NỖ LỰc ĐẠI KẾT

2004

ĐTC GPII: Bức Thư ngỏ cùng Đức Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomew I dịp trao trả Di Hài Hai Vị Thánh Giáo Phụ Constantinople

Trong buổi trao tặng di hài hai vị thánh Gregory Nazianzen và John Chrysostom trong cuộc cử hành đại kết tại Đền Thờ Thánh Phêrô hôm Thứ Bảy 27/11/2004, ĐTC GPII đã ngỏ lời cùng Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Giáo Toàn Cầu Bartholomew I như sau:

Huynh Bartholomew I, Thượng Phụ Constantinople thân mến,

1.     Lòng tôi vẫn sống động niềm vui của cuộc chúng ta gặp gỡ nhau tại đền thờ Vatican này hôm 29/6 năm nay vào dịp lễ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Và giờ đây, theo lòng từ ái của mình, Chúa lại ban cho chúng ta cơ hội, trước mộ của Thánh Tông Đồ Phêrô đây, một cuộc gặp gỡ huynh đệ khác, trong nguyện cầu và trong quyết tâm cùng nhau tiến về mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình như Chúa Kitô mong muốn nơi thành phần môn đệ của Người.

Chúng ta có được cơ hội này là bởi chúng ta cùng tôn kính hài cốt của những vị Thánh Gregory Thần Học Gia and John Chrysostom, hai Vị Giáo Phụ thành Constantinople, hai vị Tiến Sĩ của Giáo Hội, cùng với Thánh Basiliô Cả, là những vị bao giờ cũng được Giáo Hội Công Giáo dâng lễ kính. Phần chúng ta, mỗi lần “chúng ta gặp gỡ những vì Giáo Phụ này là chúng ta được vững mạnh trong đức tin và phấn khởi trong đức cậy” (Apostolic letter "Patres Ecclesiae," No. 1).

2.     Giờ đây, một số những hài cốt của các vị, những di tích thuộc thân thể các đấng đã sống theo Chúa Kitô, đã chịu bắt bớ vì danh Người và đã là đền thờ của Chúa Thánh Thần, được trả về cho Contantinople.

Trong việc trao trả lại những hài tích thánh này, chúng ta thấy được một cơ hộo ân phúc trong việc thanh tẩy những hồi niệm thương đau của mình, trong việc kiên cường con đường hòa giải của chúng ta, trong việc xác nhận đức tin nơi các vị Tiến Sĩ của chúng ta đây là đức tin của Giáo Hội cả Đông lẫn Tây. Đồng thời chúng ta cũng thấy được giờ phút thuận lợi “để hôm nay đây bày tỏ bằng lời nói cũng như việc làm các kho tàng phong phú được Giáo Hội của chúng ta bảo trì trong các kho truyền thống” ("Orientale Lumen," No. 4).

Đây là “giậy phút thuận lợi” để liên kết với việc chuyển cầu của các vị lời nguyện cầu của chúng tax in Chúa mau làm cho chóng đến giờ chúng ta có thể cùng nhau chung sống hoàn toàn hiệp thông, qua việc cử hành Thánh Thể, nhờ đó, góp phần hữu hiệu hơn nữa trong việc làm cho thế giới tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa.

3.     Huynh thân mến, Tôi sẽ không bao giờ thôi tìm kiếm một cách mạnh mẽ và dứt khoát mối hiệp thông của thành phần môn đệ Chúa Kitô này, như lòng tôi mong ước, để đáp ứng ý muốn của Chúa, trở thành một người tôi tớ cho mối hiệp thông “trong chân lý và yêu thương hầu con tầu – một biểu hiệu tuyệt vời được Hội Đồng Thế Giới Các Giáo Hội chọn làm huy hiệu – sẽ không bị các thứ phong ba bão tố trấn át và một ngày kia sẽ tiến tới bến bờ bằng an”.

Xin Chúa là Đấng đến nơi các thánh nhân (x Zac 14:5) củng cố mục đích của chúng ta và bảo trì chúng ta trong việc dấn thân hằng ngày của chúng ta để làm trọng giới răn mới. Trong sự nhẫn nại của Chúa Kitô cũng như trong đức bác ái của Thiên Chúa, với lòng cảm mến huynh đệ.

Tại Vatican Ngày 27/11/2004
Gioan Phaolô II

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Zenit ngày 28/11/2004

Về phần mình, khi lãnh nhận hài cốt hai vị Thánh Giáo Phụ liên hệ với riêng Giáo Hội Chính Thống Giáo ở Contantinople này, vì cả hai vị đều là Thượng Phụ ở Giáo Hội này, Đức Thượng Phụ Bartholomew I nói rằng hành động này cho thấy rằng “những vấn đề bất khả thắng vượt không còn hiện hữu trong Giáo Hội của Chúa Kitô”.

Thật vậy, sau khi nghe ĐTC GPII ngỏ lời cùng mình, cũng như sau việc tôn kính di hài thánh, sau phần đọc các đoạn Thánh Kinh và các đoạn trích dẫn những lời của hai vị thánh Tiến Sĩ này, sau lúc nguyện cầu và sau khi lãnh nhận di hài thánh, Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Hoàn Vũ này đã công khai lên tiếng cám ơn ĐTC GPII:

“Tác động linh thành được cử hành hôm nay đây, một tác động sửa chữa lại những gì là bất thường và bất chính của giáo hội. Cử chỉ huynh đệ này của Giáo Hội Rôma xưa cho thấy rằng những vấn đề bất khả thắng vượt không còn hiện hữu trong Giáo Hội Chúa Kitô nữa, khi mà yêu thương, công lý và bình an gặp gỡ nhau trong việc ‘phục vụ’ linh thánh của mối hòa giải và hiệp nhất”.

Theo vị Thượng Vụ lãnh đạo thế giới Chính Thống Giáo này thì qua cử chỉ ấy, ĐTC GPII đã nêu “một gương sáng cần phải được bắt chước”.

Hài tích của Thánh Gregory Nazianzen, qua đời năm 390, đã tới Rôma theo một nhóm nữ tu thuộc lễ nghi chính thống Byzantine trong cuộc trốn lành cuộc bách hại tượng ảnh hồi thế kỷ thứ 8 để có thể bảo trì các di hài này.

Những hài tích của Thánh John Chrysostom, qua đời năm 407, có lẽ đã được di chuyển khỏi Giáo Hội Chính Thống Contantinople trong thời đế quốc Latinh Contantinople kéo dài từ năm 1204 đến 1258.

 

ĐTC GPII Trao Di Hài Thánh cho Đức Thượng Phụ Hoàn Cầu Bartholomew I

Vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy 27/11/2004, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, ĐTC GPII, cùng với Đức Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomew I sẽ chủ sự một buổi cử hành đại kết để ĐTC trao cho vị Thượng Phụ này các di tích của các Thánh Gregory Nazianzus và Gioan Chrysostom là những vị Giám Mục và Tiến Sĩ của Giáo Hội.

Bản tuyên cáo của Văn Phòng Cử Hành Phụng Vụ của Đức Giáo Hoàng cho biết là “cuộc cử hành này sẽ diễn ra theo cấu trúc của Phụng Vụ Lời Chúa và sẽ bao gồm những nghi thức sau đây: việc giới thiệu và tôn kính các di hài cốt; đọc các bài Thánh Kinh và trích dẫn từ hai Vị Tiến Sĩ Giáo Hội cùng với những bài ca theo phụng vụ Byzantine; giây phút nguyện cầu gồm có Kinh Nguyện chung và Kinh Chúa Dạy, nghi thức trao các di tích kèm bài nói của ĐTC và lời tạ ơn của Đức Thượng Phụ; các nghi thức kết thúc.

“Cuộc cử hành này là dấu hiệu cho thấy Giáo Hội Tây Phương và Đông Phương muốn cùng nhau tiến tới tặng ân trọn vẹn hiệp nhất để thế giới tin tưởng vào Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế Duy Nhất”.

Cộng đồng Chính Thống Giáo ở Rôma, cũng như giáo sũ, tu sĩ và tín hữu thuộc giáo phận Rôma, được mời tham dự cuộc cử hành đặc biệt này.

 

Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo: Hội Nghị kỷ niệm 40 Năm Sắc Lệnh Đại Kết Kitô Giáo

Để kỷ niệm 40 năm Công Đồng Chung Vaticanô II ban hành sắc lệnh về vấn đề đại kết Kitô Giáo "Unitatis Redintegratio" ngày Lễ Đức Mẹ Dâng Mình Vào Đền Thánh 21/11/1964, cũng là dịp Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân” được Công Đồng ban bố, Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã tổ chức một hội nghị quốc tế 3 ngày, từ Thứ Năm 11 đến Thứ Bảy 13/11/2004, ở Rocca di Papa, gần Rôma, với chủ đề: “Sắc Lệnh Về Đại Kết Của Công Đồng Chung Vaticanô II: 40 Năm Sau”.

Tại văn phòng báo chí của Tòa Thánh trong cuộc họp báo hôm Thứ Tư ngay trước ngày khai mạc hội nghị này, ĐHY chủ tịch Walter Kasper đã bày tỏ nhận định của mình là việc đại kết Kitô giáo đích thực không hề tác hại tới căn tính Công Giáo.

Hội nghị này sẽ cố gắng để bàn giải những vấn đề được ngài nêu lên như: “Nội dung và mục tiêu của bản văn kiện này là gì? Nó đã gây được ảnh hưởng ra sao trong những năm này? Chúng ta đã tiến đến đâu về vấn đề đại kết? Những gì vẫn còn phải thực hiện?”

Theo ngài, “việc ý thức về vấn đề đại kết của Giáo Hội đã tiến triển”, thế nhưng, ngài cũng nhìn nhận rằng “các trục trặc và các thất bại vẫn còn đó”, nên “chúng ta hiển nhiên là chưa đạt tới mục tiêu hiệp thông trọn vẹn và hữu hình”.

Ngài cho biết “chúng ta đang ở trong một tình trạng long chừng. Đôi khi vẫn còn những thành kiến cũ. Những dấu hiệu trì trệ và khuynh hướng vị kỷ vẫn đáng tiếc xẩy ra”. Ngài còn than rằng “vấn đề đại kết gặp nguy hiểm bới khuynh hướng hào hứng nông nổi”.

Về vấn đề “Việc Đại Kết đi về đâu?”, đức hồng ý cho biết có hai vấn đề cần phải được giải quyết, đó là “căn tính Công Giáo và việc đại kết thiêng liêng”: “Việc ngờ vực rằng vấn đề đối thoại đại kết tác hại tới căn tính Công Giáo riêng của chúng ta là một việc ngờ vực trầm trọng. Sự thật lại xẩy ra trái ngược: Vấn đề đối thoại chủ trương thành phần đối thoại cần phải có căn tính riêng của họ”; về vấn đề đại kết thiêng liêng, ngài nói: “Vấn đề đại kết không phải là một hình thức ngoại giáo của giáo hội”, mà là “một tiến trình thiêng liêng”. Đó là lý do, đức hồng y chủ tích đã tiết lộ cho biết phân bộ của ngài đang soạn thảo một cuốn “Cẩm Nang Đại Kết Thiêng Liêng” là tập sách bao gồm những “đề nghị gợi ý cho các giáo phận, những điều hướng dẫn”.

ĐGM Brian Farrell, bí thư của hội đồng này cho biết có 260 tham dự viên, thành phần đại diện 28 hội đồng giám mục ở Phi Châu, 21 ở Mỹ Châu, 28 ở Á Châu, 25 ở Âu Châu và 2 ở Đại Dương Châu, chưa kể thành phần đại diện các tòa Thượng Phụ Công Giáo Đông Phương, các Giáo Hội Chính Thống, cà các giáo hội và cộng đồng Kitô hữu.

Vào lúc 5 giờ 30 chiều Thứ Bảy 13/11/2004, ĐTC GPII chủ tọa việc cử hành phụng vụ giờ kinh chiều ở Đền Thờ Thánh Phêrô, với sự tham dự của cả các giáo xứ thuộc giáo phận Rôma, các phong trào và hiệp hội hoạt động cùng nguyện cầu cho việc hiệp nhất Kitô Giáo.


Tòa Thánh Rôma Thẩm Định về Những Mối Liên Hệ Giữa Giáo Hội Công Giáo với Các Giáo Hội Chính Thống Giáo

Hôm Thứ Tư 10/11/2004, tại cuộc họp báo được thực hiện bởi Đức ông Eleuterio Fortino, phó thư ký Hội Đồng Tòa Thánh Về Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, đã tường trình về diễn tiến cùng với những nỗ lực đại kết liên quan đến vấn đề hiệp nhất giữa Giáo Hội Công Giáo với các Giáo Hội Chính Thống Giáo. Theo ngài thì “phong trào đại kết Kitô Giáo giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống Giáo đã đạt được “tiến bộ quan trọng” vì “tinh thần cởi mở”. Sau đây là nguyên văn bài trình bày của đức ông phó thư ký:

Một trong những yếu tố quan trọng nhất của sắc lệnh "Unitatis Redintegratio" (UR) vẫn còn hiệu lực sau 40 năm ban hành, đó là yếu tố về những mối liên hệ với Các Giáo Hội Chính Thống. Công Đồng Chung Vaticanô II đã khuyên dụ hết mọi người rằng: ‘đặc biệt những ai muốn hoạt động để tái thiết lập mối hiệp thông trọn vẹn hằng mong ước giữa Các Giáo Hội Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo” hãy “chú ý một cách thích đáng đến điều kiện đặc biệt của việc phát xuất và phát triển của Các Giáo Hội Đông Phương, cũng như đến bản chất của những mối liên hệ hiện hữu giữa Các Giáo Hội Đông Phương với Tòa Thánh Rôma trước khi xẩy ra tình trạng phân rẽ” (UR, 14). Với ý thức ấy, các mối liên hệ đã được thiết lập, vào những lúc khác nhau và với những cách thức khác nhau, cùng với cuộc đối thoại giống nhau về thần học với tất cả các Giáo Hội Đông Phương, với các Giáo Hội Chính Thống và với các Giáo Hội Cổ Đông Phương, hay với những Giáo Hội trước Công Đồng Chalcedon. Đức Thánh Cha đã thực hiện một cuộc thẩm định tổng quát trong thông điệp “Xin Cho Họ Được Hiệp Nhất Nên Một – Ut Unum Sint (UUS)’. Về việc đối thoại với các Giáo Hội Chính Thống, Ngài viết: ‘Với một tinh thần cởi mở, căn cứ vào những gì chúng ta cùng nhau có, Ủy Ban Hỗn Hợp (đối thoại thần học) đã thực hiện được sự tiến bộ quan trọng’ (UUS, 59). Đối với việc đối thoại với các Giáo Hội Cổ Đông Phương, Ngài xác nhận là ‘về vấn đề liên quan tới những tranh luận Kitô học truyền thống, những giao tiếp về đại kết đã thực sự làm sáng tỏ vấn đề để chúng ta có thể cùng nhau tuyên xưng đức tin chúng của chúng ta” (UUS, 63).

Những mối liên hệ này vẫn còn phấn khởi và tiến triển sau 40 năm sắc lệnh UR, kể cả trong những trường hợp xẩy ra những cơ hội mới cũng như diễn ra những khó khăn không ngờ.

1.     Cuộc đối thoại về thần học với Các Giáo Hội Chính Thống, sau khi được bắt đầu tốt đẹp kèm theo những thành quả được nói đến trong thông điệp UUS, hơn 15 năm qua, đã gặp những khó khăn nghiêm trọng, vì từ khóa họp chung cuối cùng (ở Baltimore, tiểu bang Maryland, năm 2000) đã không thể thực hiện những khóa họp khác nữa. Khóa họp lần cuối cùng ấy đã bàn đến đề tài ‘Những Ý Nghĩa Theo Giáo Hội Học Và Giáo Luật về Vấn Đề Uniatism (biệt chú của người dịch: Hiệp Nhất Về Tín Điều Song Vẫn Theo Lễ Nghi Riêng của một số Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đã tái hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo)’. Vấn đề viết một văn kiện chung về cuộc bàn luận này đã không được đồng ý. Tuy nhiên, khóc họp này đã nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải tiếp tục trao đổi cũng như đề cao sự kiện quan trọng đối với việc đối thoại về thần học này. Cả đôi bên đều tỏ cho thấy rằng việc ra đời của Các Giáo Hội Đông Phương Công Giáo có liên hệ sâu xa với vấn đề thượng quyền của Vị Giám Mục Rôma trong Giáo Hội. Bởi thế, vấn đề này cần phải được giải quyết như là một vấn đề chính trong mối liên hệ giữa những người Công Giáo và Chính Thống Giáo.

2.     Về vấn đề “Thượng Quyền Phêrô”, Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã tổ chức một cuộc hội luận hàn lâm vào Tháng 5/2003, với những bản tường trình của những Người Công Giáo và Chính Thống về 4 đề tài: a) Nền tảng về thánh kinh của thượng quyền này, b) Thượng quyền này theo chủ trương của Các Vị Giáo Phụ của Hội Thánh, c) Vai trò của Vị Giám Mục Rôma ở những Công Đồng Chung, d) Những bàn luận mới đây về thượng quyền này với Công Đồng Chung Vaticanô I và về thượng quyền này nơi các thần học gia Chính Thống Giáo. Đây không phải là một cuộc chính thức đối thoại, mà là một cuộc hội luận về hàn lâm với những tính cách riêng biệt của nó. Tuy nhiên, việc tìm cách tiến đến mối hiệp thông trọn vẹn đã được tất cả mọi người đóng góp một cách dồi dào (như những liên hệ về tình huynh đệ, việc nghiên cứu nơi các học viện thần học, cấu trúc đối thoại qua các ủy ban hỗn hợp, việc cầu nguyện v.v.). Biên bản của cuộc hội lận này đã được phổ biến.

3.     Trong những năm qua, những mối liên hệ đã được gia tăng nơi một số Giáo Hội mà, trong quá khứ, tỏ ra ít hào hứng nơi việc giao tiếp với Giáo Hội Công Giáo. Sau khi Đức Thánh Cha viếng thăm Nhã Điển (năm 2001), Giáo Hội Hy Lạp, lần đầu tiên, đã gửi đến Rôma một phái đoàn đại biểu của mình (8-13/3/2002). Để đáp lễ, Giáo Hội Công Giáo đã gửi đến Nhã Điển (10-14/2/2003) một phái đoàn đại biểu, dưới sự hướng dẫn của ĐHY Kasper, để rồi việc chủ động hợp tác giữa đôi bên đã được thiết lập ở một số lãnh vực. Những mối liên hệ với Giáo Hội Hy Lạp cũng đang theo những thể thức khác nữa. Tôi nhớ một thể thức đó là vào năm 2003, cuộc hội luận thứ 8 về ‘Linh Đạo ở Đông và Tây cùng Những Ảnh Hưởng Hỗ Tương’ đã diễn ra ở Joannina (Hy Lạp), do Phân Khoa Thần Học Đại Học Thessalonica và ‘Antonianum’ Athenaeum ở Rôma tổ chức.

4.     Đức Thánh Cha đã viếng thăm Bulgaria vào năm 2002 (23-26/5). Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã đến xứ sở này vào Tháng 10 cùng năm (7-9). Sau cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha một năm, một phái đoàn của Hội Thánh Sofia đã đến viếng thăm Rôma (22-27/5/2003). Vào dịp ấy, về phía Cộng Đồng Chính Thống ở Rôma, việc sử dụng phụng vụ đã được phép thi hành ở Nhà Thờ Thánh Vinhsơn và Athanasia gần Trevi Fountain. Việc tìm kiếm hiệp nhất bao gồm tình đoàn kết và việc trao đổi các tặng ân.

5.     Vị Chủ Tịch Hội Đồng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã đến viếng thăm Giáo Hội Serbia (10-15/5/2002). Một phái đoàn đại biểu của Hội Thánh này và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo của xứ sở ấy hiện nay gặp gỡ nhau theo thường lệ.

6.     Sau khi Đức Thánh Cha viếng thăm Rumania (7-8/5/1999) cũng như sau cuộc viếng thăm Rôma của Thượng Phụ Theoctist (7-13/10/2002), những biến cố quan trọng cho những mối liên hệ về tình huynh đệ, bất chấp những trục trặc đang diễn tiến ở nước này giữa những người Công Giáo Hy Lạp và Chính Thống Giáo liên quan đến vấn đề các nơi chốn thờ phượng, Vị Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng này đồng thời lại được trao tặng bằng tiến sĩ “danh dự” bởi 4 phần khoa thần học ở Cluj: Chính Thống, Công Giáo Hy lạp, Công Giáo La Tinh và Tin lành.

7.     Trong những năm gần đây đã xẩy ra tình trạng căng thẳng giữa Tòa Thượng Phụ Moscow và Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội Nga phiền trách Giáo Hội Công Giáo về những gì được Giáo Hội Nga cho là dụ giáo và động lực mới để thực hiện việc ‘trở về hiệp nhất’ ở Ukraine. Đã có một số nỗ lực để làm sáng tỏ vấn đề này. Việc ĐHY Kasper viếng thăm Moscow vào năm 2004 là điều quan trọng (17-23/2). Kết cục là một nhóm hoạt động chung đã được thiết lập giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống ở Liên Bang Nga để giải quyết những vấn đề cụ thể hiện hữu giữa hai Giáo Hội nơi xứ sở này. Từ đó, nhóm này đã tổ chức được hai cuộc họp, một vào Tháng Năm và một vào Tháng Chín năm 2004.

8.     ĐHY Kasper đã viếng thăm Giáo Hội Chính Thống ở Byelorussia (15-18/12/2002) và đã bắt đầu một mối liên hệ tích cực với Giáo Hội này.

9.     Với những Giáo Hội Cổ Kính Đông Phương (Coptic, Ethiopia, Syria, và Armenia), với tư cách là một nhóm, xuất phát từ những thỏa thuận về Kitô học cũng như từ những thành quả của các cuộc đối thoại song phương, một cuộc đối thoại chính thức về thần học đã được bắt đầu vào năm 2002. Cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban Hỗn Hợp này đã xẩy ra ở Cairo vào Tháng Giêng năm 2004. Cuộc họp thứ hai sẽ được tổ chức ở Rôma vào Tháng Giêng năm 2005.

10.     Một Uỷ Ban Đối Thoại Hỗn Hợp cũng đã được thiết lập với Giáo Hội Đông Phương Assyria. Cuộc họp sắp tới đây sẽ diễn tiến ở Luân Đôn từ ngày 18-24/11/2004. Hai đề tài chính sẽ được tìm hiểu là truyền thống về thần học của Giáo Hội Cổ Kính Mesopotamia và khoa giáo hội học của mối hiệp thông theo các truyền thống Assyria và Công Giáo.

11.     Những mối liên hệ thường lệ và thường năng vẫn đang được bảo trì với Tòa Thượng Phụ Constantinople. Khi nào xẩy ra những gì khó khăn hay hiểu lầm, chúng liền được giải quyết ngay. Việc trao đổi thường xuyên các phái đoàn đại biểu đến dự lễ Thánh Anrê ở Finar và Lễ Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô ở Rôma đã cống hiến phương tiện hữu ích cho những cuộc trực tiếp đàm thoại với nhau. Đức Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomeos I đã đến Rôma tham dự Lễ Thánh Phêrô Phaolô năm nay. Vào dịp ấy, ngài đã xin Đức Thánh Cha những hài tích của Thánh Gioan Chrysostom và Thánh Gregory Nazianzus, hai Thượng Phụ Constantinople đang được giữ ở Đền Thờ Thánh Phêrô. Vào cuối tháng này, Đức Thượng Phụ Bartholomeos I sẽ đến Rôma để nhận từ Đức Thánh Cha tặng vật di hài thánh này. Nó sẽ là cơ hội cho một cuộc gặp gỡ mới.

Việc gia tăng những thứ giao tiếp này sẽ góp phần cho một khởi đầu mới trong vấn đề đối thoại về thần học. Sắc lệnh RU tiếp tục cống hiến cho thấy niềm phấn khởi và bước tiến hiệu nghiệm.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Zenit ngày 11/11/2004

 

Nhà Thần Học Chính Thống Giáo với tinh thần đại kết Kitô Giáo Đông Tây


Nhà thần học giáo dân Chính Thống người Pháp là Olivier Clément đã trở thành một đối tượng cho 2 cuốn sách mới. Cuốn thứ nhất là Mémoires d’espérance (những hồi niệm của niềm hy vọng), được Desclée de Brouwer xuất bản, và cuốn Olivier Clément, son Itinéraire Spirituel et Théologique (Olivier Clément, cuộc hành trình thiêng liêng và thần học).


Cuốn Mémoires d’espérance bao gồm một loạt bài phỏng vấn với ông Jean-Claude Noyer cho thấy Clément nêu lên một cách thức gặp gỡ Chúa Kitô và cảm nghiệm thần linh. Ông Clément, giống như ĐTC GPII, cho rằng Âu Châu cần phải hít thở bằng cả hai buồng phổi Đông Tây. Ông là tác giả của 30 tác phẩm. ĐTC đã mời ông viết bài suy niệm Đường Thánh Giá cử hành ổ Hí Trường Colosseum năm 1998.


Ông sinh ở vùng Languedoc, một miền đất bị xuống tinh thần Kitô giáo rất nhiều. Vào năm 20 tuổi, ông bắt đầu cuộc hành trình thiêng liêng, khiến ông gia nhập Tin Lành mà ông cảm thấy quá “khô khan”.


Cảm thấy bị thu hút bởi Chính Thống Đông Phương, ông khám phá ra một tác giả người Nga là Vladimir Lossky, một tác giả đã viết về thần học bí nhiệm của Giáo Hội Đông Phương, những tư tưởng giúp cho ông Clément khám phá được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và các vị Giáo Phụ của Giáo Hội.


Theo ông Jean-Claude Noyer thì ông Clément đã đặt vấn đề về “một Kitô Giáo mới mẻ về ý thức, sâu xa và nội tâm”.


Cuốn Olivier Clément, son Itinéraire Spirituel et Théologique vừa mới được phát hành bởi Édition Anne Sigier. Tác giả Franck Damour đã nhấn mạnh đến thần học của ông Clément là “thần học của một Kitô Giáo của Sự Phục Sinh hướng về trái đất, thân thể và vẻ đẹp”. Tác phẩm này kể lại đời sống của ông Clément và cuộc hành trình của ông từ vô thần đến một nền thần học có đặc tính Biến Hình.

 

Công Giáo Với Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga và Thổ

Tiến sĩ Joaquín Navarro Valls, giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh, sau Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 11/7/2004, đã trả lời cuộc phỏng vấn ngắn của đài truyền hình Ý Quốc RAI Uno.


Vấn:     Tình hình vẫn tiếp tục rất ư là căng thẳng ở Iraq, thế nhưng giờ đây đã có được một tân chính phủ cho Iraq. Đức Giáo Hoàng có đồng ý với vấn đề này hay chăng?


Đáp:     Chắc chắn rồi. Luật pháp quốc tế đã được tái thiết, một sự kiện rất ư là đáng kể. Giờ đây mối quan tâm bao giờ cũng là thế này, đó là vấn đề ưu tiên cho cuộc phúc hạnh của nhân dân Iraq. Tất cả mọi hoạt động bởi thế cần phải được bắt đầu từ chỗ này.

Vấn:     Bản Hiệp Định Hiến Pháp Âu Châu sẽ được ký ở Rôma vào ngày 29/10/2004. Âu Châu liệu có thể đương đầu với một tương lai mất gốc hay chăng?


Đáp:     Không. Sự kiện đó là ở lời dẫn nhập không đề cập một cách rõ ràng đến các căn gốc Kitô giáo là một thiếu sót và là một thiếu sót lớn, theo tôi nghĩ, làm cho bản văn này kém hiệu năng.


Ngoài ra, còn phải nói rằng, Tòa Thánh luôn luôn khuyến khích bất cứ nỗ lực nào tiến đến chỗ hiệp nhất Âu Châu. Chưa hết, trong cùng bản văn Hiến Pháp này còn có những khoản, nhất là khoản 51, khoản nhìn nhận vai trò của các niềm tin Kitô Giáo ở Âu Châu.

Vấn:     Trong nỗ lực đại kết, một bước tiến tiêu biểu nhất sẽ được thực hiện vào cuối Tháng 8/2004 với Thượng Phụ Moscow


Đáp:     Đúng thế, chúng tôi hy vọng mọi sự sẽ xẩy ra như vậy. Vào ngày 28/8/2004 là ngày bức ảnh thánh Kazan được trả về cho chủ của nó, trước đó, ĐGH muốn có một nghi thức tỏ lòng tôn sùng bức ảnh này, một hình ảnh đã ở kề bên Đức Gioan Phaolô II nhiều tháng năm.


Sáng hôm Thứ Bảy, 10/7/2004, vị giám đốc tùy tùng của ĐTC trong cuộc nghỉ hè tự ngày 5-17/7/2004 này, đã nói với các ký giả những vấn đề sau đây:

Khi được hỏi về quyết định của ĐTC muốn trả bức ảnh Đức Trinh Nữ Kazan cho Giáo Hội Chính Thống Nga, ông cho biết: “Quyết định này không có liên quan gì tới cơ hội có thể thực hiện cuộc gặp gỡ giữa Đức Giáo Hoàng và Thượng Phụ Giáo Chủ Nga Alexis II, một vấn đề đã được sáng tỏ ngay từ đầu. (ĐTC) cảm thấy rằng đã đến lúc trao trả bức ảnh này cho họ”, vào ngày 28/8, Lễ Đức Mẹ Sinh Thì theo niên lịch phụng vụ Chính Thống Giáo. Nhưng trước khi trao trả bức ảnh này, cần phải thức hiện “một việc tỏ lòng tôn sùng, không cần phải công khai…, một việc từ biệt để kết thúc cuộc hành hương đến Rôma của Đức Bà Kazan”. Những chi tiết về lễ nghi này sẽ được sớm thông báo.

Về vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo, vị giám đốc này cho biết, từ sau khi ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, những mối liên hệ này “đã được cải tiến. Nó là một tiến trình lâu dài, và ĐGH hy vọng rằng việc trao trả bức ảnh này sẽ góp phần cho những bước tiến triển hơn nữa. Những dấu hiệu cho thấy sự cải tiến liên hệ được phản ảnh qua những cuộc trao đổi của đôi bên, nơi những ủy ban hỗn hợp để tìm hiểu và giải quyết những vấn đề giữa hai Giáo Hội trong bầu không khí hợp tác”.

Về vấn đề lời Đức Thượng Phụ Bartholomew mời ĐTC viếng thăm Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ ngày 30/11/2004, dịp Lễ Thánh Anrê, quan thày của tòa thượng phụ giáo chủ thế giới Chính Thống Giáo, vị giám đốc văn phòng báo chí tòa thánh nói rằng “ĐGH lấy làm biết ơn về lời mời này nhưng hiện nay chưa có quyết định nào cả”.

 

Hy Vọng Đã Vươn Lên nơi Cuộc Đối Thoại Đại Kết

giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đích thân chính thức loan báo việc Ngài mời Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo ở Constantinople cùng đồng tế và giảng lễ kính Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô 29/6/2004.

1.     Giáo Hội cử hành lễ các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô: nhân vật đánh cá xứ Galilêa, người đầu tiên tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô; bậc thày và là vị tiến sĩ loan báo ơn cứu rỗi cho Dân Ngoại (x Kinh Tiền Tụng). Theo ý định Quan Phòng Thần Linh, cả hai đều đến Rôma là nơi các vị chịu tử đạo trong thời gian mấy năm. Từ đó thành phố này, vốn là thủ đô của một đại đế quốc, đã được mặc lấy một vinh quang hơi khác, đó là làm nơi cho Tòa Thánh lãnh đạo sứ vụ hoàn vũ của Giáo Hội trong việc truyền bá trên thế giới Phúc Âm của Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc của con người và của lịch sử.


2.     Năm nay, lễ trọng hôm nay đây được hân hạnh có sự hiện diện của Đức Bartholomew I, vị thượng phụ Thế Giới Chính Thống Giáo ở Constantinople, vị tôi hân hoan đón tiếp và chào hỏi cách đây một chút. Việc viếng thăm của ngài có một lý do đặc biệt, đó là 40 năm trước đây, nhất là vào tháng Giêng năm 1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I đã gặp nhau ở Giêrusalem và đã ôm lấy nhau trong tình huynh đệ. Việc ôm lấy nhau này đã trở thành một biểu hiệu cho mối hòa giải ước mong giữa Giáo Hội Công Giáo với các Giáo Hội Chính Thống Giáo, cũng như trở thành một ngôn sứ của niềm hy vọng trên con đường tiến đến việc hoàn toàn hiệp nhất giữa tất cả mọi Kitô hữu.


Tôi đã mời Đức Thượng Phụ Bartholomew I tham dự Thánh Lễ tôi sẽ chủ tế chiều nay vào lúc 6 giờ tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Chúng tôi sẽ cùng nhau giảng lễ và chúng tôi cùng nhau tuyên xưng đức tin.


Cũng trong việc cử hành ngày hôm nay, tôi sẽ hoan hỉ ban giây choàng cho các vị tổng giám mục được bổ nhiệm năm vừa rồi. Đó là một dấu hiệu truyền thống của mối hiệp thông giữa Giáo Hội ở Rôma và các Giáo Hội lan tràn khắp thế giới, một dấu hiệu truyền thống được gắn liền với lễ trọng kính hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô.


3.     Tôi xin ký thác một cách đặc biệt cho hai vị quan thày trọng vọng này Giáo Phận Rôma cũng như cộng đồng dân sự của thủ đô này. Bằng việc kêu cầu việc chuyển cầu của hai vị cùng với việc chuyển cầu của Mẹ Maria Chí Thánh là phần rỗi của dân chúng Rôma, chúng ta hãy cầu nguyện để hết mọi con người nam nữ nhận được sứ điệp làm cho hai Thánh Phêrô và Phaolô phải chịu tử đạo.

 


ĐTC ngỏ lời cùng Đức Thượng Phủ Giáo Chủ Chính Thống Hoàn Cầu


Nhân dịp Lễ Trọng Kính Hai Đại Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo Bartholomew I ở Constantinople Thổ Nhĩ Kỳ đã đến Rôma cùng với phái đoàn của ngài vào chính ngày lễ 29/6/2004 này. Vào lúc 11 giờ sáng Đức Thánh Cha đã tiếp mừng và ngỏ lời cùng ngài như sau:


Trọng Kính Đức Thượng Phụ,
Quí Huynh Khả Kính và Thân Mến Của Tòa Thượng Phụ Giáo Chủ Hoàn Vũ!

1.     Nhân danh Chúa chúng tôi xin chào đón quí huynh! Chúng ta dâng lời tạ ơn Ngài về tặng ân chúng ta được gặp gỡ nhau vào ngày lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, những vị Tông Đồ cũng được phụng vụ Chính Thống tôn kính như những vị “Protothroni”, tức những vị chiếm các chỗ trọng vọng nhất.

Ngoài ra, chúng ta còn tạ ơn Chúa khi được cùng nhau tưởng niệm cuộc gặp gỡ phúc đức xẩy ra 40 năm trước đây giữa vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI với Đức Thượng Phụ khả kính Athenagoras I. Cuộc gặp gỡ này đã diễn ra ở Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu đã được treo trên cây thập tự giá để cứu chuộc nhân loại và qui tụ họ lại làm một. Cuộc gặp gỡ này là một dịp thuận lợi biết bao, phấn khởi và rạng ngời biết mấy cho cuộc sống của Giáo Hội! Được thúc đẩy bởi lòng tin tưởng và yêu mến Chúa, các vị tiền nhiệm sáng suốt của chúng ta đã có thể thắng vượt được những thương tổn và hiểu lầm của bao thế kỷ để nêu gương sáng tuyệt vời của những vị mục tử lãnh đạo Dân Chúa. Trong việc tái nhận thức mình là anh em của nhau, các vị đã cảm thấy được một niềm vui sâu xa khiến các vị tin tưởng bắt đầu lại những mối liên hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Constantinople. Xin Thiên Chúa thưởng công cho các vị trên Vương Quốc của Ngài!

2.     Kính Đức Thượng Phụ, tôi hết lòng cảm mến xin chào mừng ngài, thật sự là vui mừng khi được tiếp đón ngài ở ngôi nhà này là nơi sống động tưởng nhớ đến các vị thánh tông đồ. Cùng với ngài, tôi xin chào những vị trong phái đoàn của ngài, nhất là các vị tổng giám mục và đại biểu của tòa thượng phụ của ngài; tôi cũng xin chào nhóm tín hữu thuộc các tổng giáo phận Chính Thống Hy Lạp ở Hoa Kỳ, và nhóm các giáo sư cùng sinh viên thuộc Viện Thần Học Chính Thống Cao Học Chambesy dưới quyền hướng dẫn của ĐGM Makarios. Tôi xin cám ơn tất cả mọi người về sự hiện diện thân ái này.

Trong 40 năm đây, hai Giáo Hội của chúng ta đã cảm thấy được nơi những liên hệ của mình những cơ hội liên lạc quan trọng làm phát triển tinh thần hòa giải hỗ tương. Chẳng hạn, chúng ta không thể quên được những cuộc viếng thăm trao đổi giữa Đức Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras vào năm 1967. Tôi vẫn còn nhớ nguyên cuộc viếng thăm của tôi ở Fanar vào năm 1979, cũng như nhớ đến việc cùng Đức Thượng Phụ Dimitrios I loan báo vấn đề bắt đầu cuộc đối thoại về thần học. Ngoài ra, tôi nhớ đến cuộc viếng thăm Rôma của Đức Thượng Phụ Dimitrios I năm 1987, và cuộc viếng thăm của chính Ngài vào năm 1995 là cuộc viếng thăm xẩy ra sau những dịp gặp gỡ quan trọng khác. Chúng là những dấu hiệu cho thấy việc chúng ta cùng nhau dấn thân tiếp tục cuộc hành trình đã thực hiện, nhờ đó ý muốn của Chúa Kitô “cho họ được hiệp nhất nên một” hiện thực sớm bao nhiêu có thể!

3.     Trong tiến trình của con đường hiệp nhất này, những ký ức của các biến cố đau thương trước đó thật sự đã đè nặng trên chúng ta. Chúng ta đặc biệt không thể nào quên được trường hợp xẩy ra trong tháng 4/1204. Một đạo quân ra đi để tái chiếm lại Thánh Địa cho Kitô Giáo, đã đến vây chiếm Constantinople, làm đổ máu anh chị em cùng niềm tin với mình. Làm sao chúng ta, 8 thế kỷ sau, lại không chia sẻ với Đức Giáo Hoàng Innocent III lập tức tỏ ra phẫn uất và đớn đau là chừng nào khi nghe thấy tất cả những gì đã xẩy ra? Sau một thời gian dài, chúng ta có thể phân tích những biến cố ở thời điểm ấy một cách khách quan hơn, mặc dù quá biết rằng khó có thể thấy được tất cả sự thật về lịch sử này.

Về vấn đề này, chúng ta được Thánh Tông Đồ Phaolô khuyến dụ rằng: “Bởi thế, đừng phán quyết trước khi thời điểm tới, trước khi Chúa tới, Đấng sẽ làm sáng tỏ những gì hiện nay mật kín trong tăm tối và sẽ làm lộ ra những ý đồ của tâm can con người” (1Cor 4:5). Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện để xin Vị Chúa của lịch sử hãy thanh tẩy ký ức chúng ta khỏi tất cả mọi tổn thương và bất mãn, và giúp chúng ta sẵn sàng tiến bước trên con đường hiệp nhất này.

4.     Chúng ta cũng được kêu gọi thực hiện điều này theo gương của Đức Thượng Phụ Athenagoras I và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI là những vị chúng ta tưởng nhớ đến hôm nay đây. Chớ gì việc nhớ đến cuộc gặp gỡ ấy giúp cho chúng ta nhẩy vọt trong cuộc đối thoại và củng cố những mối liên hệ huynh đệ với nhau. Chớ gì việc đối thoại về thần học qua Ủy Ban Hỗn Hợp vẫn là một dụng cụ quan trọng để đạt tới mục đích ấy. Bởi thế, tôi ước mong thấy ủy ban này tái hoạt động sớm bao nhiêu có thể. Thật thế, tôi tin tưởng về việc khẩn trương này, và tôi cũng như các cộng sự viên của tôi mong muốn vận dụng hết mọi phương tiện để cổ võ tinh thần chấp nhận và hiểu biết nhau, hợp với Phúc Âm và Truyền Thống chung tông đồ. Chớ gì chúng ta phấn khởi tiến bước trên con đường này theo giới luật yêu thương cũ nhưng bao giờ cũng mới, một giới luật được Thánh Phaolô lập lại bằng những lời rất hay là “anh em hãy yêu thương nhau bằng một lòng cảm mến huynh đệ; hãy đua nhau tỏ lòng tôn kính” (Rm 12:10).

5.     Tôi xin phó dâng những ý nguyện hòa giải và hiệp thông trọn vẹn này cho các vị thánh tông đồ chúng ta tưởng kính hôm nay. Chúng ta hãy tin tưởng kêu xin các ngài để các ngài chuyển cầu cho chúng ta được kiên cường trong đức tin và được kiên trì tìm cách thi hành ý muốn của Chúa Kitô sớm bao nhiêu có thể. Chớ gì chúng ta nhận được tặng ân này nhờ Mẹ Maria, Mẹ của Đấng kêu gọi tất cả chúng ta đến mối hiệp nhất trọn vẹn trong tình yêu của Người.

Với những cảm tình ấy, một lần nữa, tôi hết lòng thân ái đón mừng Đức Thượng Phụ cùng tất cả anh em là những quí khách của tôi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 29/6/2004

 


Bài Giảng của Hai Vị Lãnh Đạo Công Giáo và Chính Thống Giáo trong Thánh Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô – Và bài chia sẻ của ĐTC trong buổi triều kiến chung hôm sau về giây phẩm vị Tổng Giám Mục


Vào lúc 6 giờ chiều ngày 29/6/2004, Lễ Trọng Kính Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử hành Thánh Lễ với sự hiện diện của Đức Thượng Phụ (ĐTP) Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo Bartholomew I. Trong Thánh Lễ này, bài Phúc Âm được công bố bằng cả tiếng Latinh lẫn Hy lạp. Kinh Tin Kính Nicene-Constantinople được đọc bằng tiếng Hy Lạp theo phụng vụ của các Giáo Hội Byzantine. ĐTC GPII cũng làm phép và trao ban các giây phẩm chức cho 44 vị tổng giám mục Công Giáo trên thế giới vừa được bổ nhiệm trong năm qua.


Bài giảng của Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo, được ĐTC Gioan Phaolô II dẫn nhập, đã nói về bước tiến đại kết giữa hai Giáo Hội 40 năm trước từ khi Đức Phaolô VI và Thượng Phụ Athengoras ôm nhau, thế nhưng “vẫn không thể nào loại trừ được trong 40 năm qua tình trạng nghịch phản đã từng được chồng chất trên 900 năm… Chúng ta hy vọng rằng những gì có thể thực hiện được cho tới nay sẽ đạt tới trong tương lai, một tương lai gần… Việc hiện diện của chúng ta nơi đây hôm nay đây cho thấy lòng chúng ta chân thành mong muốn cất đi tất cả mọi trở ngại về giáo hội không phải là vấn đề tín lý và thiết yếu, để chú trọng đến vấn đề nghiên cứu những cái khác nhau trọng yếu và những sự thật về tín điều là những gì cho tới nay vẫn chia rẽ hai Giáo Hội của chúng ta, cũng như về cách sống sự thật Kitô Giáo của một Giáo Hội hiệp nhất”.


Vị thượng phụ giáo chủ này còn phân biệt là mối hiệp nhất hai Giáo Hội không giống như mối hiệp nhất của một thương vụ hay của những Quốc Gia, “mà là một cuộc tìm kiếm thiêng liêng nhắm đến chỗ cùng nhau chung sống mối hiệp thông thiêng liêng với con người của Chúa Giêsu Kitô… Trong nỗ lực thiêng liêng tinh tế này xẩy ra những khó khăn bởi sự kiện là phần lớn con người chúng ta thường tỏ ra những chủ trương riêng, những ý kiến và thẩm lượng riêng, như thể chúng là những gì biểu hiệu cho tâm tưởng, cho tình yêu, tóm lại, cho tinh thần của Chúa Kitô. Vì những ý kiến và thẩm lượng riêng tư ấy… không phù hợp với nhau hay với cách sáng của Chúa Kitô đã làm nẩy sinh ra tình trạng bất hòa”. Theo vị thượng phụ này, cái chúng ta cần phải tìm kiếm không phải là mối hiệp nhất ngoại tại mà là hiêp nhát về tinh thần, trong tinh thần của Chúa Kitô.


Bài giảng của ĐTC GPII tập trung vào vấn đề hiệp nhất Kitô Giáo. Ngài lập lại việc hiện diện của Đức Thượng Phụ Bartholomew I trong buổi tối phụng vụ này là để đánh dấu 40 năm cái “ôm huynh đệ” năm 1964 giữa Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras. Ngài gọi cuộc gặp gỡ này “không phải chỉ là một thứ ký ức mà là một thách đố đối với chúng ta, liên quan đến con đường nhận thức nhau và hòa giải với nhau”.


Trích lại bức Thông Điệp 1995 “Cho Họ Được Hiệp Nhất Nên Một”, ĐTC nói: “Tin tưởng vào Chúa Kitô tức là mong muốn hiệp nhất; mong muốn hiệp nhất tức là mong muốn Giáo Hội; mong muốn Giáo Hội tức là mong muốn hiệp thông ân sủng xứng hợp với dự án của Chúa Cha từ đời đời. Đó là ý nghĩa của lời Chúa Giêsu cầu nguyện: ‘để họ được hiệp nhất nên một’”.


Ngài nhấn mạnh rằng việc dấn thân hiệp thông “không phải là một vấn đề liên hệ mơ hồ của những người cận thân tốt lành mà là một mối liên hệ bất khả phân ly về đức tin thần học là mục tiêu chúng ta nhắm tới về vấn đề hiệp thông chứ không phải phân rẽ”.


“Bất cứ những gì, qua giòng thời gian, đã làm đổ vỡ mối liên hệ hiệp nhất của chúng ta trong Chúa Kitô thì ngày nay chúng ta đều cảm thấy đớn đau. Bởi thế, cuộc hội ngộ hôm nay đây không phải chỉ là một cử chỉ lịch thiệp xã giao mà là một đáp ứng lệnh truyền của Chúa. Giáo Hội Rôma đã cương quyết và hết sức thành thực tiến lên trên con đường trọn vẹn hòa giải, bằng những hoạt động tự chúng lúc nào cũng khả dĩ và hữu ích… Chúng ta biết rằng hiệp nhất trước hết là tặng ân Chúa ban…. thế nhưng việc làm cho nó hiện thực lại tùy thuộc ở chúng ta”.


ĐTC đã nói với ĐTP rằng ngài “luôn theo đuổi con đường hiệp nhất theo địa bàn giáo huấn bảo đảm của Công Đồng Chung Vaticanô II… Hôm nay tôi xin lập lại là việc Giáo Hội Công Giáo thực hiện việc dấn thân theo tinh thần Công Đồng Chung Vaticanô II là một việc bất khả vãn hồi. Chúng ta không thể chối bỏ được điều này!”.


Ở đoạn kết bài giảng, ĐTC đã ngỏ lời cùng các vị TGM sắp sửa lãnh nhận giây phẩm vị rằng đó “là một dấu hiệu hiệp thông liên kết quí huynh một cách đặc biệt với tông chứng của Thánh Phêrô và Phaolô. Nó liên kết quí huynh với Vị Giám Mục Rôma, Người Thừa Kế Thánh Phêrô, người được kêu gọi thực hiện việc phục vụ giáo hội đặc biệt liên quan đến toàn thể hàng giáo phẩm”.


Ngài đã nói về giây phẩm vị TGM này trong bài giáo lý hằng tuần trong buổi triều kiến chung Thứ Tư hôm sau, 30/6/2004, cũng ở Quảng Trường Thánh Phêrô, bài giáo lý cuối cùng trước khi Ngài lên đường đi nghỉ hè hai tuần ở miền núi Alps năm 2004.


Trong bài giáo lý này, Ngài cũng đã nhắc lại biến cố Lễ Trọng Kính Hai Đại Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô có Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo Batholomew I ở Constantinople nhân dịp kỷ niệm 40 năm “cái ôm nhau” của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athengoras.


ĐTC đồng thời nhắc lại trong cuộc cử hành Thánh Lễ trọng hôm qua, có “44 vị TGM tổng giáo phận đã lãnh nhận pallium” được làm bằng lông cừu trắng để đeo quàng quanh cổ nói lên “việc hiệp thông với Giám Mục Rôma”.


Ngài nói rằng giây pallium “nói lên nguyên tắc hiệp thông sâu xa là những gì hình thành tất cả mọi khía cạnh của đời sống Giáo Hội; nó nhắc nhở chúng ta rằng mối hiệp thông này có tổ chức và phẩm trật; nó cho thấy sự kiện là Giáo Hội, vì duy nhất, cần đến việc phục vụ đặc biệt của Giáo Hội Rôma cùng vị giám mục của giáo hội này, vị lãnh đạo Giáo Phẩm đoàn”.


Lễ nghi trao ban giây phẩm vị TGM cũng nhấn mạnh đến “tính cách đại đồng của Giáo Hội (được) Chúa Kitô sai đi loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi dân nước và phục vụ nhân loại”.


Ngài đã kết thúc bằng việc kêu gọi tín hữu hãy giúp đỡ những vị tổng giám mục, “hãy hiệp nhất với các vị và nguyện cầu cho sứ mệnh mục vụ được ủy thác cho các vị. Tôi cũng nghĩ đến 8 vị TGM không có mặt ở đây hôm nay song đã lãnh nhận giây phẩm vị TGM ở giáo phận của các vị”.

 

Bản Tuyên Ngôn Chung của Nhị Vị Lãnh Đạo Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống


Để chấm dứt cuộc viếng thăm của mình ở Tòa Thánh Vatican nhân dịp Lễ Trọng Kính Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô 29/6/2004, hôm 1/7/2004, trong bữa trưa tạ từ, Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo Bartholomew I đã chính thức lên tiếng mời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viếng thăm Tòa Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople ở Finar Thổ Nhĩ Kỳ. Đức Thánh Cha đã nhận lời mời ấy.


Cũng vào ngày từ biệt này, nhị vị lãnh đạo hai Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo đã cùng nhau ký vào Bản Tuyên Ngôn Chung, nguyên văn như sau:


“Hãy coi chừng, hãy vững vàng sống đức tin của anh em, hãy can trường, hãy mạnh mẽ. Chớ gì tất cả những gì anh em làm đều được thực hiện trong tình yêu thương” (1Cor 16:13-14).


1.     Trong tinh thần tin tưởng vào Chúa Kitô cũng như tinh thần bác ái yêu thương nhau là những gì liên kết chúng ta lại với nhau, chúng ta tạ ơn Chúa về việc Ngài ban cho chúng ta được có cuộc hội ngộ mới mẻ này vào dịp lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, một cuộc hội ngộ cho thấy việc chúng ta mạnh mẽ dứt khoát muốn tiếp tục con đường tiến về mối hiệp thông trọn vẹn giữa chúng ta trong Chúa Kitô.


2.     Đã có nhiều tiến bộ đánh đấu con đường tiến đến mối hiệp thông trọn vẹn này, nhất là việc được mở màn bằng biến cố lịch sử được chúng ta hôm nay nhắc lại, đó là biến cố ôm nhau của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I, ở Giêrusalem, trên Núi Cây Dầu, vào ngày 5-6/1/1964. Hôm nay đây, chúng ta, những người thừa kế của các vị, lại gặp nhau để tưởng nhớ cuộc gặp gỡ ân phúc giờ đây trở thành lịch sử ấy, một cách xứng đáng trước nhan Chúa, hợp với ký ức cùng với những ý hướng ban đầu của cuộc gặp gỡ lịch sử này.


3.     Việc các Vị Tiền Nhiệm khả kính của chúng ta ôm lấy nhau ở Giêrusalem đã thể hiện một cách tỏ tường niềm hy vọng tiềm tàng nơi tâm can của hết mọi người, như Bản Công Bố đề cập đến: “Bằng đôi mắt hướng về Chúa Kitô là khuôn mẫu và là tác giả của mối hiệp nhất và an bình với Chúa Cha, họ nguyện xin Chúa cho cuộc họp này trở thành dấu hiệu và là dạo khúc cho những gì sẽ xẩy ra, hầu Thiên Chúa được vinh hiển và dân trung nghĩa của Ngài được sáng ngời. Sau rất nhiều thế kỷ im hơi lặng tiếng, giờ đây họ lại gặp nhau với tấm lòng ước mong muốn hoàn thành ý nguyện của Chúa Kitô và loan báo sự thật cổ truyền của Phúc Âm được Người ký thác cho Giáo Hội” (Joint Statement of Pope Paul VI and of Patriarch Athenagoras I, Agapis Volumes, Vatican, Fanar, 1971, n. 50, p. 120).


4.     Hiệp Nhất và Bình An! Niềm hy vọng được thắp lên bởi cuộc gặp gỡ lịch sử ấy đã soi dẫn đường đi nước bước cho những thập niên qua. Nhận thấy rằng thế giới Kitô Giáo qua các thế kỷ đã từng phải chịu đựng thảm cảnh phân chia, các Vị Tiền Nhiệm của chúng ta và chính chúng ta đã kiên trì tiếp tục “cuộc đối thoại bác ái”, hướng mắt về một ngày tươi sáng và hồng phúc có thể cùng nhau thông công cùng một chén Mình Thánh và Máu Thánh Chúa (See Allocution of Patriarch Athenagoras I to Pope Paul VI , January 5, 1964, ibid., n. 48, p. 109). Nhiều biến cố trong giáo hội đánh dấu 40 năm qua đã đặt nền móng và hướng đi nhất quán cho việc dấn thân sống tình bác ái huynh đệ này, một đức bác ái, với những gì học được trong quá khứ, biết sẵn sàng thứ tha, dễ hướng chiều về việc tin vào sự thiện hơn là sự dữ, một đức bác ái trước hết nỗ lực hiệp nhất với Đấng Cứu Chuộc Thần Linh, để cho Người thu hút và biến đổi (See Allocution of Pope Paul VI to Patriarch Athenagoras I, January 6, 1964, ibid., n. 49, p. 117).


5.     Tôi tạ ơn Chúa về những cử chỉ gương mẫu của tình bác ái yêu thương nhau, của việc tham phần và chia sẻ được Người ban cho chúng ta để hoàn trọn, trong đó cần phải nhắc đến cuộc Đức Giáo Hoàng đây viếng thăm Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Dimitrios năm 1979, thời điểm ở tại Giáo Hội Fanar đã công bố việc thiết lập “Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo”, một bước tiến để hỗ trợ cho “cuộc đối thoại bác ái”, “cuộc đối thoại chân lý”; việc Đức Thượng Phụ Dimitrios viếng thăm Rôma năm 1987; việc chúng ta gặp nhau ở Rôma vào Lễ Thánh Phêrô và Phaolô năm 1995, năm chúng ta cầu nguyện ở Đền Thờ Thánh Phêrô, mặc dù tách biệt một cách đau thương ở việc cử hành Phụng Vụ Thánh Thể, vì chưa thể uống cùng một chén của Chúa. Thế rồi mới xẩy ra hơn nữa là cuộc hội ngộ ở Assisi để thực hiện “Ngày Cầu Nguyện cho Hòa Bình trên Thế Giới”, và việc ký Bản Tuyên Ngôn Chung Bảo Toàn Thiên Nhiên Tạo Vật vào năm 2002.


6.     Mặc dù chúng ta mạnh mẽ dứt khoát tiếp tục con đường tiến đến mối hiệp thông toàn vẹn, cũng không thể nào không xẩy ra những trở ngại thuộc các hình thức khác nhau, trước hết là vấn đề tín lý, cũng gây ra bởi điều kiện hóa của một lịch sử khó khăn. Ngoài ra, những vấn đề mới bắt nguồn từ những thay đổi sâu xa xẩy ra ở lãnh vực chính trị xã hội ở Âu Châu, một lãnh vực không khỏi chi phối mối liên hệ giữa các Giáo Hội Kitô Giáo. Việc Kitô hữu ở Trung Âu và Đông Âu được phục hồi tự do đã làm tái dấy động những nỗi lo âu cũ, khiến cuộc đối thoại trở thành khó khăn. Tuy nhiên, lời khuyên dụ của Thánh Phaolô nhắn nhủ Kitô hữu Côrintô “chớ gì hết mọi sự được thực hiện nơi anh em trong tình bác ái” vẫn phải âm dội trong và giữa chúng ta.


7.     “Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo”, được bắt đầu với nhiều hy vọng, đã đánh dấu những bước tiến trong những năm qua. Ủy ban này vẫn còn là một phương tiện lý tưởng để nghiên cứu những vấn đề về giáo hội học và lịch sử, các vấn đề cốt lõi nơi những khó khăn của chúng ta, cũng như để tìm những giải quyết khả dĩ. Chúng ta có nhiệm vụ tiếp tục dứt khoát dấn thân tái thực hiện những công việc này sớm bao nhiêu có thể. Ý thức được những việc cùng nhau hoạt động theo chiều hướng này của Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Constantinople, chúng ta hướng về để xin Ngài bảo trì việc cương quyết của chúng ta và làm cho tất cả chúng ta thâm tín là không thể châm chước được việc tiếp tục vấn đề “đối thoại về sự thật”.


8.     Cuộc gặp gỡ của chúng ta ở Rôma hôm nay đây cũng giúp cho chúng ta có thể thân tình nói lên một số vấn đề và hiểu lầm mới phát xuất gần đây. Việc thực thi vấn đề “đối thoại bác ái” đã thực sự giúp cho chúng ta trong những trường hợp này, nhờ đó, những khó khăn mới được giải quyết một cách êm thắm mà không làm trì trệ và đen tối con đường đã được thực hiện để tiến đến mối hiệp thông trọn vẹn trong Chúa Kitô.


9.     Trước một thế giới đang chịu tất cả mọi thứ chia rẽ và chênh lệch thì cuộc hội ngộ hôm nay đây là một nỗ lực nhắc nhở một cách cụ thể và mạnh mẽ đến tầm quan trọng mà Kitô hữu và các Giáo Hội đang sống trong bình an và thuận thảo cần phải hòa hợp để làm chứng cho sứ điệp của Phúc Âm một cách khả tín hơn và thu phục lòng người hơn.


10.     Đối với riêng môi trường Âu Châu đang trên đường tiến đến những hình thức thống nhất hơn và vươn rộng hơn sang phía Đông của Lục Địa này, chúng ta hãy cảm tạ Chúa về việc phát triển tích cực này, và muốn bày tỏ niềm hy vọng là, tình hình mới mẻ ấy sẽ là cơ hội để phát triển việc hợp tác giữa những người Công Giáo và Chính Thống Giáo. Rất nhiều những thách đố cần phải cùng nhau giải quyết để góp phần vào thiện ích của xã hội, đó là việc yêu thương hàn gắn vết thương khủng bố, là lan truyền niềm hy vọng hòa bình, là giúp vào việc chữa trị rất nhiều thứ xung đột đau thương; là phục hồi cho lục địa Âu Châu ý thức về các cội nguồn căn gốc Kitô Giáo của mình; là thiết lập một cuộc đối thoại thực sự với Hồi Giáo, vì thái độ dửng dưng lạnh lùng và thiếu hiểu biết nhau chỉ có thể đi đến chỗ nghi hoặc nhau, thậm chí hận ghét nhau; là bồi dưỡng ý thức về sự linh thánh của sự sống con người; là hoạt động để khoa học không chối bỏ tia sáng thần linh mọi người lãnh nhận nhờ tặng ân sự sống; là hợp tác với nhau để trái đất này của chúng ta không bị biến dạng cũng như để thiên nhiên tạo vật có thể duy trì được vẻ đẹp được Thiên Chúa ban cho; thế nhưng, trên hết, là loan báo sứ điệp phúc âm bằng cuộc dấn thân mới để tỏ cho con người đương thời thấy được rằng Phúc Âm có thể giúp họ tìm thấy bản thân mình và xây dựng một thế giới nhân bản hơn.


11.     Chúng ta hãy cầu xin để Chúa ban an bình cho Giáo Hội và thế giới, cũng như để Ngài dùng khôn ngoan của Thần Linh Ngài làm sống động con đường chúng ta tiến đến mối hiệp thông, “ut unum in Cristo simus”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 1/7/2004
 

Đức Thượng Phụ Bartholomew I nhận định về cuộc viếng thăm Tòa Thánh Rôma


Trước khi rời Vatican sau chuyến viếng thăm 4 ngày (29/6-2/7/2004) của mình, một cuộc viếng thăm vào dịp lễ kính Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, để tưởng niệm biến cố hội ngộ 40 năm trước của Đức Phaolô VI và Athenagoras I ở Giêrusalem, Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo Bartolomew I đã bày tỏ nhận định của mình qua cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Vatican như sau:


Vấn:     Ngài có cảm tưởng ra sao sau những lần gặp gỡ Đức Gioan Phaolô II


Đáp:     Lạc quan. Lần này là lần thứ ba tôi đã gặp Đức Giáo Hoàng, sau lần vào năm 1995 khi tôi chính thức viếng thăm, và sau lần vào năm 2002 cho Ngày Thế Giới Cầu Nguyện ở Assisi. Tôi có thể nói mà không sợ làm giảm giá trị của hai lần viếng thăm trước đây của tôi, là cuộc gặp gỡ lần này cảm kích hơn, tình người hơn và huynh đệ hơn.


Tôi đặc biệt cảm thấy như thế vào ngày cuối cùng, khi tôi gặp Đức Giáo Hoàng một lần nữa để ký vào bản tuyên ngôn chung rồi dùng bữa trưa với nhau – chúng tôi đã cùng nhau cảm thấy ngỡ ngàng.


Tôi đã mời Ngài viếng thăm chúng tôi ở Istanbul: đối với Ngài thì đây là cơ hội thứ hai, sau lần vào năm 1979 Ngài đã viếng thăm vị tiền nhiệm của tôi là Đức Dimitrios I.


Đức Giáo Hoàng tỏ ra rất hân hoan, như tôi cảm thấy được, chấp nhận lời mời này.


Dĩ nhiên là Ngài cần phải nói với các vị cộng tác viên của Ngài, thế nhưng phản ứng đầu tiên của Ngài tỏ ra tích cực. Ngài rất vui mừng, rất sung sướng, và ngay cả tôi cũng thế vì được cơ hội đón tiếp Ngài đến giữa chúng tôi ở Constantinople, đệ nhất tòa của Chính Thống Giáo, cũng như có thể cùng nhau phác họa những bước tiến hướng về tương lai nơi những mối liên hệ của chúng tôi.


Về vấn đề nội dung của cuộc chúng tôi gặp gỡ lần thứ ba này, tôi có thể nói rằng nó có một tính chất linh thiêng hơn là chính thức. Tôi có cảm giác này, nên, như tôi đã nói trong bài giảng của tôi ở Quảng Trường Thánh Phêrô, là vào lúc này đây, vào giai đoạn này đây, vấn đề hiệp nhất, những nỗ lực tiến tới mối hiệp nhất là một biến cố thiêng liêng, một biến cố cầu nguyện.


Cuộc hội ngộ này giữa Đức Giáo Hoàng và con người hèn mọn của tôi đã diễn ra trong bầu không khí ấy, trong tinh thần ấy. Bởi thế, tôi trở về tòa thánh của tôi hết sức cảm kích, hân hoan và lạc quan về tương lai của mối liên hệ của chúng tôi.

Vấn:     Thưa Đức Thượng Phụ, ngày nay Ngài thấy thế nào về những mối liên hệ giữa những người Công Giáo và Chính Thống, và Ngài hy vọng gì trong tương lai?


Đáp:     Những thứ khó khăn rõ ràng vẫn còn đó, nhưng chắc chắn cả hai bên vẫn có thiện chí để tiến lên, để tiếp tục cuộc đối thoại này. Vẫn có ý định là không làm ngưng trệ việc đối thoại ấy.


Trong cuộc trao đổi của chúng tôi với Đức Giáo Hoàng cũng như với Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, chúng tôi đã nhấn mạnh lại quyết định của mình trong việc tìm kiếm những cách thức và phương tiện để tại diễn vấn đề đối thoại về thần học, một việc đã trải qua một cuộc khủng hoảng thực sự xẩy ra sau cuộc họp ở Baltimore.


Bởi thế tôi đã nói với ĐHY Walter Kasper, chủ tịch của Hội Đồng Về Hiệp Nhất Kitô Giáo, cũng như với các cộng tác viên của ngài, và chúng tôi đã đặt ra một số vấn đề, một số phương pháp có thể giải quyết những khó khăn hiện tại để tiếp tục việc đối thoại.


Việc đối thoại này là cơ hội duy nhất chúng ta có được để có thể giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa chúng ta. Vẫn có một mối tình thân hữu, huynh đệ, cũng như quyết tấm muốn tiến lên và cải tiến những mối liên hệ.


Cần phải bàn sâu đến vấn đề quyền bính của Vị Giám Mục Rôma, về tính cách vô ngộ, về vai trò của Vị Giám Mục Rôma nơi toàn thể cơ cấu của Giáo Hội Kitô Giáo, những vấn đề khó khăn nhất nơi mối liên hệ của chúng ta là ở chỗ đó, những vấn đề tiếp tục làm ngăn trở cho mối hiệp thông trọn vẹn, vào việc cùng nhau uống cùng một chén.


Vấn:     Việc khai trương Nhà Thờ Thánh Theodore cho Cộng Đồng Chính Thống Giáo ở Rôma có một tầm vóc quan trọng như thế nào?


Đáp:     Như Đức Giáo Hoàng đã nói trong bữa ăn trưa của chúng tôi, nhà thờ ấy đã là một cử chỉ thân hữu và huynh đệ giữa hai Giáo Hội của chúng ta. Tôi thành thật cám ơn Ngài cũng như cám ơn Giáo Hội Rôma đáng kính.


Tôi đã nói với Ngài rằng những cử chỉ như thế này là việc góp phần thiết yếu vào cuộc đối thoại của chúng ta, vì chúng cho thấy rằng chúng ta không chỉ sử dụng lời lẽ mà còn bằng những hành động tiêu biểu can đảm đầy ý nghĩa và quan trọng nữa.


Khi chúng tôi có thể nói “khai trương” chính thức Nhà Thờ Thánh Theodore ở Đồi Palatine, thì dân chúng, tức là những người Chính Thống Giáo, mà cả những người Công Giáo nữa tham dự vào lễ nghi này, cảm thấy phấn khởi.


Có hai vị hồng y hiện diện cùng với các bậc vị vọng Công Giáo khác. Và các vị đều chia sẻ với niềm vui của chúng tôi. Tôi xin chính thức cám ơn Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội Rôma.


Trong tương lai, Tổng Giáo Phận Chính Thống Giáo Hy Lạp linh thánh ở Ý Quốc đây, một tổng giáo phận có trong tay mình giáo hội này như một biểu hiệu cho mối thân hữu và huynh đệ, sẽ chứng kiến mối liên kết thiêng liêng thắt liên chúng ta một cách đặc biệt ở Thành Đô Vĩnh Hằng nơi đây này.


Tôi nghĩ rằng cử chỉ này của Đức Giáo Hoàng sẽ được cảm nhận rất nhiều, vượt cả ra ngoài tòa thượng phụ giáo chủ toàn cầu và tổng giáo phận đây. Cử chỉ ấy sẽ được toàn thể Chính Thống Giáo cảm nhận và trở thành một mẫu gương để bắt chước thực hiện nơi những mối liên hệ đại kết, khi nó được bày tỏ một cách cụ thể thiện chí và tình huynh đệ “in nomine Domini”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 2/7/2004

ĐTC GPII Tổng Kết Cuộc Hội Ngộ với Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Thế Giới Chính Thống Giáo trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 4/7/2004.


1.     Tôi hết lòng tạ ơn Chúa về cuộc viếng thăm mới đây của vị thượng phụ giáo chủ thế giới Chính Thống Giáo ở Costantinople, Đức Bartholomew I, vị mà trong những ngày vừa qua Tôi đã vui mừng tiếp đón như là một vị khách của Tòa Thánh Vatican, cùng với đoàn tùy tùng quí hóa của Ngài. Chúng tôi đã cùng nhau cử hành lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, cùng tưởng niệm cuộc hội ngộ lịch sử giữa các vị tiền nhiệm đáng kính của chúng tôi là Đức Phaolô VI và Đức Athenagoras I xẩy ra 40 năm trước đây ở Giêrusalem.


Thêm vào đó, chúng tôi đã ký vào một bản tuyên ngôn chung để khẳng định và tái tấu việc dấn thân của những người Công Giáo và Chính Thống trong việc góp phần xây dựng lý tưởng cao cả của mối trọn vẹn hiệp thông Kitô hữu.


2.     Khi nhận thấy những bước tiến khả quan cho đến nay, cũng như không quên để ý tới những trở ngại vẫn còn hiện hữu, chúng tôi đã tái khẳng định quyết tâm tiếp tục, đúng hơn, gia tăng việc đối thoại đại kết, dù trên lãnh vực liên hệ huynh đệ (“đối thoại bác ái”), hay trên lãnh vực cân đo về tín điều (“đối thoại về sự thật”).


Với tinh thần ấy, chúng tôi đã nói lên một số vấn đề và hiểu lầm xuất phát mới đây, chứng tỏ cho thấy một dấu hiệu cụ thể về cách thức Kitô hữu có thể và cần phải luôn luôn hợp tác với nhau, ngay cả khi xẩy ra những chia rẽ và xung khắc. Đó là cách sống động để loan truyền một thứ Phúc Âm hòa bình trong một thế giới, bất hạnh thay, đầy những chênh lệch và bạo động.


Ngoài ra, theo diễn tiến của cuộc hội ngộ này, chúng tôi đã nhận thức được rằng những người Công Giáo và Chính Thống được kêu gọi để cùng nhau hoạt động để giúp cho Châu Âu khỏi quên đi các căn gốc Kitô Giáo của mình. Chỉ có thế Âu Châu mới có thể đóng trọn vai trò của mình trong việc đối thoại giữa các nền văn minh cũng như trong việc phát động toàn cầu về vấn đề công lý, đoàn kết, và bảo toàn thiên nhiên tạo vật.


3.     Xin Chúa làm cho nên trọn những mục tiêu được phác họa ra trong cuộc hội ngộ này. Chúng ta hãy ký thác chúng cho việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria Rất Thánh.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 4/7/2004

 

 

ĐTC GPII với Đại Hội Đại Kết Kitô Giáo: “Tất cả cùng nhau cho Âu Châu”

Ngày Thứ Bảy 8/5/2004, một cuộc đại hội về đại kết diễn ra ở Stuttgart, Đức quốc, với sự hiện diện của các đại biểu thuộc tất cả 175 giáo hội, phong trào hay cộng đồng Kitô giáo, như Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống Giáo, Anh Giáo và các Giáo Phái Tin Lành. Cuộc họp này được truyền hình cùng một lúc đến 158 thành phố khác nhau ở Âu Châu. ĐTC GPII đã gửi cho đại hội này một sứ điệp liên quan đến đề tài của đại hội là “Tất cả cùng nhau cho Âu Châu”.

Trước hết, ĐTC nhắc lại mục đích của cuộc đại hội này “qui tụ để suy nghĩ về các cội gốc Kitô giáo của mình cũng như về tương lai của một địa lục Âu Châu theo chiều hướng Phúc Âm”.

Sau khi nhấn mạnh rằng đức tin Kitô giáo là những gì “tiêu biểu cho hiện tại và tương lai của Âu Châu”, ĐTC nhắc nhở là “nhiều nhân chứng cho niềm tin này, thành phần đã là những nạn nhân của những cuộc bách hại đẫm máu và đau thương trong lịch sử Âu Châu suốt thế kỷ 20, tiêu biểu cho một di sản chung đối với tất cả niềm tin của Kitô giáo. Chớ gì di sản này củng cố lòng ước muốn sống hiệp nhất giữa các Kitô Hữu Âu Châu và việc họ dấn thân hoạt động truyền bá phúc âm hóa”.

Việc các Kitô hữu qui tụ lại ở Stuttgart “chứng thực rằng Phúc Âm đã giúp cho họ thắng vượt được chủ nghĩa quốc gia qui ngã và giúp họ thấy Âu Châu như là một gia đình các dân tộc phong phú về văn hóa đa dạng cùng với các kinh nghiệm lịch sử, nhưng đồng thời hiệp nhất thành một cộng đồng chung của các số phận. Đó là ý thức mà một Âu Châu ngày mai cần đến để dự phần vào những đại biến cố được lịch sử kêu gọi…. Việc đối thoại đại kết chắc chắc là những gì góp phần vào việc phát triển một căn tính Âu Châu dựa trên đức tin Kitô giáo.

“Tuy nhiên, một Âu Châu hiệp nhất không thể nghĩ về mình và khép mình hạn hẹp vào những biên cương bờ cõi của mình cũng như vào phúc hạnh riêng của mình. Âu Châu được kêu gọi để phục vụ thế giới, nhất là những phần đất nghèo khổ nhất và bị lãnh quên nhất như Phi Châu nói riêng là nơi xẩy ra quá nhiều vấn đề trầm trọng. Không thể nào xây dựng một ngôi nhà chung Âu Châu mà lại không quan tâm gì đến tình trạng phúc hạnh chung của nhân loại”.

ĐTC đã kết luận bằng việc nhấn mạnh rằng: “Âu Châu cần đến việc dấn thân và lòng nhiệt thành của các Kitô hữu, nhất là của giới trẻ, để lãnh nhận Tin Mừng của Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô…. Việc tân truyền bá phúc âm hóa là những gì cống hiến cho Âu Châu một hồn sống mới và giúp cho đại lục này không còn sống cho chính mình và sống trong biên giới của mình nữa, mà làm cho nhân loại được nhân bản hơn, tôn trọng sự sống hơn, và trở thành một hiện hữu quảng đại trên các khấu trường thế giới”.

 

Tiểu Ban Anh Giáo và Công Giáo hoàn thành một văn kiện về Mẹ Maria

Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo Và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican-Roman Catholic International Commission) đã hoàn thành một văn kiện mới về Trinh Nữ Maria, một yếu tố có thể là một dấu hiệu tích cực về mối hiệp thông giữa hai Giáo Hội.

Thật vậy, hôm Thứ Ba 3/2/2004, ngày kết thúc một cuộc họp kéo dài cả tuần lễ dưới sự đồng chủ tọa của ĐTGM Alexander Brunett ở Seattle và TGM Anh Giáo Peter Carnley ở Perth Úc Đại Lợi, ủy ban này đã phổ biến bản văn kiện mang tựa đề “Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”, một văn kiện sẽ được đệ trình lên Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo cũng như TGM Anh Giáo ở Canterabury cùng với Hội Đồng Anh Giáo Tham Vấn.

Việc hoàn thành văn kiện này đã kết thúc giai đoạn hoạt động thứ hai của ARCIC, một ủy ban được thành hình theo ý muốn của ĐGH GPII cũng như của ĐTGM Anh Giáo Robert Runcie, từ năm 1982. ARCIC là phương tiện đối thoại về thần học duy nhất giữa hai Giáo Hội.

Vấn đề đối thoại giữa Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo dầu sao cũng gặp trục trặc trầm trọng hai lần, một vào trường hợp Anh Giáo phong chức linh mục và giám mục cho nữ giới vào giữa thập niên 1990, và phong chức giám mục cho thành phần công khai đồng phái tính vào Tháng 11/2003 vừa rồi.

 

Hội Nghị Đối Thoại giữa Chính Thống Giáo và Kitô Giáo

Vào thời gian 27-30/1/2004, tại Cairô Ai Cập đã diễn tiến một cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban Quốc Tế Chung Về Việc Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống Coptic. Cuộc họp do Đức Shenouda III sắp xếp, vị Thượng Phụ Chính Thống Coptic ở Alexandria và của Giáo Hội Thánh Marcô, và là cuộc họp được chủ tọa bởi ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo cũng như bởi ĐTGM Amba Bishoy ở Maniette, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giáo Hội Chính Thống Coptic. Trong lời mở đầu, cả hai vị chủ tọa đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc họp này, một cuộc họp mở màn cho một cuộc tân đối thoại chính thức về thần học giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương như là một gia đình với nhau.

Ở phần đầu của cuộc họp này là việc xét lại những vấn đề nghiên cứu học hỏi và sinh hoạt trong 30 năm qua. Sau đó là phần bàn luận về những đề tài như các vấn đề tham vấn không chính thức giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương; cuộc đối thoại chính thức giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Coptic; Cuộc đối thoại chính thức giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Syria Chính Thống Malankara; những bản tuyên ngôn được công bố bởi Giáo Hội Công Giáo và một Giáo Hội Chính Thống nào đó. Phần thứ hai của cuộc họp này là ‘dự án hoạt động’ và lịch trình đối thoại liên quan đến chủ đề “Giáo Hội như một mối hiệp thông” cho phiên họp năm tới, 25-30/1/2005, tại Rôma, theo lời mời của ĐHY Kasper.

Hội Piô X của ĐTGM Lefebvre gửi 1 bức thư tấn công quan niệm đại kết của ĐTC GPII

Hội này đã viết 1 bức thư đề ngày 6/1/2004 và gửi cho mấy đức hồng y. Bức thư này được ký bởi giám mục Bernard Fellay, bề trên tổng quyền và bởi 4 vị giám mục khác trong hội huynh đệ linh mục được ĐTGM Lefebvre thành lập, vị đã qua đời năm 1991. Bức thư đã được trình bày trong buổi họp báo ở Rôma hôm Lễ Mẹ Dâng Con, 2/2/2004.

Bức thư này là một bản văn kiện dầy 47 trang, mang tựa đề “Từ Vấn Đề Đại Kết đến Vấn Đề Âm Thầm Bội Giáo của một Giáo Triều 25 Năm” ("De l’oecuménisme à l’apostasie silencieuse, 25 ans de pontificat").

Lý do tại sao hội này không gửi trực tiếp bức thư này đến ĐTC GPII “là vì”, theo bức thư, “tình trạng sức khỏe trở nặng hơn mà chúng tôi đã không trực tiếp viết thư này cho Ngài”.

Bản văn này cắt nghĩa chủ trương của ĐTC GPII và các nhân vật khác của Giáo Hội về vấn đề đại kết như là một dấu hiệu mất mát căn tính riêng của Giáo Hội Công Giáo, bằng việc đặt căn tính này ngang hàng với những Kitô giáo phái khác.

Văn kiện này không hề đề cập đến bản tuyên ngôn “Dominua Jesus” do Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin phổ biến trong năm 2000 về “Duy Nhất Tính và Phổ Quát Tính Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội”, hay của việc ĐTC GPII luôn bác bỏ quan niệm đồng hóa sai lầm về đại kết ấy.

Trong 1 bức thư gửi cho giám mục Fellay ngày 5/4/2002, ĐHY Darío Castrillión Hoyos, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ và là chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh “Ecclesia Dei”, sau những lần liên lạc để thắng vượt việc hội này dứt đoạn với Rôma, ĐHY đã nói đến một “cuộc tấn công thẳng mặt” được hàm chứa trong việc tố cáo nói rằng Đức Giáo Hoàng “đã loại bỏ Truyền Thống”: “Thật vậy, nó tạo nên một thứ tự tín nguy hiểm trong việc phán xét một Thẩm Quyền Tối Cao… (rồi trích lời Công Đồng Chung Vaticanô I, ĐHY viết tiếp) Chúng tôi tin rằng không ai có thể ngang nhiên cho mình có quyền phán xét Tòa Thánh”.

Trong tông thứ “Ecclesia Dei” năm 1988, ĐTC GPII nhấn mạnh đến việc ĐTGM Lefebvre truyền chức “bất hợp pháp” cho các vị giám mục trong hội này, một hành động trở thành “một hành động lạc đạo”.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là sở dĩ ÐTGM Lefebvre tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo là vì cho Giáo Hội Công Giáo lạc đạo khi Công Ðồng Chung Vaticanô II quyết định canh tân phụng vụ và Ðức Thánh Cha Phaolô VI chính thức ban hành sắc lệnh  thực hiện quyết định canh tân phụng vụ này của Công Ðồng

 

Hiện Trạng của Việc Tìm Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo: “Thiếu kiên nhẫn là cái thách đố lớn đối với vấn đề đại kết”.

Vào dịp kết thúc Tuần Lễ Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo năm nay 25/1/2004, ĐGM Brian Farrell, thư ký của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã bày tỏ nhận định của mình về hiện trạng của việc tìm cầu hiệp nhất này qua cuộc phỏng vấn được Zenit phổ biến vào chính ngày kết thúc tuần lễ này như sau.

Vấn     Tình trạng của việc tìm cầu mối hiệp nhất Kitô giáo hiện nay ra sao?

Đáp     Có những điểm sáng song cũng có những vệt tối. Những thành đạt đại kết đáng kể được thấy rõ ở cấp địa phương các giáo xứ, giáo phận, hiệp hội. Tất cả mọi thứ hoạt động và hợp tác chung đang được diễn tiến ở cấp này.

Nói chung, người ta tin rằng không có vấn đề lui bước trước việc tìm kiếm mối hiệp nhất như Chúa Kitô mong muốn nơi thành phần môn đệ của Người. Đang có một khuynh hướng mới nơi vấn đề đại kết “về thiêng liêng”, tức là, đại kết bằng việc nguyện cầu cho mối hiệp nhất cũng như bằng việc thanh tẩy ý nghĩ về nhau nơi các cộng đồng.

Trong số những vệt tối thì có một số người cảm thấy chán nản khi thấy các thứ xẩy ra quá lâu; khi thấy không phải bao giờ cũng dễ dàng lôi kéo thế hệ trẻ có thể ít hiểu biết về các mối liên hệ giữa những thành phần Kitô hữu chia rẽ đã được biến đổi trong những thập niên vừa qua.

Thế rồi, điều quan trọng là, sau những cuộc đối thoại đại kết khác nhau tập trung vào nhiều điều Kitô hữu cùng sở hữu, giờ đây chúng ta đang tiến đến chỗ những thứ khác biệt sâu xa hơn giữa các Giáo Hội buộc chúng ta phải đối diện, một vấn đề chúng ta cần phải nhẫn nại hơn nữa và vận dụng tận lực hơn nữa. Vấn đề thiếu kiên nhẫn là cái thách đố lớn đối với vấn đề đại kết.

Vấn     Các mối liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống Giáo như thế nào?

Đáp     Trong những năm gần đây đã có những tiến bộ rất nhiều ở việc cải tiến những mối liên hệ và việc cộng tác với từng Giáo Hội Chính Thống khác nhau.

Thực tế cho thấy vẫn đang có những diễn tiến thường xuyên liên hệ và trao đổi tâm tưởng với tất cả các giáo hội này. Vẫn có những cuộc viếng thăm thường xuyên của các phái đoàn đại biểu khó có thể liệt kê hết ra ở đây.

Đang có một nỗ lực cố gắng hơn trong việc cùng nhau đương đầu với những thách đố chung, nhất là ở Âu Châu. Tiếc thay, tất cả những nỗ lực này đôi khi bị che phủ bởi những chú trọng của truyền thông về các điều căng thăng và hiểu lầm khả dĩ hay thực sự xẩy ra ở một số trường hợp.

Trong hoàn cảnh mới ở Đông Âu kể từ khi Cộng Sản sụp đổ, sự hiện diện của Công Giáo trở nên rõ ràng hơn, và điều này đôi khi được Chính Thống giáo coi như là một thứ đe dọa. Họ có một quan niệm phóng khoáng hơn về vấn đề dụ giáo hơn là chúng ta có ở Tây Phương, do đó mới xẩy ra những căng thẳng. Điều này đặc biệt đúng ở nhiều biến cố liên quan đến việc tái hội nhập của Giáo Hội Hy Lạp và Công Giáo ở Ukraine.

Chỉ có tình yêu huynh đệ mới có thể loại trừ được những tranh đoạt và đối chọi nhau, và cũng chỉ có khi nào thực sự trao đổi cho nhau những tặng ân chúng ta mới có thể thắng vượt những khó khăn trầm trọng mà thôi.

Một dấu hiệu quan trọng nữa chúng tôi đang hướng tới đó là hai bên thực hiện nhiều nỗ lực để tái diễn việc đối thoại thần học quốc tế giữa Giáo Hội Công Giáo và Các Giáo Hội Chính Thống, một việc đã bị khựng lại trong mấy năm qua. Một ủy ban điều hợp cho việc đối thoại này sắp sửa được triệu tập để phác họa đường lối làm việc sau này.

Vấn     Đối với các mối liên hệ liên quan tới Các Giáo Hội Đông Phương cổ thì sao?

Đáp     Đây là những Giáo Hội vốn không chịu ảnh hưởng của Đế Quốc Rôma và đã tự phát triển cho mình những truyền thống riêng về các vấn đề thần học và giáo hội, như giáo hội Copts, giáo hội Chính Thống Syria, Giáo Hội Tông Truyền Armenia, Giáo Hội Chính Thống Ethiopia, Giáo Hội Malankara. Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã bắt đầu một cuộc đối thoại mới về thần học.

Cũng đang có một cuộc đối thoại với Giáo Hội Assyria ở Đông Phương. Những Giáo Hội này đặc biệt hiện diện ở Trung Đông.

Trong tình hình có những xung khắc và chia rẽ hiện nay, các vị lãnh đạo thuộc các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đã nhận thức được nhu cầu cần phải củng cố việc họ cộng tác với nhau ở những lãnh vực mục vụ và xã hội. Theo chiều hướng đại kết thì họ càng ngày càng có khuynh hướng cùng nhau hoạt động như là một gia đình các Giáo Hội.

Sau cuộc họp sửa soạn với các vị đại diện thuộc những Giáo Hội này vào năm ngoái ở Rôma đây, sẽ có một cuộc đối thoại vào tuần tới đây ở Cairô. ĐHY Kasper sẽ đại diện Tòa Thánh tham dự, hy vọng rằng cuộc họp này trước hết sẽ củng cố những hình thức hợp tác và hiệp thông đang có.

Vấn     Những mối liên hệ với Khối Hiệp Thông Anh Giáo thì sao?

Đáp     Như mọi người đều biết, trong năm vừa qua vấn đề này hết sức căng thẳng.

Việc tân TGM Canterbury là Tiến Sĩ Rowan Williams lần đầu tiên viếng thăm ĐGH hết sức thành công trong việc củng cố bản chất đặc biệt của những mối liên hệ giữa Anh Giáo và Công Giáo cũng như trong việc đặt nền tảng cho những liên lạc thường xuyên hơn và “hầu như có tính cách cơ cấu”.

Tuy nhiên, những thử thách nội bộ của Khối Hiệp Thông Anh Giáo đã gây ra những hậu quả trầm trọng về những mối lệ hệ đại kết. Hiện nay Khối Hiệp Thông Anh Giáo cần phải làm sáng tỏ khối này có ý định liên kết với nhau như là một Khối Hiệp Thông.

Việc đối thoại về thần học của chúng tôi sẽ được tiếp tục, thế nhưng phương tiện chính thức của việc đối thoại Anh Giáo và Công Giáo là Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo Và Công Giáo Đặc Trách Hiệp Nhất Và Sứ Vụ [the International Anglican-Roman Catholic Commission for Unity and Mission, or IARCCUM] sẽ không gặp nhau chung mà sẽ hoạt động qua một phụ ủy ban đặc biệt để cứu xét đến những điều đã được đồng ý với nhau liên quan đến các nguyên tắc về giáo hội có thể bổ ích trong lúc này đây.

Như quí vị thấy, thay vì làm suy yếu việc đối thoại của chúng tôi, thời gian thử thách này đã mang lại một nỗ lực mới cho việc trao đổi đại kết của chúng tôi.

Vấn     Thế còn các mối liên hệ với những cộng đồng Cải Cách?

Đáp     Từ khi long trọng ký kết với nhau về Bản Tuyên Ngôn Chung Về Tín Lý Công Chính Hóa ở Augsburg vào năm 1999, các mối liên hệ giữa những người Công giáo và Tin Lành Lutheran cũng như với các cộng đồng bắt nguồn từ thời Cải Cách đã tiếp tục phát triển và cải tiến. Có những cuộc gặp gỡ hằng năm cùng nhiều loạt bàn luận và đàm luận.

Năm vừa qua một cuộc thăm dò cho thấy vấn đề hiệp thông thiêng liêng trong nguyện cầu và thờ phượng, việc gặp gỡ của con người và những bàn luận về thần học, trở nên quan trọng là dường nào trong việc cùng nhau góp phần vào việc củng cố mục đích của mối hiệp nhất Giáo Hội trọn vẹn và hữu hình.

Các vị đại diện Liên Hiệp Thế Giới Latheran và Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo thường xuyên gặp nhau ít là mỗi năm một lần để các phần tử thuộc hai cơ cấu này tham vấn nhau, luân chuyển ở Rôma và ở Geneva, về tất cả những vấn đề căng thẳng liên quan đến mối liên hệ của họ.

Ủy Ban Đối Thoại Chung Quốc Tế Giữa Methodist và Công Giáo đã mừng kỷ niệm 35 năm trong năm 2002, và đã bắt đầu một giai đoạn đối thoại mới hứa hẹn. Bên Methodist đang cứu xét đến vấn đề có thể chính thức chấp nhận những gì đã được Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Thế Giới Lutheran đồng ý với nhau nơi Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa.

Với Liên Minh Thế Giới Các Giáo Hội Cải cách thì cuộc đối thoại tiếp tục ở giai đoạn đối thoại thứ ba hiện nay, tìm kiếm những nền tảng về thánh kinh và thần học cho những chứng từ chung của chúng ta trên thế giới. Cũng có một loạt những cuộc đàm luận hứa hẹn với những Kitô hữu Mennonites, Liên Hiệp Thế Giới Baptist (và) Chư Đồ Chúa Kitô.

Từ năm 1972 đã có một cuộc đối thoại quốc tế giữa Công Giáo và Pentecostal với một nhóm lãnh đạo và cộng đồng thuộc phong trào Pentecostal cổ. Việc này tạo nên một cơ hội để nói lên những vấn đề hiểu lầm nhau và học hiểu hơn về những cách phát biểu của nhau cũng như về các lối sống sứ điệp Kitô hữu.

Giữa Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo và Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội ở Geneva vẫn liên tục có những liên lạc và giao tiếp với nhau.

Vấn     Động lực nào có thể thúc đẩy hoạt động và tiến bộ đại kết?

Đáp     Như quí vị thấy, lãnh vực đại kết là một lãnh vực rộng lớn và có nhiều khía cạnh khác nhau. Hình ảnh tổng quan đó là thành đạt và tiến bộ. Chúng ta biết rằng mối hiệp nhất là tặng ân Thiên Chúa ban chứ không phải là chiến công của loài người.

Vấn đề quan trọng là hãy trở về với quan niệm cốt lõi của phong trào đại kết này, trở về với động lực đã duy trì và thúc đẩy nó ngay từ ban đầu, và hãy phát triển trên cơ bản này một nghị lực mới và một quyết tâm mới cho cuộc đối thoại chân thực.

Vấn đề đại kết về mặt thiêng liêng vốn quan trọng ngay từ đầu của phong trào đại kết, vì đó là những gì đã khơi động Tuần Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo và vẫn duy trì tuần lễ này cho tới nay. Cần phải đổi mới vấn đề đại kết về đời sống và về tình yêu thương ở tất cả mọi lãnh vực, từ thần học đến hoạt động mục vụ.

Nếu việc cộng tác về đại kết đã có thể tạo nên được con số gia tăng chưa từng có về “những nơi gặp gỡ của mối hiệp nhất trong đa diện”, thì việc hợp tác này sẽ tạo một cơ hội học hỏi và hành động nhiều hơn nữa; nó sẽ cống hiến kinh nghiệm về một mối hiệp thông hòa giải và thăng tiến trong hành động như một cách thức đi sâu hơn vào những mối liên kết giữa các thành phần Kitô hữu đã cùng chịu một phép rửa và cùng tin vào một Chúa Giêsu Kitô duy nhất.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 25/1/2004.

Các Vị Tử Đạo Thế Kỷ 20: Thành Phần Loan Báo Hiệp Nhất Kitô Giáo?

Một cuốn sách mới xuất bản bằng Ý ngữ mang tựa đề “Testimoni dello Spirito. Santità e Martirio nel Secolo XX" (những nhân chứng của Thần Linh: Thánh Thiện và Tử Đạo trong Thế Kỷ 20), do Paoline xuất bản.

Theo vị điều hợp thực hiện tác phẩm này là ông Natalio Valentini thì mục đích của cuốn sách là “để tái nhận thức khía cạnh đại kết của việc tử đạo rất thường được Đức Gioan Phaolô II nhắc đến”.

Cuốn sách này bao gồm chứng từ thánh đức và tử đạo của đủ mọi phần tử Kitô hữu thuộc các giáo hội, như Edith Stein và Jerzy Popieluszko của Công Giáo; Dietrich Bonhoeffer, Tin Lành Lutheran; và Pavel Florenskij, Chính Thống.

Vị sáng lập tổ chức Sant’ Egidio là Riccardi nhắc nhở độc giả là “các vị tử đạo Kitô giáo không phải chỉ có Công Giáo mà còn có cả các Kitô hữu khác nữa, như Anh Giáo và Chính Thống Giáo”.

Tác giả tác phẩm này là một giáo sư sử học Riccardi viết: “Tử đạo không phải là một thứ kamikaze hay là một cuộc tự vẫn. Một người tử đạo là một con người nam hay nữ tin tưởng, hy vọng, hoạt động cho người nghèo, cho hòa bình, loan báo Phúc Âm, yêu mến Giáo Hội và trước những đe dọa của tử thần, vẫn tiếp tục công việc của mình và mạnh dạn làm chứng”.

Một vị góp phần vào tác phẩm là Prior Enzo Bianchi thuộc Cộng Đồng Bose nói rằng “nỗi đớn đau của các vị tử đạo Chính Thống giáo, Công giáo và tin lành là một lời kêu gọi hiệp nhất để cho thế giới tin tưởng”.

Trong việc sửa soạn mừng Đại Năm Thánh 2000, ĐTC GPII đã thành lập một ủy ban nghiên cứu về các vị tử đạo trong thế kỷ 20 và trao cho công việc thực hiện “danh sách các vị tử đạo” thuộc các giáo hội Kitô giáo khác nhau. Vào tháng 12/2000, Ngài đã nhận được một danh sách 13.400 mẫu gương Kitô hữu đã hiến mạng vì Chúa Kitô thuộc 106 quốc gia, bắt đầu từ ngày 1/1/1900. Công cuộc này được thực hiện dưới sự lãnh đạo của ĐGM Michel Hrynchyshyn, giáo chủ của những người Ukrainian thuộc nghi lễ Byzantine ở Pháp, cùng với sự cộng tác của 10 chuyên viên.

Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 25/1/2004 về Tuần Lễ Cầu Hiệp Nhất Kết Thúc

1.     Hôm nay là lễ Thánh Tông Đồ Phaolô Trở Lại, kết thúc Tuần Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo, tuần lễ ở khắp nơi trên thế giới Kitô hữu đã cùng nhau cầu nguyện để cho mối hiệp thông trọn vẹn được hiện thực theo như ý Chúa muốn. “Ut unum sint – để tất cả được hiệp nhất nên một” (Jn 17:21). Lời kêu cầu tha thiết của Chúa Giêsu trong Nhà Tiệc Ly tiếp tục nhắc nhở các cộng đồng Kitô hữu rằng hiệp nhất là một tặng ân cần phải được lãnh nhận và phát triển sâu xa hơn nữa.

2.     Giáo triều của Tôi đã không ngừng mong ước Các Kitô Hữu được hiệp nhất nên một với nhau và vẫn còn là một ưu tiên cần phải làm theo thừa tác vụ của Tôi. Trong Tông Thư “Mở Màn Cho Một tân Thiên Kỷ” được ban hành vào dịp kết thúc Năm Thánh, Tôi đã nhắc nhở là nỗi khát mong của Chúa Kitô là “một mệnh lệnh bó buộc, là sức mạnh nâng đỡ chúng ta, và là một lời trách hữu ích cho tình trạng chậm chạp và kín dạ hẹp lòng của chúng ta” (số 48).

Bởi thế, chúng ta đừng bao giờ giảm thiểu việc quyết tâm nguyện cầu cho mối hiệp nhất cũng như không ngừng tìm kiếm nó! Những chứơng vật, khó khăn, thậm chí kể cả những hiểu lầm và thất bại, cũng không thể và không được làm cho chúng ta chán nản, vì “niềm tin tưởng vào việc tiến đến, cũng như trong lịch sử, mối hiệp thông trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi Kitô hữu” không dựa vào những khả năng loài người của chúng ta, mà là vào lời nguyện cầu của Chúa chúng ta (ibid).

3.     Giờ đây chúng ta hãy tin tưởng kêu cầu Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ Giáo Hội, để Mẹ nâng đỡ và đồng hành với chúng ta trên con đường đại kết.

Sau khi nguyện Kinh Truyền Tin, ĐTC cũng nhắc đến biến cố kết thúc Tuần Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo được diễn ra ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành hôm nay, đến cả Ngày Phò Sự Sống vào Chúa Nhật tuần tới được cử hành ở Ý Quốc và Giáo Phận Rôma, và cũng không quên nhắc Chúa Nhật tuần này là Ngày Thế Giới Bệnh Cùi. Theo Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới WHO (World Health Organization), trong năm 2002, có 620.672 trường hợp mới bị bệnh này, trong đó có 48.248 vụ ở Phi Châu, 39.939 ở Mỹ Châu, 4.665 ở Trung Đông, 520.632 ở Nam và Đông Nam Á, 7.154 ở Viễn Đông và Thái Bình Dương, và 34 ở Âu Châu. Giáo Hội Công Giáo phục vụ 817.321 bệnh nhân tại 678 trại cuì khắp thế giới.
 

Thày ban bình an của Thày cho các con”

Trong buổi triều kiến chung Thứ Tư hằng tuần tuần này, 21/1/2004, ĐTC lại tạm ngừng loạt bài về giáo lý thánh vịnh được Ngài vừa tái chia sẻ tuần trước (tới bài 96) để nói về đề tài hiệp nhất Kitô giáo nhân dịp Giáo Hội đang cử hành Tuần Lễ Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô hằng năm (18-24/1) trước khi cử hành Lễ Thánh Phaolô Trở Lại (25/1). Sau đây là những gì Ngài huấn dụ.

1. “Thày ban bình an của Thày cho các con” (Jn 14:27). Tuần Lễ Cầu Nguyện và Suy Tư về Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo nhắm đến những lời Chúa Giêsu nói trong Bữa Tiệc Ly. Ở một nghĩa nào đó, những lời này là một thứ ước thệ thiêng liêng của Người. Lời hứa này đã được hoàn toàn thể hiện nơi các vị môn đệ khi Chúa Kitô sống lại. Khi hiện ra với 11 Vị ở Nhà Tiệc Ly, Người đã nói những lời ấy 3 lần khi chào các vị: “Bình an cho các con” (Jn 20:19).

Bởi thế, quà tặng các tông đồ nhận được không phải là bất cứ một thứ “bình an” nào, mà là chính bình an của riêng Chúa Kitô: “bình an của Thày”, theo lời Người nói. Và để làm sáng tỏ những gì Người nói hơn nữa, Người đã nói thẳng là: Thày ban bình an của Thày cho các con “không phải như thế gian ban” (Jn 14:27).

Thế giới mong đợi hòa bình, cần đến hòa bình, hôm nay cũng như hôm qua, thế nhưng nó thường được tìm kiếm bằng đường lối không xứng hợp, thậm chí có những lúc sử dụng đến cả bạo lực hay bằng việc cân bằng quyền lực. Trong những trường hợp như thế, con người sống với một tâm hồn lo lắng sợ hãi và bất ổn. Ngược lại, bình an của Chúa Kitô là một thứ bình an hòa giải tâm linh, thanh tẩy tâm hồn, hoán cải tâm trí.

2. Đề tài của Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo được chọn cho năm nay do một nhóm đại kết ở thành phố Aleppo nước Syria. Điều này khiến Tôi nhớ đến cuộc tông du Tôi đã thực hiện ở Damascô. Tôi đặc biệt biết ơn sự tiếp đón nồng hậu mà hai vị thượng phụ Chính Thống và Công Giáo Hy Lạp giành cho Tôi. Cuộc gặp gỡ này vẫn còn cho thấy dấu hiệu của một niềm hy vọng tiến đến đại kết. Tuy nhiên, như Công Đồng Chung Vaticanô II đã nhắc nhở chúng ta, vấn đề đại kết sẽ không chân thực nếu có vấn đề “thay đổi lòng trí. Vì những ước muốn hiệp nhất phát xuất và phát triển từ việc canh tân đời sống nội tâm của tâm trí chúng ta, từ việc bỏ mình cũng như từ một thứ yêu thương vô hạn. (Sắc lệnh về đại kết "Unitatis Redintegratio," 7).

Người ta đang thấy phát triển một thứ nhận thức về nhu cầu cần phải có một linh đạo sâu xa về hòa bình và việc kiến tạo hòa bình, chẳng những nơi những ai trực tiếp hoạt động đại kết, mà còn nơi tất cả mọi Kitô hữu nữa. Thật vậy, lý tưởng hiệp nhất này liên quan đến hết mọi tín hữu được kêu gọi để làm thành một dân tộc được cứu chuộc bởi máu của Chúa Kitô trên thập tự giá.

3. Thật là phấn khởi khi thấy việc tìm cầu hiệp nhất nơi Kitô hữu đang lan tràn mỗi ngày một hơn nhờ những sáng kiến thuận lợi liên quan đến những lãnh vực khác nhau của việc dấn thân hoạt động cho đại kết. Trong những dấu hiệu hy vọng này Tôi hân hoan kể đến việc tăng triển đức bác ái huynh đệ và mức tiến bộ nơi những đối thoại về thần học với một số Giáo Hội cũng như với các cộng đồng giáo hội. Với các cộng đồng giáo hội, vấn đề đã tiến đến, ở những mức độ và tính chất khác xưa, những qui điểm về các chủ đề hết sức căng thẳng trong quá khứ.

Trước những dấu hiệu tích cực này, người ta cũng không được tỏ ra chán nản khi phải đối diện với những khó khăn cũ mới, song phải luôn trông cậy vào ơn Chúa hầu nhẫn nại và hiểu biết mà đương đầu với chúng.

4. “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”: phụng vụ nguyện cầu và hát lên như thế trong tuần lễ này, làm sống lại bầu khí của Bữa Tiệc Ly. Từ đức bác ái hỗ tương và tình yêu thương nhau ấy phát sinh ra sự an bình và mối hiệp nhất của tất cả mọi người Kitô hữu, thành phần có thể góp phần quyết liệt làm cho nhân loại thắng vượt được những lý do chia rẽ và xung khắc.

Anh chị em thân mến, cùng với lời cầu nguyện, chúng ta cũng cảm thấy được mãnh liệt thúc đẩy đóng góp nỗ lực của mình trong việc trở thành “những người xây dựng hòa bình” (x Mt 5:9) chân chính trong những hoàn cảnh chúng ta sống động.

Xin Trinh Nữ Maria, Đấng ở trên đồi Canvê đã chứng kiến hy tế cứu chuộc của Chúa Kitô, giúp chúng ta và hỗ trợ chúng ta trên con đường hòa giải và hòa bình.

 

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 21/1/2004)

 

Huấn Từ Truyền Tin về Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo và Mừng Tân Niên Giáp Thân 2004 Á Đông

Trước khi nguyện Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 18/1/2004, ĐTC đã kêu gọi cầu nguyện cho Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo như sau:

“Trong một thế giới khát khao hòa bình thì các cộng đồng Kitô hữu rất cần phải đồng tâm nhất trí loan báo Phúc Âm. Không thể châm chước cho việc họ làm chứng cho Tình Yêu thần linh là Tình yêu liên kết họ, cũng như cho việc họ trở thành những người mang lại niềm vui, hy vọng và an bình, bằng việc làm men cho một tân nhân loại”.

ĐTC nhắc cho mọi người biết rằng đề tài của Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo năm 2004 là “Thày ban bình an của Thày cho các con”. Chương trình của tuần lễ này, năm nay được phác họa bởi các anh chị em Kitô hữu ở Aleppo Syria, Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành, theo hướng dẫn của Hội Đồng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo và Hội Đồng Thế Giới Đức Tin Các Giáo Hội cùng Ủy Ban Hành Sự. ĐTC nhận định về việc phác họa này như sau: “Vấn đề đáng chú ý ở đây là đề tài này đã được phác họa bởi các giáo hội ở Trung Đông, nơi mối hiệp nhất và niềm hòa bình hết sức cảm thấy cần phải được đặt ưu tiên trên hết. Kitô hữu hết sức cảm thấy cần phải quay về với Vị Chúa duy nhất của mình, để Người giúp họ thắng vượt khuynh hướng chán nản trong con đường khó khăn dẫn đến mối hiệp thông trọn vẹn”.

Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo được bắt nguồn từ Phong Trào Thánh Linh ở Tô Cách Lan. Năm 1894, Đức Lêô XIII đã khuyến khích làm Tuần Bát Nhật cho Mối Hiệp Nhất theo chiều hướng Lễ Hiện Xuống. ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Cổ Võ Hiệp Nhật Kitô Giáo đã chính thức khai mạc cho Tuần Lễ này bằng việc chủ sự một lễ nghi đại kết vào ngày Chúa Nhật 18/1/2004 ở Nhà Thờ Thánh Bridgita, có cả vị giám mục Lutherô ở Helsinki. Tuần Lễ này sẽ được kết thúc vào Chúa Nhật tuần tới, 25/1/2004, Lễ Thánh Phaolô trở lại, tại Đền Thờ Thánh Phêrô Ngoại Thành, cũng với sự chủ sự của cùng ĐHY chủ tịch.

Tòa Thánh Vatican bắt đầu tham dự Tuần Cầu Hiệp Nhất Kitô Giáo từ năm 1966, hai năm sau khi Công Đồng Chung Vatican II ban hành sắc lệnh về vấn đề hiệp nhất Kitô giáo cũng như sau buổi cầu nguyện đại kết của Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giêrusalem Athenagoras I ‘xin cho họ tất cả được nên một’ (Jn 17:22)”. Từ năm 1974, các nhóm thuộc giáo hội địa phương đã tham dự vào việc sửa soạn chương trình, chủ đề và hướng dận suy niệm cho tuần lễ đại kết này.

Kết thúc buổi nguyện Kinh Truyền Tin hôm nay, ĐTC đã có lời chúc tết mừng Tân Niên Giáp Thân theo âm lịch thứ 4702 của “những đại dân tộc Đông phương, nhất là Trung Hoa, Việt Nam và Đại Hàn, các dân tộc trong mấy ngày nữa đây hân hoan cử hành tất niên âm lịch. Tôi chắc chắn liên kết với họ và thành thật chúc cho họ được an vui và thịnh vượng”.