hội Anh Giáo Episcopal đă tấn phong giám mục cho Rev. Gene Robinson hôm Chúa Nhật 2/11/2003.
Theo luật của Giáo Hội Anh Giáo ở Hoa Kỳ th́ giáo dân và giáo sĩ ở mỗi giáo phận chọn lấy cho ḿnh một vị giám mục, vị cũng phải được hội đồng toàn quốc chấp thuận. Tháng Tám 2003, Giáo Hội Episcopal Hoa Kỳ, trong cuộc Tổng Nghị ở Mineapolis đă bỏ phiếu chấp thuận tấn phong cho giáo sĩ Robinson làm giám mục ở New Hampshire. Sau đó ĐTGM Giáo chủ Giáo Hội Anh Giáo thế giới đă triệu tập một phiên họp để bàn về vấn đề tuyển chọn ấy. Hơn 2 ngàn giáo sĩ và giáo dân của giáo hội Anh Giáo Hoa Kỳ này đă họp ở Plano, Texas, trong Tháng 10 để xét đến việc tách khỏi Giáo Hội Episcopal Hoa Kỳ.
Chừng 4 ngàn người đă tham dự lễ nghi tấn phong giám mục này ở thao trường đại học New Hampshire. Buổi tấn phong được diễn tiến trước đó bằng những chứng từ cũng như những phản chứng về vị tân giám mục. Về phản chứng, có 3 vị lên tiếng như sau. Trước hết là giám mục phụ tá Albany New York là David Bena, nhân danh 36 vị giám mục chống đối thuộc giáo hội Episcopal Hoa Kỳ và Giáo Hội Anh Giáo Canada: “Lối sống cố t́nh của (Robinson) không xứng với Thánh Kinh và giáo huấn của giáo hội này”. Thứ hai là giáo sĩ Earle Fox thuộc giáo phận Pittsburgh: “Chúng ta không được phán xét con người, song được phán xét hành vi cử chỉ”. Thứ ba là một phụ nữ thuộc giáo phận New Hampshire đă cho việc tấn phong là một “hành vi hèn nhát” và cảnh giác là “nếu việc tấn phong này tiến hành th́ tấm vải Hiệp Thông Anh Giáo sẽ bị rách nát. Chúng ta không được tiếp tục gây ra lầm lỗi kinh khủng này”.
ĐTGM Canterbury đă lên tiếng: “Cuộc họp của các vị lănh đạo Anh Giáo tháng vừa rồi đă hoàn toàn công nhận là việc tấn phong Gene Robinson làm giám mục New Hampshire sẽ gây ra các hậu quả rất trầm trọng cho việc liên kết của Giáo Hội Anh Giáo. Những cuộc chia rẽ đang xẩy ra là một vấn đề hết sức đáng tiếc; chúng sẽ càng rơ ràng hơn nữa ở chỗ hết mọi giáo phận thuộc Giáo Hội này không thể chấp nhận Gene Robinson thực hiện thừa tác vụ giám mục”.
Phản ứng của các vị giám mục Anh Giáo trên khắp thế giới, từ Úc Đạo Lợi tới Phi Châu, hết sức phẫn nộ về việc tấn phong giám mục này của Giáo Hội Anh Giáo Hoa Kỳ.
ĐGM Peter Jensen ở Sidney đă nói với hăng thông tấn Reuters rằng: “Theo tôi th́ ông ta không phải là một giám mục. Thật là một ngày rất đáng buồn cho giáo hội”. ĐGM Thomas Brown ở Wellington New Zealand cũng lập lại quyệt nghị chung của Giáo Hội này là việc sống đồng tính luyến ái “không hợp với Thánh Kinh”.
Thư kư của giáo phận Namirembe thuộc Giáo Hội Uganda Phi Châu là Jackson Turyagyenda đă nói: “Chúng tôi cực lực lên án việc tấn phong cho những kẻ sống đồng tính luyến ái cho thừa tác vụ của giáo hội. Chúng tôi cũng hết sức chống lại vấn đề đồng tính luyến ái hay những ǵ phản lại giáo huấn của Thánh Kinh. Không có vấn đề nguy cơ phân rẽ giáo hội của chúng ta – chúng ta đoàn kết để chống lại vấn đề đồng tính luyến ái”. Tuy nhiên, một vị giám mục hồi hưu ở Uganda là Christopher Ssenyonjo đă lập lại việc ông ủng hộ như sau: “Giám mục Robinson không tự ḿnh lựa chọn mà là được tuyển bởi người khác. Theo tôi, dường như Thiên Chúa đă tác động họ bỏ phiếu ngày hôm đó”.
Vị lănh đạo Giáo Hội Anh Giáo Irish là Robin Eames, được ĐTGM Canterbury Williams chỉ định làm trưởng ủy ban cứu xét và giải quyết vấn đề này, đă kết luận khi nói với Đài Phát Thanh BBC như sau: “Đây là một bức tranh rắc rối nhất và phức tạp nhất. Chúng tôi đang tiến đến một vùng vô định. Tôi không nghĩ rằng quí vị có thể ngăn cản được việc tái cân bằng. Tôi thành thật hy vọng rằng chúng tôi có thể tránh được những ǵ quí vị gọi là phân ly”.
ĐTGM Greg Venables, vị
lănh đạo Giáo Hội Anh Giáo ở Nam Mỹ Châu, đă nêu lên những điều tương phản giữa
Giáo Hội Anh Giáo với Giáo Hội Công Giáo Rôma về vấn đề kỷ luật với Đài Phát
Thanh BBC là: “Chúng ôia đang phải đối diện với một t́nh h́nh chia rẽ trầm
trọng. Vấn đề đó là chúng tôi không có một vị Giáo Hoàng hay một tiểu ban trung
ương để giải quyết vấn đề cho chúng tôi. Chúng tôi có vị TGM ở Canterbury, nhưng
ngài là một vị lănh đạo ở Anh Quốc với thẩm quyền về luân lư khắp thế giới, chứ
không có thẩm quyền theo hàng dọc. Những ǵ đă xẩy ra đó là Hiệp Chủng Quốc đă
tuyên bố rằng họ độc lập vậy”.
Cuộc hội nghị đại kết lần đầu tiên của các giáo hội Đức Quốc
Ở Quảng Trường Cộng Ḥa tại Bá Linh, có 200 ngàn người tham dự vào lúc kết thúc hội nghị đại kết 5 ngày này, “Oecumenische Kirchentag”. Đây là một phát động chúng của cả Công giáo lẫn Tin lành, với khẩu hiệu “Hăy trở thành phúc lành cho thế giới”. Cuộc hội nghị này bao gồm cả ngàn hoạt động khác nhau, thuyết tŕnh, chia sẻ, tŕnh diễn, nguyện cầu, hội họp và được kết thúc vào Chúa Nhật 1/6/2003. ĐHY Chủ Tịch Hội Đồng Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo là Walter Kasper lấy làm ngạc nhiên trước con số giới trẻ tham dự đông đảo chiếm 40% tổng số. Ngài đă nói với Đài Phát Thanh Vatican rằng: “Có hy vọng và sẽ tiến đến chỗ cộng tác, xích lại gần nhau, học hỏi nơi nhau. Aán tượng về cuộc hội nghị đại kết này rất sáng sủa, tôi nghĩ rằng nó sẽ là một lực đẩy mạnh mẽ cho tương lai của vấn đề đại kết.
ĐHY Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức tuyên bố với tờ nhật báo Ư Avvenire: “Đây là một việc làm đáng giá: một ‘hội nghị đại kết’ thực sự là thành công”. Và ngài hy vọng cuộc hội nghị này sẽ “làm tăng gia tốc của việc đại kết”.
Ông chủ tịch của hội đồng EKD Tin Lành, một tổ chức của các giáo hội Thệ Phản Đức, cho biết nhận định của ḿnh như sau: “Hội nghị đại kết này là một biến cố lịch sử trong sinh hoạt các giáo hội của chúng tôi”. Thật vậy, các tham dự viên, như ông cho 400 ngàn người tham dự vào lúc khai mạc, “đă cho thấy một dấu hiệu tích cực về mối hiệp thông hơn nữa nơi chính họ cũng như về sự gắn bó nơi xă hội của chúng tôi”.
Ông Joachim Schwind, giám đốc của tờ điểm
báo Neue Stadt cho biết: “Tôi tin tưởng là vấn đề đối thoại đại kết, như ĐHY
Kasper đă nhấn mạnh, đă tiến tới một mức độ chín mùi nào đó; một thứ chín mùi
mà, sau mùa xuân của đại kết, hiện nay chưa phải là lúc tiến tới mùa đông như
nhiều người nói, mà là tiến tới mùa thu, tức là tiến tới một giai đoạn trong
đó các thứ đang chín mùi, có thể là chậm hơn. Người ta cần phải thấy được nhu
cầu trở về với các thứ cội gốc thiêng liêng; tức là vấn đề tham gia vào vấn đề
đại kết qua những hoạt động hay sáng kiến mà thôi chưa đủ, mà c̣n phải trở về
với chính Chúa Kitô nữa, với đời sống Kitô giáo, với đời sống của t́nh yêu
thương nhau. Sứ điệp quan trọng nhất hội nghị đại kết này, một hội nghị đă có
một tiếng vang mạnh mẽ trong xă hội và giới truyền thông, đă là một chứng cớ
về việc hiện hữu của một Kitô giáo tân thời, sống động, hấp dẫn, yên b́nh và
hoan lạc, một Kitô giáo cho thấy một niềm vui sâu xa nhân bản”.
ĐTC tiếp phái đoàn đại biểu Giáo Hội Chính Thống Bulgaria: Vấn đề đại kết Kitô giáo
Cũng vào ngày Thứ Hai 26/5/2003 hôm nay, ĐTC đă tiếp phái đoàn Chính Thống Giáo Bulgaria do ĐTGM Kalinik dẫn đầu. Trong cuộc triều kiến riêng của phái đoàn này có cả ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo cùng một số vị Giám Mục khác.
Trước hết, trong lời ngỏ của ḿnh, ĐTC xin phái đoàn đại biểu chuyển đến Đức Maxim, Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thống Maxim, “việc Ngài gắn bó về tinh thần với niềm hy vọng là việc hiệp nhất hoàn toàn giữa Công Giáo và các Kitô hữu Chính Thống đạt được sớm bao nhiêu có thể”.
“Trong khi nước Bulgaria đang hướng chiều về việc thay đổi, trên con đường tiến đến một Âu Châu nới rộng, th́ nước này cũng cần phải làm sống lại gia sản phong phú về đức tin và văn hóa của cả Giáo Hội và quốc gia Bulgaria thừa hưởng, và là một thứ gia sản làm nên phép lạ của công cuộc truyền bá phúc âm hóa được thực hiện bởi hai anh em thánh của thành Thessalonica là Cyriliô và Mêthôđiô, những vị có một di sản đối với sắc dân Slav vẫn c̣n hiện diện và tiếp tục trở nên sâu xa hơn và mạnh mẽ hơn bất cứ một thứ chia rẽ nào sau 11 thế kỷ Kitô giáo nơi sắc dân này”.
Sau khi nhắc lại những lời của Thánh Cyrilô trước khi chết về việc thánh nhân kêu gọi hiệp nhất trong Giáo Hội, ĐTC đă nhấn mạnh thế này: “Sứ điệp đức tin này, một sứ điệp được đâm rễ sâu trong văn hóa của anh em cũng như trong cộng đồng Giáo Hội của anh em, là và phải tiếp tục là mục đích chúng ta phải tiến tới để Kitô hữu Đông Tây có thể hoàn toàn được hiệp nhất và cùng nhau làm cho ‘cái phong phú’ nơi tính cách đại đồng của Giáo Hội được sáng tỏ hơn”.
ĐTC cũng cho biết mục đích của phái đoàn này đến Rôma là để tưởng nhớ đệ nhất chu niên việc Ngài viếng thăm Sofia nước của họ và “việc gặp gỡ không thể nào quên được với Đức Maxim”: “Cảm nghiệm của việc chia sẻ huynh đệ cũng như của việc tôn trọng nhau về những khác biệt hợp lệ có thể giúp vào việc thúc đẩy tiến tới chô hiểu biết nhau hơn cũng như vào việc hợp tác với nhau ở những môi trường và những hoàn cảnh khác, trong những lúc chúng ta có cơ hội. Chớ ǵ điều này là một dấu hiệu tốt cho những liên hệ sau này của chúng ta! Tôi xin cám ơn Chúa và xin Ngài chúc lành cho những bước đường chúng ta đang tiến tới”.
ĐTC tiếp phái đoàn đại biểu Giáo Hội Tin Lành Lutherô Hoa Kỳ
Hôm Thứ Hai 24/3/2003, khi tiếp phái đoàn đại biểu Giáo Hội Tin Lành Lutherô Hoa Kỳ 25 vị đang thực hiện một chuyến hành tŕnh đại kết đến Istanbul Chính Thống Giáo, Rôma Công Giáo và Canterbury Anh Giáo. Trong diễn từ của ḿnh, ĐTC đă chia sẻ như sau:
“Trong một thế giới đầy những hiểm nguy và bất an này th́ tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi chung vai sát cánh với nhau để loan báo những giá trị của Vương Quốc Thiên Chúa. Những biến cố trong những ngày gần đầy lại càng làm cho nhiệm vụ này trở nên khẩn trương hơn nữa”. Riêng về vấn đề đại kết, ĐTC cho biết: “việc t́m cầu cho vấn đề hoàn toàn hiệp nhất nơi tất cả mọi Kitô hữu là một nhiệm vụ phát xuất từ lời nguyện cầu của chính Chúa”. Vấn đề hiệp nhất này đă đạt được triển vọng một phần nào nơi Bản Tuyên Ngôn chung về Tín Lư Công Chính năm 1999: “Nơi bản văn kiện này, chúng ta được thách đố trong việc xây dựng trên những ǵ đă đạt được, bằng việc bồi dưỡng hơn nữa ở cấp địa phương cái linh đạo hiệp thông được đánh dấu bằng việc nguyện cầu và cùng nhau làm chứng cho Phúc Âm”. ĐTC cũng lợi dụng dịp này để chúc mừng Giám Mục Mark Hansen vừa được bầu làm chủ tịch của Giáo Hội Tin Lành Luthêrô Hoa Kỳ (the Lutheran Evangelical Church of the United States) kiêm phó chủ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới (World Lutheran Federation).
Bài Giảng ĐTC ở Buổi Kinh Tối Kết Thúc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo
Để kết thúc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo, ĐTC Gioan Phaolô II đă đọc diễn từ tại Đền Thớ Thánh Phaolô Ngoại Thành trong Buổi Kinh Tối Thứ Bảy 25/1, Lễ Thánh Phaolô Trở Lại, như sau:
1. “Chúng tôi chứa đựng kho tàng này trong những b́nh sành” (2Cor 4:7).
Những lời này, được trích từ Bức Thư Thứ Hai gửi giáo đoàn Côrintô đă là đề tài
hướng dẫn cho Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo mà hôm nay là ngày bế
mạc. Những lời ấy soi sáng cho việc chúng ta suy niệm trong buổi phụng vụ tối
nay cho Lễ Kính Thánh Phaolô Trở Lại. Vị Tông Đồ này đă nhắc nhớ chúng ta rằng
chúng ta mang “kho tàng” được Chúa Kitô ban cho chúng ta trong những b́nh sành.
Tất cả mọi Kitô hữu bởi thế được kêu gọi để tiến bước trong cuộc hành tŕnh trần
thế của ḿnh mà không để ḿnh bị đè bẹp bởi những khó khăn hay khốn khổ (x Lumen
Gentium, 8), với niềm xác tín là họ sẽ thắng vượt tất cả mọi trở ngại nhờ ơn trợ
giúp và quyền lực từ trên cao.
Với niềm xác tín này, Tôi sung sướng được cùng với anh chị em cầu nguyện tối hôm
nay đây, hỡi anh chị em thân mến của Các Giáo Hội và Các Cộng Đồng Giáo Hội hiện
diện ở Rôma được liên kết với nhau bằng một Phép Rửa duy nhất trong Chúa Giêsu
Kitô. Tôi xin gửi đến tất cả anh chị em lời chào chân thành của Tôi.
Tôi hết sức ước mong là Giáo Hội ở Rôma, một giáo hội được Đấng Quan Pḥng kư
thác cho vai tṛ chuyên nhất trong việc “chủ sự trong đức bác ái” (Thánh Ignatiô
Antiôkia, Thư gửi Giáo Đoàn Rôma, Nhập Đề), mỗi ngày một trở nên một mô phạm cho
những mối liên hệ đại kết huynh đệ.
2. Là người Kitô hữu, chúng ta biết rằng chúng ta đă được kêu gọi để làm chứng
trước thế giới về “Phúc Âm rạng ngời” được Chúa Kitô ban cho chúng ta (x 2Cor
4:4). Nhân danh Người, chúng ta hăy liên kết nỗ lực của ḿnh để phục vụ ḥa b́nh
và ḥa giải, công lư và đoàn kết, nhất là đứng về bên thành phần nghèo khổ và
thấp hèn nhất thế gian này.
Theo chiều hướng này, Tôi muốn nhắc lại Ngày Cầu Nguyện Cho Ḥa B́nh Thế Giới
được tổ chức tại Assisi một năm trước đây vào ngày 24/1. Biến cố liên tôn ấy đă
gửi cho thế giới một sứ điệp hùng hồn là, hết mọi con người tín ngưỡng chân
chính đều buộc phải xin Thiên Chúa tặng ân ḥa b́nh, bằng một quyết tâm mới mẻ
trong việc cổ vơ và xây dựng ḥa b́nh cùng với các tín hữu khác. Vấn đề ḥa b́nh
vẫn c̣n khẩn trương hơn bào giờ hết. Nó đặc biệt cần đến thành phần môn đệ Chúa
Kitô, Vua Ḥa B́nh, và tiêu biểu cho cuộc thách đố cũng như cho việc dấn thân
hoạt động cho phong trào đại kết.
3. Để đáp lại vị Thần Linh duy nhất là Đấng hướng dẫn Giáo Hội, buổi tối hôm nay
chúng ta muốn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về muôn vàn hoa trái Ngài, Đấng ban phát
hết mọi tặng ân tốt lành, đă đổ xuống trên con đường đại kết. Ngoài cuộc họp ở
Assisi là biến cố chứng kiến thấy việc tham dự của các vị đại diện cao cấp thuộc
hầu hết tất cả mọi Giáo Hội và Các Cộng Đồng Giáo Hội Đông Tây, làm sao chúng ta
không nói đến cuộc viếng thăm Rôma hôm Tháng Ba năm trước của Phái Đoàn Đại Biểu
thuộc Hội Đồng Thánh Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp? Vào Tháng Sáu, Tôi đă cùng với
Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Bartholomew I kư vào Bản Tuyên Ngôn Chung về
việc bảo toàn môi sinh. Vào Tháng Năm, Tôi đă hân hoan viếng thăm Đức Thượng Phụ
Maxim lănh đạo Giáo Hội Chính Thống Bulgaria, và trong Tháng Mười, Tôi đă được
Đức Thượng Phụ Teoctist lănh đạo Giáo Hội Chính Thống Romania viếng thăm và Tôi
cũng đă cùng ngài kư vào một Bản Tuyên Ngôn Chung. Tôi cũng không thể nào quên
được cuộc viếng thăm của Đức Tổng Giám Mục Canterbury là Tiến Sĩ George Carey
vào thời điểm kết thúc sứ vụ của ngài, những cuộc họp của Tôi với Các Phái Đoàn
Đại Kết thuộc Những Cộng Đồng Giáo Hội Tây Phương, và việc tiến bộ đạt được bởi
những Uũy Ban đối thoại hỗn hợp khác nhau.
Chúng ta cũng không thể không thực tế nh́n nhận những khó khăn, những vấn đề và
có những lúc những thất vọng chúng ta vẫn gặp phải. Có những lúc chúng ta cảm
thấy ră rời làm sao ấy, thiếu phấn khởi, khi cảm nghiệm thấy nỗi đớn đau về việc
chúng ta chưa thể cùng nhau tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể. Thế nhưng, Chúa Thánh
Thần không bao giờ thôi làm cho chúng ta ngỡ ngàng và Ngài tiếp tục hoạt động
thực hiện những điều hết sức lạ lùng.
4. Trong t́nh h́nh hiện nay của vấn đề đại kết, cần phải nhận ra rằng chỉ có
Thần Linh Thiên Chúa mới có thể làm cho chúng ta hoàn toàn hiệp nhất với nhau về
h́nh thức; chỉ có Thần Linh Thiên Chúa mới có thể tác động một nhiệt t́nh và
ḷng can đảm mới. Đó là lư do tại sao chúng ta cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của vấn đề đại kết về tinh thần, là vấn đề làm nên linh hồn của tất cả phong
trào đại kết (x Unitatis Redentegratio, 6-8).
Điều này không có nghĩa là một cách nào đó giảm bớt hay ít chú trọng đến việc
trao đổi về thần học là những ǵ đă trổ sinh nhiều hoa trái trong những thập
niên vừa rồi. Việc trao đổi này vẫn và bao giờ cũng là một việc làm bất khả
thiếu. Thật vậy, vấn đề hiệp nhất giữa thành phần môn đệ Chúa Kitô chỉ có thể là
một vấn đề hiệp nhất trong chân lư (x Thông Điệp Ut Unum Sint, 18-19) mà thôi.
Thần Linh hướng dẫn chúng ta tiến đến mục đích này cũng qua những cuộc trao đổi
về thần học, những cuộc trao đổi tạo nên một cơ hội vững chắc cho việc làm cho
nhau thêm phong phú.
Tuy nhiên, chỉ ở trong Chúa Thánh Thần chúng ta mới có thể lănh nhận sự thật của
Phúc Aâm, khi làm cho hết mọi người thấu hiểu ư nghĩa sâu sa của Phúc Aâm. Vấn
đề đại kết về tinh thần đây làm cho chúng ta mở mắt và mở ḷng của chúng ta ra
để có thể hiểu biết sự thật được mạc khải, nhờ đó, chúng ta có thể nhận biết sự
thật ấy và chấp nhận sự thật ấy, cũng nhờ cả ở những minh thức của các Kitô hữu
khác nữa.
5. Vấn đề đại kết về tinh thần xẩy ra trước hết bằng lời cầu nguyện được dâng
lên Thiên Chúa, một cách cộng đồng khi nào có thể. Như Đức Maria và các môn đệ
sau khi Chúa Giêsu Lên Trời, chúng ta cần phải đến với nhau để không ngừng kêu
cầu Thánh Linh (x Acts 1:12,14). Để cầu nguyện chúng ta cũng cần phải lắng nghe
Lời Chúa trong Thánh Kinh là nền tảng và dưỡng chất cho đức tin của chúng ta (x
Dei Verbum, 21-25). V́ không có tái hợp đại kết mà lại thiếu việc hoán cải tâm
hồn, thánh hóa bản thân và canh tân đời sống Giáo Hội.
Các cộng đồng sống đời tận hiến và các phong trào sống đạo gần đây đóng một vai
tṛ đặc biệt trong việc nuôi dưỡng việc gặp gỡ Các Giáo Hội Đông Phương cổ kính
thấm nhuần tinh thần đan tu. Có những dấu hiệu khích lệ của một cuộc phục hồi
hứa hẹn đời sống linh đạo ở Các Cộng Đồng Giáo Hội ở Tây Phương nữa, và Tôi vui
mừng thấy được những trao đổi hữu ích xẩy ra giữa tất cả những nhóm Kitô hữu
khác nhau này.
Chúng ta cũng không được bỏ qua những trường hợp giáo sĩ của các Giáo Hội khác
học ở Các Viện Đại Học Công Giáo: là khách ở các chủng viện của chúng ta, họ
tham dự vào đời sống sinh viên hợp với kỷ luật của Giáo Hội buộc tuân giữ. Kinh
nghiệm đă tỏ cho chúng ta thấy rằng điều này dẫn đến việc làm giầu cho nhau.
6. Niềm hy vọng chúng ta cùng nhau bầy tỏ hôm nay đây đó là linh đạo hiệp thông
sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết! Như Tôi viết trong Tông Thư Mở Màn
Cho Một Tân Thiên Kỷ, chớ ǵ mỗi một người trong chúng ta có thể mỗi ngày lấy
đức tin nh́n vào anh chị em của chúng ta trong mối hiệp nhất của Nhiệm Thể, như
“những người là phần thể của tôi”, để có thể “chia vui sẻ khổ”.
Chớ ǵ chúng ta tiến đến chỗ nh́n thấy “những ǵ tích cực nơi khẻ khác, đón nhận
những thứ ấy và coi trọng chúng như là tặng ân của Chúa: chẳng những như một
tặng ân cho anh chị em đă tyrực tiếp lănh nhận nó, nhưng c̣n là một ‘tặng ân cho
tôi’”. Đừng hiểu lầm là không có linh đạo hiệp thông chân chính th́ những cấu
trúc hiệp thông bề ngoài “trở thành thứ máy móc vô hồn, đeo ‘những chiếc mặt nạ
hiệp thông, hơn là phương tiện nó bộc lộ và phát triển” (số 43).
Vậy chúng ta hăy tiếp tục can đảm và nhẫn nại theo con đường này, tin tưởng vào
quyền năng của Thần Linh! Chúng ta không phải là người định liệu ấn hạn thời
gian; lời Chúa hứa là đủ cho chúng ta rồi.
Được tăng cường bằng lời Chúa Kitô, chúng ta sẽ không chịu thua trước trạng thái
bạc nhược, trái lại, sẽ tăng thêm nỗ lực và lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Chớ
ǵ lời mời gọi của Người vang vọng trong ḷng của chúng ta tối nay và làm cho
chúng ta cảm thấy ủi an: “Duc in altum!” Chúng ta hăy tiến lên, luôn đặt ḷng
tin tưởng của chúng ta nơi Người! Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL dịch theo tài liệu của Ṭa Thánh được Zenit phổ biến ngày Chúa Nhật 26/1/2003
Vấn Đề Đại Kết với một vị Giám Đốc Anh Giáo
Nhân dịp Tuần Lễ Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo, Ngày 23/1/2003, Màn Điện Toán Zenit phổ biến một cuộc phỏng vấn về vấn đề đại kết với vị Giám Đốc Trung Tâm Anh Giáo là Richard Garrard như sau:
Vấn Việc đối thoại giữa Anh Giáo và Công Giáo có c̣n tồn tại hay chăng?
Đáp Tôi nghĩ rằng cuộc đối thoại giữa những người Anh Giáo và Công Giáo vẫn c̣n tồn tại, tốt đẹp và đang chầm chậm tiến theo đúng hướng của nó. Nếu người ta để ư đến sự kiện là qua nhiều thế kỷ, t́nh trạng phân ly này đă kéo dài cùng với những đắng cay xẩy ra th́ việc tiến bộ trong 30 năm vừa rồi thật là phấn khởi. Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn của một thời điểm dường như hiếm thấy có ǵ xẩy ra, nhưng thực sự đang có nhiều điều đang diễn tiến. Đáng phấn khở nhất là việc hiện hữu của đệ nhị ủy ban quốc tế về Hiệp Nhất và Sứ Vụ, mặc dù quá sớm để thấy được kết quả của nó. Nó mới được có hơn 1 năm thôi.
Vấn Những người Anh Giáo có cởi mở với vấn đề đại kết hay chăng?
Đáp Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo hết sức dấn thân t́m kiếm sự hiệp nhất. Chúng tôi đang bàn luận và ở vào những giai đoạn hiệp thông khác nhau toàn phần hay bán phần với rất nhiều cộng đồng Kitô hữu đủ loại. Việc t́m kiếm hiệp nhất là một điều mà những người giáo dân thuộc Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo rất lứu ư và thường thôi thúc việc đẩy mạnh vấn đề này đối với những ai phụ trách việc liên lạc và bàn luận.
Vấn Rôma có phải là một thành phố cởi mở theo nghĩa đại kết hay chăng?
Đáp Có: thế nhưng mức độ cởi mở khác nhau rất nhiều.
Vấn Các mục đích chung để cùng nhau làm việc ở Rôma với các Kitô hữu khác niềm tin đây là ǵ?
Đáp Tôi đă đề cập đến Ủy Ban Quốc Tế về Hiệp Nhất và Sứ Vụ… Cơ cấu này đă được dịp rất tốt để t́m hiểu những ǵ chúng tôi có thể làm chung để nhờ đó giúp cho con người ta t́m thấy cách thức cứ theo đó mà làm. Điều này đạt tới một mức độ liên hiệp với nhau nhất mà chúng tôi thấy được. Những người Anh Giáo và Công Giáo có thể và thực sự hợp tác với nhau trong những vấn đề quan tâm xă hội, cho dù có nhiều lúc họ khác nhau về những điều luân lư thần học. Tôi tin rằng ḥa b́nh và công lư là lănh vực quan trọng nhất, v́ nó đánh động ḷng thương cảm của tất cả mọi người Kitô hữu, thành phần chẳng những cùng nhau hành thiện mà c̣n thấy ḿnh nhờ đó liên kết sâu xa hơn. Tôi không thể nào đi vào tất cả mọi dự án chung chung này, chỉ v́ có quá nhiều dự án khắp thế giới cần phải liệt kê.
Vấn Từ khi có vị tân Tổng Giám Mục Canterbury là Đức Rowan Williams th́ có ǵ thay đổi xẩy ra liêan quan tới những người không thuộc Anh Giáo chăng?
Đáp Chúng ta phải chờ xem. Đức Tổng Giám Mục Rowan chắc chắn sẽ đánh dấu quan điểm của ngài trên toàn thể giáo hội. Ngài đă chiếm được ḷng trọng kính và quí mến của nhiều người, nhờ công việc ngài làm và tính nết của ngài qua nhiều năm trước khi làm tổng giám mục Canterbury. Ngài đă hứa ngài có thể thực hiện những liên hệ tốt đẹp với những Kitô hữu thuộc các truyền thống khác cũng như với thành phần thuộc các tôn giáo khác. Ngài sẽ có thể tiếp tục và phát triển công việc đă được vị tiền nhiệm của ngài là Đức Carey thực hiện hết sức tốt đẹp.
Vấn Trung Tâm Anh Giáo là ǵ?
Đáp Trung tâm này được thành lập do sự khích lệ của cả Đức Tổng Giám Mục Michael Ramsey và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, theo đà nhiệt t́nh về vấn đề đại kết được Công Đồng Chung Vaticanô II phát động. Đức tổng giám mục và Đức Giáo Hoàng nhận thấy rằng những lời phát biểu chính thức chưa đủ và “mối liên hệ đặc biệt” giữa những người Anh Giáo và Công Giáo Rôma không thể nào triển nở nếu người ta không thực sự biết nhau và có thể thẳng mặt nói chuyện với nhau về những ǵ họ cùng nhau có và những ǵ phân rẽ họ. Không có trung tâm này, việc hiểu biệt nhau thực sự sẽ không sâu xa, và sẽ không tạo được sự tiến bộ.
Bài Giáo Lư cho Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư Hằng Tuần 23/1/2003 về Trách Nhiệm Đại Kết của Kitô Hữu
1. Chúa Kitô đă thiết lập “chỉ một” Giáo Hội “duy nhất”: Chúng ta tuyên xưng điều này trong Kinh Tin Kính Niceno-Constantinopolitan: “Tôi tin có một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”. “Tuy nhiên”, Công Đồng Chung Vaticanô II đă nhắc chúng ta rằng, “vẫn có nhiều cộng đồng Kitô hữu tỏ ḿnh cho người ta thấy ḿnh thực sự là di sản của Chúa Giêsu Kitô; tất cả đều xác nhận ḿnh là môn đệ của Chúa Kitô, thế nhưng họ lại có những ư nghĩ bất hợp với nhau và tiến bước trên những nẻo đường khác nhau, như thế chính Chúa Kitô đă bị phân chia vậy” (Unitatis Redintegratio”, 1).
Hiệp nhất là một đại ân, nhưng lại là một ân huệ chúng ta đang chức đựng trong những b́nh sành mỏng ḍn dễ vỡ. Thực tại về niềm xác tín này đă được chứng tỏ cho thấy nơi những suy biến của cộng đồng Kitô Giáo qua các thế kỷ.
Bởi sức mạnh của đức tin hiệp nhất chúng ta, mà Kitô hữu chúng ta buộc phải, mỗi người theo ơn gọi của ḿnh, phục hồi mối hiệp thông trọn vẹn, “kho tàng” quí giá được Chúa Kitô để lại cho chúng ta. Với một tấm ḷng tinh tuyền và thành thực, chúng ta phải không ngừng hoạt động nơi công cuộc phúc âm này. Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo nhắc chúng ta nhớ đến công việc trọng yếu này và hiến cho chúng ta cơ hội để các Giáo Hội và cộng đồng giáo hội khác nhau hợp lại cầu nguyện, cũng như để tham dự vào những cuộc họp chung giữa anh chị em Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành, để đồng thanh nhất trí nài xin tặng ân trọn vẹn hiệp nhất quí giá này.
2.- “Chúng ta chứa đựng kho tàng này trong những b́nh sành” (2Cor 4:7). Thánh Phaolô nói điều này khi ngài nói về thừa tác vụ tông đồ, một thừa tác vụ được thể hiện ở chỗ làm cho ánh quang rạng ngời của Phúc Âm chiếu sáng nơi con người, và ngài nhận định là: “V́ chúng tôi không rao giảng về bản thân ḿnh mà là Đức Giêsu Kitô là Chúa và chúng tôi như những người tôi bộc v́ Chúa Kitô phục vụ anh em” (ibid.5). Ngài biết gánh nặng và sự khó khăn của vấn đề truyền bá phúc âm hóa, cũng như của bản chất mỏng ḍn của con người; ngài đă nhắc nhở chúng ta rằng kho tàng lời rao giảng tiên khởi của Kitô Giáo đă kư thác cho chúng ta “trong những b́nh sành” được truyền đạt qua những dụng cụ yếu hèn “để chứng tỏ quyền năng siêu việt thuộc về Thiên Chúa chứ không phải thuộc về chúng ta” (ibid.7). Tuy nhiên, lại không có một kẻ thù nào sẽ có thể thành công trong việc thay thế việc loan truyền Phúc Âm, hay trong việc làm át đi tiếng nói của Vị Tông Đồ này được: “Chúng tôi bị khốn khó mọi bề”, Thánh Phaolô nhận thức, “nhưng không bó tay” (câu 8). Ngài thêm, “chúng tôi tin tưởng nên chúng tôi nói lên” (câu 13).
3. Chúa Giêsu đă cầu nguyện cho các môn đệ của Người ở Bữa Tiệc Ly “cho họ tất cả được nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Jn 17:20-21). Bởi thế, hiệp nhất là một “kho tàng” Người đă ban cho các vị. Kho tàng này có hai đặc tính chuyên biệt: một đàng, hiệp nhất nói lên ḷng trung thành với Phúc Âm; đàng khác, như chính Chúa Kitô đă nói, là điều kiện để cho tất cả mọi người tin rằng Người là Đấng được Cha sai. Do đó, mối hiệp nhất của cộng đồng Kitô Giáo hướng đến việc truyền bá phúc âm hóa cho tất cả mọi dân nước.
Cho dù tặng ân này có cao quí và cao cả, nhưng con người yếu hèn đến nỗi đă không lănh nhận và cảm nhận tặng ân này một cách trọn vẹn. Trong quá khứ, những mối liên hệ giữa các người Kitô hữu với nhau đă có những lúc tỏ ra ḱnh chống nhau, có một số trường hợp đi đến chỗ thù ghét nhau nữa. Về tất cả những điều này, như Công Đồng Chung Vaticanô II đă nhắc nhở một cách chính xác, tạo nên “gương mù” trước mặt thế giới và “tác hại” đến việc rao giảng Phúc Âm (x Unitatis Redintegratio, 1).
4. Phải! Tặng ân hiệp nhất được chứa đựng trong “những b́nh sành”, có thể sứt mẻ, chính v́ thế mới cần phải hết sức cẩn thận ǵn giữ. Cần phải vun trồng nơi Kitô hữu một t́nh yêu có khả năng thắng vượt những khác biệt; cần phải thực hiện mọi nỗ lực để vượt qua mọi trở ngại, bằng việc không ngừng cầu nguyện, kiên tŕ đối thoại, và thực tế hợp tác huynh đệ phục vụ thành phần bần cùng nhất và khẩn thiết nhất.
Không được thiếu vắng ḷng mong mỏi hiệp nhất nơi sinh hoạt hằng ngày của các Giáo Hội và Cộng Đồng giáo hội, cũng như trong cuộc sống tư của tín hữu. Theo chiều hướng ấy, theo Tôi, cần phải cùng nhau suy nghĩ về thừa tác vụ của Vị Giám Mục Rôma, một thừa tác vụ làm nên như “một nguyên lư vĩnh viễn và hữu h́nh của mối hiệp nhất và là nền tảng hiệp nhất” (Lumen Gentium, 23), để “t́m kiếm một h́nh thức thi hành quyền bính chính yếu này, nhờ đó, cho dù không loại bỏ được yếu tính nơi sứ vụ của ngài, cũng hướng tới một t́nh trạng mới mẻ” (Ut Unum Sint, 95). Chớ ǵ Chúa Thánh Thần soi sáng cho các vị mục tử và các thần học gia thuộc các Giáo Hội của chúng ta trong cuộc đối thoại kiên nhẫn và chắc chắn mang lại ích lợi này.
5. Nh́n toàn diện công cuộc đại kết, Tôi cảm thấy phải cám ơn Chúa về sự tiến bộ đă đạt được cho tới nay, cả về phẩm liên quan tới những liên hệ huynh đệ gắn bó giữa các Cộng Đồng khác nhau, lẫn hoa trái gặt hái được từ những cuộc trao đổi về thần học, mặc dù khác nhau nơi các thể thức và cấp độ của nó. Chúng ta có thể nói rằng Kitô hữu ngày nay đang xích lại gần nhau hơn và thuận ư với nhau hơn, cho dù con đường tiến đến việc hiệp nhất vẫn c̣n dốc dác, với những chướng ngại và giới hạn. Theo con đường được Chúa ấn định, họ tin tưởng tiến tới, v́ họ biết rằng họ, như các môn đệ về làng Emmau, được Chúa Kitô phục sinh đồng hành hướng tới đích điểm của mối hiệp thông trọn vẹn của Giáo Hội là nơi họ cùng nhau “bẻ Bánh”.
6. Anh Chị Em thân mến! Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hăy tỉnh thức, kiên tŕ và tin tưởng là những chiều kích bất khả thiếu cho việc dấn thân đại kết. Với mục tiêu này, chúng ta liên kết hướng về Chúa Kitô trong Tuần Cầu Nguyện này, với lời kêu cầu được trích từ những văn bản sửa soạn cho dịp này: “Lạy Cha Thánh, mặc dù chúng con yếu hèn, Cha cũng đă làm cho chúng con trở thành những chứng nhân hy vọng, thành những môn đệ trung thành của Chúa Kitô. Chúng con mang kho tàng này trong những b́nh sành, và chúng con sợ ḿnh sẽ bị thất bại trước những khổ đau và sự dữ. Có những lúc thậm chí chúng con ngờ vực quyền lực của lời Chúa Giêsu nói ‘xin cho họ được nên một’. Xin ban cho chúng con kiến thức về vinh quang chiếu giải trên dung nhan Chúa Kitô, nhờ đó, bằng hành động, bằng việc dấn thân và bằng cả cuộc đời của chúng con, chúng con loan báo cho thế giới biết rằng Người là Đấng đang sống và đang hoạt động giữa chúng con”.
ĐHY Kasper Nhận Định về T́nh Trạng Tiến Bộ và Những Quan Tâm về Vấn Đề Đại Kết
Trong Tuần Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo (18-25/1/2003), Đức Hồng Y Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo đă trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Vatican liên quan đến những tiến bộ và quan tâm về vấn đề đại kết như sau:
Vấn Gần đây đă có những tiến bộ nào trong cuộc hành tŕnh đại kết?
Đáp Cho đến nay những chứng cớ cho thấy vấn đề đại kết tiến bộ đó là việc ĐTC viếng thăm các nước Bắc Âu Scandinavia (Na-Uy, Thụy Điển, Đan Mạch), những lần viếng thăm Rôma đây của các người bạn Phần Lan của chúng ta, những biến cố đại kết cả thể của Năm Thánh 2000, những lần ĐTC viếng thăm một số nước đa số Chính Thống Giáo, và những lần viếng thăm Rôma của các vị thượng phụ Chính Thống, chẳng hạn như của thượng phụ Giáo Hội Chính Thống Romania là Đức Teoctist năm ngoái, những Ngày Cấu Nguyện cho Ḥa B́nh thế giới ở Assisi năm 1986 và 2002. Cuộc hành tŕnh huynh đệ tiến đến với nhau này, như ĐTC nhiều lần đă xác quyết, không thể văn hồi được nữa. Nó đă được chính Chúa Kitô vẽ ra cho chúng ta, Đấng mà vào trước ngày tử nạn, đă nguyện cầu để tất cả được nên một. Thế nên, vấn đề hiệp nhất là một giao ước Chúa Kitô để lại vậy.
Vấn Có những quan tâm nào chăng?
Đáp Mặc dù có những tiến bộ, nhưng người ta không thể không nêu lên vấn đề là việc huynh đệ tiến đến với nhau đây, trong giai đoạn của những năm vừa qua, đă trở nên chậm hơn cũng như mỏi mệt hơn. Ḷng nhiệt t́nh ban đầu đă bị suy giảm ở chỗ có những lúc nó được kèm theo bởi những kỳ vọng mộng tưởng cùng với những khó khăn mới xuất hiện. Đối với Giáo Hội Chính Thống, sau cuộc đổi thay về chính trị vào năm 1989-1990 th́ lại xuất hiện vấn đề được gọi là chủ trương biệt lập Uniatism. C̣n việc đối thoại với các cộng đồng giáo hội Tây Phương, những khó khăn lớn nhất, trước hết là ở vấn đề giáo hội, nhất là vấn đề thừa tác vụ giáo hội. T́nh h́nh lại càng trở nên phức tạp hơn khi có những giải đáp khác nhau về một số vấn đề đạo lư trọng yếu. Vấn đề lại càng bất đắc ư ở sự kiện là vẫn chưa thể nào cùng nhau tham dự bàn tiệc của Chúa. Nên ai lại chẳng cảm thấy buồn được chứ?
Vấn Vậy th́ ĐHY nghĩ sao?
Đáp Trong một t́nh thế như vậy, vấn đề năng nổ hoạt động hơn nữa cũng không đủ để làm cho sự việc tiến triển. Dĩ nhiên chúng ta chẳng những không được giảm bớt việc dấn thân này mà c̣n phải tiếp tục làm hết sức ḿnh nữa, tuy nhiên việc hiệp nhất của Giáo Hội thành quả không phải do sức lực và ư muốn của chúng ta mà thôi. Hiệp nhất là một tặng ân của Chúa Thánh Thần. Chúng ta chỉ biết cầu nguyện để Thiên Chúa sai Thần Linh của Ngài xuống trên chúng ta và ban cho chúng ta một Lễ Hiện Xuống mới. Trong t́nh thế ngày càng trở nên khó khăn hiện nay, chúng ta trước hết phải căn cứ vào các thứ gốc rễ thiêng liêng sâu xa của việc chúng ta dấn thân, đó là chúng ta phải trở về với các cội nguồn dấn thân Kitô giáo và đại kết của ḿnh. Một vị thánh, như Thánh Bridge, sống sâu xa như một nhà chiêm niệm đồng thời lại như một phụ nữ chủ động dấn thân làm chính trị, có thể trở thành một tấm gương cao cả giúp nỗ lực của chúng ta đạt được sự hiệp nhất. Theo gương của vị thánh nữ này, chúng ta cũng tin chắc rằng Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta tất cả những ǵ chúng ta nhân danh Chúa Giêsu xin Ngài. Và c̣n tặng ân nào chúng ta nhân danh Chúa Giêsu để xin Ngài quí hơn là ơn các môn đệ của Người hiệp nhất với nhau.
Huấn Từ Truyền Tin 20/1/2003 về Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo
Anh Chị Em thân mến!
1. Hôm qua là ngày bắt đầu “Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo”, một tuần lễ được cử hành hằng năm từ ngày 18 đến 25, và ở Nam Bán Cầu lại cử hành gần dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Những ư hướng của “Tuần” này được sửa soạn bởi một ủy ban quốc tế hỗn hợp giữa các vị đại diện Công Giáo và Ủy Ban “Đức Tin và Hiến Chế” của Hội Đồng Thế Giới Các Giáo Hội.
Đề tài năm nay là “Chúng Ta Đựng Kho Tàng Này trong Những B́nh Sành”, được trích từ Bức Thư Thứ Hai của Thánh Phaolô gửi Tín Hữu Côrintô (x 4:7). Kiến thức về vinh quang thần linh, được phản ảnh trên dung nhan Chúa Kitô, chiếu vào tâm hồn chúng ta; tuy nhiên, chúng ta đựng kho tàng này “trong những b́nh sành”, tức là, trong sự mềm yếu của thân phận loài người của chúng ta, “để chứng tỏ cho thấy quyền năng siêu việt bởi Thiên Chúa mà có chứ không phải bởi chúng ta” (2Cor 4:7).
Thật vậy, việc tái kiến tạo t́nh trạng hiệp nhất của tất cả mọi người đă lănh nhận phép rửa là tặng ân Thiên Chúa ban, và nguyên nỗ lực của chúng ta không đủ để đạt thành, thế nhưng, khi Kitô hữu hợp lại với nhau, coi nhau như anh em, hợp tác với nhau để xoa dịu các nỗi thương đau, và cầu nguyện cho sự hiệp nhất, th́ họ góp phần vào việc làm cho dung nhan của Chúa Kitô và vinh quang của Người chiếu tỏ.
2. Trong ngày thứ hai của “Tuần Lễ Cầu Nguyện” đây, câu suy niệm ấy cũng được trích từ cùng đoạn của Thánh Tông Đồ là “chúng tôi chịu khổ ải trăm bề nhưng không bị kiềm tỏa (2Cor 4:8). Phải, chúng ta bị khổ đau bởi những chia rẽ và nhiều thứ chia rẽ trở thành những chướng ngại vẫn làm cho chúng ta ngăn cách! Thế nhưng chúng ta không bị đè bẹp, v́ vinh quang của Chúa Kitô chiếu tỏ nơi chúng ta, tiếp tục dẫn hướng chúng ta tiến đến chỗ thanh tẩy bản thân và thứ tha cho nhau, và soi sáng cùng ban sức mạnh cho lời chúng ta cùng nhau nguyện cầu dâng lên Thiên Chúa, để Ngài ra tay chữa lành vết thương chia rẽ của chúng ta.
3. Anh Chị Em thân mến, chúng ta hăy xin Chúa làm cho mối hiệp thông nơi Kitô hữu được tăng triển trọn vẹn, trong chân lư và bác ái. Chớ ǵ mối hiệp thông này là lời kêu cầu chung của chúng ta. Chúng ta sẽ cùng nhau long trọng lập lại lời kêu cầu này vào ngày 25/1 tới đây, ngày kết thúc “Tuần Lễ” ấy, ngày Tôi sẽ cử hành buổi nguyện kinh tối ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành là nơi diễn tiến những biến cố rất quan trọng mang tính cách đại kết.
Chúng ta hăy phó dâng việc thiết tha cầu nguyện này cho việc chuyển cầu của Mẹ Maria Rất Thánh là Mẹ của Giáo Hội.