ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN VỚI DO THÁI GIÁO
Đại diện Ṭa Thánh tham dự việc khai
trương tân Bảo Tàng Viện Lịch Sử Về Cuộc Thảm Sát Do Thái
ĐHY Jean-Louis Tauran, vị thủ thư viện của Ṭa Thánh, đă đến Giêrusalem vào ngày
15/3/2005 để đại diện ĐTC tham dự cuộc khai trương tân Bảo Tàng Viện Lịch Sử Về
Cuộc Thảm Sát Do Thái ở Yad Vashem Mausoleum. Ngài đă ngỏ lời hôm 16/3 trong
cuộc khai trương này, những lời được Ṭa Thánh phổ biến hôm 17/3 với những ư
tưởng chính yếu tiêu biểu như sau:
Ngài nói với cử tọa về “việc gần gũi thiêng liêng của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II cũng như sự liên kết của Giáo Hội Công giáo”. ĐTC GPII đă viếng thăm
Yad Vashem hôm 23/3/2000 trong chuyến hành hương Thánh Địa của ngài. Đó là một
đài tưởng niệm nạn nhân Bị Thảm Sát và chứa đựng một số tro cốt của các nạn nhân
thuộc các trại tập trung khác nhau.
“Dinh thự chúng ta vừa khánh thành, đối với toàn thế giới, là một cảnh giác, một
chứng từ và là một lời kêu gọi. Trong việc nh́n nhận nỗi đau khổ muôn vàn của
người Do Thái, chúng ta đối diện với trách nhiệm cần phải tỉnh táo, với nhu cầu
cần phải loại trừ thái độ dửng dưng lănh đạm cũng như với cái trống rỗng kinh
hoàng của một thế giới phi thần linh”.
Trích lại sứ điệp của ĐTC GPII nhân dịp 60 năm kỷ niệm việc giải tỏa trại tập
trung Auschwitz-Birkenau, vị hồng y này cho biết “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
một lần nữa lập lại vào buổi sáng hôm nay cho tất cả những ai muốn lắng nghe là
khi chúng ta nhớ đến ‘tội ác ghê rợn phạm đến nước Do Thái’ là cuộc Thảm Sát,
chúng ta làm như thế bởi v́ ‘những biến cố kinh khủng này, đối với những con
người nam nữ hiện đại, là một lời kêu gọi ư thức trách nhiệm để xây dựng lịch sử
của chúng ta’.
“Giáo Hội Công giáo, khi tôn trọng cái đặc thù của Do Thái giáo và liên kết với
gia sản của Do Thái giáo trong đức tin, dạy rằng không có vấn đề hay lư do nào
để hận ghét người Do Thái cả. Điều ấy sẽ là một tội phạm đến Thiên Chúa và nhân
loại”.
Phái đoàn Tôn sư Do Thái khắp Thế Giới
về Vatiacan để cảm tạ ĐTC GPII
Vào ngày Thứ Ba 18/1/2005, ĐTC GPII tiếp phái đoàn Do Thái gồm 160 vị lănh đạo,
tôn sư cùng ca trưởng, những người đến để ngỏ lời cám ơn ngài về những nỗ lực
ngài thực hiện để ḥa giải hai niềm tin giữa hai tôn giáo. Sở dĩ có cuộc triều
kiến này là để mừng kỷ niệm 40 năm Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” về việc Giáo Hội
Công Giáo với Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo được Công Đồng Chung Vaticanô II công
bố ngày 28/10/1965.
Phái đoàn Do Thái này gồm có những nhân vật đặc biệt như Obed Ben-Hur, lănh sự
Do Thái ở Ṭa Thánh; Amire Ofek, lănh sự Do Thái về truyền thông ở Nữu Ước;
Tôn sư Adam Mintz, chủ tịch Hội Đồng Chư Tôn Sư Ở Nữu Ước; Shmuel Rene Sirot,
cựu tôn sư trưởng ở Âu Châu và Pháp quốc; David Lincoln, tôn sư trưởng Hội
Đường ở Park Avenue Nữu Ước; Shlomo Riskin, tôn sư trưởng ở Efrat Giêrusalem;
và Tôn sư Joseph Arbid ở Đại Hội Đường Rôma. Ngoài ra c̣n có 12 ca trưởng Do
Thái, thành phần đă có mặt trong buổi ḥa nhạc ở Đại Hội Đường Rôma từ hôm
trước để tŕnh diễn cho phái đoàn đại biểu và đại diện của Vatican cũng như
cộng đồng Do Thái ở Rôma.
Theo bản công bố của Tổ Chức Mở Đường là cơ quan xin được có cuộc triều kiến
này th́ vị chủ tịch sáng lập của tổ chức là Gary Krupp nói:
“Sứ vụ Mở Đường của chúng tôi đó là việc mang những con người thiện tâm lại
với nhau, bất kể tôn giáo của họ, cũng như việc khéo léo phá đổ những bức
tường cản trở vấn đề gặp gỡ ấy.
“Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă từng làm điều này cả mấy thập niên. Thật là
xứng hợp để chúng tôi khiêm tốn ngỏ lời cám ơn ngài về tất cả những ǵ ngài đă
thực hiện cho nhân dân Do Thái của Trái Đất, nhờ đó, mở đường tiến đền ḥa
b́nh đích thực trên Mặt Đất”.
Tôn sư Jack Bemporad, giám đốc Trung Tâm T́m Hiểu Liên Tôn cũng đă lên tiếng
như sau:
“Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các vị tôn sư đại diện cho tất cả mọi ngành
Do Thái giáo từ khắp nơi trên thế giới cùng nhau để chung tiếng tạ ơn Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II cũng như Giáo Hội Công giáo về tất cả những ǵ họ đă
thực hiện để xây dựng những chiếc cầu nối cảm thông và tương kính giữa các
người Do Thái và Công giáo.
“Trong lịch sử thế giới, 40 năm qua được thấy như là thời gian cách mạng nhất
và đáng kể nhất đối với việc tiến bộ nơi mối liên hệ giữa Do Thái và Công Giáo.
Từ Công Đồng Chung Vaticanô II và với sự lănh đạo của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II, Giáo Hội Công giáo đă thực hiện những bước tiến rất xa trong việc
xây dựng những mối liên kết mới với nhân dân Do Thái dựa trên hỗ tương tính và
ḷng cảm mến chân thực.
“Không có một vị giáo hoàng nào đă từng thực hiện nhiều hay để ư nhiều đến vấn
đề thiết lập một mối liên hệ huynh đệ giữa những người Công giáo và Do Thái
như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến viếng
thăm hội đường Do Thái ở Rôma. Ngài đă ban hành văn kiện “Chúng Ta Tưởng Niệm”
về Cuộc Tàn Sát Người Do Thái.
“Ngài đă thiết lập những liên hệ ngoại giao trọn vẹn với quốc gia Do Thái. Và
ngài đă xin người Do Thái thứ tha cho tất cả những hành động quá khứ chống Do
Thái giáo của con cái nam nữ thuộc Giáo Hội Công giáo, trong cuộc ngài hành
hương đến Do Thái trong năm 2001. Đối với tôi, đó thực là một cuộc cách mạng.
Tôi tin rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sẽ được coi là một đại chuyên viên
chữa lành mối liên hệ giữa người Công giáo và Do Thái.
“Những nỗ lực của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hội Công giáo vươn
đến nhân dân Do Thái là những ǵ hết sức đáng kể, v́ những nguồn quan trọng
nhất liên quan đến vấn đề bài Do Thái chủng và chống Do Thái giáo suốt gịng
lịch sử vẫn là các giáo huấn của Công giáo.
“Bằng việc từ khắp nơi trên thế giới về Vatican, thành phần tôn sư chúng tôi
muốn nói rằng ‘xin cám ơn ngài’”.
Đại Diện Phái Đoàn Do Thái ngỏ lời cảm
tạ ĐTC GPII về giáo triều ḥa giải của ngài
ĐTC GPII, trong buổi tiếp phái đoàn Do Thái 160 vị tôn sư và đại diện khắp thế
giới này, đă nhắc nhở rằng:
“Năm nay chúng ta sẽ cử hành đệ tứ thập chu niên Tuyên Ngôn ‘Nostra aetate’
của Công Đồng Chung Vaticanô II, một tuyên ngôn đă đóng góp quan trọng vào
việc củng cố vấn đề đối thoại Do Thái và Công Giáo. Chớ ǵ đây là dịp để lập
lại việc quyết tâm gia tăng hiểu biết và cộng tác việc xây dựng một thế giới
được đặt nền tảng vững chắc hơn trên sự tôn trọng h́nh ảnh thần linh nơi hết
mọi con người”.
Sau đây là lời ngỏ cùng ĐTC của ông Gary Krupp, vị chủ tịch kiêm sáng lập Tổ
Chức Mở Đường, thay mặt phái đoàn tôn sư và đại diện Do Thái:
“Thưa Ngài Giáo Hoàng:
“Chúng tôi là nhóm người đại diện một phần tiêu biểu cho Do Thái giáo, thành
phần về đây mang theo các phúc lộc của cả hằng triệu người thuộc đức tin chúng
tôi để cảm tạ ngài.
“Vừa lên ngai ṭa Thánh Phêrô, ngài đă thực hiện chuyến đi tới Auschwitz để
tôn kính các nạn nhân của Cuộc Tàn Sát. Ngài đă bênh vực nhân dân Do Thái
trong mọi hoàn cảnh, như là một vị linh mục ở Balan cũng như trong giáo triều
26 năm của ḿnh. Ngài đă lên án việc bài Do Thái Chủng như là một “tội phạm
đến Thiên Chúa và nhân loại”. Chiều hướng ḥa giải này đă là nền tảng cho vai
tṛ làm giáo hoàng của ngài cũng như cho mối liên hệ của vai tṛ này với nhân
dân Do Thái.
“Vào ngày 13/4/1986, ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên kể từ Thánh Phêrô đă đến
viếng thăm một hội đường Do Thái. Trong dịp tŕnh ủy nhiệm thư cho ngài vào
tháng 6/2003, Vị Lănh Sự Do Thái là Obed Ben-Hur đă bày tỏ cử chỉ hết sức tốt
đẹp này khi nói: ‘Vào ngày hôm đó ngài đă gánh trên vai ḿnh một Giáo Hội 2
ngăn năm, từ hồi hội đường Capernaum ở thế kỷ thứ nhất, nơi Chúa Giêsu thường
nguyện cầu, nhờ đó ngài đă khép lại một giai đoạn lịch sử’.
“Ngài đă thôi thúc Ṭa Thánh hăy bắt đầu tiến tŕnh b́nh thường hóa liên hệ
ngoại giao với Quốc Gia Do Thái vào năm 1992, với quê hương thánh kinh thân
yêu của nhân dân Do Thái, nói lên việc nh́n nhận sự hiện hữu của Eretz Ysrael
hôm qua, hôm nay và vĩnh viễn.
“Việc ngài hành hương đến Do Thái và Thánh Địa vào ngày 21/3/2000 đă là những
ǵ bất tử trong tâm trí của nhân dân Do Thái khắp thế giới, khi ngài đặt lời
nguyện cầu xin tha thứ của ḿnh vào Bức Tường Phía Tây.
“Những lời nói long trọng của ngài trong cuộc ngài viếng thăm Sảnh Đường Tưởng
Nhớ Yad Vashem đă khiến chúng tôi hết sức cảm động và tác động tâm can của
chúng tôi.
“Không thể nào diễn tả hết cái âm cảm được những việc làm tiêu biểu này vang
động nơi người Do Thái khắp thế giới. Thưa Đức Giáo Hoàng, những hành động ḥa
giải này thực sự là mấu chốt cho giáo triều của ngài, như ngài cũng đă cố gắng
để sửa chữa lại những rạn nứt cổ thời nơi tất cả mọi tôn giáo trên thế giới.
“Huấn Giáo Do Thái về Các Vị Giáo Phụ đă tuyệt vời diễn tả thành lời mối t́nh
yêu thương ngài đă bày tỏ với toàn thể nhân loại. Tôn sư Hillel nói: ‘Hăy là
một trong thành phần môn đệ của Aaron, bằng cách làm một con người yêu chuộng
ḥa b́nh, một con người theo đuổi ḥa b́nh, một con người yêu thương toàn thể
nhân loại và mang nhân loại gần lại với tôn giáo’.
“V́ những hành động yêu thương của ngài đối với toàn thể nhân loại cũng như
việc ngài hăng say theo đuổi ḥa b́nh và ḥa giải tất cả mọi niềm tin, Đức
Giáo Hoàng thực sự là hiện thân của những lư tưởng và tinh thần của Aaron, vị
thượng tế của dân Do Thái ngày xưa.
“Để kết thúc, ngài đă nói đến chúng tôi là con cái của Abraham, như những
người anh thân yêu của ngài. Niềm ước mong đầy nguyện cầu của tôi là Do Thái,
Kitô Giáo và Hồi Giáo, ba con cái của Abraham, sớm thắt kết lại với nhau nên
một lư tưởng và tiếng nói chung để bênh vực tất nhân loại chống lại thành phần
làm ô danh Chúa Trời bằng những hành động bạo lực nhân danh Ngài.
“Thưa Ngài Giáo Hoàng, xin cám ơn Ngài, tạ ơn Ngài, tri ân Ngài. B́nh an, B́nh
an, B́nh an”.
Để kết thúc, ba vị tôn sư đă chúc lành cho ĐTC và tất cả đă xướng lên 1 bài
hát.
Bản Công Bố của Ủy Ban Liên hệ Tôn Giáo Với Những
Người Do Thái: 3 Điểm Công Bố Chung
Từ ngày 17/10/2004, tại Grottaferrata Ư Quốc, đă diễn ra những cuộc họp và đối
thoại giữa các đại biểu của Ṭa Tôn Sư Trưởng Do Thái dưới sự lănh đạo của Tôn
Sư Shar Yishuv Cohen, với Ủy Ban Ṭa Thánh Đặc Tránh Liên Hệ Về Đạo Giáo Với
Người Do Thái do ĐHY Jorge Mejia cầm đầu, về đề tài: “Nhăn Quan Chung về Công
Lư Xă Hội và Vấn Đề Tác Hành Theo Đạo Lư”. Ngày 19/10/2004, tức sau cuộc họp,
cuộc họp này đă phổ biến mấy điều sau đây:
Từ cuộc họp mặt của chúng tôi ở Grottaferrata (Rôma), từ ngày 17 đến 19 tháng
10 năm 2004, chúng tôi phổ biến bản tuyên ngôn này.
Ư thức sự kiện là chưa hiểu biết rộng răi đủ nơi cộng đồng của ḿnh về việc
đổi thay hệ trọng từng xẩy ra nơi mối liên hệ giữa những người Công Giáo và Do
Thái; và theo chiều hướng hoạt động của Tiểu Ban chúng tôi cũng như những bàn
luận hiện thời về một nhăn quan chung đối với một xă hội công chính và đạo lư;
chúng tôi xin tuyên bố:
1. Chúng tôi không phải là kẻ thù của nhau, mà là những đồng bạn bất khả văn
hồi trong việc nói lên các giá trị luân lư thiết yếu để giúp xă hội loài người
được tồn tại và phúc hạnh.
2. Giêrusalem mang một tính chất linh thánh đối với tất cả mọi thành phần con
cái của Abraham. Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi thẩm quyền đương nhiệm hăy tôn
trọng tính chất này và hăy tránh những hành động phạm đến những ǵ là tinh tế
của các cộng đồng tôn giáo ở Giêrusalem và tha thiết với thành này.
3. Chúng tôi kêu gọi các thẩm quyền tôn giáo hăy công khai chống lại những
hành động tỏ ra bất kính đối với những con người theo đạo, những biểu hiệu và
những Nơi Thánh, như việc làm mất đi tính cách linh thánh của các nghĩa trang
và việc tấn công mới đây Đức Thượng Phụ Armenian ở Giêrusalem. Chúng tôi kêu
gọi những thẩm quyền tôn giáo này hăy giáo dục các cộng đồng của ḿnh trong
việc tác hành một cách trân trọng và xứng đáng đối với con người cũng như đối
với việc họ sống gắn bó với niềm tin của họ”.
Phái Đoàn Đại Biểu Do Thái
1. Rabbi Shar Yishuv Cohen, Chief Rabbi of Haifa
2. Rabbi Rasson Arussi, Chief Rabbi of Kiryat Ono
3. Rabbi Yossef Azran, Chief Rabbi of Rishon-Lezion
4. Rabbi David Brodman, director general of the Center for Jewish Education in
Savyon
5. Rabbi David Rosen, international director for Interreligious Affairs
6. Mr. Oded Wiener, director general of the Grand Rabbinate of Israel in
Jerusalem
Phái Đoàn Đại Biểu Công Giáo
1. His Eminence Cardinal Jorge María Mejía, Archivist and Librarian emeritus
of the Holy Roman Church
2. His Eminence Cardinal Georges Cottier, O.P., former Papal Household
theologian
3. His Excellency Monsignor Pietro Sambi, apostolic delegate in Jerusalem
4. His Excellency Monsignor Giacinto-Boulos-Marcuzzo, auxiliary bishop of the
Latin Patriarchate of Jerusalem
5. Reverend Monsignor Pier Francesco Fumagalli, consultor for the Holy See's
Commission for Religious Relations with the Jews
6. Reverend Father Norbert Hofmann, S.D.B., secretary of the Holy See's
Commission for Religious Relations with the Jews
Đức Thánh Cha Phaolô VI đă thiết lập Ủy Ban Đặc Trách Liên Hệ Tôn Giáo Với
Người Do Thái vào ngày 22/10/1974. ĐHY Kasper, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về
Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, được đi với ĐHY Mejia và phái đoàn đại biểu
của ủy ban này, sẽ viếng thăm hội đường ở Rôma vào ngày Thứ Sáu 22/10/2004 là
dịp cộng đồng Do Thái qui tụ lại để cử hành mừng Ngày Vượt Qua.
Ṭa Thánh và Do Thái giải quyết vấn đề giấy thông hành, thuế má và nhà tiệc ly
Ngày Thứ Ba 14/9/2004, Bộ Trưởng Nội Vụ Do Thái là ông Avraham Poraz đă gặp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ở nhà nghỉ mát của Ngài, sau khi đă ngỏ lời cùng một số phụ tá của Ngài ở Rôma về mấy vấn đề đang được thương thảo giữa Ṭa Thánh Rôma và chính phủ Do Thái. Theo văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh cho biết th́ trong những cuộc trao đổi với các viên chức của Ṭa Thánh này, vấn đề giấy thông hành cũng như về vấn đề thuế má liên quan đến các cơ sở của Giáo Hội Công Giáo đă được đề cập tới.
Trong những tháng vừa qua, chính quyền Do Thái đă từ chối không cấp chiếu khán cho đặc biệt thành phần linh mục hay tu sĩ từ các quốc gia Ả Rập tới. Một số vị c̣n gặp trục trặc về vấn đề làm lại giấy thông hành của ḿnh. Vị giám đốc văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh đă phổ biến một công báo liên quan đến “vấn đề chiếu khán nhập cảnh vào Do Thái cho các viên chức tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo”. Vị bộ trưởng này “đă hứa ban bố những chỉ dẫn cần thiết để giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng”.
ĐTGM Pietro Sambi, đại diện ṭa thánh ở Giêrusalem, cũng vào ngày Thứ Bảy 14/9, đă cho biết rằng “giờ đây tất cả mọi nhân viên tôn giáo đều được cấp phát giấy thông hành”. Tuy nhiên, trong một lời phát biểu với tờ nhật báo Ư Avvenire, vị TGM này c̣n thêm rằng cần phải có những biện pháp “để tránh lệ thuộc vào những thứ rắc rối quá cỡ hằng năm trong việc làm lại phép cư trú. Cần phải có những qui tắc thành văn về việc tự động tái cho phép này”.
Bản công bố của văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh c̣n cho biết thêm rằng những vị đại diện đôi bên c̣n bàn đến “việc tiến triển trong vấn đề thương lượng đang diễn ra ở Giêrusalem để đi đến những thỏa thuận về các vấn đề tài chính của các cơ sở giáo hội ở Do Thái”.
Luật Do Thái, được Tối Cao Pháp Viện xác nhận, công nhận việc châm chước về tài chính cho các tài sản của giáo hội. Tuy nhiên, vào Tháng 12/2002, trong khi hai bên đang thương lượng th́ chính phủ Do Thái đă quyết định rút lại khá nhiều về việc châm chước tài chính ấy. Sau một năm không chính thức liên lạc ǵ với nhau giữa đôi bên, các vị đại diện của đôi bên đă gặp nhau hôm 6-9/9/2004 ở Giêrusalem để xét lại các khía cạnh về vấn đề áp dụng Bản Hiệp Ước Cốt Yếu Năm 1993.
Đại diện của ĐTC đă nói rằng cần nhiều cuộc họp hơn nữa giữa các vị đại diện Do Thái và Vatican để viết một văn kiện thỏa ước cuối cùng. Các vị đại biểu của đôi bên gồm có: bên Do Thái với ông bộ trưởng nội vụ trên, ông Oded Ben-Hur, lănh sự Do Thái ở Ṭa Thánh, ông Paltiel Varon, tham vấn viên, và Cesare Marjeh, giám đốc Bộ Liên Hệ Với Kitô Hữu; bên Ṭa Thánh với ĐHY Quốc Vụ Khanh Angelo Sodano, với ĐTGM Giovanni Lajolo, bí thư đặc trách liên hệ với các quốc gia, và các đức ông Franco Coppola và Joseph Murphy là hai viên chức của văn pḥng Quốc Vụ Khanh.
Cuộc xung đột Do Thái và Palestine không được nói đến ở các buổi gặp gỡ khi Ṭa Thánh bày tỏ chủ trương về ḥa b́nh Trung Đông trong việc viếng thăm Ṭa Thánh gần đây của vị lănh đạo và ngoại trưởng Do Thái.
Trong cuộc phỏng vấn với đài phát thanh Vatican, vị Bộ Trưởng Nội Vụ nói rằng trong việc ông gặp gỡ ĐHY Quốc Vụ Khanh Angelo Sodano: “Tôi hứa rằng bộ của chúng tôi sẽ làm dễ dăi tất cả mọi phương thức để cho thành phần dân giáo sĩ có thể dễ dàng đến Ṭa Thánh.
“Tôi chỉ muốn cho biết rằng một số người đến từ các quốc gia ở trong t́nh trạng hận thù với Do Thái. Tiếc thay, chúng tôi không thuận ḥa với các nước láng giềng của chúng tôi và nếu người ta đến từ chẳng hạn như Lebanon, Syria hay Jordan, chúng tôi phải kiểm soát họ kỹ lưỡng.
“Chúng tôi cũng đồng ư rằng, ở một số trường hợp, Ṭa Thánh Vatican ở Rôma sẽ cho biết thành phần dân chúng nào chúng tôi tin được, bảo đảm là chúng tôi không có vấn đề ǵ với họ.
“Bởi thế, nếu chúng tôi nhận được Ṭa Thánh cho biết những người ấy Ṭa Thánh công nhận, không nguy hiểm ǵ, th́ d6ẽ dàng hơn nhiều và chúng tôi sẽ cắt bớt tất cả mọi việc kiểm soát về an ninh.
Về vấn đề thuế má, linh mục Jaeger ḍng Phanxicô cho biết “Giáo Hội không bao giờ hưởng cũng như không bao giờ xin chước thuế má về các công tŕnh hay những cơ sở thương mại thuộc về Giáo Hội nếu có ở Do Thái. Điều này không hề có vấn đề ǵ hết. Tuy nhiên, đối với những cơ cấu có bản chất tôn giáo hay bác ái, Giáo Hội luôn được hưởng những thứ châm chước thuế má về tài sản. Tất cả mọi châm chước này đă được xác nhận bởi đạo luật năm 1938.
“Tuy nhiên, gần 2 năm trước đây, trong khi những cuộc thương thảo đang diễn ra về vấn đệ hiệu lực của đạo luật này, th́ chính quyền Do Thái đă điều chỉnh nó khi giảm sút hết cỡ một cách đơn phương những thứ châm chước vốn có của Giáo Hội, thậm chí trước cả việc thương thảo thỏa thuận.
Vị bộ trưởng nội vụ Do Thái đă nói với các vị đại diện Ṭa Thánh rằng: “Trên căn bản chúng tôi đồng ư rằng những hoạt động về thương mại, như các tiệm, các kư viện, các khách sạn v.v. đều phải đóng thuế như mọi người. Dĩ nhiên. Các nhà thờ, những nơi nguyện cầu, đều được miễn trừ mọi thứ thuế má. Các học đường không phải trả bất cứ khoản nào”. Về các đan viện, ông bộ trưởng này nói: “Họ phải trang trải những dịch vụ của thành phố như rác rưới, điện lực, nước nôi, quét đường v.v., nó không phải là thuế”, mà chỉ là vấn đề “trang trải những thứ chi phí vậy thôi”.
Vị bộ trưởng này tin tưởng rằng “rất cần phải cải tiến vấn đề liên hệ. Chúng tôi biết rằng Ṭa Thánh rất chú trọng đến Thánh Địa. Do Thái và các nơi thánh không phải như những nơi khác. Mục đích của chúng tôi và nhiệm vụ của chúng tôi là làm sao để cho mọi sinh hoạt được dễ dàng thực hiện. Dĩ nhiên chúng tôi gặp trục trace với vấn đề an ninh. Nếu xẩy ra vụ phong tỏa Bêlem th́ khó ḷng qua lại đó. Thế nhưng mục đích của tôi là cho phép tất cả mọi nhà thờ và mọi tôn giáo ở Giêrusalem được sinh hoạt tự do bao nhiêu có thể”.
Ngoài ra, vị bộ trưởng nội vụ này c̣n cho biết một trong những vấn đề được đề cập đến trong các phiên họp này là vấn đề Nhà Tiệc Ly ở Thánh Địa. Theo ông, Nhà Tiệc Ly này “thuộc về những người Công Giáo cho tới thời gian 500 năm trước đây, khi nhà tiệc ly này bị những người Hồi Giáo chiếm. Vấn đề hiện nay là việc bàn luận, một cuộc tranh luận giữa các giáo hội ở Giêrusalem. Vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng nếu các giáo hội ở Giêrusalem đồng ư với nhau về cách giải quyết vấn đề này”.
Vị bộ trưởng nội vụ này cho biết ông sẵn sàng làm trung gian nếu chưa có thỏa ước nào cả. Nhà Tiệc Ly đang được sử dụng bởi một trường học đạo Do Thái. Ngôi nhà này đă được những người Hồi Giáo sử dụng cho tới năm 1948. Từ năm 1335 đến 1551, nhà tiệc ly đă là một nữ tu viện của Núi Sion và là những tổng hành dinh ban đầu của Việc Trông Coi Thánh Địa.
Kết Thúc Cuộc Họp của Tiểu Ban Giao Liên của Giáo Hội Công Giáo và Người Do Thái: Chấp Thuận 2 Mục Đích
Cuộc họp lần thứ 18 của Tiểu Ban Giao Liên Quốc Tế Công Giáo và Do Thái ở Buenos
Aires Á Căn Đ́nh về vấn đề công lư và bác ái 4 ngày được kết thúc hôm Thứ Năm
8/7/2004, với bản tuyên cáo chung bao gồm những lư tưởng chính sau đây:
“Trước chiều kích toàn cầu về t́nh trạng nghèo khổ, bất công và kỳ thị, chúng ta
có một trách nhiệm rơ ràng trong việc bày tỏ sự quan tâm đối với thành phần
nghèo khổ cũng như với thành phần bị tước đoạt những quyền lợi của họ về chính
trị, xă hội và văn hóa”.
Sau khi nhắc lại “những thay đổi lớn lao” nơi mối liên hệ giữa Do Thái và Công
Giáo từ bản tuyên ngôn “Nostra Aetate” của Công Đồng Chung Vaticanô II, bản
tuyên cáo đă tỏ ḷng tri ân đối với Đức Gioan XXIII về “khai mở con đường chính
yếu này nơi mối liên hệ Công Giáo và Do Thái”.
“Cuộc trao đổi đối thoại huynh đệ này đă dẫn đến việc hiểu biết và tương kính.
Chúng ta hy vọng tiến đến những lănh vực rộng lớn hơn và chạm tới tâm trí của
người Công Giáo và Do Thái, cũng như của toàn thể cộng đồng”. Bản văn cũng không
quên những đóng góp của Đức Gioan Phaolô II về vấn đề ấy.
Bản tuyên cáo nhấn mạnh đến “việc dấn thân hỗ tương cho công lư và bác ái”,
“việc con người hợp tác với dự án thần linh để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”.
Theo chiều hướng ấy, “chúng ta nhận thấy nhu cầu cần phải t́m giải pháp cho
những thách đố lớn lao này: đó là t́nh trạng chênh lệch về kinh tế gia tăng giữa
các dân tộc, việc tàn phá cả thể về môi sinh, những khía cạnh tiêu cực về vấn đề
toàn cầu hóa, và nhu cầu khẩn trương cần phải hoạt động cho ḥa b́nh và ḥa giải”.
Bản tuyên cáo này cũng đề cao việc “hoàn toàn bác bỏ vấn đề bài Do Thái trong
tất cả mọi h́nh thức tỏ hiện của vấn đề”, và lấy làm tiếc trước “hiện tượng
chống Công Giáo ở tất cả mọi h́nh thức của họ được bộc lộ trong toàn thể xă hội
loài người chúng ta”.
Những người Công Giáo và Do Thái cũng cần phải dấn thân để chiến đấu với nạn
khủng bố “là tội phạm đến con người cũng như đến Thiên Chúa”, như vụ khủng bố
tấn công Hoa Kỳ 11/9/2001, và “hai cuộc khủng bố thảm hại ở Buenos Aires đây,
một thập niên về trước, nhắm vào người Do Thái”.
“Chúng ta dấn thân thực hiện và làm sáng tỏ nơi cộng đồng của chúng ta chúng ta
đă hứa quyết với nhau ở Buenos Aires, nhờ đó công việc hoạt động cho công lư và
bác ái của chúng ta giúp cho chúng ta có thể đạt được tặng ân cao cả nhất là ḥa
b́nh”.
Bản tuyên cáo này được phổ biến bởi ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Ṭa
Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo; ĐHY William Keeler, TGM Baltimore và là
điều hợp viên của hàng giám mục về liên hệ Do Thái và Công Giáo ở Hiệp Chủng
Quốc; Israel Singer, chủ tịch Tiểu Ban Giao Liên Quốc Tế Công Giáo Và Do Thái,
và Joel Meyer phó chủ tịch của tổ chức này.
ĐTC GPII với sứ
điệp gửi mừng bách chu niên Hội Đường Do Thái ở Rôma
Chiều ngày Chúa Nhật 23/5/2004, ĐHY Camillo Ruini, Giám Mục Tổng Đại Diện
Giáo Phận Rôma, đă thay mặt ĐTC đến tham dự buổi mừng bách chu niên thành
lập Hội Đường Do Thái ở Rôma, và đă đọc sứ điệp ĐTC gửi vị Tôn Sư Trưởng ở
đây là Riccardo Di Segni. Đại diện Ngài c̣n có ĐHY Walter Kasper, chủ tịch
Ủy Ban Liên Hệ Tôn Giáo với Do Thái Giáo.
Trong sứ điệp của ḿnh, ĐTC cũng gửi lời chào vị nguyên Tôn Sư Trưởng Rabbi
Elio Toaff là người đă đón tiếp Ngài đến hội đường này ngày 13/4/1986, việc
(vị Giáo Hoàng đến Hội Đường Do Thái) này là một biến cố vô tiền khoáng hậu
trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo. ĐTC cảm nhận về biến cố 18 năm trước đó
như sau: “Biến cố này vẫn c̣n rung động nơi kư ức cũng như trong ḷng của
Tôi như là một biểu hiệu mới mẻ đánh dấu những mối liên hệ ít thập niên vừa
qua giữa dân Do Thái và Giáo Hội Công Giáo, sau những giai đoạn đôi khi xẩy
ra những khó khăn và buồn thảm”.
ĐTC c̣n nhận định và lên án nạn bài Do Thái. Ngài viết rằng mặc dù Giáo Hội
Công Giáo và Công Đồng Chung Vaticanô II đă bài bác “một cách rơ ràng và dứt
khoát nạn bài Do Thái dưới tất cả mọi h́nh thức,… vẫn không đủ để khiển
trách và lên án cái hận thù phạm đến dân Do Thái; … rồi cũng cần phải nuôi
dưỡng cả t́nh thân hữu, sự tôn trọng và mối liên hệ huynh đệ với họ nữa”.
Liên hệ tới vấn đề này, ĐTC nhắc lại thành phần nạn nhân bị thảm sát thời
Thế Chiến II, nhất là những phần tử thuộc cộng đồng Do Thái ở Rôma vào tháng
Mười năm 1943 bị bắt tới Auschwitz. “Chớ ǵ việc nhớ đến họ làm cho chúng ta
làm việc như là những người anh em của nhau”.
Ngài c̣n viết tiếp: “Bởi thế cũng cần phải nhớ đến tất cả những Kitô hữu…
thành phần can đảm hoạt động, cả ở tại thành phố Rôma đây, trong việc giúp
đỡ những người Do Thái bị bách hại, tỏ t́nh đoàn kết của ḿnh, đôi khi giúp
đỡ tới độ liều cả mạng sống của ḿnh… Chúng ta cũng không thể nào quên được,
ngoài những tuyên bố chính thức, Ṭa Thánh c̣n t́m nhiều cách giúp đỡ những
người Do Thái gặp nguy hiểm, thường trong âm thầm kín đáo, những việc cũng
được thành phần đại diện của họ nh́n nhận”.
Đức Thánh Cha xác nhận rằng Giáo Hội đă cảm thấy phiền trách về những lầm
lỗi của con cái nam nữ của ḿnh và đă xin tha thứ “v́ họ có trách nhiệm liên
quan tới nạn dịch bài Do Thái”. Ngài cũng nhắc lại việc Ngài bù đắp bằng
cách đến kính viếng vào Tháng 3/2000 các nạn nhân bị thảm hại ở Yad Vashem.
Về t́nh h́nh hiện nay tại Thánh Địa, Ngài nhận định rằng “tiếc thay, việc
nghĩ đến Thánh Địa khiến cho ḷng chúng ta lo âu và buồn thảm trước t́nh
trạng bạo loạn đang diễn ra ở đó, v́ biết bao nhiêu là máu vô tội của những
người Do Thái và Palestine đă đổ ra… Bởi thế, ngày hôm nay chúng ta hăy dâng
lên Thiên Chúa Hằng Sống lời nguyện cầu tha thiết… để ḷng hận thù… bị thắng
vượt bởi tâm thức minh tường về những mối tương quan thắt kết họ lại với
nhau cũng như bởi trách nhiệm đè nặng trên vai của hết mọi người.
“Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiến bước trên con đường dài: Vị Thiên Chúa
của sự công chính và của b́nh an, của t́nh thương và của ḥa giải, kêu gọi
chúng ta hăy hợp tác với nhau, không bị chao đảo trong thế giới tân tiến đầy
xung khắc và hận thù của chúng ta đây. Nếu chúng ta biết hiệp nhất ḷng trí
và nắm lấy tay nhau để đáp lại ơn gọi thần linh th́ ánh sáng của Đấng Hằng
Hữu sẽ chiếu sáng tất cả mọi dân tộc, tỏ cho chúng ta thấy những đường lối
ḥa b́nh, những đường lối Shalom. Chúng ta cần đồng tâm đi theo những con
đường ấy”.
Hai ĐHY Đại Diện đến tham dự mừng bách chu niên Hội Đường Do Thái ở Rôma
Ngày 23/5/2004 là dịp mừng kỷ niệm 100 năm Hội Đường Do Thái ở Rôma. Vị Tôn
Sư Trưởng ở đây là Riccardo Di Degni đă mời ĐTC viếng thăm hội đường này lần
nữa vào dịp mừng kỷ niệm này. V́ lần nhất Ngài đă đến với hội đường này vào
tháng tư năm 1986.
Tuy không đến được, ĐTC đă chỉ định hai vị hồng y thay Ngài đến tham dự là
ĐHY
Camillo Ruini, đương kim chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ư và là đại diện Giáo
Hoàng cai quản Giáo Phận Rôma, và ĐHY Walter Kasper, chủ tịch Ủy Ban Liên Hệ
Tôn Giáo với Người Do Thái. Văn pḥng báo chí của Ṭa Thánh đă loan báo tin
này vào chiều ngày Thứ Ba 20/4/2004.
Vị Tôn Sư Trưởng Di Segni tỏ ra bất măn v́ ĐTC không thể thực hiện cuộc
viếng thăm lần này, nhưng ông vẫn nói rằng: Các vị hồng y Ruini và Kasper
cũng sẽ được tiếp đón với tất cả trân trọng”.
ĐTC GPII với JDC về Mối Liên Hệ Chặt Chẽ hơn với Dân Do Thái
Ngày Thứ Hai 29/3/2004, ĐTC GPII đă tiếp các phần tử thuộc Ủy Ban Phân Phối
Hỗn Hợp Người Hoa Kỳ Gốc Do Thái (JDC: American Jewish Joint Distribution
Committee). Từ năm 1914, tổ chức JDC này đă phục vụ như một ngành của cộng
đồng Người Hoa Kỳ Gốc Do Thái ở hải ngoại trong việc phục vụ người Do Thái
thiếu thốn trên khắp thế giới. Tổ chức này bảo trợ các chương tŕnh và dịch vụ
cấp cứu, trợ giúp và cải tiến người Do Thái trong những trường hợp khốn khó
nhất về mặt xă hội. Vào thập niên 1990, tổ chức này đă giúp vào việc bảo tŕ
sự sống cho 15 ngàn người Do Thái ở Ethiopia. Tổ chức này cũng giúp cho cả
những ai không phải là Do Thái khi gặp thiên tai, chiến tranh và đói khát nữa.
Ngỏ lời với họ bằng Anh ngữ, ĐTC đă nhận định về việc viếng thăm của họ “là
một dấu hiệu khác cho thấy những mối liên hệ thân hữu giữa dân tộc Do Thái và
Giáo Hội Công Giáo, những mối giây chúng ta hy vọng rằng sẽ càng ngày càng
chặt chẽ hơn nữa. Thiên Chúa đă tạo nên con người theo h́nh ảnh Ngài và đă
trang bị cho họ khả năng yêu thương. Chính nhờ yêu thương mà chúng ta hoàn tất
định mệnh của chúng ta trong việc tác hành tương tự như Thiên Chúa. Từ đó
chúng ta có nhiệm vụ phải phục vụ lẫn nhau theo giới luật của Sách Lêvi: ‘Các
ngươi phải yêu thương tha nhân như bản thân ḿnh. Ta là Chúa’. Chúng ta nhất
là được kêu gọi để phục vụ những ai cần đến việc giúp đỡ của chúng ta để sống
an ninh, công chính và tự do. Xin Thiên Chúa chúc lành cho những nỗ lực của
quí vị và giúp quí vị thành đạt trong việc giúp đỡ những ai cần đến sự giúp đỡ
của quí vị”.
ĐTC GPII tiếp Tiểu Ban Người Hoa Kỳ Gốc Do Thái ngày 5/2/2004: những lời lẽ trao đổi
Chủ tịch ủy ban ngỏ lời cùng ĐTC: “Ngài thật là một phúc lành”.
Trọng Kính Ngài,
Hôm nay chúng tôi hết sức hân hạnh được Ngài tiếp đón nơi đây.
Chúng tôi biết rằng, chúng tôi không cần phải giới thiệu cho Ngài biết về Tiểu Ban Người Hoa Kỳ Gốc Do Thái. Những đại biểu chính thức thuộc thành phần lănh đạo của tổ chức chúng tôi đă được Ngài cho diễm hạnh tiếp kiến vào 4 dịp khác nhau trong Giáo Triều của Ngài, và những vị Giám Đốc Các Liên Tôn Vụ đương kim của chúng tôi cũng đă được hân hạnh gặp gỡ Ngài trong nhiều môi trường khác. Điều này trước hết cho thấy thiện chí và t́nh thân hữu đặc biệt của Ngài đối với cộng đồng nói chung và tôi tin rằng nó c̣n cho thấy Ngài cũng cảm nhận được việc dấn thân của AJC nơi lănh vực liên hệ giữa Kitô hữu và người Do Thái cùng với những ǵ AJC thực hiện ở lănh vực này.
Mục đích của chúng tôi hôm nay là muốn bày tỏ ḷng tri ân sâu xa và lời ca ngợi hết ḿnh của chúng tôi về việc Ngài đóng góp riêng tư đặc biệt vào tiến tŕnh này trong hơn một phần tư thế kỷ của Giáo Triều Ngài. Việc Ngài đến thăm hội đường ở thành phố này vào năm 1986 sẽ đi vào lịch như là một biến cố có một tầm ảnh hưởng và quan trọng mạnh mẽ. Cũng thế, việc Ngài viếng thăm Giêrusalem trong năm 2000, sau biến cố thiết lập liên hệ trọn vẹn giữa Ṭa Thánh và Quốc Gia Do Thái, là một chứng từ hùng hồn nhất về một cuộc biến đổi thực sự nơi mối liên hệ của Giáo Hội đối với Nhân Dân Do Thái. Dĩ nhiên chúng tôi hết sức biết ơn về rất nhiều lời lẽ của Ngài liên quan đến mối liên hệ đặc thù giữa hai Tín Ngưỡng của chúng ta, và việc Ngài diễn tả nhân dân Do Thái như là tiền bối yêu dấu của Giáo Hội trong Cuộc Giao Ước liên tục trường tồn.
Ngài cũng đặc biệt thẳng thắn lên tiếng kết án tất cả mọi thành kiến nhất là cuồng tín bài Do Thái. Chúng tôi biết rằng đó không phải là những ǵ phù hợp với nhân cách của Ngài, với cuộc đời cũng như với kinh nghiệm của Ngài, nên Ngài đă nhấn mạnh rằng chúng ta phải nhiệt t́nh hoạt động để bảo đảm rằng kư ức về một Shoah cùng với những ǵ nó muốn cho nhân loại nói chung biết cần phải được t́m hiểu và giảng dạy cho các thế hệ tương lai. Thế nhưng, v́ chúng tôi đang mang những thương tích của cái kinh nghiệm riêng này, dĩ nhiên chúng tôi đặc biệt bị nhiễu loạn trong những ngày này đây bởi làn sóng hiện nay của việc bộc phát và bạo động bài Do Thái. Bởi thế chúng tôi hết ḷng cám ơn Ngài về những tuyên ngôn dứt khoát của Ṭa Thánh lên án t́nh trạng bại hoại này.
Chúng tôi cũng nhớ đến buổi ḥa nhạc đáng kể do Ngài tổ chức để tưởng niệm biến cố Shoah, và đặc biệt Ngài vừa sắp xếp thực hiện một buổi ḥa nhạc nói lên niềm hy vọng và mục tiêu ḥa giải giữa ba tín ngưỡng độc thần là Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo. Theo tự nhiên chúng tôi hết ḷng chia sẻ với ước vọng ấy, nhưng xin biết cho rằng con đường trước mặt c̣n dài trước khi chúng ta tiến đến mục tiêu ấy.
Theo chiều hướng này, chúng tôi đặc biệt lấy làm ghê rợn khi tôn giáo bị lợi dụng ở Trung Đông và trên khắp thế giới trong việc biện minh, thậm chí, trong việc tôn vinh việc sát hại thành phần vô tội. Chúng tôi xin cám ơn về những lời phát biểu mạnh mẽ của Ngài trong việc lên án bạo lực nấp dưới chiêu bài tôn giáo, và chúng tôi cầu xin cho thế giới nói chung biết lắng nghe và chấp nhận sự thật của những lời Ngài nói.
Thưa Ngài, chúng tôi cũng muốn lợi dụng dịp này để cám ơn Ngài về Giáo Hội của Ngài ở Hiệp Chủng Quốc. Tôi tin rằng thật sự mà nói không có một cộng đồng Do Thái nào ở bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu lại được hưởng một mức độ thân hữu nồng hậu cùng với sự hợp tác thân hữu chúng tôi vẫn nhận được từ Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ. Chúng tôi biết rằng việc này là do một phần không nhỏ bởi tinh thần lănh đạo can trường của Ngài, nên chúng tôi hết ḷng cám ơn Ngài về điều ấy. Chúng tôi xin Đấng Toàn Năng ban cho Ngài sức mạnh để tiếp tục vai tṛ lănh đạo này cũng như cho Giáo Hội của Ngài trên khắp thế giới được tiếp tục thăng tiến trên con đường Ngài đă phác họa, theo gương mẫu của Ngài trong những năm tới đây.
Như chính Ngài đă nói liên quan đến lời hứa Thần Linh cho Abraham trở thành một phúc lành trên thế giới, một phép lành chúng ta đều có trách nhiệm chung. Thế nhưng, để chiếm được phúc lành này, trước hết chúng ta phải là phúc lành cho nhau.
Ngài đă thực sự là phúc lành cho cộng đồng Do Thái, chúng tôi thật ḷng tri ân về phúc lành này.
ĐTC GPII đáp từ: "Tôi cầu xin tặng ân ḥa b́nh xuống trên tất cả quí vị 'Shalom aleichem'."
Thưa Quí Tôn Hữu,
Với ḷng cảm mến Tôi xin chào quí vị, những phần tử thuộc Tiểu Ban Người Hoa Kỳ Gốc Do Thái dịp quí vị tới Vatican đây. Tôi lấy làm biết ơn khi nhớ lại lần quí vị viếng thăm vào năm 1985 để đánh đấu 20 năm kỷ niệm ban hành sắc lệnh “Nostra Aetate” là sắc lệnh đă đóng góp rất nhiều vào việc củng cố những mối liên hệ giữa Do Thái và Công Giáo.
Giờ đây khi chúng ta đang tiến đến thời điểm 40 năm mừng kỷ niệm văn kiện lịch sử này, chúng ta rất cần phải lập lại việc lên án nạn kỳ chủng và bài Do Thái. Việc bạo lực nhân danh tôn giáo bào giờ cũng là một thứ tục hóa tôn giáo. Việc đương đầu với chiều hướng nguy hiểm này cần chúng ta phải cùng nhau nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục tôn giáo là việc cổ vơ ḷng tôn trọng và yêu thương đối với nhau.
Trong những ngày này đây, chúng tôi vẫn chú trọng tới Thánh Địa là nơi tiếp tục bị quằn quại bởi bạo loạn và khổ đau. Tôi tha thiết cầu xin để t́m thấy được một giải pháp chân chính biết tôn trọng quyền lợi và an ninh của cả người Do Thái lẫn Palestine.
Tôi cầu xin tặng ân ḥa b́nh xuống trên tất cả quí vị. "Shalom aleichem."
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Ṭa Thánh được Zenit phổ biến ngày 5/2/2004.
Các Vị Tôn Sư Do Thái với ĐTC GPII về những vấn đề nối kết Do Thái giáo và Công Giáo
Tôn Sư Ashkenazi Yona Metzger và tôn sư Sephardic Shlomo Amaralso đă bày tỏ với ĐTC GP II 3 ước muốn của các vị. Thứ nhất, người Công Giáo khắp thế giới nên tổ chức Ngày Đối Thoại với Người Do Thái. Thứ hai ĐTC nên bày tỏ một cử chỉ đặc biệt nào với “Năm Maimonides”. Thứ ba, Giáo Hội Công Giáo nên tặng một đồ vật thờ phượng của người Do Thái mà Giáo Hội Công Giáo đang có cho người Do Thái.
Các vị tôn sư này, sau khi các vị gặp ĐTC 35 phút, đă tiết lộ những điều yêu cầu này của ḿnh với ĐTC cho báo chí biết hôm Thứ Sáu ở Sảnh Đường Hội Đồng của Đại Hội Đường Do Thái ở Rôma.
Về Ngày Đối Thoại như thế này đă được tổ chức ở Ư nhiều năm nay. Ngày này năm nay đă được tổ chức hôm Thứ Bảy 17/1/2004, áp Tuần Lễ Cầu Cho Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo. Vào những ngày đối thoại này, người Do Thái và Công Giáo gặp nhau để nghị hội, viếng thăm các hội đường hay qui tụ lại để quen biết nhau hơn.
Về Năm Maimonides, nhân dịp kỷ niệm 800 qua đời của Moses Maimonides là một đại triết gia kiêm thần học gia ở Cordoba, Tây Ban Nha, sống vào những năm 1135-1204, Ṭa Thánh cho mượn một số bản thảo quí giá của đại triết gia kiêm thần học gia này, những văn bản đang được giữ ở Thư Viện Vatican, để trưng bày ở Do Thái. Vị đại triết gia kiêm thần học gia Do Thái này đă được nh́n nhận là một triết gia người Do Thái quan trọng nhất thời Trung Cổ. Ông đă viết “13 Điều Đức Tin”, một trong những kinh tin kính vẫn được nhiều người Do Thái chính thống sử dụng cho đến nay. Trong tác phẩm “Hướng Dẫn Kẻũ Bối Rối” được viết năm 1190, vị này đă cố gắng ḥa hợp giữa đức tin và lư trí, dung ḥa những tín điều của Do Thái giáo kinh điển với duy trí thuyết của triết lư Aristote trong bản viết bằng tiếng Ả Rập, một bản bao gồm cả các yếu tố Tân Triết Plato. Tác phẩm được vị này bàn về bản tính của Thiên Chúa và việc tạo dựng, về ư muốn tự do, về vấn đề thiện ác, đă ảnh hưởng rất nhiều nơi những đại triết gia Kitô giáo như Tôma Aquinas và Albêtô Cả.
Trong cuộc hội kiến riêng với ĐTC, các vị tôn sư này nói bằng tiếng tân Do Thái, và được vị lănh sỉ Do Thái ở Ṭa Thánh Vatican là Obed Ben-Hur thông dịch. Cùng tham dự buổi triều kiến này với những vị tôn sư ấy có cả Tôn Sư Trưởng Roccardo Di Segni ở Rôma. Trong cuộc họp báo, các vị tôn sư cho biết cuộc triều kiến này là một cuộc gặp gỡ “chân t́nh” và “thân ái”, Tôn sư Metzger cho biết ĐGH rất chú trọng tới những điều được phát biểu và tỏ ra niềm nở với khách của ngài. Tôn sư Amar cho rằng cuộc gặp gỡ này giúp làm tăng thêm “niềm hy vọng ḥa giải và t́nh huynh đệ giữa hai tôn giáo” cũng như “tăng thêm các mối liên hệ”, v́ ĐTC và các vị cộng sự viên của Ngài trong quá khứ đă sử dụng những lời nói mạnh mẽ để lên án nạn bài Do Thái.
Nhân dịp kỷ niệm năm thứ 18 việc ĐTC GPII đến viếng thăm hội đường ở Rôma, Tôn Sư Metzger lập lại lời ông mời ĐTC viếng thăm Giêrusalem và nhắc lại rằng năm nay là năm kỷ niệm đệ lục chu niên “hiệp ước căn bản” giữa Ṭa Thánh và Nước Do Thái.
Đối với Tôn Sư Amar, cái khó khăn nhất giữa các cá nhân cũng như các cộng đồng đó là “việc thiếu đả thông nhau”, đó là việc không thể “hiểu” nhau hay “nghe” nhau, nên mỗi người cứ khư khư với chủ trương riêng của ḿnh. Bởi thế, v́ tôn sư này nhấn mạnh: “Chúng ta phải nói”. Theo ông, những cuộc gặp gỡ liên tôn có thể “thắng vượt những khó khăn phát xuất ở lănh vực chính trị”.
Tôn Sư Metzger cho biết là trong cuộc triều kiến với ĐGH, họ đă nói đến vấn đề đối đầu với nạn bài Do Thái và khủng bố: “Hôm qua họ bắt bớ chúng tôi v́ chúng tôi không có quốc gia và hôm nay đây chúng tôi đă có đất nước”. Vị tôn sư này cũng cho biết là ông đă kêu gọi các nhà lănh đạo Hồi giáo hăy ngăn chặn việc tăng thêm khủng bố dưới chiêu bài tôn giáo. Ông nói tất cả chúng ta đều là “con cái của Abraham”, không thể nào “người Cha này lại sung sướng khi trông thấy rằng cảnh anh em sát hại nhau. Máu đă chảy ra đủ rồi!”
Tôn sư Amar nhấn mạnh là cần phải ngồi
xuống thương thảo với nhau, v́ vấn đề giải quyết chỉ bắt đầu khi biết đối thoại
mà thôi. Điều cần đó là sự nhẫn nại và tương nhượng để xây những chiếc cầu dẫn
đến việc đối thoại làm cho nhau “nghe được sự khôn ngoan của nhau”. “Nếu tất cả
chúng ta đều có thái độ này th́ thế giới chắc hẳn là đă khác rồi”.
ĐTC GPII với các Tôn Sư Do Thái về
Vấn Đề Đối Thoại Liên Tôn giữa Công giáo và Do Thái giáo
Hôm Thứ Sáu, 16/1/2004, ĐTC đă tiếp hai vị tôn sư trưởng Jona Metzgher và Slomo
Amar cùng với vị giám đốc của Văn Pḥng Trưởng Tôn Sư là ông Oded Wiener, những
người đến Rôma để tham dự buổi Ḥa Nhạc Ḥa Giải đực tŕnh diễn bởi Ban Đại Hợp
Tấu Pittsburgh ở Sảnh Đường Phaolô VI vào tối hôm sau, Thứ Bảy 17/1.
ĐTC ghi nhận rằng “trong 25 năm giáo triều của ḿnh, Tôi đă nỗ lực phát động
việc đối thoại Do Thái giáo và Công giáo cũng như bồi dưỡng việc thông cảm, tôn
trọng và hợp tác giữa chúng ta. Thật vậy, một trong những cao điểm của giáo
triều của Tôi vẫn là cuảc Hành Hương Năm Thánh của Tôi tới Thánh Địa, một cuộc
bao gồm những giây phút linh thiêng cho việc tưởng nhớ, suy niệm và nguyện cầu ở
Đài Tưởng Niệm Biến Cố Tế Thần Yad Vashem cũng như ở Bức Tường Than Khóc.
“Cuộc đối thoại chính thức được thiết lập giữa Giáo Hội Công Giáo và Văn Pḥng
Tôn Sư Trưởng của Do Thái là một dấu hiệu hết sức hy vọng. Chúng ta không được
bỏ qua một nỗ lực nào để cùng nhau hoạt động dựng xây một thế giới công chính,
an b́nh và ḥa giải cho tất cả mọi dân tộc. Xin Đấng Quan Pḥng Thần Linh chúc
lành cho hoạt động của chúng ta và làm cho chúng đạt được thành quả!”
Bài Diễn Từ của ĐTC GPII trong buổi “Tấu Nhạc
Ḥa Giải”
Trong buổi “Tấu Nhạc Ḥa Giải” hôm Thứ Bảy 17/1/2004, tại Sảnh Đường Phaolô VI, ĐTC GPII đă lên tiếng như sau.
Trong đoạn 1, ĐTC đă nhắc đến mục đích của buổi tấu nhạc ḥa giải giữa ba Thiên Chúa Giáo là Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo. Ngài ngỏ lời chào các quí chức và đại diện của các tổ chức của 3 tôn giáo này hiện diện trong buổi tấu nhạc ḥa tấu này. Ngài cám ơn tổ chức Hiệp Sĩ Columbus bảo trợ cho buổi tổ chức này. Ngài cũng chào ban ḥa tấu Pittsburgh cũng như các ca đoàn Ankara, Krakow, London và Pittsburgh. Ngài nhắc đến “hai điểm là việc tôn kính Tổ Phụ Abraham và việc phục sinh của kẻ chết. Trong đoạn thứ 2 và 3, ĐTC nói đến mối liên hệ giữa ba tôn giáo này như sau:
2. Lịch sử của các mối liên hệ giữa những người Do Thái, Kitô hữu và Hồi giáo được đánh dấu bằng ánh sáng và bóng tối, đáng buồn thay, đă trải qua những thời điểm đau thương. Hôm nay đây, rất cần phải thực hiện một cuộc ḥa giải chân thành giữa các tín đồ tin vào một Vị Thiên Chúa duy nhất.
Buổi tối hôm nay, chúng ta qui tụ lại đây cho thấy việc cụ thể biểu lộ việc dấn thân tiến đến mối ḥa giải này, bằng sứ điệp phổ quát của âm nhạc. Chúng ta đă được nhắc nhở về lời cảnh giác “Ta là Thiên Chúa Toàn Năng. Hăy bước đi trước nhan Ta và sống liêm chính” (Gen 17:1). Hết mọi con người nghe thấy những lời này âm dội trong bản thân họ: Họ biết rằng một ngày kia họ sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa là Đấng từ trời cao nhín thấy lối sống của họ trên trần gian.
Chúng ta cùng nhau bày tỏ niềm hy vọng là con người sẽ được thanh tẩy cho khỏi hận thù và sự dữ là những ǵ hằng đe dọa ḥa b́nh, nhờ đó họ mới có thể cùng nhau nối ṿng tay lớn bất bạo động để sẵn sàng giúp đỡ và an ủi những ai cần thiết.
3. Người Do Thái tôn kính Đấng Toàn Năng như “vị bảo vệ con người” và là Thiên Chúa “của những lời hứa sự sống”. Kitô hữu biết rằng t́nh yêu là lư do tại sao Thiên Chúa đă thiết lập mối liên hệ với con người và t́nh yêu là đáp ứng cần con người phải tỏ ra. Đối với tín đồ Hồi giáo th́ Thiên Chúa là Đấng tốt lành và hết sức xót thương tín hữu. Được nuôi dưỡng bằng những niềm xác tín ấy, người Do Thái, Kitô hữu và Hồi giáo không thể nào chấp nhận được trái đất này lại bị hành hạ bởi hận thù, nhân loại bị quằn quại bởi những cuộc chiến tranh không cùng.
Đúng thế! Chúng ta phải tạo lấy cho ḿnh ḷng can đảm ḥa b́nh. Chúng ta phải nài xin trời cao tặng ân ḥa b́nh. Và ḥa b́nh này sẽ loang ra như dầu xoa dịu, nếu chúng ta không ngừng bước đi trên con đường ḥa giải. Bấy giờ sa mạc sẽ biến thành một khu vườn là nơi công lư ngự trị, và hoa trái của công lư sẽ là ḥa b́nh (x Is 32:15-16).
“Omnia vincit amor!” – T́nh yêu chiến thắng hết mọi sự!
Bản Tuyên Ngôn Chung của Ủy Ban Do Thái Giáo và Công Giáo
Sau ba ngày họp ở Giêrusalem, giữa phái đoàn đại biểu Tôn Sư Trưởng Do Thái Liên Hệ với Giáo Hội Công Giáo và Uỷ Ban của Ṭa Thánh về Liên Hệ Tôn Giáo với Những Người Do Thái, Ủy Ban Chung này đă đúc kết bằng một bản tuyên ngôn chung được kư hôm Thứ Tư 3/12/2003, như sau:
1. Sau hai cuộc họp, ở Giêrusalem (Tháng 6 năm 2002, hay Tháng Tammuz năm 5762) và ở Grottaferrata/Rôma (Tháng 2 năm 2003, hay tháng Shvat năm 5763), những vị đại biểu cao cấp đương nhiệm đă tụ họp ở Giêrusalem để bàn đến đề tài “Tính Cách Thuận Hợp của Các Giáo Huấn Chính Yếu – Những Cuốn Sách Thánh Chúng Ta Dùng Để Chia Sẻ Với Xă Hội Hiện Đại và Để Theo Đó Giáo Dục Các Thế Hệ Tương Lai”.
2. Những điều cân nhắc được diễn ra trong một bầu khí tương kính và thân t́nh, hai phái đoàn đại biểu lấy làm hài ḷng về những cơ cấu vững chắc đă được thiết lập giữa họ với nhau đầy những hứa hẹn tiếp tục hoạt động và hợp tác tốt đẹp.
3. Tham dự viên bày tỏ ḷng cảm mến sâu xa đối với những lời phát biểu thẳng thắn của Ṭa Thánh trong việc lên án bạo lực phạm đến những kẻ vô tội và cáo giác những h́nh thức bài Do Thái tái nổi lên hiện nay, như đă được công bố trong những lời phát biểu của Chư Hồng Y thuộc phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh Vatican trong Ủy Ban Chung là các ĐHY Walter Kasper, Jorge Mejía và Georges Cottier.
Theo tinh thần này, ĐHY Jorge Mejia đă viết cho Các Tôn Sư Trưởng Do Thái rằng: “Thật sự chẳng những là tàn ác mà c̣n hèn hạ và hoàn toàn bất hợp với những tiêu chuẩn nhân bản khả chấp trong việc tấn công con người ở những nơi cầu nguyện của họ”. Đúng thế, vào lúc xẩy ra cuộc họp của Ủy Ban Chung này, ĐGH Gioan Phaolô II đă phổ biến lời kêu gọi mănh liện “tất cả mọi con người nam nữ thiện chí hăy hợp tiếng của ḿnh với của Tôi để lập lại rằng không bao giờ được nhân danh Thiên Chúa để kích động bạo lực hay khủng bố, để phát động hận thù hay loại trừ”.
4. Những bài tŕnh bày nhắm vào giáo huấn căn bản trong các Sách Thánh chúng ta cùng nhau có, những cuốn sách tuyên xưng niềm tin vào Đấng Hóa Công duy nhất và là Vị Hướng Đạo của Vũ Trụ, Đấng đă h́nh thành tất cả mọi con người có ư muốn tự do theo h́nh ảnh Thần Linh của Ngài.
Như thế nhân loại là một gia đ́nh duy nhất có trách nhiệm luân lư đối với nhau. Việc nhận thức thực tại này mang lại trách nhiệm về tôn giáo và luân lư là những ǵ có thể được coi là một bản hiến chương thực sự về các thứ nhân quyền và phẩm giá làm người trong thời đại tân tiến của chúng ta, cũng như cống hiến một nhăn quan đích thực về một xă hội chân chính, một ḥa b́nh và phúc hạnh phổ quát.
5. Chúng ta sống trong một ngôi làng hoàn vũ của những tiến bộ về kỹ thuật và khoa học chưa từng có. Những tiến bộ này trở thành những thách đố cho chúng ta trong việc sử dụng chúng để phục vụ sự thiện và nên ân phúc, chứ không phải phục vụ sự dữ và bị nguyền rủa, không hợp với những ǵ Thiên Chúa muốn. Về vấn đề này, hệ thống truyền thông đại chúng toàn cầu đóng vai tṛ chính yếu trong việc cải tiến. Chúng ta cần phải có tinh thần xây dựng trong việc sử dụng cơ hội này để cải tiến toàn cầu trong vấn đề giữ lấy những khát vọng về đạo giáo và luân lư chung đă được chúng ta đề cập tới trước đây.
6. Cần phải nhấn mạnh là việc đáp ứng thách đố trong vấn đề phát động đức tin tôn giáo trong xă hội đương thời đ̣i chúng ta phải có những tấm gương sống động về đức công chính, ḷng từ ái, sự khoan nhượng và khiêm tốn, hợp với lời của Tiên Tri Mica.
“Ôi con người, ngươi đă từng được cho biết điều ǵ là thiện hảo và những ǵ Chúa muốn nơi ngươi: Thế nhưng ngươi hăy thực hiện đức công chính và yêu chuộng nhân ái, cùng khiêm tốn bước đi với Thiên Chúa của ngươi” (Mic 6:8).
7. Việc giáo dục về đạo giáo có thể cũng như cần phải cống hiến cho con người niềm hy vọng và hướng sống tích cực nơi t́nh đoàn kết của con người cùng với t́nh trạng họ sống ḥa hợp với nhau trong thời đại tân tiến phức tạp của chúng ta đây. Thật thế, chính ḷng tin tưởng vào Thiên Chúađă cống hiến cho chúng ta sự an ninh và niềm vui thực sự, hợp với câu Thánh Vịnh 16: “Tôi luôn đặt Chúa ở trước mặt tôi… và ḷng tôi hân hoan vui sướng” (8-9).
8. Nhất là những vị lănh đạo tôn giáo và các nhà giáo dục tôn giáo có nhiệm vụ đặc biệt trong việc hướng dẫn cộng đồng của ḿnh theo đuổi những đường lối ḥa b́nh cho phúc hạnh của đại đồng xă hội.
Chúng tôi phổ biến lời kêu gọi này cách riêng cho gia đ́nh của Abraham và chúng tôi kêu gọi tất cả mọi tín hữu hăy bỏ khí giới chiến tranh xuống và hủy hoại chúng đi – “để t́m kiếm ḥa b́nh và theo đuổi ḥa b́nh” (Ps 34:15).
9. Là những nhà lănh đạo tôn giáo, chúng tôi xin chia sẻ nỗi đớn đau và buồn thương của tất cả những ai đang chịu khổ ở Thánh Địa ngày nay, cá nhân, gia đ́nh và cộng đồng, cũng như chúng tôi xin bày tỏ cho thấy vị giáo hoàng nhiệt tâm của chúng tôi cùng với những lời nguyện cầu của chúng tôi mong muốn chấm dứt những cuộc thử thách và tai ương xẩy ra nơi mảnh Đất thánh hảo đối với tất cả chúng ta.
10. Sau hết, chúng tôi xin kêu gọi riêng các cộng đồng của chúng tôi, học đường và gia đ́nh, hăy sống với nhau trong sự tương kính và cảm thông, cũng như đào sâu việc học hỏi cùng các giáo huấn của Sách Thánh của chúng tôi, cho việc thăng hóa nhân loại, cho nền ḥa b́nh và công lư hoàn cầu. Nhờ đó, những lời của vị Tiên Tri này sẽ được nên trọn: “và họ sẽ biến gươm kiếm thành lưỡi cầy, và thương đao thành lưỡi hái; nước này sẽ không tuốt gươm chống lại nước kia và họ sẽ không c̣n biết đến chiến tranh là ǵ nữa” (Is 2:4).
Tại Giêrusalem ngày 3/12/2003 (theo Kitô giáo). Tức ngày 8 tháng Kislev năm 5764 (theo Do Thái giáo)
ĐHY Jorge Cardinal Mejia (Lănh đạo
phái đoàn đại biểu Công Giáo)
ĐGM Giacinto-Boulos Marcuzzo
P. Elias Chacour
Pier Francesco Fumagalli
P. Norbert Hofmann S.D.B.
ĐTGM Pietro Sambi
Tôn Sư Shear Yashuv Cohen (Lănh đạo phái đoàn đại biểu Do Thái)
Tôn Sư Rasson Arussi
Tôn Sư David Brodman
Tôn Sư Yossef Azran
Tôn Sư David Rosen
Oded Wiener
Shmuel Hadas
Mẹ Maria và Việc Đối Thoại Liên Tôn với Do Thái Giáo
Nếu Hồi Giáo là một tôn giáo không có liên
hệ với Kitô giáo bằng Do Thái giáo mà có một liên hệ như thế với Mẹ Maria của
chúng ta th́ hẳn Do Thái giáo c̣n có một liên hệ hơn nữa với Mẹ Maria, v́ như
Phật giáo phát xuất từ Ấn giáo thế nào Kitô giáo theo lịch sử cũng bắt nguồn
từ Do Thái giáo như vậy?
ĐTGM chủ tịch các Cuộc Hành Hương tới Ngai Ṭa Phêrô tác giả cuốn “Maria, Mẹ
Ngôi Lời, Mô Phạm của Việc Đối Thoại giữa Các Tôn Giáo”, sau khi cho biết cuốn
Thánh Kinh Koran của Hồi giáo và tín đồ Hồi giáo đối với Mẹ Maria thế nào, đă
cho biết về Do Thái giáo đối với Mẹ như sau.
“’Maria’ và ‘Giêsu’ là những diễn tả của truyền thống thánh kinh cố kính nhất
của Do Thái giáo. Những cội rễ chung giữa con cháu của Abraham và thành phần
môn đệ của Chúa Kitô th́ nhiều hơn là những khác nhau và cách nhau. Nếu truyền
thống Do Thái giáo hiện đại tiến đến biên giới Chúa Kitô, để rồi ngay sau đó,
trở về với các nguồn gốc chung, th́ sẽ có nhiều cơ hội đồng ư với nhau hơn.
Thiên Chúa của Chúa Giêsu cũng chính là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và
của Giacóp, ‘Vị Thiên Chúa của cha ông chúng ta’. Bởi thế, lời diễn tả ‘Tất cả
chúng ta đều có cùng một Vị Thiên Chúa’ là một lời diễn tả hết sức chân thực
cho cả con cái Do Thái lẫn thành phần môn đệ Chúa Kitô. Sinai là ngọn núi
thánh và Giêrusalem là thành thánh cho một dân tộc cũng như cho tất cả mọi dân
tộc”.
Đó là lư do, theo vị TGM này, “những cái khác nhau hiện nay cần phải trở thành
những thứ phụ thuộc cho nhiều điều làm cho chúng ta liên kết với nhau, chẳng
những để biện minh cho vấn đề đối thoại c̣n để thiết lập một bầu khí thân t́nh
nữa. Một cách sâu xa trong tuyên ngôn ‘Nostra Aetate’, Công Đồng Chung
Vaticanô II, sau khi nhấn mạnh đến các nguồn gốc Do Thái của Mẹ Maria, đă ghép
cho Mẹ một danh hiệu mới, khi gọi Mẹ là ‘Người Nữ Tử Sion cao vời’ (Hiến Chế
Lumen Gentium, đoạn 55)”. Đối với việc đối thoại, nhất là vấn đề liên quan tới
nhân vật Maria, ĐTGM tác giả này chủ trương là “việc đối thoại giữa Kitô hữu
và người Do Thái cho đến nay tập trung vào nhân vật Thiên Sai, chỉ lờ mờ nói
đến Mẹ Maria thôi. Thật vậy, Do Thái giáo cũng đang vượt qua giai đoạn tranh
luận, như được lịch sử ghi nhận, cũng như giai đoạn thinh lặng, giai đoạn trải
qua nhiều thế kỷ quanh quẩn với một người phụ nữ được gọi là Myriam. Chẳng hạn
như Avital Wohlmann, vị giáo sư ở Đại Học Giêrusalem, ‘chấp nhận Maria là
người Do Thái nhưng bác bỏ Người là một Kitô hữu’. Thế nhưng hy vọng là từ
trường hợp này Do Thái giáo sẽ tiến hơn nữa. Một chứng từ đáng chú ư về việc
tiến thêm hơn nữa này của họ được thấy nơi Lea Sestieri Scazzocchio, một tác
giả người Do Thái đă coi Mẹ Maria như là ‘một Nữ Tử của dân Do Thái’, ‘một phụ
nữ đạo hạnh không lầm lỗi’, ‘một người đàn bà nhân đức và tận hiến’, một đàn
bà ‘hát cho dân Do Thái’. Ở một trong những tác phẩm của ḿnh, Lea Sestieri đă
kết luận như sau: ‘Phải chăng v́ thế mà Maria là một người mẹ Do Thái? Chắc
chắn là thế, nơi ḷng tin tưởng của bà, nơi nỗi sâu thương thảm thiết trước
cái chết của con ḿnh; cũng như nơi niềm hy vọng thiên sai cao cả nữa’”.
ĐTGM chủ tịch này kết luận: “Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi hướng tín hữu
về gương anh hùng của Thánh Edith Stein, một nữ tu Camêlô thánh thiện nạn nhân
của một Đức Quốc Xă dă man tàn bạo ở Trại Auschwitz, đă nói: ‘Những người Do
Thái và Kitô hữu không thể quên được t́nh huynh đệ chuyên biệt của ḿnh, một
t́nh huynh đệ đă đâm rễ sâu nơi dự án quan pḥng của Thiên Chúa, một t́nh
huynh đệ đă đồng hành với lịch sử của họ. Hỡi Maria, Nữ Tử Sion và là Mẹ Giáo
Hội, cầu cho chúng con!’”.
Người Ả Rập và Do Thái cùng hành hương đến địa điểm của Trại Tế Thần Auschwitz
Ba tháng trước đây, Cha Emile Shoufani, vị linh mục coi xứ ở cộng đồng Công Giáo Hy Lạp Melkite ở Bêlem, đă phát động sáng kiến hành hương này, và nghĩ rằng chắc có khoảng 300 người tham dự là cùng. Thế nhưng, sự kiện đă xẩy ra ngoài dự tưởng. Con số cho thấy có 125 người Ả Rập Do Thái, 25 Kitô hữu, 100 người Hồi Giáo và 135 Do Thái đă ghi danh tham dự cuộc hành hương 4 ngày, bắt đầu từ ngày Thứ Hai 26/5/2003, một cuộc hành hương đến địa điểm Trại Auschwitz, một trong những Trại Tế Thần Do Thái nổi tiếng nhất thời Đức Quốc Xă ở Thế Chiến Thứ Hai, cuộc hành hương không phải chỉ để tưởng niệm một biến cố đau thương đă qua mà là để tiến đến cuộc ḥa giải trong tương lai giữa hai dân tộc Do Thái và Palestine.
Tham dự đoàn hành hương này c̣n có 100 phóng viên, cùng với 200 người Pháp và Bỉ, trong 200 người này đó có 140 người Ả Rập (một nữa số này là Kitô hữu và một nửa là Hồi Giáo). Đoàn hành hương này ngoài việc hành hương tới trại tế thần Auschwitz ở Balan c̣n viếng thăm cả thành phố Wadowice, nơi sinh trưởng của Đức Gioan Phaolô II, vị “ban những giáo huấn và việc dấn thân ḥa giải giữa những ngươiụi Ả Rập và Do Thái đă đánh động tôi”, vị linh mục tổ chức gốc Palestine nhưng có công dân Do Thái này cho biết như thế.
ĐTC với Phái Đoàn Do Thái: “Liên kết với nhau để hoạt động cho ḥa b́nh và công lư trên thế giới”
Sáng nay, 22/5/2003, ĐTC Gioan Phaolô II đă tiếp một nhóm đại diện Hội Nghị Thế Giới Do Thái và Ủy Ban Do Thái Quốc Tế Về Tham Vấn Liên Tôn. Trong bài chia sẻ của ḿnh, ĐTC đă xác định là “Cho dù thế giới ngày nay có bị đánh dấu bằng bạo lực, đán áp và khai thác th́ những thực tại này cũng không phải là những ǵ nói lên phán quyết cuối cùng về định mệnh của thế giới chúng ta. Thiên Chúa hứa hẹn một Trời Mới và một Đất Mới. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa sẽ lau khô tất cả mọi giọt nước mắt, và không c̣n than van đau khổ nữa. Người Do Thái và Kitô hữu tin rằng cuộc sống của chúng ta là một cuộc hành tŕnh tiến tới chỗ hoàn tất những lời hứa hẹn của Thiên Chúa. Theo chiều hướng của gia sản tôn giáo chung phong phú của ḿnh, chúng ta có thể coi thời hiện đại đây như là một cơ hội thử thách cho những nỗ lực liên kết với nhau để hoạt động cho ḥa b́nh và công lư trên thế giới. Việc bênh vực phẩm giá của hết mọi người được dựng nên theo h́nh ảnh và tương tự Thiên Chúa là lư do liên kết tất cả mọi tín hữu lại với nhau. Loại cộng tác cụ thể này giữa Kitô hữu và Do Thái hữu đ̣i phải có ḷng can đảm và nhăn giới, cũng như cần phải có ḷng tin tưởng rằng chính Thiên Chúa là Đấng làm cho nỗ lực của chúng ta phát sinh thiện hảo”.
ĐTC nhận thấy tiến bộ nơi việc hiểu biết giữa
Công Giáo và Do Thái
Hôm nay, Thứ Sáu 14/2/2003, ĐTC đă tiếp vị tôn sư trưởng ở Rôma là Riccardo Di
Segni cùng với các vị tôn sư và lănh đạo Do Thái khác trong thành Rôma. Đây là
lần đầu tiên vị tân tôn sư trưởng này đến thăm ĐTC sau khi lănh đạo cộng đồng Do
Thái hơn một năm qua. Vị tiền nhiệm của ông là tôn sư Elio Toaff, một người bạn
của Đức Gioan Phaolô II.
Trong cuộc gặp gỡ này, ĐTC đă nhấn mạnh đến “ước muốn thiết tha được thấy Giáo
Hội Công Giáo nuôi dưỡng việc thắt chặt t́nh thân hữu và sự hợp tác hỗ tương với
cộng đồng Do Thái một cách sâu đậm hơn”. ĐTC cũng nhắc đến chuyến viếng thăm
“lịch sử không thể nào quên được” mà Ngài đă thực hiện năm 1986 tại hội đường Do
Thái ở Rôma. Biến cố ấy, “một tặng ân của Đấng Toàn Năng”, nói lên “một giai
đoạn quan trọng trên con đường hướng tới việc hiểu biết nhau giữa những người Do
Thái và Công Giáo. ĐTC nh́n nhận là trong quá khứ hai cộng đồng này hận thù nhau.
Thế nhưng, Ngài nói rằng việc từ từ áp dụng bản văn của Công Đồng Chung Vaticanô
II về vấn đề Giáo Hội với các tôn giáo không phải Kitô Giáo, Nostra Aetate, cùng
với những cử chỉ thân hữu giữa hai cộng đồng “đă góp phần hướng dẫn những mối
liên hệ của chúng ta hướng tới việc hiểu biết nhau hơn nữa”.
Đối Thoại Liên Tôn Với Do Thái Giáo
Màn Điện Toán Zenit ngày Thứ Hai 27/1/2003 đă phổ biến cuộc phỏng vấn sau đây về diễn tiến đối thoại giữa Do Thái Giáo và Công Giáo như sau với Cha Norbert Hofmann, ḍng Don Bosco, vị trong hai tháng vừa qua, đă giữ vai tṛ thư kư của Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, lo vấn đề liên hệ với những người Do Thái. Vị linh mục này có phận sự phác họa chương tŕnh cho các hội nghị và quan tâm đến các trung tâm trao đổi giữa Công Giáo và Do Thái Giáo, cũng như các công việc khác trong việc cải tiến và phát động việc họp hội giữa các tôn giáo.
Vấn Chúng ta có thể lạc quan về vấn đề trao đổi đối thoại giữa những người Do Thái và Công Giáo chăng?
Đáp Để mở đầu, tôi cần phải nói với quí vị rằng, là một tu sĩ ḍng Don Bosco, lúc nào tôi cũng lạc quan. Ngoài ra, trong 40 năm đối thoại trao đổi với những người Do Thái chúng ta đă thấy được nhiều tiến bộ. Trước Công Đồng Chung Vaticanô II th́ không thể nào nghĩ tới điều này; không có một tiến bộ nào cả. Điều đáng chú trọng nhất là việc đối thoại trao đổi này đă tiến tới cấp độ quốc tế. Chẳng hạn, như chúng ta biết, ở Hoa Kỳ đă có lệ gặp gỡ giữa những người Công Giáo và Do Thái Giáo. Cái mới mẻ là ở chỗ việc đối thoại trao đổi này đang xẩy ra ở các cấp độ khác nhau, như với thành phần Do Thái Chính Thống, với thành phần cực chính thống, với thành phần Bảo Thủ, và với thành phần thuộc Phong Trào Cải Cách Hội Đường.
Vấn Có việc nào được thực hiện ở cấp độ chung hay chăng?
Đáp Có một công việc đáng được nhắc đến, đó là Tiểu Ban Do Thái Quốc Tế Đặc Trách Tham Vấn Về Liên Tôn. Từ năm 1970, chúng tôi đă thành lập việc đối thoại trao đổi theo cơ cấu với nhóm của các tổ chức này. Hai hay ba năm chúng tôi tổ chức hội nghị một lần. Mấy ngày nữa, vị giám đốc của tổ chức này sẽ đến để tổng kết các chi tiết về cuộc hội nghị mới. Uũy Ban Ṭa Thánh Về Liên Hệ Tôn Giáo Với Những Người Do Thái và Tiểu Ban Quốc Tế này làm thành một Tiểu Ban Giao Liên Quốc Tế Giữa Công Giáo Và Do Thái, một tiểu ban đă phổ biến những bản tuyên cáo chung rất đáng chú ư về các vấn đề như gia đ́nh, môi sinh và việc bảo vệ quyền tự do tôn giáo cũng như bảo vệ các nơi thánh.
Vấn Có xẩy ra những khó khăn nào trong cuộc đối thoại trao đổi này hay chăng?
Đáp Đôi khi chúng tôi hy vọng nói đến những tranh luận về thần học, nhưng chúng tôi phải nh́n nhận là khó thực hiện. Vấn đề dễ dàng hơn nhiều khi tập trung vào các vấn đề chung về xă hội, như vấn đề văn hóa, gia đ́nh, sự sống là tặng ân của Thiên Chúa, việc bảo vệ môi sinh như là những ǵ được Thiên Chúa dựng nên. Những khó khăn càng nhiều hơn về lănh vực tín lư và đỡ hơn về vấn đề luân lư. Một điểm khó khăn khác nữa là, trong một số trường hợp, chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta có rất nhiều điều tương đồng với người Do Thái mà quên đi rằng cũng có những cái khác nhau trọng yếu và sâu xa. Chẳng hạn, người Công Giáo chúng ta nghĩ rằng Thành Kinh Cựu Ước của chúng ta giống như của người Do Thái song lại không phải như vậy. Chúng ta có thêm một số sách nữa, được gọi là Ngoại Thư, ngoài ra, việc giải thích của chúng ta rất khác với của các vị tôn sư. Chúng ta cần phải ư tứ và đừng lẫn lộn.
Vấn Cha có nhận thấy những tổ chức Do Thái tái trở lại với vấn đề muốn cởi mở đối thoại trao đổi với Giáo Hội Công Giáo hay chăng?
Đáp Khuynh hướng này là một khuynh hướng hỗ tương. Điều xẩy ra là những người Do Thái rất để ư đến việc họ đang nói chuyện với Ṭa Thánh Vatican, song chúng ta lại không có một phát ngôn nhân duy nhất nào của Do Thái để nói với cả. Do Thái Giáo có nhiều nhóm khác nhau, và điều này đă tạo nên cho chúng ta một sự khó khăn nào đó. Điều mừng là đă bắt đầu có những liên hệ với Ṭa Đại Tôn Sư ở Giêrusalem. Đó là một dấu hiệu tốt hiện lên trong những khó khăn về chính trị hiện nay. Cuộc gặp gỡ này sẽ xẩy ra ở cả cấp độ Giáo Hội Công Giáo địa phương cũng như ở cấp độ quốc tế với Ṭa Thánh Vatican. Đó là một thành quả rất phấn khởi phát xuất từ sau cuộc viếng thăm Do Thái của Đức Giáo Hoàng trong Năm Thánh 2000. Tôi nghĩ đó là một dấu hiệu hy vọng cả thể theo ơn quan pḥng.
Vấn Việc tranh căi liên tục về vấn đề được gọi là im lặng của Đức Piô XII (đối với việc cứu những người Do Thái khỏi bị Hitler thảm sát) có làm mờ mịt việc đối thoại trao đổi này hay chăng?
Đáp Những cuộc tranh căi về Đức Piô XII đă lắng xuống rất nhiều. Chúng rất căng thẳng trong năm 2001, nhất là v́ vụ đổ vỡ của Uũy Ban Nghiên Cứu Chung của Những Người Do Thái và Công Giáo. Mặc dù cuộc tranh căi này đă lắng xuống, việc phong chân phước cho Đức Piô XII vẫn có thể là một trở ngại cho việc phát động cuộc đối thoại trao đổi. Tuy nhiên, với t́nh trạng tiến bộ cho tới nay, chúng ta không thể lùi bước được nữa. Vào ngày 15/2 tới đây, Ṭa Thánh Vatican sẽ công khai mở văn khố mật chứa đựng các thư tín trao đổi giữa Ṭa Thánh và ṭa khâm sứ ở Bá Linh cũng như Giáo Hội ở Munich trong những năm khốn khó nhất với chế độ Nazi. Chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề này.
Vấn Chúng ta có thể nói thế này hay chăng, giáo triều hiện nay đă trở thành một giáo triều dũng cảm nhất trong lịch sử đối với vấn đề liên hệ với thế giới Do Thái?
Đáp Đức Giáo Hoàng này chắc chắn đă thiên về việc đối thoại trao đổi, có lẽ là do kinh nghiệm bản thân của Ngài. Đức Gioan Phaolô II đă trải qua cảm nghiệm của cuộc diệt chủng Do Thái ở Ba Lan và lúc nào cũng tranh đấu cho việc ḥa giải. Vào những lần viếng thăm khắp thế giới của ḿnh, Đức Giáo Hoàng đă luôn luôn để ư tới việc gặp gỡ các vị đại diện Do Thái. Ngài là vị Giáo Tông đầu tiên trong lịch sử viếng thăm Hội Đường Do Thái ở Rôma năm 1986. Trong khi ở đó, Ngài đă gọi những người Do Thái là “những vị sư huynh trong đức tin Abraham”. Đó là những dấu hiệu tỏ tường cho thấy Ngài cảm mến dân chúng Do Thái. Thật là cảm động đối với một người Do Thái khi thấy Vị Giáo Hoàng này cầu nguyện tại Bức Tường Khóc ở Thánh Địa trong cuộc viếng thăm của Ngài hồi Tháng Ba năm 2000. Và chúng ta cũng đừng quên rằng trước đây Ngài đă xin lỗi về tất cả những ǵ sai lầm Giáo Hội đă phạm đến dân chúng Do Thái. Chắc chắn đó là một dấu hiệu rất mănh liệt. Đức Gioan Phaolô II là một dấu hiệu tỏ tường cho vấn đề cổ vơ đối thoại trao đổi giữa những người Do Thái và Công Giáo vậy.
Bản Tuyên Cáo của Công Giáo và Do Thái Giáo
về Sự Sống Con Người cũng như về Những Giá Trị Gia Đ́nh
Sau cuộc họp sơ khởi ở Giêrusalem hôm 5/6/2002, những vị đại biểu cao cấp của Ủy Ban Ṭa Thánh về Những Liên Hệ Tôn Giáo với Người Do Thái và của Văn Pḥng Tôn Sư Trưởng của Do Thái đă gặp nhau ở Grottaferrata gần Rôma ngày 23-27/2/2003, cả hai đă phổ biến một bản tuyên cáo chung vào chiều ngày Thứ Hai 3/3/2003. Bản tuyên cáo này được viết bằng tiếng Anh và đề ngày 26/2/2003, với chữ kư của Tôn Sư Ratzon Arrusi, Tôn Sư David Brodman, Oder Wiener và Shmuel Hadas về phía đại biểu Do Thái, và ĐGM Giacinto-Boulos Marouzzo, Cha George Cottier, OP, Cha Elias Shacour, Đức Ông Pier Francesco Fumagalli, Cha Norbert Hofmann, SDB, và TGM Pietro Sambi, khâm sứ ṭa thánh ở Do Thái về phía đại biểu Công Giáo.
“Chúng tôi đang đối thoại với nhau với
tư cách là con người tin tưởng có cùng những gốc rễ thiêng liêng và gia sản.
Việc đối thoại tự nó có giá trị và không có ư hướng nào về vấn đề trở lại đạo cả.
Chúng tôi chú trọng đến những truyền thống khác nhau của chúng tôi và tôn trọng
cái khác của nhau.
Sau đây là phần riêng về sự sống con người cùng với các giá trị về gia đ́nh:
“Sự Thánh Hảo của Sự Sống Con Người. Sự sống con người có một giá trị chuyên nhất và cao cả nhất trong thế giới của chúng ta đây. Bất cứ nỗ lực nào muốn hủy diệt sự sống con người đều phải được loại trừ, và cần phải hết sức nỗ lực để cổ vơ các thứ nhân quyền, t́nh đoàn kết nơi tất cả loài người, tôn trọng tự do lương tâm
“Động lực tôn giáo chung của chúng tôi đối với niềm xác tín chính yếu này được căn cứ vào lời thánh kinh cho thấy con người được tạo dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa hằng sống, tưởng tự như Ngài. Thiên Chúa là Đấng Thánh và là Đấng Tạo Dựng sự sống con người, và con người được chúc phúc và thắt buộc với sự thánh thiện của Ngài. Thế nên hết mọi sự sống con người đều thánh hảo, linh hóa và bất khả phạm.
“Việc bảo vệ sự sống con người là thành quả hiển nhiên về luân thường đạo lư của niềm xác tín này. Hết mọi tín hữu, nhất là các vị lănh đạo tôn giáo, phải hợp tác với nhau để bảo vệ sự sống con người. Bất cứ điều ǵ phạm đến sự sống con người đều đi ngược lại với ư muốn của Thiên Chúa, là tục hóa Danh Thiên Chúa, trực tiếp phản lại giáo huấn của các vị tiên tri. Việc lấy mạng sống con người, kể cả chính bản thân ḿnh, cho dù nhân danh Thiên Chúa, đều là những ǵ bất kính.
“Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh, nhất là trong sứ điệp cho Ngày Thế Giới Ḥa B́nh 2002, là không một vị lănh đạo tôn giáo nào có thể coi thường việc khủng bố (bất cứ ở đâu) trên thế giới. Thật là tục hóa tôn giáo khi cho ḿnh là một tay khủng bố nhân danh Thiên Chúa, bạo lực với kẻ khác nhân danh Ngài. Việc bạo động khủng bố khắp nơi trên thế giới là t́nh trạng tương phản với niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng nên con người, Đấng chăm sóc con người và yêu thương con người.
“Chúng ta không được ra tay sát hại nhân danh Thiên Chúa là Đấng đă truyền ‘Các ngươi không được giết hại’, tránh việc lạm dụng tôn giáo một cách cuồng tín hay bạo động, như các vị lănh đạo Do Thái, Kitô Hữu và Hồi Giáo đă công bố trong bản tuyên cáo chung Alexandria (1/2002).
“Tất cả mọi nhà giáo dục phải củng cố nỗ lực của ḿnh trong việc phác họa những chương tŕnh giáo dục giới trẻ trong việc tôn trọng giá trị cao cả nhất nơi sự sống con người. Trước khuynh hướng bạo lực và sát hại hiện nay trong các xă hội của ḿnh, chúng ta cần phải duy tŕ việc hợp tác với các tín hữu của tất cả mọi tôn giáo cũng như với tất cả mọi người thiện tâm trong việc cổ vơ một thứ ‘văn hóa sự sống’.
“Đời sống gia đ́nh. Cơ cấu gia đ́nh phát xuất từ ư muốn của Đấng Toàn Năng, Đấng dựng nên con người theo h́nh ảnh Thiên Chúa; ‘Ngài đă dựng nên họ có nam có nữ’. Theo quan điểm tôn giáo th́ hôn nhân có một giá trị cao cả v́ Thiên Chúa đă chúc lành cho việc hiệp nhất này và thánh hóa nó.
“Gia đ́nh và mối hiệp nhất gia đ́nh tạo nên một hoàn cảnh ấm cúng và an toàn cho việc nuôi dưỡng con cái và bảo đảm cho việc giáo dục xứng hợp của chúng theo truyền thống và niềm tin. Mối hiệp nhất gia đ́nh là nền tảng cho toàn thể xă hội.
“Cuộc cách mạng về điện tử và truyền thông đại chúng chắc chắn đă mang lại nhiều đổi thay trong xă hội. Tuy nhiên, đồng thời cũng quá thường làm lan tràn những ảnh hưởng tiêu cực về hành vi cử chỉ của xă hội. Người lớn cũng như giới trẻ đều bị phô bày cho thấy những khía cạnh méo mó và tệ hại của đời sống, như vấn đề bạo động và khiêu dâm. Là những vị lănh đạo tôn giáo, chúng ta phải đối đầu với những biến chuyển gây hủy hoại ấy.
“Hơn bao giờ hết, chúng ta buộc phải thực hiện việc giáo dục ở gia đ́nh cũng như ở học đường về những giá trị của gia đ́nh theo truyền thống tôn giáo phong phú của chúng ta. Cha mẹ phải giành nhiều giờ hơn nữa để tỏ t́nh yêu thương con cái ḿnh và hướng dẫn chúng tỏ ra những thái độ tích cực. Trong số những giá trị quan trọng gia đ́nh, chúng ta phải nhấn mạnh đến t́nh yêu thương, ḷng vị tha, việc chăm sóc sự sống và trách nhiệm hỗ tương đối với con cái và gia mẹ”
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo tài liệu của VIS 4/3/2003
29/1/2002, Thứ
Ba. ĐTC thôi thúc mối liên hệ mới giữa Do Thái Giáo và Giáo Hội Công Giáo:
“Người Do Thái và Kitô Hữu vốn có những liên hệ đặc biệt. Sứ điệp của Vị Thiên
Chúa Giáo Ước gửi cho chúng ta qua Moisen, qua các vị tổ phụ và tiên tri, đều
thuộc về gia sản chung của chúng ta và kêu gọi chúng ta hợp tác với nhau”. Hôm
nay là ngày chấm dứt cuộc họp đầu tiên giữa các vị lănh đạo Do Thái Giáo và
Công Giáo ở Âu Châu. Cuộc họp hai ngày ở Paris này được tổ chức bởi Hội Đồng
Do Thái Âu Châu, với chủ đề tâm niệm là: “Sau Công Đồng Chung Vaticanô II:
Những Tiến Triển Liên Hệ Giữa Người Do Thái và Công Giáo Dưới Giáo Triều Đức
Gioan Phaolô II”. ĐTC đă gửi cho cuộc họp này một sứ điệp hoan hô tinh thần
của nó, một tinh thần được Ngài cho là tiếp nối tinh thần của Ngày Liên Tôn
Hội Ngộ Cầu Cho Ḥa B́nh Thế Giới hôm Thứ Năm tuần trước. ĐTC đă đề nghị lấy
Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” của Công Đồng Chung Vaticanô II để làm địa bàn cho
mối liên hệ mới giữa Công Giáo và Người Do Thái. Bức thư của ĐTC được ĐHY
Walter Kasper, chủ tịch Ủy Ban Liên Hệ Tôn Giáo Với Người Do Thái của Ṭa
Thánh, đọc tại Sảnh Đường Balê Tỉnh.
“Sau những biến cố đau thương đánh dấu lịch sử Âu Châu, nhất là trong thế kỷ
20, cần phải khôn ngoan theo hướng động mới trong mối liên hệ của chúng ta, để
truyền thống tôn giáo vốn ảnh hưởng đến văn hóa và sinh hoạt của Địa Lục này
được tiếp tục làm hồn sống của nó. Chúng ta cần phải truyền đạt những bảo vật
và giá trị chung cho những thế hệ mới, để con người không bao giờ c̣n khinh
thường anh em nhân loại của ḿnh nữa, và những cuộc chiến tranh cùng xung đột
không bao giờ c̣n bùng nổ nhân danh một thứ ư hệ coi thường văn hóa hay tôn
giáo. Ngược lại, các truyền thống tôn giáo khác nhau được kêu gọi để mang gia
sản của ḿnh ra phục vụ cho tất cả mọi người, với niềm hy vọng cùng nhau xây
đắp một ngôi nhà Âu Châu chung trong công lư, thái ḥa, b́nh đẳng và hợp đoàn.
Người Do Thái và Kitô Hữu vốn có những liên hệ đặc biệt. Sứ điệp của Vị Thiên
Chúa Giáo Ước gửi cho chúng ta qua Moisen, qua các vị tổ phụ và tiên tri, đều
thuộc về gia sản chung của chúng ta và kêu gọi chúng ta hợp tác với nhau”.
Sứ điệp của ĐTC được các vị lănh đạo Do Thái Giáo nhiệt liệt tán thành. Ngài
được một phát ngôn viên Do Thái gọi là “Vị Giáo Ḥang Ḥa Giải” giữa các phần
tử của hai niềm tin. Vị nguyên chủ tịch của Hội Đồng Do Thái Âu Châu là Henri
Hajdenberg đă cho biết Đức Gioan Phaolô II “đă hiểu được chiều kích của hai
biến cố quan trọng nhất thế kỷ 20 đối với người Do Thái, đó là biến cố Thiêu
Tế và biến cố tái sinh của quốc gia Do Thái”. Cuộc họp này được điều hợp bởi
vị nguyên chủ tịch này, nhắm đến việc phân tích cuộc tiến hóa nơi mối liên hệ
giữa Người Do Thái và Công Giáo, nhất là đưới giáo triều của Đức Gioan Phaolô
II.
Trong số tham dự viên có những nhân vật quan trọng sau đây: ĐHY Walter Kasper,
chủ tịch Ủy Ban Liên Hệ Tôn Giáo Với Người Do Thái của Ṭa Thánh; ĐHY
Jean-Marie Lustiger, TGM Paris; nguyên Đại Tôn Sư Rene Samuel Sirat ở Pháp
Quốc; và Đại Tôn Sư Pinchas Goldschmidt ở Moscow. Có khoảng 900 người quyết
tâm theo đuổi việc đối thoại giữa Do Thái và Công Giáo đă tham dự phần khai
mạc tối Thứ Hai, một nghi thức khai mạc được kết thúc bằng việc tôn vinh các
vị đi tiên phong trong cuộc đối thoại này, kể từ Thế Chiến Thứ Hai đến nay.
ĐHY Lustiger, vị sinh ra từ một gia đ́nh Do Thái gốc Balan, đă phát biểu:
“Chúng ta đă tiến đến một giây phút lịch sử mà cuộc đối thoại đích thực bị
gián đoạn 2000 năm nay lại được tái diễn”. ĐTGM Paris này cũng hy vọng rằng
Kitô Hữu và Do Thái Hữu không chỉ bằng ḷng với việc giải quyết “những tranh
căi không ngừng tái diễn” mà c̣n đi xa hơn nữa trong việc cùng nhau đối diện
với những vấn đề thần học quan trọng đối với cả hai, như vấn đề về “tội lỗi,
đau khổ, ơn tuyển chọn, và ơn cứu chuộc”. Đại Tôn Sư Sirat, một trong những vị
lănh đạo tôn giáo đọc bản Tuyên Ngôn Ḥa B́nh của Liên Tôn tại Assissi ngày
24/1 vừa qua, đă lên tiếng kêu gọi cộng đồng Do Thái làm sao để nám lấy “thời
cơ lịch sử” chất chứa nơi cuộc đối thoại này: “Đây không phải là lúc khóa trái
những cánh cửa của khu vực tri thức và tâm linh lại như một số người muốn
chúng ta sống như vậy”. C̣n vị Đại Tôn Sư ở Moscow cho biết rằng ĐGH “đă bắt
đầu vẽ ra một con đường mẫu mực cho nhiều người, những vị lănh đạo tôn giáo
cũng như dân sự ở Đông Âu. Từ biến cố sụp đổ của Cộng Sản đến nay, cả ở Nga Sô
cũng như các quốc gia hậu Cộng Sản khác, chưa từng thấy có một cuộc t́m kiếm
sự thật về lịch sử và luân lư tương tự như thế”.