VỚI CÁC CHÍNH TRỊ GIA CẤP TIẾN

Các Vị Giám Mục Hoa Kỳ với Cộng Đoàn Dân Chúa của mình trước Cuộc Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ 11/2004.

Ngày bỏ phiếu tổng thống 2/11/2004 sắp đến. Chưa bao giờ thế giới Công Giáo Hoa Kỳ lại cảm thấy xôn xao và lưỡng lự như vậy, vì không biết phải bầu hay nên bầu cho ai đây? Trong hai ứng cử viên hiện nay là đương kim Tổng Thống Bush thuộc đảng Cộng Hòa và Thượng Nghị Sĩ John Kerry thuộc đảng Dân Chủ đều có những yếu điểm trầm trọng bất khả chấp đối với Giáo Huấn của Giáo Hội Công Giáo nói riêng và luân thường đạo lý nói chung.

Đó là lý do các vị chủ chăn đã và đang nỗ lực để hướng dẫn lương tâm thành phần Công Giáo thuộc thẩm quyền của mình hầu giúp họ có thể thi hành nhiệm vụ công dân của họ hợp với ý muốn của Thiên Chúa và theo đường hướng nhân bản văn minh yêu thương và văn hóa sự sống của Giáo Hội Công Giáo. Chính Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ vào Tháng 3/2004 đã phổ biến văn kiện “Vai Trò Công Dân Người Tín Hữu: Tiếng Gọi Công Giáo về Trách Nhiệm Chính Trị”.

Hôm Thứ Ba 12/10/2004, các vị giám mục ở tiểu bang Pennsylvania đã loan báo việc phổ biến văn kiện “Lương Tâm Công Giáo Và Chính Sách Dân Sự”. Bản văn kiện này cần phải tung ra để chống lại những gì được Hội Đồng Công Giáo Pennsylvania gọi là một thứ “văn hóa trần tục gia tăng” cũng như để bênh vực vai trò của các tín đồ và tổ chức tôn giáo trong xã hội Hoa Kỳ. Bản văn kiện theo mẫu hỏi đáp này giải thích về Giáo Hội cũng như vai trò của Giáo Hội trong đời sống dân sự, trách nhiệm của quốc gia đối với các cơ cấu tôn giáo, ý nghĩa của quyền tự do tôn giáo, và việc hành sử “vai trò công dân của người tin hữu”. Bản văn kiện này cũng giải quyết những vấn nạn gai góc liên quan đến vấn đề Giáo Hội Công Giáo có đang áp đặt luân lý của mình lên xã hội hay chăng, và có vi phạm đến vấn đề “biệt phân giữa giáo hội và quốc gia” hay chăng.

Ở Missouri, ĐTGM Raymond Burke TGP Saint Louis đã từng lên tiếng đề cập tới việc cử tri Công Giáo cần phải bênh vực văn hóa sự sống khi bầu cử. Trong lá thư mục vụ mới đây mang tựa đề “Về Vấn Đề Trách Nhiệm Dân Sự của Chúng Ta đối với Công Ích”, vị TGM này đã giải thích các nguyên tắc luân lý giúp hướng dẫn lương tâm và cách thức người Công Giáo cần phải thực hiện các nhiệm vụ dân sự. Những điểm chính yếu trong bức thư mục vụ này đã được tờ Saint Louis Review tóm tắt như sau:

• Quyền tác hành hợp với lương tâm đòi nó phải được hướng dẫn theo chân lý được Thiên Chúa ghi khắc vào lòng trí chúng ta và được mạc khải trong Thánh Kinh. Lương tâm là tiếng Thiên Chúa nói trong chúng ta, giúp chúng at chọn lành lánh ác hợp với lề luật của Thiên Chúa.

• Theo luân lý chúng ta buộc phải chọn các vị lãnh đạo chính quyền là người sẽ phục vụ cho công ích. Vấn đề ưu tiên trước hết của công ích đó là việc bảo vệ sự sống con người là nền tảng của tất cả mọi điều kiện xã hội khác. Không bao giờ chính đáng trong việc trực tiếp và cố tình sát hại mạng sống con người vô tội, bằng việc phá thai, hủy hoại phôi bào con người, triệt sinh an tử, tạo sinh sao bản. Việc pháp lý công nhận những mối liên hệ đồng tính là những gì làm suy yếu sự thật về hôn nhân và là những gì công nhận những hành động vô luân trầm trọng. Vì công ích, chúng ta phải bảo toàn sự thiện sự sống con người và sự thiên hôn nhân gia đình. Vấn đề án tử hình và chiến tranh là những gì khác với vấn đề tìm cách phá thai và “hôn nhân” đồng tính, vì những hành động tìm cách phá thai và hôn nhân đồng tính tự bản chất là xấu, do đó không bao giờ lại là những việc chính đáng cả. Trong khi đó, chiến tranh và án tử hình mặc dù khó có thể biện minh nhưng tự bản chất không phải là việc ác.

• Để bảo đảm công ích, người Công Giáo có trách nhiệm bầu cho ứng cử viên xứng đáng, vì tình trạng phúc hạnh của cộng đồng lệ thuộc vào con người được chọn bầu và bổ nhiệm hành sử chính quyền.

• Không bao giờ được bầu cho một ứng cử viên để ủng hộ những việc làm vô luân; đó là một thứ “cộng tác về mô thức” vào việc dữ. Trong một số trường hợp, về luân lý, được phép bầu cho một ứng cử viên ủng hộ một số việc vô luân nhưng chống lại những thứ vô luân khác. Điều này được gọi là “cộng tác về thể thức” và được phép làm với những điều kiện nào đó và khi không thể nào tránh được tất cả mọi sự cộng tác với sự dữ, như thực sự xẩy ra trong trường hợp chọn một ứng cử viên cai trị dân chúng. Không có yếu tố nào của công ích có thể biện minh cho việc bầu cử một ứng cử viên tán thành một cách không giới hạn việc cố ý sát hại thành phần vô tội, việc phá thai, việc nghiên cứu thân bào từ phôi bào, việc triệt sinh an tử, việc tạo sinh sao bản hay việc hôn nhân đồng tính.

• Đối với một ứng cử viên ủng hộ phá thai ở một số trường hợp giới hạn, ngoài ra chống lại những trường hợp khác, thì người Công Giáo có thể bầu cho con người ấy. Đây không phải là vấn đề chọn một sự dữ ít hơn mà là vấn đề hạn chế tất cả những sự dữ có thể hạn chế lại cùng một lúc.

ĐTGM Charles Chaput TNG Denver Colorado cũng đã lên tiếng về vấn đề nhức nhối giữa lương tâm Công Giáo và việc chọn bầu chính trị liên quan đến những ứng cử viên thiên về sự dữ tác hại cho công ích. Theo tờ New York Times phát hành ngày 15/10/2004, trong một cuộc phỏng vấn, vị TGM này đã nói người Công Giáo nào bầu cho một ứng cử viên vì ứng cử viên này ủng hộ phá thai hay việc nghiên cứu thân bào từ phôi bào con người phải đi xưng tội trước khi lên rước lễ: “Nếu qúi vị bầu cử như thế quí vị có cộng tác làm việc xấu hay chăng? Và nếu quí vị biết rằng quí vị đang cộng tác làm việc xấu thì quí vị có cần phải đi xưng tội hay chăng? Câu trả lời là có”.

Trong một bài viết của mình gần đây trên tờ Denver Catholic Register, vị TGM này đã nói đến một số biến cố lịch sử khiến nhiều chính trị gia Công Giáo nghĩ rằng họ có thể chủ trương phá thai cùng những việc bất hợp pháp khác mà vẫn cứ công bố mình là trung thành với Giáo Hội.

“40 năm trước đây, vào tháng này, 12/9/1960, John F. Kennedy đã đọc một bài diễn văn trước Greater Houston Ministerial Association cho thấy ông ta thực sự đã làm mất đi căn tính Công Giáo của mình vì vấn đề hoạt động chính trị của ông. Ông lập luận trước thành phần thính giả Tin Lành đang cẩn trọng theo dõi ông rằng quí vị đừng lo bầu cho tôi làm tổng thống, vì tôi không để cho vị giáo hoàng bảo tôi những gì phải làm đâu.

“Trong việc hứa quyết đặt ‘lợi ích quốc gia’ lên trên ‘áp lực hay trách buộc tôn giáo’, Kennedy đã tạo nên một mẫu thức cho thế hệ ứng cử viên Công Giáo mai hậu, ở chỗ: là Người Hoa Kỳ trước rồi mới là Người Công Giáo sau. Đối với Kennedy thì đây là một bài toán dễ, một con người dù sao cũng lỏng lẻo đức tin của mình. Và đó chắc chắn là những gì công chúng Hoa Kỳ muốn nghe, vì họ vốn có chiều hướng mang nặng thành kiến chống Công Giáo của họ.

“Cái hóa giải của Kennedy dường như có kết quả khá, bao lâu ‘những áp lực về tôn giáo’ mà những viên chức Công Giáo được chọn bầu cần phải đương đầu với những vấn đề liên hệ như ly dị, viện trợ liên bang cho các trường Công Giáo hay những liên hệ ngoại giao với Tòa Thánh Rôma. Mỗi một vấn đề này chắc chắn đều là những gì hệ trọng, nhưng không vấn đề nào liên quan tới sự sống và sự chết cả. Không có vấn đề nào là nghẹt thở hết.

“Vào năm 1973, bằng việc hợp thức hóa vấn đề phá thai vì nhu cầu đòi hỏi, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã làm thay đổi hết mọi sự. Lý do rất giản dị: vì phá thai là vấn đề khác. Phá thai sát hại…

“Việc chống lại phá thai xuyên qua tất cả mọi tôn giáo. Nó không phải là vấn đề của ‘Công Giáo’. Thật vậy, nói cho cùng thì nó không phải là vấn đề của tôn giáo nữa kìa, mà là vấn đề nhân quyền, một vấn đề được tái khẳng định bởi sự kiện bất khả bác bỏ là sự sống bắt đầu từ khi được thụ thai.

“Sau năm 1973, vì vụ Roe với Wade, các viên chức Công Giáo được tuyển bầu phải đương đầu với một sự lựa chọn. Họ có thể hoặc hoạt động để thay đổi nó hay ít là làm giảm bout các thứ luật phá thai yếm thế, đồng thời phải cố gắng để tái phối trí các pháp đình bằng những vị thẩm phán phò sự sống. Hoặc họ có thể hủy hoại thành phần thai nhi và tìm cách làm nhẹ bớt tính cách luân lý nơi quyết định của mình. Đối với những ai chủ trương phò phá thai vô luân này, đã có những nhân vật chính trị gia Công Giáo nổi tiếng bấy giờ nhào vô cứu gỡ họ.

“20 năm trước đây, cũng vào tháng này (13/9/1984), Thống Đốc Nữu Ước bấy giờ là Mario Cuomo đã đọc một bài diễn văn ở Đại Học Đức Bà để tìm cách củng cố thành phần trí thức về cái hóa giải của Kennedy. Cuomo, không giống như Kennedy, vì ông được học hỏi hơn về đức tin. Cuomo, không giống như Kennedy, vì ông được cái lợi là thấy những lời Kennedy nói cuối cùng đã đi đến đâu. Thế nhưng, Cuomo, như Kennedy, là một con người có cùng những quan điểm của vị tổng thống. Những quan điểm của vị tổng thống đã phản ảnh nơi bài nói của ông ta về ‘Niềm Tin Tôn Giáo và luân lý quần chúng: quan điểm của một thống đốc Công Giáo’ tới mức độ nào thì chưa rõ. Thế nhưng những thành quả ấy vẫn còn lưu lại với chúng ta.

“Cuomo lập luận rằng ‘trong việc chúng tôi cố gắng để tìm một câu giải đáp về chính trị cho vấn đề phá thai, một câu trả lời vượt ra ngoài việc tuân giữ luân lý Công Giáo của chúng ta’, và ông đã kết luận là ‘việc cấm chỉ theo pháp lý vấn đề phá thai bởi chính quyền liên bang hay bởi mỗi quốc gia đều không phải là những gì có thể thực hiện đáng tín cẩn, thậm chí nó có thể đạt được đi nữa, nó cũng không thành tựu’. Ông có thể chống lại phá thai với tư cách riêng, nhưng theo quan điểm của mình, ông không có quyền ‘áp đặt’ niềm tin đó trên người khác…

“Cuối cùng, Cuomo đã lập luận rằng ‘việc chấp thuận hay bãi bỏ những hạn chế về pháp lý đối với vấn đề phá thai không được trở thành một cái thử mầu sắc hoàn toàn giành cho lòng trung thành của người Công Giáo’. Qua những lời lẽ ấy, ông ta đã viết ra thành một thứ chạy lỗi chữa mình cho mọi người Công Giáo ‘phò quyền tự quyết’ đã từng nắm quyền cai trị từ trước đó.

“Thống Đốc Cuomo, mặc dù cá nhân chống lại phá thai, đã tiếp tục phản đối những nỗ lực muốn giới hạn vấn đề phá thai ở tiểu bang Nữu Ước của ông. Ông cũng ủng hộ việc tài trợ công cộng cho việc phá thai của thành phần phụ nữ nghèo….

“Lương tâm Công Giáo của ông hiển nhiên đã nhào vô giải quyết một số vấn đề đáng để ý, cho dù ‘trào lưu đa nguyên’ có thích nó hay chăng. Ông đã 12 lần phủ quyết những nỗ lực lập pháp muốn tái tấu án tử hình.

“Tháng tới là Tháng Mười, tháng Tôn Trọng Sự Sống. Đó là dịp tốt để suy nghĩ về ý nghĩa của cái di sản Kennedy-Cuomo. Ở chỗ, có thể chấp nhận là người Công Giáo trong việc phục vụ quần chúng bao lâu quí vị muốn vứt bỏ đi những gì bất thuận lợi ‘Công Giáo’

“Đó không phải là dung hòa. Mà là chơi với quỉ ma, vì cái trò này đòi phải trả bằng một giá mà không một quốc gia nào, không một người tôi tớ phục vụ quần chúng nào và không một cử tri đầu phiếu nào có thể trang trải nổi”.

Đức Hồng Y Theodore McCarrick ở Washington DC, khi hội họp các vị linh mục tuần vừa rồi, đã kêu gọi người Công Giáo địa phương đi bỏ phiếu với một ‘lương tâm sáng suốt’. Ngài đã xin các vị linh mục hãy khuyến khích giáo dân của mình đọc bản “Vai Trò Công Dân Của Tín Hữu” của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Ngài nhấn mạnh đến quyền sống như sau:

“Nếu chúng ta không sống, chúng ta không thể hành xử các quyền lợi khác của mình”. Ở đây ngài có ý nói đến các thứ liên quan đến nền văn hóa sự chết, từ phá thai đến triệt sinh an tử và nghiên cứu thân bào từ phôi bào con người, cũng như những đe dọa khác đối với sự sống con người như chiến tranh, khủng bố, gài mìn và án tử hình.

Ngài nhận định rằng cho dù phận sự của Giáo Hội là hướng dẫn lương tâm của cử tri, nhưng “việc của chúng ta không phải là bảo cho họ phải bầu bán ra sao”.
 

Các Đức Giám Mục với vấn đề cử tri bầu phiếu cho ứng cử viên phò phá thai, khai phá sản liên quan tới vụ linh mục lạm dụng tình dục và vấn đề dễ dãi cho ly dị


Trong bức thư mục vụ của mình đề ngày Thứ Năm 16/9/2004, ĐTGM John Donoghue ở Atlanta đã nhắc nhở tín hữu của mình về nhiệm vụ công dân của họ, liên quan đến vấn đề bỏ phiếu cho ứng cử viên phò phá thai là việc tội lỗi vì chính thức cộng tác vào những hành động chính trị xấu. Ngài viết:


“Một ít năm trước đây, các vị Giám Mục Hoa Kỳ đã viết cho nhân dân của chúng ta những lời sau đây, những lời vẫn còn chân thực, đó là ‘Chúng tôi khuyến khích tất cả mọi người công dân, nhất là những người Công Giáo, hãy thiết tha với vai trò công dân của mình, không phải chỉ như là một nhiệm vụ và là một đặc ân, mà còn là một cơ hội đầy ý nghĩa trong việc tham dự vào vấn đề xây dựng nền văn hóa sự sống”.


“Giáo Hội muốn các phần tử của mình chấp nhận, hoàn toàn chấp nhận giáo huấn của mình về các vấn đề đức tin và luân lý. Về thần học luân lý, có hai loại hợp tác liên quan đến vấn đề này, được chia ra như sau:


“Việc chính thức cộng tác là ở chỗ mức độ cộng tác cho thấy ý muốn của tôi chấp nhận đối tượng xấu xa của ý muốn người khác. Bởi thế, việc bầu phiếu cho ứng cử viên vì họ phò phá thai là một việc chính thức cộng tác vào những việc làm chính trị xấu xa của họ. Tuy nhiên, việc bỏ phiếu cho một người nào đó để giới hạn một sự dữ lớn hơn, tức là, để giới hạn bao nhiêu có thể sự dữ khả dĩ xẩy ra bởi ứng cử viên kia nếu họ được bầu, là việc bầu cử có mục đích tốt.


“Cử tri nào có ý muốn giới hạn sự dữ như thế, chứ không phải sự dữ mà một chính trị gia bất toàn có thể thực hiện trong việc họ không gắn bó trọn vẹn với các nguyên tắc luân lý của Công Giáo (thì) việc cộng tác ấy được gọi là cộng tác về chất thể và là việc được phép vì lý do hệ trọng, như để ngăn ngừa việc chọn một cử tri tệ hơn nữa”.


“Việc phân biệt này có tính cách kỹ thuật, nhất là đối với khuynh hướng tân tiến của chúng ta là khuynh hướng rất thường tìm thỏa đáng bằng những giải đáp dễ dãi. Thế nhưng, việc phân biệt này là một phân biệt có một hậu quả quan trọng, và cần phải chú trọng khi chúng ta phải quyết định theo lương tâm trong việc chúng ta bỏ phiếu bầu cử.


“Đối với tất cả chúng ta, trách nhiệm của mình trước Đức Tin cũng như trước quốc gia của chúng ta đòi chúng ta phải suy nghĩ về những vấn đề này, cũng như đòi chúng ta phải thực hiện một cách đúng đắn.


“Vì chỉ có những hành động xác đáng và chân thực cuối cùng mới cứu vãn được xứ sở của chúng ta mà thôi. Đây là giây phút hệ trọng, mà việc không làm gì sẽ là một đại thảm trạng. Bởi thế, chúng ta hãy cầu xin Thánh Linh soi sáng cho chúng ta, soi sáng cho xứ sở của chúng ta… xin Ngài tỏ cho chúng ta ít là vào lúc khởi đầu cuộc hành trình của xứ sở chúng ta trở về sống những quyền lợi được Đấng Hóa Công ban cho, những quyền lợi hơn một lần đã được hân hoan chấp nhận và bảo vệ bởi tất cả mọi người công dân cho tất cả mọi người công dân, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc, nhất là quyền Sự Sống”.


ĐTGM John Myers ở Newark, New Jersey, trong tờ Wall Street Journal vào Thứ Sáu 17/9/2004, đã viết rằng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin do ĐHY Joseph Ratzinger lãnh đạo đã phổ biến một văn thư mang tựa đề “Về Việc Xứng Đáng Để Hiệp Lễ”. ĐTGM cho biết:


“Mặc dù văn thư này chính yếu giải quyết trách nhiệm của vị giám mục trong việc không cho rước lễ những chính trị gia Công Giáo trong một số trường hợp, nó còn có cả một ghi nhận ngắn ở phần cuối nói đến việc những người Công Giáo theo lương tâm ngay lành có nên bỏ phiếu cho các ứng cử viên ủng hộ việc sát hại sự sống con người trong bụng mẹ hay phòng thí nghiệm hay chăng”.


“ĐHY Ratzinger nói rằng một ‘người Công Giáo sẽ mắc tội về việc chính thức cộng tác vào sự dữ, và bởi thế không xứng đáng rước lễ, nếu họ có ý bỏ phiếu cho một ứng cử viên chỉ vì ứng cử viên này chủ trương yếm thế về việc phá thai”.


Cũng trong thời gian đang sôi động về vấn đề bầu cử gay go giữa long tâm Công Giáo và chính trị này, giáo phận Tucson Arizona, một giáo phận được dẫn dắt bởi ĐGM Gerald Kicanas, khai phá sản để tránh tình trạng khánh kiệt vì bị kiện cáo liên quan đến những vụ linh mục lạm dụng tình dục trẻ em. Giáo phận này là giáo phận thứ hai làm điều này sau giáo phận Portland Oregon.


Trong khi ấy, tại Tây Ban Nha, các vị giám mục nước này cũng lên tiếng cảnh giác rằng dự án của chính phủ xã hội chủ nghĩa trong việc mở rộng luật lệ phá thai sẽ gây ra “nhiều cuộc ly dị hơn và đau thương hơn”.


Thật vậy, một bản dự thảo, nhắm mục đích thay đổi Khoản Luật 1981, ở chỗ bỏ đi những đòi hỏi bắt buộc về vấn đề ly dị, tức là cho ly dị bất cứ vì lý do nào, không cần phải có lỗi.


Theo bản văn kiện được các vị giám mục nước này phổ biến thì đường lối này của chính phủ muốn thực hiện bất chấp “vấn đề rất trầm trọng của xã hội liên quan đến tình trạng liên lỉ tăng triển con số đổ vỡ hôn nhân cũng như những thảm cảnh cá nhân dính dáng tới những cuộc đổ vỡ ấy. Luật lệ này không phát xuất từ một quan niệm nhân loại học tốt đẹp về hôn nhân như là cơ cấu nồng cốt của xã hội mà là từ ý hệ cá nhân chủ nghĩa làm cho cơ cấu này trở thành chỉ là một thứ hợp đồng giữa hai cá nhân riêng tư vậy thôi”.

 

Các Vị Giám Mục Mỹ Châu Latinh sẽ tổ chức một cuộc họp cho các chính trị gia

Thật vậy, vào những ngày từ 27 đến 30 cuối Tháng Chín 2004, các vị giám mục Mỹ Châu Latinh (CELAM: the Latin American Episcopal Conference) tổ chức một cuộc họp tại Chí Lợi cho các chính trị gia. Ban tổ chức là phân bộ của hội đồng này được gọi là Các Kiến Trúc Gia Giáo Dân Xây Dựng Xã Hội dưới quyền lãnh đạo của Đức Giám Mục Jorge Eduardo Lazano, giám mục phụ tá TGP Buenos Aires, Á Căn Đình, và linh mục Francisco Escobar Galicia, tổng thư ký của Phân Bộ Công Lý và Đoàn Kết.

Trong bức thư kêu gọi tham dự cuộc họp này, ban tổ chức đã viết, trích dẫn Tông Huấn “Giáo Hội Tại Mỹ Châu” của ĐTC GPII năm 1999, “việc canh tân Giáo Hội ở Mỹ Châu không thể thực hiện được nếu thiếu sự hiện diện chủ động của giáo dân. Bởi thế, nói chung họ có một trọng trách đối với tương lai của Giáo Hội”.

Mục đích tổng quan của cuộc họp này là để cống hiến những dự thảo cho việc mục vụ với các chính trị gia, cũng như để suy tư về tình hình chính trị ở Mỹ Châu Latinh và Caribbean. Ngoài ra, cuộc họp này còn nhắm đến cả việc hệ thống hóa những yếu tố chính liên quan đến căn tính nơi hành động chính trị của người Kitô hữu theo học thuyết về xã hội của Giáo Hội, cũng như để nuôi dưỡng những mối liên hệ huynh đệ giữa con người của Giáo Hội phục vụ dân Chúa trong lãnh vực chính trị.

Chương trình bao gồm những cuộc hội thảo, chia sẻ cảm nghiệm mục vụ, sinh hoạt của các ủy ban, và thời gian huynh đệ, thành phần tham dự viên đến từ Á Căn Đình, Chí Lợi, Caribbean (Barbados, Belize, và Guyana), Bolivia, Ba Tây, Gia Nã Đại, Colombia, Costa Rica, Cuba, Ecuador, Guatemala, Honduras, Mễ Tây Cơ, Nicaragua, Paraguay, Panama, Peru, Cộng Hòa Dominican, El Salvador, Trinidad và Tobago, Uruguay và Venezuela.

Điều kiện để tham dự phải là một vị giám mục, chủ tịch ủy ban toàn quốc về giáo dân, một tổng thư ký của chương trình chăm sóc mục vụ cho giáo dân ở cấp độ hội đồng giám mục hay một chính trị gia trẻ. Mỗi quốc gia chỉ được tham dự hai chính trị gia trẻ, một đang hoạt động chính trị và một đang sửa soạn tham gia chính trị.

 

Trách Nhiệm của Thành Phần Cử Tri Công Giáo trong Cuộc Bầu Cử Tới Đây

Vẫn biết cuộc tranh cử nào tổng thống Hoa Kỳ cũng trở thành một biến động cho riêng Hoa Kỳ và cho chun g thế giới, nhưng cuộc bầu cử năm 2004 này dường như có một cái gì đó đặc biệt chưa từng có và sôi nổi hơn bao giờ hết, nhất là trong thành phần Công Giáo, vì nó liên quan đến những vấn đề luân lý hơn là liên quan đến một ứng cử viên là người Công Giáo (song lại là người công khai chủ trương chống lại giáo huấn của Giáo Hội về luân lý). Ở một khía cạnh nào đó, hình như cuộc bầu cử nào liên quan đến vị đương kim tổng thống hiện nay, tức cả cuộc bầu cử lần trước với vị phó tổng thống bấy giờ và cuộc bầu cử lần này đều hết sức căng thẳng và gay go.

Như thoidiemmaria.net đã nhận định trong bài “bầu cho ai khi phải chọn sự dữ” ngày 6/8/2004:

“Thật vậy, chưa bao giờ lương tâm Công Giáo ở Hoa Kỳ cảm thấy day dứt và bối rối như hiện nay trong cuộc bầu cử sắp tới đây, giữa một ứng cử viên đảng Cộng Hòa (đương kim Tổng Thống George Bush) có một chiều hướng và thực tế phò chiến tranh (qua mặt Liên Hiệp Quốc để tấn công Iraq) và với một ứng cử viên công khai tuyên bố phò phá thai (và đồng tính luyến ái).

“Thường con người ta hướng về sự thiện và tìm kiếm sự thiện, nên những gì con người chọn lựa, theo nguyên tắc chung, bao giờ cũng là những gì tự bản chất là sự thiện, chứ không phải sự dữ hay hơn là sự dữ. Thế mà, giờ đây, trong cuộc bầu cử 11/2004, nhân dân Hoa Kỳ nói chung và người Công Giáo Hoa Kỳ hoặc nhập tịch Hoa Kỳ nói riêng, phải chọn một trong hai sự dữ, tức một trong hai ứng cử tổng thống đều làm sự dữ. Vậy đâu là ý Chúa trong việc tuyển chọn này, nếu người Công Giáo muốn chu toàn phận sự công dân của mình theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo buộc phải đi bầu?”

Theo Đức Hồng Y Theodore McCarrick, TGM Washington, vị lãnh đạo Ban Đặc Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về Các Vị Giám Mục Công Giáo Và Chính Trị Gia Công Giáo, thì nói chung công thức hay nguyên tắc cần phải theo đó là “tự do lương tâm, nhưng chỉ sau khi tìm hiểu rõ các giáo huấn của Giáo Hội”. Trong cuộc phỏng vấn của nhật báo Avvenire Ý quốc, vị hồng y này đã đến “nhiệm vụ về luân lý” của tín hữu trong việc bầu cử như sau.

Vấn:     Trong cơ cấu tổ chức lưỡng đảng, chẳng hạn như của Hiệp Chủng Quốc đây, thì rất khó cho một ứng cử viên có một dự án hoạt động làm thỏa mãn hết mọi yếu tố giáo huấn về xã hội của Công Giáo. Người Công Giáo phải làm sao khi đối diện với hai ứng cử viên tất yếu bất toàn này?

Đáp:     Để tìm được vị ứng cử viên lý tưởng thì chẳng những khó mà còn bất khả nữa. Tuy nhiên, chúng tôi nói với tín hữu một cách rõ ràng là bao giờ cũng cần phải tiếp tục nắm giữ những nguyên tắc liên quan đến luân lý Công Giáo và làm cho những nguyên tắc này tồn tại nơi lương tâm của cả chính ứng cử viên lẫn cử tri viên. Chúng tôi muốn mọi người hiểu rằng, là các vị mục tử, chúng tôi hết sức tham gia và quan tâm đến đời sống xã hội của xứ sở này.

Vấn:     Theo tư cách là các vị giám mục đối với những ngươiụi Công Giáo Hoa Kỳ, thành phần đang chuẩn bị bầu cử vào Tháng 11 tới đây, các vị đã khuyên bảo những gì?

Đáp:     Căn bản đó là các vị giám mục không thiên vị ứng cử viên này với ứng cử viên kia. Chúng tôi không muốn trực tiếp nhúng tay vào những quyết định về chính trị. Những gì chúng tôi làm đó là nói lên giáo huấn Công Giáo về xã hội cùng những văn kiện về mối liên hệ giữa đời sống xã hội và Công Giáo do Tòa Thánh phổ biến, và trình bày cho tín hữu biết những qui chuẩn hướng dẫn việc chọn lựa chính trị của người Công Giáo. Ý tưởng chính đó là việc trở thành một người công dân hữu trách là một nhân đức, và việc tham dự vào tiến trình chính trị và bầu cử là một nhiệm vụ về luân lý.

Vấn:     Vậy thì đâu là những nguyên tắc người Công Giáo phải theo đầu tiên trước khi đi đến quyết định về chính trị?

Đáp:     Trước hết là vấn đề tôn trọng sự sống. Đây là nền tảng của hết mọi vấn đề bàn luận và quyết định về chính trị. Thế nhưng nó vẫn không phải là giá trị duy nhất cần phải căn cứ. Giáo huấn Công Giáo cũng đòi phải có một chính sách hữu trách liên quan đến các vấn đề về hòa bình, về công lý xã hội và về việc trợ giúp cho người nghèo. Chúng tôi tìm cách làm cho tín hữu hiểu rằng vai trò công dân hưũu trách tức là vai trò hiểu biết những vấn đề ấy và bảo toàn chúng. Chúng tôi cũng nói rằng hết mọi quyết định cần phải được thực hiện theo quyền tự do lương tâm, nhưng chỉ sau khi tìm hiểu rõ các giáo huấn của Giáo Hội.

Vấn:     Trong những tháng gần đây, hơn một vị giám mục Mỹ đã nói, một cách công khai hay trong hội đồng giám mục, về vấn đề có thể không trao ban Thánh Thể cho những ứng cử viên xưng mình là Công Giáo, như ông John Kerry, mà lại ủng hộ quyền phá thai. Những bản văn kiện của các vị giám mục Hoa Kỳ từ cuộc họp mới đây ở Calorado dường như cũng thận trọng về vấn đề này. Vậy thì ban đặc vụ do đức hồng ý lãnh đạo đã có những đúc kết như thế nào?

Đáp:     Chúng tôi vẫn còn làm việc về vấn đề này, thế nhưng, tạm thời thì quyết định tùy ở mỗi vị giám mục, vị biết được hơn ai khác những trường hợp xẩy ra trong giáo phận của mình, cũng như việc quyết tâm cùng tác hành của các chính trị gia địa phương. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự kiện là mỗi một ngươiụi trong các vị đều có thể thực hiện những quyết định xác đáng. Thế nhưng, chúng tôi, cũng như hội đồng giám mục, lưu ý tất cả mọi vị giám mục rằng, chúng tôi muốn tránh lấy Thánh Thể làm khí cụ sắc bén có tính cách chính trị và bàn thờ không phải là nơi xứng hợp cho những cuộc chiến co ù thể và phải được xẩy ra ở những nơi khác.

Vấn:     Phận vụ của Ban Đặc Vụ về Các Vị Giám Mục Công Giáo và Các Chính Trị Gia Công Giáo là gì?

Đáp:     Mục tiêu việc làm của chúng tôi đó là đối thoại và hướng dẫn. Bởi thế chúng tôi tìm những đường lối tốt đẹp nhất để liên hệ vơiùi các chính trị gia Công Giáo thuộc cả hai đảng, và chúng tôi cố gắng bảo tồn việc trao đổi với mọi ngươiụi trong họ. Chúng tôi muốn giải thích cho họ những vấn đề quan trọng đối với một người Công Giáo và tại sao lại như thế. Chúng tôi cũng nhắc nhở họ rằng ngay cả trong việc tôn trọng quyền tự do lương tâm, nếu họ hành động bất hợp với giáo huấn Công Giáo, thì theo lương tâm, họ không được bước lên rước lễ.

Vấn:     Tuần vừa rồi, ngài và những vị hồng y Hoa Kỳ đã tham dự hội nghị Các Hiệp Sĩ của hiệp hội Columbus, có mặt cả ông George W. Bush. Báo chí Hoa Kỳ đã cho đó như là một việc ngầm ủng hộ việc bầu cử tổng thống. Ngài trả lời ra sao đây?

Đáp:     Tôi đã nhận lời mời của một hiệp hội rất sinh động nơi tất cả mọi giáo phận ở Hoa Kỳ và góp phần lớn lao cho các ơn gọi cũng như cho hoạt động bác ái của người Công Giáo Hoa Kỳ. Nó là một hiệp hội Công Giáo chính của Hoa Kỳ, và theo truyền thống, nó bao giờ cũng mời các vị giám mục và hồng y Hoa Kỳ dến tham dự đại hội thường niên của nó, một đại hội mà tôi chẳng hạn không bao giờ bỏ. Không ai, trong đó có tôi, lại đi để tôn vinh vị tổng thống này cả, mà là cho ngày hội họp và sinh hoạt ích lợi này thôi.

Vấn:     Những giải thích ngớ ngẩn nhất về hành vi cử chỉ của các phần tử thuộc Giáo Hội ở Hiệp Chủng Quốc đó là the order of the day trong cuộc vận động bầu cử. Những thứ giải thích này có làm phiền đến ngài hay chăng? Ngài có nghĩ rằng có thể tránh được những thứ giải thích ấy không?

Đáp:     Việc bị biến thành khí cụ và những sự hiểu lầm bao giờ cũng có và khó lòng mà tránh được. Nhất là trường hợp của một vị mục tử sống và làm việc ở một khu vực như tôi, một người thậm chí còn dự phần vào sinh hoạt chính trị của quốc gia hơn và được truyền thông nhắm đến hơn ai hết. Cần phải biết cách để đương đầu với những trường hợp này mà không gây ra gương mù, ban đặc vụ do tôi lãnh đạo cống hiến cho các vị giám mục nhiều khuyến dụ liên quan đến khía cạnh này.

Vấn đề chính ở đây là luôn cởi mở đối thoại với tất cả mọi người, cho dù có nguy cơ bị hiểu lầm chăng nữa. Tôi cũng cảm thấy mình đã hơn một lần “gặp trục trắc rắc rối”, có thể nói như thế, vì việc sẵn sàng gặp gỡ mọi người và nói chuyện với mọi người, nhưng tôi muốn tiếp tục làm như thế. Gương mẫu của Đức Thánh Cha hiện nay về khía cạnh này là điều hiển nhiên nên tôi sẽ luôn luôn cố gắng theo gương của Ngài.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 31/8/2004


 Bầu cho ai khi phải chọn sự dữ – Tôn trọng lương tâm con người mà lại không thể không bênh vực mầu nhiệm Thánh!


Mùa tranh cử tổng thống Hoa Kỳ đang sôi nổi trong Cộng Đồng Công Giáo Hoa Kỳ, đến nỗi đã gây chấn động trong cả hàng ngũ giáo phẩm, liên quan đến vấn đề cho hay không cho các chính trị gia phò phá thai rước lễ.

Thật vậy, chưa bao giờ lương tâm Công Giáo ở Hoa Kỳ cảm thấy day dứt và bối rối như hiện nay trong cuộc bầu cử sắp tới đây, giữa một ứng cử viên đảng Cộng Hòa (đương kim Tổng Thống George Bush) có một chiều hướng và thực tế phò chiến tranh (qua mặt Liên Hiệp Quốc để tấn công Iraq) và với một ứng cử viên công khai tuyên bố phò phá thai.

Thường con người ta hướng về sự thiện và tìm kiếm sự thiện, nên những gì con người chọn lựa, theo nguyên tắc chung, bao giờ cũng là những gì tự bản chất là sự thiện, chứ không phải sự dữ hay hơn là sự dữ. Thế mà, giờ đây, trong cuộc bầu cử 11/2004, nhân dân Hoa Kỳ nói chung và người Công Giáo Hoa Kỳ hoặc nhập tịch Hoa Kỳ nói riêng, phải chọn một trong hai sự dữ, tức một trong hai ứng cử tổng thống đều làm sự dữ. Vậy đâu là ý Chúa trong việc tuyển chọn này, nếu người Công Giáo muốn chu toàn phận sự công dân của mình theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo buộc phải đi bầu?

Theo nguyên tắc chung thì trước hai sự dữ con người thường chọn và phải chọn sự dữ nhẹ. Vậy trong hai sự dữ chiến tranh và phá thai thì sự dữ nào nhẹ hơn, nếu không phải sự dữ phá thai, vì đây chỉ là vấn đề quyết định của cá nhân (nhất là của người mẹ) và giết từng người, còn chiến tranh là một biến cố đại thể, giết nhiều người trong một lúc hay trong một thời gian ngắn, chưa kể đến những thiệt hại về vật chất và tâm linh sau này nơi dân chúng. Thế nhưng, xét dài hạn thì phá thai lại là sự dữ nặng hơn, vì hậu quả khôn lường của nó đối với việc sát hại vô số thai nhi vô tội. Thậm chí kể cả trường hợp ngắn hạn, một phút thôi cũng có biết bao nhiêu thai nhi vô tội bị sát hại ngay trong lòng mẹ của mình. Bởi thế, thoạt nhìn thì chiến tranh có vẻ là sự dữ nặng hơn, nhưng xét kỹ thì phá thai cũng chẳng nhẹ gì.

Tuy nhiên, trong hai ứng cử viên tổng thống này, chúng ta vẫn phải để ý thêm một yếu tố nữa, đó là họ có một điều gì tích cực khác bù lại những sự dữ họ làm hay chăng? Chẳng hạn, ứng cử viên phò chiến tranh lại gây thành tích phò sự sống, còn ứng cử viên phò phái thai đã từng làm một sự thiện nào hay thành tích phục vụ công ích nào hay chăng?

Thực tế cho thấy, nếu không có một lương tâm chân chính và theo ý Chúa, thì con người ta chỉ bầu cử theo khuynh hướng và lợi lộc của mình. Tức họ sẽ bầu cho và chỉ bầu cho ứng cử viên nào có lợi cho họ. Chẳng hạn họ thích phá thai và phò phá thai thì chẳng bao giờ họ bầu cho ứng cử viên phò sự sống. Hay nếu họ không thích chiến tranh, họ sẽ không thể nào chấp nhận ứng cử viên cao bồi háo chiến cả.

Nhưng, như đã nói, trong trường hợp bầu cử năm 2004, con người khó lòng chọn được một ứng cử viên toàn vẹn theo đúng như ý Chúa muốn. Vậy thì chỉ còn cách là không đi bầu hay đi bầu mà bỏ phiếu trống? Tức bỏ phiếu theo lương tâm của mình mà thôi, nghĩa là hoàn toàn không vì tư lợi hay thiên kiến mà là theo nhận định lành dữ công minh theo nguyên tắc luân lý phổ quát.

Riêng về ứng cử viên phò phái thai nói riêng và các chính trị gia Công Giáo phò phá thai nói chung, có những vị giám mục đã lên tiếng không cho họ rước lễ, và có vị giám mục dung hòa hơn, chủ trương chỉ cần dạy cho họ biết về những gì phải giữ, còn để tùy họ có muốn giữ hay chăng, theo lương tâm của họ, chứ không thể áp bức họ được. Có vị giám mục cảm thấy không thể sử dụng Thánh Thể để chế tài họ. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ ở Denver hồi tháng 6/2004 đã để tùy nghi mỗi vị giám mục hành sử theo thẩm quyền địa phương của các vị.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là: sau khi đã giảng dạy cho thành phần chính trị gia này biết về giáo lý của Giáo Hội rồi, (mà đa số trong họ chẳng cần phải cắt nghĩa họ cũng đã biết rồi), mà họ cứ lên rước lễ thì sao? Vị linh mục hay giám mục bấy giờ, biết rõ con người của họ, mà chẳng lẽ cứ cho họ rước lễ hay sao? Nếu vậy thì các vị thấy có người sắp đẩy người khác rớt xuống hố chết, trong khi các ngài có thể can thiệp ngay bấy giờ để cứu nạn nhân, mà các ngài chỉ đứng cắt nghĩa rồi tùy họ muốn đẩy chết người hay sao?

Cũng thế, trong khi các vị giám mục cần phải tôn trọng lương tâm con người, nhưng các ngài cũng có nhiệm vụ phải bảo vệ Mầu Nhiệm Thánh nữa, là bảo vệ những gì Thiên Chúa đã trao cho các ngài ban phát. Vậy các ngài cứ ban phát ẩu tả vì tôn trọng lương tâm con người thì thử hỏi các ngài có thoát khỏi trả lẽ trước Thiên Chúa hay chăng? Phải chăng các ngài thực sự tôn trọng lương tâm con người hay nể nang con người, coi trọng con người hơn Đấng dựng nên con người.

Luật Chúa và Giáo Hội không phải là những gì để giảng dạy mà còn để làm sao cho cộng đồng Dân Chúa áp dụng thực hành nữa, bằng không thì Giáo Hội Công Giáo cũng chẳng khác gì Giáo Hội Chính Thống Giáo hay Anh Giáo, họp xong rồi, quyết nghị rồi, để tùy nghi cho mỗi giáo hội địa phương thi hành theo sở thích và nhận định của mình. Có lợi thì làm, không có lợi thì thôi, kiểu giữ đạo chủ quan Tây Phương. Như thế thì còn gì là tính chất Công Giáo nữa, còn gì là thẩm quyền tối cao của Giáo Hội Công Giáo nữa.

 

Trong Thông Ðiệp về Thánh Thể “ECCLESIA DE EUCHARISTIA” ban hành vào chính Ngày Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003, ở đoạn 37-38, ÐTC Gioan Phaolô II đã dứt khoát về vấn đề này như sau:

"Phán đoán về tình trạng ơn thánh của con người thực sự chỉ thuộc về chính đương sự, vì nó là vấn đề kiểm điểm lương tâm của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp tác hành bề ngoài có tính cách trầm trọng, hiển nhiên và chắc chắn trái ngược lại với qui tắc luân lý, thì Giáo Hội, vì mối quan tâm mục vụ về phương diện thiện ích của cộng đồng và vì lòng tôn kính phép bí tích này, không thể nào lai không trực tiếp can thiệp. Khoản Giáo Luật đã đề cập đến tình trạng tỏ ra thiếu điều kiện về luân lý này khi xác định rằng những ai 'cứ cứng lòng phạm trọng tội' thì không được Hiệp Lễ..." (đoạn 37)

"Thánh Thể, một biểu lộ hiệp thông thượng đỉnh về bí tích nơi Giáo Hội, cần phải được cử hành theo chiều hướng hoàn toàn thể hiện những mối liên hệ hiệp thông bề ngoài. Ðặc biệt vì 'thực sự là tuyệt đỉnh của đời sống thiêng liêng và là mục đích của tất cả mọi bí tích', mà Thánh Thế thực sự cần đến những liên hệ hiệp thông về bí tích, nhất là bí tích Rửa Tội và Truyền Chức Thánh. Không thể trao Thánh Thể cho một người chưa rửa tội, hay một người phủ nhận sự thật trọn vẹn của đức tin liên quan đến mầu nhiệm Thánh Thể" (đoạn 38)

Chúng ta hãy cầu nguyện để các vị chủ chiên của chúng ta được chẳng những khôn ngoan sáng suốt mà còn đủ sức mạnh để thực hiện sứ vụ giảng dạy, thánh hóa và chăn dắt của các ngài một cách toàn hảo, như những gì Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chia sẻ với các vị trong 8 đợt viếng thăm tòa thánh ngữ niên của các ngài từ ngày 2/4 đến 24/6/2004.

Nên nhớ rằng, có những việc chúng ta làm, dù ngay lành đi nữa, tự bản chất, cũng chua7 chắc đã đẹp lòng Chúa và đúng như ý Chúa, thậm chí còn làm mất lòng Chúa, đáng Chúa nguyền rủa, như trường hợp của tông đồ Phêrô trong việc can ngăn Thày, dù có ý ngay lành và hoàn toàn vì yêu mến Thày, về mầu nhiệm vượt qua được Thày tiết lộ cho biết, đến nỗi, đã bị Thày xua đổi và gọi là Satan, vì những gì vị tông đồ này nghĩ tưởng và phát biểu hoàn toàn trái với ý muốn tối cao trọn lành của Thiên Chúa.

Đó là lý do chúng ta thấy con người Kitô hữu nói chung, nhất là các vị mục tử của Kitô Công Giáo nói riêng, cần phải sống thánh thiện là dường nào. Vì chỉ sống thánh thiện, tức sống trong Chúa và theo tinh thần của Chúa Kitô, luôn lắng nghe và đáp ứng tác động của Thần Linh như một trẻ thơ, con người mới không sợ lầm lạc, mới khôn ngoan như rắn và chân thật như bồ câu, tức mới khôn ngoan biết được mưu chước của ma quỉ bằng việc tuân theo tác động thần linh.

Với các vị Hoa Kỳ sang thăm Tòa Thánh ngũ niên đợt thứ 7, bao gồm những vị giám mục thuộc các giáo tỉnh Colorado, Wyoming, Utah, Arizona, New Mexico và miền tây Texas vào ngày 4/6/2004, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ các vị về vai trò thánh hóa lẫn giảng dạy, hay giảng dạy bằng đời sống thánh đức của các vị như sau:


“Bởi thế, hoạt động chính yếu nơi sứ vụ ngôn sứ của Giáo Hội đó là làm môi giới hóa giải nội dung của đức tin với các nền văn hóa khác nhau, để làm sao cho dân chúng được biến đổi bởi một quyền lực Phúc Âm chi phối cách suy nghĩ của họ, tiêu chuẩn phán đoán của họ, và những qui tắc tác hành của họ (cf. "Sapientia Christiana," Foreword I).


“Nhận xét của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tiền nhiệm của Tôi là ‘cái phân ly giữa Phúc Âm và văn hóa thực sự là một thảm kịch của thời đại chúng ta’ (Evangelii Nuntiandi, 20) ngày nay được bộc lộ như ‘cuộc khủng hoảng về ý nghĩa’ (cf Fides et Ratio, 81). Những chủ trương mập mờ về luân lý, việc bóp méo lý luận của những nhóm theo khuynh hướng riêng biệt, và việc tuyệt đối hóa chủ quan tính, chỉ là một số thí dụ về một thứ quan điểm về đời sống không tìm kiếm được chính sự thật và buông xuôi việc tìm kiếm mục đích tối hậu và ý nghĩa của đời sống con người (cf ibid, 47). Ánh sáng của sự thật được chư huynh cởi mở rao giảng (cf 2Cor. 4:2) sẽ soi chiếu vào thứ ánh sáng mù mịt này, như là một thứ tác vụ “diakonia” của niềm hy vọng, hướng dẫn con người nam nữ hiểu được mầu nhiệm về đời sống của mình một cách nhất quán (cf. ibid., 15).


“Là những thừa tác viên của sự thật, bằng lòng can trường theo ơn Chúa Thánh Thần (cf. "Pastores Gregis," 26), vấn đề chư huynh rao giảng và sống động để làm chứng cho việc Thiên Chúa ngoại lệ ‘chấp nhận’ nhân loại (cf 2Cor 1:20) hiện lên như là dấu hiệu của sức mạnh và lòng tin tưởng vào Chúa và làm phát sinh sự sống mới trong Thần Linh. Ngày nay một số người coi Kitô Giáo như bị giảm giá về cơ cấu và không thể đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng của con người. Tuy nhiên, chẳng những không phải là một cái gì đó thuần túy về cơ cấu, cốt lõi sống động của việc chư huynh rao giảng Phúc Âm đó là việc gặp gỡ chính Chúa. Thật vậy, chỉ nhờ hiểu biết, yêu mến và bắt chước Chúa Kitô mà cùng với Người chúng ta mới có thể biến đổi lịch sử bằng việc làm chứng cho những giá trị Phúc Âm nơi xã hội và văn hóa.


“Bởi thế, rõ ràng là tất cả mọi hoạt động của chư huynh đều phải hướng về việc loan truyền Chúa Kitô. Thật vậy, phận sự sống liêm chính của chư huynh là những gì phản nghịch lại với tình trạng phân chia giữa sứ vụ và đời sống. Được sai đi nhân danh Chúa Kitô như là những vị mục tử chăm sóc cho các đàn chiên riêng của Dân Chúa, chư huynh cần phải cùng với họ trở nên một tâm trí và một thân mình trong Chúa Thánh Thần (cf. Pastores Gregis, 43)”.
 

 

Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

Văn Hóa Sự Chết ở Các Đại Học Đường Công Giáo Hoa Kỳ


Khuynh hướng theo khuynh hướng biện hộ cho các quyền phá thai đã phát triển nhiều đến nỗi hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã phải xin các tổ chức liên hệ của Giáo Hội đừng tôn vinh những ai khinh thường giáo huấn của Giáo Hội. Patrick Reilly, chủ tịch Hội Hồng Y Newman, đồng tác giả thực hiện cuộc nghiên cứu ngũ niên với Erin Butcher trong việc điều tra về những thứ xâm nhập vào các trường đại học Công Giáo theo chủ trương ủng hộ vấn đề phá thai, ngừa thai, tiền hôn dâm và triệt sinh trợ an tử.


Vị chủ tịch này đã chia sẻ với Zenit về tầm quan trọng liên quan đến lời kêu gọi của các vị giám mục Hoa Kỳ và sự nguy hiểm của các trường Công Giáo đón nhận những con người nổi tiếng vốn chống lại những nguyên tắc căn bản của Giáo Hội về luân lý.


Vấn:     Trong bản tuyên cáo mới đây, “Người Công Giáo trong Sinh Hoạt Chính Trị”, hội đồng giám mục Hoa Kỳ đã viết: “Cộng đồng Công Giáo và các tổ chức Công Giáo không được tôn vinh những ai có tác hành tỏ ra coi thường những nguyên tắc căn bản của Giáo Hội về luân lý. Những hạng người này không được nhận tặng thượng, cấp bằng danh dự hay diễn thuyết là những gì tỏ ra ủng hộ các hành động của họ”. Tầm quan trọng của việc các vị giám mục Hoa Kỳ cảnh giác các trường học không được tôn vinh thành phần bất đồng này là gì?


Đáp:     Bản tuyên cáo này là những gì đáng ca ngợi, là những gì chính thức tán thành chủ trương lâu đời của Hội Hồng Y Newman trong việc chống lại những tổ chức Công Giáo tỏ ra tôn vinh hay mời gọi những thứ ủng hộ cho các quyền phá thai.
ĐTGM James Kelleher đã thiết lập qui chế này ở Kansas City, thế nhưng hầu hết những qui chế khác của giáo phận chống lại những thành phần nổi tiếng phá thai và thành phần thuyết trình về phá thai chỉ áp dụng cho các giáo xứ và các cơ sở do Giáo Hội làm chủ, như thể căn tính Công Giáo của những cơ sở ấy chất chứa những gì khác với căn tính Công Giáo của các cơ quan độc lập về pháp lý.


Bản tuyên cáo này của các vị giám mục xác nhận là giáo huấn Công Giáo và những gì Công Giáo mong đợi đều giống nhau chẳng những đối với mọi người Công Giáo, không miễn trừ cho thành phần chính trị gia, mà còn đối với tất cả mọi tổ chức Công Giáo nữa. Chúng tôi hy vọng rằng những qui chế giáo phận ấy hiện nay sẽ phản ảnh một cách chính thức lời công bố toàn quốc này, một bản tuyên cáo gần như được đồng thanh chấp thuận của hội đồng giám mục Hoa Kỳ.


Việc cấm vấn đề tôn vinh và mời thuyết trình là những gì khó với, chẳng những áp dụng vào trường hợp của thành phần chính trị gia Công Giáo phò phá thai, mà còn vào trường hợp của bất cứ ai tác hành “tỏ ra coi thường những nguyên tắc luân lý nền tảng” nữa.
Về vấn đề “những bài thuyết giảng có thể đưa đến chỗ ủng hộ các hành động của họ” có thể là những bài giảng dạy trong đại học và những bài diễn thuyết trong lễ phát bằng, được trình bày bởi các chính trị gia đang vận động, bất kể là đề tài nào, trực tiếp gây ra một thách đố liên quan đến khái niệm sâu xa chủ yếu về vấn đề tự do hàn lâm, một thứ tự do bất chấp những mối quan tâm của Kitô Giáo về sự thật và công ích.


Vấn:     Những học đường Công Giáo đón nhận thành phần nổi tiếng chống lại các giáo huấn của Giáo Hội sẽ gặp phải tình trạng nguy hiểm như thế nào?


Đáp:     Bao giờ cũng nguy hiểm ở chỗ những con ngươiụi này có thể sử dụng bục giảng thuyết ở tổ chức Công Giáo để tấn công hay ít là làm suy yếu việc ủng hộ các giáo huấn Công Giáo, dù chỉ được mời để nói về một đề tài có vẻ tốt lành.


Gần đây mới xẩy ra những cuộc công khai tranh đấu phun ra những lời lẽ căm phẫn ở các đại học Công Giáo, kể cả của Kate Michelman thuộc tổ chức NARAL ở Đại Học Boston, của chủ tịch Tổ Chức Quốc Gia Về Nữ Giới Kim Gandy ở Đại Học Loyola New Orleans, của chuyên viên truyền thông khiêu dâm Larry Flynt ở Đại Học Georgetown, của tay phong trào nữ giới cấp tiến Gloria Steinem ở Đại Học Fairfield, và của các nhà nghiên cứu về vấn đề tạo sinh sao bản và vấn đề nghiên cứu thân bào từ phôi bào ở Đại Học Assumption và Đại Học Holy Cross.


Nói chung, thành phần thuyết giảng và thành phần được tôn vinh này không thách đố giáo huấn Công Giáo trong đại học. Những đại học đường chọn những tay thuyết giảng và những người được tôn vinh này là vì sở trường và danh tiếng của họ là những gì không dính dáng đến các hoạt động tai hại của họ. Chẳng lẽ một chính trị gia phò phá thai lại không được thuyết giảng ở đại học về các vấn đề thuế má hay quân sự sao? Lập luận được nhiều viên chức đại học đặt ra đó là một cuộc thuyết giảng về các đề tài ấy thì xứng hợp vì không có gì hiển nhiên tranh đấu cho vấn đề vô luân cả.


Dĩ nhiên, nói cho cùng thì một đại học Công Giáo cũng có thể mời Hitler nói về những công trình âm nhạc và nghệ thuật của Đức Quốc. Chắc chắn đại học Công Giáo nào cũng có thể mời hay tôn vinh Louis Farrakhan hoặc David Duke về các quan điểm chủng tộc của họ, bất kể đề tài họ muốn nói.


Tại sao các vị điều hành đại học Công Giáo lại đi đến chỗ quá dễ dàng không đếm xỉa gì tới việc công khai tranh đấu cho vấn đề phá thai, vấn đề sinh hoạt đồng tình luyến ái hay đồng tính “hôn nhân”, vấn đề thí nghiệm bào thai, vấn đề triệt sinh an tử và nhiều vấn đề hệ trọng khác?


Việc tưởng thưởng hay nơi giảng thuyết là những gì đưa con người vào một vị thế vinh hạnh và trọng vọng, bất kể những gì họ bàn luận ở đại học. Thành phần được tôn vinh và các bài thuyết giảng ở phân khoa đại học chỉ khác nhau về cấp độ mà thôi: mặc dù chỉ xuất hiện ngắn ngủi ở đại học, họ cũng tạm thời được chia sẻ vai trò đặc biệt của những vị giáo sư là thành phần giáo dục và là mô phạm của sinh viên. Giáo luật đã có lý để nhấn mạnh rằng các tổ chức Công Giáo muốn thấy “một đời sống liêm chính” ở ngoài cả lớp học nơi các vị giáo sư cũng như nơi thành phần thuyết giảng và được tôn vinh nữa.


Mối quan tâm chính đó là vấn đề gương mù. Khi một con người công khai tỏ ra “khinh thường những nguyên tắc luân lý căn bản của chúng ta” thì con người ấy được đồng hóa với hành động ấy, bất kể lý do nào đã khiến họ đến viếng thăm đại học.


Khi một tổ chức Công Giáo tình nguyện quyết định mời cá nhân ấy đến để giảng thuyết hay đến nhận những thứ tôn vinh đặc biệt thì tổ chức này công khai tỏ ra cho thấy rằng mình thiếu tính cách mạnh mẽ dấn thân nắm giữ giáo huấn Công Giáo, bất chấp những người bị thiệt hại bởi hành động của cá nhân ấy, coi thường những nỗ lực tỏ ra chống lại hành vi cử chỉ tác hại của cá nhân này, và làm cho sinh viên bị lầm lạc về trách nhiệm của những người Công Giáo trung thành.


Khi được hỏi “Tại sao lại không chứ?” tôi chỉ có thể đặt vấn đề là “tại sao lại thế nhỉ?” Lập luận đơn giản nhất chống lại vấn đề mời mọc thành phần được tôn vinh cũng như thành phần giảng thuyết là những người vốn chủ trương phổ biến văn hóa sự chết, đó là việc nhân loại chưa chìm khá sâu vào vấn đề cần đến những thứ mời mọc này. Về bất cứ đề tài thuyết giảng nào, có thể tìm mời những chuyên gia không nêu lên những vấn đề quan tâm ấy.


Khi chọn những phát ngôn viên và những người được tôn vinh nói trong buổi cấp phát văn bằng thì có cả ngàn thứ chọn lựa. Nếu những vị điều hành đại học có khuynh hướng thấy được giới hạn về quyền tự do của mình trong việc chọn lựa thành phần thuyết giảng và được tôn vinh như là một thứ điềm cáo chung cho nền học thức lành mạnh thì không còn cảnh ngộ khốn đốn ấy nữa.


Vấn:     Đâu là những điển hình thông dụng nhất về “thứ văn hóa sự chết”, những thứ xâm nhập qua những cuộc tranh đấu về vấn đề phá thai, ngừa thai, tiền hôn dâm và triệt sinh an tử, được ông nghiên cứu thấy xuất hiện ở các đại học Công Giáo?


Đáp:     Vấn đề thông dụng nhất đó là thành phần thuyết trình viên và thành phần được vinh danh.


Chúng tôi đã ghi nhận được gần 200 trường hợp bất ngờ của thành phần thuyết trình viên và thành phần được vinh danh từ năm 1999, thế nhưng, vị việc nghiên cứu của chúng tôi chỉ căn cứ vào những tường trình được phổ biến sẵn có ở các tờ nhật trình của đại học hay trên mạng điện toán mà thôi, nên chúng tôi tin rằng con số thực sự về thành phần thuyết trình viên và thành phần được vinh danh còn cao hơn con số 200 này.


Đó là lý do tại sao bản tuyên cáo mới đây của các vị giám mục Hoa Kỳ kêu gọi các học việc Công Giáo hãy tránh tôn vinh những ai tác hành tỏ ra khinh thường giáo huấn Công Giáo, là những gì rất thích hợp với các phần tử của chúng tôi, nhất là với các sinh viên đã từng chiến đấu để cải tiến văn hóa đại học.


Thành phần thuyết trình viên và được vinh danh này thường là những tay chính trị phò phá thai. Chúng tôi thấy ít là 17 cuộc viếng thăm và bài thuyết trình của nguyên tổng thống Bill Clinton ở Đại Học Georgetown.


Tệ hại biết bao những đại học Công Giáo thường mời những chính trị gia phò phá thai đến với những cuộc tổ chức ở đại học của mình. Trong cuộc vận động tranh cử hiện nay, Đại Học Marquette và Đại Học Thánh Anselmô đã thực hiện những cuộc tranh luận chỉ toàn là những ứng cử viên phò phá thai.


Những cuộc vận động tranh cử khác còn thấy sự hiện diện của John Kerry ở Đại Học Georgetown vào Tháng Giêng 2003 và một lần nữa vào Tháng Tư 2004, để nói về dự án kinh tế chính yếu của ông này; Dennis Jucinich ở Đại Học Thánh Tâm; Howard Dean ở Đại Học Thánh Anselmô và Georgetown; người con gái của Dick Gephardt ở Đại Học Boston; Gephardt và Kerry ở Đại Học Clarke; và Wesley Clark ở Đại Học Rivier.


Dĩ nhiên, những thuyết trình viên và những người được vinh danh không phải là những gì cần phải quan tâm duy nhất ở các đại học đường Công Giáo. Một số còn chủ động và đôi khi bảo trợ những câu lạc bộ sinh viên phò phá thai, chẳng hạn như Reproductive Choice Coalition ở trường luật Đại Học Boston, và Hoyas for Choice and Georgetown Students for Choice ở Đại Học Georgetown.


Vấn đề sinh viên nội trú thực tập và những cơ hội phục vụ cũng có thể trở thành vấn đề gây rắc rối, chẳng hạn như vai trò “hỗ trợ y viện” Planned Parenthood được khởi xướng bởi đại học vụ Đại Học Nazarét. Một số mạng điện toán đại học chỉ điểm hay móc nối (link) sinh viên của mình với những tổ chức, bao gồm cả NARAL Pro-Choice America, Planned Parenthood, The National Organization for Woman and the Feminist Majority Foundation.


Chúng tôi khám phá ra rằng mạng điện toán của Đại Học Georgetown chỉ điểm cho sinh viên của họ những y viện phá thai địa phương, Đại Học Santa Fe cung cấp “việc ngừa thai khẩn cấp” cho sinh viên, và nhiều đại học đã bao thầu luôn cả những thứ bảo hiểm sức khỏe ngừa thai cho nhân viên của mình.


Vấn:     Trong những gì khám phá ra được thì điều gì làm ông lấy làm ngạc nhiên nhất?


Đáp:     Hội Hồng Y Newman đã đụng phải hầu hết những vấn đề này cả trên một thập niên qua, bởi thế không có gì gọi là đáng ngạc nhiên cả. Thế nhưng, sau khi tổng kết lại việc nghiên cứu của chúng tôi, tôi giật mình khi thấy rằng Đại Học Georgetown đã chiếm nhiều chỗ trong bản tường trình này.


Có lẽ vì Đại Học này có một số báo chí của đại học và mạng điện toán giúp dễ dàng thực hiện việc nghiên cứu đầy đủ hơn nhiều đại học khác, thế nhưng tôi cũng vẫn thấy rùng mình trước những gương mù quá nhiều ở một đại học Công Giáo lâu đời nhất được hưởng đặc quyền của Tòa Thánh Vatican.


Tôi cũng thấy cảm thấy hết sức buồn về sự hiện diện của việc tranh đấu cho nền văn hóa sự chết nơi các phần tử quản trị viên, nơi thành phần ủy tín viên, thành phần điều hành viên, cũng như nơi các nhân viên làm việc ở các đại học Công Giáo. Ở đây chẳng những các đại học đường Công Giáo vấp phạm lỗi lầm trong viện chạy theo các chiều hướng xã hội, mà cả các nhân viên của chính cơ cấu này cũng chủ động hoạt động phản lại Giáo Hội về một số vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta đây.


Daniel Maguire, một cựu linh mục và là một tay công khai bất đồng về thứ luân lý tính dục và phá thai, đang dạy thần học và đạo lý ở Đại Học Marquette.


Các phần tử quản trị của Đại Học Georgetown có cả các phần tử thuộc các tổ chức đang dẫn đầu cuộc tranh đấu triệt sinh an tử, cũng như có cả những nhân viên của tổ chức Planned Parenhood.


Sheila Smith, chủ tịch của Đại Học Mount Saint Clare, nay đực đổi tên thành Đại Học Franciscan ở Iowa, trong năm 2001 và 2002, trước đây đã từng là một ứng cử viên phò phá thai tranh cử vào Quốc Hội Hoa Kỳ và làm phó thống đốc tiểu bang Illinois.


Những chính trị gia phò phá thai, hầu hết “đã hồi hưu” không còn xuất hiện trên chính trường, cũng đã tìm thấy nơi trú ẩn ở các đại học Công Giáo.


Thành phần này có thể kể đến là Carol Moseley Braun đang dạy về quản trị ở Đại Học DePaul, Geraldine Ferrato có tên trong danh sách thỉnh giáo sư của trường luật ở Đại Học Fordham và đang dạy về chính sách quản trị ở Đại Học Georgetown, và Leon Panetta đang dạy khoa chính trị học và có chân trong thành phần ủy tín viên và là thành phần thỉnh giáo sư của trường luật ở Đại Học Santa Clara.


Vấn:     Đâu là những giải pháp để bảo đảm là các đại học Công Giáo chấp nhận sứ vụ Công Giáo phò sự sống của mình?


Đáp:     Tối thiểu thì các đại học Công Giáo và nhân viên của họ không được góp phần vào nền văn hóa sự chết.


Điều này có nghĩa là cẩn thận xem xét những nhân viên khả mướn cũng như thành phần đại diện các đại học, cấm chỉ các thuyết trình viên và thành phần vinh danh bất tương xứng ở đại học của mình, cung cấp những dịch vụ về sức khỏe và tham vấn hợp với giáo huấn của Công Giáo, kiểm soát các mạng điện toán của đại học và những tài liệu được phổ biến trong đại học, không cộng tác với những tổ chức ủng hộ văn hóa sự chết, chẳng hạn như những thứ giới thiệu tới tổ chức Planned Parenthood.


Đối với cá nhân những người Công Giáo thì một số điều nữa cần phải có nơi các học viện Công Giáo nữa, đó là những nơi này cần phải tự mình chủ động xây dựng một nền văn hóa sự sống. Các đại học có thể bắt đầu bắt tay vào việc từ đại học của mình.


Điều này có nghĩa là hãy cung cấp việc khuyên giải cùng những dịch vụ về sức khỏe cổ võ đức thanh sạch, nhận con nuôi và vai trò làm mẹ, cung cấp những dịch vụ toàn diện và thăng tiến cho những sinh viên mang bầu, tìm kiếm tôn vinh những người và thuyết trình viên phò sự sống, thành phần mô phạm về hoạt động và tác hành phò sự sống, và tìm những đường lối phò sự sống hiển nhiên và thuyết phục nơi tất cả mọi hoạt động và dấn thân chính thức của mình.


Các đại học đường đang chiến đấu với vấn đề này có thể tìm tham vấn nơi những học viện luôn tỏ ra mình là Công Giáo. Chẳng hạn có một ít như the Franciscan University of Steubenville, Thomas Aquinas College, và the Catholic University of America, cũng như một số mô phạm tốt lành khác nữa.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 19-20/7/2004.

 

 

Vấn đề Hiệp Lễ với các Chính Trị Gia Phò Phá Thai: Tiến Trình cần phải thực hiện


ĐHY Avery Dulles,
giáo sư về Tôn Giáo và Xã Hội dạy ở Đại Học Fordham, khuyên các vị Giám Mục Hoa Kỳ hãy trao đổi với thành phần chính trị gia Công Giáo bất đồng về trách nhiệm luân lý của họ trước khi khuyên họ không được rước lễ. Ngài đã chia sẻ với Zenit tiến trình cần phải theo trong việc bênh vực sự sống con người, bảo vệ các bí tích, ủng hộ các giáo huấn của Giáo Hội và phản ứng với thành phần chính trị gia phò phá thai.


Vấn:     Một vị giám mục có thể hay cần phải sử dụng những đường lối cụ thể nào để khuyên giục họ từ bỏ việc ủng hộ phá thai, triệt sinh an tử và nghiên cứu thân bào bởi phôi bào?


Đáp:     Bước thứ nhất có thể cần phải làm đó là bảo đảm rằng các chính trị gia hiểu biết tín lý của Giáo Hội cùng với những lý do liên quan đến đó. Nhiều chính trị gia, cũng như phần đông dân chúng Hoa Kỳ, dường như không biết rằng phá thai và triệt sinh an tử là những vi phạm trầm trọng đến quyền sống bất khả vi phạm.


Đây không phải chỉ là những vấn đề của “Giáo Hội” mà là những vấn đề được chi phối bởi lề luật tự nhiên của Thiên Chúa, những lề luật buộc tất cả mọi người phải tuân giữ. Quyền sống là quyền căn bản nhất trong mọi thứ quyền lợi, vì một người mất quyền sống thì chẳng còn quyền gì khác nữa.


Giáo Hội không tự phác họa ra các thứ luật lệ dân sự nhưng Giáo Hội lên tiếng khiển trách những nhà lập luật là các luật lệ cần phải được làm ra để hỗ trợ cho công lý, bao gồm cả những thứ quyền của thai nhi. Các vị giám mục phải cố gắng để làm sao đối thoại với các chính trị gia cũng như những người khác trong xã hội để nhắc nhở họ về những trách nhiệm về luân lý của họ.


Nếu sau khi đã trao đổi với nhau rồi, vị giám mục vẫn thấy chính trị gia ấy chống lại một cách sai lầm giáo huấn Công Giáo về vấn đề ấy thì ngài phải khuyến cáo hay truyền chính trị gia ấy không được Rước Lễ, một hành động tự bản chất là dấu hiệu liên kết với Giáo Hội.


Cũng có thể thực hiện những cách khác nữa. Chẳng hạn như vị giám mục có thể khuyên các giáo xứ và tổ chức Công Giáo đừng mời những chính trị gia ấy nói năng ở khu vực Nhà Thờ, đừng trao cho họ những phần vụ trong phụng vụ và đừng tôn vinh họ bằng những phần thưởng hay những bằng cấp danh dự.


Vấn:     Một số người đã thắc mắc về tính cách dứt khoát đối với vấn đề phá thai, trong khi đó còn có cả những vấn đề khác nữa, như vấn đề xung khắc ở Iraq và vấn đề án tử hình, những vấn đề tương khắc giữa một số chính trị gia và chủ trương của Giáo Hội. Tại sao lại chỉ nhắm đến vấn đề phá thai mà thôi?


Đáp:     Ba trường hợp được quí vị nhắc đến ở đây khá khác nhau. Giáo Hội nhìn nhận rằng có những trường hợp chiến tranh và án tử hình hợp lý, cho dù những biện pháp như vậy là những gì bất đắc dĩ và thật rất ít khi cần sử dụng đến.


Đức Thánh Cha đây đã làm sáng tỏ là Ngài nghĩ rằng có một số chiến tranh và hành quyết đặc biệt không đúng và không nhất thiết. Người Công Giáo tôn trọng vấn đề này như là một phán đoán khôn ngoan của một vị chủ chiên khôn ngoan thánh đức.


Thế nhưng có những người Công Giáo hoàn toàn chấp nhận tín lý của Giáo Hội đôi khi cũng có thể bất đồng ý về vấn đề một cuộc chiến hay một án tử có thể chấp nhận được về luân lý.


Vấn đề phá thai thuộc về trường hợp khác. Vì có chủ ý muốn sát hại mạng sống vô tội của con người mà vấn đề trực tiếp phá thai không bao giờ hợp lý cả. Về nguyên tắc luân lý này thì không có vấn đề tranh cãi trong Giáo Hội. Giáo huấn ấy là một giáo huấn liên tục và được nhấn mạnh.


Lề luật dân sự không được cho phép, kẻo gây phấn khởi, những thứ sự dữ ấy. Nó phải bảo vệ sự sống và phẩm giá con người tối đa. Thế nhưng, trong việc nghĩ cách tiến hành ra sao thì có những ý kiến khác nhau. Nếu không thể cho thông qua một đạo luật loại trừ tất cả mọi thứ phá thai, hay nếu một luật lệ như thế không thể ngăn cản thi hành, thì hay nhất là vận động ban hành một đạo luật giới hạn đường lối phá thai bao nhiêu có thể, trong khi vẫn tiếp tục hoạt động cho tới khi hoàn trọn công lý.


Tóm lại, chính trị là lãnh vực của khả thể chứ không phải của lý tưởng. Nếu các nguyên tắc luân lý là những gì hiển nhiên trước mắt thì các vị giám mục và chính trị gia cố gắng bảo trì việc đối thoại với nhau về những vấn đề chính sách.


Vấn:    Giáo Hội sẽ gặp nguy cơ ra sao khi Giáo Hội áp dụng những thứ trừng phạt triệt để đối với những chính trị gia?


Đáp:     Trong việc áp đặt các thứ trừng phạt là Giáo Hội cố gắng bảo vệ các phép bí tích cho khỏi bị tục hóa khi những bí tích này được lãnh nhận bởi con người không hội đủ điều kiện xứng hợp. Các chính trị gia bất đồng thường muốn Rước Lễ như cách tỏ ra rằng họ vẫn là “những người Công Giáo tốt”, khi mà thực ra họ đang chọn đảng phái chính trị của họ hơn đức tin của họ. Thế nhưng, việc áp đặt các thứ hình phạt vẫn có thể gây ra tối thiểu là 3 nguy cơ.


Trước hết, vị giám mục có thể bị tố cáo, dù là những lời tố cáo bất công, ở chỗ cố gắng ép buộc lương tâm của con người chính trị gia.


Thứ đến, dân chúng có thể dễ dàng tố cáo Giáo Hội là cứ pha mình vào tiến trình của chính trị là tiến trịnh ở xứ sở này lệ thuộc vào việc tự do đồng ý của thành phần dân chúng.


Và sau hết, Giáo Hội gánh chịu mối nguy hiểm tách lìa khỏi những vị thẩm phán, những nhà lập pháp và các nhân viên chính quyền là thành phần Giáo Hội cần đến thiện ý của họ cho những chương trình khác, như vấn đề nâng đỡ việc giáo dục Công Giáo và vấn đề chăm sóc cho người nghèo.


Vì tất cả những vấn đề ấy, Giáo Hội lưỡng lự áp dụng kỷ luật với các chính trị gia một cách công khai, thậm chí những chủ trương của họ rõ ràng là không thể nào chấp nhận được về luân lý.


Trách nhiệm chính của Giáo Hội là dạy dỗ và thuyết phục. Giáo Hội cố gắng thuyết phục người công dân hãy tham gia chính trị bằng một lương tâm sáng suốt.


Các vị giám mục hy vọng rằng thành phần cử tri và chính quyền sẽ cố gắng xây dựng một xã hội có luật lệ bảo vệ hết mọi sự sống con người từ khi được thụ thai cho tới lúc tự nhiên qua đời.


Vấn:     Một hệ quả đó là phải chăng Giáo Hội liều mình mất đặc ân miễn thuế nếu Giáo Hội đẩy mạnh vấn đề này? Những hành động của các vị giám mục có thể được hiểu là hành động chính trị hay chăng? Điều này có cần phải được lưu ý đến hay chăng?


Đáp:     Vì Hiệp Chủng Quốc vẫn hãnh diện về truyền thống tự do tôn giáo của mình nên xứ sở này có thể sẽ tiếp tục nhìn nhận quyền của Giáo Hội được lên tiếng về các khía cạnh luân lý nơi lề luật dân sự hay chính sách xã hội.


Giáo Hội Công Giáo nói chung đã cố gắng tránh ngả về bất cứ đảng phái hay ứng cử viên đặc biệt nào. Các Giáo Hội đề cao những nguyên tắc luân lý trong sinh hoạt chính trị không bị mất đi vị thế của mình là những cơ cấu tôn giáo và mất hưởng quyền được miễn thuế.


Thật sự có một số người hiểu lầm vấn đề Đạo Luật Nhân Quyền không ấn định về tôn giáo như thể nó muốn nhắm đến việc loại trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội. Thật ra, mệnh đề này có ý bảo đảm vấn đề tự do của giáo hội khỏi bị quốc gia pha mình vào.


Nó ở mệnh đề thứ hai là mệnh đề bảo toàn quyền tự do của các giáo hội trong việc giảng dạy và tôn thờ theo niềm tin của mình. Trong việc thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa để hoạt động cho luân lý và công lý, Giáo Hội mang lại cho xã hội dân sự một lợi ích khôn lường.


Các Kitô hữu phải làm hết sức để chỉnh lại những sự hiểu lầm về nguyên tắc bất ấn định này và để bảo toàn quyền lợi của các giáo hội trong việc giảng dạy và làm chứng cho những gì họ cho là liên quan đến đức tin của mình.


Vấn:     Vị linh mục phải làm sao khi cần giải quyết vấn đề một chính trị gia bất đồng xếp hàng lên Rước Lễ?


Đáp:     Trong tình trạng ấy, vị linh mục khó lòng mà xoay sở. Thường để tránh cảnh không đẹp gây lộn xộn việc cử hành Thánh Lễ, vị linh mục cảm thấy không thể nào từ chối cho họ rước lễ. Không có lệnh chính thức bài trừ một người lãnh nhận các bí tích thì hầu hết các vị linh mục tỏ ra hết sức thận trọng về vấn đề từ chối người Công Giáo trước bàn thờ.


Trách nhiệm chính là ở những ai xin Rước Lễ trong việc xét mình xem có xứng đáng hay chăng, như Thánh Phaolô nói trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô 11:27-29. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới biết rõ tình trạng của linh hồn con người muốn rước lễ bấy giờ mà thôi.


Vấn:     Một số người nhận định rằng tại sao giáo luật lại ấn định việc dứt phép thông công đối với một người phụ nữ phá thai theo một số điều kiện nào đó, nhưng lại không áp dụng cùng một hình phạt đối với chính trị gia bỏ phiếu ủng hộ tài trợ cả ngàn vụ phá thai. Phải chăng nơi giáo luật có một lỗ châu mai?


Đáp:     Nơi luân lý thần học có một biệt phân quan trọng giữa việc truyền thi hành hay thi hành một tác động với việc cộng tác vào tác động của người khác. Nếu việc cộng tác xa xa thì ảnh hưởng của nó về hậu quả được kể là nhẹ.


Việc bỏ phiếu cho một đạo luật tài trợ bao gồm một số khoản cho vấn đề phá thai không phải là một tội nặng đến nỗi phải mắc vạ tuyệt thông theo Giáo Luật 1398. Việc bỏ phiếu này có thể được kể là hợp lệ nếu vấn đề tài trợ cho việc phá thai chỉ là một vấn đề bất ngờ và có thể bị loại trừ khỏi một đạo luật được cho là rất đáng có.


Vấn đề pháp lý về việc phá thai ở Hiệp Chủng Quốc thực ra không phát xuất từ những nhà lập pháp mà là từ ngành tư pháp đã giải thích Hiến Pháp cho dân sự có quyền phá thai theo nhu cầu thực tế. Việc cắt nghĩa Hiến Pháp này chúng ta tin rằng là một thứ cắt nghĩa sai lầm, cần phải sửa lại.


Vấn:    Các chính trị gia và quần chúng nói chung quan niệm thế nào về hình phạt dứt phép thông công? Chủ ý của Giáo Hội sự dụng hình phạt này để làm gì?


Đáp:     Việc dứt phép thông công không phải là việc loại trừ ra khỏi Giáo Hội. Một người bị dứt phép thông công vẫn còn là người Công Giáo nhưng không được chịu các phép bí tích cho đến khi được thẩm quyền Giáo Hội tha cho. Việc trừng phạt về thiêng liêng này, một hình phạt nặng nhất Giáo Hội có thể thực hiện thực sự là một biện pháp cuối cùng.


Trong những trường hợp trầm trọng lắm Giáo Hội mới buộc phải tuyên bố rằng một người nào đó không còn hiệp thông với Giáo Hội nữa. Mục đích của việc dứt phép thông công này là để bảo vệ các phép bí tích cho khỏi bị tục hóa, để ngăn ngừa tín hữu khỏi hiểu lầm về hiệu lực của các giáo huấn Giáo Hội, cũng như để giúp cho con người bị dứt phép thông công nghĩ lại, thống hối và được chữa lành.
 

Ðaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, dịch từ tài liệu của Zenit ngày 30/6/2004

 

 

Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ với tình hình chính trị phản giáo huấn Giáo Hội


Trong bản chứng từ nhan đề “Vai Trò Công Dân của Người Tín Hữu: Tiếng Kêu Gọi Công Giáo Về Trách Nhiệm Chính Trị” gửi cho các tiểu ban đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, các vị Giám Mục Hoa Kỳ họp ở Denver Colorado đã kêu gọi “một loại chính trị mới chú trọng đến những nguyên tắc về luân lý chứ không phải vào những cuộc thăm dò mới nhất”. Tức là một loại chính trị chú trọng “tới những nhu cầu của người nghèo khổ và yếu kém, chứ không phải đến những đóng góp của thành phần giầu có và quyền thế, cũng như tới việc theo đuổi công ích, chứ không phải tới những đòi hỏi của các lợi lộc đặc biệt.


“Vấn đề chính yếu không phải là vấn đề ‘Anh chị em có khá hơn tình trạng của anh chị em cách đây 4 năm hay chăng?’” mà là “Làm sao ‘chúng ta’, tất cả chúng ta, nhất là thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương khá hơn vào những năm tới đây?”


Nhận định rằng “đất nước của chúng ta đã bị thương tổn”, các vị đã cho thấy thực trạng chiến tranh và căng thẳng về kinh tế đã “dạy cho chúng ta biết rằng không có một lực lượng quân sự nào, một quyền lực kinh tế nào, hay các tiến bộ về kỹ thuật này có thể thực sự bảo đảm được vấn đề an ninh, thịnh vượng hay tiến bộ”.


“Những thách đố quan trọng nhất chúng ta đang phải đối diện không phải chỉ là vấn đề chính trị, kinh tế hay kỹ thuật, mà là đạo lý, luân lý và tâm linh. Chúng ta đang phải đối diện với những vấn đề về sự sống và sự chết, về chiến tranh và hòa bình, về người tiến lên và kẻ bị bỏ lại sau lưng”.

 


Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cảnh giác Người Công Giáo về “việc cộng tác với sự dữ” và về việc các chính trị gia phò phá thai có thể không được rước lễ.


Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng phổ biến một tuyên cáo mang tựa đề “Người Công Giáo Trong Đời Sống Chính Trị”, được chấp thuận với số phiếu 183 trên 6, trách cứ thành phần chính trị gia phò phá thai và cho biết họ có thể bị các vị giám mục địa phương không cho rước lễ.


Bản tuyên cáo nói rằng “những ai thực hiện việc lập pháp” đều bị bắt buộc theo lương tâm “hoạt động để sửa chữa về luân lý những khoản luật hư hại” liên quan đến vấn đề phá thai, “kẻo họ phạm lỗi lầm là cộng tác với sự dữ và phạm tội hại đến công ích”.


Trong bản tuyên cáo này, các vị giám mục nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải “tiếp tục giảng dạy một cách rõ ràng” và giúp cho các vị lãnh đạo Công Giáo khác làm như thế về việc “họ rõ ràng dấn thân cho vấn đề bảo vệ theo pháp lý sự sống con người từ lúc thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi”. Bản tuyên cáo này cũng nói rằng “cần phải chia sẻ giáo huấn của Công Giáo về sự sống và phẩm giá con người” ở tất cả mọi giáo xứ cũng như ở tất cả mọi “thức tác vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe và việc phục vụ nhân bản”. Các vị giám mục cảm thấy cần phải làm hơn nữa “để thuyết phục tất cả mọi người rằng sự sống con người thì cao quí và phẩm giá con người cần phải được bênh vực”.


Bản tuyên cáo nhấn mạnh rằng “Cộng đồng Công Giáo và các tổ chức Công Giáo” không được tỏ ra trọng vọng những ai “tác hành tỏ ra coi thường những nguyên tắc luân lý căn bản của chúng ta” bằng việc tặng thưởng, tôn vinh hay “những vận động cho việc làm của họ”.


Bản tuyên cáo viết tiếp: “Tất cả mọi người phải xét lương tâm của mình” về việc họ xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể, bao gồm cả khía cạnh “trung thành với giáo huấn luân lý của Giáo Hội trong đời sống chung riêng”.


Bản tuyên cáo ghi nhận rằng “vấn đề được nêu lên” là có cần từ chối không cho rước lễ những người Công Giáo hoạt động chính trị ủng hộ phá thai theo nhu cầu. Bản tuyên cáo giải quyết vấn đề như sau: “Vì nhiều hoàn cảnh rất khác nhau liên quan đến việc phán đoán khôn ngoan” về vấn đề hệ trọng này, “những quyết định ấy tùy thuộc mỗi vị giám mục theo các khoản giáo luật và nguyên tắc mục vụ”.


Nhận định là “các vị giám mục có quyền tỏ ra những phán đoán khác nhau về đường hướng mục vụ khôn ngoan nhất”, nhưng các vị cũng cho thấy các vị cùng “dấn thân một cách hiển nhiên trong việc bảo vệ sự sống và phẩm giá con người”.


Vị chủ tịch của ủy ban giám mục đặc trách này là ĐHY Theodore McCarrick ở Washington DC đã lên tiếng khi phổ biến bản tuyên cáo này là “bản tuyên cáo cho thấy vai trò của vị giám mục là thày dạy, là mục tử và là tâm điểm hiệp nhất. Chúng tôi nói lên những vấn đề luân lý xã hội chúng ta đang phải đương đầu mà không chấp nhận các đảng phái hay ứng cử viên nào”.

 

 

ĐTGM Chaput TGP Denver với vấn đề Phá Thai


ĐTGM Chaput, trong điện thư trả lời cho tờ Denver Post về vấn đề tranh luận có nên cho các chính trị gia phò phá thai rước lễ hay chăng và điện thư của ngài được tờ này phổ biến vào Chúa Nhật 13/6/2004, đã bác bỏ dư luận cho rằng việc đặc biệt quan tâm của Giáo Hội về vấn đề phá thai, cũng như việc Giáo Hội chống lại các vấn đề khác, sẽ là những gì làm cho Giáo Hội có vẻ phe đảng.


“Đó hầu như bao giờ cũng là một thứ mã ngữ muốn bảo rằng Giáo Hội hãy câm miệng lại về vấn đề phá thai.


“Giáo Hội không bao giờ theo phe đảng cả. Thế nhưng điều ấy cũng không làm thay đổi được sự kiện phá thai là vấn đề xã hội chính yếu vào lúc này đây trong lịch sử của chúng ta, nó không phải là vấn đề duy nhất mà là vấn đề nồng cốt; vấn đề then chốt. Đối với những người Công Giáo, khinh thường nó hay coi nhẹ nó hoặc ‘ve vãn’ nó đều là một thứ hành động hèn nhát”.

 

Giáo Quyền Địa Phương với Thành Phần Chính Trị Gia Phò Phá Thai về Việc Rước Lễ

Tờ Tường Trình Công Giáo Tây Phương đã phổ biến những lời lẽ thành văn của vị giám mục Fred Henry, 61 tuổi, cai quản giáo phận Calgary như sau:

“Kerry, con người liên lỉ bỏ phiếu cho vấn đề phò quyền tự quyết suốt thời gian theo đuổi nghề nghiệp của ông, là một con người mạnh dạn phê phán Đạo Luật Phá Thai Bán Phần được Tổng Thống George Bush ký chuẩn năm ngoái. Ông bỏ phiếu chống lại Đạo Luật Bênh Vực Gia Đình năm 1996 và đã chống lại những lời kêu gọi thực hiện việc tu chính hiến pháp trong việc bảo vệ vị thế của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ”.

Một vị giám mục ở Canada cho biết: “Bất chấp việc các vị giám mục cảnh cáo nhiều lần, đầu tiên riêng tư sau mới công khai, ông ta vẫn cứ nhất định tiếp tục rước lễ khi dự lễ… Bằng việc tham phần hiệp lễ, người Công Giáo chứng thực rằng họ hoàn toàn hiệp nhất lòng trí. Về các vấn đề sự sống then chốt thì rõ ràng là ông Kerry bị sai lệch”.

ĐGM Henry viết tiếp: “Ông John Kerry không phải là chính trị gia Công Giáo duy nhất ở Bắc Mỹ Châu đi sai trệch đường lối, nhưng ông lại là ứng viên tổng thống duy nhất ở Hiệp Chủng Quốc, nên trường hợp của ông là cả một vấn đề gay go . Vấn đề nan giải và những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho cả các ông Clarks, Chretiens và Martins ở Canada nữa”.

“Vấn đề ở đây không phải là vấn đề nêu lên một thứ hoạch định Công Giáo. Mục đích ở đây là để giúp vào việc hình thành chính sách chung hợp với thứ lề luật vốn có nơi bản tính của chúng ta là những gì chi phối tất cả chúng ta bất kể niềm tin tôn giáo của chúng ta.

“Bởi vậy các chính trị gia được kêu gọi để cố gắng bảo đảm rằng các thứ lề luật khiến chúng ta bảo vệ sự sống con người, tôn trọng con người, gìn giữ bản chất đặc thù của hôn nhân, nâng đỡ gia đình, bảo đảm sự an toàn cho trẻ em, bảo đảm quyền tự do tôn giáo và làm cho quyền này trở thành khả dĩ cho tất cả mọi người công dân trong việc được hưởng những điều kiện cần thiết của đời sống con người.

“Các vị giám mục Hoa Kỳ đã lập một tiểu ban để bàn đến những biện pháp chế tài về kỷ luật có thể áp dụng đối với những chính trị gia khinh thị. Tôi đang nóng lòng chờ đợi những bàn luận của họ. Trong khi chờ đợi, tôi tin rằng đối với vấn đề ‘nếu xẩy ra trường hợp có vị lãnh đạo Công Giáo nào cứ nhất định chống lại giáo huấn chính yếu của Giáo Hội thì phải từ chối không được cho họ rước lễ’ là vấn đề cần phải trả lời ‘đúng thế’”.

Còn vị giám mục ở Phoenix, 56 tuổi là Thomas Olmsted, theo Associated Press, thì cho rằng thay vì từ chối không cho họ rước lễ thì ngài sẽ cố gắng thuyết phục để dạy giáo huấn của Giáo Hội cho các chính trị gia: “Công việc của tôi là xem ai là nhân vật chính ở tiểu bang để kêu gọi lương tâm của họ”.

ĐGM Gerald Kicanas, 62 tuổi, cai quản giáo phận Tucson nói rằng việc chế tài các chính trị gia có thể là “hơi sớm”.

ĐHY Theodore McCarrick đã nói với tờ nguyệt san 30 Ngày cho rằng nhiều vị giám mục Hoa Kỳ không muốn thấy Thánh Thể được sử dụng như là một cách chế tài đối với các chính trị gia phò phá thai: “Tôi nghĩ rằng nhiều vị giám mục trong chúng tôi nghĩ rằng những con người này cần phải được xét xử theo giáo luật. Thế nhưng tôi cũng nghĩ rằng nhiều vị giám mục không muốn việc lãnh nhận bí tích Thánh Thể trở thành yếu tố của những việc chế tài này. Cá nhân tôi nghĩ rằng vấn đề mục vụ cần phải tránh đừng để cho Thánh Thể trở thành vấn đề đối chọi".

Ngài cho tờ nguyệt san này biết rằng đây là lần đầu tiên các vị giám mục ở nước Mỹ thành lập một tiểu ban ấy: “Có lẽ vấn đề bao gồm hai lý do. Vì chúng ta dân chủ cho phép mỗi người được bày tỏ ý kiến riêng của mình, cũng như vì tín hữu Công Giáo chúng ta hết sức tôn kính Thánh Thể và họ lấy làm hết sức buồn sầu khi thấy ai rước lễ mà thiếu những điều kiện tiên quyết cần thiết".

ĐHY này hy vọng rằng những kết luận của tiểu ban do ngài đứng đầu sẽ xuất hiện trước cuộc bầu cử Tổng Thống vào tháng 11/2004, nhưng ngài không dám bảo đảm, bởi vì “nó là một vấn đề phức tạp và tế nhị”.
 

Các Nhà Lập Pháp Dân Chủ Công Giáo Ở Quốc Hội Hoa Kỳ Phản Đối Giáo Quyền Về Việc Cấm Rước Lễ

Ngày 20/5/2004, Thứ Năm, tờ New York Times đã tường trình rằng có 48 Nhà Lập Luật Công Giáo thuộc Đảng Dân Chủ ở Quốc Hội Hoa Kỳ đã gửi cho ĐHY Theodore McCarrick, chủ tịch ủy ban đặc nhiệm của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, một bức thư cho biết về những quyết định của một số giám mục cấm không cho các chính trị gia phò phá thai được rước lễ là những gì “hết sức đớn đau” và bất lợi.

Những người ký vào bức thư này, bao gồm cả 3 phần tử ở Hạ Viện vốn có tiếng là phò sự sống, cho rằng các vị giám mục “đang để Giáo Hội bị sử dụng theo những mục tiêu đảng phái”.

Họ cũng đặt vấn đề là tại sao những vị giám mục ấy lại chỉ nhắm vào vấn đề phá thai mà chẳng để ý gì tới các chính trị gia bỏ phiếu chống lại Giáo Hội về vấn đề án tử hình và chiến tranh ở Iraq.

Mới đây Đức Giám Mục Phó ở giáo phận Orlando, Florida là Thomas Wenski đã yêu cầu những ai hoạt động chính trị ủng hộ phá thai hãy thôi rước lễ. Sau đây là một trong những lời lẽ thành văn của ngài:

“Những nhà chính trị phò phá thai cứ muốn gọi mình là người Công Giáo mà lại không thấy cái mâu thuẫn giữa những gì họ nói rằng họ tin tưởng với chủ trương phản sự sống là những người cần phải ‘thực hành’ đạo hạnh nhiều hơn nữa. Họ cần sửa lại trước khi tiến lên bàn tiệc Thánh Thể”.

Cũng mới đây ĐGM Michael Sheridan ở giáo phận Colorado Springs, Colorado, và ĐTGM John Vlazny giáo phận Portland Oregon, cũng yêu cầu các chính trị gia phò phá thai đừng lên rước lễ nữa.

Lời yêu cầu của đấng bản quyền ở giáo phận Colorado Springs này, theo Tờ Denver Post hôm Thứ Tư 19/5/2004 cho biết, đã bị một mạnh thường quân khá giả đe dọa rút lại lời hứa đóng góp 100 ngàn Mỹ kim cho dự án xây giáo xứ của ông ta, đồng thời cũng liệt kê danh sách những người hứa đóng góp sẽ có phản ứng giống như ông ta.

Tuy nhiên, cũng theo tờ báo này, thì vị phụ tá điều hành của vị giám mục này là Peter Howard cho biết giáo phận sẵn sàng hy sinh tiền bạc để giữ vững chủ trương về luân lý. Một số tín hữu Công Giáo trong giáo phận 10 khu hạt này hoàn toàn ủng hộ quyết định của Đức Giám Mục và đã tăng phần đóng góp của họ lên để bù đắp lại chỗ thiếu hụt.

 

Những Người Công Giáo Đi Bỏ Phiếu Cho Các Chính Trị Gia Cấp Tiến Không Được Rước Lễ

Hai Giám Mục Hoa Kỳ ở Colorado và Oregon cảnh báo đoàn chiên địa phương của mình

Thật vậy, những người Công Giáo nào đi bỏ phiếu ủng hộ cho các chính trị gia chủ trương coi thường hay phản chống giáo huấn của Giáo Hội về những vấn đề luân lý như phá thai, đồng tính hôn nhân, triệt sinh an tử hay nghiên cứu thân bào tạo sinh sao bản v.v., không được rước lễ. Đó là lời cảnh báo của hai đấng bản quyền địa phương này, ĐTGM John Vlazny 67 tuổi ở Partland tiểu bang Oregon và ĐGM Sheridan, 59 tuổi, giáo phận Colorado Springs.

Trong bức thư mục vụ được phổ biến vào tuần vừa rồi, 9/5/2004, ĐGM giáo phận Colorado Springs tiểu bang Colorado đã viết như sau:

“Bất cứ ai miệng lưỡi tuyên xưng đức tin Công Giáo đồng thời lại công khai ủng hộ việc lập pháp hay các ứng cử viên coi thường lề luật Thiên Chúa thì họ là những người chế giễu đức tin ấy và phản lại căn tính là một người Công Giáo của mình”.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, vị giám mục này đã nói với tờ New York Times rằng: “Tôi không nói lên một lời phát biểu về chính trị. Tôi đang phát biểu về giáo huấn của Giáo Hội”.

Trong bức thư mục vụ của mình, vị chủ chăn này viết tiếp:

“Trong số những thứ méo mó và trình bày sai lệch đang thịnh hành nơi các cuộc tranh luận hiện nay về mối liên hệ giữa tôn giáo và lãnh vực xã hội (chính trị) có chủ trương cho rằng đức tin và chính trị là những gì tách biệt. Hiển nhiên đây là điều phát xuất từ chủ nghĩa của người Hoa Kỳ về việc tách biệt giáo hội ra khỏi quốc gia.

“Thật thế, bức tường tách biệt giáo hội ra khỏi quốc gia là những gì bảo đảm không có vấn đề thiết lập một thứ tôn giáo quốc gia cũng như không có vấn đề áp đặt việc tin đạo và sống đạo theo giáo phái, chẳng hạn như việc áp đặt những hình thức thờ phượng hay những điều khoản về thần học của một giáo phái đặc biệt. Chủ nghĩa của người Hoa Kỳ trong việc tách biệt giáo hội ra khỏi quốc gia dầu sao cũng không thể nào cho rằng những con người sống đạo không được tùy theo lương tâm chân chính của mình nơi những chọn lựa về chính trị”.

Sau khi giải thích về trách nhiệm của người tín hữu và của các chính trị gia Công Giáo trong việc cần phải công khai tỏ hiện đức tin của mình, vị chủ chăn này minh định: “Không được lẫn lộn ở những vấn đề này. Bất cứ chính trị gia Công Giáo nào biện hộ cho việc phá thai, cho việc nghiên cứu tạo sinh sao bản thân bào không được phép hay cho bất cứ hình thức triệt sinh an tử thì đương nhiên ‘ipso facto’ đặt mình ở ngoài mối hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội và bởi đó cũng nguy hiểm đến phần rỗi của mình.

“Bất cứ người Công Giáo nào bỏ phiếu cho những ứng cử viên tranh đấu cho vấn đề phá thai, vấn đề nghiên cứu tạo sinh sao bản thân bào hay vấn đề triệt sinh an tử đều phải chịu cùng những hậu quả trầm trọng.

“Đó là lý do những người Công Giáo ấy, dù là ứng cử viên hay những ai bầu cho họ, đều không được Rước Lễ cho đến khi họ cải lại chủ trương của họ và làm hòa với Thiên Chúa cùng Giáo Hội nơi Bí Tích Thống Hối”.

Cũng trong tuần vừa rồi, khi viết một bài cho tờ nhật báo Catholic Sentinel, ĐTGM Portland Oregon cũng có cùng chủ trương như vị giám mục ở Colorado Springs như sau:

“Nếu người Công Giáo quyết định bầu cho các chính trị gia phò quyền tự quyết thì phải chăng không được lên Rước Lễ?

“Nếu họ bầu cho những người ấy vỉ vì những người này là thành phần phò quyền tự quyết, thì tôi cho rằng cả họ nữa cũng không được Rước Lễ, vì họ không còn hiệp thông với Giáo Hội về một vấn đề hệ trọng.

“Thế nhưng, nếu họ bầu cho một chính trị gia đặc biệt, vì theo phán đoán của họ, những ứng cử viên khác vấp phải những vấn đề hệ trọng hơn nữa, chẳng hạn như về vấn đề chiến tranh và hòa bình, nhân quyền và công lý kinh tế thì không có dấu hiệu nào tỏ ra phản lại giáo huấn của Giáo Hội và việc Hiệp Lễ vừa thích hợp và ích lợi.

“Những người Công Giáo ủng hộ những chính trị gia phò quyền tự quyết phải chịu trách nhiệm hệ trọng liên quan đến chủ trương của họ về vấn đề ấy. Họ phải làm sáng tỏ vấn đề cho các chính trị gia này cũng như cho các nhà lãnh tụ chính quyền biết rằng việc ủng hộ của họ không dựa theo đường hướng phò quyền tự quyết của những vị lãnh đạo chính trị này”.

 

Thẩm Quyền Giáo Hội Hoa Kỳ ở New Jersey với Các Chính Trị Gia có những chủ trương phản giáo huấn của Giáo Hội

Ở Trenton tiểu bang New Jersey, tân thống đốc James McGreevey, người công khai tỏ ra ủng hộ phá thai, ủng hộ hôn nhân đồng phái tính và việc sử dụng các thân bào con người sao bản vào vấn đề nghiên cứu y khoa, sau khi đã bị ĐGM địa phương là Đức Cha John Smith sẽ không cho ông rước lễ, tuyên bố trong 1 cuộc họp báo hôm Thứ Tư 5/4/2004 rằng ông sẽ không rước lễ nữa.

Cả vị giám mục Joseph Galante ở giáo phận Camden lân cận cũng tuyên bố không cho ông rước lễ nếu ông sang giáo phận của ngài để làm việc này, vì ngoài lý do chính trị trên đây ông còn sống một cuộc sống chẳng những ly dị mà còn tái hôn nữa.
Ngoài ra, cũng vào ngày Thứ Tư, văn phòng TGP New Jersey cũng phổ biến một văn kiện kêu gọi các chính trị gia phò phá thai đừng lên rước lễ nữa.

ĐTGM John Myers ở Newark đã viết trong tờ nhật báo Catholic Advocate của TGP tuần này qua mục có nhan đề “đây là lúc sống thành thực” là “có một số người Công Giáo, tuyên bố rằng mình tin tưởng những gì Giáo Hội tin tưởng lại sẵn sàng để cho những kẻ khác trực tiếp sát hại thành phần vô tội, thì đó là một gương mù cả thể. Tình trạng này lại càng tệ hơn nữa khi những vị lãnh đạo ấy lên Rước Lễ trong khi họ không khách quan hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Tính cách thiếu thành thực một cách khách quan của họ lại càng làm tăng thêm gương mù gương xấu”.

Trong bài viết của mình, ĐTGM đã đề cập đến những khía cạnh đức tin cá nhân và cộng đồng, đến việc phát triển lương tâm đúng đắn cũng như đến bản chất của vấn đề bất đồng, đến ý nghĩa và mục đích của Thánh Thể, đến phẩm giá con người từ khi được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đi, và đến vấn đề phá thai hết sức bất chính.
“Mặc dù tất cả chúng ta đều phải theo lương tâm của mình, song việc của lương tâm không phải là việc tạo nên luật lệ về luân lý mà là nhận ra luật lệ này. Cá nhân con người có khả năng nhận ra thực tại về luân lý trong trường hợp sai lầm nào đó. Con người ấy có thể là lòng ngay nhưng lại là một con người sai lầm một cách thành tâm”.

Vị TGM 62 tuổi này còn vạch ra cho thấy rằng vấn đề bất đồng mang lại những hậu quả tất yếu liên quan đến cộng đồng đức tin:

“Những người Công Giáo công khai tỏ ra bất đồng với giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề quyền sống của tất cả mọi thai nhi đều phải nhìn nhận rằng họ đã tự động, căn cứ vào hành động của họ, tách mình khỏi những gì Giáo Hội tin tưởng và giảng dạy. Họ cũng tách mình một cách đặc biệt với cộng đồng Công Giáo. Giáo Hội không thể bắt những con người này thay đổi chủ trương của họ; nhưng Giáo Hội có thể và cần phải yêu cầu họ hãy thành thực thú nhận trước diễn đàn công chúng rằng họ không còn hoàn toàn hiệp nhất với Giáo Hội nữa.

“Con người tỏ ra những bất động như thế, cho dù có lầm lẫn tin tưởng rằng đó là vấn đề được phép làm, cũng vẫn là một người Công Giáo ở một nghĩa nào đó nhưng đã loại trừ đức tin trọn vẹn của Công Giáo. Đối với một con người như vậy thì việc tỏ ra ‘hiệp thông’ với Chúa Giêsu và Giáo Hội của Người qua việc lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể là một việc theo khách quan thiếu thành kính.

“Đây là lúc sống thành thực. Tôi yêu cầu và tha thiết xin những người Công Giáo đi bỏ phiếu và những người Công Giáo tham gia sinh hoạt quần chúng hãy cẩn thận để ý đến chủ trương của mình một khi tỏ ra chống lại giáo huấn của Giáo Hội về những vấn đề ấy.

“Tôi rất tiếc phải nói lên rằng việc tiếp tục đi theo con đường này sẽ dẫn họ đến chỗ nguy hiểm là việc thậm chí tách mình khỏi Chúa Giêsu Kitô cũng như khỏi Giáo Hội của Người”.

ĐTGM tỏ ra khẳng định quyền sống và việc người Công Giáo cần phải tỏ ra bênh vực quyền sống này:

“Không có quyền lợi nồng yếu nào bằng quyền được sinh ra và dưỡng nuổi xứng đáng với tất cả phẩm giá của con người. Về vấn đề hệ trọng này, các viên chức chính phủ không ngoại lệ theo nhiệm vụ của mình, nhất là khi họ cho mình là người Công Giáo. Hết mọi tín hữu Công Giáo cần phải chẳng những ‘bản thân chống lại’ vấn đề phá thai, mà còn sống tỏ ra chống lại vấn đề này bằng hành động của mình nữa… Là những người bỏ phiếu, những người Công Giáo buộc phải tránh dính dáng đến vấn đề phá thai là một trong những gì bất chính nhất”.

 

Giáo Hội ở Chí Lợi lên tiếng về vấn đề phân phối Thứ Thuốc “Hậu Giao Hợp” cho nạn nhân bị hiếp dâm

Ở thủ đô Santiago nước Chí Lợi Nam Mỹ Châu, hôm Chúa Nhật 2/4/2004, ĐHY TGM Francisco Javier Errázuriz Ossa đã gửi một bức thư cho tất cả mọi nhà thờ thuoi65c TGP của ngài về vấn đề Bộ Y Tế của nước này quyết định phân phát miễn phí thứ thuốc “hậu giao hợp” cho thành phần nạn nhân bị hiếp dâm.

ĐHY nhận định rằng thứ thuốc này “là tiêu biểu cho một thứ phương tiện làm giảm bớt thương đau và sửa lại cái bất chính gây ra cho một con người yêu dấu hay vô tội bị trở thành nạn nhân bởi kẻ tấn công để chiếm đoạt cái thâm sâu của nạn nhân một cách bất chính và cưỡng bức”.

“Việc phân phát miễn phí một thứ thuốc với mục đích không phải để chữa lành này thật sự là một vấn đề đang được tranh luận. Không thiếu những vị có thẩm quyền đã sẵn sàng phân phát miễm phí loại thuốc ấy cho những ai muốn, trong khi có những vị khác chống lại việc làm này hay tỏ ra chống đối theo lương tâm của mình”.

“Việc hành sử quyền tự do của họ đã vượt quá giới hạn quyền sống của kẻ khác”. Việc phân phát thứ thuốc hậu giao hợp đã làm bùng nổ “nhiều tranh luận” ở chỗ “phải chăng nó là vấn đề loại trừ sự sống con người?”

“Để chấp thuận cho một thứ thuốc mới, cần phải chứng tỏ về mặt tích cực là thứ thuốc ấy không phải là mối đe dọa cho sự sống của con người. Đó là lý do tại sao cuộc nghiên cứu phải chứng tỏ rằng thuốc hậu giao hợp (Levonorgestrel) không gây ra ngăn trở trong việc thụ tinh của tử cung, tức là không loại trừ sự sống con người trong tình trạng phôi thai bào”.

Thật vậy, “các phòng thí nghiệm tung ra thị trường thứ thuốc này đã quảng cáo rằng một trong những hậu quả của nó có thể gây trở ngại cho vấn đề thụ thai của tử cung, do đó làm mất đi sự sống con người”.

Khi xẩy ra “vấn đề liên quan đến sự sống con người như thế thì thật là bất hợp pháp khi thực hiện một hành động mà không nắm chắc được rằng hành động ấy không đưa đến việc sát hại sự sống con người”.

“Giáo Hội không thể bất nhất với giáo huấn của mình. Đó là giáo huấn về việc bênh vực quyền sống. Đó là lý do tại sao, cũng bằng cả lòng nhiệt tình can thiệp vào việc vi phạm đến các thứ nhân quyền của thành phần nạn nhân, Giáo Hội đã vạch ra ở mấy năm trước đây là đã đến lúc cần phải loại bỏ án tử hình, vì nó là việc không cần thiết và phi nhân bản. Cũng thế, Giáo Hội ngày nay cho thấy nhu cầu cần phải bênh vực quyền sống của tất cả mọi con người ngay từ khởi đầu của họ”.

Trong “trường hợp bị hiếp dâm thảm thương… thật là hết sức đau đớn cho con người trải qua cảnh khổ đau ấy”. Thế nhưng, ĐHY sau khi thông cảm đã khẳng định là tình trạng ấy cũng không thể biện minh cho việc loại trừ đi “một sự sống mới vô tội cần phải được sinh ra”.

ĐHY tin tưởng rằng một xứ sở như Chí Lợi, “một quốc gia ý thức được lịch sử của mình và đã từng dấn thân chữa lành các vết thương gây ra bởi rất nhiều những thứ vi phạm đến nhân quyền”, cần phải tạo nên “một môi trường thuận lợi cho sự sống, một môi trường mà tất cả các tổ chức, cộng đồng, lề luật, tục lệ và gia đình đều chấp nhận, tôn trọng, khuyến khích và ủng hộ sự sống; và tất cả đều bày tỏ gắn bó với sự sống”.