“Bản Ghi Chú về Tín Lư liên quan tới một số khía cạnh của việc truyền bá phúc âm hóa”
Văn Kiện liên quan tới một số khía cạnh liên quan tới tín lư về Giáo Hội
“Những Hướng Dẫn Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Về Đường Xá”
“Bác Ái và Công Lư nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc”
Thông Báo của Ṭa Thánh về các tác phẩm của linh mục Jon Sobrino
“Bệnh phong cùi đă trở thành một ‘chứng bệnh bị lăng quên’”
“Bản Ghi Chú về Tín Lư liên quan tới một số khía cạnh của việc truyền bá phúc âm hóa”
Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin
Sáng hôm 14/12/2007, tại Văn Pḥng Báo Chí của Ṭa Thánh đă có một cuộc tŕnh bày về “Bản Ghi Chú Tín Lư về một số khía cạnh của việc truyền bá phúc âm hóa” do Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin soạn thảo, liên quan tới 3 khía cạnh (cũng là 3 phần chính của văn kiện) nhân loại học, giáo hội học và đại kết của vấn đề truyền bá phúc âm hóa này, để làm sáng tỏ một số vấn đề lầm lẫn được đặt ra có thể tác hại đến công cuộc truyền bá phúc âm hóa. Kèm theo bản văn kiện chính thức c̣n có bản tóm gọn bằng Anh ngữ bao gồm những điểm chính yếu. Sau nay là một số doạn được trích từ bản tóm gọn ấy:
“Bản Ghi Chú về Tín Lư này chính yếu được giành để tŕnh bày ư thức của Giáo Hội Công Giáo về sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Kitô Hữu, một sứ vụ loan báo Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô”.
“Ngày nay đang xẩy ra t́nh trạng ‘gia tăng sự lầm lẫn’ về sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội. Một số người nghĩ ‘rằng bất cứ một nỗ lực nào muốn thuyết phục kẻ khác về vấn dề tôn giáo đều là một thứ hạn hẹp hóa quyền tự do của họ, nên cho rằng chỉ can mời gọi dan chúng ‘hăy tác hành theo long tâm của họ’, hay ‘sống nhân bản hơn hoặc trung thành hơn với tôn giáo riêng của họ’, hay ‘xây dựng những cộng đồng tranh đấu cho công lư, tự do, ḥa b́nh và đoàn kết’, cứ đừng nhắm đến việc hoán cải họ về với Chúa Kitô và về với đức tin Công Giáo.
“Có những người lại lập luận rằng không được phát động việc hoán cải về với Chúa Kitô v́ con người ta vẫn có thể được cứu độ mà không cần phải có niềm tin tưởng rơ ràng vào Chúa Kitô hay phải chính thức gia nhập vào Giáo Hội”.
“Những hàm ư về nhân loại học”
“Cho dù có một số h́nh thức bất khả thần tri và tương đối thuyết phủ nhận con người có khả năng nhận biết chân lư, thật ra tự do của con người không thể nào tách khỏi mối liên hệ của nó với chân lư”.
“Việc t́m kiếm chân lư này không thể nào hoàn toàn thực hiện nổi bởi sức riêng của con người, mà chắc chắn cần đến sự giúp đỡ của người khác và tin tưởng vào kiến thức con người nhận được từ kẻ khác. Bởi thế, việc giảng dạy và tiến tới chỗ đối thoại để dẫn người ta trong việc tự do nhận b iết và yêu mến Chúa Kitô không phài là những ǵ xâm lấn một cách bất thích đáng đối với quyền tự do của con người, ‘trái lại là một nỗ lực hợp lư và là việc phục vụ có thể làm cho những mối liên hệ của con người được sinh hoa kết trái hơn nữa’”.
“Nhờ việc truyền bá phúc âm hóa mà các nền văn hóa được cảm hóa một cách tích cực bởi chân lư Phúc Âm. Cũng thế, nhờ việc truyền bá phúc âm hóa mà các phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo cởi mở đón nhận các tặng ân thuộc những truyền thống và văn hóa khác”.
“Bất cứ một phương thức đối thoại nào có tính cách dụ dỗ áp buộc hay bất xứng đều là những ǵ thiếu tôn trọng phẩm vị và quyền tự do tôn giáo của thành phần tham dự vào cuộc đối thoại ấy đều không có chỗ đứng trong việc truyền bá phúc âm hóa của Kitô Giáo”.
“Một số hàm ư về giáo hội học”.
“Đối với việc truyền bá phúc âm hóa của Kitô giáo, th́ ‘việc gia nhập của các phần tử mới vào Giáo Hội không phải là vấn đề gia tăng một nhóm quyền lực, mà là gia nhập một cơ cấu thân hữu với Chúa Kitô là mốt thân hữu liên kết trời đất với nhau, các châu lục và lứa tuổi với nhau’”.
“Bản Ghi Nhận về Tín Lư trích lại những lời của Công Đồng Chung Vaticanô II trong ‘Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến (Vui Mừng và Hy Vọng) là việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo và việc cổ vơ của Giáo Hội ‘dù sao cũng không được làm cho chúng ta dửng dưng trước sự thật và sự thiện. Thật vậy, t́nh yêu thôi thúc thành phần môn đệ của Chúa Kitô loan báo tất cả sự thật là những ǵ cứu độ’”.
“Những hàm ư về vấn đề đại kết”
“Những chia rẽ của Kitô Giáo có thể trầm trọng tác hại tới uy tín cho sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội”.
“Khi việc truyền bá phúc âm hóa của Công Giáo thực hiện ở một xứ sở có các Kitô hữu khác đang sinh sống, th́ những người Công Giáo phải thận trọng thi hành sứ vụ của ḿnh về cả việc tỏ ra ‘tôn trọng thực sự đối với truyền thống và những kho tàng thiêng liêng của các quốc gia ấy cũng như tỏ ra tinh thần chân t́nh hợp tác’. Việc truyền bá phúc âm hóa được tiến hành bằng việc đối thoại chứ không phải bằng việc dụ giáo”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 14/12/2007
Một Lời Chung Giữa Chúng Tôi và Anh Em
“Bức Thư Ngỏ và Kêu Gọi của Chư Vị Lănh Đạo Tín Đồ Hồi Giáo” gửi các vị lănh đạo thuộc Chư Giáo Hội Kitô Giáo khác nhau như là một sứ điệp vui mừng nhân dịp kết thúc mùa chay tịnh Ramadan 1428/2007, cũng nhân dịp kỷ niệm đệ nhất chu niên “Bức Thư Ngỏ của 38 Học Giả Hồi Giáo gửi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI” là một biến cố hết sức ư nghĩa mà chúng tôi không thể không ghi nhận và cần phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó. Bởi thế, là những phần tử nhân viên Học Viện Ṭa Thánh Rôma Nghiên Cứu Ả Rập và Hồi Giáo (PISAI: Rome Pontifical Institute for Arabic and Islamic Studies), đặc biệt quan tâm đến những liên hệ giữa tín đồ Kitô Giáo và tín đồ Hồi Giáo, chúng tôi tin rằng chúng tôi có phận sự bày tỏ quan điểm của chúng tôi về văn kiện này.
Bằng một tâm trí cởi mở trong nỗ lực đáp ứng cái nhiệt t́nh được tỏ hiện nơi
biến cố này, chúng tôi xin ghi nhận tất cả những ǵ chúng tôi cảm nhận được nơi
việc tŕnh bày và nội dung của những trang viết ấy. Chúng tôi cảm phục ḷng
thành của những ai soạn thảo nó, những ǵ đă được thanh tẩy bởi cuộc chay tịnh
dài trong Mùa Lễ
Ramadan. Việc chúng tôi liên kết lâu dài và chuyên cần với gia sản về văn hóa và
đạo nghĩa của Hồi Giáo, cũng như việc chúng tôi thường xuyên liên hệ với các
phần tử của cộng đồng tín đồ Hồi Giáo, giúp chúng tôi có thể thấy được tính chất
độc đáo của cử chỉ này và cho phép chúng tôi kéo chú ư của những ai không phải
là tín đồ Hồi Giáo tới những phẩm chất của nó.
Trước hết, chúng tôi cảm kích trước phạm vi bao rộng của bản văn này. Cái bao rộng của nó ở lănh vực các chữ kư, với 138 nhân vật tín đồ Hồi Giáo, thuộc nhiều quốc gia ở mọi châu lục, thành phần rất khác nhau về liên kết đạo giáo. Tính cách bao rộng c̣n ở lănh vực của thành phần được ngỏ lời với, đó là tất cả mọi vị lănh đạo thuộc Chư Giáo Hội Kitô Giáo khác nhau, bao gồm rơ ràng tên của 28 vị.
Theo cùng chiều hướng nhận định, chúng tôi chú ư tới đối tượng được quan tâm tới, đó là tín đồ Hồi Giáo, tín đồ Kitô Giáo, người Do Thái và dân chúng trên thế giới. Những người viết bức thư này không t́m cách tránh né bằng một cuộc phản kháng thuận lợi đơn phương v́ “umma” (biệt chú của người dịch bản Việt ngữ ở đây th́ chữ này có nghĩa chung là “cộng đồng”), nhưng trái lại, coi ḿnh như là đồng bạn với nhân loại. Đối với nhân loại, họ đă cống hiến lối nhận định của họ về những nền tảng và nguyên lư của nhân loại, những ǵ cũng được các cộng đồng khác chấp nhận, để nhân loại được sống c̣n trong một nền ḥa b́nh hữu hiệu và bao quát.
Lănh vực bao rộng nơi quan điểm của bức thư cũng là một đặc tính đáng kể của bản văn này nữa. Phải công nhận là các người viết bức thư này chẳng những đă chú trọng tới vận mạng của thế giới hiện nay, đang gặp nguy biến vào lúc này đây, mà c̣n tới vận mạng của ‘các hồn thiêng bất tử’ nữa, một số mệnh được quyết định đâu đó trong tương lai. Mục đích lưỡng diện này, vừa mênh mang lại vừa siêu việt, đă trở thành một luồng hướng mănh liệt và thanh thoát suốt cả bản văn.
Dĩ nhiên, chúng tôi cũng cảm thấy giật ḿnh trước tính chất căn bản của vấn đề được đặt ra, đó là Thiên Chúa và nhân loại. Vấn đề ở đây sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều nếu đóng khung ḿnh vào những ư nghĩ phóng khoáng có tính cách mơ hồ và tổng quát hơn là nhờ đó chú trọng tới tính cách đ̣i hỏi đối với những quyền lợi của Thiên Chúa cũng như của nhân loại, những quyền lợi đ̣i phải có một ư thức liên lỉ và một t́nh yêu chủ động từ mỗi một cá nhân.
Chúng tôi cũng thấy rơ thái độ đặc biệt được những vị kư tên vào bức thư này tỏ ra đối với điểm đối chiếu tối hậu bao gồm “người khác” như người Do Thái hay Kitô hữu, tức là giới luật lưỡng diện yêu mến Thiên Chúa và tha nhân trong Sách Nhị Luật và trong Phúc Âm Thánh Mathêu. Thái độ sẵn sàng công nhận người khác nơi ước muốn sâu xa nhất về những ǵ họ muốn, đối với chúng tôi, dường như là một trong những điểm chính yếu của bản văn kiện này. Chỉ có thế mới bảo đảm thành công trong một mối liên hệ chân thực giữa các cộng đồng khác biệt về văn hóa và tôn giáo.
Đồng thời chúng tôi cũng nhận thức được cách thức được các vị tác giả của bản văn này, với tư cách tín đồ Hồi Giáo, nhận định thích hợp về căn tính của họ trong hai giới luật này. Họ làm như thế không phải v́ muốn chiều theo hay làm chính trị, mà thực sự chỉ v́ họ muốn loan truyền chuyên nhất tính thần linh, (al-tawhid), cái trục tin tưởng của tín đồ Hồi Giáo. Thật vậy, chúng tôi công nhận rằng việc sâu xa chấp nhận chuyên nhất tính thần linh là một trong những bày tỏ đích thực nhất của t́nh yêu mến giành cho một ḿnh Thiên Chúa. Ngoài ra, v́ niềm tin bao giờ cũng đi liền với các việc lành phúc đức, như Kinh Koran không ngừng lập đi lập lại, (al-ladỵna âmanû wa 'amilû al-sâlihât : al-Baqara 2, 25,), mà t́nh yêu mến Thiên Chúa là những ǵ bất khả phân ly với t́nh yêu thương tha nhân.
Quan điểm tích cực này về những vấn đề trục trặc rơ ràng là đă giúp cho họ có thể tránh được việc tranh luận, có thể thắng vượt chính ḿnh, có thể chấp nhận và bỏ qua nỗi bất măn trước một đáp ứng đă không làm măn nguyện những ước mong của họ nơi thành quả của bức thư họ gửi vào năm 2006 cho Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI.
Đọc bản văn kiện này, chúng tôi nhận thấy nơi họ có sự hiện diện của một thái độ mới mẻ và sáng tạo cân xứng với sách Kinh Koran và là một thái độ theo truyền thống của vị Tiên Tri ấy. Thái độ này liên quan tới một số những dẫn giải về lịch sử, những dẫn giải đă được đánh dấu bằng những trường hợp riêng biệt tương đối hạn hẹp đối với mối quan tâm tới thành phần không phải tín đồ Hồi Giáo. Chúng tôi đặc biệt thấy họ áp dụng chung cho những câu Âl 'Imrân 3, 113-115, những câu liên quan tới ‘một cộng đồng vững chắc là những người qú xuống đọc các mạc khải của Thiên Chúa vào lúc đêm khuya’, những câu đă được nhiều nhà dẫn giải chủ trương đến độ cho rằng chỉ liên quan tới thành phần Kitô hữu về vấn đề cải giáo.
Chúng tôi cảm thấy vui khi thấy rằng bản văn này đă sử dụng những câu trích dẫn thánh kinh và Phúc Âm từ các nguồn cùng với những dẫn giải theo các ngôn ngữ nguyên gốc như Hebrew, Aramaic và Hy Lạp. Đây là chứng cớ cho thấy thái độ tỏ ra hết sức tôn trọng và thực sự chú trọng tới những người khác, đồng thời cũng là một tinh thần khoa học thực sự nữa. Cả về khía cạnh này nữa, chúng tôi nhận thấy xuất hiện một thái độ mới mẻ.
Tóm lại, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến một thái độ tích cực tiên quyết của thánh phần viết lên bức thư ấy trong việc họ giải thích ba đoạn song song của các Phúc Âm Nhất Lăm. Họ có thể đă muốn thực hiện một thứ dẫn giải thánh kinh hạn hẹp và tối thiểu hơn nhiều, một thứ dẫn giải mà truyền thống Kitô Giáo có thể đă cung cấp cho họ không khó khăn ǵ mà họ chắc chắn biết tới. Phấn khởi trước thái độ của họ, chúng tôi cũng chỉ muốn chủ trương thực hiện việc dẫn giải hết cỡ các bản văn của Kinh Koran và truyền thống của Vị Tiên Tri là những ǵ không chỉ giới hạn cho umma những ích lợi mà bất cứ một tín đồ Hồi Giáo tốt lành nào cũng muốn chia sẻ với tha nhân của ḿnh, v́ niềm tin tưởng của họ nơi Thiên Chúa cũng như nơi t́nh yêu chuyên biệt của Ngài đối với họ.
Những khác biệt nơi ngôn ngữ của chúng ta cũng như nơi các sắc thái của chúng ta (ihtilâf alsinati-kum wa alwâni-kum: al-Rûm 30, 22), tức là, những khác biệt sâu xa về văn hóa của chúng ta, sẽ không gây ra ngờ vực, bất tín, khinh bỉ và bất đồng nơi chúng ta, như vẫn thường xẩy ra trong lịch sử về mối liên hệ của chúng ta và vẫn c̣n diễn ra trong thế giới hôm nay. Một bản văn kiện như thế là những ǵ phấn khích chúng ta trong việc theo đuổi dứt khoát dấn thân của chúng ta, nhờ đó, những sai biệt sẽ được thấy như là những dấu hiệu đối với những ai hiểu biết, (inna fỵ dâlika la-âyâtin li-l-'âlimỵna), tức như là t́nh thương của Chúa chúng ta.
Rôma ngày 25/10/2007
Linh Mục Miguel Ángel Ayuso Guixot, Viện Trưởng
Linh Mục Etienne Renaud, Giám Học
Linh Mục Michel Lagarde, Giáo Sư
Linh Mục Valentino Cottini, Giáo Sư
Linh Mục Felix Phiri, Giáo Sư
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 29/10/2007
Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin Giải Đáp Về Việc Dinh Dưỡng Theo Kiểu Nhân Tạo
Hôm Thứ Sáu, 14/9/2007, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă trả lời cho một số vấn nạn được Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ nêu lên liên quan tới vấn đề dinh dưỡng và thủy dưỡng nhân tạo. Những câu trả lời đă được Đức Thánh Cha phê chuẩn trong buổi triều kiến của ĐHY Tổng Trưởng William Joseph Levada với ngài. Bản văn của các câu trả lời này được phổ biến bằng nguyên ngữ Latinh cũng như bằng tiếng Anh, Pháp, Ư, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan và Bồ Đào Nha.
“Vấn 1: Phải chăng việc cung cấp đồ ăn và thức uống (dù bằng phương tiện tự nhiên hay nhân tạo) cho một bệnh nhân ở trong ‘t́nh trạng thực vật’ là điều bắt buộc phải làm theo luân lư, trừ khi nào thân xác của bệnh nhân không thể tiêu thụ đồ ăn và thức uống, hay việc cung cấp đồ ăn và thức uống cho bệnh nhân nếu thực hiện sẽ gây ra t́nh trạng khó chịu trầm trọng về thể lư?
Đáp: Đúng thế. Việc cung cấp đồ ăn và nước uống, cho dù bằng phương tiện nhân tạo, theo nguyên tắc, là cách thức b́nh thường và tương xứng để bảo tŕ sự sống. Bởi thế, đó là điều buộc phải thi hành cho tới độ và cho tới lúc chứng tỏ việc cung cấp đồ ăn thức uống này hoàn thành mục đích xứng hợp của ḿnh, tức là việc thủy dưỡng và sinh dưỡng bệnh nhân. Như thế mới tránh được t́nh trạng đau khổ và chết chóc v́ đói và thiếu nước.
Vấn 2: Nếu việc dinh dưỡng và thủy dưỡng đang được cung cấp bằng phương tiện nhân tạo cho bệnh nhân ở trong ‘t́nh trạng thực vật trường kỳ’, th́ có được chấm dứt những việc cung cấp này hay chăng, khi các vị y sĩ thẩm định, theo luân lư, người bệnh ấy sẽ không bao giờ phục hồi ư thức?
Đáp: Không. Người bệnh ở trong ‘t́nh trạng thực vật trường kỳ’ là một con người theo phẩm vị làm người căn bản, bởi thế, cần được lănh nhận việc chăm sóc b́nh thường và tương xứng bao gồm, theo nguyên tắc, việc cung cấp đồ ăn thức uống cho dù bằng phương tiện nhân tạo”.
Kèm theo những câu trả lời này, bản Anh ngữ c̣n được ghi chú như sau: “Khi nói rằng việc cung cấp đồ ăn và thức uống là trách nhiệm bó buộc về luân lư ‘theo nguyên tắc’, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin không loại trừ những ǵ có thể xẩy ra là, ở những nơi xa xôi hay ở những trường hợp cực bần cùng, vấn đề cung cấp theo nhân tạo đồ ăn và thức uống về thể lư là những ǵ bất khả thực hiện, và bởi thế ‘ad impossibilia nemo tenetur’. Tuy nhiên, trách nhiệm cần phải cung cấp những việc trị liệu tối thiểu sẵn có vẫn phải được thi hành, cũng như việc nếu có thể t́m kiếm phương tiện cần thiết để thích đáng hỗ trợ sự sống. Cũng không loại trừ trường hợp mà, v́ những biến chứng xẩy ra, người bệnh không thể nào tiêu thụ đồ ăn và thức uống, khiến cho việc cung cấp này hoàn toàn trở thành vô dụng. Sau hết, không tuyệt đối loại trừ những ǵ có thể xẩy ra là, ở một số hiếm trường hợp, vấn đề dinh dưỡng và thủy dưỡng nhân tạo có thể trở thành gánh nặng thái quá cho người bệnh hay có thể gây ra t́nh trạng khó chịu trầm trọng về thể lư, chẳng hạn, gây ra những biến chứng bởi việc sử dụng phương tiện như thế.
“Tuy nhiên, những trường hợp ngoại lệ này không làm suy xuyễn một chút nào qui chuẩn đạo lư tổng quát, theo đó, việc cung cấp đồ ăn và thức uống, cho dù bằng phương tiện nhân tạo, bao giờ cũng thay cho ‘phương tiện tự nhiên’ để bảo tŕ sự sống, chứ không phải là một thứ ‘chữa trị liệu pháp’. V́ thế, cần phải coi việc sử dụng nó là những ǵ ‘b́nh thường và xứng hợp’, cho dù ‘t́nh trạng thực vật’ có kéo dài đi nữa”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 14/9/2007
Văn Kiện liên quan tới một số khía cạnh liên quan tới tín lư về Giáo Hội
Hôm Thứ Ba 10/7/2007, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă phổ biến một văn kiện tựa đề “Những Giải Đáp cho một số Vấn Đề liên quan tới một số khía cạnh của Tín Lư về Giáo Hội”.
Văn kiện này được kư ngày 29/6/2007, Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô, với chữ kư của vị tổng trưởng là Hồng Y William Joseph Levada và vị thư kư là TGM Angelo Amato, SDB.
Văn kiện này đă được phổ biến bằng tiếng Latinh, Ư, Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Balan.
“Nhập Đề
“Công Đồng Chung Vaticanô II, trong Hiến Chế Tín Lư “Ánh Sáng Muôn Dân” và các Sắc Lệnh về đại kết (‘Unitatis redintegratio’ cũng như Chư Giáo Hội Đông Phương (‘Orientalium Ecclesiarum’), đă góp phần một cách quyết liệt cho vấn đề canh tân của khoa giáo hội học Công Giáo. Các Vị Giáo Hoàng cũng đă góp phần vào việc canh tân này bằng việc cống hiến những minh thức của ḿnh và những hướng dẫn theo thói quen: Đức Phaolô VI với Thông Điệp ‘Ecclesiam suam’ (1964) và Đức Gioan Phaolô II trong Thông Điệp ‘Ut unum sint’ (1995).
“Nhiệm vụ tất yếu của các thần học gia trong việc quảng diễn rơ ràng hơn các khía cạnh đa dạng của khoa giáo hội học đă làm bừng nở nơi việc viết lách về lănh vực này. Thật vậy, rơ ràng là đề tài này là một đề tài phong phú nhất, một đề tài cho dù có những lúc đ̣i phải được sáng tỏ bằng việc định nghĩa chính xác và việc điều chỉnh lại, chẳng hạn như ở bản tuyên ngôn ‘Mysterium Ecclesiae’ (1973), Thư ngỏ cùng Chư Vị Giám Mục thuộc Giáo Hội Công Giáo ‘Communionis notio’ (1992), và bản tuyên ngôn ‘Dominus Iesus’ (2000), tất cả đều được Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin ban hành.
“Tính cách bao rộng của vấn đề chủ yếu này cùng với tính cách mới mẻ của nhiều đề tài liên hệ tiếp tục là những ǵ gợi ư suy nghĩ về thần học. Trong số nhiều đóng góp mới cho lănh vực này, có một vài đóng góp đă không tránh khỏi việc cắt nghĩa sai lầm gây hiểu lầm và ngờ vực. Một số những cắt nghĩa này đă được chuyển đến Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin để cứu xét. V́ tính cách phổ quát của tín lư Công Giáo về Giáo Hội, Thánh Bộ này muốn giải đáp những vấn nạn ấy bằng việc làm sáng tỏ ư nghĩa đích thực của một số diễn tả về giáo hội học được Huấn Quyền sử dụng đă gây hiểu lầm nơi vấn đề tranh luận về thần học.
“Những giải đáp cho các vấn nạn
“Vấn Nạn thứ nhất: Phải chăng Công Đồng Chung V aticanô II đă thay đổi tín lư Công Giáo về Giáo Hội?
“Trả Lời: Công Đồng Chung Vatic anô II chẳng những không thay đổi và không có ư đổi thay tín lư này mà c̣n khai triển, đào sâu và giải thích trọn vẹn hơn tín lư về Giáo Hội nữa.
“Đó chính là những ǵ Đức Gioan XXIII đă nói vào lúc mở đầu cho Công Đồng này. Đức Phaolô VI đă xác nhận nó và đă dẫn giải bằng việc ban hành Hiến Chế Ánh Sáng muôn dân: ‘Không một nhận định nào hay hơn là nói rằng việc ban hành này thực sự không thay đổi ǵ về tín lư truyền thống cả. Những ǵ Chúa Kitô muốn th́ chúng tôi cũng muốn. Những ǵ đă là th́ vẫn là như thế. Những ǵ Giáo Hội đă truyền dạy qua các thế kỷ th́ chúng tôi cũng truyền dạy như thế. Những ǵ được cho là giản dị th́ nay trở nên rơ ràng; những ǵ là bất ổn định th́ nay được sáng tỏ; những ǵ đă được suy tư, bàn bạc và đôi khi tranh luận, th́ nay được kết thành một công thức sáng tỏ duy nhất’. Các vị Giám Mục đă tiếp tục bày tỏ và đă hoàn tất ư hướng này.
“Vấn nạn thứ hai: Đâu là ư nghĩa của việc khẳng định rằng Giáo Hội của Chúa Kitô tồn tại nơi Giáo Hội Công Giáo?
“Trả lời: Chúa Kitô ‘đă thiết lập trên trái đất này’ chỉ có một Giáo Hội duy nhất và đă thành lập Giáo Hội này như là ‘một cộng đồng hữu h́nh và thiêng liêng’, một cộng đồng mà ngay từ ban đầu của ḿnh và qua các thế kỷ đă luôn hiện hữu và sẽ măi măi hiện hữu, và là một Giáo Hội duy nhất chất chứa tất cả mọi yếu tố chính Chúa Kitô thiết lập. ‘Giáo Hội duy nhất này của Chúa Kitô được chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền…. Giáo Hội này, được thiết lập và tổ chức trên thế giới này như là một tổ chức, tồn tại nơi Giáo Hội Công Giáo, được cai quản bởi vị thừa kế Thánh Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với ngài’.
“Trong khoản 8 của Hiến Chế Tín Lư ‘Ánh Sáng Muôn Dân’ th́ ‘việc sinh tồn’ có nghĩa là Giáo Hội của Chúa Kitô được thể hiện một cách cụ thể trên trái đất này nơi tính cách liên tục vĩnh tại về lịch sử này và tính cách trường tồn của tất cả mọi yếu tố được Chúa Kitô thiết lập nơi Giáo Hội Công Giáo.
“Theo tín lư Công Giáo, có thể khẳng định một cách đúng đắn rằng Giáo Hội của Chúa Kitô hiện diện và hoạt động nơi các giáo hội và các Cộng Đồng giáo hội chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, v́ những yếu tố thánh hóa v à sự thật đang hiện hữu nơi họ. Tuy nhiên, tiếng ‘sinh tồn’ chỉ có thể áp dụng cho Giáo Hội Công Giáo chính là v́ nó ám chỉ dấu hiệu của mối hiệp nhất được chúng ta tuyên xưng nơi các kinh tin kính (tôi tin … Giáo Hội ‘duy nhất’); và Giáo Hội ‘duy nhất’ này sinh tồn nơi Giáo Hội Công Giáo.
“Vấn nạn thứ ba: Tại sao chấp nhận lời diễn tả ‘tồn tại nơi’ thay v́ chỉ cần một chữ ‘là’ đơn giản?
“Trả lời: Việc sử dụng lời phát biểu này, một việc sử dụng nói lên căn tính trọn vẹn của Giáo Hội Chúa Kitô với Giáo Hội Công Giáo, không thay đổi tín lư về Giáo Hội. Trái lại, nó xuất phát từ và mang lại rơ ràng sự kiện là có ‘nhiều yếu tố thánh hóa và sự thật’ được thấy ngoài cơ cấu của Giáo Hội, song lại là ‘các tặng ân thích đáng thuộc về Giáo Hội Chúa Kitô thôi thúc hướng đến mối hiệp nhất Công Giáo’.
“’Bởi thế, các giáo hội và các Cộng Đồng tách biệt này, mặc dù chúng ta tin rằng họ có những thiếu sót, không bị mất đi ư nghĩa và tầm quan trọng nơi mầu nhiệm cứu độ. Thật vậy, Thần Linh của Chúa Kitô đă không hạn hẹp việc sử dụng họ như là các phương tiện cứu độ, một giá trị xuất phát từ t́nh trạng đầy ơn phúc v à chân lư được úy thác cho Giáo Hội Công Giáo’.
“Vấn nạn thứ bốn: Tại sao Công Đồng Chung Vaticanô II sử dụng từ ngữ ‘Giáo Hội’ đối với các Giáo Hội đông phương tách biệt khỏi mối hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo?
“Trả lời: Công Đồng này muốn chấp nhận việc sử dụng theo truyền thống từ ngữ ấy. ‘V́ những Giáo Hội này, mặc dù phân ly, cũng có những bí tích thực sự và nhất là – nhờ việc thừa kế tông truyền – chức linh mục và Bí Tích Thánh Thể, nhờ đó các giáo hội này vẫn liên hệ với chúng ta bằng những mối giây rất chặt chẽ’, các giáo hội ấy đáng được gọi là “những Giáo Hội riêng biệt hay địa phương”, và được gọi là những Giáo Hội chị em với những Giáo Hội Công Giáo riêng biệt.
“Chính nhờ việc cử hành Thánh Thể của Chúa nơi từng Giáo Hội này mà Giáo Hội của Thiên Chúa được dựng xây và tăng trưởng về tầm vóc’. Tuy nhiên, v́ mối hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, có vị thủ lănh hữu h́nh là Giám Mục Rôma và là vị Thừa Kế Thánh Phêrô, không phải là một thứ hỗ tương ngoại tại đối với một Giáo Hội riêng biệt song là một trong những nguyên lư kiến tạo nội tại của nó mà những cộng đồng Giáo Hội khả kính này thiếu mất một cái ǵ đó nơi thân phận là chư giáo hội riêng biệt của ḿnh.
“Ngoài ra, v́ vấn đề chia rẽ giữa các Kitô hữu mà t́nh trạng trọn vẹn phổ quát là những ǵ xứng hợp với Giáo Hội được cai quản bởi vị Thừa Kế Thánh Phêrô cũng như bởi các vị Giám Mục hiệp thông với ngài, vẫn chưa được hoàn toàn hiện thực nơi lịch sử.
“Vấn nạn thứ năm: Tại sao các bản văn của Công Đồng này cũng như những bản văn của Huấn Quyền từ Công Đồng này không sử dụng danh xưng ‘Giáo Hội’ đối với những Cộng Đồng Kitô Hữu xuất phát từ phong trào Cải Cách thời thế kỷ thứ 16?
“Trả lời: Theo tín lư Công Giáo th́ những Cộng Đồng này không hưởng việc thừa kế tông đồ nơi bí tích Thánh Chức, và bởi thế, thiếu mất một yếu tố làm nên Giáo Hội. Những Cộng Đồng Giáo Hội này, những cộng đồng đặc biệt v́ thiếu vắng thiên chức linh mục theo bí tích, đă không bảo tŕ được bản chất chân thực và nguyên tuyền của Mầu Nhiệm Thánh Thể, nên theo tín lư Công Giáo, không thể được gọi là ‘Chư Giáo Hội’ theo đúng nghĩa.
“Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, vào buổi Triều Kiến với Đức Hồng Y Tổng Trưởng Tín Lư Đức Tin, đă châu phê và xác nhận những Điều Giải Đáp này, những điều Giải Đáp được tán thành trong Đại Hội Thường Niên của Thánh Bộ này, và truyền phải phổ biến”.
Những Điều Giải Đáp này c̣n được kèm theo một bản nhận định dẫn giải như sau:
“Trong văn kiện này, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin trả lời một số câu hỏi liên quan tới nhăn quan tổng quan về Giáo Hội xuất phát từ các giáo huấn tín lư và đại kết của Công Đồng Chung Vaticanô II…. Công Đồng ‘của Giáo Hội về Giáo Hội’”.
“Bản văn kiện mới này của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, một bản văn kiện chính yếu tóm lược giáo huấn của Công Đồng này cùng Huấn Quyền của hậu công đồng, là những ǵ tái khẳng định rơ ràng tín lư Công Giáo về Giáo Hội. Ngoại trừ việc giải quyết một số những ư tưởng bất khả chấp tiếc thay đă từng lan tràn kha71p thế giới Công Giáo, bản văn kiện này c̣n cống hiến những chỉ hiệu đáng giá cho tương lai của việc đối thoại đại kết. Cuộc d8ối thoại này vẫn là một trong những ưu tiên của Giáo Hội Công Giáo…. Tuy nhiên, nếu cuộc đối thoại này thực sự là một cuộc đối thoại xây dựng th́ nó cần phải bao gồm chẳng những tính cách cởi mở hỗ tương nơi thành phần tham dự viên mà c̣n phải trung thành với căn tính của đức tin Công Giáo nữa”.
“Vấn đề đại kết Công Giáo, thoạt tiên, có thể thấy một cái ǵ đó mâu thuẫn. Công Đồng Chung Vatic anô II đă sử dụng cụm từ ‘sinh tồn nơi’ để cố gắng ḥa hợp hai khẳng định về tín lư: một đàng, bất chấp tất cả mọi thứ phân rẽ giữa thành phần Kitô hữu, Giáo Hội của Chúa Kitô vẫn tiếp tục hiện hữu hoàn toàn chỉ ở nơi Giáo Hội Công Giáo mà thôi, đàng khác, có nhiều yếu tố thánh hóa và sự thật quả có hiện hữu ngoài giới hạn hữu h́nh của Giáo Hội Công Giáo, hoặc ở các Giáo Hội riêng biệt hay ở các Cộng Đồng giáo hội không hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo”.
“Mặc dù Giáo Hội Công Giáo có tất cả phương tiện cứu độ, ‘tuy nhiên, những thứ chia rẽ nơi thành phần Kitô hữu đă gây ngăn trở Giáo Hội trong việc làm hiệu năng cái trọn vẹn của tính cách công giáo hợp với Giáo Hội nơi thành phần con cái của Giáo Hội, thành phần tháp nhập với Giáo Hội qua phép rửa, song vẫn phân ly với mối hiệp thông trọn vẹn của Giáo Hội’. Bởi thế, tầm vóc trọn vẹn của Giáo Hội Công Giáo vốn đă hiện hữu, song vẫn cần phải gia tăng nơi thành phần huynh đệ chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo cũng như nơi các phần tử tội nhân của ḿnh”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 10/7/2007
Chính Thống Giáo phản ứng trước văn kiện của Ṭa Thánh Rôma về tín lư Giáo Hội
Vị giám mục chính thống giáo Alfeev Hilarion ở Vienna và Áo quốc và là vị đại diện của Giáo Hội Chính Thống Nga ở các Cơ Cấu Âu Châu đă nói với mạng điện toán Zenit về văn kiện được Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin phổ biến ngày Thứ Ba 10/7/2007 tựa đề “Những Giải Đáp cho Một Số Vấn Đề Liên Quan Tới Vài Khía Cạnh của Tín Lư về Giáo Hội”.
Theo vị giám mục này th́ bản văn kiện “chẳng có ǵ là lạ so sánh với những bản văn kiện trước cùng loại, chẳng hạn như văn kiện tựa đề “Chúa Giêsu”.
Vị giám mục này đă nh́n nhận văn kiện giải thích về Giáo Hội, và giải thích chính xác rằng Giáo Hội của Chúa Kitô sinh tồn nơi Giáo Hội Công Giáo, là một ư nghĩa không được Chính Thống Giáo chấp nhận.
“Sự phân biệt giữa ‘sinh tồn’ và ‘hiện hữu hay hoạt động’ có lẽ ư nghĩa hơn theo quan điểm truyền thống thần học Latinh, thế nhưng nó không có ư nghĩa nhiều lắm đối với một thần học gia Chính Thống.
“Đối với chúng tôi, ‘sinh tồn’ có nghĩa thực sự là ‘hiện hữu và hoạt động’, và chúng tôi tin rằng Giáo Hội của Chúa Kitô sinh tồn, hiện hữu và hoạt động nơi Giáo Hội Chính Thống”.
Tuy nhiên, vị giám mục này cũng khẳng định rằng Chư Giáo Hội Chính Thống có cùng quan điểm với Giáo Hội Công Giáo về các cộng đồng giáo hội khác.
“Đối với Chư Giáo Hội Chính Thống, bản văn kiện này nói rằng ‘những Giáo Hội ấy, mặc dù tách biệt (khỏi Rôma), cũng có những bí tích thực sự và nhất là – v́ việc thừa kế tông đồ – có thiên chức linh mục và Thánh Thể’. Bởi thế việc thừa kế các tông đồ và các bí tích là những dấu thiết yếu của Giáo Hội.
“Chính Thống Giáo cũng tin rằng việc thừa kế tông đồ và váv phép bí tích là những dấu hiệu thiết yếu của Giáo Hội.
“Đó là lư do tại sao Chính Thống Giáo đồng ư rằng những cộng đồng giáo hội không có việc thừa kế tông đồ và không bảo tŕ kiến thức đích thực về Thánh Thể và các bí tích khác không thể được gọi là ‘giáo hội’ đúng nghĩa”.
“Sự chia rẽ giữa Chính Thống Giáo và Thệ Phản bởi thế sâu sa hơn và trầm trọng hơn là sự chia rẽ giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo”.
Vị giáo phẩm Chính Thống này cũng đă nói tới một trong những vấn đề xung khắc chính trên con đường tiến đến hiệp nhất giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo đó là nhân vật Giám Mục Rôma.
“Theo bản văn kiện này th́ ‘mối hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, với vị thủ lănh hữu h́nh là Giám Mục Rôma và là vị Thừa Kế Thánh Phêrô, không phải là một sự bổ xung ngoại tại nào đó đối với một Giáo Hội riêng biệt mà là một trong những nguyên lư cấu tạo nội tại’.
“Bởi thế, Chư Giáo Hội Chính Thống v́ lư do không hiệp thông với Vị Giám Mục Rôma ‘thiếu một cái ǵ đó nơi điều kiện là những giáo hội riêng biệt’.
“Chính Thống Giáo chúng tôi tin tưởng rằng, v́ không hiệp thông với chư giáo hội này mà Giáo Hội Công Giáo Rôma ‘thiếu một cái ǵ đó nơi điều kiện của ḿnh’”.
Tuy nhiên, vị giám mục này bày tỏ niềm hy vọng rằng cả hai Giáo Hội đều đặt ưu tiên cho vấn đề hiệp nhất.
“Việc phục hồi mối hiệp thông với Giáo Hội Chính Thống cần phải là những ǵ quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo như là việc phục hồi mối hiệp thông với Giáo Hội Rôma đối với Giáo Hội Chính Thống vậy”.
“Việc rạn nứt mối hiệp thông Thánh Thể giữa Đông và Tây là một thảm trạng chung, ảnh hưởng đến cả Giáo Hội Công Giáo lẫn Giáo Hội Chính Thống. Sự t́m cầu hiệp nhất cần phải là những ǵ quan trọng tương đương đối với cả hai Giáo Hội”.
ĐTGM Chính Thống
Kirill ở Smolensk và Kaliningrad, vị lănh đạo Phân Bộ Ṭa Thượng Phụ Moscow Về
NHững Liên Hệ Ngoài Giáo Hội đă nói với các phóng viên báo chí ở Moscow rằng bản
văn kiện này của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin có thể góp phần vào việc đạt đến mối
hiệp nhất, chính v́ “để thực hiện một cuộc đối thoại thần học chân thành, người
ta cần phải có một quan điểm rơ ràng về chủ trương của phía bên kia. Nó giúp vào
việc hiểu biết t́nh trạng chúng ta khác nhau ra sao”.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
11/7/2007
“Những Hướng Dẫn Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Về Đường Xá”
Văn Kiện ngày 19/6/2007 của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ cho Thành Phần Di Dân Và Lưu Động
Nội Dung gồm có Lời Tŕnh Bày và 4 phần.
Phần nhất: về “Việc Chăm Sóc Mục Vụ Cho Thành Phần Sử Dụng Đường Xá”, bao gồm 7 tiết sau đây:
I- Hiện tượng di động của con người: vấn đề giao thông đường xá và việc tiến bộ của con người
II- Lời Chúa soi sáng đường đi: Những dấu hiệu ở Cựu Ước; những dấu hiệu ở Tân Ước; Chúa Kitô là Đường, Người là Đạo Lộ
III- Những khía cạnh nhân bản: Tâm lư đặc biệt của người lái xe; vấn đề thoát ly khỏi thực tế hằng ngày và cái khoái thú lái xe; bản năng thắng vượt; cái hư ảo và vinh quang cá nhân; hành vi mất quân b́nh kèm theo các hậu quả liên hệ; những bộc lộ khác; một hiện tượng phi bệnh hoạn
IV- Những khía cạnh có tín h cách luân lư của việc lái xe: Lái xe nghĩa là cùng hiện hữu; lái xe nghĩa là kiểm chế bản thân ḿnh; các khía cạnh về luân lư; lái một chiếc xe cùng với những nguy hiểm kèm theo; bản chất đ̣i hỏi của các luật lệ về đường xá; trách nhiệm luân lư của thành phần sử dụng đường xá.
V- Nhân đức Kitô giáo của thành phần lái xe và “Mười Giới Răn” của họ: Đức bác ái và việc phục vụ tha nhân; nhân đức Khôn Ngoan; nhân đức Công B́nh; nhân đức Hy Vọng; “Mười Giới Răn” của những người lái xe.
VI- Sứ vụ của Giáo Hội: Vấn đề tiên đoán trong trường hợp trầm trọng và báo động; vấn đề giáo dục an toàn trên đường xá; thành phần thính giả chủ yếu; lời kêu gọi của Công Đồng Chung Vaticanô II
VII- Việc chăm sóc mục vụ về Đường Xá: Vấn đề truyền bá phúc âm hóa trong môi trường về đường xá.
Phần Hai: về “Thừa Tác Vụ Mục Vụ Đối Với Việc Giải Phóng Nữ Giới Hè Phố”, bao gồm 4 tiết sau đây:
I- Một số điểm chính yếu: Việc măi dâm là một h́nh thức nô lệ; vấn đề di dân, buôn bán con người và
các thứ nhân quyền; ai là nạn nhân của việc măi dâm? Ai là thành phần “khách hàng”?
II- Nhiệm vụ của Giáo Hội: việc cổ vơ phẩm vị của con người; t́nh đoàn kết và việc loan báo Tin Mừng; một phương sách đa chiều kích
III- Vấn đề phục hồi nữ giới và thành phần “khách hàng”: Việc giáo dục và nghiên cứu; giáo huấn về xă hội của Giáo Hội
IV- Việc giải phóng và cứu chuộc: vấn đề cung cấp việc trợ giúp và việc truyền bá phúc âm hóa.
Phần Ba: về “Việc Chăm Sóc Mục Vụ cho Trẻ Em Hè Phố”, bao gồm 6 tiết sau đây:
I- Hiện tượng, căn nguyên của nó cùng với những sáng kiến khả dĩ: Vấn đề, những nguyên do của vấn đề; những sáng kiến khả dĩ và những mục tiêu của chúng.
II- Những vấn đề liên quan tới các phương pháp: một phương sách đa chiều kích
III- Công việc truyền bá phúc âm hóa và việc cổ vơ nhân bản: Việc chăm sóc mục vụ đặc biệt; một thừa tác vụ mục vụ được căn cứ vào việc gặp gỡ, một việc tân truyền bá phúc âm hóa.
IV- Một vài dự án cụ thể
V- Những h́nh ảnh về những nhà giáo dục: Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, và các môn đệ ở Emmau; mục đích duy nhất cuối cùng
VI- Các tác nhân mục vụ: việc huấn luyện; cùng nhau liên kết dấn thân; hệ thống tối thiểu về những cấu trúc mục vụ.
Phần Bốn: về “Việc Chăm Sóc Mục Vụ cho Thành Phần Vô Gia Cư”, bao gồm 2 tiết sau đây:
I- Những người hưởng lợi: các nguyên do gây ra trường hợp này; tính cách bấp bênh của trường hợp này; phẩm vị của con người
II- Các phương pháp tiếp xúc và phương tiện trợ giúp: việc chăm sóc của Kitô hữu
Tŕnh Bày
Những điều hướng dẫn này là để cho việc chăm sóc mục vụ về đường xá, một việc chăm sóc mục vụ được đặc trách bởi một Phân Bộ đặc biệt của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ Thành Phần Di Dân Và Lưu Động, là thành quả của một nỗ lực lớn lao gồm có việc lắng nghe, suy nghĩ và ư thức.
Bản văn kiện này được chia thành 4 phần hoàn toàn tách biệt, căn cứ vào bản chất đặc biệt và chuyên biệt của các vấn đề liên quan tới đường xá như là một địa điểm cần đến việc chăm sóc về mục vụ. Phần đầu tiên được viết cho thành phần sử dụng đường xá (những người lái xe hơi, những người tài xế xe vận tải v.v.) và những người sử dụng đường rầy, cũng như cho thành phần hoạt động ở những dịch vụ liên hệ khác nhau. Phần thứ hai và ba liên hệ tới thứ tự thành phần nữ giới hè phố và trẻ em hè phố, và phần thứ bốn liên quan tới thành phần vô gia cư.
Bản Văn Kiện này được giành cho tất cả moị thành phần được đề cập tới trên đây, thế nhưng cũng cần phải đặc biệt lưu tâm tới thành phần sống bên vỉa hè và những người bán rong, và mối liên hệ giữa đường xá và những người lái xe hơi, những người hành hương, những người lang bạt, những gánh xiếc và những nhân viên hội chợ cũng như những diễn viên hè phố.
Một số thuộc những loại người này đă từng được bàn đến trong ba Văn Kiện được phổ biến bởi Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Việc Chăm Sóc Mục Vụ Thành Phần Di Dân Và Lưu Động trên 10 năm vừa rồi, đó là Các Hướng Dẫn Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Cho Những Người Lang Bạt (1), Các Hướng Dẫn Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Cho Vấn Đề Du Lịch (2) và Việc Hành Hương trong Đại Năm Thánh 2000 (3).
Những hướng dẫn này nhắm tới các vị giám mục, linh mục, tu sĩ và những nhân viên mục vụ khác, như là một bước tiến hơn nữa đối với việc chăm sóc mục vụ cần phải gia tăng chú ư đến tất cả mọi biểu lộ của việc con người di động, và hội nhập với việc chăm sóc mục vụ thông thường, địa phương và giáo xứ.
ĐHY Renato Raffaele Martino,
Chủ Tịch
Agostino Marchetto
Tổng Giám Mục hiệu ṭa Astigi
Bí Thư
“Mười Điều Răn” của Thành Phần Lái Xe
61) Dù sao, theo lời yêu cầu cho những người lái xe hơi trong việc thực thi nhân đức, chúng tôi phác họa một bản “thập điều” đặc biệt cho họ, tương tự như Mười Điều Răn Chúa. Những điều này được kể đến dưới đây, như đă đề cập, cũng có thể được h́nh thành khác đi.
1. Các người không được sát hại.
2. Các người phải coi đường xá là một phương tiện hiệp thông giữa dân chúng với nhau chứ không phải là nơi gây tác hại chết chóc.
3. Các người có thể đương đầu với những biến cố bất ngờ xẩy ra bằng thái độ lịch sự, chính trực và khôn ngoan của ḿnh.
4. Các người hăy tỏ ra bác ái và giúp đỡ tha nhân trong lúc cần thiết, nhất là những nạn nhân bị tai nạn.
5. Các người không được dùng xe cộ để biểu dương quyền lực và lấn át, và là cơ hội phạm tội.
6. Các người hăy lấy đức bác ái thuyết phục thành phần trẻ cũng như đừng quá trẻ trong việc chớ lái xe khi họ không hội đủ điều kiện lái xe.
7. Các người hăy nâng đỡ các gia đ́nh của những nạn nhân gặp tai nạn.
8. Các người hăy ḥa giải thành phần lái xe hơi phạm lỗi với các nạn nhân của họ, vào thời điểm thích thuận, để họ có thể trải qua cái cảm nghiệm giải phóng của việc thứ tha.
9. Các người hăy bảo vệ kẻ yếu kém dễ bị tổn thương hơn trên đường xá.
10. Các người hăy tỏ ra trách nhiệm đối với người khác.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/6/2007
“Bác Ái và Công Lư nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc”
Bản Văn Soạn Thảo cho Đại Hội Thường Niên 13 của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Về Xă Hội Học 27/4-1/5/2007
Đại hội tới đây của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Về Xă Hội Học sẽ chú trọng tới việc học hỏi về vấn đề Bác Ái và Công Lư nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc. Trong tuần vừa qua, hàn lâm viện này đă giành những phiên họp cho việc học hỏi về việc toàn cầu hóa và những phiên họp này đă giúp chúng ta có thể thấy rằng thế giới chúng ta sống đây đang bị thiếu hụt đức ái và công lư.
Điều này có thể được tóm gọn một cách tổng quát là những việc tái cung cấp bất tương xứng, những hứa hẹn không được tuân giữ, và những thứ chia rẽ mất quân b́nh. Ngoài ra, chúng ta đang phải đương đầu với những dấu chỉ thời đại mới rất đáng lo ngại. Tất cả những điều này được đáp ứng bằng việc tái kêu gọi sống bác ái và công lư của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, nhất là trong thông điệp ‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’ của ngài. Những sự kiện ấy và lời kêu gọi ấy làm thành một yếu tố quan trọng cho bối cảnh của cuộc họp của chúng ta.
Chủ đề cho cuộc họp này sẽ là những mối liên hệ giữa chư dân và chưa quốc: thành phần phát triển, đang phát triển, đang vươn lên và nghèo khổ. Chúng ta sẽ tự hỏi rằng những mối liên hệ này, theo chiều hướng của giáo huấn về xă hội của Giáo Hội, đă trở nên cống chính hơn, công bằng hơn và an b́nh hơn hay chăng, và đâu là đường lối cần phải theo để đạt được những đích điểm ấy. Tóm lại, đức ái và công lư có thể tác hợp với nhau trong thế giới được toàn cầu hóa này hay chăng?
1. Những dấu chỉ thời đại đáng lo ngại gần đây
Mặc dù có những lúc người ta thường tin rằng việc theo đuổi đức bác ái và công lư ở tầm cấp quốc tế là vấn đề quan trọng chính yếu cho xă hội hiện đại, đồng thời cũng có lúc chúng ta gặp thấy những dấu hiệu đang diễn tiến ngược chiều:
T́nh trạng tái hiện chủ nghĩa duy quốc. Ở các quốc gia đang phát triển và phát triển có những dấu hiệu khủng hoảng liên quan tới hai đặc tính chính yếu của tiến tŕnh toàn cầu hóa: một là vấn đề nhân bản và có liên hệ tới việc di dân gia tăng một cách hợp pháp và bất hợp pháp cùng với việc chống kháng về chính trị đối với việc di dân này; đặc tính thứ hai có tính cách kinh tế và có liên hệ tới những căng thẳng giữa chế độ bảo vệ nền công nghiệp nội địa với việc tự do mậu dịch.
Vấn đề hội tụ yếu kém. Bất chấp việc tiếp tục gia tăng nhanh chóng về kinh tế ở nhiều quốc gia đang phát triển, th́ những dấu hiệu cho thấy vấn đề hội tụ về kinh tế và xă hội giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển vẫn c̣n bị giới hạn vào chỉ một số ít thể loại cuối cùng này. Đó không phải chỉ là trường hợp thuộc lănh vực kinh tế mà c̣n đúng cả nơi lănh vực giáo dục nữa.
T́nh trạng nghèo khổ tràn lan. Đồng thời, ngay cả ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh nhất, t́nh trạng nghèo khổ xẩy ra và t́nh trạng cực kỳ nghèo khổ vẫn c̣n là những ǵ rất cao.
Sự yếu kém về vấn đề đa phương. Vấn đề song phương th́ đang lớn mạnh và hầu hết những cơ cấu đa phương, chẳng hạn như Liên Hiệp Quốc UN, Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO, IMF, Ngân Hàng Thế Giới World Bank, và thậm chí cả một số thuộc những bộ phận tương ứng theo miền của những cơ cấu đa phương này, cũng đang cho thấy những dấu hiệu yếu kém và kiệt quệ. Tuy nhiên, hiện tại cũng chẳng thấy có những tổ chức nào nổi lên thay thế những cơ cấu ấy cả.
Các mục tiêu ngàn năm. Những mục tiêu này được đặt căn bản trên sự đồng thuận quốc tế song hiện nay vẫn có những ngờ vực rất vững chắc về khả thể thực sự áp dụng chúng trong thời gian trước mắt. Việc thỏa thuận trước đây về các Mục Tiêu Ngàn Năm bởi thế bắt đầu sụp đổ. Kết quả là cần phải suy nghĩ thêm về đường lối giúp vào việc đạt được những mục đích ấy, cùng với việc h́nh thành những đề án mới mẻ.
Vấn đề trợ giúp thiếu hụt và vô hiệu. Việc trợ giúp đă được cống hiến đă xẩy ra xa vời với mục tiêu của việc cung cấp .7% tổng sản lượng từ các quốc gia phát triển cho vấn đề trợ giúp hải ngoại. Ngoài ra, việc trợ giúp được cung cấp này thường được phân phối vàsử dụng bởi các tổ chức quốc tế vá các chính phủ cùng cơ quan địa phương một cách thiếu hiệu nghiệm.
Nạn khủng bố và chiến tranh. Như những ǵ xẩy ra bất ngờ vào ngày 11/9/2001 cho thấy th́ khởi điểm của một tân thế kỷ đă được đánh dấu bằng t́nh trạng gia tăng đáng kể nơi thảm họa khủng bố có tính cách xă hội và luân lư. Đồng thời, thế giới này phần lớn vẫn c̣n bị ảnh hưởng chi phối bởi các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia và những cuộc chiến trong các quốc gia.
Đại hội tới đây của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Về Xă Hội Học sẽ chú trọng tới việc học hỏi về vấn đề Bác Ái và Công Lư nơi Những Mối Liên hệ giữa Chư Dân và Chư Quốc. Trong tuần vừa qua, hàn lâm viện này đă giành những phiên họp cho việc học hỏi về việc toàn cầu hóa và những phiên họp này đă giúp chúng ta có thể thấy rằng thế giới chúng ta sống đây đang bị thiếu hụt đức ái và công lư.
Điều này có thể được tóm gọn một cách tổng quát là những việc tái cung cấp bất tương xứng, những hứa hẹn không được tuân giữ, và những thứ chia rẽ mất quân b́nh. Ngoài ra, chúng ta đang phải đương đầu với những dấu chỉ thời đại mới rất đáng lo ngại. Tất cả những điều này được đáp ứng bằng việc tái kêu gọi sống bác ái và công lư của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, nhất là trong thông điệp ‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’ của ngài. Những sự kiện ấy và lời kêu gọi ấy làm thành một yếu tố quan trọng cho bối cảnh của cuộc họp của chúng ta.
Chủ đề cho cuộc họp này sẽ là những mối liên hệ giữa chư dân và chưa quốc: thành phần phát triển, đang phát triển, đang vươn lên và nghèo khổ. Chúng ta sẽ tự hỏi rằng những mối liên hệ này, theo chiều hướng của giáo huấn về xă hội của Giáo Hội, đă trở nên cống chính hơn, công bằng hơn và an b́nh hơn hay chăng, và đâu là đường lối cần phải theo để đạt được những đích điểm ấy. Tóm lại, đức ái và công lư có thể tác hợp với nhau trong thế giới được toàn cầu hóa này hay chăng?
2- Thông Điệp ‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’ của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Cuộc họp của chúng ta muốn lấy hứng từ bức thông điệp đầu tiên của vị Giáo Hoàng này cùng với những hàm ư quan trọng của nó. Bản văn kiện này đặc biệt nhắc nhở chúng ta rằng thần đức và nhân đức bác ái cần phải chi phối tất cả mọi giáo huấn về xă hội cũng như tất cả mọi hoạt động xă hội của Giáo Hội và của phần tử Giáo Hội. Trước hết, bức thông điệp này dẫn chúng ta tới tâm điểm đức tin của chúng ta, tới sự thật ‘Thiên Chúa là t́nh yêu’.
Bởi thế, vị Giáo Hoàng tuyên bố rằng ‘Chúa Giêsu đă liên kết giới luật kính mến
Thiên Chúa và giới luật yêu thương tha nhân thành một huấn dụ duy nhất’. Vị Giáo
Hoàng kéo chú ư của chúng ta tới sự kiện là giáo huấn này vừa hợp thời vừa quan
trọng ‘trong một thế giới mà danh tánh của Thiên Chúa đôi khi được liên kết với
việc trả đũa hay thậm chí tới một thứ nhiệm vụ hận thù và bạo động’.
Đó là lư do tại sao ‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’ một phần nào đó đă có lư được coi là như một thông điệp về xă hội. Chính t́nh yêu (caritas) là những ǵ tác động việc Giáo Hội chăm sóc cho thành phần túng thiếu, hoạt động của con người giáo dân nam nữ cho công lư và ḥa b́nh trong lănh vực trần thế, và là năng lực dậy men của Giáo Hội trong xă hội. Không có yêu thương, như Thánh Phaolô đă nói với tín hữu Côrintô, những lời nói và việc làm của chúng ta chỉ là hư không.
Thật thế, ‘Thiên Chúa Là T́nh Yêu’ tự bản chất hướng theo chiều hướng lâu dài của các bức thông điệp khác về xă hội (x khoản 27), không những v́ nó nói đến đức bác ái mà c̣n v́ nó qui cho nhân đức công bằng tầm quan trọng chính yếu. Thật vậy, nó đă đặc biệt trích dẫn một cau nói thời danh về nhân đức này của một trong những đại nhân vật thuộc Truyền Thống: ‘Như Thánh Âu Quốc Tinh có lần đă nói, một quốc gia không được cai trị theo công lư th́ như một bọn trộm cướp vậy: Remota itaque iustitia quid sunt regna nisi magna latrocinia?’
Chú trọng tới những giáo huấn triết học truyền thống cũng như (một cách nhận thức) đ̣i hỏi của chủ nghĩa Mar-Xít về vấn đề phân phối công bằng các sản vật bởi công quyền, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă tuyên bố rằng: ‘Trong t́nh h́nh phức tạp ngày nay, không phải chỉ v́ việc phát triển của một thứ kỹ nghệ được toàn cầu hóa mà giáo huấn về xă hội của Giáo Hội đă trở thành một mớ hướng dẫn nồng cốt cống hiến những đường lối thậm chí vượt ra ngoài các giới hạn của Giáo Hội: trước những ǵ đang diễn tiến th́ những hướng dẫn này cần phải được nói đến theo chiều hướng đối thoại với tất cả những ai thiết tha quan tâm tới nhân loại và thế giới chúng ta đang sống’ (số 27).
Khi bàn tới mối liên hệ giữa Giáo Hội là một ‘Cộng Đồng Yêu Thương’ với chính trị, đường lối của vị Giáo Hoàng đối với vấn đề công lư là những ǵ đặc biệt thích ứng với các khoa xă hội học cũng như đối với huấn quyền của Giáo Hội.
Trước hết, vị Giáo Hoàng cống hiến một nhăn quan sâu xa nhất đă từng được h́nh thành trong thời hiện đại về mối liên hệ giữa chính trị và công lư: ‘Trật tự chính đáng của xă hội và Quốc Gia là trách nhiệm chính yếu của hoạt động chính trị’. Thật thế, ‘Công lư vừa là mục đích vừa là tiêu chuẩn nội tại của tất cả mọi hoạt động chính trị’.
Đối với vị Giáo Hoàng này th́ công lư (và chính trị) không phải là một thứ kỹ thuật thuần thực dụng hay có tính cách giao kèo, mà ‘tự bản chất của ḿnh nó có liên quan tới đạo lư’ (số 28). Ngược lại với thứ kiến thức có tính cách thuần h́nh thức và phi giá trị về hoạt động của con người được nhiều người thuộc lănh vực các khoa học nhân bản và xă hội học chủ trương, vị Giáo Hoàng này tán thành tầm quan trọng của lư trí thiết thực bằng việc lập lại vấn đề về trật tự chính trị chính đáng nhất.
Tuy nhiên, ngài nhận thấy cái nguy hiểm tân tiến của việc tách ĺa lư trí khỏi đức tin: ‘Nếu lư trí được hành sử một cách thích hợp th́ nó cần phải trải qua một cuộc thanh tẩy liên lỉ, v́ nó không bao giờ hoàn toàn thoát khỏi cái hiểm nguy của một thứ mù quáng về đạo lư gây ra bởi việc theo đuổi cái hào nhoáng của quyền lực cùng với những lợi lộc đặc biệt’. Thật vậy, chúng ta không thể không thực hiện một cuộc thẩm định kiến thức của ḿnh về công lư theo ư nghĩa đức tin: ‘Theo quan điểm của Thiên Chúa th́ đức tin giải thoát lư trí khỏi những điểm mù quáng của nó, nhờ đó giúp cho nó càng trở nên hoàn trọn hơn’.
Công việc ư thức này của đức tin là những ǵ giải tỏa lư trí khỏi những hạn hữu của nó: ‘Đức tin giúp cho lư trí có thể thực hiện công việc của nó một cách hiệu nghiệm và thấy được đối tượng thích đáng của nó một cách rơ ràng hơn’. Chẳng những chiều kích về lịch sử nơi ư nghĩa của công lư, những ǵ đă từng được bắt nguồn từ cả truyền thống Do Thái và Kitô Giáo lẫn gia sản Hy La, mà đến cả ư nghĩa hiện đại của nó cũng xuất phát từ việc thanh tẩy liên lỉ được đức tin mang lại cho lư trí nữa: ‘Đó là vị thế của giáo huấn Công Giáo về xă hội: nó không có ư chiếm lấy cho Giáo Hội quyền lực trên Quốc Gia. Nó lại càng không phải là việc áp đặt trên những ai không chia sẻ niềm tin những cách thức suy tư và kiểu cách tác hành xứng hợp với đức tin’.
Để kết luận, cả ở đây nữa, vị Giáo Hoàng này qui về cho Kitô Giáo một công việc trọng yếu và nhấn mạnh rằng mục đích của giáo huấn về xă hội của Giáo Hội ‘chỉ là để giúp thanh tẩy lư trí và góp phần ngay lúc này đây vào việc công nhận và đạt được những ǵ là chân chính’ (số 28a).
Đức Thánh Cha, theo chiều hướng giáo huấn này về đức ái và công lư, bởi thế kêu gọi những cơ cấu phục vụ bác ái trong môi trường xă hội của ngày hôm nay hăy cổ vơ phúc hạnh cho cá nhân, chư dân và nhân loại: ‘Thời đại của chúng ta cần đến một thái độ sẵn sàng mới mẻ để trợ giúp tha nhân đang cần đến chúng ta… Việc quan tâm đến tha nhân của chúng ta là những ǵ vượt trên những giới hạn của các cộng đồng quốc gia và càng nới rộng chân trời của nó đến toàn thể thế giới’ (số 30).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
26/4/2007
“Thánh Bộ quyết định phổ biến Bản Thông Báo này, để cống hiến cho tín hữu một qui chuẩn an toàn là những ǵ được xây dựng trên tín lư của Giáo Hội, nhờ đó họ có thể phán đoán những khẳng định được chứa đựng trong những cuốn sách ấy hay trong các ấn bản khác của tác giả này”.
Thông Báo của Ṭa Thánh về các tác phẩm của linh mục Jon Sobrino
Sáng Thứ Tư, 14/3/2007, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă phổ biến một Thông Báo liên quan tới một số tác phẩm của linh mục Jon Sobrino, S.J. Theo bản thông báo này, một bản thông báo được viết bằng các ngôn ngữ khác nhau, trong đó có Anh ngữ, th́ những tác phẩm ấy ‘chứa đựng những đề xuất sai lầm hay nguy hại và có thể gây hại cho tín hữu’.
Bản Thông Báo tiếp tục: “Cha Sobrino bày tỏ mối bận tâm đối với thành phần nghèo khổ và bị áp bức, nhất là ở Mỹ Châu Latinh. Mối bận tâm này chắc chắn cũng là mối bận tâm của toàn thể Giáo Hội”.
“Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin , trong Bản Hướng Dẫn của ḿnh về sự tự do và việc giải phóng của Kitô Giáo ‘Libertatis conscientia’ đă xác nhận là ‘nỗi khốn khổ của con người đă là những ǵ lôi kéo ḷng cảm thương của Chúa Kitô Cứu Thế trong việc đích thân sống thân phận này và đồng hóa ḿnh với thành phần hèn mọn nhất trong những người an hem của Người’, cũng như xác nhận là ‘việc ưu tiên chọn người nghèo, chẳng những không phải là một dấu hiệu thuộc chủ nghĩa riêng biệt hay chủ nghĩa bè phái, mà c̣n cho thấy tính cách đại đồng nơi việc hiện hữu và sứ vụ của Giáo Hội. Việc chọn lựa này không loại trừ một ai. Đó là lư do tại sao Giáo Hội không thể thể hiện việc chọn lựa này bằng những thứ phân loại giảm thiểu về xă hội học và ư hệ học, những ǵ làm cho việc ưu tiên này trở thành một chọn lựa bè phái và thành một nguồn mạch xung đột’.
“Trước đây, cũng Thánh Bộ này, trong Bản Hướng Dẫn của ḿnh về một số khía cạnh thần học giải phóng, ‘Libertatis nuntius’, đă nhận định rằng những cảnh giác về khuynh hướng thần học này, được chất chứa nơi bản văn kiện ấy, không thể được hiểu như là một thứ trách móc những ai muốn trung thành với ‘việc ưu tiên chọn lựa người nghèo’, hay trở thành một cớ cho những ai tiếp tục tỏ ra dửng dưng lạnh lùng trước những vấn đề trầm trọng của t́nh trạng khốn khổ vá bất công của con người.
“Những trích dẫn rơ ràng cho thấy chủ trương của Giáo Hội liên quan tới vấn đề phức tạp này, đó là vấn đề ‘những thứ bất công và đàn áp xấu xa đủ thứ đang hành hạ bao nhiêu triệu con người nam nữ ngày nay là những ǵ công khai nghịch lại với Phúc Âm của Chúa Kitô và không thể để cho lương tâm của bất cứ một Kitô hữu nào dửng dưng lạnh lùng.
“Giáo Hội, theo tinh thần dễ dạy của ḿnh đối với Thần Linh, tiếp tục tiến bước trung thành theo những con đường giải phóng chân thực. Các phần tử của Giáo Hội ư thức về những thiếu sót của ḿnh và những tŕ trệ của ḿnh đối với việc t́m cầu giải phóng ấy. Thế nhưng, một số lớn Kitô hữu, từ thời các Tông Đồ trở đi, đă từng dấn thân sử dụng khả năng và đời sống của ḿnh cho việc giải phóng khỏi hết mọi h́nh thức áp bức và cổ vơ phẩm giá con người. Kinh nghiệm của các thánh nhân và gương mẫu của rất nhiều hoạt động phục vụ tha nhân là niềm phấn khởi và ngọn hải đăng cho c ác việc giải phóng cần thiết ngày nay’”.
Sau phần tŕnh bày những nguyên tắc và chủ trương giải phóng của ḿnh căn cứ vào các văn kiện trước đây, Bản Thông Báo của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin tiến tới chỗ khẳng định rằng:
“Sau cuộc xem xét sơ khởi về các cuốn sách 'Jesucristo liberador. Lectura histórico-teológica de Jesús de Nazaret’ (Chúa Giêsu Vị Giải Phóng) và ‘La fe en Jesucristo. Ensayo desde las victimas’ (Đức Kitô Vị Giải Phóng) của Cha Jon Sobrino, S. J., Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, v́ thấy một số những mờ hồ thiếu chính xác và sai lầm trong những cuốn sách này, đă quyết định tiến hành một cuộc t́m hiểu thấu đáo những cuốn sách ấy vào tháng 10/2001. V́ những cuốn sách này được phổ biến rộng răi và được sử dụng trong các chủng viện cũng như trong các trung tâm học hỏi khác, nhất là ở Mỹ Châu Latinh, mới có quyết định sử dụng ‘việc khảo sát khẩn trương’ được qui định trong các khoản 23-27 của ‘Agendi Ratio in Doctrinarum Examine’.
“Kết quả của việc xem xét này, vào tháng 7/2004, một bản liệt kê những tư tưởng sai lầm hay nguy hiểm, trong các cuốn sách được đề cập tới trên đây, được gửi đến cho tác giả qua Cha Peter Hans Kolvenbach, SJ, Tổng Bề Trên Ḍng Chúa Giêsu.
“Vào Tháng 3 năm 2005, Cha Jon Sobrino đă gửi một ‘Hồi Đáp cho bản văn của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin’ cho Thánh Bộ này. Bản hồi đáp này đă được xem xét trong Khóa Họp Thường Lệ của Thánh Bộ này ngày 23/11/2005. Thánh Bộ đă nhận thấy rằng, mặc dù tác giả đă điều chỉnh tư tưởng của ḿnh một cách nào đó ở một số điểm, bản hồi đáp vẫn không thỏa đáng, v́, tự bản chất, những sai lầm được trưng dẫn trong bản liệt kê các tư tưởng sai lầm vẫn c̣n trong bản liệt kê ấy”.
“V́ lư do này, Thánh Bộ quyết định phổ biến Bản Thông Báo này, để cống hiến cho tín hữu một qui chuẩn an toàn là những ǵ được xây dựng trên tín lư của Giáo Hội, nhờ đó họ có thể phán đoán những khẳng định được chứa đựng trong những cuốn sách ấy hay trong các ấn bản khác của tác giả này”.
“Thánh Bộ đây không có ư phán đoán những ư hướng chủ quan của tác giả, nhưng có nhiệm vụ kêu gọi chú ư đến một số những tư tưởng không hợp với tín lư của Giáo Hội. Những tư tưởng này liên quan tới: (1) những giả định phương pháp học được tác giả sử dụng để thực hiện việc chia sẻ thần học của ḿnh, (2) Thần Tính của Chúa Giêsu Kitô, (3) Việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, (4) mối liên hệ giữa Chúa Giêsu Kitô và Vương Quốc của Thiên Chúa, (5) Việc Tự thức của Chúa Giêsu, và (6) giá trị cứu độ nơi Cái Chết của Người.
“Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, trong buổi triều kiến giành cho ĐHY Tổng Trưởng ngày 13/10/2006, đă phê chuẩn Bản Thông Báo này, bản thông báo được chấp thuẩn trong Khóa Họp Thường Lệ của Thánh Bộ này, và được truyền phải phổ biến nó ra”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 14/3/2007
“Bệnh phong cùi đă trở thành một ‘chứng bệnh bị lăng quên’”
Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Thừa Tác V ụ Chăm Sóc Sức Khỏe với Sứ Điệp cho Ngày Thế Giới Bệnh Phong Cùi năm thứ 54.
Chúa Nhật 28/1/2008
‘Hăy đi mà làm như thế’ (Lk 10:37)
Để cử hành Ngày Thế Giới Bệnh Phong Cùi lần thứ 54, Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Thừa Tác Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe gửi 1 sứ điệp về sức khỏe và chia sẻ huynh đệ tới những ai đang bị phong cùi cũng như những ai, cho dù đă được chữa lành, vẫn c̣n mang trên thân thể ḿnh những tẫt nguyền gây ra bởi thứ tật bệnh này.
Những tiến bộ đáng kể của khoa y học đă phát triển trong lănh vực này qua các thập niên gần đây đă làm nẩy sinh nơi tâm trí xă hội ư nghĩ là chứng bệnh này, v́ nó có thể được chữa trị, hầu như đă biến mất trên thế giới này; bởi thế mà bệnh phong cùi đă trở thành một ‘chứng bệnh bị lăng quên’.
Thế nhưng, bất hạnh thay, sự thật lại không phải là như thế. Các dữ kiện xuất phát từ những cuộc thăm ḍ về chứng tật này của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới, những cuộc thăm ḍ được phổ biến vào đầu Tháng 8/2006, đă cho thấy vào đầu năm ấy vẫn c̣n xẩy ra 219.826 trường hợp phong cùi mới hằng năm, và khoảng 602 trường hợp mỗi ngày. Những trường hợp này được phân chia theo địa dư như sau: Phi Châu 40.830; Mỹ Châu 32.904; Đông Nam Á 133.422; Miền Đông Địa Trung Hải 4.024; Miền Tây Thái B́nh Dương 8.646; Cộng chung th́ những người mắc chứng phong cùi trên thế giới vẫn có khoảng chứng 10 triệu người.
Cuộc chiến chống lại tật bệnh phong cùi chính yếu được thực hiện bằng việc ngăn ngừa depistage và phương pháp trị liệu ‘polychemotherapy’. Phương pháp lưỡng đôi này đă giúp cho việc giảm bớt rất nhiều tới 76.673 trường hợp từ đầu năm 2005. Cuộc chiến hiệu nghiệm chống tật bệnh phong cùi đ̣i hỏi là ở những vùng xẩy ra chứng tật này, những dịch vụ pḥng chống là những ǵ tùy thuộc vào vai tṛ của thành phần cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe căn bản ở các trung gtâm sức khỏe trong miền ấy. Chắc chắn một điều là nơi nào các điều kiện về môi trường trong việc được hưởng các dịch vụ được chăm sóc về sức khỏe không được thuận lợi cho lắm, và không tuân giữ việc ngăn ngừa và t́nh trạng vệ sinh (cũng như liên tục ở trong t́nh trạng chậm phát triển ) th́ vi khuẩn Hansen xuất phát và những dự án nhắm đến việc hoàn toàn loại trừ nó bị trở ngại rất nhiều. Tuy nhiên, những xứ sở đang có nạn dịch phong cùi vẫn tiếp tục nhận được miễn phí những thứ thuốc men làm nên phương pháo trị liệu poly-chemotherapy đối với tại họa này. Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới bảo đảm là sẽ tiếp tục củng cố việc hợp tác với những cơ cấu thực hiện việc chăm sóc sức khỏe chung riêng đang dấn thân ngăn ngừa bệnh tật phong cùi, cũng như việc chăm sóc cùng chữa trị cho những ai mắc bệnh tật phong cùi này.
Giáo Hội, bao giờ cũng quan tâm tới những người anh chị em này của chúng ta, mời gọi tất cả mọi tín hữu hăy lấy t́nh huynh đệ tham gia vào công việc phục vụ cao cả này trong việc phục hồi những tấm thân bệnh hoạn, nhờ đó làm cho chính bản thân họ trở thành những chứng nhân đích thực cho sứ điệp ‘Chúa Kitô Y Sĩ’ là vị đang ở với họ và cho họ, trong việc chiếm đạt ‘phần rỗi chung’ cho hết mọi người. Hội đồng ṭa thánh này lập lại lời kêu gọi liên lỉ của ḿnh với thành phần tín hữu thuộc các cộng đồng giáo hội hăy gia tăng sự hiểu biết cần thiết, nhờ đó cống hiến những dấu hiệu cụ thể cho việc chia sẻ huynh đệ các thứ sán vật của ḿnh. Điều này sẽ giúp cho những ai dấn thân cho việc phục vụ anh chị em chúng ta đang mắc chứng phong cùi. Vấn đề đặc biệt quan trọng là gửi nhân viên chăm sóc sức khỏe, thành phần, trong một thời gian thích hợp n ào đó, có thể phụ giúp những vị thừa sai và các tu sĩ sống đời tận hiến trong việc ngăn ngừa và chữa trị thành phần dân chúng ở các xứ sở đang có cơ nguy b ị chứng phong cùi.
Để làm cho những vị thừa sai, tu sĩ và t́nh nguyện viên cảm thấy được việc chúng ta cảm mến và gần gũi họ đó là việc chúng ta đáp ứng một cách cụ thể lời mời gọi của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI bày tỏ trong buổi triều kiến với những người tham dự Hội Nghị Quốc Tế năm 2006 của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Thừa Tác Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe: ‘Làm sao người ta có thể quên được rất nhiều người bị những chứng bệnh truyền nhiễm buộc phải sống tách biệt khỏi các người khác, và những ai có những lúc bị đánh dấu bằng một thứ tủi nhục? Những t́nh trạng đáng trách ấy lại càng trầm trọng hơn khi chúng ta để ư tới những điều kiện chênh lệch về xă hội và kinh tế giữa Bắc và Nam trên thế giới này. Cần phải đáp ứng họ bằng những việc can thiệp cụ thể nhắm tới chỗ gần gũi người bệnh, nhờ đó làm cho việc truyền bá phúc âm hóa văn hóa trở thành sống động hơn, và tạo nên những động lực có thể làm thành nền tảng cho các chương tŕnh về kinh tế và chính trị của các chính quyền’ (Ngày 24/11/2006).
Đó là lời mời gọi Chúa Giêsu đă ngỏ cùn g chúng ta qua dụ ngôn Người Samaritanô Nhân Lành: ‘Vậy quí vị hăy đi mà làm như thế’ (Lk 10:37). Với ‘Chúa Giêsu, Người Samaritanô Nhân Lành’ mà chúng ta cần phải truyền bá phúc âm hóa môi trường văn hóa của xă hội loài người là nơi dân chúng sống để loại trừ đi những thánh kiến vẫn c̣n hiện hữu liên quan tới những ai đang thảm thương mắc chứng phong cùi.
Giáo Hội, trung thành với sứ vụ của ḿnh, bao giờ cũng lập lại tác động nhân từ xót thương của Vị Sư Phụ Thần Linh, Đấng mà qua tác động chữa lành cho những người tật phong đă xác nhận là Ơn Cứu Chuộc đang được thực hiện (x Lk 7:22). Nhờ đó, Chúa Giêsu Kitô đă mở đường cho nhiều người bước đi. Đồng hành với Thánh Phanxicô Assisi, Chân Phước Damian de Veuster, và Chân Phước Peter Donders, một số đông đảo ‘những chứng nhân vô danh của t́nh yêu nhân hậu Thiên Chúa’, thành phần đă tự nguyện chọn sống ‘với và cho’ anh chị em bị phong cùi của chúng ta, đă tiếp tục những hoạt động của các vị hôm nay đây.
Vào Ngày Thế Giới Bệnh Phong Cùi lần 54, chúng ta cảm thấy cần phải nhớ tới Raoul Follereau, vị đă thiết lập ngày này vào năm 1954, nhân dĩp kỷ niệm 30 năm qua đời của ông. Raoul Follereau là một thí dụ và là một xác nhận rằng t́nh yêu của Thiên Chúa cũng khiêm tốn thú nhận rằn g: ‘Tôi không biết Thiên Chúa song tôi được Ngài biết tới, và đó là niềm hy vọng’ (R. Follereau, Le livre d'amour, I.M.E., September 2005, p. 59, n. 35). Follereau là một con người đă nguyện cầu như sau: ‘Lạy Chúa, con rất muốn giúp cho những người khác sống, hết mọi người khác, anh chị em của con, những người đang đau đớn và chịu đựng mà không biết lư do tại sao, mong được chết để thoát nạn’ (ibid., p. 58, n. 30).
Tôi xin kư thác cho tất cả mọi vị giám mục, những vị có trách nhiệm chăm sóc mục vụ về sức khỏe ở các giáo hội địa phương, các cán sự chăm sóc sức khỏe, các vị thừa sai, các tu sĩ, và các t́n h nguyện viên trần thế dấn thân đồng hành hỗ trợ anh chị em bị bệnh tật phong cùi của chúng ta, đoạn văn sau đây từ sứ điệp cho Ngày Thế Giới B ệnh Nhân 15 của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: ‘Ngoài ra, biết bao nhiêu là triệu người trên thế giới này vẫn c̣n trải qua những t́nh trạng sinh sống thiếu vệ sinh và không được hưởng những nguồn y tế thật là cần thiết, thường là những ǵ căn bản nhất, từ đó càng gia tăng số người bị coi là ‘bất khả chữa trị’. Ở đây tôi cũng muốn khuyến khích các nỗ lực của những ai hằng ngày phục vụ để bảo đảm là bệnh nhân bất khả trị và nguy tử, cùng với gia đ́nh của họ, lănh nhận được việc chăm sóc đầy đủ và yêu thương”.
Cùng anh chị em bị phong cùi, và cùng những ai mang trên thân xác ḿnh những dấu vết đau thương do bệnh tật này lưu lại, tôi muốn lập lại những lời của Đức Gioan Phaolô II trong bức thông điệp ‘Salvifici Doloris’: ‘trên cây thập tự giá ấy là Đấng Cứu Chuộc nhân trần, là con người khổ đau, Đấng đă n hận lấy nơi bản thân ḿnh những đau khổ về thể lư và luân lư của dân chúng thuộc mọi thời đại, nhờ đó, trong yêu thương, họ có thể thấy được ư nghĩa cứu độ nơi nỗi sầu thương của ḿnh cùng với những giải đáp vững chắc cho tất cả mọi vấn nạn của họ… Vậy chúng tôi xin tất cả mọi anh chị em là những người đang chịu khổ đau hăy nâng đỡ chúng tôi. Chúng tôi thực sự xin anh chị em là những người yếu kém hăy trở nên nguồn nghị lực cho Giáo Hội và cho nhân loại’ (khoản 30).
Hồng Y Javier Lozano Barragán
Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Thừa Tác Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
25/1/2007