SINH HOẠT TÒA THÁNH VATICAN 2006

ĐTC Biển Đức XVI gặp gỡ Giới Trẻ ở Montorso gần Loreto, Chúa Nhật 2/9/2007

Tòa Thánh lên tiếng về cái chết của một Vệ Binh Thụy Sĩ ở Vatican

“Những Khía Cạnh Mục Vụ trong việc Chữa Trị Các Chứng Bệnh Lây Lan”.

Đức Thánh Cha Biển Đức sắp phổ biến tác phẩm “Chúa Giêsu Nazarét: Từ Phép Rửa tới Biến Hình”

“Không dựa vào Thiên Chúa thì định mệnh của con người chỉ là những gì lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi”

“Việc đào sâu vào những chân lý Kitô Giáo và việc học hỏi thần học cũng như các môn tôn giáo khác bao gồm một thứ giáo dục thinh lặng và chiêm ngắm”

Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình cảnh báo tình trạng phân ly giữa đạo lý và kỹ thuật

“Tờ L’Osservatore Romano. Từ Rôma tới Thế Giới, 145 năm lịch sử qua những trang nhật báo của Giáo Hoàng”.

Đức Biển Đức XVI gửi sứ điệp truyền hình cho “Ngày Giáo Hoàng” Gioan Phaolô II ở Balan

Giáo Hội có thêm 4 vị Thánh vào Chúa Nhật 15/10/2006

Hội Nghị của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế với những chia sẻ về Lâm Bô và Trẻ Em chết chưa được lãnh nhận Phép Rửa

Trẻ Em chết trước khi được lãnh nhận Phép Rửa có được rỗi hay chăng?

Một Tổ Chức Mới nhưng lại Cử Hành Lễ theo Nghi Thức Cũ

Tòa Thánh Tuyên Cáo Tuyệt Thông Tổng Giám Mục Emmanuel Milingo

“Việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa tín đồ Kitô Giáo và Hồi Giáo … là một nhu cầu chi phối một phần lớn tương lai của chúng ta”

Cuộc Gặp Gỡ giữa Giáo Hoàng Biển Đức XVI và Đại Diện Thế Giới Hồi Giáo Thứ Hai 25/9/2006

Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình với chiều hướng của ĐTC trong chuyến tông du thứ bốn

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Đích thân lên tiếng thanh minh - Hồi Giáo vẫn chưa buông tha!

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Thế Giới Hồi Giáo vẫn giận – Vị Giáo Hoàng cảm thấy rất buồn - Tòa Thánh tiếp tục thanh minh

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh: Thời điểm tống cựu nghinh tân – Thứ Sáu 15/9/2006

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Thế Giới Hồi Giáo phản đối - Tòa Thánh Rôma thanh minh

“Men Phúc Âm. Sự Hiện Diện của Tòa Thánh nơi đời sống chư dân”

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với 42 ngàn em Giúp Lễ Âu Châu trong buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư 2/8/2006 về Việc Làm Bạn với Chúa Giêsu

Quĩ Bác Ái của Đức Thánh Cha và Ngân Quĩ của Tòa Thánh hiện nay

Nguyên Văn Cuộc Phỏng Vấn Văn Phòng Liên Hệ Chư Quốc của Tòa Thánh về Hội Nghị Rôma đối với Tình Trạng Khủng Hoảng ở Lebanon

Vị Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh: Tống Cựu Nghinh Tân!

Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông

Đức Thánh Cha ấn định Ngày Cầu Nguyện Và Thống Hối cho Hòa Bình ở Trung Đông: Chúa Nhật 23/7/2006

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh: Tống Cựu Nghinh Tân - Tại sao Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chọn  tân thay cựu?

Tòa Thánh Lên Án Bạo Động ở Trung Đông

Tòa Thánh Vatican tấn công kỹ nghệ tình dục ở Giải Vô Địch Túc Cầu Thế Giới tại Đức Quốc

Tuyên Cáo Tòa Thánh về Vấn Đề Hành Sử trước Tình Hình Iran

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Các Hội Đoàn Tông Đồ Giáo Dân Thứ Bảy 3/6/2006

Tòa Thánh Thông Báo Quyết Định về Vụ Cáo Buộc Vị Sáng Lập Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (Legionaries of Christ)

Kỷ Niệm 25 Năm Biến Cố Đức Gioan Phaolô II Bị Ám Sát: Thánh Tượng Mẹ Fatima Về Vatican và Tượng Đức Gioan Phaolô Ở Tô Cách Lan

Công Giáo và Chính Thống bàn đến Hồn Sống của Âu Châu và Cuộc Khủng Hoảng về Văn Hóa

Bản Đúc Kết phổ biến cho Phóng Viên ngày 2/5/2006 của Đại Hội Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học liên quan tới đề tài: “Giới Trẻ Đang Tan Biến

Bản Tuyên Ngôn chính thức của Tòa Thánh Về Các Cuộc Tấn Phong Giám Mục ở Trung Hoa

Giáo Hoàng Biển Đức XVI – Lịch Trình về Chuyến Tông Du Thứ Hai sắp tới ở Balan

ĐTGM Lajolo Giải Thích về những Tương Quan và Khác Biệt giữa Giáo Hội, Tòa Thánh và Quốc Đô Vatican

Đức Thánh Cha và Giới Trẻ Giáo Phận Rôma Sứa Soạn Hướng Về Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI

Thành Phần Lãnh Đạo Giới Trẻ họp mặt sửa soạn cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXIII

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Thánh Lễ Đầy Năm Băng Hà Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II 3/4/2006

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ kết thúc Đêm Canh Thức Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Hồng Y Đoàn về 3 Đề Tài áp Mật Nghị dịp tân 15 Hồng Y

Do Thái và Công Giáo Tuyên Ngôn Tôn Trọng Sự Sống Con Người

Cầu Kinh Mân Côi với Giới Trẻ qua Vệ Tinh Viễn Liên Truyền Hình

Tòa Thánh Vatican Trao Tặng Hài Tích Thánh Anrê cho Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp

ĐTC Biển Đức XVI với Hội Nghị Quốc Tế về Nhân Bào Phôi Thai

“Nhân Bào Phôi Thai Trước Khi Được Cấy: Các Khía Cạnh Khoa Học và Những Quan Tâm Về Đạo Lý Sinh Học”

“Đài Phát Thanh Vatican ở vào Tuổi 75. Những Đường Lối Mới để phục vụ Giáo Hội và Những Viễn Tượng Tương Lai”

Thi Thể của Chị Lucia được dời về Vương Cung Thánh Đường Mẹ Mân Côi ở Đền Thánh Fatima

Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới - Một Vị Thế Mới

Các Bảo Tàng Viện của Tòa Thánh Vatican: 500 Năm Thành Lập – Mừng Suốt Năm 2006

ĐTC Biển Đức XVI ban Ơn Toàn Xá cho Bệnh Nhân trong Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 11/2/2006

Tòa Thánh Vatican lên tiếng về vụ các bức biếm họa trên báo chí Âu Châu phạm tới Hồi Giáo

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về chủ đề Đại Kết: “Thập Giá của Chúa Kitô Chiếu Soi Tất Cả Mọi Người: Niềm Hy Vọng cho Việc Canh Tân và Mối Hiệp Nhất ở Âu Châu

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Bài giảng trong Buổi Kinh Tối 25/1/2006 Bế Mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo

Tiến Trình Những Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình trong Giáo Hội

Sứ Điệp của Tòa Thánh cho Ngày Thế Giới Phong Cùi Thứ 53 cử hành Ngày 29/1/2006

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI Thông Báo về Bức Thông Điệp Đầu Tay của Ngài

Tòa Thánh Vatican: Phản Ứng về Phán Quyết của Tòa muốn thả kẻ ám sát Đức GP II

 

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gặp gỡ Giới Trẻ ở Montorso gần Loreto, Ý quốc hôm Chúa Nhật 2/9/2007 

 

Vào lúc 9 giờ 30 sáng Chúa Nhật ngày 2/9/2007, ĐTC Biển Đức XVI đã đến Montorso gần Loretto bằng chiếc giáo hoàng xa của ngài để chủ tế Thánh Lễ đồng tế với sự tham dự của cả nửa triệu giới trẻ. Trong bài giảng của mình, ngài đã nhấn mạnh tới những ý tưởng chính yếu tiêu biểu sau đây:

 

“Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, nơi Mẹ Maria, đã mặc lấy xác thịt của chúng ta, đã tham dự vào cuộc sống của chúng ta và đã muốn thông phần vào lịch sử của chúng ta. Để hoàn thành Giao Ước này, Thiên Chúa đã tìm kiếm một con tim trẻ trung và Ngài đã tìm thấy nó nơi Mẹ Maria”.

 

“Ngay cả cho đến ngày nay, Thiên Chúa vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những con tim trẻ trung. Ngài đang tìm kiếm giới trẻ có những tâm hồn cao cả có thể giành chỗ cho Ngài trong cuộc đời của họ để trở thành thành phần chủ chốt của Tân Ước”.

 

Ngài kêu gọi giới trẻ hãy để mình được lôi kéo tới “một đời sống mới xuất phát từ việc gặp gỡ Chúa Kitô”, nhờ đó họ “trở nên thành phần tông đồ cho sự bình an của Người nơi gia đình của các bạn, giữa bạn bè của các bạn, nơi các cộng đồng Giáo Hội của các bạn và ở những nơi chốn khác nhau các bạn sống và làm việc”.

 

“Tâm tưởng của chúng ta tự nhiên hướng tới Ngôi Nhà Thánh Nazarét là ngôi đền của sự khiêm hạ: sự khiêm hạ của vị Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và sự khiêm nhượng của Mẹ Maria đã chấp nhận Người nơi cung dạ của Mẹ; sự khiêm nhượng của Đấng Hóa Công và sự khiêm nhượng của một tạo vật”.

 

Ngày nay, ngài tiếp tục, “khiêm nhượng được coi như là những gì thua thiệt, như thành phần chẳng có gì để nói với thế giới hết. Tuy nhiên, sự thật thì khiêm nhượng là con đường tuyệt hảo, và chẳng những vì nó là một nhân đức nhân bản cao cả mà còn thực sự vì là đường lối tác hành của riêng Thiên Chúa nữa”.

 

Ngài đã lên tiếng kêu gọi giới trẻ là “thành phần muốn theo Chúa Kitô và muốn thuộc về Giáo Hội của Người… Đừng theo đường lối kiêu hãnh mà là khiêm hạ. Hãy bơi ngược triều sóng. Đừng nghe theo những tiếng nói xu nịnh và hấp dẫn cổ võ lối sống theo kiểu kiêu căng và bạo động, kiểu coi trọng mình và sự thành đạt bất chấp mọi giá, kiểu bề ngoài và chiếm hữu cho dù tác hại tới bản thân”.

 

“Hãy tỉnh táo và tinh khôn” trước những gì liên quan tới vấn đề truyền thông xã hội. “Đừng sợ dựa vào những đường lối ‘thay thế’ cho thấy một tình yêu thực sự: đó là một đời sống điều hòa và đoàn kết; là những mối liên hệ về cảm xúc tinh tuyền và thành thực; là việc chân thành dấn thân học hỏi và làm việc, hết sức quan tâm tới công ích. Đừng sợ tỏ ra mình khác biệt hay hay bị chỉ trích bởi … cổ hủ lỗi thời. Bạn bè của các bạn, … nhất là những người dường như xa vời với tâm thức và giá trị của Phúc Âm, rất cần thấy một ai đó dám sống trọn vẹn con người như được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô”.

 

Ngài mời gọi giới trẻ hãy nhìn đến Mẹ Maria để cảm nghiệm được “’sự ưng thuận’ của Thiên Chúa đối với loài người”. “Chúng ta đã hiểu rằng đức tin của chúng ta không bày ra cả một chuỗi những cấm cản về luân lý mà là một đường lối hân hoan theo chiều hướng ‘ưng thuận’ của Thiên Chúa”. Ngài cho biết cái thách đố chính gây khó khăn cho giới trẻ đó là cái thách đố “theo Chúa Kitô cách trọn vẹn, không ngần ngại hay dung hòa. Mà theo Chúa Kitô nghĩa là cảm thấy mình là một phần sống động nơi thân mình của Người là Giáo Hội… Theo Chúa Kitô cũng bao gồm cả việc góp phần của mình xây dựng một xã hội công chính và đoàn kết hơn, trong đó hết mọi người có thể hoan hưởng các sản vật của trái đất này”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 3/9/2007

 

 

TOP

 

Tòa Thánh lên tiếng về cái chết của một Vệ Binh Thụy Sĩ ở Vatican

 

Vào trưa ngày Thứ Hai 3/9/2007, Cha Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh là Federico Lombardi, SJ, đã tuyên cáo như sau:

 

“Vào khoảng 7 giờ 30 sáng hôm nay, Alessandro Benedetti, 26 tuổi và là một phần tử của Vệ Binh Đoàn của Quốc Đô Vatican, đã được tìm thấy trong phòng tắm thuộc khu cư trú của Vệ Binh Đoàn trong một tình trạng rất trầm trọng gây ra bởi một vết thương đạn bắn. Con người trẻ này lập tức được đưa đến Bệnh Viện Santo Spirito và chết vào khoảng 9 giờ sáng.

 

“Chứng cớ sơ khởi cho thấy là con người trẻ này đã tự sát. Một ghi nhận tại hiện trường đang được xem xét bởi những vị quan tòa của Vatican đang theo dõi vụ này và sẽ khảo sát chi tiết tử cuộc giảo nghiệm như đã được nhân viên điều tra về các cuộc bất đắc kỳ tử Ý quốc yêu cầu thực hiện.

 

“Alessandro Benedetti được tuyển chọn vào Vệ Binh Đoàn hồi Tháng Tư năm ngoái như là một ‘thiếu sinh quân vệ binh’, dựa vào tiến trình tuyển chọn về khả năng tâm lý bình thường cũng như vào việc liên quan tới vấn đề sử dụng các thứ vũ khí.

 

“Cho tới nay, hành vi cử chỉ của anh chưa từng gây ra quan ngại gì hết.

 

“Đức Thánh Cha đã hết sức đau buồn khi nghe tin này. Ngài ký thác con người trẻ Alessadro cho tình thương của Thiên Chúa, và tiếp tục gắn bó thiêng liêng với gia đình Benedetti cũng như với các phần tử thuộc Vệ Binh Đoàn”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 3/9/2007

 

 

TOP

 

 

“Nhng Khía Cnh Mc V trong vic Cha Tr Các Chng Bnh Lây Lan”.  

 

Từ Thứ Năm 23/11 đến Th By 25/11/2006, ti Vatican s din ra hi ngh ln th 21 ca Hi Đồng Tòa Thánh V Tha Tác V Chăm Sóc Sc Khe liên quan ti vic phác ha ra mt đường li hiu năng trong vn đề phòng chng các chng bnh lây lan để “nâng đỡ, chăm sóc và cha tr” thành phn bnh nhân, vi ch đề là “Nhng Khía Cnh Mc V trong vic Cha Tr Các Chng Bnh Lây Lan”.

 

Đức Hng Y ch tch phân b này là Javier Lơano Barragán, và v Giám Mc thư ký là José Redrado, đã cho thành phn phóng viên và ký gi đang làm vic vi Tòa Thánh biết như thế. Cuc hi ngh này vi thành phn tham d lên ti 536 người mang mt ý nghĩa “đối vi chúng ta liên quan ti mu nhim xót thương ch không phi than van trách móc”.

 

V hng y ch tch ghi nhn là Hi Chng Lit Kháng đang gia tăng như được thy trong d kin ca T Chc Sc Khe Thế Gii năm 2005. Hi ngh năm 2006 này được chia làm ba phn, phn đầu s nói đến ngun gc và căn nguyên ca các chng bnh lây lan, bao gm c các li sng, các cuc di dân, và “nhng thay đổi v k thut và k ngh”. Phn hai s chia s “v nhng th dch bnh và nim hy vng ca Kitô Giáo cùng trách nhim ca Kitô hu trong vic chăm sóc thành phn bnh nhân”, trong đó có các quan đim ca Do Thái Giáo, Hi Giáo, n Giáo và Pht Giáo v vn đề Phn ba s là phn nói ti vic chăm sóc mc v cho thành phn v mc phi các chng dch bnh.

 

V hng y ch tch cho biết: “Chúng tôi tìm kiếm thc hin nhng hành động c th theo quan đim tâm ký văn hóa, như vn đề giáo dc theo nim tin liên quan ti nhng th bnh nn y, hc hi giáo lý, giáo dc hc đường, truyn thông và nói rõ nhng cái xu xa t hi”.

 

Riêng v vn đề bao cao su làm tình, theo yêu cu ca Đức Thánh Cha Bin Đức XVI, v hng y ch tch phân b này đã np bn tường trình cho Thánh B Tín Lý Đức Tin. Lý do là vì hi đồng ca ngài ch gii hn trong lãnh vc mc v, còn Thánh B Tín Lý Đức Tin đặc trách v nhng gì liên quan ti nim tin.

 

“Bi vy, để đáp ng ý mun ca Đức Thánh Cha, chúng tôi đã thc hin mt cuc nghiên cu k lưỡng v vn đề s dng các th bao cao su làm tình, c theo quan đim khoa hc ln quan đim luân lý, và chúng tôi đã np nó cho Thánh B Tín Lý Đức Tin”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 21/11/2006

 

 

 TOP

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức sắp phổ biến tác phẩm “Chúa Giêsu Nazarét: Từ Phép Rửa tới Biến Hình”

 

Theo điện thư VIS của Tòa Thánh Vatican ngày 22/11/2006 thì vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là linh mục dòng Tên Federico Lombardi đã viết một thông tư về tác phẩm sắp sửa được phát hành của vị Giáo Hoàng đươnng kim Biển Đức XVI của chúng ta, đó là cuốn “Chúa Giêsu Nâarét: Từ Phép Rửa tới Biến Hình - Gesu di Nâareth. Dal Battesimo nel Giordano alla Trasfigurâione".

 

Nhà Xuất Bản  Vatican (Vatican Publishing House) là nơi giữ tác quyền về tất cả mọi bản văn của Đức Giáo Hoàng đã nhượng quyền chuyển dịch, phân phối và phổ biến cuốn sách này cho Nhà Xuất Bản Rioãoli (Rioãoli Publishing House).

 

Theo lời thông tư của vị linh mục giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh thì ‘sự việc Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã có thể hoàn tất phần thứ nhất đại tác phẩm của ngài, và trong ít tháng nữa thôi chúng ta sẽ có tác phẩm nay trong tay, là một tin tuyệt vờị Tôi cảm thấy đây là một việc làm phi thường, vì cho dù nhiều phận sự và lo lắng cho giáo triều của mình, ngài vẫn có thể hoàn thành một tác phẩm có một chiều sâu rất nhiều về mặt kiến thức cũng như về mặt thiêng liêng. Ngài nói rằng ngài đã giành tất cả mọi giây phút rảnh rỗi của mình để thực hiện dự án này, và chính điều ấy là một dấu hiệu rất rõ ràng cho thấy tầm quan trọng và khẩn trương của cuốn sách đối với ngàị

 

“Trong tinh thần chân tình và khiêm tốn vốn có của mình, Đức Giáo Hoàng đã cho biết cuốn sách này không phải là ‘một công trình của Huấn Quyền’ mà là hoa trái của việc ngài nghiên cứu riêng, và vì thế nó có thể được tự do bàn luận và bình luận. Đó là một nhận định rất quan trọng, vì nó làm sáng tỏ vấn đề là những gì ngài viết trong cuốn sách ấy hoàn toàn không phải là những gì cầm chân trói buộc việc nghiên cứu của các chuyên viên dẫn giải và thần học giạ Nó không phải là một bức thông điệp dài về Chúa Giêsu, mà là việc trình bày riêng tư về hình ảnh Chúa Giêsu của thần học gia Joseph Ratzinger, vị đã được bầu làm Giám Mục Rôma”.

 

Cùng bản thông tư còn cho biết là nơi lời mở đầu của tác phẩm ấy, Đức Thánh Cha “giải thích rằng trong nền văn hóa tân tiến, cũng như ở nhiều thứ trình bày về hình ảnh Chúa Giêsu, cái khoảng cách giữa ‘một Chúa Giêsu lịch sử’ và ‘một Đức Kitô của niềm tin’ đã càng rộng lớn hơn bao giờ hết…. Tác giả Joseph Ratzinger, bằng việc cân nhắc tất cả mọi chiếm đạt của cuộc nghiên cứu tân tiến, muốn trình bày Chúa Giêsu của các Phúc Âm là một ‘Chúa Giêsu lịch sử’ thực sự, là một hình ảnh có thể cảm nhận và nổi nang, Đấng chúng ta có thể và cần phải căn cứ, và Đấng chúng ta có lý do chính đáng để tin tưởng và sống đời Kitô hữụ Bởi vậy, với cuốn sách này, Đức Giáo Hoàng muốn góp phần vào việc hỗ trợ thiết yếu cho đức tin của anh chị em mình, và ngài làm điều ấy từ yếu tố chính yếu của đức tin là Chúa Giêsu Kitô”.

 

Vị linh mục giám đốc văn phòng báo chí Tòa Thánh viết tiếp rằng, trong phần giới thiệu về tác phẩm ấy, “Chúa Giêsu được trình bày cho chúng ta thấy như là một tân Moisen, một tân ngôn sứ ‘trực diện với Thiên Chúá, … một Người Con, sâu xa kết hiệp với Chạ Nếu không nhấn mạnh đến khía cạnh chính yếu này thì hình ảnh về Chúa Giêsu trở thành xung khắc và không thể nào hiểu nổị Tác giả Joseph Ratzinger đã tha thiết nói với chúng ta về cuộc hiệp nhất thân mật của Chúa Giêsu với Cha, và muốn bảo đảm rằng các môn đệ của Chúa Giêsu được dự phần vào mối hiệp thông nàỵ Bởi vậy, nó chẳng những là một đại tác phẩm về khoa dẫn giải học thánh kinh và khoa thần học mà còn là một đại tác phẩm về khoa linh đạo học nữa”.

 

Để kết luận, vị linh mục dòng tên này chia sẻ cảm nhận quá khứ của mình về các tác phẩm của hồng ý Joseph Ratzinger như sau: “Nhớ lại ấn tượng sâu xa cùng với những hoa trái thiêng liêng mà tôi, là một người trẻ, đã được hưởng từ việc đọc tác phẩm đầu tay của ngài – ‘Nhập Môn Kitô Giáĩ – tôi tin rằng cả lần này nữa chúng ta sẽ không bị thất vọng, trái lại, cả thành phần tín hữu lẫn tất cả mọi người thực sự muốn tin hiểu trọn vẹn hơn về hình ảnh của Chúa Giêsu, sẽ hết lòng biết ơn vì Giáo Hoàng này về chứng từ cao cả của ngài, với tư cách là một tư tưởng gia, một học giả và là một con người tin tưởng, về một vấn đề thiết yếu nhất của tất cả niềm tin Kitô Giáo này”.

 

Theo mạng điện toán toàn cầu Zenit ngày 21/11/2006 thì Nhà Xuất Bản Vatican cũng được gọi là Libreria Editrice Vaticana (LEV) đã nhận được bản thảo của Đức Thánh Cha mấy ngày trước đây, và trao cho cơ quan này việc phân phối nó. Nhà xuất bản của Tòa Thánh đã nhượng quyền cho Nhà Xuất Bản Rioãoli ở Ý, và Nhà Xuất Bản Rioãoli này lại nhượng quyền phát hành ở Đức cho gia đình xuất bản Herder Verlag là nơi tác giả Joseph Ratzinger đã có liên hệ trong quá khứ.

 

Trong lời dẫn nhập mở đầu, tác giả Joseph Ratzinger là đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã minh định rằng tác phẩm này “không phải là một tác động của huấn quyền, mà chỉ là một cuộc trình bày việc cá nhân tôi tìm kiếm dung nhan Chúa Kitô. Bởi thế, bất cứ ai cũng quyền bác bẻ tôị

 

“Tôi chỉ xin độc giả hãy mang một tâm trạng thiện cảm cần thiết bằng không không thể nào hiểu được tác phẩm nàỵ  Tôi muốn cố gắng để trình bày Chúa Giêsu của Các Phúc Âm như là một Giêsu đích thực, một Giêsu lịch sử đúng nghĩa của từ ngữ này”.

 

Tác phẩm này là những gì cho thấy một trong những xác tín sâu xa nhất của tác giả Joseph Ratzinger, một tác phẩm ngài đã có dự tính viết ngay trước cả khi được bầu làm giáo hoàng: “Qua con người Giêsu, Thiên Chúa làm cho bản thân mình trở thành hữu hình hiện lộ, và bởi Thiên Chúa, hình ảnh này hiện lên như là một con người công chính”. 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 22/11/2006 và Zenit 21/11

 

 

TOP

 

 

“Không dựa vào Thiên Chúa thì định mệnh của con người chỉ là những gì lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi”

 

Đư Thánh Cha Biển Đức XVI Viếng thăm và Huấn dụ Sinh Viên Đại Học Đường Gregorian hôm Thứ Sáu 3/11/2006

 

Hôm Thứ Sáu 3/11/2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã  đến thăm Đại Học Gregorian của Tòa Thánh được ủy thác cho các linh mục Dòng Chúa Giêsu điều hành. Giáo Hoàng Học Viện Gregorian là một viện đại học do chính Thánh I Nhã, vị sáng lập dòng Tên, thiết lập cách đây 450 năm. Hiện nay có 3 ngàn sinh viên thuộc 130 quốc gia, 821 giáo phận và 84 cộng đồng dòng tu.

Tại đây, ĐTC được chính ĐHY Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo là Zenon Grocholewski kiêm đại chưởng ấn của đại học này, và linh mục Peter Hans Kolvenbach, bề trên tổng quyền của Dòng Tên kiêm phó đại chưởng ấn của đại học này nghênh đón.

Trước hết ĐTC đã vào nguyện đường của đại học đường để viếng Thánh Thể, đoạn chào cộng đồng 8 nữ tu phục vụ ở đại học đường này. Thành phần sinh viên đã vỗ tay đón chào ngài, và hô hoán câu “Vạn Tuế Đức Giáo Hoàng!”. Vì sân trường không đủ chỗ, nhiều sinh viên đã phải ngồi trong các lớp học để nghe ngài trước những màn ảnh lớn. Hai linh mục dòng Tên là Gianfranco Ghirlanda và Bryan Lobo đại diện sinh viên ngỏ lời chào mừng ĐTC.

Trong bài huấn từ của mình, ĐTC đã diễn tả viện đại học này như là “một trong những việc phục vụ cao cả nhất của Dòng Chúa Giêsu cống hiến cho Giáo Hội Hoàn Vũ”.

Ngài cũng nhắc lại kỷ niệm với đại học này là khi còn là linh mục Joseph Ratzinger ngài đã dạy một khóa về Thánh Thể vào đầu thập niên 1970. Ngài cũng nhắc đến nhiều lần, thời đầu Công Đồng Chung Vaticanô II, ngài được mời giảng huấn hay chấm luận án tiến sĩ.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI của chúng ta đã nói với sinh viên rằng không căn cứ vào Thiên Chúa thì các khoa học của con người không thể nào hiểu được con người, và chỉ khi nào con người hướng về siêu việt thể họ mới tim thấy ý nghĩa của cuộc đời. Sau đây là một số ý tưởng tiêu biểu được ngài huấn dụ thành phần sinh viên ngài gặp gỡ:

 

“Hôm nay, cần phải chú ý tới cái thách đố của một nền văn hóa trần tục, một nền văn hóa ở nhiều phần đất trên thế giới có khuynh hướng càng ngày càng chối bỏ chẳng những hết mọi dấu hiệu của việc Thiên Chúa hiện diện trong sinh hoạt của xã hội và của con người, mà còn, qua một vài phương tiện, những phương tiện đánh lạc hướng và làm lu mờ đi lương tâm chính trực của con người, đang nỗ lực làm tiêu hao đi khả năng con người lắng nghe Thiên Chúa nữa…

 

“Không thể nào không lưu ý tới mối liên hệ với các tôn giáo khác, mối liên hệ chẳng những có tính cách xây dựng nếu nó tránh đi được tất cả những gì là mập mờ làm suy yếu đi nội dung thiết yếu của niềm tin tưởng của Kitô Giáo vào Chúa Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của toàn thể nhân loại, cũng như niềm tin tưởng vào Giáo Hội, bí tích cứu độ cần thiết để cứu độ toàn thể nhân loại...

 

“Không thể nào hoàn toàn hiểu được con người, cả trong nội tại cũng như ngoại diện, nếu họ không hướng về siêu việt thể. Không biết qui chiếu vào Thiên Chúa, con người không thể giải đáp những vấn nạn nồng cốt đang làm day dứt và mãi làm khắc khoải tâm can của họ liên quan tới cùng đích của cuộc đời họ và ví thế liên quan tới ý nghĩa cuộc sống của họ.

 

“Bởi thế, thậm chí họ không thể kết hiệp trong xã hội những thứ giá trị về đạo lý là những gì duy nhất có thể góp phần vào việc chung sống hợp với con người. Không dựa vào Thiên Chúa thì định mệnh của con người chỉ là những gì lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi…

 

“Chỉ khi nào biết căn cứ vào Vị Thiên Chúa Yêu Thương, Đấng đã tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô, con người mới tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình và mới sống trong niềm hy vọng, bất chấp có trải qua những sự dữ làm tổn thương đến đời sống của họ và xã hội họ sống.

 

“Hy vọng là những gì giúp cho con người không khóa mình lại trong một thứ chủ nghĩa tuyệt mệnh tê liệt và cằn cỗi, mà là hướng về một cuộc hăng say dấn thân trong xã hội họ sống để có thể canh tân xã hội”.

Sau bài huấn từ, ngài gặp gỡ cộng đồng Dòng Tên ở Trung Tâm Hội Nghị Matteo Ricci, bên dưới ham đại học, và xem qua những thứ xuất bản và công khố của đại học đường này. Ngài cũng được đại học đường này kính biếu ấn bản mới nhất của tờ Archivium Historiae Pontificiae ngài rất thích, và một tác phẩm mừng bách niên sinh nhật của triết gia kiêm thần học gia Canada là linh mục Bernard Lonergan.

Cuộc gặp gỡ này cũng có mặt của cả thành phần ân nhân bảo trợ và ngoại giao đoàn của đại học này, thành phần được ĐTC ngỏ lời cám ơn về sự giúp đỡ của họ. Ban nhạc thuộc Đại Học Tòa Thánh Đức Hung đã góp phần phụ họa đón mừng ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/11/2006

 

 

TOP

 

 

“Việc đào sâu vào những chân lý Kitô Giáo và việc học hỏi thần học cũng như các môn tôn giáo khác bao gồm một thứ giáo dục thinh lặng và chiêm ngắm”

 

Huấn dụ giáo chức và sinh viên các đại học Tòa Thánh dịp năm học mới 23/10/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

“Tôi cũng muốn  nhân cơ hội này để nhấn mạnh, như tôi đã có dịp thực hiện ở những cuộc gặp gỡ khác nhau với các linh mục và chủng sinh, tầm quan trọng chính yếu của đời sống thiêng liêng và nhu cầu cần phải nuôi dưỡng, cùng với việc tăng trưởng về văn hóa, một tầm vóc trưởng thành về nhân bản cân đối cũng như một việc huấn luyện sâu xa về khổ chế và đạo đức.

 

“Ai muốn làm bạn của Chúa Giêsu và trở nên môn đệ đích thực của Người – nên người môn đệ chủng sinh, linh mục, Tu sĩ hay giáo dân – cần phải vun trồng một mối thân hữu thân mật với Người bằng việc suy niệm và nguyện cầu. Việc đào sâu vào những chân lý Kitô Giáo và việc học hỏi thần học cũng như các môn tôn giáo khác bao gồm một thứ giáo dục thinh lặng và chiêm ngắm, vì người ta phải có khả năng lắng nghe Thiên Chúa nói trong tâm can.

 

“Luôn cần phải thanh tẩy tâm tưởng để cho thể tiến tới chiều kích là nơi Thiên Chúa ban bố Lời sáng tạo và cứu chuộc của Ngài; Lời của Ngài, như Thánh Ignatiô Antiokia diễn tả một cách tuyệt diệu, “âm thầm xuất hiện” (Letter To the Magnesians, VIII, 2). Nếu chỉ xuất phát từ sự tĩnh lặng chiêm niệm thì những lời của chúng ta có một giá trị và tác dụng nào đó, không giống như những bài diễn thuyết khoa trương của thế gian muốn được dư luận quần chúng hoan hô.

 

“Sinh viên học hỏi nơi một học viện của Giáo Hội bởi thế cần phải tỏ ra sẵn sàng tuân phục chân lý, nhờ đó họ vun trồng một thứ khổ chế đặc biệt về tâm tưởng và ngôn từ. Tính cách khổ chế này là những gì nhờ ở lòng thiết tha ưu ái Lời Chúa, và tôi có thể nói hơn như thế nữa, là những gì nhờ ở “sự tĩnh lặng” xuất phát Lời trong cuộc trao đổi yêu thương giữa Cha và Con trong Thánh Thần. Chúng ta cũng có thể tiến tới với một cuộc trao đổi như thế qua nhân tính thánh hảo của Chúa Kitô.



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/11/2006

 

TOP

 

 

Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình cảnh báo tình trạng phân ly giữa đạo lý và kỹ thuật

Theo vị hồng y chủ tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh là Renato Martino trong bài khai mạc cho Tuần Lễ Xã Hội 4 ngày ở Toledo Tây Ban Nha hôm Thứ Năm 2/11/2006, mang tựa đề “Nhân Quyền là Nền Tảng Xây Dựng Văn Hóa Đại Đồng”, thì việc tôn trọng nhân quyền bị đe dọa bởi tình trạng phân ly giữa đạo lý và kỹ thuật.

Để hiểu được những thách đố trong việc bênh vực nhân quyền thì cần phải hiểu được “mối liên hệ khó khăn giữa kỹ thuật và đạo lý”.

“Nhân loại tân tiến bị phân ly hơn bao giờ hết nơi mối liên hệ giữa kỹ thuật và đạo lý”, cho đến độ đạo lý và kỹ thuật sẽ trở thành “hai khối mới trong tương lai”.

Theo ngài thì cuộc phân ly này chia ra làm hai thành phần, một thành phần thì chủ trương “quyền tự do thực hiện” được căn cứ vào chính nó như là cùng đích, còn thành phần kia thì chủ trương “quyền tự do thực hiện cần phải được căn cứ vào một điều gì đó ở ngoài nó, tức là vào phẩm vị con người”.

Ngài nhận định là “một quan điểm về kỹ thuật tách rời đạo lý làm cho con người trở thành một sản phẩm của lịch sử, văn hóa và nhân tạo, mất đi mối liên hệ với bản tính, truyền thống và tạo vật”.

“Theo chiều hướng này, con người không còn là một dự phóng nữa, mà trở thành một cái gì đó được dự phóng. Con người không còn phận sự gì nữa mà chỉ có quyền lợi. Bởi thế mới xẩy ra chủ nghĩa độc tôn cấm đoán trong việc ngăn cấm”, và mới có “những thứ độc tôn mới”.

Ngài tiếp: “Nạn khủng bố, một quan niệm về kỹ thuật của chính trị, chủ nghĩ a trần thế hiểu như là một vị trí trung lập đối với các thứ giá trị và những độc đoán, nền dân chủ như là một phương thức, việc tài trợ cho nền kinh tế, chủ nghĩa tương đối của các nền văn hóa, kỹ thuật hóa luật pháp và nhân quyền, tất cả đều là những thức độc tôn mới có tính cách tiêu cực vì chúng tuyệt đối hóa kỹ thuật.

“Tất cả những điều này đều hết sức liên quan với nhau, và đó là lý do tại sao vấn đề nhân loại học – và trong vấn đề này hàm chứa những vấn đề của nhân quyền, ngày nay thực sự là vấn đề xã hội vậy”.

“Những nền văn hóa có tính cách năng hiệu, có tính cách duy vật thực tiễn, có tính cách cá nhân chủ nghĩa duy thực dụng và hưởng lạc, xuất phát trên hết từ chủ trương ngờ vực về khoa kiến thức học và đạo lý, đều là những gì tác hại đến toàn bộ nhân quyền.

“ Với những nền văn hóa như thế, những nền văn hóa không còn quan điểm nguyên vẹn về con người như một cứ điểm để qui chiếu nữa, thì chính việc bảo vệ nhân quyền theo pháp lý về nội dung cũng thực sự có vấn đề và chẳng còn gì đáng kể nữa”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/11/2006

 

 

 

TOP

 

 

“Tờ L’Osservatore Romano. Từ Rôma tới Thế Giới, 145 năm lịch sử qua những trang nhật báo của Giáo Hoàng”.

 

Sáng ngày Thứ Ba 24/10/2006, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tarcisio Bertone, SDB, đã phát biểu một bài nói ngắn để khai mạc cho cuộc triển lãm chủ đề: “Tờ L’Osservatore Romano. Từ Rôma tới Thế Giới, 145 năm lịch sử qua các trang nhật báo của Giáo Hoàng”.

 

Tham dự buổi triển lãm này có Enrico Gasbarra, chủ tịch của Hạt Rôma, có cả các phần tử của hội đồng quận hạt này, cùng với các v ị thẩm quyền dân sự và tôn giáo khác.

 

Vị hồng y này đã nhắc lại làm cách nào tờ nhật báo ấy, một tờ báo “đã thực hiện việc bênh vực đạo Công Giáo và Vị Giáo Hoàng Rôma,… sau đó đã trở thành một cơ cấu bán chính thức của Tòa Thánh”. Điều này làm cho nó trở thành một dụng cụ lý tưởng trong việc “lan truyền giáo huấn của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô cùng tín liệu liên quan tới các Giáo Hội vụ”.

 

“Chúng ta không thể không nhấn mạnh đến vấn đề nhờ một số giáo dân … mới đạt được những bước tiến đầu tiên… Qua 145 năm này…. việc diễn tiến của các biến cố lịch sử đã chứng tỏ rằng, để lan truyền sứ điệp của Phúc Âm, Giáo Hội …. cần đến hoạt động, sáng kiến và đặc sủng của thành phần giáo dân”. 

 

Theo vị hồng ý quốc vụ khanh thì cuộc triển lãm này “làm cho chúng ta quen thuộc với hoạt động mục vụ của 11 vị Giáo Hoàng: Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX là vị đồng ý thành lập tờ Người Quan Sát Viên Rôma ấy; …. Những thay đổi sâu xa về xã hội … trong giáo triều Đức Lêô XIII; … Thánh Giáo Hoàng X, Vị Giáo Hoàng của những việc canh tân lớn lao trong Giáo Hội; Đức Giáo Hoàng Biển Đức XV… vị trên những trang của tờ báo này đã tha thiết phổ biến ‘Lời Kêu Gọi Thành Phần Lãnh Đạo Các Quốc Gia Tham Chiến’;… Đức Piô XI lên án tất cả mọi thứ chính sách độc tài chính trị, như vị thừa kế của ngài đã làm là Đức Piô XII;… mùa xuân của Giáo Hội dưới thời Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII; …. Những hoạt động khôn ngoan và quan phòng của Đức Phaolô VI; … giáo triều ngắn ngủi của Đức Gioan Phaolô I; và… cuộc đối thoại mới mẻ của Tòa Thánh với thế giới làm nên giáo triều của Đức Gioan Phaolô II”, cho tới “thời điểm của chúng ta là thời điểm Giáo Hội tiến triển theo sự hướng dẫn khôn ngaon của Đức Biển Đức XVI”. 

 

Vị hồng y đã kết thúc bài nói của mình bằng việc bày tỏ niềm hy vọng rằng “nhờ việc hồi niệm rực rỡ về quá khứ” mà hoạt động này “được tái tấu theo tinh thần ngôn sứ như là một phương tiện truyền thông hiệu nghiệm và thu phục cho Giáo Hội”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 24/10/2006 

 

 

  

TOP

 

Đức Biển Đức XVI gửi sứ điệp truyền hình cho “Ngày Giáo Hoàng” Gioan Phaolô II ở Balan

 

Nhân dịp “Ngày Giáo Hoàng” ở Balan là một biến cố đã từng được cử hành từ 6 năm trước đây, năm 2001, biến cố kỷ niệm ngày Vị Giáo Hoàng người Balan là Đức Gioan Phaolô II được bầu làm giáo hoàng 16/10/1978, Vị đương kim Giáo Hoàng Biến Đức XVI đã thực hiện một sứ điệp truyền hình vào chính ngày này, với những ý tưởng chính yếu tiêu biểu như sau:

 

Trước hết, nhắc lại ngày vị cố Giáo Hoàng được bầu làm Giáo Hoàng, vị Giáo Hoàng đương kim đã cho biết rằng ngài có thể “vẫn còn nghe được cái âm vang” của những lời lẽ Đức Hồng Y Karol Wojtyla tuyên bố khi tỏ ra chấp nhận quyết định của hồng y đoàn bấy giờ, đồng thời cũng nhớ tới “lời kêu gọi tiên tri là: ‘Đừng sợ! Hãy mở các cửa cho Chúa Kitô!’”.

 

“Tôi tạ ơn Thiên Chúa là, nhờ những hình ảnh này trong tâm can tôi mà tôi đã có thể trải qua hơn hai thập niên ở bên ngài để hoan hưởng lòng nhân ái và tình thân hữu của ngài, và ngày hôm nay đây tôi mới có thể tiếp tục công việc của ngài dưới ánh mắt chở che của ngài từ trên Nhà Cha. Tôi tạ ơn Thiên Chúa về cuộc đời của ngài, một cuộc đời đã sống trong lòng mến yêu Chúa Kitô và con người, một cuộc sống đã làm phong phú … toàn thể nhân loại với ân sủng của Thánh Linh…. Sau hết, tôi tạ ơn Thiên Chúa về chứng từ khổ đau của ngài liên kết với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô cho đến chết – một chứng từ đã ban cho chúng ta sức mạnh để sống, và bảo đảm nơi chúng ta niềm hy vọng sống vĩnh hằng”.

 

Vị đương kim Giáo Hoàng của chúng ta còn nhấn mạnh tới lòng mộ mến của Đức Gioan Phaolô II đối với Giáo Hội ở Balan, một Giáo Hội đã được ngài “yêu thương như một bà mẹ”, và “như một cộng đồng bao giờ cũng liên kết chung quanh các vị mục tử”, một cộng đồng “trong quá khứ đã trải qua các cuộc bách hại khác nhau”, nhưng bao giờ cũng “vẫn trung thành với các giá trị phúc âm”. Khi Balan tái phục hồi được quyền tự do của mình thì Đức Gioan Phaolô II đã quan tâm đến việc làm sao để bảo đảm cho “thành phần đồng hương của ngài biết sống trong tự do của kẻ làm con cái Thiên Chúa chứ không phải kiểu của con cái thế gian này, bảo đảm rằng họ sống theo đức tin”.

 

“Nhận thức được gia sản được ngài để lại cho Giáo Hội ở Balan ấy, tôi đến giữa anh chị em trong năm nay với những lời lẽ của Thánh Phaolô: ‘hãy vững mạnh trong đức tin’… Tôi nguyện xin Thiên Chúa hãy bảo trì đức tin này cho các thế hệ tương lai của mảnh đất cao quí này. Tôi đặc biệt cám ơn anh chị em về tất cả những gì anh chị em bày tỏ mối hiệp nhất yêu mến với vị Giáo Hoàng kế thừa vị đồng hương cao cả của anh chị em, và tôi xin ký thác việc phục vụ của tôi cho Giáo Hội cũng như cho thế giới cho việc hỗ trợ thiêng liêng của anh chị em”.

 

Đức Biển Đức XVI đã kết thúc sứ điệp truyền hình của mình cho Ngày Giáo Hoàng ở Balan khi bày tỏ niềm hy vọng rằng “việc tưởng nhớ đến Đức Gioan Phaolô II, việc học hỏi những hoạt động và giáo huấn của ngài”, chớ gì mang nhân dân Balan đến gần Chúa Kitô hơn. “Chớ gì điều này trở thành mối giây hiệp nhất trong việc cùng quan tâm tới tương lai của Giáo Hội này và của xứ sở này”.  

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 17/10/2006 

 

  

TOP

 

 

Giáo Hội có thêm 4 vị Thánh vào Chúa Nhật 15/10/2006

 

Văn phòng báo chí của Tòa Thánh hôm Thứ Ba 10/10/2006 đã chính thức thông báo rằng Đức Thánh Cha sẽ phong thánh cho 4 chân phước ở Quảng Trường Thánh Phêrô vào Chúa Nhật 15/10/2006 tới đây, trong 4 vị này, 2 nam và 2 nữ, có vị giám mục đầu tiên ở Mỹ Châu Latinh và vị sáng lập một trường đại học Hoa Kỳ. Sau đây là liệt kê danh sách của 4 vị thánh mới của Giáo Hội:

Chân phước Rafael Guízar Valencia, người Mễ Tây Cơ, Giám Mục giáo phận Veracruz, Mexico, vị giám mục đầu tiên ở Mỹ Châu Latinh (1878-1938).

Chân phước Filippo Smaldone, linh mục triều và là người Ý, sáng lập Dòng Nữ Tu Salesian Thánh Tâm (1848-1923).

Chân phước Rosa Venerini, người Ý, sáng lập Congregation of Religious Teachers Venerini (1656-1728).

Chân phước Teodora Guérin, tên mẹ đẻ là Anne-Thérèse, người Pháp, sáng lập Congregation of the Sisters of Providence of St. Mary of the Woods College in the United States (1798-1856).

 

Trong việc loan báo này, Văn Phòng Cử Hành Phụng Vụ của Đức Thánh Cha giải thích rằng “bằng việc phong thánh này”, Giáo Hội “liệt kê vào danh sách các thánh và nêu gương cho tất cả mọi tín hữu một số con người nam nữ đã bỏ mọi sự để theo Chúa Kitô như vị sư phụ duy nhất và là Chúa của các vị, cống hiến cho thành phần bé mọn và nghèo khổ một kho tàng lớn lao của đức khôn ngoan thần linh”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/10/2006

 

 

TOP

 

Hội Nghị của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế với những chia sẻ về Lâm Bô và Trẻ Em chết chưa được lãnh nhận Phép Rửa

 

Hội nghị của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế do Đức Hồng Y Levada Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin lãnh đạo đã diễn tiến trong thời khoảng 2-6/2006. Một trong những vấn đề được bàn tới là Lâm Bô và phần rỗi của thành phần trẻ em chết trước khi lãnh nhận phép rửa. Ủy ban này sẽ tiếp tục soạn thảo một văn kiện cho biết lý do tại sao trong giáo huấn của Giáo Hội lạci có quan niệm về Lâm Bô, tại sao nó chưa bao giờ chính thức được xác định là tín lý của Giáo Hội, và tại sao niềm hy vọng họ được cứu độ là những gì chấp nhận được.

 

Nói chung, cho dù không ai nắm chắc được số phận của các em bé chết chưa được lãnh nhận phép rửa, các tham dự viên đồng ý là các em được cứu độ bởi Lòng Thương Xót Chúa, tức các em được về trời hơn là vào lâm bô. Có 30 phần tử đồng ý về những ý chính trong văn kiện, thế nhưng, họ sẽ bỏ phiếu bằng thư tín ấn bản cuối cùng, trước khi bản văn đúc kết được phổ biến vào năm 2007.

 

Hội nghị này cũng vẫn thận trọng về vấn đề Phép Rửa liên quan tới tính cách khẩn thiết của bí tích này trong việc bảo đảm phần rỗi và thúc giục cha mẹ hãy cho con cái rửa tội.

 

Ủy ban này đã bắt đầu nghiên cứu vấn đề này vào năm 2004 khi Hồng Y Joseph Ratzinger hiện nay là Giáo Hoàng Biển Đức XVI là chủ tịch của ban cố vấn và là chủ tịch Chủ Tịch Tín Lý Đức Tin.

 

Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh Lễ hôm 6/10/2006 với các phần tử của ủy ban này; trong bài giảng của mình, ngài đã nói về vai trò của các nhà thần học trong việc lắng nghe lời Chúa để giúp cho người khác nghe tin mừng. Thế nhưng ngài không đã động gì tới văn kiện về lâm bô này tí nào hết.

 

Ủy Ban này bắt đầu quan tâm tới vấn đề này là vì các vị linh mục và giám mục trên thế giới đã yêu cầu  hồng ý Ratzinger bấy giờ hãy “ban bố một bản tuyên cáo Công Giáo cập nhật hóa để đáp ứng tình trạng cảm thấy buồn chán” nơi thành phần cha mẹ than khóc cho việc mất mát một thơ nhi trước khi lãnh nhận phép rửa.

 

Như Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo giải thích: “Được sinh ra với một bản tính nhân loại sa đọa và bị nhiễm mắc nguyên tội, trẻ em cũng cần một cuộc tái sinh mới trong phép rửa để được giải phóng khỏi quyền lực tối tăm và mang vào lãnh giới tự do của thành phần làm con cái Thiên Chúa là lãnh vực tất cả mọi con người được kêu gọi tới. Thế nhưng, cuốn giáo lý được xuất bản năm 1992 đã không đề cập tới Lâm Bô.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo CNS 6/10/2006

 

  

TOP

 

 

Trẻ Em chết trước khi được lãnh nhận Phép Rửa có được rỗi hay chăng?

 

Đây là một trong những vấn đề cần được bàn luận và được nêu lên trong văn kiện soạn thảo cho cuộc họp thường niên của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế do chính Đức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin làm đầu là William Levada. Cuộc họp thường niên của ủy ban này năm 2006 được bắt đầu hôm Thứ Hai 2/10, và các văn kiện của ủy ban này không thuộc về huấn quyền của Giáo Hội, mà chỉ là gợi ý mà thôi.

 

Ngoài vấn đề phần rỗi của trẻ em tiền phép rửa ra, bản thông báo của văn phòng báo chí của tòa thánh về cuộc họp thường niên này còn cho biết hai vấn đề khác cũng được bàn tới, đó là vấn đề nhận định bản chất và phương pháp của thần học như là một khoa học đức tin “scientia fidei”, và vấn đề về nền tảng của luật luân lý tự nhiên theo chiều hướng hai thông điệp của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là “Rạng Ngời Chân Lý – Veritatis Splendor” và “Đức Tin và Lý Trí – Fides et Ratio”.

 

Riêng về vấn đề hiện hữu của lâm bô cho trẻ em chết trước khi lãnh nhận bí tích rửa tội, vào tháng 12/2005, vị tổng thư ký của ủy ban này là linh mục dòng Tên Luis Ladaria đã nói về bản văn này trên Đài Phát Thanh Vatican rằng “không có vấn đề định tín” và “vấn đề đấu giá tín lý Công Giáo” về lâm bô.

 

“Chúng ta biết rằng qua nhiều thế kỷ vẫn được tin tưởng rằng thành phần trẻ em này đi vào lâm bô, nơi họ hoan hưởng một hạnh phúc tự nhiên, nhưng không được Phúc Kiến. Căn cứ vào những diễn tiến mới đây, chẳng những về thần học mà còn về cả ghuấn quyền nữa, niềm tin này ngày nay đang bị chao đảo.

 

“Chúng ta cần phải bắt đầu bằng sự kiện là Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu rỗi và không muốn loại trừ bất cứ một ai; chúng ta cần phải dựa vào dữ kiện là Chúa Kitô đã chết cho tất cả mọi người, và Giáo Hội là một bí tích cứu độ phổ quát, như giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II. 

 

“Bởi thế, nếu chúng ta bắt đầu từ những giả thiết ấy, vấn đề cần phải được lãnh nhận phép rửa là những gì có tính cách bao rộng hơn nữa”.

 

(xin xem tiếp ngày mai: "Lâm Bô có thực sự hiện hữu hay chăng? – Cảm nghĩ của nguyên Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Joseph Ratzinger")

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/10/2006

 

 

TOP

 

 

 Một Tổ Chức Mới nhưng lại Cử Hành Lễ theo Nghi Thức Cũ

 

Có 5 vị linh mục và chủng sinh, bao gồm những phần tử thuộc Hội Thánh Piô X do ĐTGM Marcel Lefebvre thành lập, đã hoàn toàn trở về hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo.

 

Họ đã thành lập Viện Mục Tử Nhân Lành, một hội mới sống đời tông đồ thuộc quyền giáo hoàng, được thiết lập hôm Thứ Sáu 8/9/2006. Các phần tử của tổ chức mới này là những ai muốn cử hành phụng vụ hoàn toàn theo Giáo Hội Latinh có hiệu lực cho tới năm 1962.

 

Đức Hồng Y Jean-Pierre Ricard, TGM Bordeaux, trong một bản thông báo đã cho biết là tổ chức này qui tụ các vị linh mục muốn “thực thi vai trò linh mục của mình theo Truyền Thống về tín lý và phụng vụ của Hội Thánh Công Giáo Rôma”.

 

Trong tông thư “Ecclesia Dei”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết rằng việc tấn phong “bất hợp pháp” cho 4 giám mục thuộc Hội của ĐTGM Lefebvre hôm 30/6/1988 là một hành động ly giáo.

 

Việc tấn phong ấy đã làm đổ vỡ nỗ lực thỏa thuận giữa Tòa Thánh và Hội Thánh Piô X, việc thỏa thuận được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin bấy giờ nhân danh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thực hiện.

 

ĐTGM Fefebvre đã qua đời vào tháng 3/1991 và được kế vị bởi 1 trong 4 giám mục được ngài tấn phong ấy, đó là giám mục Bernard Fellay, trong vai trò lãnh đạo hội này.

 

Trong bản thông báo của mình, ĐHY Ricard đã viết: “Từ ban đầu giáo triều của mình, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã bày tỏ mối quan tâm của ngài đối với việc trở về hoàn toàn hiệp thông nơi những ai đã theo ĐTGM Lefebvre và muốn tỏ ra những cử chỉ đón nhận”.

 

Vị hồng y 61 tuổi đương kim chủ tịch hội đồng giám mục Pháp quốc này đã giải thích rằng “chính Đức Giáo Hoàng đã quyết định cho thiết lập tổ chức này. Quyết định này chất chứa một ước muốn bày tỏ cảm nghiệm về việc hòa giải và hiệp thông là những gì cần phải được củng cố và sâu xa bằng những việc làm. Đó là lý do hiến pháp của tổ chức này đã được phê chuẩn ‘ad experimentum – cho thí nghiệm’ trong một thời hạn 5 năm.

 

“Chúng tôi sâu xa liên kết với mối quan tâm về việc hòa giải và hiệp thông này của Đức Giáo Hoàng, và chúng tôi đón nhận quyết định của ngài bằng tình con thảo”.

 

Vị hồng y này cũng là phần tử của Ủy Ban Giáo Hoàng “Ecclesia Dei”, một ủy ban đã được Đức Gioan Phaolô II thiết lập để làm cho dễ dàng hóa mối hiệp thông trọn vẹn với giáo hội của những vị linh mục, chủng sinh, cộng đồng và những thành phần tu sĩ nam nữ liên quan một cách nào đó với nhóm của ĐTGM Lefebvre, thành phần muốn hiệp nhất với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô trong Giáo Hội Công Giáo, bằng cách giữ những truyền thống tu đức và phụng vụ của họ.  

 

ĐTGM Bordeaux nói rằng sẽ có một bản “thỏa ước “ được chấp thuận giữa tổ chức này với TGP của ngài về cách thức tổ chức này hoạt động.

 

Vị hồng y TGM này nhìn nhận rằng điều cần thiết đó là “hết sức cố gắng lắng dịu, hòa giải và hiệp thông, vìi bạo động đã xẩy ra cho mối liên hệ trong những tháng vừa qua nơi một số phần tử thuộc tổ chức ấy với Giáo Hội địa phương. Mỗi bên sẽ phải đóng góp phần của mình”.

 

Giám Mục Fellay, vị lãnh đạo của Hội Thánh Piô X, đã phổ biến một tuyên cáo cũng vào hôm Thứ Sáu, bày tỏ thái độ phản đối về thỏa ước đạt được bởi tổ chức này, vì ngài tin rằng tổ chức này là “một giải quyết chung làm cho Lễ Triđentinô bị giới hạn lại vào một thứ qui chế riêng”.

 

Những thành phần khác theo ĐTGM Lefebvre cũng đã hòa giải với Rôma, như trường hợp của một nhóm ở Campos Ba Tây được lãnh đạo bởi Giám Mục Licinio Rangel, vị được tấn phong bởi 3 giám mục do ĐTGM Lefebvre tấn phong bất hợp pháp. Nhóm này trở lại với Giáo Hội Công Giáo ngày 18/2/2002, trong một nghi thức trọng thể được chủ tọa bởi ĐHY Darío Castrillón Hoyos, chủ tịch Ủy Ban “Ecclesia Dei”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/9/2006

 

 

TOP

 

 

Tòa Thánh Tuyên Cáo Tuyệt Thông Tổng Giám Mục Emmanuel Milingo

 

Hôm Thứ Ba 26/9/2006, Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh Vatican đã phổ biến một tuyên cáo liên quan tới vị thế trong giáo hội hiện nay của Tổng Giám Mục Emmanuel Milingo. Sau đây là nguyên văn của bản thông tuyên cáo.

 

“Tòa Thánh đã hết sức quan tâm theo dõi những hoạt động gần đây của Tổng Giám Mục Emmanuel Milingo, vị giám mục hồi hưu thuộc giáo phận Lusaka, Zambia, liên quan đến việc ngài mới dính dáng tới 4 linh mục lập gia đình, gây chia rẽ và lộn xộn trong tín hữu.

 

“Những vị đại diện của Giáo Hội ở các cấp khác nhau đã cố gắng vô ích trong việc liên lạc với TGM Milingo để thuyết phục ngài từ bỏ những hành động cứ tiếp tục gây ra gương mù, nhất là nơi thành phần tín hữu đã theo đuổi các thừa tác mục vụ của ngài tỏ ra ủng hộ người nghèo và người bệnh nạn.

 

“Lưu ý tới việc mới đây Vị Thừa Kế Thánh Phêrô tỏ ra thông cảm vị mục tử luống tuổi này của Giáo Hội, Tòa Thánh đã khôn ngoan nhẫn nại đợi chờ việc tiến hóa của các biến cố, những biến cố, tiếc thay, đã dẫn TGM Milingo đến một vị thế bất bình thường và càng công khai đoạn tuyệt hiệp thông với Giáo Hội, trước hết bằng cuộc hôn nhân của ngài, rồi bằng việc tấn phong bốn vị giám mục vào Chúa Nhật, 24/9, ở Washington, D.C. Hoa Kỳ.

 

“Vì đây là hành động công khai, cả TGM Milingo và 4 người được tấn phong đều bị tuyệt thông tiền kết ‘latae sententiae’, như được ấn định trong Giáo Luật Khoản 1382. Ngoài ra, Giáo Hội không công nhận, cũng không có ý nhìn nhận trong tương những cuộc tấn phong ấy và tất cả những cuộc truyền chức bởi họ; và Giáo Hội coi tình trạng theo giáo luật của bốn vị giám mục giả dụ này như tình trạng họ có trước cuộc tấn phong này.

 

“Tòa Thánh, vì chú trọng tới mối hiệp nhất và an bình của đàn chiên Chúa Kitô, đã hy vọng rằng tầm ảnh hưởng huynh đệ của những ai gần gũi TGM Milingo sẽ khiến cho ngài nghĩ lại mà trở về với mối hiệp thông trọn vẹnb với Đức Giáo Hoàng. Tiếc thay, những diễn tiến mới nhất này đã làm cho những niềm hy vọng ấy tiêu tan.

 

“Vào những lúc Giáo Hội cảm thấy đơn đau như những lúc như thế này, chớ gì tất cả mọi cộng đồng tín hữu hãy gia tăng lời nguyện cầu”.

 

Thật vậy, theo mạng điện toán toàn cầu Zenit cùng ngày thì biến cố vị tổng giám mục thuộc giáo phận Lusaka nước Zambia tấn phong cho 4 linh mục mà theo những người tham dự cho biết đã được tấn phong làm giám mục trong Giáo Hội Công Giáo Cổ, một ngành tác khỏi Giáo Hội Công Giáo.

 

4 vị này đã tham dự một hội nghị được tổ chức vào thời khoảng 17-19/9/2006, ở Saddle Brook, New Jersey, bởi một nhóm Married Priests Now! là nhóm được thành lập bởi vị TGM 76 tuổi Milingo này, vị TGM lên tiếng kêu gọi cho gần 150 ngàn vị linh mục đã lập gia đình được trở lại với thừa tác vụ linh mục của họ.

 

Vị TGM này, vào tháng 5/2001, đã kéo chú của truyền thông trên thế giới về việc ngài lập gia đình với Maria Sung, được cử hành trong tổ chức Liên Hiệp Gia Đình của Sun Myung Moon cho Hòa Bình và Thống Nhất Thế Giới.

 

Sau khi đã hòa giải với Giáo Hội Công Giáo qua Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và một thời gian dài hồi tâm, vì TGM này đã trở lại với thừa tác vụ của mình ở tỉnh Zagardo gần Rôma. Đầu năm nay, ngài đã thay đổi lập trường. Ngài đã xuất hiện vào ngày 12/7/2006 ở Washington DC, tuyên bố rằng ngài sẽ trở lại sống với Maria Sung và sẽ công khai tranh đấu chống vấn đề độc thân linh mục.

 

Cuộc tấn phong bất thành hiệu hôm Chúa Nhật 24/9/2006 được diễn ra tại đền Imani của George Stallings, Jr, một cựu linh mục Công Giáo thuộc TGP Washington, người đã bỏ Giáo Hội từ năm 1989 để thành lập Giáo Đoàn Công Giáo Phi Châu Hoa Kỳ.

 

Vào năm 1990, nhân vật Stallings này đã được tấn phong giám mục bởi các vị giám mục thuộc những giáo hội Công Giáo Cổ biệt lập. Nhân vật này là 1 trong 4 người được tái tấn phong bởi TGM Milingo hôm Chúa Nhật 24/9/2006.

 

Còn 3 nhân vật được tấn phong cùng với nhân vật Stallings này cũng thú nhận là mình đã được tấn phong giám mục, thật ra là đã mấy lần rồi. Họ là Peter Paul Brennan thuộc Giáo Hội Chính Thống Phi Châu và Giáo Phận Công Giáo Đại Kết của Những Người Hoa Kỳ; Patrick Trujillo thuộc TGP Đức Mẹ Guadalupe New Jersey của Giáo Hội Công Giáo Cổ ở Hoa Kỳ; và Joseph Gouthro ở Las Vegas, giám mục chủ tịch của Giáo Hội Công Giáo Tông Truyền Quốc Tế.

 

Theo bài “Renegade archbishop excommunicatedcùng ngày với VIS và Zenit của CNN, thì Tòa Thánh không công nhận tổ chức Married Priests Now! của ngài, cho rằng nó là những gì tạo nên “chia rẽ và bàng hoàng nơi tín hữu”. Trong thời giáo triều của Đức Gioan Phaolô II, Tòa Thánh đã lưỡng lự trong việc ra vạ tuyệt thông cho vị TGM này, vì sợ gây ra ly giáo ở Phi Châu là nơi vị TGM ấy nổi tiếng ở tại nước của ngài cũng như chung Phi Châu.

 

Vào năm 1983, vị TGM này đã bị mất giá đối với Tòa Thánh Vatican, sau vụ ngài thực hành nghi thức chữa lành và trừ quỉ ở giáo phận Lusaka. Ngài được Tòa Thánh yêu cầu rời thủ đô nước Zambia và được trao cho một trách nhiệm nhỏ ở Rôma.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS, Zenit và CNN phổ biến ngày 26/9/2006 

 

 

TOP

 

“Việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa tín đồ Kitô Giáo và Hồi Giáo … là một nhu cầu chi phối một phần lớn tương lai của chúng ta”

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

tổng hợp và  chuyển dịch theo tín liệu c ủa các mạng điện toán toàn cầu Vatican, Zenit và CNN

 

Cuộc Gặp Gỡ Củng Cố Mối Thân Hữu giữa tín đồ Kitô Giáo và Hồi Giáo: Thành Phần Tham Dự và Diễn Tiến

 

Thế là, cuộc bấn loạn của thế giới Hồi Giáo từ Thứ Năm 14/9 đến Thứ Hai 18/9/2006, trước những lời trích dẫn của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong bài diễn từ của ngài ở Đại Học Regensburg Đức quốc hôm Thứ Ba 12/9/2006, đã kể như nguôi ngoai hạ màn, sau những lời thanh minh của Tòa Thánh, lần nhất bởi văn phòng báo chí ngày Thứ Năm 14/9 và lần hai của văn phòng quốc vụ khanh hôm Thứ Bảy 16/9, nhất là từ 2 lần thanh minh dẫn giải của chính bản thân của Đức Giáo Hoàng, lần nhất trước buổi Nguyện Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 17/9 và lần hai vào buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư 20/9/2006.

 

Tuy nhiên, về phía Giáo Hội Công Giáo, theo thông báo chính thức của văn phòng báo chí Tòa Thánh loan báo hôm Thứ Sáu 22/9/2006, thì vào lúc 11 giờ 45 sáng ngày Thứ Hai 25/9/2006, tại dinh nghỉ mát giáo hoàng ở Castel Gandolfo, vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta sẽ tiếp Đức Hồng Y Paul Poupard, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Đối Thoại Liên Tôn và chẳng những một số đại diện Hồi Giáo ở Y thuộc Hội Đồng cộng đồng Hồi Giáo Ý được gọi là Islam Cosulta, mà còn cả các vị lãnh sự thuộc các nước đa số Hồi Giáo đang có liên hệ ngoại giáo với Quốc Đô Vatican.

 

Các vị lãnh sự thuộc thế giới Hồi Giáo đang làm việc với Tòa Thánh Vatican cho biết là họ hy vọng cuộc họp này sẽ phục hồi lòng tin tưởng giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và các tín đồ Hồi Giáo đang tức giận về những lời trích dẫn của Đức Giáo Hoàng ở Đức hôm Thứ Ba 12/9 vừa rồi.

 

Nhân vật phó lãnh sự của nước Iran đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng: “Chúng tôi hoan nginh cuộc gặp gỡ này và chắc chắn sẽ tới tham dự. Đây là một dấu hiệu tốt đẹp từ Vatican. Tôi biết rằng cuộc gặp gỡ này sẽ là những gì cải tiến những mối liên hệ với thế giới Hồi Giáo”.

 

Nhân vật lãnh đạo các mối liên hệ quốc tế ở văn phòng công vụ Vatican của Liên Hiệp Ả Rập là Fathi Abuabed cũng đã cho hãng thông tấn Reuters biết rằng: “Cuộc gặp gỡ này sẽ là một cuộc gặp gỡ rất ư là quan trọng, đặc biệt là trong những ngày này, để cố gắng ngăn chặn mọi hành động không tốt”.

 

Đúng như đã hẹn, vào lúc 11 giờ 45 sáng Thứ Hai, 25/9/2006, tại dinh giáo hoàng nghỉ mát của mình ở Castelgandolfo, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp Đức Hồng Y Paul Poupard, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Đối Thoại Liên Tôn, và thành phần đại diện thế giới Hồi Giáo ở tại Ý cũng như trên khắp thế giới.

 

Thật vậy, hiện diện trong buổi gặp gỡ có tính cách hòa giải này, người ta thấy bên thế giới Hồi Giáo chẳng những có các vị đặc sứ ngoại giao làm việc với Quốc Đô Vatican thuộc 22 quốc gia đa số Hồi Giáo là Kuwait, Jordan, Pakistan, Qatar, Ivory Coast, Indonesia, Turkey, Bosnia-Herzegovina, Lebanon, Yemen, Egypt, Iraq, Senegal, Algeria, Morocco, Albania, the Arab League, Syria, Tunisia, Libya, Iran và Azerbaijan, mà còn có cả 14 phần tử thuộc Hội Đồng Hồi Giáo Ý Quốc cùng với các đại diện thuộc Trung Tâm Văn Hóa Hồi Giáo Ý Quốc và Văn Phòng Liên Minh Hồi Giáo Thế Giới.

 

Trước hết Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn và Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Văn  Hóa là Paul Poupard đã giới thiệu với Đức Thánh Cha từng vị khách, trong đó có 4 người phụ nữ, và từng người đã được Đức Thánh Cha nói chuyện.

 

Ngoài ra, Đức Thánh Cha còn được 2 vị đại diện Hồi Giáo ngỏ lời chúc mừng nữa, qua vị giáo trưởng của đền thờ Hồi Giáo Rôma là Ali Salem Mohammed Salem, cũng như qua vị tổng thư ký của Trung Tâm Văn Hóa Hồi Giáo ở Ý là Abdellah Redou. Cuộc gặp gỡ kéo dài hơn nửa tiếng và chụp ảnh chung. 

 

 

Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn ngỏ lời cùng Đức Thánh Cha

 

Trọng Kính Đức Thánh Cha,

 

Thay mặt cho toàn thể tham dự viên trong cuộc gặp gỡ này, tôi hân hạnh và vinh dự được bày tỏ cùng Đức Thánh Cha niềm tri ân sâu xa của chúng tôi về những giây phút quí hóa được Đức Thánh Cha ban cho chúng tôi để chia sẻ với Đức Thánh Cha trong thời điểm đặc biệt hệ trọng này.

 

Các vị đại diện cao cấp của những quốc gia tụ họp chung quanh tôi đây, cùng với các phần tử của Hội Đồng Hồi Giáo ở Ý quốc, và các vị đại diện Trung Tâm Văn Hóa Hồi Giáo ở Ý quốc, đã chứng tỏ, qua sự hiện diện của họ, tính cách thích đáng liên tục của sứ điệp – vào lúc mở màn cho giáo triều của Đức Thánh Cha – được Đức Thánh Cha ngỏ cùng những vị đại diện của chư cộng đồng Hồi Giáo ở Cologne “ở vào những thời điểm đặc biệt khó khăn trong lịch sử của chúng ta”: “Chúng ta cần phải cùng nhau hoạt động nhiều lãnh vực, và cảm thấy liên kết trong việc phục vụ những giá trị luân lý căn bản” bằng sự tương kính và tương kiến.

 

Để rồi, nói một cách xác tín, Đức Thánh Cha đã thêm rằng: “Tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo, chúng ta cần phải cùng nhau đương đầu với nhiều thách đố của thời đại chúng ta đây. Không có vấn đề tỏ ra thái độ dửng dưng lãnh đạm và khoanh tay đứng ngoài cuộc, thậm chí lại càng không có vấn đề thiên vị và bè phái… Việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa các tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo không thể bị biến thành một thứ ngoại thân tùy thuộc. Nó thực sự là một nhu cầu sống còn chi phối một phần lớn tương lai của chúng ta”.

 

Về phần Hội Đồng Tòa Thánh Đạc Trách Văn Hóa và Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn mà Đức Thánh Cha đã đặt tôi làm chủ tịch, sẽ thực hiện việc đóng góp của mình, bằng cách liên kết nỗ lực với tất cả mọi người thành tâm thiện chí, trong đó Đức Thánh Cha thấy trước mắt mình thành phần tiêu biểu sáng hôm nay đây.

 

Người Rôma thường nói: “Res nostra agitur – vấn đề của chúng ta đang được giải quyết”. Và những người Rôma ngày nay đã tái xác nhận những lời ấy trong mấy ngày vừa qua ở Thủ Đô này, một ngôi nhà chung của thành phố cổ kính của những cuộc gặp gỡ này. Cùng nhau chúng ta có một quá khứ riêng riêng, và một tương lai để sửa soạn, bằng việc chia sẻ, theo những tương quan riêng của chúng ta đối với Abraham, niềm tin của chúng ta nơi vị Thiên Chúa Duy Nhất và việc chúng ta tôn trọng đối với con người được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Ngài.

 

Khi cùng nhau thu góp cái gia sản phong phú của vị tiền nhiệm của mình là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đang kính nhớ, vị sứ giả của Thiên Chúa và kẻ lữ hành hòa bình đi khắp các quốc gia, Đức Thánh Cha kêu gọi tất cả chúng tôi, vào lúc bình minh của tân thiên kỷ này, hãy hoạt động hướng tới một cuộc cộng thể giữa niềm tin và lý trí bằng một cuộc đối thoại tin tưởng và ôn hòa giữa các tôn giáo và văn hóa, là những gì chất chứa nơi chúng, ở ngay tâm điểm của những khác biệt của chúng, chứng từ về việc con người cởi mở trước mầu nhiệm cao cả nhất, mầu nhiệm về Thiên Chúa.

 

Trọng kính Đức Thánh Cha, nhờ cuộc gặp gỡ này, chúng tôi hân hoan chứng thực rằng sứ điệp yêu thương và hòa bình của Đức Thánh Cha đã được lắng nghe, và chúng tôi nguyện cầu cùng Thiên Chúa, Đấng là tình thương và đầy lòng trắc ẩn, giúp chúng ta biết áp dụng thực hành sứ điệp ấy, bằng sự tôn trọng những khác biệt của chúng ta.

 

Bài Diễn Từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ cùng Các Vị Lãnh Sự Chư Quốc Đa Số Hồi Giáo và Các Vị Đại Diện Chư Cộng Đồng Hồi Giáo ở  Ý

 

Đức Hồng Y Poupard thân mến,

Quị Vị Lãnh Sự,

Quí Bạn Hồi Giáo thân mến,

 

Tôi hân hoan tiếp đón quí vị đến với cuộc qui tụ do tôi muốn sắp xếp để củng cố những thắt kết thân tình và liên hiệp giữa Tòa Thánh và các cộng đồng Hồi Giáo khắp thế giới. Tôi xin cám ơn Đức Hồng Y Poupard, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Vấn Đề Đối Thoại Liên Tôn, về những lời ngài ngỏ cùng tôi, và tôi xin cám ơn tất cả quí vị đã đáp lại lời mời của tôi.

 

Những tình huống dẫn đến việc chúng ta qui tụ lại đây là những gì đã tỏ tường. Tôi đã có cơ hội để suy nghĩ về những tình huống ấy trong tuần vừa qua. Trong bối cảnh đặc biệt này, hôm nay tôi cần phải lập lại tất cả lòng quí mến và sâu xa tôn trọng của tôi đối với các tín đồ Hồi Giáo, nhớ lại những lời của Công Đồng Chung Vaticanô II, những lời, đối với Giáo Hội Công Giáo là Bản Hiến Chương cho vấn đề đối thoại liên tôn giữa tín đồ Hồi Giáo và Kitô Giáo: “Giáo Hội tỏ ra trân trọng đối với các tín đồ Hồi Giáo. Họ tôn thờ một vị Thiên Chúa duy nhất hằng sống và tự tại, nhân ái và toàn năng, là Đấng Tạo Thàng trời đất, Đấng đã nói với nhân loại, và là Đấng có những chỉ thị, cho dù là kín đáo, cũng được họ hết lòng tìm cách tỏ ra thuận phục, như Abraham, vị có liên hệ tới niềm tin của Hồi Giáo, đã thuận phục Thiên Chúa vậy”  (Declaration Nostra Aetate, 3). Chính vì muốn mạnh mẽ theo chiều hướng ấy mà ngay từ khi mở màn cho giáo triều của mình, tôi đã có lần bày tỏ ước muốn của mình trong việc tiếp tục thiết lập những chiếc cầu nối thân hữu với các thành phần tín hữu thuộc tất cả mọi tôn giáo, đặc biệt tỏ ra cảm nhận về việc tiến triển đối thoại giữa tín đồ Hồi Giáo và Kitô Giáo (cf. Address to the Delegates of Other Churches and Ecclesial Communities and of Other Religious Traditions, 25 April 2005). Như tôi đã nhấn mạnh đến ở Cologne năm ngoái, “việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa các tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo không thể trở thành một cái gì ngoại tại tùy ý. Thật thế, nó là một nhu cầu chi phối một phần lớn tương lai của chúng ta” (Meeting with Representatives of Some Muslim Communities, Cologne, 20 August 2005). Trong một thế giới đầy những chủ nghĩa tương đối và quá ư là thường thấy tính cách trổi vượt và phổ quát của lý trí bị loại trừ đi, chúng ta rất cần phải thực hiện một cuộc đối thoại thực sự giữa các đạo giáo cũng như giữa các nền văn hóa, có thể giúp chúng ta thắng vượt được tất cả mọi căng thẳng, trong tinh thần hợp tác tốt đẹp với nhau. Bởi thế, để tiếp tục công cuộc đã được vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tôi thành tâm nguyện xin cho các mối liên hệ của lòng tin tưởng đã từng phát triển giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo qua một số năm, chẳng những sẽ được tiếp tục, mà còn tiến triển hơn nữa trong tinh thần chân tình và trân trọng đối thoại, theo chiều hướng tương kiến thực sự hơn nữa, một thứ tương kiến biết hân hoan nhìn nhận các thứ giá trị về tôn giáo chúng ta đều có và biết trung thành tôn trọng những tính cách khác biệt của nhau.

 

Việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa là một nhu cầu cần thiết cho việc cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình và huynh đệ hằng được tất cả mọi người thiện tâm thiết tha trông đợi này. Về vấn đề này, những người đương thời của chúng ta trông mong nơi chúng ta một chứng từ hùng hồn trong việc chứng tỏ cho tất cả mọi người thấy được cái giá trị của chiều kích tôn giáo của đời sống. Cũng thế, trung thành với giáo huấn thuộc truyền thống tôn giáo của mình, các tín đồ Kitô Giáo và Hồi Giáo cần phải biết cùng nhau hoạt động, như họ đã thực sự thực hiện nơi nhiều điều chung, để canh chừng tất cả mọi hình thức bất khoan nhượng cũng như để chống lại tất cả mọi hình thức bạo lực. Đối với chúng ta là thành phần thẩm quyền về tôn giáo và là thành phần lãnh đạo về chính trị, chúng ta cần phải hướng dẫn và phấn khích họ theo chiều hướng ấy. Thật thế, “mặc dù có những bất hòa và hận thù đáng kể xẩy ra giữa các tín đồ Kitô Giáo và Hồi Giáo qua các thế kỷ, Công Đồng này cũng thiết tha xin tất cả mọi phe phái là, bằng việc quên đi quá khứ, họ hướng mình đến việc chân tình hiểu biết lẫn nhau, và cùng nhau bảo tồn lẫn cổ võ công bình xã hội cùng với các thứ giá trị luân lý cũng như hòa bình và tự do cho tất cả mọi dân tộc” (Declaration, Nostra Aetate, 3). Bởi thế, các bài học trong quá khứ cần phải trở thành những gì giúp chúng ta tìm kiếm được những đường lối hòa giải, hầu sống trong sự tôn trọng căn tính và tự do của từng cá nhân, hướng đến sự hợp tác tốt đẹp trong việc phục vụ toàn thể nhân loại. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói trong bài diễn từ đáng ghi nhớ của ngài với thành phần giới trẻ tại Casablanca ở Morocco là: ‘Việc tôn trọng và đối thoại đòi phải có tính cách hỗ tương trong tất cả mọi lãnh vực, nhất là nơi những gì liên quan tới các quyền tự do căn bản, đặc biệt nhất là quyền tự do tôn giáo. Hai việc này là những gì thuận lợi cho vấn đề hòa bình và thuận thảo giữa các dân tộc’ (số 5).

 

Quí bạn thân mến, tôi sâu xa thâm tín rằng, trước tình hình thế giới hiện nay, tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo cần phải gắn bó với nhau để giải quyết nhiều những thách đố đang xẩy ra cho nhân loại, nhất là những thách đố liên quan tới việc bênh vực và cổ võ phẩm vị con người cùng với những quyền lợi xuất phát từ phẩm vị ấy. Khi gia tăng những thứ đe dọa xẩy ra cho nhân loại và hòa bình, bằng việc nhìn nhận tính chất chính yếu của con người cũng như bằng việc kiên trì hoạt động để sự sống con người bao giờ cũng được tôn trọng, tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo tỏ ra tuân phục Đấng Hóa Công, Đấng muốn cho tất cả mọi dân tộc sống phẩm vị được Ngài ban cho họ.

 

Quí bạn thân mến, tôi hết lòng nguyện cầu để vị Thiên Chúa nhân ái dẫn dắt những bước tiến của chúng ta trên con đường hiểu biết nhau hơn bao giờ hết. Vào lúc này đây, thời điểm mở màn cho cuộc hành trình thiêng liêng của mùa chay tịnh Ramadan của tín đồ Hồi Giáo, tôi xin gửi đến tất cả mọi tín đồ Hồi Giáo lời chúc tốt đẹp thân ái của tôi, xin Đấng Toàn Năng ban cho họ đời sống thanh thản và bình an. Xin vị Thiên Chúa của hòa bình ban muôn vàn Phép Lành của Ngài cho quí bạn, cùng các cộng đồng quí bạn đai diện!

 

Tác Dụng tích cực của Cuộc Gặp Gỡ Thắt Kết Tình Hữu Nghị

 

Trong bài “Pope: 'Total and profound respect for Muslims'” cùng ngày Thứ Hai 25/9, mạng điện toán toàn cầu CNN đã phổ biến hình ảnh về buổi gặp gỡ này, đồng thời cũng cho biết nhận định của một số thành phần tham dự. Chẳng hạn của vị đặc sứ của Iraq là Albert Edward Ismail Yelda, người đã nói:

 

“Đức Thánh Cha đã nói ngài hết sức tôn trọng Hồi Giáo. Đó là những gì chúng tôi đã mong đợi. Bây giờ là lúc bất cứ những gì đã xẩy ra qua một bên để xây dựng những chiếc cầu liên kết”.

 

Về phần mình, vị chủ tịch của Khối Hiệp Nhất Chư Cộng Đồng và Tổ Chức Hồi Giáo ở Ý là Mohammed Nour Dachan đã nói qua văn bản được trao cho Đức Giáo Hoàng là: “Cuộc gặp gỡ hôm nay là dấu hiệu của việc muốn thực hiện một cuộc đối thoại không thể coi thường”.

 

Khi Đức Thánh nói tới câu, việc đối thoại giữa tín đồ Hồi Giáo và tín đồ Kitô Giáo là “một nhu cầu sống còn chi phối phần lớn tương lai của chúng ta” đã được thính giả vỗ tay hoan hô.

 

Sau cuộc gặp gỡ, tác giả Tawfik, người Iraq sống ở Ý là Younis Tawfik, cũng hiện diện trong cuộc gặp gỡ này, đã bày tỏ cảm nhận với Đài Phát Thanh Vatican rằng những lời lẽ của Đức Giáo Hoàng “cảm động và sâu đậm, vì ngài không muốn lập lại hay nhấn mạnh đến vấn đề tranh luận trong những ngày qua, nhưng là cống hiến một bài diễn từ hoàn toàn mới mẻ, như thể ngài muốn tạo một khúc quanh, muốn sang trang, nhấn mạnh tới việc tiếp tục đường lối đối thoại của Giáo Hội. Ngài đã khẳng định việc ngài trân trọng quí mến Hồi Giáo, tín đồ Hồi Giáo, cống hiến cho chúng tôi một bài học hết sức nhân nhượng, nhất là khi ngài bắt đầu chào chúng tôi từng người một. Ngài bỏ đủ giờ để hỏi han từng người xem họ là ai và cám ơn từng người đã đến tham dự buổi triều kiến này”. 

 

Vị tác giả này đã nói rằng ông coi bài diễn từ của Đức Thánh Cha là những gì rất quan trọng vào lúc này đây là lúc “nhiều người chỉ tìm kiếm lợi lộc của mình, trong đó có hận thù và đối địch. … Ngược lại, bài diễn từ của Đức Thánh Cha muốn tránh đi cái đối địch này, và muốn mời gọi tất cả mọi người hãy suy nghĩ về tầm quan trọng của hòa bình cùng các giá trị của con người”.  

 

 TOP

 

 

Cuộc Gặp Gỡ giữa Giáo Hoàng Biển Đức XVI và Đại Diện Thế Giới Hồi Giáo Thứ Hai 25/9/2006

 

Theo cơ quan thông tin Ý quốc là ANSA, nhất là theo thông báo chính thức của văn phòng báo chí Tòa Thánh loan báo hôm Thứ Sáu 22/9/2006, thì vào lúc 11 giờ 45 sáng ngày Thứ Hai 25/9/2006, tại dinh nghỉ mát giáo hoàng ở Castel Gandolfo, vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta sẽ tiếp Đức Hồng Y Paul Poupard, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Đối Thoại Liên Tôn và chẳng những một số đại diện Hồi Giáo ở Y thuộc Hội Đồng cộng đồng Hồi Giáo Ý được gọi là Islam Cosulta, mà còn cả các vị lãnh sự thuộc các nước đa số Hồi Giáo đang có liên hệ ngoại giáo với Quốc Đô Vatican.

 

Một viên chức cao cấp của Tòa Thánh Vatican đã nói vào hôm Thứ Sáu 22/9/2006 rằng: “Mục đích của cuộc gặp gỡ này là để tái tấu việc đối thoại với thế giới Hồi Giáo”.

 

Các vị lãnh sự thuộc thế giới Hồi Giáo đang làm việc với Tòa Thánh Vatican cho biết là họ hy vọng cuộc họp này sẽ phục hồi lòng tin tưởng giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và các tín độ Hồi Giáo đang tức giận về những lời trích dẫn của Đức Giáo Hoàng ở Đức hôm Thứ Ba 12/9 vừa rồi.

 

Nhân vật phó lãnh sự của nước Iran đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng: “Chúng tôi hoan nginh cuộc gặp gỡ này và chắc chắn sẽ tới tham dự. Đây là một dấu hiệu tốt đẹp từ Vatican. Tôi biết rằng cuộc gặp gỡ này sẽ là những gì cải tiến những mối liên hệ với thế giới Hồi Giáo”.

 

Nhân vật lãnh đạo các mối liên hệ quốc tế ở văn phòng công vụ Vatican của Liên Hiệp Ả Rập là Fathi Abuabed cũng đã cho hãng thông tấn Reuters biết rằng: “Cuộc gặp gỡ này sẽ là một cuộc gặp gỡ rất ư là quan trọng, đặc biệt là trong những ngày này, để cố gắng ngăn chặn mọi hành động không tốt”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

TOP

 

Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình với chiều hướng của ĐTC trong chuyến tông du thứ bốn

 

Sau đây là nguyên văn bài viết của vị hồng y chủ tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh là Raffaele Martino, bài viết được tờ L’Osservatore Romano phổ biến trong số ra ngày 25/9/2006, mang tựa đề “The ‘Quaestio de Veritate’, Kitô Giáo với Các Tôn Giáo Khác – Những Lời của Giáo Hoàng Biển Đức XVI Nói trong Chuyến Tông Du ở Bavaria”. Sau đây là nguyên văn bài viết của vị hồng y.

 

Nhiều lời phát biểu của Đức Giáo Hoàng trong tiến trình viếng thăm Bavaria của ngài, từ ngày 9 tới 14 tháng 9, liên quan đến sự thật, bắt đầu từ một vấn đề thường xuất hiện nơi những bài nói và bài giảng của vị Giáo Hoàng này, đó là: Kitô Giáo có thể vẫn còn được coi là hợp lý trước mắt con người ngày nay hay chăng? Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa, “phải chăng điều này vẫn còn hợp tình hợp lý?”, ngài đã đặt vấn đề trong bài giảng ở Islinger Feld vào buổi sáng 12/9. Thật vậy, Tây phương xem ra đang trải qua tình trạng “khó nghe” và những gì được nói về Thiên Chúa “làm cho chúng ta cảm thấy như là những gì tiền khoa học, không còn thích hợp với thời đại của chúng ta nữa”, ngài đã nói như thế hôm Chúa Nhật, 10/9, trong Thánh Lễ ngoài trời tại Neue Messe ở Munich.

 

Theo Giáo Hoàng Biển Đức XVI thì vấn đề làm sáng tỏ mối liên hệ giữa Kitô Giáo và sự thật, và vì thế giữa Kitô Giáo và lý trí, là những gì hệ trọng, trước hết cho việc tái truyền bá phúc âm hóa của thế giới Tây phương, cũng quan trọng không kém cho việc thiết lập mối liên hệ giữa tất cả mọi tôn giáo theo chiều hướng đối thoại và nhân nhượng. Những khía cạnh này cần phải được nói đến một cách phân biệt, cho dù chúng liên hệ với nhau.

 

Kitô Giáo là niềm tin vào Lý Trí Sáng Tạo, chứ không phải Vô Thức. Ở Islinger Feld, Đức Giáo Hoàng đã đặt vấn đề  “Cái gì đến trước?” – và đã cống hiến hai câu trả lời khả dĩ: “Lý Trí Sáng Tạo, Thần Linh Sáng Tạo, Đấng dựng nên tất cả mọi sự và làm cho chúng phát triển, hay Vô Thức, cái mà, dù chẳng có nghĩa lý gì, cũng mang lại một cách nào đó cái vũ trụ lớp lang theo toán học, cũng như con người cùng với lý trí của họ”. Tuy nhiên, câu trả lời thứ hai là những gì phi lý, vì như thế lý trí của chúng ta sẽ chỉ là một thứ sản phẩm ngẫu nhiên của vấn đề tiến hóa, do đó là sản phẩm của một tiến trình vô tri. Niềm tin Kitô Giáo, Đức Giáo Hoàng đã kết luận, tin tưởng “rằng Lời hằng hữu, với Lý Trí chứ không Vô Thức, hiện hữu ngay từ ban đầu của tất cả mọi sự”.

 

Tư  tưởng này cũng được lập lại ở bài “Lectio magistralis” tại Đại Học Đường Regensburg: “Không tác hành theo lý trí là điều trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa”. Mục tiêu có tính cách luận chiến nơi những lời phát biểu này của Đức Thánh Cha đó là tình trạng tự hạn chế mình của lý trí Tây phương. Kitô Giáo không còn hợp lý đối với con người Tây phương vì họ đã chấp nhận một thứ ý nghĩ về lý trí suy giảm và thực chứng, thứ lý trí chấp nhận là đúng chỉ những gì có tính cách toán học và được thử nghiệm. Đức Giáo Hoàng đã diễn tả và cho thấy những giới hạn của loại tính chất hữu lý này nơi bài nói trong cuộc gặp gỡ các vị đại diện khoa học ở Đại Học Đường Regensburg.

 

Nếu “chỉ có thứ chấp nhận này, thứ chấp nhận xuất phát từ ảnh hưởng của các yếu tố có tính cách toán học và thử nghiệm mới có thể được coi là khoa học” ở Tây phương ngày nay, thì chúng ta hiểu được “tình trạng khó nghe” ở những gì liên quan tới Thiên Chúa. Lý trí thực chứng của Tây phương đang bị cắt cụt đi một cách thê thảm lãnh vực liên hệ của chúng ta với thực tại và không thể hướng mình tới tính cách hợp lý của niềm tin, tính cách hợp lý cần phải có chiều kích siêu hình học. Thật vậy, ở Đại Học Đường Regensburg, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải “nới rộng quan niệm của chúng ta về lý trí”.

 

Đây là một vấn đề quan trọng cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo, vì lý trí thực chứng cùng với các hình thức triết lý căn cứ vào nó cho rằng mình có tính cách hiệu năng phổ quát, nên có khả năng làm chủ toàn thể trái đất bằng việc phát triển về kỹ thuật. Thế nhưng, như thế là lý trí thực chứng cùng với các hình thức trên đây đang ngăn ngừa một thứ đối thoại chân thực giữa các nền văn hóa và tôn giáo. Chúng gay ra một thái độ “ngạo mạn coi việc chế diễu sự linh thánh là việc hành sử quyền tự do và chủ trương thực dụng như là tiêu chuẩn tối cao cho tương lai của việc nghiên cứu khoa học”; đó là những lời được Đức Giáo Hoàng nói ở Munich tại Neue Messe hôm 10/9.

 

Khi lên án “việc chế nhạo sự linh thánh”, Đức Giáo Hoàng không chỉ có ý nói tới việc chế nhạo về Kitô Giáo mà còn chế nhạo về bất cứ tôn giáo nào. Giáo Hoàng Biển Đức XVI còn nói thêm vào dịp này là “việc nhân nhượng chúng ta hết sức cần đến bao gồm cả niềm kính sợ Thiên Chúa – việc tôn trọng những gì người khác coi là linh thánh”. Như thế là Đức Giáo Hoàng đã chỉ trích cái ngông cuồng của lý trí Tây phương là những gì đã bị giảm xuống thành kỹ thuật và tái khẳng định tầm quan trọng của sự nhân nhượng và đối thoại được căn cứ vào sự tương kính giữa các tôn giáo.

 

Thật vậy, vẫn ở Đại Học Đường Regensburg, Đức Thánh Cha đã nói rằng: “các nền văn hóa về đạo giáo sâu xa nhất của thế giới thấy việc loại trừ thần linh này (việc loại trừ gây ra bởi thứ lý trí thực chứng) khỏi tính cách phổ quát của lý trí như là một cuộc tấn công vào những niềm xác tín sâu xa nhất của họ. Một thứ lý trí câm điếc trước thần linh và đẩy lui tôn giáo vào lãnh vực của những thứ hạ tầng văn hóa thì không thể nhập cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa được”.

 

Ở Munich ngày 10/9, Đức Giáo Hoàng đã diễn tả cùng một quan điểm thế này: “Nhân dân ở Phi Châu và Á Châu thực sự ca ngợi khả năng về khoa học và kỹ thuật của Tây phương, nhưng họ đang phập phồng lo sợ trước một hình thức có tính cách hợp lý hoàn toàn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi nhãn quan của con người”. Và ngài kết luận rằng: “Họ không thấy mối đe dọa thực sự cho căn tính của họ nơi niềm tin Kitô Giáo, mà là nơi thái độ khinh khi Thiên Chúa”.

 

Khi chúng ta tái xác định mối liên hệ giữa Kitô Giáo và sự thật, thì điều này không những không ngăn trở việc đối thoại với các tôn giáo khác, mà còn hướng tới một cuop65c đối thoại sâu xa hơn, vì, theo trích dẫn từ một cuốn sách do vị đương kim Giáo Hoàng này viết khi còn làm hồng y, “nếu chân lý được cống hiến là có ý nhắm tới việc dẫn ra khỏi tình trạng ghẻ lạnh, nhờ đó ra khỏi tình trạng chia rẽ; nó nhắm đến một nhãn quan về một tiêu chuẩn chung, không gây bạo lực đối với bất cứ một nền văn hóa nào mà là hướng dẫn nhau tới tâm điểm của nó, vì mỗi một nền văn hóa đều hiện hữu tối hậu như là một thứ mong mỏi sự thật” [Cardinal Joseph Ratzinger, "Truth and Tolerance: Christian Belief and World Religions," Ignatius Press, San Francisco 2004, p. 66].


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/9/2006

 

 

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Đích thân lên tiếng thanh minh - Hồi Giáo vẫn chưa buông tha!

 

Mạng điện toàn cầu CNN hôm Chúa Nhật 17/9/2006, đã phổ biến bài “Muslims demand apology from pope” của Flavia Taggiasco, Hada Messia và Delia Gallagher, giáo hoàng Biển Đức XVI đã đích thân lên tiếng thanh minh về những gì ngài nói gây chấn động bất lợi từ thế giới Hồi Giáo từ Thứ Năm 14/9 vừa rồi, thế nhưng các vị lãnh đạo Hồi Giáo vẫn cho rằng chưa đủ và khăng khăng đòi vị giáo hoàng này phải lên tiếng xin lỗi mới được.

 

Thật vậy, trong bài Huấn Từ Truyền Tin hằng tuần, Chúa Nhật 17/9/2006, vị giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói với thành phần giáo dân của mình tại dinh nghỉ hè ở Castel Gandolfo của giáo hoàng rằng ngài hy vọng là những gì ngài nói vào lúc này cùng với những lời giải thích của tòa thánh Vatican hôm Thứ Bảy đã đủ “để làm lắng dịu những tâm can và làm sáng tỏ ý nghĩa thực sự của bài tôi nói, một bài diễn văn, căn cứ vào toàn diện nội dung của nó, là một nỗ lực bày tỏ một cách thẳng thắn và chân thành việc tôi hết sức tôn trọng niềm tin hỗ tương nhau của tín đồ Hồi Giáo.

 

“Tôi cảm thấy hết sức tiếc xót trước những phản ứng tại một số quốc gia về một ít đoạn trong bài diễn văn của tôi ở Đại Học Regensburg, những đoạn được coi là xúc phạm tới cảm quan của tín đồ Hồi Giáo. Đây là một đoạn trích từ một bản văn thời trung cổ, một đoạn văn dầu sao cũng không thể hiện tâm tưởng riêng tư của tôi”.

 

Thế nhưng, các vị lãnh đạo Hồi Giáo vẫn cho rằng những lời thanh minh này của vị giáo hoàng không đủ. Vị lãnh đạo phó tổ chức Huynh Đệ Tín Đồ Hồi Giáo, một nhóm chống đối chính ở Ai Cập, đã nói rằng: “Những giải thích của vị giáo hoàng muốn xí xóa đi những nhận định trước đây của mình ấy vẫn chưa đủ. Chúng tôi sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì ngoài lời xin lỗi”. Cũng chính vị này, trước đó, đã cho rằng những lời của vị giáo hoàng trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật là “một lời xin lỗi thích đáng”.

 

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, theo hãng thông tấn AP thì ông Bộ Trưởng Nội Vụ Mehmet Aydin đã nói với thành phần phóng viên báo chí ở Istabul rằng vị giáo hoàng này có vẻ tỏ ra xin lỗi về việc phản ứng giận dữ chứ không phải về chính những nhận định của ông: “Quí vị một là nói lời ‘tôi xin lỗi’ này một cách thích đáng hai là chẳng nói gì hết. Quí vị xin lỗi về việc nói một điều như vậy hay về những hậu quả của điều ấy đây?” Tuy nhiên, theo ông Bộ Trưởng Ngoại Giao của nước Thổ Nhĩ Kỳ này thì chuyến viếng thăm của vị giáo hoàng này đến đất Thổ vẫn không có gì thay đổi.

 

Ở Iran, theo đài truyền hình quốc gia, thì hôm Chúa Nhật 17/9, khắp xứ sở này đã diễn ra những cuộc xuống đường chống lại những lời nhận định của giáo hoàng Biển Đức XVI.

 

Ở Morocco, Bộ Trưởng Ngoại Giao đã triệu hồi vị đặc sứ của nước này đang làm việc với Quốc Đô Vatican để tham vấn. Ông bộ trưởng cho biết Vua Mohammed VI đã gửi một bức thư cho giáo hoàng Biển Đức XVI phản đối về “những lời phát biểu xúc phạm” của giáo hoàng.

 

Theo hãng thông tấn AP thì vị giáo sĩ Ahmad Khatami đã nói với những người xuống đường ở thành thánh Qom, so sánh vị giáo hoàng này với Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush như cả hai “liên hiệp với nhau để tái diễn những Đạo Binh Thánh Giá”: “Nếu vị giáo hoàng này không lên tiếng xin lỗi thì cơn giận dữ của tín đồ Hồi Giáo sẽ tiếp tục cho tới khi ông ta cảm thấy hết sức thống hối. Ông ta cần phải đi đến với các vị giáo sĩ, ngồi xuống học hiểu về Hồi Giáo”.

 

Ông giáo sư ở Học Viện Nghiên Cứu Pháp Lý và Hồi Giáo ở Riyadh, nước Saudi Arabia, là Mohammed al-Nujeimi, cũng chỉ trích lời phát biểu của giáo hoàng Biển Đức XVI qua đài truyền hình Al-Arabiya rằng: “Vị giáo hoàng này không muốn xin lỗi. Ông ta đang lẩn tránh lời xin lỗi và những gì ông nói hôm nay là việc lập lại lời phát biểu trước đây của ông ấy mà thôi”.

 

Ở Palestine, cơ quan an ninh ở đây cho biết đã có một nhà thờ ở Tulkarem bị tấn công bằng những chai nước trái cây Mototov hôm Chúa Nhật, và một nhà thờ ở Tubas gần Jenin bị tấn công. Thẩm quyền địa phương đang điều tra các vụ tấn công bằng chai nước trái cây Molotov vào 3 nhà thờ ở Nablus hôm Thứ Bảy 16/9, cũng như một cuộc tấn công vào nhà thờ ở Gaza. Một nhóm được gọi là “Lions of Monotheism” đã nhận gây ra hai vụ hôm Thứ Bảy. Ở Mogadishu, hãng thống tấn Reuters cho biết có những tay súng bắn chết một nữ tu người Ý ở một bệnh viện nhi đồng hôm Chúa Nhật. Những cuộc tấn công này, xẩy ra trùng hợp vào thời điểm thế giới đang giận dữ trước lời nói của giáo hoàng Biển Đức XVI liên quan tới Hồi Giáo, được cho rằng có liên quan tới tình hình đang căng thẳng bấy giờ.

 

Trước tình hình căng thẳng cũng như chiều hướng nổi loạn và bạo động vốn xẩy ra vào những trường hợp như thế này, như đã xẩy ra vào Tháng Hai, liên quan tới bộ tranh biếm họa ở Đan Mạch, lực lượng cảnh sát Ý quốc đã gia tăng việc bảo vệ an ninh ở Vatican và Castel Gandolfo.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Thế Giới Hồi Giáo vẫn giận – Vị Giáo Hoàng cảm thấy rất buồn - Tòa Thánh tiếp tục thanh minh

 

Theo bài “Pope upset that Muslims offended được CNN phổ biến ngày Thứ Bảy 16/9/2006 thì vị giáo hoàng Biển Đức XVI cảm thấy ‘rất buồn’, vì bài nói của mình về Hồi Giáo đã phạm tới tín đồ Hồi Giáo và tỏ lòng tôn trọng niềm tin tưởng của họ.

 

Tiếp theo bản tuyên ngôn của Tòa Thánh Vatican qua vị giám đốc của văn phòng báo chí là linh mục Federico Lombardi, SJ, tối hôm Thứ Năm, 14/9, Tòa Thánh Vatican lại lên tiếng bằng một bản tuyên ngôn một lần nữa vào Thứ Bảy, 16/9, qua vị tân quốc vụ khanh là hồng y Tarcisio Bertone, SDB, trong đó, vị tân quốc vụ khanh mới nhận chức hôm qua, 15/9, cho biết chủ trương của Đức Giáo Hoàng về Hồi Giáo là những gì theo đúng chiều hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II trong việc Giáo Hội ‘trân trọng tín đồ Hồi Giáo là thành phần tôn thờ một vị Thiên Chúa duy nhất’.

 

Trong khi đó, trào lưu phản đối vị lãnh đạo thế giới Công Giáo, từ hôm qua, 15/9, Lễ Đức Mẹ Đau Thương của Giáo Hội Công Giáo, trùng vào Thứ Sáu là ngày lễ chính hằng tuần của Hồi Giáo, vẫn tiếp tục xẩy ra những vụ phản đối gay gắt và kịch liệt.

 

Ở Nam Dương, có cả ngàn người xuống đường phản đối. Bên ngoài Tòa Lãnh Sự Palestine ở thủ đô Jakarta, đoàn biểu tình đứng vẫy cờ trong khi người dẫn đầu là Heri Budianto hô hoán câu: ‘Thiên Chúa là Đấng cao cả’. Ông này nói với đám biểu tình rằng:

 

“Chúng ta dĩ nhiên biết rằng chỉ có tín đồ Hồi Giáo mới hiểu được ý nghĩa của cuộc thánh chiến mà thôi. Thánh chiến không thể nào lại có thể liên hệ tới bạo lực, những người Hồi Giáo chúng ta không có tính chất bạo động’.

 

Theo hãng thông tấn AP thì Thủ Tướng Mã Lai là Abdullah Ahmad Badawi đã lên tiếng hôm Thứ Bảy kêu gọi vị giáo hoàng phải xin lỗi và rút lời lại:

 

“Vị giáo hoàng này không được nhẹ nhàng làm lan tràn sự lăng nhục đã từng xẩy ra. Giờ đây Vatican phải lãnh trọn trách nhiệm về vấn đề này và thực hiện những gì cần thiết để sửa sai”.

 

Ngoại Trưởng nước Morocco, một nước theo Hồi Giáo ở Bắc Phi Châu, hôm Thứ Bảy cũng xác nhận với CNN là nước của ông đã gọi đặc sứ của mình đang làm việc với Vatican về để tham luận.

 

Thủ Tướng Thổ Nhĩ Kỳ là Tayyip Erdogan, cũng vào hôm Thứ Bảy, 16/9, đã cho rằng những nhận định của vị giáo hoàng là những gì ‘gớm ghiếc’ và nói vị giáo hoàng này phải rút lời lại. Theo hãng thông tấn Reuter thì vị này đã lên tiếng trên đài truyền hình rằng:

 

“Vị giáo hoàng này nói như là một chính trị gia hơn là một con người của tôn giáo. Những lời phát biểu ấy là những gì gớm ghiếc và đáng tiếc. Vị giáo hoàng này cần phải lui bước để bảo trì nền hòa bình liên tôn”.

 

Ngoài việc phản đối xuất phát từ thế giới Hồi Giáo, ở thế giới Tây Phương còn có tờ New York Times, trong bài bình luận của mình hôm Thứ Bảy cũng cho rằng vị giáo hoàng cần phải phổ biến một lời xin lỗi về những trích dẫn trong bài diễn văn của mình:

 

“Thế giới kỹ lưỡng lắng nghe những lời lẽ của bất cứ vị giáo hoàng nào. Và thật là thê thảm và nguy hiểm khi có vị đi gieo rắc đớn đau, dù là cố ý hay vô tình. Ông cần phải lên tiếng xin lỗi một cách thật lòng và thỏa đáng, cho thấy rằng lời lẽ cũng là những gì có thể hàn gắn được”.

 

Tuy nhiên, cũng vào hôm Thứ Bảy, theo hãng thông tấn Reuters thì Bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã lên tiếng bênh vực vị giáo hoàng, khi nói với tở nhật báo Bild rằng vị giáo hoàng này chỉ có ý kêu gọi việc đối thoại với các tôn giáo khác mà thôi:

 

“Ai chỉ trích vị giáo hoàng này là người hiểu lầm mục địch của bài ngài nói. Đó là một lời kêu gọi đối thoại giữa các tôn giáo và vị giáo hoàng này rõ ràng là nói theo chiều hướng đối thoại ấy – Những gì được giáo hoàng Biển Đức XVI nhấn mạnh đó là việc loại trừ một cách dứt khoát và kiên quyết tất cả mọi hình thức bạo động nhân danh tôn giáo”.

 

Theo bài “Muslim anger over papal comments grows” của Benjamin Harvey ngày Thứ Sáu 15/9 trên mạng điện toán toàn cầu CNN, thì có một số chuyên gia cho rằng những nhận định của giáo hoàng Biển Đức XVI hôm Thứ Ba 12/9/2006 ở Đại Học Regensburg liên quan tới Hồi Giáo là những gì còn tệ hại hơn cả bộ tranh biếm họa ở Đan Mạch vào hồi Tháng 2/2006 vừa rồi, vì lần này xuất phát từ một vị lãnh đạo khối tín đồ tương đương với Hồi Giáo. Một phân tích gia ở Cairô Ai Cập nghiên cứu về chiến đấu tính của Hồi Giáo là Diaa Rashwan cho biết:

 

“Những lời tuyên bố này của vị giáo hoàng còn nguy hại hơn cả những bức tranh biếm họa nữa, vì nó xuất phát từ một thẩm quyền Kitô giáo quan trọng nhất thế giới – các bức tranh biếm họa chỉ xuất phát từ thành phần họa sĩ mà thôi”. 

 

Đáng chú ý nhất là những lên án mạnh mẽ nhất lại xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia đang có một nền dân chủ ôn hòa và muốn gia nhập Khối Hiệp Nhất Âu Châu, cũng là quốc gia vị giáo hoàng này sẽ đến viếng thăm vào tháng 11 tới đây, nơi chẳng những có tòa Thượng Phụ Chính Thống Giáo toàn cầu, liên quan tới vấn đề đại kết Kitô Giáo, mà còn liên quan tới cả vấn đề đối thoại liên tôn, vì nước này theo Hồi Giáo.

 

Nhân vật tên Salih Kapusuz, phó thủ lãnh đảng Hồi Giáo của Thủ Tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã nói trên truyền hình quốc gia rằng những phát ngôn của giáo hoàng Biển Đức XVI một là ‘thành quả của sự thiếu hiểu biết đáng thương’ về Hồi Giáo và về vị tiên tri của đạo này, hay tệ hơn nữa, là một việc cố tình bóp méo sự thật. Nhân vật này nói:

 

“Ông (giáo hoàng này) có một tâm thức đen tối được bắt nguồn từ Thời Trung Cổ tối tăm. Ông là một thứ sơ đẳng chưa học được tinh thần canh tân của thế giới Kitô Giáo. Dường như đây là một nỗ lực muốn làm sống lại tâm thức của các cuộc Đạo Binh Thánh Giá. Biển Đức, tác giả của những phát ngôn khốn nạn và xấc láo ấy, đang bị thụt lùi vào lịch sử bởi những lời lẽ của mình. Ông đang bị thụt lùi vào lịch sử cũng một kiểu như các nhà lãnh đạo Hitler và Mussolini”.

 

Cũng tại Thổ Nhĩ Kỳ, giáo hoàng Biển Đức XVI còn bị yêu cầu là phải xin lỗi trước cuộc viếng thăm của ngài tới đây. Một đảng phái khác đã tổ chức một một xuống đường ở bên ngoài đến thờ lớn nhất Ankara, với một nhóm khoảng 50 người đã đến đặt một vòng hoa đen bên ngoài cơ quan sứ vụ ngoại giao của tòa thánh Vatican.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

Tòa Thánh Tiếp Tục Lên Tiếng Thanh Minh

 

Tiếp theo bản tuyên ngôn của Tòa Thánh Vatican qua vị giám đốc của văn phòng báo chí là linh mục Federico Lombardi, SJ, tối hôm Thứ Năm, 14/9, Tòa Thánh Vatican lại lên tiếng bằng một bản tuyên ngôn một lần nữa vào Thứ Bảy, 16/9, qua vị tân quốc vụ khanh là hồng y Tarcisio Bertone, SDB, trong đó, vị tân quốc vụ khanh mới nhận chức hôm qua, 15/9, cho biết chủ trương của Đức Giáo Hoàng về Hồi Giáo là những gì theo đúng chiều hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II trong việc Giáo Hội ‘trân trọng tín đồ Hồi Giáo là thành phần tôn thờ một vị Thiên Chúa duy nhất’. Sau đây là nguyên văn những lời của vị tân hồng y quốc vụ khanh Tarcisio Bertone, SDB.

 

“Trước phản ứng nơi các thành phần tín đồ Hồi Giáo về một số đọan trong bài nói của Đức Thánh Cha ở Đại Học Regensburg, và cùng với những lời thanh minh cũng như dẫn giải đã được vị Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh trình bày. Tôi xin nói thêm những điều sau đây:

 

“Chủ trương của vị Giáo Hoàng này liên quan tới Hồi Giáo là những gì được bày tỏ nhất trí với văn kiện công đồng Nostra Aetate: ‘Giáo Hội cũng tỏ ra trân trọng đối với những tín đồ Hồi Giáo. Họ tôn thờ vị Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và tự hữu, xót thương và toàn năng, Đấng Tạo Dựng nên trời đất, Đấng đã nói với con người; họ chấp nhận thực hiện việc thuận phục thậm chí cả những chỉ thị khôn thấu của Ngài, như Abraham, vị có liên quan tới niềm tin của Hồi Giáo, đã tuân phục Thiên Chúa. Cho dù họ không nhìn nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa, họ cũng tôn kính Người như là một vị tiên tri. Họ cũng tôn kính cả Đức Maria nữa; có những lúc họ còn tha thiết kêu cầu với Người nữa. Ngoài ra, họ trông đợi ngày phán quyết là lúc Thiên Chúa sẽ thưởng công cho tất cả những ai được sống lại từ kẻ chết. Sau hết, họ trân quí đời sống luân lý và tôn thờ Thiên Chúa đặc biệt bằng việc nguyện cầu, bố thí và chay tịnh’ (số 3).

 

Ý muốn của vị Giáo Hoàng ủng hộ việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa này là những gì hoàn toàn minh bạch như nhau.  Trong cuộc gặp gỡ với các vị đại diện thuộc những cộng đồng Hồi Giáo ở Cologne Đức Quốc, ngày 20/8/2005, ngài đã nói rằng một cuộc đối thoại như thế giữa Kitô hữu và tín đồ Hồi giáo ‘không thể biến thành một cái gì ngoại thuộc tùy ý’, ngài còn nói thêm: ‘Những bài học của quá khứ cần phải giúp chúng ta tránh lánh việc lập lại những điều sai lầm tương tự. Chúng ta cần phải tìm kiếm những đường lối hòa giải và học biết sống tôn trọng căn tính của nhau’.

 

Về ý nghĩ của hoàng đế Byzantine Manuel II Paleologus được ngài trích dẫn trong bài nói của ngài ở Regensburg, Đức Thánh Cha đã không có ý hay đang có ý chấp nhận ý nghĩ ấy một cách nào đó. Ngài chỉ sử dụng nó như cách để thực hiện – trong một bối cảnh về hàn lâm, và như được rõ ràng qua việc cẩn thận đọc toàn bản văn – một số những chia sẻ về đề tài liên quan tới mối liên hệ giữa tôn giáo và bạo lực nói chung, và kết luận bằng việc rõ ràng mãnh mẽ bác bỏ động lực tôn giáo cho vấn đề bạo lực, bất cứ về phía nào. Ở đây, cần phải nhắc lại những gì chính giáo hoàng Biển Đức XVI vừa mới khẳng định trong Sứ Điệp tưởng nhớ 20 năm kỷ niệm Cuộc Họp liên tôn Nguyện Cầu cho Hòa Bình, một biến cố được vị tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan Phaolô II khởi xướng ở Assisi vào tháng 10 năm 1986: ‘… những phô diễn về bạo lực không thể được qui ghép cho tôn giáo như vậy, mà là cho những gì hạn hữu về văn hóa là những gì tôn giáo sống với và phát triển trong thời gian…. Thật vậy, những chứng thực về mối liên hệ chặt chẽ hiện hữu giữa mối liên hệ với Thiên Chúa và đạo lý về yêu thương đều được ghi nhận nơi tất cả mọi truyền thống tôn giáo lớn.

 

Bởi vậy Đức Thánh Cha thành thật hối tiếc là có một số đoạn trong bài diễn văn của mình có vẻ phạm tới các cảm thức của tín đồ Hồi Giáo, và là những đoạn đã được giải thích không hợp với chủ ý của ngài. Thật vậy, cính ngài, trước khi lòng nhiệt tình về tôn giáo của các tín đồ Hồi Giáo, đã cảnh giác nền văn hóa Tây Phương bị tục hóa hãy coi chừng trước ‘thái độ khinh miệt Thiên Chúa và thái độ ngạo mạn cho rằng việc diễu cợt sự linh thánh là một thứ hành sử của quyền tự do’.

 

Để lập lại việc ngài tôn trọng và quí mến những ai tuyên xưng Hồi Giáo, ngài hy vọng rằng họ sẽ được giúp để hiểu biết ý nghĩa xác thực của những lời lẽ ngài nói, nhờ đó, khi mau chóng thắng vượt được giây phút khôn nguội hiện nay, họ củng cố việc làm chứng cho ‘Đấng Tạo Dựng trời đất, Đấng đã nói với con người’, và gia tăng việc hợp tác ‘để cùng nhau cổ võ công lý xã hội và phúc hạnh luân lý cũng như hòa bình và tự do cho lợi ích của toàn thể nhân loại’ (Nostra Aetate, 3).  

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo tài liệu của CNN ngày Thứ Bảy 16/9/2006, được đính kèm trong bàiPope upset that Muslims offended”

 

 TOP

 

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh: Thời điểm tống cựu nghinh tân – Thứ Sáu 15/9/2006

 

Sáng Thứ Sáu 15/9/2006, một cuộc tống cựu nghinh tân được diễn ra tại dinh nghỉ mát của giáo hoàng ở Castelgandolfo. ĐTC đã tiếp nhân viên của Văn Phòng Quốc Vụ Khanh: Đức Hồng Y Angelo Sodano về hưu và Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, SDB, thay thế.  

 

Vị hồng y quốc vụ khanh về hưu, vị được Đức Gioan Phaolô II bổ nhiệm từ ngày 1/12/1990 thay cho Đức Hồng Y Agostino Casaroli, đã lên tiếng trong buổi lễ tống cựu nghinh tân như sau:

 

“Hôm nay, những lời cám ơn không nên nhắm quá nhiều tới tôi cho bằng đến những ai đã giúp tôi những năm qua. Tôi lấy làm đặc biệt quí hóa đó là việc hợp tác của những vị thay thế tiếp tục đặc trách văn phòng Tổng Vụ là các ĐTGM Re và Sandri, cũng như của các văn phòng đặc trách Liên Hệ Chư Quốc là các ĐTGM Tauran và Lajolo. Cùng nhau chúng ta quán xuyến công việc như một nhóm, bằng một cảm quan về giáo hội liên kết chúng ta lại trong việc phục vụ, trước hết chung quanh đấng đáng kính Gioan Phaolô II và giờ đây chuynh quanh Đức Thánh Cha”.

 

Trong lời chào ngắn gọn của mình với vị cựu quốc vụ khanh, đức hồng y tân nhiệm Bertone đã bày tỏ hy vọng rằng kinh nghiệm quá khứ của ĐHY Angelo sẽ giúp cho ngài ‘thực hiện công việc tôi đảm nhận hôm nay đây. Tôi ý thức được trách nhiệm nặng nề trong công việc này, cũng như về tính cách nghiêm trọng và phức tạp của các vấn đề mà hằng ngày tôi sẽ phải đương đầu. Ước vọng duy nhất của tôi đó là thực hiện khẩu hiệu vai trò giám mục của tôi ‘fedem sustodire, concordiam servare’.

 

“Mối hiệp thông sâu xa liên kết chúng ta l5i với nhau trong việc dấn thân phục vụ chung cho Giáo Hội – từ đó cho phẩm vị con người cùng cuộc chung sống hòa bình giữa con người – chỉ có thể biến thành việc hợp tác thành tín và trung thực, một việc hợp tác được củng cố đối với nhiều người trong chúng ta bởi tinh thần linh mục và đức ái mục vụ là những gì bao giờ cũng cần phải thúc đẩy các hoạt động của chúng ta”.

 

ĐTC đã đọc bức thư ngài viết gửi ĐHY Angelo Sodano như sau: “Khi Chúa gọi tôi lãnh nhận sứ vụ làm mục tử tối cao của Dân Chúa, tôi cảm thấy cần phải xin huynh, Hồng Y Sodano, hãy tiếp tục trợ giúp tôi như cộng sự viên trực tiếp của tôi, chia sẻ các việc tôi hằng ngày chăm lo vấn đề quản trị Giáo Hội Hoàn Vũ. Đó là lý do tôi bổ nhiệm huynh phụ trách văn phòng quốc vụ khanh, một vai trò được huynh thi hành cho tới hôm nay một cách tận tình và khéo léo”.

 

ĐTC liệt kê những đoạn đường khác nhau của việc phục vụ của hồng y Angelo ở Tòa Thánh, một việc phục vụ được bắt đầu vào năm 1961, dưới thời Đức Gioan XXIII, với vai trò đại diện tòa thánh ở Ecuador, Uruguay và Chí Lợi, cũng như ở Hội Đồng đặc trách Công Vụ của Giáo Hội, việc ngài được bổ nhiệm làm khâm sứ tòa tah1nh ở Chí Lợi và sau đó làm bí thư của Hội Đồng Công Vụ của Giáo Hội, cho đến khi ngài được chỉ định làm đầu văn phòng quốc vụ khanh vào tháng 12 năm 1990.

 

Trong những tháng đầu tiên của giáo triều tôi, cả tôi cũng có thể cảm nhận thấy được các tặng ân của tinh thần mục tử huynh thực hiện …. Việc dấn thân thực hiện các hoạt động hằng ngày của văn phòng Quôá Vụ Khanh cũng như của các vị đại diện tòa thánh nơi các phần đất khác trên thế giới (và sự quan tâm của huynh đối với nhân viên của huynh’.

 

Ngoài việc bày tỏ niềm tri ân riêng của mình, tôi cũng muốn chuyển đạt lòng biết ơn của những người, qua năm tháng, đã biết đến huynh và ca ngợi tính nhạy cảm, đức khôn ngoan và lòng nhiệt tình …. mà huynh đã thi hành sứ vụ của huynh với tấm lòng quan tâm duy nhất cho sự thiện trên hết của Giáo Hội.

 

“Tòa Thánh sẽ tiếp tục được lợi trong tương lai từ những gì Huynh đã đóng góp – và vì vậy mà cả tôi cũng biết ơn – vì với một lòng nhiện thành và quảng đại như vậy huynh sẽ thực hiện vai trò quan trọng làm chủ tịch Hồng Y Đoàn, và như phần tử của những phân bộ khác nhau vai trò thuộc Giáo Triều Rôma  cũng như của vai trò Thống Lãnh của Quốc Gia Thánh Vatican.”                                                                                                                                                                                                                     

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 15/9/2006

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Thế Giới Hồi Giáo phản đối - Tòa Thánh Rôma thanh minh

 

Theo bài Muslim fury at pope jihad comments” được tác giả Syed Mohsin Naqvi viết và được mạng điện toán toàn cầu CNN phổ biến ngày Thứ Sáu 15/9/2006, thì “Giáo Hoàng Biển Đức XVI bị thế giới Hồi Giáo hôm Thứ Sáu chỉ trích tới tấp về những nhận định ông bày tỏ vào đầu tuần này liên quan tới vị Tiên Tri Mohammed và niềm tin của Hồi Giáo, có một số thành phố đã xẩy ra những cuộc xuống đường phản đối”.

 

Mở màn là Tổ Chức Hội Nghị Hồi Giáo, trong một bản tuyên ngôn được phổ biến hôm Thứ Năm, 14/9/2006, cho biết rằng tổ chức này “lấy làm tiếc về những lời trích dẫn của vị giáo hoàng này về Đời Sống của Tiên Tri Mohammed Khả Kính, và về những gì vị giáo hoàng đã đề cập tới như là ‘việc lan truyền’ Hồi Giáo ‘bằng gươm đao’ vậy. Việc qui kết về vấn đề sự kiện Hồi Giáo lan ttràn khắp thế giới cho việc đổ máu và bạo lực, một việc bạo lực ‘không hợp với bản tính của Thiên Chúa’, là một chuyện hoàn toàn bóp méo sự thật, chuyện bóp méo sự thật cho thấy không hề biết gì tới Hồi Giáo và lịch sử Hồi Giáo”.

 

Sau đó đến Hội Đồng Quốc Gia Pakistan là hạ viện quốc hội nước này đã đồng loạt thông qua một quyết nghị hôm Thứ Sáu lên án những nhận định của ông. Văn Phòng Ngoại Giao Pakistan cũng đặt vấn đề về những lời nhận định này của Giáo Hoàng, cho những nhận định ấy là những gì hết sức giằng co, đáng tiếc và chống lại Hồi Giáo.

 

Vị Chủ Tịch tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo là Mohammed Mahdi Akef cũng tỏ ra giận dữ trước bài nói về hàn lâm này của vị giáo hoàng. Vị chủ tịch này nói: “Những lời phát biểu của vị giáo hoàng này là những gì đổ thêm dầu vào lửa và làm bùng lên giận dữ trong thế giới Hồi Giáo, và cho thấy rằng Tây Phương có những chính trị gia và giáo sĩ hận thù Hội Giáo”.

 

Thậm chí làn sóng phản đối này cũng xẩy ra cả ở Thổ Nhĩ Kỳ là nơi ngài giáo hoàng sẽ tới viếng thăm vào tháng 11 tới đây. Cơ quan thông tin Anatolian quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ đã trích lại lời của vị lãnh đạo văn phòng Hướng Dẫn Chung Về Tôn Giáo Vụ ở Ankara là Ali Bardakoglu như thế này: “Những lời lẽ của vị giáo hoàng này hết sức là đáng tiếc, đáng quan ngại và bất hạnh liên quan tới thế giới Kitô Giáo và nền hòa bình chung của nhân loại. Tôi không thấy có ích lợi gì nơi một người đến viếng thăm thế giới Hồi Giáo lại nghĩ tưởng như thế về vị thánh tiên tri của Hồi Giáo”.

 

Theo hãng thông tấn AP cho biết thì ở Syria, vị đại giáo sĩ Hồi Giáo phái Sunni nắm thẩm quyến tối cao về tôn giáo, đã gửi cho vị giáo hoàng này một bức thư nói rằng ông ta sở rằng những lời nhận định của giáo hoàng về Hồi Giáo sẽ gây tệ hại cho mối liên hệ liên tôn.

 

Ở Thánh Phố Gaza Thánh Địa, Thủ Tướng Palestine là Ismail Haniya đã lên án sau những buổi cầu nguyện Thứ Sáu này rằng, những nhận định của ngài Biển Đức XVI “là những gì không đúng và phỉ báng yếu tính của tôn giáo thánh này cũng như phỉ báng lịch sử của Hồi Giáo. Chúng tôi nói cùng vị giáo hoàng này là hãy tái xét lại những lời nhận định ấy và hãy ngưng việc phỉ báng đạo Hồi là tôn giáo có trên 1 tỉ rưỡi người tin theo”.

 

Ở Lebanon, vị giáo sĩ cao cấp nhất của Hồi Giáo phái Shitte là Ayatollah Mohammed Hussein Fadlallah đã nói với tín đồ của mình rằng vị giáo hoàng này phải đích thân xin lỗi việc đã xỉ nhục Hồi Giáo: “Chúng ta không chấp nhận lời xin lỗi này qua những bộ phận Vatican… mà là ông ta (Biển Đức XVI) hãy đích thân xin lỗi – không phải qua các viên chức của ông – những người Hồi Giáo vì việc giải thích sai lầm (về Hồi Giáo)”.

 

 Jammu Ấn Độ, thành phần xuống đường Hồi Giáo đã hô hoán những lời lẽ chống lại vị giáo hoàng này. Ở Cairô Ai Cập, có khoảng 100 người biểu tình ở bên ngoài khu đền thờ al-Azhar thuộc thủ đô Cairô này để chống lại Vatican. Một biến cố trùng hợp xẩy ra không biết có phải do thái độ phản đối này hay chăng, đó là vụ một nhà thờ Chính Thống Giáo Hy Lạp ở Giải Gaza bị hư hại nặng nề bởi một vụ nổ nhẹ cũng vào hôm Thứ Sáu này.

 

Thật vậy, trong bài diễn từ của mình tại Đại Học Regensburg hôm Thứ Ba 12/9/2006, giáo hoàng Biển Đức XVI đã trích lại lời của hoàng đế Byzantine là Manuel II Paleologus, nguyên văn lời hoàng đế này nói được vị giáo hoàng trích dẫn như sau:

 

“Thiên Chúa không thích việc đổ máu – và việc không tác hành một cách hợp lý là điều trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa.

 

Lời nhận định của vị giáo hoàng này về lời hoàng đế ấy như thế này:

 

“Vị hoàng đế này muốn nói đến jihad, đến cuộc thánh chiến ở chương thứ bảy (sura, hay chương thứ bảy của Kinh Koran). Vị hoàng đế này chắc chắn biết được rằng Sura 2, 256, có câu ‘Không có vấn đề võ lực nơi vấn đề tin tưởng’. Đó là một trong những chương đầu tiên của sách Kinh Koran, viết từ thời – như những chuyên gia nói – chính Đức Mahommed vẫn còn ở trong tình trạng bất lực và bị đe dọa.

 

“Tuy thế, vị hoàng đề này dĩ nhiên cũng biết được những đòi hỏi về cuộc thánh chiến là những gì sau này được thành hình trong sách Kinh Koran. Không đi sâu vào chi tiết như thành phần sở hữu sử dụng các cuốn sách thánh, hay thành phần vô tín ngưỡng, vị hoàng đế này đã quay sang với thành phần đối thoại với mình – một cách sống sượng lạ lùng – bằng một câu hỏi chính yếu liên quan tới mối liên hệ giữa tôn giáo và bạo lực.

 

“Tôi xin trích lại những gì vị hoàng đế này nói, đó là ‘Xin tỏ cho tôi chỉ những gì Tiên Tri Muhammed đã viết có vẻ mới mẻ mà ở đó quí vị thấy được những gì chỉ toàn là sự dữ và phi nhân, chẳng hạn như việc ngài truyền hãy dùng gươm giáo để lan truyền niềm tin được ngài rao giảng”.

 

Thế nhưng, Vatican lên tiếng nói rằng việc trình bày của giáo hoàng Biển Đức XVI hôm Thứ Ba là những gì hoàn toàn trái ngược, không hề có ý phạm tới Hồi Giáo. Nguyên văn lời lẽ của Vatican như sau:

 

“Chắc chắn Đức Thánh Cha không có chủ ý … phạm đến những cảm thức của tín đồ Hồi Giáo…

 

“Ước mong của Đức Thánh Cha đó là vun trồng thái độ tôn trọng và đối thoại với các tôn giáo khác và các nền văn hóa khác, dĩ nhiên là bao gồm cả Hồi Giáo.

 

Trái lại, bài diễn từ của ngài là “một lời cảnh giác, được ngỏ cùng văn hóa Tây Phương, để tránh đi ‘thái độ khinh thường Thiên Chúa và ngạo báng được cho rằng việc chế diễu sự linh thánh là những gì hành sử quyền tự do”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và chuyển dịch

 

Lời Tuyên Bố của Tòa Thánh tối hôm Thứ Năm 14/9/2006 thanh minh về Bài Diễn Văn của Giáo Hoàng Biển Đức XVI cho Giới Trí Thức Đức Quốc ở Đại Học Regensburg hôm Thứ Ba 12/9/2006

 

“Về việc phản ứng của các vị lãnh đạo Hồi Giáo đối với một số đoạn trong bài diễn từ của Đức Thánh Cha nói ở Đại Học Regensburg, cần phải lưu ý rằng những gì Đức Thánh Cha muốn nói – và là những gì xuất phát từ việc cẩn thận đọc sách vở – đó là việc ngài rõ ràng và mạnh mẽ bác bài những gì thúc đẩy  bạo lực liên quan tới tôn giáo.

 

“Đức Thánh Cha chắc chắn không có ý thực hiện một cuộc nghiên cứu toàn diện nào về thánh chiến và về những tư tưởng Hồi Giáo liên quan tới chủ đề, lại càng không có ý xúc phạm tới những cảm thức của tín đồ Hồi Giáo.

 

“Vấn đề hoàn toàn ngược lại, những gì rõ ràng xuất phát từ những lời diễn văn của Đức Thánh Cha là một lời cảnh giác được ngỏ cùng văn hóa Tây Phương, để tránh đi ‘thái độ tỏ ra khinh thường Thiên Chúa và ngạo mạn cho rằng việc chế diễu sự linh thánh là những gì hành sử quyền tự do’. Thật vậy, việc quan tâm chính đáng tới chiều kích tôn giáo là điều kiện thiết yếu cho việc đối thoại hiệu nghiệm với các nền văn hóa và tôn giáo lớn trên thế giới. Đúng thế, để kết thúc bài diễn văn của mình ở Regensburg, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định rằng ‘các nền văn hóa về tôn giáo sâu xa nhất trên thế giới đều thấy việc loại trừ thần linh ra khỏi tính cách phổ quát của lý trí như là một cuộc tấn công vào những niềm xác tín sâu xa nhất của các nền văn hóa ấy ra sao. Một lý trí tỏ ra điếc lác trước thần linh, và đẩy lui tôn giáo vào lãnh vực của những thứ văn hóa phụ thuộc là thứ lý trí không thể nào thực hiện việc đối thoại giữa các nền văn hóa’.

 

“Như thế vấn đề hiển nhiên đó là, Đức Thánh Cha ước muốn vun trồng một thái độ biết tôn trọng và đối thoại với các tôn giáo và văn hóa khác, trong đó dĩ nhiên có cả Hồi Giáo”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 15/9/2006

 

 

TOP

 

“Men Phúc Âm. Sự Hiện Diện của Tòa Thánh nơi đời sống chư dân”

 

Sáng hôm Thứ Năm 7/9/2006, tại văn phòng báo chí của Tòa Thánh đã diễn ra một cuộc trình làng tác phẩm của Đức Hồng Y Angelo Sodano, mang tựa đề "Il lievito del Vangelo. La presenza della Santa Sede nella vita dei popoli - Men Phúc Âm. Sự Hiện Diện của Tòa Thánh nơi đời sống chư dân”. Buổi ra mắt này được điều hành bởi hai đức ông Gabriele Giordano Caccia và Pietro Parolin, một vị là thành viên đặc trách Tổng Vụ của Văn Phòng Quốc Vụ Khanh và một vị là phụ tá thư ký của Văn Phòng Liên hệ Chư Quốc.

 

Tác phẩm bắng tiếng Ý này nội dung có 12 bài diễn văn của vị hồng y quốc vụ khanh của tòa thánh trong thời khoảng gần 16 năm, dưới hai thời giáo hoàng Gioan Phaolô II và Biển Đức XVI.

 

Đức Ông Parolin đã nhắc đến thời điểm dài gần 16 năm phục vụ này là thời điểm ‘đặc biệt là phức tạp và trăn trở, với sự kiện chấm dứt Cuộc Chiến Tranh Lạnh, hai cuộc chiến Vùng Vịnh, cuộc chiến tranh vùng Balkin và cuộc bùng nổ nạn khủng bố quốc tế từ ngày 11/9/2001’.

 

Đức Ông này nói tiếp, ‘tầm quan trọng chính yếu của con người như là khát vọng chính yếu của việc Tòa Thánh hoạt động ngoại giao’ là một trong những đề tài tủ của vị hồng y này, được nổi bật chẳng hạn trong bài diễn văn ngỏ cùng thành phần lãnh đạo Quốc Gia và chính quyền ở Cuộc Thượng Nghị Tháng 3/1995 ở Copenhagen Đan mạch về Vấn Đề Phát Triển Xã Hội. Một chương trong các chương sách của ngài chú trọng tới đề tài ‘tình đoàn kết và nhiệm vụ chứng tỏ tình đoàn kết’.

 

Đức Ông phụ bí thư văn phòng Liên hệ Chư Quốc còn nhấn mạnh đến một khía cạnh đặc biệt khác nữa trong tác phẩm của vị hồng y sắp mãn nhiệm hồi hưu vào ngày 15/9/2006, đó là việc ngài ‘quan tâm tới nhu cầu cần phải lấy các giá trị về đạo lý làm nền tảng cho tất cả mọi hình thức cấu trúc xã hội và việc con người chung sống với nhau’.

 

Để kết thúc phần trình bày của mình, đức ông này còn đề cập tới mối quan tâm của vị hồng y trưởng hồng y đoàn đối với ‘yếu tố nhân loại’, khi cho thấy rằng ‘chính Chúa là Đấng hướng dẫn lịch sử, nhưng Ngài có thói quen sử dụng nhiều người tôi tớ hèn mọn cho vườn nho của Ngài, thành phần, được tác động bởi một tình yêu cao cả đối với Giáo Hội cũng như bởi một cảm quan sâu xa trong việc phục vụ nhân loại, hiến hồn xác mình cho hoạt động quốc tế của Tòa Thánh’.

 

Đức Ông Caccia cho thấy rằng tác phẩm của vị hồng y này ‘qui tụ các kinh nghiệm chín mùi qua giòng thời gian của một vị mục tử chăn dắt các linh hồn; một vị mục tử không được trực tiếp ủy thác cho một phần dân Chúa mà được đặc ân cộng tác vào việc chăm sóc toàn thể đàn chiên Chúa cùng với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô’.

 

Theo đức ông này thì việc đọc tác phẩm đây ‘từng giòng cho thấy hiện lên một ước muốn trả lời một vấn đề … về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Tòa Thánh hiện diện nơi đời sống chư dân… Để diễn chứng sứ vụ này, … Đức Hồng Y Sodano đã chọn hình ảnh dậy men của phúc âm, … và cắt nghĩa hoạt động của Tòa Thánh như là sự hiện diện làm dậy men chân lý, yêu thương và an bình, một sự hiện diện tác động một cách thận trọng, nhẫn nại và âm thầm trong lịch sử cũng như trong những trường hợp thường bị xung khắc của nhân loại. Một sự hiện diện theo phúc âm và có tính cách truyền bá phúc âm hóa là những gì kêu gọi hết những ai thuộc về Tòa Thánh hãy luôn loan báo…. Phúc Âm mà thôi trong tất cả mọi hoàn cảnh, bằng việc sử dụng những cơ cấu thực sự để đạt được mục đích này’.

 

‘Ngay từ những trang đầu tiên, Đức Hồng Y Sodano dẫn chứng sứ vụ mục vụ của Tòa Thánh, một sứ vụ ‘nhắm đến việc làm dậy men Kitô Giáo nơi đời sống chư quốc’, và nhấn mạnh đến ‘tầm quan trọng của việc Tòa Thánh hiện diện nơi nhiều lãnh vực hoạt động quốc tế để làm thấm nhập vào lòng xã hội tân tiến thứ men mới mẻ là Phúc Âm của Chúa Kitô ấy’.

 

Đức Ông thành viên đặc trách Tổng Vụ còn tiếp tục trích dẫn những lời lẽ trong sách của vị hồng ý tác giả như sau: ‘Giáo HỘi không có một lý do hiện diện nào khác trên thế giới này ngoài lý do tiếp tục công cuộc của Chúa Kitô. Giáo Hội thực sự được định nghĩa đúng là Chúa Kitô … tồn tại qua các thế kỷ vậy. Điều này lại càng đúng hơn nữa ở thời đại chúng ta đây, khi mà các thánh đố khó khăn nhất không phải là những gì liên quan tới kinh tế hay kỹ thuật, song trước hết và trên hết là những gì liên quan tới đạo lý và tinh thần’.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 7/9/2006

 

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với 42 ngàn em Giúp Lễ Âu Châu trong buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư 2/8/2006 về Việc Làm Bạn với Chúa Giêsu

 

Trong số các em giúp lễ khắp Âu Châu này có 35 ngàn em người Đức. Bởi thế, vị giáo hoàng Đức quốc đã mở lời với các em như sau:

 

“Vì hầu hết các em giúp lễ qui tụ lại quảng trường này hôm nay đây nói tiếng Đức, tôi sẽ nói với các em ấy trước bằng tiếng mẹ đẻ của tôi”.

 

Đó là lý do, theay vì thói quen nói bằng tiếng Ý trong các buổi triều kiến chung hằng tuần như thế, ngài đã nói bằng tiếng Đức, rồi sau đó nói tóm gọn lại bằng tiếng Ý, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Balan và 7 ngôn ngữ khác.

 

Tất cả con số qui tụ ở quảng trường Thánh Phêrô cho buổi triều kiến chung hằng tuần này là 55 ngàn người, vào một ngày nóng ẩm. Ngài nói với các em gíup lễ rằng ac1c em đang ở vào thời điểm loạt bài giáo lý về Giáo Hội liên quan tới các vị tông đồ.

 

“Các tông đồ là bạn hữu của Chúa Giêsu. Chính Người đã gọi các vị như thế trong Bữa Tiệc Ly. Họ là những vị tông đồ và là những chứng nhân của Chúa Kitô vì các vị là bạn của Người, hiệp nhất với Người bằng một liên hệ yêu thương được Chúa Thánh Thần khơi động”.

 

Ngài bảo các em giúp lễ rằng Chúa Giêsu cũng gọi các em là bạn hữu của Người và muốn biến đổi các em thành những chứng nhân can trường cho Phúc Âm. Ngài xin các em hãy lắng nghe tiếng nói của Chúa Giêsu và hãy cởi mở trước tiếng gọi của Người, nhất là khi Người gọi các em ‘hiến mình trọn vẹn’ sống thiên chức linh mục.

 

“Các bạn thân mến, thực ra thì các bạn đã là các tông đồ của Chúa Giêsu rồi. Khi các bạn phục vụ bàn thờ là các bạn làm chứng cho tất cả mọi người rồi. Thái độ nguyện cầu của các bạn, lòng sùng kính của các bạn xuất phát từ con tim và được bày tỏ qua các cử chỉ, bài hát và đối đáp, tất cả đều là việc tông đồ vậy”.

 

Ngài xin các em hãy coi chừng đừng để mình trở thành quá quen thuộc với việc giúp lễ, trái lại, hãy mãi chiêm ngưỡng tình yêu của Chúa Kitô là Đấng đã tự hiến trên thập giá và đang hiến thân trên bàn thờ.

 

“Tình yêu thương mà các bạn lãnh nhận nơi phụng vụ ấy, hãy mang đến cho mọi người, nhất là cho những nơi các bạn thấy thiếu thốn yêu thương”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo CNS ngày 2/8/2006

  

 

TOP

 

Quĩ Bác Ái của Đức Thánh Cha và Ngân Quĩ của Tòa Thánh hiện nay

 

Tổ chức ‘Phát Triển Các Dân Tộc’ của Tòa Thánh Vatican đã phân phối 1.82 triệu Mỹ kim cho việc phát triển toàn diện các cộng đồng thiểu số ở Mỹ Châu Latinh.

 

Có 215 dự án cần được tài trợ đã được tuyển lựa trong cuộc họp hội đồng điều hành của Tổ Chức này, một cuộc họp đã diễn ra ở Guayaquil, Ecuador, từ 11-14/7/2006.

 

Trong ngân khoản được giành ra để tài trợ này, có 36.9% cho ngành canh nông và tiểu thương; 26.1% cho việc thiết lập các cơ sở hạ tầng công vụ; 17.4% cho việc xây cất các trường học, nhà trọ và trung tâm sức khỏe; 12.3% cho việc giáo dục; và 7.1% cho việc chăm sóc sức khỏe.

 

Hội Đồng Tòa Thánh ‘Đồng Tâm’ cũng tường trình là có 255 dự án đã được cứu xét trong cuộc họp này, số tiền lên tới 2.5 triệu Mỹ kim.

 

Tổ Chức ‘Phát Triển Các Dân Tộc’, được Đức Gioan Phaolô II thành lập năm 1992, để giúp đỡ các thành phần thổ dân, thành phần lai Tây Ban Nha và thành phần da đen, ở Mỹ Châu Latinh. Tổ chức này được ủy thác cho Hội Đồng Tòa Thánh ‘Đồng Tâm – Cor Unum’, đã đóng góp gần 20 triệu Mỹ kim tài trợ cho khoảng 2.000 dự án.

 

Hôm 12/7/2006, Đức Hồng Y Sergio Sebastiani, chủ tịch Văn Phòng Kinh Tài của Tòa Thánh, đã thông báo trong một cuộc họp báo về bản đúc kết tài chính của Tòa Thánh năm 2005, với tổng số tiền thặng dư là 9.7 triệu đồng Âu, một con số thặng dư chưa từng thấy trong 8 năm qua. Năm 2004 chỉ thặng dư có 3.08 đồng Âu.

 

Về vấn đề chi phí, trước hết cho các hoạt động về cơ cấu của Tòa Thánh (Văn Phòng Quốc Vụ Khanh, các thánh bộ, các hội đồng, các pháp đình, Thượng Hội Giám Mục Thế Giới và các văn phòng khác nhau), tổng chi bị thâm thủng 36.9 triệu đồng Âu, tăng hơn cả số thâm thủng năm 2004 ở 23.2 triệu đồng Âu.

 

Để bù vào chỗ thâm thủng về các chi phí cho cơ cấu này, các hoạt động về kinh tài của Tòa Thánh cung cấp cho Tòa Thánh một thăng dư lớn liên quan tới tình trạng cải tiến tình hình thị trường tài chính năm 2005, tới 43.3 triệu đồng Âu, trong khi năm 2004 chỉ thặng dư có 6.1 triệu.

 

Tuy nhiên, một chi phí khác lại bị thâm thủng khác là về các tổ chức truyền thông (như Đài Phát Thanh Vatican, Văn Phòng In Ấn Vatican, tở nhật báo L’Osservatore Romano, Nhà Xuất Bản Vatican, và Trung Tâm Truyền Hình Vatican), với tổng số là 11.8 triệu đồng Âu. Trong khi Văn Phòng In Ấn Vatican thặng dư 653 ngàn đồng âu, Trung Tâm Truyền Hình Vatican thu lợi được 650 ngàn đồng âu, Nhà Xuất Bản Vatican thặng dư 934 ngàn đồng âu, thì Đài Phát Thanh Vatican bị hụt 23.5 triệu đồng âu và tờ L’Osservatore Romano hụt 4.6 triệu đồng âu.

 

Về vấn đề trả lương và chi phí, tổng số bị hụt là 7 triệu đồng âu, gây ra bởi các chi phí xuất phát từ biến cố trống ngôi giáo hoàng vào tháng tư năm 2005.

 

Về tình hình tài chính của Văn Phòng Quản Trị Quốc Đô Vatican, tổng số thặng dư là 29.6 triệu đồng âu.

 

Về quĩ Thánh Phêrô giành cho Đức Thánh Cha để làm việc truyền giáo, do giáo dân khắp thế giới đóng góp, lên đến 46.741.000 triệu đồng Âu năm 2005, tăng 14.95% so với năm 2004.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 12/7 và Zenit ngày 28/7/2006

 

 

TOP

 

 

 

Nguyên Văn Cuc Phng Vn Văn Phòng Liên Hệ Chư Quốc ca Tòa Thánh về Hội Nghị Rôma đối vi Tình Trng Khng Hong ở Lebanon

 

Hôm Thứ Tư 26/7/2007, hội nghị quốc tế 15 quốc gia ở Rôma về tình hình khủng hoảng ở Lebanon giữa Do Thái và nhóm dân quân Hezbollah, dù đã thất bại trong việc yêu cầu hai bên phải đình chiến tức khắc, nhưng cũng mang lại một số thành quả khả quan. Với tư cách là quan sát viên tham dự hội nghị quốc tế này, vị đại diện của Tòa Thánh là Đức Tổng Giám Mục Giovanni Lajolo, đặc trách văn phòng Liên Hệ Chư Quốc của Tòa Thánh, đã cho biết như thế khi được Đài Phát Thanh Vatican phỏng vấn vào Thứ Năm 27/7/2006, nguyên văn như sau.

 

Vấn:    Hội nghị quốc tế về Lebanon đã được diễn ra hôm qua, theo sáng kiến của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Ý Quốc, với sự tham dự của Nhóm Chính Yếu về Lebanon cùng các quốc gia khác. Văn phòng báo chí của Tòa Thánh đã loan báo là có một phái đoàn đại biểu được đức tổng giám mục dẫn đầu tới tham dự với tư cách là quan sát viên. Ngài có thể giải thích điều này hay chăng?

 

Đáp:   Như đã biết đó, Tòa Thánh chú trọng tực tiếp tới tình trạng hòa bình ở Trung Đông, như Tòa Thánh đã chứng tỏ cho thấy một số lần.

 

Hôm qua, nhận được lời mời của Hiệp Chủng Quốc và Ý Quốc, Tòa Thánh đã đến tham dự với tư cách là quan sát viên; tự bản chất của mình thì đây là vai trò Tòa Thánh thường tham dự vào các tổ chức quốc tế vậy.

 

Vấn:    Ngài nghĩ thế nào về hội nghị này?

 

Đáp:   Dĩ nhiên là nó có tính cách tích cực vì nó đã được triệu tập nhanh như thế theo sáng kiến của chính phủ Ý Quốc, và nó chú trọng tới những nhu cầu khẩn trương nhất của lúc này đây.

 

Vấn:    Những đúc kết trong bản tuyên ngôn của hai vị đồng chủ tọa là bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Condoleezza Rice, và bộ trưởng ngoại giao Ý Quốc Massimo D’Alema, đã được cho rằng không thỏa đáng. Ý kiến của ngài như thế nào?

 

Đáp:   Đúng thế, quần chúng thực sự mong đợi rất nhiều, thế nhưng, đối với người biết chuyện hiểu được những khó khăn thì có thể nói rằng thành quả gặt được khả quan. Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh đến những khía cạnh tích cực:

 

Thứ nhất đó là sự kiện các quốc gia ở các miền khác nhau trên thế giới, từ Canada đến Nga, qui tụ lại vì ý thức được tầm mức hệ trọng của những gì đang xẩy ra ở Lebanon, tái xác nhận rằng xứ sở này cần phải được lấy lại hoàn toàn chủ quyền sớm bao nhiêu có thể, và các quốc gia ấy đã quyết tâm ra tay trợ giúp xứ sở này.

 

Thứ hai là việc yêu cầu thành lập một lực lượng quốc tế theo lệnh của Liên Hiệp Quốc, để hỗ trợ cho quân đội bình thường của Lebanon trong các vấn đề về an ninh.

 

Thứ ba là việc quyết tâm cung cấp vấn đề cứu trợ nhân đạo khẩn cấp cho dân chúng Lebanon và bảo đảm việc nâng đỡ tái thiết bằng việc triệu tập một hội nghị các quốc gia hiến tặng. Một vài quốc gia tham dự đã hứa cung cấp vấn đề cứu trợ đáng kể, cho dù vẫn còn chưa đủ để giải quyết những nhu cầu khổng lồ ở xứ sở này.

 

Thứ bốn đó là, sau khi hội nghị chính thức bế mạc, các tham dự viên vẫn tích cực liên tục bàn tới những vấn đề xa xôi hơn nữa mà cộng đồng quốc tế có thể can thiệp vào Lebanon.

 

Vấn:    Thế nhưng, cảm quan bất mãn này do đâu mà có?

 

Đáp:   Trước hết, bởi sự kiện là không có một yêu cầu nào đối với việc ngưng ngay những cuộc đánh nhau. Thành phần tham dự viên không đồng tâm nhất trí về điều yêu cầu nào, vì một số quốc gia chủ trương rằng một lời kêu gọi như thế sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Vấn đề ở đây là cần phải thực tiễn hơn trong việc bày tỏ việc quyết tâm đạt tới ngay vấn đề đình chỉ những thứ hận thù, một quyết tâm thực sự là có thể giữ.

 

Một vấn đề trục trặc khác nữa đó là sự kiện hội nghị này chỉ lên tiếng kêu gọi Do Thái hết sức kiềm chế mà thôi. Tự mình, lời kêu gọi này có tính cách mập mờ làm sao ấy, vì việc tôn trọng thành phần dân sự vô tội là một nhiệm vụ chính đáng và bắt buộc.

 

Vấn:    Chính quyền Lebanon nghĩ thế nào?

 

Đáp:   Một đàng thì Thủ Tướng Fouad Siniora có cơ hội để trình bày một cách tường tận bản chất thê thảm của tình hình xứ sở cũng như cho thấy dự án của ông trong việc giải quyết tức thời và dứt khoát cuộc xung đột với Do Thái. Đàng khác, ông cũng chứng kiến thấy và cảm thấy phấn khởi hơn trước các nỗ lực tích cực đang được cộng đồng quốc tế thực hiện để giúp nhân dân Lebanon, để chấm dứt cuộc xung đột này và để củng cố việc chính quyền ông kiểm soát xứ sở ấy.

 

Tối hôm qua, Thủ Tướng Siniora, được bộ trưởng ngoại giao Fauzi Salloukh hộ tống, xin được gặp vị quốc vụ khanh của Tòa Thánh Vatican và tôi.

 

Ông đã bày tỏ lòng biết ơn sâu xa về việc làm của cá nhân Đức Thánh Cha cũng như của Tòa Thánh trong việc theo dõi cuộc xung đột đang làm xâu xé Lebanon, và ông yêu cầu hãy tiếp tục nâng đỡ xứ sở của ông trên đấu trường quốc tế.

 

Ông cũng nhắc lại những lời của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị đã nhận định Lebanon chẳng những là một xứ sở mà còn là một “sứ giả” cho tất cả mọi dân tộc về cuộc chung sống êm ấm giữa các tôn giáo và niềm tin khác nhau trong cùng một quốc gia.

 

Đó là ơn gọi lịch sử của Lebanon, một ơn gọi cần phải được hiện thực. Tòa Thánh sẽ tiếp tục cống hiện tất cả mọi phương tiện trong tầm tay của mình để xứ sở này lại trở thành ‘khu vườn’ của Trung Đông, như nó đã từng là như thế trước đây.

 

Vấn:    Với tư cách là quan sát viên, ngài có cơ hội để chia sẻ, ít là cách gián tiếp, vào những công việc của hội nghị này hay chăng?

 

Đáp:   Một quan sát viên không có quyền phát biểu, và tôi cũng không được yêu cầu nói. Tuy nhiên, tôi tin rằng sự hiện diện một cách thinh lặng của quan sát viên Tòa Thánh ở bàn họp các vị lãnh đạo và đại biểu có một tầm vóc quan trọng tỏ tường hiển nhiên.

 

Vấn:    Sau cuộc họp này thì đâu là chủ trương của Tòa Thánh về vấn đề ấy?

 

Đáp:   Tòa Thánh vẫn thiên về việc thôi ngay các cuộc đánh nhau. Các vấn đề được bàn luận thì nhiều và hết sức phức tạp, và chính vì thế không thể giải quyết tất cả cùng một lúc, trong khi vẫn chú trọng tới hình ảnh chung và việc giải quyết tổng quan là những gì cần phải đạt tới, những vấn đề cần phải giải quyết ‘per partes’, bắt đầu là những vấn đề có thể được giải quyết ngay. 

 

Chủ trương của những ai cho rằng trước hết cần phải tạo được các điều kiện trước, nhờ đó bất cứ một thỏa ước đình chiến nào mới có bị tái vi phạm, thì chỉ là một chủ trương hiển nhiên thực tiễn, vì có thể và cần phải tạo nên những điều kiện ấy bằng phương tiện không phải là sát hại dân chúng vô tội.

 

Đức Biển Đức XVI gần gũi với những thành phần dân chúng này, những nạn nhân của các cuộc chạm trán và của một cuộc xung đột không liên quan gì tới họ. Đức Giáo Hoàng nguyện cầu, và cùng với ngài là toàn thể Giáo Hội, cho ngày hòa bình xuất hiện hôm nay đây chứ không phải ngày mai.

 

Ngài cầu xin Thiên Chúa và kêu gọi các vị lãnh đạo chính trị. Ngài khóc với hết mọi người mẹ đang khóc thương con cái của các bà, với tất cả những ai khóc thương các người thân yêu của họ. Một cuộc ngưng ngay các cuộc đánh nhau là những gì khả dĩ, bởi thế là những gì cần thiết vậy.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/7/2006

 

 

TOP

 

 

Vị Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh: Tống Cựu Nghinh Tân!

 

Để tống cựu, vị giám đốc văn phòng báo chí Tòa Thánh 22 năm (từ 1984) là Navarro Valls, 69 tuổi, sinh ở Cartagena, Spain năm 1936, vị đã xin từ nhiệm từ tháng trước và đã được ngài chấp nhận từ đầu tháng, ĐTC đã mời vị này đi theo ngài đến khu vực ngài nghỉ hè ở rạng Núi Alps Ý Quốc. Một bữa tiệc giã biệt đã được tổ chức ở khu nghỉ hè ở Les Combes này. Ngài đã đến vào lúc khoảng 7:30 tối, và đã nói những lời tạ từ với ông.

 

Ngài đã bổ nhiệm linh mục dòng Tên là Cha Federico Lombardi thay thế vai trò giám đốc này. Vị tân giám đốc văn phòng báo chí này đồng thời cũng là tổng giám đốc của Đài Phát Thanh Vatican và giám đốc của Trung Tâm Truyền Hình Vatican. Vị tân giám đốc này sinh ở Saluoão, Ý quốc năm 1942 và thụ phong linh mục năm 1972.

 

Sau đây là những lời của nhị vị cựu và tân giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh gửi thành phần phòng viên báo chí và truyền thông. Trước hết là của vị cựu và sau đó là của vị tân.

 

“Tôi rất cám ơn Đức Thánh Cha đã thấy đáng nhận lời sẵn sàng ra đi của tôi sau rất nhiều năm nắm giữ vai trò làm giám đốc của Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Tôi biết rằng, qua những tháng năm này, tôi đã nhận được nhiều hơn là tôi có thể cống hiến, nhiều hơn là hiện nay tôi có thể thấu hiểu được trọn vẹn”.

 

“Các bạn  thân mến,

 

“Khi tôi sửa soạn đảm nhận trách nhiệm mới ở Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh, dĩ nhiên là tôi cảm ơn Đức Thánh Cha và Các Vị Bề Trên về niềm tin tưởng các ngài đặt nơi tôi; thế nhưng, tôi cũng đặc biệt cảm mến nghĩ đến các bạn cũng như đến tất cả đồng nghiệp của chúng ta trong ngành truyền thông tôi được kêu gọi để phục vụ.

 

“Như các bạn, tôi cũng đã từng hoạt động một thời để bảo đảm rằng hoạt động của Đức Thánh Cha cũng như của thực tại về Giáo Hội được biết đến và được hiểu một cách khách quan đúng đắn. Tiến Sĩ Navarro-Valls đã thực hiện việc phục vụ lâu dài của mình ở lãnh vực này bằng một khả năng, khôn ngoan và dấn thân ngoại hạng. Tất cả chúng ta đều biết ơn ông và tiếp tục tin tưởng vào tình thân hữu của ông.

 

“Tôi không hy vọng có thể bắt chước ông, song các bạn có thể tin tưởng vào việc dấn thân của tôi – trong tầm hạn của tôi song với tất cả khả năng tôi có được – để phục vụ Đức Thánh Cha và công việc tốt lành của các bạn. Tôi biết rằng tôi có thể tin tưởng vào việc hợp tác của tất cả mọi nhân viên của Văn Phòng Báo Chí, từ vị Phó Giám Đốc là Cha Ciro Benedettini, cho cả tôi cũng như các bạn.

 

“Tôi cũng xin các bạn hãy lượng tình để phần vụ chung này của cuộc chúng ta hành trình được trổ sinh nhiều hoa trái hơn. Tôi phó dâng những cảm thức này cho Chúa nhân lễ Thánh Biển Đức là lễ, không phải là tình cờ, tôi được chỉ định vào nhiệm vụ mới này”.

 

(xin xem tiếp ngày mai bài phỏng vấn cảm nghiệm phục vụ của vị cựu giám đốc 20 năm phục vụ văn phòng báo chí của tòa thánh)

  

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 11/7/2006 và Zenit 27/7/2006

 

 

TOP

 

 

Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông

 

Hôm 20/7, Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh đã được chỉ định phổ biến thông báo sau đây:

 

“Đức Thánh Cha đang hết sức quan tâm theo dõi những số mệnh của tất cả mọi người trong cuộc, và đã công bố Chúa Nhật 23/7 là một ngày đặc biệt để cầu nguyện và thống hối, kêu gọi các vị mục tử và tín hữu thuộc tất cả mọi Giáo Hội riêng, cũng như tất cả mọi tín đồ trên thế giới, hãy nài xin Thiên Chúa ban tặng ân hòa bình quí báu.

 

Đức Thánh Cha đặc biệt hy vọng rằng những lời nguyện cầu sẽ được dâng lên Chúa để xin cho việc ngưng chiến ngay giữa đôi bên, cho việc mở rộng những phương tiện nhân đạo để giúp đỡ những người khổ đau, và cho những việc thương thảo hữu lý và hữu trách được bắt đầu để chấm dứt những tình trạng bất công khách quan đang xẩy ra ở miền đất ấy; những gì đã được ngài nhắc đến trong buổi Nguyện Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 16/7.

 

Thực ra, những người Lebanon có quyền mong cho xứ sở họ chiếm được những gì là nguyên vẹn và chủ quyền, những người Do Thái có quyền sống hòa bình nơi Quốc Gia của họ, và những người Palestine cũng có quyền có được một quê hương tự do và tự chủ. Trong lúc sầu thương này, Đức Thánh Cha cũng kêu gọi các tổ chức bác ái hãy giúp đỡ tất cả mọi người đang gặp nạn bởi cuộc xung đột tàn bạo này”.

 

Vậy Đức Thánh Cha đã nói gì và làm gì trong ngày Chúa Nhật vừa rồi, ngày được ngài kêu gọi giành để nguyện cầu và chay tịnh cho hòa bình Trung Đông?

 

Nếu theo dõi tình hình thế giới, chúng ta đã quá biết nguyên do tại sao Đức Thánh Cha đã phải lên tiếng kêu gọi thực hiện Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông vào  Chúa Nhật 23/7/2006 vừa rồi. Chính là vì cuộc bùng nổ bạo lực giữa lực lượng Do Thái và nhóm dân quân Hezbollah ở Lebanon bắt đầu từ hôm Thứ Tư 12/7/2006. Vậy, trước khi nhìn lại những gì Đức Thánh Cha của chúng ta đã nói và đã làm vào Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông này, chúng ta hãy cùng nhau đi sâu hơn một chút vào tình hình Trung Đông, nhất là tình hình giữa nước Do Thái và Lebanon hiện nay.

 

Thật vậy, Cuộc Chiến Tranh giữa Khối Ả Rập và Do Thái năm 1967, và Cuộc Thanh Trừng Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO) của Jordan năm 1970, sau khi tổ chức này muốn lật đổ Vua Hussein, đã đẩy một số đông người tị nạn Palestine đến Lebanon, trong số đó có Arafat và Tổ Chức Giải Phóng Palestine.

 

Vào tháng 11/1969, tổng tư lệnh quân đội Labanon là Emile Bustani và Arafat ký một hiệp ước ở Cairô nhìn nhận ‘cuộc cách mạng của Palestine’ và cho phép những người Palestine ở Lebanon ‘tham gia vào cuộc chiến đấu bằng võ trang mà không tác hại cho chủ quyền và an ninh của Lebanon’. Bản hiệp ước này có công hiệu gần 20 năm, cho đến khi Lebanon hủy bỏ nó vào tháng 5/1987.

 

Vào thời khoảng 1970-1971, vì đương đầu với cuộc chiến đấu ở Jordan với cả ngàn người bị thiệt mạng, Tổ Chức Giải Phóng Palestine chuyển trụ sở của mình tới Labanon để có thể thực hiện các cuộc đột kích Do Thái. Một nhóm khủng bố Palestine dính dáng với Tổ Chức Giải Phóng Palestine được hình thành. Tên của nhóm này là ‘Tháng Chín Đen’ – một danh xưng ám chỉ cuộc trừng trị thẳng tay của người Jordan đối với người Palestine vào Tháng Chín năm 1970. 

 

Vào năm 1972, Nhóm Tháng Chín Đen tấn công đội Do Thái tham dự Thế Vận Hội ở Munich, Đức quốc. Sau một cuộc đối chọi làm cho một huấn luyện viên và một thể thao viên bỏ mạng, thành phần khủng bố bắt 9 thể thao viên Do Thái làm con tin, đòi Do Thái phải thả các tù nhân Palestine để đổi lại các con tin của Do Thái. Do Thái chối từ, và một cuộc bắn nhau giữa thành phần tấn công và chính quyền Tây Đức gây cho tất cả 9 con tin, 4 tay khủng bố và 1 cảnh sát chết.

 

Vào ngày 17/7/1981, lực lượng Do Thái dội bom các tổng hành dinh Tổ Chức Giải Phóng Palestine ở West Beirut, sát hại trên 300 thường dân. Cuộc tấn công dẫn đến một cuộc đình chiến giữa Do Thái, Tổ Chức Giải Phóng Palestine, và Syria bấy giờ đang có quân đội ở Lebanon. Cuộc đình chiến kéo dài tới 6/6/1982, khi Do Thái xâm chiếm Lebanon với quân số khoảng 60 ngàn để tiêu diệt Tổ Chức Giải Phóng Palestine, sau cuộc ám sát vị lãnh sự của Do Thái ở Britain. Arafat và Tổ Chức Giải Phóng Palestine tẩu thoát sang Lebanon vào tháng 8 và định cư ở Tunis cho đến khi chuyển tới Gaza vào năm 1994.

 

Vào thời điểm này, một nhóm dân quân Hồi Giáo phái Shiite là Hezbollah nổi lên như một lực lượng ở Beirut, ở Bekaa Valley và miền nam Lebanon. Được Iran bảo trợ, theo kiểu mẫu Vệ Binh Cách Mạng của Iran, và được Syria nâng đỡ, nhóm Hezbollah muốn thiết lập một quốc gia Hồi Giáo Shiite ở Lebanon và đẩy những thành phần thân Tây Phương như Do Thái và Hoa Kỳ ra khỏi miền này.

 

Nhóm Hezbollah bắt đầu thực hiện các cuộc tấn công tự sát, đầu tiên vào ngày 18/4/1983 ở Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Tây Beirut sát hại 63 người, một dấu báo cho thấy trước các cuộc tấn công sau này chống lại Hoa Kỳ và những kẻ thân Tây Phương. Lần thứ hai vào ngày 23/10/1983, cuộc nổ bom tự sát của Hezbollah đã làm nổ tung các tổng hành dinh của những lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ và Pháp ở Beirut, sát hại 298 người, trong đó có 241 Hải Quân Hoa Kỳ cùng với các nhân viên quân sự khác. Quân đội Hoa Kỳ đã rút khỏi Lebanon sau đó ít tháng.

 

Vào tháng 7/1993, Do Thái tấn công miền nam Lebanon trong một cuộc hành quân dài cả tuần lễ với mục đích chấm dứt các cuộc tấn công của nhóm Hezbollah vào các tỉnh của Do Thái. Tháng 4/1996 xẩy ra một trận chiến 16 ngày giữa Do Thái và các dân quân nhóm Hezbollah, gây cho 137 người thiệt mạng, hầu hết là thường dân Lebanon. Tháng 9/2003, các máy bay chiến đấu của Do Thái đánh vào miền nam của Lebanon để trả đũa cho các đầu đạn bắn hạ máy bay của nhóm Hazbollah tấn công những máy bay của Do Thái ở trong vùng ấy.

 

Tháng 7/2006, nhóm dân quân Hezbollah tiến vào Do Thái, giết 3 quân nhân Do Thái và bắt cóc 2 quân nhân khác để đòi trao đổi tù binh, một đòi hỏi bị Do Thái bác bỏ. Năm quân nhân Do Thái khác lại bị phục kích chết. Do Thái trả đũa bằng một cuộc phong tỏa hải quân và dội bom hằng trăm mục tiêu ở Lebanon, bao gồm cả phi trường Beirut và các tổng hành dinh của Hezbollah ở miền nam Beirut. Nhóm Hezbollah phản công bằng những cuộc tấn công rocket vào các thành phố bắc Do Thái. Cho tới nay cuộc chiến kéo dài tới hai tuần lễ, với cả mấy trăm mạng người Lebanon bị tử vong, và cả một nước Lebanon trở thành biến loạn và chạy loạn chẳng khác gì một Việt Nam cuối Tháng Tư Đen 1975.

 

Chúa Nhật XVI, 23/7/2006, ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói và làm như sau. Trước hết, Trong bài Huấn Từ Truyền Tin cho chính Chúa Nhật 23/7 này, ngài đã nói như thế này:

 

“Tôi hết sức muốn lập lại lời kêu gọi này với đôi bên đang xung đột nhau trong việc chấp nhận việc ngưng bắn ngay tức khắc, và hãy cho phép thực hiện việc viện trợ nhân đạo, nhờ đó, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, tìm cách bắt đầu thực hiện những cuộc thương thảo với nhau.

 

“Tôi xin lợi dụng dịp này để tái khẳng định quyền lợi của nhân dân Lebanon được có một xứ sở nguyên vẹn và chủ quyền, quyền lợi của nhân dân Israel được sống trong hòa bình nơi đất nước của mình, và quyền lợi của nhân dân Palestine được có một quê hương tự do và chủ quyền.

 

“Ngoài ra, tôi đặc biệt cảm thấy gắn bó với thành phần dân chúng không thể tự vệ, bị ảnh hưởng một cách bất công trong một cuộc xung đột mà họ chỉ là nạn nhân: cả những người dân ở Galilêa, bị bắt buộc phải sống trong các chỗ nương trú, cũng như đại đa số người dân Lebanon, thành phần đã hơn một lần chứng kiến xứ sở của mình bị tàn phá, và đành phải bỏ lại tất cả để sống còn ở một nơi khác.

 

“Tôi dâng lên Thiên Chúa lời nguyện cầu đau thương, xin cho ước nguyện hòa bình của đại đa số dân chúng sớm được hiện thực, nhờ việc dấn thân chung của những ai hữu trách. Tôi cũng xin lập lại lời kêu gọi của tôi với tất cả mọi tổ chức bác ái hãy biểu lộ một cách đặc biệt tình đoàn kết với những thành phần ấy”.

 

Ngoài ra, ngài còn làm một việc trong ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông, đó là, vào lúc 5 giờ 30 chiều cùng ngày, ngài đã đến nhà thờ Saint George nhỏ, cách chỗ ngài đang nghỉ mát thuộc vùng núi Alps Ý quốc mấy cây số, và sau phần Lời Chúa, ngài tiếp tục lên tiếng về “tình hình thê thảm ở Trung Đông… nơi chiến tranh kéo dài giữa Kitô hữu, tín đồ Hồi giáo và người Do Thái”, như sau:

 

“Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ và ban hòa bình cho chúng con; xin ban cho chúng con hòa bình ngay hôm nay, chứ không phải là ngày mai hay ngày mốt!... Vào lúc này đây, lúc mà danh Chúa bị lạm dụng hết sức, chúng ta cần phải khẳng định rằng thập giá chiến thắng bằng yêu thương, khẳng định rằng dung nhan của Thiên Chúa là những gì chiến thắng và chiếu soi cùng an ủi thế giới… Chúng ta cần chứng thực cho cuộc Thiên Chúa chiến thắng bất bạo động.

 

“Bạo động cần phải được đáp ứng bằng tình yêu như của Chúa Kitô là một tình yêu thương cho đến chết. Đó là đường lối chiến thắng khiêm hạ của Thiên Chúa, không phải bằng một đế quốc quyền lực hơn, mà là bằng một tình yêu chịu đựng cho tới cùng… Việc Chúa Giêsu hòa giải và hiến tế không phải là những gì vô ích luống công… Đường lối hiệp thông Thánh Thể là những gì thắng vượt những khác biệt về văn hóa…. Đó là thứ quyền lực thiết lập hòa bình trên thế giới vậy.

 

“Ngày nay, trong một thế giới đa văn hóa và đa tôn giáo, nhiều người đã cố gắng nói rằng: Về vấn đề hòa bình trên thế giới giữa các tôn giáo và văn hóa thì tốt hơn đừng nói quá nhiều về đặc tính đặc biệt của Kitô Giáo, tức là về Chúa Giêsu, về Giáo Hội, và về các bí tích. Hãy cứ để mặc kệ những điều gì có vẻ chung chung. Thế nhưng nó lại là những gì không đúng. Tình yêu, sứ điệp của tình yêu và của tất cả những gì chúng ta có thể làm cho những ai bị khổ đau trên thế giới này cũng cần phải được hỗ trợ bởi chứng từ của Vị Thiên Chúa này, của cuộc Thiên Chúa chiến thắng bằng việc bất bạo động của thập giá Người”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL 

 

 

TOP

 

Đức Thánh Cha ấn định Ngày Cầu Nguyện Và Thống Hối cho Hòa Bình ở Trung Đông: Chúa Nhật 23/7/2006

 

Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh đã được chỉ định phổ biến thông báo sau đây:

 

“Đức Thánh Cha đang hết sức quan tâm theo dõi những số mệnh của tất cả mọi người trong cuộc và đã công bố Chúa Nhật này, 23/7, là một ngày đặc biệt để cầu nguyện và thống hối, kêu gọi các vị mục tử và tín hữu thuộc tất cả mọi Giáo Hội riêng, cũng như tất cả mọi tín đồ trên thế giới, hãy nài xin Thiên Chúa ban tặng ân hòa bình quí báu.

 

“Đức Thánh Cha đặc biệt hy vọng rằng những lời nguyện cầu sẽ được dâng lên Chúa để xin cho việc ngưng chiến ngay giữa đôi bên, cho việc mở rộng những phương tiện nhân đạo để giúp đỡ những người khổ đau, và cho những việc thương thảo hữu lý và hữu trách bắt đầu để chấm dứt những tình trạng bất công khách quan đang xẩy ra ở miền đất ấy; như đã được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nhắc đến trong buổi Nguyện Kinh Truyền Tin Chúa Nhật vừa rồi, 16/7.

 

“Thực ra, những người Lebanon có quyền mong cho xứ sở mình có được những gì là nguyên vẹn và chủ quyền, những người Do Thái có quyền sống hòa bình nơi Quốc Gia của họ, và những người Palestine cũng có quyền có được một quê hương tự do và tự chủ.

 

“Trong lúc sầu thương này, Đức Thánh Cha cũng kêu gọi các tổ chức bác ái hãy giúp đỡ tất cả mọi người đang gặp nạn bởi cuộc xung đột tàn bạo này”.

 

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 20/7/2006

 

 

TOP

 

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh: Tống Cựu Nghinh Tân - Tại sao Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chọn  tân thay cựu?

 

Hôm 22/6/2006, văn phòng báo chí của Tòa Thánh đã loan tin Đức Thánh Cha Biển Đức XVI  bổ nhiệm vị thay thế Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh đương nhiệm Angelo Sodano sẽ về hưu theo tuổi tác, đó là Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Tổng Giám Mục ở Genoa, nguyên thư ký Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin thời Đức Hồng Y Joseph Ratzinger làm tổng trưởng, và là vị đã đại diện Tòa Thánh gặp Chị Lucia về Bí Mật Fatima phần thứ ba trước khi bí mật này được tiết lộ vào ngày 26/6/2000. Ngày vị tân quốc vụ khanh chính thức thi hành trách vụ là ngày 15/9/2006, ngày Đức Thánh Cha đã xin vị đương nhiệm tiếp tục nhiệm vụ cho tới lúc ấy.

 

Sau thông báo chính thức này, ĐHY Sodano đã phổ biến những lời phát biểu để bày tỏ: “lòng biết ơn với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, vị đã bất chấp những hạn hẹp về tuổi tác của tôi muốn lập lại niềm tin tưởng được cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II giành cho tôi, khi gọi tôi lãnh nhận trách nhiệm này 15 năm trước đây. Từ nay trở đi, tôi hướng lời chúc mừng thân tình nhất tới vị thừa nhiệm mai này của tôi là Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, vị tôi có được những liên hệ lâu dài trân trọng và thân tình”.

 

Đức Hồng Y Sodano, 78 tuổi, là trưởng Hồng Y Đoàn, thay thế Đức Hồng Y Joseph Ratzinger sau khi cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tạ thế và tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI đăng quang. Là khâm sứ Tòa Thánh ở Chí Lợi từ năm 1977 đến 1988, ngài đã thành công trong việc làm môi giới của Đức Thánh Cha giữa Chí Lợi và Á Căn Đình nơi cuộc tranh chấp về đất đai lãnh thổ có thể đưa đến chiến tranh. Vào tháng 5/1988, Đức Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm ngài vào chức vụ thư ký của cơ quan Tòa Thánh bấy giờ được gọi là Hội Đồng Công Vụ của Giáo Hội. Từ tháng 3/1989, qua tông hiến ‘Pastor Bonus’, ngài mang tước hiệu là bí thư văn phòng liên hệ chư quốc. Vào tháng 12/1990, Đức Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm vị phò bí thư quốc vụ khanh, và vào ngày 29/6/1991 làm quốc vụ khanh sau ngày được thăng hồng y. Ngày 30/4/2005, tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI tái xác định vị trí của ngài cho đến khi chính ngài xin từ nhiệm về hưu.

 

Đức Hồng Y Bertone, 71 tuổi, quê quán ở Piedmont Ý quốc. Ngài sinh ra ở Romano Canavese, là con thứ 5 trong gia đình 8 người con. Từ nhỏ ngài đã ham mê ơn gọi dòng Don Bosco và đã được lãnh chức linh mục ở dòng này năm 25 tuổi.

 

Vào năm 1989, ngài được bổ nhiệm làm viện trưởng Đại Học Salêsiô dòng của ngài, và năm 1991, Đức Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm ngài làm TGM Vercelli, Ý Quốc. Vào năm 1995, ngài lại được cùng vị giáo hoàng bổ nhiệm làm thư ký của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin. Vào năm 2002, ngài được bổ nhiệm làm TGM ở Genoa và được thăng hồng y vào năm sau đó.

 

Để biết được lý do tại sao ngài được vị giáo hoàng đương nhiệm Biển Đức XVI chọn vào vị thế đứng thứ hai sau Giáo Hoàng về hành chánh của Quốc Đô Vatican này, chứ không chọn ngài vào chức vụ Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin thay Hồng Y Joseph Ratzinger đã trở thành Giáo Hoàng Biển Đức XVI, chúng ta hãy cùng nhau đọc bức thư Giáo Hoàng Biển Đức XVI gửi cho tín hữu giáo phận Genoa của vị tân quốc vụ khanh Tòa Thánh, nguyên văn như sau:

 

Tín Hữu Genoa thân mến,

Chúc Bình An và Phép Lành Tòa Thánh!

 

Tôi viết cho anh chị em nhân dịp chính thức công khai thông báo về việc bổ nhiệm vị tổng giám mục của anh chị em làm tân Quốc Vụ Khanh.

 

Trong 3 năm vừa qua, thời gian ngài đã dẫn dắt Giáo Hội ở Genoa, anh chị em đã cảm nhận được những tặng ân và phẩm chất cho thấy ngài là một vị mục tử trung thành, nhất là khả năng dung hợp việc chăm sóc mục vụ với đức khôn ngoan về tín lý.

 

Chính vì những tính chất ấy, cùng với việc hiểu biết và tin tưởng nhau chúng tôi đã có được trong những năm chúng tôi cùng nhau phục vụ tại Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, là những gì đã khiến tôi chọn ngài vào công việc cao quí và tinh tế này, hầu phục vụ Giáo Hội hoàn vũ ở Tòa Thánh.

 

Tôi biết rằng tôi đã đòi hỏi một hy sinh lớn lao nơi Hồng Y Bertone; tôi biết rằng thành phần tín hữu được ký thác cho ngài chăm sóc ở Genoa cũng không nhỏ nhoi gì, song tôi tin tưởng rằng lòng cảm mến của ngài và những lời nguyện cầu của ngài cho cộng đồng của anh chị em sẽ được mang đến ad Petri sedem.

 

Lịch sử giáo phận của anh chị em đã cho thấy được một tấm lòng quảng đại trung thành với vị Đại Diện của Chúa Kitô, một tấm lòng quảng đại trung thành tôi xin kêu gọi, cũng vì danh hiệu tôi đã chọn cho thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của tôi, danh hiệu theo Vị Giáo Hoàng người Genoa trước đây (biệt chú của người dịch: ở đây Đức Biển Đức XVI có ý nói tới Đức Biển Đức XV), vị Giáo Hoàng rất sùng mộ Đức Bà Our Lady della Guardia. Tôi xin ký thác mọi người cho Mẹ vào thời điểm chuyển tiếp này đây, một thời điểm khó khăn song đầy ân sủng, vì bào giờ ‘Thiên Chúa cũng làm mọi sự cho thiện ích của những ai mến yêu Ngài’ (Rm 8:28).

 

Chính vì lòng quảng đại trung thành và tuân phục của anh chị em đối với Tòa Thánh mà tôi sửa soạn cống hiến sớm bao nhiêu có thể việc bổ nhiệm một vị thừa kế mới cho Giáo Tòa Thánh Syrus.

 

Tôi xin anh chị em hãy hợp với tôi để nguyện xin Thần Linh là Đấng sẽ giúp chúng ta trong việc nhận thức này, và từ lúc này, tôi hứa tưởng nhớ và ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả mọi thành phần ở Giáo Hội Genoa: cho các vị mục tử, cho những con người sống đời tận hiến, cho các gia đình, cho giới trẻ và cho bệnh nhân.

 

Tại Vatican ngày 22/6/2006

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 22/6 và 18/7/2006

 

 

TOP

 

Tòa Thánh Lên Án Bạo Động ở Trung Đông

 

Thứ Sáu 14/7/2006, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Angelo Sodano đã tuyên bố những lời sau đây trên đài phát thanh Vatican:

 

“Chúng tôi nhận được tin tức thật là lo âu xẩy ra ở Trung Đông.

 

“Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và tất cả mọi cộng tác viên của ngài đang hết sức theo dõi những diễn tiến thê thảm mới xẩy ra có nguy cơ gây ra một cuộc xung đột có ảnh hưởng ở tầm mức quốc tế.

 

“Như trong quá khứ, Tòa Thánh cũng lên án cả bên gây ra những cuộc khủng bố tấn công lẫn bên thực hiện những cuộc trả đũa về quân sự. Thật vậy, quyền tự vệ của một Quốc Gia không châm chước cho nó việc tôn trọng các qui chuẩn về luật lệ quốc tế, nhất là liên quan tới vấn đề bảo vệ thành phần dân sự.

 

“Tòa Thánh đặc biệt cảm thấy tiếc về cuộc tấn công Lebanon, một quốc gia tự do và tự trị, và bày tỏ sự gần gũi của mình với những ai chịu đựng thật nhiều để bênh vực nền độc lập của họ.

 

“Một lần nữa, hiển nhiên là chỉ có một con đường duy nhất xứng hợp với nền văn minh của chúng ta đó là việc thành thực đối thoại giữa đôi bên đối chọi nhau”.

 

(xin xem tiếp ngày mai: Xung Khắc giữa Lebanon và Do Thái - Diễn tiến kéo dài gần 40 năm)

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 14/7/2006

 

 

TOP

 

Tòa Thánh Vatican tấn công kỹ nghệ tình dục ở Giải Vô Địch Túc Cầu Thế Giới tại Đức Quốc

 

Đức Tổng Giám Mục Agostino Marchetto, thư ký của Hội Đồng Tòa Thánh Về Di Dân Và Du Dân, đã nói với Đài Phát Thanh Vatican rằng ở đằng sau hiện tượng mãi dâm, một hiện tượng làm lu mờ đi cái bối cảnh của cuộc tranh tài túc cầu Vô Địch Thế Giới 2006 ở Đức Quốc, là vấn đề buôn bán con người.

 

Hội Nghị Quốc Hội của Hội Đồng Âu Châu cảnh báo là có từ 30 đến 60 ngàn nữ giới và nữ nhi trở thành nạn nhân cho việc bị bó buộc làm mãi dâm và bị lạm dụng trong kỳ tranh giải Vô Địch túc cầu thế giới này.

 

Việc mãi dâm được hợp pháp hóa ở Đức vào năm 2002. Kỹ nghệ tình dục đã sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho sóng người lên đến 3 triệu kẻ hâm mộ túc cầu đổ về Đức, bằng việc xây cất những cơ sở làm điếm và những ‘túp lều làm tình’, có bãi đậu xe riêng, phòng tắm và khu vực bảo toàn quyền lợi tư riêng của thân chủ.

 

Nói với các đội túc cầu, ĐTGM Marchetto cho biết rằng ‘Cần phải loại bỏ đi một số thẻ đỏ chống lại thứ kỹ nghệ này, chống lại các thân chủ của nó và các thẩm quyền điều hợp biến cố này.

 

‘Thật vậy, việc mãi dâm là những gì vi phạm đến phẩm vị của con người, làm cho con người trở thành một đối tượng và là một dụng cụ để thỏa mãn tình dục. Nữ giới trở thành một món hàng hóa, còn rẻ hơn cả thậm chí một vé coi đấu túc cầu nữa’

 

‘Một số người nữ bị bắt buộc thi hành ‘việc chuyên nghề’ này ngược lại với ý muốn của họ, bởi thế họ trở thành đối tượng cho việc buôn bán con người’.

 

Nhiều tổ chức, bao gồm cả Hội Ân Xá Quốc Tế, các dòng tu, Quốc Hội Âu Châu và Hội Đồng Âu Châu, đã bài bác việc làm ấy, và viên chức Vatican trên đây đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của ‘các vị thẩm quyền Đức Quốc’: ‘Trái banh đang nằm ở bên phần đất của họ’.

 

Một năm trước đây, Hội Đồng Tòa Thánh Về Di Dân Và Du Dân đã tổ chức một hội nghị thế giới về vấn đề mãi dâm và việc buôn người.

 

Bản tuyên ngôn đúc kết của cuộc hội nghị này đã viết rằng Giáo Hội phải lãnh trách nhiệm bênh vực các quyền lợi hợp lý của những người nữ ấy, cổ võ việc giải phóng họ cũng như nâng đỡ việc kiếm tìm lợi tức của họ.

 

Đó là lý do nhiều dòng nữ đã hoạt động ở Đức để giúp cho những phụ nữ có thể trở thành nạn nhân của các đường giây mafia hay bị những áp lực bởi những vấn đề khác.

 

Trong số các tổ chức cứu trợ này đặc biệt có tổ chức Liên Kết Với Các Phụ Nữ Bị Khốn Khó là tổ chức qui tụ được khoảng 20 dòng tu nữ. Nhóm này cống hi61n một loạt những dịch vụ ở các trung tâm đón tiếp, bao gồm nhà ở an toàn cùng các chương trình hội nhập giáo dục và làm việc.

 

Vị TGM 65 tuổi trên đây nói rằng những người nữ bị khai thác cần phải được cứu trợ bởi các vị có thẩm quyền để họ có thể tái hội nhập ‘bằng phép được tạm cư hay thường cư. Ngoài ra, họ cần phải làm sao để có thể kiếm được việc làm xứng đáng và những hình thức bồi thường’

 

‘Cần phải có những sáng kiến về thứ loại này để phục hồi phẩm giá. Điều này bao gồm việc áp dụng luật lệ và trừng phạt những ai mưu lợi từ kỹ nghệ tình dục và buôn người. Việc buôn người cần phải bị theo dõi và trừng phạt bằng tiền bạc’.
 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 8/6/2006

 

 

TOP

Tuyên Cáo Tòa Thánh về Vấn Đề Hành Sử trước Tình Hình Iran

Trưa hôm Thứ Bảy 3/6/2006, vị Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh là Joaquin Navarro Valls đã phổ biến bản tuyên cáo sau đây:

 

“Có một số phóng viên báo chí đã bày tỏ ý muốn biết xem quan điểm của Tòa Thánh ra sao về những diễn tiến mới đây trong các cuộc thương thuyết quốc tế liên quan tới vấn đề chương trình nguyên tử của Iran.

 

“Nếu được thông tin xác đáng thì Văn Phòng Báo Chí này chủ trương bày tỏ là Tòa Thánh ủng hộ, như vẫn xẩy ra từ trước đến nay, bất cứ khởi động nào nhắm đến việc đối thoại cởi mở và xây dựng. Tòa Thánh mạnh mẽ tin tưởng rằng những khó khăn hiện tại cũng có thể và cần phải được thắng vượt bằng những đường lối ngoại giao, sử dụng tất cả mọi phương tiện ngoại giao có được trong tầm tay. 

 

“Cho dù có thực hiện những việc giao tiếp tư riêng đi chăng nữa, dường như đặc biệt là cần phải loại trừ đi những yếu tố khách quan làm ngăn trở việc tin tưởng lẫn nhau, trong khi đó đừng bao giờ loại bỏ bất cứ dấu hiệu thiện chí nào từ bên này hay bên kia, và lưu ý đến danh giá cùng cảm quan của mỗi quốc gia. Nhờ đó mới có thể thực hiện được những bước tiến trong việc tái lập tình hữu nghị với nhau”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 3/6/2006

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Các Hội Đoàn Tông Đồ Giáo Dân Thứ Bảy 3/6/2006

 

Tối Thứ Bảy 3/6/2006, áp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Đức Thánh Cha đã gặp trên 400 ngàn đại diện các phong trào thuộc giáo hội và các đoàn thể mới. Trước cuộc họp, ngài đã đứng trên chiếc giáo hoàng xa mui trần chạy trên con đường Via della Conciliazione và vòng Quảng Trường Thánh Phêrô để chào và ban phép lành cho đoàn người hành hương.

 

Trước khi cử hành Giờ Kinh Phụng Vụ Ban Tối áp Lễ Hiện Xuống, ĐTGM Stanislaw Rylko, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân đọc lời chào mừng ngắn, sau đó mấy lời của Chiara Lubich, sáng lập viên Phong Trào Focolari.

 

Các bài Thánh Vịnh được đọc xen kẽ với những suy niệm của Andrea Riccardi, sáng lập viên Cộng Đồng Sant’Egidio, của Kiko, sáng lập viên tổ chức Neocatechemenal Way, và của Đức Ông Julian Carron, chủ tịch hiệp hội Hiệp Thông Và Giải Phóng.

 

Sau đó ĐTC bắt đầu bài giảng của ngài, bằng việc nhắc lại việc Đức Gioan Phaolô II đã khởi xướng lên một cuộc họp mặt như thế này vào năm 1998, Năm Giáo Hội Kính Chúa Thánh Thần trong giai đoạn gần sửa soạn đón mừng Đại Năm Thánh 2000: “Vị đại truyền bá phúc âm hóa ấy của thời đại chúng ta đã cho rằng các hội đoàn và cộng đồng của anh chị em là những gì ‘được quan phòng’”.

 

“Lễ Hiện Xuống chẳng những là nguồn gốc của Giáo Hội, và bởi thế còn đặc biệt là ngày lễ hội của Giáo Hội nữa; Lễ Hiện Xuống cũng là lễ của việc tạo dựng. Thế giới này không tự mình mà có, nó xuất hiện từ Thần Linh sáng tạo của Thiên Chúa. ... Là Kitô hữu, thành phần tin vào Thần Linh Sáng Tạo đều nhận thấy sự kiện là chúng ta không thể nào sử dụng và làm dụng thế giới vật chất này như một thứ khí cụ thuần túy theo ước muốn của chúng ta.

 

“Thiên Chúa tiến đến với chúng ta qua việc tạo thành. Tuy nhiên, việc tạo dựng tốt lành của Thiên Chúa ấy, qua giòng lịch sử của nhân loại, đã bị bao phủ bởi một lớp bụi dầy đặc đến nỗi làm cho nó không thể nào có thể, ít là khó có thể, nhận ra nơi nó cái phản ảnh của Đấng Hóa Công”.

 

“Sự sống và tự do là những gì tất cả chúng ta đều mong ước. Sự sống chỉ được tìm thấy nơi việc trao ban chứ không phải nơi việc chiếm hữu nó. Đó là những gì chúng ta cần phải học nơi Chúa Kitô, và đó là những gì chúng ta học được từ Thánh Linh, Đấng là một tặng ân tinh tuyền, Đấng là việc Thiên Chúa ban Chính Mình Ngài.

 

“Các phong trào thuộc giáo hội cần là và phải là những học đường về tự do, về thứ tự do đích thực ấy….. Trong thế giới này, một thế giới đầy những thứ tự do sai lầm làm hủy hoại môi sinh và loài người, chúng ta, nhờ sức mạnh của Thánh Linh, muốn cùng nhau học biết cái tự do chân thực ấy… Tuyệt vời biết bao khi được thanh thoát hoàn toàn tự do trong việc làm con cái Thiên Chúa.

 

“Thánh Thần, khi ban sự sống và tự do cũng ban hiệp nhất nữa. Ba tặng ân này là những gì bất khả phân ly.  … Nhìn thấy cuộc qui tụ này ở Quảng Trường Thánh Phêrô đây, chúng ta nhận thấy rằng Ngài luôn luôn làm phát sinh ra những tặng ân mới ra sao; chúng ta thấy Ngài đang tạo nên các nhóm khác nhau biết mấy, và cách thức Ngài hoạt động một cách hòa hợp mới mẻ hơn bao giờ hết.

 

“Tính cách đa phương và hiệp nhất đi đôi với nhau. Ngài thổi đâu tùy Ngài. Ngài làm thế một cách đột xuất, ở những nơi không thể ngờ được và bằng những hình thức không thể nào nghĩ tới trước đó….. Tính cách đa dạng và hiệp nhất là những gì bất khả phân ly. Ngài muốn tính cách đa dạng của anh chị em, và Ngài anh chị em làm thành một thân thể duy nhất, hiệp nhất với những cấp trật bền vững – những kết nối (nơi thân thể) – của Giáo Hội, với các vị thừa kế chư Tông Đồ và vị thừa kế Thánh Phêrô…

 

“Các bạn thân mến, tôi xin các bạn hãy hợp tác hơn nữa, nhiều hơn nữa vào thừa tác tông vụ hoàn vũ của Giáo Hoàng, bằng việc mở cửa cho Chúa Kitô. Đó là việc Giáo Hội phục vụ tốt đẹp nhất đối với nhân loại, và nhất là đối với người nghèo, nhờ đó đời sống của cá nhân con người, một trật tự chân chính hơn nơi xã hội và việc đồng chung sống an bình giữa các dân nước được thể hiện trong Chúa Kitô là ‘viên đá gốc’ xây dựng một thứ văn minh thực sự, một thứ văn minh yêu thương”.

 

Sau bài giảng của Đức Thánh Cha là việc tưởng niệm Bí Tích Thêm Sức với việc kêu cầu Thánh Linh và việc tuyên xưng đức tin.

 

Sau khi hát ca vịnh Ngợi Khen, hai vị đại diện hai phong trào thuộc giáo hội là Luis Fernando Figari từ Phong Trào Sống Đời Kitô Hữu, và Patti Gallagher Mansfield từ Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Kitô Giáo, đã ngỏ lời cám ơn Đức Thánh Cha.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 3/6/2006

 

 

TOP

 

Tòa Thánh Thông Báo Quyết Định về Vụ Cáo Buộc Vị Sáng Lập Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (Legionaries of Christ)

 

Sau đây là bản thông báo của Tòa Thánh được văn phòng báo chí của Tòa Thánh phổ biến liên quan đến con người của vị sáng lập dòng Đạo Binh Chúa Kitô là Cha Marcial Maciel Degollado.

 

“Bắt đầu từ năm 1998, Thánh Bộ Tín Lý Đức Lý đã nhận được những lời cáo giác, mà một phần của những cáo giác này đã được công luận biết tới, về Cha Marcial Maciel Degollado, vị sáng lập của Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (the Congregation of the Legionaries of Christ), về những tội ác thuộc thẩm quyền riêng của thánh bộ này. Vào năm 2002, Cha Maciel đã phổ biến một bản tuyên ngôn phủ nhận những lời cáo buộc ấy và bày tỏ nỗi bất bình về việc xúc phạm gây ra cho mình bởi một cựu tu sĩ Dòng Đạo Binh Chúa Kitô. Vào năm 2005, vị lý do cao tuổi, Cha Maciel đã từ chức bề trên tổng quyền Dòng Đạo Binh Chúa Kitô.

 

“Tất cả những yếu tố này đã được Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin thận trọng cứu xét và – theo Tự Sắc ‘Sacramentorum sanctitatis tutela’ được Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II ban hành ngày 30/4/2001 – vị tổng trưởng bấy giờ của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin là Hồng Y Joseph Ratzinger, đã truyền thực hiện một cuộc điều tra về các lời cáo buộc này. Trong khi chờ đợi thì Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II băng hà và Hồng Y Ratzinger được tuyển chọn là tân Giáo Hoàng.

 

“Sau khi kỹ lưỡng tìm hiểu các thành qủa của cuộc điều tra này, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, dưới sự lãnh đạo của vị tân tổng trưởng là Hồng Y William Joseph Levada, đã quyết định – vì lưu tâm tới vấn đề cao tuổi của Cha Maciel cũng như vấn đề sức khỏe yếu kém của ngài – bãi bỏ cuộc điều trần theo giáo luật và mời cha hãy giành cuộc đời sống thống hối và nguyện cầu, ngưng thực hiện tất cả mọi hình thức thừa tác vụ công cộng. Đức Thánh Cha đã chấp thuận những quyết định này.

 

“Riêng về việc tông đồ sáng giá của Đạo Binh Chúa Kitô cũng như của Hiệp Hội ‘Regnum Christi’ bởi con người của vị Sáng Lập này là những gì được tri ân cảm nhận”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 19/5/2006 

 

Dòng Đạo Binh Chúa Kitô đáp ứng Bản Thông Báo của Tòa Thánh Quyết Định về Vụ Cáo Buộc Vị Sáng Lập của mình

 

Sau đây là bản tuyên ngôn của Dòng Đạo Binh Chúa Kitô được phổ biến cùng ngày Tòa Thánh phổ biến Bản Thông Báo về vị sáng lập của Dòng này là Cha Marcial Maciel.

 

Liên quan tới việc đúc kết vấn đề điều tra về những lời cáo buộc Cha Marcial Maciel, người cha sáng lập yếu dấu của chúng tôi, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô xin phổ biến bản tuyên ngôn sau đây:

 

1.                  Cha Marcial Maciel đã bị nhiều lời cáo buộc nặng nề trong đời sống của mình. Mấy năm vừa rồi, một số lời cáo buộc ấy đã được trình với Tòa Thánh để tiến hành cuộc điều tra theo giáo luật. 

 

2.                  Trước những cáo buộc đối với mình, ngài đã tuyên bố là mình vô tội, và theo gương Chúa Giêsu Kitô, dù sao cũng đã quyết không bênh vực bản thân mình.  

 

3.                  Vì vấn đề cao tuổi của ngài cũng như vấn đề sức khỏe yếu đuối của ngài, Tòa Thánh đã quyết định không thực hiện tiến hành theo giáo luật mà là ‘mời ngài giành cuộc đời sống nguyện cầu và thống hối, bỏ tất cả mọi thừa tác vụ công cộng’.

 

4.                  Cha Maciel, với tinh thần tuân phục Giáo Hội vốn là đặc tính của mình, ngài đã tin tưởng chấp nhận bản thông báo ấy, hoàn toàn thản nhiên và an tâm, biết rằng đó là một thánh giá được Thiên Chúa là Cha Xót Thương khiến ngài phải chịu để chiếm được nhiều ân sủng cho Đạo Binh Chúa Kitô và Phong Trào Regnum Christi - Vương Quốc của Chúa Kitô.

 

5.                  Đạo Binh Chúa Kitô và các phần tử của Phong Trào Regnum Christi - Vương Quốc của Chúa Kitô, theo gương Cha Maciel và liên kết với ngài, bao giờ cũng chấp nhận và sẽ chấp nhận những chỉ dẫn của Tòa Thánh bằng một tinh thần tuân phục và đức tin sâu xa. Chúng tôi xin lập lại việc dấn thân của chúng tôi trong vấn đề hết sức nhiệt tình sống đặc sủng đức ái của mình và vấn đề truyền bá Vương Quốc của Chúa Kitô bằng cách phục vụ Giáo Hội.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/5/2006 

 

Các Vị Giám Mục Mễ Tây Cơ: Tuyên Ngôn trước Quyết Định của Tòa Thánh về Vụ Cáo Buộc Vị Sáng Lập Dòng Đạo Binh Chúa Kitô

 

Sau đây là bản tuyên ngôn của các vị giám mục Mễ Tây Cơ về Bản Thông Báo của Tòa Thánh liên quan tới Vị Sáng Lập Dòng Đạo Binh Chúa Kitô và Phong Trào Vương Quốc Chúa Kitô – Regnum Christi là Cha Marcial Maciel, một linh mục người Mễ Tây Cơ, 86 tuổi. Bản tuyên ngôn này đã được phổ biến cùng ngày Thứ Sáu 19/5/2006 với Thông Báo của Tòa Thánh và Tuyên Ngôn của hai tổ chức được vị linh mục này sáng lập và khởi xướng.

 

Thành Phố Mễ Tây Cơ ngày 19/5/2006

 

Hội đồng giám mục Mễ Tây Cơ xin hoàn toàn hiệp thông của mình với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong việc ngài quyết định đã được điều tra về các lời cáo buộc đối với Cha Marcial Maciel, vị sáng lập Dòng Đạo Binh Chúa Kitô.

 

Đức Thánh Cha đã phê chuẩn các quyết định của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin dưới sự lãnh đạo của Hồng Y William Joseph Levada, vị đã nói rằng – vì vấn đề cao tuổi và yếu sức của Cha Maciel – cuộc tiến hành về giáo luật được hủy bỏ và mời Cha sống cuộc đời thinh lặng nguyện cầu và thống hối, ngưng làm thừa tác vụ công cộng.

 

Chúng tôi biết rằng các tu sĩ Dòng Đạo Binh Chúa Kitô đã chấp nhận quyết định này của Tòa Thánh với một tinh thần tuân phục và tin tưởng sâu xa. Như bản tuyên cáo chính thức của Tòa Thánh đã làm, chúng tôi cũng nhìn nhận công cuộc truyền bá phúc âm hóa và xã hội của Dòng Đạo Binh Chúa Kitô đã thực hiện cho hằng triệu người Mễ Tây Cơ.

 

Việc tông đồ được các tu sĩ Dòng Đạo Binh Chúa Kitô thực hiện trong xứ sở này, qua các học đường, đại học cùng với hoạt động khác về xã hội cùng truyền bá phúc âm hóa chắc chắn là những gì mang lại thiện ích cho Giáo Hội ở Mễ Tây Cơ.

 

Đức Cha Carlos Aguiar Retes

Giám Mục Texcoco

Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Mễ Tây Cơ

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 21/5/2006 

 

TOP

 

Kỷ Niệm 25 Năm Biến Cố Đức Gioan Phaolô II Bị Ám Sát: Thánh Tượng Mẹ Fatima Về Vatican và Tượng Đức Gioan Phaolô Ở Tô Cách Lan

 

Ngày 13/5/2006 tới đây chẳng những là ngày Lễ Mẹ Fatima của Giáo Hội Hoàn Vũ mà còn là ngày kỷ niệm biến cố định mệnh của riêng Đức Gioan Phaolô II và chung thế giới liên quan đến Đông Âu và Nước Nga trở lại.

 

Đúng thế, nếu Tượng Mẹ Fatima ở Linh Địa Thánh Mẫu Fatima đã được mang về Giáo Đô Vatican ngày 25/3/1984 để Đức Gioan Phaolô II hiệp cùng với tất cả các vị giám mục trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ thế nào, thì ngày 13/5/2006 này, ngày kỷ niệm Đức Gioan Phaolô II bị ám sát song không chết, cũng vậy, Thánh Tượng Mẹ Fatima được mang từ Linh Địa Thánh Mẫu Fatima về Giáo Đô Vatican một lần nữa.

 

Thánh Tượng Mẹ này sẽ được cung nghinh bằng một chiếc trực thăng đến Vatican vào chiều Thứ Bảy 13/5 ở Castel Sant’Angelo. Từ đó, đoàn hành hương sẽ được Đức Hồng Y Ivan Dias ở Bombay đến nghênh đón Thánh Tượng rồi kiệu về Đền Thờ Thánh Phêrô qua con đường Via della Conciliazione.

 

Khi băng ngang qua Quảng Trường Thánh Phêrô, đoàn kiệu sẽ dừng lại ở vị trí Đức Gioan Phaolô II bị ám sát. Đức Hồng Y Camillo Ruini, chủ tịch Công Cuộc Hành Hương Của Người Rôma và là vị đại diện Giáo Hồng ở Rôma sẽ chủ tế Thánh Lễ ở Đền Thờ Thánh Phêrô. Sau đó, việc cử hành sẽ được chấm dứt bằng cuộc bắn pháo bông ở Quảng Trường Thánh Phêrô để tôn vinh Đức Gioan Phaolô II.

 

Theo thông báo gửi cho mạng điện toán toàn cầu Zenit (được mạng điện toán này phổ biến hôm 9/5/2006) của cơ quan Công Cuộc Hành Hương Của Người Rôma thì biến cố này là để nhắc lại “mối liên hệ bất khả phân ly” giữa “Giáo Hoàng Karol Wojtyla và Đức Trinh Nữ Maria”. “Đức Gioan Phaolô II đã nói: ‘Một bàn tay đã bấm cò súng; một bàn tay khác đã làm lệch đi viên đạn’. Thật là đặc biệt khi Đức Gioan Phaolô II muốn dâng một trong những viên đạn do Ali Agca bắn ra cho Trinh Nữ Fatima và viên đạn này được gắn vừa vặn lên triều thiên của Đức Nữ Trinh, như thể đã được ấn định như thế vậy”.

 

Cũng vào ngày Thứ Bảy 13/5/2006 đặc biệt này, tại Tô Cách Lan, một bức tượng Đức Gioan Phaolô II cũng được làm phép bởi Giám Mục Joseph Devine ở Motherwell, có Đức Tổng Giám Mục hưu trí Szczepan Wesoly đặc trách di dân Balan và linh mục Marian Antoni Lakawa đại diện cộng đồng Balan ở Tô Cách Lan tham dự. Bức tượng này được nhóm lo về dự án mục vụ Giáo Xứ Thánh Phanxicô Xavier ở Carfin thực hiện.

 

Nghệ sĩ đắp bức tượng này là Tom Allan. Phát ngôn viên của nhóm này là Tommy Hughes cho biết “Việc nắm được yếu tính của Đức Gioan Phaolô II là một việc rất ư là khó khăn nhưng chúng tôi cảm thấy Tom Allan đã thắng vượt được cái thách đố này”. Vị phát ngôn viên này còn cho biết thêm rằng giáo triều của Đức Gioan Phaolô II “đã có một ảnh hưởng toàn cầu. Ngài rất quan trọng đối với chúng tôi vì chuyến tông du năm 1982 của ngài tới Tô Cách Lan”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 9/5/2006, trừ 2 đoạn đầu  

 

 

TOP

 

Công Giáo và Chính Thống bàn đến Hồn Sống của Âu Châu và Cuộc Khủng Hoảng về Văn Hóa

 

Từ ngày Thứ Tư mùng 3 đến Thứ Sáu mùng 5/5/2006, tại Vienna Áo Quốc đã diễn ra một cuộc gặp gỡ chưa từng thấy, được bảo trợ bởi Hội Pro Oriente ở Vienna và Hội Bradley ở Hoa Kỳ, về văn hóa giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo, và cả hai đều chủ trương rằng việc góp phần của Kitô hữu là những gì bất khả thiếu trong việc góp phần vào việc phục hồi hồn sống cho Âu Châu.

 

Sứ điệp đúc kết cuộc gặp gỡ này chủ trương rằng: “Chúng tôi tin rằng Kitô hữu, bằng việc rao giảng niềm hy vọng xuất phát từ cuộc phục sinh của Chúa Kitô, cùng nhau liên kết với dân chúng thuộc các niềm tin và niềm xác tín khác, có thể giúp cho mọi người sống trong một xã hội đạo hạnh, công chính và an bình”.

 

Chủ tọa cuộc họp này có Đức Hồng Y Poupard, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Văn Hóa, và ĐTGM Chính Thống Kirill ở Smolensk và Kaliningrad, chủ tịch Phân Bộ Liên Hệ Ngoại Giao của Tòa Thượng Phụ Moscow, đã đồng chủ tọa cuộc họp này. Ngoài ra còn có các chuyên viên giáo dân và tu sĩ được chọn bởi cả Vatican và Tòa Thượng Phụ Moscow.

 

Theo các tham dự viên thì cuộc khủng hoảng hiện nay mà tiến trình thống nhất Âu Châu đang trải qua là vì thất bại trong việc thừa nhận Bản Hiệp Ước Hiến Pháp của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Tuy nhiên, đối với thành phần Công Giáo và Chính Thống Giáo, bản đúc kết đã nói:

 

“Cuộc khủng hoảng phân rẽ Âu Châu là cuộc khủng hoàng về lãnh vực văn hóa: Căn tính Kitô Giáo của Âu Châu đang bị phai mờ đi. Tình hình của các dân tộc ở Âu Châu được đánh dấu bằng mối nghi ngờ sâu xa về chính bản thân họ: Họ biết những gì họ có thể làm, nhưng họ không biết họ là ai”.

 

“(Cuộc khủng hoảng này gây ra) những hậu quả nhân khẩu học thảm thương, đó là việc loại trừ trẻ em, việc hiệp nhất không có tương lai, những cuộc hôn nhân thử, những cuộc hôn nhân đồng tính, việc không muốn chia sẻ đời sống với một người trong đời sống hôn nhân. Tất cả những điều ấy là một cuộc thực sự tự sát về nhân khẩu ở Âu Châu, nhân danh cái tôi và chủ nghĩa khoái lạc”.

 

Để đáp ứng những thách đố ấy, thành phần tham dự viên “đều công nhận vai trò quan trọng của sứ vụ giáo dục và huấn luyện. Tất cả việc giáo dục đó là khám phá về một thứ gia sản làm dạy lên tình yêu thương và việc nhìn nhận. Nhờ đó, chúng ta sẽ có thể góp phần vào việc tái nhận thức các căn gốc Kitô Giáo”.

 

Cả Công Giáo lẫn Chính Thống Giáo đều đồng ý về nhu cầu cần giáo dục Kitô hữu “trình bày các giá trị Kitô Giáo một cách toàn vẹn: Chương trình mục vụ về văn hóa tùy thuộc vào việc này”.

 

“Không coi gì hơn Tình yêu Chúa Kitô” là khẩu hiệu được nêu lên để “tìm những đường lối đồng hoạt, dường lối cùng làm chứng đức tin cho một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa Âu Châu về kinh tế thì khổng lồ nhưng tâm linh lại lùn tịt”.

 

Theo các vị tham dự viên thì “việc làm chứng chung này đặc biệt liên quan tới những phương diện bị ảnh hưởng bởi việc hủy hoại về gia đình, về khoa đạo đức sinh học, và về các lãnh vực tín lý xã hội của Giáo Hội”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/5/2006

 

TOP

 

 

Bản Đúc Kết phổ biến cho Phóng Viên ngày 2/5/2006 của Đại Hội Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học liên quan tới đề tài: “Giới Trẻ Đang Tan Biến

 

Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học được thành lập vào năm 1994 để kiến thức tốt đẹp nhất nơi những ngành xã hội học này mưu ích cho giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Mỗi năm học viện này tổ chức một đại hội về một đề tài đặc biệt. Năm nay đại hội đã có trên 30  bài thuyết trình của các học giả trên khắp thế giới, một cuộc họp trên 30 tiếng trong 5 ngày. Như bình thường, các diễn trình của cuộc hội nghị này sẽ được phổ biến sau khi nó được thu thập đầy đủ theo thông lệ một cách khoa học.

 

Hôm qua là ngày kỷ niệm 15 năm bức thông điệp lịch suử “Bách Chu Niên - Centesimus Annus”. Đức cố Thánh Cha là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị đã khởi xướng việc thành lập Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học, đã viết rằng giáo huấn về xã hội của Giáo Hội cần phải được giao tiếp với thế giới của các khoa xã hội học:

 

“Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội có một chiều kích quan trọng liên phân khoa. Để hiện thực hơn nữa sự thật duy nhất về con người trong các môi trường đổi thay một cách khác nhau và liên tục về xã hội, kinh tế và chính trị, giáo huấn này cần phải đối thoại trao đổi với các phân khoa khác nhau liên quan tới con người. Giáo huấn ấy đồng hóa với những gì được các phân khoa ấy đóng góp, và giúp cho chúng hướng về một chân trời bao rộng hơn, nhắm tới chỗ phục vụ từng cá thể là thành phần được nhận biết và yêu thương với tất cả ơn gọi của họ” (đoạn 59).

 

Học viện này, một học viện có cả các phần tử ngoài Công Giáo, cống hiến cho Giáo Hội một học thức về khoa học xã hội tốt đẹp nhất. Ngược lại, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội cũng cống hiến cho các khoa xã hội học một chân trời bao rộng hơn để hòa nhập các phân khoa khác nhau liên quan tới con người với các chiều kích cá nhân, xã hội, kinh tế, chính trị, pháp lý, văn hóa và tôn giáo của họ.

 

Năm nay đại hội cũng bao gồm hai điều mới mẻ: 1) những tường trình theo miền ở Bắc Mỹ, Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu Latinh và Âu Châu, và 2) sáu người trẻ được mời từ các châu lục khác nhau để lắng nghe những diễn trình của đại hội và cho chúng tôi cảm nghĩ của họ.

 

Chúng tôi đã mời các người trẻ là vì năm nay đề tài của chúng tôi là “Phải chăng giới trẻ đang tiêu tán? Tình Đoàn Kết với Trẻ Em và Giới Trẻ trong Một Thời Đại Hỗn Loạn”.

 

Đề tài này là một phần trong dự phóng nhiều năm của học viện trong vấn đề khảo sát những ý nghĩa rộng lớn của những đổi thay về nhân khẩu của mấy thập niên vừa qua. Hai năm trước đây, đại hội của học viện này đã chú ý tới thành phần lão thành, đặc biệt liên quan tới vấn đề an sinh xã hội và hệ thống sức khỏe.

 

Năm nay chúng ta nhìn vào cũng những đổi thay này cùng với ảnh hưởng của chúng nơi trẻ em và giới trẻ khắp thế giới. Điều này mở ra một cơ hội mới cho giáo huấn về xã hội của Giáo Hội mà cho tới nay chưa tập trung một cách chuyên biệt tới tình hình giới trẻ gặp phải, chẳng hạn, về vấn đề lao động, hay vấn đề nữ giới, hoặc vấn đề sống trong nghèo khổ.

 

Những cân nhắc của học viện này không cố ý nhắm tới việc cung cấp một bản đúc kết trực diện, nhưng tôi xin nhấn mạnh cùng quí vị về một số đề tài chính trong các cuộc bàn thảo cân nhắc của chúng tôi:

Những bóng tối tăm

 

Nhiều trẻ em trên thế giới sống trong những bóng tối tăm của đàn áp và khai thác. Nhiều em không được sống để thấy được ánh sáng mặt trời, hay bị bỏ cho chết vào những ngày đầu tiên trong cuộc sống. Điều này đặc biệt xẩy ra cho các em gái, vì tình trạng mất quân bình nam nữ hiện nay đang xẩy ra ở những phần đất đông dân trên thế giới.

 

Giáo sư Mina Ramirez thuộc Học Viện Xã Hội Á Châu ở Manila Phi Luật Tân đã nghiên cứu về tình trạng luật pháp của gia đình và trẻ em khắp Á Châu, nhận định về việc làm thế nào các chính sách về việc lao động trẻ em, về luật pháp gia đình và về những thực hành hôn nhân thường hạn chế những cơ hội của giới trẻ đối với việc phát triển của xã hội.

 

Giáo sư Paulus Zulu thuộc Đại Học Kwazulu-Natal ở Durban, Nam Phi, đã cặn kẽ trình bày làm thế nào tình trạng nghèo khổ, chính quyền yếu kém, cuộc xung đột võ trang và hội chứng hay vi khuẩn liệt kháng đã đẩy trẻ em ra rìa, thậm chí hoàn toàn loại trừ các em khỏi xã hội.

 

“Mùa đông dân khẩu”

 

Trong khi thế giới quá quen thuộc với chính sách một con của Trung Hoa thì Giáo Sư Gérard-Francois Dumont, Viện Trưởng Đại Học Sorbone ở Paris đã nhận định rằng những gia đình một con hiện nay đang nắm ưu thế ở Âu Châu – không cần phải có chuyện chính quyền áp lực. Tình trạng này liên quan tới ‘một thứ chối từ tương lai’ dẫn tới một thứ văn hóa phi anh chị em cô dì chú bác họ hàng.

 

‘Tự bản chất, tình yêu hướng tới tương lai’, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã viết như thế trong sứ điệp của mình cho học viện đây khi ngài khai triển cùng một đề tài với học viện này. ‘Có lẽ vì thiếu một thứ yêu thương sáng tạo và hướng tới như thế là lý do tại sao nhiều cặp nam nữ ngày nay đã quyết định không lập gia đình, tại sao nhiều cuộc hôn nhân bị đổ vỡ, và tại sao mức sinh sản bị giảm sút một cách đáng kể’.

 

Phải chăng thành phần cha mẹ đang tan biến?

 

Phu nhân Chrie Booth, Q.C., một luật sư về nhân quyền quốc tế và là vợ của Thủ Tướng Tony Blair ở Hiệp Vương Quốc, đã nói về việc làm thế nào ‘trẻ em bị bắt buộc phải lớn lên quá mau… đã mang lấy những trách nhiệm của người lớn hay bị áp lực chấp nhận những mối bận tâm và vấn đề của người lớn mà không được chúng ta nâng đỡ một cách xứng đáng’. Phu nhân Booth, một vị khách được mời, đã nhấn mạnh rằng mối đoàn kết với giới trẻ nghĩa là bỏ giờ ra với chúng – một trách nhiệm khó khăn nhưng cần thiết của cha mẹ tân tiến bận bịu ngày nay.

 

Tuổi thanh thiếu niên kéo dài

 

Hồng Y Alfonso Lopéz Trujillo đã đề cập tới một khía cạnh khác của văn hóa giới trẻ khi nói về ‘hội chứng của thành phần thanh thiếu niên khôn tận’. Mang đặc tính của thái độ tránh né trách nhiệm, một ước muốn duy trì tất cả những gì là thuận lợi hơn là việc thường xuyên dấn thân, và một thứ chối bỏ những hạn chế về luân lý nơi lãnh vực tính dục con người, hội chứng này làm cho giới trẻ hầu như không thể chấp nhận những hy sinh chịu đựng cần phải có để xây dựng cuộc sống hôn nhân và gia đình vững chắc. 

Tình trạng trống rỗng về tâm linh

 

Giáo sư Kevin Ryan thuộc Đại Học Massachusetts đã tiếp tục cùng một đề tài, khi nhận định rằng giới trẻ Bắc Mỹ có quá nhiều thứ giải trí và không đủ vấn đề giáo dục. Tình trạng thịnh hành vấn đề giải trí về điện tử – nhiều đến 40 tiếng một tuần – nghĩa là lãnh vực về các thứ giá trị và giáo dục tôn giáo bị loại bỏ. Cần phảu cung cấp một chương trình đại thể giáo lý đặc biệt cho giới trẻ Công Giáo để giúp cho chúng có một nền tảng cần thiết để sống một cuộc đời sâu xa thỏa nguyện tâm thần.

 

Giáo sư Mloch ở Đại Học Charles, Prague, và Giáo Sư Vymêtalìk, cả hai đều nhấn mạnh rằng ở Trung Âu và Đông Âu hậu cộng sản đang xẩy ra một thứ trống rỗng về tâm linh nào đó. Những bất mãn nơi cuộc chuyển sang một xã hội tự do đã làm phát sinh ra một thứ vỡ mộng làm ngăn cản việc theo đuổi những lý tưởng sâu xa. Giáo Sư José Raga ở Maní cũng nhận định tình trạng trống rỗng hiện nay nơi giới trẻ hiện đại là kết quả của tự do phi giá trị.

 

Hy vọng về tương lai

 

Bản chất của việc nghiên cứu khoa xã hội học là ở chỗ nó nhận ra những vấn đề – nhất là những vấn đề dai dẳng không dễ có được những giải pháp. Tuy nhiên, các phần tử của học viện này không thể bỏ qua sự kiện là giới trẻ bẩm sinh vốn hy vọng, họ chẳng những mang đến những vấn đề mà còn cả những giải pháp nữa, và lòng nhiệt thành cùng óc sáng tạo của họ bao giờ cũng vẫn là một nguồn mạch cao cả nhất ở bất cứ một xã hội nào. Giáo sư Ombretta Fumagalli Carulli thuộc Đại Học Công Giáo Milan nhận định rằng thế kỷ 20 là ‘thế kỷ của trẻ em’, vì có những bản hiến chương và thỏa hiệp quốc tế bảo vệ giới trẻ. Kinh nghiệm của Giáo Hội trong những thập niên vừa qua cũng đã là một kinh nghiệm về tính chất sống động lạ lùng nơi giới trẻ.

 

Không có một xã hội nào, không có một nền văn hóa nào, có thể chấp nhận được vấn đề ‘giới trẻ tan biến’, vì với họ cũng sẽ tan biến đi niềm hy vọng thực sự cùng với những lý tưởng cao quí của mọi dân tộc.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/5/2006

 

 

TOP

 

Bản Tuyên Ngôn chính thức của Tòa Thánh Về Các Cuộc Tấn Phong Giám Mục ở Trung Hoa

 

Theo VIS hôm Thứ Năm 4/5/2006, vi Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh Vatican là Tiến Sĩ Joaquin Navarro-Valls đã phổ biến những lời tuyên bố sau đây liên quan tới các cuộc chính quyền xứ sở địa phương tự phong giám mục ở Trung Hoa như sau:

 

“Tôi có thể cho quí vị biết về chủ trương của Tòa Thánh liên quan tới việc tấn phong giám mục cho các vị linh mục Joseph Ma Yinglin và Jeseph Liu Xinhong, mới xẩy ra thứ tự vào Chúa Nhật 30/4 ở Kunning (hạt Yunnan) và Thứ Tư 3/5 ở Wuhu (hạt Anhui).

 

“Đức Thánh Cha đã không hài lòng tí nào khi nghe tin này, vì một hành động tấn phong rất liên quan tới đời sống của Giáo Hội như việc tấn phong giám mục ấy đã được thi hành ở cả hai trường hợp mà không tôn trọng những đòi hỏi của việc hiệp thông với Giáo Hoàng.

 

“Nó là một tổn hại nặng nề gây ra cho mối hiệp nhất của Giáo Hội, như được qui định nơi những trừng phạt trầm trọng theo giáo luật (xem Bộ Giáo Luật khoản 1382: biệt chú của người dịch, nguyên văn của khoản giáo luật này như sau: “Một vị giám mục tấn phong một người làm giám mục và người được tấn phong bởi một giám mục như thế ngoài ý muốn của giáo hoàng thì tự động bị vạ tiền kết chỉ được giải bởi Tòa Thánh mà thôi”)

 

“Theo tin tức nhận được thì các vị giám mục và linh mục đã bị áp lực mạnh mẽ và đe dọa từ phía các thực thể ngoài Giáo Hội, nên họ tham dự vào những cuộc tấn phong giám mục bất hợp pháp vì không có phép của giáo hoàng, và trái cả với lương tâm của họ nữa. Có những vị đã không tuân theo những áp lực ấy, song có những vị khác không thể nào làm gì khác ngoài việc hết sức xót xa tuân theo. Những trạng huống này đã gây ra những rain nứt chẳng những nơi cộng đồng Công Giáo mà còn nơi chính lương tâm con người nữa.  

 

“Bởi thế chúng ta đang đương đầu với một vi phạm trầm trọng về quyền tự do tôn giáo, bất kể người ta tìm cách trình bày hai cuộc tấn phong này là hành động xứng hợp để cung cấp các vị mục tử cho những giáo phận đang bị trống tòa.

 

“Tòa Thánh thận trọng lưu ý tới con đường gập ghềnh của Giáo Hội Công Giáo ở Trung Hoa và thậm chí biết được một số những gì riêng biệt của một con đường đi như thế, tin tưởng và hy vọng rằng những trạng huống tương tự tồi tệ này đến nay là những gì thuộc về quá khứ.

 

“Giáo Hội thấy rằng giờ đây Giáo Hội thực sự có nhiệm vụ phải lên tiếng về sự khổ đau của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, nhất là tình trạng khổ đau của cộng đồng Công Giáo ở Trung Hoa, đặc biệt là những khổ đau của những vị giám mục và linh mục đã bị bắt buộc dự phần hay tham gia trái với lương tâm của mình vào việc tấn phong giám mục này, một việc mà cả người được tấn phong hay các vị giám mục tấn phong muốn thi hành mà không lãnh ý của giáo hoàng.

 

“Nếu tin tức chính xác là có các cuộc tấn phong khác cũng xẩy ra cùng một cách thức, thì Tòa Thánh muốn nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải tôn trọng quyền tự do của Giáo Hội và quyền biệt lập của các tổ chức trong Giáo Hội không bị bất cứ một thứ chi phối nào từ bên ngoài, và thành thật mong muốn rằng những hành động vi phạm bất khả chấp cùng với những việc xiết chặt bất khả chấp như thế không còn tái diễn nữa.

 

“Tòa Thánh đã nhấn mạnh ở những trường hợp khác nhau về việc sẵn sàng chân tình và xây dựng đối thoại với thẩm quyền hiện hành của Trung Hoa để tìm kiếm một giải pháp làm thỏa đáng như cầu cho cả đôi bên.

 

“Những khởi động như những việc làm được đề cập tới trên đây không thuận lợi cho cuộc đối thoại này mà còn tạo nên những ngãng trở mới cho cuộc đối thoại này nữa”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 4/5/2006

 

 

TOP

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI – Lịch Trình về Chuyến Tông Du Thứ Hai sắp tới ở Balan

 

Hôm Thứ Tư 26/4/2006, lịch trình chuyến tông du thứ hai của Đức Thánh Cha đến Balan sắp tới đây bắt đầu được phổ biến cho biết. Giữa ngày 25-28/5/2006, ngài theo thứ tự viếng thăm những địa điểm sau đây: Warsaw, Czestochowa, Krakow, Wadowice, Kalwaria Zebrzydowska, và Auschwitz.

 

Ngài sẽ rời Rôma tại Phi Trường Fiumicino vào lúc 8 giờ 40 sáng Thứ Năm ngày 25/5, đến Warsaw vào lúc 11 giờ sáng. Sau nghi thức nghênh đón, ngài sẽ họp với hàng giáo sĩ ở nhà thờ chính tòa Thánh Gioan. Vào lúc 5 giờ 45 ngài sẽ viếng thăm đáp lễ tổng thống Balan ở dinh tổng thống, trước khi tham dự một cuộc họp đại kết ở nhà thờ Luthêrô Chúa Ba Ngôi.

 

Vào Thứ Sáu 26/5, ngài sẽ cử hành Lễ ở Quảng Trường Pilsudski Warsaw. Buổi chiều, ngài sẽ đi trực thăng tới Czestochowa để viếng thăm Đền Trinh Nữ Jasna Gora và gặp gở thành phần tu sĩ, chủng sinh và đại diện các phong trào Công Giáo và các tu hội tận hiến, đoạn đến Krakow nghỉ đêm ở tòa tổng giám mục.

 

Thứ Bảy, ngài sẽ cử hành lễ riêng ở tòa TGM Krakow trước khi đi xe tới Wadowice, nơi ngài sẽ thăm đền thờ Vô Nhiễm và nhà hạ sinh của Đức Gioan Phaolô II, sau đó ngài gặp gỡ dân chúng địa phương ở Quảng Trường Rynek. Buổi trưa ngài viếng thăm đền thánh Trinh Nữ Kalwaria Zebrzydowska. Trên đường trở về Krakow, ngài sẽ thăm đền thờ Chúa Tình Thương và Vương Cung Thánh Đường Wawel, và vào lúc 7 giờ tối ngày gặp giới trẻ ở Công Viên Blonie.

 

Chúa Nhật, 28/5, vào lúc 9 giờ 45, ngài sẽ cử hành Thánh Lễ ở Công Viên Blonie, và nguyện kinh Regina Coeli. Sau bữa trưa, ngài sẽ đi xe từ tòa TGM ở Krakow đến Auschwitz. Sau đó, ngài sẽ tham dự một cuộc hội ngộ nguyện cầu để tưởng nhớ tới các nạn nhân ở trại tập trung Birkenau. Vào lúc 6 giờ 30, ngài sẽ đi thẳng từ Birkenau đến phi trường Balice ở Krakow. Sau nghi thức tiễn biệt, máy bay đưa ngài trở về cất cánh lúc 8 giờ tối và hạ cánh ở Rôma vào lúc 9 giờ 15 đêm.

 

Theo Niên Giám Giáo Hội mới nhất với các con số thống kê tính tới ngày 31/12/2004 thì Balan có 38.2 triệu dân, trong đó có 36.6 triệu là Công Giáo (tức 95.8%). Có 45 giáo phận, 10.114 giáo xứ và 800 trung tâm mục vụ đủ loại, hiện có 133 vị giám mục, 26.546 linh mục, 24.826 tu sĩ, 1.081 giáo dân thuộc các tu hội đời và 14.418 giáo lý viên. Có 1.803 tiểu chủng sinh và 6.427 đại chủng sinh. Có 1.726 trung tâm giáo dục từ tiểu tới đại học, 33 bệnh viện, 244 bệnh xá, 267 nhà chăm sóc cho người già hay khuyết tật, và 1.462 trung tâm giáo dục và phục hồi xã hội.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 25-26/4/2006

 

 TOP

 

 

ĐTGM Lajolo Giải Thích về những Tương Quan và Khác Biệt giữa Giáo Hội, Tòa Thánh và Quốc Đô Vatican

 

Hôm 16/4/2006, tờ nhật báo Nam Dương là Kompas đã phổ biến một bài phỏng vấn giữa họ với ĐTGM Giovanni Lajolo, 71 tuổi, bộ trưởng Ngoại Vụ, liên quan tới những vấn đề như vị thế đặc biệt của Quốc Đô Vatican, hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh Vatican, việc phân chia giữa Giáo Hội và Quốc Gia, và việc đối thoại liên tôn.

 

ĐTGM cho biết là tiếng “Vatican” thường được dùng để nói đến 2 điều rất khác nhau, thứ nhất là Quốc Đô Vatican, một quốc gia với những quyền lợi riêng biệt của nó, “mặc dù chỉ là một thực thể chính trị nhỏ xíu, và có mục đích duy nhất trong việc bảo toàn tính cách độc lập của Giáo Hoàng như tối thượng quyền của Giáo Hội Công Giáo khỏi bất cứ hình thức thuộc phạm vi dân sự nào”, và thứ hai là Tòa Thánh Vatican, tức là “Giáo Hoàng và Giáo Triều Rôma,… mà đôi khi thường ám chỉ một cách sai lầm như Vatican, vì nó có trung tâm trong Quốc Đô Vatican. Thế nhưng, Tòa Thánh không phải là một cơ cấu của chính quyền dân sự, bởi đó không có những hoạt động chính trị. Bởi vậy mới không xẩy ra tình trạng lẫn lộn hay lấn lướt nhau giữa hai hoạt động – hoạt động chính trị của Quốc Gia và hoạt động tôn giáo của Giáo Hội”.

 

Vị TGM tiếp tục nhấn mạnh sự phân biệt như thế này, mặc dù Quốc Đô Vatican trực tiếp liên hệ với Ý Quốc và một số ít tổ chức quốc tế, nhưng Tòa Thánh có cả “một cơ cấu bao rộng các lãnh sự (về kỹ thuật được coi là ‘các vị đại sứ tòa thánh’) trên khắp thế giới”.

 

Không giống như các tòa lãnh sự khác, vị TGM tiếp, những vị khâm sứ của Tòa Thánh không dính dáng tới “các vấn đề chính trị, quốc phòng hay mậu dịch, mà là những vấn đề liên quan tới quyền t75 do của Giáo Hội và nhân quyền. Tòa Thánh hầu hết can thiệp vào việc bảo đảm vị thế pháp lý của Giáo Hội, và ở một số quốc gia, can thiệp vào bênh vực tín hữu Công Giáo bị áp bức hay bị áp đảo và kỳ thị; và Tòa Thánh làm điều này bằng việc nại tới những quyền lợi được chấp thuận trong Bản Tuyên Ngôn Chung Nhân Quyền và Bản Thỏa Ước Quốc Tế Về Các Thứ Quyền Dân Sự Và Chính Trị, hay ngay cả những quyền lợi được tu chính bởi các Bản Hiến Pháp của các Quốc Gia riêng…. Có những tiêu chuẩn khác nhau để thực hiện việc can thiệp theo từng trường hợp, và những tiêu chuẩn ấy thường được tác động bởi ý muốn cứu giúp bằng những cách thức hiệu nghiệm nhất có thể, nhờ đó, với sự khôn ngoan cần thiết, bảo đảm là không gây ra những hậu quả tiêu cực nào”. 

 

Về vấn đề tách biệt giữa Giáo Hội và Quốc Gia, vị TGM cho biết: “Giáo Hội không bao giờ tìm cách áp đặt bất cứ điều gì về luật lệ dân sự, nếu các lực lượng chính trị không tự mình thực hiện luật lệ này. Nguyên tắc căn bản về việc tách biệt giữa hai lãnh vực chính trị và tôn giáo này, và về việc mạnh mẽ bảo vệ quyền tự do tôn giáo được áp dụng ở chỗ, như Quốc Gia không pha mình vào các hoạt động của Giáo Hội thế nào thì Quốc Gia cũng không làm theo chỉ thị của Giáo Hội như vậy. Giáo Hội, thực tế là các vị giám mục ở các quốc gia liên hệ, tìm cách soi đồng cho thành phần Công Giáo và quần chúng… bằng việc sử dụng những bản tuyên ngôn công khai để giải thích chủ trương Công Giáo về các vấn đề luân lý xuất phát từ hoạt động chính trị và lập pháp, và nhất là chấp nhận tất cả những lập luận hợp lý khả tri nhất đối với cả những ai không có niềm tin”.

 

“Ở tầm cấp hoàn vũ, Tòa Thánh can thiệp vào các vấn đề luân lý trọng đại gây ra bởi chính trị qua các văn kiện như các Thông Điệp và Tông Huấn của Giáo Hoàng, cũng như qua các bản hướng dẫn được ban hành bởi Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin. Có những tiêu chuẩn khác nhau trong việc phán đoán về lúc nào thích hợp để lên tiếng can thiệp, thế nhưng Giáo Hội, ở bất cứ trường hợp nào, cũng không thể câm nín khi phẩm giá hay các quyền lợi căn bản của con người, hoặc quyền tự do tôn giáo gặp trục trặc”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 21/4/2006

http://212.77.1.245/news_services/press/vis/dinamiche/c0_en.htm

 TOP

 

Đức Thánh Cha và Giới Trẻ Giáo Phận Rôma Sứa Soạn Hướng Về Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI

 

Trước hết, theo nhận định riêng của người dịch bản tin này thì thường lệ từ thời Đức Gioan Phaolô II, Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm, nếu không được tổ chức chung toàn cầu ở một quốc gia nào đó, như nước Đức năm ngoái, thì sẽ được tổ chức tại mỗi giáo phận địa phương, nhất là ở tại giáo đô Vatican vào Chúa Nhật Lễ Lá, một lễ, theo ý của vị Giáo Hoàng khởi xướng lên ngày này, trước hết, về thời gian, là thời điểm Mùa Xuân, hợp với tuổi trẻ, và nhất là, về ý nghĩa, kỷ niệm dịp giới trẻ ở Giêrusalem xưa nghênh đón Chúa Kitô vào Thành Giêrusalem, một biến cố rất thích hợp với mục đích của ngày giời trẻ là cơ hội để giới trẻ gặp gỡ Chúa Kitô.

 

Thế nhưng, để sửa soạn cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm ở chính Thánh Đô Vatican vào chính Chúa Nhật Lễ Lá, bao giờ cũng có một cuộc gặp gỡ riêng giữa Đức Thánh Cha và giới trẻ thuộc giáo phận Rôma. Đó là lý do, theo tin tức của VIS, Vatican Information Service, hôm Thứ Sáu 7/4/2005 thì tối Thứ Năm 6/4/2006, trước khi Đức Thánh Cha tới thì giới trẻ tụ tập ở Quảng Trường Thánh Phêrô chờ đón Đức Thánh Cha đã nghe hòa tấu và hòa ca, cùng nhẩy múa, trong số các ca sĩ Ý có Ron và Guiseppe Povia.

 

Đức Thánh Cha đã đến vào lúc 6 giờ chiều, chào hỏi giới trẻ, rồi cùng với họ nghênh đón Cây Thập Giá của Ngày Giới Trẻ Thế Giới, được một nhóm giới trẻ Đức mang từ Cologne là nơi tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX năm 2005 tới. Tiếp theo là Maddalena Santoro, em của Cha Andrea Santoro, vị đã bị ám sát chết ở Trabzon, Thổ Nhĩ Kỳ vào Tháng 2 năm nay, liên quan đến bộ biếm họa Tây Phương phạm đến giáo tổ Hồi Giáo, đã đọc ít lời về đời sống và chứng từ của vị linh mục anh mình thuộc giáo phận Rôma ấy.

 

Nghe xong những lời của cô em vị linh mục bị sát hại, Đức Thánh Cha đã đứng lên ôm lấy cô và cám ơn về sự tham dự của cô vào biến cố này. Sau đó ngài đã trả lời cho 5 người liên quan tới những đề tài về Thánh Kinh, yêu thương, tông đồ, ơn gọi và mối liên hệ giữa khoa học với đức tin, (những vấn đề theo người dịch có liên quan tới chủ đề của Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI, đã được Đức Thánh Cha viết gửi cho giới trẻ năm nay, đó là sứ điệp có nhan đề: ‘Lời Chúa là đèn soi bước con đi và là ánh sáng soi đường con bước’ - Ps 119 [118]:105).

 

Trả lời cho vấn nạn thứ nhất của một sinh viên ngành kỹ sư, người muốn biết rằng phải chăng Thánh Kinh bao giờ cũng là Lời Chúa, ĐTC giải đáp như sau: “không thể đọc Thánh Kinh như là một cuốn sách về lịch sử… Không thể đọc Lời Chúa như một việc học hành, nhưng bằng việc nguyện cầu và xin cùng Chúa rằng: ‘Xin giúp con hiểu được Lời Chúa’”. Đồng thời ĐTC cũng đề nghị đọc Thánh Kinh theo sát gương của “những bậc thày của việc ‘Lectio Divina’, … hợp với cộng đồng Dân Chúa, và trong mối hiệp thông với Giáo Hội là nơi trền đạt Lời Chúa qua các thế kỷ”.

 

Về vấn nạn thứ 2, liên quan tới vấn đề yêu thương, ĐTC đã nhắc lại lý do tại sao những trang đầu tiên của Thánh Kinh đã viết rằng vì yêu thương, “con người bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với người nữ và cả hai trở thành một xác thịt, một đời sống. Bởi thế, từ ban đầu, chúng ta đã có lời tiên tri về bản chất của hôn nhân, đã có một nhãn quan vẫn còn nguyên vẹn trong Tân Ước…. Nó là một Bí Tích của Đấng Tạo Thành Vũ Trụ được in ấn nơi chính con người…. Thế nên, nó không phải là một sáng chế của Giáo Hội”.

 

Đối với vấn nạn thứ ba về vai trò làm việc tông đồ, ĐTC nói rằng vai trò này hệ tại trước hết là “việc mang Chúa vào xã hội và đời sống của chúng ta…. Thiên Chúa, Đấng tỏ cho chúng ta thấy dung nhan của Ngài nơi Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương chúng ta cho tới chết, và là Đấng đã chế ngự bạo lực”.

 

Trả lời cho vấn nạn thứ bốn của một người trẻ hỏi ngài về ơn gọi, ĐTC cho biết ý định ngài muốn trở thành linh mục như sau: “Tôi đã lớn lên trong một thế giới rất khác với thế giới của chúng ta đây, một đàng là ‘tình hình Kitô Giáo’ và việc đi nhà thờ là việc bình thường, đàng khác, chúng tôi sống dưới chế độ Nazi muốn biến thế giới này nơi không còn linh mục. Đối diện với thứ văn hóa tàn bạo dã man phi nhân bản này, tôi đã hiểu được rằng Phúc Âm và đức tin là những gì cho chúng ta thấy được đường ngay nẻo chính để theo”.

 

Ngài nói tiếp về những yếu tố khác khiến ngài khám phá ra ơn gọi linh mục của mình, như thần học và ‘vẻ đẹp của phụng vụ… Dĩ nhiên là không thiếu những khó khăn và tôi đã tự hỏi mình rằng tôi có muốn sống trọn đời độc thân hay chăng, vì thần học không đủ để trở thành một vị linh mục tốt lành…. Cũng cần phải có cả lòng can đảm và khiêm tốn nữa, cũng như cần phải tin tưởng và cởi mở tự hỏi mình những gì Chúa mong muốn. Nó là một cuộc đại phiêu lưu mạo hiểm, thế nhưng sự sống chỉ có thể sống nếu chúng ta có can đảm dám làm và nếu chúng ta tin rằng Chúa sẽ bỏ rơi chúng ta”.

 

Sau hết, ĐTC đã nói về đề tài khoa học và đức tin, giải thích cho giới trẻ biết rằng trong khi toán học là những gì do óc con người tạo ra để cắt nghĩa về các luật thiên nhiên, “có một khối óc có trước cả toán học và các luật lệ thiên nhiên nữa, đó là trí óc của Thiên Chúa, nói cách khác, là ‘một dự án khôn ngoan’ đã tạo dựng nên cả thiên nhiên lẫn luật lệ của nó cùng trí khôn của con người.

 

“Có hai khả thể ở đây, Thiên Chúa hiện hữu hay Ngài không hiện hữu. Nói cách khác, chúng ta nhìn nhận cái tiền tại của một trí ouch sáng tạo … hay chúng ta chấp nhận cái tiền hữu của những gì vô tri. Tóm lại, chúng ta không thể nói về ‘việc chứng minh’ một dự án này hay dự án kia, thế nhưng việc chọn lựa cao cả của Kitô Giáo là việc chọn lựa giải pháp hữu trí, giải pháp tiền hữu của lý trí”.

 

Kết thúc cuộc gặp gỡ này, ĐTC đã trao cuốn Thánh Kinh một cách tượng trưng cho một số giới trẻ, khẳng định với họ rằng Thánh Kinh là ‘đèn soi bước con đi’, đồng thời ngài cũng nói tới Đức Gioan Phaolô II là ‘một đại chứng nhân cho Lời Chúa’. Sau đó, cùng với một số giới trẻ, ngài đã đi xuống hầm mộ Vatican để cầu nguyện trước mộ của vị tiền nhiệm đáng kính này của ngài.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 7/4/2006

 

 

TOP

 

 

 Thành Phần Lãnh Đạo Giới Trẻ họp mặt sửa soạn cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXIII

Theo thông báo được phổ biến hôm Thứ Năm 6/4/2006, thì cuộc họp này được tổ chức bởi Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân vào cuối tuần lễ 8-9/6/2006 ở gần Rôma, với thành phần đại biểu đến từ 85 quốc gia và từ 45 cộng đồng, hiệp hội và phong trào giới trẻ.

Đức Hồng Y Joachim Meisner TGP Cologne nói về ngày giới trẻ năm vừa rồi tại TGP của ngài, phân tích về thành quả của ngày này đối với giáo phận của ngài cũng như tới việc mục vụ giới trẻ khắp nước Đức, cũng như về những thách đố khó khăn trong việc tổ chức.

ĐHY George Pell, TGM Sydney, nơi sẽ tổ chức Ngày Giới Trẻ XXIII năm 2008 nói về các thách đố và mong đợi của Giáo Hội ở Úc Đại Lợi về ngày giới trẻ sẽ được tổ chức tại địa phương của ngài. Vào cuối Thánh Lễ cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXI mùng 9/4/2006, nhóm giới trẻ Đức trao Thánh Giá Ngày Giới Trẻ Thế Giới cho nhóm giới trẻ Úc Đại Lợi, cây Thánh Giá được Đức Gioan Phaolô II trao cho giới trẻ vào Lễ Lá năm 1984 ở Rôma.

Trước khi tiến tới Úc Đại Lợi, cây Thánh Giá này sẽ trải qua một cuộc hành trình dài, bắt đầu từ Thứ Hai, 10/4/2006, từ Rôma tới Dakar, nước Senegal, nơi cây Thánh Giá này sẽ lưu lại qua Phục Sinh. Lần đến Senegal này đánh dấu lần đầu tiên Thập Giá Ngày Giới Trẻ Thế Giới ghé tới Phi Châu. Thật vậy, sau đó, cây Thập Giá sẽ đi qua các nước khác ở Phi Châu thứ tự như sau: Guinea-Bissau, Gambia, Ghana, Togo, Burkina Faso, Niger, Cameroon, Gabon, Congo-Braoãaville, Burundi, Rwanda, Kenya, Malawi, Zambia, Madagascar, Botswana, Swaziland và South Africa.

Theo Đức Ông Kohn thuộc Hội Đồng Giáo Dân đặc trách Ngày Giới Trẻ Thế Giới thì cây Thánh Giá này tới đâu thì ở đó sẽ có ‘nhiều cuộc gặp gỡ giới trẻ kèm theo các hoa trái phi thường cho việc hoán cải và hòa giải. Cây Thập Giá này như một ngọn đuốc – như ngọn đuốc Thế Vận Hội – ngọn đuốc Chúa Kitô”.

Vào Tháng 2 năm tới, cây Thập Giá sẽ bắt đầu một cuộc hành trình khác đến nhiều hải đảo Thái Bình Dương, trước khi đến Sydney cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXIII.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 7/4/2006

 

TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Thánh Lễ Đầy Năm Băng Hà Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II 3/4/2006

Trong Thánh Lễ chiều Thứ Hai 3/4/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã chia sẻ cảm nhận của mình qua bài giảng về vị tiền nhiệm, vị ngài đã được diễm phúc kề cận hợp tác 23 năm trời. Ngài tâm sự như sau:

“Ai có cơ hội được thấy ngài thật gần gũi thì tay của họ có thể hầu như chạm được đức tin tinh tuyền và vững chắc đến nỗi, nó chẳng những làm cho thành phần cộng tác với ngài phải khâm phục, mà còn trong giáo triều dài của ngài lan tỏa ảnh hưởng thiện ích của ngài khắp Giáo Hội nữa, với một cường độ mạnh dần cho tới khi đạt tới tột đỉnh của nó vào những tháng ngày cuối đời của ngài”.

“Đức tin xác tín, mãnh liệt, chân thực, không biết sợ hãi và thỏa hiệp của ngài, một đức tin đã tác động tới tâm can của nhiều người, cũng nhờ nhiều chuyến tông du khắp nơi trên thế giới, nhất là nhờ ‘cuộc hành trình’ cuối cùng ấy, cuộc thống khổ và cái chết của ngài”.

Thánh Lễ được cử hành vào một buổi tối mùa xuân đẹp trời, và được chấm dứt bằng một tràng pháo tay của mấy chục ngàn người, trong đó nhiều người là Balan.

“Vị Giáo Hoàng quá cố, vị được Thiên Chúa trang bị cho nhiều tặng ân về nhân bản và thiêng liêng, khi trải qua cuộc thử thách kiệt quệ và yếu bệnh về tông vụ, đã hiện lên như một ‘tảng đá’ tin tưởng hơn bao giờ hết...

“Chúng ta nghe âm vang trong tinh thần những lời mời gọi được ngài lập lại là hãy thăng tiến đừng sợ hãi trên con đường trung thành với Phúc Âm để trở thành những người rao giảng tin mừng và chứng nhân của Chúa Kitô trong ngàn năm thứ ba”.

(xin xem trọn bài giảng sau)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/4/2006

 

TOP

 

 

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ kết thúc Đêm Canh Thức Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời

Đã có khoảng 100 ngàn người ở Quảng Trường Thánh Phêrô tối Chúa Nhật 2/4/2006 để cầu Kinh Mân Côi tưởng niệm đầy năm băng hà của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một cuộc băng hà đã được ĐTGM quyền văn phòng Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh bấy giờ loan báo là “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về Nhà Cha”.

Sau việc cầu Kinh Mân Côi chấm dứt, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã xuất hiện ở cửa sổ phòng ngài vào đúng 9 giờ 37 phút, giờ qua đời của đức cố giáo hoàng, để ngỏ lời cùng dân chúng. Đức Biển Đức XVI nói:

“Ngài tiếp tục hiện diện trong trí khôn của chúng ta và trong tâm can của chúng ta. Ngài tiếp tục thông đạt cho chúng ta tình ngài mến yêu Thiên Chúa và lòng ngài mến thương con người”.

Vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã tóm tắt cuộc đời của vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II vào hai chữ: trung thành và dấn thân:

“Hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa và dứt khoát dấn thân  cho sứ vụ làm mục tử của Giáo Hội hoàn vũ. Lòng trung thành và việc dấn thân thậm chí trở nên sống động và cảm kích hơn nữa trong những tháng cuối đời của ngài, khi ngài thể hiện bản thân mình những gì ngài viết vào năm 1984 trong tông thư ‘Salvifici Doloris’: ‘Khổ đau đang hiện diện trên thế giới để phát tỏa yêu thương, để hạ sinh những công cuộc yêu thương đối với tha nhân, để biến đổi toàn thể văn minh con người thành một thứ ‘văn minh yêu thương’

“Với gương mặt can trường, bệnh nạn của ngài đã làm cho mọi người chú trọng tới nỗi đớn đau của con người hơn, tới tất cả nỗi khổ đau về thể lý và tinh thần; ngài cống hiến cho khổ đau cái phẩm vị và giá trị, cho thấy rằng cái giá trị của con người không phải ở cái hiệu năng của họ hay dáng vẻ bề ngoài của họ, mà là ở trong chính bản thân họ, vì họ đã được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương.

“(Bằng lời nói và cử chỉ của mình), ngài không thôi chỉ cho thế giới thấy rằng nếu con người để cho Chúa Kitô chiếm đoạt thì nó không làm hư hao đi cái phong phú của nhân tính mình; nếu họ kính mến Người hết lòng thì sẽ không thiếu thốn gì hết. Trái lại, việc gặp gỡ Chúa Kitô làm cho đời sống của chúng ta trở thành phấn khởi hơn.

“Chính vì ngài đã lôi kéo chúng ta đến gần với Thiên Chúa hơn bằng nguyện cầu, bằng chiêm niệm, bằng lòng yêu chuộng Chân và Mỹ, mà Vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta đây biến mình thành một kẻ đồng hành với mỗi người chúng ta và có thế giá để thậm chí nói với cả những ai xa cách đức tin Kitô Giáo”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/4/2006

 

TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Hồng Y Đoàn về 3 Đề Tài áp Mật Nghị dịp tân 15 Hồng Y

 

Mật Nghị Hồng Y đầu tiên trong giáo triều Giáo Hoàng Biển Đức XVI, theo dự định, được diễn ra vào ngày 24/3/2006, áp Lễ Mẹ Thai Lời, một lễ được Đức Thánh Cha đương kim chọn để phong tước cho tân 15 hồng y.

 

Tuy nhiên, trước ngày Mật Nghị Hồng Y, tức vào ngày 23/3, Thứ Năm, ngài đã chủ tọa một cuộc họp của các hồng y để giải quyết một số những thách đố chính Giáo Hội đang phải đương đầu. Trong cuộc họp được bản th6ong báo của Tòa Thánh cho biết là “một giây phút suy tư và nguyện cầu”, ngài đã xin các vị hồng y nhận định về 3 đề tài đặc biệt quan trọng, đó là: “tình trạng của các vị giám mục hưu trí; rồi vấn đề gây ra Đức TGM Marcel Lefebvre cùng với việc canh tân phụng vụ theo ý muốn của Công Đồng Chung Vaticanô II; và cuối cùng là các vấn đề liên quan tới việc đối thoại giữa Giáo Hội với Hồi Giáo”. Ngoài ra, chính ĐTC còn cho biết là cuộc họp “cũng mở ra cho các đề tài khả dĩ khác nữa”.

 

ĐHY Angelo Sodano, chủ tịch Hồng Y Đoàn, là vị đã mở đầu cuộc họp. ĐHY Giovanni Battista Re, tổng trưởng Thánh Bộ Giám Mục, giải quyết vấn đề thứ nhất. ĐHY Darío Castrillón Hoyos, tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ và chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh ‘Ecclesia Dei’ dẫn giải vấn đề về thành phần theo ĐTGM Lefebvre. Có 20 vị hồng y lên tiếng góp ý vào cuộc họp ban sáng, một cuộc họp được bắt đầu từ 9 giờ 30 tại Synod Hall.

 

Vào cuộc họp ban chiều từ 5 đến 7 giờ tối, được tiếp tục về vấn đề đối thoại với Hồi Giáo, qua các góp ý của ĐHY Francis Arinze, tổng trưởng Thánh Bộ Phượng Tự và chủ tịch hưu trí của Hội Đồng Tòa Thánh Về Đối Thoại Liên Tôn. ĐHY Sodano cũng góp ý trong cuộc họp ban chiều này.

 

Mở đầu cho cuộc họp này, ĐHY chủ tịch Hồng Y Đoàn Angelo Sodano, vị chủ tịch thay cho ĐHY Joseph Ratzinger mới nắm giữ chức này ở cuộc mật nghị lần trước, đã nhân danh các vị hồng y hiện diện cám ơn ĐTC về việc mời gọi các vị qui tụ lại trong ngày nguyện cầu này để “liên kết hoạt động hơn nữa trong việc đương đầu với những thách đố về mục vụ của thời hiện đại”.

 

Theo vị hồng y chủ tịch này thì cuộc họp hôm nay “chứng tỏ tầm quan trọng được ĐTC qui cho Hồng Y Đoàn. Về phần mình, chúng ta cần phải trung thành với sứ vụ Giáo Hội mong đợi nơi chúng ta”.

 

Ngoài ra, vị hồng y chủ tịch này còn nhắc lại cách thức các vị hồng y giúp đỡ Đức Giáo Hoàng “cả khi hội họp theo đoàn tính, lẫn khi tác hành theo cá nhân trong Giáo Triều Rôma”. Vị hồng y này cũng nhấn mạnh tới ‘tính cách bổ xung” giữa hai cơ cấu tham vấn trong tay của vị Giáo Hoàng, đó là Thượng Nghị Giám Mục và Hồng Y Đoàn.

 

Cuối cùng vị hồng y đã giới thiệu Đức Thánh Cha về những gì ngài muốn hồng y đoàn bàn tới như sau: “Tâu Đức Thánh Cha, giờ đây xin cho chúng con biết những đề tài Đức Thánh Cha muốn nghe ý kiến của chúng coni và muốn hội kiến. Với tư cách chủ tịch, con xin hân hạnh gửi đến Đức Thánh Cha lời chào sùng mến của tất cả mọi phần tử thuộc Hồng Y Đoàn vắng mặt vì những công vụ khẩn trương hay vì lý do sức khỏe – chẳng hạn như ĐHY Bernardin Gantin, vị chủ tịch hồi hưu – và những vị hiện diện trong tinh thần”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit và VIS phổ biến ngày 23/3/2006 

 

 

TOP

 

Do Thái và Công Giáo Tuyên Ngôn Tôn Trọng Sự Sống Con Người

Sau đây là nguyên văn bản tuyên ngôn của Do Thái và Công Giáo đúc kết Cuộc Họp của Ủy Ban Song Phương ở Rôma (26-28/2/2006 theo niên lịch Kitô Giáo hay 28-30 Tháng Shevat năm 5766 niên lịch Do Thái Giáo), giữa phái đoàn Đại Biểu của Ủy Ban Tòa Thánh Về Liên Hệ Tôn Giáo Với Người Do Thái và Đại Biểu của Do Thái Về Liên Hệ Với Giáo Hội Công Giáo.

1.     Trong cuộc họp lần thứ sáu của ủy ban song phương được tổ chức ở Rôma này, chúng tôi đã nói tới vấn đề liên hệ giữa sự sống con người và kỹ thuật – suy tư về những tiến bộ vượt bực nơi khoa y học cùng với những thách đố cũng như những cơ hội bao gồm nơi những thứ tiến bộ này.

2.     Chúng tôi xin khẳng định những nguyên tắc theo các Truyền Thống tương xứng của chúng tôi như sau: Thiên Chúa là Đấng Hóa Công và là Chúa của tất cả mọi sự sống, và sự sống của con người là những gì linh thánh chính vì, như Thánh Kinh dạy, con người được dựng nên theo Hình Ảnh Thần Linh (x Gen 1:26-27). Vì sự sống là một tặng ân Thần Linh cần phải được tôn trọng và bảo trì, mà chúng tôi buộc phải bác bỏ những ý nghĩ  cho rằng con người làm chủ sự sống và bất cứ đảng phái con người nào có quyền định đoạt về giá trị hay giới hạn của nó. Do đó chúng tôi phản đối chủ trương chủ động triệt sinh an tử (được gọi là thương hại sát sinh) như là một việc con người lộng quyền trái phép đối với việc độc quyến của Thần Linh trong vấn đề định đoạt thời gian qua đời của con người.

3.     Chúng tôi dâng lời tạ ơn Đấng Hóa Công về những khả năng Ngài đã ban cho nhân loại để chữa lành và bảo trì sự sống, cũng như về những thánh đạt đáng kể trong việc dễ dàng hóa được khoa học, y học và kỹ thuật hiện đại thực hiện về khía cạnh này. Tuy nhiên, chúng tôi công nhận rằng những thành đạt phúc lợi này cũng bao gồm cả nhiều trách nhiệm hơn nữa, bao gồm cả những thách đố sâ xa về đạo lý cùng với những nguy hiểm khả dĩ.

4.     Về vấn đề này, chúng tôi xin lập lại các giáo huấn của di sản chúng tôi là tất cả mọi kiến thức và khả năng của con người cần phải phục vụ và cổ võ sự sống con người cùng phẩm vị con người, nên chúng phải hòa hợp ăn khớp với các thứ giá trị về luân lý được bắt nguồn từ các nguyên tắc được nói đến trên đây. Bởi vậy cần phải hạn chế việc áp dụng khoa học và kỹ thuật với nhận thức về sự kiện là không phải mọi sự khả dĩ về kỹ thuật đều hợp đạo lý.

5.     Việc tôn trọng và chăm sóc cho sự sống của con người cần phải là mệnh lệnh luân lý phổ quát được hết mọi xã hội dân sự cùng với luật lệ của họ bảo đảm, hầu phát động một nền văn hóa sự sống.

6.     Vì bác bỏ chủ trương của con người trong việc cướp quyền Thần Linh trong việc định đoạt thời gian chết chóc, chúng tôi khẳng định trách nhiệm phải làm hết sức để giảm bout tình trạng khổ đau của con người.

7.     Chúng tôi kêu gọi những người hoạt động về y khoa và các khoa học gia hãy gắn bó với và tuân theo sự khôn ngoan chỉ dẫn của tôn giáo trong tất cả mọi vấn đề về sự sống và sự chết. Bởi đó, chúng tôi khuyến dụ là trong những vấn đề như thế, ngoài việc tham vấn cần phải có đối với những gia đình trong cuộc, vấn đề bao giờ cũng cần phải được tham vấn với các vị thẩm quyền tôn giáo đương nhiệm.

8.     Niềm xác tín chúng tôi chia sẻ, niềm xác tín rằng sự sống trên trần gian này chỉ là một giai đoạn duy nhất cho cuộc hiện hữu của linh hồn, chẳng những cần phải dẫn chúng ta tới chỗ tôn trọng hơn đối với cái bình – là hình thể con người – chất chứa linh hồn ở trên đời này. Bởi đó, chúng tôi hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng bản chất tạm bợ của việc con người hiện hữu trên trái đất này cho phép chúng ta được dụng cụ hóa nó. Về vấn đề này, chúng tôi mạnh mẽ lên án bất cứ loại đổ máu nào để phát động bất cứ ý hệ nào – nhất là nếu điều này lại được thực hiện nhân danh Tôn Giáo. Hành động như thế chính là tục hóa Danh Thánh Thần Linh vậy.

9.     Bởi thế, chúng tôi tìm cách thăng tiến công ích của nhân loại bằng việc cổ võ lòng trọng kính đối với Thiên Chúa, đối với tôn giáo, đối với những biểu hiệu của tôn giáo, đối với những Nơi Thánh và những Nhà Thờ Phượng. Cần phải loại trừ và lên án việc lạm dụng bất cứ sự gì trong những điều này.

10.    Những việc lạm dụng như thế cùng với những căng thẳng hiện nay giữa các nền văn minh cũng đồng thời đòi chúng ta phải vượt ra ngoài cuộc đối thoại song phương của chúng ta là cuộc đối thoại có tính chất thúc bách đặc thù của nó. Bởi thế chúng tôi tin rằng chúng tôi có nhiệm vụ bao gồm cả thế giới Hồi Giáo cùng thành phần lãnh đạo của thế giới này trong việc tham gia vào cuộc trân trọng đối thoại và hợp tác. Ngoài ra chúng tôi kêu gọi các vị lãnh đạo thế giới hãy cảm nhận khả năng thiết yếu của chiều kích tôn giáo trong việc giúp giải quyết các vấn đề xung khắc và xung đột, và kêu gọi họ hãy ủng hộ việc đối thoại liên tôn cho mục đích ấy.

Rôma ngày 28 Tháng Hai năm 2006 –  ngày 30 Tháng Shevat năm 5766

Tôn Sư Trưởng Shear Yashuv Cohen, (Chủ Tịch Phái Đoàn Đại Biểu Do Thái)

Tôn Sư Trưởng Ratson Arussi

Tôn Sư Trưởng Yossef Azran

Tôn Sư Trưởng David Brodman

Tôn Sư Trưởng David Rosen

Ông Oded Wiener

Vị Lãnh Sự Shmuel Hadas

 

Đức Hồng Y Jorge Mejía, (Chủ Tịch Phái Đoàn Đại Biểu Công Giáo)

Đức Hồng Y Georges Cottier, O.P.

Đức Giám Mục Giacinto-Boulos Marcuzzo

Đức Ông Pier Francesco Fumagalli

Cha Norbert Hofmann, S.D.B.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/3/2006

 TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI Cầu Kinh Mân Côi với Giới Trẻ qua Vệ Tinh Viễn Liên Truyền Hình

Thật vậy, hôm Thứ Bảy 11/3/2006, các sinh viên đại học thuộc 12 thành phố ở Âu Châu và Phi Châu đã liên kết với nhau qua hệ thống vệ tinh viễn liên truyền hình để cùng cầu Kinh Mân Côi với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI.

 

Ngài đã trao cho một số giới trẻ đại diện bản thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu của ngài và nói:

 

“Qua cách thức tiêu biểu này, tôi muốn trao nó cho tất cả mọi sinh viên đại học ở Âu Châu và Phi Châu, với niềm hy vọng là sự thật cốt yếu của đức tin Kitô Giáo – Thiên Chúa là tình yêu – sẽ chiếu soi đường đi nước bước của mỗi người trong quí bạn, và qua chứng từ của quí bạn, chiếu soi cả những sinh viên đồng liêu của quí bạn nữa’.

 

“Sự thật về tình yêu Thiên Chúa này, về nguồn gốc, ý nghĩa và cùng đích của vũ trụ cùng lịch sử đã được Chúa Giêsu Kitô mạc khải cho biết, bằng lời nói và đời sống của Người, đặc biệt là bằng cuộc khổ nạn, tử giá và phục sinh của Người”.

 

“Nó là nền tảng của cảm nghiệm Kitô Giáo, một cảm nghiệm có thể như men làm cho cả văn hóa loài người dạy lên, nhờ đó, nó nỗ lực hết sức mình trong việc cộng tác vào vấn đề phát triển của một thế giới công chính và an bình hơn”.

 

Nhng gì ngài huấn dụ đã được theo dõi bởi hằng ngàn ngàn giới trẻ, trực tiếp ở Rôma trong Sảnh Đường Phaolô VI, cũng như gián tiếp ở các nơi khác như Bonn Đức quốc, Dublin Ái Nhĩ Lan, Maní Tây Ban Nha, Munich Đức Quốc, Salamanaca Tây Ban Nha, Saint Petersburg Nga Sô, Sofia nước Bulgaria, Abidjan nước Ivory Coast, Antonanarivo nước Madagascar, Owerri nước Nigeria, và Nairobi nước Kenya.

 

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Đêm canh thức Thánh Mẫu rất được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu chuộng này, xây dựng những chiếc cầu nối kết tình huynh đệ giữa các sinh viên đại học ở Âu Châu, và chiều nay đã nới rộng con số tới tận Phi Châu, nhờ đó mối hiệp thong giữa các tân thế hệ được phát triển và văn minh yêu thương được tràn lan.

 

“Đó là lý do tôi muốn gửi cho các bạn ở Phi Châu đang liên kết với chúng tôi tấm thịnh tình đặc biệt, một tấm thịnh tình tôi muốn gửi đến tất cả nhân dân Phi Châu yếu dấu”.

 

Ngài cũng mời gọi các sinh viên hãy tham dự các sinh hoạt của Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm nay sẽ được tổ chức tại cấp độ giáo phận địa phương. Ngài mời gọi giới trẻ Rôma hãy tham dự cuộc gặp gỡ giới trẻ sẽ được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày Thứ Năm 6/4/2006.

 

“Chúng ta sẽ lãnh nhận Cây Thánh Giá hành hương, đến từ Cologne, và hết lòng tri ân tưởng niệm vị đại tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II một năm sau ngày qua đời của ngài”.

 

Ngài cũng mời gọi họ hãy đọc sứ điệp ngài ngỏ cùng họ cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới Chúa Nhật Lễ Lá 9/4/2006 tới đây, với đề tài “Lời Chúa là Đèn Soi Bước Con Đi và là Ánh Sáng Cho Đường Con Bước”. Ở phần cuối của sứ điệp 2006 cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần XXI này, ngài có đề cập tới chủ đề cho cả 2 năm sau, 2007 và 2008, hoàn toàn hướng về Chúa Thánh Thần.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 12/3/2006

 

TOP

Tòa Thánh Vatican Trao Tặng Hài Tích Thánh Anrê cho Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp

Hôm Chúa Nhật 27/2/2006, Đức Hồng Y Roger Etchegaray, chủ tịch hồi hưu của Hội Đồng Tòa Thánh Về Công Lý Và Hòa Bình, đã trao hài tích này cho Đức Giám Mục Chính Thống Agathangelos, vị đại diện của Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Hy Lạp ở Nhã Điển là Christodoulos, trong một lễ nghi tại Giáo Xứ Chúa Biến Hình ở Rôma.

Hài tích được trao tặng này sẽ được mang về Nhã Điển tuần này và được trưng bày cho tín hữu tôn kính ở Nhà Thờ Chính Thống Thánh Barbara.

Từ năm 1208, các hài tích của vị tông đồ này đã được đặt ở hầm mộ của vương cung thánh đường Amalfi. Các hài tích ấy được mang về đây từ Constantinople.

Đức Tổng Giám Mục Orazio Soricelli đã đồng ý là việc trao tặng hài tích này là dấu hiệu của việc tái hợo nhất giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp.

ĐHY Etchegaray đã trao tặng hài tích này trong một hộp đựng là vật được ĐGM Agathangelos, vị tổng giám đốc của cơ quan Đối Thoại Tông Đồ Apostoliki Diakonia, hôn kính và giơ lên cho tín hữu thấy. Ngược lại, vị giám mục cũng lãnh đạo phái đoàn đại biểu sinh viên Hy Lạp viếng thăm Rôma này, đã trao tặng một bức ảnh cho ĐHY Etchegaray và một bức họa Biến Hình cho cha sở của nhà thờ giáo xứ diễn tiến biến cố trao tặng lịch sử này.

Vị giám mục này nói rằng phái đoàn đại biểu Hy Lạp đã đến Rôma “như khách hành hương để quì trước những ngôi mộ của các vị Tông Đồ…. Nơi Thánh Đường Biến Hình nguy nga này, chúng tôi cảm thấy sức mạnh của niềm tin và thấy được những gương mặt của thành phần tín hữu liên kết với chúng tôi. Ở vào thời điểm chúng ta thấy sự dữ gia tăng, Kitô hữu chúng ta cần phải chống lại nó bằng đức tin, đức cậy và đức mến”.

Nhân danh Đức TGM Christodoulos ở Nhã Điển và Tất Cả Hy Lạp, vị giám mục này cám ơn đức hồng y về “hài tích quí báu ấy” và nói đến Giáo Hội Công Giáo như là một “Giáo Hội chị em”.

Trường Thần Học Apostoliki Diakonia c ủa Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp đã thực hiện một buổi hòa nhạc Bazantine trước nghi thức trao tặng hài tích. Troing Thánh Lễ sau nghi thức trao tặng này, đức HY đã làm phép thêm sức cho 8 người trẻ.

Vị linh mục Andrea Santoro vừa bị giết ở Thổ Nhĩ Kỳ đã được nhớ đến trong việc cử hành này, vì vị quá cố đã phục vụ ở giáo xứ này 10 năm.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/2/2006

TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI với Hội Nghị Quốc Tế về Nhân Bào Phôi Thai

Hội Nghị Quốc Tế hai ngày (27-28/2/2006) ở Sảnh Đường Clementine về chủ đề “Nhân Bào Phôi Thai Trước Khi Được Cấy”, với sự tham dự của 350 nhân vật bao gồm khoa học gia, bác sĩ, chuyên viên đạo lý sinh học và thần học gia, đã được gặp gỡ Đức Thánh Cha hôm Thứ Hai 27/2, vị đã huấn dụ họ với những ý tưởng chính yếu như sau. Theo ngài, tình yêu thương của Thiên Chúa không phân biệt tuổi tác, nên Giáo Hội đã bênh vực tính chất bất khả vi phạm của họ ngay từ khi họ được thụ thai.

“Tình yêu thương của Thiên Chúa không phân biệt giữa thành phần phôi nhi mới được thụ thai trong lòng mẹ mình, với thành phần thơ nhi, thành phần giới trẻ, thành phần người lớn và thành phần lão nhân, vì nơi mỗi một người trong họ, Ngài đều thấy dấu hiệu về hình ảnh của Ngài và những gì giống như Ngài.

“Mối tình yêu thương vô bến bờ và hầu như khôn thấu này của Thiên Chúa đối với con người cho thấy những gì con người đáng được yêu thương đối với Ngài, bất kể những yếu tố khác như trí thông minh, vẻ đẹp, sức khỏe, trẻ trung, nguyên tuyền toàn vẹn v.v.

“Tóm lại, sự sống con người bao giờ cũng là một sự thiện, vì nó là một biểu hiện của Thiên Chúa trên thế giới, là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện của Ngài, là ánh quang phản chiếu vinh hiển của Ngài.

“Thật vậy, con người được ban cho một phẩm vị cao cả, một phẩm vị được bắt nguồn từ mối liên hệ sâu xa thắt kết họ với Ngài là Đấng Hóa Công của họ: Nơi con người, nơi hết mọi người, nơi bất cứ giai đoạn hay tình trạng sự sống nào của họ, một phẩm vị chiếu tỏa chính thực tại về Thiên Chúa.

“Chính vì lý do đó mà huấn quyền của Giáo Hội đã liên lỉ rao giảng tính chất linh thánh bất khả vi phạm của hết mọi sự sống con người, từ khi nó được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi. Phán quyết về luân lý này vốn có hiệu lực ngay từ khi bắt đầu có sự sống nơi phôi bào, ngay trước no được cấy vào lòng một bà mẹ, nơi bảo vệ và nuôi dưỡng nó trong 9 tháng cho tới khi ra đời.

“Chúng ta đã cải tiến kiến thức của chúng ta rất nhiều và khá hơn, một kiến thức đồng hóa với những hạn chế của việc vô tri của chúng ta, thế nhưng, đối với trí thông minh của con người, nó dường như trở thành quá khó khăn trong việc nhận thức rằng khi chiêm ngưỡng thiên nhiên tạo vật con người thấy được dấu chỉ của Đấng Hóa Công.

“Thật thế, ai mến yêu sự thật đều phải nhận thấy rằng việc nghiên cứu những đề tài sâu xa như thế làm cho chúng ta có thể thấy được và hầu như chạm tới bàn tay của Thiên Chúa.

“Ở bên ngoài những giới hạn của các phương pháp về thử nghiệm, ở những hạn chế của lãnh vực được một số người gọi là phân tích siêu hình, nơi nhận thức của cảm quan và các thử nghiệm của khoa học chẳng những không xứng hợp mà còn thậm chí bất khả, thì ở đó chính là khởi điểm của cuộc thám hiểm về siêu việt thể, cuộc dấn thân ‘vượt thoát’”

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/2/2006

   TOP

 

“Nhân Bào Phôi Thai Trước Khi Được Cấy: Các Khía Cạnh Khoa Học và Những Quan Tâm Về Đạo Lý Sinh Học”

 

Ở văn phòng báo chí của Tòa Thánh hôm Thứ Sáu 24/2/2006, đã có một cuộc họp báo để trình bày về hội nghị quốc tế liên quan tới chủ đề “Nhân bào phôi thai Trước Khi Được Cấy: Các Khía Cạnh Khoa Học và Những Quan Tâm Về Đạo Lý Sinh Học”. Hội nghị này được tổ chức ở Sảnh Đường New Synod Vatican, vào thời khoảng 27-28/2/2006, Thứ Hai và Thứ Ba, ngay trước Thứ Tư Lễ Tro, và là tổng hội nghị lần thứ 12 của Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống.

 

Tham dự buổi họp báo hôm nay gồm có Đức Giám Mục Elio Sgreccia, chủ tịch Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống; Ông Adriano Bompiani, Chuyên Viên Sản Phụ Khoa và là giám đốc Viện Khoa Học Quốc Tế của Đại Học Thánh Tâm Công Giáo ở Rôma; Cha Kevin T. Fitzgerald, giáo sư phụ khảo về khoa di truyền học ở phân bộ ung thư học của Đại Học Georgetown, Washington, Hoa Kỳ; và Đức Giám Mục Willem Jabobus Eijk ở Groningen, Hòa Lan, một thần học gia về luân lý và là chuyên viên về khoa đạo lý sinh học kiêm bác sĩ.

 

Ông Adriano Bompiani phát biểu như thế này: “Để gán cho nhân bào phôi thai một ‘vị thế pháp lý’, cần phải ‘hiểu được’ bản chất của nó”, một sự hiểu biết ông muốn nói tới là những gì được căn cứ vào việc nghiên cứu về bản thể học.

 

“Ngày nay, việc xem xét nhân bào phôi thai qua kính hiển vi vẫn chưa đủ”, mà cần phải “sử dụng tất cả mọi phương tiện sẵn có” từ các ngành di truyền học, hình thái học, sinh hóa học và phân tử sinh học nữa.

 

Để “công nhận” cái nhân bào phôi thai này, “chúng ta dựa vào những quan niệm về sự sống con người, về hữu thể con người, về cá thể con người, và về ngôi vị con người. Hiển nhiên là việc suy tư về những quan niệm ấy là mục tiêu của việc nghiên cứu về bản thể học vậy. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, điều này cần phải được thực hiện chỉ sau khi diễn đạt và hiểu được những gì xẩy ra trong vài tiếng đồng hồ sau cuộc gặp gỡ giữa một nhân trứng sống động và một tinh trùng”. Và ông kết luận là theo quan điểm lý lẽ thì nguồn gốc của một con người mới là ở “cuộc gặp gỡ giữa một tinh trùng và một noãn sào thuộc cùng một giống loài”.

 

Về phần mình, Đức Giám Mục Willem Jacobus Eijk đã nói tới những qui chuẩn cả nội lẫn ngoại trong việc gán cho cái nhân bào phôi thai một vị thế về luân lý, khi nhắc lại là trong hạ bán thập niên 1960 làm thế nào “đã có ý nghĩ là vị thế của hữu thể con người và nhân cách của một cá nhân đã có ngày vào lúc nidation, vì nó hàm chứa việc bắt đầu liên hệ chắt chẽ với người mẹ”.

 

Tuy nhiên, vị giám mục này tiếp, “mối liên hệ như thế đã xẩy ra vào lúc kết hợp của tinh trùng và noãn sào nhờ việc giao hợp giữa cha mẹ. Hơn nữa, cho dù trước cả việc cấy đi nữa thì nhân bào phôi thai này đã nhận được những dưỡng chất và dưỡng khí cần thiết để tăng trưởng từ người mẹ rồi”.

 

Qui chuẩn ngoại tại chủ trương rằng “nhân bào phôi thai trở thành một cá thể con người khi được luật pháp công nhận như thế. Trong xã hội đa nguyên của chúng ta đây thì giải pháp khả dĩ duy nhất cho vấn đề tranh luận này về vị thế của nhân bào phôi thai đó là, theo nhiều người, vị thế ấy được xác định bởi việc ưng thuận theo kiểu dân chủ. Tuy nhiên, sự thật này, cho dù có liên quan tới vị thế của nhân bào phôi thai, cũng không thể được ấn định bởi vấn đề thăm dò theo thống kê”.

 

Vị giám mục này tiếp: “Qui chuẩn ngoại tại thứ ba là qui chuẩn làm cho nhân bào phôi thai này lệ thuộc vào việc chọn lựa của người khác trong việc cống hiến cho nhân bào phôi thai được thụ thai ‘trong ống nghiệm’ cơ hội được phát triển hơn nữa”, bằng việc chuyển nó sang tử cung. “Vấn đề ở đây là vị thế của nhân bào phôi thai này, được hiểu như thế, … lệ thuộc vào việc chọn lựa của người khác, nhất là của thành phần nghiên cứu và cha mẹ”.

 

Với qui chuẩn ấy, “không đủ để ấn định vị thế về luân lý của nhân bào phôi thai này, cần phải sử dụng những qui chuẩn nội tại để đạt tới phán đoán khách quan đối với việc tôn trọng hợp với nhân bào phôi thai này”. Trước hết, cần phải nhìn nhận rằng “nhân bào phôi thai, cho dù ở trong giai đoạn tiền nidation đi nữa, đã là một hữu thể có sự sống riêng biệt khác hẳn với sự sống của người mẹ, một hữu thể con người theo quan điểm sinh học, là một cá nhân, và là một hữu thể có mục đích nội tại là trở thành một ngôi vị con người”.

 

Đoạn vị giám mục này đã nhắc lại là làm thế nào trong Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống của mình, Đức Gioan Phaolô II xác định là khoa học tân tiến có thể cống hiến “việc ấn định đáng giá cho vấn đề nhận thức bằng lý trí sự hiện diện của con người nơi lúc xuất hiện đầu tiên của sự sống con người”.

 

Lý thuyết về việc sinh động của Aristote “được căn cứ vào việc hiểu biết sai lầm của ông về nhân bào phôi thai”, trong khi “các lý thuyết về nhân loại học tân tiến lại gán ghép vị thế làm người cho một nhân bào phôi thai chỉ vào lúc tự ý thức (vào cuối thai lỳ), hay thậm chí vào lúc ý thức tỏ ra hợp lý (đôi khi sau khi sinh nữa), là những gì cho thấy tính cách nhị nguyên sâu xa bất khả giải thích về hữu thể con người như là một bản thể duy nhất”.

 

Vị giám mục kết luận như sau: “Kiến thức hiện tại về phôi bào học và di truyền học cung cấp những dấu hiệu quí báu cho thấy là nhân bào phôi thai đã có một căn tính chuyên biệt là một ngôi vị con người”. Căn tính này “được ấn định chính yếu, mặc dù không phải là những gì duy nhất, bởi nhân giống là những gì hiện diện và sống động vào lúc thụ thai. Mặc dù nó là những gì bất khả chứng tỏ theo kinh nghiệm về sự hiện diện của con người từ khi thụ thai, việc suy tư triết lý về vị thế theo khoa nhân loại sinh học về nhân bào phôi thai cũng cho thấy cái phi lý giữa tư tưởng của việc nhân loại hóa một cách gián tiếp hay từ từ với nhãn quan về một cá thể con người như là một bản thể duy nhất bao gồm cả tinh thần lẫn xác thể”.

 

Riêng vị Giám Mục chủ tịch Viện Tòa Thánh Về Sự Sống cho biết là thậm chí ngay cả việc không được nuôi dưỡng trong tử cung của người mẹ, thì nhân bào phôi thai vẫn là một đứa nhỏ: “Ở bất cứ trường hợp nào thì dầu sao nhân bào phôi thai cũng là một đứa nhỏ: một nam hay nữ, có một mối liên hệ đặc biệt với cha mẹ của mình, và đối với thành phần tín hữu thì cũng liên hệ với cả Thiên Chúa nữa”.

 

Hội nghị quốc tế lần này qui tụ 350 chuyên viên, bao gồm các khoa học gia, bác sĩ, nghiên cứu gia, thần học gia và đạo lý sinh học gia.

 

Nhân bào phôi thai vẫn ở vị thế là một đứa nhỏ, thậm khi đứa nhỏ này có bị mạo dụng hay hủy hoại chăng nữa, bởi thế nó mới trở thành một vấn đề “quan trọng cả về nhân loại học lẫn đạo đức học”. Vị giám mục chủ tịch cho biết rằng hội nghị lần này cũng sẽ đặt vấn đề là “Phải chăng chủ trương của Giáo Hội Công Giáo căn cứ vào lập luận khoa học, mà bởi thế, theo quan điểm đạo đức học, ngày nay nó mới được bênh vực? Chúng tôi tin rằng chúng tôi có những lý lẽ đầy đủ và vững chắc và chúng tôi muốn nêu chúng lên”.

 

Giáo sư Kevin Fitzgerald thêm là, mặc nhiên hội nghị này cũng đặt ra một vấn đề khác, đó là vấn đề “Chúng ta có thể ngăn ngừa được một cách hợp lý hay chăng một thứ bệnh tật bằng việc chọn lựa trong các cá nhân có gốc di truyền về bệnh này?”

 

Chính ông trả lời rằng: “vấn đề này là vấn đề phản ảnh các phong trào cải giống một thế kỷ trước đây, lúc chúng ta đã phải đương đầu với ý tưởng tổng quát tương tự này. Việc thử thai là việc cống hiến cho cha mẹ nguyên tắc có thể chọn lựa những tính chất của con cái mình, và chọn lựa chúng căn cứ vào sự hiểu biết về di giống. Nguyên tắc mới này, liên hợp với qui tắc về văn hóa mới được đề cập tới, có thể đã xoay những thái độ của cha mẹ lẫn xã hội về những đưa con tương lai: từ chỗ chỉ biết chấp thuận đến chỗ phán quyết và kiểm soát, từ việc vô tư đón nhận một tặng ân đến việc thấy em như là một sản phẩm khả chấp tùy thuộc điều kiện”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS và Zenit ngày 24/2/2006

 

 

TOP

 

 

“Đài Phát Thanh Vatican ở vào Tuổi 75. Những Đường Lối Mới để phục vụ Giáo Hội và Những Viễn Tượng Tương Lai”

 

Hôm Thứ Ba 21/2/2006, tại văn phòng báo chí của Tòa Thánh đã có một cuộc họp báo để đánh dấu 75 năm thành lập Đài Phát Thanh Vatican, với chủ đề: “Đài Phát Thanh Vatican ở vào Tuổi 75. Những Đường Lối Mới phục vụ Giáo Hội và Những Viễn Tượng Tương Lai”.

 

Cha Federico Lombardi, SJ, tổng giám đốc của Đài Phát Thanh Vatican đã nhắc lại sứ vụ của đài này theo Nội Qui của nó, đó là “để loan truyền sứ điệp Kitô Giáo một cách tự do, trung thực và hiệu nghiệm, cũng như để nối trung tâm của thế giới Công Giáo với các quốc gia trên thế giới, bằng việc phổ biến tiếng nói và giáo huấn của Đức Giáo Hoàng; thông tin về các sinh hoạt của Tòa Thánh; phản ảnh đời sống Công Giáo trên khắp thế giới; và khuyến khích việc thẩm định các vấn đề hiện đại theo chiều hướng Huấn Quyền và liên tục chú trọng tới những dấu chỉ thời đại”.

 

Vị linh mục giám đốc này cũng cho thấy Đài Phát Thanh Vatican thực hiện đường lối uyển chuyển và đa văn hóa của mình, qua các chương trình bằng 45 thứ ngôn ngữ khác nhau. Ngoài ra, Đài còn có cả mạng điện toán toàn cầu www.radiovaticana.org nữa, để có thể “hoạt động như một tác nhân mới, nhất là cho các xứ sở không có một cơ quan tín vụ nào của Công Giáo, cũng như để thực hiện một dịch vụ hữu ích cho thế giới truyền thông dân sự, chẳng hạn như mạng điện toán toàn cầu Nhật Bản là nơi hay vào nhất để tìm kiếm tiêu để ‘Vatican’”.

 

Vị linh mục kết thúc bài nói của mình bằng cách nhấn mạnh đến sự kiện là Đài Phát Thanh Vatican mở những khóa huấn luyện cho thành phần phóng viên trẻ và sinh viên về các phương tiện truyền thông xã hội, “trung bình khoảng 50 người mỗi năm”, mặc dù con số lên tới “140 trong Đại Năm Thánh 2000”.

 

Đài Phát Thanh này hiện có 384 nhân viên thuộc 59 quốc gia, thuộc đủ mọi thành phần, linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ. Việc truyền đạt trung bình hằng ngày là 64 tiếng đồng hồ, và chi phí hằng năm của đài lên tới 25-30 triệu đồng âu, trong đó 57 % là khoản tiền trả cho nhân viên làm việc trong đài.

 

Cha Andrzef Koprowski, SJ, giám đốc đặc trách các chương trình phát thanh của đài, đã nhắc lại một trong những mục tiêu của đài là trở thành “một chiếc cầu nối giữa Đức Thánh Cha – Tòa Thánh – Giáo Hội Hoàn Vũ với các xã hội tương ứng cũng như với các Giáo Hội riêng tương ứng”.

 

Cha Koprowski đã đề cập tới các phân bộ ngôn ngữ của Đài nơi ngành truyền thông và bối cảnh của Giáo Hội trên thế giới. Mỗi ngôn ngữ thuộc phân bộ này “hiện hữu vào một thời điểm đặc biệt trong đời sống Giáo Hội và thế giới”. Chẳng như sau Thế Chiến Thứ II và biến cố Cộng Sản chiếm trị ở các quốc gia Đông Âu, đại này đã dồn nỗ lực của mình về các quốc gia, nhất là các Giáo Hội riêng đang bị khổ đau nhất. “Đó là lý do chúng tôi dồi dào chương trình và ngôn ngữ nhất là từ các quốc gia Âu Châu, nhất là đông Âu và nam Âu”.

 

Hướng về tương lai, vị linh mục giám đốc chương trình phát thanh của đài cho biết đài vẫn hết sức chú ý tới “việc phát triển của Giáo Hội ở Mỹ Châu Latinh, ở Phi Châu và Á Châu”. Vị linh mục này đặc biệt nói tới “ngôn ngữ và văn hóa Ả Rập, những gì không còn chỉ tồn tại duy ở Trung Đông mà còn ở các miền khác nhau tại Ău Châu và trên thế giới nữa, vì quan điểm về ‘thế giới Ả Rập’ và ‘thế giới Hồi Giáo’ không phải chỉ là vấn đề về chính trị, mà còn là một vấn đề mang tầm vóc quan trọng về văn hóa, xã hội và giáo hội, như mấy tuần vừa qua cho thấy”. Ở đây vị linh mục này có ý nói tới biến động giữa hai nền văn minh Tây Phương tự do và văn minh Hồi Giáo đạo nghĩa.

 

Một miền đáng chú ý nữa được vị linh mục này đề cập tới đó là Á Châu: “Chúng tôi biết tới việc phát triển của Giáo Hội ở Ấn Độ, và chúng tôi biết đến vai trò của Kitô Giáo Ấn Độ cần phải thực hiện cho tương lai của Giáo Hội Hoàn Vũ, như chúng tôi biết được… nhu cầu khẩn thiết đối với Giáo Hội trong việc đối thoại và hiểu được các nền văn hóa của các nước khác ở lục địa Á Châu rộng lớn này, như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam v.v.”

 

                    

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 21/2/2006

 TOP

Thi Thể của Chị Lucia được dời về Vương Cung Thánh Đường Mẹ Mân Côi ở Đền Thánh Fatima

Thật vậy, hôm Chúa Nhật 19/2/2006, thi thể của nhân vật thụ khải sống sót cuối cùng trong ba thụ khải nhân đã được dời về Đền Thánh Fatima đúng như dự tính khi chị qua đời một năm trước đây (13/2/2005).

Có khoảng 250 ngàn người hành hương đã vẫy khăn trắng khi thi thể chị tiến vào Đền Thờ Mẹ Mân Côi. Lịch sử về các cuộc hiện ra cũng được đọc lại trong lễ nghi ngắn gọn này. Thi thể của chị được nằm bên cạnh hai chân phước Phanxicô và Giaxinta trong đền thờ này.

Trên mộ của chị có khắc hàng chữ như sau: “Nữ Tu Maria Lucia của Chúa Giêsu và của Trái Tim Vô Nhiễm, người đã được Đức Mẹ hiện ra. Sinh ngày 22/3/1907 chết ngày 13/2/2005. Được di hài về Đền Thờ này ngày 19/2/2006” Riêng hai bia đá trên một của hai người em họ của chị còn được đề thêm chữ: “Được phong chân phước ngày 13/5/2000”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/2/2006

 

TOP

 

Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới - Một Vị Thế Mới

 

Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới đã được thành lập như một hiệp hội của tín hữu cho Giáo Hội hoàn vũ, theo sắc lệnh của Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Rylko, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân, gửi giáo sư Americo Pablo Lopez Ortiz, chủ tịch quốc tế của phong trào này. 

 

Một lễ nghi công khai đã được tổ chức tại phân bộ này vào ngày 3/2/2006 (gần 60 năm phong trào này được thành lập). Trong cuộc cử hành này, vị TGM chủ tịch phân bộ này của Tòa Thánh đã cho biết:

 

“Thật là vui mừng việc chúng ta cử hành giây phút ban hành sắc lệnh thiết lập và chuẩn nhận về Vị Thế của Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới.

 

“Việc cử hành này nói lên cơ hội phong trào này được Tòa Thánh chính thức và hân hoan công nhận như là một thực thể mới có mục đích thánh hóa các phần tử của mình và xây dựng toàn thể Giáo Hội. Tín hữu giáo dân đồng thời cũng được Tòa Thánh xác nhận về quyền lợi của họ trong việc thành lập hội đoàn để cổ võ một đời sống Kitô hữu trọn lành hơn và để phát triển những hoạt động truyền bá phúc âm hóa khắp thế giới”.

 

Sắc lệnh thành lập đề ngày Lễ Mẹ Mân Côi 7/10/2005, (tức vào năm chị Lucia qua đời -13/2/2005), viết:

 

“Các phần tử của Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới, lan tràn ở nhiều quốc gia trên thế giới, dấn thân để trở thành những chứng nhân trung thực của đức tin Công Giáo nơi gia đình của họ, ở chỗ làm việc, tại các giáo xứ và cộng đồng, tham dự vào Việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa bằng đường lối ấy….

 

“Cứu xét thấy rằng Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới là một phương tiện thuận hợp cho việc đào luyện giáo dân bằng sứ điệp Fatima theo chiều hướng tân truyền bá phúc âm hóa được đề ra bởi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Biển Đức XVI […], Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân ban sắc lệnh chuẩn nhận Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới và các điều khoản nội qui của phong trào này”.

 

Trong bài ngỏ của mình cùng Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân, ông chủ tịch toàn cầu Lopez Ortiz đã nhận định sắc lệnh này là “một ân phúc vĩ đại và đồng thời cũng là một trách nhiệm lớn lao cần phải được thi hành bằng lòng tin tưởng và một cách trọn hảo. Với ảnh hưởng của Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới, tất cả mọi hội đoàn và phong trào tông đồ truyền bá sứ điệp đích thực của Fatima đều gặp được một mẫu gương về lòng trung thực và thành tín với Đức Thánh Cha cũng như với các vị giám mục giáo phận hiệp thông với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô”.

 

Vị chủ tịch này nhấn mạnh đến lời hứa của Đức Trinh Nữ về một kỷ nguyên hòa bình, một thế kỷ hy vọng, một Lễ Hiện Xuống Thánh Mẫu mới, và một mùa xuân mới cho thế giới, nếu con người biết trung thành với sứ điệp của Mẹ.

 

“Sứ Điệp Fatima hiện nay càng trở nên khẩn trương hơn trước đây, càng thực tiễn và càng thiết yếu hơn đối với tình trạng khủng hoảng về luân lý và thiêng liêng nơi nền văn minh của chúng ta”.

 

Tham dự buổi lễ ở Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân này có các phái đoàn đại diện của 14 quốc gia. Bao gồm Đức Giám Mục Seraphim ở giáo phận Leiria-Fatima; Đức ông Luciano Guerra, giám đốc Đền Thánh Fatima; và vị nguyên tổng thống Ý là Oscar Luigi Scalfaro. Các vị TGM và các vị lãnh đạo phong trào này cấp quốc gia thuộc 5 châu cũng có mặt.

 

Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới có cả mấy chục triệu phần tử ở 50 quốc gia. Phong trào này được thành lập ban đầu với tên gọi là Đạo Binh Xanh, ở Hoa Kỳ từ năm 1947. Tổng hành dinh của phong trào này được đặt tại Đền Thánh Fatima. Xin vào mạng điện toán toàn cầu www.worldfatima.com

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/2/2006

 

 

TOP

 

 

Các Bảo Tàng Viện của Tòa Thánh Vatican: 500 Năm Thành Lập – Mừng Suốt Năm 2006

 

Các Bảo Tàng Viện Vatican được thành lập 500 năm trước đây trong khu Vườn Vatican. Đó là nơi Đức Julius II đã đặt một nhóm cẩm thạch Laocoon, một thứ công trình nghệ thuật cổ được tìm thấy vào ngày 14/1/1506 ở một khu vườn gần Colosseum.

 

Để mừng kỷ niệm 500 năm thành lập này, vị giám đốc Bảo Tàng Viện Vatican này là Francesco Buranelli đã phác họa những phát động cho cả năm 2006, với Thánh Lễ vào Thứ Sáu 17/2/2006, do Đức Hồng Y Edmund Szoka, chủ tịch Văn Phòng Thống Đốc Quốc Đô Vatican, chủ tế cùng với sự tham dự của các nhân viên phục vụ tại những bảo tàng viện này.

 

Nửa phần đầu trong năm 2006, hai bảo tàng viện quan trọng vừa được phục hồi sẽ được tái mở cho công chúng vào viếng thăm: “Chúng tiêu biểu cho việc các vị Giáo Hoàng Rôma dấn thân cổ võ việc truyền bá phúc âm hóa bằng ngôn ngữ của nghệ thuật”, vị giám đốc trên đây nói như thế.

 

Một trong 2 bảo tàng viện mới được phục hồi và sẽ tái mở này là Bảo Tàng Pio Christian, do Giáo Hoàng Biển Đức XIV thành lập trong thời khoảng 1756 và 1757, để cất chứa những vật khác nhau được Tòa Thánh kiếm được vào tiền bán thế kỷ 18, và “để phát động ánh quang rạng ngời của Rôma và củng cố chân lý của Kitô Giáo”. Bảo tàng này sẽ được mở ra vào ngày 16/3 với những thứ trưng bày được tìm thấy trong các hang toại đạo ở Rôma trong thế kỷ 18.

 

Bảo tàng viện thứ hai được tái phục hồi và mở ra trong năm kỷ niệm 500 năm này là Bảo Tàng Missionary Ethnological, do Đức Piô XI thành lập năm 1926, một bảo tàng được đặt ở Dinh Lateran cho đến năm 1963 là năm được Đức Gioan XXIII quyết định dời về Vatican. Bảo tàng này đã được tái mở 10 năm sau đó dưới thời giáo triều Đức Phaolô VI, cho thấy các nền văn hóa và những việc thực hành đạo giáo của các quốc gia ngoài Âu Châu, và những giao tiếp của những nền văn hóa cùng thực hành đạo giáo này với Kitô Giáo.

 

Những khu vực giành cho Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Tibet và Mông Cổ sẽ được mở ra vào ngày 20/6.

 

Khách hành hương có thể viếng thăm khoảng 30 lăng tẩm và 70 mộ riêng được đề ngày tháng từ thế kỷ thứ nhất BC đến thế kỷ thứ ba AD.

 

Cuộc mừng kỷ niệm sẽ được chấm dứt vào tháng 11 với cuộc triển lãm “Laocoon, với Nguồn Gốc của Các Bảo Tàng Viện Vatican”. Biến cố này sẽ được kèm theo bằng một hội nghị quốc tế về đề tài liên quan tới căn tính, yếu tính và vai trò của các bảo tàng viện trong xã hội tân tiến ngày nay.

 

Xin xem mạng điện toán toàn cầu mv.vatican.va/StartNew_EN.html.

                                                                                                                                                                             

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/2/2006

  

TOP

 

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ban Ơn Toàn Xá cho Bệnh Nhân trong Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 11/2/2006

 

Ngày Thế Giới Bệnh Nhân Thứ XV 11/2/2006, Lễ Mẹ Lộ Đức, sẽ được tổ chức tại Adelaide Úc Đại Lợi, kết thúc bằng Thánh Lễ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phanxicô Xavier trong thành phố này. Trong văn thư đề ngày 6/2/2006, Đức Thánh Cha đã chỉ định phái đoàn đại diện Tòa Thánh cho biến cố chung hằng năm của Giáo Hội này là ĐHY Javier Lozano Barragan, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Thừa Tác Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe, và hai vị thuộc tổng giáo phận xẩy ra biến cố này là các Đức Ông James O’Loughlin, cha sở ở giáo xứ Salisbury, và Vincent Tiggeman, đại diện tòa án giáo phận.

 

Hôm Thứ Bảy 4/2/2006, Tòa Ân Giải của Tòa Thánh, qua Đức Hồng Y James Francis Stafford, đã ban hành một sắc lệnh về việc Đức Thánh Cha, hôm 2/1/2006, đã ban Ơn Toàn Xá cho Bệnh Nhân trong Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 2006, nguyên văn như sau:

 

Sắc Lệnh

Ban Ân Xá Đặc Biệt Cho Tín Hữu

Nhân Ngày Thế Giới Bệnh Nhân XV

 

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, trong buổi triều kiến ngày 2/1/2006 với Đức Hồng Y James Francis Stafford, chủ tịch tòa ân giải, đã ban các ân xá cho tín hữu nhân Ngày Thế Giới Bệnh Nhân XV, là ngày sẽ được cử hành vào Lễ Đức Mẹ Lộ Đức 11/2, tuyệt đỉnh là Thánh Lễ tại vương cung thánh đường Thánh Phanxicô Xavier ở Adelaide, Úc Đại Lợi, vì ngài cảm thấy thiết tha mong muốn là bệnh nạn và đớn đau của loài người, được chịu đựng bằng việc phó thác và hiến dâng lên Cha hằng hữu qua Trinh Nữ Maria, cùng với các khổ đau của Con Ngài là đấng cứu chuộc, nhất là ngài tin tưởng hy vọng rằng các hoạt động và sáng kiến theo lòng đạo đức Kitô Giáo cũng như theo tình đoàn kết xã hội là những gì sẽ được phát động thuận lợi cho bệnh nhân, nhất là cho những ai, chịu đựng các trục trặc về tâm thần, đang bị xã hội và chính gia đình họ loại trừ.

 

A.                 A.    Ơn Đại Xá

 

Một ơn đại xá được được ban với những điều kiện thông thường (xưng tội, Hiệp Lễ, và cầu theo ý Đức Giáo Hoàng) cho những phần tử tín hữu, với tinh thần hoàn toàn không dính bén với tội lỗi, chuyên chú và sốt sắng tham dự vào ngày 11/2 ở vương cung thánh đường Adelaide, hay tham dự vào một việc cử hành linh thánh ở bất cứ nơi nào khác, được thẩm quyền Giáo Hội ấn định tổ chức, để nài xin Thiên Chúa ban cho những ý chỉ của Ngày Thế Giới Bệnh Nhân này.

 

Thành phần tín hữu, đang ở trong các bệnh viện công hay ở tại nhà riêng, như “Những Người Samaritanô Nhân Lành” bác ái giúp đỡ người bệnh – nhất là những ai mắc bệnh tâm thần cần phải tỏ ra nhẫn nại, chăm sóc và quan tâm hơn – và những ai, vì việc phục vụ phải làm, không thể tham dự vào việc cử hành vừa được nói tới, cũng sẽ được hưởng cùng một ơn toàn xá, nếu vào ngày này họ quảng đại thực hiện, ít là mấy tiếng đồng hồ, việc bác ái giúp đỡ bệnh nhân như thể họ đang phục vụ chính Bản Thân Chúa Kitô (x Mt 25:40), bằng một tâm hồn hoàn toàn không dính bén với tội lỗi, và có ý tuân giữ sớm bao nhiêu có thể những điều kiện cần thiết để được lĩnh ơn toàn xá.

 

Sau hết, tín hữu nào, vị bệnh nạn, tuổi già hay những lý do tương tự, không thể tham dự vào lễ nghi được nói đến trên đây, cũng có thể hưởng một ơn toàn xá, nếu, bằng một tâm hồn hoàn toàn không dính bén với tội lỗi và có ý tuân giữ sớm bao nhiêu có thể những điều kiện cần thiết, họ cùng với Đức Thánh Cha tham dự một cách thiêng liêng vào việc cử hành được nói đến trên đây, cầu nguyện sốt sắng cho bệnh nhân, và hiến dâng, qua Trinh Nữ Maria là “Sinh Lực của Bệnh Nhân”, những khổ đau thể lý và tinh thần của họ cho Thiên Chúa.


B.        
Ơn Tiểu Xá

 

Bản văn của sắc lệnh này kết thúc là ơn tiểu xá cũng được ban cho tất cả mọi tín hữu, bất cứ khi nào, giữa ngày 9 đến 11 tháng Hai, với lòng thống hối ăn năn, dâng lời nguyện cầu thiết tha lên Chúa nhân lành xin cho những ước nguyện này được đáp ứng để giúp cho thành phần bệnh nhân.

 

Sắc lệnh này có công hiệu chỉ cho dịp này mà thôi, bất kể những gì trái nghịch.

 

Ban hành tại Rôma, tại văn phòng Tông Tòa Ân Giải, ngày 18/1/2006, bắt đầu Tuần Lễ Nguyện Cầu Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo.

 

Đức Hồng Y James Francis Stafford,

Chủ Tịch

 

Gianfranco Girotti, O.F.M.Conv.

Nhiếp Chính

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến (phần tín liệu mở đầu) ngày 3/2/2006 và Zenit (nguyên văn sắc lệnh) phổ biến ngày 5/2/2006

 

 

TOP

 

 

Tòa Thánh Vatican lên tiếng về vụ các bức biếm họa trên báo chí Âu Châu phạm tới Hồi Giáo

 

Hôm Thứ Bảy, 4/2/2006, văn phòng Báo Chí của Tòa Thánh Vatican đã phổ biến một công văn liên quan tới vụ các bức biếm họa trên báo chí Âu Châu phạm tới Hồi Giáo, như sau:

 

“Để đáp lại một số lời yêu cầu về chủ trương của Tòa Thánh liên quan tới những hình ảnh mới đây xúc phạm tới những cảm thức tôn giáo của cá nhân cũng như của toàn thể các cộng đồng, văn phòng báo chí của Tòa Thánh Vatican xin lên tiếng như sau:

 

1.         Quyền tự do tư tưởng và phát biểu, một thứ quyền được Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền công nhận, không thể nào bao gồm cả quyền phạm tới cảm thức tôn giáo của thành phần tín hữu. Nguyên tắc này hiển nhiên áp dụng cho bất cứ một tôn giáo nào.

 

2.         Ngoài ra, việc chung sống cũng đòi phải có một bầu khí tương kính thuận lợi cho hòa bình giữa con người và các dân tộc. Hơn nữa, những hình thức chỉ trích chọc giận hay chế nhạo kẻ khác là những gì tỏ ra thiếu cảm quan nhân bản và có thể gây ra khiêu khích bất khả chấp ở một số trường hợp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng những vết thương đang tồn tại nơi đời sống của các dân tộc không được chữa lành bằng cách như thế.

 

3.         Tuy nhiên, cần phải nói ngay rằng, những xúc phạm gây ra bởi một cá nhân hay một cơ cấu báo chí không thể qui trách cho các tổ chức công quyền nơi xứ sở liên quan, những xứ sở có thẩm quyền cuối cùng cần phải nhúng tay can thiệp theo nguyên tắc pháp luật quốc gia. Bởi thế, những hành động phản đối có tín h cách bạo lực cũng là những gì đáng trách. Việc phản ứng chống lại sự xúc phạm cũng không thể nào thiếu mất tinh thần thực sự của tất cả mọi tôn giáo. Việc bất khoan dung thực tiễn hay theo ngôn từ, bất kể từ đâu xuất phát, vì hành động hay phản ứng, bao giờ cũng là một thứ đe dọa trầm trọng cho hòa bình.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 5/2/2006

 

 

TOP

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về chủ đề Đại Kết: “Thập Giá của Chúa Kitô Chiếu Soi Tất Cả Mọi Người: Niềm Hy Vọng cho Việc Canh Tân và Mối Hiệp Nhất ở Âu Châu

 

Sau đây là những ý tưởng tiêu biểu cho bài diễn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tại Sảnh Đường Clementine ngỏ cùng phái đoàn 150 vị đại biểu thuộc 50 quốc gia, đại diện cho 40 Giáo Hội và 34 hội đồng Giám Mục cùng trên 50 hiệp hội cùng phong trào, một phái đoàn đại biểu tham dự vào Ủy Ban Sửa Soạn cho Hội Nghị Đại Kết Âu Châu lần Thứ Ba. Ủy Ban Sửa Soạn này sẽ họp nhau trong giai đoạn đầu này cho tới Thứ Sáu 27/1/2006, và nỗ lực đại kết này sẽ lên tới tột đỉnh của nó ở Sibiu nước Romania vào Tháng 9/2007. Chủ đề của cuộc họp này là “Thập Giá của Chúa Kitô Chiếu Soi Tất Cả Mọi Người: Niềm Hy Vọng cho Việc Canh Tân và Mối Hiệp Nhất ở Âu Châu”.

 

Trong bài diễn của mình, ngài nhấn mạnh đến tầm vóc quan trọng và tác dụng của vấn đề Đại kết đối với định mệnh của một Âu Châu Hiệp Nhất:

 

“Ở một Âu Châu đang trên đường tiến đến mối hiệp nhất về chính trị, chúng ta có thể chấp nhận hay chăng Giáo Hội của Chúa Kitô là yếu tố gây ra tình trạng bất nhất và bất hợp? Phải chăng đó là một trong những gương mù lớn nhất của thời đại chúng ta đây?

 

“Ưu tiên đích thực đối với Âu Châu đó là việc tái cương quyết dấn thân để ánh sáng của Chúa Kitô được sáng tỏ và chiếu soi những bước đường của lục địa Âu Châu vào lúc mở màn cho tân thiên niên kỷ này.

 

“Tôi hy vọng rằng mỗi đoạn đường của cuộc hành trình này đều được chiếu soi bởi ánh sáng này của Chúa Kitô, và Hội Nghị Đại Kết Âu Châu sẽ góp phần vào việc làm cho thành phần Kitô hữu thuộc các quốc gia của chúng ta ý thức hơn nữa về nhiệm vụ của họ trong việc làm chứng cho đức tin nơi môi trường văn hóa hiện nay là môi trường thường có những đặc tính của tương đối chủ nghĩa và tình trạng khô đạo.

 

“Để cho tiến trình hiệp nhất đang diễn tiến được thành quả, Âu Châu cần phải tái nhận thức căn gốc của mình, bằng cách giành chỗ cho các thứ giá trị đạo lý là những gì thuộc về gia sản thiêng liêng phong phú và vững chắc của nó.

 

“Tuy nhiên, việc chúng ta hiện diện với tư cách là thành phần Kitô hữu sẽ là những gì quyết liệt và rạng ngời chỉ khi nào chúng ta can đảm cương quyết tiến trên con đường hòa giải và hiệp nhất.

 

“(Sau khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ) cần phải liên kết để giải quyết những thách đố hiện tại, bắt đầu với thách đố nơi tính cách tân tiến và tục hóa.

 

“Kinh nghiệm đã cho thấy rõ là việc đối thoại chân thành và huynh đệ là những gì làm phát sinh ra lòng tin tưởng, những gì loại trừ đi các nỗi sợ hãi và thành kiến, những gì thắng vượt những khó khăn, và sẵn sàng đương đầu một cách yên hàn và xây dựng.

 

“(Đức Thánh Cha lập lại) ý muốn dứt khoát của mình, một ý định đã được bày tỏ ngay vào lúc mở đầu cho giáo triều của ngài, trong việc thực hiện việc dấn thân hàng đầu để không ngừng hoạt động cho việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình nơi tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/1/2006

 

 

TOP

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Bài giảng trong Buổi Kinh Tối 25/1/2006 Bế Mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo

 

Sau đây là những ý tưởng tiêu biểu cho bài diễn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ cùng phái đoàn 150 vị đại biểu các Giáo Hội và cộng đồng giáo hội Kitô Giáo tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành. Đức Thánh Cha liên kết mối hiệp nhất Kitô Giáo với Tình Yêu Thiên Chúa, nội dung bức thông điệp đầu tiên của ngài, một văn kiện vừa được ban hành trước đó mấy tiếng đồng hồ. Ngài đã mời gọi mọi tham dự viên bấy giờ hãy nhìn “tất cả con đường đại kết theo chiều hướng của tình yêu Thiên Chúa, của thứ Tình Yêu là Thiên Chúa”:

 

“Thiên Chúa là tình yêu. Tất cả đức tin của Giáo Hội được xây dựng trên tảng đá này. Đặc biệt là việc nhẫn nại tìm kiếm mối hiệp thông trọn vẹn nơi tất cả mọi thành phần Kitô hữu được xây dựng trên tảng đá ấy.

 

“Gắn mắt vào chân lý này, tột đỉnh của mạc khải thần linh, cho dù sự kiện chia sẽ vẫn còn chồng chất đau thương, tình trạng chia rẽ này dường như có thể vượt qua và không làm cho chúng ta nản chí.

 

“Ngay cả theo quan điểm nhân loại đi nữa, tình yêu cũng tỏ ra như là một mãnh lực bất khả thắng, thì chúng ta phải nói sao về ‘người nhận biết và tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa đã giành cho chúng ta’ (1Jn 4:16)? Đây.

 

“Tình yêu chân chính không loại trừ đi những khác biệt hợp lý, nhưng hòa hợp chúng lại thành một mối hiệp nhất ở mức độ cao hơn, một mối hiệp nhất được áp đặt lên chúng ta từ bên ngoài, đúng hơn, nói cách khác, một mối hiệp nhất của toàn thể được hình thành từ bên trong.

 

“Nó là mầu nhiệm hiệp thông, như nó liên kết con người nam nữ lại thành một cộng đồng yêu thương và sự sống là hôn nhân thế nào, nó cũng làm cho Giáo Hội thành một cộng đồng yêu thương, cống hiến mối hiệp nhất cho một kho tàng đa dạng về các tặng ân và các truyền thống.

 

“Trong việc phục vụ cho mối hiệp nhất yêu thương này, Giáo Hội Rôma, theo Thánh Ignatiô Antiôkia diễn tả, ‘chủ sự trong đức ái’.

 

“(Vị Giám Mục Rôma một lần nữa đặt trong tay Thiên Chúa) thừa tác vụ kế vị Thánh Phêrô của mình, xin Thánh Linh soi sáng và tăng sức cho thừa tác vụ này, nhờ đó ngài luôn nuôi dưỡng mối hiệp nhất huynh đệ nơi tất cả mọi Kitô hữu”.

 

Theo tinh thần ấy, ngài mời gọi tất cả mọi tham dự viên bấy giờ hãy cùng nhau nguyện cầu cho mối hiệp nhất, vì “việc cùng nhau van nài đã là một bước hướng tới mối hiệp nhất nơi những ai nguyện cầu cho mối hiệp nhất này rồi vậy.

 

“Điều này dĩ nhiên không có nghĩa là việc Thiên Chúa đáp ứng là do chúng ta yêu cầu, ở một nghĩa nào đó. Chúng ta quá biết điều này: đó là mối hiệp nhất theo lòng thỏa nguyện trước hết lệ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa, Đấng quan phòng và quảng đại vượt trên sự hiểu biết của con người cùng những điều yêu cầu và mong mỏi của họ”.

 

Đức Gioan Phaolô II thường kết thúc Tuần Lễ Nguyện Cầu Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành, như vị đương kim Giáo Hoàng tiếp tục, vì ở ngôi đền thờ này, vào năm 1959, Đức Gioan XXIII đã triệu tập Công Đồng Chung Vaticanô II.

 

Trong bài giảng của mình, Đức Biển Đức XVI cũng nhìn nhận rằng trong đền thờ này, vào ngày 5/12/1965, Đức Phaolô VI “đã tổ chức cuộc cầu nguyện chung đầu tiên vào lúc kết thúc Công Đồng này”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/1/2006

 

 

TOP

 

 

Tiến Trình Những Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình trong Giáo Hội

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phát động, như Ngày Giới Trẻ Thế Giới vậy. Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình này thường lệ 3 năm một lần. Khởi đầu của tiến trình những Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình này được bắt nguồn từ Năm Gia Đình 1994 do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lợi dụng Năm Quốc Tế Về Gia Đình do Liên Hiệp Quốc tổ chức, như ngài đã lợi dụng Năm Quốc Tế Về Giới Trẻ 1985 do Liên Hiệp Quốc phát động để bắt đầu Ngày Giới Trẻ Thế Giới từ đó. Để mở màn cho Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình này, Đức Gioan Phaolô II đã tuyêu bố: “Tương Lai của Nhân Loại được Khuôn Đức nơi Gia Đình”.

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình lần thứ nhất được diễn ra tại Rôma với sự hiện diện của Đức Thánh Cha vào ngày 9-9/10/1994, trong Năm Gia Đình của Giáo Hội (được bắt đầu từ Lễ Thánh Gia 26/12/1993) này ngài đã viết hai bức thư đặc biệt, một là “Thư Gửi Các Gia Đình” ngày 2/2/1994 và một là “Thư Gửi Các Trẻ Em” ngày 13/12/1994.

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình lần thứ hai được diễn ra tại Rio de Janeiro, Ba Tây, 4-5/10/1997, với sự hiện  diện của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và chủ đề của lần này là “Gia Đình, Tặng Ân và Dấn Thân, Niềm Hy Vọng Cho Nhân Loại”.

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình lần thứ ba được diễn ra tại Rôma, trong Năm Thánh 2000 vào thời điểm 14-15/10, với sự hiện  diện của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và chủ đề của lần này là “Trẻ Em, Mùa Xuân của Gia Đình và Xã Hội”.

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình lần thứ bốn được diễn ra tại Manilla Phi Luật Tân, thời điểm 25-26/1/2003, với sự hiện diện của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua hệ thống truyền hình viễn liên, và chủ đề của lần này là “Gia Đình Kitô Giáo là Tin Mừng Cho Ngàn Năm Thứ Ba”.

 

Cuộc Họp Thế Giới của Các Gia Đình lần thứ năm được diễn ra tại Valencia, Tây Ban Nha thời điểm 7-9/7/2006, có Đức Thánh Cha Biển Đức XVI chủ sự, và chủ đề của lần này là “Việc Truyền Đạt Đức Tin Trong Gia Đình”.

 

Kinh Cầu Cho Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình Lần Năm

 

Ôi Thiên Chúa, Đấng đã để cho chúng con một mẫu gương trọn hảo nơi Thánh Gia về đời sống gia đình sống tin tưởng và tuân hợp ý muốn của Chúa.

 

Chúng con cám ơn Chúa cho gia đình chúng con. Xin ban cho chúng con sức mạnh để tiếp tục liên kết trong yêu thương, quảng đại và vui tương của việc cùng nhau chung sống.

 

Lạy Chúa, chúng con cầu xin để giai đoạn sửa soạn cho Cuộc Họp Thế Giới Của Các Gia Đình này trở thành một thời gian đầy cảm nghiệm đức tin và tăng trưởng nơi gia đình của chúng con.

 

Xin giúp chúng con trong sứ vụ truyền đạt đức tin chúng con đã lãnh nhận từ cha mẹ của chúng con. Xin hãy mở lòng con cái chúng con để hạt giống đức tin chúng đã lãnh nhận nơi phép rửa tăng trương nơi chúng.

 

Xin hãy củng cố đức tin giới trẻ của chúng con, để chúng lớn lên trong việc nhận biết Chúa Giêsu. Xin hãy gia tăng tình yêu và lòng trung thành nơi các cuộc hôn nhân, nhất là những ai trải qua những lúc đau thương hay khốn khó.

 

Xin hãy tuôn ban ân sủng và phúc lành của Chúa trên tất cả các gia đình trên thế giới, nhất là những ai đang sửa soạn cho Cuộc Họp Thế Giới Của Các Gia Đình lần thứ năm ở Valencia này. Xin cũng hãy chúc lành cho Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng con. Xin hãy ban cho ngài khôn ngoan và sức mạnh, cũng như ban cho chúng con niềm vui được đón tiếp ngài ở Valencia cùng với các gia đình đến từ khắp nơi trên thế giới.

 

Hiệp với Thánh Giuse và Mẹ Maria, chúng con xin những điều này nhờ Chúa Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con. Amen.

Kinh Cầu Cho Gia Đình của Đức Gioan Phaolô II nhân Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình IV

 

Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Đấng mà mọi gia đình

Trên trời dưới đất có được tên gọi.

 

Lạy Cha, Cha là Tình Yêu và là Sự Sống.

Qua Con của Cha là Đức Giêsu Kitô được hạ sinh bởi một người nữ,

Và nhờ Thánh Thần là suối nguồn đức ái thần linh,

Xin ban cho hết mọi gia đình trên trái đất này

được trở thành Đền thờ của sự sống và yêu thương

Cho từng thế hệ kế tiếp.

 

Xin Cha ban ơn hướng dẫn tâm tưởng và hành động

Của những người chồng người vợ

Vì thiện ích của gia đình họ cũng như cho tất cả mọi gia đình trên thế giới này.

 

Xin ban cho giới trẻ được tìm thấy trong gia đình

Nơi nương tựa vững chắc cho phẩm vị con người của họ

Cũng như cho việc họ tăng trưởng trong chân lý và yêu thương.

 

Xin ban cho tình yêu,

Được ơn bí tích hôn phối kiên cường

Trở nên mãnh liệt hơn tất cả mọi yếu hèn và thử thách

Mà gia đình của chúng con đôi khi phải trải qua.

 

Nhờ việc chuyển cầu của Thánh Gia Nazarét,

Xin ban cho Giáo Hội được thành đạt trong việc thi hành

Sứ vụ toàn cầu của mình nơi gia đình

Và qua gia đình.

 

Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con,

Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống

Muôn thuở muôn đời.

Amen

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyểh dịch phần kinh cầu cho Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đ2nh Lần V từ Zenit ngày 24/1/2006 và của ĐTC GPII từ

http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/family/documents/rc_pc_family_doc_20020412_iv-meeting-families-manila_en.html#Prayer%20for%20the%20Family

 

 

TOP

 

 

Sứ Điệp của Tòa Thánh cho Ngày Thế Giới Phong Cùi Thứ 53 cử hành Ngày 29/1/2006

 

Sứ Điệp của Đức Hồng Y

Javier Lozano Barragán

Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe

Gửi Quí Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Các Quốc Gia

Và Quí Giám Mục Phụ Trách Chăm Sóc Mục Vụ Về Sức Khỏe

 

Ngày Thế Giới Phong Cùi

Chúa Nhật 29/1/2006

 

“Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa tôi lành sạch” (Mt 8:2).

 

1.         Trung thành với Thày mình và Chúa của mình là Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội Công Giáo luôn bảo tồn ý thức sống động và sinh động về việc được sai vào thế giới để rao giảng Phúc Âm về Vương Quốc Thiên Chúa và để chữa trị thành phần đau yếu (x Mt 10:1; Mk 6:3; Lk 9:1-6, 10:9).

 

Như Chúa Giêsu là Đấng đã gặp con người bị phong cùi, đã nghe thấy họ kêu lên “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa tôi lành sạch” (Mt 8:2), đã chữa lành họ và đã trả họ về với đời sống xã hội (x Mt 8:2-4), vào Ngày Thế Giới lần thứ 53 giành cho Những Người Mắc Chứng Phong Cùi này, Giáo Hội muốn lắng nghe rất nhiều người trên thế giới vẫn còn đang bị chứng bệnh Hansen, tức là bệnh phong cùi, và, qua Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe, muốn lên tiếng cho tiếng kêu của họ xin giúp đỡ, để tất cả mọi người chúng ta cùng nhau cảm thấy mình cần phải tham gia theo khả năng và trách nhiệm khác nhau của mình vào việc dấn thân cống hiến những đáp ứng cụ thể cho các nhu cầu chăm sóc và chữa trị những ai bị phong cùi.

 

2.         Mặc dù thật sự là việc tiến bộ về khoa học, dược chất và y khoa ngày nay cho chúng ta có được những thứ thuốc men công hiệu và những hình thức chữa trị bệnh phong cùi ở các giai đoạn sơ khởi của nó, nhưng vẫn còn rất đông bệnh nhân và những miền đất rộng lớn trên thế giới này vẫn chưa có các khả năng ấy ở mức độ chữa trị bởi các nguyên nhân khác nhau cần phải được đem ra phân tích và thẩm định.

 

Một số bản thống kê được Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới trình bày giúp chúng ta cho thấy được rằng: Vào đầu năm 2005 những trường hợp bị phong cùi được xác nhận ở Phi Châu là 47.596, ở Mỹ Châu là 36.877, ở Đông Nam Á là 186.182, ở Đông Địa Trung Hải là 5.398, và ở Tây Thái Bình Dương là 10.010. May mắn là, theo Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới, một số bản thống kê hiện có cho thấy mức độ giảm bớt của chứng bệnh này, ít là theo các dữ kiện được công bố: từ 763.262 người bị phong cùi năm 2001 con số thụt xuống còn 407.791 năm 2004.

 

Việc thỏa đáng chính đáng và chung này trước thành quả chiếm đạt trong việc chiến đấu chống chứng bệnh Hansen này không có nghĩa là bớt dấn thân hơn, hay được bỏ quên các nhu cầu thường xuyên, những căn nguyên đặc hữu của chứng bệnh này, những thành kiến vẫn còn xẩy ra, và những lệch lạc khả dĩ ở lãnh vực tổ chức.

 

Việc suy giảm vấn đề chú trọng cần phải có đối với vấn đề này sẽ là những gì đặc biệt làm tổn hại ở vào lúc mà – nếu chúng ta rất cần đến nó – phải thực hiện một nỗ lực quyết liệt để hoàn toàn loại trừ đi chứng bệnh phong cùi này ở hết mọi phần đất trên thế giới.

 

3.         Việc dấn thân này chắc chắn đòi phải có sự hợp tác tốt đẹp hơn nữa và liên lỉ hơn nữa giữa các tổ chức quốc tế, các chính phủ quốc gia và trong vùng, những cơ quan không phải của chính phủ liên quan đến lãnh vực này, các Giáo Hội địa phương, và các nhóm hoạt động ở tầm cấp địa phương, đối với những chương trình đặc biệt và móc nối được đề ra để đáp ứng một cách hiêu nghiệm hơn với những nhu cầu hiện đại cũng như với việc chữa trị thành phần đang ở trong tình trạng có nguy cơ bị phong cùi hay những ai đã bị nhiễm chứng phong cùi.

 

Trong số những nhu cầu chúng ta ngày nay được kêu gọi đáp ứng, đó là, ngoài việc phát triển cơ cấu và các đường lối hiệu nghiệm hơn và bảo đảm hơn trong việc tự do phân phối thuộc men cùng với việc cẩn thận lưu tâm tới vấn đề vệ sinh, còn có nhu cầu kiến tạo và huấn luyện, trước hết ở các quốc gia và vùng đất khác nhau có bệnh phong cùi nhiều nhất, các nhóm cán sự xã hội hay sức khỏe có thể hoạt động ở các miền địa phương, chẩn bệnh đúng lúc chứng bệnh phát hiện và chữa trị nó ở những giai đoạn chớm phát và ở cả giai đoạn nó đang phát triển. 

 

Từ đó xuất phát ra, một đàng, là nhu cầu cần có những dự án huấn luyện được phác họa xứng hợp, và đàng khác, là nhu cầu cần phải có kiến thức xác đáng hơn về các thực tại và các vùng chưa được phục vụ đầy đủ hay chưa có những chương trình xã hội khác nhau và những chương trình chữa trị khác nhau.

 

4.         Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe muốn nói lên một tâm tư đặc biệt và trìu mến vào Ngày Thế Giới Thứ 53 của Những Ai Bị Phong Cùi cùng tất cả mọi cộng đồng Kitô hữu khắp nơi trên thế giới, cùng các vị mục tử của các cộng đồng này, và cùng tất cả mọi vị thừa sai nam nữ, để bày tỏ cùng họ lòng biết ơn sâu xà và huynh đệ về việc họ hết sức dấn thân chiến đấu chống lại thứ bệnh phong cùi này cũng như trong việc cung cấp vấn đề yêu thương chăm sóc cho những ai bị chứng bệnh này hành hạ. Thật vậy, người ta không thể nào quên được cách thức Giáo Hội luôn hoạt động nơi rất nhiều quốc gia trên thế giới bằng việc hoàn toàn dấn thân để đón nhận, chăm sóc và chữa trị, và để tái hội nhập vào xã hội những ai đang bị hay đã bị bệnh phong cùi.

 

Việc cử hành Ngày Thế Giới lần thứ 53 này, đối với tất cả mọi cộng đồng của chúng ta, cần phải trở thành một lời mọi gọi hãy canh tân việc dấn thân chung của chúng ta cho tình đoàn kết, cho việc cảm thức hóa vấn đề này, cho việc hỗ trợ những ai đang thi hành sứ vụ của chúng ta đặc biệt liên quan tới lãnh vực này, cũng như những ai hoạt động ở các lãnh vực khác nhau để chiến đấu chống lại chứng bệnh phong cùi ấy.

 

Đặc biệt là vào ngày 29/1, chúng tôi mời gọi các cộng đồng của chúng ta hãy “tưởng nhớ” trong Việc Cử Hành Thánh Thể đến Toàn Thân Chúa Kitô đang hiện diện nơi rất nhiều người cũng như các gia đình vẫn còn đang chịu đựng bởi chứng bệnh phong cùi này, hy vọng và mong muốn rằng Thánh Thể là hiện thực hóa và là thể hiện của tình yêu thương cứu độ và liên kết của Thiên Chúa đối với chúng ta cũng như với tất cả mọi người, trở thành một mạch nguồn yêu thương hơn nữa và đoàn kết hơn nữa đối với thành phần chịu đựng bởi và với chứng bệnh phong cùi, một mạch nguồn có thể xây đắp một nhân loại chấn chính hơn, huynh đệ hơn, một nhân loại an bình.

 

Đó sẽ là một đường lối cụ thể để tỏ ra rằng “Thiên Chúa là tình yêu cứu độ, là một Người Cha yêu thương muốn thấy con cái của Ngài nhìn thấy nhau như anh chị em, khi hoạt động một cách hữu trách trong việc sử dụng các tài năng khác nhau của mình để phục vụ công ích cho gia đình nhân loại. Thiên Chúa là mạch nguồn vĩnh viễn của niềm hy vọng hiến ban ý nghĩa cho đời sống cá nhân và cộng đồng” (Benedict XVI, Message for the Celebration of the World Day of Peace, 1 January 2006).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/1/2006

 

 

TOP

 

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI Thông Báo về Bức Thông Điệp Đầu Tay của Ngài

 

Vào lúc kết thúc buổi triều kiến chung hằng tuần Thứ Tư 18/1/2005, ngày đầu Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI chính thức thông báo việc ngài sẽ ban hành bức thông điệp đầu tay mang tựa đề “Thiên Chúa là Tình yêu” của ngài vào ngày 25/1/2006, Lễ Thánh Phaolô Trở Lại. Sau đây là nguyên văn lời của ngài.

 

Theo chiều hướng này và với những cảm thức ấy, Thứ Tư tuần tới, 25/1, Lễ Trở Lại của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, tôi sẽ theo chân Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành để cùng với anh em Chính Thống và Thệ Phản cầu nguyện: cầu nguyện để tạ ơn về những gì Chúa đã ban cho chúng ta; cầu nguyện để Chúa hướng dẫn chúng ta trên những nẻo đường hiệp nhất.

 

Ngoài ra, cũng vào ngày này, bức thông điệp đầu tiên của tôi cuối cùng sẽ được ban hành, nhan đề đã được biết đến, đó là “Deus Caritas Est”, “Thiên Chúa Là Tình Yêu”. Đề tài này không trực tiếp liên quan tới vấn đề đại kết, thế nhưng bố cục và bối cảnh lại là vấn đề đại kết, vì Thiên Chúa và tình yêu thương của chúng ta là điều kiện cho mối hiệp nhất của Kitô hữu. Cả hai là điều kiện cho hòa bình trên thế giới.

 

Với bức thông điệp này, tôi muốn trình bày quan niệm về tình yêu theo các chiều kích khác nhau của nó. Ngày nay, theo ngôn ngữ học quen biết thì “yêu thương” dường như vẫn thường là những gì rất xa vời với ý nghĩ của Kitô hữu khi họ nói về bác ái. Tôi muốn chứng tỏ cho thấy nó là một hướng động duy nhất theo các chiều kích khác nhau.

 

“Tình ái - eros”, tặng ân yêu thương giữa con người nam nữ, xuất phát từ cùng một nguồn thiện hảo của Đấng Hóa Công, cũng như từ tiềm năng của một tình yêu bỏ mình vì nhau. “Tình ái” được biến đổi thành “nhân ái – agape” theo chiều kích hai người thực sự yêu nhau, không còn tìm mình, không còn tìm hưởng thụ, không còn tìm hạnh phúc bản thân, mà trên hết tìm thiện ích của nhau. Nhờ thế, “tình ái” được biến đổi thành bác ái, bằng đường lối thanh tẩy, sâu đậm. Từ gia đình của mình, người ta mở rộng hơn tới gia đình xã hội, tới gia đình Giáo Hội, tới gia đình thế giới.

 

Tôi cũng cố gắng chứng tỏ cho thấy rằng tác động hoàn toàn cá biệt từ Thiên Chúa đến tới chúng ta là một tác động yêu thương đặc thù. Nó cũng cần phải được thể hiện như là một tác động của Giáo Hội, của cơ cấu tổ chức. Nếu thực sự Giáo Hội là biểu hiện của tình yêu Thiên Chúa, của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người tạo sinh, thì thực sự tác động căn bản của đức tin, một tác động tạo nên và hiệp nhất Giáo Hội cùng ban cho chúng ta niềm hy vọng về sự sống trường sinh và về việc hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian, cũng làm phát sinh tác động của Giáo Hội. Nói cách khác, Giáo Hội, bao gồm việc là Giáo Hội, là cộng đồng, cần phải yêu thương theo cơ cấu.

 

Và “Đức Ái” này không phải chỉ là một tổ chức thuần túy, như các tổ chức từ thiện khác, mà là một thể hiện cần thiết của một tác động sâu xa của tình yêu cá nhân với vị Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên chúng ta, khơi lên nơi tâm hồn chúng ta tác động yêu thương, phản ảnh Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đã dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài.

 

Thời gian cần để soạn thảo và chuyển dịch bản văn đã đủ. Giờ đây sự kiện nó sẽ được ban hành vào chính ngày chúng ta cầu nguyện cho mối hiệp nhất của Kitô hữu dường như là một tặng ân của Đấng Quan Phòng. Tôi hy vọng bức thông điệp này sẽ soi động và giúp cho cuộc sống Kitô hữu của chúng ta.


 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/1/2006

 

 

TOP

 

 

Tòa Thánh Vatican: Phản Ứng về Phán Quyết của Tòa muốn thả kẻ ám sát Đức Gioan Phaolô II

 

Theo tường trình của cơ quan tín vụ Anatolia thì một phiên tòa ở Thổ Nhĩ Kỳ đã chấp thuận việc thả
Mehmet Ali Agca 47 tuổi ra khỏi tù, nhân vật đã ám sát Đức Gioan Phaolô II ngày 13/5/1981 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.

 

Nhờ lời Đức Gioan Phaolô II nhân dịp Đại Năm Thánh 2000 xin Tổng Thống Ý ân xá cho, hắn đã được chính quyền Ý thả ra, nhưng vẫn tiếp tục bị tù ở Thổ Nhĩ Kỳ về những tội ác khác do hắn gây ra. Vị Giám Đốc của văn phòng báo chí Tòa Thánh là Joaquín Navarro Valls, trong một lời phát biểu sau khi nhận được tin này cho biết:

 

“Trước vấn đề theo bản chất pháp lý, Tòa Thánh chấp nhận các quyết định của pháp đình liên quan tới vấn đề này”.

 

Trong cuốn “Hồi Niệm và Căn Tính”, tác phẩm cuối cùng của mình, một tác phẩm về triết học luân lý là những gì đã được thai nghén từ năm 1993, một tác phẩm xuất bản 2 tháng trước khi tác giả của nó là Đức Gioan Phaolô II vĩnh viễn nằm xuống, ở phần phụ trương cuối cùng, phần nói tới cuộc ám sát của mình, Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thuật lại cảm nhận của bản thân ngài cũng như của kẻ ám sát ngài như sau.

 

Tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vào lúc 5 giờ chiều ngày 13/5/1981, ngay trước buổi triều kiến chung Thứ Tư hằng tuần, đã đột nhiên vang tiếng súng……, thật ra là my tiếng súng chứ không phải một, những tiếng súng vang lên chỉ cách chiếc giáo hoàng xa của Đức Gioan Phaolô II có 20 bộ (hay 6 thước), khi ngài ở trên chiếc xe đang chạy chung quanh quảng trường này theo thường lệ để chào tín hữu đang qui tụ chờ ngài bấy giờ. Hậu quả là viên đạn phát ra từ nòng súng lục tự động 9 ly ấy đã xuyên vào thân thể của vị Giáo Hoàng này, trúng bao tử của ngài, cùi trỏ bên cánh tay phải của ngài và ngón tay trỏ bên trái của ngài. Ngài đã được cấp tốc đưa vào bệnh viện, và chỉ khi tới bệnh viện ngài mới hoàn toàn bất tỉnh nhân sự. Cuộc giải phẫu cứu mạng ngài đã kéo dài 5 tiếng 20 phút, và thân thể ở vào tuổi gần 61 của ngài bấy giờ đã bị mất đi tới 60% lượng máu loang chảy trong mình. Tuy nhiên, kể từ biến cố bị ám sát hụt ấy, sức khỏe của con người vốn yêu chuộng thể thao này đã trở nên suy kém, cho tới ngày ngài qua đời 24 năm sau bởi một cơn kịch bệnh cuối cùng, kết thúc cuộc đời gần 85 tuổi đời của ngài (18/5/1920-2/4/2005).

 

Đức Gioan Phaolô II đã cho biết những gì xẩy ra sau đó, sau tiếng súng nổ và sau khi ngài được đưa vào bệnh viện thế này: “Tôi đã không tỉnh dạy cho đến ngày hôm sau, vào khoảng buổi trưa” (ấn bản Anh ngữ trang 161). Cũng trong phần phụ trương này, (ở trang 163-164), ngài còn cho biết thêm về con người ra tay ám sát ngài như sau:

 

·        Vào khoảng Giáng Sinh năm 1983, tôi đã thăm kẻ tấn công tôi đang bị nhốt trong tù. Chúng tôi nói chuyện lâu giờ. Alì Agca, ai cũng đều biết, là một tay sát thủ chuyên nghiệp. Tức là cuộc tấn công này không phải bởi sáng kiến riêng tư của anh ta, mà là từ ý nghĩ của một người khác; một người nào đó đã sai khiến anh ta thực hiện điều này. Trong cuộc nói chuyện của chúng tôi, Alì Agca vẫn còn tỏ ra lấy làm ngạc nhiên không hiểu tại sao một cuộc cố tình ám sát như vậy mà lại có thể bất thành cho được. Anh ta đã rất ư là thận trọng xếp đặt mọi sự, chú ý tới từng chi tiết nhỏ một. Thế mà nạn nhân được nhắm tới của anh ta lại thoát chết. Làm sao có thể xấây ra như thế được cơ chứ? Cái hay là ở chỗ tình trạng bối rối của anh ta đã dẫn anh ta tới vấn đề về đạo giáo. Anh ta muốn biết về bí mật Fatima, và bí mật này thực sự là gì. Đó là mối quan tâm chính của anh ta; anh ta muốn biết điều này hơn bất cứ một cái gì khác. Có lẽ những vấn nạn dai dẳng đã cho thấy rằng anh ta đã nắm được một điều gì đó thực sự là hệ trọng. Alì Agca có lẽ đã cảm thấy được rằng có một quyền lực cao cả, vượt trên cả quyền lực của anh ta, trên cả khả năng bắn giết nữa. Bởi vậy anh ta đã bắt đầu tìm kiếm quyền lực cao cả này. Tôi hy vọng và cầu xin cho anh ta tìm thấy quyền lực cao cả ấy”. 

  

TOP