ĐTC Biển Đức XVI viết thư mừng 60 năm thành lập của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Về Các Biến Cố Hiệp Nhất Kitô Giáo trong Năm 2006
Tuần Lễ Cầu Nguyện hằng năm Cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo
Tiến tŕnh Hiệp Nhất Kitô Giáo đă đi tới đâu rồi - Thành Đạt ra sao?
Một Lời Chung Giữa Chúng Tôi và Anh Em
“Bức Thư Ngỏ và Kêu Gọi của Chư Vị Lănh Đạo Tín Đồ Hồi Giáo” gửi các vị lănh đạo thuộc Chư Giáo Hội Kitô Giáo khác nhau như là một sứ điệp vui mừng nhân dịp kết thúc mùa chay tịnh Ramadan 1428/2007, cũng nhân dịp kỷ niệm đệ nhất chu niên “Bức Thư Ngỏ của 38 Học Giả Hồi Giáo gửi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI” là một biến cố hết sức ư nghĩa mà chúng tôi không thể không ghi nhận và cần phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó. Bởi thế, là những phần tử nhân viên Học Viện Ṭa Thánh Rôma Nghiên Cứu Ả Rập và Hồi Giáo (PISAI: Rome Pontifical Institute for Arabic and Islamic Studies), đặc biệt quan tâm đến những liên hệ giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo, chúng tôi tin rằng chúng tôi có phận sự bày tỏ quan điểm của chúng tôi về văn kiện này.
Bằng một tâm trí cởi mở trong nỗ lực đáp ứng cái nhiệt t́nh được tỏ hiện nơi
biến cố này, chúng tôi xin ghi nhận tất cả những ǵ chúng tôi cảm nhận được nơi
việc tŕnh bày và nội dung của những trang viết ấy. Chúng tôi cảm phục ḷng
thành của những ai soạn thảo nó, những ǵ đă được thanh tẩy bởi cuộc chay tịnh
dài trong Mùa Lễ
Ramadan. Việc chúng tôi liên kết lâu dài và chuyên cần với gia sản về văn hóa và
đạo nghĩa của Hồi Giáo, cũng như việc chúng tôi thường xuyên liên hệ với các
phần tử của cộng đồng tín đồ Hồi Giáo, giúp chúng tôi có thể thấy được tính chất
độc đáo của cử chỉ này và cho phép chúng tôi kéo chú ư của những ai không phải
là tín đồ Hồi Giáo tới những phẩm chất của nó.
Trước hết, chúng tôi cảm kích trước phạm vi bao rộng của bản văn này. Cái bao rộng của nó ở lănh vực các chữ kư, với 138 nhân vật tín đồ Hồi Giáo, thuộc nhiều quốc gia ở mọi châu lục, thành phần rất khác nhau về liên kết đạo giáo. Tính cách bao rộng c̣n ở lănh vực của thành phần được ngỏ lời với, đó là tất cả mọi vị lănh đạo thuộc Chư Giáo Hội Kitô Giáo khác nhau, bao gồm rơ ràng tên của 28 vị.
Theo cùng chiều hướng nhận định, chúng tôi chú ư tới đối tượng được quan tâm tới, đó là tín đồ Hồi Giáo, tín đồ Kitô Giáo, người Do Thái và dân chúng trên thế giới. Những người viết bức thư này không t́m cách tránh né bằng một cuộc phản kháng thuận lợi đơn phương v́ “umma” (biệt chú của người dịch bản Việt ngữ ở đây th́ chữ này có nghĩa chung là “cộng đồng”), nhưng trái lại, coi ḿnh như là đồng bạn với nhân loại. Đối với nhân loại, họ đă cống hiến lối nhận định của họ về những nền tảng và nguyên lư của nhân loại, những ǵ cũng được các cộng đồng khác chấp nhận, để nhân loại được sống c̣n trong một nền ḥa b́nh hữu hiệu và bao quát.
Lănh vực bao rộng nơi quan điểm của bức thư cũng là một đặc tính đáng kể của bản văn này nữa. Phải công nhận là các người viết bức thư này chẳng những đă chú trọng tới vận mạng của thế giới hiện nay, đang gặp nguy biến vào lúc này đây, mà c̣n tới vận mạng của ‘các hồn thiêng bất tử’ nữa, một số mệnh được quyết định đâu đó trong tương lai. Mục đích lưỡng diện này, vừa mênh mang lại vừa siêu việt, đă trở thành một luồng hướng mănh liệt và thanh thoát suốt cả bản văn.
Dĩ nhiên, chúng tôi cũng cảm thấy giật ḿnh trước tính chất căn bản của vấn đề được đặt ra, đó là Thiên Chúa và nhân loại. Vấn đề ở đây sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều nếu đóng khung ḿnh vào những ư nghĩ phóng khoáng có tính cách mơ hồ và tổng quát hơn là nhờ đó chú trọng tới tính cách đ̣i hỏi đối với những quyền lợi của Thiên Chúa cũng như của nhân loại, những quyền lợi đ̣i phải có một ư thức liên lỉ và một t́nh yêu chủ động từ mỗi một cá nhân.
Chúng tôi cũng thấy rơ thái độ đặc biệt được những vị kư tên vào bức thư này tỏ ra đối với điểm đối chiếu tối hậu bao gồm “người khác” như người Do Thái hay Kitô hữu, tức là giới luật lưỡng diện yêu mến Thiên Chúa và tha nhân trong Sách Nhị Luật và trong Phúc Âm Thánh Mathêu. Thái độ sẵn sàng công nhận người khác nơi ước muốn sâu xa nhất về những ǵ họ muốn, đối với chúng tôi, dường như là một trong những điểm chính yếu của bản văn kiện này. Chỉ có thế mới bảo đảm thành công trong một mối liên hệ chân thực giữa các cộng đồng khác biệt về văn hóa và tôn giáo.
Đồng thời chúng tôi cũng nhận thức được cách thức được các vị tác giả của bản văn này, với tư cách tín đồ Hồi Giáo, nhận định thích hợp về căn tính của họ trong hai giới luật này. Họ làm như thế không phải v́ muốn chiều theo hay làm chính trị, mà thực sự chỉ v́ họ muốn loan truyền chuyên nhất tính thần linh, (al-tawhid), cái trục tin tưởng của tín đồ Hồi Giáo. Thật vậy, chúng tôi công nhận rằng việc sâu xa chấp nhận chuyên nhất tính thần linh là một trong những bày tỏ đích thực nhất của t́nh yêu mến giành cho một ḿnh Thiên Chúa. Ngoài ra, v́ niềm tin bao giờ cũng đi liền với các việc lành phúc đức, như Kinh Koran không ngừng lập đi lập lại, (al-ladỵna âmanû wa 'amilû al-sâlihât : al-Baqara 2, 25,), mà t́nh yêu mến Thiên Chúa là những ǵ bất khả phân ly với t́nh yêu thương tha nhân.
Quan điểm tích cực này về những vấn đề trục trặc rơ ràng là đă giúp cho họ có thể tránh được việc tranh luận, có thể thắng vượt chính ḿnh, có thể chấp nhận và bỏ qua nỗi bất măn trước một đáp ứng đă không làm măn nguyện những ước mong của họ nơi thành quả của bức thư họ gửi vào năm 2006 cho Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI.
Đọc bản văn kiện này, chúng tôi nhận thấy nơi họ có sự hiện diện của một thái độ mới mẻ và sáng tạo cân xứng với sách Kinh Koran và là một thái độ theo truyền thống của vị Tiên Tri ấy. Thái độ này liên quan tới một số những dẫn giải về lịch sử, những dẫn giải đă được đánh dấu bằng những trường hợp riêng biệt tương đối hạn hẹp đối với mối quan tâm tới thành phần không phải tín đồ Hồi Giáo. Chúng tôi đặc biệt thấy họ áp dụng chung cho những câu Âl 'Imrân 3, 113-115, những câu liên quan tới ‘một cộng đồng vững chắc là những người qú xuống đọc các mạc khải của Thiên Chúa vào lúc đêm khuya’, những câu đă được nhiều nhà dẫn giải chủ trương đến độ cho rằng chỉ liên quan tới thành phần Kitô hữu về vấn đề cải giáo.
Chúng tôi cảm thấy vui khi thấy rằng bản văn này đă sử dụng những câu trích dẫn thánh kinh và Phúc Âm từ các nguồn cùng với những dẫn giải theo các ngôn ngữ nguyên gốc như Hebrew, Aramaic và Hy Lạp. Đây là chứng cớ cho thấy thái độ tỏ ra hết sức tôn trọng và thực sự chú trọng tới những người khác, đồng thời cũng là một tinh thần khoa học thực sự nữa. Cả về khía cạnh này nữa, chúng tôi nhận thấy xuất hiện một thái độ mới mẻ.
Tóm lại, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến một thái độ tích cực tiên quyết của thánh phần viết lên bức thư ấy trong việc họ giải thích ba đoạn song song của các Phúc Âm Nhất Lăm. Họ có thể đă muốn thực hiện một thứ dẫn giải thánh kinh hạn hẹp và tối thiểu hơn nhiều, một thứ dẫn giải mà truyền thống Kitô Giáo có thể đă cung cấp cho họ không khó khăn ǵ mà họ chắc chắn biết tới. Phấn khởi trước thái độ của họ, chúng tôi cũng chỉ muốn chủ trương thực hiện việc dẫn giải hết cỡ các bản văn của Kinh Koran và truyền thống của Vị Tiên Tri là những ǵ không chỉ giới hạn cho umma những ích lợi mà bất cứ một tín đồ Hồi Giáo tốt lành nào cũng muốn chia sẻ với tha nhân của ḿnh, v́ niềm tin tưởng của họ nơi Thiên Chúa cũng như nơi t́nh yêu chuyên biệt của Ngài đối với họ.
Những khác biệt nơi ngôn ngữ của chúng ta cũng như nơi các sắc thái của chúng ta (ihtilâf alsinati-kum wa alwâni-kum: al-Rûm 30, 22), tức là, những khác biệt sâu xa về văn hóa của chúng ta, sẽ không gây ra ngờ vực, bất tín, khinh bỉ và bất đồng nơi chúng ta, như vẫn thường xẩy ra trong lịch sử về mối liên hệ của chúng ta và vẫn c̣n diễn ra trong thế giới hôm nay. Một bản văn kiện như thế là những ǵ phấn khích chúng ta trong việc theo đuổi dứt khoát dấn thân của chúng ta, nhờ đó, những sai biệt sẽ được thấy như là những dấu hiệu đối với những ai hiểu biết, (inna fỵ dâlika la-âyâtin li-l-'âlimỵna), tức như là t́nh thương của Chúa chúng ta.
Rôma ngày 25/10/2007
Linh Mục Miguel Ángel Ayuso Guixot, Viện Trưởng
Linh Mục Etienne Renaud, Giám Học
Linh Mục Michel Lagarde, Giáo Sư
Linh Mục Valentino Cottini, Giáo Sư
Linh Mục Felix Phiri, Giáo Sư
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 29/10/2007
Cuộc họp lần thứ 10 của Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế về Vấn Đề Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Chính Thống và Giáo Hội Công Giáo Rôma diễn tiến tại Ravenna Ư quốc, một thành phố nổi bật với những tượng đài lịch sử và nghệ thuật, nhiều tượng đài từ thời Byzantine. Cuộc gặp gỡ này xẩy ra từ ngày 8 đến 14 tháng 10 năm 2007, dưới sự điều hành nhiệt t́nh của Tổng Giáo Phận Ravenna-Cervia.
Hiện diện có 27 trong 30 phần tử Công Giáo (hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục và thần học gia giáo dân). Các phần tử Chính Thống Giáo (tổng giáo mục, giám mục, linh mục và thần học gia giáo dân) đại diện cho Ṭa Thượng Phụ Toàn Cầu, Ṭa Thượng Phụ Alexandria, Ṭa Thượng Phụ Antioch, Ṭa Thượng Phụ Giêrusalem, Ṭa Thượng Phụ Mosc ow, Ṭa Thượng Phụ Serbia, Ṭa Thượng Phụ Romania , Ṭa Thượng Phụ Georgia, Giáo Hội ở Cyprus, Giáo Hội ở Hy Lạp, Giáo Hội ở Balan, Giáo Hội ở Albania, Giáo Hội ở Xứ Sở Tiệp Khắc và Slovakia, Giáo Hội ở Phần lan và Giáo Hội Tông Đồ ở Estonia. Các vị đại diện thuộc Ṭa Thượng Phụ Bulgaria không thể tham dự.
Ủy ban này đă làm việc dưới sự hướng dẫn của nhị vị đồng chủ tịch là Đức Hồng Y Walter Kasper và ĐTGM John ở Pergamon, những vị được trợ giúp bởi nhị vị bí thứ là ĐTGM Gennadios ở Sassima thuộc Ṭa Thượng Phụ Hoàn Vũ và Đức Ông Eleuterio Fortino thuộc Hội Đồng Ṭa Thánh về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo.
Phiên họp đă được bắt đầu tại Đền Thờ Sant’Apollinare ở Classe vào tối ngày 8/10, bằng giờ Kinh Tối, được chủ tọa bởi ĐTGM ở Ravenna là ĐTGM Giuseppe Verucchi, và bằng một lời nguyện về phần các phần tử của Chính Thống.
Ngỏ lời cùng thành phần tham dự viên, ĐTGM ở Ravenna đă nói rằng: “Chúng tôi cảm thấy vui mừng v́ các ngài hiện diện ở nơi đây. Các ngài được nguyện cầu bởi hai cộng đồng chiêm niệm của chúng tôi, của thành phần tu sĩ nam nữ, của các vị linh mục và các cộng đồng giáo xứ. Trong khi các ngài bận đối thoại với nhau, trong việc t́m kiếm con đường dẫn tới chỗ gần hơn với mối hiệp thông trọn vẹn, chúng tôi sẽ không gây trở ngại cho các ngài, nhưng chúng tôi sẽ gắn bó với các ngài bằng ḷng cảm mến và lời nguyện cầu của chúng tôi”.
Ủy ban này đă được đón tiếp ở phủ tổng trưởng bởi Bà Quận Trưởng Floriana De Sanctis, vị bày tỏ niềm hy vọng là “ước muốn đối thoại, hiểu biết và được thông cảm, những ǵ làm nên đặc tính của Ủy Ban Hỗn Hợp này, sẽ là một dấu hiệu được tất cả chúng ta bắt chước trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta”. Hiện diện trong cuộc họp c̣n có cả vị thị trưởng của thành phố, vị lănh thủ vùng và lănh thủ hạt, cùng với các vị thẩm quyền dân sự khác.
Ủy ban này đă bàn luận về đề tài “Những Thành Quả về Giáo Hội Học và Giáo Luật của Bản Tính có Tính Cách Bí Tích của Giáo Hội: Mối Hiệp Thông của Giáo Hội, Tính Cách Công Đồng và Thẩm Quyền trong Giáo Hội”. Việc nghiên cứu này đă được bắt đầu từ khóa họp lần trước ở Belgrade, 18-25/9/2006, đưa vào bản nháp được diễn giải bởi Tiểu Ban Điều Hợp Chung ở Moscow vào năm 1990, thế nhưng lại là một bản nháp chưa được bàn luận ở một khóa họp đại hội Trong phiên họp này, việc học hỏi ấy đă được hoàn tất và một văn kiện chung thỏa hợp đă được chuẩn nhận. Văn kiện này cống hiến một căn bản vững chắc cho tương lai hoạt động của ủy ban này.
Vào ngày họp đầu tiên, theo thông lệ của ủy ban này, các phần tử của Công Giáo Rôma và Chính Thống gặp nhau riêng biệt để điều hợp công việc của ḿnh. Tại cuộc họp bên Chính Thống Giáo, phái đoàn đại biểu của Ṭa Thượng Phụ Moscow đă tŕnh bày quyết định của Giáo Hội ấy trong việc rút khỏi buổi họp này v́ sự hiện diện của các phái đoàn đại biểu thuộc Giáo Hội Estonia là Giáo Hội đă được Ṭa Thượng Phụ Hoàn Vũ tuyên bố là “độc lập”, một vị thế không được Ṭa Thượng Phụ Moscow công nhận, và bất chấp sự kiện là Ṭa Thượng Phụ Hoàn Vũ, với sự đồng ư của tất cả mọi phần tử Chính Thống, đă cống hiến một dung ḥa công nhận việc bất công nhận của Ṭa Thượng Phụ Moscow về Giáo Hội Độc Lập Estonia.
Đề tài cho cuộc họp đại hội lần tới sẽ là “Vai tṛ của Vị Giám Mục Rôma nơi mối hiệp thông của Giáo Hội trong thiên kỷ thứ nhất”.
Địa điểm và thời điểm cho Tiểu Ban Điều Hợp tới sẽ được quyết định vào một ngày nào sau đó.
Khóa họp thứ 10 n ày đă được kết thúc bằng lời cầu nguyện. Vào Thứ Bảy 13/10/1917, các phần tử Công Giáo cử hành Thánh Thể ở Vương Cung Thánh Đường TGP Ravenna, trước sự hiện diện của các phần tử Chính Thống Giáo. Vào Chúa Nhật, ngày 14/10, các phần tử Chính Thống đă cử hành Giờ Kinh Thần Vụ ở Đền Thờ Thánh Vitalis, trước sự hiện diện của các phần tử Công Giáo. Trong cả hai biến cố này, ĐTGM ở Ravenna và các phần tử thuộc hàng giáo sĩ và và giáo dân ở thành phố Ravenna đă tham dự.
Cuộc họp của Ủy Ban nối kết này đă được đánh dấu bằng tinh thần hữu nghị và tin tưởng hợp tác. Các phần tử thuộc ủy ban này hết sức tri ân cảm tạ việc tiếp tân rộng răi của TGP Ravenna, và họ mạnh mẽ ủy thác việc tiếp tục hoạt động thực hiện cho lời nguyện cầu của tín hữu.
Ravenna, Ư quốc, 14/10/2007
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/10/2007
Chính Thống Giáo phản ứng trước văn kiện của Ṭa Thánh Rôma về tín lư Giáo Hội
Vị giám mục chính thống giáo Alfeev Hilarion ở Vienna và Áo quốc và là vị đại diện của Giáo Hội Chính Thống Nga ở các Cơ Cấu Âu Châu đă nói với mạng điện toán Zenit về văn kiện được Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin phổ biến ngày Thứ Ba 10/7/2007 tựa đề “Những Giải Đáp cho Một Số Vấn Đề Liên Quan Tới Vài Khía Cạnh của Tín Lư về Giáo Hội”.
Theo vị giám mục này th́ bản văn kiện “chẳng có ǵ là lạ so sánh với những bản văn kiện trước cùng loại, chẳng hạn như văn kiện tựa đề “Chúa Giêsu”.
Vị giám mục này đă nh́n nhận văn kiện giải thích về Giáo Hội, và giải thích chính xác rằng Giáo Hội của Chúa Kitô sinh tồn nơi Giáo Hội Công Giáo, là một ư nghĩa không được Chính Thống Giáo chấp nhận.
“Sự phân biệt giữa ‘sinh tồn’ và ‘hiện hữu hay hoạt động’ có lẽ ư nghĩa hơn theo quan điểm truyền thống thần học Latinh, thế nhưng nó không có ư nghĩa nhiều lắm đối với một thần học gia Chính Thống.
“Đối với chúng tôi, ‘sinh tồn’ có nghĩa thực sự là ‘hiện hữu và hoạt động’, và chúng tôi tin rằng Giáo Hội của Chúa Kitô sinh tồn, hiện hữu và hoạt động nơi Giáo Hội Chính Thống”.
Tuy nhiên, vị giám mục này cũng khẳng định rằng Chư Giáo Hội Chính Thống có cùng quan điểm với Giáo Hội Công Giáo về các cộng đồng giáo hội khác.
“Đối với Chư Giáo Hội Chính Thống, bản văn kiện này nói rằng ‘những Giáo Hội ấy, mặc dù tách biệt (khỏi Rôma), cũng có những bí tích thực sự và nhất là – v́ việc thừa kế tông đồ – có thiên chức linh mục và Thánh Thể’. Bởi thế việc thừa kế các tông đồ và các bí tích là những dấu thiết yếu của Giáo Hội.
“Chính Thống Giáo cũng tin rằng việc thừa kế tông đồ và váv phép bí tích là những dấu hiệu thiết yếu của Giáo Hội.
“Đó là lư do tại sao Chính Thống Giáo đồng ư rằng những cộng đồng giáo hội không có việc thừa kế tông đồ và không bảo tŕ kiến thức đích thực về Thánh Thể và các bí tích khác không thể được gọi là ‘giáo hội’ đúng nghĩa”.
“Sự chia rẽ giữa Chính Thống Giáo và Thệ Phản bởi thế sâu sa hơn và trầm trọng hơn là sự chia rẽ giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo”.
Vị giáo phẩm Chính Thống này cũng đă nói tới một trong những vấn đề xung khắc chính trên con đường tiến đến hiệp nhất giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo đó là nhân vật Giám Mục Rôma.
“Theo bản văn kiện này th́ ‘mối hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, với vị thủ lănh hữu h́nh là Giám Mục Rôma và là vị Thừa Kế Thánh Phêrô, không phải là một sự bổ xung ngoại tại nào đó đối với một Giáo Hội riêng biệt mà là một trong những nguyên lư cấu tạo nội tại’.
“Bởi thế, Chư Giáo Hội Chính Thống v́ lư do không hiệp thông với Vị Giám Mục Rôma ‘thiếu một cái ǵ đó nơi điều kiện là những giáo hội riêng biệt’.
“Chính Thống Giáo chúng tôi tin tưởng rằng, v́ không hiệp thông với chư giáo hội này mà Giáo Hội Công Giáo Rôma ‘thiếu một cái ǵ đó nơi điều kiện của ḿnh’”.
Tuy nhiên, vị giám mục này bày tỏ niềm hy vọng rằng cả hai Giáo Hội đều đặt ưu tiên cho vấn đề hiệp nhất.
“Việc phục hồi mối hiệp thông với Giáo Hội Chính Thống cần phải là những ǵ quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo như là việc phục hồi mối hiệp thông với Giáo Hội Rôma đối với Giáo Hội Chính Thống vậy”.
“Việc rạn nứt mối hiệp thông Thánh Thể giữa Đông và Tây là một thảm trạng chung, ảnh hưởng đến cả Giáo Hội Công Giáo lẫn Giáo Hội Chính Thống. Sự t́m cầu hiệp nhất cần phải là những ǵ quan trọng tương đương đối với cả hai Giáo Hội”.
ĐTGM Chính Thống
Kirill ở Smolensk và Kaliningrad, vị lănh đạo Phân Bộ Ṭa Thượng Phụ Moscow Về
NHững Liên Hệ Ngoài Giáo Hội đă nói với các phóng viên báo chí ở Moscow rằng bản
văn kiện này của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin có thể góp phần vào việc đạt đến mối
hiệp nhất, chính v́ “để thực hiện một cuộc đối thoại thần học chân thành, người
ta cần phải có một quan điểm rơ ràng về chủ trương của phía bên kia. Nó giúp vào
việc hiểu biết t́nh trạng chúng ta khác nhau ra sao”.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
11/7/2007
Tôi rất lấy làm vui mừng chuyển lời chào thân ái của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cho quí vị phát động và tổ chức cùng nhiều tham dự viên vào biến cố “Cùng Nhau Cho Âu Châu” đang diễn tiến vào hôm 12/5 tại Stuttgart.
Sáng kiến “Cùng Nhau Cho Âu Châu” được hiện thực nhở trực giác đại kết tốt lành của các nhóm đoàn, các hiệp hội, các phong trài và các cộng đồng thuộc Giáo Hội Công Giáo, Thệ Phản, Chính Thống và Anh Giáo, muốn kiếm cách nhấn mạnh đến nhu cầu can phải cùng nhau khẳng định việc trung thành với Phúc Âm ở một Âu Châu đang liều ḿnh mất đi những giá trị nguyên khôi của nó và loại trừ đi những gốc gác Kitô Giáo của ḿnh.
Những lời của Vị Giáo Hoàng Khả Kính Gioan Phaolô II dường như trở nên thích đáng hơn bao giờ hết: “Tôi muốn đề cập đặc biệt đến cái mất mát về kư ức và di sản Kitô Giáo của Châu Âu, một mất mát được đi kèm theo bởi một thứ khuynh hướng bất khả thần tri và thái độ lạnh lùng dưng dưng về đạo nghĩa là những ǵ làm cho nhiều người Âu Châu cảm thấy sống thiếu gốc gác thiêng liêng và một cái ǵ đó như là thành phần thừa hưởng đă làm phung phí đi một gia sản được lịch sử kư thác cho họ” (Post-Synodal exhortation "Ecclesia in Europa", 7).
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đang làm âm vang mối quan tâm này. Từ ban đầu của giáo triều ḿnh, ngài không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội nào để nhắc nhở đến tầm quan trọng của việc bảo toàn cái di sản Kitô Giáo, một kho tàng đặc biệt của địa lục Âu Châu.
Lời kêu gọi đừng mất gốc này giống như một lời mời gọi được lập lại lă hăy cụ thể hoạt động để các tín hữu trong Chúa Kitô thuộc các niềm tin khác nhau được liên kết nỗ lực của ḿnh trong việc phục vụ cho một lư tưởng hợp thời và thích đáng ấy. Nó là vấn đề bênh vực một di sản nhân bản và thiêng liêng quan trọng đối với vấn đề phát triển đích thực của Âu Châu (…)
Bởi thế, Đức Thánh Cha hy vọng rằng cuộc họp “Cùng Nhau Cho Âu Châu” này sẽ củng cố ước muốn hiệp thông là những ǵ làm sinh động các phong trào và các cộng đồng giáo dân thuộc các giáo hội khác nhau; để nó có thể góp phần vào việc thắng vượt những thành kiến, chủ nghĩa quốc gia và các trở ngại về lịch sử, và có thể thôi thúc dân chúng hoạt động để khía cạnh thiêng liêng khỏi bị yếu kém ở Âu Châu trong thời hậu tân tiến này.
Tất cả mọi nỗ lực của loài người sẽ chẳng bổ ích ǵ nếu chúng ta tách rời khỏi sự nâng đỡ thần linh, v́ “trừ phi Chúa xây nhà bằng không họ khổ công vô ích” (Ps 127). Nhờ cậy dựa vào sự giúp đỡ của Đấng Toàn Năng, anh chị em mới có thể tin tưởng nh́n vào hiện tại và tương lai, anh chị em mới có thể can đảm hoạt động và kiên tŕ nhận biết rằng Cha trên trời, trong sự quan pḥng và chăm sóc của Ngài, luôn mang lại hoa trái cho những nỗ lực khiêm hèn của con cái Ngài, thành phần muốn thực hiện ư muốn của Ngài “dưới đất cũng như trên trời”.
Với tinh thần ấy, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI cầu xin phúc lành thần linh ban xuống trên tất cả những ai tham dự vào biến cố ư nghĩa này. Tôi cũng hứa cầu nguyện cho từng người và hết mọi người anh chị em và tôi lợi dụng dịp này để gửi đến anh chị em lời chào thân ái.
Hồng Y Tarcisio Bertone
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
14/5/2007
Thần Học Gia David Warner nhận định về đại kết liên quan tới loạt bài giáo lư của ĐTC Biển Đức XVI về Giáo Hội Hiệp Thông Tông Truyền
Nhà thần học David Warner trước đây là một mục sư Tin Lành. Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, ông cho biết nhờ đọc về các vị Giáo Phụ của Giáo Hội mà ông đă trở về với Giáo Hội Công Giáo. Ngoài ra, ông c̣n nhận định về loạt bài giáo lư của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI hiện nay góp phần vào việc đại kết nữa. Hiện nay ông là thành viên kỳ cựu của Trung Tâm Thánh Phaolô Về Thần Học Thánh Kinh ở Steubenville Ohio, và là một phụ giảng sư cho Đại Học Sacramento, California.
Vấn: Làm thế nào các vị Giáo Phụ của Giáo Hội thuở ban đầu đă ảnh hưởng đến đời sống của ông, trước hết là một mục sư Tin Lành sau đó là một người Công Giáo?
Đáp: Tôi ĺa bỏ Giáo Hội Công Giáo vào những năm c̣n trung học. Một cuộc t́n kiếm xa rộng đă đưa tôi xa rời Giáo Hội và tiến đến một thứ Kitô Giáo theo sáng kiến riêng của tôi.
Sau 3 năm lang thang, tôi tái chấp nhận thần học về Chúa Ba Ngôi và thực hiện một cuộc hoán cải về với thần tính và chủ tể tính của Chúa Giêsu Kitô. Đó là khởi điểm của những ǵ trở thành một cuộc tái khám phá và trở về với những ǵ được Kinh Tin Kính Nicene gọi là ‘Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền’.
Thế rồi trong 18 năm lưu trú hết nơi này đến nơi khác ở những chiều hướng khác nhau của Tin Lành, tôi cứ muốn trở lại với việc nghiên cứu các thế kỷ ban đầu của Kitô Giáo.
Trong khi giảng dạy một khóa sưu tầm về lịch sử Giáo Hội, tôi tiến đến chỗ xác tín rằng tôi đă không hoàn toàn liên kết với một Giáo Hội duy nhất được trực tiếp thiết lập bởi Chúa Kitô và được làm chứng bởi các vị Giáo Phụ.
Việc đọc các v ị Giáo Phụ thời Tông Đồ và các nhà hộ giáo thuộc thế kỷ thứ hai đă thúc đẩy tôi đi tới chỗ nắm bắt được những yếu tố ‘Công Giáo’ trọn vẹn của Kitô Giáo thuở ban đầu.
Một sự kiện không thể chối căi được đă hiện hữu ngay ở các thể hệ ban đầu, đó là việc chẳng hạn như Kitô hữu tin vào một thần học về bí tích, một phẩm trật được lănh đạo bởi các vị giám mục được bổ nhiệm bởi các vị tông đồ tiên khởi, và sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể.
Là một người Công Giáo, vấn đề giáo dục Kitô giáo của tôi đă được điều chỉnh và dồi dào nhờ học ba cấp bằng đại học về thần học Công Giáo. Những cuộc nghiên cứu học hỏi yêu chuộng của tôi có liên hệ tới giáo phụ học.
Dù tôi có tái nghiên cứu về thần học thánh kinh, thần học tín lư, thần học luân lư, thần học lịch sử hay thần học mục vụ; dù là việc giáo dục Công Giáo hay vấn đề đại kết, điểm thống nhất chung đó là khám phá những ǵ được các thần học gia và mục tử tiên khởi giảng dạy và thực hành.
Những cuộc nghiên cứu cấp tiến sĩ của tôi đă tập trung vào cuộc trở lại của một người Anh thuộc thế kỷ 19 đó là Đức Hồng Y Newman, vị mà, như rất nhiều mục sư tin lành gần đây, kể cả bản thân tôi, đă trở lại với tất cả những ǵ là trọn vẹn của Giáo Hội cổ kính phần lớn chịu ảnh hưởng của các vị Giáo Phụ.
Vấn:
Tại sao các Kitô hữu ngoài Công Giáo lại chú trọng đến những vị Giáo Phụ
thuộc mấy thế kỷ đầu hơn là những vị thánh và tiến sĩ sau này của Giáo Hội?
Đáp: Nơi các vị Giáo Phụ Tông Thời (Apostolic Fathers) cũng như nơi các vị giám mục cùng các nhà hộ giáo tiên khởi, chúng ta có những liên hệ ban đầu trong giây chuyền móc nối Kitô hữu ngày nay với nhóm 12 Vị.
Trích lại lời của vị giám mục thế kỷ thứ 2 là Thánh Irenaeus thành Lyons, Đức Biển Đức XVI đă nhắc nhở chúng ta rằng Thánh Clêmentê, vị giám mục Rôma thứ ba kế thừa Thánh Phêrô, c̣n ‘văng vẳng bên tai ḿnh lời giảng dạy (của các vị tông đồ tiên khởi) và thấy được trước mắt ḿnh truyền thống của các vị’.
Đức Giáo Hoàng Clement đă không e ngại về việc áp dụng quyền bính tông truyền vượt ra ngoài địa phương của ḿnh, khi giảng dạy và sửa sai Giáo Hội ở Corintô, ở măi Hy Lạp xa xôi.
Những vị đại giám mục khác được Đức Biển Đức XVI khai thác, như Thánh Ignatio thành Antiokia, và Thánh Polycarp, những vị đă chịu tử đạo v́ đức tin các vị biết rằng các vị đă lănh nhận trực tiếp từ các vị tông đồ nguyên thủy là những người đă truyền dạy cho các vị.
Tôi nhớ đến lập luận khi c̣n là một mục sư Tin Lành, đó là nếu Clement, Ignatius, Polycarp và Irenaeus không làm sáng tỏ vấn đề chỉ sau một hay hai thế hệ, th́ tôi c̣n hy vọng ǵ để tin tưởng rằng Đức Giêsu là Đấng được Tân Ước tuyên nhận như Người là, hay tin rằng Người đă thành lập một Giáo Hội mà cửa hỏa ngục cũng không làm ǵ được, và là một Giáo Hội được Thần chân lư dẫn dắt cho tới khi Người lại đến?
Cuối cùng, tôi đă buông trôi việc cố gắng trở thành giáo hoàng của ḿnh, và đă trở về với Giáo Hội của các vị Giáo Phụ.
Vấn:
Ông nghĩ sao về thành phần Kitô hữu ngoài Công Giáo và những người khác đối
với các bài giáo lư của Đức Biển Đức XVI liên quan tới các vị Giáo Phụ của Giáo
Hội thuở ban đầu?
Đáp: Thật sự là nhiều người trong họ không thể trực tiếp hiểu nổi những giáo huấn này. Thế nhưng, đối với những ai thực sự hiểu nổi, th́ những phản ứng của họ sẽ bị chi phối bởi các tiền thức của họ cũng như những xác tín hiện tại của họ.
Những ai thuộc thành phần chủ trương xét lại lịch sử xă hội sẽ có khuynh hướng liệt kê những giáo huấn của Đức Biển Đức chỉ như là một thứ lập lại ‘lịch sử đă được thành phần chiến thắng kể lại’ ở các trận chiến xưa về vấn đề chính thống.
Đối với họ th́ một luồng dường như vô tận ‘những thứ phúc âm bị thất thoát’ và ‘những khám phá mới’ là những ǵ ít là bổ túc cho, nếu không muốn nói là tương đương với hay vượt trên, Thánh Kinh và các bản văn chính thống của những vị giám mục và thánh nhân của thuở ban đầu.
Đó là trường hợp liên quan tới những ǵ được Hồng Y Ratzinger cảnh giác trong bài giảng của ḿnh ngay trước mật nghị bầu giáo hoàng: ‘Khi có một đức tin minh bạch, được căn cứ vào Kinh Tin Kính của Giáo Hội, th́ ngày nay thường bị gán cho là một thứ bảo thủ…. Chúng ta đang tiến đến m ột thứ chủ nghĩa tương đối độc đoán là chủ nghĩa không công nhận bất cứ một điều là là vững chắc cả’.
Chúng ta chẳng hạn đă trở nên quen thuộc với việc bị truyền thông tấn công vào
mỗi dịp Giáng Sinh và Phục Sinh bằng cách thứ lư thuyết liên quan tới Chúa Giêsu
cũng như tới mọi niềm tin khác của Kitô Giáo, căn cứ vào những bản văn bị bác
bỏ.
B́nh thường th́ những bản văn ấy được viết bởi những tác giả kư biệt danh cho rằng ḿnh là m ột trong các vị tông đồ hay đồng nghiệp của các vị. Nhiều bản văn loại này đă tung ra những lư thuyết của thành phần bất khả thần tri là những ǵ đă bị các tác giả Tân Ước ở thế kỷ thứ nhất cảnh giác tấn công.
Chúng bị các vị giám mục xưa kia bác bỏ như là những ǵ không trung thực với các giáo huấn của Chúa Kitô, những giáo huấn đă được truyền đạt bởi các vị tông đồ và thành phần thừa kế của các vị.
Một dấu hiệu phấn khởi đó là đang có một sự chăm chú đang gia tăng nơi những vị học giả và mục sư Tin Lành, những người được thu hút vào dự phóng tái nhận thức và thích ứng với vũ trụ quan đặc thù, thần học và linh đạo của các vị Giáo Phụ.
Khi t́m cách để trở nên ‘Công Giáo’ hơn mà không cần phải là ‘Công Giáo Rôma’, nhiều thần học gia và nhà xuất bản tin lành đang tung ra những nghiên cứu nghiêm chỉnh về thần học thánh kinh của các vị Giáo Phụ.
Đó là con đường hứa hẹn của một thứ qui tụ khả thể có thể giúp vào những quyết tâm đại kết của riêng Đức Biển Đức XVI. Tôi nghĩ rằng những người anh chị em trong Chúa Kitô ấy sẽ t́m thấy lương thực để suy tư và việc mở rộng tư tưởng về đạo giáo của họ nhờ các chia sẻ về giáo phụ của vị Giáo Hoàng này.
Vấn: Ông có suy nghĩ tại sao Đức Biển Đức XVI lại chọn giảng dạy về các vị Giáo Phụ Kitô Giáo ban đầu vào chính lúc này đây?
Đáp: Loạt bài về các vị Giáo Phụ cho các buổi triều kiến chung Thứ Tư hiện nay, được bắt đầu từ ngày 7/3/2007. Nó là việc tiếp tục của việc giảng dạy giáo lư về mầu nhiệm Giáo Hội được bắt đầu cách đây 1 năm vào Tháng Ba 2006, với những bài suy niệm về mỗi một vị trong 12 Tông Đồ.
Vào Tháng 10, ngài đă kéo chú ư của chúng ta tới Thánh Phaolô và thành phần cộng tác viên của thánh nhân, những con người như Timôthêu và Titô – những vị giám mục ban đầu – và thành phần lănh đạo giáo dân trong Giáo Hội, như cặp vợ chồng Aquila và Priscilla.
Đức Biển Đức XVI đang cố gắng theo đuổi mệnh lệnh của Chúa Kitô truyền cho Thánh Phêrô là ‘hăy nuôi dưỡng chiên của Thày’. Lương thực ngài chọn để cung cấp cho chúng ta trong loạt bài này là một gia sản vĩ đại của những con người nam nữ thánh đức đă sống và chết như thành phần chứng nhân cho Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô cũng như cho Giáo Hội của Người trong các thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô Giáo.
Từ chứng từ của các vị, chúng ta mới có thể hiểu hơn mầu nhiệm của Giáo Hội như là ‘việc Chúa Kitô hiện diện giữa loài người’.
Đối với những người Công Giáo th́ lịch sử cứu độ là một thảm kịch của dự án Thiên Chúa mạc khải cho dân của Ngài. Lịch sử này có thể được đọc nơi các trang Sách Thánh cũng như nơi lịch sử Giáo Hội. Những chia sẻ của Đức Biển Đức XVI là những ǵ nhắm mục đích giúp cho chúng ta lưu ư lại bản tính thiết yếu và sứ vụ của Giáo Hội trong bối cảnh lịch sử cứu độ.
Vấn:
Đâu là nền tảng chung Kitô hữu có thể thấy được nơi các vị Giáo Phụ, và làm
thế nào để nó có thể giúp vào các nỗ lực đại kết?
Đáp: Các vị Giáo Phụ có thể giúp hiểu biết và thách đố hết mọi thành phần Kitô hữu. Những người Tin Lành có thể tái khám phá ra những căn gốc bị bỏ quên của họ. Điều này thường mang lại thành quả là làm cho họ càng cảm nhận hơn nữa các truyền thống Công Giáo, Chính Thống Đông Phương và truyền thống về hàng giáo phẩm và về phụng vụ.
Ở những trường hợp khác th́ việc cởi mở trước các vị Giáo Phụ lại trở nên một thắng vượt trong việc tiến đến chỗ chấp nhận những ǵ chúng ta tin tưởng là niềm tin và việc làm Kitô giáo trọn vẹn nơi Giáo Hội Công Giáo.
Người Công Giáo có thể và phải tái nhận thức được một vài ưu tiên về giáo phụ học được những người tin lành tân tiến nhận định thấy, bao gồm cả việc sống trong và sống cho Chúa Kitô; việc tôn kính và học hỏi Thánh Kinh như là lời Chúa được viết ra một cách độc đáo chính thực; và trở thành những chứng nhân hiểu biết và nhiệt thành cho Chúa Giêsu Kitô, vị cứu thể độc nhất và duy nhất của thế giới.
Chúng ta có thể tái khẳng định truyền thống Công Giáo trong việc cổ vơ tất cả mọi tặng ân của Thần Linh – bao gồm cả các tặng ân về đoàn sủng cũng như về phẩm trật – hướng đến mục tiêu chín mùi và hiệp nhất Kitô Giáo. Tất cả những đặc tính chuyên biệt này đều được rơ ràng giảng dạy và nêu gương nơi các vị Giáo Phụ.
Chúng ta có thể học lại làm thế nào để ‘thở b ằng hai buồng phổi’, một thành ngữ thường được Đức Gioan Phaolô II sử dụng để nói tới việc kín múc từ các truyền thống thần học và linh đạo của cả Kitô hữu Đông lẫn Tây.
Nhiều các vị Giáo Phụ tiên khởi thực sự là ‘Đông phương’; các vị đă sống ở Cận Đông hay Đông Bắc Phi, và đă viết bằng tiếng Hy Lạp hay bằng các thứ tiếng không phải La ngữ. Những người anh em Chính Thống Đông Phương của chúng ta cũng tỏ ra hết sức kính trọng những nhân vật đang được vị Giáo Hoàng này nêu lên như gương mẫu và hướng dẫn việc của chúng ta.
Đức Biển Đức XVI đang cống hiến cho chúng ta niềm hy vọng về mối hiệp nhất Kitô Giáo, bằng việc hướng chúng ta tới Thánh Ignatius thành Antioch, vị đă ‘thực sự là một tiến sĩ về mối hiệp nhất’. Thánh nhân đă dạy v ề mối hiệp nhất nơi Chúa Ba Ngôi, hiệp nhất nơi Lời Nhập Thể, và hiệp nhất nơi Giáo Hội bằng mối giây yêu thương.
Liều thuốc của Thánh Ignatius cho linh đạo và vấn đề đại kết đích thực đó là ‘một tổng hợp gia tăng giữa việc nên giống Chúa Kitô – hiệp n hất với Người, đời sống trong Người – với việc dấn thân cho Giáo Hội của Người – hiệp nhất với vị giám mục, quảng đại phục vụ cộng đồng này và thế giới’.
Công Đồng Chung Vaticanô II đă dạy rằng việc đại kết đích thực được bắt đầu nơi cá nhân, nơi việc thống hối nội tâm và nơi việc canh tân. Điều này có thể dẫn đến một thứ khiêm nhượng và canh tân rộng hơn về cơ cấu, cũng như đến chỗ dễ dạy trước các bài học của lịch sử.
Nhờ các bản văn của các vị Giáo Phụ, tất cả mọi Kitô hữu đều có thể học hỏi nơi những vị chứng nhân đặc biệt cho kho tàng linh thánh đức tin được Chúa chúng ta kư thác cho các vị tông đồ tiên khởi này. Các vị Giáo Phụ và các nhà hộ giáo thuộc thế kỷ thứ nhất và thứ hai trở thành như những cửa sổ để tiến v ào mầu nhiệm Giáo Hội ‘duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền’.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/3/2007
ĐTC Biển Đức XVI viết thư mừng 60 năm thành lập của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới
Nhân dịp mừng kỷ niệm 60 năm thành lập Liên Hiệp Lutherô Thế Giới LWF (Lutheran World Federation), qua vị chủ tịch của Hội Đồng Ṭa Thánh về Việc Cỗ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo là ĐHY Walter Kasper, ĐTC Biển Đức XVI đă gửi sứ điệp tới vị chủ tịch của tổ chức này là Giám Mục Mark Hanson, và sứ điệp này đă được đọc tại Vương Cung Thánh Đường ở Lund, Thụy Điển.
Trong sứ điệp, ĐTC đă nhấn mạnh tới việc LWF, kể từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II, ‘đă dấn thân thực hiện việc đối thoại đại kết cho tới nay’, một cuộc đối thoại đă dẫn đến ‘những bước tiến triển’ trên con đường hiệp nhất.
Ngài đă nói rằng những bước tiến triển này ‘đă được rơ ràng b ày tỏ’ trong các văn kiện như bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa được kư nhận bởi Giáo Hội Công Giáo và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới vào tháng 10/1999. Hội Đồng Methodist Thế Giới cũng đă kư nhận bản văn kiện này vào Tháng 7/2006.
Ủy Ban Luthêrô và Công Giáo tiếp tục làm việc về các sự khác biệt giữa những người Luthêrô và Công Giáo đối với những vấn đề đức tin, chẳng hạn như bản tính của Giáo Hội và các phép bí tích.
Trong sứ điệp, ĐTC cũng nhận định rằng mối liên hệ giữa người Luthêrô và Công Giáo đă trở nên sâu đậm nhừ việc cầu nguyện chung và nhiều cuộc gặp gỡ ở tầm cấp thế giới, và là “một tặng ân của Thánh Thần đồng thời cũng là những ǵ thúc bách chúng ta không được làm tŕ trệ các nỗ lực đại kết của chúng ta theo tinh thần của lời Chúa nguyện xin ‘cho chúng tất cả được nên một’”.
“Chúng ta được kêu gọi cùng làm chứng để loan báo sứ điệp cứu độ của Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô cho một thế giới đang bị buồn thảm và đang c ần được hướng dẫn về rất nhiều vấn đề”.
Tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là một liên minh các giáo hội thuộc quốc gia hay miền cùng một niềm tin. Tổ chức này được thành lập từ năm 1947, có trụ sở ở Geneva Thụy Sĩ. Ngày nay nó kết hợp 140 giáo hội, đại diện cho 78 quốc gia và có khoảng 66.7 triệu tín đồ.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 28/3/2007
Cuộc họp lần thứ 4 ở Rôma từ ngày 28/1 đến 3/2/2007 của Ủy Ban Quốc Tế giữa Giáo Hội Công Giáo Và Chư Chính Thống Đông Phương, dưới sự đồng chủ tọa của ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Dặc Trách Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, và ĐTGM Bishoy ở Damiette, Tổng Thư Kư của Hội Đồng Giáo Hội Chính Thống Coptic.
Cuộc họp này theo chương tŕnh đầu tiên được ấn định ở Lebanon theo lời mời tha thiết của Thượng Phụ Nasrallah Pierre Sfeir thuộc Giáo Hội Maronite. Tiếc thay, t́nh h́nh chính trị ở xứ sở ấy đă không cho phép các phần tử gặp nhau ở đó vào lúc này. Thay vào đó, cuộc họp đă được tổ chức ở Rôma tại các văn pḥng mới của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo.
Các phần tử tham dự được đón tiếp ở Domus Romana Sacerdotalis. Liên hợp với các vị đại biểu thuộc Giáo Hội Công Giáo có những vị đại diện thuộc những Giáo Hội Chính Thống Đông Phương sau đây: Giáo Hội Chính Thống Coptic, Giáo Hội Chính Thống Syria, Giáo Hội Tông Đồ Armenia (Catholicosate of All Armenians), Giáo Hội Tông Đồ Armenia (Holy See of Cilicia), Giáo Hội Syria Chính Thống Malankara, Giáo Hội Chính Thống Ethiopia, và Giáo Hội Chính Thống Eritrea.
Phái đoàn đại biểu Chính Thống Đông Phương đă gặp nhau riêng vào ngày 29-30/1 để bàn bạc những đề tài về giáo hội học. Trong thời gian của các cuộc họp này, họ đă soạn dọn một bản tường tŕnh để sau đó trao cho các phần tử thuộc Giáo Hội C ông Giáo. Phái đoàn đại biểu Công Giáo gặp riêng hôm 30/1. Toàn thể Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế này gặp nhau 3 ngày liên, từ 31/1 đến 2/2. Mỗi ngày bắt đầu bằng giờ kinh nguyện ngắn, sử dụng các tài liệu được phổ biến cho Tuần Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo năm nay.
Các phần tử của ủy ban quốc tế này đă được triều kiến Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI hôm ½. Đức Anba Bishoy đă thay mặt các phần tử tham dự cuộc trao đổi đối thoại chào mừng Đức Giáo Hoàng và cám ơn ngài về những nỗ lực ngài đă thực hiện để phát động vấn đề đối thoại với Giáo Hội Chính Thống. Vị đại diện cũng tặng ngài một bức ảnh vẽ bằng tay bởi những nữ tu thuộc Giáo Hội Chính Thống Coptic ở Ai Cập.
Ngỏ lời cùng nhóm này, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nói rằng: “Cuộc gặp gỡ của anh em liên quan tới hiến chế và sứ vụ của Giáo Hội có một tầm quan trọng rất nhiều đối với cuộc hành tŕnh chung của chúng ta trong việc tiến tới chỗ phục hồi mối hiệp thông trọn vẹn. Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Chính Thống chia sẻ một gia sản giáo hội xuất phát từ thời các tông đồ cũng như từ các thế kỷ đầu tiên của Kitô Giáo. ‘Cái gia sản về kinh nghiệm’ này cần phải trở thành những ǵ làm nên tương lai của chúng ta ‘trong việc hướng dẫn đường lối chung của chúng ta hướng tới việc tái thiết mối hiệp thông trọn vẹn’ (cf. Ut Unum Sint, 56)”. Đức Giáo Hoàng cũng bày tỏ mối quan tâm của ngài về t́nh h́nh các Kitô hữu ở Trung Đông, kêu gọi họ hăy “can đảm và kiên tŕ trong quyền lực của Thần Linh Chúa Kitô”.
Những bản tường tŕnh được báo cáo trong tiến tŕnh họp, theo dự án cuộc đối thoại đă được chấp thuận ở Cuộc Họp Sửa Soạn vào năm 2003:
- “Sứ Vụ, Chứng Từ, Phục Vụ và Vấn Đề Dụ Giáo”, bởi ĐTGM Khajag Barsamian
- “Sứ Vụ của Giáo Hội”, bởi GM Paul-Aerner Scheele
- “Ơn Cứu Độ của Thành Phần Vô Tín Ngưỡng trong Giai Đoạn Giáo Phụ”, bởi Cha Mark Sheridan, OSB
- “Giáo Hội và Ơn Cứu Độ của Thành Phần Không Phải Kitô Hữu theo Công Đồng Chung Vaticanô II và Sau Đó”, bởi Đức Ông Johan Bonn
- “Ơn Cứu Độ của Thành Phần Vô Tín Ngưỡng”, bởi ĐTGM Bishoy
- “Vấn Đề Thành Hôn Giữa Người Công Giáo và Hồi Giáo: Một Quan Điểm Công Giáo”, bởi ĐTGM Peter Marayat
- “Hôn Nhân Pha Lẫn Với Người Không Phải Kitô Hữu”, bởi ĐTGM Bishoy
V́ lư do kỹ thuật, tiểu ban soạn thảo đă được chỉ định từ buổi họp đối thoại thứ ba ở Etchmiadzin, Armenia, không thể gặp nhau. Các phần tử của họ đă được điều chỉnh, hiện nay bao gồm các phần tử Công Giáo là Cha Frans Bouwen, Cha Mark Sheridan, Đức Ông Johan Bonny và Dietmar Winkler, và những phần tử Chính Thống Đồng Phương là ĐTGM Bishoy, ĐTGM Theophilus George Saliba, ĐTGM Mesrob Krikorian, và GM Nareg Alemezian. Tiểu ban soạn thảo sẽ gặp nhau ở Rôma từ ngày 29 đến 30 tháng 5 năm 2007.
Vào buổi tối ngày 30/1, các phần tử thuộc ủy ban này đă tham dự một giờ kinh tối ở Nhà Thờ Chúa Biến H́nh, một giáo xứ Công Giáo ở Rôma cũng là nơi tiếp đăi một cộng đồng Chính Thống Coptic.
Các phần tử của ủy ban này sau đó gặp gỡ giáo dân trong xứ đạo và đă tham dự một bữa khoản đăi của giáo xứ. Tối ½, ĐHY Kasper đă đăi một bữa tại Domus Sanctae Marthae ở Vatican để đón mừng các phần tử tới Rôma. C ùng tham dự bữa tiệc này c̣n có một số viên chức của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo và những phân bộ khác thuộc Giáo Triều Rôma. ĐTGM Bishoy đă cám ơn ĐHY Kasper và nhân viên phân bộ của ngài về việc tiếp đăi ấy.
Cuộc gặp gỡ thứ năm của Ủy Ban Quốc Tế này sẽ diễn ra tại Đan Viện Chính Thống Syria Thánh Ephrem ở Maarrat Saydnaya gần Damascus, Syria, theo lời mời của Đức Thượng Phụ Ignatius Zakka I Iwas thuộc Giáo Hội Chính Thống Syria ở Antioch.
Phái đoàn đại biểu Chính Thống Đông Phương sẽ có dự định đến đó vào ngày 27/1 và phái đoàn Công Giáo vào ngày 28/1/2008. Hai phái đoàn đại biểu sẽ gặp gỡ riêng biệt, và sẽ có những phiên họp chung tất cả vào ngày 30 và 31/1 rồi ngày ½, lên đường ngày 2/2. Trong cuộc họp ấy sẽ cứu xét tới bản văn được tiểu ban soạn dọn thực hiện, và mỗi bên sẽ tŕnh bày một văn kiện về mục tiêu đối thoại đại kết.
Các phần tử của Ủy Ban này gồm có:
Những vị đại diện Chư Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (theo thứ tự theo vần)
Giáo Hội Chính Thống Syria Antiochia,
--
Archbishop Mor Theophilus George Saliba of Mount Lebanon, secretary of the Holy
Synod of the Syrian Orthodox Church
-- Metropolitan Kuriakose Theophilose of the Malankara Syrian Orthodox
Theological Seminary, Kerala, India
Giáo Hội
Tông Đồ Armenia (Catholicosate of All Armenians),
--
Archbishop Mesrob Krikorian of Vienna and patriarchal delegate for Central
Europe and Scandinavia
-- Archbishop Khajag Barsamian of the Eastern Diocese of the United States
Giáo Hội
Tông Đồ Armenia (Holy See of Cilicia),
--
Archbishop Oshagan Choloyan, Prelate of the Eastern Prelacy in the U.S.A.
-- Bishop Nareg Alemezian, Ecumenical Officer of the Holy See of Cilicia
Giáo Hội
Chính Thống Coptic,
--
Metropolitan Anba Bishoy of Damiette (co-chair), secretary-general of the Holy
Synod of the Coptic Orthodox Church
-- Father Shenouda Maher Ishak, West Henrietta, New York
Giáo Hội
Chính Thống Eritrea.
-- Father
Kaleab Gebreselassie Gebru, coordinator for foreign affairs
Giáo Hội
Chính Thống Ethiopia,
-- Father
Megabe Biluy Seife SeJassie Yohannes. Lique Hinlyan Getachew Guadie (prevented)
Giáo Hội
Syria Chính Thống Malankara,
--
Metropolitan Philipos Mar Eusebios of Pathanamthitta
-- Father John Mathews (co-secretary), secretary of the Committee on InterChurch
Relations (prevented; substituted by Father Abraham Thomas, London)
Giáo Hội Công Giáo Rôma
--
Cardinal Walter Kasper (co-chair), president of the Pontifical Council for
Promoting Christian Unity
-- Bishop Paul-Werner Scheele, retired Bishop of Wurzburg (Germany)
-- Bishop Kyrillos Kamal William Samaan, Coptic Catholic bishop of Assiut,
president of the Ecumenical Commission of the Catholic Church in Egypt
-- Archbishop Jules Mikhael AI-Jamil, procurator of the Syrian Catholic
Patriarchate to the Holy See and apostolic visitator in Europe
-- Achbishop Peter Marayati, Armenian Catholic archbishop of Aleppo, president
of the Ecumenical Commission of the Catholic Church in Syria
-- Bishop Woldetensaé Ghebreghiorghis, apostolic vicar of Harar (Ethiopia),
president of the Ecumenical Commission of the Catholic Church in Ethiopia and
Eritrea
-- Father Frans Bouwen M.Afr., consultant to the Pontifical Council for
Promoting Christian Unity; Jerusalem
-- Father Philippe Luisier, S.J., Pontifical Oriental Institute, Rome
-- Father Ronald Roberson, C.S.P., associate director of the Secretariat for
Ecumenical and Interreligious Affairs, U.S. conference of Catholic bishops,
Washington, D.C.
-- Father Paul Rouhana, O.L.M., University of the Holy Spirit, Kaslik, Jounieh,
Lebanon
-- Father Mark Sheridan, O.S.B., rector, Pontifical Athenaeum of St. Anselm,
Rome
-- Father Mathew VeUanickal, vicar general of the Archdiocese of Changanacherry,
India
-- Father Boghos Levon Zekiyan, Pontifical Oriental Institute, Rome
-- Professor Dietmar W. Winkler, Paris-London University, Salzburg, Austria
Secretariat: Monsignor Johan Bonny (co-secretary), staff-member of the
Pontifical Council for Promoting Christian Unity
Rome, Feb. 2, 2007
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
12/2/2007
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Giữa Giáo Hội Công Giáo Và Chính Thống Giáo Về Đối Thoại Thần Học ngày 1/2/2007
Anh Em thân mến trong Chúa Kitô,
Tôi hết sức vui tiếp đón anh em , các phần tử thuộc Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế Giữa Giáo Hội Công Giáo Và Chính Thống Giáo Về Đối Thoại Thần Học, nhân dịp đại hội lần thứ 4 của anh em. Qua anh em, tôi hân hoan gửi lời chào tới Quí Huynh Khả Kính của tôi là Chư Vị Lănh Đạo Các Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương, đó là Đức Giáo Tông Shenouda III, Đức Thượng Phụ Zakka I Iwas, Đức Thượng Phụ Karekin II, Đức Thượng Phụ Aram I, Đức Thượng Phụ Paulus, Đức Thượng Phụ Antonios I và Đức Thượng Phụ Marthoma Didymus I.
Cuộc gặp gỡ của anh em liên quan tới hiến chế và sứ vụ của Giáo Hội có một tầm quan trọng rất nhiều đối với cuộc hành tŕnh chung của chúng ta trong việc tiến tới chỗ phục hồi mối hiệp thông trọn vẹn. Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Chính Thống chia sẻ một gia sản giáo hội xuất phát từ thời các tông đồ cũng như từ các thế kỷ đầu tiên của Kitô Giáo. ‘Cái gia sản về kinh nghiệm’ này cần phải trở thành những ǵ làm nên tương lai của chúng ta ‘trong việc hướng dẫn đường lối chung của chúng ta hướng tới việc tái thiết mối hiệp thông trọn vẹn’ (cf. Ut Unum Sint, 56).
Chúng ta đă được Chúa Giêsu ủy thác cho chúng ta sứ mệnh ‘đi khắp thế gian loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi tạo vật’ (Mk 16:15). Nhiều người ngày nay vẫn đang đợi chờ sự thật của Phúc Âm mang đến cho họ. Chớ ǵ ḷng khát khao của họ đối với Tin Mừng là những ǵ củng cố quyết tâm của chúng ta trong việc hoạt động và thiết tha nguyện cầu cho mối hiệp nhất cần thiết cho Giáo Hội trong việc thi hành sứ vụ của ḿnh trên thế giới, theo lời nguyện cầu của Chúa Giêsu ‘cho họ được hoàn toàn nên một, hầu thế gian biết rằng Cha đă sai Con và Cha đă yêu họ như Cha đă yêu Con’ (Jn 17:23).
Nhiều người trong anh em đến từ các xứ sở Trung Đông. T́nh h́nh khó khăn mà cá nhân cũng như các cộng đồng Kitô Giáo đang phải đối diện ở miền này là nguyên nhân quan tâm sâu xa cho tất cả chúng ta. Thật vậy, các thành phần thiểu số Kitô hữu cảm thấy khó khăn trong việc sống c̣n giữa cả một chân trời địa dư chính trị bạo động và thường có khuynh hướng di dân. Trong những hoàn cảnh này, thành phần Kitô hữu thuộc tất cả các truyền thống và các cộng đồng ở Trung Đông được kêu gọi hăy can đảm và kiên cường trong quyền năng của Thần Linh Chúa Kitô (cf. Christmas Message to Catholics Living in the Middle East Region, 21 December 2006). Chớ ǵ lời chuyển cầu và gương sáng của nhiều vị tử đạo và thánh nhân, những vị đă cống hiến chứng từ dũng cảm cho Chúa Kitô ở những miền đất ấy, hăy bảo tŕ và kiên cường các cộng đồng Kitô hữu trong niềm tin của ḿnh!
Cám ơn việc anh em hiện diện hôm nay đây và việc anh em tiếp tục dấn thân trên con đường đối thoại và hiệp nhất. Chớ ǵ Thánh Linh hỗ trợ anh em nơi những việc bàn luận của anh em. Tôi thân ái ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả anh em.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
1/2/2007
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối Đại Kết Lễ Thánh Phaolô Trở Lại ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành
Anh Chị Em thân mến,
Trong “Tuần Lễ Cầu Nguyện” sẽ được kết thúc vào buổi tối hôm nay đây, Các Giáo Hội và các Cộng Đồng Giáo Hội khắp thế giới gia tăng lời khẩn nài chung xin Chúa cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Cùng nhau chúng ta hăy suy niệm về những lời của Phúc Âm Thánh Marcô vừa được công bố, đó là “Người thậm chí c̣n làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được” (7:37), một đề tài thánh kinh được các Cộng Đồng Kitô Hữu ở Nam Phi đề nghị.
Những t́nh h́nh liên quan tới chủ nghĩa chủng tộc, tới t́nh trạng bần cùng, tới t́nh trạng xung khắc, tới việc khai thác, tới bệnh tật và nỗi khổ đau họ gặp phải v́ không thể bày tỏ những nhu cầu của họ, là những ǵ đă gợi lên nơi họ một nhu cầu khẩn trương trong việc nghe lời Chúa cũng như trong việc can đảm lên tiếng nói.
Phải chăng bị điếc và bị câm, tức là không thể nghe thấy hay không thể nói được, một dấu hiệu thiếu thông đạt và là một triệu chứng chia rẽ? Việc chia rẽ và thiếu khả năng thông đạt, một hậu quả c ủa tội lỗi, là những ǵ ngược lại với dự án của Thiên Chúa. Năm nay Phi Châu đă cống hiến cho chúng ta một đề tài để suy tư có tính cách rất hệ trọng về tôn giáo và chính trị, v́ khả năng ‘nói’ và ‘nghe’ là một điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng nền văn minh yêu thương.
Những lời ‘Người thậm chí làm cho người điếc nghe thấy và người câm nói được’ là tin mừng loan báo việc trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa và việc chữa lành khả năng không thể thông đạt cũng như chữa lành t́nh trạng chia rẽ. Sứ điệp này được tái khám phá ra nơi tất cả mọi giáo huấn và hoạt động của Chúa Giêsu. Bất cứ Người đi đâu, hoặc băng qua các làng mạc, phố xá hay miền quê, dân chúng đều ‘đặt người bệnh ở những nơi họp chợ, và t́m cách chạm đến gấu áo của Người, nhiều người chạm tới đều đă được khỏi’ (Mk 6:56).
Việc chữa lành người câm điếc mà chúng ta đă suy niệm trong những ngày này xẩy ra khi Chúa Giêsu, rời miền Tyre, đang trên đường đến Biển Galilêa qua một miền được gọi là ‘Thập Thành – Decapolis’, một địa hạt đa chủng tộc và đa tôn giáo (x Mk 7:31), một trường hợp tiêu biểu thậm chí cho cả thời điểm của chúng ta đây.
Cũng như ở các nơi khác, cả trong miền Thập Thành này, họ cũng đưa đến cho Chúa Giêsu một người bệnh, một con người điếc và không nói được, xin Người hăy đặt tay trên anh ta v́ họ coi Người là một con người của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đă đem người ấy ra khỏi đám đông và thực hiện những cử chỉ hàm ư cứu độ, đó là việc Người đặt những ngón tay của Người vào đôi tai của anh ta, và bôi nước bọt của Người vào lưỡi người bệnh, đoạn ngước lên Trời mà phán: ‘Hăy mở ra!’. Người đă phán như thế bằng tiếng Aramaic (Ephphatha), theo như ngôn ngữ của dân chúng bấy giờ cũng như của chính người câm điếc. Vị Thánh Kư đă dịch chữ này sang tiếng Hy Lạp là (dianoichtheti). Đôi tai của người điếc liền mở ra, lưỡi của anh ta trơn tru và anh ta ‘nói năng một cách b́nh thường’ (orthos).
Chúa Giêsu yêu cầu họ đừng nói năng ǵ về phép lạ ấy. Thế nhưng Người càng khuyên cấm th́ ‘họ lại càng hào hứng loan truyền phép lạ này’ (Mk 7:36). Lời nhận định đầy lạ lùng của những ai ở đó bấy giờ đă gợi lại lời rao giảng của tiên tri Isaia liên quan tới Đấng Thiên Sai đến: ‘Người thậm chí làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được’ (Mk 7:37).
Bài học thứ nhất chúng ta rút tỉa được từ đoạn thánh kinh này, đoạn thánh kinh cũng được nhắc lại ở lễ nghi Phép Rửa, ở chỗ lắng nghe là một vấn đề ưu tiên theo quan điểm Kitô Giáo.
Đó là lư do Chúa Giêsu đă minh nhiên nói rằng: ‘Phúc cho …. những ai nghe lời Thiên Chúa mà tuân giữ’ (Lk 11:38). Thật vậy, Người đă phán cùng Matta lo âu về nhiều thứ rằng ‘chỉ có một điều cần duy nhất’ (Lk 10:42). Và theo đó th́ vấn đề ‘một điều duy nhất’ hiển nhiên ở đây việc lắng nghe tuân giữ Lời Chúa. Bởi thế, việc lắng nghe Lời Chúa là vấn đề ưu tiên cho vấn đề dấn thân đại kết của chúng ta. Thật vậy, không phải chúng ta là kẻ tác hành hay thiết lập mối hiệp nhất của Giáo Hội. Giáo Hội không làm nên ḿnh hay sống bởi ḿnh, mà là bởi Lời sáng tạo xuất phát từ cửa miệng Thiên Chúa.
Khi cùng nhau lắng nghe lời Chúa, thực hành việc đọc Thánh Kinh lectio divina, tức là đọc với lời nguyện cầu, chúng ta hăy làm sao cho ḿnh cảm thấy ngỡ ngàng trước cái mới mẻ của Lời Chúa là những ǵ không bao giờ cằn cỗi già đời và không bao giờ tiêu hao cạn kiệt; hăy thắng vượt t́nh trạng điếc lác của chúng ta trước những lời không hợp với các thành kiến và ư nghĩ của chúng ta; hăy lắng nghe cũng như hăy học hỏi, trong mối hiệp thông với các tín hữu thuộc tất cả mọi thời đại; tất cả những điều ấy làm nên một đường lối cần phải trải qua để đạt tới mối hiệp nhất trong một đức tin như là tác động đáp ứng việc lắng nghe Lời Chúa.
Bất cứ ai lắng nghe Lời Chúa đều có thể và cần phải nói năng và truyền đạt Lời Chúa cho người khác, cho những ai chưa bao giờ nghe thấy Lời Chúa, hay những ai đă lăng quên Lời Chúa và chôn vùi Lời Chúa vào những thứ rắc rối gai góc và lừa đảo của thế giới này (x Mt 13:22).
Chúng ta cần phải tự hỏi ḿnh rằng: phải chăng Kitô hữu chúng ta có lẽ đă trở nên quá thinh lặng? Phải chăng có lẽ chúng ta đă thiếu can đảm để lên tiếng và làm chứng như những ai đă chứng kiến thấy việc chữa lành cho người câm điếc ở Miền Thập Thành? Phải chăng thế giới của chúng ta cần đến chứng từ này; nhất là thế giới đang chờ đợi một chứng từ chung của thành phần Kitô hữu chúng ta.
Bởi thế, việc lắng nghe Vị Thiên Chúa là Đấng đang nói cũng bao hàm cả việc lắng nghe nhau, việc đối thoại giữa Chư Giáo Hội và Các Cộng Đồng Giáo Hội. Việc đối thoại chân t́nh và trung thành là một thứ phương tiện tiêu biểu và bất khả thiếu trong việc t́m cầu hiệp nhất.
Sắc Lệnh về Đại Kết của Công Đồng Chung Vaticanô II đă nhấn mạnh rằng nếu Kitô hữu không biết nhau một cách hỗ tương, th́ việc tiến bộ trên con đường tiến đến mối hiệp thông là những ǵ không tưởng. Thật vậy, chúng ta lắng nghe và thông đạt bằng việc đối thoại; chúng ta đối chất nhau, và với ơn Chúa, có thể tiến đến chỗ qui hợp nơi Lời của Người, khi chấp nhận những đ̣i hỏi áp dụng cho tất cả mọi người theo Lời Người.
Các Nghị Phụ Công Đồng không phải chỉ muốn việc lắng nghe và đối thoại là những ǵ hữu dụng cho nguyên việc tiến bộ về đại kết, các vị c̣n thêm một khía cạnh liên quan tới chính Giáo Hội Công Giáo nữa, đó là, như bản văn viết: ‘Nhờ cuộc đối thoại như thế mà t́nh trạng của Giáo Hội Công Giáo thực sự ra sao lại càng hiện lên rơ ràng hơn’ (Unitatis Redintegratio, khoản 9).
Không thể nào thiếu được vấn đề là ‘giáo huấn cần phải được rơ ràng tŕnh bày một cách trọn vẹn’ đối với một cuộc đối thoại chất vấn, bàn luận và thắng vượt những phân rẽ vẫn c̣n tồn tại nơi Kitô hữu, thế nhưng, dĩ nhiên là ‘cách thức và trật tự để bày tỏ niềm tin Công Giáo không được trở thành những ǵ gây trở ngại cho việc đối thoại với anh em của chún g ta’ (I bid, khoản 11).
Cần phải nói một cách đúng đắn (orthos) và một cách có thể lĩnh hội. Cuộc đối thoại đại kết này bao gồm việc sửa lỗi huynh đệ theo phúc âm và dẫn đến một thứ phong phú thiêng liêng hỗ tương trong việc chia sẻ những cảm nghiệm đích thực về đức tin và đời sống Kitô hữu.
Để thực hiện điều ấy, chúng ta cần phải không ngừng nài xin ơn trợ giúp của Thiên Chúa và ơn soi sáng của Thánh Thần. Đó là những ǵ Kitô hữu trên toàn thế giới đă thực hiện trong ‘Tuần Lễ’ đặc biệt này, hay những ǵ họ sẽ làm trong Tuần Chín trước Lễ Hiện Xuống, cũng như vào mọi trường hợp thích đáng, bằng việc dâng lên lời nguyện cầu tin tưởng của ḿnh xin cho tất cả mọi người môn đệ của Chúa Kitô được nên một, và, xin cho họ, khi lắng nghe Lời Chúa, có thể cống hiến một chứng từ chung cho con người nam nữ của thời đại chúng ta.
Trong bầu không khí thiết tha hiệp thông này, tôi xin gửi lời chào thân ái của tôi tới tất cả những ai tham dự: tới ĐHY coi sóc Đền Thờ này và tới ĐHY Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Mối Hiệp N hất Kitô Giáo, cũng như tới các vị Hồng Y khác, tới Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm cùng hàng linh mục, tới các đan sĩ Biển Đức, tới các Tu Sĩ nam nữ, tới những người giáo dân đại diện cho cả cộng đồng giáo phận Rôma.
Tôi đặc biệt chào những người anh em thuộc các Giáo Hội khác và các Cộng Đồng Giáo Hội tham dự vào việc cử hành này, nhờ đocùng nhau lập lại truyền thống quan trọng của việc bế mạc ‘Tuần Lễ Nguyện Cầu’ vào ngày chúng ta tưởng nhớ tới cuộc hoán cải nổi bật của Thánh Phaolô trên đường đi Damasco.
Tôi hân hoan cho biết là ngôi mộ của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, nơi chúng ta đang ở hôm nay đây, mới được trải qua một cuộc điều tra và nghiên cứu, theo như những ǵ đă được quyết định trong việc làm cho ngôi mộ này hiện lộ cho thành phần hành hương thấy ở bên dưới bàn thờ chính bằng việc thích ứng hợp thời. Tôi bày tỏ việc chúc mừng của tôi về sáng kiến quan trọng này.
Tôi xin kư thác cho việc chuyển cầu của Thánh Phaolô, vị không ngừng xây dựng mối hiệp nhất của Giáo Hội, các hoa trái của những ǵ lắng nghe cũng như của chứng từ chung chúng ta đă từng có thểm nghiệm cảm thấy nơi nhiều cuộc họp mặt và đối thoại huynh đệ xẩy ra trong năm 2006, cả với Chư Giáo Hội Đông Phương cũng như với Chư Giáo Hội cùng Các Cộng Đồng Giáo Hội ở Tây phương.
Nơi những biến cố ấy, chúng ta có thể thấy được niềm vui của t́nh huynh đệ, cùng với nỗi hối hận về những thứ căng thẳng đang kéo dài, khi làm sinh động niềm hy vọng được Chúa khơi lên trong chún g ta.
Chúng ta hăy cám ơn tất cả những ai đă giúp vào việc gia tăng việc đối thoại đại kết bằng lời nguyện cầu, bằng việc hiến dâng nỗi khổ đau của họ, và bằng hoạt động liên lỉ của họ. Trên hết là Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta là Đấng chúng ta cần phải dâng lên những lời tạ ơn nồng thắm về hết mọi sự.
Chớ ǵ Trinh Nữ Maria xin cho chúng ta đạt được sớm bao nhiêu có thể niềm mong ước thiết tha nơi Người Con thần linh của Mẹ: ‘cho họ tất cả được nên một… để thế gian tin tưởng’ (Jn 17:21).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
Anh Chị Em thân mến:
Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo sẽ kết thúc vào ngày mai, một tuần lễ năm nay có chủ đề bằng những lời theo Phúc Âm Thánh Marcô: ‘Người làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được’ (7:37). Chúng ta cũng có thể lập lại những lời này, những lời bày tỏ cái ngỡ ngàng của thành phần dân chúng đă chứng kiến thấy việc chữa lành của con người không thể nghe hay nói được ấy, khi thấy được việc phát triển lạ lùng của cuộc dấn thân cho vấn đề tái thiết mối hiệp nhất Kitô Giáo. Khi ôn lại cuộc hành tŕnh 40 năm qua, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng về những ǵ Chúa đă làm cho chúng ta bừng lên khỏi t́nh trạng hôn mê của niềm tự măn và lạnh lùng dửng dưng; những ǵ Ngài đă làm cho chúng ta hơn bao giờ hết có thể ‘lắng nghe nhau’ chứ không phải chỉ ‘nghe ḿnh’ thôi; những ǵ Ngài đă làm cho môi miệng của chúng ta mở ra để lời nguyện c ầu chúng ta dâng lên Ngài trở thành một quyền lực mạnh mẽ của niềm tin tưởng trước thế giới.
Phải, đúng thế, Chúa đă ban cho tôi nhiều ơn, và trong ánh sáng của Thần Linh, đă làm sáng tỏ nhiều chứng từ. Những chứng từ ấy đă là những ǵ cho thấy rằng hết mọi sự đều có thể chiếm đạt bằng việc nguyện cầu, khi chúng ta biết tin tưởn g tuân phục và khiêm tốn trước lệnh truyền thần linh về t́nh yêu thương và gắn bó với niềm mong mỏi của Chúa Kitô đối với mối hiệp nhất của tất cả mọi thành phần môn đệ của Người.
Công Đồng Chung Vaticanô II đă xác nhận rằng: Việc chiếm đạt mối hiệp nhất là mối quan tâm của toàn thể Giáo Hội, cả tín hữu lẫn các vị chủ chăn. Mối quan tâm này liên quan tới hết mọi người, tùy theo khả năng của họ, cho dù nó được thể hiện trong đời sống Kitô hữu thường nhật, hay trong cuộc nghiên cứu thần học hay lịch sử của họ’ (Unitatis Redintegratio, 5).
Phần sự chung đầu tiên đó là cầu nguyện. Nhờ việc nguyện cầu, và cùng nhau nguyện cầu, Kitô hữu có được một ư thức hơn nữa về t́nh trạng huynh đệ của ḿnh, cho dù vẫn c̣n chi rẽ; và nhờ việc nguyện cầu chúng ta biết lắng nghe Chúa hơn, v́ chúng ta chỉ có thể t́m thấy con đường tiến đến hiệp nhất bằng việc lắng nghe Chúa và theo tiếng của Người mà thôi.
Đại kết thực sự là một tiến tŕnh chầm chậm, có những lúc thậm chí c̣n chán nản nữa, khi người ta đầu hành trước khuynh hướng ‘nghe’ mà không ‘lắng nghe’, trong việc nói lên không trọn các sự thật, thay v́ can đảm công bố những sự thật ấy. Không dễ ǵ để thoát ra khỏi t́nh trạng ‘điếc lác dễ chịu’, như thể Phúc Âm bất đổi thay không có khả năng để tái nở hoa, tái khẳng định ḿnh như là một thứ men thuận lợi cho việc hoán cải và canh tân thiêng liêng cho mỗi một người trong chúng ta.
Đại kết, như tôi đă nói, là một tiến tŕnh chầm chậm; nó là một hành tŕnh từ từ đi lên, khi tất cả là cuộc hành tŕnh thống hối hoán cải. Tuy nhiên, nó là một cuộc hành tŕnh mà, sau những khó khăn ban đầu và thực sự là nơi những khó khăn ấy, cũng có những lúc rất hân hoan vui sướng, những lúc dừng bước nghỉ ngơi, và để cho con người được hoàn toàn thở hít mầu khí rất trong lành của mối hiệp thông trọn vẹn.
Kinh nghiệm của những thập niên này, sau Công Đồng Chung Vaticanô II, cho thấy rằng việc t́m kiếm mối hiệp nhất Kitô Giáo là những ǵ được hiện thực ở các mức độ khác nhau và trong vô số những trường hợp, như ở các giáo xứ, các bệnh viện, các cuộc giao tiếp giữa dân chúng, trong cuộc hợp tác giữa các cộng đồng địa phương ở tất cả mọi phần đất trên thế giới, và nhất là nơi những miền cần thực hiện những cử chỉ thiện chí thuận lợi cho một người anh em nào đó cần nhiều nỗ lực hơn cũng như cần đến việc thanh tẩy kư ức.
Trong bối cảnh của niềm hy vọng ấy, một bối cảnh lốm đốm những bước tiến cụ thể hướng đến mối trọn vẹn hiệp thông Kitô hữu này, c̣n có cả những cuộc gặp gỡ và những biến cố liên lỉ làm nên nhịp điệu nơi thừa tác vụ của tôi, thừa tác vụ của Vị Giám Mục Rôma, vị chủ chăn của Giáo Hội hoàn vũ. Giờ đây tôi muốn ôn lại những biến cố quan trọng nhất đă diễn ra tron g năm 2006, những ǵ trở thành nguồn vui và niềm tri ân cảm tạ Chúa.
Năm 2006 được bắt đầu bằng cuộc chính thức viếng thăm của Liên Hiệp Thế Giới Chư Giáo Hội Cải Cách. Ủy Ban quốc tế giữa Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Cải Cách đă tŕnh bày một văn kiện, về việc cứu xét tới các thẩm quyền riêng, một văn kiện đă kết thúc tiến tŕnh đối thoại được khởi sự từ năm 1970, một văn kiện bởi thế đă kéo dài 36 năm trời. Bản văn kiện này mang tựa đề ‘Giáo Hội như Cộng Đồng Cho Chứng Từ Chung của Vương Quốc Thiên Chúa’.
Vào ngày 25/1/2006, một năm trước đây, nhân dịp long trọng kết thúc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, các vị đại biểu cho vấn đề đại kết ở Âu Châu, đă được tiệu tập bởi Hội Đồng của Chư Hội Giám Mục Âu Châu và Hội Đồng Chư Giáo Hội Âu Châuđể tham dự vào giai đoạn đầu tiên cho tiến tŕnh của Hội Nghị Đại Kết Âu Châu lần thứ ba sẽ được tổ chức ở phần đất Chính Thống Giáo là Sibiu vào Tháng 9 cùng năm.
Vào những buổi triều kiến chung Thứ Tư hằng tuần, tôi đă được tiếp các phái đoàn đại biểu thuộc Liên Minh Baptist Thế Giới cũng như thuộc Giáo Hội Luthêrô Tin Lành ở Hiệp Chủng Quốc, một giáo hội trung thành thực hiện những cuộc viếng thăm Rôma định kỳ. Ngoài ra, tôi cũng có dịp gặp gỡ các vị lănh đạo Giáo Hội Chính Thống ở Georgia, một Giáo Hội tôi ân cần theo dơi việc tiếp tục mối liên hệ thân hữu đă nối kết Đức LLia II với vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II.
Tiếp nối với diễn tiến biên niên của những cuộc gặp gỡ đại kết năm ngoái là cuộc thượng nghị của các vị lănh đạo tôn giáo được tổ chức ở Moscow vào tháng 7/2006. Đức Thượng Phụ Alexy II ở Moscow và Toàn Dân Nga, trong một sứ điệp đặc biệt, đă yêu cầu hăy gắn bó với Ṭa Thánh. Sau đó là cuộc viếng thăm hữu ích của ĐTGM Kirill thuộc Ṭa Thượng Phụ Moscow, vị đă bày tỏ ư định muốn tiến đến một cuộc b́nh thường hóa minh nhiên hơn trong các mối liên hệ song phương của chúng ta.
Cũng đáng cảm
nhận là cuộc viếng thăm của các vị linh mục và sinh viên thuộc Đại Học Diakonia
Apostolica của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp. Tôi cũng muốn nhắc lại là ở cuộc đại
hội của ḿnh ở Porto Alegre, Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội đă giành một chỗ đặc
biệt cho việc tham sự của Giáo Hội Công Giáo. Vào dịp này, tôi có gửi một sứ
điệp đặc biệt.
Tôi cũng đă gửi một sứ điệp đến đại hội của Hội Đồng Thế Giới Methodist ở Seoul. Tôi cũng hân hoan nhớ lại cuộc viếng thăm thân t́nh của các vị tổng thư kư thuộc các Cộng Đồng Hiệp Thông Thế Giới Kitô Giáo, một tổ chức thông tin và liên hệ hỗ tương giữa các niềm tin khác nhau.
Tiếp nối ngày tháng của năm 2006, chúng ta tiến tới cuộc viếng thăm chính thức vào tháng 11 vừa rồi của ĐTGM Canterbury và là v ị Giáo Chủ của Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo. Tôi đă chia sẻ với ngài và đoàn tùy tùng của ngài giây phút nguyện cầu quan trọng ở Nguyện Đường Mẹ Chúa Cứu Thể trong Tông Dinh Giáo Hoàng.
Về chuyến tông du không thể nào quên được ở Thổ Nhĩ Kỳ và cuộc gặp gỡ Đức Bartholomew I, tôi vui mừng nhắc lại nhiều cử chỉ c̣n tác động hơn cả lời nói. Tôi đă lợi dụng dịp này để một lần nữa chào Đức Bartholomew I và tôi cám ơn ngài về bức thư ngàu đă viết cho tôi khi tôi trở về Rôma.
Tôi hứa nguyện cầu cho ngài và quyết tâm của tôi trong việc hành động để bảo đảm những thành quả của cái việc ôm hôn ḥa b́nh chúng tôi đă trao cho nhau trong Giờ Kinh Thần Vụ tại nhà thờ Thánh George ở Phanar.
Năm ấy đă kết thúc bằng cuộc chính thức viếng thăm Rôma của ĐTGM Nhă Điển và Ṭan Dân Hy Lạp là Đức Christodoulos là vị đă cùng tôi trao đổi quà tặng cần thiết, đó là những bức ảnh ‘Panaghia’, Toàn Thánh, và bức ảnh Hai Thánh Phêrô và Phaolô ôm nhau.
Những biến cố trên đây không phải là những trường hợp chất chứa những giá trị thiêng liêng cao quí, những giây phút hân hoan, những ư nghĩa cao cả trong cuộc thăng tiến chầm chậm đến mối hiệp nhất được tôi nói tới hay sao? Những giây phút ấy làm sáng tỏ ḷng quyết tâm, thường âm thầm song thiết tha, là những ǵ nối kết chúng ta trong việc t́m cầu mối hiệp nhất. Chúng phấn khích chúng ta thực hiện nỗ lực bao nhiêu có thể để tiếp tục cuộc thăng tiến chầm chậm nhưng quan trọng này.
Chúng ta hăy kư thác bản thân ḿnh cho việc chuyển cầu liên lỉ của Mẹ Thiên Chúa cũng như cho các vị thánh bảo hộ của chúng ta, để các vị nâng đỡ và trợ giúp chúng ta kiên tŕ với những ư hướng tốt lành của chúng ta, nhờ đó các vị sẽ phấn khích chúng ta gia tăng mọi nỗ lực, bằng nguyện cầu cũng như bằng việc cậy trông hoạt động, tin tưởng rằng Thánh Thần sẽ là Đấng làm những ǵ c̣n lại. Ngài sẽ ban cho chúng ta mối hiệp nhất trọn vẹn vào lúc nào và bằng cách nào tùy ư của Ngài. Và, được kiên cường bằng niềm tin tưởng cậy trông ấy, chúng ta hăy tiến bước trên con đường tin tưởng, cậy trông và yêu mến. Chúa là Đấng đang dẫn dắt chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 24/1/2007
Tuần Lễ Cầu Nguyện hằng năm Cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo
Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo, theo truyền thống hắng năm, từ ngày 18 đến 25/1 (Lễ Thánh Phaolô trở lại). Năm nay được bắt đầu vào ngày Thứ Năm 18/1/2007. Chủ đề cho năm 2007 này là “Người thậm chí làm cho kẻ điếc nghe thấy và câm nói được”.
Các bản văn để suy nghĩ và cầu nguyện năm nay được soạn thảo bởi Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, cũng như bởi Ủy Ban Về Đức Tin Và Cấp Trật Của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới.
Theo bản thông báo của hội đồng ṭa thánh th́ “Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo năm nay qui hợp hai đề tài, hai lời mời gọi được gửi đến cho Chư Giáo Hội Kitô Giáo và dân Kitô Giáo, đó là đề tài cầu nguyện và cùng nhau nỗ lực thực hiện việc hiệp nhất Kitô Giáo, cũng như cùng nhau liên kết để đáp ứng t́nh trạng khổ đau của nhân loại. Hai trách nhiệm này hết sức liên kết với nhau. Cả hai đều liên quan tới việc chữa lành Thân Thể của Chúa Kitô (là Giáo Hội), bởi thế mà bài đọc chính yếu được chọn cho tuần lễ cầu nguyện năm nay là một câu truyện chữa lành”.
Mỗi ngày trong Tuần Lễ này sẽ có một đề tài khác nhau như sau:
18/1: Từ ban đầu đă có Lời. “Và ThiênChúa phán…” (Gen 1).
19/1: Lời Cứu Độ của Chúa Kitô: “Người làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được” (Mk 7:31-37).
20/1: Thánh Thần ban Lời cho chúng ta. “Thần Linh… sẽ làm chứng về Thày” (Jn 15:26).
21/1: Sự câm nín của thành phần bị quên lăng và những tiếng kêu của thành phần khổ đau. “Nếu một phần tử cảm thấy đớn đau th́ tất cả đều cảm thấy đau đớn” (1Cor 12:26).
22/1: Thiên Chúa phán quyết về việc thinh lặng của chúng ta. “Các người không làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất đây….” (Mt 25:45).
23/1: Được thêm sức để lên tiếng. “Thế nhưng người đàn bà… run rẩy sợ hăi ra mặt… đă nói với Người tất cả sự thật” (Mk 5:33).
24/1: T́nh trạng bị bỏ rơi. “Sao Ngài lại không mau ra tay cứu giúp tôi?” (Ps 22:1).
25/1: Phục Sinh – vinh hiển. “Hết mọi miệng lưỡi đều phải tuyên xưng rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa” (Phil 2:11).
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ chủ sự việc cử hành Giờ Kinh Tối ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thánh lúc 5 giờ 30 chiều Thứ Năm 25/1/2007 để bế mạc Tuần Lễ Nguyện Cầu Cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo năm nay.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 16/1/2007
Tiến tŕnh Hiệp Nhất Kitô Giáo đă đi tới đâu rồi - Thành Đạt ra sao?
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, tổng hợp
Hôm nay, 25/1, là Lễ kính Thánh Phaolô trở lại, cũng là ngày theo truyền thống kết thúc Tuần Bát Nhật Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm của Giáo Hội. Nguồn gốc của Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo này đă diễn tiến như sau: Năm 1894, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đă khuyến khích thực hành Tuần Bát Nhật Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất trong bối cảnh Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Năm 1958, Tổ chức Hiệp Nhất Kitô Giáo ở Lyon, Pháp, cùng với Ủy Ban Đức Tin và Cấp Trật của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới bắt đầu hợp tác soạn thảo những tài liệu cho Tuần Lễ Cầu Nguyện. Năm 1964, Ủy Ban Đức Tin và Cấp Trật của Hội Đồng Chư Giáo Hội Thế Giới và Hội Đồng Ṭa Thánh Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo bắt đầu cùng nhau soạn thảo văn bản cho Tuần Lễ Hiệp Nhất này, và từ năm 1968 đề tài được soạn thảo này bắt đầu chính thức được sử dụng học hỏi cho Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo. Đề tài cho năm 2007 là ‘Người làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được’ (Mk 7:37). Thế nhưng, chúng ta chắc ai cũng muốn biết tiến tŕnh Hiệp Nhất Kitô Giáo đă đi tới đâu rồi, thành đạt ra sao?
Với Giáo Hội Chính Thống Giáo Constantinopoli Thổ Nhĩ Kỳ: “Chúng tôi không thể không nhắc tới tác động long trọng có tính cách giáo hội trong việc xóa bỏ kư ức của những thứ tuyệt thông xưa kia”
Bản Tuyên Ngôn Chung được kư kết giữa Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI và Đức Thượng Phụ Bartholomew I ở Phanar, Istanbul 30/11/2006, trong đó, có đặc biệt nhắc tới việc xóa bỏ kư ức của những thứ tuyệt thông cho nhau ngày 7/12/1965:
“Chúng tôi đă tri ân nhớ lại những cuộc gặp gỡ của các vị tiền nhiệm của chúng tôi, những cuộc gặp gỡ được Chúa chúc phúc, những vị đă tỏ cho thế giới thấy nhu cầu khẩn trương của mối hiệp nhất và t́m kiếm những đường lối vững chắc để đạt tới m ối hiệp nhất này, bằng việc đối thoại, nguyện cầu và bằng cuộc sống hằng ngày của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I đă đến Giêrusalem như những người hành hương, đến chính nơi Chúa Giêsu đă chết và sống lại v́ phần rỗi của thế giới, và các vị cũng đă gặp nhau một lần nữa ở Phanar đây cũng như ở Rôma. Các vị đă để lại cho chúng ta một bản tuyên ngôn chung vẫn c̣n nguyên tất cả giá trị của nó; nó nhấn mạnh rằng việc thực sự đối thoại với nhau trong bác ái cần phải làm sao để có thể duy tŕ và tác động tất cả mọi liên hệ giữa cá nhân với nhau cũng như giữa các Giáo Hội với nhau, và nó ‘phải được bắt nguồn từ việc hoàn toàn trung thành với một Chúa Giêsu Kitô duy nhất và từ việc tương kính truyền thống riêng của nhau’ ("Tomos Agapis," 195). Chúng tôi c ũng không quên những cuộc viếng thăm nhau giữa Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Đức Thượng Phụ Dimitrios I. Chính trong cuộc viếng thăm của Đuưc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chuyến viếng thăm đầu tiên về đại kết của ngài, đă xẩy ra việc loan báo vấn đề thành h́nh Ủy Ban Hỗn Hợp cho việc đối thoại về thần học giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống. Việc này đă làm cho hai Giáo Hội của chúng ta tiến lại với nhau trong cùng một mục đích được ấn định là việc tái thiết mối hiệp thông trọn vẹn. Đối với vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Constantinople, chúng tôi không thể không nhắc tới tác động long trọng có tính cách giáo hội trong việc xóa bỏ kư ức của những thứ tuyệt thông xưa kia là những ǵ đă từng gây tác dụng tiêu cực qua các thế kỷ đối với hai Giáo Hội của chúng ta. Chúng ta vẫn chưa rút tỉa được từ hành động này tất cả mọi thành quả tích cực xuất phát từ đó cho việc tiến bộ của chúng ta hướng tới mối hiệp nhất trọn vẹn, những thành quả mà Ủy Ban Hỗn Hợp được kêu gọi để thực hiện việc đóng góp quan trọng. Chúng tôi kêu gọi tín hữu của chúng tôi hăy tích cực tham gia vào tiến tŕnh này, bằng việc nguyện cầu và bằng những cử chỉ ư nghĩa”.
Với Cộng Đồng Luthêrô Thế Giới Đức Quốc 10/1999: “Mỗi một cộng đồng tin tưởng chủ trương nơi những sự thật nền tảng về khoản tín lư Công Chính Hóa … không tương khắc với nhau”
Ngày 31-10-1999, Đức Hồng Y Edward I Cassidy, Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Phụ Trách Cổ Động Hiệp Nhất Kitô Giáo, cũng là vị đại diện Giáo Hội Công Giáo, cùng với Giám Mục Christain Krause, đại diện Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, chính thức kư vào Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa tại Augsburg, nước Đức. Đức Hồng Y Edward I Cassidy đă tŕnh bày cho biết rơ ràng về tiến tŕnh và nội dung của văn kiện này trong tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, phát hành ngày 24/11/1999, trang VI và VII, với điểm chính yếu sau đây:
”Bản Tuyên Ngôn Chung không phải là một lời Tuyên Xưng mới, cũng không phải là một văn kiện dung ḥa. Bản Tuyên Xưng Chung đây muốn tóm tắt những thành quả đối thoại sau một thời đoạn kéo dài 30 năm trời giữa Luthêrô và Công Giáo Rôma về khoản tín lư này, bằng cách nói lên những ǵ được mỗi một cộng đồng tin tưởng chủ trương nơi những sự thật nền tảng về khoản tín lư ấy, cũng như cho thấy việc hai bên cắt nghĩa về những sự thật nền tảng ấy không tương khắc với nhau…”
Với Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo 5/2005: “Chúng ta tin rằng không có lư do thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề này’.
Cuộc đối thoại đại kết Kitô Giáo giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo này, một cuộc đối thoại trước hết được Đức Phaolô VI và ĐTGM Michael Ramsey ở Canterbury năm 1966 kêu gọi thực hiện, và được thiết lập vào năm 1970. Giai đoạn đầu tiên của hoạt động do ủy ban ARCIC thực hiện (1970-1981) mang lại những bản văn về Thánh Thể, về thừa tác vụ và về hai bản công bố liên quan tới quyền bính trong Giáo Hội. Giai đoạn thứ hai của ARCIC (1983-2005) bao gồm những công bố về ơn cứu độ và đức công chính, về bản tính của Giáo Hội, về những điều luân lư, về thẩm quyền trong Giáo Hội một lần nữa, cuối cùng đến vai tṛ của Đức Trinh Nữ Maria nơi tín lư và đời sống Giáo Hội. Giai đoạn thứ ba chưa được bắt đầu, nhất là lại có những diễn tiến bất lợi từ phía Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, như được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thẳng thắn nhận định và nêu lên, cũng trong cùng bài đáp từ của ngài ngỏ cùng vị Giáo Chủ Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo là Đức Tổng Giám Mục Rowan Williams ngày 23/11/2006 như sau:
“Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, và nhất là trong một thế giới Tây phương bị tục hóa này, thành phần Kitô hữu và các cộng đồng Kitô Giáo đang bị chi phối rất nhiều bởi những ảnh hưởng và áp đảo tiêu cực. Trên 3 năm qua, ngài đă công khai nói về những trạng thái căng thẳng và những khó khăn cứ ám ảnh Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, gây ra t́nh trạng bất định cho tương lai của chung Cộng Đồng Hiệp Thông này. Những diễn tiến mới đây, đặc biệt liên quan tới vấn đề thừa tác vụ thánh chức (biệt chú: phải chăng ở đây Đức Thánh Cha có ư nói tới việc truyền chức linh mục và giám mục cho nữ giới?) và một số giáo huấn về luân lư (biệt chú: phải chăng ở đây Đức Thánh Cha muốn nói tới vấn đề tấn phong giám mục đồng tính luyến ái ở Hoa Kỳ?), đă chi phối chẳng những các mối liện hệ nội bộ của Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo mà c̣n cả các mối liên hệ giữa Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo nữa”.
Dù sao tiến tŕnh đại kết Kitô Giáo giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Cộng Đồng Hiệp Thông Anh Giáo, một Cộng Đồng Kitô Giáo Anh Quốc, v́ vấn đề cá nhân Vua Henry VII, đă tách khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1535, và là một Giáo Hội vẫn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về hai tín điều Thánh Mẫu là Tín Điều Vô Nhiễm Nguyên Tội và Tín Điều Mông Triệu, cũng như về việc tôn sùng Thánh Mẫu của những người Công giáo, lại đạt được thành quả không ngờ về lănh vực Thánh Mẫu Học. Thật vậy, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, ở Seattle Hoa Kỳ, đă phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về h́nh ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”, trong đó có câu kết luận như sau:
“Cùng nhau xác nhận một cách ư thức vai tṛ trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai tṛ mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lư do thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề này”.
Với Cộng Đồng Kitô Giáo Luthêrô Phần Lan 5/2005: “Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo”
Chưa hết, dấu hiệu hiệp nhất phải nói là rạng ngời nhất được phát hiện từ Cộng Đồng Kitô Giáo Luthêrô. Thật vậy, trong Hội Nghị Thánh Thể Ư Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến để bế mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, th́ hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, có một vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro Huovinen đă bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô. Thật vậy, sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, vị giám mục này đă nói:
“Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”. Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không có Chúa Kitô và không có Thiên Chúa. Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh. Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy ḷng của ḿnh, tôi muốn tham dự vào ngày mà người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu h́nh”.
Với Cộng Đồng Kitô Giáo Tin Lành Á Căn Đ́nh 7/2005: “Hôm nay đây, những người tin lành và Công giáo, được canh tân bởi Thánh Linh, thống hối về những thứ chia rẽ của ḿnh và những việc xúc phạm lẫn nhau, nên xin nhau tha thứ”
Trong thời khoảng 2-4/7/2005, ở Buenos Aires Á Căn Đ́nh đă diễn ra một cuộc Gặp Gỡ Huynh Đệ lần 2 được gọi là Mối Hiệp Thông Mới Giữa Tin Lành Và Công Giáo Trong Thần Linh CRECES (Renewed Communion of Evangelicals and Catholics in the Spirit). Trong cuộc Gặp Gỡ này, các nhân vật Công giáo và tin lành t́m thấy một lănh vực mới của việc hiệp ư chung, đó là nhu cầu cần tha thứ cho nhau về những bất đồng của ḿnh. Niềm hy vọng của các phần tử tham dự Mối Hiệp Thông Mới Giữa Tin Lành Và Công Giáo Trong Thần Linh được phản ảnh qua Bản Tuyên Ngôn Chung ngày 2/7, một bản tuyên ngôn c ó những lời lẽ chính yếu như sau:
“Tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, dù là tin lành hay Công giáo, đều là con của cùng Cha, và v́ thế là anh em của nhau. Chúa Kitô chỉ muốn một Giáo Hội duy nhất, và ngài muốn Giáo Hội của Người bộc lộ trong thế giới mối hiệp nhất và thánh đức là những ǵ làm nên đặc tính của Thiên Chúa. Hôm nay đây, những người tin lành và Công giáo, được canh tân bởi Thánh Linh, thống hối về những thứ chia rẽ của ḿnh và những việc xúc phạm lẫn nhau, nên xin nhau tha thứ…. Chúng tôi nh́n nhận rằng tội lỗi lớn nhất của chúng tôi đó là không yêu thương nhau như Chúa Kitô dạy chúng ta”.
Với Cộng Đồng Methodist Thế Giới 7/2006: “Nếu Hội Đồng Methodist Thế Giới tỏ ư muốn tham gia vào bản tuyên ngôn chung này… sẽ là một bước quan trọng tiến tới mục tiêu hiệp nhất trọn vẹn hữu h́nh trong đức tin vậy”.
Hội Nghị Methodist Thế Giới này được tổ chức ở Seoul vào thời khoảng 20-24/7/2006, trong đó có sự tham dự của Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng này của Ṭa Thánh là Walter Kasper. Hội nghị này được triệu tập 8 năm một lần, đem các Kitô hữu khắp thế giới thuộc truyền thống Wesley về lại với nhau. Phong trào Methodist bắt nguồn từ Anh Quốc do John Wesley (1703-1791) thành lập. Trong tuần lễ của Hội Nghị Methodist Thế Giới này, nghi thức bao gồm việc tham dự của Kitô hữu Methodist vào bản tuyên ngôn 1999 diễn ra trong khi long trọng cử hành Lời Chúa, trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Kasper và của Tiến Sĩ Khả Kính Ishmael Noko, tổng thư kư của Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới. Tín lư công chính hóa đă là nguyên nhân đưa đến phong trào Cải Cách Luthêrô từ năm 1517. Vào cuối năm vừa rồi, khi gặp gỡ phái đoàn đại biểu Hội Đồng Methodist Thế Giới được dẫn đầu bởi Giám Mục Sunday Mbang ở Nigeria, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă đề cập tới ư hướng của hội đồng này trong việc cũng muốn tham dự vào bản tuyên ngôn chung về tín lư công chính hóa, như sau:
“Nếu Hội Đồng Methodist Thế Giới tỏ ư muốn tham gia vào bản tuyên ngôn chung này th́ là việc góp phần vào vấn đề ḥa giải chúng ta thiết tha mong ước và sẽ là một bước quan trọng tiến tới mục tiêu hiệp nhất trọn vẹn hữu h́nh trong đức tin vậy”.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI - Buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư 17/1/2007 về Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo: “Dĩ nhiên là con đường dẫn đến mối hiệp nhất vẫn c̣n dài và khó khăn, tuy nhiên, chúng ta không được chán nản và cần phải tiếp tục thẳng tiến”
“Dĩ nhiên là con đường dẫn đến mối hiệp nhất vẫn c̣n dài và khó khăn, tuy nhiên, chúng ta không được chán nản và cần phải tiếp tục thẳng tiến, cậy dựa trước hết vào sự nâng đỡ vững chắc của Đấng trước khi lên trời đă hứa với các môn đệ của ḿnh rằng: ‘Này đây Thày ở cùng các con luôn măi cho đến tận thế’ (Mt 28:20). Mối hiệp nhất là quà tặng của Thiên Chúa và là hoa trái của việc Thần Linh tác động. Bởi thế, cần phải nguyện cầu. Chúng ta càng đến gần với Chúa Kitô, càng trở về với t́nh yêu của Người, th́ chúng ta càng đến gần nhau hơn... Tuy nhiên, lời cầu nguyện cho mối hiệp nhất Kitô Giáo không thể nào chỉ vỏn vẹn có một tuần lễ trong năm. Việc hợp lời nguyện cầu cùng Chúa, để xin Người mang lại, khi nào và ra sao chỉ có Người biết, mối hiệp nhất trọn vẹn của tất cả mọi thành phần môn đệ của Người, là những ǵ cần phải kéo dài mỗi ngày trong năm”.