NỖ LỰc ĐẠI KẾT 2005
ĐTC Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Hội Đồng Thế Giới Methodist về mối hiệp thông càng ngày càng tốt đẹp
CHÂN TRỜI ĐẠI KẾT … MỘT ÂU CHÂU HIỆP NHẤT
ĐTC Biển Đức XVI gửi Sứ Điệp cho Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomew I dịp Lễ Thánh Anrê
Đức Hồng Y Cassidy về Việc Đối Thoại Đại Kết và Liên Tôn
Vấn Đề Đại Kết với Vị Lãnh Đạo Liên Hiệp Lutherô Thế Giới sau Buổi Triều Kiến ĐTC Biển Đức XVI
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp về Việc Tiến Bộ nơi Mối Liên Hệ Với Chính Thống Giáo Hy Lạp
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Hội Nghị của Thương Phụ Chính Thống về Hòa Bình và Khoan Dung
Vị Lãnh Đạo Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới Chào Mừng Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Diễn Văn Ngỏ Cùng Những Vị Đại Diện Liên Hiệp Lutherô Thế Giới
Đại Kết Kitô Giáo: Hy Vọng Đã Vươn Lên
Bức Thư của các Giám Mục Balan và Ukraine về Việc Hòa Giải:
“Chúng ta cần phải Vượt Lên Trên Di Sản Lịch Sử, chúng Ta cần phải tha thứ cho nhau”
ĐTC Biển Đức XVI gặp Vị Thừa Kế TGM Lefebvre về Việc Tái Hiệp Thông
Bản Tuyên Ngôn Chung giữa Công Giáo và Tin Lành ở Á Căn Đình về Việc Xin Tha Thứ Cho Nhau
ĐTC BĐXVI tiếp phái đoàn Đại Biểu Giáo Hội Chính Thống hoàn vũ Constantinople
ĐTC BĐXVI sẽ gặp gỡ các viên chức của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới
Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết
“Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô” - Điểm Hẹn của Công Giáo và Anh Giáo
Giáo Phái Luthêrô Phần Lan có xu hướng hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo
Tiến Trình Đại Kết giữa Công Giáo và Anh Giáo với việc Phổ Biến Văn Kiện Chung về Đức Maria
ĐTC Biển Đức XVI gửi Sứ Điệp cho Hội Nghị Thệ Phản
Khóa Học về Công Giáo cho các vị mục sư Tin Lành
Anh giáo phân rẽ trầm trọng về vấn đề đồng tính nam nhân
Những gì sẽ giúp vào việc đẩy mạnh vấn đề đại kết Kitô giáo
Huấn Từ Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần 19/1/2005 về Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô giáo
Thứ Năm 15/12/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp các phần tử thuộc tiểu ban điều hợp chung của Ủy Ban Quốc Tế về Việc Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo. Mở lời bài diễn từ của mình, ngài bày tỏ niềm hân hoan về việc tái diễn cuộc đối thoại sau những năm “gặp các khó khăn trầm trọng về nội bộ và ngoại bộ”.
Vào ngày 12/9/2005, Đức Bartholomew I, vị thượng phụ toàn cầu ở Constantinople, đã cho biết về quyết định của Các Giáo Hội Chính Thống muốn tái hoạt động ủy ban này, và quyết định rằng cuộc họp đầu tiên của giai đoạn mới đối thoại đây sẽ được tổ chức ở Roma từ ngày 13 đến 16 tháng 12 năm 2005.
Đức Thánh Cha đã cho thấy rằng cuộc đối thoại tái diễn này sẽ cứu xét đến hai khía cạnh: “Một mặt loại trừ những khác biệt còn tồn tại, mặt khác gia tăng ước muốn chính yếu trong việc làm mọi sự có thể để tái thiết lập mối hiệp thông trọn vẹn, một mối hiệp thông rất thiết yếu cho cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, như bản văn kiện sửa soạn cho hoạt động của quí vị đã cho thấy rõ như vậy.
“Chúng ta cần phải tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa, cho dù ý muốn của Ngài không phù hợp với những dự án thuần túy loại người chúng ta. Chúng ta cần phải đạt tới mối hiệp nhất trọn vẹn của Giáo Hội và tình trạng hòa giải giữa các thành phần Kitô hữu, cho dù có phải trả giá cho việc chúng ta thuận phục ý muốn của Chúa”.
Ngài nhấn mạnh rằng, để tiến triển trên con đường hiệp nhất này, chúng ta cần phải “xin Chúa giúp đỡ… vì hiệp nhất trên hết là một tặng ân Thiên Chúa ban” và “kêu mời tất cả mọi Kitô hữu hiệp lời cầu nguyện”.
Sauk hi nhắc lại về việc Sắc Lệnh của Công Đồng Chung Vaticanô II “Unitatis redintegratio” kêu gọi vấn đề tương kiến và đối thoại, ngài đã nhấn mạnh tới việc làm cách nào để vấn đề ấy “cũng sẽ góp phần vào ‘việc đối thoại gia tăng nơi thế giới Kitô giáo khi thế giới này tìm kiếm mối hiệp nhất của mình’”.
Tiểu ban điều hợp chung này gồm có 21 phần tử: 10 Công Giáo và 11 Chính Thống Giáo. Tiểu ban này được lãnh đạo bởi các vị tổng giám mục ở Pergamo (tòa thượng phụ giáo chủ toàn cầu Constantinople) và Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, những vị này cũng là đầu của Ũy Ban Quyốc Tế Về Đối Thoại Thần Học Giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 15/12/2005
ĐTC Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Hội Đồng Thế Giới Methodist về mối hiệp thông càng ngày càng tốt đẹp
Hôm Thứ Sáu 9/12/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gặp gỡ Hội Đồng Thế Giới Methodist tại Vatican và đã ngỏ lời cùng họ nguyên văn như sau:
Giám Mục Mbang thân mến,
Quí bạn thân mến trong Chúa Kitô,
Thật là vui mừng được đón tiếp quí vị, những vị đại diện cho Hội Đồng Thế Giới Methodist, và cám ơn quí vị về cuộc quí vị viếng thăm tôi đây. Tôi vẫn lấy làm biết ơn về việc quí vị đại diện Methodist hiện diện hiệp ý cầu nguyện tại lễ an táng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và lễ đăng quang cho giáo triều của tôi.
Tuần này, 40 năm trước đây, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã ngỏ cùng thành phần quan sát viên đại kết vào lúc kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II. Trong cuộc gặp gỡ này, ngài đã bày tỏ niềm hy vọng là những khác biệt giữa Kitô hữu có thể được giải quyết, “một cách chậm rãi, từ từ, trung thành, và quảng đại”. Giờ đây chúng ta cần phải suy nghĩ về những mối liên hệ thân tình giữa người Công Giáo và người Methodist, cũng như về cuộc đối thoại nhẫn nại và kiên trì chúng ta tham gia. Thật vậy, có nhiều điều hôm nay đây chúng ta cần phải dâng lời tạ ơn.
Từ năm 1967, việc đối thoại của chúng ta đã bàn giải những vấn đề chính về thần học, chẳng hạn như: mạc khải và đức tin, truyền thống và quyền giảng dạy trong Giáo Hội. Những nỗ lực này là những gì thẳng thắn trong việc nêu lên những lãnh vực khác nhau. Những lãnh vực này cho thấy một mức độ đáng kể đồng qui và là những gì đáng suy tư cùng nghiên cứu học hỏi. Việc đối thoại của chúng ta cùng với nhiều đường lối được những người Công Giáo và Methodist trở thành quen thuộc hơn là những gì giúp cho chúng ta có thể cùng nhau nhìn nhận một số điều trong “các kho tàng Kitô giáo rất quí giá”. Có lúc việc nhìn nhận này khiến chúng ta có thể cùng nhau lên tiếng về các vấn đề về xã hội và đạo lý trong một thế giới càng ngày càng bị tục hóa.
Tôi lấy làm phấn khởi trước sáng kiến có thể mang các giáo hội phần tử của Hội Đồng Thế Giới Methodist tham gia Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa là văn kiện được Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ký nhận vào năm 1999. Nếu Hội Đồng Thế Giới Methodist bày tỏ ý định của mình trong việc muốn tham gia vào bản Tuyên Ngôn Chung này thì hội đồng này sẽ giúp vào việc chữa lành và hòa giải được chúng ta thiết tha mong ước, và sẽ là một bước tiến tới mục đích đã được đề ra là mối hiệp nhất hữu hình trọn vẹn trong đức tin.
Quí bạn thân mến, theo sự hướng dẫn của Thánh Linh và tin tưởng vào Tình Thương cao cả bền bỉ của Thiên Chúa trên khắp thế giới, chúng ta hãy tìm cách nuôi dưỡng việc cùng nhau dấn thân sống Lời Chúa, làm chứng nhân và liên kết nguyện cầu. Trong lúc chúng ta dọn lòng trí đón mừng Chúa trong Mùa Vọng này, tôi xin muôn vàn phép lành của Chúa đổ xuống trên tất cả anh chị em và những người Methodist trên khắp thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 9/12/2005
CHÂN TRỜI ĐẠI KẾT … MỘT ÂU CHÂU HIỆP NHẤT
Giáo Triều Biển Đức XVI là Giáo Triều Đại Kết Kitô Giáo
Đúng như người viết đã dự đoán trên chương trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống (
www.tinmungsusong.org) ngày Thứ Sáu 15/4/2005 (106.3 FM từ 9 đến 9 giờ 30 Thứ Sáu hằng tuần ở Nam California) về vị tân giáo hoàng, khi mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng vào ngày Thứ Hai 18/4/2005 chưa xẩy ra, đó là vị tân giáo hoàng sẽ là “vị giáo hoàng của bữa tiệc ly… liên quan đến hiệp nhất Kitô giáo” (Nguyệt San Hiệp Nhất số 150, 6/2005, trang 38).
Quả nhiên, như chúng ta đã biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, vị giáo hoàng được Thiên Chúa tuyển chọn vào giữa Năm Thánh Thể (17/10/2004-23/10/2005), ngay sau ngày được bầu làm giáo hoàng, tức vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005, trong sứ điệp bằng tiếng Latinh ngỏ cùng hồng y đoàn bấy giờ tại Nguyện Đường Sistine, ngài đã chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài, nguyên văn như sau:
· “Bằng tất cả ý thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của mình ở Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đã tắm máu, vị Thừa Kế này lãnh nhận, như là quyết tâm chính yếu của mình, quyết tâm không ngừng hoạt động hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngài. Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm tình thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết.
“Những cuộc đối thoại về thần học là những gì cần phải có. Cũng không thể châm
chước bỏ qua việc khảo sát kỹ lưỡng những nguyên do lịch sử đã gây ra những
việc quyết định trong quá khứ. Thế nhưng, khẩn thiết hơn thế nữa là việc
‘thanh tẩy ký ức’, một việc đã thường được Đức Gioan Phaolô gợi lên, và là một
việc duy nhất có thể sửa soạn cho các tâm hồn đón nhận tất cả sự thật của Chúa
Kitô. Chính vì trước nhan Người là Vị Thẩm Phán tối cao của tất cả mọi sinh
vật, mà mỗi một người trong chúng ta cần phải trả lẽ, với ý thức là một ngày
kia chúng ta cần phải cắt nghĩa cho Người về những gì chúng ta đã làm và những
gì chúng ta không làm cho thiện ích cao cả là mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu
hình nơi tất cả thành phần môn đệ của Người.
“Vị Thừa Kế Thánh Phêrô đây tự cảm thấy chính mình liên quan đến vấn đề này và
sẵn sàng làm tất cả những gì trong khả năng của mình để cổ võ lợi ích chính
yếu cho việc đại kết. Theo những vị tiền nhiệm của mình, ngài nhất định quyết
tâm nâng đỡ bất cứ sáng kiến nào có vẻ thích hợp với việc đẩy mạnh việc giao
tiếp và thỏa hiệp với những vị đại diện thuộc các Giáo Hội khác và các cộng
đồng giáo hội khác. Thật thế, nhân cơ hội này đây, ngài xin gửi đến họ lời
chàop thân ái nhất của ngài trong Chúa Kitô, Vị Chúa duy nhất của tất cả mọi
người”.
Sở dĩ người viết có thể suy đoán như vậy, trong khi dư luận truyền thông cũng đang hướng tới cả vị tân giáo hoàng người Phi Châu và Mỹ Châu Latinh, là vì hai lý do sau đây:
Thứ nhất: “Có thể nói, nếu giáo triều Gioan Phaolô II là giáo triều huy hoàng nhất lịch sử Giáo Hội Công giáo, chẳng khác nào như Chúa Kitô tiến vào thành thánh Giêrusalem, thì vị giáo hoàng sau ngài sẽ là vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly (có thể đó là lý do Năm Thánh Thể chưa kết thúc, liên quan đến Hiệp Nhất Kitô giáo, theo lời nguyện kết thúc Bữa Tiệc Ly của Chúa Kitô)” (Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo và cho Một Tân Âu Châu, Cao-Bùi 5/2005, trang 21 và 203).
Thứ Hai, vì nếu Đức Gioan Phaolô II đã liên quan đến biến cố Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, thì ước vọng của ngài còn mong gì hơn là thấy được một Âu Châu Hiệp Nhất, được thở bằng hai buồng phổi Đông và Tây, như ngài đã minh nhiên nói lên điều này dịp ngài nhận Giải Thưởng Charlemagne của Thành Phố Aachen ở Vatican hôm 24/3/2004:
· “Âu Châu trong tâm trí của tôi là một hiệp nhất về chính trị, thực sự là về tinh thần, trong đó, các chính trị gia Kitô hữu thuộc tất cả mọi quốc gia tác hành với ý thức về những kho tàng về nhân bản do đức tin mang lại: họ là những con người nam nữ dấn thân để làm cho những giá trị này sinh hoa kết trái, khi hiến mình phục vụ tất cả mọi người cho một Âu Châu được đặt nền tảng trên con người là tạo vật chiếu tỏa dung nhan Thiên Chúa. Đó là ước mơ tôi ấp ủ trong lòng mình và nhân dịp này tôi xin ký thác cho quí vị cũng như cho các thế hệ hậu lai” (L'Osservatore Romano ấn bản Anh ngữ, N. 15 [1839], 14/4/2004, trang 9).
Thế nhưng, cũng theo người viết cảm nhận, một Âu Châu đang bị khủng hoảng văn hóa và phá sản đức tin Kitô giáo hiện nay không thể nào trở thành một Khối Hiệp Nhất Âu Châu, như danh xưng của nó và ước vọng của thành phần sáng lập nên nó, nếu nó chỉ “sống nguyên bởi bánh” kinh tế và chính trị, loại trừ đi căn tính Kitô giáo của mình. Tuy nhiên, làm sao để Âu Châu có thể lấy lại căn tính Kitô giáo của mình, nhờ đó, tiến đến chỗ Hiệp Nhất Âu Châu, rồi từ một Tân Âu Châu hiệp nhất trong căn tính làm nên văn minh Âu Châu của mình như thế, họ tiếp tục là “một thành xây trên núi” (Mt 5:14) như thuở nào, nếu không phải bằng việc Đại Kết Kitô Giáo. Người viết tin chắc chắn rằng chỉ khi nào Kitô Giáo tiến đến chỗ hiệp nhất nên một theo ý nguyện của Đấng Sáng Lập của mình, châu lục Kitô giáo này mới có thể thực sự là một Khối Âu Châu Hiệp Nhất.
Phải chăng đã đến thời điểm Hiệp Nhất Âu Châu? Người viết nghĩ rằng nếu vị Giáo Hoàng người Balan đã được Thiên Chúa (trước con mắt thế gian) “bất ngờ” sai đến để làm sụp đổ Khối Cộng Sản Đông Âu, giờ đây, trong nhiệm ý vô cùng nhiệm mầu của mình, Ngài lại (trước con mắt thế gian) “bất ngờ” sai đến một vị Giáo Hoàng người Đức, để làm hoàn tất những gì còn đang dang dở nơi Âu Châu của giáo triều Đức Gioan Phaolô II. Tại sao Đấng Quan Phòng Thần Linh không chọn một vị giáo hoàng nào khác mà lại chọn vị giáo hoàng người Đức, ngay sau vị giáo hoàng người Balan? Chính vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã cảm nhận được việc quan phòng thần linh này, sau khi xem cuốn phim “Karol un uomo deventato Papa – Karol, Một Người đã Trở Thành Giáo Hoàng” tối hôm Thứ Năm 19/5/2005 tại Sảnh Đường Phaolô VI, với những lời lẽ như sau:
· “Chúng ta lại không thấy được hay sao dự án thần linh nơi sự kiện là trên Ngai Tòa Thánh Phêrô vị Giáo Hoàng Balan được kế vị bởi một người công dân Đức Quốc, nơi chế độ Nazi đã củng cố mình bằng tính chất cực kỳ độc hại, trước khi tấn công láng giềng của mình, nhất là Balan? Cả hai vị Giáo Hoàng này, trong thời còn trẻ, mặc dù ở hai bên khác nhau và ở hai trường hợp khác nhau, đều bị buộc phải trải qua cái dã man mọi rợ của Thế Chiến Thứ Hai cũng như tình trạng bạo lực vô nghĩa được con người và các dân tộc sử dụng để phạm đến nhau”.
Quê hương của vị giáo hoàng người Đức là nơi chẳng những xuất phát ra hai trận thế chiến trong thế kỷ 20 mà còn xuất phát ra phong trào Thệ Phản từ thế kỷ 16 và phong trào đại kết từ trong thế kỷ 20. Chính Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã xác nhận với Chư Vị Đại Diện Các Giáo Phái Tin Lành Đức Quốc ngày 19/8/2005 trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Đức quốc như thế:
· “Trong cuộc đối thoại đại kết, Đức quốc giữ một vị thế đặc biệt quan trọng. Chẳng những nó là nơi xuất phát ra cuộc Cải Cách; nó còn là một trong những xứ sở mà phong trào đại kết từ thế kỷ 20 bắt nguồn”.
Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo với “những cử chỉ cụ thể”
Như chúng ta đã biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, ngay sau ngày được bầu làm giáo hoàng, đã chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài, trong đó ngài nhấn mạnh đến “những cử chỉ cụ thể” về vấn đề hết sức quan trọng và khẩn trương này như sau:
· “… Vị Thừa Kế này, lấy làm quyết tâm chính yếu của mình, cương quyết không ngừng hoạt động để hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngài. Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm tình thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.
Vậy, từ sau khi ngài tuyên bố những lời làm nên sứ vụ giáo triều của ngài này, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” này ra sao, và thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đã nhận định về ngài như thế nào?
Thật vậy, ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Giáo Hội Công Giáo có mặt tại hội nghị Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đã đọc bản văn được văn phòng quốc vụ khanh của Tòa Thánh thay cho Đức Thánh Cha gửi đến hội nghị được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005 nàỵ
Trong sứ điệp của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi lời chào “thân ái đến tất cả mọi tham dự viên, ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội nghị này là Marcel Manoel đã cho biết như thế. Ông nói tiếp: “Đây là lần đầu tiên hội nghị của chúng tôi đã nhận được một sứ điệp như vậỵ Chúng tôi nhận được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan tâm”.
Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xã Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có chừng 900 ngàn người.
Chúng ta cũng nên biết là, trong thời gian còn giữ vai trò Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” đối với vấn đề đại kết Kitô giáo này rồị Chắc chúng ta còn nhớ bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa ký kết giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức ngày 30/10/1999 tại Augsburg, một thành quả tốt đẹp sau hơn 30 năm đối thoại đại kết. Thế nhưng, thành quả đại kết đầu tiên này không thể có nếu không thiếu “những cử chỉ cụ thể” do đích thân vị hồng y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Joseph Ratzinger thực hiện.
Thật vậy, trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” của ĐTC Gioan Phaolô II xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y nay là giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây đã cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đã đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách, tức là ngài đã hiểu được những suy nghĩ của một nhân vật Luthêrô khi còn là linh mục Công giáo.
ĐHY Ratzinger bấy giờ đã kêu gọi những ai hiện diện hãy đọc lại những bản văn đó, vì chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đã trải qua khi phải đương đầu với bản thân mình để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công minh và thiện hảọ Cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” này đã kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Vị nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh (bấy giờ, nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc) lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô. Và chính kiến thức của ĐHY Joseph Ratzinger về ông tổ Thệ Phản Luthêrô đã giúp phần làm hiện thực việc ký kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa.
Tuy nhiên, có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được trình bày trong năm 1998 đã bị cả Tòa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi tình hình cho thấy dự án có thể bị hỏng cuộc, thì những khó khăn ấy đã được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ tình thân hữu lâu đời của hai vị này, mối thân hữu đã đưa đến việc thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người với nhau vào Tháng 11/1998.
Sau khi vị Giám Mục Tiến Sĩ Hanselmann này chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đã tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đã thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lý Công Chính Hóa đã bất thành. Nhờ đó, trong diễn trình của một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày trời, chúng tôi đã tìm thấy được những công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn còn gặp trục trặc… Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo, họ đã có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt của Tín Lý Công Chính Hóạ Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ ký vào một văn bản thỏa thuận ở những gì căn bản”.
“Bản Tuyên Cáo Seattle” về Thánh Mẫu giữa Anh Giáo và Công Giáo
Trước hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất phát hiện từ Kitô Giáo Anh Quốc, một Giáo Hội đã tác khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1535, và là một Giáo Hội vẫn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về hai tín điều Thánh Mẫu là Tín Điều Vô Nhiễm Nguyên Tội và Tín Điều Mông Triệu, cũng như về việc tôn sùng Thánh Mẫu của những người Công giáo. Thế mà, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, đã phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về hình ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”.
Bản văn kiện này được phổ biến trong một cuộc cử hành tại vương cung Thánh Đường Công Giáo ở TGP Seattle, với sự hiện diện của cả 2 vị đồng chủ tịch là TGM Công Giáo Alexander Brunett và TGM Anh Giáo Peter Carnley, giáo chủ Úc Châụ Bản văn này còn được gọi là “Bản Tuyên Cáo Seattle” không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền hoặc bởi Công giáo hay Anh giáo nhưng có mục đích để đôi bên bàn luận hơn nữa.
ĐHY Cormac Murphy-O’Connor, TGM Công Giáo ở Westminster, đã nhận định là bản văn kiện này “là một thành đạt chính yếu trong cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa người Công giáo và Anh giáo hoàn vũ. Nó là một thành đạt trong việc gia tăng vấn đề hiểu biết sâu xa nơi chủ trương của mỗi giáo hội”.
ĐGM McMahon Công giáo ở Nottingham nói rằng: “Việc hiểu biết của người Anh giáo và Công giáo đã được củng cố rất nhiều bởi cuộc đối thoại nàỵ Những gì chúng ta đã thực hiện đó là dọn đường dẫn đến vấn đề hiệp nhất Kitô giáo”.
Cha Donald Bolen, linh mục Công giáo đồng thư ký của ủy ban này và là trợ tá cho ngành Tây Phương của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (và bài phỏng vấn đã được Zenit phổ biến ngày 18-19/5/2005), đã cho biết các nhà thần học Anh Giáo đã công nhận hai tín điều Thánh Mẫu và việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo là những gì hợp với Thánh Kinh.
Trước hết, về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, vị linh mục này cho biết khoản số 59 viết rằng:
· “Theo ơn gọi là Mẹ Đấng Thánh của Người (x Lk 1:35), chúng ta có thể cùng nhau xác nhận là công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô đã đạt đến ở nơi Đức Maria tầm mức sâu thẳm hữu thể của Người cũng như vào những giây phút ban đầu của Ngườị Điều này không ngược với giáo huấn của Thánh Kinh, và chỉ có thể hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh. Những người Công giáo Rôma có thể nhìn nhận nơi điều này những gì đã được tín điều ấy xác nhận – tức là vấn đề ‘được gìn giữ khỏi tất cả mọi tì vết nguyên tộí và ‘từ giây phút đầu tiên khi Người được hoài thaí”.
Sau nữa, về tín điều Mông Triệu, vị linh mục này cũng cho biết những chi tiết liên quan đến khoản số 56 và 58 như thế này:
· “Dù ‘không có chứng cớ trực tiếp trong Thánh Kinh liên quan đến việc kết thúc cuộc sống của Đức Mariá (56), ‘Kitô hữu Đông Tây từ đời nọ đến đời kia vẫn nghĩ về công cuộc của Thiên Chúa nơi Đức Maria, họ đều ý thức một cách tin tưởng rằng… thật là xứng hợp việc Chúa đã triệu Người về với Ngài một cách trọn vẹn: trong Chúa Kitô, Người đã là một tạo vật mới…’ (58). Một lần nữa, khi liên kết ý thức về ân sủng và niềm hy vọng này nơi đời sống của Đức Maria với tín điều Mông Triệu của Đức Maria, bản văn nhận định là: ‘chúng ta có thể cùng nhau xác nhận giáo huấn Thiên Chúa đã mang Đức Trinh Nữ Maria vào vinh quang tất cả con người của Người là những gì hợp với Thánh Kinh, và giáo huấn ấy thực sự chỉ hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh như thế mà thôị Những người Công Giáo Rôma có thể nhìn nhận rằng giáo huấn này về Đức Maria được tuyên bố bằng một tín điềú” (58).
Sau hết, về việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo, vị linh mục này tiết lộ như sau:
· “Phần chính yếu cuối cùng của bản văn (64-75) nói đến vị trí của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội, vấn đề liên quan tới việc tôn sùng Thánh Mẫụ Phần này được bắt đầu bằng việc mạnh mẽ xác nhận là: ‘Chúng ta cùng nhau đồng ý rằng với ý thức Đức Maria là mẫu gương trọn vẹn nhất của con người về đời sống ân sủng, chúng ta được kêu gọi để suy nghĩ đến những bài học về đời sống của Người được ghi nhận trong Thánh Kinh và liên kết với Người như một vị thực sự chưa qua đi song vẫn thực sự sống trong Chúa Kitô’ (65). Bản văn này nhấn mạnh là việc tôn sùng Thánh Mẫu và việc kêu cầu Đức Maria không thể nào làm lu mờ hay suy giảm vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Bản văn kết luận: ‘Cùng nhau xác nhận một cách ý thức vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai trò mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lý do về thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề nàý”.
“Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo”
Chưa hết, dấu hiệu hiệp nhất phải nói là rạng ngời nhất được phát hiện từ Kitô Giáo Luthêrô. Thật vậy, trong Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến để bế mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, thì hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, có một vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro Huovinen đã bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.
Sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, vì giám mục này nói:
· “Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”.
Vị giám mục này đã cắt nghĩa rằng trong năm 2005, cùng với những người Công giáo và các Kitô hữu khác, những người Luthêrô cử hành 850 năm Giáo Hội ở Phần Lan. Những người Luthêrô chiếm 85% trong tổng số 5.2 triệu dân ở nước nàỵ
· “Cùng với anh chị em Công Giáo, chúng ta hãy cầu nguyện để có thể là một trong Chúa Kitô”.
Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không có Chúa Kitô và không có Thiên Chúạ Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh. Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy lòng của mình, tôi muốn tham dự vào ngày mà người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu hình”.
Bản Tuyên Ngôn Chung giữa Công Giáo và Tin Lành ở Á Căn Đình về Việc Xin Tha Thứ Cho Nhau
Trong thời khoảng 2-4/7/2005, ở Buenos Aires đã diễn ra một cuộc Gặp Gỡ Huynh Đệ lần 2 được gọi là Mối Hiệp Thông Mới Giữa Tin Lành Và Công Giáo Trong Thần Linh CRECES (Renewed Communion of Evangelicals and Catholics in the Spirit). Trong cuộc Gặp Gỡ này, các nhân vật Công giáo và tin lành tìm thấy một lãnh vực mới của việc hiệp ý chung, đó là nhu cầu cần tha thứ cho nhau về những bất đồng của mình.
ĐHY Jorge Mario Bergoglio, TGM Buenos Aires, trong thư gửi cho Cuộc Gặp Gỡ này đã viết: “Tôi thành thật khuyến khích anh chị em hãy bảo trì con đường chúc tụng và tôn thờ, hòa giải và đại kết thiêng liêng này, một con đường anh chị em đã thực hiện năm ngoái”.
Niềm hy vọng của các phần tử CRECES được phản ảnh qua Bản Tuyên Ngôn Chung, đề ngày 2/7, một bản tuyên ngôn được trình bày trong cuộc gặp gỡ ấy.
“Chúng tôi là những người Công giáo và tin lành, thành phần cảm nghiệm được Chúa Kitô phục sinh, Đấng nhờ Thánh Thần của Người là một tặng ân đã canh tân đời sống thiêng liêng của chúng ta.
“Cuộc canh tân thiêng liêng này đã dẫn chúng ta đến chỗ tái dấn thân sống cho Chúa Giêsu Kitô”. Từ kinh nghiệm Thánh Linh ấy, thành phần tham dự viên Công giáo và tin lành nói rằng họ hiểu rằng Giáo Hội là “dân Chúa, là gia đình Chúa”.
“Tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, dù là tin lành hay Công giáo, đều là con của cùng Cha, và vì thế là anh em của nhau. Chúa Kitô chỉ muốn một Giáo Hội duy nhất, và ngài muốn Giáo Hội của Người bộc lộ trong thế giới mối hiệp nhất và thánh đức là những gì làm nên đặc tính của Thiên Chúa.
“Hôm nay đây, những người tin lành và Công giáo, được canh tân bởi Thánh Linh, thống hối về những thứ chia rẽ của mình và những việc xúc phạm lẫn nhau, nên xin nhau tha thứ…. Chúng tôi nhìn nhận rằng tội lỗi lớn nhất của chúng tôi đó là không yêu thương nhau như Chúa Kitô dạy chúng ta”.
Những người phát động tổ chức CRECES này đã nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit rằng CRECES “được xuất phát từ nỗi khát vọng được Thánh Linh tác động nơi lòng của một số anh chị em Công giáo và tin lành, thành phần không hề biết đến nỗi khát vọng ấy, đã nguyện cầu về phần mình để xin Chúa soi động một đường lối chung nào đó trong việc tiến đến chỗ làm trọn lời Chúa Giêsu cầu cùng Cha vào đêm Người bị bội phản rằng: Lạy Cha ‘xin cho họ tất cả được hiệp nhất… để thế gian nhận biết Cha đã sai Con’”.
Mở màn cho một đường lối chung được bắt đầu bằng việc Matteo Calisi viếng thăm Buenos Aires vào Tháng 7/2003. Qua một số năm, Calisi và vị mục sư tin lành Jorge Minitian đã gặp nhau ở Ý, chia sẻ cùng một ước vọng hiệp nhất.
Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên ở Buenos Aires, 4 vị mục sự tin lành và 4 giáo dân Công giáo bắt đầu gặp nhau hằng tháng để cầu nguyện và nhận thức ý muốn của Thiên Chúa về nỗ lực hòa giải và hiệp nhất ấy. Cuộc Gặp Gỡ đầu tiên đã diễn ra vào ngày 31/7/2004.
Matteo Calisi là chủ tịch của tổ chức Huynh Đệ Thế Giới Chư Hiệp Hội Và Cộng Đồng Đặc Sủng Giao Ước và là vị sáng lập kiêm chủ tịch Cộng Đồng Chúa Giêsu, một nhóm đặc sủng Công giáo bắt nguồn ở Bari Ý quốc.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gặp Vị Thừa Kế TGM Lefebvre về Việc Tái Hiệp Thông
Hôm 29/8/2005, tại tông điện nghỉ mát ở Castel Gandolfo, ĐTC Biển Đức XVI đã
tiếp ĐGM Bernard Fellay, vị thừa kế ĐTGM Marcel Lefebvre lãnh đạo Hội Thánh
Piô X, vị “muốn tiến đến chỗ hiệp thông trọn vẹn”.
Theo vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là Joaquín Navarro Valls thì
trong cuộc gặp gỡ này có cả ĐHY Darío Castrillón Hoyos, chủ tịch Hội Đồng Tòa
Thánh ‘Ecclesia Dei’, một tổ chức được Đức Gioan Phaolô II thiết lập bằng một
tự sắc ngày 2/7/1988, sau khi ĐTGM Lafebvre truyền chức bất hợp pháp cho 4 vị
giám mục của mình ở Ecône.
Vị giám đốc văn phòng báo chí còn cho biết là “cuộc họp diễn ra trong một bầu
không khí mến yêu Giáo Hội và mong muốn tiến tới chỗ hoàn toàn hiệp thông.
Nhận thức được những khó khăn nên lòng mong ước thực hiện những bước tiến sẽ
từ từ diễn tiến theo thời điểm hợp tính hợp lý”.
Sau cuộc họp này, vì giám mục đại diện cho Hội Thánh Piô X đây đã phát biểu
qua một bản văn là “cuộc họp ấy kéo dài 35 phút trong một bầu khí thanh thản.
Cuộc triều kiến này là cơ hội để Hội này bày tỏ là nó lúc nào cũng luôn luôn
gắn bó với Tòa Thánh, Vĩnh Thành Rôma. Trong tinh thần hết sức mến yêu Giáo
Hội, chúng tôi đã nhắc lại một chuỗi những khó khăn đã từng xẩy ra. Hội Thánh
Piô X nguyện xin cho ĐTC được mạnh sức để chấm dứt cuộc khủng hoảng trong Giáo
Hội, ‘phục hồi mọi sự trong Chúa Kitô’”.
Trước cuộc triều kiến giáo hoàng, vị giám mục này đã nói với cơ quan báo chí
DICI thuộc nhóm của ngài rằng nếu được gặp ĐTC Biển Đức, ngài sẽ yêu cầu 2
điều: trước hết là cho tất cả mọi vị linh mục có thể cử hành Lễ cũ mà không
cần phải xin phép vị giám mục địa phương theo như điều kiện đòi hỏi hiện nay;
sau nữa là việc công khai rút lại vấn đề dứt phép thông công liên quan tới
việc truyền chức cho 4 vị giám mục của hội ngài.
Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Hiệp Nhất Kitô Giáo, cập nhật hóa lộ trình Đại Kết
ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn được phổ biến hôm Thứ Bảy 10/9/2005 trên một tờ nhật báo Ý là La Pubblica, đã cho biết đại quan về lộ trình đại kết Kitô giáo như sau.
“Tất cả mọi vị lãnh đạo của Chư Giáo Hội Kitô Giáo đều rất hân hoan khi vị Giáo Hoàng này tuyên bố rằng vấn đề hiệp nhất là vấn đề ưu tiên.
“Với Tòa Thượng Phụ Chính Thống Hoàn Vũ ở Constantinople, chúng tôi đang tái tấu Ủy Ban Hỗn Hợp Công Giáo và Chính Thống Giáo. Một cuộc gặp gỡ sửa soạn sẽ được thực hiện vào tháng 12, và vào mùa xuân năm 2006 toàn thể ủy ban sẽ gặp nhau”.
Về vấn đề liên hệ với Tòa Thượng Phụ Chính Thống Moscow, vị hồng y chủ tịch này khẳng định là “bầu khí đã được cải tiến”, điều kiện thuận lợi cho việc gặp gỡ giữa ĐTC Biển Đức XVI và Thượng Phụ Alexy II, “nhưng có lẽ không ở tại Moscow mà có thể ở một địa điểm thứ ba”.
Đối với Liên Hiệp Luthêrô, vị hồng y này cho biết “các mối liên hệ rất là tốt đẹp. Vào Tháng 10, chúng tôi sẽ phổ biến một bản văn kiện chung về tính cách tông truyền của Giáo Hội và việc thừa kế tông đồ… một văn kiện rất giá trị”.
Ngoài ra, “tín hữu Methodist, vào năm tới, muốn tham phần vào bản văn kiện được chúng tôi ký nhận với tín hữu Luthêrô về vấn đề công chính hóa”, vào ngày 31/10/1999 tại Đức quốc.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
ĐTC Biển Đức XVI gửi Sứ Điệp cho Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomew I dịp Lễ Thánh Anrê
Nhân dịp Lễ Thánh Anrê, quan thày của tòa thượng phụ này, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi cho Đức Thượng Phụ Bartholomew I ở Constantinople một sứ điệp, vị thượng phụ đã mời ngài đến viếng thăm Giáo Hội của mình vào dịp này, nhưng ngài không đến được nên trao sứ điệp tận tay cho vị thượng phụ qua phái đoàn đại biểu của Tòa Thánh do Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, lãnh đạo. Sau đây là nguyên văn sứ điệp của Đức Thánh Cha:
Kính gửi Đức Bartholomew I
Tổng Giám Mục Constantinople
Đức Thượng Phụ Hoàn Vũ
“Xin ân sủng của Chúa Giêsu ở cùng anh em! Tôi yêu thương tất cả anh em trong Chúa Giêsu Kitô” (1Cor 16:23-24). Thật là vui mừng để viết bức thư này cho Thượng Phụ nhân dịp Lễ Thánh Anrê, vị tông đồ và là người anh em của Thánh Phêrô.
Phái đoàn đại biểu tôi gửi đến huynh, do Vị Chủ Tịch của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo là Hồng Y Walter Kasper, mang đến huynh lời chào thăm huynh đệ nồng hậu nhất của Giáo Hội Rôma. Vì bản thân tôi muốn hiện diện để chính mình bảo đảm cùng huynh về lòng cảm mến của tôi đối với huynh trong Chúa và cùng huynh cầu nguyện, mà tôi xin chuyển đạt niềm hy vọng thiết tha của tôi về một mối hiệp thông sâu xa thắng vượt những trở ngại vẫn còn giữa chúng ta và làm cho chúng ta có thể cùng nhau cử hành Thánh Thể, một hy tế duy nhất của Chúa Kitô cho thế gian được sự sống.
Năm nay chúng ta tưởng nhớ đến đệ tứ chu niên ngày 7/12/1965, ngày Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras, không hài lòng về những gì xẩy ra vào năm 1054, đã cùng nhau quyết định ở Rôma và Constantinople “hủy bỏ khỏi ký ức của Giáo Hội bản án tuyệt thông đã được ban bố”. Biến cố trọng yếu này trở thành nền tảng cho mối liên hệ mới có tính cách tương kính và hòa giải. Chúng tôi hân hoan nhớ đến những lời đầy thần hứng vang lên hôm ấy ở Vương Cung Thánh Đường Phanar từ Đức Thượng Phụ Athenagoras: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Jn 4:8): tình yêu là dấu chỉ Thiên Chúa của thành phần môn đệ Chúa Kitô, là quyền năng qui tụ Giáo Hội lại với nhau thành một, và là nguồn mạch an bình, hòa hợp và trật tự của Giáo Hội, như là một biểu trưng thường trực và rạng ngời của Thánh Linh ẩn ngự” ("Response to the Common Declaration," 7 December 1965).
Thật vậy, việc hủy bỏ này đánh dấu khởi điểm của một mùa mới trong đời sống xã hội, một mùa đối thoại trao đổi, một mùa cho thấy những tiến bộ đáng kể tuy vẫn còn khó khăn cần phải tiếp tục kiên trì theo đuổi những mục tiêu hết sức dấu yêu của nó. Về vấn đề này, nó khiến tôi lấy làm mãn nguyện khi thấy rằng sau vài năm ngưng đọng việc đối thoại về thần học của chúng ta lại được tái diễn. Tôi cầu xin để nó thực sự sinh hoa kết trái và tin tưởng rằng mọi nỗ lực sẽ được thực hiện để đạt được mục đích này. Ai đã cầm cầy thì không được quay trở lại (x Lk 9:62). Trái lại, họ phải kiên trì và làm hoàn trọn công việc của mình, gieo hạt giống và đợi chờ mùa màng tốt tươi được Thiên Chúa ban cho theo lòng nhân hậu của Ngài. Bởi thế chú ý lắng nghe những gì Thần Linh nói về các nhu cầu của Chư Giáo Hội hôm nay cũng như mai hậu, tôi xin Đức Thượng Phụ cùng Tòa Thánh của ngài, cũng như qua ngài tất cả mọi Giáo Hội Chính Thống, hãy tin tưởng rằng Giáo Hội Công Giáo vẫn dứt khoát dấn thân phát động tất cả những hoạt động thích hợp và hữu ích để củng cố đức ái, tình liên kết và việc đối thoại về thần học giữa chúng ta.
Trong niềm vui của Lễ Thánh Anrê, Vị Thánh Bảo Hộ Giáo Hội Constantinople, tôi xin lập lại cùng Thượng Phụ tình yêu thương huynh đệ của tôi và gửi tới huynh những lời chào thăm nồng hậu của tôi với chiếc hôn hòa bình.
Tại Vatican ngày 26/11/2005
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 30/11/2005
Đức Hồng Y Cassidy về Việc Đối Thoại Đại Kết và Liên Tôn
Một trong những việc mừng kỷ niệm 40 năm Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” được Công Đồng Chung Vaticanô II ban hành đó là việc ra mắt tác phẩm của vị chủ tịch hồi hưu Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, đó là cuốn “Tái N hận Thức Công Đồng Chung Vaticanô II: Vấn Đề Đại Kết và Đối Thoại Liên Tôn”, một cuốn sách đã được viết bởi ĐHY Edward Cassidy, và được Đại Hội Đường ở Sydney mới đây cho ra mắt.
Vị hồng y 81 tuổi này, trong một cuộc phỏng vấn, đã nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit về cuốn sách của mình như thế này: “Nó là câu truyện, ở phần đầu, về 40 năm việc chúng ta đối thoại với các giáo hội Kitô giáo hay là vấn đề đại kết. Phần thứ hai cũng nói tới việc đối thoại với các tôn giáo lớn khác trên thế giới”.
Vấn: Tác phẩm của ĐHY đã tường trình ra sao về những bước tích cực đã được thực hiện từ khi ban hành tuyên ngôn “Nostra Aetate”?
Đáp: Tôi nghĩ trong mỗi một trường hợp, chúng ta đã đạt được tiến bộ rất đáng kể liên quan tới giai đoạn chúng ta đang bàn tới chỉ trong vòng có 40 năm.
Nếu chỉ cần bắt đầu với cuộc đối thoại giữa Công Giáo và Do Thái thì tôi nghĩ rằng ở đây tôi cảm thấy hết sức phấn khởi bởi những gì từng xẩy ra trong mấy năm gần đây, tức là biến cố lần đầu tiên chúng tôi đã có thể, với tư cách là hai cộng đồng đức tin, Công Giáo và Do Thái, nói với nhau về các vấn đề đức tin.
Qua một thời gian trong quá khứ, chúng tôi đã phải đương đầu với những vấn đề cụ thể, những vấn đề được truyền lại từ các thời trước đó, và là những gì bất khả cho tới rất gần đây chúng tôi mới có thể ngồi lại trong một cuộc đối thoại thực sự như là những người Công giáo và những người Do Thái giáo để nói về một số các vấn đề được chúng tôi sử dụng cùng một ngôn ngữ và từ ngữ.
Vấn: Đức
Hồng Y nói như thế nghĩa là gì?
Đáp: Chúng ta có rất nhiều điều chung, xuất phát từ các Sách Thánh của chúng ta, ở những từ ngữ như “thống hối”, “hòa giải” hay “công chính”; và những gì chúng ta có ý nói về các giao ước là những gì không bao giờ được loại bỏ – làm sao chúng liên hệ với nhau.
Tất cả những điều này giờ đây đã xẩy ra nơi các cuộc đối thoại của chúng tôi, và có rất nhiều hào hứng, trong khi đó, trước kia nó đã là một vấn đề chúng tội thậm chí không thể nào chạm tới được.
Bởi vậy noóđã làm cho tôi cảm thấy rất phấn khởi vì tôi nghĩ rằng, ngoài việc chỉ giải quyết các vấn đề quá khứ, nếu chúng ta có thể xây dựng thứ liên hệ ấy, bấy giờ chúng ta có thể mạnh mẽ tin tưởng mong đợi là sẽ không còn một biến cố Diệt Chủng Do Thái khác.
Trong thời của tôi phục vụ Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo, tôi cảm thấy phấn khởi bởi sự kiện là việc đối thoại của chúng ta với các giáo hội Chính Thống được phục hồi sau khi bị đình chỉ từ năm 1993…. Giờ đây cuộc đối thoại này đã tái diễn như chúng ta đã thực hiện trước khi xẩy ra mọi sự như thế vào năm 1990 – thật là hay!
Tôi cảm thấy rất phấn khởi bởi điều này là vì … tôi tin rằng không có những lý do lớn lao to tát nào bất khả thắng vượt trong việc khắc phục những vấn đề của chúng ta với Chính Thống.
Chúng ta tiếp tục với cả các giáo hội Kitô giáo khác nữa. Nguyên sự kiện chúng ta đang cùng nhau giải quyết một số vấn đề đã là những gì phấn khởi rồi.
Vấn: Thế
nhưng, cả Đức Hồng Y và vị thừa nhiệm của Đức Hồng Y là Đức Hồng Y Walter
Kasper, đều công nhận là tất cả những việc làm này “mới chỉ mở màn cho việc khởi
đầu”. Đâu là một số những suy thoái chính được Đức Hồng Y chia sẻ trong cuốn
sách mới của Đức Hồng Y?
Đáp: Ồ mỗi việc hơi khác nhau một chút. Trong vấn đề đại kết có những thoái lui, chẳng hạn, nơi mối liên hệ với Hiệp Thông Anh Giáo, một mối liên hệ đầy hứa hẹn khi mở màn cuộc đối thoại của chúng tôi. Mặc dù tiếp tục đạt được tiến bộ một cách nào đó, nó cũng gặp những trở ngại trầm trọng đối với những khác biệt về những vấn đề luân lý quan trọng, đối với những giá trị và những đạo lý, đối với việc truyền chức linh mục cho nữ giới là vấn đề chúng tôi thường khác nhau…. Đó là những gì rất bất lợi.
Trong cuộc đối thoại của chúng ta với Chính Thống Giáo, chúng ta gặp phải một vấn đề làm trì hoãn việc đối thoại của chúng ta, trong những năm gần đây, về “việc tái sinh” … của những Giáo Hội Đông Phương đang hiệp thông với Rôma nhưng chưa hiệp thông với Giáo Hội Mẹ của họ, ở chỗ liên quan đến luật lệ ở Nga và Rômania cũng như ở các nước cộng sản. Bởi thế những thứ khó khăn này đã diễn ra trong phần sau của vấn đề chúng ta đối thoại.
Với Hồi Giáo, tôi nghĩ rằng các thứ khó khăn xẩy ra từ một số những hành động bất hạnh, không phải vì tôn giáo mà vì cái ấn tượng về tình trạng có quá nhiều người nghĩ Hồi giáo là một tôn giáo ủng hộ khủng bố và nâng đỡ những tay thi hành các hành động khủng bố. Điều này hoàn toàn không công bằng tí nào, mà chỉ gây thêm vấn đề rắc rối nơi mối liên hệ của họ nơi các cộng đồng của chúng ta.
Với dân Do Thái,
chúng tôi những điều bất đồng dài dài, như với nữ tu viện ở Auschwitz hay với
những vấn đề chung quanh vụ Đức Piô XII trong thời Thế Chiến Thứ II, vấn đề đã
làm trì trễ việc làm của chúng tôi. Thế nhưng,…. Chúng ta cần phải hiểu rằng nơi
tất cả mọi cuộc đối thoại này, chúng ta cũng có nhiều hoạt động để làm trong
việc mang lại hoa trái của việc đối thoại vào đời sống của hai cộng đồng chúng
ta.
Vấn: Trong
khi kiểm điểm duyệt xét quá khứ và hiện tại, tác phẩm của Đức Hồng Y cũng tiến
tới tương lai nữa. Đức Hồng Y nghĩ sao chúng ta có thể hướng tới phía trước hay
chăng?
Đáp: Tôi nghĩ chúng ta cần phải làm sáng tỏ vấn đề phân biệt giữa việc đại kết và việc đối thoại liên quan tới các giáo hội khác, và liên quan tới nhân dân Do Thái hay các đại tôn giáo khác, vì mục đích của chúng ta khác nhau nơi mỗi một trường hợp.
Với các giáo hội Kitô giáo khác, mục đích của chúng ta là tiến đến chỗ hoàn toàn hiệp thông bao nhiêu có thể. Mục đích này đã được thể hiện một lần nữa nơi sứ điệp của Thượng Ngị Giám Mục vừa rồi nói tới, một sứ điệp được các vị giám mục tỏ ra tiếc xót nhấn mạnh đến sự kiện là chúng ta vẫn chưa có thể chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể với các hệ giáo phái khác, dĩ nhiên không kể Chính Thống Giáo, thế nhưng thậm chí có như vậy chăng nữa chúng ta vẫn chưa thể làm như thế cách trọn vẹn.
Loại liên hệ khiến chúng ta có thể chấp nhận nhau trong mối hiệp thông trọn vẹn vẫn còn xa vời, thế nhưng đó là nơi chúng ta đang tiến tới, và tôi tin rằng chúng ta sẽ tiến tới đích điểm ấy ít là với các giáo hội Chính Thống cũng như với các Giáo Hội Đông Phương cổ.
Điều quan trọng trong vấn đề đại kết đối với tôi đó là, cho dù quí vị biết rằng đích điểm này là những gì khó khăn và xa vời, chúng ta vẫn có thể hoan hưởng nơi sự kiện là chúng ta đã tiến tới từ chỗ chúng ta đã ở trước kia, chẳng hạn như chúng ta đã thù hận lẫn nhau hay lạnh lùng với nhau – tức đến chỗ được Đức Gioan Phaolô II nói là tuyệt vời đến nỗi chúng ta “đã tái nhận thức được sự kiện là chúng ta không còn là kẻ thù, chúng ta không còn là những kẻ xa lạ, mà là anh chị em của nhau trong Chúa Giêsu Kitô”. Tôi tin đó là một thành đạt quan trọng đối với tất cả mọi giáo hội.
Còn đối với việc chúng ta đối thoại với các niềm tin khác – mục đích của chúng ta dĩ nhiên không phải là tiến tới bất cứ một loại hiệp thông hay hiệp nhất nào, mà là việc chúng ta liên lỉ cần phải cải tiến những mối liên hệ và cùng nhau hoạt động chẳng những với nhân dân Do Thái, còn với nhân dân theo Hồi giáo và các đại tôn giáo trên thế giới, để mang các thứ giá trị của thiêng liêng của chúng ta cho thế giới là nơi đang bị chi phối rất nhiều hiện nay bởi chủ nghĩa trần thế cùng với các gía trị phi đạo nghĩa.
Tôi nghĩ rằng đây là điều khả dĩ. Thật là vô lý trên thế giới này khi chúng ta lại không thể trở nên gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trong việc hỗ trợ những lý tưởng cao cả bằng việc đối thoại với nhau.
Vấn: Thưa
Đức Hồng Y, hình như ngài đặc biệt nhấn mạnh đến việc tìm kiếm cái nền tảng
chung. Phải chăng cái nền tảng này là căn bản về phương pháp học cho cả việc đối
thoại đại kết và liên tín?
Đáp: Đúng thế, trong khi cả việc đối thoại đại kết và liên tín không có cùng một đích điểm tối hậu thì phương tiện lại rất giống nhau.
Đó là lý do tại sao tôi có thể nói rằng việc tung ra cuốn sách của tôi là điều có vẻ xa lạ ở chỗ chúng ta bàn đến cả vấn đề đại kết lẫn đối thoại liên tôn chỉ trong một cuốn sách duy nhất, thế nhưng phần lớn lại giống hệt nhau về phương pháp học.
Đó là việc thắng vượt những sự hiểu lầm, những thành kiến, và có những lúc, những vết thương rất trầm trọng xuất phát từ lịch sử của chúng ta; thế rồi từ đó tiến dần tới chỗ hiểu biết nhau hơn và cảm nhận các tặng ân của nhau hơn.
Mục đích chung của vấn đề cùng nhau hoạt động bằng mối thân hữu cao cả, vai kề vai, đó là vấn đề phục vụ công ích.
Vấn: Ngài
đã làm việc thân cận như thế với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị đã được phần
đông công nhận là đẩy mạnh việc đối thoại liên tôn. Vào lúc mở màn cho giáo
triều này của Giáo Hoàng Biển Đức XVI chúng ta chúng ta đang mong chờ những diễn
tiến ra sao từ ngài về phương diện này.
Đáp: Tôi nghĩ rằng điều đầu tiên vẫn từng là những gì hiển nhiên về khía cạnh này đó là thái độ của Đức Thánh Cha đương kim đối với cac áôn giáo khác ngay từ khi vừa bắt đầu giáo triều của ngài và đường lối ngài tiếp đón họ khi họ đến Rôma tham dự lễ đăng quang của ngài, cũng như nơi việc ngài gắn bó với các vị lãnh đạo thuộc các giáo hội khác như xẩy ra ở Đức quốc vừa rồi.
Tôi nghĩ rằng ngài đã minh nhiên cho thấy ý hướng của ngài trong việc thi hành công cuộc được Đức Gioan Phaolô II thực hiện – một công cuộc vĩ đại nơi mối hiệp nhất Kitô giáo cùng với những liên hệ giữa Công Giáo và Do Thái, thế nhưng ngài cũng cởi mở với các đại tôn giáo trên thế giới như ngài đã tỏ ra cho thấy ở những “Ngày Assisi” của ngài và việc ngài viếng thăm đền thờ Hồi giáo ở Đamascô.
Tôi hy vọng rằng Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ đóng góp đáng kẻ vào hoạt động được hội đồng tòa thánh chúng tôi sẽ thực hiện trong việc làm cho những cuộc đối thoại này đạt được nhuưng thành quả mới vào những năm tới đây.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/11/2005
Vấn Đề Đại Kết với Vị Lãnh Đạo Liên Hiệp Lutherô Thế Giới sau Buổi Triều Kiến ĐTC Biển Đức XVI
Sau cuộc triều kiến với ĐTC Biển Đức XVI hôm Thứ Hai 7/11/2005, Giám Mục Mark Hanson, chủ tịch Liên Hiệp Lutherô Thế Giới đã nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit về những điểm liên kết những người Luthêrô và Công giáo, cùng với những vấn đề vẫn đang tiếp tục phân rẽ đôi bên.
Vấn: Trong lời ngỏ cùng ngài, Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi “việc nhẫn nại đối thoại” trên con đường đại kết. Ngài có nghĩ rằng có những lúc cuộc đối thoại này “vội vã” hay chăng?
Đáp: Tôi nghĩ rằng thường giáo dân tỏ ra hấp tấp hơn thành phần thần học gia. Tôi nghĩ các thần học gia nhận thấy chúng tôi đã đạt được nhiều tiến bộ, và tính cách nghiêm trọng của các vấn đề vẫn còn đó trước mắt chúng ta.
Thế nhưng, tôi nghĩ trong thế giới ngày nay có những gì được ĐHY Kasper thường gọi là cuộc đại kết cuộc sống, một thứ linh đạo đại kết, nơi giáo dân cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau đọc Thánh Kinh, cùng nhau tham gia hoạt động chung trên thế giới, và ở Hiệp Chủng Quốc, chúng tôi thường thấy những người Lutherô và Công Giáo lập gia đình với nhau, và tôi tin rằng họ mong được cùng nhau chia sẻ Thánh Thể, như tôi cũng mong như thế.
Tôi nghĩ rắng tất cả chúng ta đều quyết tâm như vậy: Cho đến khi chúng ta được hoàn toàn nên một trong Thánh Thể, chúng ta sẽ không bao giờ là một như Chúa Kitô đã làm cho chúng ta là một.
Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều nhìn nhận rằng có những vấn đề nghiêm trọng về thần học vẫn còn đó. Không như người Công Giáo, người Luthêrô chúng tôi thường tham phần vào Thánh Thể trước khi chúng tôi giải quyết tất cả những bất đồng về thần học, vì chúng tôi tin rằng việc tham phần vào Thánh Thể là việc gíup chúng ta trở thành một chứ không phải chỉ là phần thưởng vào lúc kết thúc những cuộc bàn luận… Ở Hiệp Chủng Quốc, hiện nay chúng tôi tham phần vào việc chia sẻ thánh thể với Giáo Hội United Methodist: Tất cả chúng tôi cùng nhau chia sẻ Việc Hiệp Lễ cho dù chúng tôi chưa hoàn toàn hiệp thông với nhau.
Thế nhưng, đây không phải là trường hợp đối với người Công Giáo và tôi có thể hiểu được lý do tại sao. Tôi tin là, trong sứ điệp gửi cho tôi cũng như khi ngài còn ở Đức quốc, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nói rằng chúng ta không được để cho các vấn đề về cơ cấu tổ chức gây chia rẽ chúng ta trở thành quá quan trọng đến nỗi khiến chúng ta lạc mất Lời Chúa là những gì làm tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa nơi cả Giáo Hội lẫn thế giới. Tôi nghĩ rằng đó là lời lẽ rất hữu ích, nhờ đó chúng ta sẽ chú trọng tới tính cách tối thượng của Lời Chúa, cả nơi Giáo Hội lẫn trên thế giới.
Sáu năm trước đây Liên Hiệp Luthêrô và Giáo Hội Công Giáo Rôma đã ký kết chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa. Đó là một mốc điểm chính và chúng tôi muốn bảo đảm rằng việc đồng ý này tiếp tục sống động nơi các giáo hội của chúng tôi, rồi chúng tôi cũng nói về điều này với Đức Giáo Hoàng nữa.
Vấn:
Việc đối thoại đại kết đối với ngài có dễ dàng trong cuộc sống hằng ngày
của ngài hay chăng?
Đáp: Đối với tôi, đóng vai là một giám mục chủ tịch của một giáo hội lớn, thì cũng dễ dàng. Tôi lãnh đạo Giáo Hội Tin Lành Luthêrô ở Hoa Kỳ, một giáo hội Luthêrô lớn nhất ở Mỹ Châu.
Chúng tôi hết sức dấn thân cho những mối liên hệ đại kết của chúng tôi, chúng tôi có những đồng bạn hiệp thông trung thành, chúng tôi nhất tâm và liên lỉ kiên quyết thực hiện các việc dấn thân đại kết của chúng tôi, bởi thế nó là vấn đề rất quan trọng đối với tôi.
Tôi nghĩ rằng có việc đại kết về mối liên hệ giáo hội, như liên hệ giữa các giáo hội với nhau. Có nghĩa là chúng ta cần phải giải quyết các vấn đề về thần học, và luôn tìm cách đào sâu mối hiệp nhất của chúng ta nhưng không bao giờ bằng việc loại trừ những khác biệt của chúng ta.
Như ĐHY Kasper nói, tôi cũng nghĩ rằng có vấn đề đại kết về cuộc sống được giáo dân tham gia – tức là vấn đề đại kết tận gốc – và tôi tin rằng cũng có những gì tôi xin gọi là đại kết truyền giáo, tức là, việc Kitô hữu cùng nhau hoạt động trên thế giới.
Chẳng hạn, sau trận bão lụt Katrina tôi đã đến và chứng kiến thấy tình trạng tàn phá ở đó. Một Kitô hữu ở đó nói với tôi rằng: “Giông tố của trận bão lụt này chẳng những phá hủy nhà của của chúng tôi và cho thế giới thấy rằng ở Hoa Kỳ cũng nghèo khổ nữa, mà còn thổi tung đi những khác biệt của Kitô hữu chúng ta, nhờ đó, để đáp ứng trận bão lụt này, chúng tôi đã trở nên một, Công giáo, Anh giáo, Luthêrô, Presbyterian … vì chúng tôi cần trở nên một để tái thiết đời sống và cộng đồng của chúng tôi”.
Tôi nghĩ có rất nhiều vấn đề trên thế giới là nơi chúng ta cần phải trở nên một, chẳng hạn như việc đáp ứng tình trạng nghèo khổ trước cảnh giầu sang phú quí; việc bênh vực nhân quyền; và việc chăm sóc cho thiên nhiên.
Những gì tôi thấy được trên khắp thế giới khi tôi đi đây đi đó thì chẳng những Kitô hữu qui tụ lại với nhau, mà cả người Do Thái lẫn Hồi giáo cũng hợp lại với nhau về 3 vấn đề, đó là chấm dứt tình trạng đói khổ, giảm bớt tình trạng nghèo khổ và chăm sóc cho thiên nhiên.
Đó là những vấn đề đồng qui đối với thành phần có tín ngưỡng trong thế giới ngày nay.
Vào Tháng Sáu, chúng ta có 43 nhà lãnh đạo tôn giáo tới Washington DC. Chúng tôi đã cùng nhau liên kết thực hiện cuộc dấn thân chung trong việc chấm dứt tình trạng đói khổ trên thế giới. Tôi nghĩ đó là một dấu hiệu mãnh liệt cho thấy rằng chúng ta không phủ nhận những khác biệt của chúng ta, song qui tụ lại với nhau vì lợi ích của nhân loại và thiên nhiên.
Vấn:
Ngài có nghĩ rằng các giáo hội truyền thống Thệ Phản ít sinh động hơn các
cộng đồng mới đang phát triển ở các Tiểu Bang cũng như ở Mỹ Châu Latinh và
những nơi khác hay chăng?
Đáp: Chắc chắn là có hiện tượng này. Bên cạnh giáo hội Kitô giáo ở Hiệp Chủng Quốc còn có các giáo hội phi hệ phái. Hiện có những giáo hội cộng đồng đang phát triển rất nhanh.
Họ có một kiểu phụng vụ không hướng tới các bí tích nhưng chú trọng nhiều hơn tới việc hát xướng những bài tụng ca và việc giảng giải. Mặc dù không chính thức lắm nhưng các thứ giáo hội phi hệ phái này lại đặc biệt thu hút những gia đình sống ở các vùng ngoại ô có những đứa con sống sôi động và thường không thích sống theo những truyền thống đạo giáo nghiêm cẩn.
Là những người Luthêrô, chúng tôi đối chọi với vấn đề làm sao để trung thành với truyền thống sinh hoạt phụng vụ của mình, trong khi vẫn công nhận là chúng tôi đang sống trong một thời điểm và nơi chốn rất ư là khác biệt.
Tôi nghĩ rằng điều này thường đúng với những người Luthêrô trên thế giới. Mới đây, khi tôi ở miền tây Phi Châu, cũng như ở Chí Lợi và Ba Tây, những người Luthêrô nói rằng nhiều người trong họ đã bỏ giáo hội của chúng tôi để trở thành những người theo hệ phái Pentecost, thành những người đặc sủng, một phần là vì cách thức thờ phượng của chúng tôi. Bởi thế, tôi nghĩ chúng tôi phải tự hỏi mình xem chúng tôi làm sao để có thể thích ứng với môi trường hiện đại mà vẫn không bỏ mất những gì là căn tính của mình.
Tôi nghĩ có hai vấn đề gây rắc rối cho cả những người Công giáo và Luthêrô trên thế giới: một mặt đó là vấn đề tục hóa, một vấn đề hiển nhiên hơn ở Âu Châu; và mặt khác đó là vấn đề bảo thủ. Chúng ta cần phải nói về cách thức làm sao chúng ta đáp ứng được cả hai vấn đề này.
Chủ nghĩa tục hóa cố gắng cho bằng được việc làm tôi tin rằng tôi là trung tâm của thế giới và những quan tâm chủ yếu của tôi đó là tìm mình và thụ hưởng như thể không còn sự sống nào khác ngoài tôi.
Ngược lại, chủ
nghĩa bảo thủ lại cố gắng cống hiến một giải đáp khác, đó là một cuộc sống rất
ngặt nghèo chú trọng tới đời sau. Tôi nghĩ rằng cả người Luthêrô và Công giáo
đều có thể cống hiến một giải đáp khác.
Vấn:
Đâu là lý do chính cho tình trạng tiếp tục phân rẽ giữa người Luthêrô và
Công giáo?
Đáp: Tôi nghĩ đó là cách chúng ta hiểu về giáo hội và thừa tác vụ, vì cho tới khi chúng ta giải quyết xong những vấn đề thần học liên quan tới việc hiểu biết về giáo hội và thừa tác vụ, chúng ta sẽ không cùng nhau tham phần vào Thánh Thể, và đó không phải là những vấn đề dễ dàng.
Chúng ta đã thực hiện được một tiến bộ lớn về vấn đề công chính hóa, một tiến bộ tôi nghĩ là đã làm cho chúng ta phấn khởi. Tôi nghĩ rằng có một số người Luthêrô đặc biệt nghĩ rằng một khi chúng ta ký kết chấp nhận Bản Tuyên Ngôn về Tín Lý Công Chính Hóa là chúng ta mau chóng được chia sẻ thánh thể. Giờ đây chúng ta biết rằng điều này không xẩy ra. Mặc dù chúng ta ở một mức độ nào đó đồng ý về vấn đề không còn phân rẽ chúng ta nữa, nhưng chúng ta chưa đồng ý trọn vẹn.
Tôi hy vọng chúng ta có thể mang quan niệm ấy ra để bàn luận về Thánh Thể, vì, như tôi đã đề cập với Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, cả người Luthêrô lẫn Công giáo nói về Thánh Thể khác nhau. Cả hai chúng ta đều tin rằng Chúa Kitô hiện diện nơi bánh và rượu cũng như trên khắp thế giới, và đó là một sự đồng ý rất quan trọng. Giờ đây chúng ta cần phải nói thêm về cái gì và ai làm cho Chúa Kitô hiện diện nơi Thánh Thể, và đó là điểm chúng ta tỏ ra khác nhau.
Tôi nghĩ Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đúng khi tiếp tục kêu gọi chúng ta hướng về Lời Chúa cũng như về thế giới và việc làm chứng nhân.
Chúng ta cần phải giải quyết những vấn đề về nghèo khổ và nhân quyền. Khi tôi ở đây 2 năm trước và gặp Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đó là hai ngày sau khi chiến tranh ở Iraq bùng nổ, và cả hai chúng tôi liên kết nói rất thắng thắn chống lại cuộc chiến này. Là những người lãnh đạo tôn giáo, chúng ta cần phải tiếp tục lên tiếng phản đối chiến tranh và bạo lực.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 9/11/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp về Việc Tiến Bộ nơi Mối Liên Hệ Với Chính Thống Giáo Hy Lạp
Sau đây là nguyên văn sứ điệp của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gửi cho ĐHY Jean-Louis Tauran, Trưởng Văn Khố và Thủ Thư Viện của Hội Thánh Công Giáo Rôma, nhân dịp phổ biến văn bản “Menologion of Basil II”. Thư Viện Vatican đã hợp tác với Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp để thực hiện dự án này.
ĐHY Jean-Louis Tauran,
Trưởng Văn Khố và Thủ Thư Viện của Hội Thánh Công Giáo Rôma
Tôi vui mừng được tin về việc hợp tác được thiết lập giữa Thư Viện Tòa Thánh Vatican với Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp về dịp phổ biến văn bản “Menologion of Basil II”, một bản thảo được lưu giữ ở Thư Viện Tòa Thánh Vatican, và tôi xin ngỏ lời cám ơn về việc phát triển tốt đẹp qua các giai đoạn khác nhau của dự án này.
Vì huynh sẽ đi tham dự cuộc họp ở Nhã Điển vào dịp chính thức trình bày lần đầu tiên bản sao chép văn bản này, tôi xin huynh cho tôi gửi đến Thượng Phụ Christodoulos, TGM Nhã Điển cùng Tất Cả Nhân Dân Hy Lạp, lòng cảm mến thân ái và huynh đệ của tôi, và việc tôi hết sức hài lòng về điều đạt thành quan trọng này, hoa trái của những mối liên hệ mới đã từng được đan kết sau chuyến viếng thăm Nhã Điển không thể quên được của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, nhân dịp chuyến hành hương năm Thánh của ngài theo vết chân của Thánh Phaolô. Nó làm cho tôi cảm thấy hết sức vui mừng khi thấy rằng việc chủ động hợp tác hơn bao giờ hết đang được phát triển giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp.
Vì lý do này tôi xin huynh hãy chuyển đến Đức Thượng Phụ Christodoulos là tôi lấy làm vui mừng được tiếp đón ngài ở Rôma để cùng nhau cho thấy một giai đoạn mới đạt được trên con đường hòa giải và hợp tác. Điều này chứng thực cho lòng tôi thành thật muốn phát tiển mối liên hệ mạnh mẽ hơn bao giờ hết niềm tin tưởng và tình huynh đệ giữa chúng ta trong việc cùng nhau hoạt động trong nhiều khó khăn thử thách của việc truyền bá phúc âm hóa: Đặc biệt là chúng ta có thể mạnh mẽ hơn để giúp cho các quốc gia Âu Châu tái xác nhận căn gốc Kitô giáo của họ để một lần nữa họ tìm được nhựa sống dưỡng nuôi và làm phong phú chính tương lai họ cho thiện ích của con người và toàn thể xã hội. Nó sẽ là một đường lối cùng nhau loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô cho thế giới hiện đại là thế giới rất cần đến nó. Nhờ thế, chúng ta mới đáp ứng hơn bao giờ hết niềm thiết tha ước mong của chính Chúa Kitô là :Để họ được nên một” (x Jn 17:21), cho đến ngày, thời điểm Thiên Chúa muốn và theo hướng dẫn của Thánh Linh, chúng ta có thể cử hành mối hiệp thông được trọn vẹn phục hồi.
Tôi đồng thời cũng xin huynh thay tôi thân ái chào các phần tử của Thánh Nghị Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, cũng như chư huynh giám mục Giáo Hội Công Giáo, Tổng Thống Cộng Hòa Hy Lạp, cùng các vị thẩm quyền khác tụ họp lại trong dịp này.
Với cảm thức tin tưởng và hy vọng này, tôi chúc huynh được hoàn toàn thành đạt sứ vụ của huynh. Nguyện cầu Mẹ Thiên Chúa chuyển cầu trên huynh, Hồng Y đáng kính, tôi ban phép lành tòa thánh đặc biệt và ưu ái.
Vatican ngày 27/10/2005
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 17/11/2005
ĐTC
Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Hội Nghị của
Thương Phụ Chính Thống về Hòa Bình và Khoan Dung
Sau đây là sứ điệp của ĐTC Biển Đức XVI gửi cho hội
nghị quốc tế về Hòa Bình và Khoan Dung được tổ chức bởi Đức Thượng Phụ Chính
Thống Bartholomew I giáo chủ Constantinople và Tôn Sư Arthur Schneier, chủ tịch
Hội Tiếng Gọi Của Lương Tâm ở Nữu Ước. Cuộc hội nghị 3 ngày này được diễn ra tại
Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, và được kết thúc vào ngày Thứ Tư 9/11/2005.
Gửi Huynh Khả Kính,
Hồng Y Walter Kasper
Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Động Hiệp Nhất Kitô Giáo
Và Ủy Ban Liên hệ Tôn Giáo Với Do Thái Giáo
Tôi sung sướng được biết tin về Hội Nghị lần hai về Hòa Bình và Khoan Dung, được
tổ chức bởi Tòa Thượng Phụ Toàn Cầu liên hợp với Hội Tiếng Gọi Của Lương Tâm, về
đề tài: “Đối Thoại và Hiểu Biết ở Đông Nam Âu Châu, ở Caucasus và Trung Á Châu”.
Huynh khả kính, tôi ủy thác cho huynh việc chuyển lời chào hỏi thân ái của tôi
tới các vị tham dự cuộc họp ở Istanbul trong những ngày tới đây, cùng với niềm
tri ân của tôi về việc họ mạnh mẽ dấn thân cho vấn đề nuôi dưỡng sự hiểu biết và
hợp tác giữa những tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau. Đặc biệt tôi xin huynh
hãy bày tỏ những lời chúc huynh đệ tốt đẹp đến Đức Thượng Phụ Bartholomew I, TGM
Constantinople, và việc tôi liên kết thiêng liêng chặt chẽ với Tôn Sư Arthur
Schneier trong lúc này.
Đề tài hòa bình và khoan dung là những vấn đề quan trọng trong một thế giới có
những thái độ cứng cỏi thường gây ra hiểu lầm và khổ đau, có thể dẫn đến chỗ bạo
động chết chóc. Việc đối thoại rõ ràng là những gì bất khả châm chước nếu muốn
tìm những giải pháp cho những cuộc xung đột và căng thẳng tai hại gây ra quá
nhiều thiệt hại cho xã hội. Chỉ có thực hiện đường lối đối thoại mới có hy vọng
thế giới sẽ trở thành một nơi hòa bình và huynh đệ mà thôi.
Phận sự của hết mọi người thiện tâm, nhất là của hết mọi tín đồ, đó là giúp vào
việc xây dựng một xã hội an bình và thắng vượt khuynh hướng hung hăng và đụng độ
phù phiếm giữa các nền văn hóa khác nhau và những nhóm sắc dân khác nhau. Mỗi
một dân tộc trên thế giới có trách nhiệm phải góp phần riêng của mình vào nền
hòa bình và hòa hợp, bằng việc mang gia sản thiêng liêng và văn hóa của mình
cùng với các giá trị về đạo lý của mình để phục vụ gia đình nhân loại trên khắp
thế giới. Mục đích này chỉ có thể đạt được nếu ở tâm điểm của vấn đề phát triển
về kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi cộng đồng tỏ ra tôn trọng xứng đáng đối
với sự sống cũng như đối với phẩm vị của hết mọi con người. Một xã hội lành mạnh
là một xã hội luôn cổ võ việc tôn trọng những quyền lợi bất khả vi phạm và bất
khả nhượng của tất cả mọi người. Nếu thiếu “một nền tảng luân lý khách quan, thì
ngay cả nền dân chủ cũng không thể bảo đảm được một nền hòa bình vững chắc” (Thông
Điệp Phúc Âm Sự Sống, khoản 70). Theo chiều hướng này, chủ nghĩa tương đối về
luân lý đang làm hao mòn suy yếu đi các việc làm của nền dân chủ, một nền dân
chủ tự mình vẫn không đủ để bảo đảm để bảo đảm sự khoan dung và tôn trọng nơi
các dân tộc.
Bởi thế, thật là quan trọng trong việc giáo dục về chân lý, và trong việc nuôi
dưỡng việc hòa giải ở bất cứ nơi nào xẩy ra thương tổn. Việc tôn trọng quyền lợi
của kẻ khác, một việc sinh hoa kết trái nơi vấn đề chân thành và thẳng thắn đối
thoại, sẽ cho thấy những bước cụ thể cần phải thực hiện. Hết mọi người thiện tâm
đều có nhiệm vụ hoạt động hướng tới mục đích ấy. Tuy nhiên, lại càng khẩn thiết
hơn nữa đối với những ai nhìn nhận Thiên Chúa Duy Nhất là Cha của tất cả mọi
người, Đấng tự động cống hiến tình thương cho tất cả mọi người, Đấng phán xét
công minh và ban cho tất cả mọi người tình bằng hữu ban sự sống của Ngài. Đối
với Kitô hữu thì lòng quảng đại của Thiên Chúa được trở nên hữu hình nơi dung
nhan của Đấng Thiên Chúa “làm cho nên tội lỗi… để trong Người chúng ta được nên
sự công chính của Thiên Chúa” (2Cor 5:21), Chúa Kitô là hòa bình của chúng ta và
là sự hòa giải đích thực của chúng ta.
Tôi xin gửi Huynh khả kính những tâm tưởng này, tôi xin huynh, nhân dịp hội nghị
này, hãy tái xác nhận việc mạnh mẽ dấn thân không ngừng hoạt động cho việc hợp
tác giữa các dân tộc, văn hóa và tôn giáo, nhờ đó ân sủng dồi dào và phép lành
thiên quốc được đổ xuống trên con cái của Thiên Chúa.
Tại Vatican ngày 4/11/2005
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 8/11/2005
Vị Lãnh Đạo Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới Chào Mừng Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
Hôm Thứ Hai 7/11/2005, ĐTC Biển Đức XVI đã tiếp phái đoàn đại diện Liên Hiệp Lutherô Thế Giới và được vị đại diện ngỏ lời cùng ngài nguyên văn như sau:
Trọng kính Đức Thánh Cha, thay mặt cho Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, một khối hiệp thông các giáo hội với 140 giáo hội viên ở 78 quốc gia, tôi xin chào ngài. Chúng tôi rất hân hạnh nhân dịp này được chào Đức Thánh Cha trong năm đầu tiên của Giáo Triều ngài.
Những hình thức về cơ cấu tổ chức của Khối Hiệp Thông Luthêrô này là những gì mới được xuất phát. Thế nhưng, chính Khối Hiệp Thông này, về thần học, lại được xây dựng trên cơ sở của một đức tin chung, như được thể hiện nơi những lời tuyên xưng của người Luthêrô, những lời tuyên xưng được căn cứ vào Thánh Kinh cùng niềm tin của Giáo Hội Sơ Khai theo công thức của ba Kinh Tin Kính Công Đồng Chung. Giáo huấn của người Luthêrô về vấn đề Cải Cách là những gì hiển nhiên đã được phác họa không phải như là một cái gì “mới mẻ” mà là niềm tin của Giáo Hội ở mọi thời đại.
Cùng với Giáo Hội hoàn vũ, Khối Hiệp Thông Luthêrô tuyên xưng, theo những lời lẽ của Kinh Tin Kính Công Đồng Chung Nicene, Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Mặc dù khoa giáo hội học của người Luthêrô và Công Giáo Rôma có những cái khác nhau, căn gốc của chúng ta nơi truyền thống của các vị tông đồ vẫn là những gì nền tảng cho các giáo hội của chúng ta và cần phải là căn bản cho những liên hệ về giáo hội của chúng ta.
Từ khi được tuyển chọn, ngài đã nhấn mạnh rằng vấn đề tối ưu tiên của ngài là việc phục vụ cho mối hiệp nhất của toàn thể giáo hội Kitô giáo. Chúng tôi muốn bày tỏ niềm chân thành cảm mến của chúng tôi đối với việc quyết tâm được mạnh mẽ bày tỏ của ngài về lãnh vực này. Trong cuộc trao đổi mới đây giữa Đức Thánh Cha và các vị giám mục cũng như các vị chủ tịch thuộc chư giáo hội Thệ Phản ở Đức, ngài đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chúng ta tiếp tục chú trọng một cách rõ ràng tới những gì thực sự là vấn đề đối với tất cả mọi giáo hội, tức là đến vấn đề hiện diện của Lời Chúa trên thế giới.
Như ngài đã nói, việc chúng ta cứu xét về vấn đề cơ cấu tổ chức giáo hội bao giờ cũng cần phải lệ thuộc vào Lời này. Và, như Martin Lutherô đã viết trong luận đề thứ 62 năm 1917 thì “kho tàng đích thực của giáo hội là phúc âm hiển vinh rất thánh và ân sủng của Chúa”. Là những người Luthêrô, chúng tôi thấy vấn đề này như là trách nhiệm chung của chúng ta là chư giáo hội trong việc thực hiện tất cả những gì có thể, để nhờ đó, phúc âm được trao ban theo lịch sử và sống động được thực sự làm tràn đầy sự sống và việc truyền giáo của chư giáo hội chúng ta. Và trong vấn đề này, chúng ta luôn phải nhớ đến cái tính cách liên hợp trọng yếu giữa Lời Chúa, chứng từ cho Lời này, và “regula fidei”, như Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến ở Đức.
Năm nay là năm kỷ niệm 40 năm các văn kiện quan trọng của Công Đồng Chung Vaticanô II, như “Unitatis Redintegratio” và “Dei Verbum”. Việc này nhắc nhở chúng ta về việc Công Đồng Chung Vaticanô II đã thành đạt biết bao, cả về phương diện đại kết nữa. Chúng tôi tri ân nhắc lại, trong số những thứ khác, đó là những liên hệ được thiết lập trong thời gian Công Đồng này đã mở đường cho nhiều cuộc đối thoại quốc tế song phương, như Ủy Ban Hỗn Hợp Nghiên Cứu Luthêrô và Công Giáo vào năm 1967.
Mới đây là giai đoạn thứ bốn của cuộc đối thoại quốc tế của chúng ta, Ủy Ban Luthêrô và Công Giáo Rôma dđ4 hoàn tất 10 năm làm việc và đang sửa soạn bản tường trình về đề tài “Tông Đồ Tính của Giáo Hội”. Mặc dù bản tường trình này chắc chắn sẽ cho thấy những điểm khác biệt giữa truyền thống của chúng ta nơi lãnh vực của đề tài này, hẳn nó cũng sẽ cho thấy cái phong phú của niềm tin tông truyền chung được chúng ta cùng nhau trân quí giữ gìn. Về đề tài “Tông Đồ Tính”, những lời lẽ của Giáo Hoàng Gioan XXIII hoàn toàn đúng với cả người Công Giáo Rôma lẫn người Luthêrô, đó là “những gì liên kết chúng ta còn nhiều hơn là những gì phân rẽ chúng ta” (xem Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông Điệp “Xin Cho Tất Cả Được Hiệp Nhất Nên Một”, khoản 20).
Tôi cũng hân hoan nhân dịp này đề cập tới việc chiếm đạt nơi cuộc đối thoại giữa Công Giáo và Luthêrô ở Hoa Kỳ, một cuộc đối thoại mà năm ngoái đã hoàn tất vòng thứ 10 của mình bằng một bản tường trình về “Giáo Hội như là Cộng Đồng Cứu Độ: Các Cơ Cấu và Thừa Tác Vụ của Giáo Hội này”. Bản tường trình này tìm kiếm một đường lối mới cho mối liên hệ giữa linh mục và giám mục qua việc suy nghĩ về mối liên hệ giữa các cộng đồng được họ phục vụ là giáo xứ và giáo phận hay cơ cấu giáo hội miền.
Chúng tôi biết rằng năm nay là Năm đặc biệt Giáo Hội Công Giáo Rôma giành để kính Thánh Thể. Mặc dù theo lịch sử chúng tôi sử dụng những hình thức ngôn từ khác nhau để diễn tả mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện trong bánh và rượu, những người Luthêrô cùng với những người Công Giáo tin tưởng rằng chính Chúa Kitô hiện diện nơi thánh thể ở bánh và rượu được thánh hiến “một cách thực sự và về bản thể” (“vere et substantialiter”), và người tín hữu đã lãnh nhận phép rửa lãnh nhận trọn vẹn tặng ân cứu độ. Được liên kết với Chúa Kitô sống động, cả nơi nước của phép rửa lẫn nơi bánh rượu của thánh thể, chúng ta biết chúng ta được chính Chúa Kitô thúc bách hướng đến mối hiệp nhất hữu hình của Giáo Hội Người.
Cái mốc điểm quan trọng trong mối liên hệ song phương của chúng ta đó là việc Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ký nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa 6 năm trước đây ở Augsburg, Đức quốc. Chúng tôi biết rằng chính ngài, được hỗ trợ bởi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã chủ động góp phần vào việc đạt thành cái mốc điểm đại kết ấy. Những tiến hành khác nhau về việc tiếp tục Bản Tuyên Ngôn Chung này đã được tiến triển.
Hiện nay, Hội Đồng Methodist Thế Giới dđng sửa soạn chính thức khẳng định việc họ ủng hộ bản tuyên ngôn này bằng một hoạt động chính thức được dự trù xẩy ra vào mùa hè năm tới ở Seoul, Nam Hàn, một hoạt động mà Vị Tổng Thư Ký của chúng tôi là Tiến Sĩ Ishmael Noko dự tính sẽ tham dự cùng với Đức Hồng Y Walter Kasper. Việc diễn tiến này khiến chúng ta cảm thấy hết sức vui mừng và cho tất cả mọi người thấy rằng tín lý thánh kinh về vấn đề công chính hóa không phải chỉ thuộc về những người Công Giáo và Luthêrô thôi, mà còn thuộc về toàn thể giáo hội nữa. Nó là việc thể hiện tặng ân cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô bởi ân sủng nhờ đức tin (Eph 2:8f). Đức tin này, một đức tin được Chúa Kitô hình thành, sinh động nơi đức mến và việc phục vụ lẫn nhau. Bản Tuyên Ngôn Chung là một bức thư sống động, ghi nhận mối hiệp nhất trong cùng một đức tin.
Chắc chắn những người Luthêrô và Công Giáo Rôma, cùng với những người khác, cũng xem xét các vấn đề đạo lý và công lý xã hội theo chiều hướng của tín lý công chính hóa này. Là một biểu hiện của chính phúc âm, sứ điệp công chính hóa cống hiến những quan điểm quan trọng cho việc giáo hội dấn thân cho người nghèo cũng như những người bị khổ đau bởi tình trạng áp chế và lạm dụng về chính trị.
Trong cuộc viếng thăm mới đây ở Mỹ Châu Latinh, viếng thăm các giáo hội Luthêrô ở đó, toô hân hoan chứng kiến thấy việc giáo hội mạnh mẽ dấn thân cho nhân quyền và phục vụ người nghèo. Là chư giáo hội Kitô giáo, chúng ta quyết tâm hợp tác đại kết trong lãnh vực nhân quyền ở tất cả mọi châu lục vào những năm tới đây. Vào lúc này đây của lịch sử, thời điểm gia đình nhân loại đang phải chịu đựng rất nhiều bởi những cuộc chiến tranh về nguồn gốc khác nhau, bởi những thiên tai, bởi những bệnh nạn và nghèo khổ, chớ gì chư giáo hội chúng ta trở thành những nhịp cầu nối của cộng đồng và việc phục vụ là những gì đã và vẫn được Chúa Kitô mong muốn thấy nơi Giáo Hội của Người.
Ngày nay chúng ta đương đầu với những phong trào bảo thủ tôn giáo trong chư giáo hội cũng như trong gia đình nhân loại. Vì đức tin chân thực vào Vị Thiên Chúa Ba Ngôi cấm việc thù hằn nhân danh Thiên Chúa mà các mối hiệp thông Kitô hữu thế giới có một trách nhiệm đặc biệt trong việc cổ võ niềm tương kính và cảm thông bất chấp những ngãng trở nơi các sự khác biệt về tôn giáo. Về quan điểm này, tôi rất cảm phục lời chào thân ái của Đức Thánh Cha trong ngày lễ Đăng Quang Trọng Thể của ngài gửi tới “tất cả những ai được tái sinh trong bí tích Rửa Tội nhưng chưa dđ7ợc hoàn toàn hiệp thông với (Giáo Hội Công Giáo)”, tới “anh chị em nhân dân Do Thái của chúng tôi, những người chúng tôi được liên kết bởi cùng moột đại gia sản thiêng liêng cao cả”, và tới “tất cả mọi con người nam nữ ngày nay, đến các tín đồ cũng như những người vô tín ngưỡng”.
Khi chúng ta tiếp tục tiến bước như là chư giáo hội theo trào lưu đại kết này, chúng ta càng ngày càng ý thức được việc khẩn trương cần phải xét tới mức độ các thứ giáo hội học khác nhau làm sao để có thể được coi như bổ khuyết cho nhau. Trong lúc Giáo Hội Công Giáo Rôma và Chư Giáo Hội Chính Thống tỏ ra sẵn sàng cứu xét đến những gì người Lutherô chúng tôi gọi là một thứ “đồng thuận khác biệt” liên quan tới những hình thức hữu hình của mối hiệp thông giáo hội, chúng tôi hy vọng rằng việc đồng thuận như thế có thể góp phần vào những quan điểm phong phú hơn, toàn diện hơn về mối hiệp nhất trong nội bộ của một phong trào đại kết bao rộng hơn.
Trong năm đầu tiên của Giáo Triều ngài đây, chúng tôi nguyện xin Thánh Linh ở với ngài, cũng như với tất cả chúng ta, khi chúng ta cùng nhau tìm cách biểu hiện mối hiệp nhất của Giáo Hội là những gì Chúa Giêsu thiết tha nguyện cầu. Chớ gì chúng ta không ngừng tìm cách “tiến đến mối hiệp thông trọn vẹn Giáo Hội, một mối hiệp nhất trong đa dạng, vẫn còn những khác biệt, sẽ được ‘hòa giải’ và không bao giờ còn một quyền lực chia rẽ nào nữa”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 7/11/2005
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Diễn Văn Ngỏ Cùng Những Vị Đại Diện Liên Hiệp Lutherô Thế Giới
Hôm Thứ Hai 7/11/2005, ĐTC Biển Đức XVI đã tiếp phái đoàn đại diện Liên Hiệp Lutherô Thế Giới và đã ngỏ lời cùng họ nguyên văn như sau:
Đức Giám Mục Hansen thân mến,
Các Bạn Lutherô thân mến,
Thật là vui mừng được đón tiếp quí bạn đại diện cho Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới nhân dịp quí bạn chính thức viếng thăm Rôma. Tôi tri ân tưởng nhớ tới việc hiện diện của phái đoàn đại biểu của quí bạn trong lễ an táng của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và lễ đăng quang trọng thể mở màn cho thừa tác vụ làm Giám Mục Rôma của riêng tôi.
Qua nhiều năm tháng, Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới đã hoan hưởng những liên hệ chặt chẽ và tham gia vào cuộc đối thoại đại kết. Cuộc trao đổi tư tưởng này đã từng là những gì mang lại hoa trái và đầy hứa hẹn. Thật vậy, một trong những kết quả của cuộc đối thoại tốt đẹp này là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa, một bản tuyên ngôn trở thành một mốc điểm quan trọng cho việc chúng ta cùng tiến bước trên con đường hướng đến mối hiệp nhất hữu hình trọn vẹn. Đó là một thành đạt quan trọng. Để để xây dựng trên cuộc thành đạt này, chúng ta cần phải chấp nhận những khác biệt vẫn còn đó liên quan tới vấn đề chính yếu của tín điều công chính hóa; những khác biệt này cần phải được giải quyết, cùng với những đường lối qua đó ân sủng Chúa được thông đạt nơi và qua Giáo Hội.
Như tôi đã đề cập tới trong cuộc viếng thăm mới đây của tôi ở Cologne, đó là tôi hy vọng rằng vấn đề tiến bộ sau này của việc chúng ta đối thoại về những vấn đề ấy sẽ không những liên quan tới những vấn đề “về cơ cấu”, mà còn chú trọng tới cả nguồn mạch thực sự của tất cả mọi thừa tác vụ trong Giáo Hội nữa. Thật thế, sứ vụ của Giáo Hội là làm chứng cho sự thật về Chúa Giêsu Kitô, Lời hóa thành nhục thể. Lời và chứng từ đi liền với nhau: Lời phát sinh chứng từ và hình thức hóa chứng từ; chứng từ có được tính chất chuyên chính của mình từ việc hoàn toàn trung thành với Lời, như được thể hiện và sống trong cộng đồng đức tin tông truyền theo sự hướng dẫn của Thánh Linh.
Ủy Ban Quốc Tế Luthêrô và Công Giáo Rôma về Hiệp Nhất chẳng bao lâu nữa sẽ xong giai đoạn đối thoại thứ tư và sẽ phổ biến những nhận định của mình trong một bản văn kiện về Tông Truyền Tính của Giáo Hội. Tất cả chúng ta đều ý thức rằng việc đối thoại huynh đệ của chúng ta gặp khó khăn thử thách chẳng những bởi nhu cầu cần phải chứng thực việc nhận lãnh những công thức tín điều chung này nơi những mối hiệp thông tương ứng của chúng ta, mà thậm chí còn hơn thế nữa bởi bầu khí chung của những gì là bất ổn định liên quan tới những chân lý Kitô giáo cùng những nguyên tắc về đạo lý là những gì trước đây không có vấn đề gì cả. Gia sản chung này, ở một số trường hợp, đang bị giảm sút bởi những phương sách giải thích bị đổi thay.
Con đường đại kết cùng nhau của chúng ta sẽ tiếp tục gặp khó khăn và đòi phải nhẫn nại đối thoại. Tuy nhiên, tôi cảm thấy nhiều phấn khởi trước truyền thống vững chắc của việc nghiêm cẩn nghiên cứu và trao đổi là những gì làm nên đặc tính nơi mối liên hệ giữa công Giáo và Luthêrô qua nhiều tháng năm. Chúng ta cảm thấy an ủi trước sự kiện là việc chúng ta tìm kiếm mối hiệp nhất được hướng dẫn bởi sự hiện diện của Chúa Phục Sinh cũng như bởi quyền lực vô tận của Thần Linh người “muốn thổi đâu thì thổi” (Jn 3:8). Trong khi chúng ta đang sửa soạn kỷ niệm 500 năm biến cố năm 1517, chúng ta cần phải gia tăng nỗ lực để hiểu biết sâu xa hơn những gì chúng ta có chung và những gì chia cách chúng ta, cũng như các tặng ân chúng ta cần phải cống hiến cho nhau. Bằng việc kiên trì với đường lối này, chúng ta nguyện cầu là dung nhan của Chúa Kitô được chiếu tỏa rạng ngời hơn nơi thành phần môn đệ của Người để tất cả được nên một cho thế gian tin tưởng (x Jn 17:21).
Chúng ta hãy cảm tạ Chúa về tất cả những gì chúng ta đã đạt được cho tới nay nơi mối liên hệ Công Giáo và Luthêrô, và chúng ta hãy nguyện cầu để chúng ta có thể tiếp tục cùng nhau hướng về mối hiệp nhất được Chúa mong muốn ấy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Đại Kết Kitô Giáo: Hy Vọng Đã Vươn Lên
ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn được phổ biến hôm Thứ Bảy 10/9/2005 trên một tờ nhật báo Ý là La Pubblica, đã cho biết đại quan về lộ trình đại kết Kitô giáo như sau.
“Tất cả mọi vị lãnh đạo của Chư Giáo Hội Kitô Giáo đều rất hân hoan khi vị Giáo Hoàng này tuyên bố rằng vấn đề hiệp nhất là vấn đề ưu tiên.
“Với Tòa Thượng Phụ Chính Thống Hoàn Vũ ở Constantinople, chúng tôi đang tái tấu Ủy Ban Hỗn Hợp Công Giáo và Chính Thống Giáo. Một cuộc gặp gỡ sửa soạn sẽ được thực hiện vào tháng 12, và vào mùa xuân năm 2006 toàn thể ủy ban sẽ gặp nhau”.
Ngoài ra, Đức Thượng Phụ Bartholomew I của tòa thượng phụ này đã lên tiếng mời ĐTC Biển Đức XVI đến viếng thăm Istanbul vào ngày 30/11/2005 là lễ Thánh Anrê tới đây.
Về vấn đề liên hệ với Tòa Thượng Phụ Chính Thống Moscow, vị hồng y chủ tịch này khẳng định là “bầu khí đã được cải tiến”, điều kiện thuận lợi cho việc gặp gỡ giữa ĐTC Biển Đức XVI và Thượng Phụ Alexy II, “nhưng có lẽ không ở tại Moscow mà có thể ở một địa điểm thứ ba”.
“Cho đến nay, Thượng Phụ Alexy II đã nói rằng chúng ta cần phải giải quyết những vấn đề gọi là Công Giáo dụ giáo ở Đông phương và vấn đề Uniatism (vấn đề một số Giáo Hội Chính Thống xưa tái hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo). Theo tôi nghĩ, cuộc gặp gỡ này có thể xẩy ra nếu soạn dọn thích đáng một bản tuyên ngôn chung”.
“Chúng tôi đã nói với Thượng Phụ Alexy rõ ràng rằng vấn đề dụ giáo không phải là vấn để chủ ý, không phải là vấn đề chính trị, không phải là chiến thuật của Giáo Hội Công Giáo. Nếu cả đôi bên có những lỗi lầm xẩy ra ở Siberia thì tốt nhất là nói với các vị giám mục địa phương”.
Đối với Liên Hiệp Luthêrô, vị hồng y này cho biết “các mối liên hệ rất là tốt đẹp. Vào Tháng 10, chúng tôi sẽ phổ biến một bản văn kiện chung về tính cách tông truyền của Giáo Hội và việc thừa kế tông đồ… một văn kiện rất giá trị”.
Ngoài ra, “tín hữu Methodist, vào năm tới, muốn tham phần vào bản văn kiện được chúng tôi ký nhận với tín hữu Luthêrô về vấn đề công chính hóa”, vào ngày 31/10/1999 tại Đức quốc.
Sau đây là nguyên văn sứ điệp của ĐTC Biển Đức XVI gửi cuộc hội luận liên Kitô Hữu về “Thánh Thể theo Truyền Thống Đông và Tây Đặc Biệt Liên Quan đến Vấn Đề Đối Thoại Đại Kết”. Cuộc hội luận này được tổ chức tại Assisi Ý quốc, cho đến hết ngày Thứ Tư 7/9/2005, do Học Viện Tu Đức của Viện Đại Học Tòa Thánh Antonianum Rôma và Phân Bộ Thần Học Đại Học Aristotle Thessalonica Hy Lạp.
Gửi Huynh Khả Kính
Hồng Y Walter Kasper
Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh
về Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo
Tôi vui mừng biết được rằng ở Assisi, nơi vốn là một ốc đảo và là tiếng gọi hòa bình, đang diễn ra cuộc hội luận lần thứ 9, một cuộc hội luận được phát động bởi Học Viện Phanxicô về Tu Đức của Đại Học Viện Tòa Thánh Antonianum cũng như bởi Phân Khoa Thần Học của Đại Học Aristotle Thessalonica, nột thành phố có thành phần Kitô hữu tiên khởi được Thánh Phaolô gửi đến cho 2 bức thư.
Sáng kiến này là một cơ hội thích hợp cho cuộc trao đổi huynh đệ, cũng như để suy tư và học hỏi những chủ đề quan trọng hơn về di sản chung của đức tin, bằng việc phân tích những ý nghĩa thuộc gia sản này đối với đời sống Kitô hữu. Vì trong thời đại của chúng ta đây thật là khẩn trương đối với việc cần phải tìm kiếm sự hiệp nhất trọn vẹn hữu hình nơi tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô, và vì lý do này, cần phải có một linh đạo sâu xa hơn về một tình yêu thương nhau nhiều hơn nữa.
Đề tài được chọn cho năm nay: “Thánh Thể theo Truyền Thống Đông và Tây Đặc Biệt Liên Quan đến Vấn Đề Đối Thoại Đại Kết” là những gì rất quan trọng đối với đời sống của Kitô hữu cũng như đối với việc tái thiết mối trọn vẹn hiệp thông nơi tất cả thành phần môn đệ Chúa Kitô.
Công Đồng Chung Vaticanô II đã nhắc nhở chúng ta một cách thích đáng là “kính mến biết bao việc cử hành phụng vụ của Kitô hữu Đông phương, nhất là việc cử hành Thánh Thể, mạch nguồn của đời sống Giáo Hội và là bảo chứng của vinh quang mai hậu (“Unitatis Regintegratio”, 15), và giải thích rằng bởi việc truyền thống kế thừa các tông đồ, chức linh mục và Thánh Thể “là những gì liên kết chúng ta bằng những liên kết rất chặt chẽ” (ibid).
Việc đối thoại và đối chất trong chân lý và bác ái, những gì sẽ được diễn tiến trong cuộc hội luận này, chắc chắn sẽ làm phát hiện đức tin chung, cũng như những khía cạnh về thần học và phụng vụ đặc thù đối với Đông và Tây, những khía cạnh bổ túc và năng động cho việc xây dựng Dân Chúa và là sự phong phú của Giáo Hội. Tiếc thay, sự thiếu vắng mối hiệp thông trọn vẹn không cho phép chúng ta được đồng cử hành Thánh Thể, đối với chúng ta lại là một dấu hiệu của mối hiệp nhất trọn vẹn mà tất cả chúng ta đều được kêu gọi thực hiện. Dù sao nó cũng là lời kêu gọi gia tăng việc nguyện cầu, học hỏi và đối thoại nhắm mục đích giải quyết các khác biệt vẫn còn tồn tại.
Việc đạt tới mối trọn vẹn hiệp thông của Kitô hữu cần phải là mục tiêu đối với tất cả mọi người tuyên xưng Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, “tín hữu cũng như mục tử, Mối quan tấm này bao gồm tất cả mọi người, tùy theo khả năng của họ, dù thực hiện ở cuộc sống Kitô hữu hằng ngày của họ, hay bằng cuộc nghiên cứu về thần học và lịch sử của họ” ("Unitatis Redintegratio," No. 5). Cuộc hội luận này, một cuộc hội luận theo vết chân của các hoạt động đại kết tương tự và sinh hoa trái khác, làm sáng tỏ việc dấn thân, nghiên cứu và học hỏi chung, hướng đến chỗ làm sáng tỏ những khác biệt và thắng vượt những hiểu lầm. Theo chiều hướng ấy, các học viện giảng dạy về thần học mới đóng một vai trò quan trọng nơi việc đào luyện những tân thế hệ cũng như trong việc cống hiến chứng từ Kitô giáo mới mẻ trong thế giới ngày nay.
Khi khẩn cầu Chúa chúc lành cho tham dự viên để cuộc hội luận này được sinh nhiều hoa trái nơi những đóng góp về tín lý, văn hóa và tu đức, tôi xin gửi đến ước nguyện thân ái của tôi theo lời của Thánh Tông Đồ: “Xin ân sủng của Chúa Giêsu Kitô ở cùng anh em” (1Thes 5:28).
Tại Castel Gandolfo, ngày 1/9/2005
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 5/9/2005
Sau đây là nguyên bản bức thư được phổ biến vào lúc kết thúc cuộc đại hội của hội đồng giám mục Balan đọc tại Quảng Trường Pilsudski thành phố Warsaw ngày 19/6/2005. Biến cố này xẩy ra lúc bế mạc Hội Nghị Thánh Thể Toàn Quốc. Bức thư này được đọc lên một lần nữa hôm 26/6 ở Lviv, nước Ukraine và tại đền thánh Zarvanytsia của Công Giáo Hy Lạp gần Ternopil.
Bình an giữa các dân tộc là điều khả dĩ.
Trong Năm Thánh Thể chúng tôi xin tán thành lời kêu gọi của Thánh Phaolô: “Lời chúng tôi kêu gọi nhân danh Đức Kitô đó là an hem hãy hòa giải với Thiên Chúa!” (2Cor 5:21). Chúng tôi đang tham dự vào một giây phút lịch sử và mục đích của nó là để hiệp nhất các quốc gia lại với nhau bằng việc nguyện cầu và tha thứ. Chúng tôi mong muốn – theo lời khuyên của Thánh Phaolô – tiến đến chỗ hòa giải giữa tín hữu thuộc các Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp và Công Giáo Rôma.
Trong việc hoàn tất tác động thứ tha cho nhau – nhân danh công lý, tình thương và phúc hạnh của hai quốc gia chúng tôi – chúng tôi muốn tiếp tục gia sản của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của Chúng Ta – Vị Giáo Hoàng của hòa bình và hòa giải. Chúng tôi làm điều này với ý thức trách nhiệm về “việc nuôi dưỡng các thế hệ tương lai trong tinh thần hòa giải và xây dựng một tương lai không bị hạn chế bởi lịch sử” (John Paul's II Message on the 60th anniversary of the tragic events in Wolyn; Vatican, 7 July 2003).
Khi ngỏ lời cùng nhân dân Ukrainian và Balan, ngài đã viết rằng: “Vì Thiên Chúa đã thứ tha cho chúng ta trong Chúa Kitô các tín hữu cũng cần phải tha thứ những đớn đau của nhau và xin thứ tha về những việc làm sai trái riêng của chúng ta, nhờ đó tham dự vào việc xây dựng một thế giới tôn trọng sự sống, công lý, an bình và hòa hợp” (cùng nguồn vừa được trích dẫn).
Hôm nay chúng tôi gửi lời chào huynh đệ đến tín hữu ở Ukraine và Balan cũng như chư huynh thuộc lễ nghi Đông Phương của chúng tôi cùng tất cả mọi người thành tâm thiện chí. Lịch sử của chúng ta đầu những khó khăn và đôi khi có những biến cố thê thảm. Chúng ta đã bị phân chia bởi các cuộc xung đột về quân sự, chính trị và tôn giáo, cho dù chúng ta có cùng một gia sản và cùng một đức tin và là một cộng đồng phép rửa là những gì bất chấp căn tính quốc gia chúng ta vẫn đã được bắt nguồn sâu xa từ cái chết và cuộc thăng thiên vinh hiển của Chúa chúng ta.
1. Vì trên 1 ngàn năm trước đây, hai quốc gia của chúng ta đã mở cửa cho Chúa Kitô cũng như cho Phúc Âm của Người, và ngay từ ban đầu, Kitô giáo là tâm điểm của văn hóa và của căn tính quốc gia chúng ta. Đức tin vào Chúa Kitô Phục Sinh đã giúp chúng ta chịu đựng những lúc khốn khó của chiến tranh và làm tôi mọi. Đức tin này cũng mang đến niềm hy vọng là hai quốc gia chúng ta sẽ hồi sinh trong tự do.
Kitô giáo đến Balan từ Âu Châu Latinh, trong khi đó trên mảnh đất Ukraine nó lại xuất phát từ truyền thống Byzantine. Đó là cái khác biệt mà đôi khi trở thành ngãng trở cho mối liên hệ hỗ tương của chúng ta, nhất là ở vào những lúc các nỗ lực chung trong việc tái lập liên hệ bị coi thường. Những điều khác biệt giữa chúng ta cũng thường trở thành thái quá theo nhân tạo bởi thành phần láng giềng hận thù của chúng ta muốn gieo rắc sự xung khắc giữa chúng ta, hay chúng gây ra bởi những xung khắc nội bộ về chính trị. Tuy nhiên, có những lần trong lịch sử của mình, khi chúng ta trải qua cùng một số phận, tiến bước theo trên cùng một con đường, chĩu đựng nhiều thử thách với nhau, chúng ta đã cùng nhau lợi dụng gia sản thiêng liêng chung của chúng ta và lấy được niềm hy vọng và sức mạnh để sống còn từ cộng đồng Kitô hữu của chúng ta.
Thế kỷ 20 đã mang lại cho thế giới những cảm nghiệm thê lương của nhiều cuộc chiến tranh, của cái khiếp đảm về chính trị và của việc những chế độ độc tài hủy hoại các Giáo Hội. Nó cũng nổi bật với cả những biến cố hân hoan nữa, đó là việc sụp đổ của các thể chế độc tài (Nazi và Cộng Sản), là Công Đồng Chung Vaticanô II, là việc phục hồi quyền tự do tôn giáo, là việc phục hưng các nhà thờ Công Giáo Hy Lạp ở Ukraine và cuộc thống nhất Âu Châu.
Giờ đây đứng ở ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba sau khi Chúa Kitô giáng sinh, chúng ta nhận thấy rằng, để xây dựng mối hiệp nhất giữa các quốc gia và phát triển những mối liên hệ hỗ tương trong tinh thần tin tưởng, chúng ta cần phải vượt lên trên cái di sản lịch sử, thứ tha cho nhau cái quá khứ đau thương và hiểu lầm, lau chùi viên đá cho sạch và xây dựng một nền văn minh yêu thương.
2. Lịch sử đã kéo dài trong việc chúng ta đã nổ lực tiến đến chỗ đạt tới sự thỏa ước chung giữa các vị giám mục Công Giáo Rôma Balan và các vị giám mục Công Giáo Hy Lạp Ukraine cũng như tiến tới chỗ hiệp nmhất giữa hai quốc gia của chúng ta. Sáu mươi năm trước đây, vào ngày 22/5/1945, tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Giuse ở Rôma, đã có một cuộc họp giữa Vị Giáo Chủ Balan là Hồng Y August Hlond và Giám Mục Ivan Bucko. Vào ngày 8 và 17/10/1987, cũng tại Rôma, các vị giám mục Balan và Ukraine lại gặp nhau. Những cuộc gặp gỡ này được diễn ra trong tinh thần yêu thương và hiểu biết như được xác nhận bởi các phần tử Balan và Ukraine thuộc hàng giáo phẩm tham dự.
Đó là lúc các vị lãnh đạo tinh thần của hai giáo hội chúng ta là ĐHY Myroslav Ivan Libachivskyj và Josef Glemp thực hiện một lời tuyên ngôn chung: “Chúng tôi mắc nợ lẫn nhau vì chúng tôi đã không làm sinh động giáo huấn xuất phát từ mối hiệp nhất của chúng ta trong phép thánh tẩy!”
Những nỗ lực chung ấy được thực hiện vào dịp ấy đã sinh nhiều hoa trái. Biến cố ngàn năm trở thành Kitô giáo của Rus’-Ukraine đã được cử hành bằng một nghi thức cả thể ở Balan tại Jasna Gora năm 1988 với sự tham dự của cả hàng giám mục Balan và Ukraine. Là người Công giáo thuộc hai giáo phái, chúng ta đã cùng nhau tới tham dự các cuộc cử hành Đại Năm Thánh 2000. Vào năm 2001, ĐTC Gioan Phaolô II, vị thừa kế Tông Đồ Phêrô, đã đến thăm Ukraine.
Cuộc hành hương của Đức Thánh Cha này có một ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiến trình xây dựng việc hiểu biết và thắng vượt tình trạng ngờ vực cũng như những gánh nặng lịch sử là những gì không được trở thành một chướng ngại vật cho thế hệ mới của người Ukraine và Balan, những người muốn sống ở một Châu Âu hiệp nhất trong bầu khí thân tình của sự bình đẳng và tương kính. Nhờ ảnh hưởng của cuộc viếng thăm này của ĐTC Gioan Phaolô II chúng ta mới có thể cùng nhau tỏ lòng tôn kính thành phần nạn nhân của những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn. Tình đoàn kết của hai quốc gia chúng ta đã hiện lên một cách đặc biệt vào mùa thu năm 2004 ở Kyiv.
3. Vào ngày 2/4/2005, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã về nhà Cha Trên Trời của chúng ta, thế giới đã bị mất đi một vị lãnh đạo tinh thần chính yếu của nó. Những ngày đáng nhớ này giúp chúng ta có thể thậm chí nhận thấy mãnh liệt hơn nữa cái giá trị của việc phục vụ của vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian – một người con của các quốc gia sắc tộc Slav. Một trong những vấn đề quan trọng nhất nơi vai trò làm giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II đó là mối quan tâm về hòa bình giữa các dân nước. Chúng ta hãy nhớ những lời ngài đã nói: “Không có hòa bình nếu không có công lý, không có công lý nếu không biết thứ tha” (đầu đề Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới XXXV 1/1/2002). Đức Thánh Cha này đã cống hiến cho chúng ta, thành phần môn dệ của Chúa Kitô, một gương mẫu tuyệt vời về việc xưng thú các thiếu sót về lịch sử của Giáo Hội và xin tha thứ, vì nơi tâm can của một Kitô hữu không được có chỗ cho giận dữ, bất công hay gian dối.
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô! Việc cử hành Thánh Thể trong Đại Hội Thánh Thể ở Warsaw (19/6) cũng như ở Lviv (26/6) chúng ta sẽ hướng lời nguyện cầu của chúng ta về Thiên Chúa Toàn Năng. Trước khi việc này xẩy ra, chúng ta hãy hoàn tất nhiệm vụ thánh hảo của mình theo lời Chúa Kitô dạy: “Nếu các con mang của lễ của mình đến bàn thờ, và ở đó nhớ rằng anh em của các con có điều gì phạm đến các con, các con hãy bỏ của lễ của mình ở đó trước bàn thờ, hãy đi làm hòa với đối phương của mình trước rồi hãy trở lại mà dâng lễ vật của mình” (Mt 5:23-24).
Của lễ chúng ta đang mang đến đây là niềm mong ước làm trọn ý của Chúa Kitô muốn “họ trở thành. Vì tất cả chúng ta là những người hành hương trên trái đất này. Chúng ta bước đi trên con đường Đức Tin về cùng Người Cha trên trời duy nhất của chúng ta, về nhà thiên quốc của chúng ta, nơi mà – như chúng ta hy vọng – chúng ta sẽ được hoan hưởng trọn vẹn vinh quang của Thiên Chúa. Cũng từ quan điểm vĩnh hằng này của định mệnh con người mới có nhiệm vụ làm hòa với nhau. Cha ông của chúng ta đã từng chọn con đường chung này, mở lòng mình và biên cương bờ cõi xứ sở mình cho Chúa Kitô. Những thứ khác biệt về giáo phái và tính cách đa diện về văn hóa chỉ là một dấu hiệu cho thấy sự phong phú hơn nữa, một sự phong phú được mang lại nhờ đức tin vào vị Thiên Chúa là Cha, và Con và Thánh Thần.
Năm Thánh Thể chúng ta đang hiện sống đây giúp chúng ta một hiểu biết sâu xa hơn về yếu tính của bí tích thánh này. Làm thế nào để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn về Tặng Ân Bánh Sự Sống này, một tặng ân là nguồn mạch hy vọng cho hòa bình và yêu thương giữa các dân nước? “Hy sinh của tôi đó là tấm lòng tan nát. Một tấm long tan nát khiêm cung Chúa sẽ không chê chối” (Ps 51:19). Trong thế kỷ qua, hai quốc gia của chúng ta đã làm chứng cho sự trung thành của mình cho đến chết! Máu các vị tử đạo đổ ra kêu gọi chúng ta hãy yêu thương bạn hữu và kẻ thù của chúng ta, và kêu gọi “Hãy làm hòa với nhau!”.
Chúng ta hãy vượt lên trên các quan điểm về chính trị và các biến cố lịch sử, trên các lễ nghi giáo hội, thậm chí trên cả căn tính quốc gia của mình nữa – căn tính Ukraine và Balan. Chúng ta trước hết và trên hết hãy nhớ rằng chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta hãy trở về cùng Cha của chúng ta: “Xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Để làm cho lời nguyện cầu này của chúng ta sinh hoa kết nhất nhất, chúng ta hãy nói cùng nhau những lời này: “Chúng tôi thứ tha và chúng tôi xin được tha thứ” – những lời vốn có tính cách quan trọng về lịch sử trong việc hòa giải giữa các quốc gia (xem Thư của Chư Giám Mục Balan và Đức Quốc, Tôma 1965). Chớ gì tác động thứ tha và hòa giải này được nên trọn trước nhan của Vị Thiên Chúa Duy Nhất trong Ba Ngôi và nhan của Đức Mẹ ở những nơi thánh đối với thành phần tín hữu chúng ta: “ở Jas na Gora và ở Zarvanytsia, ở Warsaw và ở Lviv”. Chớ gì lời nguyện cầu chung của chúng ta là lời nguyện cầu xuất phát từ những tấm lòng tinh tuyền, lời nguyện cầu của những con người thiện tâm.
Trong tinh thần ấy, chúng tôi gửi đến anh chị em phép lành mục vụ của chúng tôi.
Warsaw-Lviv, 19-26/6/2005
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 29/8/2005
ĐTC Biển Đức XVI gặp Vị Thừa Kế TGM
Lefebvre về Việc Tái Hiệp Thông
Hôm 29/8/2005, tại tông điện nghỉ mát ở Castel Gandolfo, ĐTC Biển Đức XVI đã
tiếp ĐGM Bernard Fellay, vị thừa kế ĐTGM Marcel Lefebvre lãnh đạo Hội Thánh Piô
X, vị “muốn tiến đến chỗ hiệp thông trọn vẹn”.
Theo vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là Joaquín Navarro Valls thì
trong cuộc gặp gỡ này có cả ĐHY Darío Castrillón Hoyos, chủ tịch Hội Đồng Tòa
Thánh ‘Ecclesia Dei’, một tổ chức được Đức Gioan Phaolô II thiết lập bằng một tự
sắc ngày 2/7/1988, sau khi ĐTGM Lafebvre truyền chức bất hợp pháp cho 4 vị giám
mục của mình ở Ecône.
Vị giám đốc văn phòng báo chí còn cho biết là “cuộc họp diễn ra trong một bầu
không khí mến yêu Giáo Hội và mong muốn tiến tới chỗ hoàn toàn hiệp thông. Nhận
thức được những khó khăn nên lòng mong ước thực hiện những bước tiến sẽ từ từ
diễn tiến theo thời điểm hợp tính hợp lý”.
Sau cuộc họp này, vì giám mục đại diện cho Hội Thánh Piô X đây đã phát biểu qua
một bản văn là “cuộc họp ấy kéo dài 35 phút trong một bầu khí thanh thản. Cuộc
triều kiến này là cơ hội để Hội này bày tỏ là nó lúc nào cũng luôn luôn gắn bó
với Tòa Thánh, Vĩnh Thành Rôma. Trong tinh thần hết sức mến yêu Giáo Hội, chúng
tôi đã nhắc lại một chuỗi những khó khăn đã từng xẩy ra. Hội Thánh Piô X nguyện
xin cho ĐTC được mạnh sức để chấm dứt cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội, ‘phục hồi
mọi sự trong Chúa Kitô’ (biệt chú riêng của thoidiemmaria: câu tâm niệm của giáo
triều Thánh Giáo Hoàng Piô X)”.
Trước cuộc triều kiến này, vị giám mục này đã nói với cơ quan báo chí DICI thuộc
nhóm của ngài rằng nếu được gặp ĐTC Biển Đức, ngài sẽ yêu cầu 2 điều: trước hết
là cho tất cả mọi vị linh mục có thể cử hành Lễ cũ mà không cần phải xin phép vị
giám mục địa phương theo như điều kiện đòi hỏi hiện nay; sau nữa là việc công
khai rút lại vấn đề dứt phép thông công liên quan tới việc truyền chức cho 4 vị
giám mục của hội ngài.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 29/8/2005
Bản Tuyên Ngôn Chung giữa Công Giáo và Tin Lành ở Á Căn Đình về Việc Xin Tha Thứ Cho Nhau
Trong thời khoảng 2-4/7/2005, ở Buenos Aires đã diễn ra một cuộc Gặp Gỡ Huynh Đệ lần 2 được gọi là Mối Hiệp Thông Mới Giữa Tin Lành Và Công Giáo Trong Thần Linh CRECES (Renewed Communion of Evangelicals and Catholics in the Spirit). Trong cuộc Gặp Gỡ này, các nhân vật Công giáo và tin lành tìm thấy một lãnh vực mới của việc hiệp ý chung, đó là nhu cầu cần tha thứ cho nhau về những bất đồng của mình.
ĐHY Jorge Mario Bergoglio, TGM Buenos Aires, trong thư gửi cho Cuộc Gặp Gỡ này đã viết: “Tôi thành thật khuyến khích anh chị em hãy bảo trì con đường chúc tụng và tôn thờ, hòa giải và đại kết thiêng liêng này, một con đường anh chị em đã thực hiện năm ngoái”.
Niềm hy vọng của các phần tử CRECES được phản ảnh qua Bản Tuyên Ngôn Chung, đề ngày 2/7, một bản tuyên ngôn được trình bày trong cuộc gặp gỡ ấy.
“Chúng tôi là những người Công giáo và tin lành, thành phần cảm nghiệm được Chúa Kitô phục sinh, Đấng nhờ Thánh Thần của Người là một tặng ân đã canh tân đời sống thiêng liêng của chúng ta.
“Cuộc canh tân thiêng liêng này đã dẫn chúng ta đến chỗ tái dấn thân sống cho Chúa Giêsu Kitô”. Từ kinh nghiệm Thánh Linh ấy, thành phần tham dự viên Công giáo và tin lành nói rằng họ hiểu rằng Giáo Hội là “dân Chúa, là gia đình Chúa”.
“Tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, dù là tin lành hay Công giáo, đều là con của cùng Cha, và vì thế là anh em của nhau. Chúa Kitô chỉ muốn một Giáo Hội duy nhất, và ngài muốn Giáo Hội của Người bộc lộ trong thế giới mối hiệp nhất và thánh đức là những gì làm nên đặc tính của Thiên Chúa.
“Hôm nay đây, những người tin lành và Công giáo, được canh tân bởi Thánh Linh, thống hối về những thứ chia rẽ của mình và những việc xúc phạm lẫn nhau, nên xin nhau tha thứ…. Chúng tôi nhìn nhận rằng tội lỗi lớn nhất của chúng tôi đó là không yêu thương nhau như Chúa Kitô dạy chúng ta”.
Những người phát động tổ chức CRECES này đã nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit rằng CRECES “được xuất phát từ nỗi khát vọng được Thánh Linh tác động nơi lòng của một số anh chị em Công giáo và tin lành, thành phần không hề biết đến nỗi khát vọng ấy, đã nguyện cầu về phần mình để xin Chúa soi động một đường lối chung nào đó trong việc tiến đến chỗ làm trọn lời Chúa Giêsu cầu cùng Cha vào đêm Người bị bội phản rằng: Lạy Cha ‘xin cho họ tất cả được hiệp nhất… để thế gian nhận biết Cha đã sai Con’”.
Mở màn cho một đường lối chung được bắt đầu bằng việc Matteo Calisi viếng thăm Buenos Aires vào Tháng 7/2003. Qua một số năm, Calisi và vị mục sư tin lành Jorge Minitian đã gặp nhau ở Ý, chia sẻ cùng một ước vọng hiệp nhất.
Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên ở Buenos Aires, 4 vị mục sự tin lành và 4 giáo dân Công giáo bắt đầu gặp nhau hằng tháng để cầu nguyện và nhận thức ý muốn của Thiên Chúa về nỗ lực hòa giải và hiệp nhất ấy. Cuộc Gặp Gỡ đầu tiên đã diễn ra vào ngày 31/7/2004.
Matteo Calisi là chủ tịch của tổ chức Huynh Đệ Thế Giới Chư Hiệp Hội Và Cộng Đồng Đặc Sủng Giao Ước và là vị sáng lập kiêm chủ tịch Cộng Đồng Chúa Giêsu, một nhóm đặc sủng Công giáo bắt nguồn ở Bari Ý quốc.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 11/7/2005
ĐTC BĐXVI tiếp phái đoàn Đại Biểu Giáo Hội Chính Thống hoàn vũ Constantinople
Sáng 30/6/2005, tức sau Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô, ĐTC đã gặp gỡ phái đoàn đại biểu của Giáo Hội Chính Thống Giáo hoàn vũ Constantinople, phái đoàn đến Rôma mừng lễ Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô của Giáo Hội Công Giáo, cũng như Giáo Hội Công Giáo gửi phái đoàn đại biểu sang Giáo Hội Chính Thống hoàn vũ Constantinople mừng lễ Thánh Tông Đồ Anrê là quan thày của họ ngày 30/11 hằng năm.
ĐTC đã nhấn mạnh đến “việc đối thoại về bác ái” giữa những người Công giáo và Chính Thống “được bắt đầu trên Núi Cây Dầu bởi Giáo Hoàng Phaolô VI và Thượng Phụ Athenagoras, một cảm nghiệm đã không luống công vô ích. Nhiều cử chỉ quan trọng đã được thực hiện từ đó: Tôi đang nghĩ đến việc bãi bỏ vạ tuyệt thông nhau vào năm 1054, đến những lời lẽ, văn kiện và các cuộc gặp gỡ được cổ võ bởi cả Giáo Hội Rôma lẫn Constantinople. Những điều này đã đánh dấu đường đi nước bước của những thập niên gần đây”.
Ngài cũng đề cập tới việc Đức Gioan Phaolô II và vị thượng phụ hoàn vũ đã gặp gỡ nhau và “thân ái ôm nhau” trong Đền Thờ Thánh Phêrô mấy tháng trước khi ngài qua đời. ĐTC đã nhận định rằng: “con đường của chúng ta còn dài và không dễ bước”, thế nhưng nó “đã thấy được hy vọng cho một ‘cuộc đối thoại về chân lý’ vững chắc và một tiến trình làm sáng tỏ vấn đề thần học và lịch sử là những gì đã từng mang lại hoa trái đáng kể”.
“Cần phải hợp lực, đừng bỏ qua một nỗ lực nào, nhờ đó việc đối thoại chính thức về thần học, một cuộc đối thoại được bắt đầu vào năm 1980 giữa Giáo Hội Công Giáo và chung các Giáo Hội Chính Thống, sẽ được tái diễn một cách vững vàng”. Ngài cho biết ngài “nhận thấy Thượng Phụ Bartholomew đang hoạt động rất nhiều để tái thiết hoạt động của Ủy Ban Quốc Tế Hỗn Hợp Công Giáo Chính Thống Giáo. Tôi cam đoan với ngài rằng tôi rất muốn hỗ trợ và khuyến khích hành động này. Việc nghiên cứu thần học, một cuộc nghiên cứu cần phải đương đầu với những vấn đề phức tạp và tìm kiếm những giải quyết không qui nạp, là một dấn thân hệ trọng chúng ta không thể nào tránh né”.
“Nếu thục sự Chúa mạnh mẽ kêu gọi các môn đệ của Người xây dựng mối hiệp nhất trong đức ái và chân lý; nếu thực sự lời kêu gọi đại kết là một lời mời gọi khẩn trương để tái thiết, trong hòa giải và an bình, mối hiệp nhất đã bị thiệt hại nặng nề của tất cả mọi Kitô hữu; nếu chúng ta không thể bỏ qua tình trạng chia rẽ là những gì gây trở ngại việc loan báo Phúc Âm cho hết mọi người kém hiệu nghiệm hơn, thì làm sao chúng ta có thể tránh được việc khảo sát những gì khác biệt của chúng ta một cách tỏ tường và thiện chí?... Mối hiệp nhất chúng ta tìm kiếm thì không phải là những gì thâu nhập hay phát tỏa mà là tôn trọng cái trọn vẹn đa diện của Giáo Hội, một Giáo Hội, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô là Đấng sáng lập của mình, bao giờ cũng phải là một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.
ĐTC xin phái đoàn đại biểu hãy nhắn với Thượng Phụ Bartholomew về “ý định của ngài trong việc cương quyết theo đuổi việc tìm kiếm mối hiệp nhất hoàn toàn nơi tất cả mọi Kitô hữu”.
Bá Vũ Ly, theo Zenit ngày 30/6/2005
Trước khi gặp gỡ TGM Kirill ở Smolensk và Kaliningrad, chủ tịch Phân Bộ Liên Hệ Ngoại Giao của Tòa Thượng Phụ Chính Thống Nga, ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, đã được tờ tuần san Công Giáo Nga Svet Evangelia và ngài đã cho biết là việc ngài đại diện Tòa Thánh Rôma làm đây là để thực hiện “những bước tiến nho nhỏ”, nhưng “nhiều bước tiến nho nhỏ cũng sẽ dẫn quí vị đến đích điểm của mình”.
Vị TGM Kirill đã tham dự lễ đăng quang của ĐGH BĐXVI, và vào dịp ấy, hai vị làm đầu hai phân bộ của hai Giáo Hội đã gặp nhau nửa tiếng đồng hồ và quyết định tiếp tục cuoọc đối thoại về những sự khác biệt chính yếu giữa Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống.
ĐHY Kasper cho biết: “Giờ đây chúng tôi đang mong tiếp tục và thậm chí đi sâu hơn vào cuộc đối thoại này. Ngay từ khi bắt đầu được bầu làm giáo hoàng, vị Giáo Hoàng này đã tuyên bố rằng vấn đề ấy là ưu tiên chính yếu của ngài. Giờ đây chúng tôi đang ở đây để thấy được những bước tiến mới nào chúng tôi có thể thực hiện”.
“Chúng tôi muốn thấy được những gì chúng tôi có thể cùng nhau làm, thấy được những cơ hội thực hiện; nó sẽ không phải là những bước tiến quan trọng mà chỉ là những bước tiến nho nhỏ thôi. Nhiều bước tiến nho nhỏ cũng sẽ dẫn quí vị tới đích điểm vậy. Có hai phần liên quan tới việc đối thoại này, và những bước tiến ấy cần phải được cả đôi bên thực hiện”.
Về lý do tại sao ngài không gặp gỡ Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Nga Alexy II trong cuộc viếng thăm lần này, ĐHY Kasper cho biết: “Tôi không xin ngài cho hội kiến vì việc này mới chỉ bắt đầu. Nó không có gì là chính thức cả bởi thế không cần phải làm như thế. Mục đích của chúng tôi là bàn đến những điều cụ thể về kỹ thuật mà thôi”.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ĐHY Kasper còn nói rằng Giáo Hội Công Giáo ở Nga đang thực hiện tiến trình đối thoại, vì “không có Giáo Hội địa phương, việc đại kết sẽ là một vấn đề rất ư là trừu tượng. Tôi đã nói chuyện rất nhiều với ĐTGM Tadeusz Kondrusiewicz. Ngài đã biết và sau đó còn biết đến vấn đề này nữa. Tất cả những gì tôi đã thực hiện cho tới nay đều thực hiện với Giáo Hội địa phương. Có những mối liên hệ giữa Tòa Thánh Rôma và Tòa Thượng Phụ Moscow, có những mối liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma riêng với Giáo Hội Chính Thống Nga, và rõ ràng là cả hai phải đi với nhau”.
Vị hồng y chủ tịch này còn cho biết ngài sẽ không giải quyết những công việc của Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine vì “đó không phải là việc của tôi trong vấn đề nói tới Giáo Hội khác, họ phải tự làm lấy; bởi thế đó không phải là vấn đề thương thảo của tôi. Về vấn đề này, vị tân Giáo Hoàng cũng chủ trương như Đức Gioan Phaolô II. Chúng tôi không bàn đến những người Ukraine nhưng bàn đến những gì Tòa Thánh Rôma và Giáo Hội Chính Thống Nga có thể cùng nhau làm ở Âu Châu và cho Âu Châu, cho các giá trị của Kitô Giáo ở Âu Châu – đó là lãnh vực thuộc lợi ích chung”.
Vị hồng y này hy vọng rằng vào mùa thu tới đây cuộc đối thoại sẽ được tái thiết giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Chính Thống Nga, và công việc của Ủy Ban Thần Học Hỗn Hợp sẽ được tái diễn, sau khi bị gián đoạn vào năm 2001 trong cuộc gặp nhau ở Baltimore, tiểu bang Maryland Hoa Kỳ.
Tâm
Phương, theo Zenit ngày 22/6/2005
ĐTC BĐXVI sẽ gặp gỡ các viên chức của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới
Hội Đồng Tòa Thánh về Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo cho biết là vào ngày Thứ Năm 16/6/2005, ĐTC BĐXVI sẽ gặp các vị đại diện Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới.
Mục sư Samuel Kobia, tổng thjư ký của tổ chức này cùng với phái đoàn đại biểu đã đến Rôma hôm Chúa Nhật 12/6/2005 và đã được sắp xếp để gặp gỡ những vị đại diện của Giáo Hội Công Giáo.
Bản thông báo của Tòa Thánh trên đây đã chi biết rằng: “Cuộc viếng thăm này, một cuộc viếng thăm đã được sắp xếp từ mấy tháng trước đây, là một phần của thói lệ liên hệ với tổ chức Geneva này cũng như với những cuộc viếng thăm Rôma chính thức trước đây của vị tổng thư ký thuộc tổ chức này”.
Vị tổng thư ký sẽ gặp ĐTC trong một cuộc triều kiến riêng vào ngày Thứ Năm, và ĐTC sau đó cũng sẽ gặp chung phái đoàn đại biểu của tổ chức này. Việc vị tổng thư ký Kobia đến thăm Rôma sẽ được đi kèm theo bởi vị chủ tịch của tổ chức ấy là Giám Mục Eberhardt Renz thuộc Giáo Hội Tin Lành ở Đức, và phần tử tiểu ban trung ương là ĐTGM Makarios ở Kenya và Irinoupolis thuộc Tòa Thượng Phụ Chính Thống Hy Lạp Alexandria và Toàn Phi Châu.
Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết
Mới đây, vào lúc mở màn cho giáo triều của vị giáo hoàng chủ trương ưu tiên đệ nhất vấn đề hiệp nhất Kitô giáo này, chúng ta quả thực đã thấy hiện lên một cách bất ngờ ở chân trời những dấu hiệu hướng về hiệp nhất hết sức phấn khởi như sau, một đối với Kitô Giáo Anh Quốc và một đối với Kitô Giáo Luthêrô.
Trước hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất phát hiện từ Kitô Giáo Anh Quốc, một Giáo Hội đã tác khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1535, và là một Giáo Hội vẫn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về hai tín điều Thánh Mẫu là Tín Điều Vô Nhiệm Nguyên Tội và Tín Điều Mông Triệu, cũng như về việc tôn sùng Thánh Mẫu của những người Công giáọ Thế mà, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, đã phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về hình ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”.
Bản văn kiện này được phổ biến trong một cuộc cử hành tại vương cung Thánh Đường Công Giáo ở TGP Seattle, với sự hiện diện của cả 2 vị đồng chủ tịch là TGM Công Giáo Alexander Brunett và TGM Anh Giáo Peter Carnley, giáo chủ Úc Châụ Bản văn này còn được gọi là “Bản Tuyên Cáo Seattle” không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền hoặc bởi Công giáo hay Anh giáo nhưng có mục đích để đôi bên bàn luận hơn nữạ
Ủy ban này đã được bắt đầu từ năm 1970 và đã viết những văn kiện về Thánh Thể, thẩm quyền thừa tác vụ trong Giáo Hội, ơn cứu độ và công chính hóa cùng bản chất của Giáo Hộị
Cha Donald Bolen, linh mục Công giáo đồng thư ký của ủy ban này và là trợ tá cho ngành Tây Phương của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (và bài phỏng vấn đã được Zenit phổ biến ngày 18-19/5/2005), đã cho biết các nhà thần học Anh Giáo đã công nhận hai tín điều Thánh Mẫu và việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo là những gì hợp với Thánh Kinh.
Trước hết, về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, vị linh mục này cho biết khoản số 59 viết rằng:
· “Theo ơn gọi là Mẹ Đấng Thánh của Người (x Lk 1:35), chúng ta có thể cùng nhau xác nhận là công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô đã đạt đến ở nơi Đức Maria tầm mức sâu thẳm hữu thể của Người cũng như vào những giây phút ban đầu của Ngườị Điều này không ngược với giáo huấn của Thánh Kinh, và chỉ có thể hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh. Những người Công giáo Rôma có thể nhìn nhận nơi điều này những gì đã được tín điều ấy xác nhận – tức là vấn đề ‘được gìn giữ khỏi tất cả mọi tì vết nguyên tộí và ‘từ giây phút đầu tiên khi Người được hoài thaí”.
Sau nữa, về tín điều Mông Triệu, vị linh mục này cũng cho biết những chi tiết liên quan đến khoản số 56 và 58 như thế này:
· “Dù ‘không có chứng cớ trực tiếp trong Thánh Kinh liên quan đến việc kết thúc cuộc sống của Đức Mariá (56), ‘Kitô hữu Đông Tây từ đời nọ đến đời kia vẫn nghĩ về công cuộc của Thiên Chúa nơi Đức Maria, họ đều ý thức một cách tin tưởng rằng… thật là xứng hợp việc Chúa đã triệu Người về với Ngài một cách trọn vẹn: trong Chúa Kitô, Người đã là một tạo vật mới…’ (58). Một lần nữa, khi liên kết ý thức về ân sủng và niềm hy vọng này nơi đời sống của Đức Maria với tín điều Mông Triệu của Đức Maria, bản văn nhận định là: ‘chúng ta có thể cùng nhau xác nhận giáo huấn Thiên Chúa đã mang Đức Trinh Nữ Maria vào vinh quang tất cả con người của Người là những gì hợp với Thánh Kinh, và giáo huấn ấy thực sự chỉ hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh như thế mà thôị Những người Công Giáo Rôma có thể nhìn nhận rằng giáo huấn này về Đức Maria được tuyên bố bằng một tín điềú” (58).
Sau hết, về việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo, vị linh mục này tiết lộ như sau:
· “Phần chính yếu cuối cùng của bản văn (64-75) nói đến vị trí của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội, vấn đề liên quan tới việc tôn sùng Thánh Mẫụ Phần này được bắt đầu bằng việc mạnh mẽ xác nhận là: ‘Chúng ta cùng nhau đồng ý rằng với ý thức Đức Maria là mẫu gương trọn vẹn nhất của con người về đời sống ân sủng, chúng ta được kêu gọi để suy nghĩ đến những bài học về đời sống của Người được ghi nhận trong Thánh Kinh và liên kết với Người như một vị thực sự chưa qua đi song vẫn thực sự sống trong Chúa Kitô’ (65). Bản văn này nhấn mạnh là việc tôn sùng Thánh Mẫu và việc kêu cầu Đức Maria không thể nào làm lu mờ hay suy giảm vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Bản văn kết luận: ‘Cùng nhau xác nhận một cách ý thức vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai trò mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lý do về thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề nàý”.
Chưa hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất thứ hai phát hiện (còn rạng ngời hơn nữa) từ Kitô Giáo Luthêrô. Thật vậy, trong Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến để bế mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, thì hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, có một vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro Huovinen đã bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.
Sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, vì giám mục này nói:
· “Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”.
Vị giám mục này đã cắt nghĩa rằng trong năm 2005, cùng với những người Công giáo và các Kitô hữu khác, những người Luthêrô cử hành 850 năm Giáo Hội ở Phần Lan. Những người Luthêrô chiếm 85% trong tổng số 5.2 triệu dân ở nước nàỵ
“Cùng với anh chị em Công Giáo, chúng ta hãy cầu nguyện để có thể là một trong Chúa Kitô”. Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không có Chúa Kitô và không có Thiên Chúạ Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh. Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy lòng của mình, tôi muốn tham dự vào ngày mà người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu hình”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Tin Mừng Sự Sống 248 ngày 10/6/2005
Như chúng tôi đã liên tiếp trong những buổi phát thanh www.tinmungsusong.org gần đây nêu lên vấn đề hiệp nhất trong Giáo Hội, đặc biệt, hiệp nhất với Chính Thống Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành. Và chúng tôi cũng đã phân tích một số dấu chỉ thời đại để từ đó đi tới kết luận rằng giáo triều của Đức Bênêđíctô XVI là một giáo triều của hiệp nhất. Ngài là vị Giáo Hoàng của hiệp nhất. Sứ mạng của Ngài là tạo nên sự hợp nhất giữa các quốc gia Âu Châu có cùng căn tính Kitô Giáo của mình. Một căn tính đã làm nên bộ mặt và di sản văn hóa tinh thần cho Âu Châu. Trong mục Giáo Hội Hiện Thế tuần này, chúng tôi xin mời quí thính gỉa theo dõi những lời phát biểu của một giám mục Tin Lành Luthêrô về vấn đề hiệp nhất trong Đại Hội Thánh Thể tại Ý tuần qua.
Như chúng ta vẫn thường nhắc đến tư tưởng này, đặc biệt xuyên qua những tài liệu mà chúng ta có được liên quan đến con người, đường lối, và chiều hướng của Đức Bênêđíctô XVIvị Giáo Hoàng mà chúng ta thầm đoán là sẽ có trách nhiệm hàn gắn Âu Châu, và đem đại lục này về với truyền thống văn hóa Kitô Giáo, và căn tính Kitô Giáo của nó. Vì nói đến Âu Châu là nói đến ảnh hưởng Kitô Giáo, nói đến những vị thánh lẫy lừng, và nói đến một thời vàng son đã đào tạo và giử đi hằng ngàn, vạn các nhà truyền giáo ra đi đem Tin Mừng và ánh sáng Phúc Âm đến với mọi dân tộc trên khắp thế giới, nhưng giờ này thì Âu Châu đang trở thành một đại lục mà ơn gọi tu trì sút giảm, lòng mộ đạo của giáo dân sa sút, nhiều thánh đường phải bỏ ngỏ, hoặc bán đi. Nhất là trào lưu phá thai, đồng tính luyến ái, hôn nhân đồng tính, cũng như tư tưởng chối bỏ cội nguồn Kitô Giáo của mình như bản dự thảo chung Hiến Pháp Âu Châu đang được bàn cãi hiện nay, đã biến Âu Châu thành một đại lục truyền giáo theo một ý nghĩa nào đóù.
Nếu Gioan Phaolô II là một giáo hoàng xuất thân từ Ba Lan, một quốc gia Cộng Sản đã hành động tích cực để giải thể chế độ Cộng Sản. Một cách tương tự, Bênêđíctô XVI, vị giáo hoàng xuất thân từ Đức, một quốc gia với thành tích trực tiếp tham dự vào 2 đại thế chiến. Nơi xuất phát của giáo phái Tin Lành Luthêrô. Vị giáo hoàng đã đọc, đã hiểu, và rất am tường chủ thuyết Luthêrô, cũng sẽ hy vọng đem Âu Châu trở lại với ý nghĩa xây dựng, hòa bình, và hiệp nhất. Và một khi Âu Châu đã hiệp nhất, Tin Lành Luthêrô đã hiệp nhất, thì Anh Giáo, và Chính Thống Giáo cũng sẽ từ từ được thực hiện. Và như vậy, trong một tương lai gần, điều mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha xưa “Xin cho chúng nên một” sẽ trở thành hiện thực. Như vậy, thì gọi triều đại giáo hoàng Bênêđíctô XVI là triều đại hiệp nhất, và giáo hoàng Bênêđíctô XVI, là giáo hoàng hiệp nhất là một điều xứng hợp.
Trở lại tin tức Giáo Hội liên quan đến hành động hiệp nhất này, ngày 26 tháng 5 vừa qua, tại đại hội Thánh Thể được diễn ra ở Bari, nước Ý, một đại hội được tổ chức với chủ đích hiệp nhất và đối thoại liên tôn, và đã được Đức Bênêđíctô chủ sự thánh lễ bế mạc. Đại diện của giáo phái Tin Lành Luthêrô của Phần Lan là Giám Mục Eero Huovinen đã nói trong đại hội rằng: “Những người Luthêrô Phần Lan mong muốn được trở thành một phần tử trong Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.” Lời phát biểu này được vị giám mục đưa ra sau khi đã giải thích rằng Martin Luthêrô đã không muốn lập nên một giáo hội mới, nhưng đơn thuần chỉ là muốn cải cách và đổi mới giáo hội.
Giám Mục Eero cũng thêm rằng năm nay, năm 2005 là dịp kỷ niệm 850 năm của giáo hội Phần Lan, nơi mà 84% trong tổng số 5.2 triệu người là Tin Lành Luthêrô. Rồi ngài nhấn mạnh: “Cùng với anh chị em Công Giáo và các Kitô hữu khác, chúng ta hãy cầu nguyện để có thể trở thành nên một trong Chúa Kitô”.
Khi nói về Phép Thánh Thể liên quan đến thánh lễ Chúa Nhật, vị này thêm: “Người ta không thể sống mà không có Phép Thánh Thể Cực Trọng, mà không có Chúa Kitô, mà không có Thiên Chúa”. Và :”Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh, và Thánh Thể là bí tích của sự hiện diện hữu hình của Chúa Kitô.”
Ngoài ra khi đề cập đến việc hiệp nhất, Giám mục Eero đã phát biểu như sau: “Hiệp nhất không thể có ảnh hưởng nếu thiếu sự thật, và chỉ duy có một con đường sự thật và bác ái. Từ đáy tâm hồn tôi, tôi khao khát tham dự một ngày trong đó những người Luthêrô và Công Giáo được hiệp nhất với nhau trong một cách thức hữu hình”.
Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cùng với vị giám mục này, để ý nghĩa hiệp nhất và hành động hiệp nhất sớm được thực hiện, và như vậy lời cầu năm xưa “xin cho chúng nên một” của Chúa Giêsu sẽ trở thành hiện thực ngay trong triều đại của Đức Bênêđíctô XVI, vị Giáo hoàng của hiệp nhất Kitô Giáo.
(Phát thanh Tin Mừng Sự Sống 247, ngày 5 tháng 6 năm 2005)
Trần Mỹ Duyệt
Giáo Phái Luthêrô Phần Lan có
xu hướng hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo
Trong Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ đến bế
mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị
giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro
Huovinen đã bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở
thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.
Sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà
chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, vì giám mục này nói: “Những người Luthêrô Phần
Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”.
Vị giám mục này đã cắt nghĩa rằng trong năm 2005, cùng với những người Công giáo
và các Kitô hữu khác, những người Luthêrô cử hành 850 năm Giáo Hội ở Phần Lan.
Những người Luthêrô chiếm 85% trong tổng số 5.2 triệu dân ở nước này.
“Cùng với anh chị em Công Giáo, chúng ta hãy cầu nguyện để có thể là một trong
Chúa Kitô”. Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục
Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không
có Chúa Kitô và không có Thiên Chúa. Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh.
Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có
hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy lòng của mình, tôi muốn tham dự vào ngày mà
người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu hình”.
“Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô” - Điểm Hẹn của Công Giáo và Anh Giáo
Nếu Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới đã ký kết với nhau công nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa ở Đức Quốc ngày 31/10/1999, thì Hiệp Thông Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo cũng đang tiến lại gần với nhau qua những cảm thức về Thánh Mẫu Học.
Hy vọng trong giáo triều của vị giáo hoàng Biển Đức XVI hiện nay chủ trương đặt ưu tiên hàng đầu việc đại kết Kitô giáo, phong trào đại kết Kitô giáo sẽ đạt được thành quả càng ngày càng tốt đẹp hơn, thậm chí đi đến chỗ hiệp nhất trọn vẹn một cách hữu hình nữa, một biến cố có thể bất ngờ sẽ xẩy ra ngoài sức tưởng tượng của con người, như đã xẩy ra cho Biến Cố Đông Âu cuối năm 1989 trong thời Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Thật vậy, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, đã phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về hình ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”.
Bản văn kiện này được phổ biến trong một cuộc cử hành tại vương cung Thánh Đường Công Giáo ở TGP Seattle, với sự hiện diện của cả 2 vị đồng chủ tịch là TGM Công Giáo Alexander Brunett và TGM Anh Giáo Peter Carnley, giáo chủ Úc Châu. Bản văn này còn được gọi là “Bản Tuyên Cáo Seattle” không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền hoặc bởi Công giáo hay Anh giáo nhưng có mục đích để đôi bên bàn luận hơn nữa.
ĐHY Cormac Murphy-O’Connor, TGM Công Giáo ở Westminster, đã nhận định là bản văn kiện này “là một thành đạt chính yếu trong cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa người Công giáo và Anh giáo hoàn vũ. Nó là một thành đạt trong việc gia tăng vấn đề hiểu biết sâu xa nơi chủ trương của mỗi giáo hội”.
ĐGM McMahon Công giáo ở Nottingham nói rằng: “Việc hiểu biết của người Anh giáo và Công giáo đã được củng cố rất nhiều bởi cuộc đối thoại này. Những gì chúng ta đã thực hiện đó là dọn đường dẫn đến vấn đề hiệp nhất Kitô giáo”.
Ủy ban này đã được bắt đầu từ năm 1970 và đã viết những văn kiện về Thánh Thể, thẩm quyền thừa tác vụ trong Giáo Hội, ơn cứu độ và công chính hóa cùng bản chất của Giáo Hội.
Cha Donald Bolen, linh mục Công giáo đồng thư ký của ủy ban này và là trợ tá cho ngành Tây Phương của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit về một số vấn đề chung liên quan tới bản văn kiện chung vừa được phổ biến trên đây.
Vấn: Những ai là tác giả viết lên văn kiện này?
Đáp: Bản văn “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”, cũng được gọi là “Bản Văn Seattle”, là tác phẩm của Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo Và Công Giáo Rôma ARCIC, một văn bản là phương tiện chính thức cho việc đối thoại về thần học giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo.
Cuộc đối thoại này, một cuộc đối thoại trước hết được Đức Phaolô VI và ĐTGM Michael Ramsey ở Canterbury năm 1966 kêu gọi thực hiện, và được thiết lập vào năm 1970. Giai đoạn đầu tiên của hoạt động do ủy ban ARCIC thực hiện (1970-1981) mang lại những bản văn về Thánh Thể, về thừa tác vụ và về hai bản công bố về quyền bính trong Giáo Hội. Giai đoạn thứ hai của ARCIC (1983 tới nay) bao gồm những công bố về ơn cứu độ và đức công chính, về bản tính của Giáo Hội, về những điều luân lý, về thẩm quyền trong Giáo Hội một lần nữa, để rồi giờ đây đến vai trò của Đức Trinh Nữ Maria nơi tín lý và đời sống Giáo Hội. Ủy ban soạn biên văn kiện Thánh Mẫu này gồm có 18 phần tử. ARCIC bắt đầu bàn đến Đức Maria vào cuộc họp năm 1999 của mình, và hoàn tất bản văn vào năm 2004.
Những phần tử bên Anh giáo được ĐTGM Canterbury chỉ định sau khi tham vấn với Văn Phòng Hiệp Thông Anh Giáo, trong khi đó các phần tử Công Giáo Rôma được chỉ định bởi Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Hai vị đồng chủ tịch là Giám Mục Công Giáo Alexander Brunett ở Seattle và ĐTGM Anh Giáo Peter Carnlety ở Perth, vị cũng là giáo chủ Úc Châu. Văn kiện về Đức Maria đã kết thúc giai đoạn thứ hai của hoạt động ARCIC. Giai đoạn thứ ba của ARCIC sẽ được bắt đầu vào thời điểm của nó.
Vấn: Bản văn này có thẩm quyền tới đâu?
Đáp: “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô” là công cuộc của ARCIC, và được phổ biến trong thẩm quyền của ủy ban này, như được phép của Văn Phòng Hiệp Thông Anh Giáo và Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Nó không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo hay bởi Hiệp Thông Anh Giáo là những thẩm quyền nghiên cứu và thẩm định bản văn kiện này. Các thẩm quyền chỉ định ủy ban ấy đã cho phép phổ biến bản văn để nó có thể được nghiên cứu và bàn luận.
Vấn:
Tại sao vị trí của Đức Maria trong Giáo Hội lại được chọn làm đề tài để nghiên
cứu?
Đáp: Bản Văn Seattle là một bản văn đối thoại song phương quốc tế đầu tiên về chủ đề vai trò của Đức Maria trong Giáo Hội. Đoạn mở đầu của văn kiện này nói rằng ARCIC đã được các vị lãnh đạo Anh Giáo và Công Giáo Rôma yêu cầu sửa soạn một cuộc nghiên cứu về Đức Maria. Cho dù Đức Maria đều có một vị thế quan trọng nơi đời sống và phụng vụ của người Anh giáo lẫn Công Giáo Rôma, hai tín điều Thánh Mẫu và việc tôn sùng Thánh mẫu ở Giáo Hội Công giáo vẫn được coi là những gì phân rẽ Giáo Hội Anh giáo và Công giáo.
Vấn:
Điều gì đã được cả người Anh giáo lẫn Công giáo cùng nhau nói về Đức Maria
trước bản văn kiện hiện nay?
Đáp: ARCIC đã nói một cách ngắn gọn về Đức Maria một lần trước đây, trong bản văn năm 1981 về “Thẩm Quyền trong Giáo Hội II”. Đoạn 2 của Bản Văn Seattle đã tóm tắt mức độ quan trọng của việc đồng ý về Đức Maria vào năm 1981, rồi trích dẫn bản văn trước đó về vấn đề liên quan đến những khác biệt vẫn còn đó, những khác biệt được bản văn hiện nay đưa ra giải quyết, đặc biệt chú trọng tới các tín điều Thánh Mẫu: “Các tín điều Hoài Thai Vô Nhiễm và Mông Triệu đã gây ra một vấn đề trầm trọng đối với những người Anh giáo không coi những định tín của các tín điều này là những gì có đầy đủ chứng cớ trong Thánh Kinh”.
Vấn: Văn kiện “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô” đã đặt nền tảng như thế nào để giải quyết hai tín điều Thánh Mẫu ấy?
Đáp: Từ ban đầu, ARCIC đã tìm cách để thực hiện một cuộc đối thoại “đặt căn bản trên các Sách Phúc Âm cũng như trên những truyền thống cổ thời chung” (“Bản Tuyên Ngôn Chung của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và ĐTGM Michael Ramsey ở Canterbury, năm 1966), nhờ đó nỗ lực để “khám phá và phát triển gia sản đức tin chung của chúng ta” (4). Việc chú trọng tới những nền tảng chung của chúng ta ấy đã hình thành hai đoạn đầu của bản văn.
Phần chính đầu tiên của bản văn kiện này (6-30) tìm tòi vị trí của Đức Maria trong Thánh Kinh. Cấu tạo hầu như 1/3 của toàn bản văn kiện, phần này có thể được sử dụng một cách độc lập không dính dáng gì tới phần còn lại của bản văn như là một cuộc nghiên cứu về vị thế của Đức Maria trong Thánh Kinh (cf. 80). Bản văn này ghi nhận là Thánh Kinh ‘mang chứng từ về qui chuẩn cho dự án cứu độ của Thiên Chúa’, bởi thế Các Sách Thánh mới thực sự là những khởi điểm cho việc suy tư chia sẻ của ARCIC. Bản văn kết luận bằng nhận định rằng ‘không thể nào trung thành với Thánh Kinh mà lại không chú trọng một cách xứng hợp đến con người Đức Maria’ (77).
Cuộc nghiên cứu về Đức Maria trong Thánh Kinh được tóm lại ở khoản số 30 như sau: “Chứng từ thánh kinh kêu gọi tất cả mọi tín hữu thuộc mọi thế hệ hãy gọi Đức Maria “diễm phúc”; người nữ Do Thái có thân phận thấp hèn này, người nữ tử Do Thái sống trong niềm mong mỏi công lý cho người nghèo khổ, vị Thiên Chúa ưu ái và chọn làm người mẹ trinh nguyên của Con Ngài bởi quyền phép Thánh Linh. Chúng ta phải chúc tụng Người như “nữ tỳ Chúa” là người đã tỏ ra sự ưng thuận bất xứng của mình để làm trọn dự án cứu độ của Thiên Chúa, như người mẹ suy nghĩ tất cả mọi sự trong lòng mình, như người tị nạn tìm ẩn náu nơi đất khách quê người, như người mẹ bị đâm thấu bởi sự chịu đựng vô tội của con mình, và như người nữ được Chúa Giêsu trao phó bạn bè của mình. Chúng ta đang ở với Người và các chư vị tông đồ, khi các vị cầu xin Thần Linh được tuôn đổ xuống trên Giáo Hội sơ khai, gia đình cánh chung của Chúa Kitô. Và chúng ta thậm chí có thể thoáng nhìn thấy nơi Mẹ định mệnh cuối cùng của dân Chúa trong việc thông phần với cuộc chiến thắng của Con Mẹ trên quyền lực sự dữ và sự chết.
Phần thứ hai của bản văn nghiên cứu, trước hết (31-40), về Maria trong các truyền thống, tức là, trong các Công Đồng của Giáo Hội thời sơ khai là những công đồng có thẩm quyền đối với cả người Anh giáo lẫn Công giáo Rôma, cũng như nơi các bản văn của Các Giáo Phụ của Giáo Hội, các thần học gia thuộc các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Bản văn nhấn mạnh đến tầm quan trọng chính yếu của kiến thức Giáo Hội về Đức Maria như “Theotókos” (Mẹ Thiên Chúa là Lời nhập thể, Vị ‘Mang Thiên Chúa’). Thế rồi bản văn tiến đến chỗ (41-46) kiểm điểm “việc phát triển lòng tôn sùng Đức Maria ở các thế kỷ thời trung cổ cùng những cuộc tranh cãi liên quan tới thời này”, chứng tỏ cho thấy “có một số quá đáng ra sao nơi việc tôn sùng ở vào cuối thời trung cổ cùng với nhũng phản ứng chống lại những thứ thái quá ấy bởi thành phần cải cách, thành phần đã góp phần vào việc gây đổ vỡ mối hiệp thông giữa chúng ta” (77). Sau cùng, đoạn hai kết thúc (47-51) bằng việc ghi nhận những việc phát triển theo sau trong cả thế giới Anh giáo lẫn Giáo Hội Công Giáo và ghi nhận tầm quan trọng của Mẹ Maria khi thấy mẹ liên kết một cách bất khả phân ly với Kitô và Giáo Hội.
Vấn:
Làm thế nào bản văn kiện về Đức Maria này có thể
chạm tới những tín điều Hoài Thai Vô Nhiễm (được định tín năm 1854) và Mông
Triệu (được định tín năm 1950)? ARCIC đã đồng ý ra sao về vấn đề này? Chúng ta
làm thế nào để cùng nhau xác nhận đây?
Đáp: Điểm hội tụ được đề ra trong hai phần đầu của bản văn này đã cống hiến những nền tảng cho việc bàn tới hai tín điều ấy. Phần thứ ba được bắt đầu bằng việc nhìn vào Đức Maria cũng như vào vai trò của Người trong lịch sử cứu độ theo chiều hướng của “một khoa thần học về ân sủng và hy vọng”. Bản văn nại tới bức thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma (8:30), trong đó, ngài đặt ra một thứ mẫu thức về ân sủng và hy vọng liên quan tới mối liên hệ sinh động giữa Thiên Chúa và nhân loại: “Những ai Thiên Chúa đã tiền định thì Ngài cũng kêu gọi; những ai được Ngài kêu gọi thì Ngài cũng công chính hóa; và những ai được Ngài công chính hóa thì Ngài cũng tôn vinh”.
Mẫu
thức này rõ ràng được thể hiện nơi đời sống của Đức Maria. Người đã “được chú
ý từ ban đầu như là một người được tuyển chọn, được kêu gọi và ưu ái bởi Thiên
Chúa qua Chúa Thánh Thần về công việc sau này của Người” (54). Nơi tiếng xin
vâng hoàn toàn tự nguyện thốt lên – “xin hãy thực hiện nơi tôi theo như lời
ngài” (Lk 1:38) – chúng ta thấy “hoa trái của việc Mẹ tỏ ra sẵn sàng trước đó,
một thái độ sẵn sàng được thể hiện nơi việc sứ thần Gabiên xác nhận là Người
‘diễm phúc’” (55). Ở đoạn 59, bản văn này liên kết việc xác nhận ấy với những
gì được tuyên xưng trong tín điều Hoài Thai Vô Nhiễm Tội của Mẹ Maria: “Theo
ơn gọi là Mẹ Đấng Thánh của Người (x Lk 1:35), chúng ta có thể ùng nhau á nhận
là công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô đã đạt đến ở nơi Đức Maria tầm mức sâu
thẳm hữu thể của Người cũng như vào những giây phút ban đầu của Người. Điều
này không ngược với giáo huấn của Thánh Kinh, và chỉ có thể hiểu được theo
chiều hướng Thánh Kinh. Những người Công giáo Rôma có thể nhìn nhận nơi điều
này những gì đã được tín điều ấy xác nhận – tức là vấn đề ‘được gìn giữ khỏi
tất cả mọi tì vết nguyên tội’ và ‘từ giây phút đầu tiên khi Người được hoài
thai’”.
Bản văn kiện này còn đặt vấn đề là như ân sủng hoạt động vào lúc ban đầu của đời sống Đức Maria thế nào thì Thánh Kinh cũng có những chứng cớ vững chắc cho thấy rằng những ai trung thành theo những gì Thiên Chúa dự định sẽ được vào hưởng thiên nhan Ngài. Dù ”không có chứng cớ trực tiếp trong Thánh Kinh liên quan đến việc kết thúc cuộc sống của Đức Maria” (56), “Kitô hữu Đông Tây từ đời nọ đến đời kia vẫn nghĩ về công cuộc của Thiên Chúa nơi Đức Maria, họ đều ý thức một cách tin tưởng rằng… thật là xứng hợp việc Chúa đã triệu Người về với Ngài một cách trọn vẹn: trong Chúa Kitô, Người đã là một tạo vật mới…” (58). Một lần nữa, khi liên kết ý thức về ân sủng và niềm hy vọng này nơi đời sống của Đức Maria với tín điều Mông Triệu của Đức Maria, bản văn nhận định là: “chúng ta có thể cùng nhau xác nhận giáo huấn Thiên Chúa đã mang Đức Trinh Nữ Maria vào vinh quang tất cả con người của Người là những gì hợp với Thánh Kinh, và giáo huấn ấy thực sự chỉ hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh như thế mà thôi. Những người Công Giáo Rôma có thể nhìn nhận rằng giáo huấn này về Đức Maria được tuyên bố bằng một tín điều” (58).
Ủy ban này không hoàn toàn giải quyết
những sự khác biệt giữa người Anh giáo và Công giáo liên quan tới hai tín điều
ấy, vì những đúc kết trên đây liên quan tới nội dung Thánh Mẫu về hai tín điều,
chứ không liên quan tới thẩm quyền hai tín điều ấy được xác định. Tuy nhiên,
thành phần soạn thảo của ARCIC tin tưởng nêu lên rằng nếu những lập luận ở
trong văn kiện Thánh Mẫu này được chấp thuận bởi cả Hiệp Thông Anh Giáo lẫn
Giáo Hội Công Giáo thì văn kiện này “sẽ đặt ra các vấn đề về thẩm quyền phát
xuất từ hai cuộc định tín năm 1854 và 1950 theo chiều hướng mới của đại kết”
(78; x. 61-63).
Vấn:
Bản văn này nói gì về việc tôn sùng Thánh Mẫu?
Đáp: Phần chính yếu cuối cùng của bản văn (64-75) nói đến vị trí của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội, vấn đề liên quan tới việc tôn sùng Thánh Mẫu. Phần này được bắt đầu bằng việc mạnh mẽ xác nhận là: “Chúng ta cùng nhau đồng ý rằng với ý thức Đức Maria là mẫu gương trọn vẹn nhất của con người về đời sống ân sủng, chúng ta được kêu gọi để suy nghĩ đến những bài học về đời sống của Người được ghi nhận trong Thánh Kinh và liên kết với Người như một vị thực sự chưa qua đi song vẫn thực sự sống trong Chúa Kitô” (65). Bản văn này nhấn mạnh là việc tôn sùng Thánh Mẫu và việc kêu cầu Đức Maria không thể nào làm lu mờ hay suy giảm vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô.
Bản văn kết luận: “Cùng nhau xác nhận một cách ý thức vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai trò mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lý do về thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề này”.
Đoạn kết luận (76-80) là đoạn tóm lại những gì ủy ban đối thoại này tin tưởng rằng họ đã đạt được nơi “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”. Sauk hi tái xác nhận những thỏa thuận được đề ra trong văn kiện 1981 trên đây, bản văn đã tổng kết bằng việc nói lên niềm xác tín của mình rằng “bản công văn này đã đào sâu và nới rộng thêm một cách đáng kể những đồng ý ấy, đặt chúng vào việc nghiên cứu toàn diện về tín lý cũng về về việc tôn sùng liên quan tới Đức Maria” (76).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày 18-19/5/2005
Vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị giáo hoàng chủ trương đệ nhất ưu tiên của giáo triều ngài là đại kết Kitô giáo, đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” trong việc đại kết Kitô giáo đối với anh em Kitô hữu Tin Lành, kể cả trước và sau khi làm giáo hoàng. Trước khi làm giáo hoàng, sau khi thấy Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa được bàn luận hơn 30 năm sắp bị thất bại, ngài đã họp riêng cả một ngày với vị lãnh đạo của Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới tại Đức để tìm cách cứu vãn tình thế, và cuối cùng Bản Tuyên Ngôn này đã được đôi bên ký hận vào ngày 31/10/1999. Sau khi làm giáo hoàng, ngài đã gửi lời chào chúc đến hội nghị của Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có 900 ngàn phần tử, một hội nghị được kết thúc vào Chúa Nhật 8/5/2005.
Theo đà tích cực này, mới đây, chúng ta còn thấy hiện lên những dấu hiệu hết sức phấn khởi nữa về lãnh vực đại kết Kitô giáo. Chẳng hạn như bản văn kiện chung giữa Giáo Hội Công Giáo và Hiệp Thông Anh Giáo về Thánh Mẫu mang tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”, được công bố ngày 16/5/2005, kết quả của 6 năm bàn luận của 18 thần học gia của đôi bên.
Một dấu hiệu phấn khởi nữa về nỗ lực đại kết Kitô giáo đó là Hội Nghị lần Thứ 13, từ ngày 9-16/5/2005, về chủ đề Truyền Giáo Thế Giới, do Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới của anh em Tin Lành tổ chức, đã được Tòa Thánh Vatican lần đầu tiên gửi phái đoàn đại biểu 26 vị tham dự, và hội nghị này lần đầu tiên được tổ chức tại Nhã Điển là lãnh địa của Chính Thống giáo.
Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, một cuộc phỏng vấn được Zenit phổ biến ngày 16/5/2005, ĐGM Brian Farrell, thư ký của Hội Đồng Tòa Thánh Về Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo đã nhận định về tiến trình đã đạt được và những thách đố khó khăn vẫn còn trong tiến trình hiệp nhất này.
Vấn: Giáo Hội Công giáo không phải là phần tử của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới. Thế nhưng tại sao Giáo Hội Công Giáo lại gửi một phái đoàn đại biểu chính thức đến tham dự hội nghị này?
Đáp: Đúng thế, Giáo Hội Công giáo không phải là phần tử của hội đồng này, thế nhưng, từ thời Công Đồng Chung Vaticanô II, Giáo Hội Công giáo đã có những liên hệ vững chắc với tổ chức này rồi.
Trước hết, Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo có những đại diện viên của mình ở Geneva, cũng như trong Phân Bộ Sứ Vụ và Truyền Bá Phúc Âm Hóa của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới là cơ cấu tổ chức cuộc hội nghị này.
Ngoài ra, còn có cả 12 thần học gia Công giáo, được Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô giáo bổ nhiệm vào Ủy Ban Đức Tin và Cấp Trật.
Sau hết, còn có một nhóm làm việc hỗn hợp giữa Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội với Giáo Hội Công Giáo là nhóm giúp cho mối liên hệ này được tiếp tục kéo dài.
Vấn: Thái độ của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới đối với Giáo Hội Công Giáo ra sao?
Đáp: Trong những năm vừa rồi đã có sự chú trọng đáng kể của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới đối với Giáo Hội Công Giáo. Thế nhưng, họ không chỉ chú trọng đến Giáo Hội Công Giáo như được tỏ ra nơi cuộc hội nghị này. Hội đồng này đang cố gắng kêu gọi thêm nhiều Giáo Hội khác nữa vào những hoạt động của mình, bao gồm cả những giáo hội bắt nguồn từ phong trào Thánh Linh và Đặc Sủng.
Vấn: Mục tiêu của cuộc hội nghị này là gì, cuộc hội nghị 8 ngày
ở Nhã Điển qui tụ 650 Kitô hữu từ khắp nơi trên thế giới.
Đáp: Đây không phải là một họp để ban hành những văn kiện chính thức. Mục đích là để tổ chức một cuộc gặp gỡ huynh đệ, ở tầm cấp thế giới, trong số các Giáo Hội khác nhau. Bởi thế, hội nghị này là một biến cố quan trọng, vì nó cổ võ việc hiểu biết nhau và trao đổi với nhau, lặng lẽ suy tư và đối thoại.
Vấn: Mục tiêu này có đạt được ở Nhã Điển hay chăng?
Đáp: Có chứ. Hội nghị này đã cống hiến cho hết mọi người cơ hội để gặp gỡ đại diện viên thuộc các giáo hội khác. Đặc biệt là nơi chốn được chọn cho cuộc hội nghị này đã khả dĩ cho cả việc tham dự của Chính Thống nữa.
Vấn: Điều này có làm cho cuộc đối thoại với Chính Thống giáo dễ
dàng hơn chăng?
Đáp: Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp đã dấn thân lâu dài trong việc để làm sao có thể bảo đảm cho việc diễn tiến tốt đẹp của hội nghị này. Sự kiện lần đầu tiên cuộc hội nghị này được tổ chức ở một xứ sở đa số là Chính Thống giáo không phải chỉ là một sự kiện thuần về địa dư; nó có một giá trị biểu hiệu, đầy những phát triển khả dĩ. Ngoài ra, cuộc hội nghị này đang xẩy ra trong một thời điểm thuận lợi, ngay sau bản tường trình đúc kết của ủy ban đặc biệt này về sự tham dự của Chính Thống giáo với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, hội đồng đã có một số vấn đề tranh cãi.
Vấn: ĐGM có những cuộc họp bán chính thức nào với các đại biểu
khác hay chăng?
Đáp: Dĩ nhiên là có. Chúng tôi đã có nhiều liên lạc với nhau cả trong lẫn ngoài những công việc về hội nghị này, với cả Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp cũng như với Các Giáo Hội cùng những tổ chức khác là các thành phần Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo cần giao tiếp để nghiên cứu và hợp tác. Ngoài ra, tất cả mọi giây phút khác trong ngày đã là những lúc để các vị đại biểu thuộc các giáo hội khác nhau có thể gặp gỡ và trao đổi với nhau nữa.
Vấn: Các buổi họp bàn đã được thực hiện theo phương pháp nào?
Đáp: So sánh với quá khứ thì có một số điều mới mẻ. Đề tài “Xin Thánh Thần hãy đến Chữa Lành và Hòa Giải!” đã không được chia sẻ sâu xa bằng những bài thuyết trình theo lý thuyết. Vấn đề được chú trọng để chia sẻ ở đây là khía cạnh cảm nghiệm. Những bài thuyết trình cho mỗi ngày trong các buổi họp chung không phải là những bài giảng. Nhiều lần có những đóng góp theo hình thức đối thoại, nhắm tới những quan điểm cởi mở hơn là đạt tới những đúc kết chung. Ngoài ra, việc được gọi là “sinaxeis” cũng được chú trọng nữa, tức là có nhiều buổi hội thảo ban chiều để bàn luận về những vấn đề chuyên biệt. Cung cách thiêng liêng của những cuộc trao đổi và suy tư này là việc cầu nguyện, nhất là lắng nghe Lời Chúa ở những nhóm nhỏ theo phương pháp “Lectio Divina”.
Vấn: Đức giám mục có thể đưa ra một nhận định tổng kết hay
chăng?
Đáp: Cuộc hội nghị này cống hiến niềm hy vọng là những vấn đề quan trọng về sứ vụ có thể là một tụ điểm gặp gỡ. Trong một thế giới như chúng ta đây, một thế giới biến đổi mau chóng, Kitô hữu buộc phải tìm kiếm những giải đáp chung chứ không phải là 100 giải đáp khác nhau, ngược nghịch nhau. Dĩ nhiên là trong một cuộc hội nghị có nhiều người tham dự khác nhau như thế người ta thấy được tính cách phức tạp của tiến trình đại kết. Thế nhưng, Thần Linh là Đấng chữa lành và hòa giải vẫn có thể tìm thấy cách thức để làm gia tăng mối hiệp nhất giữa các giáo hội.
Tiến Trình Đại Kết giữa Công
Giáo và Anh Giáo với việc Phổ Biến Văn Kiện Chung về Đức Maria
Hội Đồng Giáo Hoàng Về Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo và Văn Phòng Hiệp Thông
Anh Giáo đã loan báo trong một công văn hôm Thứ Sáu 13/5/2005 rằng bản tường
trình gần đây nhất của Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC:
Anglican-Roman Catholic International Commission), tựa đề: “Đức Maria: Ân Sủng
và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”, sẽ được phổ biến vào ngày 16/5/2005 tại
Seattle Hiệp Chủng Quốc, nơi Ủy Ban này đã gặp nhau lần cuối cùng vừa rồi để
hoàn thành việc làm của mình về bản văn kiện ấy.
Về vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Hiệp Thông Anh Giáo, bản văn kiện
viết:
“Hơn hai năm qua, Hội Đồng Giáo Hoàng này đã quan tâm đến tác dụng của những
tiến triển gấn đây nơi thế giới Anh Giáo Bắc Mỹ về những liên hệ giữa chúng tôi.
Việc phổ biến ‘Bản Tường Trình Windsor’ và bản thông báo được các vị lãnh đạo
Anh Giáo ban hành ngày 24/2 đã tìm cách làm sáng tỏ chiều hướng Hiệp Thông Anh
Giáo muốn hướng tới (và) đã cống hiến một niềm hy vọng mới để giúp cho việc đối
thoại của chúng tôi có thể tiếp tục đạt được tiến bộ trong vấn đề trọn vẹn hiệp
thông từng là mục tiêu nhắm đến của việc đối thoại này từ khi nó bắt đầu được
thai nghén vào Tháng 3/1966” bởi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và ĐTGM bấy giờ là
Michael Ramsey.
Về những tiến triển tổng quan mới đây, bản văn kiện viết:
“Trong năm 2003, quyết định của Giáo Hội Episcopal ở Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
truyền chức giám mục cho một linh mục sống liên hệ đồng tính, cũng như việc thực
hiện nghi thức chúc phúc cho các cặp hôn nhân đồng tính ở Giáo Phận New
Westminster thuộc Giáo Hội Anh Giáo Canada, đã tạo nên những ngãng trở mới cho
mối liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Hiệp Thông Anh Giáo. Hậu quả gây ra bởi
những hành động này và tình trạng bất ổn định của giáo hội này đã khiến cho Hội
Đồng Giáo Hoàng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo này đã thỏa thuận với những vị đại
diện Hiệp Thông Anh Giáo ngưng những cuộc đại hội của Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và
Giáo Hội Công Giáo Về Vấn Đề Hiệp Nhất và Sứ Vụ (IARCCUM: International Anglican
- Roman Catholic Commission for Unity and Mission), trong khi đó vẫn giữ việc
truyền đại chặt chẽ với Văn Phòng Hiệp Thông Anh Giáo cũng như với Điện Lambeth”.
“Trước những căng thẳng chính yếu trong Hiệp Thông Anh Giáo, ĐTGM ở Canterbury
là Tiến Sĩ Rowan Williams, đã thiết lập ‘Ủy Ban Lambeth’, ủy thác cho cơ cấu này
việc sửa soạn” Bản Tường Trình Windsor là văn kiện được phổ biến vào tháng
10/2004 và “nêu lên những việc làm cụ thể khác nhau để xác định tính cách độc
lập của các giáo tỉnh Anh Giáo một cách rõ ràng hơn trong mối tương liên độc lập
của Hiệp Thông Anh Giáo”.
ĐTGM Williams đã mời ĐHY Kasper viết một bức thư chia sẻ về bản tường trình này
và mời ngài đến Luân Đôn để nói chuyện tại Văn Phòng Hiệp Thông Anh Giáo. Trong
cả hai dịp này, ĐHY Kasper đều nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc làm sáng tỏ
cả những vấn đề về giáo hội học lẫn luân lý liên quan tới tình hiện hiện nay.
Sau khi phổ biến văn kiện “Đức Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô”,
IARCCUM sẽ tái xét công việc của ARCIC II, và tường trình bản tổng hợp của việc
này cho các vị thẩm quyền đương nhiệm của Anh Giáo và Công Giáo.
ĐTC Biển Đức XVI gửi Sứ Điệp cho Hội Nghị Thệ Phản
ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Công Giáo có mặt tại hội nghị
Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đã đọc bản văn được gửi đến hội nghị
(được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005) từ văn phòng quốc vụ khanh của Tòa Thánh
thay cho Đức Thánh Cha.
Trong sứ điệp của mình, ĐGH đã gửi lời chào “thân ái đến tất cả mọi tham dự viên,
ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội nghị này là Marcel Manoel đã
cho biết như thế. “Đây là lần đều tiên hội nghị của chúng tôi đã nhận được một
sứ điệp như vậy. Chúng tôi nhận được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan
tâm”.
Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này
là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xã Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách
Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có
chừng 900 ngàn người.
Khóa Học về Công Giáo cho các vị mục sư Tin Lành
Theo Zenit loan tin hôm Thứ Sáu 11/3/2005 thì có một khóa học mới về Công Giáo
được gọi là “Học Hiểu Công Giáo ở Rôma” do Trung Tâm Melantone khởi xướng, một
cơ quan Tin Lành nghiên cứu đại kết ở Rôma, cùng với sự hỗ trợ của Giáo Hội
Tin Lành Lutherô ở Ý.
Khóa này được mở ra cho 16 mục sư nam nữ của các giáo hội Luthêrô nói tiếng
Đức ở Rôma, cho tới hết Thứ Tư tuần tới 16/3/2005, để học hỏi về Giáo Hội Công
Giáo cũng như về chính thành phố Rôma cùng với hoạt động như là trung tâm đại
kết của thành phố này.
Một trong ba vị giáo sư dạy khóa này là Martin Wallraff ở Đại Học Jena đã cho
biết là “Chúng tôi muốn làm cho người ta hiểu rằng Rôma không phải chỉ có
Vatican mà còn những địa điểm lịch sử rất quan trọng đối với chúng ta, chẳng
hạn như những thứ đào quật của Thánh Phêrô. Rôma không phải chỉ là trung tâm
thế giới của Công giáo mà còn là nơi huấn luyện về thần học và hoạt động đại
kết chung”.
Thành phần tham dự khóa sẽ thăm một số phân bộ của Vatican, bao gồm Thánh Bộ
Tín Lý Đức Tin và Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo.
Các vị mục sư sẽ tham dự một cuộc họp với Cha Albert Schmidt dòng Biển Đức,
viện trưởng Học Viện Quốc Tế Thánh Anselmô, để tìm hiểu việc huấn luyện về
thần học ở một tổ chức tòa thánh. Ngoài ra, các học viên còn được viếng thăm
đan viên Công giáo theo lễ nghi Byzantine ở Grottaferrata để tìm hiểu phụng vụ
Đông phương, “nhờ đó”, vị giáo sư cho biết, “chúng tôi sẽ tiếp xúc với một
thực tại quan trọng của Công giáo để thấy rằng không phải chỉ có lễ nghi Rôma
mà thôi”.
Vị giáo sư trên nói tiếp: “Ở Đức, thần học được học ở các phân khoa của quốc
gia; bởi thế, nó là một cơ cấu rất khó”.
Khóa học đặc biệt này, ngoài vị giáo sư ấy, còn có giáo sư Walter Schopsdau từ
Viện Đại Kết ở Bensheim và Jochen Rexer ở Rôma.
Anh giáo phân rẽ trầm trọng về vấn đề đồng tính nam nhân
Trong khi bên Anh quốc, nữ hoàng Elizabeth tuyên bố không tham dự lễ cưới của thái tử Charles về vấn đề tôn giáo, bởi người vợ tương lai của vị thái tử này đã từng ly dị chồng, không xứng đáng cùng với thái tử sẽ lên ngôi vua sau này làm đầu giáo hội Anh giáo, một giáo hội đã tách khỏi Giáo Hội Công giáo từ năm 1535, bởi vua Henry VIII, vì vua này bị phạt vạ tuyệt thông bởi cuộc hôn nhân bất hợp pháp của vua.
Các vị đại diện thuộc cánh Hoa Kỳ và Canada của Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo đã được Hội Đồng Cố Vấn Anh Giáo, một trong bốn cơ cấu chính của giáo hội này, yêu cầu tách lìa khỏi cơ cấu giáo hội Anh giáo vì những bất đồng về sự kiện một giáo phận ở Canada ủng hộ vấn đề hôn nhân đồng tính cũng như về việc thăng chức một vị giám mục công khai đồng tính ở New Hampshire.
Thật vậy, 38 vị đại diện Anh giáo các quốc gia trên thế giới đã họp nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan tuần này, và vào ngày Thứ Năm 24/2/2005, trong bản công bố được 38 vị đại diện ký nhận, đã nói rằng bao lâu “còn vấn đề về việc các Giáo Hội Bắc Mỹ có muốn chấp nhận cùng một giáo huấn đối với các vấn đề luân lý tình dục như được mọi nơi khác chung chung chấp nhận trong Giáo Hội, thì thực tại chính yếu của mối hiệp thông của chúng ta trong Thiên Chúa Ba Ngôi Thánh bị lu mờ, và tính cách hiệu nghiệm nơi sứ vụ chung của chúng ta bị ngãng trở cách trầm trọng”.
Bản công báo này tái xác nhận quyết nghị được toàn thể các vị giám mục Anh giáo chấp thuận năm 1998 là quyết nghị tuyên bố là những việc làm của nam nhân đồng tính “không hợp với Thánh Kinh” và chống lại vấn đề truyền chức cho nam nhân đồng tính cũng như chống lại việc làm phép cho các cặp hôn nhân đồng tính.
Bản công báo này cũng cho biết nhiều nghị viên trong cuộc họp tuần này “hết sức cảnh giác là tiêu chuẩn giáo huấn Kitô giáo về các vấn đề tính dục của con người”, được diễn tả trong quyết nghị 1998, đã “bị suy giảm trầm trọng bởi những diễn tiến mới đây ở Bắc Mỹ”.
Các nghị viên của cuộc họp 10 năm 1 lần này khuyên là các giáo hội Hoa Kỳ và Canada phải trả lời những câu hỏi được đặt ra trong 1 bản tường trình của Giáo Hội năm 2004. Giáo Hội Anh giáo gồm có 38 giáo hội tự trị, trong đó có Giáo Hội Episcopal của Hoa Kỳ. Anh Giáo có 77 triệu tín đồ ở trên 160 quốc gia.
Những gì sẽ
giúp vào việc đẩy mạnh vấn đề đại kết Kitô giáo
Cha James Puglisi, giám đốc Trung Tâm Phò Hiệp Nhất ở Roma kiêm bề trên tổng
quyền của dòng Anh Em Hèn Mọn Phanxicô Đền Bồi, đã chia sẻ với Zinit về nhận
định của mình đối với vấn đề đại kết Kitô giáo. Cha cho rằng cầu nguyện là
điều khẩn thiết cho vấn đề này, như cha đã trích lại lời của nhà thần học thày
của mình là Yves Congar về đại kết như sau: “Chúng ta chỉ có thể vượt qua cửa
đại kết chỉ bằng đầu gối của mình mà thôi”.
Vấn: Có dấu hiệu hy vọng nào đặc biệt để cử
hành Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo một cách lạc quan hơn bao giờ
hết hay chăng?
Đáp: Có. Tôi nghĩ rằng ở nhiều khía cạnh chúng
ta có thể thấy được Kitô hữu hợp tác với nhau hơn, trước tình hình thế giới
các giáo hội đang sống đây.
Điều được ĐHY Kasper vẫn gọi là “cuộc đối thoại bằng đời sống” hiển nhiên được
thấy đang tiến triển ở chỗ Kitô hữu đáp ứng đối với những trường hợp như cuộc
thiên tai mới đây ở Đông Nam Á, đối với tình hình các Kitô hữu ở Iraq, Thánh
Địa và các nơi như Sudan.
Những nhu cầu của con người tiêu biểu này là những gì chúng ta được Phúc Âm
kêu gọi để lấy đức ái mà làm chứng. Đức ái đã được bày tỏ ngập tràn, bất kể là
giáo phái hay tôn giáo. Đó là cách thức cho thấy tinh thần của các mối phúc
đức ngược lại với tinh thần của thế gian, nếu được thấy và hiểu theo ngôn từ
của Thánh Gioan thánh ký.
Về lãnh vực thần học chúng ta phải nhận rằng nhiều sự đng tiến một cách chầm
chậm hơn trước, đến nỗi chúng ta có thể nói là một cách cẩn trọng.
Chúng ta đã tiến đến điểm then chốt ở những cuộc bàn luận và đối thoại, điểm
mà chúng ta cần dừng lại để thẩm định về cả quan điểm lý thuyết – những đồng ý
về thần học – lẫn quan điểm thực hành – làm thế nào để những thực tại ấy và
những gì được đồng ý ấy có thể mang ra áp dụng thực hành.
Đó là vấn đề đã được nói đến trong Sách Tông Vụ và được Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II nhắc lại trong thông điệp “Ut Unum Sint” của ngài, đó là chúng ta
không được áp đặt bất cứ điều gì ngoài những điều Thánh Kinh đòi buộc, vấn đề
cần phải được cứu xét và phân tách.
Vấn đề này cần nhẫn nại, nghiên cứu, suy tư, nhất là cầu nguyện. Cha Congar
luôn nói với chúng tôi ở trong lớp của ngài rằng “Chúng ta chỉ có thể đi qua
cửa đại kết bằng đầu gối của mình mà thôi”.
Hình ảnh cửa của Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành liền hiện lên, khi mà 3 vị
lãnh đạo trong giáo hội quì gối, khẩn cầu, gõ cửa là Chúa Kitô. Thật vậy, đó
là lý do tại sao có Tuần Lễ Nguyện Cầu Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo.
Vấn: Theo quan điểm của cha thì tại sao vẫn còn
thái độ thù nghịch đối với vấn đề đại kết?
Đáp: “Thái độ thù nghịch” chúng ta chứng kiến
thấy là thái độ sợ seat thì đúng hơn. Điều chúng ta đang giải quyết vào lúc
này đây đó là nhu cầu cần phải thay đổi đường lối, nhu cầu hoán cải các giáo
hội và cơ cấu của mình, bao gồm cả Giáo Hội Công giáo.
Chúng ta biết rằng, theo lịch sử, các thứ cấu trúc của Giáo Hội đã từng biến
hóa theo các nhu cầu, thách đố, do thế gian gây ra cho Giáo Hội, một Giáo Hội,
theo Thánh Thần hướng dẫn, cần phải đáp ứng những nhu cầu ấy nơi từng thế hệ.
Đó là cách Giáo Hội làm trọn vai trò của mình nơi xã hội.
Ở nhiều hình thức, Giáo Hội cũng rút tỉa được những cấu trúc thích ứng từ thế
giới trần tục là nơi Giáo Hội sống. Bộ Giáo Luật Năm 1917, theo tôi, là một
thí dụ của sự kiện này, sự kiện cho thấy các chế độ quân chủ theo pháp hiến đã
là mô thức trong xã hội và là một “xã hội toàn vẹn”; Giáo Hội hiển nhiên đã áp
dụng mô thức “toàn vẹn” này.
Thế nhưng, điều này được bắt nguồn từ các thứ luật lệ có tính cách thực chứng
chứ không phải từ các qui tắc bí tích. Điển hình đó là bộ giáo luật đã đi từ
quyền dân được chọn giám mục đến việc thượng quyền bổ nhiệm. Tất cả những qui
tắc ở Giáo Hội thời sơ khai đều nói rằng vị chủ sự Giáo Hội cần phải được Giáo
Hội chọn tuyển.
Tất cả những thứ thay đổi này cho thấy một rạn nứt càng to giữa thành phần rửa
tội và những ai được chịu chức thánh: một thứ đối nghịch giữa giáo sĩ và giáo
dân từ từ hình thành, một đối nghịch làm cho giáo dân không còn đủ tư cách về
tôn giáo để tham dự vào các cơ cấu của Giáo Hội và làm cho giáo sĩ từ từ tách
khỏi Dân Chúa và đặt mình trên Giáo Hội khiến họ tác hành trên Giáo Hội.
Công Đồng Chung Vaticanô II đã tái hướng điều này bằng những thay đổi được
thực hiện nơi hiến chế tín lý về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân”, một văn kiện
xác định thừa tác vụ ở trong Giáo Hội chứ không phải ở trên Giáo Hội.
Đó là ý nghĩa của những điều chỉnh được thực hiện cho “đề án về Giáo Hội”
nguyên thủy, một đề án được mở đầu với phẩm trật nhưng lại kết thúc trong “Ánh
Sáng Muôn Dân” khi trình bày Giáo Hội như là một thực tại Ba Ngôi, với tư cách
là Dân của Thiên Chúa, là Thân Mình của Chúa Kitô và là Đền Thờ của Thánh Thần.
Phục vụ thực tại giáo hội này là thừa tác vụ thánh chức là những gì ở ngay
trong lòng Giáo Hội. Bức Thư gửi giáo đoàn Êphêsô, đoạn 4, là đoạn văn quan
trọng, vì chính ở đoạn này chúng ta thấy được những đặc sủng khác nhau được
ban cho Giáo Hội, nhờ đó các thánh mới hội đủ điều kiện để hoàn thành sứ vụ
của mình trong thế gian.
Bao lâu chúng ta chủ trương một thứ phân chia và phân biệt cứng ngắc, có thể
nói là đối nghịch nhau, giữa hàng giáo sĩ và giáo dân, thì tiến trình trần tục
hóa sẽ tiếp tục tiến triển nhanh chóng trong một thế giới đang thay đổi mau lẹ
về xã hội và văn hóa. Cần phải nói về Phúc Âm cho mỗi thế hệ, mỗi văn hóa,
bằng những biểu hiệu có thể nói lên chính sứ điệp của Phúc Âm đối với mỗi một
văn hóa hầu mang lại sự sống cho thế giới.
Vấn: Đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng của
đại kết. Thế nhưng, chúng ta lại không có nhiều vị giám mục hay tín hữu đại
kết. Tại sao vậy?
Đáp: Đây là một câu hỏi hay và là một câu hỏi
rất tế nhị. Nó có nghĩa là việc thực sự chấp nhận Công Đồng Chung Vaticanô II
cùng với những chiều hướng của Công Đồng này chưa có, nơi cả hai thành phần
quí vị đề cập tới.
Một lần nữa, tôi nghĩ rằng nó có thể được thể hiện về phương diện lý thuyết và
thực hành. Hiển nhiên là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tiếp tục từ Đức Gioan
XXIII và Phaolô VI, thực sự đã cố gắng để đầy mạnh việc dấn thân đại kết của
Giáo Hội như lòng mong ước của Các Nghị Phụ Công Đồng bấy giờ. Ngài đã nói
nhiều nơi thông điệp “Cho Họ Được Hiệp Nhất Nên Một” cũng như nơi hết mọi cuộc
tông du của ngài không trừ một cuộc nào.
Tôi thấy vấn đề ngộ ngĩnh ở đây là việc chủ trương đại kết của ngài là một
trong những điều cuối cùng bị gài then đóng chốt, trong khi những lời phát
biểu của ngài về luân lý thì bao giờ cũng được trưng dẫn.
Với việc dấn thân đại kết – chúng ta cũng có thể nói dấn thân liên tôn – của
ngài, người ta mong rằng giáo phận của ngài trở thành một mẫu gương thực sự
cho những giáo phận khác trong việc dấn thân đại kết và liên tôn. Điều này cần
phải được kiểm chứng.
Những gì tôi thấy được, tiếc thay, đó là khi cần phải quyết định gì về vấn đề
kinh tế, thì một trong những văn phòng hay nhân vật trong những phân bộ của
giáo phận liền biến mất, đó là văn phòng đại kết hay ủy ban đại kết.
Một điển hình khác đó là con người lãnh trách nhiệm đóng vai trò quan trọng
này có 3 việc làm khác cần phải thi hành hay không được sửa soạn hoặc huấn
luyện để thi hành công việc được trao phó cho họ.
Tôi nghĩ rằng chúng ta thực sự cần phải tự hỏi mình rằng chúng ta đã dấn thân
ra sao đối với trách nhiệm đại kết là những gì trọng yếu nơi sứ vụ và đời sống
của Chúa Giêsu và liên hệ mật thiết tới vai trò truyền giáo của Giáo Hội trên
thế giới. Chính sự sống của Phúc Âm lệ thuộc ở điều này!
Đức Gioan Phaolô II đã nhìn nhận điều này và đã dấn thân mình vào đường lối ấy
để nỗ lực theo chân của Chúa Kitô. Chúng ta cần hỏi rằng những người khác cũng
làm như vậy hay chăng? Phải chăng đây là quyết tâm mà chúng ta, tất cả mọi
Kitô hữu, đã thực hiện khi lãnh nhận bí tích rửa tội?
Nhiều người tuyên bố rằng mình trung thành với huấn quyền của Đức Gioan Phaolô
II, nhưng họ đã thực sự thi hành tất cả những điều ngài giáo huấn hay chăng?
Đó là câu hỏi thực sự mà người Công giáo chúng ta cần phải suy nghĩ trong Tuần
Lễ Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo này.
Vấn: Phải chăng mối liên hệ với Chính Thống giáo trở nên dễ dàng hơn, vào giai đoạn đặc biệt này?
Đáp: Tôi không phải là chuyên viên về các mối liên hệ với Chính Thống giáo. Tôi chỉ có thể nói rằng khi chúng ta nói về Chính Thống giáo chúng ta tổng quát hóa, giống như lúc người khác nói về Công giáo vậy.
Tôi tin rằng nó tùy thuộc loại Chính Thống giáo nào quí vị đang nói tới. Tôi tin rằng chúng ta có thể thấy được một sự tiến bộ nào đó nơi mối liên hệ với một số Chính Thống giáo này và không nhiều với Chính Thống giáo kia.
Ở một khía cạnh nào đó, chúng ta cần phải chấp nhận một số điều trách móc, thế nhưng chúng ta không thể để cho mình bị quấy rầy.
Lầm lỗi là ở chỗ trong một số quốc gia thực sự xẩy ra việc các vị giám mục của chúng ta đã không ngăn chặn một số nhóm hội và phong trào Công giáo quá nhiệt thành đừng “tiến vào vùng” Chính Thống và coi họ thậm chí như không phải là Kitô hữu. Có những thứ lạm dụng chúng ta cần phải nhìn nhận và chịu trách nhiệm.
Đồng thời cũng có những trường hợp thực sự quan tâm Kitô giáo một cách chính đáng cùng hợp tác với Chính Thống trong nỗ lực cả hai muốn phục hồi những hậu quả gây ra bởi các chế độ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa là những gì đã buộc họ phải sống qua một thời gian dài như thế.
Trừ khi chúng ta nghiệm được điều ấy, tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể tưởng tượng thấy được những hậu quả tàn hại này gây ra cho văn hóa, cho tâm lý quần chúng cũng như cho những đường lối tự vệ của họ.
Khi xẩy ra một số phản ứng từ một số người Chính Thống, thường là các vị lãnh đạo Giáo Hội, các đan sĩ và giáo sĩ, thì không có nghĩa là tất cả mọi người Chính Thống, ở mọi quốc gia theo Chính Thống, đều có cùng những cảm giác và phản ứng đối với Kitô hữu Tây phương, cách riêng với Công giáo.
Về vấn đề các
Giáo Hội Chính Thống hiệp thông với Rôma, thực sự hay nhất là một người nào đó
cứu xét đến vấn đề này, một vấn đề phức tạp, về thần học, lịch sử cũng như địa
lý, bởi những cuộc hiệp nhất ấy không xẩy ra với cùng một lý do ở mỗi trường hợp
và ở từng nơi.
Vấn:
Phải chăng sứ điệp của vị sáng lập Tuần Lễ Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo này
vẫn còn hiệu lực? Tại sao?
Đáp: Sứ điệp nguyên thủy của cha Paul Watson cho Tuần Lễ Nguyện Cầu này, sứ điệp được gọi là Tông Tòa của Tuần Hiệp Nhất do ngài bắt đầu vào năm 1908, vẫn còn công hiệu cho đến ngày nay.
Vấn đề ở đây là sứ điệp nguyên thủy ấy đã được biến đổi khi nó được Giáo Hội chấp nhận và sau đó nới rộng cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo, vì không có một khoa giáo hội học nào đang diễn ra, ít là không phải là “khoa giáo hội học về hiệp thông” như được Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc đến.
Cha Paul đã nguyện cầu cho tất cả mọi giáo hội được hiệp nhất chung quanh Ngai Tòa Thánh Phêrô, chứ không phải lụy phục Ngai Tòa Thánh Phêrô mà là chung quanh ngai tòa này.
Hiển nhiên nhãn quan này phát xuất từ Phong Trào Oxford là phong trào làm sống lại khoa giáo hội học của Giáo Hội sơ khai, một khoa giáo hội hiệp thông. “Hiệp nhất nhưng không mất hút” là công thức của những Cuộc Đàm Luận Malines. Đó là sứ điệp nguyên thủy.
Tôi tin rằng quan điểm của chúng ta ngày nay, cho dù có được trình bày với những ngôn từ khác nhau, thì cũng như nhau thôi, không nhiều thì ít. Tất cả chúng ta đều tin rằng chúng ta cần thuộc về một mối hiệp thông Thánh Thể duy nhất, hay “koinonia”; đó là mục tiêu của việc tìm cầu mối hiệp nhất Kitô giáo. Làm sao để việc này có thể xẩy ra tùy thuộc vào cách thức được Thần Linh tác động chúng ta và tỏ cho chúng ta thấy đường lối chúng ta cần phải dấn thân thực hiện.
Hiệp nhất thực sự là một tặng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi và là cách thức hiện hữu của Ba Ngôi Thiên Chúa mà theo hình ảnh này chúng ta đã được dựng nên.
Việc chúng ta nguyện cầu trước hết là để sửa soạn cho chúng ta thấy được tặng ân này khi nó được ban cho chúng ta, rồi chộp lấy cơ hội được cống hiến ấy mà chấp nhận tặng ân để được nó biến đổi.
Nói cách khác, như Thánh Phanxicô Assisi, chúng ta sẽ được chính tình yêu sốt mến thần thiêng đệ nhất đẳng của Thiên Chúa biến đổi. Cuộc biến đổi này là tình trạng lột bỏ của mỗi một người trong chúng ta, cá nhân cũng như giáo hội, một tình trạng lột bỏ sẽ xẩy ra.
Nếu chúng ta tin rằng chính bởi Thần Linh và Thần Linh là Thần Chân Lý, thì chúng ta sẽ tuân hợp với chính Chân Lý đó là mối hiệp nhất của Thiên Chúa nơi tính cách khác biệt thiết yếu của Ngài.
Thật vậy, đây là điều khó thấu hiểu đối với tâm trí của chúng ta, vì nó là chính mầu nhiệm lòng chúng t among ước.
Chúng ta sẽ không hoàn toàn thấu triệt được mầu nhiệm này cho đến khi chúng ta được mặc lấy hay đúng hơn được chiếm đoạt bởi chính mầu nhiệm ấy để tính cách khác biệt của chúng ta được trở thành một trong ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, dịch từ tài liệu của
Zenit ngày 25/1/2005
1. Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo đang được cử hành trong tuần này, một tuần sẽ được kết thúc ở Rôma, bình thường, với việc cử hành phụng vụ giờ kinh tối, vào ngày 25/1, ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành. Tôi sẽ liên kết cách thiêng liêng với buổi phụng vụ này, buổi phụng vụ có mặt của đại diện các Giáo Hội và niềm tin Kitô giáo khác và sẽ được chủ sự bởi ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo.
2. Tôi mời các cộng đồng Kitô hữu hãy sống thiết tha hơn với biến cố thiêng liêng hằng năm này, một biến cố chúng ta được tiên hưởng, ở một nghĩa nào đó, niềm vui của mối hiệp thông trọn vẹn, ít là nơi ước muốn, và việc đồng tâm nhất trí kêu cầu. Thật vậy, chưa bao giờ người ta ý thức rõ ràng rằng hiệp nhất, trước hết, là một tặng ân của Thiên Chúa cần phải được liên lỉ nài xin một cách khiêm tốn và chân thật.
3. Xin Đức Maria Rất Thánh, Mẹ của Giáo Hội, giúp chúng ta thắng vượt hết mọi trở ngại để chiếm được tặng ân này sớm bao nhiêu có thể. Với tất cả tâm hồn, tôi khuyến dụ tất cả mọi tín hữu, nhất là giới trẻ, hãy kéo dài quyết tâm đại kết trong suốt cả năm và làm cho mình trở thành những dụng cụ và chứng từ ở hết mọi nơi về mối hiệp thông trọn vẹn được Chúa Kitô gợi lên ở nhà tiệc ly.
Huấn Từ Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần 19/1/2005 về Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô giáo
1. Hôm qua là ngày bắt đầu Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô giáo. Đây là những ngày
hết sức thuận lợi để suy nghĩ và nguyện cầu nhắc nhở Kitô hữu rằng việc phục
hồi mối hiệp nhất hoàn toàn nơi họ, theo ý muốn của Chúa Giêsu, là việc bao
gồm hết mọi người đã lãnh nhận bí tích rửa tội, cả những vị chủ chăn lẫn tín
hữu (x. "Unitatis Redintegratio," No. 5).
Tuần Lễ này diễn ra vào những tháng sau cuộc mừng kỷ niệm 40 năm ban hành sắc
lệnh “Unitatis Redintegratio” của Công Đồng Chung Vaticanô II, một bản văn
chính đã đặt Giáo Hội Công giáo vào một vị thế mạnh mẽ và cương quyết tiến
bước theo chiều hướng đại kết.
2. Năm nay, đề tài cho Tuần Lễ Hiệp Nhất này cho chúng ta thấy một sự thật
thiết yếu về tất cả việc dấn thân đại kết, tức Chúa Kitô là nền tảng của Giáo
Hội. Công Đồng Chung Vaticanô II đã mạnh mẽ khuyên giục chúng ta hãy thực hiện
việc nguyện cầu cho hiệp nhất như hồn sống của toàn thể phong trào đại kết (x
"Unitatis Redintegratio," No. 8). Vì việc hòa giải Kitô hữu vượt quá “quyền
lực và khả năng” (ibid., 24) của họ mà việc nguyện cầu nói lên niềm hy vọng
không bẽ bàng ở chỗ tin tưởng vào Chúa là Đấng canh tân tất cả mọi sự (x Rm
5:5; Rev 21:5). Thế nhưng, việc cầu nguyện cũng cần phải được kèm theo bằng
việc thanh tẩy tâm trí, cảm xúc và ký ức nữa. Nhờ đó việc nguyện cầu mới thể
hiện một cuộc “hoán cải nội tâm”, một cuộc hoán cải nếu thiếu cũng chẳng có
đại kết thực sự (x ibid. 7). Tóm lại, hiệp nhất là một tặng ân của Thiên Chúa,
một tặng ân cần phải được liên lỉ nài xin bằng một tấm lòng khiêm nhượng và
chân thực.
3. Lòng mong ước hiệp nhất là những gì đang được lan tràn và đi vào chiều
sâu, chạm tới những môi trường mới và những khung cảnh mới, khơi dậy nhiệt
tình hoạt động, sáng kiến và suy tư. Gần đây Chúa đã cho thành phần môn đệ của
Người cơ hội để có thể tham dự vào những việc đối thoại và hợp tác với nhau
quan trọng. Niềm đau của vấn đề phân ly được cảm thấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết,
vì những thách đố trước một thế giới đang đợi chờ một thứ chứng từ phúc âm
rạng ngời và đồng tâm nhất trí nơi tất cả mọi tín hữu trong Chúa Kitô.
4. Như thường lệ, ở Rôma, Tuần Lễ này sẽ được kết thúc bằng việc cử hành
giờ kinh tối vào ngày 25/1 tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành. Tôi xin cám
ơn ĐHY Walter Kasper là vị sẽ thay tôi trong cuộc gặp gỡ phụng vụ này, một
cuộc gặp gỡ với sự góp mặt của đại diện thuộc các Giáo Hội và niềm tin Kitô
giáo khác. Tôi sẽ liên kết về tinh thần vào buổi gặp gỡ nguyện cầu này, đồng
thời cũng xin anh chị em hãy nguyện cầu để toàn thể gia đình tín hữu chúng ta
được đạt đến mối hiệp nhất trọn vẹn như Chúa Kitô mong muốn sớm bao nhiêu có
thể.
Anh Chị Em thân mến,
Hôm qua, Giáo Hội đã bắt đầu Tuần Lễ Nguyện Cầu cho Hiệp Nhất Kitô Giáo của
mình, một tuần lễ được giành để suy nghĩ và nguyện cầu cho việc tất cả mọi
người đã lãnh nhận phép rửa cần phải phục hồi mối hiệp nhất Kitô giáo trọn vẹn
theo ước muốn của Chúa Kitô. Đề tài năm nay là “Chúa Kitô, Nền Tảng Duy Nhất
của Giáo Hội”. Chớ gì những lời nguyện cầu của chúng ta được kèm theo bởi việc
thanh tẩy tâm trí, một việc “hoán cải nội tâm” mà nếu không có cũng chẳng có
vấn đề đại kết chân thực.