THƯỢNG NGHỊ GIÁM MỤC XI 2-23/10/2005
Sứ Điệp “Thánh Thể là Bánh Sự Sống cho Ḥa B́nh Thế Giới”
Những Nghị Quyết được ĐTC Biển Đức XVI cho phổ biến qua bản dịch không chính thức
Cảm Nhận của một số nghị phụ tham dự Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Thư gửi Các Vị Giám Mục Trung Hoa không thể tham dự Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Bế Mạc Năm Thánh Thể kết thúc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Sứ Điệp Đúc Kết: "Thánh Thể là Bánh Sống cho Ḥa B́nh Thế Giới”
Tiến tŕnh của Thượng Nghị ở những ngày đầu tuần lễ cuối
Một Ngày Suy Niệm và Tôn Thờ, và để sửa soạn đúc kết tiến tŕnh nghị sự
Cuộc Họp Báo sau cuộc tường tŕnh bán kết
Phiên Họp Chung Thứ XVI về Bản Tường Tŕnh Bán Kết sau Những Cuộc Bàn Luận
ĐTC Biển Đức XVI gặp riêng từng vị Giám Mục
Buổi Tưởng Niệm 40 Năm thiết lập Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới
Cảm Nhận của ĐTGM Ma Ní Tây Ban Nha
Tuần Lễ Đầu Tiên với 7 Đề Tài Chính
Diễn tiến các cuộc Họp Chung, 1 vị Giám Mục VN lên tiếng và ĐTC đóng góp bất ngờ
Những Vấn Đề Sôi Động và Nóng Bỏng
ĐTC Biển Đức XVI: Bài suy niệm tự phát ở Buổi Họp Đầu Tiên
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Thánh Lễ Khai Mạc
ĐTC Biển Đức XVI: Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật 27 Thường Niên 2/10/2005
Kinh Cầu cho Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, về Thánh Thể
Tường Tŕnh về Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể
Thượng Nghị GMTG Thường Lệ XI về Thánh Thể: Ngắn Hơn, Cởi Mở và Đại Kết
Văn Kiện Đúc Kết Luận Bàn “Instrumentum laboris” Về Thánh Thể
Lược Tóm Các Cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới và Các Châu Lục
Trong phiên họp chung thứ 20 hôm Thứ Sáu 21/10/2005, các vị nghị phụ đă chấp thuận Sứ Điệp của Thượng Nghị Giám Mục gửi Dân Chúa khi kết thúc biến cố Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI. Sau đây là nguyên văn bản sứ điệp này:
“Thánh Thể là Bánh Sự Sống cho Ḥa B́nh Thế Giới”
Quí huynh giám mục,
Quí linh mục và phó tế,
Quí anh chị em thân mến
1. “B́nh an ở cùng anh chị em!” Nhân danh Chúa Kitô là Đấng đă hiện ra tại Nhà Tiệc Ly ở Giêrusalem vào tối Ngày Phục Sinh, chúng tôi xin lập lại “B́nh an ở cùng anh chị em!” (Jn 20:21). Chớ ǵ mầu nhiệm cuộc tử nạn và phục sinh của Người trở thành niềm an ủi cho anh chị em và mang lại ư nghĩa cho trọn cuộc sống của anh chị em! Chớ ǵ Người làm cho anh chị em được hân hoan và tràn đầy hy vọng! V́ Chúa Kitô đang sống trong Giáo Hội của Người, như Người đă hứa (x Mt 28:20). Người vẫn luôn ở với chúng ta cho tới tận thế. Người hiến ḿnh cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể Cực Thánh, cùng với niềm vui yêu thương như Người đă yêu. Người truyền cho chúng ta t́nh yêu vinh thắng của Người cho anh chị em của chúng ta trên khắp thế giới. Đây là một sứ điệp hân hoan chúng tôi loan báo cho anh chị em, hỡi anh chị em thân mến, khi kết thúc Thượng Nghị Giám Mục về Thánh Thể.
Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Đức Giêsu Kitô, Đấng đă qui tụ chúng ta lại một lần nữa nơi Nhà Tiệc Ly, cùng với Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ của chúng ta, để nhắc nhở lại tặng ân tuyệt hảo của Thánh Thể.
2. Được triệu tập tới Rôma bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng kính nhớ, cũng như được xác nhận bởi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, chúng tôi đă đến từ 5 châu lục trên thế giới để nguyện cầu và chia sẻ với nhau về Thánh Thể là nguồn mạch và là tột đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội. Mục đích của cuộc Thượng Nghị này là để đệ tŕnh các nghị quyết lên Đức Thánh Cha hầu giúp ngài cập nhật và đào sâu đời sống Thánh Thể của Giáo Hội. Chúng tôi đă có thể cảm nghiệm được những ǵ Thánh Thể đă từng là ngay từ ban đầu, đó là một đức tin duy nhất và một Giáo Hội duy nhất, được dưỡng nuôi bởi tấm bánh sự sống duy nhất, trong mối hiệp thông hữu h́nh với vị thừa kế Thánh Phêrô.
3. Việc chia sẻ huynh đệ nơi các vị Giám Mục, các dự thính viên, cũng như các vị đại diện đại kết, đă làm mới lại niềm xác tín của chúng ta là Thánh Thể làm sinh động và biến đổi đời sống của các Giáo Hội riêng ở Đông và Tây, cũng như của nhiều sinh hoạt của con người thuộc những hoàn cảnh chúng ta sống rất khác nhau. Chúng tôi đă cảm được niềm vui sâu xa khi trải qua mối hiệp nhất nơi niềm tin Thánh Thể của chúng tôi giữa tính cách đa dạng rộng răi về các lễ nghi, văn hóa, và trường hợp mục vụ. Sự hiện diện của rất nhiều Anh Em giám mục đă khiến chúng tôi cảm nghiệm một cách trực tiếp hơn nữa cái phong phú của các truyền thống phụng vụ khác nhau làm cho cái sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Thể đặc thù được sáng tỏ.
Anh chị em Kitô hữu thuộc mọi niềm tin thân mến, chúng tôi kêu mời anh chị em hăy nguyện cầu thiết tha hơn nữa để ngày ḥa giải và mối hiệp nhất hữu h́nh trọn vẹn của Giáo Hội diễn ra trong việc cử hành Thánh Thể hợp với lời nguyện cầu của Chúa Giêsu vào tối áp cuộc tử nạn của Người: “Để tất cả được nên một. Như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, hầu họ được nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đă sai Con” (Jn 17:21).
4. Với ḷng sâu xa tạ ơn Thiên Chúa về Giáo Triều của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, cũng như về bức Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia de Eucharistica, sau đó là bức Tông Thư khai mở cho Năm Thánh Thể là Xin Chúa Ở Với Chúng Con Mane Nobiscum Domine, chúng tôi xin Thiên Chúa hăy sinh muôn vàn hoa trái từ chứng tá của ngài và giáo huấn của ngài. Chúng tôi cũng xin gửi lời cám ơn của chúng tôi tới toàn thể dân Chúa, những người chúng tôi cảm thấy việc họ hiện diện và kết đoàn trong 3 tuần lễ nguyện cầu và suy tư chia sẻ này. Các Giáo Hội địa phương ở Trung Hoa, và những vị giám mục ở đó không thể tham dự với chúng tôi vào công việc làm này, đă chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm tưởng và lời nguyện cầu của chúng tôi.
Nhân danh Chúa Kitô Phục Sinh, xin chúc B́nh An và Niềm Vui trong Thánh Thần cho
tất cả anh chị em, quí giám mục, linh mục và phó tế, quí thừa sai trên khắp thế
giới, quí tu sĩ nam nữ, quí giáo dân, và cả anh chị em là những con người nam nữ
thiện tâm.
Lắng Nghe Nỗi Đớn Đau của Thế Giới
5. Cuộc Thượng Nghị này là một thời gian chuyên tâm vào việc chia sẻ và chứng dự vào đời sống của Giáo Hội ở các châu lục khác nhau. Chúng ta đă biết được những cực trạng và khổ đau gây ra bởi chiến tranh, đói khổ, bởi những h́nh thức khác nhau của khủng bố và bất công, những ǵ va chạm tới đời sống thường nhật của hằng trăm triệu con người. Cuộc bạo động bùng nổ ở Trung Đông và ở Phi Châu đă nhắc nhở chúng ta rằng lục địa Phi Châu đă bị công luận thế giới lăng quên. Những cuộc thiên tai, dường như gia tăng, bắt buộc chúng ta phải nh́n tới thiên nhiên một cách trân trọng hơn, và củng cố t́nh đoàn kết của chúng ta với những con người khổ đau ấy.
Chúng tôi không muốn câm lặng trước những hậu quả của trào lưu tục hóa, trước hết đang xẩy ra ở Tây phương, một thứ tục hóa gây ra t́nh trạng khô đạo và các h́nh thức khác nhau của tương đối chủ nghĩa. Chúng tôi đă nhớ đến và bài bác các t́nh trạng bất công và cực bần cùng đang hiển nhiên xẩy ra ở khắp mọi nơi, nhất là ở Mỹ Châu Latinh, ở Phi Châu và ở Á Châu. Tất cả những nỗi khổ đau này vang thấu Thiên Chúa, và thách đố lương tâm nhân loại. Nó thách đố tất cả chúng ta. Làm sao trở thành ngôi làng hoàn vũ của trái đất chúng ta, một môi trường sống hiểm nghèo có nguy cơ bị tiêu rụi? Làm thế nào đây để trong kỷ nguyên toàn cầu hóa này, t́nh đoàn kết có thể chiến thắng khổ đau và cùng cực? Chúng tôi cũng hướng tâm tưởng của ḿnh tới những ai đang cai trị các quốc gia để xin họ hăy ân cần chú trọng tới việc cung ứng cho tất cả mọi người phương cách có thể được hưởng công ích. Chúng tôi xin họ hăy trở thành những người cổ vơ phẩm giá của mọi người, từ khi họ được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đời. Chúng tôi xin họ hăy ban hành những luật lệ tôn trọng quyền lợi tự nhiên của đời sống hôn nhân và gia đ́nh. Về phần ḿnh, chúng tôi sẽ tiếp tục chủ động tham gia vào một nỗ lực chung để mang lại những điều kiện lâu bền cho việc tiến bộ chân thực của toàn thể gia đ́nh nhân loại, nơi sẽ không c̣n ai thiếu bánh ăn hằng ngày nữa.
6. Chúng tôi đă mang lấy tất cả mọi nỗi khổ đau này và những vấn đề này khi chúng tôi cử hành và tôn thờ Thánh Thể. Ở những cuộc bàn luận của ḿnh, qua việc cẩn thận lắng nghe nhau, chúng tôi đă cảm kích và rung động trước chứng từ của các vị tử đạo, những vị vẫn c̣n hiện diện tới ngày hôm nay, như trải qua suốt gịng lịch sử của Giáo Hội, ở nhiều miền đất trên thế giới. Các Nghị Phụ Thượng Nghị đă nhắc lại rằng những vị tử đạo ấy luôn t́m thấy sức mạnh để thắng vượt hận ghét bằng yêu thương và bạo lực bằng tha thứ, nhờ Thánh Thể.
“Các con hăy làm việc này mà nhớ đến Thày”
7. Vào tối áp cuộc khổ nạn của ḿnh, “Chúa Giêsu cầm lấy bánh, làm phép, bẻ ra, và trao cho các môn đệ mà phán ‘Các con hăy cầm lấy mà ăn, này là ḿnh Thày’. Đoạn Người cầm lấy chén, và khi dâng lời tạ ơn, Người đă trao cho các vị mà phán ‘Tất cả các con hăy uống chén này; v́ đây là máu Thày, máu giao ước đổ ra cho nhiều người được tha tội (Mt 26:25-28). Hăy làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lk 22:19; 1Cor 11:24-25). Từ ban đầu, Giáo Hội đă tưởng nhớ đến cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu bằng cùng những lời lẽ và tác động của Bữa Tiệc Ly, bằng cách xin Thần Linh biến đổi bánh và rượu thành Ḿnh và Máu Chúa Kitô. Chúng tôi mạnh mẽ tin tưởng và chúng tôi truyền dạy theo truyền thống liên lỉ của Giáo Hội rằng những lời lẽ Chúa Giêsu được vị linh mục công bố trong Thánh Lễ, theo quyền năng của Thánh Thần, là những ǵ tác hiệu những ǵ lời lời ấy muốn nói lên. Những lời ấy làm phát sinh sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô phục sinh (CCC 1366). Giáo Hội sống bởi tặng ân tuyệt hảo này, một tặng ân qui tụ Giáo Hội, thanh tẩy Giáo Hội và biến đổi Giáo Hội thành thân thể duy nhất của Chúa Kitô là thân thể được sinh động bởi một Thần Linh duy nhất (x Eph 5:29).
Thánh Thể là tặng ân của t́nh yêu, t́nh yêu của Chúa Cha đă sai Người Con duy
nhất của ḿnh đến để thế gian được cứu độ (x Jn 3:16-17); t́nh yêu của Chúa Kitô
là Đấng đă yêu thương chúng ta đến cùng (x Jn 13:1); t́nh yêu của Thiên Chúa đă
tuôn đổ vào ḷng chúng ta nhờ Thánh Linh (x Rm 5:5) là Đấng kêu lên trong chúng
ta “Abba, Cha ơi!” (Gal 4:6). Bởi thế, trong việc cử hành Hy Tế Thánh, chúng ta
hân hoan loan báo ơn cứu độ thế giới khi tuyên xưng cuộc tự nạn vinh thắng của
Chúa Kitô cho đến khi Người lại tới. Trong mối hiệp thông với Ḿnh Chúa Kitô,
chúng ta lănh nhận “bảo chứng” phục sinh của chúng ta.
8. Bốn mươi năm sau Công Đồng Chung Vaticanô II, chúng tôi muốn kiểm điểm lại xem cho tới mức độ nào những mầu nhiệm đức tin được thể hiện một cách thích đáng và được cử hành nơi các cộng đồng phụng vụ của chúng ta. Thượng Nghị này tái xác nhận rằng Công Đồng Chung Vaticanô II đă đặt một nền tảng cần thiết cho một cuộc canh tân phụng vụ đích thực. Giờ đây cần phải vun trồng những hoa trái của cuộc canh tân này, và sửa chữa những lạm dụng đă lọt vào được việc thực hành phụng vụ. Chúng tôi tin rằng việc tôn trọng tính chất linh thánh của phụng vụ được truyền đạt bởi sự trung thành chân thực với các qui chuẩn phụng vụ của thẩm quyền hợp pháp. Không ai được coi ḿnh là chủ nhân ông của phụng vụ Giáo Hội. Niềm tin sống động nh́n nhận sự hiện diện của Chúa là điều kiện tiên khởi cho những việc cử hành phụng vụ tuyệt vời, những việc cử hành vang lên tiếng “Amen” chân chính cho vinh quang Thiên Chúa. Những việc cử hành mang lại ánh sáng nơi đời sống Thánh Thể của Giáo Hội.
9. Công cuộc của Thượng Nghị này đă tiến hành trong một bầu khí hân hoan huynh đệ được nuôi dưỡng bằng việc bàn luận cởi mở về những vấn đề khác nhau và những chia sẻ tự phát về những hoa trái của Năm Thánh Thể. Việc hiện diện lắng nghe và những góp ư của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă là một mẫu gương cho tất cả chúng ta và là một thứ nâng đỡ quí báu. Nhiều cuộc góp ư đă tường tŕnh cho thấy sự kiện tích cực và vui mừng, chẳng hạn như việc ư thức lại tầm quan trọng của Thánh Lễ Chúa Nhật; việc gia tăng số ơn gọi linh mục và sống đời tận hiến ở những nơi khác nhau trên thế giới; những cảm nghiệm mănh liệt về các Ngày Giới Trẻ Thế Giới, đă lên tới tột độ ở Cologne Đức quốc; việc phát triển nhiều sáng kiến về việc tôn thờ Bí Tích Thánh hầu hết ở mọi nơi trên thế giới; việc cải tiến vấn đề giáo lư về Phép Rửa và Thánh Thể theo chiều hướng Sách Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo; việc phát triển những phong trào và các cộng đồng là những nơi tạo nên các vị thừa sai cho việc tân truyền bá phúc âm hóa; việc gia tăng thành phần giúp lễ trẻ trung mang mầm hy vọng cho những ơn gọi mới, và nhiều sự kiện khác khiến chúng ta phải dâng lời tạ ơn.
Sau hết, các vị Nghị Phụ hy vọng rằng Năm Thánh Thể là khởi sự và là khởi điểm cho một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa nhân loại được toàn cầu hóa chúng ta đây, một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa được bắt đầu với Thánh Thể.
10. Chúng tôi ước mong rằng “”cái ngỡ ngàng về Thánh Thể” (EE 6) dẫn tín hữu đến một đời sống đức tin luôn mănh liệt hơn. Để được như thế, các truyền thống Giáo Hội Đông phương và Công giáo cử hành Phụng Vụ Thần Linh, vun trồng kinh nguyện của Chúa Giêsu và việc chay tịnh Thánh Thể, trong khi đó, truyền thống Latinh lại nuôi dưỡng một thứ “linh đạo Thánh Thể”, một linh đạo đạt đến tột đỉnh của nó nơi việc cử hành Thánh Thể. Cũng thực hiện việc tôn thờ Bí Tích Thánh ngoài Thánh Lễ, Phép Lành Thánh Thể, kiệu rước Thánh Thể, cùng những cuộc bộc lộ lành mạnh của ḷng đạo đức phổ thông. Thứ linh đạo như vậy chắc chắn sẽ cho thấy là một nguồn rất phong phú để nâng đỡ cuộc sống hằng ngày cũng như để kiên cường chứng tá của chúng ta.
11. Chúng ta tạ ơn Chúa v́ ở nhiều xứ sở không có linh mục, hay buộc phải sống cảnh hầm trú, giờ đây Giáo Hội được tự do cử hành các Mầu Nhiệm Thánh. Quyền tự do rao giảng Phúc Âm và những chứng tá với ḷng sốt sắng mới mẻ đang tái khơi dậy niềm tin từng chút một, nơi những miền bại hoại Kitô giáo sâu đậm. Chúng tôi thân ái chào thăm và khích lệ tất cả những ai tiếp tục chịu bách hại. Chúng tôi cũng xin rằng ở những nơi Kitô hữu là thành phần thiểu số họ cũng được quyền hoàn toàn tự do để cử hành Ngày của Chúa.
Những Thách Đố Cho Một Cuộc Canh Tân về Thánh Thể
12. Đời sống của các Giáo Hội chúng ta cũng được đánh dấu bằng những bóng tối và những trục trặc chúng ta không thể bỏ qua. Trước hết, chúng ta nghĩ đến t́nh trạng mất cảm thức tội lỗi và cuộc khủng hoảng liên lỉ nơi việc thực hiện Bí Tích Thống Hối. Cần phải tái nhận thức được ư nghĩa sâu xa của bí tích ấy; bí tích này là việc hoán cải và là một cách chữa trị quí báu được Chúa Kitô phục sinh cống hiến để thứ tha tội lỗi (x Jn 20:23) cũng như để gia tăng t́nh yêu đối với Người cũng như với anh chị em của chúng ta.
Thật là lạ lùng khi nhận thấy rằng càng ngày càng nhiều giới trẻ, khi được học hỏi giáo lư đàng hoàng, thực hành việc xưng thú tội lỗi của họ, chứng tỏ rơ ràng cái ư thức về việc ḥa giải cần thiết để xứng đáng Hiệp Lễ.
13. Tuy nhiên, việc thiếu hụt các vị linh mục để cử hành Thánh Thể Chúa Nhật làm cho chúng ta cảm thấy rất ư là âu lo và mời gọi chúng ta hăy nguyện cầu và chủ động hơn nữa trong việc cổ vơ ơn gọi linh mục. Có một số vị linh mục, v́ trường hợp khó khăn cả thể, đă buộc phải cử hành nhiều lần và đi từ nơi này đến nơi khác để hết sức đáp ứng nhu cầu của tín hữu. Các vị thật đáng cho chúng tôi hết ḷng cảm nhận và liên kết. Chúng tôi cũng gửi lời cám ơn đến nhiều vị thừa sai nhiệt thành loan báo Tin Mừng khiến chúng tôi cho đến hôm nay vẫn trung thành với lệnh truyền của Chúa trong việc ra đi khắp thế giới và làm phép rửa nhân danh Người (x Mt 28:19).
14. Đàng khác, chúng ta cũng cảm thấy lo âu v́ t́nh trạng thiếu vắng linh mục khiến không thể cử hành Thánh Lễ, cử hành Ngày của Chúa. Có những h́nh thức khác nhau của việc cử hành đă diễn ra ở các châu lục khác nhau bởi thiếu linh mục. Tuy nhiên, có thể và cần phải được phát động và giải thích hơn nữa việc thực hành “mối hiệp thông thiêng liêng” rất thân thương với truyền thống Công giáo để giúp cho tín hữu trong cả việc chịu lễ theo bí tích một cách tốt đẹp hơn, lẫn việc mang lại niềm ủi an chân thực cho những ai, v́ những lư do khác nhau, không thể lănh nhận Ḿnh Máu Chúa Kitô bằng cách hiệp lễ. Chúng tôi tin rằng việc thực hành này chắc chắn sẽ mang lại lợi ích cho những ai lẻ loi cô độc, nhất là những người bị tật nguyền, già lăo, những người bị tù tội và tị nạn.
15. Chúng tôi biết tới nỗi buồn sầu của những ai không thể đến với việc hiệp thông bí tích v́ t́nh trạng gia đ́nh của họ không hợp với giới luật của Chúa (x Mt 19:3-9). Một số người ly dị tái hôn đau ḷng chấp nhận việc họ không thể hiệp lễ và họ hiến dâng nó cho Chúa. Những người khác không hiểu được việc hạn chế này và sống với một tâm trạng nản chán. Chúng tôi xin tái xác nhận là, dù chúng tôi không tán thành việc lựa chọn của họ (x CCC 2384), họ vẫn không bị loại trừ khỏi đời sống của Giáo Hội. Chúng tôi xin họ hăy tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật và chuyên chăm lắng nghe Lời Chúa, nhờ đó, họ có thể nuôi dưỡng đời sống đức tin của họ, đời sống yêu thương và hoác cải của họ. Chúng tôi muốn nói cùng họ là chúng tôi gần gũi họ biết bao ở lời nguyện cầu và quan tâm mục vụ. Chúng ta hăy cùng nhau xin Chúa cho chúng ta biết trung thành tuân theo ư muốn của Người.
16. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng, ở một số miền, đang bị suy giảm cảm quan về điều linh thánh, chẳng những ảnh hưởng tới việc tín hữu chủ động và hữu hiệu tham dự Thánh Lễ, mà c̣n đến cả cách thức can phải cử hành cũng như đến chứng từ Kitô hữu được kêu gọi thực hiện. Chúng tôi t́m cách phục hồi, nhờ Thánh Thể, cảm quan và niềm vui thuộc về cộng đồng Công giáo, v́ t́nh trạng gia tăng số người bỏ Giáo Hội xẩy ra tỏ tường ở một số quốc gia. Sự kiện suy thoái Kitô giáo đ̣i phải thực hiện việc đào luyện tốt đẹp hơn đời sống Kitô hữu trong gia đ́nh, nhờ đó, việc sống bí tích được phục hồi và đích đáng cho thấy cái nội dung của đức tin. Thế nên chúng tôi kêu gọi những người làm cha làm mẹ, các vị mục tử và các giáo lư viên hăy hoạt động cho việc tái thiết một đường lối cho vấn đề truyền bá phúc âm hóa và giáo dục đức tin vào lúc mở màn cho tân thiên kỷ này.
17. Trước vị Chúa của lịch sử và tương lai của thế giới, th́ thành phần
nghèo khổ của hết mọi thế hệ và của ngày hôm nay đây, con số những nạn nhân của
bất công cùng với tất cả những ai bị lăng quên trên thế giới gia tăng hơn bao
giờ hết này đang là những ǵ thách đố chúng ta. Họ nhắc nhở chúng ta về cuộc khổ
nạn của Chúa Kitô cho đến tận thế. Những nỗi khổ đau này không thể là những ǵ ở
ngoài lề việc cử hành Mầu Nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm triệu mời chúng ta tất cả
hoạt động cho công lư và cho việc biến đổi thế giới một cách chủ động và ư thức,
theo đường hướng giáo huấn xă hội của Giáo Hội là giáo huấn cổ vơ tính cách chủ
yếu và phẩm vị của con người.
”Chúng ta không thể đánh lừa ḿnh: t́nh yêu thương nhau và nhất là việc chăm sóc
chúng ta tỏ ra cho những ai đang cần đến chúng ta sẽ là những ǵ cho thấy rằng
chúng ta sẽ được nhận biết là thành phần môn đệ đích thực của Chúa Kitô (x Jn
13:35; Mt 25:31-46). Đó là tiêu chuẩn sẽ chứng thực tính chất chuyên chính của
việc chúng ta cử hành Thánh Thể” (Tông Thư Xin Chúa Ở Với Chúng Con, Mane
nobiscum Domine, 28).
Các con sẽ là Chứng Nhân của Thày
18. “Chúa Giêsu, v́ yêu thương những kẻ thuộc về ḿnh c̣n ở trần gian th́ Người đă yêu thương họ đến cùng”. Thánh Gioan cho thấy ư nghĩa của việc Thiết Lập Thánh Thể trong đoạn tŕnh thuật về việc rửa chân (x Jn 13:1-20). Chúa Giêsu tự hạ ḿnh xuống rửa chân cho các môn đệ của Người như là một dấu hiệu t́nh Người yêu thương đă vượt ra ngoài tất cả mọi giới hạn. Cử chỉ tiên báo này cho thấy việc Người tự hạ của ngày hôm sau, tự hạ cho đến chết trên Thập Giá; một hành động xóa tội lỗi của trần gian, và tẩy rửa hết mọi tội lỗi của linh hồn chúng ta. Thánh Thể là tặng ân của t́nh yêu, là cuộc hội ngộ với Vị Thiên Chúa yêu thương chúng ta và là một mạch nước vọt lên sự sống trường sinh. Thành phần giám mục, linh mục và phó tế chúng ta là những chứng nhân đầu tiên và là những người tôi tớ trước hết cho t́nh yêu này.
19. Quí Linh Mục thân mến, chúng tôi nghĩ đến anh em rất nhiều trong những
ngày này. Chúng tôi nh́n nhận ḷng quảng đại của anh em và những thách đố của
anh em. Trong mối hiệp thông với chúng tôi, anh em mang lấy gánh nặng của việc
hằng ngày phục vụ Dân Chúa về phương diện mục vụ. Anh em loan báo Lời Chúa, và
anh em để ư tới việc dẫn đưa tín hữu tới với mầu nhiệm Thánh Thể. Ân huệ biết
bao thừa tác vụ của anh em! Chúng tôi cầu nguyện với anh em và cho anh em, để
cùng nhau chúng ta trung thành với t́nh yêu của Chúa. Chúng tôi xin anh em, cùng
với chúng tôi và theo gương của Đức Thánh Cha Giáo Hoàng Biển Đức XVI trở thành
“những nhân viên khiêm tốn trong vườn nho của Chúa”, sống đời linh mục trung
kiên. Xin b́nh an của Chúa Kitô được anh em ban cho các tội nhân thống hối cũng
như cho các cuộc qui tụ Thánh Thể, tuôn đổ xuống trên anh em cũng như trên các
cộng đồng sống nhờ chứng bởi của anh em.
Chúng tôi tri ân nhớ đến việc dấn thân của các vị phó tế vĩnh viễn, của các giáo lư viên, của những cán sự mục vụ và của nhiều giáo dân hoạt động cho cộng đồng. Chớ ǵ việc phục vụ của anh chị em luôn sinh hoa kết trái và quảng đại, được dưỡng nuôi bằng mối hiệp nhất trọn vẹn về tinh thần và hành động với các vị Chủ Chiên ở những cộng đồng của anh chị em!
20. Quí anh chị em thân mến, chúng ta được kêu gọi, ở bất cứ bậc sống nào, sống ơn gọi phép rửa của chúng ta, bằng cách mặc lấy những tâm t́nh của Chúa Kitô (x Phil 2:2), khiêm tốn thích thuận với nhau, theo gương Chúa Giêsu Kitô. Tinh yêu thương nhau của chúng ta không phải chỉ là việc bắt chước Chúa, mà là một chứng cớ sống động về việc hiện diện ban sự sống của Người giữa chúng ta. Chúng tôi chào thăm và cám ơn tất cả anh chị em sống đời tận hiến, thành phần được tuyển chọn để làm vườn nho cho Chúa tự nguyện làm chứng cho Tin Mừng của Vị Hôn Phu đang đến (x Rev 22:17-20). Chứng từ Thánh Thể của anh chị em trong việc phục vụ Chúa Kitô là một tiếng kêu của t́nh yêu trong đêm tăm tối của thế gian này, một âm vang của các bài Thánh Mẫu ca cổ kính là bài Mẹ Đứng Bên Thập Giá Stabat Mater và bài Ngợi Khen Magnificat. Xin Người Nữ Thánh Thể tuyệt vời, đầu đội triều thiên tinh tú, đầy yêu thương, Vị Trinh Nữ Mông Triệu và Hoài Thai Vô Nhiễm, coi sóc anh chị em trong việc anh chị em phụng vụ Thiên Chúa và phục vụ người nghèo, với niềm vui Phục Sinh, mang hy vọng đến cho thế giới.
21. Giới trẻ thân mến, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă lập đi lập lại rằng quí bạn không mất đi một sự ǵ khi quí bạn hiến thân cho Chúa Kitô. Chúng tôi xin lập lại một lần nữa những lời mạnh mẽ và rơ ràng của ngài trong Thánh Lễ đăng quang để hướng quí bạn về niềm hạnh phúc chân thực, song hoàn toàn tôn trọng quyền tự do của quí bạn: “Đừng sợ Chúa Kitô! Người không lấy đi một sự ǵ của quí bạn, mà Người ban cho quí bạn hết mọi sự. Khi chúng ta hiến ḿnh cho Người th́ chúng ta nhận lại gấp trăm. Đúng thế, hăy mở, mở rộng của cho Chúa Kitô – và quí bạn sẽ t́m thấy sự sống đích thực”. Chúng tôi hết ḷng tin tưởng nơi khả năng của quí bạn và niềm ước mong của quí bạn muốn làm triển nở những giá trị tích cực trên thế giới này, cũng như muốn thay đổi những ǵ là bất chính và bạo lực. Xin quí bạn hăy tin tưởng vào sự nâng đỡ và nguyện cầu của chúng tôi, để cùng nhau chúng ta có thể chấp nhận cái thách đố trong việc xây dựng tương lai với Chúa Kitô. Quí bạn là “những người lính canh ban mai” và là “những người thám hiểm tương lai”. Quí bạn đừng bỏ qua việc kín múc nguồn nghị lực thần linh nơi Thánh Thể để thực hiện những đổi thay cần thiết.
Với các chủng sinh trẻ đang sửa soạn cho thừa tác vụ linh mục, và là những người chia sẻ với thế hệ của ḿnh những niềm hy vọng tương lai, chúng tôi muốn bày tỏ niềm hy vọng của chúng tôi mong muốn thấy việc đào luyện của quí bạn được thấm nhiễm linh đạo Thánh Thể chân thực.
22. Các đôi phối ngẫu Kitô hữu cùng gia đ́nh của anh chị em thân mến, ơn gọi nên thánh của anh chị em được khởi đầu như là một Giáo Hội tại gia, được nuôi dưỡng ở Bàn Tiệc Thánh Thể. Niềm tin tưởng của anh chị em nơi Bí Tích Hôn Phối biến đổi mối hiệp nhất vợ chồng của anh chị em thành Đền Thờ của Thánh Thần, thành một mạch nguồn dồi dào cho sự sống mới, làm phát sinh con cái là hoa trái của t́nh anh chị em yêu thương nhau. Chúng tôi thường nói về anh chị em ở Thượng Nghị này, v́ chúng tôi biết được cái mỏng ḍn và bất ổn lung lay của thế giới ngày nay. Xin anh chị em hăy cứ vững mạnh trong cuộc anh chị em gắng gỏi giáo dục đức tin cho con cái của anh chị em. Anh chị em là nguồn phát sinh ra ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đừng quên rằng Chúa Kitô ngự nơi mối hiệp nhất của anh chị em; Người chúc phúc cho nó bằng tất cả ân sủng anh chị em cần để sống ơn gọi của anh chị em một cách thánh đức. Chúng tôi khuyến khích anh chị em hăy duy tŕ việc cả gia đ́nh của ḿnh tham dự Thánh Thể Chúa Nhật. Có thế, anh chị em mới làm vui ḷng Chúa Giêsu là Đấng đă phán “Hăy để trẻ nhỏ đến cùng Thày” (Mk 10:14).
23. Chúng tôi muốn ngở lời đặc biệt với tất cả những ai khổ đau, nhaât là các bệnh nhân và tật nguyền, những người được liên kết với cuộc hy tế của Chúa Kitô bằng nỗi đớn đau của họ (x Rm 12:2). Nơi nỗi đớn đau của anh chị em trên thân thể và trong cơi ḷng, anh chị em tham phần một cách đặc biệt vào hy tế Thánh Thể và anh chị em là những chứng nhân đặc biệt của t́nh yêu xuất phát từ Thánh Thể. Chúng tôi tin tưởng rằng ở vào lúc chúng ta cảm thấy nỗi yếu hèn và hạn hữu của ḿnh th́ sức mạnh của Thánh Thể là những ǵ rất caân thiết. Liên kết với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, chúng tôi thấy được giải đáp cho nỗi thương đau và chết chóc, nhất là khi bệnh tật tấn công các em bé vô tội. Chúng tôi gần gũi với tất cả anh chị em, nhấtt là những người anh chị em đang hấp hối và đang lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa Kitô như Của Ăn Đàng cho cuộc hành tŕnh cuối cùng về Nước Chúa.
Để Tất Cả Được Hiệp Nhất Nên Một
24. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă lập lại việc Giáo Hội hết sức dấn thân cho việc đại kết. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm về mối hiệp nhất này (x Jn 17:21), v́ tất cả chúng ta đều là chi thể của gia đ́nh Thiên Chúa nhờ Phép Rửa chúng ta lănh nhận, với đặc ân có cùng một phẩm vị căn bản và được tham phần vào tặng ân sự sống thần linh theo bí tích đặc biệt ấy. Tất cả chúng ta đều cảm thấy buồn ḷng về t́nh trạng phân chia làm ngăn trở việc cử hành Thánh Thể chung. Chúng ta muốn gia tăng lời nguyện cầu cho mối hiệp nhất trong các cộng đồng, việc trao đổi các tặng ân giữa chư Giáo Hội cùng các cộng đồng giáo hội, cũng như việc giao tiếp tương kính và huynh đệ giữa mọi người, nhờ đó chúng ta hiểu biết nhau hơn và yêu thương nhau hơn, tôn trọng và cảm nhận những khác biệt của nhau cùng với những giá trị chung của chúng ta. Những qui lệ xác đáng ấy của Giáo Hội cho thấy chúng tôi chủ trương muốn chia sẻ Thánh Thể với anh chị em chưa hoàn toàn hiệp thông với chúng tôi. Một thứ luật phép lành mạnh là những ǵ ngăn ngừa t́nh trạng lẫn lộn cùng những cử chỉ bất khôn có thể mang lại tai hại hơn nữa cho mối hiệp thông chân thực.
25. Là Kitô hữu, chúng ta gần gũi với những thành phần miêu duệ khác của Abraham, đó là những người Do Thái, những con người đầu tiên thừa hưởng Giao Ước, và những người Hồi giáo. Trong việc cử hành Thánh Thể, chúng tôi cũng tin rằng chúng ta, theo lời của Thánh Âu Quốc Tinh, là “một bí tích nhân tính” (Thánh Đô Thiên Chúa, 16), là tiếng vang của tất cả mọi lời nguyện cầu và van xin từ đất dâng lên Thiên Chúa.
Kết Luận: Một Nền Ḥa B́nh Tràn Đầy Hy Vọng
Anh Chị Em thân mến,
26. Chúng tôi tạ ơn Thiên Chúa về cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI này, một cuộc thượng nghị, được triệu tập 40 năm sau Công Đồng Chung Vaticanô II, đă giúp cho chúng tôi trở về với nguồn mạch của mầu nhiệm Giáo Hội. Bởi thế chúng ta bế mạc Năm Thánh Thể ở một cao điểm, một cao điểm vững mạnh nơi mối hiệp nhất và canh tân nơi ḷng nhiệt thành tông đồ truyền giáo.
Vào đầu thế kỷ thứ tư, việc thờ phượng của Kitô giáo vẫn c̣n bị các thẩm quyền của Đế Quốc Rôma cấm đoán. Các Kitô hữu ở Bắc Phi Châu, quyết tâm cử hành Ngày của Chúa, đă coi thường lệnh cấm ấy. Họ đă chịu tử đạo, v́ họ tuyên bố rằng họ không thể sống mà không cử hành Thánh Thể Chúa Nhật. 49 vị Tử Đạo ở Abitene, hiệp với rất nhiều vị thánh và chân phước lấy Thánh Thể làm tâm điểm của đời ḿnh, đang nguyện cầu cho chúng ta đang ở vào đầu tân thiên kỷ này. Các vị dạy chúng ta biết trung thành với việc qui tụ lại của Tân Ước với Chúa Kitô Phục Sinh.
Vào lúc kết thúc cuộc Thượng Nghị này, chúng tôi cảm thấy cái An B́nh đầy hy vọng của hai người môn đệ đi về làng Emmau, những con người được Chúa Kitô Phục Sinh làm cho bừng nóng tâm can. Các vị đă chỗi dậy và vội vă trở về Giêrusalem để chia sẻ niềm vui của ḿnh với anh chị em trong đức tin của các vị. Chúng tôi hy vọng rằng anh chị em sẽ hân hoan đến gặp gỡ Người trong Thánh Thể, và anh chị em sẽ cảm nghiệm được cái chân thực nơi lời Người đă nói: “Và đây Thày ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28:20).
Anh Chị Em thân mến, xin B́nh An ở cùng anh chị em!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 22/10/2005
B́nh thường, theo thông lệ từ trước đến nay, sau mỗi cuộc thượng nghị giám mục thế giới hay các châu lục, các nghị quyết tổng kết được các vị nghị phụ bỏ phiếu chấp thuận sẽ được đệ tŕnh Đức Thánh Cha để ngài viết thành bức tông huấn và ban hành sau đó, như đă từng xẩy ra trong giáo triều của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Tuy nhiên, sau thượng nghị giám mục thế giới thường lệ XI về Thánh Thể lần này, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI lại cho phép phổ biến 50 nghị quyết của biến cố ấy. Bản tổng kết 50 nghị quyết này được viết bằng La ngữ và được chuyển dịch bất chính thức sang Ư ngữ. Sau đây là một số chi tiết được mạng điện toán toàn cầu Zenit chuyển từ Ư ngữ sang Anh ngữ và phổ biến hôm Chúa Nhật 23/10/2005.
Nghị quyết 1 liên quan đến việc thượng nghị xin Đức Thánh Cha viết bức tông huấn về Thánh Thể.
Nghị quyết 2 liên quan tới “ảnh hưởng hữu ích nơi đời sống của Giáo Hội do việc áp dụng vấn đề canh tân phụng vụ từ Công Đồng Chung Vaticanô II”.
Nghị quyết 3 về tính cách mới mẻ của Mầu Nhiệm Vượt Qua.
Nghị quyết 4 về Thánh Thể là tặng ân của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Nghị quyết 6 nhấn mạnh đến việc tôn thờ Thánh Thể.
Nghị quyết 7 nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa Thánh Thể và bí tích giải tội, cũng như đến “việc xứng đáng tiếp nhận Thánh Thể đ̣i phải ở trong t́nh trạng ân sủng”.
Nghị quyết 8 về mối liên hệ giữa Thánh Thể và đời sống hôn nhân, và khuyến khích sống linh đạo hôn nhân.
Nghị quyết 10 về “những tụ họp Chúa Nhật thiếu linh mục” không được nhầm lẫn với chính Thánh lễ, và “các hội đồng giám mục cần phải cung ứng việc trợ giúp xứng hợp trong việc dẫn giải ư nghĩa cử hành Lời Chúa cùng với việc cho Rước Lễ, và ban hành những qui tắc cho vấn đề ấy”.
Nghị quyết 11 nói tới vấn đề thách đố của t́nh trạng “khan hiếm linh mục”, và cho rằng phương cách truyền chức cho thành phần nam nhân đă có gia đ́nh “viri probati” “được thẩm định là một việc làm không nên theo đuổi”. Trái lại, để giải quyết vấn đề hệ trọng này, thượng nghị yêu cấu các vị chủ chăn hăy “cổ vơ ơn gọi linh mục”. Nhất là xin các vị linh mục “đừng sợ nêu lên cho giới trẻ biết tính cách đ̣i hỏi gắt gao của việc theo Chúa Kitô” và “cảm hóa các gia đ́nh là nơi có những trường hợp dửng dưng lạnh lùng nếu không muốn nói là ra mặt chống đối” con cái ḿnh theo đuổi ơn gọi linh mục. Ngoài ra, nghị quyết này c̣n khuyến khích việc vun trồng “vấn đề cầu nguyện cho các ơn gọi trong tất cả mọi cộng đồng và những lănh vực của giáo hội”.
Nghị quyết 17 đề nghị viết một “Cuốn Tổng Lược về Thánh Thể” là cuốn “tổng hợp những yếu tố về phụng vụ, tín lư, giáo lư và đạo đức về Thánh Thể, để giúp phát triển đức tin và ḷng sùng mộ Thánh Thể”.
Nghị quyết 23 yêu cầu cứu xét xem “việc chúc b́nh an có thể thực hiện ở một lúc khác của việc cử hành Thánh Thể hay chăng, bằng cách lưu ư tới cả những tập tục cổ kính và khả kính”.
Nghị quyết 24 yêu cầu có những công thức kết lễ mới – “Chúc anh chị em về bằng an - Ite, missa est”, cũng như công thức “ban phép lành trọng thể …. Nhấn mạnh tới sứ vụ truyền giáo trong thế giới của tín hữu là thành phần đă được tham dự vào Thánh Thể”.
Thoidiemmaria xin phép được tạm mở ngoặc biệt chú ở đây là, trong cuốn “Nguồn Sống Thần Linh”, Cao-Bùi xuất bản 5/2005, ở trang 87, tác giả của cuốn sách cũng là người đang chuyển dịch bản tin này đă có cùng cảm nhận như nghị quyết 24 trên đây, nguyên văn như sau:
“Lời chúc kết lễ (đúng hơn cuối lễ) của vị chủ tế: ‘Lễ xong, chúc anh chị em về bằng an’, đúng hơn, ‘chúc anh chị em ra đi bằng an (go in peace)’. V́ chữ ‘về’ đây cùng với chữ ‘lễ xong’ ở đây (riêng chữ ‘lễ xong’ đây không có trong Sách Lễ tiếng Anh) có một nghĩa tiêu cực, chấm dứt việc cử hành Thánh Lễ, chấm dứt một việc Thánh, để sang việc làm những ǵ thường nhật ở nhà, những việc làm trần gian, nếu không sống tinh thần cầu nguyện liên lỉ, dường như không có dính dáng ǵ đến việc sống Thánh Lễ cả. Chữ ‘ra đi’ đây, trái lại, có nghĩa mở ra, hướng về tương lai, có nghĩa tiếp tục, chứ không đóng lại như chữ ‘về’ cùng với chữ ‘lễ xong’, có tính cách hồi cố, hạn chế và khép kín. Lời chào chúc cuối cùng rơ ràng và có tính cách ‘trọn vẹn ư thức và chủ động’ trong việc cử hành Thánh Lễ cũng như tiếp tục Sống Thánh Lễ đó là lời: ‘Chúc anh chị em ra đi bằng an trong việc mến yêu Chúa và phụng sự Chúa (Go in peace to love and serve the Lord)’.
“Như thế, khi thưa ‘tạ ơn Chúa’, đáp lại lời chào chúc cuối lễ của vị chủ tế hay phó tế, mỗi người Kitô hữu đồng thời cũng mặc nhiên hứa quyết với ḷng ḿnh trước nhan Thiên Chúa rằng họ sẽ tiếp tục Sống Phụng Vụ Thánh Thể, với tất cả nỗ lực Sống Thánh Chứng Nhân, bằng chính ‘sự sống viên măn hơn’ (Jn 10:10) họ đă được lănh nhận ở phần Hiệp Lễ, qua đời sống tu đức vừa phản ảnh vừa tràn đầy Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể của họ vậy!”
Nghị quyết 40 chạm tới vấn đề thành phần ly dị tái hôn bất giải hôn, đă cho thấy “mối quan tâm sâu xa được nhiều vị nghị phụ bày tỏ” và “xác nhận tầm quan trọng của thái độ mục vụ và việc chăm sóc cũng như chấp nhận cần phải có đối với người tín hữu ly dị tái hôn. Theo truyền thống của Giáo Hội Công giáo, họ không thể Hiệp Lễ, v́ họ ở trong t́nh trạng khách quan nghịch lại với lời Chúa là Đấng đă trả về cho đời sống hôn nhân cái giá trị bất khả phân ly nguyên thủy của nó”. Tuy nhiên, để khuyến khích những tín hữu này tham dự vào tất cả mọi lănh vực của đời sống Giáo Hội, nghị quyết này cổ vơ “tính chất mục vụ, sự hiện diện cùng với hoạt động xác đáng và quan tâm của các ṭa án giáo hội cứu xét việc tiêu hôn”.
Nghị quyết 41 nhắc nhở rằng “Thánh Thể là biểu hiệu của mối hiệp nhất trọn vẹn với Giáo Hội”. Bởi thế, “chúng tôi yêu cầu là các Kitô hữu không phải Công giáo hiểu biết và tôn trọng sự kiện là, đối với chúng tôi, trong việc tuân giữ truyền thống hoàn toàn hợp với Thánh Kinh, Mối Hiệp Thông Thánh Thể và mối hiệp thông giáo hội sâu xa thuộc về nhau, nên một hiệp thông Thánh Thể với các Kitô hữu không phải là Công giáo nói chung là điều bất khả. Việc đồng tế đại kết lại càng không được. Cũng thế, cần phải hiểu rơ là theo chiều hướng cứu độ từng người th́ việc Kitô hữu không phải Công giáo tham dự vào bí tích Thánh Thể, bí tích thống hối và xức dầu kẻ liệt, trong những trường hợp riêng biệt từng nố, với những điều kiện xác đáng, là điều khả dĩ và thậm chí đáng làm”. Những điều kiện này được huấn quyền Giáo Hoàng và Giáo Luật rơ ràng xác định.
Nghị quyết 46 kêu gọi “việc các chính trị gia và lập pháp gia Công giáo gắn bó với Thánh Thể” và nhắc nhở họ về “trách nhiệm xă hội nặng nề của họ trong việc tŕnh bày và tán thành những thứ luật lệ trái với đạo lư”.
Nghị quyết 47 nói đến mối liên hệ giữa Thánh Thể và môi sinh học.
Nghị quyết 48 nhấn mạnh đến chiều kích xă hội của Thánh Thể.
Nghị quyết 49 về mối liên kết giữa Thánh Thể với việc ḥa giải các dân tộc xung khắc nhau.
Nghị quyết 50 về Mẹ Maria là “người nữ Thánh Thể”, khuyến khích tín hữu hăy có “cùng những cảm thức của Mẹ Maria”.
Chúng ta có thể chờ đón coi tất cả những nghị quyết này khi chúng được chính Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viết thành một văn kiện theo huấn quyền và chính thức ban hành như một bức tông thư.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
23-24/10/2005
Cảm Nhận của một số nghị phụ tham dự Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Trong biến cố Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI có tất cả 700 phóng viên báo chí thường trực, ngoài 450 người vốn trực tiếp làm việc với văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh c̣n có 260 người khác đến Rôma cho biến cố này. Có 3 cuộc họp báo, lần thứ nhất vào Thứ Bảy 1/10, ngay trước khi mở màn cho biến cố, lần thứ hai vào Thứ Năm 13/10 sau phiên họp chung thứ 16, và lần thứ ba vào Thứ Bảy 22/10, ngay trước ngày bế mạc. Lần nào cũng có một số vị nghị phụ đại diện để tường tŕnh và trả lời những thắc mắc của báo chí.
Vào lúc 12 giờ 15 trưa Thứ Bảy 22/10/2005, một cuộc họp báo đă diễn ra tại Văn Pḥng báo Chí của Ṭa Thánh để kết thúc công việc của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về đề tài Thánh Thể. Thành phần tham dự trong buổi họp báo này gồm có ĐHY George Pell, TGM Sydney Úc Đại Lợi, ĐHY Marc Ouellet P.S.S., TGM Quebec Gia Nă Đại, ĐTGM Roland Minnerath giáo phận Dijon, Pháp quốc, và ĐGM Salvatore Fisichella, viện trưởng Giáo Hoàng Đại Học Viện Lateranô ở Rôma.
ĐHY Ouellet đă nhấn mạnh đến bầu khí huynh đệ và hiệp nhất trong đức tin là những ǵ làm nên đặc điểm của cuộc Thượng Nghị này, bất chấp tính cách đa dạng của các nền văn hóa; và ngài c̣n đặc biệt chú ư tới việc sứ điệp cuối cùng của thượng nghị không dựa vào những nghị quyết hay nhận định mà là vào Thánh Thể như điểm tựa của đời sống và hoạt động của Giáo Hội. Theo ngài, bản văn sứ điệp ấy đă nhấn mạnh đến Thánh Thể trở thành sứ vụ của Dân Chúa và tái khẳng định trách nhiệm của Kitô hữu, như các vị Nghị Phụ, trong việc “cần phải âm vang nỗi khổ đau của thế giới”, và chủ động tham gia vào các lănh vực quan trọng như kinh tế, giáo dục và truyền thông đại chúng.
ĐGM Fisichella nhận định về cách thức Cuộc Thượng Nghị bắt đầu và kết thúc bằng một sứ điệp ḥa b́nh, hy vọng và phấn khích. Ngài nói: “Sứ điệp này bàn tới nhiều bóng tối chúng ta không được bỏ qua, nhưng nó cũng chất chứa dấu hiệu sáng sủa, v́ bất chấp những trục trặc vẫn có nhiều tia sáng, như việc gia tăng ơn gọi linh mục, và việc gia tăng ư thức nơi các gia đ́nh về vai tṛ xă hội của họ”.
ĐTGM Minnerath đă cho thấy một trong những cái mới lạ của cuộc Thượng Nghị này, đó là việc Đức Giáo Hoàng đă truyền phổ biến những nghị quyết của các vị Nghị Phụ ở bản dịch tiếng Ư. Vị TGM này cũng nhấn mạnh tới bầu khí cởi mở và thông đạt làm nên đặc tính của cuộc thượng nghị, “mà không lấy đi bất cứ điều ǵ khỏi phương thức truyền thống”.
Khi các vị nghị phụ trong cuộc họp báo vừa dứt lời th́ thành phần phóng viên báo chí đặt một số vấn nạn để xin các vị giải đáp, trong đó có vấn đề bỏ phiếu về sứ điệp cuối cùng của cuộc thượng nghị, vấn đề tự do của các vị giám mục địa phương đối với việc cho thành phần chính trị gia cấp tiến rước lễ, và vấn đề thành phần ly dị tái hôn bất giải hôn hiệp lễ.
Về vấn đề bỏ phiếu về sứ điệp cuối cùng của cuộc thượng nghị, ĐTGM Minnerath đă giải thích rằng: “Không thực hiện việc bỏ phiếu cho sứ điệp tổng kết của thượng nghị, v́ những qui định của cuộc Thượng Nghị này không buộc phải bỏ phiếu, mà các vị nghị phụ chỉ cần nói lên việc ưng thuận của ḿnh mà thôi, một việc ưng thuận trong cả phiên họp chung hôm qua (Thứ Sáu) và hôm nay (Thứ Bảy) đă cho thấy thái độ hưởng ứng nhiệt liệt của các vị”.
Về vấn đề tự do của các vị giám mục địa phương đối với việc cho thành phần chính trị gia cấp tiến rước lễ, ĐHY Ouellet cho biết: Thượng Nghị này không muốn cô lập bất cứ thứ loại cá nhân nào. Dĩ nhiên, tất cả mọi Kitô hữu đều có trách nhiệm về hành vi cử chỉ của ḿnh, nhưng thành phần lập pháp có một trách nhiệm chung bắt buộc hơn và có một nhiệm vụ lớn lao hơn trong việc cần phải nhất trí. Bởi thế, các vị giám mục địa phương sẽ khôn ngoan và mạnh mẽ cứu xét từng trường hợp xẩy ra một”.
Về vấn đề thành phần ly dị tái hôn bất giải hôn hiệp lễ, các vị nghị phụ tham dự cuộc họp báo cho biết: “Đối với họ, chúng tôi có một h́nh thức chăm sóc mục vụ chuyên biệt và đặc biệt, để thấy được rơ ràng là mặc dù họ không thể hiệp lễ họ vẫn không bị loại trừ khỏi Giáo Hội”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 24/10/2005
Thư gửi Các Vị Giám Mục Trung Hoa không thể tham dự Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Vào chiều ngày bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, các vị điều hành biến cố này đă gửi cho các vị Giám Mục Trung Hoa không được phép tới tham dự biến cố này một bức thư. Những vị kư tên trong bức thư này là các vị chủ tịch đại biểu cùng với vị tổng thư kư của thượng nghị, thứ tự như sau: ĐHY Francis Arinze, ĐHY Jaun Sandoval Iniguez, ĐHY Telesphone Placidus Toppe, và ĐTGM Nikola Eterovic. Và 4 vị Giám Mục Trung Hoa được bức thư này gửi đến là Antonio Li Duan, Xi’an; Luca Li Jingfeng, Fengxiang; Aloysius Jin Luxian S.J, Shanghai; và Giuseppe Wei Jingyi, Qiqihar.
Thành Đô Vatican ngày 22 tháng 10 năm 2005
Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm rất thân mến,
Chúng tôi, các Nghị Phụ, tham dự Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, cùng với Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, muốn gửi đến quí huynh lời chào thăm huynh đệ và thân ái của chúng tôi.
Việc vắng mặt của quí huynh trong công cuộc của thượng nghị này đă khiến cho tâm hồn chúng tôi cảm thấy rất buồn. Chúng tôi muốn gặp gỡ quí huynh và nghe được những kinh nghiệm cam go và thành đạt về giáo hội của quí huynh. Tất cả những điều ấy đều bất khả, nhưng chúng tôi xin bảo đảm với quí huynh cùng toàn thể Giáo Hội ở Trung Hoa rằng quí huynh và Giáo Hội Trung Hoa của quí huynh đặc biệt hiện diện nơi tâm can và lời nguyện cầu của chúng tôi.
Như quí huynh đều biết, Mầu Nhiệm Thánh Thể là tâm điểm của những suy tư chia sẻ của chúng ta. Về vấn đề này, chúng ta muốn nhấn mạnh là chính ở nơi Thánh Thể, nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của Giáo Hội mà tất cả chúng ta được hiệp thông với Chúa Kitô cũng như với Giáo Hội hoàn vũ. Đó là lư do chúng tôi cùng với quí huynh dâng lời chúc tụng Cha Hằng Hữu là Đấng Ban Phát tất cả moị sự thiện hảo, đó là, từ tấm ḷng của Ngài xuất phát một t́nh yêu tuôn đổ cho chúng ta qua Thần Linh của Chúa Kitô Phục Sinh là Đấng làm cho chúng ta “thành một tấm ḷng và một linh hồn duy nhất”.
Trong Chúa Giêsu, chúng tôi hy vọng rằng tất cả mọi cộng đồng giáo hội ở Trung Hoa được triển nở trong việc lắng nghe Lời Chúa, trong việc cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua và trong việc quảng đại phục vụ anh chị em ḿnh. Những lời nguyện cầu của chúng tôi bao gồm cả niềm hy vọng thiết tha là sớm t́m thấy những đường lối để làm cho mối hiệp thông trở nên hữu h́nh hơn nữa. Chúng tôi kư thác những ước nguyện được hỗ trợ bởi việc sốt sáng cầu nguyện của toàn thể Giáo Hội này cho Đức Maria Rất Thánh, Mẹ Giáo Hội.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 24/10/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Bế Mạc Năm Thánh Thể kết thúc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Sau đây bài giảng của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI bằng tiếng Ư, Balan, Ukraine và Tây Ban Nha trong Thánh Lễ bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể và kết thúc Năm Thánh Thể, cũng là dịp ngài tuyên phong hiển thánh cho 5 vị chân phước.
Chư Huynh đáng kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục!
Anh Chị Em thân mến!
Trong ngày Chúa Nhật 30 Thường Niên này, việc cử hành Thánh Thể của chúng ta có nhiều lư do khác nhau thôi thúc chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Năm Thánh Thể và Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Niên cùng bế mạc một lúc, một thượng nghị về mầu nhiệm Thánh Thể nơi đời sống và việc truyền giáo của Giáo Hội, và 5 vị chân phước sẽ được phong thánh là Giám Mục Jozef Bilczewski, các vị linh mục Gaetano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski và Alberto Hurtado Cruchaga, và tu sĩ Capuchin Felice ở Nocosia.
Hôm nay cũng là Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo, một cơ hội hằng năm để tái khơi dậy động lực truyền giáo nơi cộng đồng giáo hội. Tôi hân hoan gửi lời chào đến tất cả những ai hiện diện nơi đây, trước hết là các vị nghị phụ, rồi những người hành hương đến từ các quốc gia khác nhau cùng với những vị mục tử của ḿnh để mừng các vị tân hiển thánh. Phụng vụ hôm nay kêu mời chúng ta đến việc chiêm ngắm Thánh Thể như mạch nguồn thánh đức và của dưỡng nuôi thiêng liêng cho việc truyền giáo của chúng ta trên thế giới: “Tặng ân và mầu nhiệm” cao cả này biểu lộ và thông truyền mức độ viên măn của t́nh yêu Thiên Chúa cho chúng ta.
Lời của Chúa, giờ đây vừa vang vọng trong Phúc Âm, đă nhắc nhở chúng ta rằng tất cả lề luật thần linh được tóm gọn lại thành yêu thương. Giới răn lưỡng diện mến Chúa và yêu người bao gồm hai khía cạnh của một động lực duy nhất nơi tâm can và nơi đời sống. Như thế Chúa Giêsu đạt tới mạc khải xưa kia, không thêm ǵ vào giới răn không bị cắn xén, song bằng việc hiện thực hóa nơi bản thân Người cũng như nơi hành động cứu độ của Người một tổng hợp sống động hai lời cao cả của cựu ước: “Các người phải kính mến Thiên Chúa là Chúa của các người hết ḷng…” và “các người phải yêu thương tha nhân như chính bản thân ḿnh” (x. Deut. 6:5; Lev. 19:18).
Nơi Thánh Thể, chúng ta chiêm ngưỡng bí tích của cái tổng hợp lề luật ấy. Chúa Kitô cống hiến cho chúng ta, cùng với bản thân Người, tất cả những ǵ trọn vẹn hiện thực t́nh yêu đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em của chúng ta. Và t́nh yêu này của Người, Người thông đạt cho chúng ta khi chúng ta được dưỡng nuôi bằng Ḿnh và Máu Người. Đó là những ǵ Thánh Phaolô đă viết cho giáo đoàn Thessalonica trong bài đọc hôm nay: “Anh chị em đă từ bỏ việc tôn thờ các thứ thần giả tạo mà trở nên thành phần tôi tớ của vị Thiên Chúa hằng sống chân thật” (1Thes. 1:9). Việc hoán cải này là khởi đầu cho con đường thánh đức Kitô hữu được kêu gọi để đạt tới trong cuộc sống riêng của ḿnh.
Thánh nhân là người được vẻ đẹp của Thiên Chúa thu hút cũng như được sự thật toàn hảo của Ngài hấp dẫn để được sự thật ấy từ từ biến đổi. V́ vẻ đẹp và sự thật này, họ sẵn sàng từ bỏ hết mọi sự, thậm chí cả bản thân của họ. Chỉ có t́nh yêu Thiên Chúa là đủ, một t́nh yêu họ cảm nghiệm được nơi việc khiêm tốn và vô vị lợi phục vụ tha nhân, nhất là những ai không thể đáp đền.
Theo ư nghĩa ấy th́ thích hợp biết bao ở sự kiện hôm nay Giáo Hội nêu lên cho tất cả mọi phần tử của ḿnh 5 vị thánh mới, những vị đă được Chúa Kitô là bánh hằng sống dưỡng nuôi, những vị đă được hoán cải sống cho t́nh yêu này và được rập khuôn mẫu đời ḿnh theo t́nh yêu này! Nơi những hoàn cảnh khác nhau và bằng những đặc sủng khác biệt, các vị đă kính mến Chúa hết ḷng và tha nhân như bản thân các vị để nhờ đó trở thành “mẫu gương cho tất cả mọi tín hữu” (1Thes 1:6-7).
Thánh Jozef Bilczewski là một con người cầu nguyện.. Thánh Lễ, Phụng Vụ Giờ Kinh, suy nkiệm, kinh mân côi và các việc đạo đức khác làm nên cuộc sống hằng ngày của ngài. Ngài đặc biệt giành nhiều giờ cho việc chầu Thánh Thể. Thánh Zygmunt Gorazdowski thậm chí c̣n nổi tiếng v́ ḷng tôn sùng việc cử hành và tôn thờ Thánh Thể. Hy tế của Chúa Kitô hằng sống đă thôi thúc ngài hướng tới người bệnh tật, nghèo khổ và thiếu thốn.
Kiến thức sâu xa về thần học, đức tin và ḷng tôn sùng Thánh Thể của Thánh Jozef Bilczewski làm cho ngài trở thành mẫu gương cho các vị linh mục và là chứng tá cho tất cả mọi tín hữu. Thánh Zygmunt Gorazdowski, khi thành lập Hiệp Hội Linh Mục, Ḍng Chị Em Thánh Giuse và các tổ chức bác ái khác, bao giờ cũng theo tinh thần hiệp thông là tinh thần hoàn toàn được tỏ hiện nơi Thánh Thể.
”Anh chị
em phải kính mến Chúa là Thiên Chúa của anh chị em hết ḷng. Anh chị em phải yêu
thương tha nhân của ḿnh như chính bản thân” (Mt 22:37-39). Đó là chhương tŕnh
sống của Thánh Alberto Hurtado, vị muốn đồng hóa ḿnh với Chúa và mến thương
người nghèo cũng bằng t́nh yêu mến Thiên Chúa ấy của ngài. Được huấn luyện nơi
Ḍng Chúa Giêsu, cùng với đời sống cầu nguyện và tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể,
là những ǵ đă làm cho ngài được Chúa Kitô chiếm đoạt, trở thành một con người
chiêm niệm trong khi hoạt động. Bằng t́nh mến yêu và hoàn toàn dấn thân cho ư
muốn của Thiên Chúa, ngài đă có được sức mạnh để hoạt động tông đồ.
Ngài đă thành lập Nhà của Chúa Kitô cho thành phần thiếu thốn nhất cũng như cho những ai vô gia cư, cống hiến cho họ một bầu khí gia đ́nh đầy t́nh người ấm áp. Trong việc thi hành thừa tác vụ linh mục của ḿnh, ngài chú trọng tới tính cách đơn sơ giản dị và tính cách trở nên dễ dàng thuận lợi cho người khác, trở thành h́nh ảnh sống động của vị sư phụ “hiền lành và khiêm nhượng trong ḷng”. Vào cuối đời của ḿnh, giữa những cơn đớn đau mănh liệt gây ra bởi bệnh nạn của ḿnh, ngài vẫn mạnh mẽ lập lại rằng: “con măn nguyện, Chúa ơi, con măn nguyện”, bày tỏ niềm vui ngài luốn có trong đời sống.
Thánh Gaetano Catanoso là một vị tôn thờ và là tông đồ của Nhan Thánh Chúa Kitô. Ngài nói: “Thánh Nhan là sự sống của tôi. Người là sức mạnh của tôi”. Bằng một trực giác hân hoan, ngài đă nuôi dưỡng việc tôn sùng ḷng đạo đức đối với Thánh Thể ấy. Ngài bày tỏ ḿnh ra bằng những lời lẽ này: “Nếu chúng ta muốn tôn thờ Dung Nhan Thực Sự của Chúa Giêsu…. Chúng ta có thể thấy dung nhan này nơi Thánh Thể thần linh, ở đó, với ḿnh và máu của Chúa Giêsu Kitô, dung nhan của Chúa ẩn dấu dưới tấm màn trắng của Bánh Thánh”.
Thánh Lễ hằng ngày và việc thường xuyên tôn thờ Bí Tích Bàn Thờ là hồn sống cho thiên chức linh mục của ngài: bằng việc bác ái mục vụ nhiệt thành không biết mỏi mệt, ngài đă dấn thân giảng dạy, hướng dẫn giáo lư, ban phép giải tội, giúp người nghèo, người bệnh, chăm sóc ơn gọi linh mục. Ngài đă truyền đạt cho Chị Em Vêrônica Thánh Nhan được ngài thành lập tinh thần bác ái, khiêm nhu và hy sinh là những ǵ chi phối cả cuộc sống của ngài.
Thánh Felice ở Nicosia thích lập lại trong tất cả mọi trường hợp vui buồn rằng: “Hăy v́ t́nh yêu mến Thiên Chúa”. Bởi thế chúng ta mới có thể hiểu rơ nơi ngài thiết tha và cụ thể ra sao cái cảm nghiệm về t́nh yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện cho loài người thấy nơi Chúa Kitô. Vị tu sĩ Ḍng Capuchin này, người con nổi tiếng của mảnh đất Sicily đây, con người sống khổ chế và thống hối, trung thành với những thể hiện chân thực nhất của truyền thống ḍng Phanxicô, dần dần đă được khuôn đúc và biến đổi bởi t́nh yêu Thiên Chúa, một t́nh yêu được sống động và hiện thực nơi t́nh yêu thương tha nhân. Cha Felice giúp chúng ta khám phá ra cái giá trị của những sự nhỏ bé làm cho đời sống của chúng ta cao quí hơn, và ngài dạy cho chúng ta biết nắm bắt lấy ư nghĩa của gia đ́nh và phục vụ anh chị em, khi ngài cho chúng ta thấy rằng niềm vui chân thực và bền bỉ là hoa trái của yêu thương, một niềm vui được tâm can con người mong ước.
Quí vị nghị phụ đáng kính thân mến, chúng ta đă sống với nhau ba tuần lễ trong bầu khí sốt sắng mới đối với Thánh Thể. Giờ đây, cùng với quí nghị phụ và nhân danh toàn thể hàng giáo phẩm, tôi xin gửi lời chào hỏi huynh đệ đến các vị giám mục thuộc Giáo Hội Trung Hoa.
Chúng ta cảm thấy rất buồn trước sự thiếu vắng sự đại diện của các vị. Tôi cũng xin tất cả mọi vị linh mục Trung Hoa biết rằng chúng tôi gần gũi với các vị giám mục cũng như linh mục cùng tín hữu của họ trong lời nguyện cầu. Con đường đau thương của các cộng đồng được kư thác cho việc các vị chăm sóc mục vụ đang sống động trong tâm can của chúng tôi: Nỗi khổ đau ấy không phải là những ǵ vô bổ, v́ nó tham phần vào mầu nhiệm vượt qua cho vinh quang của Chúa Cha.
Công việc của thượng nghị giám mục này khiến chúng ta có thể đào sâu vào những khía cạnh sắc cạnh của mầu nhiệm vượt qua này, một mầu nhiệm đă được hiến ban cho Giáo Hội ngày từ ban đầu. Việc chiêm ngưỡng Thánh Thể phải là những ǵ thôi thúc tất cả mọi phần tử của Giáo Hội, trước hết là các vị linh mục, các vị thừa tác viên Thánh Thể, hăy làm sống lại việc dấn thân đức tin của ḿnh. Đời sống độc thân được linh mục lănh nhận như là một tặng ân cao quí và là dấu hiệu của một t́nh yêu bất phân chia đối với Thiên Chúa và tha nhân, là những ǵ được bắt nguồn từ một mầu nhiệm Thánh Thể được cử hành và tôn thờ.
Linh đạo Thánh Thể cũng cần phải là động cơ nội tại cho bất cứ hoạt động nào đối với thành phần giáo dân nữa, và không có một sự phân chia nào khả chấp giữa đức tin và đời sống của họ nơi sứ vụ lan truyền tinh thần Kitô giáo trên thế giới.
Trong lúc Năm Thánh Thể đang tới chỗ kết thúc đây, chúng ta làm sao lại không dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về nhiều tặng ân Giáo Hội đă lănh nhận trong thời gian này chứ? Và làm sao chúng ta lại không tiếp tục, một lần nữa, lời kêu mời của vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu là “hăy bắt đầu lại từ Chúa Kitô” chứ? Như các môn đệ đi về làng Emmau, những vị, với tâm hồn được ham nóng bởi những lời của Đấng Phục Sinh và được soi động bởi việc hiện diện sống động của Người, đă nhận ra nơi việc bẻ bánh, liền quay trở về Giêrusalem để loan báo việc phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta cũng phải tiếp tục lại con đường này, được tác động bởi tấm ḷng thiết tha muốn làm chứng cho mầu nhiệm t́nh yêu ban hy vọng cho thế gian ấy.
Theo chiều hướng Thánh Thể này, Ngày Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo hôm nay cũng là dịp rất thích hợp được Vị Tôi Tớ đáng kính Gioan Phaolô II cống hiến đề tài suy niệm: “Việc Truyền Giáo là Tấm Bánh bẻ ra cho thế gian được sự sống”.
Cộng đồng giáo hội, khi cử hành Thánh Thể, nhất là vào Ngày Của Chúa, bao giờ cũng ư thức hơn nữa là hy tế của Chúa Kitô là để “cho nhiều người” (Mt 26:28), và Thánh Thể thôi thúc kitô hữu hăy trở thành “tấm bánh bẻ ra” cho kẻ khác, dấn thân ḿnh cho một thế giới chân chính hơn và huynh đệ hơn. Ngay cả hôm nay đây, trước đám đông dân chúng, Chúa Kitô vẫn tiếp tục kêu gọi thành phần môn đệ của Người rằng: “Các con hăy tự kiếm ǵ cho họ ăn đi” (Mt 14:16), và, nhân danh Người, thành phần thừa sai loan báo và làm chứng cho Phúc Âm, có những lúc thậm chí hy hiến cả mạng sống của ḿnh nữa.
Các bạn thân mến, chúng ta cần phải bắt đầu lại từ Thánh Thể. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta, người nữ Thánh Thể, để chúng ta say yêu Thánh Thể, giúp chúng ta “ở lại” trong t́nh yêu của Chúa Kitô, một t́nh yêu được Người làm mới lại một cách mật thiết. Đơn sơ dễ dạy với tác động của Thần Linh và chuyên chú đến các nhu cầu của con người, Giáo Hội nhờ đó sẽ trở thành dấu hiệu cao cả của ánh sáng, của niềm vui và hy vọng, hoàn toàn chiếm đạt sứ vụ của ḿnh như “day hiệu và là dụng cụ của mối hiệp nhất toàn thể nhân loại” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, 1).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
23/10/2005
Trong cuộc họp báo hôm Thứ Sáu, 21/10/2005, các vị nghị phụ đă cho biết là các vị bàn tới bản sứ điệp đúc kết này. Bản văn kiện dày 17 trang này gồm có 27 phân đoạn, được viết bằng Pháp ngữ và được chuyển dịch sang 5 thứ ngôn ngữ khác. Bản sứ điệp đúc kết này mang tựa đề “Thánh Thể là Bánh Sống cho Ḥa B́nh Thế Giới”. Các vị nghị phụ trong cuộc họp chung có đề nghị điều chỉnh một số chỗ trong bản văn này.
Bản văn kiện sứ điệp nhằm phấn khích chương tŕnh mục vụ về Thánh Thể trong Giáo Hội này được mở đầu bằng việc tri ân cảm tạ các vị đă tham dự hay đă phát động thượng nghị này, nhất là Đức Gioan Phaolô II, cũng như vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI. Sứ điệp này cũng không quên cám ơn “anh em thuộc Các Giáo Hội Đông Phương”, với niềm hy vọng rằng “một ngày kia mối hiệp nhất hữu h́nh của Giáo Hội được thực hiện”.
Sứ Điệp này sau đó diễn tả t́nh h́nh thế giới và Giáo Hội. Đối với thế giới,bản văn đề cập tới “những nỗi khổ đau trên thế giới, như đói khổ, nghèo khổ, bất công, thiên tai, chiến tranh và những hoàn cảnh khốn khó ở Phi Châu và Trung Đông”. Ngoài ra, bản văn kiện than van về t́nh trạng khô đạo ở Tây phương, và kêu gọi các vị lănh đạo các quốc gia hăy quan tâm tới phẩm vị của con người, để bênh vực sự sống từ khi được thụ thai, và phát động sự tiến bộ về nhân bản và xă hội.
Đối với Giáo Hội, sứ điệp nói tới một số chiều hướng tích cực, như vấn đề tái ư thức về Ngày Chúa Nhật, việc gia tăng ơn gọi linh mục và tu sĩ ở nhiều nơi trên thế giới, và việc khám phá và đào sâu đức tin nơi thành phần giới trẻ, đặc biệt liên quan tới hoạt động của những Ngày Giới Trẻ Thế Giới.
Tuy nhiên, cũng có một số thách đố được đề cập tới, như vấn đề phục hồi bí tích ḥa giải, như việc tôn trọng phụng vụ, như việc tín hữu trung thành với những ǵ họ tuyên xưng, như việc tích cực cổ vơ ơn gọi linh mục hơn nữa, như thành phần ly dị tái hôn bất giải hôn không được hiệp lễ (điểm được điều chỉnh cho bản văn kiện sứ điệp này là chi tiết Giáo Hội nh́n nhận nỗi khổ tâm của thành phần Công giáo này, và kêu gọi họ đừng cảm thấy bị loại trừ song hăy dự lễ Chúa Nhật và lắng nghe lời Chúa).
Tiến tŕnh của Thượng Nghị ở những ngày đầu tuần lễ cuối
Trong phiên họp chung 19 hôm 18/10/2005, ĐTGM Nokola Eterovic, tổng thư kư của thượng nghị, đă dâng tặng ĐTC cuốn sách đầu tiên, b́a bọc trắng, tập thứ nhất của Bộ Tổng Lược Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới, được phát hành và phổ biến nhân dịp kỷ niệm mừng 40 năm biến cố thượng nghị này.
Theo những chi tiết được phổ biến về riêng tập thứ nhất trong bộ sách thượng nghị này th́ nó “là tổng hợp những văn kiện của các thượng nghị giám mục thế giới, ngay từ đầu cho tới năm 1988, rất ích lợi chẳng những cho các phần tử của giáo phẩm đoàn, mà c̣n cho thành phần nghiên cứu gia, sử gia và thần học gia, thành phần sẽ thấy nơi đó văn liệu trọng yếu đối với đời sống và sứ vụ của Giáo Hội sau Công Đồng Chung Vaticanô II. Đức Thánh Cha đă quyết định trao tặng tập sách này cho quí tham dự viên thượng nghị như là một dấu hiệu tri ân và phấn khích ḷng trung thành, hiệp thông và yêu mến đối với một Giáo Hội sống mầu nhiệm Thánh Thể”.
Sáng Thứ Tư 19/10, các vị nghị phụ làm việc theo nhóm ngôn ngữ của ḿnh để soạn thảo những điều tu chính cho các đề nghị được tổng kết hôm Thứ Hai và tường tŕnh hôm qua Thứ Ba. Chiều cùng ngày, các vị nộp những điều tu chính cho vị tổng thư kư của thượng nghị. Sau đó, các vị được dịp coi một cuốn phim “Thánh Phêrô”, một cuốn phim sẽ được tŕnh chiếu trên đài truyền h́nh RAI (Italian State Television) một một thời gian mấy tuần lễ.
Cuốn phim được tŕnh chiếu đánh dấu sau 1 ngày đầy 6 tháng Đức Hồng Y Joseph Ratzinger được bầu (18/4) làm giáo hoàng Đức Biển Đức XVI. Một ghi chú từ Văn Pḥng Tổng Thư Kư của Ṭa Thánh cho biết là:
“Việc coi cuốn phim này trùng hợp với bầu khí của thượng nghị về Thánh Thể, để chiếu tỏa Giáo Hội được phát sinh và nuôi dưỡng bởi Thánh Thể, được thừa hưởng thừa tác vụ Thánh Phêrô và các vị thừa kế Chư Tông Đồ, thành phần đóng vai tṛ như là các vị mục tử và là những vị bảo toàn mối hiệp nhất của dân Tân Ước, một tân ước được thiết lập nơi Ḿnh Máu Chúa Kitô là Đấng đă chết và phục sinh trong vinh hiển của Chúa Cha”.
Bản Thảo Liệt Kê 50 Đề Nghị của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Trong phiên họp chung hôm Thứ Ba 18/10/2005, một bản đúc kết 50 đề nghị được tŕnh bày cho các vị nghị phụ.
Trong một cuộc họp với thành phần phóng viên báo chí cùng ngày, ĐHY Francisco Javier Errázuriz ở Santiago Chí Lợi, đă nói rằng bản chất của những điều đề nghị này là một “lời mời gọi trọng đại của thượng nghị này trong việc tiến vào mầu nhiệm” Thánh Thể.
“Việc tiến vào một ngôi nhà thờ không phải là vấn đề bái qú, đứng lên và ra về; mà là tiến vào một vực thẳm, nhờ đó đời sống riêng của người tín hữu mới tiền vào mầu nhiệm Thánh Thể” của việc Chúa Kitô hiện diện thực sự.
Thượng nghị hy vọng rằng đời sống của người tín hữu “sẽ là một Thánh Lễ kéo dài và Thánh Lễ sẽ chi phối cả cuộc sống của họ”.
Nội dung đặc biệt của những đề nghị này sẽ không được công bố chung, để bảo tŕ quyền tự do của Đức Biển Đức XVI khi viết bức tông huấn hậu thượng nghị này, một tông huấn được dựa trên các đề nghị của thượng nghị đây.
Tuy nhiên, căn cứ vào những lời nhận định của các vị hồng y và giám mục ngỏ cùng thành phần phóng viên báo chí th́ các đề nghị ấy chấp nhận chủ trương của Giáo Hội về các vấn đề như vấn đề ly dị tái hôn bất giải hôn hiệp lễ.
ĐHY Errázuriz đă nói rằng sự thật đức tin liên quan tới nguyên tắc thần học về “tính cách bất khả phân ly của hôn nhân” th́ thành phầnnày không được Hiệp Lễ.
“Thế nhưng những người này tỏ tường muốn thuộc về cộng đồng Giáo Hội”. Bởi thế, theo ngài cho biết, họ có thể Hiệp Lễ nếu họ sống với nhau mà không ăn nằm với nhau và không gây gương mù gương xấu.
Về vấn đề thiếu hụt các vị linh mục, vị hồng y chí lợi này ghi nhận những chứng từ của các Giáo Hội Công Giáo theo lễ nghi Đông Phương về những khó khăn trong việc cậy dựa vào những vị linh mục có gia đ́nh. Vị hồng y này cho biết lư do chính yếu tại sao Giáo Hội theo lễ nghi Latinh bảo tŕ luật độc thân linh mục này là v́ tính chất của thần học.
Vị hồng y cũng là chủ tịch hội đồng giám mục Mỹ Châu Latinh CELAM này cho biết thượng nghị nhấn mạmnh đến nhu cầu cần phải có một chương tŕnh mục vụ ơn gọi và chân nhận rằng “nơi nhiều giáo phận t́nh h́nh không tốt đẹp”.
“Có nhiều gia đ́nh hân hoan tham dự Thánh Thể nhờ đó phát sinh ra các ơn gọi, song vẫn không phải là một công việc đầy đủ”.
Có các vị nghị phụ chia sẻ về thành phần giúp lễ và “việc họ gần gũi với Chúa Giêsu như là một cách tiến đến thiên chức linh mục, như đă từng xẩy ra cho nhiều vị nghị phụ”.
Bản liệt kê các điều đề nghị này, được ĐHY Angelo Scola, phối kết viên của thượng nghị, soạn thảo cùng với ĐTGM Minnerath và các phối kết viên của các nhóm làm việc, và được đọc lên trước sự hiện diện của ĐTC và 244 vị nghị phụ, trong tân sảnh đường thượng nghị, bởi vị bí thư đặc biệt của thượng nghị là ĐTGM Roland Minnerath ở Dijon, Pháp quốc.
Chiều 18/10 và Thứ Tư 19/10, thượng nghị sẽ tiến sang phần các nghị phụ gặp nhau từng nhóm nhỏ để soạn thảo những điều tu chính chung cho các đề nghị được liêt kê và đọc lên sáng Thứ Ba 18/10. Các đề nghị được điều chỉnh sẽ được tŕnh bày tại sảnh đường thượng nghị vào Thứ Sáu sau đó được bỏ phiếu vào Thứ Bảy, trước khi kết thúc thượng nghị vào Chúa Nhật 23/10/2005.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit 18/10/2005
Theo chương tŕnh được dự định th́ Thứ Hai 17/10/2005, các vị nghị phụ dùng cả một ngày để suy niệm và tôn thờ Thánh Thể trước khi đi đến những quyết định chính yếu.
Thật vậy, sáng nay không có phiên họp chung như mọi ngày, để vị tổng phối kết là ĐHY Angelo Scola ở Venice, và các viên chức nghị phụ khác viết cho xong “các dự thảo” để thượng nghị tŕnh lên Đức Giáo Hoàng.
“Bản liệt kê các dự thảo” sẽ được tŕnh bày vào Thứ Ba 18/10 trong phiên họp chung ở sảnh đường thượng nghị. Bản liệt kê này sẽ được các nhóm làm việc phân tích vào cùng ngày hôm đó và hôm sau, để tŕnh nộp những tu chính nếu có.
Bản dự thảo cuối cùng sẽ được tŕnh bày vào ngày Thứ Sáu, và các nghị phụ sẽ bỏ phiếu cho bản liệt kê dự thảo đúc kết này vào ngày Thứ Bảy. Sau khi bản dự thảo được bỏ phiếu thuận, nó sẽ trở thành cơ sở cho tông thư hậu thượng nghị được Đức Thánh Cha Biển Đức viết và ban hành, thường trong ṿng tối thiểu một năm.
Thời gian dùng để tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể bao gồm việc cầu nguyện và thánh ca, việc công bố và lắng nghe Lời Chúa, Kinh Tin Kính và tạ ơn.
Lễ nghi tôn thờ được chủ sự bởi ĐHY Francis Arinze, đại biểu chủ tịch của thượng nghị này vầlà tổng trưởng Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích. ĐTC Biển Đức cũng tham dự vào việc tôn thờ Thánh Thể và suy niệm này với các vị nghị phụ.
Việc hát bài thánh ca “Adoro Te Devote” được luân chuyển với những câu Phúc Âm bằng một số ngôn ngữ khác nhau. Lời ca được đọc bằng tiếng Ả Rập bởi Thượng Phụ lễ nghi Chaldean Emmanuel III Delly ở Baghdad Iraq, và bằng tiếng Ấn Độ bởi ĐHY Telesphore Toppo, TGM Ranchi, Ấn Độ.
Cuộc Họp Báo sau cuộc tường tŕnh bán kết của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI.
Trong cuộc họp báo đầu tiên diễn ra vào ngày Thứ Năm 13/10/2005 sau phiên họp chung thứ XVI để tường tŕnh tạm kết giai đoạn (10 ngày) vừa qua của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, nhiều vấn đề được đặt ra bởi thành phần phóng viên báo chí và đă được các vị nghị phụ, nhất là 3 vị đồng chủ tịch, trả lời. Chẳng hạn như vấn đề hủy bỏ luật độc thân linh mục, vấn đề hiệp lễ của thành phần ly dị tái hôn bất giải hôn, vấn đề lễ Latinh v.v.
Vấn đề hủy bỏ luật độc thân linh mục
Theo các nghị phụ của cuộc thượng nghị này th́ t́nh trạng thiếu linh mục là một quan tâm lớn của Giáo Hội, nhưng nó chỉ là một triệu chứng của vấn đề chứ không phải là căn nguyên của vấn đề.
ĐHY Telesphore Topppe, TGM Ranchi Ấn Độ, một trong ba vị đồng chủ tịch của thượng nghị này, đă trả lời cho phóng viên báo chí về vấn đề thượng nghị này có thể hủy bỏ luật độc thân linh mục của Giáo Hội Latinh và truyền chức cho thành phần có gia đ́nh để giải quyết cuộc khủng hoảng về ơn gọi hay chăng, như sau:
“T́nh trạng thiếu linh mục không phải là một căn nguyên mà là một triệu chứng. Vấn đề thực sự là do bởi t́nh trạng khủng hoảng về đức tin, trong khi chức linh mục là hoa trái đức tin của cộng đồng. Không có đức tin, cũng chẳng có linh mục, chẳng có ơn gọi”.
Tiếp lời v́ TGM trên, một vị đồng chủ tịch thượng nghị khác là ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mễ Tây Cơ, cho biết thêm:
“T́nh trạng thiếu linh mục là một hầu quả. Nguyên nhân đó là việc thiếu đức tin, thiếu nhăn quan về vấn đề thiêng liêng đạo đức, về siêu việt tính. Tất cả những sự ấy có thể được tóm gọn lại thành một chữ: đó là bị tục hóa. Nhất là chúng ta cần phải giảng dạy, cần phải sử dụng đến Lời Chúa và dẫn giải Lời Chúa chẳng những bằng sự khôn ngoan và thông thạo của ḿnh, mà c̣n bằng chứng từ của chúng ta nữa, để Lời Chúa tác động các cơi ḷng”.
“Việc sử dụng thành phần lập gia đ́nh sống đời Kitô hữu tốt đẹp ‘viri probati’, như được một số quí vị trong hội trường đề cập tới, là một vấn đề chứ không phải là một giải đáp”, như trường hợp Các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương theo tập tục này đă gặp phải. “Họ không có giờ để học hỏi cho thừa tác vụ của họ, v́ họ cần phải chăm sóc vợ con của họ. Đôi khi họ lại ly dị nữa”.
Đức Giám Mục hưu trí Sofron Stefan Mudry giáo phận Ivano-Frankivsk, nước Ukraine, một giáo phận Công Giáo theo lễ nghi Hy Lạp cho linh mục lập gia đ́nh đă lên tiếng trong cùng cuộc họp báo này rằng, ở giáo phận của ngài có 360 trong 400 vị linh mục có gia đ́nh, và ngài công nhận rằng t́nh trạng của các giáo sĩ lập gia đ́nh “rất là khó khăn”.
“Một số trong họ không có nhà khi họ bị Cộng Sản tịch biên. Họ không thể chuyển từ giáo xứ này sang giáo xứ khác, v́ họ có gia đ́nh. Nhiều vấn đề về xă hội và nhân bản xẩy ra. Chúng tôi không có ǵ phhản đối bậc sống này cả”, ngài làm sáng tỏ thêm vấn đề, v́ nó là truyền thống Giáo Hội Đông phương đă có từ ban đầu. “Những linh mục lập gia đ́nh bảo tŕ các nhà thờ ở Ukraine khi những vị sống độc thân bị giam giữ”.
Tuy nhiên, trích lại lời của một vị nguyên TGM Ukraine thuộc Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp, ĐGM Mudry cho biết rằng “nếu chúng ta muốn cứu văn Giáo Hội của ḿnh, chúng ta cần ít là 50% linh mục độc thân”.
ĐHY Angelo Scola,
TGM Venice Ư quốc, vị tổng phối kết viên của thượng nghị, trong bản tường tŕnh
đúc kết những phát biểu của nghị phụ trong thời gian qua, riêng về dự định
truyền chức cho thành phần có gia đ́nh, đă viết:
“Một số vị nghị phụ Tây Phương đă đề cập tới việc truyền chức cho thành phần có gia đ́nh đối với các Giáo Hội của các vị, cống hiến cho mỗi người chúng ta những yếu tố để cẩn thận nghiên cứu cho vấn đề Giáo Hội Latinh quyết định trong việc liên kết sống độc thân với vai tṛ linh mục thánh chức”. Vị tổng phối kết này c̣n cho biết có một số vị giám mục dđ4 bày tỏ cho thượng nghị biết rằng “những giả thuyết về vấn đề ‘vivi probati’ truyền chức cho thành phần lập gia đ́nh là một đường lối không nên theo đuổi”.
Việc Hiệp Lễ và Thành Phần Tái Hôn Bất Giải Hôn
ĐHY Francis Arinze, tổng trưởng Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích, vị đệ nhất chủ tịch của thượng hội giám mục lần này, khi ngỏ lời cùng cuộc họp báo hôm nay, Thứ Năm 13/10/2005, đă căn cứ vào các lời phát biểu của các vị nghị phụ để làm sáng tỏ vấn đề được thành phần phóng viên báo chí đặt ra liên quan tới việc hiệp lễ của thành phần ly dị rồi tái hôn nhưng không được giải hôn rằng: “Chúng tôi không coi vấn đề này là một thứ luật của Giáo Hội mà là luật của Chúa”.
Vị hồng y này giải thích như sau: “Nếu hai người lấy nhau, và nếu cuộc hôn nhân thành hiệu trước Chúa và Giáo Hội, th́ cho dù cuộc hôn nhân ấy có bị đổ vỡ chăng nữa, chúng tôi không có quyền giải một cuộc hôn nhân đă hiệu thành trước Chúa và Giáo Hội. Vậy th́ phải làm sao đây? Điều duy nhất đó là thương cảm họ v́ họ phải chịu đựng, c̣n có người nói rằng họ có thể t́m một người chồng hay người vợ khác để chung sống với nhau rồi Hiệp Lễ như thường. Họ là phần tử của Giáo Hội, nhưng trong t́nh trạng này họ không thể – gắn bó với sự thật của đời sống – tham dự vào việc Hiệp Lễ. Chúng tôi chỉ là thừa tác viên mà thôi, nên chúng tôi cần phải trả lẽ trước mặt Chúa”.
Trong bản tường tŕnh đức kết tạm thời được phổ biến hôm Thứ Tư 112/10, vcị tổng phối kết viên là ĐHY Angelo Scola, đă giải thích rằng đây là vấn đề đă được một số nghị phụ đặt ra khi nhấn mạnh đến “tầm mức quan trọng của một nỗ lực cẩn thận về mục vụ”: “Có hai vị nghị phụ kêu gọi đi sâu vào những đường lối xót thương. Đặc biệt có 1 vị kêu gọi các giám mục hăy hăng say phát động chiều kích mục vụ nơi các ṭa án giáo hội, với những giản dị hóa có thể về các thứ phần hành và phương thức khi không cần phải có những thứ ấy”.
Trong cuộc họp báo cùng ngày 13/10, ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara, Mễ Tây Cơ, một trong 3 vị đồng chủ tịch của thượng nghị này, đă làm sáng tỏ vấn đề thế này:
“Theo sự thật về giáo luật th́ cần phải thực hiện việc công bố vô hiệu thành cuộc hôn phối. Điều yêu cầu ở đây là đừng có vấn đề quan liêu nhờ đó tiến tŕnh diễn tiến được mau chóng hơn để giúp cho người ta”.
Vấn đề cử hành Lễ Latinh theo Công Đồng Chung Triđentinô
Cũng trong buổi họp báo hôm nay, cho dù có nhiều vấn đề rất nóng bỏng được bàn đến trong cuộc thượng nghị lần này, nhưng có một vấn đề “không được một nghị phụ nào bàn tới”, đó là vấn đề cử hành Lễ Latinh theo Công Đồng Chung Vaticanô II. Chính vị đệ nhất chủ tịch của thượng nghị này là ĐHY Tổng Trưởng Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích, Arinze, đă mang vấn đề này ra trong cuộc họp báo này: “Nó không phải là vấn đề ưu tiên đối với thượng nghị này, v́ không ai nói đến nó. Vấn đề chúng tôi từng bàn tới là vấn đề nhiều người không đi Lễ, và những người đi Lễ lại không hiểu – họ lên Hiệp Lễ nhưng không đi xưng tội như thể họ là những người vô tội vậy”.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu của Zenit ngày 13/10/2005
Phiên Họp Chung Thứ XVI về Bản Tường Tŕnh Bán Kết sau Những Cuộc Bàn Luận
Chiều ngày Thứ Tư 12/10/2005, phiên Họp Chung thứ 16 của thượng nghị này diễn ra, với 239 vị nghị phụ, để đặc biệt chú trọng tới Bản Tường Tŕnh (Relatio post disceptationem) bán kết những phát biểu của các vị nghị phụ trong các phiên họp chung từ đầu tới bấy giờ. Bản tóm kết này được ĐHY Angelo Scola, tổng phối kết viên của thượng nghị lần này tŕnh bày.
Trước hết, vị hồng ư này nhắc đến ư hướng của ĐTC GPII cho cuộc thượng nghị lần này liên quan đến Bí Tích Thánh Thể, và bài suy niệm của ĐTC Biển Đức XVI cho phiên họp chung đầu tiên. Đồng thời ngài cũng minh định rằng ngài không viết “một tổng luận, mà là một chắp nối những phát biểu, v́ tính cách bao rộng của những đề tài được nói tới và tính cách tế nhị trong đó”. Theo ngài th́ “nói chung, chiều hướng chính của các lời phát biểu này đó là việc thắng vượt tính cách nhị nguyên giữa tín lư và việc chăm sóc mục vụ, giữa thần học và phụng vụ”.
Sau nữa, về nội dung và bố cục, th́ bản tường tŕnh đúc kết tạm thời này được chia làm 2 phần: phần đầu là “Việc Giảng Dạy Cho Dân Chúa Tin Tưởng Thánh Thể”, một phần bao gồm 5 chương, và phần hai là “Tác Động Thánh Thể”, bao gồm 4 chương.
Năm chương của phần nhất về “Việc Giảng Dạy Cho Dân Chúa Tin Tưởng Thánh Thể” thứ tự như sau:
1. Những khó khăn theo khách quan Kitô hữu ngày nay gặp phải trong việc tin tưởng và cử hành Thánh Thể, từ đó liên quan tới trách nhiệm hệ trọng của các vị mục tử trong việc truyền bá phúc âm hóa và tân truyền bá phúc âm hóa.
2. Những điều thiết yếu về đại mầu nhiệm Thánh Thể, bởi thế cần phải giáo dục tín hữu có một đức tin trọn vẹn về Thánh Thể.
3. Tầm quan trọng rất nhiều nơi mối liên hệ giữa Thánh Thể và 7 Bí Tích.
4. Thánh Thể và thành phần dân tư tế, tức thành phần tín hữu, khi cùng nhau qui tụ lại, tái nhận thức cảm quan thuộc về Giáo Hội của ḿnh, một cảm quan qui tụ liên quan đến “Ngày Của Chúa”, đến vai tṛ của từng thành phần dân Chúa là giám mục và linh mục, phó tế vĩnh viễn và thừa tác viên ngoại lệ cho Rước Lễ, các giáo xứ và cộng đồng nhỏ, gia đ́nh, đời tận hiến và giới trẻ.
5. Thánh Thể và sứ vụ: là một Giáo Hội truyền giáo cũng cần phải là một Giáo Hội sâu xa Thánh Thể.
Bốn chương của phần hai về “Tác Động của Thánh Thể” thứ tự như sau:
1. Tác dụng tốt đẹp của việc Công Đồng Chung Vaticanô II canh tân phụng vụ mang lại cho đời sống của Giáo Hội.
2. Cấu trúc của việc cử hành phụng vụ.
3. Rất cần phải chú trọng nhiều hơn nữa đến nghệ thuật cử hành phụng vụ ‘ars celebrandi’.
4. Việc tham dự chủ động của cộng đồng dân Chúa ‘actuosa participatio’.
Trong phần kết luận của bàn tường tŕnh này, phần trước khi đề cập tới 17 vấn nạn cần phải được các Nhóm Làm Việc cứu xét, vị hồng y tường tŕnh cho biết: “công việc mà giờ đây đang đợi chờ các vị nghị phụ là phần tế nhị nhất, phần từ đó xuất phát những dự thảo, những dự thảo được chúng ta góp phần vào sự khôn ngoan đặc sủng của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô”, vị sẽ soạn thảo bức Tông Huấn hậu Thượng Nghị và ban hành văn kiện này vào một dịp thuận tiện không lâu nào đó sau này, như Đức Gioan Phaolô II vẫn làm trước đây.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu của Zenit ngày 13/10/2005
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI với ĐTC Biển Đức XVI – Ngài gặp riêng từng vị Giám Mục
Qua Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI lần này, Đức Tân Giáo Hoàng Biển Đức có cơ hội thấy được và hiểu được t́nh h́nh Giáo Hội trên khắp thế giới (đặc biệt liên quan đến việc tôn sùng Bí Tích Thánh Thể và Phụng Vụ).
Thật thế, từ khi bắt đầu vào Chúa Nhật mùng 2/10/2005, ĐTC đă tham dự mỗi ngày ít là hai lần, một vào Buổi Họp Chung (mỗi nghị phụ đều lần lượt phát biểu tối đa 6 phút) và một vào buổi họp 1 tiếng (từ 6 đến 7 giờ) ban chiều được tự do phát biểu ư kiến (trong ṿng 3 phút) về bất cứ vấn đề ǵ của cuộc thượng hội này.
Theo Isidro Catela, một phát ngôn viên của cuộc thượng nghị cho Zenit biết, trong giờ nghỉ sau buổi họp ban sáng, ĐTC đến nói với các vị giám mục được chia thành từ nhóm ngôn ngữ. Có những cuộc họp giữa các nhóm làm việc với ĐTC được diễn ra hằng ngày ở một pḥng gần hội trường chính của Sảnh Đường Phaolô VI. Khoảng chừng 40 vị tham dự những cuộc gặp gỡ này.
Mỗi một nghị phụ đều chào ĐTC và nói với ngài khoảng chừng 1 phút. Vị phát ngôn viên trên cho biết: “ĐGH quan tâm đến từng người cũng như đến đời sống của các vị. Ngài chú trọng đặc biệt đến từng vị trong những giây phút ấy”. Về phần ḿnh, các vị nói với ngài về t́nh trạng sinh hoạt ở giáo phận của các vị.
Hiện nay, ban sáng giữa 10:30 đến 11 giờ, các vị nghị phụ nghỉ ngơi, và ban chiều cũng có một buổi nghỉ ngơi nữa. Trong giờ nghỉ ngơi này, các vị nghị phụ có thể sử dụng máy điện toán được đặt gần pḥng họp của thượng nghị.
Linh mục John Bartunek, ḍng Đạo Binh Chúa Kitô, một phát ngôn viên của thượng nghị đă cho thành phần kư giả nói tiếng Anh biết rằng “chắc chắn là các cvị sẽ đọc những ǵ anh chị em viết”.
Cũng trong giờ nghỉ ngơi này, các vị có thể mua những bức ảnh của các phiên họp thượng nghị và các cuộc cử hành khác như Thánh Lễ khai mạc tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Chỉ có một tờ báo duy nhất được phổ biến trong giờ nghỉ này của các vị là tờ L’Osservatore Romano của Ṭa Thánh Vatican.
Trong cuộc phát biểu của các nghị phụ ở sảnh đường thượng nghị, tên của vị giám mục ngỏ lời cùng hội nghị xuất hiện trên một màn h́nh lớn, kèm theo bản đồ thế giới chỉ điểm giáo phận của vị giám mục phát biểu ấy. Có 4 màn h́nh nhỏ hơn chung quanh pḥng họp cho thấy h́nh ảnh của vị phát biểu.
Có 6 ngôn ngữ được dùng trong cuộc thượng nghị là Đức, Anh, Ư, Pháp, Tây Ban Nha và Latinh. Nhiều vị giám mục sử dụng máy thính thị để nghe chuyển dịch cùng một lúc thứ ngôn ngữ ḿnh muốn nghe.
Cũng có những tŕnh chiếu về thính thị trong các giờ nghỉ ngơi liên quan đến những biến cố, như Ngày Giới Trẻ Thế Giới hay các cuộc tông du của ĐTC GPII.
Theo lời yêu cầu của thượng nghị, việc chầu Thánh Thể một tiếng cũng được thực hiện trong ngày, cả ban sáng lẫn ban chiều, ở một nguyện đường của sảnh đường thượng nghị.
Hầu hết các nghị phụ ở tại Domus Sanctae Marthae (Nhà Thánh Matta, nơi các vị hồng y đă ở trong mật nghị hồng y bầu giáo hoàng vào tháng 4 vừa rồi), hay ở the Child Mary Institute. Cả hai nơi này đều thuộc lănh thổ Vatican.
Có 252 đấng bậc trong giáo hội tham dự cuộc thượng nghị. Bốn ghế trống là các ghế giành cho những vị giám mục Trung quốc không được phép chính phủ cho tham dự.
“Các dự thảo” của thượng hội sẽ được bắt đầu viết vào những phiên họp làm việc Thứ Năm 13/10. Để rồi, sau khi được bàn luận và điều chỉnh trong cuộc họp chung, các dự thảo ấy sẽ được cho vào những điều đúc kết của thượng nghị. Sau hết, các dự thảo ấy sẽ được tŕnh lên ĐTC để ngài soạn thảo một Tông Huấn hậu thượng nghị, như đă từng thực hiện cho các thượng nghị giám mục thế giới thường lệ hay theo châu lục trước đây trong thời Đức Gioan Phaolô II.
Buổi Tưởng Niệm 40 Năm thiết lập Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới
Chiều ngày Thứ Bảy 8/10/2005, tức vào cuối tuần lễ đầu tiên của cuộc thượng nghị giám mục thường lệ XI, có một cuộc họp chung đặc biệt để tưởng niệm 40 năm thiết lập các cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới. Theo thứ tự các nghị phụ sau đây đă ôn lại cảm nghiệm về các cuộc thượng nghị trong quá khứ như sau.
Mở đầu là ĐTGM Nikola Eterovic, tổng thư kư của cuộc thượng nghị lần này, đă nói đến vấn đề các cuộc thượng nghị giám mục thế giới như là một cách thể hiện đoàn tính giáo phẩm trong giáo hội. Các cuộc thượng nghị này “đă có công rất lớn trong việc phát triển chiều kích đồng hành của cơ cấu giáo phẩm ‘corpus episcoporum’, của việc khơi dậy đoàn tính giáo phẩm giữa các vị giám mục với Đức Thánh Cha”.
Vị Tổng Thư Kư này c̣n nhắc lại là biến cố thượng nghị được bắt đầu thiết lập từ ngày 15/9/1965, “cho đến nay đă có 4 đời chủ tịch là Đức Phaolô VI, Đức Gioan Phaolô I, Đức Gioan Phaolô II và Đức Biển Đức XVI, trong số đó vị cuối cùng đang đóng vai tṛ chủ sự lần đầu tiên”.
Ngài tiếp, cuộc thượng nghị giám mục thế giới “được diễm phúc có hai trong các vị tổng phối kết cho các Cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thường Lệ đă trở thành Giáo Hoàng là ĐHY Karol Wojtyla và ĐHY Joseph Ratzinger, một vào năm 1974 và một vào năm 1980”.
ĐTGM Eterovic c̣n nhấn mạnh đến “dấu hiệu tỏ tường về tính cách trẻ trung của Thượng Nghị Giám Mục này” ở sự kiện là có “hơn một nửa các vị Nghị Phụ của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI tham dự vào biến cố này lần đầu tiên”.
ĐHY Jozef Tomko, chủ tịch Ủy Ban Ṭa Thánh đặc trách các Hội Nghị Thánh Thể Quốc Tế và là nguyên tổng thư kư của các cuộc Thượng Nghị từ năm 1979 đến 1985, và ĐHY Peter Erdo, TGM ở Esztergom-Budapest, Hung Gia Lợi, một nói đến khía cạnh thần học và một nói đến khía cạnh pháp lư của cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới.
ĐHY Adrianus Simonis, TGM Utrecht, Ḥa Lan, đă nói về Thượng Nghị Đặc Biệt Chư Vị Giám Mục Ḥa Lan mà ngài là một nghị phụ, một biến cố được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô triệu tập và diễn tiến vào tháng 1/1980.
ĐTGM Paul Verdzekov ở Bamenda nước Cameroon, nói về Thượng Nghị Đặc Biệt Các Giám Mục Phi Châu mà ngài là một nghị phụ, một biến cố cũng được ĐTC GPII triệu tập và diễn tiến vào tháng 4 và 5/1994.
ĐTGM Cyril Salim Bustros M.S.S.P, giáo phận Newton theo Lễ Nghi Melkites Hy Lạp, Hoa Kỳ, đă cho biết về thành quả của Thượng Nghị Giám Mục Lebanon mà ngài là nghị phụ, một biến cố cũng do ĐTC GPII triệu tập và diễn tiến vào tháng 11/1995.
ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mễ Tây Cơ, nói về hoa trái của Thượng Nghị Giám Mục Mỹ Châu mà ngài là tổng phối kết viên, một biến cố được tổ chức vào Tháng 11 và 12 năm 1997, với sự chủ tọa của ĐTC GPII.
ĐHY Paul Shan Kuo-His, SJ, giáo phận Kaohsiung, Đài Loan, nói về Thượng Nghị Giám Mục Đặc Biệt Á Châu, được tổ chức vào tháng 4 và 5 năm 1998, do ĐTC GPII chủ sự, và ngài làm tổng phối kết viên.
ĐTGM John Atcherley Dew ở Wellington, Tân Tây Lan, đọc bản văn của ĐHY Thomas S. Williams, vị hồi hưu của TGP này, về cuộc Thượng Nghị Giám Mục Đại Dương Châu, được tổ chức vào tháng 11 và 12 năm 1998, dưới sự chủ tọa của ĐTC GPII và vị hồng y hồi hưu hiện nay giữ vai tṛ chủ tịch của biến cố châu lục ấy bấy giờ.
Sau hết là ĐHY Antonio Maria Rouco Varela, TGM Ma Ní Tây Ban Nha, nói về Thượng Nghị Giám Mục Châu Âu lần thứ hai, được tổ chức vào tháng 10/1999, một biến cố mà ngài là tổng phối kết viên dưới sự chủ tọa của ĐTC GPII.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo VIS ngày 10/10/2005.
Cảm Nhận về Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XI của ĐTGM Ma Ní Tây Ban Nha
Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, một cuộc phỏng vấn được phổ biến hôm 7/10/2005, ĐHY Antonio María Rouco Varela, đă cho biết cảm nhận của ḿnh về các cuộc họp đầu tiên của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường Lệ XI như sau:
Vấn: Những cảm nghiệm đầu tiên về cuộc thượng nghị trong những ngày này như thế nào?
Đáp: Một mặt th́ tôi thấy tính cách liên tục về h́nh thức và cách thức trong việc tổ chức các cuộc thượng nghị, như những cuộc thượng nghị này được cưu mang ngay sau khi kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II.
Tuy nhiên, đàng khác, kinh nghiệm cũng cho thấy có một số khía cạnh mới. Trước hết liên quan tới sự kiện là vị chủ sự cuộc thượng nghị lần này là một tân giáo hoàng, đó là Đức Biển Đức XVI; và đồng thời cũng liên quan tới một số thay đổi nơi phương pháp làm việc khiến cho cuộc thượng nghị có tính cách uyển chuyển nào đó.
Nó cũng có tính cách mới mẻ ở chỗ là biến cố kết thúc một năm cả Giáo Hội thiết tha sửa soạn, theo chiều hướng của một kinh nghiệm về giáo hội được vun trồng, sống động và đào sâu quanh chủ đề về Thánh Thể, một năm được tiên dẫn bởi bức thông điệp “Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể”, một thông điệp gắn liền với một tông thư tuyệt vời khác là “Xin Chúa Ở Với Chúng Con”, bức tông thư, một cách nào đó, như lời mở đầu cho cái chết thánh đức của Đức Gioan Phaolô II.
Vấn:
Ngày đầu tiên, ĐHY Angelo Scola đă đọc “bản tường tŕnh tổng quan”, trong đó,
ĐHY Scola đă đề cao những đề tài quan trọng nhất của cuộc thượng nghị lần này.
Trong những đề tài ấy đức hồng y (Rouco) thấy những đề tài nào quan trọng nhất?
Đáp: Trước hết, bản “tường tŕnh” của ĐHY Scola mở đầu bằng đề tài của văn kiện làm việc “instrumentum laboris” là văn kiện được biết đến một cách rộng răi trong Giáo Hội. Thế nhưng, dĩ nhiên là ngài đă tŕnh bày theo kiểu của ngài. Đó là một “bản tường tŕnh tổng quan” rất hay. Tôi xin nhấn mạnh đến 3 điểm căn bản của bản tường tŕnh tổng quan này.
Điểm thứ nhất là những ǵ được ngài gọi là niềm ngất ngây về Thánh Thể. V́ 2000 năm, bí tích Thánh Thể vẫn được cử hành như là giây phút Giáo Hội cảm thấy ngất ngây trước một t́nh yêu rất cao cả, trước một t́nh yêu hoàn toàn bất khả thắng vượt. Và Giáo Hội sống cuộc ban tặng được hiện thực hóa bởi Chúa Kitô trên thập giá và sống lại v́ phần rỗi chúng ta này, có thể nói không ngừng, trái lại, c̣n cảm thấy liên lỉ cần phải cử hành lại tặng ân ấy và làm cho tặng ân ấy hiện lên trước chúng ta. Nỗi ngất ngây này dĩ nhiên tiếp tục tồn tại hôm nay đây, và về phương diện mục vụ, chúng ta cần phải cố gắng, trong cuộc thượng nghị này, giữ cho nó sống động. Nó là nỗi ngất ngây cần phải thực hiện với mầu nhiệm vượt qua. Nếu Thánh Thể bị tách khỏi mầu nhiệm vượt qua, khỏi sự hiện diện chính yếu của Chúa Kitô, th́ dĩ nhiên bấy giờ không c̣n nỗi ngây ngất này tí nào nữa, song việc cử hành Thánh Thể được biến thành một công thức thuần túy cho việc cử hành của con người, phục vụ cho các lợi lộc thuần túy loài người cho những ai tham dự vào việc cử hành ấy.
Điểm thứ hai tôi cần phải nhấn mạnh là tầm quan trọng được ngài gán cho Thánh Thể như là một tặng ân. Thánh Thể là một tặng ân được Chúa Kitô ban cho Giáo Hội. Thánh Thể không phải là một thứ sở hữu của các phần tử Giáo Hội, một sở hữu họ có quyền trên bất cứ những ǵ liên quan tới đức tin, tới lương tâm trong sạch, tới sự sống v.v., mà hoàn toàn ngược lại, Thánh Thể cần phải được lănh nhận với một tâm hồn xứng đáng.
Điểm sau cùng, tôi cũng chú trọng nữa là thứ loại tự do được ngài sử dụng trong “bản tường tŕnh tổng quan” để hiểu được cái cấu trúc của tặng ân này. Một đàng, tặng ân ấy hoàn toàn là một tặng ân nhưng không, v́ Thánh Thể là t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa Cha, Đấng đă ban Người Con cho chúng ta, là mầu nhiệm của hiệp nhất do Thần Linh ban cho Giáo Hội.
Đàng khác, tặng ân ân đ̣i phải được tự do đáp trả, một đáp ứng cần đến quyền tự do của con người, thành phần cũng cảm thấy rằng họ được sinh ra để thể hiện bản thân ḿnh ra nơi việc đáp ứng yêu thương, một yêu thương có cấu trúc tương đương như t́nh yêu của Thiên Chúa. Nói cách khác, đó là một t́nh yêu hiến tế, một t́nh yêu tự hiến, hy hiến bản thân ḿnh, nhờ đó đáp ứng t́nh yêu thương của Thiên Chúa.
Đó là điểm thu hút nhất nơi “bản tường tŕnh tổng quan” này. Chính v́ xúc động mà ngài không thể đọc nổi phần cuối cùng về khía cạnh Kitô học, vũ trụ và nhân loại học của Thánh Thể, thế nhưng, tôi nghĩ rằng ngài đă đưa chúng tôi một cách khéo léo vào đúng hướng đi của thượng nghị này vậy.
Vấn:
Thật vậy, một số người đọc các tờ nhật báo nhận định là có một cuộc bàn luận
liên tục nơi đây về nhiều đề tài đặc biệt – như việc truyền chức linh mục cho
thành phần kết hôn chẳng hạn. Phải chăng những vấn đề này đang được yêu cầu
trong cuộc thượng nghị này?
Đáp: ĐHY Scola đă đi sâu hơn nữa vào khoa thần học liên kết việc độc thân linh mục với vai tṛ làm linh mục cũng như với thừa tác vụ linh mục; vào chính loại phối ngẫu của một Chúa Kitô ban ḿnh cho Giáo Hội, và Người muốn Giáo Hội là truyền giáo; cũng như vào việc trọn vẹn đáp ứng của con người phục vụ Giáo Hội nhân danh Giáo Hội này.
Những vấn đề ấy sẽ phát hiện thành chẳng hạn chương tŕnh mục vụ về ơn gọi; thành việc truyền bá phúc âm hóa giới trẻ, phúc âm hóa Giáo Hội, là nơi mà nếu không sống đức tin th́ cũng không thể nào phát sinh ra các ơn gọi được.
Vấn:
Xin nói cho chúng tôi biết về bài giảng tự phát của Đức Thánh Cha Biển Đức
XVI hôm Thứ Hai.
Đáp: Ngài đă cống hiến cho chúng tôi một bài dẫn giải về bài đọc Bức Thư Thứ Hai gửi giáo đoàn Côrintô (13:11), một bài dẫn giải ngài đă tự động thực hiện, thế nhưng, bằng một đường lối, trước hết, tuyệt vời và sâu xa về thần học, sau nữa, rất vững vàng về phương diện thích nghĩa, và thứ ba, điều làm tôi chú ư nhất, đó là một việc suy niệm thiêng liêng độc đáo nhất, không có ǵ là nhân tạo, không có ǵ là giả đạo mà là một cái ǵ đó rất sống động đối với cá nhân ngài.
Tóm lại, đó là một bài suy niệm tuyệt vời nhất. Ngoài ra, theo quan điểm giáo khoa, nó c̣n được bố cục chặt chẽ, được khai triển trọn vẹn, được diễn đạt một cách mạch lạc rơ ràng.
Đó là bức thư có năm lời huấn dụ và 1 lời hứa: “Anh em ơi hăy vui lên. Hăy ước ao đức hoàn thiện. Hăy khuyên nhủ lẫn nhau. Hăy suy nghĩ và cảm nhận như nhau. Hăy sống an b́nh. Để rồi Vị Thiên Chúa yêu thương và an b́nh sẽ ở cùng anh em”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển
dịch
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI: Tuần Lễ Đầu Tiên với 7 Đề Tài Chính
Vị phát ngôn
viên của nhóm truyền thông nói tiếng Tây Ban Nha là Isidro Catela cho biết là
tuần lễ đầu tiên của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI chú trọng đến 7
đề tài chính, quan trọng nhất là “khía cạnh hiến tế của Thánh Thể”, một khía
cạnh đă được chính ĐTC Biển Đức XVI tự phát để đóng góp hôm Thứ Năm 6/10 vừa rồi
ở một buổi phát biểu tự do, một chiều kích liên quan tới “những kinh nghiệm của
việc tử đại hiện đại, không phải chỉ ở nơi những người được biết tới mà c̣n nơi
cả nỗi khổ đau hằng ngày của rất nhiều người”.
Đề tài thứ hai thường được nhắc đến là “những mục tiêu của Thánh Thể”, tức là chiều kích bề ngang hay chiều kích tâm linh của Thánh Thể, và chiều kích bề dọc hay chiều kích cộng thông của Thánh Thể, chiều kích trong một thế giới đói khát cả vật chất lẫn thiêng liêng, một chiều kích liên quan tới văn hóa trong đời sống, tới việc dấn thân của tất cả mọi Kitô hữu trong đời sống quần chúng, nhất là đến thành phần chính trị gia và lập pháp gia Công giáo.
Đề tài thứ ba là các vấn đề qui tắc và các thứ lạm dụng, liên quan tới Công Đồng Chung Vaticanô II và Công Đồng Chung Triđentinô đối với sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể.
Đề tài thứ tư là nghệ thuật cử hành “ars celebrandi”. Đề tài này chạm đến vấn đề rước lễ bằng tay hay bằng miệng, đến việc đặt nhà tạm vào trọng tâm của các nhà thờ, và đến nhu cầu thinh lặng và tôn thờ Thánh Thể.
Đề tài thứ năm là việc đối thoại đại kết và liên hiệp thông – cơ hội trao ban Thánh Thể cho các Kitô hữu thuộc các giáo hệ khác – một vấn đề khơi lên “nhiều hào hứng khác nhau ở những cuộc tự do chi sẻ”. Vị phát ngôn viên trên đây cũng cho biết là c̣n có các cuộc bàn luận về t́nh trạng tục hóa và khô đạo, về các thứ phụng vụ cần đến linh mục, và về việc sống độc thân trong Giáo Hội.
Đề tài thứ sáu là mối tương quan giữa Thánh Thể với các bí tích khác. Cũng theo cùng vị phát ngôn viên th́ các vị nghị phụ muốn đặc biệt nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa Thánh Thể và bí tích ḥa giải, và một “thứ giáo lư nguyên vẹn” về mối liên hệ giữa các bí tích với nhau. Có vị nghị phụ xin mở Năm Thống Hối, vị khác hy vọng Năm Thánh Thể được kéo dài và có liên quan tới đời sống gia đ́nh.
Đề tài thứ bảy là “việc ḥa giải là những ǵ dẫn tới ḥa b́nh”. Các vị nghị phụ nhấn mạnh đến việc Giáo Hội cần phải trở thành một dụng cụ cho việc ḥa giải. Một số nghị phụ Phi Châu làm sáng tỏ vấn đề Thánh Thể là cuộc gặp gỡ duy nhất cho các nhóm sắc dân khác nhau và xung khắc nhau. Một số nghị phụ yêu cầu sứ điệp cuối cùng của thượng nghị bao gồm cả Giêrusalem và Thánh Địa, v́ mối liên hệ của họ với Thánh Thể và ḷng mong ước ḥa b́nh.
Cuộc Họp Chung 1: Thời điểm - Sáng Thứ Hai 3/10; Chủ sự: ĐTC GPII; Tham dự: 241 nghị phụ
Cuộc Họp Chung 2: Thời điểm – 4 giờ 30 chiều Thứ Hai 3/10; Chủ sự: ĐHY Francis Arinze, Tổng Trưởng Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 241 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 3: Thời điểm – 9 giờ sáng Thứ Ba 4/10; Chủ sự: ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mexico, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 243 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 4: Thời điểm – 4 giờ 30 chiều Thứ Ba 4/10; Chủ sự: ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mexico, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 242 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 5: Thời điểm – 4 giờ 30 chiều Thứ Tư 5/10; Chủ sự: ĐHY Telesphone Placidus Toppo, TGM Ranchi Ấn Độ, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 246 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 6: Thời điểm – 9 giờ sáng Thứ Năm 6/10; Chủ sự: ĐHY Francis Arinze, Tổng Trưởng Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 243 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 7: Thời điểm – 4 giờ 30 chiều Thứ Năm 6/10; Chủ sự: ĐHY Francis Arinze, Tổng Trưởng Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích, với sự có mặt có ĐTC vào lúc 6 giờ chiều; Tham dự: 243 nghị phụ.
Cuộc Họp Chung 8: Thời điểm – 9 giờ sáng Thứ Năm 6/10; Chủ sự: ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mexico, với sự có mặt có ĐTC; Tham dự: 245 nghị phụ.
Lời phát biểu của Đức Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Tứ, Giám Mục Giáo Phậm Phú Cường Việt Nam ở Cuộc Họp Chung Thứ 5:
“Người Công giáo Việt Nam thực hành đức tin của ḿnh. Đối với họ, việc cử hành Thánh Lễ có một tầm vóc đặc biệt quan trọng. Chứng 80% tham dự Lễ Chúa Nhật, và 15% tham dự lễ hằng ngày. Vào các lễ trọng như Giáng Sinh và Phục Sinh, con số tham dự lên tới 95%. Lư do cho thấy là v́ vấn đề giảng dạy về giáo lư và giáo dục trong gia đ́nh. Trong Năm Thánh Thể này, tất cả mọi giáo phận đều phác họa các chương tŕnh đặc biệt. Tín hữu giáo dân tăng thêm ư thức và họ được mời gọi để học hỏi các văn kiện của huấn quyền về Thánh Thể. Đối với việc cử hành Năm Thánh Thể, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tổ chức 1 Đại Hội Thánh Thể tại Trung Tâm Thánh mẫu toàn quốc La Vang, với con số tham dự là 500 ngàn người…
“Việc tôn thờ Thánh Thể ở Việt Nam đă mang lại những kết quả tích cực như: việc gia tăng đời sống đạo, các sinh hoạt cộng đồng trở nên sinh động hơn, mối hiệp thông huynh đệ hiển nhiên hơn, và việc tương trợ giữa các gia đ́nh với nhau trở thành tự nhiên và phổ biến hơn.
“Tóm lại, có lư do để hy vọng rằng ḷng tôn sùng Thánh Thể này sẽ mang lại nhiều ích lợi cho quốc gia của chúng tôi”.
ĐTC Biển Đức XVI bất ngờ phát biểu ở Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XI trong buổi tự do bày tỏ
Thật vậy, theo tin tức từ văn pḥng Tổng Thư Kư Thượng Nghị Giám Mục Thường Lệ XI th́ hôm Thứ Năm 6/10/2005, trong buổi tự do phát biểu của các vị nghị phụ ĐTC Biển Đức XVI đă chia sẻ về khía cạnh hy tế của Thánh Thể: “ĐTC muốn góp phần vào tinh thần huynh đệ”.
Phát ngôn viên của Thượng Nghị là Isidro Catelli vào hôm Thứ Sáu đă cho biết là tất cả những ǵ ĐTC bày tỏ một cách tự phát trong ṿng 10 phút này sẽ không được phổ biến ngay. Theo vị phát ngôn viên này th́ ĐTC nói về thần học Thánh Thể bằng kiến thức ngài có được khi c̣n là giảng sư đại học trước kia. Theo Zenit th́ những lời ngài phát biểu sẽ được phổ biến sau khi chính ngài đă duyệt lại.
Cha Giorgio Constantine, phát ngôn viên cho thành phần kư giả nói tiếng Ư, đă nói cho biết rằng: “đó là một đóng góp tuyệt vời, của một đại thần học gia, có lẽ là việc đóng góp lần đầu tiên của ĐTC trong một buổi tự do bàn luận như thế”.
Vị linh mục này cũng cho biết rằng ĐTC đă quyết định giành 1 tiếng chầu Thánh Thể ở Đền Thờ Thánh Phêrô. Buổi chầu này sẽ được chính ĐTC chủ sự vào Thứ Hai 17/10/2005, từ 5 đến 6 giờ chiều.
Cha John Bartunek, vị linh mục ḍng Đạo Binh Chúa Kitô, phát ngôn viên cho thành phần phóng viên nói tiếng Anh, đă cho biết ĐTC đă tham dự vào buổi họp chung hôm Thứ Năm này một cách rất đặc biệt. Ở chỗ, ngài đă đến tham dự với những thứ giấy tờ làm việc ở trong một cái cặp đen, các thứ giống như được phát cho các nghị phụ khác vậy.
ĐTC ngồi ở ghế giữa trong sảnh đường thượng nghị, và có những lúc chào các vị nghị phụ, hay cám ơn các vị vào đầu và cuối mỗi buổi họp.
Trong các giờ nghỉ, ĐTC gặp gỡ những nhóm làm việc được chia theo ngôn ngữ của thượng nghị. Trước đây ngài đă nói với nhóm nghị phụ nói tiếng Pháp, và hôm Thứ Năm này ngài nói với các nhóm nghị phụ nói tiếng Tây Ban Nha.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tài liệu được VIS phổ biến hằng ngày và theo ngày

Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI: Những Vấn Đề Sôi Động và Nóng Bỏng
Chủ đề của cuộc Thượng Nghị Giám Mục này cho dù nhắm đến Bí Tích Thánh Thể, “Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Tột Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ Giáo Hội”, nhưng lại là một chủ đề động tới những vấn đề sôi động nhất và nóng bỏng nhất trong Giáo Hội hiện nay, chẳng hạn như vấn đề số phận những người ly dị rồi tái hôn rước lễ, vấn đề truyền chức linh mục cho thành phần lập gia đ́nh,
vấn đề đời sống độc thân của linh mục, vấn đề rước lễ với chính trị gia pḥ phá thai và cử tri bầu cho họ, vấn đề cử hành Thánh Lễ và rước lễ bằng tay, vấn đề giải tội tập thể, vấn đề tầm quan trọng của việc tôn thờ Thánh Thể.
Vấn đề số phận những người ly dị rồi tái hôn rước lễ.
Trong bản “tường tŕnh trước khi bàn luận” được vị tổng phối kết của thượng nghị là ĐHY Angelo Scola, đọc lên vào ngày khai mạc thượng nghị ở buổi họp đầu tiên, trong đó có đề cập tới vấn đề thành phần ly dị rồi tái hôn có được rước lễ hay chăng. Bản “tường tŕnh trước khi bàn luận” này nhận định như sau:
“Ngoài những trường hợp đáng kể khác nhau ở các châu lục, cần phải nh́n nhận rằng – nhất là ở các xứ sở thuộc truyền thống Kitô giáo lâu đời – không phải là ít người đă lănh nhận phép rửa lấy nhau theo bí tích hôn phối bằng việc gắn bó một cách máy móc với truyền thống vậy thôi. Nhiều người trong họ đă ly dị rồi tái hôn (không được giải hôn). Khi thực hành đời sống Kitô hữu, một số trong họ tỏ ra hết sức áy náy và có những lúc cảm thấy khổ đau khi chạm trán với sự kiện là việc họ chung sống với nhau khi thành hôn là những ǵ cản trở họ không cho họ được hoàn toàn tham dự vào bí tích ḥa giải và việc Hiệp Lễ”.
Nhắc lại lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông Huấn “Familiaris Consortio”, vị hồng y này viết: “Những ai ly dị rồi tái hôn cần phải được toàn thể cộng đồng Kitô hữu nâng đỡ với ư thức là họ không bị loại trừ khỏi mối hiệp thông giáo hội. Hành động họ tham dự vào việc cử hành Thánh Thể, ở mọi trường hợp, là những ǵ giúp cho mối hiệp thông thiêng liêng ấy, nếu sống cách đúng đắn, phản ảnh hy tế của chính Chúa Giêsu Kitô”.
Vấn đề truyền chức linh mục cho thành phần lập gia đ́nh.
Trong cuộc thượng nghị này c̣n đề cập tới nạn thiếu linh mục có thể được giải quyết bằng việc truyền chức cho thành phần đă lập gia đ́nh hay chăng, vấn đề đă được một vị hồng y quan trọng trả lời rằng “không” trong buổi họp đầu tiên Thứ Hai 2/10. Đó là ĐHY Angelo Scola, giáo chủ Venice, vị tổng phối kết viên của Thượng Nghị.
Vị TGM giáo chủ Venice cho biết trong bản tường tŕnh trước cuộc bàn luận là “điều yêu cầu này thường được kèm theo bằng việc tích cực nh́n nhận cái giá trị của khoản luật lâu đời về vấn đề linh mục độc thân”. Tuy nhiên, vị giáo chủ đây c̣n nhấn mạnh rằng khoản luật này không được “cản trở việc Giáo Hội có đủ số các vị thừa tác viên có thánh chức, khi t́nh trạng khan hiếm các ứng viên sống đời linh mục độc thân được coi như cực kỳ tương xứng thật sự”.
Vị hồng y giáo chủ ấy cũng coi là không nhất thiết phải lập lại “những động lực sâu xa về thần học khiến Giáo Hội Latinh đi đến chỗ liên kết việc ban chức linh mục thừa tác cho thành phần có ơn sống đời độc thân”. Thay vào đó, vị này đặt vấn đề như sau: “Phải chăng việc quyết định ấy và tục lệ ấy có giá trị về phương diện mục vụ hay chăng, ngay cả trong những trường hợp cực khẩn như những trường hợp được đề cập đến trên đây?” Chẳng hạn, ở một số quốc gia, các cộng đồng Kitô hữu xa xôi chỉ có Thánh Lễ Chúa Nhật mà thôi. Có những nơi ở Phi Luật Tân, một số linh mục cử hành cả 9 lễ trong 1 ngày Chúa Nhật.
ĐHY Scola, 63 tuổi, đă trả lời rằng: “Được liên kết mật thiết với Thánh Thể, vai tṛ linh mục thánh chức tham dự vào bản chất của Thánh Thể nhờ ân ban và không thể nào lại là đối tượng cho một quyền lợi. Nếu là một tặng ân th́ vai tṛ linh mục thánh chức cần phải được liên tục kêu xin ban cho”. Thật vậy, vị hồng y này nói tiếp, “rất khó mà nắm vững được con số lư tưởng về các vị linh mục trong Giáo Hội, từ lúc Giáo Hội đây không phải là một ‘việc làm ăn buôn bán’ cần phải được trang bị bằng một con số dứt khoát về nhóm quản đốc”.
Về phương diện thực tế, vị hồng y này tiếp: “t́nh trạng khẩn trương, một t́nh trạng khẩn trương không thể tŕ hoăn, của vấn đề ‘cứu độ các linh hồn - salus animarum’ thôi thúc chúng ta mạnh mẽ lập lại, nhất là nơi ṭa thánh này đây, trách nhiệm của mỗi Giáo Hội riêng liên quan tới Giáo Hội hoàn vũ, và v́ lư do đó đối với cả các Giáo Hội riêng khác nữa. Bởi thế, những dự thảo được phác họa trong cuộc thượng nghị này để ấn định các qui chuẩn cho việc phân phối thích ứng hàng giáo sĩ trên thế giới sẽ là những ǵ rất hữu ích. Tuy nhiên, trong lănh vực này, con đường cần phải tiến bước dường như c̣n rất ư là xa xôi”.
Vấn đề đời sống độc thân của linh mục
ĐHY George Pell, TGM Sydney, Úc Đại Lợi, trong bài phát biểu của ḿnh đă cho các
nghị phụ biết nhận định của ḿnh về vấn đề linh mục độc thân, mặc dù thú nhận là
ơn gọi linh mục ở xứ sở của ngài, cũng như ở Tan Tây Lan bị giảm sút, nhưng nếu
Giáo Hội Công Giáo theo lễ nghi Latinh sẽ vấp phải “một lỗi lầm trầm trọng” nếu
để mất đi truyền thống độc thân linh mục.
“Tôi đề nghị với thượng nghị t́m cách đương đầu với ‘những bóng tối’ này để thực
hiện việc bảo tŕ nơi Giáo Hội Latinh truyền thống cổ và khoản luật ban sự sống
nơi vấn đề sống độc thân đối với hằng giáo sĩ triều cũng như các ḍng tu. Việc
làm mất đi truyền thống này hiện nay sẽ là một lỗi lầm trầm trọng, một lỗi lầm
sẽ gây ra t́nh trạng khủng hoảng trong những lănh vực truyền giáo và sẽ không
làm gia tăng tính cách sinh động liêng thiêng của thế giới đệ nhất.
“Nó sẽ là việc tách rời khỏi việc chính Chúa Kitô đă thực hiện, gây ra những bất
lợi trầm trọng về thực tế cho hoạt động của Giáo Hội, và làm suy yếu đi dấu hiệu
của thiên chức linh mục. Nó cũng làm suy yếu đi cả chứng từ cho việc hy sinh yêu
thương, cũng như cho thực tại về những Sự Sau Hết, cùng các phần thưởng thiên
đ́nh.
“Chúng ta cần phải nhớ lại t́nh h́nh của Giáo Hội 500 năm trước đây, ngay trước
cuộc Cải Cách, một cộng đồng nhỏ bé yếu ớt tách biệt khỏi Đông phương. Việc lan
tràn khủng khiếp từ đó và việc thanh tẩy vai tṛ lănh đạo của Giáo Hội, không
trọn vẹn nhưng thiết yếu, được chiếm đạt chính là nhờ ân sủng, qua đời sống của
các nữ tu, nam tu và linh mục độc thân. Những gương mù về t́nh dục xẩy ra gần
đây cũng không làm mất đi giá trị của những chiếm đạt ấy”.
Vấn đề rước lễ với chính trị gia pḥ phá thai và cử tri bầu cho họ
Vị tân tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin là ĐTGM William Levada, thay cho ĐHY Joseph Ratzinger đương kim Giáo Hoàng, căn cứ vào khoản 73 của văn kiện bàn luận tại thượng nghị, về mối liên hệ giữa Thánh Thể, luân lư và đời sống quần chúng, đă kêu gọi các nghị phụ hăy bàn đến vấn đề liên quan tới việc rước lễ của thành phần bỏ phiếu cho các chính trị gia pḥ phá thai.
Khoản này viết rằng: “quá nhiều nhười lănh nhận bí tích này mà không ư thức đủ t́nh trạng về luân lư của họ trong đời sống… một số Hiệp Lễ mà lại chối bỏ các giáo huấn của Giáo Hội hay công khai ủng hộ những chọn lựa vô luân trong đời sống, như phá thai, mà không nghĩ rằng họ đang thực thi một hành động cá nhân bất lương trầm trọng và gây ra gương mù gương xấu… Những thái độ như thế dẫn tới một cuộc khủng hoảng về ư nghĩa thuộc veê Giáo Hội và về t́nh trạng mù mờ phân biệt giữa tội nhẹ với tội trọng”.
Vị tổng giám mục tân tổng trưởng thánh bộ tín lư đức tin này muốn được nghe kinh nghiệm của các quốc gia khác, v́ tại Hoa Kỳ là xứ sở của ngài, vấn đề này đă gây chia rẽ trong hàng giáo phẩm của ngài, nhất là vào giai đoạn tranh cử tổng thống năm 2004 vừa rồi. Ngài đề nghị là ở những cuộc bàn luận chia nhóm nhỏ, nên bàn đến vấn đề những người Công giáo “không hiểu tại sao lại là tội khi ủng hộ thành phần ứng viên công khai pḥ phá thai hay pḥ các hành động trầm trọng chống sự sống khác”.
Theo tường tŕnh viên của Thượng Nghị này là Isidro Catela th́ các vị nghị phụ đặc biệt muốn suy nghĩ sâu xa hơn về “chiều ngang” của Thánh Thể, một chiều kích “bị quên sót”. Chiều kích này là chiều kích liên kết Thánh Thể với việc biến đổi xă hội. Có một câu hay được nghe lập đi lập lại trong cuộc thượng nghị này đó là: “Người ta không thể từ Thánh Thể mà đi cũng giống như họ đến với Thánh Thể. Từ Thánh Thể cần phải tuôn ra một mẫu sống cộng thông nào đó”.
ĐHY Alfonso López Trujillo, vị chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Gia Đ́nh, 69 tuổi, đă đặt vấn đề nẩy lửa sau đây khi ngỏ lời cùng Thượng Nghị Giám Mục như thế này: “Nên cho phép Hiệp Lễ những ai chối bỏ các thứ giá trị và nguyên tắc Kitô giáo hay chăng?” Ở đây ngài có ư nói tới thành phần lập pháp gia và chính trị gia cấp tiến, và câu trả lời dứt khoát của ngài là “không”.
Thật vậy, hôm Thứ Sáu, 7/10, vị hồng y chủ tịch này đă nhận định và bày tỏ như sau: “Việc chọn lựa được gọi là tư riêng không thể tách biệt với nhiệm vụ về chính trị xă hội. Nó không phải là vấn đề ‘riêng tư. Việc chấp nhận Phúc Âm, chấp nhận huấn quyền và quyền lợi hợp lư là những ǵ cần thiết.
“Ngày nay, các dự án về luật pháp và những việc chọn lựa được thực hiện hay cần được thực hiện đang là những ǵ gây nguy hại trầm trọng cho ‘tin mừng’ là thứ Phúc Âm của gia đ́nh và của sự sống, hai thực tại làm nên một mối hiệp nhất bất khả phân ly. Tương lai của con người và xă hội nhập cuộc và ở nhiều khía cạnh là cơ hội chân thực cho toàn bộ truyền bá phúc âm hóa.
“Mảnh vải xă hội này đang bị sâu xé một cách tang thương, bắt đầu bằng thứ tội ác phá thai ghê tởm. Như vẫn thường nghe thấy là có một thứ lập luận sai trái cho việc chọn lựa được gọi là tự do về chính trị, một chọn lựa vượt trên các nguyên tắc phúc âm và cũng trên cả qui điểm luận lư đúng đắn nữa”.
Hậu quả đó là ngành lập pháp đă đi đến chỗ chấp nhận các cặp hôn nhân như thật, “những cặp hôn nhân như thật sẽ tạo nên tối thiểu một cách hàm ư thứ hôn nhân thay thế khác, cho dù những cặp hôn nhân như thật ấy chỉ là một thứ sáng tạo về pháp lư. Tệ hơn nữa khi liên quan tới các cặp đồng tính, một điều chưa từng thấy trong lịch sử văn hóa của dân chúng và nơi pháp luật.
“Thành phần chính trị gia và lập pháp gia cần phải biết rằng, bằng việc soạn thảo hay bênh vực các dự án cho những thứ luật pháp trái với luân thường đạo lư là họ phải chịu một trách nhiệm nặng nề, và cần phải t́m cách chữa trị sự dữ gây ra và làm làn truyền ra ấy, mới có thể được lên hiệp thông với Chúa Kitô”.
Vấn đề cử hành Thánh Lễ và rước lễ bằng tay.
Vấn đề rước lễ bằng tay được một vị giám mục Đông Âu nêu lên, vị tỏ ra không đồng ư với việc thực hành này và muốn thấy Bánh Thánh được rước bằng miệng.
ĐHY Francis Arinze, tổng trưởng Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích, đă lên tiếng cho biết những lập luận pḥ hay chống đối với việc thực hành này. Một trong những lập luận mạnh nhất chống việc rước leê bằng tay đó là người rước lễ lợi dụng lấy Bánh Thánh đi làm chuyện khác chứ không cho vào miệng nuốt đi.
Isidro Catela, tường tŕnh viên người Tây Ban Nha của Thượng Nghị Giám Mục này cho các phóng viên báo chí biết rằng một trường hợp xẩy ra là có người đă giữ lấy Bánh Thánh được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô truyền phép để quảng cáo bán trên mạng điện toán toàn cầu internet. Ngoài ra, có những trường hợp Bánh Thánh được sử dụng vào các lễ nghi thờ Satan.
Bởi thế, ĐHY tổng trưởng thánh bộ Thờ Phượng và Bí Tích yêu cầu các vị linh mục hăy để ư khi cho Rước Lễ bằng tay. Ngoài ra, vị hồng y này c̣n nói rằng việc rước lễ bằng tay này tùy ở quyền quyết định của hội đồng giám mục mỗi quốc gia.
Tường tŕnh viên Catela c̣n cho biết rằng các vị nghị phụ c̣n nhấn mạnh đến việc cần phải cử hành Thánh Lễ một cách xứng đáng nữa. Một số viịđặt vấn đề là liệu các chủng sinh có được đào luyện thích đáng về phụng vụ hay chăng. Có hai vị nghị phụ, cùng với ĐTGM John Foley, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Về Truyền Thông Xă Hội, mong rằng các Thánh Lễ được truyền h́nh cần phải cử hành trang nghiêm để khỏi gây ra gương mù gương xấu cho tín hữu.
Vấn đề giải tội tập thể
ĐHY Giovanni Battista Re, vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Giám Mục, đă nhấn mạnh rằng về vấn đề này trong bài đóng góp của ḿnh hôm Thứ Năm, 6/10/2005.
Vị hồng y này nói về trách nhiệm của giám mục trong việc bảo đảm vấn đề cử hành Thánh Lễ: “Chính cách thức vị giám mục cử hành Thánh Thể là những ǵ nuôi dưỡng đức tin của các linh mục và dân chúng. Rất cần phải đặc biệt quan tâm tới việc tín hữu tham dự Lễ Chúa Nhật và trông coi để việc cử hành Thánh Thể bao giờ cũng thích đáng và tốt đẹp”.
ĐHY tổng trưởng này cũng kêu gọi việc phục hồi “khoa sư phạm về việc hoán cải xuất phát từ Thánh Thể” và việc vị giám mục cần phải bênh vực “việc thường xuyên xưng tội riêng”, tránh sử dụng việc giải tội tập thể trừ những trường hợp rất chính đáng như được ĐTC GPII chia sẻ trong Thông Điệp “Giầu Ḷng Thương Xót”: “Vị giám mục không được phép để xẩy ra trong giáo phận của ḿnh việc lạm dụng vấn đề giải tội tập thể hay giải tội chung”.
Theo Cha John Bartunek, ḍng Đạo Binh Chúa Kitô, tường tŕnh viên nói tiếng Anh của thượng nghị, cho biết là vị hồng y ấy đă cắt nghĩa là “nhiều giáo phận đă sử dụng việc giải tội tập thể và đă thấy rằng việc này đă gây hại cho đời sống thiêng liêng và làm mất đi ư thức tội lỗi”. Theo vị linh mục này th́ đức hồng y tổng trưởng ấy đă thêm là “chính tín hữu nhận thấy rằng việc thực hành này không làm cho họ cảm thấy hoán cải”.
Tầm Quan Trọng của Việc Tôn Thờ Thánh Thể
Trong Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về chủ đề Thánh Thể đă được nhiều vị nghị phụ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tôn thờ Thân Thể Chúa Kitô.
Theo ĐGM Jacques Perrier ở Tarbes và Lộ Đức th́ việc tôn thờ Thánh Thể đă là một “khám phá” dđ1ch thực, trái với việc tái khám phá, đối với nhiều giới trẻ Công giáo Pháp đă tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne hôm Tháng 8 vừa rồi.
Vị giám mục này nói rằng niềm tin vô thức về tầm quan trọng của việc tôn thờ Thánh Thể có nguy cơ trở thành một thứ đức tin “cá nhân chứ không phải là của Giáo Hội”, thứ đức tin không thể thể hiện ḿnh cách chính đáng, và là một đức tin “xao lănh những cách hiện diện khác của Chúa Kitô phục sinh thực sự mặc dù khác nhau”. Vị giám mục này c̣n nêu lên rằng giới trẻ “không thể sống thiếu hụt h́nh ảnh” mà việc tôn thờ Thánh Thể “có một lợi điểm rất lớn đối với vấn đề sống diện đối diện”.
ĐHY Jean-Louis Tauran, thủ viên Văn Khố Mật của Ṭa Thánh Vatican và là thủ thư của Thư Viện Vatican, đă kêu gọi việc tái nhận thức ư nghĩa của vấn đề qú gối đang bị mai một đi nơi nhieêu người Công giáo Tây phương.
Vị hồng y này than rằng “việc qú gối thực sự không được thi hành trong khi cử hành Thánh Lễ. Thật là hữu ích đối với chúng ta khi nhắc lại tầm quan trọng của chứng từ Kitô giáo và các cộng đồng không ngần ngại quí gối xuống để chứng thực cái cao cả và gần gũi của Vị Thiên Chúa trong Thánh Thể”. Ngài nhận định rằng “các nhà thờ thường đóng cửa vào ngày thường nên việc viếng Thánh Thể thường không thể thực hiện được”.
ĐHY Tauran nhaăc nhở tham dự viên cuoôc thượng nghị rằng chính ở “trước Thánh Thể mà con người nh́n nhận rằng họ cần có một Đấng Khác ban cho họ những nghị lực mới để chiến đấu trong cuộc đời… Một thế giới thiếu tôn thờ” sẽ là “một thế giới không hơn ǵ cái thế giới của sản xuất là thế giới chẳng mấy chốc không thể hít thở được nữa. Một thế giới không biết tôn thờ không phải chỉ là một thế giới vô đạo - nó là một thế giới phi nhân bản”.
ĐGM José Guadalupe Martín Rábago ở Leon, chủ tịch hội đồng giám mục Mễ Tây Cơ, nói rằng việc tôn thờ Thánh Thể thường được thực hành nơi xứ sở của ngài: “Việc tôn thờ Thánh Thể ban đêm tiếp tục tồn tại, khiến tránh được nhiều khó khăn gây ra bởi trào lưu tục hóa của các tập tục”. Có hơn 4 triệu tôn thờ về đêm ở Mễ Tây Cơ.
ĐGM Phêrô Trần Đ́nh Tứ, giáo phận Phú Cường Việt Nam, cho biết ở xứ sở của ngài các giáo xứ được yêu cầu xây những nơi để tôn thờ Thánh Thể ngoài nhà thờ và tổ chức một vài giờ tôn thờ trong ngày: “Có nhiều giáo xứ đă thực hành việc làm ấy”.
ĐHY Ivan Dias, TGM Bombay, đă cắt nghĩa rằng việc tôn thờ Thánh Thể đă trở thành một đường lối để tín đồ Ấn giáo và Tin Lành tiến đến với Giáo Hội. Ngài c̣n cho biết việc tôn thờ Thánh Thể ban đêm nhất là nơi các gia đ́nh đang trên đà tiến triển.
Các vị nghị phụ có thể tham dự vào việc tôn thờ Thánh Thể 1 giờ ban sáng và 1 giờ ban chiều, trong một nhà nguyện trong sảnh đường thượng nghị. Vào ngày Thứ hai 17/10 sẽ có một cuộc chầu Thánh Thể chung được chính Đức Thánh Cha Biển Đức XVI chủ sự.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và chuyển dịch theo Zenit theo từng ngày
Sau đây là nguyên văn lời lẽ suy niệm tự phát của ĐTC hôm Thứ Hai 3/10, sau bài đọc cho Giờ Kinh Thần Vụ Thứ Ba được trích từ Thư Thứ Hai của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (13:11).
Chư Huynh thân mến,
Giờ Kinh Thần Vụ
Thứ Ba này của ngày hôm nay chất chứa 5 huấn dụ và 1 lời hứa. Chúng ta hăy cố
gắng t́m hiểu một chút về những ǵ được Vị Tông Đồ này muốn nói với chúng ta qua
những lời ấy.
Huấn dụ thứ
nhất là huấn dụ rất thường thấy ở trong các bức Thư của Thánh Phaolô; thế nhưng,
người ta có thể nói rằng nó hầu như là “cantus firmus” nơi tư tưởng của ngài: “gaudete”.
Vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm sao lại có một thứ vui mừng hầu như bị bó buộc
như thế hay chăng? Chúng ta nói rằng niềm vui xuất phát hay không xuất phát chứ
không thể nào lại có thứ niềm vui bị áp đặt như là một phận sự như thế. Và ở đây
nó khiến chúng ta nghĩ đến bài nổi tiếng nhất về niềm vui trong các Thư của
Thánh Phaolô, bài về “Domenica Gaudete”, bài thuộc về tâm điểm của phụng vụ Mùa
Vọng: “Gaudete, iterum dico gaudete quia Dominus propest”.
Ở đây chúng ta thấy lư do tại sao Thánh Phaolô, trong tất cả mọi khổ đau và hoạn nạn của ḿnh, chẳng những có thể nói với người khác về “gaudete” mà c̣n nói như thế v́ ngài được tràn đầy niềm vui nữa. “Gaudete, Dominus enim prope est”.
Nếu tôi gắn bó với Đấng tôi yêu mến, Đấng là t́nh yêu, là tặng ân cao cả nhất của đời sống tôi, nếu tôi thâm tín được rằng Đấng yêu thương tôi gắn bó với tôi, th́ cho dù trong các cơn đau đớn, cái niềm vui tồn tại sâu xa trong tâm can của tôi c̣n lớn lao hơn cả mọi khổ đau nữa.
Vị Tông Đồ này có thể nói đến “gaudete” là v́ Chúa ở gần với mỗi một người chúng ta. Bởi vậy mà huấn dụ này thực sự là một lời ṃi gọi hăy ư thực về Chúa là Đấng gần gũi với chúng ta. Đó là ư thức về sự hiện diện của Chúa. Thánh Tông Đồ muốn làm cho chúng ta cảm thức được sự hiện diện này – một hiện diện kín đáo nhưng có thật – sự hiện diện của Chúa Kitô nơi mỗi một người trong chúng ta. Những lời của Sách Khải Huyền là những lời chân thật cho mỗi người chúng ta: “Ta gơ cửa các người, hăy lắng nghe Ta, hăy mở cửa cho Ta.
Bởi vậy, đó cũng là một lời mời gọi hăy ư thức về sự hiện diện của Chúa là Đấng đang gơ cửa ḷng chúng ta. Đừng giả điếc làm ngơ Người, bởi lỗ tai tâm can chúng ta quá ư là đầy những tiếng động của thế giới này, đến nỗi chúng ta không thể nghe thấy sự hiện diện âm thầm này đang gơ cửa ḷng ḿnh.
Chúng ta suy niệm, nếu đồng thời chúng ta thực sự sẵn sàng mở cửa ḷng ḿnh; hay có lẽ tấm ḷng ấy có quá đầy những thứ khác đến không c̣n chỗ cho Chúa và cho hiện nay chúng ta tạm thời chưa có giờ cho Chúa. Do đó, chúng ta vô cảm, không nghe thấy sự hiện diện của Người, đầy những thứ khác, đến nỗi chúng ta không nghe thấy được những ǵ là chính yếu. Người đang gơ cửa, Người gần gũi chúng ta và như thế niềm vui chân thực cũng đang cận kề với chúng ta, một niềm vui c̣n mạnh mẽ hơn là tất cả mọi thứ sầu thương trên thế gian này cũng như trong đời sống của chúng ta.
Cho nên, chúng ta hăy nguyện cầu trong khung cảnh của lời huấn dụ ấy: Lạy Chúa, xin hăy làm cho chúng con cảm thấy được việc hiện diện của Chúa, xin hăy giúp chúng con cảm thấy chứ đừng dửng dưng lạnh lùng với Chúa, xin hăy giúp chúng con có được một con tim thanh thoát và cởi mở với Chúa.
Lời huấn dụ thứ hai là “hăy nên trọn lành - perfecti estote”, như được đọc thấy nơi bản Latinh, dường như trùng hợp với lời tóm tắt của Bài Giảng Trên Núi, đó là: “perfecti estote sicut Pater vester caelestis perfectus est – hăy nên trọn lành như Cha các con là Đấng trọn lành trên trời”.
Lời này mời gọi chúng ta hăy trở nên những ǵ chúng ta là: h́nh ảnh Thiên Chúa, thành phần tạo vật được dựng nên có liên hệ với Chúa, như một “tấm gương” phản chiếu ánh sáng của Chúa. Không sống Kitô giáo theo chữ nghĩa, và không nghe Thánh Kinh theo lời lẽ thường là những ǵ khó khăn; đó là những ǵ được đặt ra về phương diện lịch sử, thế nhưng hăy vượt ra ngoài chữ nghĩa, ra ngoài thực tại hiện hữu, tiến đến với Chúa là Đấng đang nói với chúng ta nhờ đó hiệp nhất với Chúa.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nh́n vào bản văn bằng tiếng Hy Lạp, chúng ta thấy một động từ khác, “catartizesthe”, và lời này có nghĩa là làm lại, là sửa chữa một dụng cụ, là tái thiết một cái ǵ đó cho nó hoạt động hết cỡ của nó. Trường hợp thường xẩy ra nhất đối với các vị tông đồ đó là làm lại lưới cá cho những người đánh cá là tấm lưới không c̣n hội đủ điều kiện, tức có quá nhiều lỗ không c̣n sử dụng được nữa, là làm lại cái lưới ấy để nó có thể lại trở thành một lưới cá, trở lại với cái hoàn hảo của nó như một dụng cụ cho công việc ấy.
Một thí dụ khác, đó là một nhạc cụ có giây đàn bị đứt, nên không thể chơi nhạc theo khả năng của nó. Bởi thế mà nơi huấn dụ này, linh hồn chúng ta xuất hiện như một thứ lưới tông đồ thường không công dụng lắm, v́ nó bị rách xẻ bởi những ư hướng riêng của chúng ta; hay như một nhạc cụ có một số hợp âm tiếc thay bị hư, do đó mà nhạc của Thiên Chúa là những ǵ cần phải vang lên từ thẳm cung linh hồn của chúng ta không thể âm vang một cách ngon lành được. Để làm lại nhạc cụ này, để biết được những nỗi ưu phiền, những sự hủy hoại, việc lơ là chểnh mảng, đă bị coi thường đến độ nào, và để cố gắng thấy được rằng dụng cụ này là hoàn hảo và hoàn toàn, v́ nó giúp thực hiện những ǵ như Chúa đă có ư định trong việc dựng nên nó.
Bởi thế, lời huấn dụ này cũng là một lời mời gọi hăy thường xuyên kiểm điểm lương tâm của tôi, hăy lưu ư tới t́nh trạng dụng cụ của tôi, ở chỗ nó đă bị lơ là đến đâu, không c̣n hoạt động ra sao, và cố gắng mang nó về lại tính cách nguyên vẹn của nó. Đây cũng là một lời mời gọi đến với bí tích ḥa giải, nơi chính Thiên Chúa làm lại thứ dụng cụ này và ban lại cho chúng ta sự vẹn toàn, trọn hảo, sinh động, nhờ đó linh hồn này mới có thể vang lời chúc tụng Thiên Chúa.
Thế rồi tới huấn dụ “exortamini invicem”. Việc sửa lỗi huynh đệ là một công việc của t́nh thương. Không ai trong chúng ta có thể thấy được bản thân ḿnh một cách rơ ràng, có thêåthấy được những thiếu sót của ḿnh một cách rơ ràng. Bởi thế nó là một tác động yêu thương, một tác động bổ khuyết lẫn cho nhau, giúp nhau thấy được ḿnh hơn, và sửa chữa lẫn nhau. Tôi nghĩ rằng một trong những phận vụ của đoàn tính đó là giúp đỡ lẫn nhau, cũng theo ư nghĩa của lời huấn dụ trước, để biết được những thiếu sót mà chính chúng ta không muốn thấy – “ab occultis meis munda me”, lời thánh vịnh nói thế – để giúp nhau hầu chúng ta có thể trở nên cởi mở và có thể thấy được những điều ấy.
Dĩ nhiên, công việc t́nh thương cao cả này, khi giúp nhau để mỗi người có thể thực sự thấy được tính chất nguyên vẹn của ḿnh, và thực hiện như là dụng cụ của Thiên Chúa, đ̣i phải hết sức khiêm tốn và yêu thương. Chỉ khi nào việc này được xuất phát từ một con tim khiêm hạ, từ con người không đặt ḿnh lên trên kẻ khác, người không coi ḿnh ngon hơn kẻ khác, mà chỉ là một dụng cụ hèn mọn trong việc giúp đỡ nhau. Chỉ khi nào con người cảm thấy được đức khiêm nhượng sâu xa và chân thật này, chỉ khi nào con người cảm thấy rằng những lời lẽ ấy xuất phát từ t́nh yêu thương chung, từ ḷng cảm mến của một đoàn thể chúng ta thuộc về và muốn cùng nhau phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta mới có thể giúp nhau với một tác động yêu thương cao cả.
Cũng ở chỗ này, bản văn Hy Lạp c̣n thêm một số sắc thái; tiếng Hy Lạp này là “paracaleisthe”; nó là căn ngữ cho chữ “Paracletos, paraclesis”, nghĩa là an ủi. Chẳng những là sửa chữa mà c̣n an ủi nữa, là chia sẻ những khổ đau của người khác, giúp đỡ họ trong lúc khốn khó. Và điều này đối với tôi cũng là một tác động cao cả của ḷng cảm mến chân thật theo đoàn thể.
Trong rất nhiều trường hợp khó khăn hiển nhiên ngày nay nơi việc chăm sóc mục vụ của chúng ta, một số người thực sự tỏ ra chán chường, không biết làm sao để tiến bước. Vào lúc ấy họ cần đến niềm ủi an, họ cần một người nào đó cận kề khi cảm thấy cô đơn trong tâm can, và thi hành công việc của Chúa Thánh Thần, của Đấng Ủi An: trong việc khích lệ, trong việc đem chúng ta lại với nhau, trong việc giúp đỡ lẫn nhau, những việc được hỗ trợ bởi Thánh Thần là Vị Đại Cố Vấn, Ủi An, và Biện Hộ của chúng ta.
Bởi thế, đó là lời mời gọi làm cho chúng ta “ad invicem” đối với công việc của Vị Thánh Thần Ủi An. “Idem sapite”: chúng ta có thể nghe sau tiếng Latinh “sapor”, có “eundem sapore”, có cùng một cảm tính. Tiếng Hy Lạp nói “froneite”, điều giống nhau. Tức là, về bản chất, có cùng một tư tưởng như nhau.
Làm thế nào chúng ta, có cùng một tư tưởng về bản chất, giúp chúng ta cùng nhau hướng dẫn Hội Thánh một khi chúng có chung một đức tin là những ǵ không do ai trong chúng ta sáng tạo nên, nếu không phải là đức tin của Giáo Hội, nền tảng chung hướng dẫn chúng ta, và là đức tin nhờ đó chúng ta là và chúng ta hoạt động hay sao? Bởi thế, nó là một lời mời gọi hăy đặt ḿnh một lần nữa theo tư tưởng chung này, theo đức tin đi trước chúng ta đây.
“Non respicias peccata nostra sed fidem Ecclesiae tuae”: Đó là đức tin của Giáo Hội mà Chúa mong thấy nơi chúng ta và cũng là đức tin thứ tha tội lỗi. Để có được niềm tin chung này, chúng ta có thể và cần phải sống đức tin này, mỗi người theo cách thức riêng của ḿnh, nhưng bao giờ cũng biết rằng đức tin này đi trước chúng ta. Và chúng ta cần phải truyền đạt đức tin chung này cho tất cả mọi người khác.
Yếu tố này dẫn chúng ta tiếp tục tới lời huấn dụ cuối cùng, lời huấn dụ mang lại b́nh an sâu xa nơi chúng ta. Tới đây chúng ta cũng có thể nghĩ đến “touto froneite”, đến một đoạn khác của Thư gửi giáo đoàn Philiiphê, nơi đoạn mở đầu của bài đại thánh ca về Chúa Kitô, nơi vị Tông Đồ nói với chúng ta rằng: hăy có cùng một cảm xác như Chúa Kitô, hăy tiến tới chỗ “fronesis”, tới “fronein”, theo tâm tưởng của Chúa Kitô. Nhờ đó, chúng ta mới cùng nhau có đức tin của Giáo Hội, v́ với đức tin này, chúng ta có cùng tâm tưởng như Chúa. Hăy cùng nhau suy nghĩ với Chúa Kitô.
Đó là lời huấn dụ cuối cùng trong lời cảnh giác này của Thánh Tông Đồ: hăy suy nghĩ với tâm tưởng của Chúa Kitô. Và chúng ta có thể làm điều ấy bằng việc đọc Thánh Kinh là nơi các tâm tưởng của Chúa Kitô là Lời nói với chúng ta. Theo chiều hướng này th́ chúng at cần phải tuân giữ việc “lectio divina”, phải lắng nghe tâm tưởng của Chúa Kitô trong các Sách Thánh, biết nghĩ suy với Chúa Kitô, suy nghĩ theo tâm tưởng của Chúa Kitô, và như thế có cùng cảm xác của Chúa Kitô, có thể cống hiến tâm tưởng cho những người khác.
Thế nên, lời huấn dụ cuối cùng “pacem habete et eireneuete” hầu như là lời tóm tắt bốn lời huấn dụ trước, nhờ đó được hiệp nhất với Thiên Chúa là an b́nh của chúng ta, hiệp nhất với Chúa Kitô là Đấng đă nói với chúng ta rằng: “pacem dabo vobis” b́nh an cho các con. Chúng ta được b́nh an nội tâm, v́ việc hợp với tâm tưởng của Chúa Kitô hiệp nhất hữu thể thực sự của chúng ta. Những khó khăn, nhưữg xung khắc của linh hồn chúng ta đều được liên kết với mạch nguồn, mạch nguồn mà chúng ta là h́nh ảnh, nhờ tâm tưởng của Chúa Kitô. Đó là cách phát sinh niềm an b́nh nội tâm, và chỉ khi nào chúng ta được hưởng niềm an b́nh nội tâm sâu xa này, chúng ta cũng mới trở thành con người của ḥa b́nh trên thế giới và cho tha nhân mà thôi.
Bởi vậy vấn đề là phải chăng lời hứa hẹn ấy được điều kiện hóa bởi các lời huấn dụ ấy? Tức là, phải chăng chỉ khi nào chúng ta đạt được những lời huấn dụ ấy th́ Vị Thiên Chúa của b́nh an này mới ở cùng chúng ta? Mối liên hệ giữa lời huấn dụ và lời hứa là ǵ?
Tôi có thể nói rằng nó là vấn đề song phương, tức là, lời hứa đi trước các lời huấn dụ, và làm cho các lời huấn dụ khả đạt cũng như việc thực hiện áp dụng những lời huấn dụ ấy. Trước hết đó là những ǵ chúng ta có thể làm, Vị Thiên Chúa của t́nh yêu và của an b́nh đă mở toang ra cho chúng ta, Ngài ở với chúng ta. Trong Mạc Khải được mở đầu bằng Cựu Ước, Thiên Chúa đă đến với chúng ta bằng t́nh yêu của Ngài và bằng an b́nh của Ngài.
Sau hết, nơi việc Nhập Thể, Ngài đă trở thành Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là Emmanuel. Vị Thiên Chúa của an b́nh này ở với chúng ta là vị đă hóa thành nhục thể với nhục thể của chúng ta, với máu là máu của chúng ta. Người là con người ở với chúng ta và ôm ấp toàn thể loài người. Rồi nơi thập tự giá cũng như nơi việc xuống ngục tổ tông, Người đă hoàn toàn nên một với chúng ta. Người ra đi trước chúng ta bằng t́nh yêu thương của Người, và Người ôm ấp trước hết những tác hành của chúng ta. Và đó là niềm an ủi lớn lao của chúng ta. Thiên Chúa đi trước chúng ta. Người đă thực hiện hết mọi sự. Người đă ban cho chúng ta b́nh an, tha thứ và yêu thương. Người ở với chúng ta.
Và chỉ v́ Người ở với chúng ta, v́ chúng ta đă lănh nhận ân sủng của Người nơi phép rửa, nơi bí tích thêm sức mà Thánh Linh là Đấng chúng ta đă lănh nhận sứ vụ của Người nơi bí tích truyền chức thánh – giờ đây chúng ta có thể hợp tác với sự hiện diện của Người là những ǵ có trước chúng ta.
Tất cả mọi tác động của chúng ta được nhắc đến trong 5 lời huấn dụ ấy bao hàm việc cộng tác, việc hợp lực với vị Thiên Chúa của an b́nh là Đấng ở cùng chúng ta. Tuy nhiên, mặt khác điều này cũng đúng ở chỗ chúng ta thực sự tiến vào sự hiện diện được Ngài ban cho chúng ta đây, nơi tặng ân đang hiện hữu nơi hữu thể của chúng ta. Nhờ đó, việc hiện diện của Ngài, và việc Ngài ở cùng chúng ta, được củng cố.
Chúng ta hăy xin Chúa dạy cho chúng ta biết hợp tác với ân sủng có trước của Ngài để Ngài luôn thực sự ở với chúng ta. Amen!
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit ngày 4/10/2005
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Thánh Lễ Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI.
Các bài đọc của Chúa Nhật tuần này, được trích từ sáqch Tiên Tri Isaia và Phúc Âm, cho chúng ta thấy một trong những h́nh ảnh lớn của Thánh Kinh, đó là h́nh ảnh vườn nho.
Trong Thánh Kinh, bánh biểu hiệu cho những ǵ con người cần cho cuộc sống hằng ngày của họ. Nước làm cho đất đai ph́ nhiêu mầu mỡ: Nó là tặng ân thiết yếu giúp cho sự sống được khả dĩ. Trái lại, rượu nho là biểu hiệu cho tính chất thanh tú của thiên nhiên tạo vật, nó cống hiến cho chúng ta một bữa tiệc vượt ra ngoài các hạn chế của cuộc sống hằng ngày: Rượu “làm hoan lạc tâm can”.
Như thế, rượu cùng với cây nho cũng trở thành h́nh ảnh của tặng ân yêu thương, làm cho chúng ta có một cảm nghiệm nào đó về mùi vị thần linh. Bởi vậy, bài đọc của tiên tri Isaia chúng ta vừa nghe mở đầu bằng một ca vịnh yêu thương: Thiên Chúa đă thiết lập một vườn nho, h́nh ảnh về lịch sử Ngài yêu thương nhân loại, về t́nh Ngài yêu thương dân Yến Duyên được Ngài tuyển chọn.
Ư tưởng đầu tiên về bài đọc hôm nay đó là: Thiên Chúa đă làm thấm nhập nơi con người được dựng nên theo h́nh ảnh của Ngài khả năng yêu thương, nhờ đó, họ có khả năng yêu mến Ngài là Hóa Công của họ. Qua bài ca vịnh yêu thương của tiên tri Isaia, Thiên Chúa muốn nói với tâm can của dân Ngài cũng như nói với mỗi một người trong chúng ta.
Ngài nói với chúng ta rằng: “Cha đă tạo dựng nên các con theo h́nh ảnh và tương tự như Cha. Chính Cha là t́nh yêu và các con là h́nh ảnh của Cha ở chỗ t́nh yêu rạng ngời nơi các con, ở chỗ các con yêu thương đáp ứng lại Cha”.
Thiên Chúa đợi chờ chúng ta. Ngài muốn chúng ta yêu mến Ngài: Lời mời gọi như thế lại không đánh động ḷng chúng ta hay sao? Chính vào giờ khắc này đây, vào giờ khắc chúng ta cử hành Thánh Thể đây, giờ khắc chúng ta khai mạc Thượng Nghị về Thánh Thể đây, Ngài đến gặp gỡ chúng ta, Ngài đến để gặp gỡ tôi. Ngài có t́m thấy được đáp ứng hay chăng? Hay chúng ta lại giống như vườn nho được Thiên Chúa nói tới trong bài đọc của tiên tri Isaia: “Ngài mong nó sinh trái nho th́ nó lại sinh nho dại”. Phải chăng đời sống của chúng ta có lẽ cũng thường trở thành dấm chua hơn là rượu? Thứ dấm chua của than van ta thán, của xung khắc tranh giành, của dửng dưng lạnh nhạt?
Như thế, chúng ta đi đến ư tưởng thứ hai của các bài đọc hôm nay. Ư tưởng này trước hết nói về cái tốt đẹp của việc Thiên Chúa tạo dựng cũng như về sự cao cả của việc Ngài muốn t́m kiếm và yêu thương chúng ta. Thế nhưng, ư tưởng ấy cũng nói về lịch sử xẩy ra sau đó, lịch sử về việc sa ngă của con người.
Thiên Chúa đă trồng những cây nho hảo hạng nhưng chúng lại sinh ra các thứ nho dại. Những trái nho dại đây là ǵ? Những trái nho tốt được Thiên Chúa mong muốn, theo lời vị tiên tri, là ở chỗ công minh và chính trực. Ngược lại, những thứ nho dại là bạo lực, là đổ máu và đàn áp, những ǵ khiến cho con người quằn quại dưới ách bất công.
Trong bài Phúc Âm, h́nh ảnh này được thay đổi: Vườn nho sinh ra những trái nho tốt, thế nhưng thành phần tá điền trồng nho lại giữ lấy những trái nho tốt này. Họ không muốn trả chúng về cho vị chủ nhân ông. Họ đánh đập và sát hại thành phần sứ giả và giết chết người con trai của vị chủ nhân ông này. Động lực thúc đẩy họ làm như thế không có ǵ là phứ ctạp cả: Họ muốn trở nên thành phần chủ nhân ông; họ lấy đi những ǵ không thuộc về họ.
Trong Cựu Ước, những ǵ thoạt tiên có vẻ vấn đề cáo trạng liên quan tới việc vi phạm về công lư xă hội, vấn đề con người khinh miệt con người. Tuy nhiên, sâu xa hơn, con người thấy rằng việc khinh thường Kinh Torah, khinh thường luật do Thiên Chúa ban bố, là khinh thường chính Thiên Chúa; chỉ v́ ước vọng duy nhất là muốn hoan hưởng chính quyền lực. Khía cạnh này hoàn toàn được nổi bật trong dụ ngôn của Chúa Giêsu: Ở chỗ, thành phần tá điền không muốn chấp nhận vị chủ nhân, và thành phần tá điền ấy trở thành tấm gương cho chúng ta là con người đă chiếm quyền làm chủ thiên nhiên tạo vật đă được kư thác cho chúng ta quản trị.
Chúng ta muốn trở nên thành phần chủ nhân độc nhất vô nhị. Chúng ta muốn chiếm hữu thế giới và đời sống của chúng ta một cách vô giới hạn. Thiên Chúa là Đấng làm cho chúng ta ngứa ngáy khó chịu, hay chúng ta làm cho Ngài trở thành một thứ thành ngữ đạo đức thuần túy hoặc hoàn toàn chối bỏ Ngài, hoàn toàn loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống quần chúng, để nhờ đó Ngài không c̣n có một ư nghĩa ǵ nữa. Thứ khoan nhượng chỉ chấp nhận Thiên Chúa như là một thứ ư kiến riêng tư, thế nhưng lại chối bỏ Ngài ở lănh vực công cộng, ở thực tại của thế giới và ở đời sống của chúng ta, không phải là khoan nhượng mà là giả h́nh.
Bất cứ lúc nào con người trở thành chủ nhân ông duy nhất của thế giới này và làm chủ chính ḿnh th́ không thể nào có vấn đề công lư. Bấy giờ chỉ có vấn đề thủ đoạn về quyền lực và lường gạt về lợi lộc mà thôi. Thật thế, người con có thể bị loại trừ khỏi vườn nho và bị sát hại để thành phần tá điền được hoan hưởng một cách vị kỷ những hoa trái của trái đất. Thế nhưng, bấy giờ vườn nho này lại sớm trở thành một khu vườn không được vun xới, bị giầy xéo bởi đám heo rừng, như trong bài đáp ca (x Ps 79:14).
Chúng ta tiến sang yếu tố thứ ba của các bài đọc hôm nay. Vị Chúa ở trong cả Cựu lẫn Tân Ước đă loan báo phán quyết về số phận vườn nho bất trung. Phán quyết tiên tri Isaia thấy trước đă được hiện thực nơi những cuộc đại chiến và lưu đầy gây ra bởi những người Assyria và Babylonia. Phán quyết được Chúa Giêsu loan báo liên quan trước hết tới việc hủy hoại của thành Giêrusalem năm 70.
Thế nhưng, mối đe dọa bị phán quyết cũng ảnh hưởng cả đến chúng ta nữa, một Giáo Hội ở Âu Châu, Giáo Hội của Tây phương nói chung. Qua bài Phúc Âm này, Chúa cũng la lên trong tai chúng ta những lời Ngài đă nói đến trong Sách Khải Huyền về Giáo Hội ở Êphêsô: “Ta sẽ đến với các người và sẽ lấy đi ngọn đèn của các người khỏi chỗ của nó, trừ phi các người ăn năn thống hối” (2:5). Thứ ánh sáng này cũng có thể bị lầy đi khỏi chúng ta, và chúng ta cần phải làm sao cho lời cảnh báo hoàn toàn nghiêm trọng này vang vọng trong tâm hồn của chúng ta, để đồng thời kêu lên cùng Chúa rằng: “Xin hăy giúp chúng con ăn năn cải thiện! Xin hăy ban cho chúng con ân sủng thực hiện việc canh tân đích thực! Xin đừng để ánh sáng ấy bị tắt mất nơi chúng con! Xin hăy củng cố đức tin của chúng con, đức cậy của chúng con và đức mến của chúng con để chúng con có thể sinh hoa kết trái tốt đẹp!”.
Đến đây, một vấn đề được đặt ra là: “Thế nhưng, có hứa hẹn hay chăng, có lời nào an ủi trong bài đọc và bài Phúc Âm hôm nay hay chăng? Phải chăng đe dọa là tất cả những ǵ muốn nói tới?” Không! Có một lời hứa hẹn và đó là tất cả những ǵ muốn nói tới, là điều thiết yếu. Chúng ta nghe lời hứa hẹn này nơi câu alleluia được trích từ Phúc Âm Thánh Gioan: “Thày là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thày và Thày ở trong họ th́ người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (15:5).
Qua những lời lẽ này của Chúa Kitô, Thánh Gioan đă cho chúng ta thấy cái kết thúc cuối cùng đích thực của lịch sử vườn nho của Thiên Chúa – đó là Thiên Chúa không bị thảm bại. Cuối cùng Ngài sẽ chiến thắng – t́nh yêu chiến thắng. Một h́nh ảnh lờ mờ đă hiện lên trong bài dụ ngôn về vườn nho của bài Phúc Âm hôm nay cũng như ở những lời cuối cùng của bài Phúc Âm này. Nơi đoạn cuối này, cái chết của người con không phải là kết thúc lịch sử, cho dù nó không trực tiếp nói như thế. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đă diễn tả cái chết này bằng một h́nh ảnh được lấy từ bài Thánh Vịnh: “Chính tảng đá bị đám thợ xây loại bỏ đă trở nên tảng đá góc tường” (Mt 21:42; Ps 117:22).
Sự sống đă được phát sinh từ cái chết của người con này, một dinh thự mới được thiết lập, một vườn nho mới xuất hiện. Ở Cana, Người đă biến nước lă thành rượu, Người đă biến đổi máu Người thành thứ rượu của t́nh yêu chân thật, nhờ đó, biến đổi rượu thành máu của Người. Ở Nhà Tiệc Ly, Người đă hướng về cái chết của Người và đă biến đổi cái chết này thành việc trao ban chính bản thân Người, một tác động yêu thương sâu xa. Máu của Người là một tặng ân, là t́nh yêu, và bởi thế máu đó là thứ rượu thực sự được Đấng Hóa Công mong muốn. Như thế, chính Chúa Kitô trở thành vườn nho và vườn nho này bao giờ cũng sinh ra trái tốt – đó là sự hiện diện t́nh Người yêu thương chúng ta, một t́nh yêu bất khả bị hủy diệt.
Những điều ấy, cuối cùng, đồng tụ lại nơi mầu nhiệm Thánh Thể, một mầu nhiệm Chúa Kitô đă ban cho chúng ta bánh sự sống và rượu yêu thương của Người, cùng mời gọi chúng ta hăy đến với bữa tiệc của t́nh yêu vĩnh cửu này. Chúng ta cử hành Thánh Thể với ư thức rằng cái giá của Thánh Thể là cái chết của người con ấy, là hy hiến của mạng sống Người, một hy hiến vẫn hiện diện nơi Thánh Thể. Mỗi khi chúng ta ăn bánh này và uống chén ấy là chúng ta loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Người lại đến, như Thánh Phaolô nói (x 1Cor 11:26).
Thế nhưng, chúng ta cũng biết rằng từ cái chết này sự sống đă được phát sinh, khi Chúa Giêsu biến đổi cái chết ấy bằng cử chỉ hiến tế, biến đổi thành một tác động yêu thương, biến đổi một cách sâu xa: T́nh yêu đă chiến thắng tử thần. Nơi Thánh Thể, Người đă từ thập tự giá kéo tất cả mọi con người đến cùng Người (Jn 12:32), và Người đă biến chúng ta thành những cành của cây nho là chính bản thân Người. Nếu chúng ta hiệp nhất với Người, chúng ta nhờ đó cũng sinh hoa kết trái, nhờ đó chúng ta sẽ không c̣n sinh ra dấm chua của ḷng tự măn, của cái bất đồng với Thiên Chúa cũng như với thiên nhiên tạo vật của Ngài, nhưng trở thành thứ rượu ngon của niềm vui Thiên Chúa và t́nh yêu thương tha nhân.
Chúng ta hăy cầu xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng của Người để trong ba tuần lễ thượng nghị này để chúng ta bắt đầu chẳng những nói những điều tốt đẹp về Thánh Thể mà chúng ta c̣n sống bằng sức mạnh của Người nữa. Quí nghị phụ thượng nghị thân mến, những vị tôi thân ái chào thăm, chào thăm cả các cộng đồng khác nhau là nơi qúi nghị phụ sống và đại diện nơi đây, chúng ta hăy nhờ Mẹ Maria cầu xin cho được tặng ân này, để nhờ dễ dạy với tác động của Thánh Linh, chúng ta có thể giúp cho thế giới được biến đồi – trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô – thành cây nho sai trái của Thiên Chúa. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 2/10/2005
Anh Chị Em thân mến!
Việc cử hành Thánh Thể vừa chấm dứt trong Đền Thờ Thánh Phêrô, việc cử hành để khai mạc cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thường Lệ. Các nghị phụ của cuộc họp này, đến từ khắp nơi trên thế giới, cùng với các chuyên gia và thành phần đại biểu, sẽ sống trên ba tuần tới đây với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, một thời gian đặc biệt để nguyện cầu, suy tư chia sẻ về đề tài: “Thánh Thể: Nguồn Mạch và Thượng Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”.
Tại sao lại là đề tài này? Phải chăng nó là một lập luận tự nhiên mà có – tự nhiên mà được? Thật vậy, tín lư Công giáo về Thánh Thể, một tín lư được xác định theo thẩm quyền của Công Đồng Chung Triđentinô, là những ǵ cần phải được chấp nhận, sống động và truyền đạt cho cộng đồng giáo hội một cách mới mẻ hơn, thích hợp với thời đại.
Thánh Thể cũng được coi như là một thứ “ống kính” để liên lỉ xem xét dung nhan và đường lối của Giáo Hội được Chúa Kitô thiết lập để tất cả mọi người có thể nhận biết t́nh yêu Thiên Chúa và t́m thấy nơi Ngài sự sống viên trọn. Đó là lư do, vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta mới muốn giành cho Thánh Thể cả một năm, một năm được bế mạc chính vào ngày kết thúc Cuộc Thượng Hội này vào ngày 23/10, thời điểm cũng sẽ cử hành Ngày Chúa Nhật Truyền Giáo.
Sự trùng hợp này là để giúp chúng ta chiêm ngưỡng mầu nhiệm Thánh Thể theo chiều kích truyền giáo. Thật vậy, Thánh Thể là động lực của toàn thể hoạt động truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, như con tim nơi thân thể của con người. Các cộng đồng Kitô hữu – không cử hành Thánh Thể là việc họ được dưỡng nuôi ở hai bàn tiệc Lời Chúa và Ḿnh Chúa Kitô – sẽ mất đi bản chất chân thực của ḿnh: Chỉ ở mức độ là “Thánh Thể” các cộng đồng này mới có thể truyền đạt Chúa Kitô cho con người, chứ không phải chỉ là những ư tưởng hay giá trị, cho dù những thứ này có cao quí và quan trọng đến đâu đi nữa.
Thánh Thể đă khuôn đúc nên những vị tông đồ truyền giáo nổi danh ở tất cả mọi bậc sống: giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân và các thánh sống đời hoạt động và chiêm niệm. Một mặt, chúng ta hăy nghĩ đến Thánh Phanxicô Xaviê, vị được ḷng kính mến Chúa Kitô đưa đến Viễn Đông để loan báo Phúc Âm; đàng khác, Thánh Thérèse thành Lisieux, người nữ đan tu Carmêlô trẻ trung, vị chúng ta đă thực sự cử hành lễ hôm qua, Chị đă sống trong nội vi tu viện với tinh thần tông đồ hăng say, lập công đi rao giảng, cùng với Thánh Phanxicô Xaviê, làm quan thày của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội.
Chúng ta hăy kêu xin các vị chuyển cầu cho công cuộc của thượng nghị này, cũng như việc chuyển cầu của các Vị Thiên Thần Bản Mệnh được chúng ta kính nhớ hôm nay. Với ḷng tin tưởng, chúng ta hăy kư thác bản thân ḿnh trên hết cho Trinh Nữ Maria, vị chúng ta sẽ kính tôn vào ngày 7/10 tới đây với tước hiệu Đức Trinh Nữ Mân Côi. Tháng Mười được giành cho kinh mân côi thánh, cho việc nguyện cầu chiêm niệm đặc thù là những ǵ, được Mẹ của Chúa ở trên trời của chúng con dẫn dắt. Chúng ta gắn chặt mắt vào dung nhan của Chúa Kitô.
Lời Kinh Nguyện cổ thời này đang trải qua một cuộc thăng hoa mới thuận lợi, một phần nhờ gương sáng và giáo huấn của Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta. Tôi mời gọi anh chị em hăy đọc lại tông thư “Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria” và mang ra thực hành những ǵ ngài chỉ dẫn ở tầm cấp cá nhân, gia đ́nh và cộng đồng. Chúng ta kư thác cho Mẹ Maria các việc làm của cuộc thượng nghị giám mục này: Xin Mẹ dẫn toàn thể Giáo Hội đến chỗ nhận thức rơ ràng hơn bao giờ hết sứ vụ của Giáo Hội trong việc phụng sự Đấng Cứu Chuộc thực sự đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 2/10/2005
Kinh Cầu cho Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, về Thánh Thể (2-23/10/2005)
Sau đây là nguyên văn bản Kinh Cầu cho Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ Lần XI được Văn Pḥng Tổng Thư Kư Thượng Nghị phổ biến khi mở màn cho biến cố quan trọng này.
Lạy Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cha đă truyền chúng con phải lắng nghe như Người Con yêu dấu của Ngài, xin hăy chiếu sáng của Chúa trên Giáo Hội Chúa, để Giáo Hội không c̣n ǵ thánh thiện hơn là lắng nghe tiếng Chúa và theo chân Chúa. Chúa là Vị Mục Tử Tối Cao và là Đấng Làm Chủ các Linh Hồn. Bởi thế xin Chúa hăy ghé mắt trên các Vị Mục Tử của Giáo Hội qui tụ lại với Người Kế Thừa Thánh Phêrô vào những ngày này nơi cuộc thượng nghị đây. Chúng con nài xin Chúa hăy thánh hóa các vị trong chân lư và củng cố họ trong tin yêu.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin Chúa hăy sai Thần Linh yêu thương và chân thật của Chúa đến với các vị giám mục tham dự thượng nghị này, cũng như trên tất cả những ai giúp các vị hoàn thành công việc của các vị. Xin Chúa hăy làm cho họ trung thành hơn với Vị Thần Linh đang nói cùng các Giáo Hội; xin hăy khơi động các linh hồn và dạy cho họ biết sự thật bởi cũng Vị Thánh Linh ấy. Qua công việc của các vị, chớ ǵ thành phần tín hữu thuộc các Giáo Hội của các vị được thanh tẩy và kiên cường trong tinh thần, nhờ đó, họ có thể tiến hơn trong việc theo Phúc Âm, một Phúc Âm nhờ đó Chúa đă hoàn tất ơn cứu độ, và họ có thể làm cho họ trở thành một của lễ sống động hiến dâng lên Cha trên trời.
Xin Mẹ Maria, Người Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa và là Mẹ của Giáo Hội, hỗ trợ các vị Giám Mục trong những ngày này, như Mẹ đă phù giúp các Vị Tông Đồ ở Nhà Tiệc Ly, và lấy t́nh từ mẫu chuyển cầu để duy tŕ mối hiệp thông huynh đệ nơi các vị, cho các vị được hoan hưởng dồi dào và b́nh an trong sự tĩnh lặng của những ngày này, và nhờ biết nhận ra các dấu chỉ thời đại, cho các vị biết cử hành sự uy nghi của Vị Thiên Chúa nhân hậu xót thương, Vị Chúa của Lịch Sử, hầu ngợi khen và tôn vinh Ba Ngôi Chí Thánh là Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 2/10/2005
Tường Tŕnh về Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể
ĐTGM Nokola Eterovic, tổng thư kư của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI, hôm Thứ Bày 1/10/2005, đă phổ biến những chi tiết về biến cố này cho thành phần phóng viên báo chí như sau:
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ XI về chủ đề “Thánh Thể: Nguồn Mạch và Tột Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”, sẽ được bắt đầu vào ngày mai, 2/10. Thượng Nghị Giám Mục này sẽ được mở màn với Thánh Thể do Đức Thánh Cha Biển Đức XVI chủ tế và khoảng 350 nghị phụ đồng tế cùng với sự hiện diện của thành phần tham dự thượng nghị này. (Phụ chú của người dịch Việt ngữ ở đây về con số đồng tế trong Thánh Lễ khai mạc này theo mạng điện toán toàn cầu Zenit cho biết là 55 hồng y, 59 tổng giám mục, 123 giám mục và 81 linh mục).
Thật là ư nghĩa khi Cuộc Thượng Nghị Giám Mục về chủ đề Thánh Thể này được mở đầu bằng việc cử hành Thánh Lễ. Với cử chỉ ấy, các vị nghị phụ, thành phần được tuyển chọn trong hàng giám mục của Giáo Hội Công Giáo, và bởi thế, của dân Chúa khắp nơi trên thế giới, dâng lời chúc tụng Thiên Chúa là Cha, Đấng ở trên trời, kêu cầu ân sủng của Thánh Linh, tặng ân của Chúa Giêsu Kitô là Đấng đă phục sinh và đang hiện diện giữa dân Người, nhất là trong bí tích Thánh Thể. Chính trong chiều hướng đức tin, đức cậy và đức mến yêu Thánh Thể này mà các hoạt động của cuộc thượng nghị được thực hiện.
Cuộc cử hành Tổng Hội Thường Lệ lần thứ XI của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới này diễn ra vào dịp mừng kỷ niệm 40 năm Thượng Nghị này được h́nh thành, vào ngày 15/9/1965, bởi Vị Giáo Hoàng Tôi Tớ Chúa Phaolô VI, bằng tự sắc “Apostolica Sollicitudo”. Bởi thế, không lạ ǵ trong cuộc hội nghị tới đây sẽ có một buổi giành riêng để tưởng niệm biến cố quan trọng này của giáo hội. Cuộc Thượng Nghị Giám Mục này là một trong những hoa trái hứa hẹn của Công Đồng Chung Vaticanô II, đă chứng tỏ trong 4 thập niên qua, là một phương tiện xứng đáng để thực thi đoán tính giáo phẩm và đi sâu vào những mối hiệp thông của giáo hội.
Bản chất và mục đích của Cuộc Thượng Nghị Giám Mục này được rơ ràng nêu lên trong bức tông thư “Apostolica Sollicitudo” được đề cập tới trên đây. Sau đó, những đặc tính ấy đă được tập trung và diễn giải theo các khía cạnh về pháp lư ở các khoản Giáo Luật 342-348. Có lẽ không dư thừa ǵ khi nhắc lại rằng, ngoài việc làm kiên cường những mối tương liên với nhau giữa các vị Giám Mục cũng như với Đức Thánh Cha là Vị Giám Mục Rôma th́ một trong những mục đích của Thượng Nghị này là để giúp cho Đức Giáo Hoàng Rôma trong việc bảo toàn và gia tăng đức tin cùng những tập tục cho hợp với và đúng với kỷ luật của giáo hội. Thêm vào đó, công việc của cuộc Thượng Nghị này là để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sinh hoạt của Giáo Hội trên thế giới, cũng như để đặc biệt quan tâm theo dơi hoạt động truyền giáo của Giáo Hội.
Từ khi được thành lập 40 năm trước đây, Cuộc Thượng Nghị Thế Giới đă đóng góp khả quan vào việc cổ vơ tính cách đồng hành nơi Giáo Hội Công Giáo, liên quan tới những vấn đề có tầm vọng hết sức quan trọng đối với đời sống của cộng đồng tín hữu, những vấn đề hầu hết thích hợp với các chủ đề của từng cuộc thượng nghị. Về việc này th́ các hội đồng thường lệ, ngoại lệ và đặc biệt thuộc Văn Pḥng Tổng Thư Kư Thượng Nghị Giám Mục đă đóng một vai tṛ đặc biệt qua nhiều phiên họp để sửa soạn và áp dụng, chặt chẽ liên kết với Đức Thánh Cha là đầu của cơ cấu giáo phẩm và là Chủ Tịch của Thượng Hội Đồng Giám Mục. Việc bày tỏ tính cách đồng hành đặc biệt này, tính cách làm nên chiều kích đoàn tính của nó, đă được thể hiện trong 20 cuộc thượng nghị, trong đó có 10 cuộc thượng nghị thường lệ, 2 cuộc ngoại lệ, và 8 cuộc đặc biệt. Với Cuộc Thượng Nghị Thường Lệ XI này, con số các cuộc thượng nghị giám mục lên tới 21 lần. Căn cứ vào giai đoạn 40 năm hiện hữu của ḿnh th́ trung b́nh cứ 19 tháng có một Cuộc Thượng Nghị Giám Mục.
Một số dữ kiện liên quan đến Cuộc Thượng Nghị XI
Có 256 vị nghị phụ thuộc 118 quốc gia sẽ tham dự cuộc thượng nghị này. Đây là con số tham dự viên cao nhất tham dự vào một cuộc thượng nghị như thế này. Chẳng hạn, chỉ có 247 vị nghị phụ trong cuộc thượng nghị năm 2001 mà thôi.
Trong số 256 vị nghị phụ lần này, có 177 vị được tuyển chọn, 39 vị tham dự “không chính thức”, và 40 vị được ĐTC chỉ định. Trong tổng số các vị nghị sự, có 55 vị hồng y, 8 vị thượng phụ, 82 vị tổng giám mục, 123 vị giám mục, 36 vị chủ tịch các hội đồng giám mục và 12 tu sĩ.
Các vị nghị phụ đến từ đủ mọi châu lục, đặc biệt có 50 vị từ Phi Châu, 59 từ Mỹ Châu, 44 từ Á Châu, 95 từ Âu Châu và 8 từ Đại Dương Châu.
Cũng có 32 chuyên gia và 27 kiểm viên đến từ năm châu. Việc đóng góp đáng giá đối với sự tiến triển của hoạt động này cũng được góp phần của thành phần trợ tá và thông dịch viên 6 thứ tiếng là Latinh, Ư, Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Đức.
Có 12 Giáo Hội và cộng đồng giáo hội đă được mời gửi thành phần đại diện của họ tới với Cuộc Thượng Nghị lần này, trong số đó, cho tới nay, có 10 nơi đă cho biết tên tuổi của người đại diện. Những vị đại biểu huynh đệ tham dự vào biến cố này, có thể chia sẻ nhưng không thể bỏ phiếu. Quyền bỏ phiếu thuộc về 256 vị nghị phụ mà thôi.
Những Điều Mới Mẻ nơi Phương Pháp Làm Việc của Thượng Nghị XI
Sự kiện này dễ được nhận thấy nơi lịch tŕnh hoạt động được sắp xếp cho 23 Cuộc Tổng Hội và 7 phiên họp của Các Nhóm Làm Việc.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă sẵn sàng chuẩn ư một số đổi mới nơi phương pháp làm việc của cuộc thượng nghị này, với mục đích là để làm cho cuộc thượng nghị này linh hoạt hơn, tham dự hơn, và nhờ đó có đoàn tính hơn.
Khi cứu xét tới vấn đề cuộc Thượng Nghị này sẽ kéo dài 3 thay v́ 4 tuần lễ, và số tham dự viên cao hơn, th́ vấn đề cần là giảm bớt thời gian bày tỏ của các vị nghị phụ xuống từ 8 c̣n 6 phút thôi, cả con số các phiên họp của Các Nhóm Làm Việc cũng thế.
Các vị nghị phụ được khéo léo mời gọi khi lên tiếng theo một số thứ tự theo 4 phần của bản văn kiện làm việc “instrumentum laboris”. Đề nghị này, một đề nghị đă có trong tập “Ordo Synodi”, giúp thuận lợi hóa việc tập trung về những suy tư sẽ có một lúc đặc biệt trong các cuộc bàn luận tự do ở Sảnh Đường Thượng Nghị, vào cuối các cuộc tổng hội hằng ngày từ 6 đến 7 giờ chiều.
Để việc tham dự được dồi dào hơn, các vị nghị phụ sẽ chọn 8 phần tử vào “Ủy Ban soạn Sứ Điệp”, một sứ điệp sẽ được thượng nghị chuẩn nhận và phổ biến vào lúc kết thúc biến cố này. Bốn trong 8 vị thuộc ủy ban này do ĐTC chỉ định.
V́ những lư do thực tế, việc bỏ phiếu bằng điện tử về những quyết định ít quan trọng sẽ được thực hiện để thí nghiệm xem sao “ad experimentum”.
Sảnh Đường Cuộc Thượng Nghị đă được tối tân hóa, đặc biệt với những thứ cải tiến về ánh sáng, máy điều hóa không khí và các thứ dịch vụ về việc thu chiếu h́nh ảnh.
Đó là một số những đổi mới về phương pháp làm việc, những đổi mới có thể xẩy ra theo lịch sử của việc thiết lập cuộc thượng nghị này. Thật vậy, trong 40 năm qua, phương pháp làm việc của cuộc thượng nghị này đă trải qua những tu chính khác nhau với mục đích là để làm cho sâu xa tính cách đoàn tính giáo phẩm, qua việc cống hiến những lời khuyên giá trị cho Đức Thánh Cha trong vai tṛ của ngài làm Giáo Chủ kế vị Thánh Phêrô v́ thiện ích của Giáo Hội hoàn vũ.
Có lẽ chưa có một Thượng Nghị Giám Mục nào được cử hành như cuộc sắp tới đây, trong một môi trường thiết tha nguyện cầu và tham gia sốt sắng của hằng triệu tín hữu, thành phần trong Năm Thánh Thể, kêu cầu Chúa ban ơn để t́m gặp Đấng họ đă được hội ngộ khi cử hành Thánh Lễ là việc tưởng niệm cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, một cuộc tái hiện thực hy tế của Người, khi thông phần chung riêng vào bàn tiệc hiệp hôn cánh chung của Con Chiên bị sát tế.
Cái môi trường mong đợi và tham dự sốt sắng này là những ǵ cho thấy một niềm hy vọng vững chắc là việc nguyện cầu chung của Giáo Hội sẽ được chấp nhận của Vị Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi, và hy vọng rằng người ta có thể trông chờ từ Cuộc Thượng Nghị Giám Mục này một động lực mới trong việc loan báo Phúc Âm, loan báo tin mừng cho con người đường thời, một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa được bắt nguồn từ mầu nhiệm Thánh Thể, một việc truyền bá phúc âm hóa làm tái sinh đời sống đức tin, đức cậy và đức mến, nhờ đó, những người tín hữu, cởi mở trước tác động của Thánh Thần, sẽ biết dấn thân chuyển biến cái sáng tạo bác ái thích hợp thành nhiều hoạt động cổ vơ về nhân bản.
Đaminh
Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày
2/10/2005.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể: Ngắn Hơn, Cởi Mở và Đại Kết
Thứ Năm 7/7/2005, trong một cuộc họp báo, ĐTGM Nikola Eterovic, tổng thư kư của thượng nghị này đă cho biết về việc thay đổi phương pháp và đường lối tổ chức của thượng nghị, những thay đổi đă được sự đồng ư của ĐTC. Ở chỗ, chia giờ cho tham dự viên được tự nhiên bày tỏ, và sẽ có gấp đôi số đại diện thuộc các giáo phái Kitô hữu khác. Chủ đề vẫn về Thánh Thể: “Thánh Thể là Mạch Nguồn và là Tột Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”.
Thượng nghị này ngắn hơn các lần trước, chỉ kéo dài 3 tuần (2-23/10) thay v́ 4 tuần như được ĐTC GPII dự định trước đây (2-29/10).
V́ ngắn ngày hơn nên mỗi tham dự viên được 6 phút thay v́ 8 phút như trước đây để bày tỏ. “Lư do chính trong việc giảm bớt này là v́ mỗi ngày, từ 6 đến 7 giờ chiều, vào lúc kết thúc của mỗi phiên họp chung, các tham dự viên được tự do phát biểu rồi”.
Phương pháp này sẽ “cho các phần tử có thể yêu cầu để hiểu hơn những ǵ đă được các vị nghị phụ đă lên tiếng trong cuộc họp”.
Những cuộc bàn luận công khai sẽ được điều hợp bởi các vị chủ tịch đại diện cho cuộc thượng hội này đó là ĐHY Francis Arinze của Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích; ĐHY Juan Sandoval Iniguez, TGM Guadalajara Mễ Tây Cơ; và ĐHY Telesphorre Toppo TGP Ranchi Ấn Độ. Những cuộc bàn luận này sẽ được trao đổi bằng 5 ngôn ngữ chính là Ư, Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Đức. Trong quá khứ có một số vị c̣n nói tiếng Latinh nữa.
Có tất cả là 12 nhóm hoạt động là các nhóm sẽ viết các bản dự thảo được đệ tŕnh ĐTC, và căn cứ vào đó, ngài sẽ viết một Tông Huấn hậu thượng nghị.
ĐTGM Eterovic cho biết: “Hy vọng là các bản dự thảo này sẽ không lập lại tín lư truyền thống của Giáo Hội mà hướng đến chỗ cổ vơ một sự canh tân về việc áp dụng mục vụ cùng việc cử hành phụng vụ của bí tích Thánh Thể trong Giáo Hội hoàn vũ”.
Như các cuộc thượng nghị giám mục thế giới trước đây, con số tham dự viên ở vào khoảng 250 vị. Chỉ có một thay đổi liên quan đến con số tham dự này là việc gia tăng đáng kể nơi “thành phần đại biểu huynh đệ” thuộc các giáo phái Kitô hữu khác mà thôi.
Thật vậy, ĐTGM Eterovic cho biết: “Trong các cuộc thượng nghị giám mục đă qua chỉ có 6 giáo hội và cộng đồng Kitô hữu tham dự, nhưng cuộc thượng nghị tới đây con số tăng lên tới 12 thuộc các Giáo Hội Chính Thống, các giáo hội cổ Đông Phương, và các cộng đồng thuộc phong trào Cải cách. Điều này có thể cho thấy đó là một trong những cử chỉ cụ thể về đại kết được ĐTC BĐXVI phát động ngay từ khi mở màn cho giáo triều của ngài”.
Ngoài ra, vị TGM này c̣n cho biết đến cả vấn đề kỹ thuật tối tân được sử dụng trong cuộc thượng nghị tới đây nữa, như “viễn chiếu ảnh (tele-video) và bỏ phiếu bằng điện tử (electronic voting) đối với những vấn đề không quan trọng lắm”: “Những thay đổi này là để nhắm đến việc làm cho cuộc đối thoại được dễ dàng hơn và lợi ích hơn nơi các nghị phụ khi thi hành đoàn tính cho có hiệu quả và tác dụng giữa các vị với nhau cũng như với ĐTC là thủ lănh hữu h́nh của hàng giáo phẩm”.
Cũng trong buổi họp báo tại văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh này, văn kiện “Instrumentum laboris” là văn kiện gợi ư để các nghị phụ bàn luận trong cuộc thượng nghị tới đây. Vị TGM bí thư của cuộc thượng nghị này cho biết chính ĐTC BĐXVI đă rút ngắn thời gian của cuộc thượng nghị này lại ít hơn 1 tuần. Ngoài ra, ĐTC cũng đồng ư giành một trong những cuộc họp cho việc tưởng niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II. Tổng cộng, từ Công Đồng Chung này, sau 40 năm, có tất cả 21 Thượng Hội Giám Mục Thế Giới: 11 cuộc thường lệ, 2 cuộc ngoại lệ và 8 cuộc đặc biệt (theo châu lục).
Tâm Phương, theo Zenit ngày 7/7/2005
Văn Kiện Đúc Kết Luận Bàn “Instrumentum laboris” Về Thánh Thể cho Thượng Hội Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI
Nội dung của văn kiện đúc kết luận bàn “Instrumentum laboris” (dài 90 trang) này là một văn kiện dựa trên văn kiện gợi ư ban đầu "Lineamenta" cùng với những đóng góp của các hội đồng giám mục, các Giáo Hội Đông Phương, các phân bộ Ṭa Thánh và Hiệp Hội Chư Bề Trên Tổng Quyền hồi đáp (trên 90%) khi nhận được bản văn kiện gợi ư. Cả hai văn kiện gợi ư ban đầu lẫn văn kiện đúc kết luận bàn đều được khai triển theo chủ đề của thượng nghị thường lệ XI này: «Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Tột Đỉnh Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội». Bố cục của văn kiện đúc kết luận bàn này bao gồm lời mở đầu, lời dẫn nhập, 4 phân đoạn, mỗi phân đoạn có 2 chương, và lời kết.
Phân đoạn 1 : «Thánh Thể và thế giới ngày nay», phân tách môi trường thời điểm lịch sử của thượng nghị lần này, «một giai đoạn được đánh dấu bởi những quyền lực tương phản mănh liệt trong gia đ́nh nhân loại». Về t́nh trạng cụ thể của nạn đói trên thế giới, bản văn viết : «T́nh trạng thê thảm này là một thực tại không thể nào không được đề cập đến nơi cuộc bàn luận của các vị nghị phụ, những vị, như mọi Kitô hữu ở những giờ giấc khác nhau trong ngày, nguyện cầu cùng Chúa rằng : ‘Xin cho chúng con lương thực hằng ngày’».
Tiếp theo là nhận định về t́nh h́nh của Giáo Hội khắp thế giới liên quan tới việc tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật «nhiều ở các Giáo Hội riêng khác nhau nơi các xứ sở Phi Châu cũng như nơi một số quốc gia Á Châu. Ngược lại là trường hợp đa số ở các quốc gia Aâu Châu, Mỹ Châu và Đại Dương Châu».
Phân Đoạn 2: «Đức Tin của Giáo Hội vào Mầu Nhiệm Thánh Thể». Phân đoạn này chú trọng tới cách thức mầu nhiệm Thánh Thể được tín hữu cảm nhận, nhấn mạnh đến sắc thái của cảm nhận này bị biến đổi theo môi trường văn hóa : «Nơi những xứ sở đang hoan hường một bầu khí nói chung an b́nh và thịnh vượng – thường là các quốc gia tây phương – nhiều người cảm nhận mầu nhiệm Thánh Thể thuần túy là việc chu toàn luật buộc giữ ngày Chúa Nhật và là một bữa tiệc thân hữu vậy thôi. Trái lại, ở những xứ sở trải qua chiến tranh cũng như những khốn khó khác, nhiều người lại hiểu mầu nhiệm Thánh Thể trọn vẹn hơn, tức là bao gồm cả khía cạnh hy sinh».
Ngoài ra, bản văn c̣n nhận định về những khiếm khuyết nơi việc cử hành Thánh Thể, một cử hành «thách đố cảm quan linh thánh». Những khiếm khuyết này bao gồm cả việc coi thường việc sử dụng những áo lễ phụng vụ xác đáng, các tham dự viên mặc áo quần bất xứng, hay tính chất về điêu khắc và nghệ thuật hà tiện nơi các ngôi nhà thờ. Tuy nhiên, «tất cả những thực tại tiêu cực này, thường xẩy ra ở phụng vụ Latinh hơn là các phụng vụ thuộc các Giáo Hội Đông Phương, không được đưa tới chỗ đại báo động, v́ chúng chỉ ở trong một giới hạn nào đó thôi».
Phân Đoạn 3: «Thánh Thể trong Đời Sống của Giáo Hội» là phần đi sâu vào các chi tiết cử hành một cách đúng đắn Thánh Lễ, từ các nghi thức mở đầu cho tới kết lễ, cũng như tầm quan trọng của các qui chuẩn phụng vụ, những qui chuẩn được coi là «những điều hướng dẫn để tiến vào mầu nhiệm».
Phân Đoạn 4: «Thánh Thể nơi Sứ Vụ của Giáo Hội». Phân đoạn này nhấn mạnh tới tầm quan trọng của Thánh Thể như là «nguồn luân lư Kitô giáo», khi nhắc lại rằng Thánh Thể «bao giờ cũng tăng sức cho các tín hữu thực hiện những quyết định cùng với những hành vi cử chỉ về đạo lư và luân lư».
Theo chiều hướng ấy, bản văn bàn đến vấn đề liên kết giữa Thánh Thể và ḥa b́nh, hiệp nhất và đại kết, cũng như với các vấn đề như hội nhập văn hóa và mối liên hiệp thông.
Bá Vũ Ly, theo VIS ngày 7/7/2005
Lược Tóm Các Cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới và Các Châu Lục
Theo một công báo của Ṭa Thánh hôm nay, Thứ Ba 8/7/2003, th́ Hội Đồng Tổng Thư Kư Thượng Hội Giám Mục đă họp nhau lần thứ sáu vào ngày 1-2/7/2003 tại văn pḥng chính của ḿnh. Hội Đồng này gồm có ĐHY Jan P. Schotte, C.I.C.M., 6 HY, 4 TGMvà 4 phần tử của văn pḥng tổng thư kư, để bàn đến Thượng Hội Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ 11. Hội Đồng này sẽ tái họp vào Tháng 10/2003.
Nhân dịp này thoidiemmaria.net xin mời độc giả lược qua tiến tŕnh của các Thượng Hội Giám Mục Thế Giới cũng như Hội Nghị Giám Mục Châu Lục.
Các
khóa họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới đă được Đức Thánh Cha
Phaolô VI đề xướng vào thời gian gần kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô II, bằng
văn kiện Apostolica Sollicitudo ban hành ngày 15-9-1965, với kỳ họp đầu tiên đă
được bắt đầu từ tháng 10 năm 1967, sau Công Đồng 2 năm.
Phần ĐTC GPII, từ sau Biến Cố Đông Âu, ngài bắt đầu các Thượng Nghị Giám Mục
Châu Lục, nhất là để sửa soạn long trọng mừng Đại Năm Thánh 2000.
Các Cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 1, 29/9-29/10-1967, với 197 vị nghị phụ, về việc bảo tŕ và kiên cường đức tin Công Giáo : chuyên chính, năng lực, phát triển cùng sự nối kết của đức tin Công Giáo giữa tín điều và lịch sử.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ thứ nhất, 11-28/10/1969, với 146 vị nghị phụ, về bản chất và ư nghĩa của giáo phẩm đoàn, về mối liên hệ của giám mục và hội đồng giám mục với giáo hoàng cũng như với nhau.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 2, 30/9-6/11/1971, với 210 vị nghị phụ, về các vị tư tế thừa tác và sự chính trực trong thế giới.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 3, 29/9-26/10/1974, với 209 vị nghị phụ, về việc truyền bá Phúc Âm hóa trong thế giới tân tiến, được đúc kết trong tông huấn Evangelii Nuntiandi do Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành ngày 8-12-1975.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 4, 30/9-29/10/1977, với 204 vị nghị phụ, về việc dạy giáo lư trong thời đại của chúng ta, được đúc kết trong tông huấn Catechesi Tradendae do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 16-10-1979.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 5, 26/9-25/10/1980, với 216 vị nghị phụ, về vai tṛ của gia đ́nh Kitô hữu trong thế giới tân tiến, được đúc kết trong tông huấn Familiario Consortio do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô ban hành ngày 22-11-1981.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 6, 29/9-29/10/1983, với 283 vị nghị phụ, về việc ḥa giải và thống hối trong sứ mệnh của Giáo Hội hôm nay, được đúc kết trong tông huấn Ḥa Giải và Thống Hối Reconciliatio et Paenitenlia do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 2-12-1984.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ thứ hai, 24/11-8/12/1985, với 165 vị nghị phụ, về Công Đồng Vaticanô II, trong việc thẩm định sự áp dụng của Công Đồng 20 năm qua, cũng như trong việc t́m cách phát động sự canh tân trong Giáo Hội theo tinh thần và văn tự của Công Đồng.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 7, 1-30/10/1987, với 232 vị nghị phụ, về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới, được đúc kết trong tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân Christifideles Laici do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 20-12-1988.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 8, 30/9-28/10/1990, với 238 vị nghị phụ, về việc đào tạo linh mục trong các hoàn cảnh của ngày hôm nay, được đúc kết trong tông huấn Pastores Dabo Vobis do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 25-3-1992.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 9, 2-29/10/1994, với 245 vị nghị phụ, về đời tận hiến và sứ mệnh của nó trong Giáo Hội và trong thế giới, được đúc kết trong tông huấn Đời Tận Hiến Vita Consecrata do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 25-3-1996.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 10, theo lịch tŕnh, đáng lẽ cuộc thượng nghị này được thực hiện vào thời khoảng 1-23/10/1999, tuy nhiên đă được dời lại tới thời khoảng 30/9-27/10/2001, thời điểm không ai ngờ được là trúng ngay sau cuộc khủng bố tấn công Hoa Kỳ 11/9/2001, và đang khi xẩy ra cuộc trừng trị khủng bố của hai nước Mỹ và Anh ở A Phú Hăn kể từ ngày Lễ Mẹ Mân Côi 7/10/2001. Thượng Nghị thường lệ lần X này có mục tiêu nhắm đến giới c̣n lại là hàng giáo phẩm, bàn về chủ đề là "Giám mục: Tôi tớ của Phúc Âm Chúa Giêsu đối với niềm hy vọng của Thế Giới", được đúc kết trong tông huấn Mục Tử Đàn Chiên Chúa Pastores gregis do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 16/10/2003, ngày kỷ niệm ngân khánh 25 năm được bầu làm giáo hoàng của ngài.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ thứ 11, diễn ra vào thời đoạn 2-23/10/2005, cuối Năm Thánh Thể (17/10/2004-23/10/2005), kỷ niệm 40 năm (15/9/1965-2005) thiết lập Thượng Nghị Giám Mục này, bàn về chủ đề là "Thánh Thể là Nguồn Mạch và Tột Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội", sẽ được đúc kết trong một tông huấn do Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ban hành vào một ngày nào đó trong tương lai.
Thượng Nghị Giám Mục Các Châu Lục:
Hội Nghị Đặc Biệt Chư Giám Mục Ḥa Lan, 14-31/1/1980, với 19 vị nghị phụ, tại Rôma, với ĐTC GPII, về t́nh h́nh mục vụ ở Ḥa Lan.
Thượng Nghị Giám Mục Âu Châu, với 137 vị nghị phụ, đáp lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, đă diễn ra tại Rôma từ ngày 28-11 đến 14-12 năm 1991, tức theo sau Biến Cố Đông Âu sụp đổ năm 1989 và ngay trước biến cố Nước Nga trở lại ngày 25-12-1991, để lợi dụng t́nh trạng sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản bàn về vai tṛ Kitô giáo trong tương lai của Âu Châu cũng như về vai tṛ tác hiệu của Giáo Hội Công Giáo trong việc h́nh thành một trật tự xă hội chân chính.
Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu, với 242 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma vào ngày 10/4-8/5/1994 bàn về chủ đề "Giáo Hội ở Phi Châu với sứ mệnh truyền bá Phúc Âm hướng về năm 2000: 'Các con sẽ là nhân chứng của Thày'", được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Ecclesia in Africa ban hành ngày 14-9-1995, dịp ngài thăm Phi Châu.
Hội Nghị Đặc Biệt Chư Giám Mục Lebanon, 26/11-14/12/1995, với 69 vị nghị phụ, họp với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại Vatican, về đề tài “Chúa Kitô là Niềm Hy Vọng của chúng ta: Được Thánh Thần canh tân, Chúng Ta Đoàn kết Làm Chứng cho T́nh Yêu của Người”.
Thượng Nghị Giám Mục Mỹ Châu, với 233 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma vào ngày 16/11-12/12/1997, với chủ đề "Gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô hằng sống: Con đường dẫn đến Hối Cải, Hiệp Thông và Đoàn Kết", được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Ecclesia in America ban hành tại Mexicô City ngày 22-1-1999, dịp ngài thăm Mỹ Châu.
Thượng Nghị Giám Mục Á Châu, với 191 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma vào ngày 19/4-14/5/1998, từ ngày 19-4 đến 14-5, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế với Sứ Mệnh Yêu Thương và Phục Vụ của Người ở Á Châu", được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Ecclesia in Asia ban hành ngày 6/11/1999, dịp ngài thăm Á Châu ở Tân Đề Li Ấn Độ.
Thượng Nghị Giám Mục Đại Dương Châu, với 117 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma vào ngày 23/11-12/12/1998, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô và nhân dân Đại Dương Châu - 'Đi Con Đường của Người, nói Sự Thật của Người và sống Sự Sống của Người'". được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Ecclesia in Oceania ban hành ngày 22/11/2001, và được ngài lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội ban hành và gửi đi bằng hệ thống điện toán toàn cầu cho tất cả mọi giáo phận địa phương thuộc châu lục này.
Thượng Nghị Giám Mục Âu Châu, với 117 vị nghị phụ, nhóm họp lần thứ hai vào thời khoảng 1-23/10/1999 tại Rôma, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô vẫn sống nơi Giáo Hội, Nguồn Mạch Hy Vọng cho Châu Âu", được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Ecclesia in Europe ban hành ngày 28/6/2003.
Cảm Nhận:
Cảm nhận thứ nhất, đó là chủ đề của các kỳ họp Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới hiển nhiên nói lên rằng Giáo Hội muốn tiếp tục hay triệt để áp dụng tinh thần và đường hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II. Bởi thế chúng ta thấy các cuộc thượng nghị này hầu hết đă bàn đến những vần đề của Công Đồng thuộc thập niên 1960 trong khung cảnh hiện đại, như về vấn đề truyền giáo (kỳ họp 3 năm 1974), giáo lư (kỳ họp 4 năm 1977), gia đ́nh (kỳ họp 5 năm 1980), giáo dân (kỳ họp 7 năm 1987), giáo sĩ (kỳ họp 8 năm 1990), tu sĩ (kỳ họp 9 năm 1994) và giám mục (kỳ họp 10 năm 2001). Trong Buổi Nguyện Kinh Truyền Tin ngày 9/9/2001, ĐTC Gioan Phaolô II đă nói đến chiều hướng này đối với Thượng Hội Giám Mục Thế Giới thường niên lần 10 như sau: “Công Đồng Chung Vaticanô II… sẽ là điểm tham vấn chính yếu cho công việc của cuộc họp này” (số 2).
Cảm nhận thứ hai, nếu chủ đề của các Thượng Hội Giám Mục Thế Giới gắn liền với Công Đồng Chung Vaticanô II, th́ chủ đề của và cho các cuộc Công Nghị Giám Mục Các Châu trước Năm Thánh 2000 lại hoàn toàn hướng về Chúa Kitô, theo tinh thần và chiều hướng bức thông điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần Redemptor Hominis của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, ban hành ngày 4/3/1979, một bức thông điệp chẳng những để mở màn cho giáo triều của ngài mà c̣n để thực hiện những ǵ vị Giáo Hoàng đầu tiên của thế kỷ 20, Thánh Giáo Hoàng Piô X, đă phác họa trong thông điệp đầu tiên của ngài là “phục hồi mọi sự trong Chúa Kitô” Instaurare omnia in Christo.
Cảm nhận thứ ba, đó là thời điểm của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường niên lần thứ 10. Theo lịch tŕnh, đáng lẽ cuộc thượng nghị này đă được thực hiện từ cuối năm 1999, tuy nhiên đă được dời lại tới nay, 30/9-27/10/2001, thời điểm không ai ngờ được là trúng ngay sau Cuộc Khủng Bố Hoa Kỳ 11/9/2001, và đang khi xẩy ra Cuộc Trừng Trị Khủng Bố của hai nước Mỹ và Anh kể từ ngày Lễ Mẹ Mân Côi 7/10/2001. Với chủ đề “Giám mục: Tôi tớ của Phúc Âm Chúa Giêsu đối với niềm hy vọng của Thế Giới", cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường niên lần thứ 10 ấy, cuộc họp về vấn đề Hàng Giáo Phẩm Giáo Hội Công Giáo, thành phần kế thừa các Tông Đồ là những chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô, một cuộc họp lại diễn ra vào chính giữa lúc thế giới biến loạn này, phải chăng là một dấu chỉ thời đại cho thấy, nếu Chúa Kitô “là ánh sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tối tăm không át được ánh sáng” (Jn 1:5), và nếu Giáo Hội là “ánh sáng thế gian. Một thành xây trên núi không thể bị che khuất được nữa” (Mt 5:14), th́ quả thực “Giáo Hội trong thế giới tân tiến ngày nay” là “Gaudium et Spes”, là “niềm hy vọng của Thế Giới" vậy!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, nghiên cứu, sưu tầm và tổng hợp