|
“Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
tổng hợp và tuyển dịch
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XII (5-26/10/2008):
“Thả Lưới ở Chỗ Nước Sâu – Duc in Altum”
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ XII sẽ diễn ra ở
Ṭa Thánh Vatican 21 ngày, từ mùng 5 đến 26 tháng 10 năm 2008,
về chủ đề Lời Chúa: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của
Giáo Hội”.
Sáng Thứ Sáu 3/10/2008, tại văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh,
ĐTGM Nikola Eterovic, tổng bí thư của thượng nghị giám mục thế
giới lần này, đă cho biết tổng quan diễn tiến và nội
dung
chính yếu của biến cố quan trọng này như sau:
1) Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII sẽ được khai mạc
vào Chúa Nhật đầu Tháng 10, ngày mùng 5, tại Đền Thờ Thánh
Phaolô Ngoài Thành, chứ không phải tại Đền Thờ Thánh Phêrô như
mọi lần trước, v́ đang trong Năm Thánh Phaolô. Lễ bế mạc vào
Chúa Nhật 26/10 sẽ được cử hành tại Đền Thờ Thánh Phêrô như
thường.
2) Con số tham dự là 253 vị Nghị Phụ đại diện cho 113 hội đồng
giám mục, 13 Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, 25 phân bộ của Ṭa
Thánh và Hiệp Hội Bề Trên Tổng Quyền Ḍng Tu. Ngoài ra c̣n có 41
chuyên viên (trong đó có 6 nữ) thuộc 21 quốc gia, và 37 dự thính
viên (trong đó có 19) thuộc 26 quốc gia. Chưa hết, tham dự viên
c̣n có sự hiện diện của các đại biểu thuộc các Giáo Hội Chính
Thống (Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Hy Lạp, Armenia, Serbia và Romania),
thuộc khối Hiệp Thông Anh Giáo, và các tổ chức lớn trong cộng
đồng giáo hội Tin Lành nữa (the World Lutheran Federation, the
Church of the Disciples of Christ and the World Council of
Churches). Đó là chưa kể đến 3 vị khách đặc biệt của Đức Thánh
Cha nữa: vị thứ nhất là Tôn Sư Trưởng Shear Yashuv Cohen ở
Haifa, Do Thái, vị mà vào ngày 6/10 sẽ ngỏ cùng thượng nghị về
đề tài liên quan tới cách thức Dân Do Thái đọc và giải nghĩa
Thánh Kinh. Đây là một sự kiện chưa từng xẩy ra trong lịch sử
các cuộc thượng nghị giám mục hế giới của Giáo Hội Công Giáo. Vị
thứ hai là Rev. A. Miller Milloy, tổng thư kư của Chư Hội Liên
Hiệp Thánh Kinh, và Sư Huynh Alois, đan viện trưởng Cộng Đồng
Taize.
3) Tối Thứ Bảy 18/10, ĐTC Biển Đức XVI và Đức Tổng Thượng Phụ
Bartholomew I sẽ chủ sự Buổi Kinh Tối cho Chúa Nhật 29 Thường
Niên. Sau đó mỗi vị sẽ có một bài về chủ đề Lời Chúa, đặc biệt
liên quan tới Năm Thánh Phaolô. Việc Đức Tổng Thượng Phụ thuộc
Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ngỏ lời trong giờ kinh phụng vụ
này là sự kiện thứ hai chưa từng xẩy ra trong lịch sử thượng
nghị giám mục thế giới của Giáo Hội Công Giáo.
4) Theo qui lệ của cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới, từng vị
nghị phụ có 5 phút để tŕnh bày cảm nhận của ḿnh về chủ đề
chung. Ngoài ra, ở vào cuối các cuộc họp chung mỗi ngày, kể từ
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XI về chủ đề Thánh Thể 10/2005, sẽ
có một tiếng được tự do bàn luận, từ 6 đến 7 giờ. Ngopài ra, vào
chiều ngày 6/10, sau 5 vị nghị phụ đại diện cho 5 châu tŕnh bày
(mỗi vị 10) về củ đề Lời Chúa được từng châu lục cảm nhận ra sao,
cũng sẽ có một thời khoảng để tự do chia sẻ nữa. Chưa hết, cũng
có một buổi tự do chia sẻ ngay sau một thời khoảng 30 phút được
giành ra để kiểm điểm về việc tiếp nhận Tông Huấn "Sacramentum
caritatis – Bí Tích yêu thương"
hậu Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XI về Thánh Thể được ĐTC Biển
Đức XVI ban hành.
Ư
Chỉ Chung của ĐTC Biển Đức XVI cho Tháng 10/2008: Xin cho
Thượng Nghị Giám Mục thế giới có thể giúp cho tất cả
các vị mục tử
và thần học gia, các
giáo lư viên và cổ động viên là những người
đang
tham gia vào việc phục vụ Lời Chúa biết truyền đạt chân lư đức
tin cách can trường trong mối hiệp thông với toàn thể Giáo Hội
Lạy Chúa Giêsu Kitô là Lời Nhập Thể Vượt Qua,
Chúa là tột đỉnh và là tất cả Mạc Khải Thần Linh của Cha trên
trời,
đến nỗi, “ai thấy Thày là thấy Cha”.
Xin cho chúng con là thành phần môn đệ được Chúa gọi đến để ở
với Chúa và được sai đi,
Biết lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa như Mẹ Maria đầy ơn phúc là
đệ nhất môn đệ của Chúa. Amen.
Lược Sử về
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới (và Châu Lục)
Kể
từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II diễn ra vào tiền bán thập
niên 1960, sinh hoạt của Giáo Hội hoàn vũ đă có nhiều thay đổi,
chẳng hạn, điển h́nh nhất liên quan tới hết mọi tín hữu đó là
vấn đề canh tân phụng vụ, hay liên quan tới riêng cấp lănh đạo
là hàng giáo phẩm cao cấp, đó là các Thượng Nghị Giám Mục Thế
Giới (hay Châu Lục)
thường lệ hay ngoại lệ, một biến cố đă được Đức Thánh Cha Phaolô
VI đề xướng vào thời gian gần kết thúc Công Đồng Chung Vaticanô
II, bằng văn kiện Apostolica Sollicitudo ban hành ngày
15-9-1965, với kỳ họp đầu tiên đă được bắt đầu từ tháng 10 năm
1967, sau Công Đồng 2 năm. Từ đó tới nay tất cả đă có 12 Thượng
Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ diễn ra thường 3 năm 1 lần, và
2 Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ, một vào năm 1969, và
một vào năm 1985, chưa kể 5 cuộc Thượng Nghị Giám Mục Châu Lục
trong thập niên 1990 diễn ra vào thời gian sửa soạn mừng Đại Năm
Thánh 2000.
Thượng Nghị Giám Mục có thể được coi là một tiểu Công Đồng Chung
định kỳ, được triệu tập để cập nhật hóa Giáo Hội trong thế giới
ngày nay, qua việc hàng giáo phẩm hiệp thông bàn định về một chủ
đề hợp thời của Giáo Hội hiện thế. Nếu chủ đề của Thượng Nghị
Giám Mục Thế Giới thường lệ XI là Ḿnh Chúa, là Thánh Thể, một
thượng nghị được triệu tập bởi vị Giáo Hoàng totus tuus của Ḷng
Thương Xót Chúa Gioan Phaolô II, th́ chủ đề của Thượng Nghị Giám
Mục Thế Giới thường lệ XII, được triệu tập lần đầu tiên bởi vị
đương kim Giáo Hoàng thần học gia Biển Đức XVI là Lời Chúa. Giáo
Hội ở Việt Nam chẳng những đă đi theo sát chiều hướng của Giáo
Hội mà c̣n đi trước nữa là đằng khác. Ở chỗ, ngay sau Năm Thánh
Thể 2004-2005, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă kêu gọi tín hữu
Công Giáo Việt Nam “Sống Lời Chúa” từ năm 2006.
Chủ đề của các kỳ họp Hội Đồng Giám Mục Thế Giới hay của các
cuộc họp đặc biệt Hội Đồng Giám Mục Các Châu này đă hiển nhiên
nói lên đường hướng chủ yếu
của Công Đồng Chung Vaticanô II, một đường hướng chủ yếu được
thể hiện rơ ràng qua hai văn kiện chính yếu về Giáo Hội, đó là
Hiến Chế tín lư về thân mệnh của Giáo Hội, “Ánh Sáng Muôn Dân
– Lumen Gentium”, và Hiến Chế mục vụ về sứ mệnh của Giáo Hội
trong thế giới hiện đại, “Vui Mừng và Hy Vọng – Gaudium et
Spes”. Căn cứ vào 16 văn kiện của Công Đồng Chung Vaticanô
II (4 Hiến Chế , 10 Sắc Lệnh và 2 Tuyên Ngôn về đủ mọi đề tài
thiết yếu và nồng cốt) và các chủ đề được chọn theo gịng thời
gian cho từng thời điểm của những cuộc Thượng Nghị Giám Mục Thế
Giới (và Châu Lục), có thể nói, Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới (và
Châu Lục) hậu Công Đồng Chung Vaticanô II, một biến cố được bắt
nguồn từ Công Đồng Chung Vaticanô II, là để áp dụng và hoàn trọn
giáo huấn sâu xa bao rộng và tinh thần hiệp thông dấn thân của
Công Đồng Vaticanô II.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 1,
29/9-29/10-1967, về việc bảo tŕ và kiên cường đức tin Công Giáo
: chuyên chính, năng lực, phát triển cùng sự nối kết của đức tin
Công Giáo giữa tín điều và lịch sử.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp ngoại lệ thứ nhất,
11-28/10/1969, về bản chất và ư nghĩa của giáo phẩm đoàn, về mối
liên hệ của giám mục và hội đồng giám mục với giáo hoàng cũng
như với nhau.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 2,
30/9-6/11/1971, về các vị tư tế thừa tác và sự chính trực trong
thế giới.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 3,
29/9-26/10/1974, về việc truyền bá Phúc Âm hóa trong thế giới
tân tiến, được đúc kết trong tông huấn Evangelii Nuntiandi
do Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành ngày 8-12-1975.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 4,
30/9-29/10/1977, về việc dạy giáo lư trong thời đại của chúng ta,
được đúc kết trong tông huấn Catechesi Tradendae do Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 16-10-1979.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 5,
26/9-25/10/1980, về vai tṛ của gia đ́nh Kitô hữu trong thế giới
tân tiến, được đúc kết trong tông huấn Familiario Consortio
do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô ban hành ngày
22-11-1981.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 6,
29/9-29/10/1983, về việc ḥa giải và thống hối trong sứ mệnh của
Giáo Hội hôm nay, được đúc kết trong tông huấn Reconciliatio
et Paenitenlia do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành
ngày 2-12-1984.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp ngoại lệ thứ hai,
24/11-8/12/1985, về Công Đồng Vaticanô II, trong việc thẩm định
sự áp dụng của Công Đồng 20 năm qua, cũng như trong việc t́m
cách phát động sự canh tân trong Giáo Hội theo tinh thần và văn
tự của Công Đồng.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 7,
1-30/10/1987, về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội
và thế giới, được đúc kết trong tông huấn Christifideles
Laici do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày
20-12-1988.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 8,
30/9-28/10/1990, về việc đào tạo linh mục trong các hoàn cảnh
của ngày hôm nay, được đúc kết trong tông huấn Pastores Dabo
Vobis do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày
25-3-1992.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 9,
2-29/10//1994, về đời tận hiến và sứ mệnh của nó trong Giáo Hội
và trong thế giới, được đúc kết trong tông huấn Vita
Consecrata do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày
25-3-1996.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ thứ 10 diễn ra
vào thời khoảng 30/9-27/10/2001 với mục tiêu nhắm đến giới c̣n
lại là hàng giáo phẩm, bàn về chủ đề là "Giám mục: Tôi tớ của
Phúc Âm Chúa Giêsu đối với niềm hy vọng của Thế Giới", được
đúc kết trong tông huấn Pastores Gregis do Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II ban hành ngày 16/10/2003.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ lần thứ XI vào
thời khoảng 2-23/10/2005 với chủ đề “Thánh Thể là nguồn mạch
và là tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của Giáo Hội”, và được
ĐTC Biển Đức XVI đúc kết trong Tông Huấn. "Sacramentum
caritatis – Bí Tích yêu thương"
ngày 22/2/2007.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới kỳ họp thường lệ XII vào thời
khoảng 5-26/10/2008, với chủ đề “Lời Chúa trong đời sống và
sứ vụ của Giáo Hội”.
Thượng Nghị Giám Mục Các Châu Lục, nhất là trong thời đoạn Giáo
Hội toàn cầu đang long trọng dọn mừng Đại Năm Thánh 2000 cũng đă
bàn định đặc biệt đến những chủ đề liên quan chẳng những tới
Kitô học mà c̣n tới sứ vụ truyền giáo như sau:
Thượng Nghị Giám Mục Âu Châu, đáp lời kêu gọi của Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II, đă diễn ra tại Rôma từ ngày 28-11 đến 14-12 năm
1991, tức theo sau Biến Cố Đông Âu sụp đổ năm 1989 và ngay trước
biến cố Nước Nga trở lại ngày 25-12-1991, để lợi dụng t́nh trạng
sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản bàn về vai tṛ Kitô giáo trong
tương lai của Âu Châu cũng như về vai tṛ tác hiệu của Giáo Hội
Công Giáo trong việc h́nh thành một trật tự xă hội chân chính.
Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu nhóm họp tại Rôma vào ngày
10/4-8/5/1994 với chủ đề "Giáo Hội ở Phi Châu với sứ mệnh
truyền bá Phúc Âm hướng về năm 2000: 'Các con sẽ là nhân chứng
của Thày'", được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong
tông huấn Ecclesia in Africa ban hành ngày 14-9-1995, dịp
ngài thăm Phi Châu.
Thượng Nghị Giám Mục Mỹ Châu nhóm họp tại Rôma vào ngày
16/11-12/12/1997, với chủ đề "Gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô hằng
sống: Con đường dẫn đến Hối Cải, Hiệp Thông và Đoàn Kết",
được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn
Ecclesia in America ban hành tại Mexicô City ngày 22-1-1999,
dịp ngài thăm Mỹ Châu.
Thượng Nghị Giám Mục Á Châu nhóm họp tại Rôma vào ngày
19/4-14/5/1998, từ ngày 19-4 đến 14-5, với chủ đề "Chúa Giêsu
Kitô Cứu Thế với Sứ Mệnh Yêu Thương và Phục Vụ của Người ở Á
Châu" được đúc kết trong tông huấn Ecclesia in Asia
do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 6-11-1999.
Thượng Nghị Giám Mục Đại Dương Châu nhóm họp tại Rôma vào ngày
23/11-12/12/1998, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô và nhân dân Đại
Dương Châu - 'Đi Con Đường của Người, nói Sự Thật của Người và
sống Sự Sống của Người'", được đúc kết trong tông huấn
Ecclesia in Oceania do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban
hành ngày 22-11-2001.
Thượng Nghị Giám Mục Âu Châu nhóm họp lần thứ hai vào thời
khoảng 1-23/10/1999 tại Rôma, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô vẫn
sống nơi Giáo Hội, Nguồn Mạch Hy Vọng cho Châu Âu", được đúc
kết trong tông huấn Ecclesia in Europe do Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II ban hành ngày 28-6-2003.
Có thể nói, tất cả các hoạt động của Giáo Hội từ đầu tới nay,
điển h́nh là từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II, hiển nhiên nhất
từ giáo triều của Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng đă đưa Giáo
Hội “vượt qua ngưỡng cửa hy vọng” là Đại Năm Thánh 2000, và là
vị Giáo Hoàng, trong Tông Thư Mở Màn Cho Một Tân Thiên Kỷ (khoản
1) ngày 6/1/2001, đă nhấn mạnh đến chiều hướng “thả lưới ở
chỗ nước sâu – Duc in altum” (Lk 5:4) của Giáo Hội trong
ngàn năm thứ ba là chiều hướng vừa có tính chất nội tâm vừa
truyền giáo, một chiều hướng sống thánh chứng nhân, đúng như
chiều hướng Công Đồng Chung Vaticanô II, qua hai Hiến Chế nồng
cốt của Công Đồng với ước nguyện Giáo Hội là “Ánh Sáng Muôn
Dân” để có thể mang “Vui Mừng và Hy Vọng” đến cho thế
giới tân tiến hiện đại.
Thượng
Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI năm 2005 về Thánh Thể, và
đặc biệt
Thượng
Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII 2008 về Lời Chúa, thực sự
không phải là tác động của Giáo Hội hoàn vũ muốn “thả lưới ở chỗ
nước sâu – duc in altum” hay sao, nhất là trong Năm Thánh Phaolô
(2008-2009), Vị Tông Đồ Dân Ngoại!?!
Kinh Cầu cho Thượng
Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cha đă truyền cho chúng con phải lắng
nghe như Con yêu dấu của Ngài, đă chiếu giăi ánh sáng của Chúa
trên Giáo Hội Chúa, nhờ đó Giáo Hội trở nên thánh thiện hơn nhờ
lắng nghe tiếng của Chúa và bước theo Chúa. Chúa là vị Mục Tử
Tối Cao và là vị Chủ Trị Các Linh Hồn. Xin Chúa hăy nh́n đến các
vị Mục Tử của Giáo Hội qui tụ lại với vị Thừa Kế Thánh Phêrô
tham d75 thượng nghị vào những ngày này. Chúng con nài xin Chúa
hăy thánh hóa các vị trong chân lư và củng cố các vị trong đức
tin và đức mến.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin Chúa hăy sai Thần Linh yêu thương và
chân lư của Chúa đến với các vị giám mục tham dự thượng nghị
cũng như đến với tất cả những ai hỗ trợ các vị để hoàn trọn công
việc của các vị. Xin hăy làm cho các vị trung thành hơn với
những ǵ được Thần Linh đang nói cùng các Giáo Hội; xin hăy
khuấy động tâm hồn của các vị và dạy các vị chân lư bởi cùng vị
Thánh Thần ấy. Qua việc làm của các vị, chớ ǵ tín hữu thuộc các
Giáo Hội của các vị được thanh tẩy và kiên cường trong tinh thần,
nhờ đó họ càng sống Phúc Âm là những ǵ nhờ đó Chúa đă hoàn tất
ơn cứu độ và cũng nhờ đó họ làm cho ḿnh trở thành một lễ hiến
dâng sống động lên Cha trên trời.
Xin Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa Rất Thánh và là Mẹ của Giáo Hội, trợ
giúp các vị Giám Mục trong những ngày này, như Mẹ đă trợ giúp
các vị Tông Đồ ở Căn Thượng Lầu, và bằng ḷng cảm mến từ mẫu, Mẹ
chuyển cầu cho việc duy tŕ mối hiệp thông huynh đệ giữa các vị,
giúp các vị biết hoan hưởng sự tĩnh lặng dồi dào và an b́nh
trong những ngày này, và ư thức những dấu chỉ thời đại, các vị
cử hành sự uy nghi của Vị Thiên Chúa nhân hậu xót thương, Vị
Chúa của Lịch Sử, để chúc tụng và tôn vinh Ba Ngôi Chí Thánh là
Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được
Zenit phổ biến ngày 5/10/2008
|
|
|
"Khi
Thiên Chúa nói th́ Ngài bao giờ cũng muốn được đáp ứng"
ĐTC Biển Đức XVI – Bài Giảng Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế
Giới Thường Lệ XII tại Đền Thờ Thánh Phêrô Ngoại Thành Chúa Nhật
5/10/2008
Quí
Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh
Chị Em thân mến!
Bài
đọc 1 hôm nay, được trích từ sách Tiên Tri Isaia, như đoạn từ
Phúc Âm theo Thánh Mathêu, đă nêu lên một h́nh ảnh biểu tượng
gợi ư về Thánh Kinh cho cộng đồng phụng vụ của chúng ta đây, đó
là h́nh ảnh vườn nho, một h́nh ảnh chúng ta đă nghe trong các
Chúa Nhật vừa qua. Đoạn khởi đầu về câu truyện Phúc Âm này liên
quan tới ‘ca vịnh về vườn nho’ chúng ta thấy trong sách Tiên Tri
Isaia. Đây là một bài ca vịnh được đặt trong bối cảnh thu hoạch
mùa thu: một kiệt tác của thi ca Do Thái, một kiệt tác cần phải
được những ai lắng nghe Chúa Giêsu hết sức quen thuộc, một bài
ca vịnh mà từ đó, như từ các đoạn khác của các vị Tiên Tri (cf.
Hos 10:1; Jr 2:21; Ez 17:3-10, 19:10-14; Ps. 79:9-17), chúng ta
biết được rằng vườn nho này là Do Thái. Thiên Chúa đă vẫn tỏ ra
chăm sóc vườn nho của Ngài, chăm sóc dân tuyển chọn của Ngài,
như một người chồng trung thành với vợ của ḿnh (Cf. Ez 16:1-14,
Eph 5:25-33).
H́nh
ảnh này về vườn nho, cùng với h́nh ảnh về hôn nhân, bởi thế, là
những ǵ diễn tả cho thấy dự án cứu độ thần linh, và được thấy
như là một biểu tượng cảm kích cho Giao Ước của Thiên Chúa với
dân của Ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đă sử dụng bài ca vịnh
này của Tiên Tri Isaia, thế nhưng áp dụng nó vào trường hợp của
những ai đang lắng nghe Người bấy giờ cũng như vào giờ khắc mới
của lịch sử cứu độ. Cái nhấn mạnh ở đây không c̣n ở nơi vườn nho
nữa mà là nơi thành phần tá điền, thành phần bị ‘những người tôi
tớ’ của ông chủ thay ông đ̣i tiền thuê mướn. Tuy nhiên thành
phần tôi tớ này đă bị đối xử thậm tệ và thậm chí c̣n bị sát hại
nữa. Ở đây làm sao chúng ta lại không nghĩ đến những biến cố này
của thành phần dân tuyển chọn và nghĩ đến số phận đang đợi chờ
những vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến chứ? Cuối cùng, chủ
vườn nho cố gắng lần cuối cuối, bằng cách sai con của ḿnh, tin
rằng ít là họ cũng sẽ lắng nghe người con ấy. Tuy nhiên, lại xẩy
ra ngược hẳn, ở chỗ, thành phần tá điền đă giết cả người con ấy
chỉ v́ là hắn là con, là kẻ thừa kế, với ư định là nhờ đó họ có
thể dễ dàng chiếm hữu vườn nho. Như thế, từ bài ca vịnh này của
Tiên Tri Isaia này, chúng ta chạm trán với một cái nhẩy vọt về
phẩm chất liên quan tới sự cáo trạng về vấn đề vi phạm đến đức
công bằng xă hội xuất phát. Ở đây chúng ta có thể rơ ràng thấy
được rằng lệnh truyền của ông chủ bị khinh thường là chừng nào
khi nó bị biến thành một thứ miệt thị ông: đó không phải chỉ là
một thứ bất tuân thuần túy đối với chỉ thị thần linh, đó là một
thái độ thực sự và thật t́nh loại trừ Thiên Chúa, những ǵ tỏ
hiện nơi mầu nhiệm Thập Giá.
Những
ǵ được vạch trần ra nơi đoạn Phúc Âm này là những ǵ thách thức
cách thức suy nghĩ và tác hành của chúng ta. Nó chẳng những nói
đến ‘giờ khắc’ của Chúa Kitô, của mầu nhiệm Thập Giá vào lúc ấy,
mà c̣n đến sự hiện diện của Thập Giá ở mọi nơi mọi lúc. Nó đặc
biệt thách thức thành phần đă lănh nhận việc loan báo Phúc Âm.
Nếu chúng ta nh́n vào lịch sử, chúng ta không thể nào không nhận
thấy thái độ thường lạnh lùng và phản chống của những Kitô hữu
hững hờ không tha thiết. V́ thế mà Thiên Chúa, Đấng không bao
giờ trốn lánh lời hứa hẹn cứu độ của ḿnh, thường phải sử dụng
đến h́nh phạt. Theo chiều hướng ấy tự nhiên chúng ta nghĩ đến
việc loan báo Phúc Âm tiên khởi, một việc đă làm xuất hiện các
cộng đồng Kitô hữu triển nở lúc đầu, để rồi biến mất, chỉ c̣n
được nhớ đến trong sử sách ngày nay. T́nh trạng tương tự này đă
không thể xẩy ra trong thời đại của chúng ta hay sao? Ngày
nay, có những quốc gia một thời phong phú về đức tin và ơn thiên
triệu hiện đang mất đi căn tính của ḿnh, dưới ảnh hưởng tai hại
và hủy hoại của một nền văn hóa tân tiến nào đó. Có những người,
cho rằng ‘Thiên Chúa đă chết’, liên xưng ḿnh là ‘chúa tể’, tin
rằng ḿnh là tạo hóa duy nhất cho định mệnh của ḿnh, là chủ
nhân ông tối thượng của thế giới này. Muốn thoát
ly khỏi Thiên Chúa và không đợi chờ ơn cứu độ của Ngài, Con
Người tin rằng họ có thể làm những ǵ họ thích và là quan án duy
nhất cho bản thân họ và các hành động của họ. Thế nhưng phải
chăng con người thực sự cảm thấy hạnh phúc hơn nếu họ loại trừ
Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của họ, nếu họ tuyên bố rằng Thiên
Chúa ‘đă chết’? Khi con người tuyên bố ḿnh là chủ nhân ông tối
thượng của bản thân ḿnh và là thành phần chủ tể duy nhất của
thiên nhiên tạo vật, th́ phải chăng họ thực sự có thể cấu tạo
nên một xă hội tự do, công lư và an b́nh hay chăng? Không phải
lại càng có thể xẩy ra – như được chứng tỏ cho thấy ở những đầu
đề tin tức hằng ngày – là cái qui luật độc đoán chuyên chế của
quyền lực, của các thứ tư lợi vị kỷ, của bất công và khai thác,
của bạo động ở mọi h́nh thức, sẽ là những ǵ xiết chặt lấy họ
hơn? Sau hết, cái tận cùng con người đạt tới đó là cảm thấy ḿnh
càng đơn độc hơn và xă hội càng phân rẽ và lộn xộn hơn.
Thế
nhưng, trong những ǵ Chúa Giêsu nói có một lời hứa hẹn,
đó là vườn nho sẽ không bị hủy diệt. Trong khi chủ
nhân loại trừ thành phần tá điền bất trung theo số phận của họ
th́ ông lại không loại bỏ vườn nho của ḿnh và ông kư thác nó
cho thành phần tá điền trung thành. Những ǵ được tỏ hiện ở đây
là trong một số miền đức tin bị yếu kém đức tin đến độ biến mất
th́ bao giờ cũng có những người khác sẵn sàng chấp nhận nó.
Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu, qua việc trích dẫn Thánh
Vịnh 117 (118): ‘Viên đá bị thợ xây loại bỏ đă trở nên tảng đá
nền’ (v.22), đă bảo đảm với chúng ta rằng cái chết
của Người không phải là những ǵ tiêu biểu cho việc thua bại của
Thiên Chúa. Cho dù bị sát hại, Người cũng sẽ không ở lại trong
mồ, trái lại, cái có vẻ hoàn toàn thua bại ấy sẽ là những ǵ
đánh dấu khởi điểm cho một cuộc vĩnh viễn vinh thắng.
Cuộc khổ nạn rùng rợn và cái chết của Người trên thập giá sẽ
được tiếp nối bởi vinh quang Phục Sinh. Vườn nho bởi thế
sẽ tiếp tục sản sinh những trái nho và sẽ được người chủ vườn
‘cho những người tá điền khác thuê để mang lại hoa lợi đúng mùa
cho ông’ (Mt 21:41).
H́nh
ảnh vườn nho với những hàm nghĩa về luân lư, tín lư và tu đức
của nó sẽ lại tái hiện trong một lời nói ở Bữa Tiệc Ly, lúc Chúa
Giêsu trong khi từ giă các vị Tông Đồ sẽ nói rằng: ‘Thày là cây
nho và Cha Thày là người trồng nho. Cành nào ở nơi Thày không
sinh hoa kết trái sẽ bị Ngài cắt bỏ, và cành nào sinh trái th́
Ngài cắt tỉa cho nó càng sinh trái hơn’ (Jn 15:1-2). Khởi đi từ
biến cố Phục Sinh, lịch sử cứu độ sẽ trải quan một khúc quanh
quan trọng, và thành phần đóng vai chính sẽ là ‘những người tá
điền khác’, những người, được gieo trồng như những hạt giống
được tuyển chọn trong Chúa Kitô, cây nho đích thực, sẽ sinh hoa
kết trái dồi dào trong sự sống trường sinh (cf Lời Nguyện Mở Đầu).
Cả chúng ta nữa cũng thuộc về những ‘tay tá điền’ này, được tháp
nhập vào Chúa Kitô là Đấng đích thân muốn trở nên ‘cây nho đích
thực’. Chúng ta hăy cầu nguyện để Chúa là Đấng đă ban cho chúng
ta Máu của Người nơi Thánh Thể, sẽ giúp chúng ta ‘sinh hoa kết
trái’ cho sự sống trường sinh cũng như cho thời đại của chúng ta
đây.
Sứ
điệp an ủi chúng ta gom góp từ những bài Thánh Kinh này đó là
niềm tin tưởng rằng sự dữ và sự chết không phải là phán
quyết cuối cùng, mà là Chúa Kitô là Đấng cuối cùng sẽ thắng.
Bao giờ cũng thế! Giáo Hội sẽ không bao giờ ngừng loan báo Tin
Mừng này, như đang thực hiện hôm nay đây, trong ngôi đền thờ
cung hiến cho Vị Tông Đồ Dân Ngoại là vị tiên khởi truyền bá
Phúc Âm ở một vùng rộng lớn Tiểu Á và Âu Châu. Chúng ta sẽ làm
mới lại sứ điệp này một cách có ư nghĩa trong Hội Đồng Thường Lệ
XII của Thượng Nghị Giám Mục mang chủ đề ‘Lời Chúa trong Đời
Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội’. (ĐTC ngỏ lời chào các thành phần
tham dự và đặc biệt cám ơn vị tổng thư kư của biến cố này).
Khi Thiên Chúa nói th́ Ngài bao giờ cũng muốn được đáp ứng;
tác động cứu độ của Ngài cần đến việc cộng tác của con người;
t́nh yêu của Ngài đang đợi chờ đáp ứng. Anh chị em thân
mến, những ǵ không bao giờ được xẩy ra là những ǵ bài thánh
kinh tŕnh thuật khi nói về vườn nho: ‘Ngài mong nó sinh ra
những trái nho tốt th́ nó lại chỉ sinh toàn những trái nho dại’
(cf. Is 5:2). Chỉ có lời Chúa mới có thể làm thay đổi tâm
can của con người, và v́ thế mà cả cá nhân tín hữu lẫn công đồng
cần phải càng ngày càng thấm thía lời Chúa hơn. Thượng
Nghị Giám Mục này sẽ chú trọng tới sự thật làm nền tảng cho đời
sống và sứ vụ của Giáo Hội ấy. Đối với Giáo Hội th́ việc nuôi
dưỡng ḿnh bằng Lời Chúa là trách nhiệm trước hết và trọng yếu.
Thật vậy, nếu việc loan truyền Phúc Âm làm nên lư do hiện
hữu và sứ vụ của ḿnh, th́ Giáo Hội không thể nào không hiểu
biết và sống những ǵ Giáo Hội loan truyền, nhờ đó việc rao
giảng của Giáo Hội mới khả tín, bất chấp những hèn yếu và nghèo
nàn nơi các chi thể của Giáo Hội. Ngoài ra, chúng ta
cũng biết rằng việc loan truyền Lời Chúa, nơi học đường
Chúa Kitô, chất chứa nội dung về Vương Quốc Thiên Chúa (cf
Mk 1:14-15), thế nhưng Vương Quốc Thiên Chúa là chính bản
thân của Chúa Giêsu, Đấng bằng lời nói và việc làm cống hiến ơn
cứu độ cho con người thuộc mọi thời đại. Về vấn đề này
Thánh Giêrônimô suy niệm rất hay: ‘Nếu ai không biết Thánh Kinh
là không biết quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa, th́ không
biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô vậy’
(Prologue of the
commentary on Isaiah: n. 1, CCL 73, 1).
Trong Năm Thánh
Phaolô này, chúng ta nghe thấy tiếng kêu của vị Tông Đồ cho Dân
Ngoại này vang vọng một cách đặc biệt khẩn trương: ‘Khốn cho tôi
nếu tôi không rao giảng Phúc Âm!’ (1Cor 9:16): một tiếng kêu đối
với hết mọi Kitô hữu trở thành một lời mời gọi thôi thúc trong
việc phục vụ Chúa Kitô. ‘Mùa màng th́ bề bộn’ (Mt 9:37), Vị Thày
Thần Linh vẫn c̣n lập lại điều này hôm nay đây: c̣n quá
nhiều người vẫn chưa biết đến Người và đang đợi chờ việc loan
báo tiên khởi về Phúc Âm; những người khác, cho dù đă được dạy
dỗ theo Kitô giáo, đă không c̣n nhiệt tâm và liên hệ hời hợt với
Lời Chúa; tuy nhiên, có những người xa rời việc sống đức tin và
cần đến một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa. Thế rồi có nhiều
người lành mạnh trí khôn tự hỏi về những vấn đề thiết yếu liên
quan tới ư nghĩa của sự sống và sự chết, những vấn nạn mà chỉ có
Chúa Kitô mới có những giải đáp thỏa đáng mà thôi. Bởi thế, Kitô
hữu ở mọi châu lục không thể nào không sẵn sàng để trả lời cho
những ai hỏi họ về niềm hy vọng ở nơi họ (cf 1Pt 3:15),
bằng việc hoan hỉ loan truyền Lời Chúa và sống Phúc Âm một
cách chuyên chính.
Quí Huynh khả kính
và thân mến, xin Chúa giúp chúng ta cùng nhau tự vấn trong những
tuần hoạt động tới của Thượng Nghị, về việc làm thế nào để càng
ngày càng loan truyền Phúc Âm cách hữu hiệu trong thời đại của
chúng ta. Tất cả chúng ta đều biết là cần thiết biết bao trong
việc làm cho Lời Chúa trở thành tâm điểm của đời sống chúng ta,
trong việc đón nhận Chúa Kitô như là Đấng Cứu Chuộc duy nhất của
chúng ta, như là Vương Quốc Thiên Chúa hiện thân, trong việc bảo
đảm rằng ánh sáng của Người có thể sáng soi hết mọi tầng lớp
nhân loại: từ gia đ́nh đến trường học, đến văn hóa, đến công
việc, đến thời gian rỗi răi và đến những lănh vực khác trong xă
hội và đời sống của chúng ta. Khi tham dự vào việc cử hành Thánh
Thể, chúng ta bao giờ cũng nhận thấy cái liên hệ chặt chẽ giữa
việc loan truyền Lời Chúa và hy tế Thánh Thể: đó là chính Mầu
Nhiệm được hiến cho chúng ta chiêm ngưỡng. Đó là lư do tại sao
‘Giáo Hội’, như Công Đồng Chung Vaticanô II nhấn mạnh, ‘đă luôn
tôn kính Thánh Kinh như tôn kính Ḿnh Chúa, như Giáo Hội đă
không bao giờ ngừng cho tới nay, nhất là trong phụng vụ thánh để
tham hưởng bánh sự sống và cống hiến bánh này cho tín hữu từ bàn
tiệc Lời Chúa và Ḿnh Chúa Kitô’ (Dei Verbum, 21). Công Đồng này
đă có lư để kết luận là ‘như đời sống của Giáo Hội được gia tăng
từ việc liên lỉ tham dự vào mầu nhiệm Thánh Thể thế nào th́ cũng
có một tác lực mới của đời sống thiêng liêng phát xuất từ việc
gia tăng tôn kính Lời Chúa là những ǵ ‘vĩnh tồn’ (Dei Verbum,
26).
Xin Chúa giúp để
chúng ta tin tưởng tiến đến bàn tiệc Ḿnh Thánh và Máu Thánh
Chúa Kitô. Xin Mẹ Maria Rất Thánh, vị ‘đă giữ tất cả những điều
ấy mà suy niệm trong ḷng’ (Lk 2:19) ban cho chúng ta ơn này.
Chớ ǵ Mẹ dạy cho chúng ta biết lắng nghe Thánh Kinh và suy niệm
Thánh Kinh trong một tiến tŕnh nội tâm chín chắn là tiến tŕnh
không bao giờ phân rẽ trí khôn khỏi ḷng muốn. Chớ ǵ các Thánh
đến giúp chúng ta, đặc biệt là Thánh Phaolô, vị mà trong năm nay
chúng ta đang càng ngày càng nhận thấy là một chứng nhân anh
dũng và là vị rao iảng Lời Chúa. Amen!
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu
của Ṭa Thánh
(những chỗ được
in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật
những điểm chính yếu quan trọng)
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20081005_apertura-sinodo_en.html
|
|
|
Về Các Thượng Nghị Giám Mục Thế
Giới.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Nguyện Kinh Truyền Tin Chúa
Nhật 5/10/2008
Anh Chị Em thân mến!
Sáng nay, Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới đă được khai mạc bằng
việc cử hành Thánh Lễ ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành. Thượng
Nghị này sẽ được diễn tiến ở Vatican với đề tài ‘Lời Chúa trong
Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội’.
Anh chị em biết đă biết về giá trị và phận vụ của hội nghị đặc
biệt của các vị giám mục này, những vị được đặc biệt chọn để làm
đại diện cho toàn thể hàng giáo phẩm và được triệu tập để hữu
hiệu trợ giúp cho vị Thừa Kế Thánh Phêrô, bằng cách vừa bày tỏ
vừa củng cố mối hiệp thông của Giáo Hội. Đây là một tổ chức quan
trọng, được thiết lập bởi vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đầy
Tớ Chúa Phaolô VI, qua bức tông thư ‘Apostalica Sollicitudo’ của
ngài, trong giai đoạn cuối của Công Đồng Chung Vaticanô II, để
hiện thực một chỉ thị trong sắc lệnh ‘Christus Dominus’ (cf. số
5) của Công Đồng này về vai tṛ của các vị giám mục.
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới nhắm đến mục đích duy tŕ mối hiệp
nhất và hợp tác giữa Giáo Hoàng và các vị giám mục trên toàn thế
giới, đến việc cung cấp chiều hướng và kiến thức xác thực về
t́nh h́nh và những vấn đề của Giáo Hội, đến việc duy tŕ sự đồng
thuận về tín lư và hoạt động mục vụ, cũng như đến việc cứu xét
những đề tài có tầm vóc đặc biệt quan trọng và thích hợp hiện
đại. Những công việc khác nhau này được điều hợp bởi văn pḥng
thư kư thường trực, một văn pḥng hoạt động trực tiếp và trực
thuộc thẩm quyền của Đức Giám Mục Rôma.
Các cuộc thượng nghị này có tính cách cấu tạo của Giáo Hội:
chúng là biến cố qui tụ lại từ hết mọi dân nước và văn hóa để
nên một trong Chúa Kitô; chúng là việc cùng nhau tiến bước theo
Đấng phán ‘Thày là đường, là sự thật và là sự sống’ (Jn 14:6).
Thật vậy, tiếng Hy Lạp ‘sưnodos’ là chữ được cấu tạo bởi tiền
ngữ ‘syn’ tức là ‘với’, và ‘oḍs’ nghĩa là ‘đường’, hàm ư là
‘cùng nhau đi trên một con đường’, và điều này thực sự là cảm
nghiệm của dân Chúa trong lịch sử cứu độ.
Tôi đă muốn cuộc thượng nghị giám mục thế giới thường niên đây –
sau khi t́m kiếm và nhận được những ư kiến ưu thế về vấn đề này
– nghiên cứu sâu xa và theo quan điểm mục vụ lời Chúa trong đời
sống và sứ vụ của Giáo Hội. Các Giáo Hội riêng khắp thế giới đă
tham dự đặc biệt vào giai đoạn sửa soạn, khi gửi những đóng góp
của ḿnh về văn pḥng đặc trách Thượng Nghị này, văn pḥng soạn
thảo bản ’instrumentum laboris’ là văn kiện sẽ được xem xét bởi
253 vị nghị phụ: 51 từ Phi Châu, 62 từ Mỹ Châu, 41 từ Á Châu, 80
tưừÂu Châu và 9 từ Đại Dương Châu. (Biệt chú thêm của người
dịch bản Việt ngữ này: Hôm Thứ Sáu 3/10/2008, vị giám mục
tổng thư kư c̣n cho biết thêm con số tỉ lệ là 72.3% là các vị
nghị phụ được tuyển chọn, 12.6% vị được ĐTC chỉ định. Trong số
thành phần nghị phụ có 8 Thượng Phụ, 52 Hồng Y, 81 Tổng Giám Mục
và 130 Giám Mục. Nếu tính theo các cơ cấu th́ có 10 vị Lănh Đạo
Chư Giáo Hội Tây Phương, 30 vị chủ tịch hội đồng giám mục, 24 vị
lănh đạo các phân bộ của Ṭa Thánh, 185 vị giám mục bản quyền và
17 vị giám mục phụ tá. Vị nghị phụ già nhất là 88 tuổi là
Đức Thượng Phụ ở Antioch lễ nghi Maronites là ĐHY Pierre
Nasrallah Sfeir, và vị trẻ nhất 39 tuổi là Đức Ông Anton
Leichtfried, giám mục phụ tá ở Sankt Polten, Áo quốc). Nhiều
chuyên gia và dự thính viên, những con người nam nữ, ‘các vị đại
biểu huynh đệ’ từ các Giáo Hội và những cộng đồng giáo hội, cùng
các vị được đặc biệt mời khác.
Anh chị em thân mến, tôi mời gọi tất cả anh chị em hăy hỗ trợ
hoạt động của thượng nghị này bằng lời nguyện cầu của anh chị em,
nhất là kêu cầu việc chuyển cầu từ mẫu của Trinh Nữ Maria, người
môn đệ tuyệt hảo của Lời thần linh.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được
Zenit phổ biến ngày 5/10/2008 |
|
|
“Ư Nghĩa
và Vị
Thế của
Thánh Kinh nơi
Do Thái giáo và truyền
thống
Nguyện
Cầu
của
chúng tôi, nơi
việc
tôn thờ
Thiên Chúa cũng
như
nơi
vai tṛ lănh
đạo
và giáo huấn
các cộng
đồng
của
chúng tôi”
Tôn Sư Trưởng
Do Thái Giáo Shear Yashuv Cohen
ở Haifa chia sẻ hôm Thứ Hai 6/10/2008 với
Thượng
Nghị
Giám Mục
Thế
Giới
Thường
Lệ
XII
Trọng kính Đức Thánh Cha,
Quí Hồng Y và Giám Mục,
Các Phần Tử trong Thượng Nghị Giám Mục,
Các Bạn thân mến!
Thật là một đặc ân và vinh dự hiếm thấy khi được mời đến với
cuộc Hội Nghị này như là một vị khách đặc biệt, đại diện cho Đức
Tin của người Do Thái và thay cho Hội Đồng Tôn Sư Trưởng Do Thái.
Tôi tin rằng đây là lần đầu tiên một vị Tôn Sư Do Thái được mời
đến ngỏ lời cùng một khóa họp chung của Thượng Nghị Giám Mục này.
Chúng tôi thật sự rất cảm kích trước ư nghĩa được chất chứa nơi
cử chỉ này. Đă từng xẩy ra một cuộc lịch sử lâu dài, khó khăn và
đau thương nơi mối liên hệ giữa dân tộc của chúng tôi, đức tin
của chúng tôi, với vai tṛ lănh đạo cùng tín đồ thuộc Giáo Hội
Công Giáo – một cuộc lịch sử huyết lệ. Tôi sâu xa cảm thấy rằng
việc tôi đứng trước quí vị đây là những ǵ rất có ư nghĩa. Nó là
dấu chỉ của niềm hy vọng và là sứ điệp yêu thương, sứ điệp chung
sống, sứ điệp ḥa b́nh cho thế hệ của chúng ta cũng như cho các
thế hệ mai sau.
Thật vậy, điều này tiếp tục một đường lối, được Đức Giáo Hoàng
Gioan XXIII khởi xướng, đạt đến tột đỉnh của ḿnh nơi đời sống
và hoạt động của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II – trong
chuyến viếng thăm lịch sử của ngài ở Thánh Địa. Chúng tôi thấy
nơi việc quí bạn mời tôi đến để tŕnh bày ở đây hôm nay lời quí
bạn tuyên bố rằng quí vị muốn tiếp tục chính sách và chủ trương
liên quan tới chúng tôi như là ‘Những Người Anh Tiền Bối’ và là
thành phần ‘Dân Tuyển Chọn của Thiên Chúa’, thành phần Ngài đă
thiết lập giao ước vĩnh viễn. Chúng tôi rất tri ân về lời tuyên
ngôn ấy.
Quí bạn thân mến, cá nhân tôi xin thêm là phải chăng những vị
lănh đạo và phần tử thuộc cộng đồng Công Giáo Saint Edigio đă
giới thiệu tôi về tinh thần Đại Kết mới mẻ này? Tôi đă được hân
hạnh thường xuyên tham dự vào những cuộc Họp Quốc Tế của họ được
tác động bởi tinh thần nguyện cầu nổi tiếng của Assisi. Trong
mấy thập niên qua, tôi cũng phục vụ với vai tṛ đồng chủ tịch
của Ủy Ban Song Phương giữa Hội Đồng Trưởng Tôn Sư Do Thái và
Ṭa Thánh, một ủy ban đang thực hiện một hoạt động tuyệt vời.
Tôi xin cám ơn Thiên Chúa là Đấng đă ǵn giữ chúng ta c̣n tồn
tại để sống với nhau và hoạt động cho một tương lai ḥa b́nh và
cho việc cùng nhau chung sống khắp nơi trên thế giới. Amen.
* * *
Tôi được yêu cầu nói về ư nghĩa và vị thế của Thánh Kinh nơi Do
Thái giáo và truyền thống nguyện cầu của chúng tôi, nơi việc tôn
thờ Thiên Chúa cũng như nơi vai tṛ lănh đạo và giáo huấn các
cộng đồng của chúng tôi.
Tôi sẽ bắt đầu bằng việc vắn tắt nói về vị thế chính yếu của
Thánh Kinh trong việc thực hành Đạo Giáo của người Do Thái. Ở
hết mọi Hội Đường trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào thực hiện
việc nguyện cầu, ban sáng, ban trưa và ban tối, cũng như ở những
trường hợp đặc biệt – cộng đồng hướng về ‘Ḥm Thánh’ – được đặt
ở trước pḥng cầu nguyện, hướng về Ḥm Thánh này suốt cả buổi
nguyện cầu. Ḥm Thánh này là nơi đựng những cuộn ‘Torah Thánh’,
chẳng hạn, ‘Năm Cuốn Sách của Moisen’, được viết bằng tay, bởi
một vị kư lục chuyên nghiệp. Tối thiểu phải có một cuộn trọn vẹn
ở trong Ḥm Thánh này, và nó thường có một vài Cuộn Sách Thánh
ấy. Cuộn Sách theo h́nh thức của một Cuộn Sách Thánh này một là
được vây phủ bởi một mặt ḷ sưởi đẹp hay được đặt ở cái đế tṛn
được trang hoàng đặc biệt. Cuộn Sách Thánh được lấy ra khỏi Ḥm
Thánh bằng một nghi thức trịnh trọng và được mang đến Bục Giảng
Chính để dọc cho cộng đồng ba lần một tuần, với một bài hát đặc
biệt truyền thống. Khi được mang tới Bục Đọc, tất cả cộng đồng
đứng lên, và nhiều người hướng về tôn kính Cuộn Sách Thánh. Lễ
nghi này rất cảm kích.
Mọi người được kêu gọi đến với cuốn Torah để hôn kính trước khi
đọc lời chúc tụng – một lời chúc tụng đặc biệt – để tạ ơn Chúa
đă ban cho chúng ta Torah. Kết thúc phần đọc của ́nh, họ lại hôn
kính Torah lần nữa và đọc một lời chúc tụng khác. Cuộn Torah
Thánh là vật duy nhất được các người tôn thờ hôn kính trong giờ
cầu nguyện này. Khi đọc xong. ‘Cuộn Sách Luật’ thánh được giơ
lên cao cho cộng đồng thấy, và tất cả mọi người tôn thờ cung
kính cuí đầu mà nói: ‘Đó là Lời Chúa được Moisen là Thày của
chúng ta đề ra cho chúng ta’.
Không phải chỉ có ‘một phần của tuần lễ’ được đọc chung vào mỗi
Ngày Hưu Lễ từ Humash là Sách Ngũ Kinh mà thôi. Khi kết thúc
việc đọc Ngũ Kinh, có ít là 7 người trong cộng đồng được gọi lên
– người cuối cùng lập lại mấy câu cuối cùng của bài đọc Ngũ Kinh,
rồi đọc một chương theo các Tiên Tri liên quan tới phần của tuần
lễ. Thế rồi trước khi đọc một chương của Sách Các Tiên Tri lại
đọc một lời chúc tụng nữa, và kết thúc việc đọc các Vị Tiên Tri,
4 lời chúc tụng nữa được vang lên. Để dẫn chứng, tôi sẽ đọc chỉ
lời chúc tụng đầu tiên trong 4 lời Chúc tụng này, lời chúc tụng
ca ngợi và nhấn mạnh đến giá trị và tầm quan trọng của Lời Chúa.
‘Chúc tụng Chúa, Chúa là Thiên Chúa của chúng con, là Vua vũ trụ,
là Tảng Đá của toàn thế giới, Đấng công minh đối với tất cả mọi
thế hệ, Vị Thiên Chúa trung thành, Đấng phán truyền và thực hiện,
nói năng và hoàn tất, tất cả những lời của Chúa đều là chân lư
và chính trực. Chúa là Đấng trung thành, lạy Chúa là Thiên Chúa
của chúng con, và những lời của Chúa đều trung thực, không một
lời nào mà không nên trọn, v́ Chúa là Thiên Chúa, là một Đưc Vua
trung thành và cảm thương. Chúc tụng Chúa, lạy Chúa, Đấng Trung
Thành nơi tất cả những ǵ Ngài phán’ (cộng đồng thưa – Amen).
Thật vậy, đó là một dẫn chứng hay về tính cách quan trọng ra sao
và vai tṛ chính yếu của Lời Chúa nơi việc phục vụ và cầu nguyện
của chúng tôi. Tôi cần phải thêm là trong một năm có vài lần đọc
cả trong giờ phụng vụ này những bài giảng từ Các Bản Văn.
Khi chúng ta nói về Thánh Kinh là chúng ta nói đến Tanach là
những ǵ được cấu thành cuốn Torah, chẳng hạn như Năm Cuốn của
Moisen, cuốn Nevi’im hay các bản văn Tiên Tri, và cuốn Ketuvim
hay Những Bản Văn Thánh Thêm Thắt, cuốn Hagiographa. Tất cả
những cuốn này là nguồn và là cảm hứng của những lời chúng tôi
nguyện cầu và việc chúng tôi tôn thờ Thiên Chúa. Hết mọi người
trong chúng tôi, học thức cũng như b́nh dân, đều hào hứng học
hỏi những cuốn ấy, t́m hiểu những cuốn sách ấy và ấp ủ những
cuốn sách ấy trong tâm trí của ḿnh, cùng cảm nhận được giá trị
vĩnh viễn và tính cách thích hợp cho hết mọi thời đại của những
cuốn sách ấy.
Điều được tŕnh bày này về vai tṛ chính yếu của Thánh Kinh nơi
truyền thống của chúng tôi chắc chắn sẽ không đầy đủ nếu tôi
không tŕnh bày thêm cho biết là làm thế nào ngoài các Bài Đọc
của Sách Torah, Sách Các Tiên Tri cũng như Những Bản Văn là
trọng tâm cho Việc Phụng Tự của chúng tôi, việc nguyện cầu của
chúng tôi c̣n căn cứ vào những trích đoạn của Thánh Kinh nữa.
Chúng tôi cầu nguyện cùng Thiên Chúa bằng cách sử dụng những lời
của Ngài, v́ những lời ấy được Thánh Kinh truyền đạt cho chúng
tôi. Cũng thế, chúng tôi chúc tụng Ngài – cũng sử dụng những lời
của Ngài trong Thánh Kinh. Chúng tôi xin Ngài xót thương – khi
nhắc nhở đến những ǵ Ngài đă hứa cùng các vị tổ phụ của chúng
tôi và với chúng tôi. Tất cả việc Thờ Phượng của chúng tôi đều
dựa trên qui luật cổ xưa, như chúng tôi được truyền đạt từ các
vị Tôn Sư và Sư Phụ của chúng tôi: ‘Hăy dâng Ngài những ǵ của
Ngài, v́ anh em và những ǵ của anh em đều là của Ngài’.
Chúng tôi tin rằng cầu nguyện là ngôn ngữ của linh hồn trong mối
hiệp thông của nó với Thiên Chúa. Chúng tôi thành thực tin rằng
linh hồn của chúng tôi là của Ngài, được Ngài ban cho chúng tôi.
Mỗi sáng thức giấc, chúng tôi nói hay tôi phải nói rằng chúng
tôi cầu nguyện cùng Ngài bằng những lời tạ ơn: ‘Con cám ơn Chúa
là Vua hằng sống và vĩnh cửu v́ đă cao cả trung thành thương ban
lại cho con linh hồn của con’.
Sau khi rửa tay, nhiều người trong chúng tôi đă được dạy đọc
những câu Thánh Kinh sau đây:
1) “Đức khôn ngoan được bắt đầu bằng việc kính sợ Chúa, tất cả
những ai cho toàn (các huấn lệnh của Ngài) th́ có được một kiến
thức tốt đẹp; lời Ngài hứa hẹn là những ǵ vĩnh hằng” (Ps
111:10).
2) “Torah, cuốn sách được Moisen truyền dạy chúng ta, là gia sản
của cộng đồng Do Thái” (Deut. 33:4).
3) “Hỡi con, hăy lắng nghe những lời dẫn dụ của cha ḿnh và đừng
bỏ quên những lời giáo huấn của mẹ con” (Cách Ngôn 1:8).
Thời gian không cho phép tôi diễn tả thêm chi tiết về tất cả
những câu trích đoạn thánh kinh được lấy làm căn bản cho những
lời nguyện cầu của chúng tôi. Tôi chỉ cần đề cập tới việc tiến
đến và tiến vào Nhà Cầu Nguyện ban sáng – chúng tôi cần phải đọc
một số câu Thánh Kinh được ấn định và tiếp tục suốt buổi Phụng
Tự của ḿnh, đó là “Những Câu Chúc Tụng”, những chương được lựa
từ Các Bản Văn, nhất là từ Sách Thánh Vịnh mà ở vào đoạn kết
chúng tôi đọc “Bài Ca Biển Cả” (từ Sách Xuất Hành 14:30-15:19).
Đoạn tới “Những Lời Chúc Phúc của Shema được chúng tôi đọc trước
và sau bài đọc về những chương nổi tiếng của Sách Nhị Luật và
Dân Số, được mở đầu bằng câu ‘Ôi Yến Duyên, hăy lắng nghe, Chúa
là Thiên Chúa của chúng ta, Chúa là Dấng Duy Nhất”.
Tôi có thể tiếp tục hằng giờ để tŕnh bày về cách thức Sách Cầu
Nguyện của người Do Thái, cuốn Siddur – tiếng Do Thái này nghĩa
là “Cấp Trật” – được soạn dọn theo Thánh Kinh mà vẫn không mất
đi tính chất riêng tư và cảm xúc của cảm nghiệm nguyện cầu, của
những ǵ là tuyệt vời của lời chúc tụng Chúa, của niềm vui tri
ân cảm tạ, của cảm nghiệm xúc động của một tấm ḷng tan nát –
mong được thứ tha và đền bồi.
Tôi cần phải thêm là không phải chỉ có vị Tôn Sư hay vị Hướng
Dẫn đọc những lời cầu nguyện mà thôi. Hết mọi người tôn thờ,
từng thành phần trong cộng đồng tham dự, trẻ cũng như già – đều
cần phải đọc những lời nguyện cầu – một là đọc từ Sách Cầu
Nguyện, hay thuộc ḷng. Bởi vậy, nhiều câu trích từ Thánh Kinh
đă trở nên cá tính sâu xa của người cầu nguyện, nên một yếu tố
nhất thống với Di Sản của họ.
Hết mọi con trẻ đều được dạy Thánh Kinh từ thiếu thời. Tôi được
dạy học cuốn Tanach bởi người cha quá cố của tôi là Tôn Sư nổi
tiếng Nazir ở Giêrusalem, và đă thuộc ḷng cuốn này. Ở hết mọi
trường đạo, việc giảng dạy Thánh Kinh là một phần quan trọng
trong học tŕnh bắt buộc phải có.
Xin cho tôi được nói thêm là chúng tôi, những vị Tôn Sư, khi nói
đến những vấn đề cần phải quan tâm trong các Bài Giảng của ḿnh,
chẳng hạn như “Tính Chất Linh Thánh của Sự Sống”, “việc Chiến
Đấu với Sự Chung Chạ bừa băi”, “Chiến đấu với chủ nghĩa Thế Tục”,
Phát Động những giá trị về T́nh Nghĩa Anh Em và Huynh Đệ, Yêu
Thương và Ḥa B́nh, B́nh Đẳng, và Việc Tôn Trọng “Người Khác và
Cái Khác”, chúng tôi bao giờ cũng kiến tạo bài giảng của chúng
tôi bằng những câu trích dẫn Thánh Kinh, như được dẫn giải bởi
những nhà hiền triết thánh thiện của chúng tôi, qua các thế hệ.
Điểm xuất phát của chúng tôi bắt nguồn từ những kho tàng Truyền
Thông Đạo Giáo của chúng tôi, cho dù chúng tôi đang cố gắng nói
bằng một thứ ngôn ngữ tân tiến hiện đại và nói tới những vấn đề
hiện nay. Lạ lùng thay Thánh Kinh không bao giờ mất đi tính chất
sống động và thích đáng của ḿnh đối với các vấn đề hiện đại của
thời điểm và thời đại chúng ta. Đó là phép lạ của “Lời Chúa”
vĩnh hằng và vĩnh viễn.
Tôi tin rằng để dẫn chứng cho thấy tầm vóc quan trọng ra sao về
Thánh Kinh trong đời sống của Nước Do Thái, tôi cũng cần phải
nói rằng trong 50 năm qua, một trong những biến cố chính cho
Ngày Độc Lập của Nước Do Thái đó là một Bài Sát Hạch Thánh Kinh
Toàn Quốc. Thành phần tham dự viên không phải chỉ là học sinh ở
các Trường Đạo Quốc Gia, mà c̣n cả những ai theo khuynh hướng
được gọi là “trần tục” – trai cũng như gái. Tham dự viên thuộc
tất cả mọi lănh vực trong xă hội, cũng như ở các nơi rên thế
giới. Giai đoạn cuối cùng của cuộc thi đấu này được thực hiện ở
Giêrusalem, trước sự hiện diện của Tổng Thống Do Thái, Thủ Tướng,
Bộ Trưởng Giáo Dục, Thị Trưởng Giêrusalem cũng như nhiều vị chức
sắc khác, và biến cố này được truyền thông phổ biến đàng hoàng.
Tôi tin rằng đó là một dẫn chứng tuyệt vời về tầm quan trọng và
nền tảng cho việc học hỏi và hiểu biết về Thánh Kinh trong sinh
hoạt của xă hội Do Thái tân tiến.
Tôi cảm thấy rằng tôi không thể nào kết thúc bài nói của tôi nếu
không bày tỏ nỗi bàng hoàng sâu xa của tôi trước những lời khủng
khiếp và hằn học của một vị tổng thống của một nước kia ở Trung
Đông, trong bài nói của ông tháng vừa rồi ở Tổng Hội Đồng Liên
Hiệp Quốc. Những thứ cáo giác sai lầm và hiểm độc, những thứ đe
dọa và kích động bài Do Thái, đă làm âm vang nơi chúng tôi kư ức
đau thương về cái thảm cảnh đau thương của dân chúng tôi – thành
phần nạn nhân của Holocaust, một biến cố chúng tôi hy vọng và
nguyện cầu để không bao giờ c̣n tái diễn. Chúng tôi hy vọng
đưoơc quí bạn trợ giúp với tư cách là những vị Lănh Đạo Tôn Giáo
– cũng như sự trợ giúp của toàn thể thế giới tự do – trong việc
bảo vệ, bênh vực và cứu lấy nước Do Thái, một quốc gia chủ quyền
duy nhất của ‘Dân Sách Thánh’ khỏi bàn tay của những kẻ thù hằn.
Tôi xin kết thúc với việc nguyện cầu bằng những lời nổi tiếng
trong sách Tiên Tri Isaia, liên quan tới những ngày sẽ tới: ‘Sói
sẽ ở với chiên, và beo sẽ nằm chung với dê, bê và sư tử con cùng
súc vật ở với nhau, và một con trẻ nhỏ sẽ là người điều khiển
chúng. Chúng sẽ không đả thương hay hủy hoại ở tất cả những núi
non của Ta: v́ trái đất sẽ tràn đầy kiến thức của Chúa, như
những gịng nước tuôn ra biển cả’ (Is 11:6-9).
Chớ ǵ chúng ta được diễm phúc thấy điều này xẩy ra trong những
tháng ngày của chúng ta đây. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được
Zenit phổ biến ngày 10/7/2008
|
|
Hai tiêu biểu về phương pháp học đối với việc dẫn giải thánh kinh
xứng hợp theo Hiến Chế
Lời Chúa ở đoạn 12
ĐTC Biển Đức XVI ngỏ lời cùng Thượng Nghị Giám Mục trong buổi tổng nghị
thứ 14 ngày Thứ Ba 14/10/2008
Anh Chị Em thân mến, công việc làm liên quan tới
tác phẩm của tôi về Chúa Giêsu đă cống hiến một cơ
hội phong phú để chẳng những thấy được tất cả những ǵ là tốt đẹp xuất phát từ
việc dẫn giải thánh kinh tân thời, mà c̣n thấy
được những trục trặc và nguy hiểm trong đó nữa. Hiến Chế Lời Chúa ở đoạn
12 đă nói đến hai tiêu biểu về phương pháp học đối với việc dẫn giải thánh kinh
xứng hợp. Trước hết, Hiến Chế này xác nhận nhu cầu cần sử dụng phương
pháp nhận định theo lịch sử, khi diễn tả ngắn ngủi những yếu tố thiết yếu của nó.
Nhu cầu này là kết quả của nguyên lư Kitô giáo được thành nên trong Phúc Âm
Thánh Gioan 1:14: “Verbum caro factum est”. Sự kiện lịch sử là một chiều
kích cấu tạo của đức tin Kitô giáo. Lịch sử cứu độ không phải là một thứ hoang
đường, mà là một câu truyện có thật, và bởi dó cần phải được học hỏi bằng những
phương pháp tương tự như là một cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh về lịch sử.
Tuy nhiên, lịch sử này lại có một chiều kích khác, chiều kích của tác động
thần linh. Đó là lư do Hiến Chế Lời Chúa đề cập tới lănh vực phương pháp học thứ
hai cần thiết cho việc cắt nghĩa đúng đắn lời Chúa, một lời cùng một lúc vừa
là những lời của con người vừa
là Lời thần linh.
Công Đồng nói rằng, theo qui định căn bản về bất cứ việc cắt nghĩa một bản văn
nào, th́ Thánh Kinh cần phải được cắt nghĩa trong cùng một tinh thần Thánh
Kinh được viết ra, do đó, Công Đồng đă đề ra 3 yếu tố về phương pháp học
cần phải lưu ư đến chiều kích thần linh, chiều kích về thánh linh của Thánh Kinh:
người ta cần phải: 1) cẩn thận giải thích bản văn về mối hiệp nhất của
toàn thể Thánh Kinh; ngày nay việc cắt nghĩa này được gọi là việc giải
thích thánh kinh theo qui định của Giáo Hội; vào thời của Công Đồng Chung
Vaticanô II th́ từ ngữ này chưa có, nhưng công đồng đă nói đến cùng một vấn đề,
đó là ngươờ ta cần phải lưu ư tới mối hiệp nhất của toàn thể Thánh Kinh; 2) bởi
thế người ta cần phải lưu ư tới truyền thống tồn tại của toàn thể Giáo Hội,
và sau hết 3) tuân theo sự suy luận của đức tin. Chỉ bao giờ tuân theo
hai lănh vực phương pháp học này, phương pháp nhận định theo lịch sử và phương
pháp theo thần học, người ta mới có thể nói tới việc dẫn giải thánh kinh có tính
cách thần học – việc dẫn giải xứng hợp với Thánh Kinh. Nếu ở lănh vực thứ nhất
việc dẫn giải thánh kinh về hàn lâm ngày nay làm việc ở một cấp độ rất cao và
thực sự giúp ích cho chúng ta, th́ không thể nói như thế về lănh vực dẫn giải
thánh kinh kia. Thường th́ lănh vực thứ hai này, lănh vực cấu tạo nên bởi ba yếu
tố thần học được đề cập tới trong Hiến Chế Lời Chúa hầu như lại bị thiếu vắng.
Và điều này gây ra những hậu quả trầm trọng.
Hậu quả thứ nhất của việc thiếu vắng nơi lănh vực phương pháp học thứ hai ấy đó
là Thánh Kinh trở thành một cuốn sách hoàn toàn về quá khứ.
Những hậu quả về luân lư cũng có thể từ đó mà ra, ở chỗ, người ta có thể biết về
lịch sử, thế nhưng Thánh Kinh lại chỉ nói về quá khứ và việc dẫn giải thánh kinh
không c̣n thực sự có tính cách thần học nữa, trở thành một thứ historiography,
tức một thứ lịch sử về văn chương. Hậu quả đầu tiên là thế này, đó là Thánh Kinh
vẫn thuộc về quá khứ, chỉ nói về quá khứ. Cũng có một hậu quả thứ hai c̣n trầm
trọng hơn nữa, đó là ở đâu không c̣n tính cách thần linh học của đức tin, như
được Hiến Chế Lời Chúa nói tới, th́ được thay thế bằng một thứ thần linh học
khác, một thứ thần linh học bị tục hóa, một thứ thần linh học duy thực, với cái
then chốt chính yếu của nó là chủ trương Thần Linh không hề xuất hiện nơi
lịch sử loài người. Theo thứ thần linh học này th́ khi nào xuất
hiện một yếu tố có vể thần linh th́ người ta cần phải cho biết xuất xứ của nó và
hoàn toàn ghép nó với yếu tố nhân loại.
Bởi thế mới xẩy ra những thứ dẫn giải chối bỏ tính cách lịch sử của các yếu tố
thần linh. Ngày nay, những ǵ được gọi là chuyên chính của việc dẫn giải thánh
kinh ở Đức chẳng hạn, chối bỏ là Chúa Giêsu đă lập Thánh Thể và nói rằng thi thể
của Chúa Giêsu đă ở trong mồ. Việc Phục Sinh không phải là một biến cố lịch sử
mà là một nhăn quan thần học. Vấn đề này xẩy ra là v́ thiếu tính chất thần
linh học của đức tin: bởi thế mới xuất hiện một thứ thần linh học về triết lư
trần tục, một thứ thần linh học chối bỏ cái khả hữu của việc hiện diện thực sự
của Thần Linh trong lịch sử. Hậu quả của việc thiếu vắng lănh vực thứ
hai của phương pháp học này đó là t́nh trạng xuất hiện một lỗ hổng sâu xa giữa
việc dẫn giải thánh kinh theo khoa học và việc đọc lời Chúa. Có những lúc điều
này đưa tới một thể thức tỏ ra bối rối ngay cả trong việc soạn dọn các bài giảng.
Khi nào việc dẫn giải thánh kinh không phải là thần học th́ Thánh Kinh không thể
nào là hồn sống của thần học, và ngược lại, khi nào thần học không phải là những
ǵ thiết yếu trong việc dẫn giải Thánh Kinh trong Giáo Hội, th́ thứ thần học này
không c̣n nền tảng ǵ nữa.
Bởi thế, đối với đời sống và sứ vụ của Giáo Hội, đối với tương lai của đức tin,
cần phải thắng vượt chiều kích nhị nguyên giữa việc dẫn giải thánh kinh và thần
học này. Khoa thần học thánh kinh và khoa thần học luân lư tín lư là hai
chiều kích của một thực tại duy nhất, những ǵ được chúng ta gọi là Thần Học.
V́ thế, tôi hy vọng rằng ở một trong những đề nghị cần phải nói tới nhu cầu lưu
ư tới hai lănh vực phương pháp học được đề cập tới ở số 12 trong Hiến Chế Lời
Chúa, một đề nghị cho thấy nhu cầu khai triển một thứ dẫn giải thánh kinh chẳng
những ở lănh vực nhận định lịch sử mà c̣n cả về lănh vực thần học nữa. Vậy cần
phải mở rộng việc h́nh thành những thứ dẫn giải thánh kinh tương lai theo chiều
hướng này, thực sự mở những kho tàng của Thánh Kinh ra cho thế giới ngày nay
cũng như cho tất cả chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/10/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự
ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Những
Phát Biểu của các Vị Giám Mục Việt Nam trong Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XII
Đức
Cha Giuse Vơ Đức Minh, Giám Mục Phó Nha Trang, phát biểu trong tổng nghị 10,
11/10/2008:
Giáo
Hội ở Việt Nam… vẫn trải qua một cuộc sống đầy những thánh giá. Qua cuộc lịch sử
thăng trầm của ḿnh, như người Do Thái vào thời lưu đầy của họ, những người Công
Giáo Việt Nam đă hiểu rằng chỉ có Lời Chúa là tồn tại và không bao giờ lừa đảo
mà thôi. Lời này … đă trở thành một nguồn mạch ủi an và sức mạnh mang lại một
cảm thức an toàn cho tất cả mọi phần tử trong Dân Chúa, đồng thời cũng là điểm
tựa để giúp họ khám phá ra tương lai của ḿnh. Lời Chúa giúp nhận ra h́nh ảnh
đích thực về Chúa Giêsu Kitô, Đấng là hiện thân của t́nh yêu thương cứu độ của
Thiên Chúa, nhờ mầu nhiệm của Thánh Giá. V́ kinh nghiệm đau thương nơi Giáo Hội
của Chúa Kitô ở Việt Nam mà Mầu Nhiệm Thánh Giá đă trở nên chẳng những gần gũi
với cuộc sống hằng ngày mà c̣n là một yếu tố thiết yếu tái hiệp nhất Dân Chúa
nữa”.
Đức
Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, địa phận Thanh Hóa, phát biểu trong tổng nghị 13,
14/10/2008:
Phúc Âm lần đầu tiên được loan báo
nơi mảnh đất của chúng con ở vào đầu thế kỷ 16 trong một bối cảnh đau thương của
một cuộc nội chiến giữa hai vương quốc huynh đệ tương tranh…
Bị ch́m ngập trong một lịch sử đan
kết bởi những cuộc chiến tranh ư hệ hận thù và kỳ thị, Kitô hữu chúng con hơn
bao giờ hết vẫn xác tín rằng chỉ nhờ Lời Chúa họ mới có thể kiên tŕ trong yêu
thương, vui mừng, an b́nh, hiệp thông và khoan dung….
Một giai t́nh tiết đáng được đặc biệt
đề cập tới cho thấy Lời Chúa tiếp tục nâng đỡ duy tŕ Giáo Hội ở Việt Nam, đó là
một cuộc trở về đông đảo của hằng ngàn người thuộc thành phần dân tộc thiểu số
không bao lâu sau cuộc phong thánh năm 1988 cho 117 vị Tử Đạo trên đất Việt. Vấn
đề lạ lùng ở đây là nhiều người trong họ thú nhận rằng họ đă nghe đài phát thanh
Tin Lành ở Manila Phi Luật Tân, nhưng lại trở lại Công Giáo. Như thế là anh chị
em Tin Lành gieo và tín hữu Công Giáo gặt hái. Lời Chúa, vang lên từ xa dội vào
tai của họ, đă trở thành một nguồn hy vọng cho thành phần dân chúng này, những
người sống giữa núi non thiếu thốn mọi sự và không có tương lai. Tóm lại, là một
Kitô hữu Việt Nam, con xin lập lại niềm xác tín của con là ân hệ cao cả nhất của
chúng con giữa những cuộc bách hại đó là ḷng chóng con trung thành với Lời của
Chúa”.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, tổng lược theo VIS
Những
Điểm Nóng của Thượng Nghị Lời Chúa 2008
Cuốn Tổng Lược Thánh Kinh
ĐHY Daniel DiNardo, Tổng Giám Mục ở Galveston Houston Tesas, đề nghị thực hiện
cuốn Tổng Lược Thánh Kinh. Theo vị hồng y này th́ một cuốn tổng lược, giống như
các văn kiện khác như vậy, nhắm đến thành phần tín hữu. Nó phải là một cuốn
hướng dẫn rơ ràng và trực tiếp nhấn mạnh đến những phương pháp phong phú và hữu
dụng của Giáo Hội trong việc đọc và chia sẻ Thánh Kinh. Cuốn tổng lược này sẽ là
một thứ trợ giúp khôn sánh cho việc mỗi người đọc Thánh Kinh, cho những nhóm học
hỏi Thánh Kinh v.v.
Nó sẽ giúp lấy lại một cảm quan sống động và tuyệt hảo nơi kiến thức của người
Công Giáo về việc linh ứng của Chúa Thánh Thần trong Thánh Kinh. Lời hằng sống
đă hư không hóa bản thân ḿnh v́ phần rỗi của chúng ta. Tương tự như thế, Thánh
Linh cũng đă hiến ḿnh và ‘hạ’ ḿnh trong việc linh ứng Thánh Kinh. Một cách hết
sức nhă nhặn, Ngài đă thích ứng ‘ngôn ngữ’ thần linh với tâm tưởng hợp với bản
tính nhân loại của chúng ta.
Cuốn Hướng Dẫn Giảng Giải
Trong vấn đề liên quan tới nghệ thuật giảng giải lời Chúa, một số nghị phụ đă
bày tỏ mối quan tâm về t́nh trạng thiếu phẩm chất của các bài giảng. Bởi thế, đă
có một số vị đă đề cập tới những cách thức để nâng cấp bài giảng lên. Trước hết
là nhận định của ĐHY Marc Ouellet, TGM ở Quebec Canada, hôm mùng 6/10. Ngài cảm
thấy rằng: “Mặc dù bài giảng đă được Công Đồng Chung Vaticanô II bàn đến, chúng
ta vẫn cảm thấy không măn nguyện cho lắm xẩy ra nơi nhiều tín hữu đối với thừa
tác vụ giảng giải”. Theo ngài th́ một trong những hậu quả của cảm giác “không
thỏa măn này cho thấy lư do tại sao nhiều người Công Giáo đă quay sang các nhóm
khác và các đạo khác”. Ngài đă đặt vấn đề là bài giảng phải làm sao để có thể
vừa “vun trồng việc giúp thực hiện quyết định đức tin” lại vừa tránh được
“khuynh hướng răn bảo luân lư”.
Ngày hôm sau, Thứ Ba 7/10, ĐTGM Mark Coleridge ở Camberra-Goulburn, Úc Đại Lợi,
đă tiếp tục vấn đề này, khi đề nghị thực hiện một Cuốn Hưỡng Dẫn Giảng Dạy Tổng
Quan, theo chiều hướng Cuốn Hướng Dẫn Giáo Lư Tổng Quan và Cuốn Hướng Dẫn Tổng
Quan Sách Lễ Rôma. Theo ngài th́ “cuốn hướng dẫn này sẽ lấy vốn liếng từ việc
giảng dạy của Công Giáo như đang hiện có, và sẽ làm như thế bằng việc chú ư tới
lịch sử của việc giảng dạy của Công Giáo. Nó sẽ rút tỉa từ kinh nghiệm và khôn
ngoan của Giáo Hội hoàn vũ – bao gồm cả những cộng đồng và phong trào mới – mà
không dập tắt đi cái tinh hoa của các giáo hội địa phương hay cá nhân giảng viên…
Chúng ta cần lưu ư tới việc hệ thống hóa hơn nữa nghệ thuật giảng dạy vào lúc
này đây, bớt đi những ǵ là ngẫu nhiên và đột xuất; và như thế cuốn Hướng Dẫn
Tổng Quan này có thể hỗ trợ đặc biệt ở nơi các chủng viện và các nơi huấn luyện”.
ĐGM Gerald Kicanas ở Tucson Arizona, phó chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ, cũng
nhận thấy rằng: “việc giảng dạy trong thời đại của chúng ta có thể bị mất đi cái
hương vị của nó, có thể trở thành những ǵ là công thức và vô hồn, khiến cho
người nghe cảm thấy trống rỗng”. Vị giám mục này đề nghị rằng sau khi bế mạc Năm
Thánh Phaolô nên bắt đầu năm giành cho việc giảng dạy. Theo ngài th́ đây là dịp
cho “các vị linh mục và phó tế cùng với giám mục của các vị gặp gỡ thành phần
giáo dân để lắng nghe những ǵ họ cảm thấy họ bị trục trặc khó khăn, nhờ đó các
vị mới biết cách giảng dạy Lời Chúa ra sao cho có lợi hơn đối với những ǵ khó
khăn trục trặc của họ”.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, tổng lược
theo VIS
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII: Sứ Điệp Bế Mạc
Anh Chị Em thân
mến,
“Với tất cả
những ai ở khắp nơi kêu cầu danh Chúa Giêsu Kitô của chúng ta th́ Chúa của họ
cũng là Chúa của chúng ta. Xin ân sủng và b́nh an của Thiên Chúa là Cha của
chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô ở cùng anh chị em” (1Cor 1:2-3). Bằng lời chào
chúc này của Thánh Phaolô – trong năm dâng kính ngài – chúng tôi, các Nghị Phụ
của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII họp nhau ở Rôma cùng với Đức
Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ cùng anh chị em một sứ điệp đầy suy tư và dự thảo về
Lời Chúa là tâm điểm cho công cuộc nghị hội của chúng tôi.
Sứ điệp này được
gửi đến các vị mục tử của chúng tôi trước hết, đến nhiều giáo lư viên quảng đại
cũng như đến tất cả những ai hướng dẫn anh chị em trong việc ưu ái lắng nghe và
đọc Thánh Kinh. Giờ đây, chúng tôi muốn tóm lược linh hồn và bản chất của bản
văn này, nhờ đó giúp anh chị em gia tăng và đào sâu kiến thức và ḷng mến yêu
đối với Lời Chúa. Có tất cả là 4 điểm chính được phác họa chúng tôi mời gọi anh
chị em hăy t́m hiểu và chúng tôi sẽ diễn tả chúng bằng nhiều h́nh ảnh.
Trước hết là
Tiếng thần linh. Tiếng này âm vang từ khởi nguyên của Cuộc Sáng Tạo, phá vỡ cái
câm lặng của hư không và khơi nguồn cho những kỳ công của vũ trụ. Đó là Tiếng
thẩm thấu lịch sử, một lịch sử bị tổn thương bởi tội lỗi của con người và bị
khốn đốn bởi khổ đau và chết chóc. Lịch sử này cũng thấy được Vị Chúa này đồng
hành với nhân loại để cống hiến ân sủng của Ngài, Giao Ước của Ngài, ơn cứu độ
của Ngài. Đó là Tiếng đă hiện lên ở các trang Thánh Kinh được chúng ta ngày nay
đọc trong Giáo Hội, theo sự hướng dẫn của Thánh Linh là Đấng như ánh sáng chân
lư được ban cho Giáo Hội cũng như cho các vị mục tử của Giáo Hội.
Thánh Gioan cũng
đă viết: “Lời đă hóa thành nhục thể” (1:14). Thế là một Dung Nhan đă xuất hiện ở
đây. Đó là Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Con của vị Thiên Chúa hằng hữu và vô biên,
nhưng cũng là một con người khả tử, gắn liền với một thế hệ lịch sử, với một dân
tộc và một mảnh đất. Người đă sống tận cùng bản tính loài người cho đến chết,
nhưng sống lại hiển vinh và muôn đời tồn tại. Người làm trọn hảo hóa cuộc gặp gỡ
của chúng ta với Lời Chúa. Người tỏ cho chúng ta thấy “tất cả ư nghĩa” và mối
hiệp nhất của Thánh Kinh, nhờ đó Kitô Giáo là một tôn giáo có tâm điểm là một
con người là Chúa Giêsu Kitô, Đấng mạc khải Cha ra. Người làm cho chúng ta hiêå
rằng Thánh Kinh là “xác thịt”, tức là những lời lẽ của con người cần phải được
hiểu biết và học hỏi theo cách thức diễn tả của những lời ấy, song cũng phải bảo
tŕ ánh sáng chân lư thần linh chất chứa ở bên trong nữa là những ǵ chúng ta
chỉ có thể sống và chiêm ngưỡng với Thánh Linh mà thôi.
Chính vị Thần
Linh của Thiên Chúa này dẫn chúng ta tới điểm chính yếu thứ ba trong cuộc hành
tŕnh của chúng ta, đó là đến Nhà của lời thần linh này, tức là Giáo Hội, một
ngôi nhà, như Thánh Luca đă gợi ư (Acts 2:42), được chống đỡ bởi 4 cột trụ lư
tưởng. Cột trụ “giảng dạy”, đó là việc đọc và hiểu Thánh Kinh nơi việc loan
truyền cho tất cả mọi người, trong việc dạy giáo lư, trong bài giảng, bằng một
loan truyền bao gồm cả trí khôn và tấm ḷng. Thế rồi tới cột trụ thứ hai là
“việc bẻ bánh”, tức Thánh Thể, là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống và sứ
vụ của Giáo Hội. Như những ǵ đă xẩy ra vào hôm ấy ở Emmau, tín hữu được mời gọi
dưỡng sinh nơi phụng vụ Lời Chúa và Ḿnh Chúa Kitô. Cột trụ thứ ba là “cầu
nguyện” bằng “những bài thánh vịnh và thánh ca cùng những bài hát hứng khởi dâng
lên Chúa” (Col 3:16). Đó là Phụng Vụ Giờ Kinh, lời nguyện cầu của Giáo Hội có
mục đích cống hiến nhịp sống cho ngày giờ của một năm Kitô Giáo. C̣n có Lectio
divina là việc độc nguyện Thánh Kinh có thể dẫn tới chỗ gặp gỡ Chúa Kitô là Lời
hằng sống của Thiên Chúa, qua việc suy niệm, việc nguyện cầu, việc chiêm niệm.
Và sau hết là cột trụ “hiệp thông huynh đệ”, v́ để là những Kitô hữu đích thực
th́ “là những người nghe lời Chúa” chưa đủ mà c̣n phải là người “mang lời Chúa
ra thực hành” (Lk 8:21) bằng những cố gắng yêu thương. Trong nhà của Lời Chúa
chúng ta cũng có thể gặp gỡ những anh chị em thuộc các Giáo Hội khác và cộng
đồng giáo hội khác, những người, cho dù ở trong t́nh trạng chia rẽ, vẫn sống
trong mối hiệp nhất thực sự, dù chưa phải là một mối hiệp nhất trọn vẹn, qua
việc tôn thờ và yêu mến Lời thần linh.
Như thế chúng ta
tiến đến h́nh ảnh cuối cùng của bản đồ thiêng liêng này. Nó là con đường đă được
Lời Thiên Chúa rảo bước, ở chỗ, vậy các con hăy đi tuyển mộ các môn đệ từ mọi
dân nước và dạy cho họ tuân giữ tất cả những ǵ Thày truyền cho các con… những
ǵ các con nghe trong âm thầm, hăy loan báo trên mái nhà” (Mt 28:19-20; 10:27).
Lời Chúa cần phải rảo qua khắp các nẻo đường thế giới mà ngày nay cũng bao gồm
cả những nẻo đường điện toán, truyền h́nh và truyền thông hiện ảnh. Thánh Kinh
cần phải tiến vào các gia đ́nh để cha mẹ và con cái đón đọc, dùng để nguyện cầu,
và để Thánh Kinh trở nên đèn soi dẫn họ tiến bước trên con đường cuộc sống (cf
Ps 119:105). Thánh Kinh cũng cần phải tiến vào các học đường và các lănh vực về
văn hóa v́ qua các thế kỷ Thánh Kinh đă từng là điểm qui chiếu chính yếu cho
nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, tư tưởng và nền luân lư chung. Cái phong phú có
tính cách biểu hiệu, thi ca và tŕnh thuật của Thánh Kinh làm cho Thánh Kinh
thành một hiệu kỳ đẹp đẽ của đức tin cũng như của văn hóa, trong một thế giới
thường bị hằn lên bởi những ǵ là ghê tởm và thấp hèn.
Tuy nhiên, Thánh
Kinh cũng tỏ cho chúng ta thấy được hơi thở đớn đau xuất phát từ trái đất, hướng
tới tiếng kêu của thành phần bị đàn áp cũng như những than van của thành phần
cùng khổ. Tột đỉnh là cây thập tự giá, nơi Chúa Kitô, cô độc và bị bỏ rơi, trải
qua thảm cảnh của những ǵ là khổ đau và chết chóc tàn ác nhất. V́ sự hiện diện
này của Con Thiên Chúa mà bóng tối tăm của sự dữ và chết chóc đă được rạng ngời
bởi ánh sáng Vượt Qua cũng như bởi niềm hy vọng của vinh quang. Thế nhưng, trên
những con đường của thế giới, những anh chị em thuộc các Giáo Hội và các cộng
đồng giáo hội khác cũng đồng hành với chúng ta, cho dù vẫn c̣n đang chia rẽ,
cũng sống mối hiệp nhất thực sự dù chưa phải là một mối hiệp nhất hoàn toàn, nhờ
việc tôn thờ và mến yêu Lời Chúa. Dọc theo những nẻo đường thế giới này, chúng
ta thường gặp gỡ những con người nam nữ thuộc các tôn giáo khác cũng đang lắng
nghe và trung thành thực hành các lệnh truyền trong các sách thánh của họ, và là
những người, cùng với chúng ta, có thể xây dựng một thế giới ḥa b́nh và trong
sáng, v́ Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu độ và hoàn toàn nhận biết chân lư”
(1Tim 2:4).
Anh chị em thân
mến, xin anh chị em hăy canh giữ Thánh Kinh trong nhà của anh chị em, đọc Thánh
Kinh cách đầy đủ, học hỏi và t́m hiểu những trang sách ấy, biến những trang
Thánh Kinh thành lời nguyện cầu và chứng từ cuộc sống, yêu mến và tin tưởng lắng
nghe Thánh Kinh trong phụng vụ. Anh chị em hăy kiến tạo nên một bầu khí thinh
lặng để có thể nghe Lời Chúa cách hiệu nghiệm và giữ thinh lặng sau khi lắng
nghe, v́ Lời Chúa sẽ tiếp tục lưu trú, sống động và nói với anh chị em. Anh chị
em hăy làm cho Lời Chúa âm vang vào lúc mở màn cho ngày sống của anh chị em, nhờ
đó, lời đầu tiên là Lời Chúa, và hăy để cho Lời Chúa vạng vọng trong anh chị em
vào buổi tối để lời cuối cùng cũng là Lời Chúa.
“Giờ đây tôi
trao phó anh chị em cho Thiên Cúa và cho lời ân sủng của Ngài” (Acts 20:32).
Cũng bằng lời bày tỏ được Thánh Phaolô sử dụng trong lời chào biệt của ngài gửi
đến những vị lănh đạo Giáo Hội ở Êphêsô, các Nghị Phụ của Thượng Nghị này cũng
trao phó tín hữu thuộc các cộng đồng tản mác khắp thế giới cho lời thần linh,
cũng là phán quyết nhưng trước hết là ân sủng, lời cắt xẻ như thanh gươm nhưng
lại ngọt ngào như mật ong. Lời Chúa là những ǵ mănh liệt và hiển vinh, dẫn dắt
chúng ta trên những con đường lịch sử bằng bàn tay của Chúa Giêsu, Đấng được anh
chị em cũng như chúng tôi mến yêu bằng một t́nh yêu bất hủ (cf Eph 6:24).
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 24/10/2008
ĐTC
Biển Đức XVI: Huấn Từ Nguyện Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 26/10/2008
Về
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII
Anh chị em thân mến:
Bằng việc cử hành Thánh Thể ở Đền Thờ
Thánh Phêrô, Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII đă bế mạc. Thượng Nghị
này bàn về đề tài “Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”. Mọi cuộc
thượng nghị đều là một cảm nghiệm mạnh mẽ về mối hiệp thông giáo hội, thế nhưng
cảm nghiệm này c̣n sâu đậm hơn thế nữa v́ tất cả mọi chuyên chú đều qui về Lời
Chúa là bản thân Chúa Kitô, những ǵ soi dẫn Giáo Hội.
Và chúng tôi đă sống từng ngày trong
bầu khí sốt sắng lắng nghe, cảm nhận tất cả ân sủng và vẻ đẹp được làm môn đệ và
tôi tớ của Người. Theo ư nghĩa nguyên thủy của chữ “giáo hội”, chúng tôi đă cảm
nghiệm niềm vui được triệu tập bởi Lời Chúa và nhất là trong phụng vụ, chúng tôi
đă gặp nhau từ bên trong của lời này nơi một cuộc hành tŕnh làm cho chúng tôi
nếm hưởng trước Nước trời như trong mảnh đất hứa của chúng tôi.
Một khía cạnh đă được xét đến là mối
liên hệ giữa Lời Chúa và các lời lẽ, tức là giữa Lời Thần Linh, và Thánh Kinh là
những ǵ bày tỏ Lời Thần Linh này.
Như Công Đồng Chung Vaticanô II dạy
trong hiến chế “Lời Chúa” (số 12), việc dẫn giải thánh kinh tốt đẹp đ̣i
phải hội đủ cả phương pháp nhận định về lịch sử cũng như phương pháp về thần học,
v́ Thánh Kinh là Lời Chúa nơi lời của con người. Điều này có ư nói
rằng hết mọi bản văn cần phải được đọc theo chiều hướng hiệp nhất của toàn thể
Thánh Kinh, truyền thống sống động của Giáo Hội và ánh sáng đức tin. Nếu
Thánh Kinh thực sự cũng là một tác phẩm văn chương, thậm chí c̣n hơn thế nữa, là
một bộ vĩ đại về văn hóa phổ quát, th́ thật sự cũng không được lấy đi yếu tố
thần linh của Thánh Kinh, trái lại, phải đọc Thánh Kinh bằng cùng một tinh
thần Thánh Kinh được viết ra. Việc dẫn giải thánh kinh và đọc lời
Chúa theo khoa học, bởi thế, vừa cần thiết vừa hỗ tương cho việc t́m kiếm, qua ư
nghĩa về văn chương, ư nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh, một ư
nghĩa Thiên Chúa muốn thông đạt cho chúng ta ngày nay.
Vào lúc kết thúc cuôc thượng nghị này,
các vị thượng phụ thuộc Giáo Hội Đông Phương đă lên tiếng kêu gọi, một lời kêu
gọi tôi xin lập lại để xin cộng đồng quốc tế, các vị lănh đạo tôn giáo cũng như
tất cả mọi con người nam nữ thiện chí hăy chú ư tới thảm cảnh đang xẩy ra ở các
xứ sở Đông phương, nơi các Kitô hữu đang là nạn nhân của thái độ bất dung nhượng
và bạo lực tàn ác, của việc ra tay sát hại, của việc bị đe dọa, và của việc bị
buộc phải từ bỏ nhà cửa và đi lang thang t́m chỗ trú ẩn. Tôi đang đặc biệt nghĩ
đến Iraq và Ấn Độ vào lúc này đây.
Tôi tin rằng thành phần dân chúng cổ
kính và cao quí của các quốc gia này đă biết, qua gịng thời gian của các thế kỷ
sống chung tương kính, cảm nhận việc đóng góp được nhóm nhỏ này, nhưng là thành
phần thiểu số Kitô hữu tốt lành và chịu khó, cống hiến cho việc phát triển của
quê hương chung này. Họ không đ̣i những đặc ân, mà chỉ muốn tiếp tục sống trong
quốc gia của ḿnh với đồng bào của họ, như họ bao giờ cũng muốn thế. Tôi xin các
thẩm quyền đương nhiệm về dân sự và tôn giáo chớ bỏ qua một nỗ lực nào trong
việc tái thiết lập luật lệ và việc chung sống về dân sự, nhờ đó thành phần công
dân thành tín và trung thành biết được rằng họ có thể cậy dựa vào việc bảo vệ
đầy đủ bởi các cơ cấu quốc gia. Tôi cũng hy vọng rằng các vị lănh đạo dân sự và
tôn giáo của tất cả mọi quốc gia, ư thức được vai tṛ hướng dẫn của ḿnh như là
thành phần dẫn đắt và là điểm tựa cho dân chúng, thực hiện những cử chỉ ư nghĩa
và hiển nhiên về t́nh bạn và quan tâm tới các thành phần thiểu số Kitô hữu cũng
như tín đồ thuộc các tôn giáo khác, và thực hiện việc bênh vực các quyền lợi hợp
lư của họ như là một vấn đề trọng kính.
Tôi cũng hân hoan thông báo ở nơi đây
với anh chị em những ǵ tôi vừa loan báo ở trong Thánh Lễ, đó là vào Tháng 10
năm tới th́ Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu lần thứ 2 sẽ diễn ra ở Rôma đây. Trước
dịp này, nếu Chúa muốn, vào Tháng 3/2008, tôi có ư định đến Phi Châu, trước hết
viếng thăm Camerron là nơi tôi sẽ trao cho các vị giám mục của châu lục này ‘bản
instrumentum laboris’ về cuộc thượng nghị ấy, rồi đến Angola, nhân dịp 500 năm
quốc gia này đón nhận việc truyền bá phúc âm hóa. Tôi xin kư thác nỗi khổ đau
được đề tới trên đây, cũng như niềm hy vọng được chúng tôi ấp ủ trong tim, nhất
là niềm trông đợi của các vị nghị phụ tham dự Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu, cho
Mẹ Maria Rất Thánh.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
26/10/2008
(những
chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm
chính yếu quan trọng)
Thượng
Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XII: Sứ Điệp Bế Mạc
Anh Chị
Em thân mến,
“Với tất
cả những ai ở khắp nơi kêu cầu danh Chúa Giêsu Kitô của chúng ta th́
Chúa của họ cũng là Chúa của chúng ta. Xin ân sủng và b́nh an của Thiên
Chúa là Cha của chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô ở cùng anh chị em” (1Cor
1:2-3). Bằng lời chào chúc này của Thánh Phaolô – trong năm dâng kính
ngài – chúng tôi, các Nghị Phụ của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường
Lệ XII họp nhau ở Rôma cùng với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ cùng anh
chị em một sứ điệp đầy suy tư và dự thảo về Lời Chúa là tâm điểm cho
công cuộc nghị hội của chúng tôi.
Sứ điệp
này được gửi đến các vị mục tử của chúng tôi trước hết, đến nhiều giáo
lư viên quảng đại cũng như đến tất cả những ai hướng dẫn anh chị em
trong việc ưu ái lắng nghe và đọc Thánh Kinh. Giờ đây, chúng tôi muốn
tóm lược linh hồn và bản chất của bản văn này, nhờ đó giúp anh chị em
gia tăng và đào sâu kiến thức và ḷng mến yêu đối với Lời Chúa. Có tất
cả là 4 điểm chính được phác họa chúng tôi mời gọi anh chị em hăy t́m
hiểu và chúng tôi sẽ diễn tả chúng bằng nhiều h́nh ảnh.
Trước
hết là Tiếng thần linh. Tiếng này âm vang từ khởi nguyên của Cuộc Sáng
Tạo, phá vỡ cái câm lặng của hư không và khơi nguồn cho những kỳ công
của vũ trụ. Đó là Tiếng thẩm thấu lịch sử, một lịch sử bị tổn thương bởi
tội lỗi của con người và bị khốn đốn bởi khổ đau và chết chóc. Lịch sử
này cũng thấy được Vị Chúa này đồng hành với nhân loại để cống hiến ân
sủng của Ngài, Giao Ước của Ngài, ơn cứu độ của Ngài. Đó là Tiếng đă
hiện lên ở các trang Thánh Kinh được chúng ta ngày nay đọc trong Giáo
Hội, theo sự hướng dẫn của Thánh Linh là Đấng như ánh sáng chân lư được
ban cho Giáo Hội cũng như cho các vị mục tử của Giáo Hội.
Thánh
Gioan cũng đă viết: “Lời đă hóa thành nhục thể” (1:14). Thế là một Dung
Nhan đă xuất hiện ở đây. Đó là Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Con của vị Thiên
Chúa hằng hữu và vô biên, nhưng cũng là một con người khả tử, gắn liền
với một thế hệ lịch sử, với một dân tộc và một mảnh đất. Người đă sống
tận cùng bản tính loài người cho đến chết, nhưng sống lại hiển vinh và
muôn đời tồn tại. Người làm trọn hảo hóa cuộc gặp gỡ của chúng ta với
Lời Chúa. Người tỏ cho chúng ta thấy “tất cả ư nghĩa” và mối hiệp nhất
của Thánh Kinh, nhờ đó Kitô Giáo là một tôn giáo có tâm điểm là một con
người là Chúa Giêsu Kitô, Đấng mạc khải Cha ra. Người làm cho chúng ta
hiêå rằng Thánh Kinh là “xác thịt”, tức là những lời lẽ của con người
cần phải được hiểu biết và học hỏi theo cách thức diễn tả của những lời
ấy, song cũng phải bảo tŕ ánh sáng chân lư thần linh chất chứa ở bên
trong nữa là những ǵ chúng ta chỉ có thể sống và chiêm ngưỡng với Thánh
Linh mà thôi.
Chính vị
Thần Linh của Thiên Chúa này dẫn chúng ta tới điểm chính yếu thứ ba
trong cuộc hành tŕnh của chúng ta, đó là đến Nhà của lời thần linh này,
tức là Giáo Hội, một ngôi nhà, như Thánh Luca đă gợi ư (Acts 2:42), được
chống đỡ bởi 4 cột trụ lư tưởng. Cột trụ “giảng dạy”, đó là việc đọc và
hiểu Thánh Kinh nơi việc loan truyền cho tất cả mọi người, trong việc
dạy giáo lư, trong bài giảng, bằng một loan truyền bao gồm cả trí khôn
và tấm ḷng. Thế rồi tới cột trụ thứ hai là “việc bẻ bánh”, tức Thánh
Thể, là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của Giáo Hội.
Như những ǵ đă xẩy ra vào hôm ấy ở Emmau, tín hữu được mời gọi dưỡng
sinh nơi phụng vụ Lời Chúa và Ḿnh Chúa Kitô. Cột trụ thứ ba là “cầu
nguyện” bằng “những bài thánh vịnh và thánh ca cùng những bài hát hứng
khởi dâng lên Chúa” (Col 3:16). Đó là Phụng Vụ Giờ Kinh, lời nguyện cầu
của Giáo Hội có mục đích cống hiến nhịp sống cho ngày giờ của một năm
Kitô Giáo. C̣n có Lectio divina là việc độc nguyện Thánh Kinh có thể dẫn
tới chỗ gặp gỡ Chúa Kitô là Lời hằng sống của Thiên Chúa, qua việc suy
niệm, việc nguyện cầu, việc chiêm niệm. Và sau hết là cột trụ “hiệp
thông huynh đệ”, v́ để là những Kitô hữu đích thực th́ “là những người
nghe lời Chúa” chưa đủ mà c̣n phải là người “mang lời Chúa ra thực hành”
(Lk 8:21) bằng những cố gắng yêu thương. Trong nhà của Lời Chúa chúng ta
cũng có thể gặp gỡ những anh chị em thuộc các Giáo Hội khác và cộng đồng
giáo hội khác, những người, cho dù ở trong t́nh trạng chia rẽ, vẫn sống
trong mối hiệp nhất thực sự, dù chưa phải là một mối hiệp nhất trọn vẹn,
qua việc tôn thờ và yêu mến Lời thần linh.
Như thế
chúng ta tiến đến h́nh ảnh cuối cùng của bản đồ thiêng liêng này. Nó là
con đường đă được Lời Thiên Chúa rảo bước, ở chỗ, vậy các con hăy đi
tuyển mộ các môn đệ từ mọi dân nước và dạy cho họ tuân giữ tất cả những
ǵ Thày truyền cho các con… những ǵ các con nghe trong âm thầm, hăy
loan báo trên mái nhà” (Mt 28:19-20; 10:27). Lời Chúa cần phải rảo qua
khắp các nẻo đường thế giới mà ngày nay cũng bao gồm cả những nẻo đường
điện toán, truyền h́nh và truyền thông hiện ảnh. Thánh Kinh cần phải
tiến vào các gia đ́nh để cha mẹ và con cái đón đọc, dùng để nguyện cầu,
và để Thánh Kinh trở nên đèn soi dẫn họ tiến bước trên con đường cuộc
sống (cf Ps 119:105). Thánh Kinh cũng cần phải tiến vào các học đường và
các lănh vực về văn hóa v́ qua các thế kỷ Thánh Kinh đă từng là điểm qui
chiếu chính yếu cho nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, tư tưởng và nền
luân lư chung. Cái phong phú có tính cách biểu hiệu, thi ca và tŕnh
thuật của Thánh Kinh làm cho Thánh Kinh thành một hiệu kỳ đẹp đẽ của đức
tin cũng như của văn hóa, trong một thế giới thường bị hằn lên bởi những
ǵ là ghê tởm và thấp hèn.
Tuy
nhiên, Thánh Kinh cũng tỏ cho chúng ta thấy được hơi thở đớn đau xuất
phát từ trái đất, hướng tới tiếng kêu của thành phần bị đàn áp cũng như
những than van của thành phần cùng khổ. Tột đỉnh là cây thập tự giá, nơi
Chúa Kitô, cô độc và bị bỏ rơi, trải qua thảm cảnh của những ǵ là khổ
đau và chết chóc tàn ác nhất. V́ sự hiện diện này của Con Thiên Chúa mà
bóng tối tăm của sự dữ và chết chóc đă được rạng ngời bởi ánh sáng Vượt
Qua cũng như bởi niềm hy vọng của vinh quang. Thế nhưng, trên những con
đường của thế giới, những anh chị em thuộc các Giáo Hội và các cộng đồng
giáo hội khác cũng đồng hành với chúng ta, cho dù vẫn c̣n đang chia rẽ,
cũng sống mối hiệp nhất thực sự dù chưa phải là một mối hiệp nhất hoàn
toàn, nhờ việc tôn thờ và mến yêu Lời Chúa. Dọc theo những nẻo đường thế
giới này, chúng ta thường gặp gỡ những con người nam nữ thuộc các tôn
giáo khác cũng đang lắng nghe và trung thành thực hành các lệnh truyền
trong các sách thánh của họ, và là những người, cùng với chúng ta, có
thể xây dựng một thế giới ḥa b́nh và trong sáng, v́ Thiên Chúa “muốn
mọi người được cứu độ và hoàn toàn nhận biết chân lư” (1Tim 2:4).
Anh chị
em thân mến, xin anh chị em hăy canh giữ Thánh Kinh trong nhà của anh
chị em, đọc Thánh Kinh cách đầy đủ, học hỏi và t́m hiểu những trang sách
ấy, biến những trang Thánh Kinh thành lời nguyện cầu và chứng từ cuộc
sống, yêu mến và tin tưởng lắng nghe Thánh Kinh trong phụng vụ. Anh chị
em hăy kiến tạo nên một bầu khí thinh lặng để có thể nghe Lời Chúa cách
hiệu nghiệm và giữ thinh lặng sau khi lắng nghe, v́ Lời Chúa sẽ tiếp tục
lưu trú, sống động và nói với anh chị em. Anh chị em hăy làm cho Lời
Chúa âm vang vào lúc mở màn cho ngày sống của anh chị em, nhờ đó, lời
đầu tiên là Lời Chúa, và hăy để cho Lời Chúa vạng vọng trong anh chị em
vào buổi tối để lời cuối cùng cũng là Lời Chúa.
“Giờ đây
tôi trao phó anh chị em cho Thiên Cúa và cho lời ân sủng của Ngài” (Acts
20:32). Cũng bằng lời bày tỏ được Thánh Phaolô sử dụng trong lời chào
biệt của ngài gửi đến những vị lănh đạo Giáo Hội ở Êphêsô, các Nghị Phụ
của Thượng Nghị này cũng trao phó tín hữu thuộc các cộng đồng tản mác
khắp thế giới cho lời thần linh, cũng là phán quyết nhưng trước hết là
ân sủng, lời cắt xẻ như thanh gươm nhưng lại ngọt ngào như mật ong. Lời
Chúa là những ǵ mănh liệt và hiển vinh, dẫn dắt chúng ta trên những con
đường lịch sử bằng bàn tay của Chúa Giêsu, Đấng được anh chị em cũng như
chúng tôi mến yêu bằng một t́nh yêu bất hủ (cf Eph 6:24).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 24/10/2008
55 Dự Thảo của
Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường Lệ XII được đệ tŕnh
Đức Thánh Cha BĐXVI
Thứ Bảy 25/10/2008, 55 dự thảo đă được Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới
thường Lệ XII chấp thuận và được đệ tŕnh ĐTC Biển Đức XVI để ngài căn
cứ vào đó viết thành một Tông Huấn hậu Thượng Nghị như từ trước tới nay.
B́nh thường những dự thảo này sẽ được ĐTC giữ kín cho đến khi ban hành
tông huấn đúc kết hậu công đồng. Tuy nhiên, trong thời ĐTC Biển Đức XVI,
ngài đă cho phổ biến chung các dự thảo này, kể cả Thượng Nghị Giám Mục
Thế Giới Thường Lệ XI năm 2005.
55 dự thảo này được chia làm 3 phần như sau. Phần thứ nhất nhan đề “Lời
Chúa nơi Đức Tin của Giáo Hội” bao gồm những dự thảo từ 3 đến 13. Chúng
tập trung vào nhiệm vụ của các vị mục tử trong việc giáo dục tín hữu để
có được kinh nghiệm hơn về mối liên hệ với Chúa Giêsu Kitô, nhờ việc đọc
và suy niệm Thánh Kinh.
Sau khi phân tích mối liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước, những dự thảo này
nhấn mạnh đến cách thức thành phần nghèo khổ, “chẳng những cần đến bánh
ăn mà c̣n cần cả đến những lời sự sống”, có đặc quyền biết đến Phúc Âm.
Đề cập tới một trong những “thử thách khó khăn của thế giới tân tiến, đó
là sự tiến bộ cả thể của khoa học đối với kiến thức của nó về thế giới
thiên nhiên, kèm theo hậu quả ngược đời đến làm lu mờ đi ư nghĩa đạo lư
từ đó mà ra”, Thượng Nghị này xin các vị mục tử “hăy khôn ngoan tái nhận
thức lề luật tự nhiên cùng với tác động của nó trong việc h́nh thành
long tâm con người”.
Phần thứ hai (gồm các dự thảo 14 đến 37) chú trọng tới đề tài “Lời Chúa
trong Đời Sống của Giáo Hội”. Về chủ đề Lời Chúa và phụng vụ, phần này
đề nghị là cần phải đặt Thánh Kinh ở moat vị trị dễ thấy trong nhà thờ,
và Lời Chúa cần phải được công bố moat cách sơi sàng bởi những ai “quen
thuộc với những khả năng về truyền thông”.
Về vấn đề bài giảng – một trong những đề tài chính của thượng nghị này –
có những dự thảo nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải sửa soạn bài giảng cho
đàng hoàng, chu 1y 1ot71i các bài đọc thánh kinh trong ngày, những bài
đóc ấy có ư nghĩa ǵ với vị linh mục, và các nag2i cần phải nói ǵ với
cộng đồng theo chiều kích hoàn cảnh thực sự của họ. Nhu cầu “lectio
divina” (độc nguyện thánh kinh) cũng được nhấn mạnh nữa.
Các Nghị Phụ khuyến khích giáo dân nỗ lực truyền đạt đức tin, và theo đó,
đề cao vai tṛ bất khả châm chước của nữ giới, nhất là trong gia đ́nh,
trong việc dạy giáo lư cũng như trong thừa tác vụ đọc sách. Họ cũng cần
lưu ư là mặc dù phụng vụ Lời Chúa nắm vai tṛ đặc biệt đối với việc hội
ngộ với Chúa Kitô, cũng không được lẫn lộn với phụng vụ Thánh Thể.
Có dự thảo phản ảnh moat đề nghị của chính ĐTC, đó là trong việc dẫn
giải thánh kinh, cần phải nhớ đến hai phương pháp học được đề cập tới
trong Hiến Chế Tín Lư “Lời Chúa”, đó là phương pháp theo sử học và
phương pháp theo thần học. Sở dĩ như thế là bởi v́, như ngài bày tỏ
trong Thượng Nghị, “nếu thiếu khoa dẫn giải thánh kinh của đức tin th́
tất nhiên sẽ xuất phát moat thứ dẫn giải thánh kinh thực chứng và tục
hóa là những ǵ chối bỏ việc thần linh đi vào lịch sử của con người”.
Phần thứ ba cũng là phần cuối cùng bao gồm các dự thảo 38-54 về “Lời
Chúa trong Sứ Vụ của Giáo Hội”. Phần này bàn đến những vấn đề như Lời
Chúa và nghệ thuật phụng vụ, và việc chuyển dịch cùng phân phối Thánh
Kinh. Những dự thảo này cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những
phương tiện truyền thông đại chúng đối với việc truyền bá phúc âm hóa,
và cảnh báo chống lại mối nguy hiểm của moat thứ đọc thánh kinh cách bảo
thủ và hiện tượng các giáo phái.
Những vấn đề khác trong phần này bao gồm cả việc đối thoại liên tôn,
việc cổ vơ những cuộc hành hương, học hỏi Thánh Kinh ở Thánh Địa, đối
thoại với người Do Thái và Hồi giáo, cùng với mối liên hệ giữa Lời và
việc bảo vệ môi trường.
Các vị Nghị Phụ cũng kêu gọi củng cố việc đối thoại liên tôn và nhấn
mạnh rằng “tất cả mọi tín hữu cần phải được bảo đảm cách hữu hiệu quyền
tự do tuyên xưng tôn giáo của họ riêng cũng như chung, và quyền tự do
sống theo lương tâm của họ cần phải được nh́n nhận”. Những vị nghị phụ
này đề nghị là các hội đồng giám mục cần phải cổ vơ các cuộc gặp gỡ và
đối thoại với người Do Thái. Về vấn đề tín đồ Hồi giáo, các vị nhấn mạnh
đến “tầm quan trọng của vấn đề tôn trọng sự sống, cũng như các quyền lợi
của con người nam nữ, cùng với vấn đề phân biệt giữa các lănh vực chính
trị xă hội và tôn giáo trong việc cổ vơ công lư và ḥa b́nh trên thế
giới này. Phần quan trọng trong việc đối thoại này sẽ là vấn đề hỗ tương
và quyền tự do theo long tâm và tôn giáo”.
Ở khoản dự thảo cuối cùng, khoản giành cho Trinh Nữ Maria là mô phạm cho
đức tin của Giáo Hội, tín hữu được khích lệ hơn nữa trong việc đọc Kinh
Truyền Tin và Kinh Mân Côi.
Đaminh Maria Cao Tấn
Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 25/10/2008
(những chỗ được in đậm
lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính
yếu quan trọng)
“Tất cả Lề Luật Thần Linh được tóm lại trong yêu thương”
ĐTC BĐ XVI – Bài Giảng Kết Thúc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XII 2008 Chúa Nhật
26/10/2008
Chư Huynh trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục
Anh Chị Em thân mến!
Lời Chúa, được vang vọng
trong bài Phúc Âm mới đây, đă nhắc nhở chúng ta rằng tất cả Lề Luật Thần
Linh được tóm lại trong yêu thương. Thánh kư Mathêu đă nói với chúng ta
rằng những người Pharisiêu, sau khi những người Sadducê bị Chúa làm cho câm
miệng lại, đă gặp Người để thử Người (cf 22:34-35). Một người trong họ là tiến
sĩ luật đă hỏi Người rằng: ‘Thưa Thày, giới răn nào là giới răn quan trọng nhất
trong Lề Luật?” (22:36). Vấn nạn này cho người ta thấy được cái bối rối,
hiện hữu trong truyền thống Do Thái xưa, nơi việc t́m kiếm một nguyên tố thống
nhất cho các công thức khác nhau của Ư Muốn Thiên Chúa. Đây không phải
là một vấn nạn dễ giải quyết, v́ Lề Luật Moisen có 613 chỉ thị cùng với những
điều cấm đoán được chiêm ngắm. Làm thế nào để thấy được những ǵ là quan trọng
nhất trong các điều khoản ấy? Thế nhưng Chúa Giêsu đă không chần chờ và trả lời
ngay rằng: “Các người phải kính mến Chúa là Thiên Chúa hết ḷng, hết linh hồn và
hết trí khôn của ḿnh. Đó là điều răn trong nhất và trước nhất” (22:37-38).
Trong câu trả lời ấy Chúa Giêsu đă trích dẫn Shemà là lời cầu nguyện của người
Do Thái đạo đức mỗi ngày lập đi lập lại mấy lần, nhất là vào buổi sáng và buổi
tối (cf. Dt 6:4-9; 11:13-21; Nb 15:37-41): việc công bố bằng tất cả và trọn vẹn
t́nh yêu mến đối với Thiên Chúa là Chúa duy nhất. Điều được nhấn mạnh ở
đây đó là tính cách trọn vẹn hiến ḿnh cho Thiên Chúa, với 3 tài năng làm nên
cấu trúc tâm lư nội tâm của họ là tấm ḷng, linh hồn và trí khôn.
Chữ trí khôn, diánoia,
chất chứa yếu tố lư lẽ. Thiên Chúa chẳng những là đối tượng của t́nh yêu,
của việc dấn thân, của ư muốn và cảm t́nh, mà c̣n của cả lư trí nữa, một yếu tố
không thể bị loại trừ khỏi t́nh yêu này. Ư nghĩ của chúng ta cần
phải am hợp với ư nghĩ của Thiên Chúa. Thế nên, Chúa Giêsu dù sao cũng
đă thêm vào một điều mà thực ra vị tiến sĩ luật này đă không đặt vấn đề, đó là
“điều răn thứ hai cũng giống điều răn thứ nhất: Các người cần phải yêu thương
tha nhân như bản thân ḿnh” (22:39). Khía cạnh lạ lùng nơi câu trả lời của
Chúa Giêsu là ở sự kiện Người thiết lập cái tương tự giữa giới răn thứ nhất và
thứ hai, bấy giờ đă xác định bằng một công thức Thánh Kinh được lấy từ
luật thánh đức trong sách Levi nữa (19:18). Thế nên, hai giới luật này
được liên kết với nhau trong vai tṛ làm nên cái trục chính cho tất cả Mạc Khải
Thánh Kinh: “Toàn thể lề luật và lời tên tri đều được căn cứ vào hai giới luật
này” (22:40).
Đoạn phúc âm đang được
chúng ta chú trọng tới đây đă làm sáng tỏ ư nghĩa cho việc làm môn đệ của Chúa
Kitô là thành phần đang thực hành các giáo huấn của Người, những giáo huấn có
thể được tóm lại nơi giới luật trước nhất và trọng nhất của Luật Chúa đó là giới
răn yêu thương. Ngay cả Bài Đọc Thứ Nhất, được trích từ Sách Xuất Hành, cũng
nhấn mạnh tới nhiệm vụ yêu thương ấy; một t́nh yêu thương được chứng tỏ một cách
cụ thể nơi các mối liên hệ giữa các con người với nhau: ở chỗ, họ cần phải có
những mối liên hệ của ḷng trọng kính, của sự hợp tác, của việc quảng đại giúp
đáp. Thành phần kế tiếp cần phải được yêu thương đó là người lạ, kẻ mồ côi,
người góa bụa và kẻ nghèo khó, tức là những người công dân không được “ai bênh
đỡ”. Vị tác giả thánh đă đi sâu vào chi tiết, như nơi trường hợp của thứ đồ vật
được một trong những người nghèo khổ này đem đi cầm bán (cf. Ex 22:25-26). Nơi
trường hợp này, chính Thiên Chúa là bảo đảm viên cho t́nh trạng này của họ.
Nơi Bài Đọc Thứ Hai,
chúng ta có thể thấy một áp dụng cụ thể cho giới răn yêu thương cao cả nhất này
ở một trong những cộng đồng Kitô giáo tiên khởi.
Thánh Phaolô đă viết cho
tín hữu Thessalonica để làm cho họ hiểu rằng trong khi ngài mới biết họ trong
khoảng một thời gian ngắn ngài cũng đă cảm nhận họ và cảm thấy quí mến họ. Bởi
thế, ngài nói về họ như là “một tấm gương cho tất cả mọi tín hữu ở Macedonia và
Achaia” (1:6-7). Cộng đoàn mới được thiết lập này vẫn không thiếu những yếu kém
hay trục trặc, nh7ng t́nh yêu đă thắng vượt tất cả, canh tân tất cả, chiến thắng
tất cả, ở chỗ, t́nh yêu của những ai, khi biết được những giới hạn của ḿnh,
chân thành tuân theo lời của Chúa Kitô là Vị Sư Phụ Thần Linh, đă truyền đạt qua
một trong những người môn đệ trung thành của Người. Vị Tông Đồ này đă viết: “Anh
em đă lấy chúng tôi và Chúa như mẫu gương của ḿnh, đón nhận lời Chúa bằng niềm
hân hoan của Thánh Linh bất chấp những khốn khó lớn lao”. Ngài tiếp tục: “Chính
từ anh em mà lời Chúa đă vang lên – chẳng những khắp Macedonia và Achaia, v́
niềm tin tưởng của anh em nơi Thiên Chúa đă lan ruyền khắp nơi” (1Thes 1:6-8).
Bài học chúng ta rút ra được từ kinh nghiệm của tín hữu Thessalonica, và là một
kinh nghiệm làm nên yếu tố chung ở hết mọi cộng đồng Kitô hữu dích thực, đó là
t́nh yêu thương đối với tha nhân được xuất phát từ việc chân thành lắng nghe Lời
Chúa và chấp nhận cả những khốn khó v́ chân lư của lời Chúa, nhờ đó t́nh yêu
chân thật và chân lư mới chiếu sáng. Bởi thế cần phải lắng nghe Lời Chúa
và thể hiện lời này trong đời sống cá nhân và cộng đồng!
Trong việc Cử Hành Thánh Thể để bế mạc Thượng Nghị Giám Mục này, chúng ta đặc
biệt cảm thấy mối liên kết hiện hữu giữa việc ưu ái lắng nghe lời Chúa và việc
vô tư phục vụ đối với anh chị em.
Biết bao nhiêu lần trong ít ngày vừa qua chúng ta đă từng được nghe về kinh
nghiệm và chia sẻ nhấn mạnh đến nhu cầu cho thấy ngày nay cần phải sâu xa nghe
lời Thiên Chúa hơn, cần phải có một kiến thức thực sự hơn về Lời Cứu Độ của
Ngài; về việc chân thành chia sẻ hơn niềm tin được liên lỉ nuôi dưỡng ở bàn tiệc
Lời Chúa! Quí Huynh thân mến và khả kính, cám ơn chư huynh về việc mỗi người
trong chư huynh đă đóng góp vào việc bàn luận về đề tài của Thượng Nghị này:
“Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội”. (ĐTC ngỏ lời chào đến mọi
thành phần tham dự…)
(c̣n tiếp)
Đaminh Maria
Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/10/2008
(những chỗ
được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm
chính yếu quan trọng)