Cuốn Tổng Lược Giáo Huấn Về Xã Hội của Giáo Hội
ĐHY Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh về cuốn “Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội”
Hôm Thứ Bảy 5/2/2005, tại Trường Huấn Luyện Những Cuộc Dấn Thân Về Xã Hội của Học Viện Rạng Ngời Chân Lý, Đức Hồng Y chủ tịch hội đồng này là Martino đã ra mắt cuốn “Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội”, một tác phẩm được xuất bản vào 10/2004.
Trong bản thông báo của hội đồng này thì đức hồng y chủ tịch gọi Cuốn Tổng Lược đây là “tuyên ngôn về một tân nhân loại theo nghĩa là nơi cuốn tổng lược ấy người ta có thể tìm thấy nguồn cảm hứng và những chương trình, lý tưởng và lịch sử, cho một tân xã hội”.
Đối với vị hồng y chủ tịch này thì “chỉ có thể đạt được một chủ nghĩa nhân bản nguyên vẹn và kết đoàn bằng những dự án được phác họa và hiện thực bằng quyền lực của văn hóa xã hội và các chính sách chung mà thôi”.
Ngài hồng y chủ tịch cũng nhấn mạnh đến “nhu cầu cần phải thống nhất hành động để cho thấy cái hiệu năng của những dự án được tác động bởi… nội dung chân thật nơi giáo huấn về xã hội của Giáo Hội”.
Ngài nhận định đúc kết là “việc hiện thực các dự án chung sẽ làm cho việc thành phần Công giáo dấn thân về xã hội và chính trị được dễ dàng hơn, chẳng những về lãnh vực đức tin và giá trị mà còn về văn hóa xã hội và chính trị nữa”.
Hôm Thứ Sáu 8/10/2004, trong Tuần Lễ Xã Hội của Người Công Giáo Ý được tổ chức ở Bologna, ĐHY Renato Martino, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Công Lý và Hòa Bình đã loan báo rằng cuốn tổng lược này sẽ được phát hành vào ngày 25/10/2004.
Bản văn kiện này, được soạn thảo bởi hội đồng tòa thánh này và được giới thiệu
bởi ĐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, sẽ bao gồm một cách hệ thống
những nguyên tắc về giáo huấn xã hội của Giáo Hội liên quan tới những lãnh vực
khác nhau trong đời sống cộng đồng.
Việc loan báo về việc sắp phát hành cuốn tổng lược cẩm nang này, việc phát hành
sẽ xẩy ra vào ngày khai mạc của đại hội của Hội Đồng Tòa Thánh đây. Theo vị chủ
tịch của hội đồng này thì cuốn tổng lược ấy được “chia ra làm 3 phần, nói về các
nguyên tắc, về nội dung và về những quan điểm mục vụ” trong giáo huấn của Giáo
Hội, để giải quyết một cách thích đáng “những vấn đề về xã hội trong thời đại
của chúng ta”.
Trong bài diễn văn ở Bologna, vị hồng y chủ tịch đã chia sẻ: “Tôi tin rằng cuốn
tổng lược này sẽ là một dụng cụ ích lợi cho việc hiểu biết về luân lý và mục vụ
của những biến cố phức tạp đánh dấu thời đại chúng ta đây”.
Theo ngài, cuốn tổng lược này “là một bản hướng dẫn để soi động, ở cả cấp độ cá
nhân cũng như cộng đồng, tác hành và chọn lựa giúp con người có thể nhìn về
tương lai một cách tin tưởng và hy vọng”.
Bản văn kiện này nói lên những vấn đề quan hệ hiện nay, như vấn đề toàn cầu hóa,
vấn đề hệ thống tài chính quốc tế, vấn đề vai trò của cộng đồng quốc tế trong kỷ
nguyên kinh tế toàn cầu này, vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội và các cộng đồng tôn
giáo, và vấn đề chiến đấu với nạn khủng bố.
Cuốn tổng lược này đã được khởi xướng bởi Đức Cố Hồng Y tiền nhiệm của vị chủ
tịch đương nhiệm, đó là ĐHY Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, vị qua đời vào
tháng 9/2002.
Quyền Lực của Tòa Thánh Vatican và Hoa Kỳ: những điểm khác biệt
Ông Rafael Navarro-Valls, giáo sư dạy Đại Học Complutense ở Maní và là Tổng Bí Thư của Hàn Lâm Viện Hoàng Vương Tây Ban Nha Về Tư Pháp và Lập Pháp, vừa cho xuất bản một tác phẩm nhan đề “Về Quyền Lực Và Vinh Quang”. Cuốn sách này là tổng hợp những bài viết về các khía cạnh khác nhau giữa tổng thống Hoa Kỳ và thẩm quyền lãnh đạo thiêng liêng của ĐTC GPII. Tác phẩm này cũng nói đến cả các vần đề về “Phái Tính, Hôn Nhân và Luật Pháp”, “Văn Hóa và Đại Học”, “Lương Tâm và Luật Pháp”, những gì đưoọc tác giả dẫn giải trong cuộc phỏng vấn với cơ quan tín liệu Tây Ban Nha Veritas như sau.
Vấn: Ý định của ông như thế nào trong việc thu thập các loạt bài này để làm thành tập sách của ông?
Đáp: Khi tập trung vào cung cách tương đương về quyền lực của vị tổng thống Hiệp Chủng Quốc và quyền lực của Đức Giáo Hoàng, đệ nhất thẩm quyền thiêng liêng trên thế gian này, tôi muốn cho thấy một loạt những tương phản giữa hai quyền lực chỉ được phân biệt chỉ bằng “đường tơ kẽ tóc đỏ”.
Nếu Hoa Thịnh Đốn là khấu trường chính trị có vị tổng thống đóng vai chính thì Rôma là Tòa Giáo Hoàng, vị tin rằng bất cứ ai trên thế giới này cũng là diễn viên trong đại kịch bản do Thiên Chúa sáng tác.
Vấn: Chức vụ tổng thống Hiệp Chủng Quốc trở nên sôi nổi khi gần đến ngày bầu cử 2/11. Theo ý của ông thì đâu là những đặc tính về đạo lý cần phải thấy nơi con người có quyền lực nhất này?
Đáp: Chức vụ tổng thống này có hai bộ mặt: một bộ mặt mang lại hy vọng và có tính cách truyền thống; còn bộ mặt kia, đen đủi hơn, bao gồm những lời hứa hẹn bất thành cùng với những thực tại thô lỗ. Kissinger đã nói rằng quí vị “cần phải là một cái tôi cự phách không cần việc làm mới có thể trở thành ứng cử viên chức vụ tổng thống Hiệp Chủng Quốc”.
Đó không phải là quan điểm của tôi. Tôi nghĩ rằng một vị tổng thống cần phải đức tính, có óc tò mò tri thức, có nghị lực, có một cảm quan về lịch sử và có một nhãn quan về tương lai.
Những cuộc khủng hoảng ông thấy hằng ngày ở Tòa Bạch Ốc là một chuỗi những thách đố mà các vị tổng thống đã không bao giờ có thể giải quyết được. Do đó mà tất nhiên những bài viết (làm nên phần thứ nhất của cuốn sách) mới nói đến hết mọi thứ vấn đề, như các gương mù và vấn nạn, những lầm lỗi và thành quả quan trọng, sự liêm khiết và bại hoại.
Việc tôi nghiên cứu về vai trò tổng thống Roosevelt, Kennedy, Reagan, Bush bố, Clinton và Bush con, v.v. đều cho thấy như thế, mặc dù cuốn sách này cũng phân tích cả những nhân vật khác nắm trong tay quyền lực, như Churchill, De Gaulle và Bob Kennedy.
Vấn: Ông đã giành phần dài nhất cuốn sách để phân tích về “quyền lực thiêng liêng” cùng với những vấn đề liên hệ đến quyền lực này. Quan điểm của ông về Đức Gioan Phaolô II ra sao?
Đáp: Đức Gioan Phaolô II là một nhà cách mạng, vị dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại một lối sống bị chi phối, như Indro Montanelli nói, “bởi nỗi lo âu về cái mới mẻ mà vào buổi chiều đã trở thành hư nát những gì mới được sáng tạo vào ban sáng”.
“Những phân rẽ thê thảm (của cuộc nổi dậy) này (tương phản với những cuộc phân rẽ của Ngũ Giác Đài) là những gì bất khả đo lường được theo nghĩa quân sự, thế nhưng các hoạt động và ngôn từ của nó có một quyền lực liêm chính, một quyền lực bị kẻ thù của nó bình phẩm là liều lĩnh táo bạo của những ai nâng qui chuẩn lên trên bầu không khí tầm thường.
Thật vậy, hầu hết cuốn sách nói đến một loạt vấn đề có vai chính là quyền lực thiêng liêng của vị Giáo Hoàng. Đây là một quyền lực, như tôi đã nói đến trước đây, nhiều lần đã bị tách rời khỏi thực tại chỉ bằng một đường tơ kẽ tóc đỏ.
Tất nhiên ở biên giới ấy đã xẩy ra những cuộc giao tranh về căn tính (trào lưu tục hóa và những giới hạn của nó, quyền tự do diễn đạt và yếu tố tôn giáo, giáo phái, lãnh vực chung riêng nơi hoạt động chính trị v.v.). Tôi cẩn thận nghiên cứu những vấn đề ấy.
Ngoài ra, cuốn sách này bao gồm cả việc phân tích những loạt hành động khác của Đức Gioan Phaolô II (chuyến tông du tới Cuba, Trung Đông, việc Ngài tranh đấu cho nhân quyền, mối liên hệ giữa Ngài với Thẩm Quyền Palestine và Do Thái, Fatima và Bí Mật Phần Thứ Ba, việc Ngài đối đầu với những chủ nghĩa độc tài mới v.v.) đều là những gì chứng tỏ cho thấy một cách rõ ràng hoạt động liên tục của Ngài.
Những thách đố vị Giáo Hoàng này cần phải giải quyết ở Quảng Trường Thánh Phêrô còn phức tạp hơn nhiều những thách đố của tổng thống ở Tòa Bạch Ốc.
Vấn: Hai lần trong cuộc phỏng vấn này ông đã đề cập tới “đường tơ kẽ tóc đỏ” phân biệt quyền lực thiêng liêng khỏi quyền lực trần thế. Ông có thể quảng diễn thêm ý tưởng này hay chăng?
Đáp: Chỉ có ai đơn sơ mới nghĩ rằng không có những gì là bất ngờ xẩy ra nơi cái biên giới mập mờ này. Thế nhưng, những cái bất ngờ và chạm trán là một chuyện còn những mâu thuẫn lại là chuyện hoàn toàn khác hẳn.
Ngày nay chúng ta chứng kiến thấy một thứ khuynh hướng tò mò của truyền thông đại chúng trong việc pha mình vào phán đoán những hành động thuần túy tôn giáo thuộc thẩm quyền giáo hội. Một thứ khuynh hướng mà, qua hình thức cực đoan của nó, làm bốc lên những ngọn lửa hỏa lò dân sự thiêu cháy những thẩm quyền ấy, những thẩm quyền được coi như là những tân lạc giáo về xã hội.
Đó là điều tương tự đang xẩy ra ở Tây Ban Nha đáp lại những hành động hợp lý của thẩm quyền giáo hội phán quyết về chính sách gia đình của chính quyền liên quan đến vấn đề ly dị, giảng dạy đạo nghĩa, hôn nhân đồng tính v.v. Nếu phân tích nhiều báo chí và truyền hình thì kết quả là một ghi nhận dài dòng thảm thiết chất chứa một thứ giải thích thiên kiến, đem một “thứ phẩm trật truyền thống” đối chọi với “những nhà cải cách can trường” của Giáo Hội.
Điều này cũng đang xẩy ra, chẳng hạn ở Hiệp Chủng Quốc nữa. Ccáh đây không lâu, có một bài báo dài đã được phổ biến, phân tích việc đối xử từ những lãnh vực quan trọng của các ngành truyền thông về những vấn đề liên hệ tới luân lý thần học của Giáo Hội Công Giáo. Kết quả đó là những lập luận của các tín liệu này đã xoay tít “chung quanh một thẩm quyền giáo hội bị công hãm đang cố gắng để áp đặt truyền thống của mình bằng những hình thức kiểm soát đầy uy quyền và bằng một tập trung lỗi thời vào xã hội tân tiến”.
Vấn đề đặc biệt xẩy ra với tin tức liên quan tới thế giới đồng nam tính. Chúng ta đang chứng kiến thấy một hình thức “phản hồi chủ nghĩa giáo sĩ” là những gì về phía dân sự đang nỗ lực để làm tái diễn qui lệ trần thế cổ thời, tức là bắt đạo giáo phải tuân theo các xu hướng ý hệ. Đây là một thứ thú nhận mới mẻ sặc mùi trần thế.
Vấn: Một phần khác của cuốn sách giành cho những bài viết về “Phái Tính, Hôn Nhân và Luật Lệ”. Quyền lực dân sự và giáo hội ở đây được so sánh ra sao?
Đáp: Phần này bao gồm một chuỗi những bài viết cho thấy điểm ráp nối tinh tế nhất giữa xã hội dân sự và Giáo Hội, đó chính là hôn nhân và gia đình. Gia đình (“một thứ dân chủ nhỏ bé nhất”) ngày nay đang phải chịu những cơn gió đổi thay về những quan niệm đang thay đổi những gì làm nên truyền thống của nó.
Cần phải giải cứu gia đình khỏi cái đam mê của các phương tiện truyền thông cũng như cần phải được thẩm lượng theo những quan điểm thích hợp hơn về các vấn đề như bạo lực tình dục, những cuộc kết hợp như thật theo pháp quyền và những đôi phối ngẫu được công nhận, những thứ đạo lý sinh học mới, những thứ nan giải về luân lý phát sinh từ các kỹ thuật truyền sinh mới và rất nhiều những vấn đề khác về luân thường đạo lý và pháp lý. Đó là những gì tôi đã cố gắng để thực hiện nơi cuốn sách này.
Vấn: Đề tài của chương mang tựa đề “Lương Tâm và Lề Luật” muốn nói đến là gì?
Đáp: Không có một quyền lực thiêng liêng nào mãnh liệt hơn lương tâm của mỗi người. Đó là lý do tại sao, thường xẩy ra hơn bao giờ hết, tận thẳm cung của lương tâm con người có một thảm kịch tối tăm không có gì là lạ đang mở ra, ở chỗ con người cần phải chọn lựa giữa phận sự của lương tâm buộc phải tuân theo qui tắc hợp pháp (căn cứ vào những gì được chúng ta gọi là “lương tâm chung của xã hội”), với một phận sự đôi khi chống cưỡng trước những đòi hỏi lương tâm cá nhân con người phải tuân theo qui tắc về luân lý.
Những gì mà nhiều năm trước đây là cốt lõi của việc chống đối theo lương tâm, như việc từ chối cầm súng phục vụ quân đội, thì ngày nay đã nổ tung ra cả ngàn chiều hướng khác nhau theo kiểu đại phá về pháp lý, như việc theo lương tâm chống đối vấn đề phá thai, vấn đề các dược liệu, vấn đề chữa trị về y khoa, vấn đề thuế má, vấn đề các phương tiện giáo dục, vấn đề các thí nghiệm về khoa học v.v.
Những gì đang xẩy ra nơi luật lệ Tây Phương đây? Không kể đến tính cách cơ hội của hành vi biệt lập thì các nhóm thiểu số hiểu rõ ràng một cách hết sức cảm thức là đang có những cái mâu thuẫn nào đó hiện hữu nơi nền văn hóa tân tiến.
Bởi vậy mà, chẳng hạn, trong một xã hội bị tục hóa thì sự sống con người đòi phải hết sức cẩn trọng. Theo chiều hướng mất đi cảm quan về đời sau, sự sống hiện thời có một tính chất khác. Thế nhưng đồng thời sự sống con người có thể bị đe dọa bởi những cuộc xung đột chẳng khác gì cuộc chiến tranh, cũng như bởi việc lập pháp cho phép sát hại vào lúc bắt đầu và cuối sự sống. Bởi thế không lạ gì mà việc chống đối theo lương tâm bới phát hiện ở những lãnh vực này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
dịch từ Zenit ngày 26/9/2004
Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình: Bản Thập Điều về Đạo Lý và Môi Trường
Trong hội nghị “Đạo Lý và Môi Trường” hôm Thứ Hai 7/11/2005 được tổ chức tại Đại Học Âu Châu ở Rôma, ĐHY Renato Martino, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình đã đọc bài diễn văn ở hội nghị này, trong khi đó, Đức Giám Mục Giampaolo Crepaldi, thư ký của hội đồng này đã tóm tắt thành mười giới răn những giáo huấn ở chương thứ 10 của Cuốn Tổng Lược Giáo Huấn về Xã Hội của Giáo Hội. Sau đây là bản thập điều này:
1. Thánh Kinh phải chi phối các nguyên tắc luân lý trọng yếu về dự án của Thiên Chúa đối với mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên tạo vật.
2. Cần phải khai triển một thứ lương tâm về môi sinh tỏ ra hữu trách đối với thiên nhiên tạo vật và nhân loại.
3. Vấn đề môi trường bao gồm cả hành tinh này như thể nó là một sự thiện chung.
4. Cần phải coi trọng tính cách chính yếu của đạo lý cũng như của quyền lợi của con người hơn là kỹ thuật.
5. Thiên nhiên tạo vật không được coi như là một thực tại có bản chất thần linh; bởi thế, nó không được tách khỏi hoạt động của con người.
6. Những sản vật trên trái đất này được Thiên Chúa dựng nên cho thiện ích của tất cả mọi người. Cần phải nhấn mạnh đến mục đích phổ quát của các sản vật.
7. Cần phải thực hiện việc hợp tác trong việc phát triển lớp lang ở những miền đất nghèo khổ nhất.
8. Việc hợp tác quốc tế, quyền được phát triển, một môi trường lành mạnh và vấn đề hòa bình là những gì cần phải được cứu xét đến nơi những pháp chế khác nhau.
9. Cần phải chấp nhận những lối sống điều độ hơn nữa.
10. Cần phải cống hiến một đáp ứng linh thiêng trong việc không tôn thờ thiên nhiên tạo vật.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 8/11/2005
“Bác Ái và Công Lý nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc”
ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi Đại Hội Thường Niên lần XIII của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học 27/4-1/5/2007
“Chỉ nguyên công lý thôi vẫn không đủ để thiết lập những mối liên hệ nhân bản và huynh đệ trong xã hội”.
Kính Gửi Bà Chủ Tịch Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học
Giáo Sư Mary Ann Glendon
Nhân dịp Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Xã Hội Học, tôi hân hoan gửi lời chào đến bà cũng như thành phần tôn nghị viên của bà, và tôi nguyện chúc cho cuộc họp bàn của anh chị em được tốt đẹp.
Cuộc họp của Hàn Lâm Viện này cho năm nay đây giành để khảo sát đề tài: ‘Đức Ái và Công Lý nơi Các Mối Liên Hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc’. Giáo Hội không thể nào không chú trọng tới chủ đề này, vì việc theo đuổi thực hiện công lý và cổ võ nền văn minh yêu thương là những khía cạnh thiết yếu nơi sứ vụ loan truyền Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô của Giáo Hội. Việc xây dựng một xã hội công chính chắc chắn là trách nhiệm chính yếu của phạm vi chính trị, cả nơi từng Quốc Gia cũng như nơi cộng đồng quốc tế. Bởi thế, nó đòi hỏi ở mọi cấp độ một việc hành sử nghiêm chỉnh lý trí thực tiễn và một thứ trau luyện của ý chí để nhận thức và đạt tới những đòi hỏi đặc biệt của công lý hoàn toàn hợp với công ích và phẩm vị bất khả tách biệt của mỗi người. Trong bức Thông Điệp Deus Catitas Est của tôi, tôi đã tái khẳng định, vào lúc mở màn cho giáo triều của tôi, việc Giáo Hội ước mong góp phần vào việc cần thanh tẩy lý trí ấy, trong việc giúp đào luyện lương tâm cũng như trong việc phấn khích đàp ứng hơn nữa với những đòi hỏi chân thực của công lý. Đồng thời tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, thậm chí ngay ở cả những xã hội công chính nhất, bao giờ cũng cần phải giành chỗ cho đức bác ái: ‘không có một trật tự Quốc Gia nào chân chính đến nỗi nó lại có thể loại trừ đi nhu cầu phục vụ yêu thương’ (số 28).
Niềm xác tín này của Giáo Hội về tính cách bất khả phân ly giữa công lý và bác ái trước hết được xuất phát từ những gì Giáo Hội cảm nghiệm về đức công minh và tình thương vô cùng của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, và tính cách ấy được thể hiện nơi việc Giáo Hội nhấn mạnh rằng chính con người và phẩm vị bất khả biếm giảm của họ cần phải là tâm điểm của đời sống chính trị và xã hội. Bởi thế, giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn không phải chỉ được ngỏ cùng thành phần tín hữu mà còn cho tất cả mọi con người thành tâm thiện chí nữa, là những gì am hợp với lý trí đứng đắn và là một hiểu biết lành mạnh về bản tính con người khi đề ra những nguyên tắc có khả năng hướng dẫn cá nhân cũng như cộng đồng trong vấn đề theo đuổi thực hiện một trật tự xã hội thấm đậm công lý, tự do, đoàn kết huynh đệ và bình an. Theo nguyên tắc nống cốt ấy thì hết mọi sự được trái đất này sản xuất ra và tất cả những gì con người biến đổi và chế tạo, tất cả mọi kiến thức và kỹ thuật của họ, đều để phục vụ cho việc phát triển và viên trọn về vật chất cũng như tinh thần của gia đình nhân loại cũng như của tất cả mọi phần tử của gia đình này.
Từ quan điểm vẹn nguyên về nhân loại này, chúng ta có thể hiểu trọn vẹn hơn nữa vai trò thiết yếu của đức bác ái trong việc theo đuổi công lý. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tin tưởng rằng chỉ nguyên công lý thôi vẫn không đủ để thiết lập những mối liên hệ nhân bản và huynh đệ trong xã hội. Ngài chủ trương rằng: “trong hết mọi lãnh vực của các quan hệ liên cá vị, công lý có thể nói là cần phải được ‘chỉnh đốn’ cho đến nỗi nhờ đó tình yêu, như Thánh Phaolô tuyên bố, ‘thì nhẫn nại và nhân ái’, hay nói cách khác, tình yêu chiếm hữu những đặc tính của thứ tình yêu nhân hậu đầy yếu tính của Phúc Âm và Kitô Giáo” (Dives in Misericordia, 14). Tóm lại, đức bác ái chẳng những giúp cho công lý có thể trở nên sáng tạo hơn và đương đầu với những thách đố mới; nó còn phấn khích và thanh tẩy các nỗ lực của con người trong việc chiếm đạt công lý chân thực, nhờ đó xây dựng một xã hội xứng đáng với con người.
Khi nào ‘mối quan tâm đối với tha nhân vượt lên trên những giới hạn của các cộng đồng quốc gia và càng mở rộng chân trời của mình đến toàn thế giới’ (Deus Caritas Est, 30), thì mối liên hệ nội tại giữa đức ái và công lý cần phải được hiểu rõ hơn và nhấn mạnh hơn n ữa. Trong khi bày tỏ niềm tin tưởng của tôi về thành quả gặt hái được từ những cuộc bàn luận của anh chị em vào những ngày đây liên quan tới vấn đề liên hệ ấy, tôi muốn vắn gọn xin anh chị em chú trọng tới ba thách đố đặc biệt đang gây khó dễ cho thế giới của chúng ta, những thách đố tôi tin rằng chỉ có thể đương đầu bằng một cuộc mạnh mẽ dấn thân thực hiện một thứ công lý được bác ái tác động hơn nữa.
“Để đương đầu những thách đố trên đây, chỉ có tình yêu thương tha nhân mới có thể tác động trong chúng ta thứ công lý phục vụ sự sống và cổ võ nhân phẩm mà thôi”.
Thánh đố đầu tiên liên quan tới vấn đề môi trường và việc phát triển khả trợ. Cộng đồng quốc tế nhìn nhận rằng các nguồn tài nguyên của thế giới này là những gì hạn hữu, và tất cả mọi người đều phải có nhiệm vụ áp dụng các chính sác h bảo vệ môi trường, để tránh khỏi tình trạng hủy hoại cái vốn liếng thiên nhiên vẫn chất chứa những hoa trái cần thiết cho sự phúc hạnh của nhân loại. Để đáp ứng cái thách đố này, điều cần phải làm đó là một phương sách liên ngành như anh chị em đã từng sử dụng. Cũng cần phải có khả năng thẩm định và tiên liệu, thanh tra các nguyên động lực của tình trạng thay đổi về môi trường cũng như về việc phát triển khả trợ, cùng phác họa và áp dụng những giải pháp ở lãnh vực quốc tế. Đặc biệt cần phải chú ý tới sự kiện là các quốc gia nghèo khổ nhất là những nơi có thể phải trả giá mắc nhất cho tình trạng tệ hại suy thoái về môi sinh. Trong Sứ Điệp của tôi gửi cho Ngày Thế Giới Hòa Bình 2007, tôi đã vạch ra cho thấy rằng ‘việc hủy hoại môi trường, việc sử dụng môi trường một cách bất chính hay vị kỷ, và việc giành giật tích trữ các tài nguyên thiên nhiên… là hậu quả của một thứ quan niệm phi nhân bản về phát triển, thế nhưng đó là thứ méo mó một chiều sẽ đi đến chỗ làm bung tỏa các khả năng hủy hoại của con người’ (số 9). Trong việc đối đầu với những thách đố về việc bảo vệ môi trường cũng như về việc phát triển khả trợ, chúng ta được kêu gọi để cổ võ và “bảo toàn những điều kiện về luân lý cho một thứ ‘môi sinh nhân bản’ đích thực” (Thông Điệp Bách Niên, số 38). Bởi vậy điều này cần phải có một mối liên hệ hữu trách chẳng những với thiên nhiên tạo vật mà còn với cả tha nhân của chúng ta nữa, dù gần hay xa, về không gian và thời gian, cũng như với Đấng Hóa Công vậy.
Vấn đề này mang chúng ta tới cái thách đố thứ hai liên quan tới quan niệm của chúng ta về con người, và do đó liên quan tới các mối liên hệ của chúng ta với nhau. Nếu con người không được coi là những con người, nam nữ, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (x Gen 1:26), và được phú bẩm cho một phẩm vị bất khả vị phạm, thì sẽ rất ư là khó khăn trong việc chiếm đạt sự công chính trọn vẹn trên thế giới này. Mặc dù các thứ quyền lợi của con người đã được nhìn nhận trong các bản tuyên ngôn quốc tế cũng như trong các v ăn kiện pháp lý, vẫn cần phải thực hiện nhiều tiến bộ hơn nữa trong việc áp dụng việc nhìn nhận ấy vào những vấn đề toàn cầu, như vấn đề gia tăng khoảng cách giữa các quốc gia giầu và nghèo; việc phân phối và cung cấp bất quân bình các thứ tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phong phú do haọt động con người tạo được; thảm trạng đói, khát và bần cùng trên một hành tinh có dồi dào lương thực, nước nôi và thịnh vượng; tình trạng khổ đau của nhân loại nơi thành phần tị nạn và tản mạn; những thứ hận thù liên tục ở nhiều phần đất trên thế giới; vấn đề thiếu bảo vệ về pháp lý cho thành phần thai nhi; việc khai thác trẻ em; việc buôn bán quốc tế con người, vũ khí và thuốc phiện; và nhiều thứ bất chính trầm trọng khác nữa.
Thách đố thứ ba liên quan tới các thứ giá trị về tinh thần. Bị áp đảo bởi những lo âu về kinh tế, chúng ta có khuynh hướng quên đi rằng, không giống như các thứ sản vật về chất thể, những sản vật về tinh thần xứng hợp với con người là những gì vươn rộng và gia tăng khi được truyền đạt: không như các thứ sản vật khả phân, những thứ sản vật về tinh thần như kiến thức và giáo dục là những gì bất khả phân, và người ta càng chia sẻ chúng đi thì chúng càng được sở hữu. Vấn đề toàn cầu hóa đã làm gia tăng mồi liên thuộc của các dân tộc, nơi các truyền thống khác nhau của họ, nơi tôn giáo và hệ thống giáo dục của họ. Điều này có nghĩa là các dân tộc tr ên thế giới, đối với tất cả những gì là khác biệt của mình, đang liên lỉ học biết nhau và đang tiến đến chỗ giao tiếp với nhau một cách rộng lớn hơn nữa. Bởi vậy mà vấn đề hết sức quan trọng ở đây đó là nhu cầu thực hiện một cuộc đối thoại có thể giúp cho con người hiểu được các truyền thống riêng của họ qua các tuyền thống của kẻ khác, giúp cho họ phát triển việc tự thức hơn nữa trước những thách đố đối với căn tính của họ, và nhờ đó phát động việc hiểu biết cùng nhìn nhận những giá trị đích thực của con người theo chiều kích liên văn hóa. Để đáp ứng những thách đố ấy, cần phải thực hiện một thứ bình đẳng chân chính về cơ hội, nhất là nơi lãnh vực giáo dục và truyền đạt kiến thức. Tiế cthay, vấn đề giáo dục, nhất là ở bậc sơ cấp, vẫn còn thiếu hụt một cách thê thảm nơi nhiều phần đất trên thế giới.
Để đương đầu những thách đố trên đây, chỉ có tình yêu thương tha nhân mới có thể tác động trong chúng ta thứ công lý phục vụ sự sống và cổ võ nhân phẩm mà thôi. Chỉ có tình yêu thương trong gia đình được xây dựng trên một người nam và một người nữ là thành phần được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, mới có thể bảo đảm được tình đoàn kết liên thế hệ là tình đoàn kết truyền đạt yêu thương và công lý cho các thế hệ sau này. Chỉ có đức ái mới có thể phấn khích chúng ta đặt con người một lần nữa vào tâm điểm của đời sống trong xã hội cũng như vào tâm điểm của một thế giới được toàn cầu hóa dưới sự chi phối của công lý.
Các Phần Tử của Hàn Lâm Viện đây thân mến, với những cân nhắc ấy, tôi khuyến khích anh chị em tron g lúc anh chị em đang dấn thân thi hành công cuộc quan trọng của anh chị em. Tôi ưu ái xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan, hoan lạc và bình an cho anh chị em và những nhười thân yêu của anh chị em.
Tại Vatican ngày 28/4/2007
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/5/2007