Bản Tuyên Ngôn Chung giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và Đức Tổng Giám Mục Rowan Williams
Phỏng vấn Đức giám mục Hilarion Alfeyev về Việc đối thoại giữa Công giáo và Chính thống giáo
Giáo Phái Methodist Thế Giới chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa được Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới kư nhận với Giáo Hội Công Giáo năm 1999
Ṭa Thánh Công Giáo Rôma với Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo Về Vấn Đề Tấn Phong Giám Mục Cho Nữ Giới
“Chúng ta nhận thấy có nhiều tiến bộ nơi lănh vực đại kết, song chúng ta vẫn luôn mong đợi hơn thế nữa”
Công Giáo và Chính Thống bàn đến Hồn Sống của Âu Châu và Cuộc Khủng Hoảng về Văn Hóa
Nguyên Văn Thư trao đổi giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và Đức Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexy II
Trao Đổi Văn Thư giữa Giáo Hoàng Biển Đức XVI và Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexis II
Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Nhóm Linh Mục và Chủng Sinh Chính Thống Hy Lạp 27/2
Ṭa Thánh Vatican Trao Tặng Hài Tích Thánh Anrê cho Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp 27/2
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Hội Nghị của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội
Những Mầm Mống Đại Kết Nẩy Nở ở Nga – Nhiều Biến Cố Đại Kết Diễn Tiến
Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống: Cuộc Đối Thoại Đại Kết tái diễn ... lạc quan
Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm từ ngày 18 tới 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại
"Là mục tử của gia đ́nh Kitô hữu, hai chúng ta đều gánh vác một công việc, đó là trở thành những cổ vơ viên ḥa giải, công lư và cảm thương trên thế giới này"
Đức Tổng Giám Mục Giáo Chủ Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo Rowan Williams ngỏ lời cùng Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngày 23/11/2006
Trọng kính Đức Thánh Cha,
Tôi hết sức hân hoan để có thể chào kính ngài tại thành phố này, một thành phố đă được thánh hóa từ những ngày đầu tiên của kỷ nguyên Kitô Giáo, nhờ thừa tác vụ của hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, và là một thành phố được rất nhiều vị tiền nhiệm của ngài cống hiến chứng từ cao cả cho Phúc Âm có quyền năng biến đổi của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Từ đầu của thừa tác vụ của ḿnh với vai tṛ làm Tổng Giám Mục ở Canterbury, tôi đă được viếng thăm vị tiền nhiệm rất yếu dấu và khả kính của ngài là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và mang đến cho vị giáo hoàng này lời chào kính của gia đ́nh chư giáo hội Anh Giáo toàn cầu có khoảng 80 triệu Kitô hữu. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă đánh động nhiều người trên khắp thế giới qua việc vị giáo hoàng này dấn thân cho Chúa Kitô, và như ngài biết, đă chiếm được một chỗ đặc biệt trong tâm can của nhiều người ở cả bên ngoài Giáo Hội Công Giáo Rôma nữa, nhờ niềm cảm thương và đức kiên tŕ đối với tất cả mọi người nơi thừa tác vụ của vị giáo hoàng này.
Trong lần gặp gỡ nhau đây, chúng ta cũng nhắc lại và mừng kỷ niệm 40 năm cuộc viếng thăm Đức Giáo Hoàng Phaolô VI 40 năm trước của vị tiền nhiệm tôi là Đức Tổng Giám Mục Michael Ramsey, một cuộc gặp gỡ giữa hai vị lănh đạo Giáo Hội Anh Giáo và Công Giáo Rôma đă mở màn cho tiến tŕnh ḥa giải và thân hữu là những ǵ đă được tiếp tục cho tới ngày hôm nay. Chiếc nhẫn tôi đang mang hôm nay đây là chiếc nhẫn thuộc hàng giáo phẩm do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tặng cho Đức Tổng Giám Mục Michael, cây thánh giá này là tặng vật của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, biểu hiệu cho việc chúng ta cùng nhau dấn thân hoạt động thực hiện mối hiệp nhất hữu h́nh trọn vẹn của gia đ́nh Kitô Giáo.
Chính trong cùng tinh thần huynh đệ ấy mà tôi thực hiện cuộc viếng thăm này, v́ cuộc hành tŕnh thân hữu được các vị khởi đầu là một cuộc hành tŕnh tôi tin rằng chúng ta cần phải cùng nhau tiếp tục. Tôi cảm thấy phấn khởi trước cách thức ngài tỏ ra, ngay từ khi bắt đầu thừa tác vụ làm Giám Mục Rôma của ḿnh, đă nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vấn đề đại kết nơi thừa tác vụ của ngài. Nếu muốn Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô được hoàn toàn rao giảng cho một thế giới khẩn trương, th́ yếu tố trọng yếu nơi chứng từ của chúng ta đó là việc tất cả mọi Kitô hữu biết ḥa giải trong chân lư và yêu thương.
Tôi nói đến việc làm chứng và phục vụ chung này, với ư thức là con đường tiến đến mối hiệp nhất không phải là con đường dễ dàng, và những cuộc tranh căi về cách thức chúng ta làm thế nào có thể áp dụng Phúc Âm vào những thách đố khó khăn gây ra bởi xă hội tân tiến thường làm lu mờ đi hay thậm chí đe dọa tới cả những thành đạt trong việc đối thoại. Trong thế giới tân tiến này, không một phần nào thuộc gia đ́nh Kitô Giáo tác hành mà lại không gây ảnh hưởng sâu xa tới đồng đạo đại kết của chúng ta; chỉ khi nào đâm rễ sâu xa vào t́nh thân hữu với Chúa Kitô mới giúp chung ta có thể chân thành nói chuyện với nhau về những thứ khó khăn ấy, cũng như có thể nhận ra được một đường lối để làm sao biết hoàn toàn trung thành với trách nhiệm được ủy thác cho chúng ta là thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Bởi thế, tôi đến đây hôm nay là để mừng mối thân hữu đang diễn tiến giữa Kitô hữu Anh Giáo và Kitô hữu Công Giáo Rôma, nhưng cũng để lắng nghe và biết được những mối quan tâm ngài muốn chia sẻ với tôi.
Tuy nhiên, là mục tử của gia đ́nh Kitô hữu, hai chúng ta đều gánh vác một công việc, đó là trở thành những cổ vơ viên ḥa giải, công lư và cảm thương trên thế giới này – trở thành những vị khâm sứ của Chúa Kitô – và tôi tin rằng cuộc chân t́nh trao đổi những mối quan tâm của chúng ta sẽ không làm lu mờ đi những ǵ chúng ta có thể cùng nhau xác quyết và loan báo – đó là niềm hy vọng cứu độ và việc chữa lành trong Ân Sủng và Yêu Thương của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Chúa Kitô.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 23/11/2006
"Tôi hy vọng rằng cuộc viếng thăm của anh chị em sẽ giúp vào việc anh chị em t́m kiếm những đường lối xây dựng tiến lên trong những hoàn cảnh hiện tại".
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đáp từ Đức Tổng Giám Mục Giáo Chủ Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo Rowan Williams ngày 23/11/2006
Thưa Đức Tổng Giám Mục,
Các bạn thân mến,
Nguyện chúc anh chị em ân sủng và b́nh an trong Chúa Giêsu Kitô! Việc anh chị em viếng thăm nơi đây hôm nay gợi lên truyền thống quan trọng được các vị tiền nhiệm của tôi thiết lập trong những thập niên mới đây. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về một lịch sử liên hệ lâu dài hơn giữa Ṭa Thánh Rôma và Ṭa Thánh Canterbury, một ṭa thánh được bắt đầu hiện hữu khi Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả sai Thánh Âu Quốc Tinh đến mảnh đất Anglo-Saxons trên 1400 năm trước đây. Hôm nay tôi hân hoàn tiếp đón ngài và phái đoàn đại biểu đi hộ tống ngài. Đây không phải là cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng ta. Thật vậy, tôi lấy làm biết ơn về sự hiện diện của ngài, cũng như sự hiện diện của các đại diện khác thuộc Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, có mặt trong lễ an táng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, rồi sau đó tại buổi lễ đăng quang giáo triều của tôi một năm rưỡi trước đây.
Việc anh chị em viếng thăm Ṭa Thánh này trùng với dịp mừng kỷ niệm 40 năm cuộc viếng thăm Đức Giáo Hoàng Phaolô VI của Đức Tổng Giám Mục ở Canterbury bấy giờ là Tiến Sĩ Michael Ramsey. Nó là một cuộc viếng thăm đầy hứa hẹn lớn lao, khi Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo bắt đầu những bước tiến tới việc khởi xướng một cuộc đối thoại về những vấn đề cần được giải quyết trong việc t́m kiếm mối hiệp nhất hữu h́nh trọn vẹn.
Chúng ta cần phải dâng lời tạ ơn về nhiều mối liên hệ của chúng ta trên 40 năm qua. Công việc của ủy ban đối thoại về thần học đă từng là nguồn mạch phấn khởi, khi các vấn đề về tín lư vẫn chia cách chúng ta trong quá khứ đă được nói lên. Mối thân hữu và các liên hệ tốt đẹp diễn tiến ở nhiều nơi giữa Kitô hữu Anh Giáo và Kitô hữu Công Giáo đă góp phần tạo nên một môi trường mới để nuôi dưỡng và tiến triển việc chúng ta cùng nhau làm chứng cho Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô. Những cuộc viếng thăm Ṭa Thánh này của những vị Tổng Giám Mục ở Canterbury đă giúp vào việc củng cố những mối liên hệ ấy và đă đóng một vai tṛ quan trọng trong việc giải quyết những trở ngại làm cách ngăn chúng ta. Truyền thống này đă làm nẩy sinh một cuộc gặp gỡ xây dựng giữa các vị giám mục Anh Giáo và Công Giáo ở Mississauga, Canada, vào tháng Năm 2000, một cuộc gặp gỡ đă tiến tối chỗ đồng ḷng thành lập một ủy ban hỗn hợp các vị giám mục để nhận thức những đường lối thích hợp trong việc thể hiện trong đời sống giáo hội mức tiến bộ đă đạt được. Chúng ta hăy dâng lời cảm tạ Thiên Chúa về tất cả những điều ấy.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, và nhất là trong một thế giới Tây phương bị tục hóa này, thành phần Kitô hữu và các cộng đồng Kitô Giáo đang bị chi phối rất nhiều bởi những ảnh hưởng và áp đảo tiêu cực. Trên 3 năm qua, ngài đă công khai nói về những trạng thái căng thẳng và những khó khăn cứ ám ảnh Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, gây ra t́nh trạng bất định cho tương lai của chung Cộng Đồng Hiệp Thông này. Những diễn tiến mới đây, đặc biệt liên quan tới vấn đề thừa tác vụ thánh chức và một số giáo huấn về luân lư, đă chi phối chẳng những các mối liện hệ nội bộ của Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo mà c̣n cả các mối liên hệ giữa Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo nữa. Chúng tôi tin rằng những vấn đề này, những vấn đề đang được bàn luận trong Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, là những ǵ hết sức hệ trọng cho việc rao giảng Phúc Âm một cách trọn vẹn, và những cuộc bàn luận hiện nay của chúng ta sẽ là những ǵ h́nh thành tương lai cho các mối liên hệ của chúng ta. Hy vọng rằng công cuộc đối thoại về thần học, một công cuộc chưa ghi được một mức độ thỏa thuận nhỏ nhoi về những vần đề thần học quan trọng nào, sẽ được tiếp tục thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo nhận thức của anh chị em. Chúng tôi hỗ trợ anh chị em bằng lời nguyện cầu thiết tha cho những cuộc bàn luận ấy. Chúng tôi hy vọng rằng Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo sẽ măi vững vàng với các Phúc Âm và Truyền Thống Tông Đồ là những ǵ làm nên gia sản chung của chúng ta và là nền tảng cho ước vọng chung của chúng ta trong việc hoạt động cho mối hiệp nhất hữu h́nh trọn vẹn.
Thế giới cần đến chứng từ của chúng ta và sức mạnh xuất phát từ một việc hiệp nhất loan truyền Phúc Âm. Những nỗi khổ đau lớn lao của gia đ́nh nhân loại và những h́nh thức bất công ảnh hưởng ngược chiều tới đời sống của rất nhiều người là những ǵ trở thành khẩn thiết cần đến chứng từ và việc phục vụ chung của chúng ta. Chính v́ lư do này, và cho dù giữa những khó khăn hiện tại, chúng ta cần phải tiếp tục việc đối thoại về thần học của chúng ta. Tôi hy vọng rằng cuộc viếng thăm của anh chị em sẽ giúp vào việc anh chị em t́m kiếm những đường lối xây dựng tiến lên trong những hoàn cảnh hiện tại.
Xin Thiên Chúa tiếp tục chúc lành cho anh chị em và gia đ́nh anh chị em, và xin Ngài kiên cường anh chị em trong thừa tác vụ của anh chị em đối với Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/11/2006
"Vấn đề đại kết đích thực là những ǵ vượt ra ngoài việc đối thoại về thần học; nó chạm tới đời sống thiêng liêng của chúng ta và việc chúng ta cùng làm chứng nhân".
Bản Tuyên Ngôn Chung giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và Đức Tổng Giám Mục Rowan Williams
Bốn mươi năm trước đây, các vị tiền nhiệm của chúng tôi là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Tổng Giám Mục Michael Ramsey đă gặp nhau ở thành phố này, một thành phố được thánh hóa nhờ thừa tác vụ và máu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các vị đă bắt đầu một cuộc hành tŕnh mới cho việc ḥa giải theo các Phúc Âm và những truyền thống chung cổ xưa. Những thế kỷ lạnh lùng giữa Kitô hữu Anh Giáo và Kitô hữu Công Giáo đă được thay thế bằng một niềm ước vọng mới thân t́nh và hợp tác, như một mối hiệp thông thực sự song bất toàn nơi chúng ta được tái nhận thức và xác định. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Tổng Giám Mục Ramsey bấy giờ đă thực hiện việc thiết lập một cuộc đối thoại để giải quyết những vấn đề từng gây chia rẽ trong quá khứ theo quan điểm mới trong chân lư và yêu thương.
Từ cuộc gặp gỡ ấy, Giáo Hội Công Giáo Rôma và Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo đă tiến tới một tiến tŕnh đối thoại tốt đẹp, một cuộc đối thoại được đánh dấu bằng việc khám phá ra những yếu tố quan trọng của cùng một niềm tin, cùng với ước muốn, nhờ việc cùng nhau cầu nguyện, bày tỏ việc làm chứng và phục vụ là những ǵ chúng ta đều thực hiện. Trên 35 năm qua, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican-Roman Catholic International Commission) đă phổ biến một số những văn kiện quan trọng là những ǵ t́m cách bày tỏ niềm tin chung của chúng ta. Trong ṿng 10 năm, kể từ Bản Tuyên Ngôn Chung mới nhất được kư kết giữa Vị Giáo Hoàng này và Đức Tổng Giám Mục ở Canterbury, giai đoạn thứ hai của cơ cấu ARCIC đă hoàn thành trách vụ của ḿnh, với việc phổ biến các văn kiện “Tặng Ân về Thẩm Quyền” (1999) và “Mẹ Maria: Ân Sủng và Niềm Hy Vọng trong Chúa Kitô” (2005). Chúng ta lấy làm biết ơn các thần học gia đă nguyện cầu và cùng nhau làm việc để soạn dọn những bản văn ấy, những bản văn đang đợi chờ để được học hỏi và suy tư sâu xa hơn.
Vấn đề đại kết đích thực là những ǵ vượt ra ngoài việc đối thoại về thần học; nó chạm tới đời sống thiêng liêng của chúng ta và việc chúng ta cùng làm chứng nhân. Khi cuộc đối thoại với nhau được diễn tiến th́ nhiều Kitô hữu Công Giáo và Kitô hữu Anh Giáo đă t́m thấy nơi nhau một ḷng mến yêu Chúa Kitô là Đấng mời gọi chúng ta tham dự vào việc hợp tác và phục vụ cụ thể. Việc hiệp thông phục vụ Chúa Kitô ấy, việc hiệp thông được nhiều cộng đồng của chúng ta trên khắp thế giới cảm nghiệm thấy, là những ǵ đẩy mạnh mối liên hệ của chúng ta. Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma về Hiệp Nhất và Truyền Giáo (IARCCUM: International Anglican-Roman Catholic Commission for Unity and Mission) đă dấn thân vào việc khám phá ra những đường lối thích hợp để sứ vụ chung của chúng ta trong việc loan truyền sự sống mới trong Chúa Kitô cho thế giới có thể được tiến triển và nuôi dưỡng. Bản tường tŕnh của họ, một bản tường tŕnh cho thấy phần tóm lược về những kết luận chính yếu của ARCIC và đề ra những ư kiến cho việc cùng nhau phát triển về việc truyền giáo và làm chứng, mới đây đă được hoàn thành và đệ tŕnh cho Văn Pḥng Hiệp Thông Anh Giáo và Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo duyệt xét, và chúng ta bày tỏ niềm tri ân cảm tạ của chúng ta đối với công việc họ làm.
Trong cuộc viếng thăm huynh đệ này, chúng ta mừng sự thiện gặt hái được từ 4 thập niên đối thoại. Chúng ta cám ơn Thiên Chúa về những ân ban cho những thập niên này. Đồng thời cuộc chúng ta cùng nhau hành tŕnh dài lâu làm cho chúng ta cũng cần phải công khai nh́n nhận cái thách đố nơi những diễn tiến mới, những diễn tiến mà, ngoài t́nh trạng chia rẽ đối với Kitô hữu Anh Giáo, c̣n gây ra những trở ngại trầm trọng cho việc tiến bộ về đại kết của chúng ta nữa. Bởi thế, đây là một vấn đề khẩn trương mà, trong việc canh tân quyết tâm của chúng ta theo đuổi con đường tiến tới mối hiệp nhất hữu h́nh trọn vẹn trong chân lư và t́nh yêu Chúa Kitô, chúng ta cũng phải quyết tâm tiếp tục đối thoại, để giải quyết những vấn đề quan trọng liên quan tới những yếu tố đang được khơi lên về giáo hội học và đạo lư học, những ǵ làm cho cuộc hành tŕnh này càng trở nên khó khăn và gian nan hơn.
Là những nhà lănh đạo Kitô Giáo đang phải đối diện với những thách đố của ngàn năm mới, chúng tôi, một lần nữa, xin khẳng định việc chúng tôi dấn thân chung cho việc tỏ hiện sự sống thần linh được Thiên Chúa thể hiện nơi thần tính và nhân tính của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Chúng tôi tin rằng chính nhờ Chúa Kitô cùng với phương tiện cứu độ ở nơi Người mà việc chữa lành và ḥa giải được cống hiến cho chúng ta và cho thế giới.
Có nhiều lănh vực làm chứng và phục vụ chúng ta có thể cùng nhau thực hiện, và là những ǵ thực sự cần đến việc hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa chúng ta, như việc theo đuổi ḥa b́nh ở Thánh Địa cũng như ở các phần đất khác trong một thế giới bị tương tàn bởi xung đột và đe dọa khủng bố; việc cổ vơ tôn trọng sự sống từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đời; việc bảo vệ tính chất linh thánh của hôn nhân và phúc hạnh của trẻ em trong môi trường đời sống gia đ́nh lành mạnh; việc tiến đến với thành phần nghèo khổ, b́ áp bức và dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là những ai bị bách hại v́ đức tin; việc nói lên những hậu quả tiêu cực của chủ nghĩa duy vật; và việc chăm sóc thiên nhiên tạo vật và môi trường sống của chúng ta. Chúng tôi cũng quyết tâm thực hiện việc đối thoại liên tôn để cùng nhau chúng tôi tiến tới với những người anh chị em ngoài Kitô Giáo của chúng tôi.
Tưởng nhớ đến 40 năm đối thoại của ḿnh, cũng như đến chứng từ của những con người nam nữ thánh đức chung cho truyền thống của ḿnh, bao gồm cả Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Thánh Biển Đức, Thánh Grêgôriô Cả, và Thánh Âu Quốc Tinh thành Cantebury, chúng tôi xin tự đoan hứa thực hiện việc cầu nguyện thiết tha hơn và nỗ lực dấn thân hơn trong việc đón nhận và sống chân lư được Thần Linh Chúa Kitô muốn dẫn dắt thành phần môn đệ của Người (x Jn 16:13). Tin tưởng bằng niềm hy vọng tông đồ ‘là Đấng đă bắt đầu công việc tốt lành của Ngài nơi anh chị em th́ cũng hoàn thành nó’ (x Phil 1:6), chúng tôi tin rằng nếu chúng tôi cùng nhau trở thành những dụng cụ của thiên Chúa trong việc kêu gọi tất cả mọi Kitô hữu tiến tới chỗ vâng phục Chúa Kitô sâu xa hơn, chúng tôi cũng sẽ xích lại gần nhau hơn, t́m thấy nơi ư muốn của Người tầm vóc viên trọn của mối hiệp nhất và cuộc sống chung là những ǵ chúng ta được mời gọi đạt tới vậy.
Tại
Vatican ngày 23/11/2006
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/11/2006
Phỏng vấn Đức giám mục Hilarion Alfeyev về Việc đối thoại giữa Công giáo và Chính thống giáo
Vienna, Austria, 6.11.2006 – Việc đối thoại giữa người Công giáo và Chính thống giáo có thể có hiệu quả, nhưng nhiều ngăn cản vẫn tồn tại trên con đường đi đến sự hiệp thông Thánh thể; đó là ư kiến của một giám chức lănh đạo.
Đức giám mục Hilarion Alfeyev của Vienna và Áo quốc, đại diện Giáo hội Chính thống giáo Nga với các Giáo hội Âu châu, đă đưa ra ư kiến trong một cuộc phỏng vấn về cuộc thăm viếng Thổ nhỉ kỳ sắp tới của Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI, cũng như các đề tài khác.
Hỏi: Sắp tới đây, Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI sẽ đến thăm Thổ nhỉ kỳ, bởi v́ ngài muốn tăng cường mối quan hệ giữa Roma và Constantinople. Đối với việc đối thoại giữa Chính thống giáo và Công giáo th́ cuộc thăm viếng này mang ư nghĩa ǵ?
ĐGM Alfeyev: Hy vọng rằng cuộc thăm viếng này sẽ làm cho mối quan hệ giữa hai Giáo hội Roma và Constantinople tốt hơn. Hai giáo hội này đă cắt đứt hiệp thông với nhau vào năm 1054, v́ thế hai bên đặc biệt có trách nhiệm phục hồi sự liên kết.
Nói về ảnh hưởng có thể xảy ra từ cuộc họp đối với mối quan hệ tổng quát giữa Chính thống giáo và Công giáo th́ chúng ta nên nhớ rằng Giáo hội Chính thống giáo, trên phương diện cơ cấu, rất khác biệt Giáo hội Công giáo Roma.
Giáo hội Chính thống giáo không có một giáo chủ duy nhất, nhưng bao gồm 15 giáo hội độc lập, mỗi giáo hội có một thượng phụ, tổng giám mục, hay trưởng giáo chủ riêng.
Trong gia đ́nh Giáo hội này, thượng phụ của Contantinople là “primus inter pares”, nhưng sự tối thượng quyền này chỉ mang tính danh dự, chứ không phải quyền hạn, bởi v́ ngài không có thẩm quyền đối với các Giáo hội khác. V́ thế, khi người ta cho rằng ngài là “trưởng” của Giáo hội Chính thống giáo trên toàn thế giới, đây là một điều lệch lạc. Sự lệch lạch cũng tương tự khi cuộc họp giữa ngài với ĐGH của Roma được xem là cuộc họp giữa hai vị lănh đạo tối cao của hai Giáo hội Chính thống giáo và Công giáo.
Về lịch sử, cho đến khi sự chia rẻ vào năm 1054, th́ ĐGM của Roma là người có vị trí tối thượng quyền trên các Giáo hội Kitô giáo. Bộ giáo luật của Giáo hội Đông phương, đặc biệt điều 28 nổi tiếng trong Công Đồng Chalcedon, quy vị trí thứ hai, chứ không phải thứ nhất, cho thượng phụ của Constantinople.
Ngoài ra, cở sở cho vị trí thứ hai của thượng phụ Constantinople hoàn toàn mang tính chính trị: Một khi Constantinople trở nên “Roma thứ hai”, thủ đô của Đế quốc Roma-Byzantine, vị giám mục của Constantinople được cho là nên giữ vị trí thứ hai sau vị giám mục của Roma.
Sau khi sự hiệp thông giữa Roma va Constantinople bị cắt đứt, tối thượng quyền của các giáo hội Đông phương được chuyển sang “người đứng thứ nh́”, đó là thượng phụ của Constantinople. V́ thế, do sự t́nh cờ lịch sử mà ngài trở nên “primus inter pares” đối với phía Đông của thế giới Kitô giáo.
Tôi tin rằng song song với những liên lạc với Thượng phụ của Constantinople, việc Giáo hội Công giáo phải phát triễn mối quan hệ song phương với các Giáo hội Chính thống khác, đặc biệt Giáo hội Chính thống Nga, không kém phần quan trọng. Giáo hội này là Giáo hội Kitô giáo lớn thứ nh́ trên thế giới có lượng tín hữu trên toàn cầu lên đến 160 triệu, họ rất muốn phát triễn mối quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực làm chứng Kitô giáo chung đối với xă hội trần tục hóa.
Hỏi: Ngài có nghĩ rằng chuyến đi này sẽ mở ra tầm nhận thức mới liên quan đến việc đối thoại giữa hai thế giới Kitô giáo và Hồi giáo?
ĐGM Alfeyev: Sự đối thoại giữa Kitô giáo và Hồi giáo là thiết yếu và cập thời. Rất đáng tiếc là một số nỗ lực của các vị lănh đạo Kitô giáo để khuyến khích sự đối thoại này đă bị một số đại diện của thế giới Hồi giáo hiểu lầm.
Cuộc tranh luận gần đây liên quan đến bài thuyết tŕnh mang tính học thuật của ĐGH Benedictô XVI tại Regensburg là một ví dụ rơ rệt về sự hiểu lầmđó. Sự phán ứng công kích từ một số chính trị gia Hồi giáo, cũng như nhiều tín hữu Hồi giáo, đă được một số người theo dơi cho là quá mức.
Có những nhà phân tích đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang đi tới một thế giới độc tài của tư tưởng Hồi giáo, mà mỗi nhận xét phê b́nh về đạo Hồi, thậm chí trong khuôn khổ bài thuyết tŕnh mang tính học thuật, đều bị phản đối một cách hung dữ và công kích, trong khi sự phê b́nh các tôn giáo khác, đặc biệt Kitô giáo, lại được phép và được khuyến khích?
Có lẽ tôi nên thêm lời rằng, một vài thần học gia trong Giáo hội Chính thống, ngay cả những người thường chỉ trích Giáo hội Công giáo Roma, đă bày tỏ sự ủng hộ đối với ĐGH Benedictô XVI khi cuộc tranh luận liên quan đến bài thuyết tŕnh tại Regensburg đă xảy ra. Họ cho rằng điều ngài tŕnh bày là quan trọng, mặc dầu quả thực, là hơi thiếu ăn khớp với các luật lệ ngầm trong vấn đề tế nhị chính trị.
Hỏi: ĐGH đă sa thải tước hiệu “Thượng phụ Giáo hội Tây phương”. Cử chỉ này mang ư nghĩa ǵ? Nó có mang ư nghĩa ǵ trong vấn đề liên tôn không?
ĐGM Alfeyev: Thực ra tôi là vị giáo phẩm đầu tiên đă b́nh luận về cử chỉ này. Vài tuần sau, những ư kiến chính thức đă được Hội nghị Thượng phụ của Constantinople đưa ra.
Trong lời b́nh luận của tôi, tôi cho rằng sự băi bỏ tước hiệu “Thượng phụ giáo hội Tây phương” sẽ có thể được Chính thống giáo xem như là sự khẳng định lập trường về quyền hạn hoàn toàn của Giáo hội, như được phản ảnh trong các danh hiệu khác của ĐGH.
Trong các tước hiệu của ĐGH, tước hiệu “Giám mục của Roma” là thích hợp nhất đối với các Giáo hội Chính thống, bởi v́ nó nói lên vai tṛ của ĐGH là giám mục giáo phận của thành phố Roma.
Tước hiệu như là “Tổng giám mục và Trưởng giáo chủ của Tỉnh Roma” cho thấy quyền hạn của ĐGH bao gồm không chỉ thành phố Roma, nhưng nguyên cả tỉnh này.
Tước hiệu “Giáo trưởng của Ư” có nghĩa vị Giám mục của Roma là “người đầu tiên trong những người ngang hàng” đối với các giám mục của Ư, có nghĩa, nói theo ngôn ngử Chính thống, ngài là giáo trưởng của một Giáo hội địa phương. Theo lối nhận thức này, trong ba tước hiệu này không có cái nào tạo nên vấn đề đối với Chính thống giáo trong trường hợp có sự tái thiết về sự hiệp thông Thánh thể giữa Đông và Tây.
Trở ngại chủ yếu đối với sự kết hợp giáo hội giữa Đông và Tây, theo nhiều thần học gia Chính thống, là giáo huấn về sự quyền hạn hoàn toàn của vị Giám mục của Roma. Điều không thể chấp nhận được và thậm chí gây phẫn nộ theo quan điểm của Chính thống giáo, là trong bối cảnh các tước hiệu được tồn tại như là Vị đại diện Đức Kitô, Vị thừa kế thủ lănh các tông đồ, Giám mục tối cao của Giáo hội hoàn vũ.
Theo giáo huấn Chính thống, Đức Kitô không có một “đại diện” thay mặt Ngài để cai quản Giáo hội hoàn vũ.
Tước hiệu “Vị thừa kế thủ lănh các tông đồ” nói về giáo thuyết của Công giáo Roma về vị trí tối thượng của thánh Phêrô, mà khi được trao lại cho vị Giám mục Roma, khẳng định quyền cai quản của ngài đối với Giáo hội hoàn vũ. Giáo huấn này đă bị các văn chương Chính thống phê b́nh và phản đối từ thời Byzantine trở về sau.
Tước hiệu “Giám mục tối cao” (Pontifex Maximus) nguyên thủy là thuộc về các hoàng đế ngoại đạo của Roma thời cổ đại. Khi Hoàng đế Constantine theo đạo Kitô giáo th́ ông đă không từ bỏ tước hiệu này.
Đối với vị Giáo hoàng của Roma, tước hiệu “Vị Giám mục tối cao của Giáo hội hoàn vũ” chỉ định sự quyền hạn hoàn toàn của ĐGH, đây là mức độ thẩm quyền không được các Giáo hội Chính thống công nhận. Đây chính là tước hiệu mà nên được sa thải trước tiên, nếu động cơ cho cử chỉ này là sự “tiến bộ liên tôn” và nguyện vọng cải thiện mối quan hệ Công giáo – Chính thống giáo.
Hỏi: ĐGH Benedictô XVI đang muốn t́m thấy sự “kết hợp hoàn toàn và rơ rệt” nơi mọi tín hữu Kitô giáo – sự kết hợp mà con người không thể “tạo nên”, nhưng có thể khuyến khích, qua sự biến đổi bản thân, qua các cử chỉ cụ thể và sự đối thoại cởi mởi về các đề tài căn bản. Trên cơ sở các đề tài nào mà Chính thống giáo và Công giáo có thể củng cố sự liên kết? Cách nào để chúng có thể được đưa vào hành động?
ĐGM Alfeyev: Trước tiên, tôi tin rằng chúng ta cần xác định một vài mức độ hợp tác và sau đó thực hành để đạt được sự thông hiểu tốt hơn ở mỗi mức độ.
Có mức độ liên quan đến các cuộc trao đổi thần học được Ủy ban chung Công giáo – Chính thống giáo thực hiện. Các cuộc trao đổi này đang và sẽ tập trung vào những khác biệt tính lư và giáo hội học giữa Giáo hội Công giáo Roma và Chính thống giáo.
Ở mức độ này tôi có thể dự đoán cần nhiều năm làm việc khó nhọc và cần cù, đặc biệt khi nói về vấn đề tối thượng quyền phổ quát. Những rắc rối sẽ xuất hiện không chỉ bởi có quan niệm về tối thượng quyền rất khác biệt giữa hai truyền thống Công giáo và Chính thống, nhưng đồng thời do thực trạng là không có một quan niệm thống nhất về tối thượng quyền phổ quát ngay trong giới Chính thống.
Sự thật này đă được thấy rơ trong lần họp gần đây của Ủy ban tại thành phố Belgrade, và sự bất đồng nội bộ trong các Giáo hội Chính thống về vấn đề này sẽ được biểu lộ cách gay gắc và nổi bật hơn trong tương lại. V́ thế, trước mặt là một con đường dài giẳng và gai góc.
Tuy nhiên, có một mức độ khác mà chúng ta có thể hướng tới, ở đây tôi không muốn nói về những ǵ chia rẻ nhưng là liên kết chúng ta. Cụ thể, đây là mức độ hợp tác trong lĩnh vực truyền giáo.
Cá nhân tôi tin rằng bây giờ c̣n hơi sớm và thiếu thực tế để kỳ vọng vào sự hồi phục hiệp thông Thánh thể hoàn toàn giữa Đông và Tây trong tương lai gần. Tuy nhiên, không có ǵ ngăn cản chúng ta là Công giáo và Chính thống, trong việc cùng nhau làm chứng về Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài cho thế giới ngày nay. Có thể chúng ta không thống nhất về hành chánh và giáo hội, nhưng chúng ta phải học hỏi để trở nên những người cùng chung phần và liên minh với nhau trước những thách đố chung: phong trào trần tục hóa cực đoan, thuyết tương đối, thuyết vô thần, hay đạo Hồi cực đoan.
Chính v́ lư do này mà từ khi ĐGH Benedictô XVI nhận chức, tôi đă liên tục kêu gọi việc cổ vũ sự liên kết giữa hai Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo bằng cách thiết lập một liên minh mang tính chiến lược nhằm bảo vệ các giá trị Kitô giáo ở Âu châu. Cả hai từ “chiến lược” và “liên minh” đến nay vẫn thường không được chấp nhận để diễn tả một sự hợp tác như thế này.
Tôi cũng muốn tránh các ngôn từ trực tiếp mang tính giáo hội như “hiệp nhất”, bởi v́ chúng sẽ gợi lên cho người Chính thống sự kiện Ferrara-Florence và các nỗ lực đáng tiếc khác để đạt được sự thống nhất giáo hội trong khi chưa có sự thỏa thuận về giáo thuyết.
Sự “hiệp nhất” giáo hội cũng như sự nhượng bộ về giáo thuyết một cách vội vả đều không cần thiết trong lúc này, nhưng chúng ta cần sự hợp tác “chiến lược”, có nghĩa là triển khai một chiến lược chung để đối phó với các thách đố của thời đại.
Lư luận phía sau đề xuất của tôi như thế này: Các giáo hội của chúng ta đang trên đường tiến tới sự hiệp nhất, nhưng ta phải thực tế và công nhận rằng điều này có lẽ sẽ cần nhiều thập kỷ, nếu không nói là thế kỷ, trước khi sự hiệp nhất được hồi phục.
Trong lúc đó chúng ta rất cần đối diện với thế giới với tiếng nói đoàn kết. Mặc dầu không phải là một Giáo hội, nhưng phải chăng chúng không thể hành động như là một Giáo hội? Phải chăng chúng ta không thể đứng trước xă hội thế tục như là một tổ chức đoàn kết?
Tôi thực sự tin rằng hai Giáo hội có thể có một tiếng nói; chúng ta có thể có một câu đáp Công giáo – Chính thống giáo thống nhất đối với các thách đố của pḥng trào trần tục hóa, phong trào phóng khoáng, và thuyết tương đối. Đồng thời trong việc đối thoại với Hồi giáo, người Công giáo và Chính thống giáo có thể hành động với nhau.
Tôi nên thêm vào, bất kể việc nối lại t́nh hữu nghị nào giữa người Công giáo và Chính thống giáo sẽ không bác bỏ những cơ chế hiện có trong việc hợp tác liên tôn mà bao gồm cả người Anh giáo và Tin Lành, ví dụ Hội đồng thế giới về Hiệp nhất Giáo hội và Hội đồng Giáo hội Châu âu.
Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh chống phong trào trần tục hóa, phong trào phóng khoáng và thuyết tương đối, cũng như trong nỗ lực bảo vệ các giá trị truyền thống Kitô giáo, Giáo hội Công giáo Roma có lập trường kiên cố hơn các phái Tin Lành. V́ thế, giáo hội tạo thêm khoảng cách với những người Tin Lành có lập trường ḥa hợp hơn với các phát triển hiện đại.
Sự mở rộng tự do gần đây về giáo thuyết và luân lư trong các cộng đồng Tin Lanh, cũng như trong Giáo hội Anh giáo, làm cho sự hợp tác giữa họ và các Giáo hội Truyền thống, trong đó có Giáo hội Công giáo Roma và Chính thống giáo, khó khăn hơn bao giờ hết.
C̣n thêm một mức độ hợp tác Công giáo – Chính thống giáo khác là giao lưu văn hóa giữa các đại diện của hai Giáo hội. Có nhiều sự hiểu lầm tồn tại giữa chúng ta có nguồn gốc mang tính hoàn toàn văn hóa.
Kiến thức tốt hơn về nguồn gốc văn hóa của nhau chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho việc nối lại t́nh hữu nghị. Các cuộc triễn lăm tượng ảnh, chương tŕnh ca nhạc hợp xướng, các dự án văn chương chung, các cuộc hội nghị về đề tài văn hóa – tất cả đều giúp chúng ta vượt qua những thành kiến kéo dài nhiều thế kỷ và giúp chúng ta thấu hiểu hơn về các truyền thống của nhau.
Hỏi: Trong lá thư gởi ĐGH ngày 22 tháng 2, vị thượng phụ của Moscow có đề cập đến một vài thách đố trong thế giới hiện đại nên được giải quyết chung, và nguyện vọng sâu xa của ngài là đưa các giá trị Kitô giáo trở lại với xă hội. Làm sao các sức lực có thể nối kết, để mối đe dọa của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa thực dụng, thuyết bất khả tri, phong trào trần tục hóa và thuyết tương đối bị chiến thắng?
ĐGM Alfeyev: Những câu hỏi này đă được nêu lên trong hội nghị “Mang đến cho Âu châu một linh hồn” diễn ra ở thành phố Vienna ngày 3-5 tháng 5, năm 2006. Hội nghị được đồng tổ chức bởi Ủy ban Giáo hoàng về Văn hóa và Bộ Giáo hội đối ngoại của Ṭa thượng phụ Moscow.
Khoảng 50 đại diện cho hai Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo Nga đă tụ họp để bàn thảo về các thách đố cho Kitô giáo tại Âu châu và để triển khai những phương cách hợp tác trong việc đối phó.
Chính chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa thực dụng, thuyết bất khả tri, phong trào trần tục hóa và thuyết tương đối, tất cả đều dựa trên tư tưởng nhân văn phóng khoáng, tạo nên sự thách đố đích thực cho Kitô giáo. Và chính tư tưởng nhân văn phóng khoáng này là cái mà chúng ta phải kháng cự lại nếu chúng ta muốn bảo toàn các giáo trị truyền thống cho chính chúng ta và cho các thế hệ tương lai.
Ngày nay tư tưởng nhân văn phóng khoảng Tây phương, đứng trên một bục riêng rẻ, tự tạo ra sự phổ quát, tự nó áp đặc ḿnh trên những người đă được nuôi dưỡng trong các truyền thống tâm linh và luân lư khác cũng như có các hệ thống giá trị khác. Những người này nhận thấy sự bức chế hoàn toàn của tư tưởng Tây phương là mối đe dọa đến bản sắc của họ.
Tính chất chống tôn giáo thấy rơ của chũ nghĩa nhân văn phóng khoáng hiện đại mang lại sự không chấp nhận và từ chối đối với những người có hành vi dựa trên tôn giáo và đời sống tâm linh được đặt nền tảng trên kinh nghiệm tôn giáo.
Có vài đối đáp tôn giáo khác nhau đối với các thách đố của chủ nghĩa tự do cực quyền và phong trào trần tục hóa cực đoan. Câu trả lời táo bạo nhất được thấy nơi những người Hồi giáo cực đoan, đă tuyên bố “jihad” đối với nền văn minh “hậu-Kitô giáo” Tây phương với tất cả những ǵ mà nó cho là giá trị chung của con người.
Chúng ta không thể hiểu được hiện tượng khủng bố Hồi giáo nếu chúng ta không thông hiểu phản ứng của thế giới Hồi giáo đương thời được gây nên bởi việc Tây phương t́m cách áp đặc tầm nh́n và các tiêu chuẩn hành vi của ḿnh trên họ.
Chừng nào thế giới trần tục hóa Tây phương c̣n tiếp tục đ̣i hỏi sự độc quyền trên toàn cầu về tầm nh́n, phổ biến các tiêu chuẩn của ḿnh như thể không có lựa chọn khác và bắt buộc đối với mọi quốc gia, chiếc gươm của Democles là nạn khủng bố sẽ tiếp tục ám ảnh toàn bộ nền văn ḿnh Tây phương.
Một cách đối đáp tôn giáo khác trước thách đố của phong trào trần tục hóa là nỗ lực đang diễn ra trong việc chính tôn giáo phải thích nghi, trong đó có cả các giáo thuyết và luân lư, với các tiêu chuẩn phóng khoáng hiện đại.
Một số cộng đồng Tin Lanh đă đi xuống con đường này bằng cách đưa các tiêu chuẩn phóng khoáng vào giáo lư và hành động trải dài vài thập kỷ. Kết cuộc của tiến tŕnh này là sự xói ṃn trong các nền tảng tín lư và luân lư Kitô giáo, với việc các tư tế được quyền biện hộ cho việc cử hành các “hôn phối đồng giới”, chính các thành viên trong hàng tư tế cũng thực hiện các mối quan hệ như thế, và các thần học gia viết lại Thánh Kinh và dựng lên vô số phiên bản của Kitô giáo mang tính tế nhị chính trị nhắm vào các giá trị phóng khoáng.
Cuối cùng, một cách thứ ba trong việc đối đáp tôn giáo trước phong trào trần tục hóa là nỗ lực bước vào cuộc đối thoại ôn ḥa và từ tốn với nó, nhằm đạt được sự quân b́nh giữa mô h́nh tự do dân chủ của cơ cấu xă hội Tây phương và với lối sống tôn giáo. Con đường này đă được chọn bởi các Giáo hội Kitô giáo vẫn trung thành với truyền thống, đó là Giáo hội Công giáo Roma và Chính thống giáo.
Ngày nay cả hai Giáo hội Công giáo và Chính thống đều có khả năng thực hiện cuộc đối thoại với xă hội trần tục ở một mức trí tuệ cao. Trong giáo thuyết xă hội của cả hai Giáo hội, các vấn đề liên quan đến đối thoại với chủ nghĩa nhân văn trần tục về những ǵ liên quan đến các giá trị đă được nghiên cứu từ mọi góc độ.
Giáo hội Công giáo đă đương đầu với các câu hỏi này trong nhiều văn kiện trong huấn quyền, gần đây nhất là bản Tóm tắt Giáo thuyết xă hội của Giáo hội, do Ủy ban Giáo hoàng về Công lư và Ḥa b́nh thực hiện và phát hành năm 2004.
Trong truyền thống Chính thống giáo, văn kiện quan trọng nhất liên quan đến vấn đề này là “Cở sở của Khái niệm xă hội của Giáo hội Chính thống” được phát hành năm 2000.
Cả hai văn kiện cổ vơ cho việc lấy các giá trị tôn giáo làm ưu tiên trên các nhu cầu đời sống trần tục. Trong việc phản đối chủ nghĩa nhân văn vô thần, các văn kiện ủng hộ một chũ nghĩa nhân văn được hướng dẫn bởi các giá trị tâm linh.
Đây có nghĩa là một chủ nghĩa nhân văn “đạt được tiêu chuẩn của chương tŕnh yêu thương của Thiên Chúa trong lịch sử”, một “chủ nghĩa nhân văn toàn bộ có thể tạo nên một trật tự xă hội, kinh tế, và chính trị, có nền tảng trên nhân phẩm và sự tự do của con người, được xây dựng trong ḥa b́nh, công lư và t́nh đoàn kết”.
So sánh hai văn kiện cho thấy những điểm tương đồng nổi bật trong giáo thuyết xă hội của Giáo hội Công giáo và Chính thống. Nếu nhận thức của chúng ta về các vấn đề xă hội quá tương đồng, th́ tại sao chúng ta không thể kết hợp sức lực để bảo vệ nó?
Tôi tin rằng đă đến lúc tất cả những người Kitô hữu đă chọn lối truyền thống, đặc biệt các người Công giáo và Chính thống, phải tạo nên một mặt trận để chiến đấu phong trào trần tục hóa và thuyết tương đối, để thực hiện cuộc đối thoại đứng đắn với Hồi giáo và các tôn giáo lớn khác trên thế giới, và để bảo vệ các giá trị Kitô giáo trước các thách đố của thời đại. Đợi 20, 30, hay 40 năm về sau th́ có thể quá trể.
Rev Antôn Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo Zenit 6+7/11/2006
Các vị lănh đạo Kitô giáo nêu ư kiến về vị trí của thành Giêrusalem
Giêrusalem, ngày 21.10.2006 – Sau đây là lời tuyên bố được phổ biến bởi các thượng phụ Kitô giáo chính và các vị lănh đạo tại vùng Đất Thánh đối với t́nh trạng của thành Giêrusalem.
Lời tuyên bố được phổ biến ngày 29.9.2006, sau khi cuộc chiến giữa hai nước Do Thái và Lebanon kết thúc vào mùa hè năm 2006, và nêu bật nhu cầu có một nỗ lực mang tính phối hợp hơn để xây dựng sự ḥa b́nh bền vững tại vùng Trung Đông, bắt đầu với thành Giêrusalem.
****
Thêm một lần nữa, chúng ta đă trải qua một thời điểm chất chứa đầy bạo lực và chết chóc trong cuộc chiến tại vùng nam Lebanon. Chúng ta vẫn phải đối diện với sự chết chóc và hủy hoại tại Gaza trầm trọng hơn nữa, đồng thời thêm sự bất an trong xă hội Do Thái. V́ thế, chúng tôi cho rằng đă đến lúc khẩn cấp trong việc khởi xướng một nỗ lực nghiêm túc từ tất cả các thành phần để đạt được một nền ḥa b́nh tuyệt đối và công bằng. Ngoài ra, chúng tôi tin rằng nền ḥa b́nh phải bắt đầu ở Thành Giêrusalem. V́ thế, chúng tôi tŕnh bày lời tuyên bố sau đây với niềm hy vọng rằng nó sẽ đóng góp một cách bé nhỏ cho việc nền ḥa b́nh được nảy sinh trên miền đất của chúng ta.
Năm 1994, chúng tôi là các thượng phụ và các lănh đạo của các Giáo hội Kitô giáo địa phương tại Giêrusalem, đă phổ biến một văn thư có tựa đề “Ư nghĩa của thành phố Gierusalem đối với người Kitô giáo”, mục đích để đặt nặng tính chất Kitô giáo nơi thành Gierusalem, và tầm quan trọng của sự hiện diện Kitô giáo ở đây.
Văn thư cũng đă đề cập đến vị trí chính trị đặc biệt phải được ban cho thành phố bởi tính thiêng liêng của thành phố này. Từ lúc đó, chúng tôi đă chứng kiến sự gia tăng trong xu hướng các thẩm quyền chính trị quyết định định mệnh của thành phố và giải nghĩa vị trí của thành phố một cách đơn phương. Khả năng các tín đồ và nhân sự của chúng tôi tham gia vào các vấn đề của thành phố trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
Do bức tường được xây lên nhiều tín đồ của chúng tôi bị loại ra khỏi các phường của thành phố, và theo các dự án được phổ biến trong báo chí địa phương, sẽ c̣n thêm rất nhiều người nữa sẽ bị loại trừ trong tương lai. Do bị các bức tường bao vây, thành phố Gierusalem sẽ không c̣n là nơi trung tâm và không c̣n là tâm điểm của đời sống, như đúng với vai tṛ của thành phố.
Chúng tôi cho rằng một phần trong trách nhiệm của chúng tôi là gây sự chú ư nơi chính quyền địa phương, cũng như cộng đồng quốc tế và các Giáo hội thế giới, đối với t́nh trạng rất nghiêm trọng hiện nay và kêu gọi một nỗ lực hợp tác để t́m ra một viễn tượng chung về địa vị của thành thánh dựa trên các quyết định quốc tế và có sự quan tâm đến các quyền lợi của hai dân tộc cư ngụ tại đây cũng như ba cộng đồng tôn giáo.
Trong thành này, nơi Thiên Chúa đă chọn để mạc khải với nhân loại và giải ḥa các dân tộc với chính Ngài và với nhau, chúng tôi lên tiếng khẳng định rằng đường lối được theo từ trước đến nay đă chưa mang lại sự ḥa b́nh cho thành này và đă chưa bảo đảm đời sống b́nh thường cho cư dân. V́ thế đường lối cần được thay đổi. Các lănh đạo chính trị phải t́m một đường hướng mới cũng như các phương tiện mới.
Trong chương tŕnh của Thiên Chúa, hai dân tộc và ba tôn giáo đă chung sống với nhau trong thành này. Viễn tượng của chúng tôi là họ nên tiếp tục chung sống trong sự ôn ḥa, tôn trọng, sự chấp nhận lẫn nhau, và sự hợp tác.
1. Thành Giêrusalem, thành thánh và là thành phố sinh sống cho hai dân tộc và ba tôn giáo.
Thành Gierusalem, di sản của nhân loại và thành phố thánh, cũng là nơi sinh sống của các cư dân, cả người Palestine lẫn người Do Thái, các tôn giáo Do Thái, Kitô giáo, và Hồi giáo, và tất cả những người có liên kết do mối quan hệ gia đ́nh cũng như những ai xem Gierusalem là nơi cầu nguyện, học tập, chữa bệnh và làm việc.
Đây không chỉ là nơi chất chứa những kư ức lịch sử hay những điểm hành hương, nhưng cũng là nơi sinh sống của các cộng đồng tín đồ, người Do Thái, Kitô giáo, và Hồi giáo, đây là thành phố quư mến và đặc biệt đối với các tín đồ của cả ba tôn giáo độc thần. Các nơi thánh và các cộng đồng con người không thể tách ĺa.
Thêm vào đó, cả tính cách linh thiêng của thành phố và các nhu cầu của các cư dân đă thu hút nhiều thể chế tôn giáo. Các tổ chức này đă được công nhận bởi các chính quyền nối tiếp suốt nhiều thế kỷ và đă dành được một số quyền lợi để họ có thể thực hiện các bổn phận tôn giáo, chính trị, và xă hội và để đáp ứng các như cầu tôn giáo, giáo dục, văn hóa và y tế.
Đối với các cộng đồng, đây là quyền lợi sở hữu, tự do điều hành những công việc cần thiết cho mục vụ của họ cũng như sự phát triển con người tổng quát – các nhà thờ, đan viện, trường học, bệnh viện, tổ chức xă hội, tổ chức thần học và thánh kinh, nơi cư trú cho các khách hành hương, v.v. Ngoài ra là quyền đưa nhân sự vào và tạo điều kiện để các tổ chức có thể hoạt động tốt đẹp.
2. Những điều kiện để có một giải pháp công bằng và bền vững đối với vấn đề thành Gierusalem
Tương lai của thành này phải được quyết định bằng một thỏa thuận chung, qua sự hợp tác và tham khảo, chứ không phải qua sự áp đặt quyền lực. Sự quyết định đơn phương hay một giải pháp được áp đặt sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến nền ḥa b́nh và an ninh.
Bức tường đang chia rẻ thành này ở nhiều điểm và loại trừ một số lớn người cư dân phải nhường chổ cho sự giáo dục nhằm gia tăng sự tin tưởng và đón nhận lẫn nhau.
Đối mặt với sự thiếu khả năng của các bên liên quan trong việc t́m ra một giải pháp công bằng và bền vững từ trước đến nay, sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế là thiết yếu. Đồng thời trong tương lai sự giúp đỡ cần được tiếp tục dưới h́nh thức các bảo đảm để duy tŕ sự ổn định của các thỏa thuận được hai bên kư kết.
Chúng tôi kêu gọi sự thiết lập càng sớm càng tốt một ủy ban đặc biệt để suy nghĩ về tương lai của thành này. Các giáo hội địa phương tại Gierusalem phải được tham gia vào ủy ban này.
3. Địa vị đặc biệt – thành phố đón mở
Thành thánh Gierusalem, di sản của nhân loại, một thành bao gồm hai dân tộc và ba tôn giáo, có một đặc tính tách nó ra khỏi các thành phố khác trên thế giới; một đặc điểm vượt lên trên bất cứ chính quyền chính trị nào.
“Thành Gierusalem quá quư báu nên không thể chỉ lệ thuộc vào các chính quyền chính trị địa phương hay quốc gia" (x. Memorandum, 1994).
Hai dân tộc của Gierusalem là những người bảo vệ sự thanh sạch của nó và mang hai trách nhiệm: tổ chức đời sống thường nhật của thành và đón tiếp tất cả khách ‘hành hương’ đến từ khắp nơi trên thế giới. Sự hợp tác quốc tế cần thiết không có ư thay thế vai tṛ và sự tự trị của hai dân tộc. Nhưng nó cần thiết để giúp cả hai dân tộc đi đến một giải nghĩa và đạt được sự ổn định đối với địa vị đặc biệt của thành phố.
V́ thế, cụ thể, theo quan điểm chính trí, kinh tế, và xă hội, hai dân tộc phải dành cho Gierusalem một địa vị đặc biệt tương xứng với hai đặc tính của nó, thiêng liêng và phổ quát, đồng thời b́nh thường và địa phương, nơi đời sống hằng ngày diễn ra.
Một khi địa vị này được t́m ra và giải nghĩa, cần phải có cộng đồng quốc tế khẳng định điều này qua các cam đoan quốc tế để bảo đảm sự ḥa b́nh và sự tôn trọng mọi người được tiếp tục.
Các khía cạnh của địa vị đặc biệt này phải bao gồm các yếu tố sau:
“Quyền lợi thờ phượng và lương tâm của con người, trên phương diện cá nhân cũng như cộng đồng tôn giáo” (x. Memorandum 1994).
Sự công bằng cho tất cả cư dân trước pháp luật, dưới sự phối hợp của các hiệp ước quốc tế.
Mọi người được quyền đến Gierusalem, các công dân, cư dân, hay khách hành hương có thể đến bất cứ lúc nào, cho dù trong lúc có ḥa b́nh hay chiến tranh. V́ thế, Gierusalem phải là một thành phố đón mở.
“Quyền lợi sở hữu tài sản, quản lư và thờ phượng mà các Giáo hội khác nhau đă dành được trong lịch sử nên tiếp tục được các cộng đồng duy tŕ. Những quyền lợi này mà đă được bảo đảm trong bản Status Quo of Holy Places theo ‘các sắc chỉ’ và các văn kiện khác, nên tiếp tục được công nhận và tuân theo” (x. Memorandum, 1994).
Các điểm thánh Kitô giáo trong thành này, bất kể ở nơi đâu, phải tiếp tục được kết hợp về mặt địa lư, bất kế giải pháp nào được đưa ra.
Kết Luận
Đối với người Do Thái giáo và Hồi giáo, Gierusalem là một nơi cao cả mà Thiên Chúa đă gặp gỡ và mặc khải cho nhân loại. Đó là lư do tại sao chúng ta không thể tiếp tục magn thái độ bàng quang đối với định mệnh của thành phố trước những nỗi đau của nơi này.
“V́ Gierusalem Ta sẽ không nghỉ ngơi cho tới khi ánh rạng ngời của nó tỏa chiếu như b́nh minh và việc cứu độ của nó như một ngọn đuốc bốc cháy” (Isaiah 62,1).
Chúng tôi phổ biến lời kêu gọi nghiêm túc này đến tất cả các vị lănh đạo tôn giáo tại vùng Đất Thánh để hợp tác với nhau hầu đi đến một viễn tượng chung cho thành phố mà có thể nối kết các tâm hồn của các tín đồ. Chúng tôi kêu gọi chính quyền t́m ra những đồng điểm và với sự hợp tác của các lănh đạo tôn giáo, t́m ra giải pháp tương xứng vơi tính chất thiêng liêng của thành này.
Chúng tôi hy vọng lời kêu gọi của chúng tôi được lắng nghe, và các lănh đạo chính trị, v́ tôn trọng bản chất thiêng liêng của thành này sẽ thể hiện khả năng đi đến một thỏa thuận cuối cùng và xác quyết hầu làm cho thành Gierusalem trở nên một dấu hiệu đích thực nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa và ḥa b́nh của Ngài giữa mọi người.
Thượng phụ Theopilos III: Ṭa Thượng Phụ Chính Thống Hy Lạp
Thượng phụ Michel Sabbah: Ṭa Thượng Phụ La-tinh.
Thượng phụ Torkom II: Ṭa Thượng phụ Chính Thống Syria
Abune Grima: Ṭa Thượng phụ Chính thống Ethiopia
Paul Nabil Sayyah: Ṭa Thượng phụ Maronite
ĐGM Riah Abu Al-Assal: Giáo hội Giám chế tại Gierusalem và vùng Trung Đông
ĐGM Mounib Younan: Giáo hội Lu-te
Pierre Malki:
George Bakar:
Lm Rafael Minassian:
Gierusalem, ngày 19.9.2006
Rev Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày 21/10/2006
Giáo Phái Methodist Thế Giới chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa được Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới kư nhận với Giáo Hội Công Giáo năm 1999
Hôm Thứ Hai 17/7/2006, Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo gửi một thông báo đến văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh cho biết là Hội Nghị Methodist Thế Giới họp ở Nam Hàn đồng ư kư tham dự vào bản tuyên ngôn tín lư công chính hóa là bản tuyên ngôn được kư kết vào ngày 31/10/1999 ở Augsburg Đức Quốc, giữa Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới.
Hội Nghị Methodist Thế Giới này được tổ chức ở Seoul vào thời khoảng 20-24/7/2006, trong đó có sự tham dự của Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng này của Ṭa Thánh là Walter Kasper. Hội nghị này ‘được triệu tập 8 năm một lần, đem các Kitô hữu khắp thế giới thuộc truyền thống Wesley về lại với nhau’, bản thông báo cho biết như thế.
Phong trào Methodist bắt nguồn từ Anh Quốc vào thế kỷ 18 như là một phong trào canh tân về linh đạo, truyền giáo và xă hội. Ngày nay phong trào này hiện diện ở gần 100 quốc gia. Phong trào do một người Anh Quốc là John Wesley (1703-1791) thành lập.
Trong tuần lễ của Hội Nghị Methodist Thế Giới này, nghi thức bao gồm việc tham dự của Kitô hữu Methodist vào bản tuyên ngôn 1999 sẽ diễn ra trong khi long trọng cử hành Lời Chúa, trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Kasper và của Tiến Sĩ Khả Kính Ishmael Noko, tổng thư kư của Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới. Tín lư công chính hóa đă là nguyên nhân đưa đến phong trào Cải Cách Luthêrô từ năm 1517.
Vào cuối năm vừa rồi, khi gặp gỡ phái đoàn đại biểu Hội Đồng Methodist Thế Giới được dẫn đầu bởi Giám Mục Sunday Mbang ở Nigeria, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă đề cập tới ư hướng của hội đồng này trong việc cũng muốn tham dự vào bản tuyên ngôn chung về tín lư công chính hóa, như sau:
“Nếu Hội Đồng Methodist Thế Giới tỏ ư muốn tham gia vào bản tuyên ngôn chung này th́ là việc góp phần vào vấn đề ḥa giải chúng ta thiết tha mong ước và sẽ là một bước quan trọng tiến tới mục tiêu hiệp nhất trọn vẹn hữu h́nh trong đức tin vậy”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17/7/2006
Ṭa Thánh Công Giáo Rôma với Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo Về Vấn Đề Tấn Phong Giám Mục Cho Nữ Giới
Trong cuộc họp của các vị giám mục Anh Quốc ngày 5/6/2006 về vấn đề tấn phong cho nữ giới làm giám mục, Đức Hồng Y William Kasper, Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo đă ngỏ lời rất dài, gồm có 6 đoạn, kể cả đoạn nhập đề (liên quan đến lư do tại sao ngài viết lá thư này, đó là để đáp lời mời của Đức Tổng Giám Mục Canterbury) và đoạn phụ đề (liên quan tới những lời của ĐTC Biển Đức XVI nói với hàng giáo sĩ Rôma ngày 2/3/2006 về vấn đề nữ giới trong Giáo Hội), riêng đoạn thứ nhất là đoạn nói tới tiến tŕnh huấn quyền của Giáo Hội Công Giáo trước vấn đề này của Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo. Sau đây chỉ xin chuyển dịch phần thứ nhất này mà thôi.
Hôm nay là lần đầu tiên chúng ta bàn đến vấn đề tấn phong cho nữ giới. Blởi thế, tôi xin được bắt đầu bằng việc tổng quan ôn lại vắn gọn những lần bàn luận của chúng ta trước đây. Việc thực hiện vấn đề truyền chức cho nữ giới của một số giáo tỉnh thuộc Giáo Hội Hiệp Thông Anh Giáo, trong đó có cả Giáo Hội Anh Quốc, đă là những ǵ được nói tới bởi việc trao đổi văn thư sống động giữa Rôma và Canterbury.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă viết một 1 bức thư về vấn đề này cho ĐTGM Donald Coggan vào ngày 30/11/1975, và một lần khác vào ngày 23/3/1976, rồi sau đó được tiếp tục với bức thư của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gửi ĐTGM Robert Runcie vào ngày 20/12/1984. Vị tiền nhiệm đặc trách phân bộ của tôi là ĐHY Jan Willebrands, đă trả lời cho việc hồi âm của ĐTGM Runcie ngày 18/12/1985.
Về vấn đề phong chức cho nữ giới làm giám mục, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viết một bức thư rất nghiêm chỉnh cho ĐTGM Robert Runcie ngày 8/12/1988. Vị Giáo Hoàng này đă nói một cách thẳng thắn về ‘những trở ngại mới trên con đường tiến đến việc ḥa giải giữa người Công Giáo và Anh Giáo’ cũng như về ‘việc ngăn chặn con đường nh́n nhận các thừa tác vụ của nhau’.
Ngài đă nhắc tới những khía cạnh về đại kết và giáo hội học của vấn đề này (Information Service, 70 [1989/I], 60). Trong các bản tuyên ngôn chung với ĐTGM Robert Runcie vào ngày 2/10/1989, cũng như với ĐTGM George Carey vào ngày 5/12/1996, ngài đă nói đến vấn đề này một lần nữa (Cited in: Growth in Agreement II, Report and Agreed Statements of Ecumenical Conversations on a World Level, Geneva -- Cambridge 2000, 327; 371 f.)
Tôi cũng cần phải nhắc tới những bản tuyên ngôn của ARCIC (In the Ministry Elucidations of 1979 n. 5, in: Growth in Agreement I. New York-Geneva 1984, 87; Church as Communion (1990) n. 57, in: Growth in Agreement II, 342), và vấn đề trả lời chi tiết cho Bản Tường Tŕnh Rochester về ‘Các Vị Giám Mục Nữ Giới Trong Giáo Hội Anh Quốc?’ của Phân Bộ Đối Thoại Và Hiệp Nhất Của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Anh Quốc Và Wales ngày 3/10/2005.
Vấn đề chính thức luận chứng của Giáo Hội Công Giáo về vấn đề tấn phong nữ giới này được phản ảnh nơi Bản Tuyên Ngôn của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin ‘Về Vấn Đề Nữ Giới Gia Nhập Hàng Giáo Sĩ’, ‘Inter Insigniores’ (1977), và trong bức tông thư của Đức Gioan Phaolô II ‘Ordinatio Sacerdotalis’, ‘Về việc chỉ truyền chức linh mục cho nam giới thôi’ (1994).
Trong bức tông thư này, vị Giáo Hoàng ấy đă nói rằng Giáo Hội Công Giáo tin rằng ḿnh không có thẩm quyền để thực hiện các việc truyền chức ấy. Bởi thế, việc truyền chức này được coi là bất hiệu thành (Giáo Luật CJC, 1024) (Other relevant documents: Address by Pope Paul VI "On the Role of Women in the Plan of Salvation," Jan. 30, 1977; Pope John Paul II, apostolic exhortation "Christifideles Laici" [1988] No. 51; Catechism of the Catholic Church [1992] No. 1577).
Chủ trương này thường bị giải thích sai trái như là những ǵ tính cách ghét kết hôn và chối bỏ phẩm giá b́nh đẳng của nữ giới. Thế nhưng, trong tông thư ‘Mulieris Dignitatem’ về ‘Phẩm Giá và Ơn Gọi của Nữ Giới’ (1988) cũng như trong ‘Thư Gửi Nữ Giới’ (1995) của ḿnh, ĐGH Gioan Phaolô II đă làm sáng tỏ về chủ trương của Giáo Hội Công Giáo không hề có ư chối bỏ phẩm giá b́nh đẳng giữa nam và nữ hay tỏ ra thiếu tôn trọng nữ giới, song chỉ hoàn toàn trung thành với chứng từ tông truyền đă được truyền trong Giáo Hội qua các thế kỷ mà thôi.
Giáo Hội Công Giáo phân biệt một đàng giữa giá trị b́nh đẳng với phẩm giá b́nh đẳng giữa con người nam nữ, đàng khác là vấn đề khác biệt giữa hai phái tính là những khác biệt liên hệ bổ túc cho nhau.
Những phát biểu tương tự như thế cũng được bày tỏ trong văn kiện của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin ‘Về mối hợp tác giữa con người nam nữ trong Giáo Hội và trên thế giới’ (2004). Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă lập lại và cụ thể hóa quan điểm này trong bài nói với hàng giáo sĩ Rôma ngày 2/3/2006 (Address of Benedict XVI to the clergy of Rome on March 2, 2006).
Tôi biết rằng vấn đề này bao gồm nhiều rắc rối phức tạp liên quan tới dẫn giải học, nhân loại học và thần học là những ǵ tôi không thể đi sâu vào bối cảnh ấy ở đây. Chủ trương của Giáo Hội Công Giáo chỉ có thể được hiểu và thẩm định nếu người ta nh́n nhận rằng luận chứng ấy có nền tảng trong Thánh Kinh và Giáo Hội không đọc Thánh Kinh như là một bản văn kiện về lịch sử có tính cách biệt lập.
Trái lại Giáo Hội hiểu Thánh Kinh theo chiều hướng tất cả truyền thống 2000 năm của tất cả mọi giáo hội xưa, Giáo Hội Công Giáo cũng như các Giáo Hội Đông Phương cổ và Giáo Hội Chính Thống.
Chắc chắn những quan điểm lệ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử có những lúc không thể tránh được đă chi phối truyền thống này. Có một số lập luận thuộc về quá khứ chúng ta không thể lập lại ngày nay. Dĩ nhiên chúng ta cần phải ư thức rằng các quan điểm hiện đại của chúng ta cũng tùy thuộc vào nhiều vấn đề được thừa nhận theo lịch sử, và có lẽ chỉ có các thế kỷ mai hậu mới có thể đo lường được việc thời đại của chúng ta chúng ta đă bị chi phối biết là chừng nào; họ có lẽ sẽ khúc khích cười về nhiều điều chúng ta công nhận ngày nay, như chúng ta đă lật ngược nhiều tư tưởng của thế giới cổ thời và trung cổ vậy.
Ngoài ra, về phương diện hàn lâm, có thể chứng tỏ rằng việc bác bỏ vấn đề truyền chức cho nữ giới trong khuôn khổ truyền thống không phải là những ǵ được khẳng định chỉ nguyên theo những quan niệm hiện đại mà thôi, nhưng tự bản chất được khẳng định theo những lập luận về thần học. Bởi thế, không được cho rằng Giáo Hội Công Giáo một ngày kia sẽ thay đổi chủ trương hiện nay của ḿnh. Giáo Hội Công Giáo tin tưởng rằng ḿnh không có quyền làm như thế.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/6/2006
“Chúng ta nhận thấy có nhiều tiến bộ nơi lănh vực đại kết,
song chúng ta vẫn luôn mong đợi hơn thế nữa”
Diễn Từ với Thành Phần Đại Kết Balan tại Nhà Thờ Ba Ngôi Chí Thánh Warsaw Tối Thứ Năm 25
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô,
|
|
‘Xin ân sủng và b́nh an cho anh chị em từ Đấng đang có và là Đấng đă có cùng là Đấng đang đến, cũng như từ bảy thần linh trước ngai của Ngài, và từ Chúa Giêsu Kitô là chứng nhân trung thực, là trưởng tử của kẻ chết và là vị cai trị các vua chúa trên trái đất này’ (Rev 1:4-5). Với những lời ấy của Thánh Gioan trong Sách Khải Huyền chào bảy Giáo Hội ở Á Châu, tôi xin ngỏ lời chào nồng nàn đến tất cả quí vị đang hiện diện nơi đây, nhất là các vị đại diện Chư Giáo Hội cùng Chư Cộng Đồng Giáo Hội thuộc thành phần của Hội Đồng Balan Về Đại Kết. Tôi xin cám ơn Đức Tổng Giám Mục Jeremiasz thuộc Giáo Hội Chính Thống Biệt Lập, Chủ Tịch của Hội Đồng này, về những lời chào mừng và những lời lẽ liên kết thiêng liêng vừa ngỏ cùng tôi. Và tôi xin chào Đức Tổng Giám Mục Alfons Nossol, Chủ Tịch Hội Đồng Về Đại kết thuộc Hội Đồng Giám Mục Balan.
Cái nối kết chúng ta lại với nhau hôm nay ở nơi này đó là ḷng chúng ta ước mong được gặp gỡ nhau, và trong việc cầu nguyện chung, chúng ta dâng lời tôn vinh cùng tôn kính Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta: ‘là Đấng yêu thương chúng ta và đă giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi của chúng ta bằng máu của Người và làm cho chúng ta trở thành một vương quốc, thành những vị linh mục cho Thiên Chúa là Cha của Người’ (Rev 1:5-6). Chúng ta dâng lời cảm tạ Chúa v́ Người đă tập trung chúng ta lại với nhau, Người ban cho chúng ta Thần Linh của Người và Người làm cho chúng ta có thể – vượt trên và ở trên những ǵ vẫn c̣n phân rẽ chúng ta – kêu lên ‘Abba, Lạy Cha’. Chúng ta tin tưởng rằng chính Người đă không ngừng chuyển cầu cho chúng ta, nài xin cho chúng ta: ‘Chớ ǵ họ được hoàn toàn nên một, để thế gian biết rằng Cha đă sai Con và Cha đă yêu thương họ như Cha đă mến yêu Con’ (Jn 17:23). Cùng với anh chị em, tôi xin dâng lời tạ ơn về tặng ân có được một cuộc hội ngộ nguyện cầu chung này. Tôi thấy đó như là một giai đoạn thực hiện mục đích cương quyết được tôi đề ra ngay từ đầu Giáo Triều của ḿnh, trong việc lấy làm ưu tiên nơi thừa tác vụ của ḿnh việc trọn vẹn phục hồi mối hiệp nhất hữu h́nh nơi Kitô hữu. Vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II đă tuyên bố rơ ràng khi Người đến thăm viếng Nhà Thờ Chúa Ba Ngôi Chí Thánh này vào năm 1991: “Cho dù chúng ta có dấn thân thế nào đi nữa cho công cuộc hiệp nhất th́ nó bao giờ cũng vẫn là tặng ân của Thánh Thần. Chúng ta tỏ ra sẵn sàng chấp nhận tặng ân này là ở chỗ chúng ta mở ḷng trí của ḿnh ra cho Ngài qua đời sống Kitô hữu nhất là qua việc nguyện cầu’. Thật vậy, chúng ta không thể nào ‘thực hiện’ mối hiệp nhất bằng quyền năng riêng của ḿnh được. Tôi đă nhắc nhở trong cuộc hội ngộ đại kết năm ngoái ở Cologne thế này: ‘Chúng ta chỉ có thể chiếm được mối hiệp nhất như là một tặng ân của Thánh Thần mà thôi’. Đó là lư do những ước vọng đại kết của chúng ta cần phải được sâu xa thấm đẫm lời nguyện cầu, việc tha thứ cho nhau và sự thánh thiện của đời sống mỗi người chúng ta. Tôi cảm thấy vui trước sự kiện là ở Balan này Hội Đồng Balan Về Đại Kết và Giáo Hội Công Giáo Rôma đă phát động nhiều sáng kiến về lănh vực này.
‘Ḱa, Người đang đến trên đám mây và mọi con mắt sẽ được trông thấy Người’ (Rev 1:7). Những lời này của Sách Khải Huyền nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đang hành tŕnh tiến đến cuộc hội ngộ tối hậu với Chúa Kitô, khi Người tỏ ḿnh ra trước mắt chúng ta cái ư nghĩa của lịch sử con người, một lịch sử có tâm điểm là Thập Tự Giá của hy tế cứu độ. Là cộng đồng môn đệ, chúng ta được hướng dẫn tới cuộc hội ngộ ấy, một cuộc hội ngộ đối với chúng ta là ngày cứu độ tràn đầy hy vọng và tin tưởng, ngày mà tất cả mọi niềm khát vọng của chúng ta được nên trọn, nhờ việc chúng ta sẵn sàng để ḿnh được hướng dẫn bởi một đức ái hỗ tương là những ǵ do Thần Linh gợi lên trong chúng ta. Chúng ta hăy xây dựng niềm tin tưởng này không phải bằng công lênh của ḿnh mà bằng việc nguyện cầu là việc Chúa Kitô nhờ đó tỏ cho thấy ư nghĩa về việc Người đến trên thế gian và về cái chết cứu độ của Người: ‘Lạy Cha, con muốn rằng cả họ nữa, thành phần Cha đă ban cho Con, cũng được ở với Con để chiêm ngưỡng vinh hiển Cha đă ban cho Con v́ yêu Con trước khi tạo thành thế gian’ (Jn 17:24). Trong cuộc hành tŕnh của chúng ta tiến tới cuộc hội ngộ với Chúa Kitô là Đấng ‘đang đến trên đám mây’, bằng đời sống của ḿnh, chúng ta loan truyền việc Người chịu chết, chúng ta tuyên xưng việc Người sống lại, khi chúng ta đang đợi chờ Người lại đến. Chúng ta cảm thấy gánh nặng của trách nhiệm được tất cả những sự ấy bao gồm; thật vậy, sứ điệp của Chúa Kitô cần phải loan tới hết mọi người trên trái đất này, nhờ việc dấn thân của những ai tin vào Người và những ai được kêu gọi làm chứng rằng Người thực sự là Đấng được Cha sai (x Jn 17:23). Bởi thế, khi chúng ta loan báo Phúc Âm, chúng ta cần phải được tác động bởi ước vọng muốn vun trồng những mối liên hệ hỗ tương của đức ái chân t́nh, nhờ đó, căn cứ vào đấy, tất cả sẽ nhận biết rằng Cha đă sai Con và Ngài yêu thương Giáo Hội cũng như mỗi người chúng ta như Ngài đă yêu Con (x Jn 17:23). Công việc của thành phần môn đệ Chúa Kitô, công việc của mỗi người chúng ta, do đó, là hướng về mối hiệp nhất, bằng cách Kitô hữu chúng ta trở nên dấu hiệu hữu h́nh cho sứ điệp cứu độ của Người muốn ngỏ cùng hết mọi con người.
Xin cho tôi được nhắc lại một lần nữa về việc gặp gỡ đại kết đă xẩy ra tại nhà thờ này với sự tham dự của nhân vật đại đồng hương Gioan Phaolô II của anh chị em, cũng như về bài diễn từ của ngài, trong đó, ngài đă phác tả như sau nhăn quan của ngài về các nỗ lực nhắm đến mối hiệp nhất trọn vẹn của Kitô hữu: ‘Cái thách đố chúng ta đang phải đối đầu đó là việc thắng vượt những trở ngại từng bước một…. và là việc cùng nhau lớn lên trong mối hiệp nhất duy nhất ấy của Chúa Kitô, một mối hiệp nhất Người đă trang điểm cho Giáo Hội từ ban đầu. Tính cách hệ trọng của công việc này không cho phép tất cả những ǵ là hấp tấp hay bất nhẫn, nhưng nhiệm vụ cần phải đáp ứng ư muốn của Chúa Kitô đ̣i hỏi chúng ta cứ vững mạnh trên con đường tiến đến b́nh an và hiệp nhất giữa tất cả mọi Kitô hữu. Chúng ta quá rơ là không phải chúng ta là người sẽ chữa lành những vết thương chia rẽ và tái thiết hiệp nhất; chúng ta chỉ là những dụng cụ tầm thường được Thiên Chúa sử dụng. Mối hiệp nhất giữa Kitô hữu sẽ là một tặng ân Chúa ban, vào thời điểm hồng ân của Ngài. Chúng ta hăy khiêm nhượng hướng về ngày ấy, bằng việc lớn lên trong t́nh yêu thương, trong việc thứ tha cho nhau và trong niềm tin tưởng lẫn nhau’.
Từ cuộc hội ngộ này đă có nhiều sự đổi thay. Thiên Chúa đă ban cho chúng ta thực hiện nhiều tiến bộ đối với vấn đề hiểu biết nhau và thân thiện với nhau. Xin cho tôi được nhắc lại một số biến cố đại kết đă xẩy ra trên thế giới trong thời gian ấy, đó là việc ban hành Thông Điệp Để Họ Được Hiệp Nhất Nên Một – Ut Unum Sint; những đồng ư về Kitô Học với các Giáo Hội tiền Chalcedonia; việc kư kết ở Augsburg bản ‘Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa’; việc gặp gỡ nhân dịp Đại năm Thánh 2000 và việc tưởng niệm đại kết các nhân chứng đức tin của thế kỷ 20; việc tái thiết cuộc đối thoại giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo ở cấp hoàn cầu, lễ an táng Giáo Hoàng Gioan Phaolô II với sự tham dự của hầu hết tất cả các Giáo Hội cùng các Cộng Đồng Giáo Hội. Tôi cũng nhận thấy sự kiện là cả ở Balan đây nữa, khát vọng của t́nh huynh đệ hướng về mối hiệp nhất có thể hănh diện với những thành đạt cụ thể. Tôi xin nhắc lại nhân dịp này đó là việc kư kết vào năm 2000 tại chính ngôi nhà thờ này đây, giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Chư Giáo Hội thuộc Hội Đồng Balan Về Đại Kết, bản tuyên ngôn cùng công nhận tính cách hiệu thành của Bí Tích Rửa Tội; việc thiết lập Ủy Ban Về Đối Thoại của Hội Đồng Giám Mục Balan và của Hội Đồng Balan Về Đại Kết, một ủy ban bao gồm các Vị Giám Mục Công Giáo và các vị lănh đạo Chư Giáo Hội khác; việc thiết lập các ủy ban đa phương cho cuộc đối thoại thần học giữa các tín hữu Công Giáo, Chính Thống, Lutherô, Giáo Hội Quốc Gia Balan, Mariavites và Adventists; việc phát hành bản dịch đại kết bộ Sách Tân Ước và Sách Thánh Vịnh; sáng kiến ‘Cứu Trợ Trẻ Em Dịp Lễ Giáng Sinh’ do các tổ chức bác ái thuộc các Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành cùng nhau thực hiện.
Chúng ta nhận thấy có nhiều tiến bộ nơi lănh vực đại kết, song chúng ta vẫn luôn mong đợi hơn thế nữa. Hôm nay xin cho tôi được lưu ư tới hai vấn đề hơi dài ḍng. Vấn đề thứ nhất liên quan tới việc phục vụ bác ái của các Giáo Hội. Có nhiều anh chị em mong đợi nơi chúng ta tặng ân của t́nh yêu thương, của niềm tin tưởng, của việc chứng từ, của hoạt động trợ giúp thiêng liêng và trợ giúp cụ thể về vật chất. Tôi đă đề cập tới vấn đề này trong bức Thông Điệp ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’ đầu tay của tôi, trong đó, tôi đă viết rằng: ‘T́nh yêu thương tha nhân, xuất phát từ t́nh yêu Thiên Chúa, trước hết và trên hết là trách nhiệm đối với mỗi một tín hữu, thế nhưng nó cũng là trách nhiệm của toàn thể cộng đồng Giáo Hội ở mọi tầng cấp: từ cộng đồng địa phương đến Giáo Hội riêng cũng như tới toàn thể Giáo Hội hoàn vũ. Là cộng đồng, Giáo Hội cần phải thực thi yêu thương’ (đoạn 20). Chúng ta không thể bỏ qua ư tưởng thiết yếu này là từ ban đầu nền tảng rất vững chắc về mối hiệp nhất của thành phần môn đệ đă được thiết lập rồi: ‘trong cộng đồng tín hữu không bao giờ có vấn đề nghèo khổ chối từ bất cứ ai những ǵ cần thiết để có được một đời sống xứng đáng’ (ibid.). Ư nghĩ này là những ǵ luôn hiện hành, ngay cả trong tiến tŕnh của các thế kỷ đổi thay về các h́nh thức trợ giúp huynh đệ; việc chấp nhận những thách đố về bác ái đương thời lệ thuộc phần lớn vào việc chúng ta cùng hoạt động với nhau. Tôi cảm thấy vui khi vấn đề này có một tiếng vang rộng lớn trên thế giới nơi h́nh thức của nhiều hoạt động đại kết. Tôi tri ân nhận thấy rằng trong cộng đồng Giáo Hội Công Giáo cũng như nơi Các Giáo Hội khác và Các Cộng Đồng Giáo Hội, có những h́nh thức mới khác nhau của hoạt động bác ái đă được phổ biến và những h́nh thức cũ cũng đă tài diễn với một nhiệt t́nh mới. Chúng là những h́nh thức thường bao gồm việc truyền bá phúc âm hóa và các hoạt động bác ái (x ibid 30b). Bất chấp tất cả mọi khác biệt cần phải thắng vượt nơi lănh vực đối thoại liên giáo phái, vấn đề dường như vẫn thích hợp để qui việc tham gia bác ái cho cộng đồng đại kết của thành phần môn đệ Chúa Kitô trong việc họ t́m kiếm mối hiệp nhất trọn vẹn. Tất cả chúng ta có thể thực hiện việc đồng hoạt động cho thành phần thiếu thốn, khai thác đường lối liên hệ hỗ tương này, hoa trái của việc đối thoại giữa chúng ta với việc hoạt động chung. Theo tinh thần giới luật của Phúc Âm, chúng ta cần phải có được mối quan tâm nhiệt t́nh này đối với những ai nghèo khổ, dù là bất cứ ai. Về vấn đề này, tôi đă viết trong bức Thông Điệp của tôi là: ‘việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn đ̣i Kitô hữu phải đồng thanh lên tiếng trong việc ghi tâm khắc cốt vấn đề tôn trọng quyền lợi và nhu cầu của hết mọi người, nhất là người nghèo khổ, người hèn kém và người bất khả tự vệ’ (đoạn 30b). Tôi xin bày tỏ cùng tất cả những ai đang tham dự cuộc họp của chúng ta hôm nay đây là việc thực hành đức bác ái huynh đệ sẽ mang chúng ta lại gần nhau hơn và sẽ làm cho chứng từ của chúng ta về Chúa Kitô trước thế giới có tính cách khả tín hơn.
Vấn đề thứ hai tôi muốn đề cập tới liên quan đến đời sống hôn nhân và đời sống gia đ́nh. Chúng ta biết rằng trong các cộng đồng Kitô hữu, các cộng đồng được kêu gọi để làm chứng cho t́nh yêu thương, th́ gia đ́nh chiếm một vị thế đặc biệt. Nơi thế giới ngày nay, một thế giới mà các mối tương quan liên quốc gia và liên văn hóa là những ǵ đang phát triển, th́ càng ngày càng xẩy ra là giới trẻ thuộc các truyền thống khác nhau, các tôn giáo khác nhau, hay các Kitô giáo phái khác nhau, quyết định thành lập gia đ́nh. Đối với chính giới trẻ cũng như đối với những ai thân thương của họ, th́ thường là một quyết định khó khăn bao gồm những nguy hiểm khác nhau liên quan tới cả vấn đề kiên tŕ với đức tin lẫn cơ cấu tương lai của gia đ́nh, đến việc kiến tạo nên một bầu khí hiệp nhất trong gia đ́nh lẫn những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đời sống tâm linh nơi con cái. Tuy nhiên, nhờ việc lan rộng của vấn đề đối thoại đại kết ở tầm mức đại thể, mà quyết định ấy có thể dẫn tới việc h́nh thành một pḥng thí nghiệm thực tiễn về mối hiệp nhất. Để vấn đề này được thực hiện cần phải có một thiện chí hỗ tương, việc hiểu biết và trưởng thành về đức tin của cả đôi bên, cũng như của các cộng đồng họ thuộc về. Tôi xin bày tỏ ḷng cảm nhận của tôi đối với Ủy Ban Song Phương Hội Đồng Về Các Vấn Đề Đại Kết của Hội Đồng Giám Mục Balan và của Hội Đồng Ba Lan Về Đại Kết, một ủy ban đă bắt đầu soạn thảo một văn bản tŕnh bày giáo huấn chung của Kitô Giáo về hôn nhân và đời sống gia đ́nh, và nêu lên những nguyên tắc khả chấp đối với tất cả các cuộc hôn nhân kết ước liên giáo phái, ấn định chương tŕnh chung về việc chăm sóc mục vụ cho cuộc hôn nhân như thế. Tôi muốn bày tỏ cùng tất cả anh chị em ước muốn thấy việc tin tưởng lẫn nhau và hợp tác với nhau giữa các Giáo Hội được gia tăng nơi lănh vực tinh tế này, hoàn toàn tôn trọng các quyền lợi và trách nhiệm của thành phần phối ngẫu đối với việc huấn luyện đức tin của gia đ́nh họ cũng như của việc họ giáo dục con cái ḿnh.
‘Con đă tỏ cho họ biết danh Cha, và Con sẽ làm cho danh Cha được nhận biết, để t́nh Cha yêu Con cũng ở nơi họ, và Con ở trong họ’ (Jn 17:26). Anh Chị Em thân mến, đặt tất cả ḷng tin tưởng của chúng ta nơi Chúa Kitô, Đấng làm cho chúng ta nhận biết danh của Người, chúng ta hằng ngày hăy tiến bước đến chỗ hoàn toàn ḥa giải t́nh huynh đệ. Chớ ǵ lời nguyện cầu của Người làm cho cộng đồng của thành phần môn đệ Người trên trần gian này, trở thành một cộng đồng yêu thương hơn bao giờ hết, nơi mầu nhiệm của ḿnh cũng như nơi mối hiệp nhất hữu h́nh của ḿnh, phản ảnh mối hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần.
Công Giáo và Chính Thống bàn đến Hồn Sống của Âu Châu và Cuộc Khủng Hoảng về Văn Hóa
Từ ngày Thứ Tư mùng 3 đến Thứ Sáu mùng 5/5/2006, tại Vienna Áo Quốc đă diễn ra một cuộc gặp gỡ chưa từng thấy, được bảo trợ bởi Hội Pro Oriente ở Vienna và Hội Bradley ở Hoa Kỳ, về văn hóa giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo, và cả hai đều chủ trương rằng việc góp phần của Kitô hữu là những ǵ bất khả thiếu trong việc góp phần vào việc phục hồi hồn sống cho Âu Châu.
Sứ điệp đúc kết cuộc gặp gỡ này chủ trương rằng: “Chúng tôi tin rằng Kitô hữu, bằng việc rao giảng niềm hy vọng xuất phát từ cuộc phục sinh của Chúa Kitô, cùng nhau liên kết với dân chúng thuộc các niềm tin và niềm xác tín khác, có thể giúp cho mọi người sống trong một xă hội đạo hạnh, công chính và an b́nh”.
Chủ tọa cuộc họp này có Đức Hồng Y Poupard, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Về Văn Hóa, và ĐTGM Chính Thống Kirill ở Smolensk và Kaliningrad, chủ tịch Phân Bộ Liên Hệ Ngoại Giao của Ṭa Thượng Phụ Moscow, đă đồng chủ tọa cuộc họp này. Ngoài ra c̣n có các chuyên viên giáo dân và tu sĩ được chọn bởi cả Vatican và Ṭa Thượng Phụ Moscow.
Theo các tham dự viên th́ cuộc khủng hoảng hiện nay mà tiến tŕnh thống nhất Âu Châu đang trải qua là v́ thất bại trong việc thừa nhận Bản Hiệp Ước Hiến Pháp của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Tuy nhiên, đối với thành phần Công Giáo và Chính Thống Giáo, bản đúc kết đă nói:
“Cuộc khủng hoảng phân rẽ Âu Châu là cuộc khủng hoàng về lănh vực văn hóa: Căn tính Kitô Giáo của Âu Châu đang bị phai mờ đi. T́nh h́nh của các dân tộc ở Âu Châu được đánh dấu bằng mối nghi ngờ sâu xa về chính bản thân họ: Họ biết những ǵ họ có thể làm, nhưng họ không biết họ là ai”.
“(Cuộc khủng hoảng này gây ra) những hậu quả nhân khẩu học thảm thương, đó là việc loại trừ trẻ em, việc hiệp nhất không có tương lai, những cuộc hôn nhân thử, những cuộc hôn nhân đồng tính, việc không muốn chia sẻ đời sống với một người trong đời sống hôn nhân. Tất cả những điều ấy là một cuộc thực sự tự sát về nhân khẩu ở Âu Châu, nhân danh cái tôi và chủ nghĩa khoái lạc”.
Để đáp ứng những thách đố ấy, thành phần tham dự viên “đều công nhận vai tṛ quan trọng của sứ vụ giáo dục và huấn luyện. Tất cả việc giáo dục đó là khám phá về một thứ gia sản làm dạy lên t́nh yêu thương và việc nh́n nhận. Nhờ đó, chúng ta sẽ có thể góp phần vào việc tái nhận thức các căn gốc Kitô Giáo”.
Cả Công Giáo lẫn Chính Thống Giáo đều đồng ư về nhu cầu cần giáo dục Kitô hữu “tŕnh bày các giá trị Kitô Giáo một cách toàn vẹn: Chương tŕnh mục vụ về văn hóa tùy thuộc vào việc này”.
“Không coi ǵ hơn T́nh yêu Chúa Kitô” là khẩu hiệu được nêu lên để “t́m những đường lối đồng hoạt, dường lối cùng làm chứng đức tin cho một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa Âu Châu về kinh tế th́ khổng lồ nhưng tâm linh lại lùn tịt”.
Theo các vị tham dự viên th́ “việc làm chứng chung này đặc biệt liên quan tới những phương diện bị ảnh hưởng bởi việc hủy hoại về gia đ́nh, về khoa đạo đức sinh học, và về các lănh vực tín lư xă hội của Giáo Hội”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/5/2006
Nguyên Văn Thư trao đổi giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và Đức Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexy II
Sau đây là nguyên văn bức thư Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gửi Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Giáo Nga Alexy II nhân dịp Lễ Quan Thày và sinh nhật của vị thượng phụ này, vị thượng phụ đă tỏ ra chống lại việc Đức Gioan Phaolô II muốn sang thăm Nga theo lời Tổng Thống Putin mời, chống lại việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lập thêm mấy giáo phận mới ở Nga, và không tham dự lễ an táng của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Để đáp lại, Đức Thượng Phụ này cũng đă viết một bức thư đáp lễ Giáo Hoàng đương kim Biển Đức XVI.
Tại Vatican ngày 17/2/2006
Trọng kính Đức Alexy II
Thượng Phụ Giáo Chủ Moscow và Nga Sô,
Việc Đức Hồng Y Roger Etchegaray viếng thăm Moscow để chia sẽ với toàn thể Cộng Đồng Kitô Hữu Nga niềm vui mừng cả ngày sinh nhật lẫn quan thày của ngài đă cho tôi có cơ hội may mắn để gửi đến ngài những lời chúc tốt đẹp nồng nhiệt và thân ái của tôi.
Tôi muốn chung vui với cuộc mừng này trong tinh thần, và tôi xin Chúa ban muôn ơn lành xuống trên chính ngài và thừa tác vụ của ngài, một thừa tác vụ quảng đại dấn thân phục vụ cho lư tưởng Phúc Âm cao cả. Những cử chỉ và lời nói của t́nh huynh đệ cải tiến giữa thành phần mục tử của đàn chiên Chúa cho thấy rằng việc gia tăng hợp tác trong chân lư và bác ái là những ǵ giúp gia tăng tinh thần hiệp thông là tinh thần cần phải hướng dẫn đường đi nước bước của tất cả mọi người đă lănh nhận phép rửa.
Thế giới hiện đại đang cần nghe thấy những tiếng nói cho thấy con đường của ḥa b́nh, của việc tôn trọng tất cả mọi người, của việc lên án tất cả mọi h́nh thức bạo lực, của phẩm vị cao cả nơi hết mọi người cùng với những quyền lợi bẩm sinh họ được quyền hưởng.
Với những cảm thức ấy, tôi gửi đến ngài những lời chúc tốt đẹp nhất cho sức khỏe của ngài; theo gương và nhờ lời chuyển cầu của Thánh Alexis, chớ ǵ ngài tiếp tục làm trọn sứ vụ được Thiên Chúa ủy thác.
Biển Đức XVI
Moscow ngày 22/2
Kính gửi Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Thưa Ngài,
Tôi cảm kích cám ơn những lời chúc tốt đẹp thân ái của ngài và việc ngài nhớ nguyện cầu cho tôi nhân dịp sinh nhật và quan thày của tôi, những ǵ được Hồng Y Roger Etchegaray mang đến cho tôi.
Trong thời đại của chúng ta đây, thời điểm đang lan tràn nạn tục hóa, Kitô Giáo đang phải đương đầu với những thách đố nặng nề đ̣i việc làm chứng chung. Tôi tin rằng đối với hai Giáo Hội của chúng ta, những giáo hội có cùng quan điểm về nhiều vấn đề rắc rối hiện nay trên thế giới hiện đại này, th́ công việc ưu tiên ngày nay đó là việc bênh vực và khẳng định những giá trị Kitô Giáo trong xă hội, những giá trị nhờ đó nhân loại đă sống trên một ngàn năm. Tôi hy vọng rằng công việc ưu tiên này cũng góp phần vào việc t́m kiếm một giải pháp nhanh chóng cho những vấn đề giữa hai Giáo Hội nữa.
Tôi xin chúc lại ngài những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi mong ngài được khỏe mạnh, khi tôi cầu Chúa ban muôn vàn ơn trợ giúp thần linh xuống trên ngài để ngài hoàn tất vai tṛ cao cả của ngài là Giáo Chủ của Giáo Hội Công Giáo Rôma.
Thân ái trong Chúa Kitô,
Alexy II
Thượng Phụ Moscow và Nga Sô
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 7/4/2006
Trao Đổi Văn Thư giữa Giáo Hoàng Biển Đức XVI và Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexis II
Thứ Sáu 17/3/2006, Ṭa Thánh đă phổ biến hai văn thư trao đổi giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và Thượng Phụ Chính Thống Nga Alexis II xẩy ra trong Tháng 2/2006.
Thật vậy, tại một cuộc họp ở Moscow Nga Sô vào ngày 20/2/2006, Đức Hồng Y Cardinal Roger Etchegaray, đương kim phó chủ tịch hồng y đoàn, và là chủ tịch hưu trí của Hội Đồng Ṭa Thánh Về Công Lư Và Ḥa B́nh, đă trao cho Đức Thượng Phụ Alexis II một bức thư của Giáo Hoàng Biển Đức XVI nhân dịp mừng sinh nhật và quan thày của vị thượng phụ giáo chủ Giáo Hội Chính Thống Nga này, kèm theo một huy chương vàng của giáo triều đương nhiệm.
(Biệt chú của người dịch bản tin này là ngay từ đầu vị đương kim Giáo Hoàng đây chủ trương thực hiện những việc cụ thể về đại kết, chẳng hạn như việc gửi thiệp chúc mừng sinh nhật và quan thày vị giáo chủ chính thống Nga lần này).
Để đáp lễ, sau phụng vụ trọng thể được cử hành hôm 24/2/2006 ở vương cung thánh đường Chúa Cứu Thế Thánh ở Moscow nhân dịp lưỡng mừng này, Đức Alexis II đă trao cho Đức Hồng Y bản văn của ḿnh cùng với một cây Thánh Giá đeo trước ngực cho Đức Thánh Cha.
Trong sứ điệp gửi vị giáo chủ chính thống Nga, ĐTC Biển Đức XVI viết rằng “những cử chỉ và ngôn từ của t́nh huynh đệ đổi mới của thành phần chủ chiên đoàn chiên Chúa cho thấy rằng việc hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết trong chân lư và bác ái là những ǵ góp phần vào việc gia tăng tinh thần hiệp thông là những ǵ cần phải hướng dẫn những bước tiến của tất cả thành phần lănh nhận Phép Rửa”.
Trong sứ điệp của ḿnh, vị giáo chủ chính thống Nga đă ngỏ lời cám ơn cùng với những lời chia sẻ như sau: “Trong thời điểm của chúng ta đây, trước việc phát triển nhanh chóng chiều hướng tục hóa, Kitô Giáo đang phải đương đầu với những thách đố quan trọng đ̣i phải tỏ ra chứng từ chung. Tôi tin rằng một trong những ưu tiên ngày nay của các Giáo Hội chúng ta, những ưu tiên có cùng một nhăn quan về nhiều vấn đề hiện đang chi phối thế giới tân tiến, cần phải là việc bênh vực và khẳng định trong xă hội những giá trị Kitô Giáo là những ǵ nhờ đó nhân loại đă sống trên một ngàn năm. Tôi hy vọng rằng việc giải quyết nhanh chóng các vấn đề c̣n đó giữa hai giáo hội của chúng ta cũng góp phần vào mục đích này”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 17/3/2006
Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Nhóm Linh Mục và Chủng Sinh Chính Thống Hy Lạp
Sau đây là bài diễn từ của Giáo Hoàng Biển Đức XVI ngỏ cùng nhóm linh mục và chủng sinh thuộc viện thần học ‘Apostoliki Diakonia’ của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp tại Sảnh Đường Consistory ngày Thứ Hai 27/2/2006.
Quí Vị Tu Viện Trưởng,
Quí Linh Mục, Chủng Sinh và
Tất cả những ai tham dự việc đến Rôma ‘viếng thăm học hỏi’
Nhân dịp tôi hân hoan và cảm tạ tiếp đón dịp quí vị lần đầu tiên viếng thăm Rôma đây, tôi muốn nhắc lại một lời khuyến dụ của Thánh Ignatio, vị đại Giám Mục ở Antioch ngỏ cùng giáo đoàn Êphêsô: ‘Hăy chịu khó gặp gỡ thường xuyên hơn để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và chúc tụng Ngài. V́ nếu anh em thường xuyên gặp gỡ th́ các quyền lực của sự dữ sẽ bị khống chế và công việc của tử thần sẽ bị hủy hoại bởi t́nh trạng ḥa hợp niềm tin của anh em”.
Ở vào lúc mở màn cho đệ nhị thiên kỷ đây, đối với Kitô hữu Đông phương và Tây phương, các quyền lực sự dữ vẫn hoạt động nơi những cuộc tranh luận c̣n kéo dài giữa chúng ta.
Tuy nhiên, trong 40 năm qua, nhiều dấu hiệu khả quan đầy hy vọng đă khiến chúng ta thoáng thấy được một rạng đông mới, rạng đông của một ngày mà chúng ta sẽ hoàn toàn hiểu được rằng việc gắn bó chặt chẽ với t́nh yêu Chúa Kitô thực sự là việc t́m một cách thực tế nào đó để thắng vượt những thứ chia rẽ của chúng ta bằng việc hoán cải tư riêng cũng như cộng đồng, bằng việc thực hành lắng nghe nhau và cầu nguyện chung cho mối hiệp nhất của chúng ta.
Trong số những dấu hiệu phấn khởi của cuộc hành tŕnh này, một cuộc hành tŕnh gay go nhưng bất khả châm chước, tôi xin nhắc lại việc phát triển tích cực mới đây về mối liên hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp. Các h́nh thức khác nhau của việc hợp tác và những dự phóng, những ǵ giúp cho việc hiểu biết nhau sâu xa hơn, cũng như giúp vào việc nuôi dưỡng vấn đề h́nh thành những thế hệ trẻ trung nhất, đă được diễn tiến sau cuộc gặp gỡ đáng nhớ ở Areopagus Nhă Điển giữa Vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và Đức Christodoulos, Tổng Giám Mục Nhă Điển và Toàn Quốc Hy Lạp.
Việc trao đổi về những chuyến viếng thăm, về kiến thức uyên thâm và về việc hợp tác nơi lănh vực biên tập đă cho thấy là một phương tiện hữu hiệu cho vấn đề gia tăng đối thoại và kiên cường đức ái, một đức ái làm trọn lành cuộc sống, và, như Thánh Ignatio c̣n nói, và cùng với nguyên tắc, với đức tin, nó sẽ có thể thắng vượt t́nh trạng bất đồng trên thế giới này.
Tôi ân cần cám ơn Apostoliki Diakonia về chuyến viếng thăm Rôma này cũng như về những sáng kiến liên quan tới việc đào luyện đang phát triển qua Tiểu Ban Công Giáo Về Việc Hợp Tác Văn Hóa với Chư Giáo Hội Chính Thống theo chiều hướng của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Tôi tin rằng đức bác ái hỗ tương là những ǵ có thể duy tŕ được tính cách sáng tạo của chúng ta và dẫn chúng ta bước vào những con đường mới mẻ.
Chúng ta cần phải đương đầu với những thứ thách đố đang đe dọa tới đức tin, phải vun trồng thứ đất mùn đă làm ph́ nhiêu Âu Châu qua nhiều thế kỷ, phải tái xác nhận các thứ giá trị Kitô Giáo, phải cổ vơ ḥa b́nh và gặp gỡ, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, và phải củng cố những yếu tố đức tin và đời sống giáo hội có thể dẫn chúng ta tới mục đích trọn vẹn hiệp thông trong chân lư và đức ái, nhất là hiện nay là lúc toàn thể cuộc đối thoại chính thức giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống đang tái diễn hành tŕnh của ḿnh với một nghị lực mới.
Trong đời sống Kitô Giáo th́ đức tin, đức cậy và đức mến là những ǵ sát cánh với nhau. Chứng từ của chúng ta trong thế giới ngày nay sẽ trở thành chân thực hơn và hiệu nghiệm hơn, nếu chúng ta nhận thức rằng con đường dẫn đến hiệp nhất đ̣i tất cả chúng ta phải có một đức tin sống động hơn, một đức cậy mạnh mẽ hơn, và một đức mến thực sự trở thành niềm hứng khởi sâu xa nhất muôi dưỡng mối liên hệ hỗ tương của chúng ta! Tuy nhiên, đức cậy cần phải được thực hành một cách nhẫn nại và khiêm tốn, cũng như cần phải tin tưởng vào Đấng hướng dẫn chúng ta.
Cho dù nó dường như không ở vào ngay tầm tay với của chúng ta, mục đích của mối hiệp nhất giữa thành phần môn đệ Chúa Kitô không ngăn cản chúng ta việc chúng ta sống với nhau trong đức ái ở tất cả mọi cấp độ, từ giây phút này đây. Không có nơi nào hay lúc nào t́nh yêu được mô phạm theo t́nh yêu của Vị Sư Phụ chúng ta là Chúa Giêsu lại trở thành thừa thăi cả; t́nh yêu không thể nào lại bất khả trở thành một ngơ tắt tiến tới mối trọn vẹn hiệp thông.
Tôi xin quí vị giúp chuyển đạt những niềm cảm mến của t́nh yêu thương huynh đệ chân thành của tôi tới Đức Christodoulos. Ngài đă ở với tôi ở Rôma đây để chào vĩnh biệt Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Chúa sẽ cho chúng ta thấy những cách thức và những thời điểm canh tân việc gặp gỡ của chúng ta trong bầu khí vui mừng của một cuộc gặp gỡ ah em với nhau.
Chớ ǵ việc viếng thăm của quí vị đạt được mọi sự như ư. Chớ ǵ Phép Lành của tôi ở cùng quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20060227_apostoliki-diakonia_en.html
Ṭa Thánh Vatican Trao Tặng Hài Tích Thánh Anrê cho Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp
Hôm Chúa Nhật 27/2/2006, Đức Hồng Y Roger Etchegaray, chủ tịch hồi hưu của Hội Đồng Ṭa Thánh Về Công Lư Và Ḥa B́nh, đă trao hài tích này cho Đức Giám Mục Chính Thống Agathangelos, vị đại diện của Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Hy Lạp ở Nhă Điển là Christodoulos, trong một lễ nghi tại Giáo Xứ Chúa Biến H́nh ở Rôma.
Hài tích được trao tặng này sẽ được mang về Nhă Điển tuần này và được trưng bày cho tín hữu tôn kính ở Nhà Thờ Chính Thống Thánh Barbara.
Từ năm 1208, các hài tích của vị tông đồ này đă được đặt ở hầm mộ của vương cung thánh đường Amalfi. Các hài tích ấy được mang về đây từ Constantinople.
Đức Tổng Giám Mục Orazio Soricelli đă đồng ư là việc trao tặng hài tích này là dấu hiệu của việc tái hợo nhất giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp.
ĐHY Etchegaray đă trao tặng hài tích này trong một hộp đựng là vật được ĐGM Agathangelos, vị tổng giám đốc của cơ quan Đối Thoại Tông Đồ Apostoliki Diakonia, hôn kính và giơ lên cho tín hữu thấy. Ngược lại, vị giám mục cũng lănh đạo phái đoàn đại biểu sinh viên Hy Lạp viếng thăm Rôma này, đă trao tặng một bức ảnh cho ĐHY Etchegaray và một bức họa Biến H́nh cho cha sở của nhà thờ giáo xứ diễn tiến biến cố trao tặng lịch sử này.
Vị giám mục này nói rằng phái đoàn đại biểu Hy Lạp đă đến Rôma “như khách hành hương để qú trước những ngôi mộ của các vị Tông Đồ…. Nơi Thánh Đường Biến H́nh nguy nga này, chúng tôi cảm thấy sức mạnh của niềm tin và thấy được những gương mặt của thành phần tín hữu liên kết với chúng tôi. Ở vào thời điểm chúng ta thấy sự dữ gia tăng, Kitô hữu chúng ta cần phải chống lại nó bằng đức tin, đức cậy và đức mến”.
Nhân danh Đức TGM Christodoulos ở Nhă Điển và Tất Cả Hy Lạp, vị giám mục này cám ơn đức hồng y về “hài tích quí báu ấy” và nói đến Giáo Hội Công Giáo như là một “Giáo Hội chị em”.
Trường Thần Học Apostoliki Diakonia c ủa Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp đă thực hiện một buổi ḥa nhạc Bazantine trước nghi thức trao tặng hài tích. Troing Thánh Lễ sau nghi thức trao tặng này, đức HY đă làm phép thêm sức cho 8 người trẻ.
Vị linh mục Andrea Santoro vừa bị giết ở Thổ Nhĩ Kỳ đă được nhớ đến trong việc cử hành này, v́ vị quá cố đă phục vụ ở giáo xứ này 10 năm.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/2/2006
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Hội Nghị của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội
Sau đây là nguyên văn sứ điệp Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gửi Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, nhân dịp Tổng Nghị Lần Thứ IX của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, một biến cố được tổ chức ở Porto Alegre, Ba Tây, đến hết ngày 23/2/2006.
Gửi Huynh Đáng Kính
Hồng Y Walter Kasper
Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo
Tôi hân hoan chào tất cả anh chị em đang họp nhau tham dự Tổng Nghị Lần Thứ Chín của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội được tổ chức ở Porto Alegre để suy nghĩ về đề tài: Lạy Thiên Chúa xin hăy biến đổi thế giới trong ân sủng của Ngài. Tôi đặc biệt chào Vị Tổng Thư Kư Tiến Sĩ Samuel Kobia, TGM Dadeus Grings, Chư Vị Công Giáo ở Ba Tây và tất cả những ai đă hoạt động để thực hiện biến cố quan trọng này. Tôi xin gửi đến tất cả anh chị em những lời chúc tốt đẹp chân thành của tôi, dựa vào lời của Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Rôma: “Chúc anh em ân sủng và b́nh an của Thiên Chúa là Cha của chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô” (Rm 1:7).
Quan tâm tới chúng ta chia sẻ cùng một niềm tin vào Chúa Ba Ngôi nơi phép rửa, Giáo Hội Công Giáo và Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội t́m cách cộng tác với nhau một cách hiệu nghiệm hơn bao giờ hết trong việc làm chứng cho t́nh yêu thần linh xủa Thiên Chúa. Sau 40 năm hợp tác tốt đẹp, chúng ta hướng tới việc tiếp tục cuộc hành tŕnh hy vọng đầy hứa hẹn này, khi chúng ta gia tăng nỗ lực của ḿnh hướng đến ngày Kitô hữu liên kết loan truyền sứ điệp cứu rỗi của Phúc Âm cho tất cả mọi người. V́ chúng ta cùng nhau thực hiện cuộc hành tŕnh này, chúng ta cần phải mở ḷng ra trước những dấu chỉ của Đấng Quan Pḥng Thần Linh cũng như trước tác động của Thánh Thần, v́ chúng ta biết rằng “mục tiêu thánh hảo là việc ḥa giải tất cả mọi Kitô hữu nơi mối hiệp nhất nên một Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô là những ǵ vượt quá năng lực và tài năng của con người” ("Unitatis Redintegratio," 24). Bởi thế niềm tin tưởng duy nhất của chúng ta đó là lời nguyện cầu của chính Chúa Kitô: “Lạy Cha Thánh, xin hăy v́ danh Cha mà ǵn giữ họ, những người Cha đă ban cho Con, để họ được hiệp nhất, như chúng ta là một” (Jn 17:11).
Trong cuộc Tổng Nghị này, hằng ngàn Kitô hữu cũng liên kết vào lời nguyện hiệp nhất ấy. Khi xin Thiên Chúa biến đổi thế giới bằng ân sủng của Ngài, chúng ta hăy nguyện cầu xin Ngài chúc lành cho cuộc đối thoại liên tôn của chúng ta được tiến bộ như ḷng chúng ta rất ước mong.
Xin anh chị em hăy tin tưởng vào việc tôi gần gũi cách thiêng liêng, và tôi xin tái khẳng định ư hướng của Giáo Hội Công Giáo trong việc tiếp tục một cuộc hợp tác vững chắc với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, nơi việc Giáo Hội này góp phần quan trọng vào phong trào đại kết, tôi xin Thiên Chúa ban muôn vàn phúc lành và an b́nh cho tất cả anh chị em.
Tại Vatican ngày
25/1/2006, Lễ Thánh Phaolô Trở Lại
Giáo
Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/2/2006
Những Mầm Mống Đại Kết Nẩy Nở ở Nga – Nhiều Biến Cố Đại Kết Diễn Tiến
Ngày 27/1/2006, một biến cố có tầm cỡ lớn đă được tổ chức ở Saint Petersburg. Biến cố này hướng tới Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo vừa kết thúc, cũng như biến cố kỷ niệm 62 năm việc giải tỏa t́nh trạng ngăn chặn những ǵ bấy giờ được gọi là Leningrad trong thời Thế Chiến II.
Có khoảng 200 người tập trung ở nhà thờ Luthêrô Tin Lành để tham dự hội nghị về “Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo và Vấn Đề Khoan Nhượng Tôn Giáo”, bao gồm Chính Thống, Công Giáo và Luthêrô Tin Lành. Trong cuộc hội nghị này, các tham dự viên đề cập tới nhu cầu bắt buộc phải làm việc với nhau như một khối và thực hiện một chứng từ chung để đạt tới mối hiệp nhất. Sau đó, họ đến nhà thờ Công Giáo St. Ekaterina để tham dự buổi cầu nguyện chung.
Sau cuộc cử hành về đạo đức là một cuộc ḥa nhạc ở nhà thờ Luthêrô Thánh Phêrô, với sự tham dự của dàn ḥa tấu và ca đoàn thuộc trường nhạc địa phương, một dàn nhạc tấu bài “Russian Requiem” liên quan tới việc ngăn chặn Leningrad. Sau buổi ḥa nhạc là bữa tiệc ở nhà thờ Luthêrô Tin Lành Ingri.
Một hội nghị mang tựa đề là: “Phải Chăng Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo là Vấn Đề Cần Thiết?”, được diễn ra tại thành phố Ryazan, cách thủ đô Moscow 200 cây số (125 dặm).
Biến cố này, được thực hiện tại Bảo Tàng Viện Về Lịch Sử Của Các Phong Trào Trẻ Trung, đă thu hút những đại diện của các giáo hội Công Giáo, Luthêrô Tin Lành, Kitô Hữu Tin Lành, Methodist và Adventist, cũng như các vị học giả và thức giả.
Điểm chính yếu của hội nghị này đó là việc viết lời kêu gọi gửi đến các viên chức của thành phố Ryazan xin họ cộng tác giúp thực hiện mối hiệp nhất Kitô Giáo:
“Trong những điều kiện chính trị và xă hội của một Nước Nga mới mẻ, th́ mối thân hữu và tương kính giữa thành phần Kitô hữu thuộc các hệ phái và niềm xác tín khác nhau trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, hầu tránh đi bùng nổ t́nh trạng thù hận liên tín, hay vấn đề dụ giáo hoặc vấn đề tham vọng lănh đạo đời sống tôn giáo”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/2/2006
Sau đây là những ư tưởng tiêu biểu cho bài diễn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tại Sảnh Đường Clementine ngỏ cùng phái đoàn 150 vị đại biểu thuộc 50 quốc gia, đại diện cho 40 Giáo Hội và 34 hội đồng Giám Mục cùng trên 50 hiệp hội cùng phong trào, một phái đoàn đại biểu tham dự vào Ủy Ban Sửa Soạn cho Hội Nghị Đại Kết Âu Châu lần Thứ Ba. Ủy Ban Sửa Soạn này sẽ họp nhau trong giai đoạn đầu này cho tới Thứ Sáu 27/1/2006, và nỗ lực đại kết này sẽ lên tới tột đỉnh của nó ở Sibiu nước Romania vào Tháng 9/2007. Chủ đề của cuộc họp này là “Thập Giá của Chúa Kitô Chiếu Soi Tất Cả Mọi Người: Niềm Hy Vọng cho Việc Canh Tân và Mối Hiệp Nhất ở Âu Châu”.
Trong bài diễn của ḿnh, ngài nhấn mạnh đến tầm vóc quan trọng và tác dụng của vấn đề Đại kết đối với định mệnh của một Âu Châu Hiệp Nhất:
“Ở một Âu Châu đang trên đường tiến đến mối hiệp nhất về chính trị, chúng ta có thể chấp nhận hay chăng Giáo Hội của Chúa Kitô là yếu tố gây ra t́nh trạng bất nhất và bất hợp? Phải chăng đó là một trong những gương mù lớn nhất của thời đại chúng ta đây?
“Ưu tiên đích thực đối với Âu Châu đó là việc tái cương quyết dấn thân để ánh sáng của Chúa Kitô được sáng tỏ và chiếu soi những bước đường của lục địa Âu Châu vào lúc mở màn cho tân thiên niên kỷ này.
“Tôi hy vọng rằng mỗi đoạn đường của cuộc hành tŕnh này đều được chiếu soi bởi ánh sáng này của Chúa Kitô, và Hội Nghị Đại Kết Âu Châu sẽ góp phần vào việc làm cho thành phần Kitô hữu thuộc các quốc gia của chúng ta ư thức hơn nữa về nhiệm vụ của họ trong việc làm chứng cho đức tin nơi môi trường văn hóa hiện nay là môi trường thường có những đặc tính của tương đối chủ nghĩa và t́nh trạng khô đạo.
“Để cho tiến tŕnh hiệp nhất đang diễn tiến được thành quả, Âu Châu cần phải tái nhận thức căn gốc của ḿnh, bằng cách giành chỗ cho các thứ giá trị đạo lư là những ǵ thuộc về gia sản thiêng liêng phong phú và vững chắc của nó.
“Tuy nhiên, việc chúng ta hiện diện với tư cách là thành phần Kitô hữu sẽ là những ǵ quyết liệt và rạng ngời chỉ khi nào chúng ta can đảm cương quyết tiến trên con đường ḥa giải và hiệp nhất.
“(Sau khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ) cần phải liên kết để giải quyết những thách đố hiện tại, bắt đầu với thách đố nơi tính cách tân tiến và tục hóa.
“Kinh nghiệm đă cho thấy rơ là việc đối thoại chân thành và huynh đệ là những ǵ làm phát sinh ra ḷng tin tưởng, những ǵ loại trừ đi các nỗi sợ hăi và thành kiến, những ǵ thắng vượt những khó khăn, và sẵn sàng đương đầu một cách yên hàn và xây dựng.
“(Đức Thánh Cha lập lại) ư muốn dứt khoát của ḿnh, một ư định đă được bày tỏ ngay vào lúc mở đầu cho giáo triều của ngài, trong việc thực hiện việc dấn thân hàng đầu để không ngừng hoạt động cho việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh nơi tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/1/2006
Anh Chị Em Thân Mến,
Vào ngày này, khi chúng ta mừng cuộc Trở Lại của Tông Đồ Phaolô, chúng ta bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm liên kết trong buổi phụng vụ huynh đệ này. Thật là ư nghĩa khi lễ Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Trở Lại trùng hợp với ngày cuối cùng của Tuần Lễ quan trọng này, một tuần lễ chúng ta đặc biệt thiết tha xin Thiên Chúa ban tặng ân hiệp nhất Kitô hữu quí báu, hợp cùng lời nguyện cầu của chính Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha cho thành phần môn đệ của Người: “xin cho họ tất cả được hiệp nhất nên một; như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ cũng được ở trong chúng ta, nhờ đó thế gian tin rằng Cha đă sai Con” (Jn 17:21).
Ước mong được hiệp nhất về phần hết mọi Cộng Đồng Kitô hữu và hết mọi tín hữu, và quyền năng để đạt được mối hiệp nhất này, là tặng ân của Thánh Linh và đi song song với việc trung thành sâu xa hơn và hoàn toàn hơn với Phúc Âm (cf. encyclical "Ut Unum Sint," No. 15).
Chúng ta nhận thấy rằng ở nền tảng của việc dấn thân cho vấn đề đại kết cần phải thực hiện việc hoán cải tâm hồn, như Công Đồng Chung Vaticanô II khẳng định: ‘Không thể nào có một cuộc đại kết xứng danh mà lại thiếu việc hoán cải tâm hồn. V́ từ thái độ mới mẻ này của tâm trí, từ t́nh yêu bỏ ḿnh và dồi dào này mà các ước vọng hiệp nhất mới vươn lên và phát triển một cách chín chắn’ (decree "Unitatis Redintegratio," No. 7).
‘Deus caritas est’ - Thiên Chúa là t́nh yêu (1Jn 4:8,16). Tất cả đức tin của Giáo Hội được xây dựng trên tảng đá này. Đặc biệt là việc nhẫn nại t́m kiếm mối hiệp thông trọn vẹn nơi tất cả mọi thành phần Kitô hữu được xây dựng trên tảng đá ấy: Bằng việc gắn mắt vào chân lư này, tột đỉnh của mạc khải thần linh, t́nh trạng chia rẽ này dường như có thể vượt qua và không làm cho chúng ta nản chí, cho dù sự kiện chia rẽ vẫn c̣n tiếp tục là những ǵ trầm trọng.
Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă phá hủy “bức tường phân chia hận thù” (Eph 2:14) bằng máu cuộc khổ nạn của Người, sẽ không ngừng ban cho những ai trung thành kêu xin Người sức mạnh để chữa lành mọi thương tích. Thế nhưng, luôn phải bắt đầu lại từ chỗ này, từ ‘Deus caritas est’.
Chính đề tài yêu thương này mà tôi viết bức thông điệp đầu tiên của ḿnh, bức thông điệp được ban hành hôm nay; việc trùng hợp này với ngày bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo mời gọi chúng ta hăy coi, thậm chí hơn cả cuộc chúng ta qui tụ này, tất cả cuộc hành tŕnh đại kết trong ánh sáng của t́nh yêu Thiên Chúa, của T́nh Yêu là Thiên Chúa.
Ngay cả theo quan điểm nhân loại đi nữa, t́nh yêu cũng tỏ ra như là một mănh lực bất khả thắng, th́ chúng ta phải nói sao về ‘người nhận biết và tin tưởng vào t́nh yêu Thiên Chúa đă giành cho chúng ta’ (1Jn 4:16) đây?
T́nh yêu chân chính không loại trừ đi những khác biệt hợp lư, nhưng ḥa hợp chúng lại thành một mối hiệp nhất ở mức độ cao hơn, một mối hiệp nhất được áp đặt lên chúng ta từ bên ngoài, đúng hơn, nói cách khác, một mối hiệp nhất của toàn thể được h́nh thành từ bên trong.
Nó là mầu nhiệm hiệp thông, như nó liên kết con người nam nữ lại thành một cộng đồng yêu thương và sự sống là hôn nhân thế nào, nó cũng làm cho Giáo Hội thành một cộng đồng yêu thương, cống hiến mối hiệp nhất cho một kho tàng đa dạng về các tặng ân và các truyền thống. Trong việc phục vụ cho mối hiệp nhất yêu thương này, Giáo Hội Rôma, theo Thánh Ignatiô Antiôkia diễn tả, ‘chủ sự trong đức ái’.
Anh chị em thân mến, trước anh chị em đây, hôm nay tôi muốn lập lại việc phó dâng cho Thiên Chúa thừa tác vụ kế vị Thánh Phêrô của ḿnh, xin Thánh Linh soi sáng và tăng sức cho thừa tác vụ này, nhờ đó nó luôn nuôi dưỡng mối hiệp nhất huynh đệ nơi tất cả mọi Kitô hữu.
Đề tài yêu thương liên kết một cách sâu xa hai bài đọc thánh kinh ngắn của Giờ Kinh Phụng Vụ Tối hôm nay. Ở bài đọc thứ nhất, đức ái thần linh là sức mạnh biến đổi đời sống của Saolê thành Tarsus và biến ngài thành Vị Tông Đồ Dân Ngoại. Viết cho Kitô Hữu ở Côrintô, Thánh Phaolô tuyên xưng rằng ân sủng của Thiên Chúa đă thực hiện biến cố trở lại phi thường nơi ngài: “Nhờ ơn Chúa mà tôi là những ǵ tôi là, và ân sủng của Ngài giành cho tôi đă không uổng phí” (1 Cor 15:10).
Một đàng ngài cảm thấy gánh nặng của vấn đề bị ngăn cản việc truyền bá sứ điệp của Chúa Kitô; thế nhưng, đàng khác, ngài lại sống trong niềm vui được gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh và được soi sáng cùng biến đổi bởi ánh sáng của Người. Ngài giữ măi cái kỷ niệm đổi đời này, một biến cố quan trọng đối với toàn thể Giáo Hội, đến nỗi trong Sách Tông Vụ chi tiết này đă được nhắc tới 3 lần (cf. Acts 9:3-9; 22:6-11; 26:12-18).
Trên con đường đến Damascô, Saolê nghe thấy vấn nạn nhức nhối là: “Tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?” Khi ngă xuống đất với tấm ḷng xao động, Saolê lên tiếng hỏi: “Lạy Chúa, Ngài là ai?”, ngài đă nhận được một câu trả lời trở thành nền tảng cho việc ngài trở lại: “Ta là Giêsu, Đấng ngươi đang bách hại” (Acts 9:4-5). Thánh Phaolô ngay lúc ấy những ǵ sau này ngài diễn tả trong các văn thư của ngài: đó là Giáo Hội làm nên một thân thể duy nhất có Chúa Kitô là Đầu. Bởi thế, từ một kẻ bách hại Kitô hữu ngài trở thành Vị Tông Đồ của Dân Ngoại.
Ở sứ điệp của Phúc Âm Thánh Mathêu chúng ta mới nghe trước đây ít lâu, t́nh yêu tác hành như nguyên tắc hiệp nhất Kitô hữu và bảo đảm là việc họ đồng tâm nhất trí nguyện cầu được Cha Trên Trời lắng nghe. Chúa Giêsu nói: “Nếu hai người trong các con ở dưới thế hợp nhau xin bất cứ sự ǵ th́ Cha Thày trên trời sẽ ban cho họ” (Mt 18:19).
Chữ được Vị Thánh Kư này sử dụng cho chữ “hợp nhau” là “synphonesosin”: chữ này làm cho chúng ta liên tưởng tới một thứ “hợp tấu” về tâm can. Thánh Kư đă sử dụng chữ này căn cứ vào tâm can của Thiên Chúa. Hợp nhau nguyện cầu, bởi thế, là những ǵ quan trọng v́ nó được Cha Trên Trời tiếp nhận.
Cùng nhau cầu xin đă là những ǵ đánh dấu bước tiến tới mối hiệp nhất giữa những ai kêu xin rồi. Điều này dĩ nhiên không có nghĩa là việc Thiên Chúa đáp ứng là do chúng ta yêu cầu, ở một nghĩa nào đó. Chúng ta quá biết điều này: đó là mối hiệp nhất theo ḷng thỏa nguyện trước hết lệ thuộc vào ư muốn của Thiên Chúa, Đấng quan pḥng và quảng đại vượt trên sự hiểu biết của con người cùng những điều yêu cầu và mong mỏi của họ.
Chính v́ cậy dựa vào dự thiện hảo thần linh mà chúng ta hăy gia tăng việc nguyện cầu chung cho mối hiệp nhất là những ǵ hơn bao giờ hết là một phương tiện cần thiết và rất hiệu nghiệm, như Đức Gioan Phaolô II đă nhắc nhở chúng ta trong thông điệp “Để Họ Được Hiệp Nhất Nên Một”: “Theo con đường đại kết dẫn đến hiệp nhất, th́ việc cầu nguyện chung chắc chắn chiếm một vị thế quan trọng, việc hiệp nguyện của những ai qui tụ lại với nhau chung quanh chính Chúa Kitô” (đoạn 22).
Khi phân tích những đoạn văn này một cách sâu xa hơn, chúng mới mới hiểu rơ hơn lư do tại sao Chúa Cha đáp ứng trực tiếp cho điều yêu cầu của Cộng Đồng Kitô Hữu: Chúa Giêsu nói “V́ ở đâu có hai hay ba người qui tụ lại v́ danh Thày th́ Thày ở giữa họ”.
Chính sự hiện diện của Chúa Kitô làm cho việc cầu nguyện chung này của những ai qui tụ lại v́ danh Người được công hiệu. Khi Kitô hữu qui tụ lại để cùng nhau cầu nguyện th́ chính Chúa Giêsu ngự giữa họ. Họ là một với Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.
Hiến Chế của Công Đồng Chung Vaticanô II về phụng vụ thánh đề cập ngay tới câu Phúc Âm này để nói tới một trong những cách hiện diện của Chúa Kitô: “Người hiện diện khi Giáo Hội nguyện cầu và ca hát, v́ Người đă hứa ‘ở đâu có hai hay ba người qui tụ lại v́ danh Thày th́ Thày ở giữa họ’ (Mt 18:20)” (“Sacrosanctum Concilium”, đoạn 7).
Dẫn giải về đoạn này của Thánh Kư Mathêu, Thánh Gioan Chrysostom hỏi: “Vậy th́ phải chăng không có hai hay ba người hợp lại v́ danh Người? Có chứ nhưng hiếm lắm”, ngài trả lời (Homily on the Gospel of St Matthew, 60,3).
Tối nay, tôi cảm thấy được một niềm vui bao la khi thấy một hội đồng đông đảo nguyện cầu van nài ơn hiệp nhất trong ḥa hợp. Tôi xin gửi lời chào tới từng người và tất cả mọi người. Tôi đặc biệt chào các chư huynh thuộc những giáo hội và cộng đồng giáo hội khác thuộc thành phố này, những người anh em liên kết với nhau trong cùng một phép rửa là phép làm cho chúng ta trở thành phần tử của một Nhiệm Thế Chúa Kitô duy nhất.
40 năm qua đi từ ngày tại chính thành phố này, hôm 5/12/1965, Người Tôi Tớ Chúa Phaolô VI đáng nhớ đă cử hành buổi cầu nguyện chung đầu tiên vào lúc kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II với sự hiện diện trọng thể của các Giáo Phụ Công Đồng và việc chủ động tham dự của thành phần quan sát viên thuộc các giáo hội và cộng đồng giáo hội khác.
Theo đó, Đức Gioan Phaolô II dấu yêu đă bảo tŕ truyền thống bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện đây. Tôi tin rằng tối nay cả hai vị đều đang từ Trời nh́n xuống và hợp với lời nguyện cầu của chúng ta.
Trong số những vị tham dự vào buổi họp mặt này, tôi đặc biệt chào và cám ơn nhóm các vị đại biểu thuộc các giáo hội, các hội đồng giám mục, các cộng đồng Kitô hữu và các tổ chức đại kết đang bắt đầu sửa soạn cho Hội Nghị Đại Kết Âu Châu lần thứ 3 sẽ được tổ chức ở Sibiu, Romania, vào tháng 9/2007 về đề tài: “Ánh Sáng của Chúa Kitô chiếu soi trên tất cả mọi người. Niềm hy vọng canh tân và hiệp nhất ở Âu Châu”.
Phải, anh chị em thân mến, Kitô hữu chúng ta có nhiệm vụ, ở Âu Châu cũng như giữa tất cả mọi dân nước, trở thành “ánh sáng thế gian” (Mt 5:14). Xin Thiên Chúa ban cho chúng tam au chóng tiến tới mối hiệp thông trọn vẹn hằng mong ước.
Việc tái thể hiện mối hiệp nhất của chúng ta sẽ làm cho việc truyền bá phúc âm hóa càng trở thành hiệu nghiệm hơn. Hiệp nhất là sứ vụ của chúng ta; nó là điều kiện khiến ánh sáng của Chúa Kitô có thể lan rộng hơn nữa ở khắp nơi trên thế giới, nhờ đó con người nam nữ trở về mà được cứu độ.
Con đường đang trải dài trước mắt chúng ta! Thế nhưng, chúng ta không được mất ḷng tin tưởng; trái lại, bằng một nghị lực mạnh mẽ hơn, một lần nữa chúng ta cần phải cùng nhau tiếp tục cuộc hành tŕnh. Chúa Kitô bước đi trước chúng ta và bên cạnh chúng ta. Chúng ta nương tựa vào việc luôn hiện diện của Người và khiêm tốn cùng liên lỉ van xin Người ban tặng ân hiệp nhất và b́nh an quí báu này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống: Cuộc Đối Thoại Đại Kết tái diễn ... lạc quan
Theo bản tường tŕnh của Đức Ông Eleuterio Fortino, phó bí thư Hội Đồng Ṭa Thánh Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, được phổ biến trên tờ nhật báo ấn bản Ư ngữ L’Osservatore Romano hôm Thứ Năm 19/1/2006, th́ vào thời khoảng 18-25/9/2006, Giáo Hội Chính Thống Serbian sẽ đứng ra tổ chức một đại hội ủy ban hỗn hợp đại diện thuộc Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Chính Thống, v́ những cuộc gặp gỡ đối thoại như thế này đă bị trục trặc và đ́nh trệ từ cuộc họp năm 2000.
Cuộc họp năm 2000 này diễn ra ở Baltimore, Maryland Hoa Kỳ, đă kết thúc mà không có một thỏa hiệp nào, v́ những trái nghịch nhau “về quan niệm thần học liên quan tới vấn đề Uniatism”, tức liên quan tới nguyên tắc Chư Giáo Hội Đông Phương theo lễ nghi của Các Giáo Hội Chính Thống đă trở về hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo. Tuy nhiên, cuộc họp năm 2000 này bổ ích, như Đức Ông tác giả bản tường tŕnh nhận định:
“Nó đă cụ thể hóa bản chất đích thực của vấn đề được bàn luận. Cuộc hạ sinh của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương hết sức gắn liền với việc công nhận quyền tối thượng của Giám Mục Rôma trong Giáo Hội của Chúa Kitô”.
Bởi thế, “quyền bính của Giáo Hội” sẽ là một trong những đề tài chính cho việc đối thoại sau này giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo vậy.
Cuộc họp ở Belgrade sẽ diễn ra nhờ quyết tâm của Đức Thượng Phụ Toàn Cầu Bartholomew I Giáo Chủ Constantinople. Tháng 9/2005, vị Thượng Phụ này đă qui tụ các vị đại diện được chỉ định thuộc Chư Giáo Hội Chính Thống đặc trách việc đối thoại với Giáo Hội Công Giáo.
Bản thông báo đúc kết của cuộc họp này đă giải thích rằng “đối với những đề tài liên quan tới đức tin th́ không thể nào châm chước cho vấn đề cần phải t́m kiếm hiệp nhất trong phạm vi trước cuộc ly giáo” năm 1054.
Trong thời khoảng 13-15/12/2005, ủy ban hỗn hợp này đă gặp nhau ở Rôma để sửa soạn cho cuộc họp ở Belgrade tới đây. Cuộc cuộc họp sửa soạn ấy, các vị đại diện đôi bên đă được triều kiến Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, vị đă nói với họ rằng trong giai đoạn đối thoại mới này cần phải lưu ư tới hai khía cạnh như sau:
“Một mặt th́ loại trừ đi những khác biệt c̣n tồn tại, mặt khác th́ chấp nhận ước muốn cốt yếu mong thực hiện mọi sự có thể để tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn là những ǵ rất thiết yếu cho cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, như bản văn kiện sửa soạn cho hoạt động của anh em đă nói rơ”.
Đức Thượng Phụ Bartholomew I đă mời Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ, một cuộc viếng thăm có thể đẩy mạnh cuộc đối thoại giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo trong năm 2006.
Bài tường tŕnh của Đức Ông tác giả trên đây là bài đầu tiên trong loạt bài thẩm định về vấn đề hiệp nhất Kitô Giáo trong Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô Giáo (18-25/1/2006).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/1/2006
Đức Giám Mục Heikka,
Đức Giám Mục Wróbel,
Quí Tôn Hữu Phần Lan thân mến,
Tôi rất lấy làm vui mừng tiếp đón quí vị, những phần tử thuộc phái đoàn đại biểu đại kết Phần Lan nhân dịp mừng lễ Thánh Henrik là quan thày của quí vị hôm nay.
Tôi muốn nhắc lại rằng qua nhiều năm, vị tiền nhiệm thân yêu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă hân hoan và tri ân tiếp đón các tham dự viên vào cuộc hành hương hằng năm tới Rôma đây, một việc làm trở thành một biểu hiệu cho những liên hệ thân t́nh giữa chúng ta cũng như việc đối thoại đại kết tốt đẹp của chúng ta. Những cuộc viếng thăm này là cơ hội để hoạt động được sinh hoa kết trái hơn, cũng như để sâu đậm hơn “vấn đề đại kết thiêng liêng” (cf. "Ut Unum Sint," 21) là những ǵ khiến cho thành phần Kitô hữu chia rẻ cảm nhận được mức độ đă liên kết họ lại với nhau.
Ủy Ban Đối Thoại Luthêrô và Công Giáo hiện nay ở Phần Lan và Thụy Điển được xây dựng trên việc thành đạt chính yếu của Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa. Trong môi trường đặc biệt ở các quốc gia Bắc Âu, ủy ban này đang tiếp tục nghiên cứu việc chiếm đạt và những hàm ư thực tiễn của Bản Tuyên Ngôn Chung này. Nhờ đó nó t́m cách giải quyết những khác nhau vẫn c̣n tồn tại giữa người Luthêrô và Công Giáo liên quan tới một số vấn đề đức tin và đời sống xă hội, trong khi vẫn nhiệt thành làm chứng cho sự thật của Phúc Âm.
Trong những ngày này của Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, chúng ta đặc biệt ư thức rằng hiệp nhất là một ân ban, và chúng ta cần tiếp tục xin Chúa ban cho chúng ta tặng ân ấy. Niềm hy vọng của chúng ta được bảo đảm bởi lời Người hứa: “Thày nói lại cho các con hay, đó là nếu có hai người trong các con hợp nhau trên thế gian này để xin bất cứ điều ǵ th́ Cha Thày trên trời sẽ ban cho các con. V́ ở đâu có hai ba người hợp lại v́ danh Thày th́ Thày ở giữa họ” (Mt 18:19-20).
Chúng ta hăy tạ ơn Chúa về tất cả những ǵ đă đạt được cho tới nay nơi mối liên hệ giữa Công Giáo và Luthêrô, và chúng ta hăy cầu nguyện để Ngài làm cho chúng ta tràn đầy Thần Linh của Ngài, Vị Thần Linh hướng dẫn chúng ta tới tất cả sự thật và yêu thương.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/1/2006
“Thày lập lại cùng các con rằng nếu có hai người trong các con trên trái đất hợp ư xin điều ǵ th́ Cha Thày ở trên trời sẽ ban cho họ” (Mt 18:19). Lời trịnh trọng cam kết này của Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ của Người là những ǵ nâng đỡ việc chúng ta nguyện cầu. Hôm nay là ngày bắt đầu Tuần Lễ truyền thống Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, một cơ hội quan trọng để suy nghĩ về thảm trạng chia rẽ của cộng đồng Kitô Giáo và để cùng với chính Chúa Giêsu cầu nguyện “xin cho họ tất cả được nên một hầu thế gian nhận biết” (Jn 17:21). Chúng ta cũng muốn làm điều này ở đây, hợp cùng với đại quần chúng trên thế giới. Việc cầu nguyện “cho mối hiệp nhất của tất cả” bao gồm, qua những cách thức và thời điểm khác nhau, Công Giáo, Chính Thống và Thệ Phản, là thành phần liên kết trong niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Thế duy nhất.
Việc cầu nguyện cho hiệp nhất là yếu tố trọng tâm được Công Đồng Chung Vaticanô II gọi là “linh hồn của tất cả phong trào đại kết” ("Unitatis Redintegratio," No. 8), một trọng tâm chính yếu bao gồm việc nguyện cầu chung riêng, việc hoán cải tâm hồn và cuộc sống thánh đức. Quan điểm này cho chúng ta thấy cái cốt lơi của vấn đề đại kết, cái cốt lơi hợp với Phúc Âm trong việc thực hiện ư muốn của Thiên Chúa, với ơn trợ giúp cần thiết và hiệu năng của Ngài. Công Đồng đă minh nhiên cắt nghĩa cho tín hữu thấy được cái cốt lơi này khi dạy: “V́ họ càng hiệp nhất với Chúa Cha, với Lời và với Thần Linh, họ sẽ càng có thể sâu xa và dễ dàng tăng triển trong t́nh yêu hỗ tương huynh đệ” (cùng nguồn, đoạn 7).
Bất chấp t́nh trạng chia rẽ lâu dài, những yếu tố này, những yếu tố tiếp tục hiệp nhất Kitô hữu, là những ǵ bảo tŕ khả năng dâng lời cầu nguyện chung lên Thiên Chúa. Mối hiệp thông này trong Chúa Kitô là những ǵ duy tŕ tất cả phong trào đại kết và cho thấy mục tiêu của việc t́m kiếm mối hiệp nhất cho tất cả mọi Kitô hữu trong Giáo Hội của Thiên Chúa. Điều này làm cho phong trào đại kết khác biệt hẳn bất cứ hoạt động về đối thoại hay liên hệ với các tôn giáo và ư hệ khác.
Về điều này, giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II nơi sắc lệnh về vấn đề đại kết cũng rất đúng: “Phong trào hướng về hiệp nhất này được gọi là ‘đại kết’. Những ai thuộc về phong trào này là thành phần kêu cầu Thiên Chúa Ba Ngôi và tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Thế” (cùng nguồn, đoạn 1). Những lời cầu nguyện chung vang lên khắp thế giới đặc biệt trong giai đoạn này, hay vào dịp Lễ Hiện Xuống, lại càng bày tỏ ư muốn của một nỗ lực chung trong việc tái thiết mối trọn vẹn hiệp thông của tất cả mọi Kitô hữu. “Những lời nguyện cầu chung như thế chắc chắn là phương tiện hiệu nghiệm trong việc chiếm được ơn hiệp nhất” (cùng nguồn, đoạn 8).
Bằng lời khẳng định này, Công Đồng Chung Vaticanô II giải thích một cách dứt khóat những ǵ Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người, thành phần Người bảo đảm là ở đâu có hai người qui tụ lại trên mặt đất này xin bất cứ điều ǵ cùng Cha ở trên trời th́ Ngài sẽ ban cho điều đó “v́” ở đâu có hai ba người hợp lại v́ danh Người th́ Người ở giữa họ. Sauk hi phục sinh, Người bảo đảm với các vị rằng Người sẽ ở với các vị “măi măi cho tới tận thế” (Mt 28:20). Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cộng đồng các môn đệ cũng như nơi việc nguyện cầu của chúng ta là những ǵ bảo đảo tính cách hiệu nghiệm. Cho đến nỗi Người đă hứa quyết rằng “bất cứ điều ǵ các con cầm buộc dưới thế th́ trên trời cũng cầm buộc, và bất cứ những ǵ các con tháo cởi dưới thế th́ trên trời cũng tháo cởi” (Mt 18:18).
Thế nhưng, chúng ta không chỉ thực hiện việc van xin mà thôi. Chúng ta cũng có thể dâng lời tạ ơn Chúa về t́nh h́nh mới, một t́nh h́nh, nhờ nỗ lực, đă tạo được những liên hệ đại kết nơi Kitô hữu trong t́nh huynh đệ, những ǵ đă tái diễn nhờ những thắt kết mạnh mẽ của t́nh đoàn kết được thiết lập, của mối hiệp thông gia tăng và của những qui điểm được thực hiện – chắc chắn là một cách không đồng đều – giữa các cuộc đối thoại khác nhau. Có nhiều lư do để tạ ơn Chúa. Và nếu vẫn c̣n nhiều điều cần phải làm và hy vọng, th́ chúng ta đừng quên rằng Thiên Chúa đă ban cho chúng ta nhiều điều trên con đường hiệp nhất rồi. Bởi thế, chúng ta hăy biết ơn Ngài về những tặng ân ấy. Tương lai ở trước mắt chúng ta.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đáng kính nhớ, vị đă làm rất nhiều và vất vả về vấn đề đại kết, đă dạy chúng ta rằng “niềm cảm nhận việc Thiên Chúa đă ban phát biết là chừng nào là điều kiện dọn ḷng chúng ta đón nhận những tặng ân vẫn bất khả thiếu trong việc hoàn tất công cuộc hiệp nhất đại kết” ("Ut Unum Sint," No. 41). Bởi thế, anh chị em thân mến, chúng ta hăy tiếp tục cầu nguyện để nhận thức rằng lư do thánh hảo của việc tái thiết lập mối hiệp nhất Kitô Giáo là những ǵ vượt quá các nỗ lực nghèo nàn của nhân loại chúng ta và hiệp nhật trên hết là tặng ân của Thiên Chúa.
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay bắt đầu Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, một thời điểm tất cả mọi người môn đệ Chúa Kitô được kêu gọi để suy nghĩ về thảm trạng chia rẽ của ḿnh và cầu cúng Chúa “để tất cả được nên một… cho thế gian nhận biết” (x Jn 17:21).
Việc cầu nguyện cho mối hiệp nhất Kitô Giáo là “tâm điểm của phong trào đại kết” ("Unitatis Redintegratio," No. 8), và gắn liền với việc hoán cải tâm hồn và theo đuổi việc nên thánh theo ư muốn của Thiên Chúa. V́ tín hữu sống gần với Thiên Chúa Ba Ngôi th́ họ sẽ gần gũi với nhau hơn và sẵn sàng hoạt động sốt sắng hơn cho việc phục hồi mối hiệp thông trọn vẹn.
Việc cầu nguyện chung của Kitô hữu là một phương tiện mănh liệt để nài xin ơn hiệp nhất, v́ chính Chúa của chúng ta đă hứa rằng “nếu có hai người trong các con hợp ư trên thế gian này xin điều ǵ th́ Cha trên trời sẽ ban cho. V́ đâu có hai ba người hợp lại v́ danh Thày th́ Thày ở giữa họ” (Mt 18:19-20).
Với ḷng biết ơn Thiên Chúa về việc tiến bộ đáng kể về đại kết có được, chúng ta hăy hy vọng nh́n về tương lai, và hăy tiếp tục cầu nguyện cho mối hiệp nhất của tất cả mọi Kitô hữu, bằng cách nh́n nhận rằng trên hết nó là tặng ân ưu ái của Thiên Chúa ban vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 18/1/2006
Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm từ ngày 18 tới 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại
Các bản văn suy tư và nguyện cầu cho năm nay được soạn thảo bởi một nhóm đại kết ở Dublin Ái Nhĩ Lan, là nhóm được chọn bởi Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo cũng như bởi Ủy Ban Về Đức Tin Và Phẩm Cấp Thuộc Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội.
Chủ đề cho năm này là câu Phúc Âm Thánh Mathêu: “Đâu có hai ba người hợp lại v́ danh Thày th́ Thày sẽ ở giữa họ”. Tuy nhiên, mỗi ngày trong tuần lại có một đề tài riêng như sau:
Ngày 18: Liên kết bởi sự hiện diện của Chúa Kitô. “Chỉ có một Chúa, một Đức Tin, một Phép Rửa” (Eph 4:5,6).
Ngày 19: Xây dựng mối hiệp nhất Kitô Giáo với Chúa Giêsu ở giữa chúng ta – vấn đề đại kết hằng ngày. “Các con cũng phải rửa chân cho nhau nữa” (Jn 13:14)
Ngày 20: Cùng nhau nguyện cầu nhân danh Chúa Giêsu. “Chúa đợi chờ để ban ân giáng phúc cho các người” (Is 30:18)
Ngày 21: Từ quá khứ đến tương lai – việc thứ tha và chữa lành kư ức. “Thày nói cho các con biết không phải là 7 lần mà là bay mươi bảy lần bảy” (Mt 18:22)
Ngày 22: Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta: một tiếng gọi sống an b́nh. “Chúa ở cùng chúng ta” (Ps 46)
Ngày 23: Sứ vụ nhân danh Chúa Giêsu. “Cha các con trên trời không muốn một trong những trẻ nhỏ này bị hư đi” (Mt 18:14)
Ngày 24: Nh́n nhận và đón nhận việc hiện diện của Thiên Chúa nơi người khác v́ danh Chúa Giêsu. “Ai đón nhận một trẻ nhỏ nào như thế này v́ danh Thày là đón nhận Thày” (Mt 18:5)
Ngày 25: Hiệp nhất trong hy vọng. “Vào ngày ấy các con sẽ biết rằng Thày ở trong Cha Thày và các con ở trong Thày, và Thày ở trong các con” (Jn 14:20)
Mặc dù giai đoạn truyền thống cử hành tuần lễ cầu nguyện cho việc Hiệp Nhất Kitô Giáo này được cử hành trong Tháng Giêng, song ở nam bán cầu, đôi khi các Giáo Hội t́m các dịp khác để cử hành thay thế, chẳng hạn như vào thời điểm Lễ Hiện Xuống, một Lễ đặc biệt tiêu biểu cho mối hiệp nhất của Giáo Hội, và là thời điểm được gợi ư bởi phong trào Đức Tin Và Phẩm Cấp vào năm 1926.
Tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành, vào lúc 5 giờ 30 chiều Thứ Tư 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ chủ sự Phụng Vụ Giờ Kinh Chiều để kết thúc Tuần Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo năm 2006 này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 17/1/2006
Quí Bạn thân mến,
Vào lúc mở màn cho năm mới đây, tôi đón mừng quí bạn, những vị lănh đạo của Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách, nhân dịp quí bạn viếng thăm Vatican. Tôi tri ân nhớ lại việc hiện diện của những vị Đại Biểu thuộc Thế Giới Liên Minh này ở cả lễ an táng vị tiền nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng như ở lễ đăng quang cho thừa tác vụ giáo hoàng của tôi. Qua những dấu hiệu tỏ ra tương kính và thân hữu này tôi cảm thấy vui mừng thấy được một thứ hoa trái tốt đẹp xuất phát từ việc đối thoại và hợp tác huynh đệ đă được thực hiện trong 4 thập niên qua, và là một dấu hiệu cho thấy niềm hy vọng vững chắc trong tương lai.
Thật vậy, trong tháng vừa qua, tháng đánh dấu 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, một Công Đồng đă ban hành Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio. Cuộc Đối Thoại giữa Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Cải Cách, một cuộc đối thoại xẩy ra sau đó ít lâu, đă là một đóng góp quan trọng cho công việc cần thiết để suy tư về thần học và nghiên cứu về lịch sử là những ǵ bất khả châm chước để thắng vượt những chia rẽ thảm thương xuất phát từ nơi Kitô hữu trong thế kỷ thứ 16. Một trong những kết quả của cuộc Đối Thoại này đó là việc cho thấy những lănh vực qui hợp quan trọng giữa việc Chư Giáo Hội Cải Cách hiểu về Giáo Hội như là Creatura Verbi với việc Giáo Hội Công Giáo hiểu về Giáo Hội như là một Bí Tích nồng cốt để Thiên Chúa tuôn ban ân sủng xuống trong Chúa Kitô (xem Ánh Sáng Muôn Dân, 1). Nó là một dấu hiệu phấn khởi để giai đoạn đối thoại hiện thời tiếp tục đào sâu vào tính cách phong phú và bổ xung của những thứ kiến thức này.
Sắc Lệnh về Đại Kết xác nhận rằng “không có một cuộc đại kết nào xứng với danh xưng của ḿnh nếu không thực hiện việc thống hối nội tâm” (đoạn 7). Vào lúc mở màn cho Giáo Triều của ḿnh, tôi đă nói lên niềm xác tín của ḿnh là “việc hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi tiến bộ về đại kết” (Homily in the Sistine Chapel, 20 April 2005), và nhắc lại gương của vị tiền nhiệm ḿnh là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị thường nói về nhu cầu cần phải “thanh tẩy kư ức” như cách thức mở ḷng ra để lănh nhận tất cả sự thật của Chúa Kitô. Vị cố Giáo Hoàng này, nhất là vào dịp Đại Năm Thánh 2000, đă cống hiến một động lực mănh liệt cho nỗ lực này của Giáo Hội Công Giáo, và tôi cảm thấy vui mừng khi thấy rằng có một số Chư Giáo Hội Cải Cách là phần tử của Tổ Chức Thế Giới Liên Minh này cũng đă thực hiện tương tự như thế. Những cử chỉ như vậy là những tảng đá xây dựng cho một mối liên hệ sâu xa hơn là những ǵ cần phải được nuôi dưỡng trong chân lư và yêu thương.
Quí bạn thân mến, tôi nguyện cầu để cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay đây tự nó sẽ sinh hoa kết trái nơi việc dấn thân mới mẻ cho hoạt động hiệp nhất tất cả mọi Kitô hữu. Con đường trước mắt chúng ta đ̣i chúng ta phải thực hiện việc nghiên cứu và trao đổi khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại. Chớ ǵ chúng ta bắt đầu bằng một niềm tin tưởng mới, bằng việc tuân phục Phúc Âm và bằng niềm hy vọng mănh liệt nơi lời Chúa Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội của Người, nơi t́nh yêu của Chúa Cha và nơi quyền năng của Chúa Thánh Thần (cf. Unitatis Redintegratio, 24).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20060107_alliance-reformed-churches_en.html