Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc

2005

 tại Hội Nghị Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế: “Hăy đặt con người ở tâm điểm của mọi cuộc phát triển và chính sách giao dịch

về Xă Hội Thông Tín

về Vấn Đề Tị Nạn

về Vấn Đề Phát Triển Khả Thủ

về Việc Tưởng Niệm Diệt Chủng Do Thái

về T́nh Trạng Khốn Khổ của Kitô Hữu Palestine

về Vấn Đề “Nữ Giới 2000: Sự B́nh Đẳng Giống Tính, Phát Triển và Ḥa B́nh trong Thế Kỷ 21

về “Những vấn đề liên quan tới việc thông tín”.

về “Tầm Quan Trọng của Việc Chăm Sóc Bản Thân, Môi Sinh và Đồng Bạn”

về việc Bênh Vực Người Tị Nạn

về Năm Người Già

về Vấn Đề Giải Giới

tại Cuộc Tranh Luận Chung Phiên Họp Thứ 60 của Tổng Hội Đồng LHQ

về Hiệp Ước Cấm Thử Nguyên Tử NTBT (Nuclear Test Ban Treaty)

dịp Thượng Nghị 60 Năm Thành Lập: “Nhiều việc vẫn cần phải được thực hiện

về Những Bài Học Từ Cuộc Biển Động Sóng Thần Tsunami

về Vấn Đề Các Loại Vơ Trang Nhỏ và Các Thứ Vũ Khí Nhẹ

về Vấn Đề Giảm Nợ Nần Quốc Tế

ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi cho UNESCO, Cơ Quan LHQ đặc trách về Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa

về Vấn Đề Giải Giới Nguyên Tử

dịp Kỷ Niệm 60 Năm Chấm Dứt Thế Chiến Thứ Hai

về vấn đề Ngăn Ngừa Tội Ác và Xử Lư Tội Ác

về Những Vấn Đề Phi Châu

về Thân Vị Nữ Giới 10 năm sau Hội Nghị Nữ Giới Quốc Tế ở Bắc Kinh 1995

về Vấn Đề Phát Triển

 dịp Kỷ Niệm 60 Năm Giải Tỏa Các Trại Giam của Đảng Nazi

 

Ṭa Thánh tại Hội Nghị Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế: “Hăy đặt con người ở tâm điểm của mọi cuộc phát triển và chính sách giao dịch

 

Sau đây là bài diễn từ của vị Đại Diện Ṭa Thánh là ĐTGM Silvano Tomasi, vị lănh đạo phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh, cho khóa họp chung (13-18/12/2005) của Hội Nghị Bộ Trưởng lần thứ tư của Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, ở Hồng Kông.

 

Phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh muốn bày tỏ ḷng tri ân với vị trưởng điều hành của miền quản trị đặc biệt Hồng Kông, với vị bí thư ngành thương mại, kỹ nghệ và kỹ thuật, cũng như với nhân dân Hồng Kông về sự tử tế tiếp đón cùng chúc mừng họ về những sắp xếp tuyệt hảo đă thực hiện cho cuộc hội nghị này. Chúng tôi cũng cảm nhận vị chủ tịch của Tổng Hội Đồng cũng như vị tổng giám đốc của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới về những nỗ lực của họ trong suốt thời gian sửa soạn.

 

Các quốc gia phần tử không thể nào tiến tới chỗ chính yếu đồng ư trước cuộc hội nghị Hồng Kông này. Giờ đây, mục tiêu là soạn thảo một văn kiện có thể cống hiến những hướng dẫn để tiếp tục những cuộc bàn luận. Những khó khăn hiện lên ở vào lúc thực hiện những nhượng bộ theo những điều hướng dẫn được thiết lập bởi Bản Tuyên Ngôn Doha cũng như theo quyết định được Tổng Hội Đồng chấp thuận hôm 1/8/2004 (2004 July Package [WT/L/579, 2 August 2004])..

V́ những khó khăn này cuối cùng không thể nào thắng vượt nổi, chúng vẫn là một cơ hội để khảo sấ kỹ lưỡng hơn nữa những nội dung của bản tuyên ngôn được đề cập tới trên đây cũng như của khóa họp thuận lợi cho vấn đề phát triển. Những nội dung này bởi thế cần phải được chú trọng tới nơi mỗi một và hết mọi sự đồng ư mới, để đạt được “một hệ thống thương mại đa phương phổ quát, theo luật phép, cởi mở, bất kỳ thị và công bằng, một hệ thống có thể thực sự làm gia tăng việc phát triển toàn cầu” (United Nations, A/RES/60/1, 2005 World Summit Outcome, N. 27.).

Mấy ngày trước đây, trong sứ điệp gửi cho hội nghị thường niên của Tổ Chức Lương Nông, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nói về cuộc họp của Tổ Chứa Thương mại Thế Giới này, khi viết: “Vào ít hôm nữa đây, nhiều tham dự viên ở hội nghị này sẽ đến họp ở Hồng Kông về những thương thảo liên quan tới vấn đề thương mại thế giới, nhất là liên quan tới các thứ nông sản. Ṭa Thánh tin tưởng rằng sẽ có được một cảm quan trách nhiệm và đoàn kết với thành phần bất hạnh nhất, nhờ đó, loại trừ đi những thứ lợi lộc hẹp ḥi và thứ lư lẽ của quyền lực. Không được quên rằng tính cách dễ bị tổn thương của những vùng quê đang có những âm vang đáng kể nơi sự tồn tại của các nông gia nhỏ bé vầgia đ́nh của họ, nếu họ bị bị chối bỏ không được tham gia vào thị trường” (Benedict XVI at the 33rd Conference of FAO, Nov. 24, 2005).

 

Ṭa Thánh nhận thấy cái ích lợi của một hệ thống đa phương công bằng và tham phần của những liên hệ thương mại nhắm đến việc chiếm đạt và phát triển công ích. Cần phải lấy tinh thần đoàn kết giữa tất cả các quốc gia và dân tộc thay thế cho việc liên lỉ tranh giành nhắm mục đích chiếm đạt và bênh vực những vị thế đặc lợi trên cầu trường thương vụ thế giới. Chế độ bảo vệ nền công nghiệp trong nước là những ǵ quá thường thuận lợi cho những thành phần đặc lợi của xă hội. Trái lại, chế độ tăng bội lên một cách hiệu nghiệm là một tiến tŕnh hàm chứa công nhận rằng ở cốt lơi của tất cả mọi liên hệ về xă hội và kinh tế, và v́ thế của cả các thứ liên hệ về thương vụ, chính là con người với phẩm giá và các thứ nhân quyền bất khả nhượng của họ. Thế nên, một hệ thống thương mại theo luật lệ, hay đúng hơn, một hệ thống công bằng theo luật lệ thương mại là những ǵ bất khả thiếu.

 

Cần phải h́nh thành một hệ thống cộng bằng về các qui luật thương mại theo cấp độ phát triển kinh tế của các quốc gia phần tử và cống hiến việc hoàn toàn hỗ trợ và việc đối xử đặc biệt riêng tư đối với các quốc gia nghèo khổ nhất. Khi các cấp độ phát triển của các phần tử quá ư là bất quân b́nh th́ việc đồng thuận của các phần tử vẫn không đủ để bảo đảm tính cách công chính của việc thỏa thuận ấy: “những liên hệ về thương mại không c̣n có thể được dựa vào duy nguyên tắc tranh đoạt tự do phi kiểm soát, v́ nó rất thường tạo nên một thứ độc đoán về kinh tế. Việc thương mại tự do chỉ có thể được gọi là chính đáng khi nó hợp với những đ̣i hỏi của công lư xă hội” (Paul VI, "Populorum Progressio," No. 59).

 

Ngoài ra, vấn đề công lư nơi các qui luật về thương mại ngày nay bị trục ttrặc là v́ những qui luật ấy có khuynh hướng ban các đặc lợi nhiều hơn cho những ai nắm được quyền lực về kinh tế hơn. Một hệ thống công bằng về các qui luật thương mại là một thiện ích quốc tế chung. Thiếu một hệ thống công bằng về qui luật thương mại th́ thành phần yếu kém ở những quốc gia đang phát triển và phát triển sẽ bị “rơi vào cái bẫy nghèo khổ”. Thật vậy, nhiều quốc gia nghèo đang gặp trở ngại trong việc gặt hái những thiện ích của những cơ hội mới được cống hiến từ một tân viễn cảnh.

 

Những cải cách về thương mại, về ngắn hạn, có thể mang lại cho các quốc gia nghèo khổ nhất những giá thích ứng phải trả có thể gây ra ảnh hưởng tai hại cho đời sống công dân của họ. Các qui luật thương mại quốc tế cần phải giúp cho các chính quyền có thể chấp nhận những biện pháp cần thiết trong việc giảm thiểu các giá phải trả về xă hội của vấn đề tự do hóa mậu dịch. Thật vậy, việc đạt lợi toàn cầu từ vấn đề tự hóa hóa mậu dịch cần phải mang lại “vấn đề bù đắp cho thành phần bị thua thiệt”.

 

Đường lối này hợp với mối quan tâm đặt con người ở tâm điểm của mọi việc phát triển và chính sách mậu dịch, nh́n nhận rằng chỉ bằng việc thăng tiến khả năng của cá nhân, khi giúp mọi người và mọi nhóm xă hội có được những cơ hội tốt nhất do việc tự hóa hóa mậu dịch mang lại, mới có thể áp dụng một thứ mậu dịch công b́nh về tương ích.

 

Mở đường cho những thứ thị trường mới là những ǵ cống hiến cho một cơ hội thực sự cho các nước đang trên đà phát triển và là một yếu tố quan trọng của tiến tŕnh phát triển; tuy nhiên, tự ḿnh nó vẫn không phải là điều kiện để cứu các quốc gia ra khỏi cảnh nghèo khổ. Các quốc gia nghèo cần phải được trang bị để nắm được cơ hội ấy. Thiếu hạ tầng cơ sở thích hợp để tham gia vào các thị trường, vào việc xây dựng khả năng con người, th́ bất cứ một quốc gia nào có thể hưởng lợi từ việc mậu dịch.

 

Một thứ sáng kiến quảng đại “Trợ Giúp về Mậu Dịch” cần phải là những ǵ khả đoán, đặc biệt, được kiểm tra và gây phấn khích quốc gia. Về vấn đề này, cần phải cứu xét tới việc cung cấp cho các quốc gia đang phát triển những thứ tài trợ cần thiết để giải quyết những tốn phí điều chỉnh xuất phát từ những việc thương luận ở Doha cũng như từ những giới hạn về mặt cung cấp của những cuộc thương thảo ấy. Thật vậy, những nền kỹ nghệ yếu kém khẩn trương cần được giúp đỡ để cải tổ khả năng cung cấp của họ cùng với hạ tầng liên quan tới mậu dịch của họ, để họ có thể biến việc giao dịch thị trường được cải tổ thành việc gia tăng những thứ xuất cảng.

 

Hệ thống mậu dịch quốc tế cần phải bảo đảm một mối hợp tác thực sự dựa vào những liên hệ b́nh đẳng và hỗ tương giữa các quốc gia giầu có và nghèo khổ. Hệ thống Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế cần phải khuyến khích việc tham gia của tất cả các quốc gia, nhất là những quốc gia bất hạnh nhất, trong tiến tŕnh thương thảo. Các thứ qui luật về mậu dịch cần phải được tất cả thương luận, cho tất cả được lợi ích và được tất cả gắn bó, tránh đi việc quyết định khép kín thiếu minh bạch và thiếu dân chủ là những ǵ cần thiết cho việc tham gia của thành phần yếu kém và không có tiếng nói. Lợi lộc nhờ đó mang lại cho các quốc gia đang phát triển sẽ nhiều hơn, vững chắc và dẫn họ tới chỗ tự tin.

 

Tự do mậu dịch tự nó không phải là cùng đích mà là phương tiện cho mức sống được tốt đẹp hơn và cho việc phát triển nhân bản của dân chúng ở mọi tầng lớp. Mục đích chung của các sản vật trên thế gian này bao gồm việc thành phần nghèo nàn và sống bên lề xă hội được quan tâm đến đặc biệt hơn (Cf. Compendium of the Social Doctrine of the Church, I. 182, Pontifical Council for Justice and Peace [2004]). Các việc trao đổi mậu dịch cần phải làm sao giúp cho tất cả mọi người có thể được hưởng những sản vật ấy.

 

Bởi thế, những dịch vụ thiết yếu như sức khỏe, giáo dục, nước, và thực phẩm không phải là những sản vật b́nh thường, v́ người công dân không thể nào không sử dụng chúng mà không tác hại cho bản thân họ và gây tổn hại lớn cho xă hội. Mặc dù là thường cần thiết, việc viện trợ lương thực có thể dẫn đến những hậu quả vô t́nh trong việc không củng cố t́nh trạng an ninh về thực phẩm của người nghèo (Cf. John Paul II, at FAO Headquarters, Dec. 5, 1992, No. 4: Việc viện trợ lương thực mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia lănh nhận. Tuy nhiên, nó không bị các quốc gia viện trợ sử dụng như một thứ thải đi các đồ ăn thức uống. Dài hạn, các vấn đề an ninh lương thực sẽ không được giải quyết bằng việc gia tăng t́nh trạng lệ thuộc vào việc viện trợ lương thực của toàn thể dân chúng”, thành phần cần phải “được giáo dục để tự lo liệu cho ḿnh những thứ lương thực lành mạnh và đầy đủ”). Những thứ sản vật chung này thường cần đến việc chính quyền nhúng tay vào các thị trường để bảo đảm việc hưởng dụng công bằng cho họ. Công việc của quốc gia là để bênh vực và bảo tŕ công ích là những ǵ không thể giải quyết chỉ bằng các quyền lực của thị trường.

 

Có những nhu cầu của con người vượt khỏi tầm tay của lư lẽ thị trường. Có những sản vật tự chính bản chất của chúng không thể và không được bán mua (Cf. "Centesimus Annus," No. 40). Nhất là, phong trào các chuyên gia và công nhân, một hiện tượng có tầm vóc quan trọng mỗi ngày một hơn đang góp phần một cách hệ trọng vào việc sản xuất phong phú, là những ǵ cần phải được phác họa và điều hành bằng những cách thức làm gia tăng tối đa các lợi ích cho cả các quốc gia xuất phát lẫn các quốc gia nhắm tới, nhất là cho chính thành phần di dân. Việc bàn luận về các dịch vụ cần phải nói lên những khoản về lợi ích cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia liên quan tới việc di chuyển của dân chúng, với ư thức là các lợi lộc về kinh tế của người nghèo, và việc hoàn toàn tôn trọng tất cả mọi quyền lợi của con người cũng như các quyền lợi hiện hành của thành phần di dân, tất cả là tột điểm nơi những việc thương thảo này.

 

Trong thế giới ngày nay, nơi mà nền kinh tế kiến thức đang trở thành những đ̣i buộc thiết yếu, th́ mối quan tâm về Bản Thỏa Hiệp TRIPS mặc lấy một tầm vóc quan trọng mới. V́ cần phải bảo vệ các quyền lợi về tài sản trí tuệ như là một động cơ canh tân và kiến tạo về kỹ thuật, mà cũng cần phải bảo đảm việc hưởng dùng rộng răi kỹ thuật và kiến thức nhất là cho các quốc gia có lợi tức thấp. Các thiện ích mới xuất phát từ việc tiến bộ nơi khoa học và kỹ thuật là ch́a khóa cho tính cách hội nhập mậu dịch thế giới. Cần phải cải tiến về kỹ thuật và việc làm sao để chuyển từ các quốc gia phát triển là những ǵ cần thiết để các quốc gia kém phát triển có thể đuổi kịp và đạt tới mức tranh thủ mậu dịch quốc tế.

 

Hơn nữa, chúng tôi chấp nhận việc tu chính mới đây cho Bản Hiệp Ước TRIPS về Vấn Đề Sức Khỏe Công Cộng. Việc tu chính này có thể bảo đảm việc các quốc gia nghèo trong việc hưởng dụng phương tiện sản xuất và việc nhập cảng các thứ thuốc thiết yếu cần phải có để đương đầu với các nạn dịch dân chúng của họ phải chịu. Nó cân bằng hai mục tiêu quan trọng về các qui luật sản hữu trí tuệ, đó là việc tạo nên những động cơ cải tiến và việc loan truyền các lợi ích của những vấn đề đổi mới bao nhiêu có thể. Tuy nhiên, cần phải lưu ư là điều tu chính này không làm suy yếu đi những thoả thuận theo vùng và song phương chất chứa những biến thái của “TRIPS plus”, những biến thái đè nặng hơn đối với các quốc gia đang phát triển.


Cuộc họp này thuộc cấp bộ trưởng ở Hồng Kông đây là những ǵ có thể cung cấp chẳng những một cơ hội quan trọng để phục hồi niềm tin tưởng vào Hội Nghị Bàn Tṛn Doha Phát Triển mà c̣n lấy lại tất cả uy tín cùng tính cách hợp pháp của hệ thống Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế và làm cho phần đông quần chúng hiểu được giá trị của hệ thống tổ chức này. Bất chấp tất cả những giới hạn vốn có của nó, Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế là một tổ chức đặc thù trong các tổ chức quốc tế như là một tổ chức chi phối các phần tử duy nhất bằng một qui chế bao hàm đầy tham vọng. Cơ chế của một Bộ Phận Ổn Định Tranh Luận (DSB:Dispute Settlement Body) là một chứng cớ về việc bảo đảm tính cách b́nh đẳng của tất cả mọi quốc gia trước luật pháp, bất kể quyền lực ḱnh tế của họ, và thực sự bảo vệ tất cả mọi quốc gia phần tử khỏi những hành động thương mại đơn phương bất công.

 

Hội nghị cấp bộ trưởng này có khả năng để được tưởng nhớ đến như là một mốc điểm nơi việc thiết lập một hệ thống mậu dịch quốc tế chân chính về xă hội. Các quyền lợi và nhu cầu của người nghèo và của người yếu kém càng được chú trọng th́ càng có cơ hội cho công lư và ḥa b́nh trên thế giới của chúng ta, hai điều kiện bất khả châm chước cho việc phát triển khả thủ cũng như cho việc giảm nghèo. Hai mục đích này tạo nên một tham vọng chung để tất cả mọi phần tử có thể hăng say thực hiện việc thương thảo: Đó là điều hướng cho con đường tiến tới vậy.

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 22/12/2005

 

 

 TOP

 

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Xă Hội Thông Tín

 

Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của Đức Tổng Giám Mục John Foley, chủ tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Truyền Thông Xă Hội, tại Thượng Nghị Thế Giới Liên Hiệp Quốc về vấn đề Xă Hội Tín Liệu, một cuộc thượng nghị 3 ngày tại Tunis nước Tunisia được kết thúc hôm Thứ Sáu, 18/11/2005.

 

Thưa ông Chủ Tịch,

 

Những kỹ thuật tín liệu và truyền thông tân tiến, trong số đó, mạng điện toán toàn cầu chắc chắn là những ǵ hiển nhiên nhất, hiện nay đang có và sẽ có một ảnh hưởng sâu xa đối với đời sống về kinh tế, xă hội và văn hóa của gia đ́nh nhân loại.

 

Cuộc thượng nghị này là cơ hội độc đáo về cách thức để làm sao hướng “xă hội thông tín” này hướng tới việc phát triển xây dựng, cũng như về cách thức để tránh đi những bước lỡ lầm. Những ǵ chúng ta đang bàn tới đây chẳng những là “những cơ hội về con số” mà c̣n là “những nan giải về con số” nữa.

 

Tiến tŕnh này hiến cho chúng ta cơ hội để liên hệ với và trợ giúp những ai đang sống ở những miền nghèo khổ nhất và hẻo lánh nhất trên thế giới, cũng như cung cấp tiếng nói cho những ai trong quá khứ đă bị im hơi lặng tiếng và lăng quên. Trái lại, nếu tiến tŕnh này chỉ tạo nên những cơ hội mới cho những ai đă hoan hưởng một mức sống ngon lành và có những phương tiện truyền thông tuyệt vời th́ hoạt động của chúng ta là một thua bại. 

 

Thánh đố của việc làm nhỏ đi hay thậm chí làm mất đi cái gọi là “phân rẽ về son số”, t́nh trạng chênh lệch hiện nay nơi phương tiện hưởng dùng các phương tiện truyền thông về con số giữa các quốc gia tân tiến và đang tiến, đ̣i phải liên kết nỗ lực của toàn thể cộng đồng quốc tế.

 

Các quốc gia phát triển hơn cần phải lănh trách nhiệm giúp đỡ các quốc gia kém phát triển hơn để gia tăng tiến tŕnh điện toán hóa cùng với cách thức dễ dàng hưởng dùng các thứ phương tiện truyền thông đại chúng mới, bằng việc trợ giúp về tài chính, việc truyền đạt cho biết những kỹ thuật thông tin, những phương sách về thương mại và việc hợp tác về văn hóa.

 

Chỉ cần đề cập tới một hoạt động, ngay cả trước khi phổ thông hóa phương tiện về mạng điện toàn toàn cầu, Ṭa Thánh đă trợ giúp trong việc phát triển RIIAL (Red Informatica de la Iglesia en America Latina), một phương tiện giúp dễ dàng hóa cho những thôn làng hẻo lánh xa xôi nhất của vùng rừng rú Amazon cũng như cũng vùng đồi núi Andes, trong việc hiểu biết chẳng những về các tín liệu hiện hành mà c̣n cả các kho tàng về văn hóa được thấy trước đó chỉ ở một số ít thư viện.

 

Ngày nay, nhiều hoạt động về thương mại, ngay cả việc truyền đạt liên cá vị, cũng đang diễn ra trong một môi trường được nhiều người gọi là thực hay không gian tín khoảng.

 

Tuy nhiên, khoảng không gian mới này thật ra là những ǵ rất thực, và nó là những ǵ rất ư quan trọng ở chỗ tới độ có thể không c̣n khoảng cách ở đó, đối với t́nh trạng chia rẻ và kỳ thị thảm thê, với tính vị kỷ, với những thành kiến và bất công đă làm ô nhiễm quá nhiều lịch sử loài người. Cần phải nhớ những điều như thế chỉ cần để ngăn ngừa việc tái diễn của chúng mà thôi.

 

Chúng ta được biết rằng những ai tung ra Mạng Lưới Toàn Cầu WWW (World Wide Web) không làm điều này để trục lợi về tài chính từ việc phát triển của nó. Cũng cần lưu ư là Mạng Điện Toán Toàn Cầu (Internet) khởi đầu đă được sáng chế ra như là một dụng cụ truyền thông thời chiến, giờ đây đă trở thành một dụng cụ rất thịnh hành phổ thông cho việc phát triển và ḥa b́nh.

 

Trong bản văn kiện chính cuối cùng được ngài ban hành là “Việc Phát Triển Nhanh Chóng”, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nhận định là “Các kỹ thuật tân tiến gia tăng ở mức độ đáng kể về tốc độ, số lượng và việc sẽ dàng truyền thông, thế nhưng, trước hết nó không thiên về việc trao đổi tế nhị diễn ra giữa trí với óc, tâm với ḷng, và là một trao đổi cần phải làm nên đặc tính của bất cứ việc truyền thông nào muốn phục vụ t́nh đoàn kết và yêu thương” (khoản 13).

 

Trách nhiệm của chúng ta là làm mất đi những khoảng cách này của nhân loại và của t́nh đoàn kết v́ lợi ích của hằng triệu triệu con người cũng như v́ thế hế tới đây.

 

Cám ơn ông chủ tịch

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/11/2005

 

 TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Tị Nạn

 

Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Năm 3/11/2005, ngỏ cùng Ủy Ban của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Tị Nạn.

 

Thưa Ông Trưởng Ủy Ban,

 

Khi đọc bản tường tŕnh của Cao Ủy Tị Nạn LHQ (UNHCR: United Nations High Commissioner for Refugees), liên quan tới những vấn đề thành phần tị nạn, thành phần hồi cư và thành phần phân tán cũng như tới những vấn đề về nhân đạo, đại biểu tôi đây có lời khen tặng công việc làm này của UNHCR, nhất là một công việc được thực hiện trong những hoàn cảnh nguy hiểm nhất và khó khăn  nhất.

 

Từ khi xẩy ra t́nh trạng dân chúng di chuyển trong thế kỷ vừa qua, quốc tế đă có những nỗ lực thiết tha trong việc t́m kiếm những giải pháp cho các trục trặc liên quan tới vấn đề nhân đạo quan trọng.

 

Mặc dù đă xẩy ra t́nh trạng giảm sút đặc biệt ở con số tị nạn, con số người được UNHCR trực tiếp quan tâm đă tăng lên khắp thế giới khoảng 19 triệu, bao gồm cả thành phần t́m kiếm lánh nạn, thành phần hồi cư, thành phần bị phân tán trong nước và thành phần đang gặp nguy hiểm khác trên thế giới. Nguyên mức độ của hiện tượng của nhân loại này thôi cũng đủ làm cho thế giới phải chú ư tới rồi.

 

Cao ủy tị nạn này gần đây mới nhấn mạnh đến vai tṛ của UNHCR như là một cơ quan bảo vệ với những hoạt động cần phải được chú trọng và giải quyết để bảo vệ theo dụng ư bảo vệ của những hoạt động này. Nếu mỗi quốc gia có trách nhiệm bảo vệ dân chúng của ḿnh khỏi bị sát hại, bị những tội ác chiến tranh, bị thanh lọc về chủng tộc và bị những tội ác phạm đến nhân loại, th́ quan niệm này, như được thấy trong văn kiện đúc kết của Thượng Nghị Thế Giới, có lư do để được chấp nhận v́ những lư do nhân đạo. Việc bảo vệ những ai đang bị khốn khó và việc giúp đỡ họ là những ǵ đi liền với việc phân tích một cách rơ ràng minh bạch cũng như với việc nhận thức chung về các nguyên nhân gây ra những cuộc khủng hoảng nhân đạo; thế nhưng, các cuộc khủng hoảng này, tự bản chất của chúng, đ̣i phải nhanh chóng ra tay và tài trợ theo dự đoán.

 

Đối với trách nhiệm của UNHCR, quan niệm về việc bảo vệ có những hậu quả lâu dài, nhất là trong trường hợp đại đa số thành phần tị nạn đang sống trong những t́nh trạng tị nạn dai dẳng. Không phải chỉ là việc bênh vực cho khỏi những thế lực hận thù từ bên ngoài, việc bảo vệ chạm tới toàn bộ nhân quyền của những ai bị bắt buộc phải thoát thân. Những quyền lợi này vẫn không ǵ thay đổi trong tất cả mọi giai đoạn hồi hương, tái hội nhập, tái phục hồi và tái kiến thiết.

 

Việc bảo vệ trước hết bao gồm việc bảo toàn t́nh trạng an ninh về thể lư của dân chúng cùng với việc họ được hoàn toàn hoan hưởng quyền lợi của họ. Sau nữa, việc bảo vệ bao gồm cả việc tạo nên một môi trường an toàn, nhất là cho nữ giới, trẻ em, người già và người bị khuyết tật. Việc phác họa và áp dụng tất cả mọi biện pháp ngăn ngừa và đáp ứng cần phải đặc biệt bảo đảm được việc bảo vệ nữ giới và trẻ em cho khỏi tất cả mọi h́nh thức bị lạm dụng, bỏ rơi, khai thác và bạo hành. Sau hết, việc bảo vệ có mục đích bảo đảm vấn đề đầy đủ dinh dưỡng, một vấn đề kéo dài liên miên nơi những trường hợp tị nạn. Việc đương đầu với t́nh trạng khó khăn về vấn đề dinh dưỡng, các Quốc Gia cũng cần phải để cho thành phần tị nạn được quyền tự do cần thiết trong việc di chuyển và cư trú cùng với quyền được sinh sống làm ăn.

 

Vấn đề duy tŕ việc tự nguyện hồi hương cũng đáng được tái cứu xét. Vấn đề này chẳng những liên quan tới việc trở về cách an toàn và xứng đáng, mà c̣n liên quan cả tới những khía cạnh về xă hội và kinh tế của việc tái thiết hậu xung khắc, bằng cách đặc biệt thiết lập một nối kết hiệu nghiệm giữa vấn đề cứu trợ về nhân đạo và vấn đề phát triển khả thủ. Thực tế mà nói th́ điều này có nghĩa là phục hồi t́nh trạng hạ tầng cơ sở, sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp, công ăn việc làm và nhất là vấn đề có được lương thực.

 

Việc không thể giải quyết t́nh trạng phân tán trong nước giờ đây được coi là việc thất bại lớn nhất nơi hoạt động nhân đạo của cộng đồng thế giới. Nhu cầu cần phải được bảo vệ không liên hệ ǵ tới vấn đề vượt biên hay chăng. Một hệ thống khả tín, được thể hiện nơi một cơ cấu tổ chức thích đáng, có thể đóng một vai tṛ hiệu năng trong việc đáp ứng những nhu cầu về an ninh và bảo vệ của thành phần bị phân tán nội địa, cũng như trong việc giúp cho các thẩm quyền địa phương trong cuộc hoàn thành trách nhiệm của họ đối với thành phần bị phân tán này.

 

Sau hết, khi quan niệm về việc xây dựng ḥa b́nh đang được nẩy nở th́ nó cần phải chú trọng tới thành phần hồi hương. Việc hồi hương bao giờ cũng cần phải thực hiện bằng việc tài trợ đầy đủ, v́ chính thành phần hồi hương, mà c̣n để bảo tŕ cả những tiêu chuẩn được UNHCR ấn định nữa.

 

Cám ơn Ông Trưởng Ủy Ban



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
11/11/2005

 

 

  TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Phát Triển Khả Thủ

 

Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Năm 3/11/2005, ngỏ cùng Uỷ Ban của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Phát Triển Khả Thủ.

 

Thưa Ông Trưởng Ủy Ban,

 

Đại biểu tôi tin rằng nhuững dự án phát triển và những phương sách giảm nghèo cần phải được hội nhập với khả năng bảo tŕ môi trường. Thiếu tính cách quản thủ môi trường th́ việc phát triển sẽ không có nền tảng vững chắc, và không phát triển, sẽ không có vấn đề đầu tư, khiến việc bảo về môi trường trở nên bất khả.

 

Vấn đề trách nhiệm và t́nh đoàn kết là những ǵ liên kết với nhau nơi đây đến nỗi hoạt động hỗ trợ cho môi trường trở thành một thứ khẳng định niềm tin tưởng vào định mệnh của gia đ́nh nhân loại qui tụ lại chung quang một dự án chung quan trọng với thiện ích của hết mọi người. Điều này âm vang nguyên tắc tiên khởi của Bản Tuyên Ngôn Rio: “nhân loại là tâm điểm của những mối quan tâm đến việc phát triển khả thủ”.

 

Tuy nhiên, nhiều khó khăn gặp phải trong việc đụng đầu với những vấn đề làm suy yếu môi trường toàn cầu, như vấn đề thay đổi khí hậu, t́nh trạng thiếu nước uống, việc phá rừng và việc sa mạc hóa, cho thấy tính chất phức tạp của việc đương đầu với những vấn đề phát triển một cách gắn bó nguyên vẹn, cũng như cho thấy nhu cầu cần phải thay thế những phương cách phân mảnh bằng một phương sách đa phần toàn diện.

 

Trong loạt đe dọa đầu tiên, được nhận định bởi Ban Hội Thẩm Cao Cấp về Các Mối Đe Dọa, Thánh Đố và Thay Đổi, đó là những thứ đe dọa về kin h tế và xă hội, bao gồm t́nh trạng nghèo khổ, các chứng bệnh lây nhiễm và vấn đề suy thoái môi trường. Chúng tôi đồng ư là ba vấn đề này nói cho cùng là những ǵ đe dọa nền an ninh của thế hệ hiện tại và tương lai. Không thể nào không cùng nhau giải quyết những thách đố ấy để chiếm đạt được một hệ thống an ninh chung. Chúng không phải là những thứ đe dọa tách biệt.

 

Trong việc đương đầu với chúng cũng như trong việc phát động vấn đề phát triển trách nhiệm và t́nh đoàn kết, các cộng đồng địa phương cần phải tham dự vào việc thẩm định và bảo tŕ thiên nhiên, cùng được hưởng phần lợi ích công bằng, nếu các cộng đồng ấy sẵn sàng hợp tác; những giá phải trả cho hệ thống giao liên thiên nhiên cần phải được chú trọng tới trong tất cả mọi quyết định về kinh tế, v́ những nguồn nhiên liệu hiển nhiên là những ǵ có hạn; và việc bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên cần phải trở thành ưu tiên hơn nữa nơi việc hoạch định của chính phủ, việc đầu tư và việc tài trợ nếu cần phải đi đến chỗ thành đạt.

 

Mối đặc biệt quan tâm tới ở đây là vấn đề rừng rú, một tài nguyên vẫn là những ǵ thiết yếu đối với lương thực, cư trú, chất đốt, nước nguồn và thớ sợi cho 90% trong 1 tỉ 200 triệu người cực bần cùng trên thế giới; tuy nhiên, t́nh trạng mất mát rừng rú vẫn c̣n thấy được rơ ràng ở quá nhiều nơi. Rất cần phải hoàn thành một hiệp định quốc tế về việc bảo vệ rừng rú.

 

Chúng ta cũng không được quên những mục tiêu trong MDG 7 là mục tiêu nhắm tới việc làm giảm bớt 50% vào năm 2015 con số người không có được nước uống sạch cùng các thứ vệ sinh căn bản, và là mục tiêu cải tiến đáng kể đời sống của những cư dân sống trong các khu ổ chuột vào năm 2020, những mục tiêu được nhắc lại mới đây trong Quyết Định CSD 13. Tiếc thay, nhiều quốc gia sẽ không đạt được mục tiêu 2005 về vấn đề thiết lập những chương tŕnh điều hành các nguồn nước nhất thống. Tuy nhiên, v́ lợi ích của tất cả mọi quốc gia, cần phải hỗ trợ và dấn thân vào việc áp dụng những dự án ấy.

 

Một vấn đề hệ trọng khác đó là vấn đề thay đổi khí hậy và vấn đề năng lực, vấn đề được vị Tổng Thư Kư đă có lư để diễn tả như là một trong những thách đố lớn nhất của thế kỷ 21. Những đề tài của chu kỳ nhị niên tới đây của CSD sẽ có một ảnh hưởng về nhiều vấn đề liên hệ, như vấn đề môi trường, vấn đề kinh tế, chính trị, đạo lư và các vấn đề xă hội, cũng như vấn đề an ninh quốc gia và quốc tế. Nó sẽ là một cơ hội cho thế giới suy nghĩ về những đề tài chính yếu đối với ḥa b́nh và việc phát triển của con người, nhất là ở những vùng nghèo nhất theo khả năng thích ứng yếu kém nhất, với những nguồn năng lượng khan hiếm và chịu hậu quả nhiều về t́nh trạng đổi thay khí hậu.

 

Sau hết, thật là phấn khởi khi chứng kiến thấy việc gia tăng ư thức về vấn đề thay đổi khí hậu đă được bày tỏ như tại thượng nghị G8 ở Gleneagles. Cần phải tiếp nối bằng những cuộc bàn luận cẩn trọng về những phương tiện các quốc gia có thể giúp để phấn khích việc phát triển hơn nữa về những nguồn năng lực có thể tái sử dụng, bắt đầu làm giảm dần những phụ trợ tai hại về môi trường, nhất là đối với việc sử dụng và phát triển chất đốt dưới ḷng đất, cũng như bắt đầu việc dấn thân vào vấn đề nghiên cứu cùng phát triển việc thay thế các chất đốt dưới ḷng đất một cách sạch sẽ, hiệu nghiệm và rẻ tiền. Thế giới đang hết sức cần đến nhiều hơn, chứ không phải ít hơn, năng lực trong 50 năm tới đây: Chúng ta chiếm lấy nguồn năng lực này cho các thế hệ mai hậu ở khắp nơi khi chúng ta bắt tay thực hiện ngay vào đường lối ấy.


Cám ơn Ông Trưởng Ủy Ban

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 4/11/2005

 

  TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Việc Tưởng Niệm Diệt Chủng Do Thái

 

Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Ba 1/11/2005, ngỏ cùng Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vềViệc Tưởng Niệm Diệt Chủng Do Thái”.

 

Kính Ông Chủ Tịch,

 

Vấn đề tưởng nhớ là một nhiệm vụ và là một trách nhiệm chung. Điều này đặc biệt đúng nơi trường hợp Diệt Chủng Do Thái và rất nhiều đại biểu lấy làm hài ḷng hoan hô quyết định thực hiện việc tưởng nhớ Diệt Chủng và chúc mừng tất cả những ai bảo trợ việc tưởng niệm này.

 

Trách nhiệm của tất cả mọi dân nước trong việc tưởng nhớ có được một sức mạnh mới khi chúng ta mừng 60 năm giải tỏa các trại tuyệt mạng và thiết lập Liên Hiệp Quốc.

 

60 năm chúng ta đă thấy được cái kinh hoàng của thứ tội ác này, thế mà lịch sử vẫn c̣n tái diễn cái kinh hoàng này. Việc thỏa ước quốc tế về vấn đề này đă không ngăn cản nổi thứ ư nghĩ dẫn đến vấn đề sát chủng, đến việc bạo động gây ra diệt chủng, đến những bất công khiến diệt chủng trở thành khả dĩ, hay đến những lợi lộc khiến việc diệt chủng có thể được tạm hoăn.

 

Thế kỷ 20 đă chứng kiến những cuộc diệt chủng, những cuộc tàn ác, những cuộc tàn sát và những cuộc thanh lọc chủng tộc là những cuộc xẩy ra đáng tiếc không phải chỉ ở trong một châu lục duy nhất. Khi chúng ta đứng trước cuộc Diệt Chủng Do Thái th́ thật là chính đáng khi chúng ta tưởng nhớ và hứa quyết với tất cả nỗ lực chúng của chúng ta trong việc bảo đảm rằng, khi chỉ tên điểm mặt loại tội ác ấy, các quốc gia trên thế giới sẽ nhận ra bộ mặt của nó và ngăn ngừa không để cho nó xẩy ra trong tương lai nữa.

 

Chớ ǵ Việc Diệt Chủng Do Thái trở thành một thứ cảnh báo trong việc ngăn cản chúng ta khỏi chiều theo những thứ ư hệ biện minh cho việc khinh bỉ phẩm vị con người v́ lư do chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ hay tôn giáo.

 

Theo chiều hướng ấy, cũng cần phải nhắc lại và lập lại việc chúng ta ủng hộ cho Quyết Nghị 1624 của Hội Đồng Bảo An LHQ là quyết nghị vừa lên án “một cách hết sức cương quyết việc khích động các hoạt động khủng bố” vừa bác bỏ “những nỗ lực biện minh hay tôn vinh […] những hoạt động khủng bố làm phấn khích thêm những hoạt động khủng bố khác”. Quyết nghị này c̣n nhấn mạnh đến “việc tiếp tục những nỗ lực quốc tế để gia tăng vấn đề đối thoại cũng như nới rộng vấn đề hiểu biết các nền văn minh, hầu cố gắng ngăn ngừa cái mục tiêu bất phân biệt các thứ tôn giáo và văn hóa khác nhau, và giải quyết những t́nh trạng xung khắc chưa được giải quyết theo vùng cùng với hàng loạt đầy những vấn đề của thế giới”.

 

Sau biến cố Shoah, bước đầu tiên để tiến tới việc ngăn ngừa đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền. Cần phải thực hiện nhiều bước tiến hơn nữa. Nơi hết mọi quốc gia, việc tưởng nhớ đến Cuộc Diệt Chủng Do Thái cần phải được duy tŕ như là một quyết tâm không để cho thứ kinh hoàng này xẩy ra cho các thế hệ mai hậu nữa.

 

Trong cuộc viếng thăm Thánh Địa của ḿnh, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă đến Yad Vashem, đài tưởng niệm biến cố Shoah. Ở chân Bức Tường Phía Đông của Đền Thờ, ngài đă nguyện cầu xin ơn tha thứ cũng như cho việc hoán cải tâm tưởng con người.

 

Việc xin thứ tha là những ǵ thanh tẩy kư ức, và việc tưởng nhớ đến Cuộc Diệt Chủng Do Thái cống hiến cho chúng ta cơ hội để thực hiện việc thanh tẩy kư ức ấy, để sớm khám phá ra những triệu chứng diệt chủng mà loại trừ chúng, và để sử dụng những biện pháp hợp thời và cứng rắn trong việc chế ngự những đủ thứ bất công về phương diện xă hội và quốc tế.

 

Chương tŕnh của cuộc dấn thân này, cùng với các biện pháp khác, có thể cho thấy một cách tốt đẹp là hữu ích về vấn đề này, để chứng tỏ rằng, với ư muốn của chính trị, nó có thể được thực hiện nhiều hơn nữa, có thể chiến đạt nhiều hơn nữa vậy.

 

Ṭa Thánh sẵn sàng tiếp tục hoạt động theo chiều hướng ấy.

 

Xin cám ơn Ông Chủ Tịch


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/11/2005

 

  TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về T́nh Trạng Khốn Khổ của Kitô Hữu Palestine

 

Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Ba 1/11/2005, ngỏ cùng ủy ban của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về “Cơ Quan Cứu Trợ và Hoạt Động của Liên Hiệp Quốc đối với Những Người Tị Nạn Palestine ở Vùng Cận Đông”.

 

Thưa Ông Trưởng Ủy Ban,

 

Đại biểu tôi, sau khi kỹ lưỡng xem lại Bản Tường Tŕnh của Tổng Ủy Viên “Cơ Quan Cứu Trợ và Hoạt Động của Liên Hiệp Quốc đối với Những Người Tị Nạn Palestine ở Vùng Cận Đông (UNRWA: United Nations Relief and Works Agency for Palestine Refugees in the Near East), một lần nữa xin bày tỏ việc cảm nhận của ḿnh về hoạt động của cơ quan này trong thời gian đầy những thách đố cam go này.

 

Ṭa Thánh hân hoan nh́n nhận việc UNRWA cống hiến vấn đề trợ giúp cho tất cả mọi người tị nạn Palestine v́ họ là người tị nạn, chứ không kỳ thị hay chú ư tới tôn giáo của họ. Tuy nhiên, năm nay chúng tôi buộc phải chú ư tới t́nh trạng khó khăn gia tăng phải chịu đựng bởi thành phần Kitô hữu Palestine, những người mà, mặc dù họ thuộc về một niềm tin được phát sinh từ chính mảnh đất này, đôi khi lại bị hàng xóm láng giềng của họ ngờ vực. Bị kỳ thị gấp hai lần, th́ không có ǵ là lạ lùng khi biết rằng nhóm nhỏ bé này – chưa đầy 2% của dân chúng Palestine địa phương – đặc biệt bị đẩy ra ngoài lề xă hội.

 

Tất cả mọi người Palestine đều có quyền được bạn hữu và thẩm quyền chính đáng đối xử và suy nghĩ một cách công bằng. Nạn cực đoan về tôn giáo dưới bất cứ h́nh thức nào ngấm ngầm trong các cuộc tấn công, lạm dụng hay đe dọa Kitô hữu trong vùng quanh Bêlem mới đây là những ǵ bất khả chấp. Bất kể là ai trở thành nạn nhân của bạo lực và cuồng tín th́ những hành động ấy đều là những vết nhơ nơi lương tâm của con người. Bởi thế, đại biểu tôi đây hy vọng rằng các vị lănh đạo địa phương sẽ t́m ra những giải quyết cho các nhu cầu của tất cả mọi phần tử của những cộng đồng địa phương đang trải qua t́nh trạng bạo lực.

 

Ngoài ra, bức tường an toàn ngăn chặn đường tới một số miền đất và nguồn nước của Palestine, cũng như ngăn chain việc làm ăn, buôn bán, giáo dục, y tế và tự do thờ phượng, tất cả đều là những ǵ hằng được  quan tâm tới. Đại biểu tôi đây sẵn sàng nh́n nhận quyền lợi của tất cả mọi người được sống trong an b́nh và an ninh; đàng khác, chúng tôi tin rằng Thánh Địa càng cần phải có những nhịp cầu nối hơn là những bức tường rào cản.

 

Hy vọng rằng nhiều vấn đề ở miền đất này sẽ được giải quyết bằng việc thương thảo và đối thoại, đại biểu tôi xin nhấn mạnh là giải pháp bền vững cần phải bao gồm cả vấn đề Thánh Thánh Giêrusalem. Căn cứ vào nhiều biến động về bạo lực và t́nh trạng khó khăn trong vấn đề tự do di chuyển gây ra bởi bức tường an ninh, Ṭa Thánh lập lại việc Ṭa Thánh ủng hộ “những khoản cam đoan của quốc tế trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tự do lương tâm của cư dân ḿnh, cũng như quyền tín hữu thuộc tất cả mọi tôn giáo và quốc tịch được thường xuyên, tự do và dễ dàng đi lại các nơi thánh” (A/RES/ES-10/2).

 

Giêrusalem là nhà vốn được công nhận của ba niềm tin theo tổ phụ Abraham, và ai có quyền bảo quản Thành Thánh này th́ có trách nhiệm đặc biệt về thành thánh ấy trước cộng đồng quốc tế. Mượn những lời mới đây của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, chúng tôi hy vọng rằng Giêrusalem một ngày kia sẽ là “một ngôi nhà của ḥa hợp và ḥa b́nh” cho tất cả mọi tín hữu.

 

Thời gian đă quá dài lâu cho việc đối thoại cởi mở huynh đệ để mang lại việc hạ sinh hai quốc gia, bên cạnh nhau, tương kính quyền hiện hữu và phát triển của nhau. Đă có quá nhiều nạn nhân vô tội, là Do Thái hay Palestine, Do Thái, Kitô hữu hay Hồi hữu cũng thế. Chí có một nền ḥa b́nh chân chính và bền vững – nền ḥa b́nh không bị áp đặt mà bằng việc thương thảo – mới làm cho những ước vọng hợp lư của tất cả mọi dân tộc sống ở Thánh Địa được măn nguyện mà thôi.

 

Xin cám ơn Ông Trưởng Ủy Ban

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/11/2005

 TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề “Nữ Giới 2000: Sự B́nh Đẳng Giống Tính, Phát Triển và Ḥa B́nh trong Thế Kỷ 21

 

Sau đây là diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Sáu 14/10/2005, ngỏ cùng Tiểu Ban Đệ Tam của Khóa Họp Thứ 60 của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Vị đại diện Ṭa Thánh này nói về khoản nghị sự thứ 65: “Việc Áp Dụng Thánh Quả của Hội Nghị Thế Giới Lần 4 về Nữ Giới và về Phiên Họp Đặc Biệt của Tổng Hội Đồng mang Tựa Đề “Nữ Giới 2000: Sự B́nh Đẳng Giống Tính, Phát Triển và Ḥa B́nh trong Thế Kỷ 21”, nguyên văn như sau:

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Vai tṛ đại biểu của Ṭa Thánh tôi đây tiếp tục chú trọng tới tiến tŕnh kiểm điểm về Bản Tuyên Ngôn Bắc Kinh và Diễn Đàn Hoạt Động, cũng như các Văn Kiện Đúc Kết sau đó. Cho dù có một số phát triển tích cực nơi thân phận của nữ giới trên thế giới hôm nay, tính cách tổn thương vẫn c̣n liên tục xẩy ra nơi đời sống của nữ giới.

 

T́nh trạng bạo lực phạm đến nữ giới dưới mọi h́nh thức, bao gồm cả việc bạo lực tại gia và những việc thực hành tai hại theo truyền thống, là một vi phạm trầm trọng tới phẩm giá của nữ giới và quyền lợi của con người. Ở một số quốc gia, nạn phá thai và sát nhi nữ giới vẫn đang tiếp tục xẩy ra. Việc vi phạm đến nữ giới thường xuất phát từ việc coi nữ giới, không phải là một con người có quyền được b́nh đẳng với người khác mà như là một đối tượng cần phải được khai thác. Do đó mới gia tăng nạn buôn bán nữ giới và nhi nữ cùng những h́nh thức măi dâm khác nhau. 

 

Tất cả mọi h́nh thức bạo lực vi phạm tới nữ giới đều đáng bị lên án gắt gao, và về phần ḿnh, Ṭa Thánh t́m cách hợp tác với tất cả những ai thiện chí trong việc coi trọng các thứ qui chế về xă hội nhằm loại trừ những căn nguyên gây ra những thứ bạo lực này. Chẳng hạn, vào tháng Sáu năm nay, Hội Đồng Ṭa Thánh về Di Dân và Thành Phần Lưu Động đă tổ chức một Cuộc Họp Quốc Tế về Việc Chăm Sóc Mục Vụ cho Việc Giải Phóng Nữ Giới Bụi Đời.

 

Bất cứ sách lược này nhắm mục đích cải tiến đời sống nữ giới cần phải đặc biệt chú trọng tới thành phần nữ giới và nữ nhi đang phải chịu sống trong t́nh trạng như thế. V́ tiến tŕnh này không phải là chuyện dễ, cần phải làm sao để cho họ có thể phục hồi lại được niềm tự tin, lấy lại được những mối liên hệ tin tưởng, và tái ư thức giá trị, phẩm vị và sự cao quí của họ.

 

Theo thống kê mới đây của Tổ Chức Lao Động Thế Giới ILO (International Labor Organization) th́ nữ giới chiếm 60% trong tổng số 550 triệu thành phần nghèo khổ làm việc trên thế giới. Những người nữ này không kiếm đủ lợi tức để thậm chí nâng họ cùng gia đ́nh họ lên khỏi cảnh nghèo túng hay chỉ kiếm được 1 Mỹ kim duy nhất mỗi ngày. T́nh cảnh bần cùng là những ǵ ngăn trở nữ giới có được những nhu cầu căn bản của họ, như dưỡng chất, vệ sinh, được chăm sóc sức khỏe căn bản và được học hành tối thiểu, một t́nh cảnh tiếp tục làm cho các xă hội bị hụt hẫng đi việc đóng góp dồi dào và bất khả thay thế mà chỉ có thể thực hiện bởi nữ giới thôi.

 

Để lật ngược tiến tŕnh nữ giới hóa bần cùng, vai tṛ đại biểu tôi đây tin rằng cần phải chú trọng tới việc gia tăng phương tiện cho nữ giới cũng như việc kiểm soát các nguồn sản xuất cùng vốn liếng. Một số tổ chức Công Giáo đang dấn thân thực hiện các chương tŕnh tiểu uy tín cho nữ giới nhằm mục đích tăng thêm quyền lực cho họ bằng việc h́nh thành các dự án tiểu uy tín tự hành sự, ở những nơi như Cao Miên, Bosnia-Herzegovina, Mỹ Châu Latinh và Caribbean.

 

Một khi được tăng thêm quyền thế, nữ giới sẽ đóng một vai tṛ trong việc phát triển và phúc hạnh của gia đ́nh của họ, cộng động của họ và xă hội của họ. Tất cả mọi phần tử của xă hội đều có trách nhiệm trong việc phát động việc gia tăng quyền lực này cho họ.

 

Nạn mù chữ, đặc biệt nơi nữ giới ở các vùng thôn quê, là một trở ngại rơ ràng cho việc phát triển cũng như cho việc đạt chiếm những quyền lợi căn bản của nữ giới. Nhờ sự giúp đỡ của người khác, hết mọi người nữ đầu có quyền được hưởng hết cỡ quyền năng, tài năng và khả năng của họ, v́ như chúng ta đọc thấy trong Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền, “hết mọi người có quyền học hành”. Càng ngày chúng ta càng thấy sự kiện là việc đầu tư vào vấn đề giáo dục các em nữ nhi là cái then chốt cho việc hoàn toàn thăng tiến nữ giới vậy.

 

Vai tṛ đại biểu của Ṭa Thánh tôi đây nhận thấy nhu cầu cần phải giải quyết cấp thời những nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt của nữ giới. Chúng ta biết rằng nhiều người nữ ngày nay vẫn chưa có được phương tiện hưởng thậm chí việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu nhất. Ṭa Thánh tiếp tục tranh đấu cho có được một giải pháp toàn diện cho vấn đề sức khỏe của nữ giới, một giải pháp không chỉ chú trọng đến một khía cạnh nào của họ mà đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tổng quan và toàn diện. Một vấn đề quan tâm hệ trọng đó là đặc biệt nữ giới đang bị tổn hại bởi những hậu quả thảm thương của các vấn đề sức khỏe và dịch tễ trên thế giới, như Vi Khuẩn hay Hội Chứng Liệt Kháng và chứng sốt rét, cũng như của t́nh trạng thiếu thốn nước an toàn và vệ sinh. Ngoài ra, nữ giới có quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất của vấn đề chăm sóc sức khỏe trong thời kỳ thai nghén, và có quyền sinh con cái ở một hoàn cảnh sạch sẽ, an toàn, với sự hỗ trợ chuyên nghiệp thích đáng.

 

Hiển nhiên là c̣n nhiều việc cần phải làm để hoàn toàn thăng tiến nữ giới trong thế giới ngày nay. Hy vọng rằng LHQ sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trong việc biến đổi những ước vọng hợp lư của họ.

 

Cám ơn ông Chủ Tịch

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/10/2005 

 TOP

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về “Những vấn đề liên quan tới việc thông tín”.

Sau đây là nguyên văn diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Năm 13/10/2005, ngỏ cùng tiểu ban của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về “Những vấn đề liên quan tới việc thông tín”.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Ṭa Thánh công nhận quyền thông tín và tầm quan trọng của nó trong đời sống của taât cả mọi xă hội cùng cơ cấu dân chủ. Việc thi hành quyền tự do truyền đạt không lệ thuộc vào sự giầu sang, giáo dục hay quyền lực chính trị. Quyền truyền đạt là quyền của tất cả mọi người. Quyền tự do diễn đạt và quyền có được tín liệu đang gia tăng và phát triển ở những xă hội không mập mờ về nền đạo lư căn bản của việc truyền đạt, chẳng hạn như sự thật tối thượng và sự thiện của cá nhân, việc tôn trọng phẩm vị con người, và việc cổ vơ công ích.

 

Ngoài ra, những thứ kỹ thuật mới đóng một tầm quan trọng trong việc thăng hóa thành phần nghèo khổ. Như ở vấn đề sức khỏe và giáo dục, phương cách thuận lợi cho thành phần giầu có được thể hiện nơi vần đề truyền đạt chắc chắn là những ǵ giúp ích cho thành phần nghèo khổ, thành phần với tư cách là người nhận được tín liệu bảo đảm, cũng như với tư cách là diễn viên có thể phát động quan điểm riêng của họ trước những người thực hiện quyết định cho thế giới.

 

Trước t́nh trạng càng ngày càng gia tăng phương cách đối với vấn đề tín liệu thuộc đủ mọi thứ loại, Ṭa Thánh cũng muốn nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải bảo vệ thành phần dễ bị tổn thương nhất, như trẻ em và giới trẻ, nhất là theo chiều hướng gia tăng nội dung tŕnh chiếu việc bạo động, bất nhân nhượng và h́nh ảnh khiêu dâm.

 

Có lẽ vấn đề thiết yếu nhất phát xuất từ việc tiến bộ về kỹ thuật đó là phải chăng nhờ tiến bộ về kỹ thuật mà con người tiến triển về phẩm giá, trách nhiệm và cởi mở với kẻ khác.

 

Về vấn đề này, Ṭa Thánh đă thực hiện một khởi động đặc thù toàn châu lục được gọi là Hệ Thống Chỉ Số của Giáo Hội ở Mỹ Châu Latinh RIIAL ("Red Informática de Iglesia en America Latina") là hệ thống cổ vơ việc thích ứng với những kỹ thuật và chương tŕnh theo chỉ số nơi vấn đề giáo dục truyền thông, nhất là ở những vùng nghèo khổ. Sự thành công của dự án này đă gây chú ư cho tổ chức Quan Sát Việc Truyền Thông Về Văn Hóa và Thính Thị ở Địa Trung Hải và trên Thế Giới OCCAM (Observatory for Cultural and Audiovisual Communication in the Mediterranean and in the World) cũng như cho các tổ chức quốc tế khác. Ṭa Thánh cũng ủng hộ việc liên tục cổ vơ vai tṛ truyền thống của các thư viện và truyền thành trong việc đào luyện.

 

Hy vọng rằng Giai Đoạn Thứ Hai của Thượng Nghị Thế Giới của LHQ về Xă Hội Thông Tín WSIS (U.N. World Summit on the Information Society), một thượng nghị được tổ chức tại Tunis sắp tới, sẽ đưa tới những nỗ lực cụ thể hơn trong việc xây dựng một xă hội có tính cách chỉ số hơn, là những ǵ sẽ làm giảm thiểu đi việc lan rộng t́nh trạng “nghèo nàn vấn đề thông tín”. Thật là hữu ích nếu tạo nên được một năng động mới vượt ra ngoài thứ lư lẽ có tính cách chính trị và thương mại thường chi phối nơi những lănh vực này.

 

Vai tṛ đại biểu tôi đây tin rằng Xă Hội Thông Tín này sẽ là một xă hội được trang bị bằng thứ năng thể, năng lực, và các năng khiếu trong việc làm nẩy nở và thu thập kiến thức mới, cũng như trong việc truy cập, hấp thụ và sử dụng một cách hữu hiệu tín liệu, dữ kiện và kiến thức nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật thông tín và truyền thông. Trong xă hội đă có nhiều “tác nhân về ư nghĩa” hay “những nhân viên kiến thức”, như gia đ́nh, học đường, quốc gia, thành phần góp ư và thành phần lănh đạo, chưa nói tới các cơ cấu tổ chức tôn giáo.

 

Kiến thức là những ǵ thiết yếu trong việc thiết lập sự hiện diện nơi thị trường quốc tế, vầlà then chốt cho việc tham phần vào nền kinh tế toàn cầu là mội trường mạng điện toán toàn cầu đang là một phương tiện càng ngày càng quan trọng. Ngoài ra, cần phải nh́n nhận vai tṛ của kiến thức trong việc phát triển kỹ thuật thông tín và truyền thông. Cũng thế, rất cần phải phát triển khả năng nhận thức được tín liệu thu thập, trước cả một rừng tín liệu trước mắt. Tiến tŕnh này có thể chỉ nẩy nở ở đâu nh́n nhận bậc thang của các thứ giá trị mà thôi.

 

Cám ơn Ông Chủ Tịch

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 18/10/2005

 

TOP

 

 

Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc về “Tầm Quan Trọng của Việc Chăm Sóc Bản Thân, Môi Sinh và Đồng Bạn”

 

Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của vị lănh đạo phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh là Francis Dionisio trước Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hôm Thứ Năm 6/10/2005, về đề tài “Chương Tŕnh Quốc Tế cho Giới Trẻ cho đến Năm 2000 và Sau Đó”

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Phái đoàn đại biểu tôi hân hạnh được tham dự vào cuộc bàn luận quan trọng này về “Chương Tŕnh Hoạt Động Quốc Tế cho Giới Trẻ. Có câu nói giễu cợt như sau: “Tuổi trẻ đang bị hoang phí nơi giới trẻ”; tuy nhiên, Ṭa Thánh lấy làm măn nguyện khi thấy LHQ tiếp tục đề cao cảnh giác đối với tầm quan trọng của họ.

 

Mới đây, ở một cuộc qui tụ cả hằng trăm ngàn giới trẻ ở Cologne, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă âm vang những cảm thức của giới trẻ trên khắp thế giới, khi ngài nói rằng “Chúng tôi đang quan tâm tới t́nh trạng trên thế giới và chúng tôi đang hỏi là ‘Chúng tôi t́m đâu ra những tiêu chuẩn để theo đó mà sống, đâu là những qui tắc chi phối việc hợp tác hữu trách trong vấn đề xây dựng hiện tại và tương lai của thế giới chúng ta đây?’”

 

Giới trẻ ước muốn trở thành cao cả. Thế nhưng, để chiếm được cái cao cả, họ cần phải nghĩ đến người khác, nhất là những ai xa lạ. Họ cũng không thể đạt được điều này một ḿnh. Họ cần vai tṛ lănh đạo và các phương tiện của chính quyền, việc chuyên chú và hợp tác của các tổ chức phi chính quyền và thiện chí cùng công khó của tất cả mọi người.

 

Theo chiều hướng của mối quan tâm ấy, phái đoàn đại biểu chúng tôi cẩn thận theo dơi những diễn tiến từ cuộc khởi sự 10 năm trước đây về Chương Tŕnh Hoạt Động Quốc Tế cho Giới Trẻ. Mười lănh vực ưu tiên của chương tŕnh này để hoạt động là những ǵ chạm tới những vấn đề và những đề tài quan trọng ảnh hưởng đời sống của giới trẻ và thế giới của chúng ta.

 

Bản Tường Tŕnh Giới Trẻ Thế Giới 2005 của vị tổng thư kư quay về với một số những yếu tố gây rắc rối vẫn c̣n chi phối tới đời sống của giới trẻ ngày nay. Nói đến một trong những quan tâm này, phái đoàn đại biểu tôi đây xin lập lại chủ trương của ḿnh về vấn đề sử dụng việc diễn tả “sức khỏe t́nh dục và sản sinh”, như được chất chứa trong bản tường tŕnh ấy. Phái đoàn đại biểu tôi đây hiểu nó như là một thứ cổ vơ cho sức khỏe của nữ giới, nam nhân, giới trẻ và trẻ em. Nó không xét tới vấn đề phá thai hay phương tiện phá thai như là một khía cạnh của những từ ngữ ấy.

 

Ṭa Thánh cũng tiếp tục dấn thân trọn vẹn cho vai tṛ của giới trẻ nơi nền kinh tế, t́nh trạng nghèo khố, vấn đề giáo dục và vấn đề công ăn việc làm toàn cầu. Hiện nay trên thế giới có trên 196 ngàn trường tiểu học và trung học với trên 51 triệu trẻ em và thanh thiếu niên học sinh. Ngoài ra c̣n có gần 1 ngàn đại học đường Công giáo và các học viện Công giáo khác, giáo dục trên 4 triệu thành phần trưởng thành trẻ tuổi. Giới trẻ đang được giúp đỡ để lănh nhận việc giáo dục họ xứng đáng và khích lệ để trao tặng lại cho người khác. Giáo dục là một tặng ân được tiếp tục trao ban.

 

Đối với vấn đề “tuổi trẻ liên quan tới vấn đề xă hội, môi sinh, giải trí và tham dự”, qua hằng ngàn nhóm trẻ khắp thế giới, Giáo Hội Công giáo chia sẻ và cổ vơ tầm quan trọng của việc chăm sóc cho bản thân, môi sinh và đồng bạn.

 

Về vấn đề “tuổi trẻ đang có nguy cơ, sức khỏe, thuốc phiện, phạm pháp và kỳ thị với thánh phần nhi nữ và thanh nữ”, có khoảng gần 12 ngàn bệnh viện và tổ chức chăm sóc sức khỏe và ngăn ngừa y tế của Công Giáo trên khắp thế giới. Những người chuyên nghiệp địa phương được huấn luyện đàng hoàng, qua các việc họ làm, hỗ trợ cho nguyên tắc là tất cả mọi sự sống của con người đều linh thánh, và một mội người đều đáng giá. Giới trẻ được hiển nhiên chăm sóc như các phần tử cao quí và mềm yếu của xă hội.

 

Thưa Ông Chủ Tịch, khả năng để hoàn tất những mục đích chuyên biệt của 10 cái ưu tiên đang làm giảm sút việc dấn thân. Vấn đề qui tụ lại bàn luận cho giới trẻ đă gọi nó là “việc thực hiện dấn thân cho vấn đề ấy”. Chúng ta biết rằng chúng ta đang sống trong một thế giới phức tạp và phiền toái, và nhiều giới trẻ biết rằng việc dấn thân ấy đ̣i hỏi 3 điều, đó là việc nh́n nhận nhu cầu, nhất là nơi các phần tử nghèo khổ nhất của thế giới chúng ta đây; phác họa việc đáp ứng; và thực hiện cho tới cùng.

 

Ṭa Thánh xin LHQ hăy tiếp tục nhận ra những nhu cầu của giới trẻ trên thế giới, nhất là của thành phần nghèo khổ nhất và yếu kém nhất trong họ. Nó cần phái tái dấn thân hơn nữa để cùng nhau hoạt động với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện những đáp ứng tức thời và dài hạn. Việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn là một tiến tŕnh kéo dài suốt cả một đời. Nó thường là một cuộc hành tŕnh rất ư là dâu dài. Thế nhưng, giới trẻ nh́n nhận rằng cuộc hành tŕnh của họ mới được khởi sự. Và chính v́ tuổi trẻ của ḿnh mà họ vẫn c̣n ở những bước đầu trong việc mở đường cho sự thành đạt trong tương lai. Hết mọi người thuộc mọi lứa tuổi đều quan trọng khi chúng ta cùng nhau kiến thiết một thế giới an toàn và hạnh phúc cho giới trẻ.

 

Xin cám ơn Ông Chủ Tịch.



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit ngày 10/10/2005

 

 

 TOP

 

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về việc Bênh Vực Người Tị Nạn

 

Sau đây là nguyên văn bài diễn văn của ĐTGM Silvano Tomasi, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc ở Geneva hôm 5/10/2005 trước Tiểu Ban Hành Sự của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Tị Nạn (UNHCR: United Nations High Commissioner for Refugees).

 

Thưa Ông Chủ Tịch, xin cho tôi có chúc mừng ông được chọn làm chủ tịch và nhân cơ hội này chào mừng và chúc mừng Cao Ủy Viên Antonio Guterres có lời khai mạc khiến vai tṛ đại biểu Ṭa Thánh tôi đây lấy làm cảm kích.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

1.         Trong khi con số thành phần tị nạn giảm bớt th́ việc gia tăng về con số của những người được UNHCR quan tâm đang khơi lên một số vấn đề thách đố về việc bảo vệ là những ǵ vẫn c̣n là tâm điểm nơi sứ vụ của Liên Hiệp Quốc. V́ việc bảo vệ bao gồm những phương thức thích hợp với thành phần tị nạn ước định, thành phần t́m nơi lánh nạn và thành phần bị phân tản nội địa (IDP: internally displaced persons), mà việc xác định về nó cần phải được tiến triển một cách hữu lư và được bao gồm hơn nữa nơi mối liên hệ trực tiếp với việc hiểu biết thích đáng hơn về vấn đề an ninh. Trong các cuộc tranh luận gần đây liên quan tới những yếu tố khác nhau hợp lại tạo nên một thứ an ninh toàn diện cho dân chúng, có những đ̣i hỏi khác đă được thêm vào cho viếng thiếu vắng vấn đề bị bách hại về thể lư, vấn đề bị đe dọa mạng sống, vấn đề những cuộc xung đột về bạo lực. Những đ̣i hỏi này bao gồm vấn đề đầy đủ và an toàn về thực phẩm cùng với những điều kiện tối thiểu về quyền tự do và phúc hạnh cá nhân cần thiết để bảo toàn nhân phẩm của hết mọi người.

 

Tuy nhiên, trong vấn đề phát triển ḥa hợp và quan trọng này vẫn c̣n có những lănh vực mập mờ không rơ cần được cộng đồng quốc tế làm sao biết sáng tạo và quyết tâm t́m thấy những giải pháp tốt đẹp hơn.  Vai tṛ đại biểu cho Ṭa Thánh của tôi đây xin nhấn mạnh đến một số lănh vực trực tiếp tới thành phần tị nạn cũng như tới những trường hợp tương tự, tức là đến lănh vực cung cấp thực phẩm ở các trại tị nạn và chính sách của vấn đề gia tăng việc giam giữ thành phần t́m cách tạm trú như là một phương pháp quen thuộc được sử dụng để ngăn chặn.

 

2.         T́nh trạng bất ổn định của thành phần dân chúng mất gốc sống ở các trại tị nạn thường khiến họ không thực hiện được những việc đồng áng để sản xuất lấy lương thực và không kiếm được lợi tức làm phát sinh ra những sinh hoạt nhờ đó họ có thể tự lập mưu sinh. Trong các trường hợp như thế, họ phải lệ thuộc vào cộng đồng quốc tế. Thế nhưng các nguồn tài chính vốn không thích đáng qua một số năm đă bắt phải hạn chế lương thực, đưa đến những đường lối đương đầu nguy hiểm để sống c̣n. Việc đoàn kết của cộng đồng quốc tế cung cấp lương thực cho thành phần tị nạn, và nh́n nhận được hưởng lương thực như là một quyền lợi căn bản. Tuy nhiên, khi xẩy ra một cuộc lũng đoạn trong vấn đề ban phát thực phẩm, cuộc khủng hoảng chắc chắn ấy sẽ đưa tới những hậu quả bất hạnh được ghi nhận hẳn hoi, đó là trẻ em bị chậm tăng trưởng; có nguy cơ bán dâm lấy lương thực; bị ép buộc hồi hương đến sống ở một môi trường vẫn chưa an toàn.

 

Vai tṛ đại biểu tôi đây xin được cùng hỗ trợ cho giải pháp hội nhập ở địa phương bao nhiêu có thể, cho việc hợp tác tốt đẹp liên tục giữa Chương Tŕnh Lương Thực Thế Giới với UNHCR, cho một sách lược  phát triển toàn vẹn bao gồm cả dân chúng địa phương với thành phần tị nạn cư ngụ trong cùng một vùng. Một đường lối toàn diện như thế trở thành một trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế cũng như của các tổ chức phi chính quyền. Nhờ đó, vấn đề an ninh về lương thực trở thành bước đầu hướng đến cuộc sống b́nh thường cho dân chúng đă bị nhức nhối v́ bó buộc phải đi lưu đầy và là thành phần không được gây tổn hại hơn nữa bởi t́nh trạng bấp bênh bảo tŕ cuộc sống hằng ngày của họ.

 

3.         Ư nghĩa nới rộng của việc bảo vệ không thể bỏ qua hay coi thường việc phát triển nhanh chóng các trung tâm giam giữ thành phần t́m nơi tạm trú. Cả hằng trăm những trung tâm như thế này trên bản đồ Âu Châu và các lục địa khác. Mối nguy hiểm của việc bêu xấu thành phần t́m nơi tạm trú và tị nạn như “những kẻ di dân bất hợp pháp” và “những kẻ nhẩy rào”, thậm chí “những kẻ phạm pháp”, chắc chắn có những phần tử như thế nơi những loại người ấy, là những ǵ có thể dẫn đến việc đơn thuần hóa mối liên hệ về vấn đề trú ẩn và di dân một cách phi nhân bản, nông nổi và không vô tư.

Chính sách giam giữ này gây ra những vấn đề về nhân đạo, về nhân quyền cũng như về tính cách pháp luật và hợp lư. Thực sự là có những quan tâm về việc nó sẽ trở thành một qui chế có hệ thống được nhiều quốc gia sử dụng, như là một qui luật hơn là một chuẩn chước được thúc đẩy thi hành v́ vấn đề trật tự và an ninh của quốc gia. Nơi vấn đề phức tạp này, cần phải chú trọng tới những hậu quả của vấn đề mất tự do và những tiểu chuẩn không thích đáng, cũng như tới phẩm chất của việc đối xử đối với thành phần trong cuộc, nhất là với những nhóm người dễ bị tổn hại như trẻ em và nữ giới.

 

Dĩ nhiên, các quốc gia có quyền kiểm soát việc di chuyển dân chúng băng ngang qua biên giới của ḿnh. Thế nhưng, khi phải đương đầu với một áp lực hiện nay của thành phần bị bắt buộc phải ra đi, như UNHCR đă trải qua trong quá khứ, chú ư tới những đúc kết khác nhau của tiểu ban này về việc giam giữ cũng như tới những hướng dẫn về việc giam giữ của UNHCR, cần phải cởi mở lại và suy nghĩ chung về vấn đề đạo lư của việc giam giữ, theo chiều hướng chú trọng hơn nữa tới những giải pháp khả dĩ khác.

 

Những hậu quả của một chính sách tổng quát hóa vấn đề giam giữ cho thấy tính cách hợp thời của nỗ lực được phối kết này. Thật thế, những điều kiện trung b́nh của việc giam giữ cho thấy là, ở những mức độ và nơi chốn khác nhau, nhân viên không được huấn luyện đầy đủ thích đáng, t́nh trạng lộn xộn nơi trẻ con và người lớn, nơi người cao niên và nữ giới, và có những lúc nơi thành phần t́m lánh nạn với thành phần phạm pháp chung. Vấn đề thiếu phương tiện cho những dịch vụ căn bản cũng như cho việc giáo dục đều có cùng một ảnh hưởng như nhau đối với sức khỏe về thể lư cũng như tâm thần của những ai bị giam giữ. C̣n có cả vấn đề về nhận thức nữa.

 

Trước con mắt của quần chúng th́ không dễ ǵ phân biệt được giữa vấn đề giam giữ, giam giữ độc đoán, và giam giữ hành chánh là những ǵ liên kết thành phần t́m cách lánh nạn và những thành phần di dân bất hợp pháp với thành phần phạm pháp, một h́nh ảnh nung nấu chủ nghĩa duy chủng và thái độ bài ngoại, và là một thứ cản trở cho việc hội nhập. Đặc biệt là việc giam giữ lâu dài là những ǵ để lại dấu vết sâu xa nơi những cá nhân vốn đă chịu khốn khó và lạm dụng trước khi tới những xứ sở họ bị giam giữ; những dấu vết gây phức tạp cho việc họ tái hội nhập vào xă hội và, không phải là hiếm khi xẩy ra, dẫn cho tới chỗ tự vẫn. 

 

Nếu t́nh trạng an ninh của quốc gia đ̣i hỏi là trong những trường hợp ngoại lệ, thành phần t́m lánh nạn phải bị giam giữ th́ nó phải được ấn định rơ ràng và trong một thời gian ngắn nhất, cho họ có cơ hội được trợ giúp về pháp lư, gặp bác sĩ, gặp gia đ́nh, được chăm sóc về mục vụ, và liên lạc với thế giới bên ngoài. V́ việc hợp tác theo vùng chủ động liên quan tới các quốc gia được thành phần t́m lánh nạn bỏ đi và các quốc gia họ có ư tới để tránh những thảm họa trên biển khơi và nơi việc băng qua sa mạc, cần phải thực sự cống hiến cho họ việc bảo vệ thực sự hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Những mục tiêu được nói tới và việc thi hành áp dụng những mục tiêu ấy thường tách biệt nhau quá xa. 

 

4.         Việc t́m kiếm những giải pháp thay thế và những giải quyết xây dựng không thể làm suy yếu đi quyền lợi t́m kiếm vấn đề lánh nạn. Lịch sử chứng tỏ cho thấy là một chính sách chỉ nhấn mạnh đến việc kiểm soát là những ǵ làm gia tăng t́nh trạng tổn hại của thành phần t́m lánh nạn và việc họ có nguy cơ bị khai thác. Việc thách đố hiện nay là ở chỗ làm sao để rút ngắn lại khoảng cách nơi phẩm chất của đời sống giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Việc hiểu biết toàn diện hơn về vấn đề an ninh có thể đưa đến ư định muốn giải quyết các căn nguyên sâu xa, cả về chính trị lẫn kinh tế, những căn nguyên đẩy một số đông dân chúng khắp thế giới mong được bảo vệ, sống c̣n và một đời sống xứng đáng.


 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit ngày 11/10/2005

 

 

 TOP

 

 

Ṭa Thánh Tại Liên Hiệp Quốc về Năm Người Già

 

Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc, hôm Thứ Ba ngày 4/10/2005, đă đọc trước ủy ban thứ ba của Tổng Hội Đồng LHQ về “Vấn Đề Kiểm Điểm Năm Quốc Tế Người Già: Hội Nghị Quốc Tế Lần Hai về Lăo Niên”.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Ba năm trước đây, tại Maní, Ṭa Thánh đă diễn tả thành phần lăo niên như là “những bảo quản viên của kư ức chung, thành phần bảo tŕ những mối tương quan liên thế hệ và là thành phần truyền đạt các thứ giá trị chân thực làm nên đời sống của họ”. Thế nhưng, chúng ta cần nhắc nhở ḿnh rằng những cảm t́nh cao quí ấy sẽ vẫn là những từ ngữ trống rỗng nếu chúng ta nhớ đến những vị cao niên chỉ khi nào chúng ta cần đến họ. Sự kiện là con người giờ đây sống lâu hơn là những ǵ đ̣i phải tái suy nghĩ đến vai tṛ của thành phần cao niên trong xă hội cũng như trong tiến tŕnh phát triển. Bởi thế, cần phải tạo nên một loạt nhiều cơ hội trong việc lợi dụng khả năng, kinh nghiệm và thành thạo của những người cao niên.

 

Đường lối và thái độ này giúp cho họ có thể vừa giữ liên hệ với xă hội vừa tiếp tục ghi dấu trên thế giới, hoặc v́ t́nh nguyện hay hoạt động. Ngoài ra, và có lẽ quan trọng hơn, việc sâu xa cảm nhận đối với thành phần cao niên, được bắt đầu từ niềm tri ân chân thành và liên tục của gia đ́nh họ đối với việc họ hiện diện, sẽ giúp cho họ tránh được t́nh trạng bị bêu xấu và bị loại trừ của họ.

 

Trong nhiều xă hội, việc chăm sóc cho những cá nhân lệ thuộc và bệnh tật được thực hiện bởi người già, nhất là thành phần bà già. Trong hoàn cảnh ấy, việc thuận lợi và dễ dàng hóa vấn đề chăm sóc sức khỏe căn bản cho người già được hội nhập vào một tiến tŕnh bao rộng hơn về phát triển, chú trọng tới các nhu cầu về y khoa và đầy đủ dinh dưỡng. Những tiến tŕnh này có thể bao gồm một hệ thống an toàn, một hệ thống bao gồm những thứ hưu trí và các kế hoạch khác cũng không đủ.

 

Dù thực sự vấn đề bảo vệ của xă hội đối với các vị cao niên là trách nhiệm chính của chính phủ và các tổ chức tư, Ṭa Thánh cũng muốn tái xác nhận vai tṛ quan trọng của gia đ́nh nữa về vấn đề an ninh toàn bộ, cũng như về vấn đề sức khỏe về tâm thần, thể lư và tâm linh.

 

Về phần ḿnh, Ṭa Thánh cống hiến việc hỗ trợ của ḿnh cho các vị lăo niên bằng những chương tŕnh giúp đỡ khác nhau. Hiện nay, các cơ quan và tổ chức Công Giáo ở mọi lục địa chăm sóc cho thành phần lăo thành có trên 13 ngàn cơ sở, bao gồm hơn 500 trung tâm ở Phi Châu, 3 ngàn ở toàn Mỹ Châu và 1.400 ở Á Châu.

 

Thưa ông Chủ Tịch, dù các chương tŕnh an sinh xă hội cùng các thứ lợi ích về y tế là những ǵ thiết yếu, vai tṛ đại biểu tôi đây cũng ghi nhận ở đây tầm quan trọng biết bao của ḷng xót thương, của t́nh yêu, của việc tôn trọng, của niềm tri ân và của sự tŕu mến đối với các vị cao niên. Chúng tôi khuyến khích các chính quyền hăy giảng dạy nơi các học đường những thứ giá trị ấy đối với người già, đối với những phần tử thuộc xă hội dân sự trong việc thực thi những thứ giá trị ấy ở nhà , cũng như để cho những giá trị như thế được phát động liên tục qua truyền thông xă hội.

 

Các dịch vụ nâng đỡ về xă hội là vấn đề nới rộng nhiệm vụ chung trong việc cung cấp cho các phần tử gia đ́nh già bị bỏ rơi, để làm giảm thiểu ảnh hưởng của việc di dân gây ra bởi tiến tŕnh toàn cầu hóa cũng như của vấn đề phân mảnh gia đ́nh. Ở các quốc gia có lợi tức thấp, nơi hiện hữu cả vấn đề làm ăn bất chính thức và vấn đề nghèo khổ, th́ t́nh trạng dinh dưỡng của thành phần cao niên thường gặp nguy cơ bởi nghèo khổ, bởi trách nhiệm phải hỗ trợ cháu chắt, bởi sống một ḿnh, cũng như bởi cả hàng loạt các thứ tật nguyền liên quan tới tuổi tác. Vấn đề lương hưu căn bản về xă hội cũng như vấn đề bảo vệ các quyền lợi về hưu bổng là những cách thức quan trọng trong việc lưu ư tới và nâng đỡ thành phần cao niên.

 

Việc chuyển tiếp về nhân khẩu học được dự phóng cho thấy một sự gia tăng kinh khủng về con số người già vào năm 2050, v́ việc chuyển tiếp này xẩy ra từ một chế độ sinh sản và chết đi cao tới việc tăng trưởng dân số thấp hơn, cả ở các quốc gia phát triển lẫn đang phát triển. Theo thống kê, ngày nay có hơn 6 trăm triệu người trên 60 tuổi, và ước lượng vào năm 2050 con số sẽ tăng lên gấp ba như thế. Con số cũng được phác tính là vào năm 2030 có 71% thành phần cao niên này sống ở các quốc gia đang phát triển và từ 12 đến 16% sống ở các quốc gia phát triển.

 

Những chiều hướng này dạy cho chúng ta hai điều: thứ nhất, đó là hết mọi quốc gia đều phải trở nên và vẫn phải là “một xă hội cho tất cả mọi lứa tuổi”, như được Thượng Nghị Maní năm 2002 thích đáng phát biểu; thứ hai, điều cẩn trọng đặc biệt ấy được khuyên giữ khi các chính sách về tài chính và quốc tế tiến vào lănh vực xây dựng con người.

 

Cám ơn Ông Chủ Tịch.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 6/10/2005

 

 

 TOP

 

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Giải Giới

 

Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước Hoa Kỳ, ngỏ cùng Đệ Nhất Ủy Ban cho Phiên Họp 60 của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 3/10/2005, về vấn đề hoàn toàn tổng giải giới.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Tôi xin chúc mừng ông được tuyển làm Chủ Tịch của Tiểu Ban quan trọng này.

 

Trong ít tháng qua, cộng đồng quốc tế đă có chút hy vọng là các vấn đề giải giới và thôi leo thang vũ khí sẽ được giải quyết bởi các vị lănh đạo trên thế giới đến tham dự cuộc thượng nghị mừng kỷ niệm 60 năm thành lập tổ chức LHQ. Thật vậy, bản thảo cho cuộc thượng nghị này đă kêu gọi các quốc gia “hăy theo đuổi và gia tăng những cuộc thương thảo để thăng tiến việc tổng giải giới hoàn toàn cũng như để củng cố chính sách thôi leo thang vũ khí toàn cầu”. Bản soạn thảo này đă khuyến khích các vị ấy hăy củng cố Hiệp Định Thôi Leo Thánh Nguyên Tử cũng như các thỏa ước về những loại vụ khí sinh trùng và hóa chất. Có một số việc làm đặc biệt đă được gợi ư. Tuy nhiên, những lời lẽ này đă không có nơi văn kiện Đúc kết được chấp thuận.

 

Vị tổng thư kư đă gán cho việc loại trừ này là một thứ “thất sách”. Nó đă xẩy ra không phải v́ hầu hết các vị lănh đạo và chính phủ không để ư ǵ tới. Nhiều người trọng họ chú ư rất nhiều tới nỗi khổ đau và những mối nguy hiểm gia tăng gây ra bởi việc lao thang đủ mọi loại vũ khí. Thế nhưng cái áp lực được nhiều người có lư để mà quan tâm như thế, đặc biệt của thành phần dễ bị tổn hại và bị loại trừ nhất, lại thường bị loại bỏ.

 

Mặc dù việc mở đầu của Hội Nghị về Việc Hăm Dẹp Các Hoạt Động Khủng Bố Nguyên Tử là một bước tiến quan trọng tiến đến chỗ làm giảm bớt mối nguy cơ của nạn khủng bố nguyên tử, vấn đề vẫn đáng tiếc xẩy ra là Hội Nghị Kiểm Điểm Hiệp Định Thôi Leo Thang vào Tháng Năm vừa qua đă kết thúc mà không có lấy được một quyết định chính yếu nào cả. Các thứ vũ khí nguyên tử đang trở thành một tính chất bền bỉ của những chủ trương về quân sự, và đă gia tăng 20% việc chi phí về quân sự trên thế giới trong 2 năm qua. Việc buôn bán các thứ vũ khí hỗn hợp của 10 hăng chế tạo vũ khí đă tăng lên 25% trong ṿng thời đoạn 1 năm.

 

Những loại vũ khí nhỏ mỗi năm tối thiểu sát hại 500 ngàn người, và các cuộc họp của LHQ về vấn đề này vẫn không sản xuất ra được một phương tiện có tính cách bó buộc theo pháp lư về những cuộc thuyên chuyển các thứ vũ khí loại nhỏ này. Việc buôn bán các loại vũ khí hợp pháp ấy đang trên đà phát triển một lần nữa, và việc tuôn đổ cách bất hợp pháp vũ khí đến những vùng xung đột trên thế giới đang gây ra vô số cuộc chết chóc. Các cuộc khủng bố tấn công đang gia tăng việc sử dụng những thứ súng trường đột kích, những loại vũ khí tự động, những thứ lựu đạn tay, những loại ḿn ngầm, những thứ phi đạn phóng vai, cùng các thứ chất nổ nhỏ.

 

Thật là thất vọng khi những nguyên tắc và tiến bộ của vấn đề giải giới đang bị suy yếu đi bởi cả việc một số tỏ ra lưỡng lự giải giới lẫn việc một số khác không muốn công khai thực hiện. Ṭa Thánh tái khẳng định tầm quan trọng của việc kiểm soát và giải giới các thứ vũ khí, những việc làm là những trụ cột chính yếu cho kiến trúc ḥa b́nh.

 

Tất cả mọi phần tử của Liên Hiệp Quốc đều có nhiệm vụ phải làm sao tiếp diễn những yếu tố về kỹ thuật, pháp lư và chính trị của hoạt tŕnh giải giới. Nhiệm vụ này càng trở nên thích đáng hơn nữa v́ tất cả chúng ta đều biết rằng nền an ninh cho tất cả mọi người được gia tăng khi vấn đề giải giới và các việc phát triển bổ khuyến lẫn nhau. Những cuộc nghiên cứu thăm ḍ của LHQ đă cho thấy mối liên hệ hoàn toàn giữa việc giải giới, phát triển và an ninh. Chúng ta cần phải đề cao những lợi ích về kinh tế của những biện pháp giải giới. Những giải pháp phát triển thay thế cho vấn đề quân sự cần phải là công việc liên lỉ của tiểu ban này.  

 

Tiểu ban này mang một trọng trách đặc biệt trong năm nay trong việc sửa chữa, cho đến mức có thể, việc bỏ qua vấn đề giải giới nơi văn kiện đúc kết của cuộc thượng nghị vừa rồi. Điều này không phải là những ǵ khó khăn để thực hiện, v́ đại đa số của các quốc gia muốn gia tăng hoạt tŕnh giải giới một cách vững chắc và mau chóng. Cần phải cố gắng để tái sinh động hóa Tiểu Ban Đệ Nhất này trong năm nay và thành lập các tiểu ban hoạt động đặc biệt để giải quyết các vấn đề vũ khí nguyên tử, và công việc làm này cần phải được ủng hộ. Cũng cần phải thực hiện những nỗ lực khác để mang những quốc gia có cùng một tâm tưởng đến với nhau trong việc đặt nền tảng về kỹ thuật, pháp lư và chính trị cho một Bản Hiến Chương Vũ Khí Nguyên Tử. Đó là những dấu hiệu cho thấy chư quốc tỏ ra chú tâm đến việc thắng vượt những chướng ngại vật đang ngăn cản con đường tiến của một thế giới không có những loại khí giới nguyên tử.

 

Cũng thế, rất cần phải hoạt động ở địa phương, quốc gia, vùng miền và hoàn vũ để nhổ tận gốc rễ những loại vũ khí nhỏ và những thứ khí giới loại nhẹ. Hoạt động đa diện trong việc hợp tác kiểm soát các thứ vũ khí, những yếu tố giảm bớt tội ác và xây dựng ḥa b́nh sẽ là những ǵ mang lại lợi ích cho nền an ninh của con người. Những đóng góp quan trọng từ xă hội dân sự cần phải được chính quyền nh́n nhận. Những mối giao hữu nới rộng giữa các chính phủ và xă hội dân sự sẽ là những ǵ củng cố rất nhiều cho các nỗ lực giải giới.

 

Thưa Ông Chủ Tịch, năm vừa qua không phải là một năm tốt đẹp cho việc kiểm soát các loại vũ khí, cho việc giải giới và bớt leo thang. Việc đáng bóng những thất bại không giúp ǵ cho việc xây dựng ḥa b́nh cả. Thế nhưng, chúng ta có trách nhiệm phải tiến lên từ việc phân tách để hành động. “Các dân tộc chúng ta” của LHQ, như Bản Hiến Chương đă hùng hồn nói tới nhân loại, đáng được thoát khỏi nạn tự diệt.

 

Xin cám ơn Ông Chủ Tịch.



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu của Zenit ngày 14/10/2005

 

 TOP

 

 

Ṭa Thánh Vatican tại Cuộc Tranh Luận Chung Phiên Họp Thứ 60 của Tổng Hội Đồng LHQ

 

ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở LHQ, hôm Thứ Sáu 23/9/2005, đă tham dự Cuộc Tranh Luận Chung Phiên Họp Thứ 60 của Tổng Hội Đồng LHQ. Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của vị đại diện Giáo Hội Công Giáo nhận định và khuyến nghị.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Cuộc thượng nghị đánh dấu 60 năm LHQ đă qua, thế nhưng, để cuộc thượng nghị ấy được hoàn trọn, công việc của chúng ta nơi đây là những ǵ cần phải được xây dựng trên bản văn kiện Đúc Kết của nó, hầu hoàn thành một cách sáng suốt và cương quyết những ǵ đă được đồng ư đối với vấn đề canh tân cải cách.

 

Ṭa Thánh, khi cẩn thận theo dơi việc khai triển của bản văn kiện Đúc Kết, tán thành nhiều điều trong số những ǵ đă được phác họa ra. Tuy nhiên, việc thiếu đồng thuận về việc kiểm soát các thứ vũ khí và các vấn đề thôi leo thang nguyên tử là những ǵ đáng tiếc đă xẩy ra. Tôi cũng muốn thêm ngay từ đầu ở đây là Ṭa Thánh hiểu những qui chiếu về cả hai Hội Nghị Quốc Tế ở Cairô và Bắc Kinh, cũng như về vấn đề sức khỏe sản sinh ở đoạn 57 (g) và 58 (c), theo chiều hướng là nó được bộc lộ ra nơi những Điều Hạn Chế của nó cùng với những câu giải thích ở tại những cuộc Hội Nghị ấy, tức là, khi áp dụng vào một thứ quan niệm chữa trị toàn diện về sức khỏe không coi việc phá thai hay cách để phá thai như là một chiều kích của những từ ngữ này. Ngoài những cảnh giác này ra th́ bản văn kiện đây là những ǵ căn bản để áp dụng và tiếp tục bàn luận về vấn đề canh tân cải tổ Liên Hiệp Quốc.

 

1.         Vấn Đề Ḥa B́nh và An Ninh


Bởi những thảm cảnh diệt chủng, những tội ác chiến tranh, việc thanh lọc chủng tộc và những tội ác phạm đến nhân loại mà trách nhiệm bảo vệ, như bản văn kiện Đúc Kết cho thấy, đă được chấp nhận hơn nữa v́ những lư do nhân đạo. Công thức tối hầu về pháp lư của nó có thể góp phần rất nhiều cho việc thăng hóa chẳng những lề luật quốc tế mà c̣n cả về t́nh đoàn kết chân thành giữa các quốc gia nữa. Để nhận định một cách kỹ lưỡng và thành tâm những căn do gây ra những tai ương do con người gây ra ấy là những ǵ bất khả châm chước trong việc tạo nên những biện pháp ngăn ngừa hợp thời hơn. Việc bảo vệ những ai khốn khổ và việc trợ giúp họ đi liền với việc sáng suốt phân tích và nhận thức chung về những căn nguyên gây ra những cuộc khủng hoàng về nhân đạo.

 

Việc bản văn Đúc Kết không đề cập ǵ tới vấn đề giải giới và thôi leo thang nguyên tử là những ǵ đáng quan ngại. Vấn đề vơ trang nguyên tử chỉ làm tàn hại cho các dân tộc và môi sinh mà thôi; nó hủy hoại mạng sống của dân chúng và nền móng của mọi thứ kinh tế tốt đẹp. Bởi thế chúng ta cần phải nhấn mạnh tới vấn đề thôi leo thang nguyên tử. Cũng thế, chúng ta cần phải nhấn mạnh đến vấn đề hoàn toàn giải giới nguyên tử và đến hệ thống kiểm tra và bảo toàn kiên cố của cơ quan nguyên tử lực quốc tế IAEA. Không được bỏ qua một nỗ lực nào trong việc làm tiêu hao đi chẳng những vấn đề sản xuất các thứ vũ khí nguyên tử mà c̣n bất cứ loại buôn bán hay trao đổi những thứ vật liệu như thế nữa.

 

Tương tự như thế, thật là buồn thảm khi biết rằng việc chi tiêu toàn cầu được ước lượng cho năm 2004 lên qua 1 ngàn tỉ và có chiều hướng gia tăng, trái lại không mấy chú trọng tới t́nh trạng chết chóc cao gây ra bởi việc buôn bán bất hợp pháp các loại vũ khí nhỏ cùng những thứ khí giới nhẹ. Vấn đề tiền bạc và t́nh báo được sử dụng nhiều cho sự chết hơn là sự sống là một gương mù cần phải được tất cả mọi quốc gia đề cao cảnh giác.

 

2.         Vai Tṛ của Liên Hiệp Quốc

Dĩ nhiên, một thế giới an toàn không phải chỉ ở chỗ không có vấn đề bị đe dọa bởi chiến tranh: nó sẽ là một thế giới an toàn khi vấn đề phát triển khả thủ của nhân loại cũng được bảo đảm, qua việc quản trị toàn cầu lành mạnh nữa. Thế nhưng, dù việc quản trị toàn cầu này có lư lẽ của ḿnh đi chăng nữa, nó vẫn thiếu đạo lư của nó, một cái ǵ đó cần phải được các quốc gia trên thế giới cung ứng. Chúng ta sống trong một xă hội liên thuộc nhưng mỏng ḍn, và ở nhiều nơi, các thứ thiện ích tốt nhất của dân chúng không được đáp ứng đàng hoàng. Tôi chỉ xin đề cập đến ở đây ba lănh vực đặc biệt nơi cuộc thách đố về đạo lư của vấn đề này, đó là t́nh đoàn kết với thành phần nghèo khổ; việc cổ vơ phát động công ích; và một môi sinh khả thủ.

 

Những thành đạt nho nhỏ nơi lănh vực cuối cùng này vẫn c̣n gặp nguy cơ, trong số những yếu tố khác, bởi t́nh trang thay đổi khí hậu, bởi những thứ bệnh hoạn mới, bởi việc hủy hoại một cách vô trách nhiệm rừng rú, bởi việc phóng uế nước nôi, bởi việc hao cạn các nguồn đánh cá, bởi việc hủy hoại các thứ chung toàn cầu như biển khơi v.v.. Ước lượng là trong 24 dịch vụ thiết yếu được cung ứng bởi các hệ thống môi sinh có 15 dịch vụ đang được sử dụng bất khả bảo tŕ. Cái khổng lồ của những thách đố về môi sinh ngày nay buộc chúng ta phải nghĩ lại những quan niệm của chúng ta về mối liên thuộc, về việc hợp tác toàn cầu và về trách nhiệm chung của chúng ta đối với vai tṛ làm quản lư trái đất này. Những sự khác nhau về cách thức giải quyết những thách đố không được trở thành những ǵ ngăn chặn việc đồng ư với nhau nhận định những mối đe dọa đặc biệt về môi sinh cũng như về những biện pháp chung để khắc phục chúng.

 

Một nguyên tắc chính yếu khác nữa cần phải được làm sáng tỏ nơi việc h́nh thành việc ủy thác quyền lực một cách xứng hợp cho các tầm cấp địa phương để bảo đảm sự hiệu năng và tính cách tin tưởng cũng được gọi là tính cách phụ trợ. Việc áp dụng nguyên tắc này sẽ nuôi dưỡng việc tôn trọng đích thực đối với các quyền lợi của chư quốc cũng như đối với tầm quan trọng của văn hóa, làm cân bằng chủ nghĩa chuyên biệt và chủ nghĩa đại đồng. Việc quản trị toàn cầu cũng cần phải giải quyết cả cái yếu kém về dân chủ nữa, để bảo đảm vấn đề toàn cầu hóa mà không loại trừ hóa. Việc giảm sút nghèo khổ, với sự tham dự của người nghèo vào vấn đề quyết định, sẽ là một thứ công lư được thể hiện qua việc dự phần.

 

Theo chiều hướng ấy, Liên Hiệp Quốc trở thành một ngưỡng vọng ḥa b́nh và phúc hạnh trên thế giới này. Để hoàn thành ơn gọi cao cả ấy, một ơn gọi thích đáng với bản chất và phận vụ của cơ quan quốc tế này, cần phải có những đặc tính rơ ràng nơi vai tṛ lănh đạo, phải có ḷng can đảm từ Tổ Chức này cũng như từ những ai dự phần với nó, và phải có một nhăn quan chung nơi các nhà lănh đạo của nó, các hợp tác viên của nó cũng như thành phần trao đổi của nó ở mọi tầm cấp, để họ có thể thành công trong việc t́m thấy con đường ngay thẳng để đạt tới các mục tiêu trước mắt.

 

3.         Nhân Quyền và Tính cách Đa Dạng nơi Các Nền Văn Hóa


Về chủ đề của Hội Đồng Nhân Quyền cần phải đón nhận vấn đề canh tân cải tiến theo những sắp xếp hiện nay. Luật lệ quốc tế và những cơ cấu của nó là những ǵ quan trọng đối với việc áp dụng và việc tôn trọng đối với các thứ nhân quyền. Cũng thế, chúng ta không được quên đi tầm quan trọng được Bản Tuyên Ngôn Chung Về Ngân Quyền gắn bó với việc liên hợp các nguyên tắc của nó với luật tự nhiên cũng như với vấn đề giáo dục trong việc duy tŕ một nền văn hóa tôn trọng quyền lợi. Việc cổ vơ và tôn trọng các thứ nhân quyền ở tầm cấp quốc gia và việc liên lỉ chú trọng tới vấn đề giáo dục sẽ tiếp tục là những ǵ bất khả châm chước để giúp cho hai việc này được phát triển trong một hệ thống mới.

 

Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, cộng đồng quốc tế, sở hữu chủ hân hạnh của Bản Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền từ năm 1948, h́nh như đă quên rằng không phải chỉ có các thứ nhân quyền chính yếu mà cả những nhân vụ nữa, là những ǵ nền tảng cho Bản Tuyên Ngôn này. Những nhiệm vụ này là những ǵ làm nên cái khung chất chứa các quyền lợi của chúng ta, nhờ đó, các quyền lợi của chúng ta không phải chỉ được hành sử một cách tùy ư. Việc đề cập đến các nhiệm vụ trong Bản Tuyên Ngôn Chung ấy nhắc nhở chúng ta rằng các quyền lợi thường bao gồm cả những trách nhiệm nữa; và nếu chúng ta muốn các quyền lợi của chúng ta được tôn trọng th́ chúng ta cần phải tỏ ra tôn trọng những quyền lợi của kẻ khác.

 

Nó cũng nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đều là phần tử của một gia đ́nh nhân loại duy nhất, và chúng ta không chỉ là những kẻ biệt lập nắm giữ các quyền lợi mà cùng nhau có một cách hỗ tương. Thật vậy, việc nh́n nhận của Bản Tuyên Ngôn về vấn đề liên thuộc quyền lợi và nhiệm vụ là một trong những tính chất chính làm cho nó chiếm được việc đồng thuận của các quốc gia Đông và Tây, Bắc và Nam. Ngày nay, khi vấn đề toàn cầu hóa khiến chúng ta trở thành liên thuộc hơn bao giờ hết th́ một cảm quan mạnh mẽ hơn nữa về các nhân vụ là những ǵ sinh lợi cho lư tưởng ḥa b́nh, v́ việc nhận thức về trách nhiệm chung của chúng ta công nhận những nhiệm vụ là những ǵ thiết yếu cho một trật tự xă hội không lệ thuộc vào ư muốn hay quyền lực của bất cứ cá nhân hay phái nhóm nào.

 

Vấn đề này đă tái khơi lên vấn đề làm thế nào có được các thứ quyền lợi phổ quát theo chiều hướng đa dạng nơi các nền văn hóa. Một số chủ trương rằng tất cả mọi quyền lợi đều tương đối về lănh vực văn hóa; những kẻ khác lại cho rằng các quyền lợi phổ quát chỉ là những dụng cụ của một thứ đế quốc về văn hóa nào đó; và một số th́ tin rằng cái vực thẳm giữa hai chủ trương trên không thể nào nối kết được với nhau. Tuy nhiên, đại biểu tôi hiểu được niềm tin tưởng của những vị h́nh thành chính của Bản Tuyên Ngôn Chung này, đó là một số những giá trị rất nồng cốt đến nỗi chúng được hỗ trợ bởi các truyền thống văn hóa về luân lư và triết học. Đó là lư do những nguyên tắc chung hay những thứ nhân quyền căn bản này là những ǵ bất khả chối bỏ. Ở cốt lơi chính yếu của ḿnh, chúng được nh́n nhận một cách phổ quát và cần phải được thi hành một cách phổ quát “erga omnes”.

 

Hủy bỏ tính cách phổ quát của các thứ nhân quyền căn bản là không chấp nhận thân mệnh về chính trị của nhân loại là những ǵ có thể bị chi phối bởi lư trí và việc chọn lựa. Đó là việc phán quyết các sinh hoạt của con người theo vơ lực và ngẫu nhiên. Như thế là phản nghịch với tất cả những nguyên tắc làm nền tảng cho Tổ Chức LHQ này.

 

Tuy nhiên, việc loại bỏ ư nghĩ rằng các quyền lợi căn bản là tương đối không đ̣i con người loại bỏ tính cách đa nguyên hợp lư khi áp dụng những quyền lợi này. Hoàn toàn ngược lại – v́ tính cách đa nguyên là đường lối duy nhất vượt ra ngoài cuộc tranh luận vô ích về chủ nghĩa đế quốc tương đối thuyết. Ṭa Thánh, căn cứ vào kinh nghiệm lâu đời của ḿnh khi thấy được cách thức làm thế nào những nguyên tắc chính yếu chung có thể cắm rễ và triển nở ở những nền văn hóa rất khác nhau, muốn khẳng định cái khôn ngoan của những vị soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Chung này theo chiều hướng ấy. Cái khung được các vị h́nh thành là những ǵ đủ uyển chuyển để cho phép những cái khác biệt được chú trọng và áp dụng, thế nhưng cũng không quá dễ bị uốn cong khi để cho bất cứ nhân quyền căn bản nào hoàn toàn bị lu mờ đi hay phụ thuộc một cách không cần thiết cho những thứ quyền lợi khác. Tiếc thay, cách thức đa nguyên hợp lư này đối với các thứ quyền lợi căn bản đôi khi bị lăng quên, thế nhưng nó là những ǵ cần phải được phục hồi, nếu chúng ta muốn tránh đi cái nhăn quan đồng nhất hóa từ trên xuống dưới về các thứ nhân quyền.

 

4.         Các Tôn Giáo, Văn Hóa và Văn Minh

 

Sau những hành động gần đây của việc bạo động kinh hoàng, nhiều thành phần khác nhau đă lên tiếng kêu gọi việc cổ vơ vấn đề hiểu biết hơn nữa giữa các tôn giáo, các nền văn hóa và các thứ văn minh.

 

Ṭa Thánh ủng hộ những khởi động nơi lănh vực hợp tác liên tín cũng như đối thoại giữa các thứ văn minh, nhất là những ǵ, theo tinh thần của những khởi động này được qui chiếu và tỏ ra tin tưởng vào Thiên Chúa, giúp đào luyện lương tâm, duy tŕ các thứ giá trị về luân lư, và phát động kiến thức liên văn hóa cùng những việc dấn thân tự chủ động. Những việc làm ấy cần phải được liên tục thẩm định về những nguyên nhân động lực, về các thứ qui chế, các thứ luật lệ và các thứ cơ cấu tổ chức. Các nhà lănh đạo dân sự và tôn giáo có sứ vụ trở thành nguồn hứng khởi, nâng đỡ và hướng dẫn cho tất cả mọi con người thiện chí muốn nỗ lực tranh đấu cho nền ḥa b́nh khả thủ.

 

Ṭa Thánh cũng hiểu rằng có một loại đối thoại liên tôn đặc biệt là cuộc đối thoại có các vị đại diện tôn giáo cùng với những ủy nhiệm viên của họ tham gia vào cuộc bàn luận về các điều khoản về thần học và linh đạo của tôn giáo ḿnh, cũng như trao đổi những kinh nghiệm tích cực để cổ vơ việc tương kiến và tương kính nơi tất cả mọi người. Loại đối thoại này không hiện lên như là một phần của Bản Hiến Chương LHQ và v́ thế tốt hơn được giành cho các chuyên viên về tôn giáo và các vị đại diện thích hợp của các đạo giáo. Tuy nhiên, LHQ, với tư cách là nguồn mạch của các cử chỉ ḥa b́nh xuất phát từ sự khôn ngoan tích tụ nơi các phần tử của nó, có thể góp phần một cách đáng giá và quan trọng vào việc hợp tác liên tín cho vấn đề ḥa b́nh và phát triển.

 

Thưa Ông Chủ Tịch, để kết thúc, tôi xin bày tỏ niềm tri ân về việc đóng góp quan trọng được nhân viên LHQ thực hiện cho Cơ Quan này nơi nỗ lực của nó trong việc cổ vơ thuận ḥa và đoàn kết giữa các dân tộc. Cũng thế, tôi xin lập lại cùng ông những lời chúc tốt đẹp nhất và việc hỗ trở của phái đoàn đại biểu chúng tôi đây trong lúc ông đang thể hiện vai tṛ chủ tịch quan trọng và hiệu năng của Tổng Hội Đồng này.

 

Cám ơn Ông Chủ Tịch.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 25/9/2005

 

 TOP

 

Ṭa Thánh tại LHQ về Hiệp Ước Cấm Thử Nguyên Tử NTBT (Nuclear Test Ban Treaty)

ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở LHQ, hôm Thứ Năm 22/9/2005, đă tham dự một hội nghị 3 ngày (chấm dứt vào Thứ Sáu) của LHQ về việc làm sao để dễ dàng hiệu lực hóa Hiệp Định Cấm Thử Nguyên Tử. Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của vị đại diện Giáo Hội Công Giáo nhận định và khuyến nghị.

Thưa Ông Chủ Tịch,

Trong Hội Nghị về Việc Dễ Dàng Hóa Vấn Đề Làm Hiệu Lực Bản Hiệp Định Cấm Thử Nguyên Tử năm 2003 có 168 quốc gia đă kư và 104 quốc gia đă chấp thuận bản Hiệp Định này. Hôm nay, khi hội nghị này tái diễn, chúng tôi ghi nhận rằng có 176 quốc gia kư kết và 125 quốc gia công nhận. Rơ ràng là bản Hiệp Định này càng ngày càng gây ảnh hưởng. Việc gia tăng của CTBT cho thấy đại đa số các quốc gia muốn tiến đến một thế giới không có các thứ vũ khí nguyên tử.

Mục đích của CTBT – đó là việc vĩnh viễn chấm dứt việc thử các thứ vũ khí nguyên tử – cần phải trở thành mục đích của mọi quốc gia. V́ các thứ vũ khí nguyên tử không thích hợp với ḥa b́nh chúng ta đang t́m kiếm cho thế kỷ 21 này.

Tuy nhiên, trào lưu làm cho CTBT có hiệu lực bị cản trở bởi sự thiếu tính cách đại đồng. Ṭa Thánh xin góp tiếng nói vào việc kêu gọi những quốc gia cần phải chấp thuận để cho Bản Hiệp Định được hiệu lực. Việc đạt được tính cách đại đồng trong vấn đề chấm dứt sự phát triển các thứ vũ khí nguyên tử là những ǵ cho thấy vai tṛ lănh đạo can trường và cảm thức cao về trách nhiệm chính trị để phát trriển nền văn hóa an b́nh, một nền văn hóa được xây dựng trên nền tảng luật pháp và tôn trọng sự sống con người.

Năm tới là năm đánh dấu 10 năm bắt đầu khai mào cho vấn đề kư kết vào bản CTBT này. Chính thời gian quá khứ là thời gian thể hiện việc hiệu lực hóa. Trong năm 2003, Hội Nghị này đă tái xác nhận tầm quan trọng của việc hiệu lực hóa ấy để giúp cho việc tiến triển những nỗ lực về cơ cấu đối với vấn đề giải giới nguyên tử cũng như vấn đề thôi leo thang nguyên tử. Tuy nhiên, việc liên lỉ bị bí tắc đă làm ngăn trở sự tiến triển của cộng đồng thế giới.

Việc thất bại của Hội Nghị Kiểm Điểm Hiệp Định Thôi Leo Thang Nguyên Tử gần đây cho thấy những yếu kém nơi chính sách thôi leo thang nguyên tử. Tất cả loài người cảm thấy quan ngại là các thứ vũ khí nguyên tử đang trở thành một đặc tính vĩnh viễn của một số chủ trương về quân sự.

Việc ngăn chặn nguyên tử, như là một thực tại liên tục sau cuộc Chiến Tranh Lạnh, đang càng ngày càng lung lay bấp bênh, cho dù nó có thực sự nhân danh nền an ninh chung. Thật vậy, nó đang đe dọa việc hiện hữu của các dân tộc ở một số phần đất trên thế giới và nó có thể đi đến chỗ đang được dùng như một cái b́nh phong thuận lợi cho việc gia tăng khả năng nguyên tử lực.

Chúng ta cần phải đáp ứng trước những mối nguy hiểm đang gia tăng này, bằng việc thêm quyết tâm thiết lập một bộ luật quốc tế để duy tŕ một thế giới không có các thứ vũ khí nguyên tử. Bản CTBT, một khi có hiệu lực, sẽ là một trụ cột cho luật lệ quốc tế. Nó sẽ là một niềm phấn khởi cho những biện pháp sau đó, như việc hủy hoại một cách có phương pháp tất cả những đầu đạn nguyên tử cùng với những bộ phận bắn đi, những biện pháp củng cố rất nhiều cái cấu trúc cho một tân chính sách an ninh của con người.

Công việc của CTBT đă cho thấy những kỹ thuật kiểm xét của nó, những kỹ thuật được sáng chế ra để khám phá ra các chất nổ nguyên tử, có thể trở thành hứa hẹn cho việc hỗ trợ những hệ thống báo động các cuộc biển động sóng thần. Nhân loại sẽ có lợi rất nhiều nơi việc hoàn toàn hoạt động của những thứ kỹ thuật kiểm xét đă được ấn định. Rất nhiều việc cần phải làm để thiết lập những điều kiện cho một nền ḥa b́nh bền vững trên thế giới này.

Cần phải có ḷng can đảm và tầm nh́n để tiến bước. Mặc dù thế kỷ này mở màn bằng một cuộc bùng nổ của nạn khủng bố toàn cầu, th́ mối đe dọa này cũng không được phép làm phai mờ những qui định của luật lệ quốc tế, một luật lệ được thiết lập trên những nguyên tắc chính về tính cách giới hạn và cân đối. Việc sử dụng các thứ vũ khí không được làm phát sinh ra những sự dữ và những lệch lạc đổ vỡ hơn là sự dữ cần bị loại trừ.

Nhờ can đảm và nhăn quan, chúng ta có thể tập trung sức mạnh để đưa cộng đồng quốc tế ra khỏi vũng lầy cậy dựa vào các thứ vũ khí nguyên tử để bảo vệ an ninh. Bản CTBT là một phương tiện để thăng tiến nhân loại.

Cám ơn Ông Chủ Tịch.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 25/9/2005

 

 

TOP

 

 

Ṭa Thánh tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc dịp Thượng Nghị 60 Năm Thành Lập: “Nhiều việc vẫn cần phải được thực hiện.

 

Sau đây là nguyên văn (bằng tiếng Pháp đă được dịch sang Anh ngữ) bài diễn văn của Quốc Đô Vatican qua vị hồng y Quốc Vụ Khanh của Ṭa Thánh là Angelo Sodano, hôm Thứ Sáu, 16/9/2005., trước Tổng Hội Đồng LHQ.

 

Ông Chủ Tịch,

 

Tôi hân hạnh chuyển lời chào thân ái nhất của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến ông cũng như các vị lănh đạo quốc gia và chính quyền hội họp nơi đây, đến cả các vị đại diện khác thuộc tổ chức của các quốc gia phần tử LHQ.

 

Tiếng nói của tôi cũng vang vọng những cảm t́nh của người Công giáo khắp thế giới, những người hướng đến LHQ như là một cơ cấu cần thiết hơn bao giờ hết cho vấn đề ḥa b́nh và tiến bộ của toàn thể nhân loại.

 

Sáu mươi năm đă qua đi kể từ ngày 26/6/1945, thời điểm tổ chức này được h́nh thành, nhắm mục đích áp dụng 4 mục tiêu cả thể được liệt kê trong lời mở đầu bản qui chế của ḿnh. Nhiều điều đă đạt được trong việc phục vụ nhân loại trong những năm ấy. Tuy nhiên, thời gian đă điểm đối với cơ quan này, cũng như với hết mọi công cuộc của con người làm. Giờ đây nhiều người nghĩ rằng LHQ cần phải được canh tân cải tổ để đáp ứng với những thách đố lớn lao trong thời điểm hiện nay.

 

1.         Tính cách thích hợp hiện đại của LHQ

 

Thật sự LHQ không phải là một siêu chính phủ. Trái lại, nó là kết quả bởi ư muốn về chính trị của các mỗi quốc gia phần tử. Tuy nhiên, thành phần con người nam nữ, nhiều triệu con người làm nên “dân chúng tôi” của Bản Hiến Chương LHQ, đang nói cùng các vị lănh đạo chư quốc rằng: Xin hăy cống hiến cho chúng tôi một cơ cấu tân tiến, có khả năng thực hiện những giải quyết rồi có khả năng áp dụng những giải quyết ấy. Đó là một lời kêu gọi liên lỉ được ngỏ cùng chúng ta từ những con người nam nữ đang cảm thấy nản ḷng trước những hứa hẹn được bày tỏ nhưng không giữ lời, những giải quyết được chấp nhận nhưng không áp dụng. Tiếng kêu của họ cần phải thấm nhập vào chúng ta việc quyết tâm cần thiết để thực hiện vấn đề canh tân cải tổ LHQ, một thứ canh tân cải tổ chú trọng tới những đ̣i hỏi thật sự của các thành phần dân chúng của chúng ta, hơn là vấn đề cân bằng về quyền lực.

 

Về vấn đề này cần phải nói rằng những cơ chế được ấn định ở các Chương VI và VII của Bản Qui Chế LHQ là những ǵ vẫn c̣n nguyên giá trị của chúng và chất chứa một qui chuẩn cần thiết cho việc ngăn chặn những thứ đe dọa đối với nền ḥa b́nh cũng như cho việc bảo đảm nền an ninh chung. Tuy nhiên, ngày nay, cơ cấu về pháp lư này cũng cần phải được bổ khuyết bởi những phương tiện pháp lư quốc tế cần thiết đối với vấn đề giải giới và kiểm soát vũ khí, với việc chống nạn khủng bố và tội ác quốc tế, cũng như với việc hợp tác hiệu năng giữa LHQ và các cơ quan vùng để giải quyết những trường hợp xung khắc.


2.            Những Trọng Trách của LHQ
 
Lịch sử lâu dài về các hoạt động ǵn giữ ḥa b́nh, kèm theo những thành công và thất bại, đă cống hiến một nguồn dồi dào kinh nghiệm được sử dụng để khai triển những lượng định cho hoạt động sau này về việc giải quyết vấn đề xung khắc. Tức là Ṭa Thánh thích có được một Ủy Ban xây dựng Ḥa B́nh, một ủy ban được thiết lập để phác họa và áp dụng một sách lược phong phú cho việc chế ngự những yếu tố đối chọi về chủng tộc, những yếu tố gây nên các cuộc xung đột và là những ǵ có thể tái bùng nổ trong tương lai.

 

Những sách lược đă được áp dụng ở vùng Balkans, ở Trung Đông và ở Phi Châu khiến chúng ta phải suy nghĩ. Giờ đây vấn đề quan trọng đó là việc chúng ta quyết tâm duy tŕ một thứ văn hóa ngăn ngừa xung khắc, thế nhưng chúng ta cũng phải khám phá thấy tất cả vấn đề của việc sử dụng vơ lực để giải giới thành phần tấn công. “Trách nhiệm bảo vệ” xuất phát từ một quan niệm rất hệ trọng về chính trị và pháp lư, một quan niệm được phát triển mỗi ngày một hơn trong 60 năm hiện hữu của LHQ. Tự bản chất của ḿnh, thứ trách nhiệm này liên quan tới phẩm vị trổi vượt của hết mọi cá nhân con người nam nữ trên quốc gia cũng như trên hết mọi thể chế ư hệ.

 

Liên quan tới vấn đề canh tân cải cách của LHQ, Ṭa Thánh xin các quốc gia phần tử của LHQ hăy can đảm tiếp tục bàn luận về vấn đề áp dụng cùng những hậu quả thực tiễn của “Trách Nhiệm bảo vệ”, để t́m ra giải quyết tốt đẹp nhất, qua Hội Đồng Bảo An và hợp với những ấn định trong Chương VII của Qui Chế LHQ, cho những trường hợp thẩm quyền quốc gia không thể nào hay không muốn bảo vệ nhân dân của ḿnh trước các mối đe dọa từ bên trong hay từ bên ngoài. Bản Qui Chế của LHQ, nơi Lời Mở Đầu của nó, đặc biệt nói rằng tổ chức LHQ được thiết lập “là để cứu các thế hệ tương lai khỏi nạn chiến tranh”.

 

V́ mục đích ấy, vẫn cần phải phục vụ trong công lư phẩm vị con người để đạt tới, thậm chí để vượt trổi Các Mục Tiêu Phát Triển Ngàn Năm, nhờ đó, thiết lập một điều kiện tiên quyết cho ḥa b́nh và nền an ninh chung, cũng như cho việc loại trừ hay giảm bớt thật nhiều mối đe dọa bị khủng bố và tội ác quốc tế.


3.            Việc Dấn Thân Cho Vấn Đề Phát Triển


Giờ đây khi chúng ta chú trọng tới đề tài cả thể về vấn đề phát triển, chúng ta cần phải nh́n nhận rằng những năm gần đây đă chứng kiến thấy một số những cử chỉ hứa hẹn nơi phần của các chính quyền. Chẳng hạn, dự án về những cơ cấu mới đối với việc phát triển tài chính (mới đây chính phủ Pháp và các quốc gia khác đă dự trù thực hiện the U.S. Millennium Challenge Account, the International Finance Facility, the "Nouveaux mécanismes de taxation internationale"), và đặc biệt là những quyết định mới đây của thượng nghị G8 ở Gleneagles, những quyết định đă được Ṭa Thánh hết sức ca tụng. Tuy nhiên, vẫn c̣n nhiều việc cần phải làm để đạt tới việc liên kết về kinh tế và tài chính. Điều này cần phải bao gồm chẳng những vấn đề giải quyết cho các thứ nợ nần của những quốc gia nghèo khổ nhất, cũng như của các quốc gia có lợi tức trung b́nh đang bị nặng nợ hải ngoại, mà c̣n cả vấn đề tái tấu việc viện trợ phát triển chung (ODA, Official Development Assistance) và việc mở thị trường rộng răi hơn để trợ giúp các quốc gia nghèo khổ.

 

Thật sự là những hành động như thể của các quốc gia phát triển cũng cần phải được đi đôi với quyết tâm cải tiến nơi phía của các chính quyền thuộc các quốc gia đang phát triển nữa, những quốc gia có nhiệm vụ phải chiến đấu chống t́nh trạng băng hoại, bảo đảm qui luật và nhất là thực hiện trách nhiệm về các khía cạnh xă hội, như vấn đề giáo dục, bảo đảm công ăn việc làm và việc chăm sóc sức khỏe căn bản cho tất cả mọi người. Đối với một thế giới vốn bị phơi bày ra trước nạn dịch hạch, có những vùng đang gặp nguy cơ bùng phát, đối với hằng triệu người không được hưởng việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu, thuốc men và nước uống, th́ chúng ta không thể cống hiến một thứ nhăn quan về sức khỏe một cách mơ hồ, qui nạp hay thậm chí theo ư hệ. Chẳng hạn, không tốt hơn hay sao khi nói một cách rơ ràng về “sức khỏe của nữ giới và trẻ em” thay v́ sử dụng từ ngữ “sức khỏe sản sinh”? Có nên mong muốn trở lại với ngôn từ của một thứ “quyền phá thai” hay chăng?

 

4.         Việc Đóng Góp của Ṭa Thánh


Ông Chủ Tịch, Ṭa Thánh trước hết và trên hết có một sứ mệnh thiêng liêng, thế nhưng cũng v́ thế mà Ṭa Thánh có nhiệm vụ hiện diện nơi đời sống của các quốc gia và dấn thân cổ vơ công lư và kết đoàn giữa các dân tộc. Được trang bị bằng niềm xác tín này, Ṭa Thánh tái khẳng định việc Ṭa Thánh hoàn toàn ủng hộ các mục tiêu của Cuộc Thượng Nghị đây và đảm nhận việc thực hiện những ǵ có thể để giúp cho cuộc thượng nghị này mang lại những hoa trái đáng ước mong, nhờ đó kỷ nguyên ḥa b́nh và công b́nh xă hội mau được thể hiện. Những lời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói trong cuộc tông du nổi tiếng của ngài ở Chí Lợi năm 1987 vẫn không mất đi tí ư nghĩa nào của chúng: “Los pobres no pueden esperar” – người nghèo không thể đợi chờ nữa! Xin cám ơn!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 18/9/2005

 

TOP

 

Ṭa Thánh tại LHQ về Những Bài Học Từ Cuộc Biển Động Sóng Thần Tsunami


Sau đây là bản diễn văn của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở trụ sở trung ương Nữu Ước của LHQ, tại Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội của LHQ trong một cuộc họp về “Việc Cứu Trợ Kinh Tế, Nhân Bản và Tai Họa: Những Bài Học Từ Cuộc Biển Động Sóng Thần Tsunami”, hôm Thứ Tư 13/7/2005.


Thưa Ông Chủ Tịch,


Để t́m hiểu những bài học từ phản ứng trước cuộc biển động sóng thần Nam Á ngày 26/12/2004, tôi xin được bắt đầu bằng lời chúc mừng các cơ quan của LHQ trong việc nhanh chóng đáp ứng việc rat ay cấp cứu. Cũng cần phải nói rằng, đối với cuộc khủng hoảng chưa từng thấy này, đă diễn ra một đáp ứng nhân đạo chưa từng thấy, một đáp ứng được tỏ ra nơi thành phần thường dân mà c̣n liên quan tới cả những lời hứa quyết của các chính quyền của họ đối với một thiên tai kinh hoàng lan rộng như thế.


Khi xẩy ra nạn động đất sóng thần này, Ṭa Thánh đă lập tức cung cấp trên 4 triệu Mỹ kim cấp cứu. Cả hàng chục chục cơ quan Công giáo đă mau chóng theo dơi tai họa này, với những dự án tái thiết nhà cửa và học đường ở Ấn Độ, Nam Dương, Myanmar, Phi Luật Tân, Somalia, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam. Ngân khoản chi phí ở khắp nơi này đă lên đến 650 triệu Mỹ kim do các cơ quan liên hệ với Ṭa Thánh chi phí cho các dân tộc gặp nạn biển động sóng thần ấy, chưa nói ǵ tới công cuộc vẫn c̣n đang được thực hiện bởi một số các tổ chức tôn giáo địa phương hiện diện và hoạt động các dự án phát triển và nhân đạo khắp các miền đó.


Các ngân khoản vừa được đề cập tới trước hết được chi xài cho những nhu cầu cứu trợ khẩn trương nhất, như vấn đề nước uống an toàn, lương thực, nhà cửa, quần áo, thương tích và chăm sóc sức khỏe, tiếp tục chưa trị về y khoa, vệ sinh và điều kiện giữ vệ sinh, máy móc nấu nướng và kiểm soát bệnh nạn. Thành phần tị nạn, IDP, phụ nữ và trẻ em đặc biệt dễ dàng bị thương hại bởi việc buôn người và khai thác là thành phần được giúp đỡ trước tiên.


Sau giai đoạn cấp cứu là việc khởi công thực hiện những dự phóng tái thiết và phục hồi, bao gồm việc dựng lại nhà cửa, trường học và bệnh viện, chưa kể tới vấn đề cung cấp dụng cụ về canh nông và ngư nghiệp để phục hồi việc tự lập mưu sinh, và chưa kể tới việc giúp đỡ chuyên chở cùng các chương tŕnh giáo dục. Vấn đề đoàn tụ gia đ́nh và nâng đỡ họ đều là những ǵ vẫn tiếp tục mang một tầm vóc quan trọng.

 

Theo chiều hướng này, Ṭa Thánh tin rằng việc hỗ trợ về tôn giáo và tinh thần thích hợp với việc chữa lành về nhân bản, mặc dù nó là một khía cạnh rất thường bị coi thường. Chúng tôi quyết tâm trong mọi hoàn cảnh tôn trọng những sự khác biệt về tôn giáo và văn hóa, cũng như hoạt động một cách thân t́nh để dễ dàng hóa việc tin tưởng hơn nơi các tín hữu thuộc mọi niềm tin và nơi thành phần vô tín ngưỡng. Việc hợp tác liên tôn cùng với các việc khởi công xây dựng ḥa b́nh sẽ tiếp tục làm nên một yếu tố quan trọng cho hoạt động của Giáo Hội ở những địa điểm ấy.


Bởi vậy, nhận định theo từ phản ứng đáng chú ư khắp thế giới đối với cuộc khủng hoảng này, th́ bài đọc đầu tiên và quan trọng nhất cần phải học đó là vấn đề thiện tâm dồi dào của thành phần thường dân thường chưa được khai thác hết. Mối liên kết tự nhiên và chân thành của các dân tộc trên thế giới vốn có đó như tất cả mọi người đều thấy, đồng thời, khi truyền thông thế giới giúp vào việc làm cho thế giới này càng trở nên như một ngôi làng hoàn vũ, th́ phải chân nhận là có một cảm quan sâu xa về cộng đồng nhân loại đă được thể hiện một cách mau mắn và tích cực đối với thành phần sống sót của thảm họa này. Khi cộng đồng thế giới giúp cho dân chúng thực sự ở trong những trường hợp thực sự cần giúp đỡ th́ đă rơ ràng cho thấy, với một cảm tính rộng răi và tôn trọng những hoàn cảnh về văn hóa và tôn giáo khác nhau của dân chúng, một ư thức về vị thế chính yếu của con người.


Một bài học khác cần phải học đó là bài học nơi phương diện ngân quĩ cứu trợ và phát triển. Với một số tiền khổng lồ thực sự như thế trong tay và với một nhu cầu khẩn trương trong việc cứu trợ, bao giờ cũng có một khuynh hướng bất khả tránh trong việc sử dụng những nguồn tài trợ quí hóa mà không được hoạch định xứng hợp. Về vấn đề này, các cơ quan và tổ chức của chúng tôi ở các vùng bị nạn động đất sóng thần đó đă đặc biệt xem xét những đường lối tránh lánh việc gây nên một thứ bệ vệ quan liêu trong việc giải quyết vấn đề cấp cứu, để bảo đảm việc cung cấp những số lượng ngân quĩ tối đa vào mục tiêu thích hợp của nó. Việc tổ chức cho có lớp lang và vấn đề điều hợp là những ǵ hệ trọng cần phải có để tránh được việc phân phối một cách bất cẩn những nguồn tài trợ.


Cũng cần phải đề cập tới nhu cầu gia tăng việc hợp tác quốc tế để thiết lập và củng cố guồng máy ở quốc gia, ở vùng nhỏ, vùng lớn và quốc tế hầu tránh né, sửa soạn và làm giảm bớt đi những thứ tai họa thiên nhiên. Cần phải hoan hô việc tái dấn thân áp dụng những khởi công thực hiện việc cải tiến khả năng cảnh báo ban đầu.


Sau hết, chúng tôi ghi nhận rằng thảm trạng này, một thảm trạng đă gây nhiều chú ư, thiện tâm và hỗ trợ về tài chính, thực sự đă chứng tỏ cho các chính quyền và nhân dân bị nạn thấy được một cơ hội chưa từng có về vấn đề tái thiết và phát triển. Việc hợp tác nội tại, song phương, bắc nam và nam nam, một việc hợp tác có lúc trở thành một thứ tuyên ngôn, không được phí phạm mà phải được xậy dựng cho thiện ích của cả thành phần sống sót lẫn tất cả mọi dân tộc trong vùng ấy.
Cám ơn Ông Chủ Tịch


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 14/7/2005

TOP

Ṭa Thánh tại LHQ về Vấn Đề Các Loại Vơ Trang Nhỏ và Các Thứ Vũ Khí Nhẹ

Sau đây là bản diễn văn của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở trụ sở trung ương Nữu Ước của LHQ, tại Cuộc Họp Nhị Niên Lần Thứ Hai của Chư Quốc Cứu Xét đến Vấn Đề Áp Dụng Chương Tŕnh Hành Động Để Ngăn Ngừa, Chiến Đấu và Nhổ Tận Gốc Việc Buôn Bán Bất Hợp Pháp Các Loại Vơ Trang Nhỏ và Các Thứ Vũ Khí Nhẹ, hôm Thứ Hai 11/7/2005.

Thưa Ông Chủ Hội,

Chương Tŕnh Hành Động được chấp thuận vào năm 2001 này, trong việc ngăn ngừa, chiến đấu và nhổ tận gốc việc buôn bán bất hợp pháp các loại vơ trang nhỏ và các thứ vũ khí nhẹ ở cấp quốc gia, cấp vùng và cấp toàn cầu là bản văn kiện đầu tiên thuộc cấp LHQ nhắm đến việc hoạch định những bước đường chư quốc cần phải thực hiện để đối đầu với vấn đề này. Cuộc họp này là một cơ hội để kiểm điểm việc hiện thực Dự Án Hành Động cũng như để xem nó có vẫn c̣n là nền tảng hay chăng cho nội dung pháp lư quốc tế mới đối với việc kiểm soát các thứ vơ trang nhỏ và các loại vũ khí nhẹ. Những nỗ lực này được Nhóm Hành Động đúc kết cởi mở trong việc thương thảo một thứ dụng cụ quốc tế để giúp cho chư quốc có thể nhận định và theo dơi, một cách hợp thời và khả tín, những thứ vũ trang nhỏ cùng các loại vũ khí nhẹ bất hợp pháp hiện nay đă xuất hiện theo chiều hướng ấy.

Một chế độ như thế vẫn chưa phải là một bước tiến khác hướng tới việc cổ vơ hiệu nghiệm cả nhân quyền lẫn luật nhân đạo, thứ luật có thể “làm tăng bổ vấn đề tôn trọng sự sống và phẩm giá con người qua việc cổ vơ một nền văn hóa b́nh an”, như được chính bản Dự Án Hành Động nhấn mạnh. Cũng nhờ tiến tŕnh do LHQ phát động đă thấy xuất hiện việc nhận thức hơn nữa trên thế giới về vấn đề phức tạp này.

Từ năm 2001, đă có thêm nhiều hiểu biết, kinh nghiệm và những việc làm hay nhất trong lănh vực ấy; ngoài ra, xă hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ cũng đă đóng một vai tṛ quan trọng về khía cạnh này và vẫn đang tiếp tục làm như thế. Tuy nhiên, trước nhu cầu cần phải có một giải pháp vừa đa chiều kích và đa lănh vực th́ cần phải thực hiện hơn nữa việc hợp tác quốc tế để ngăn chặn một cách hiệu nghiệm t́nh trạng lan tràn và dễ dàng của những loại vơ trang đang được bàn đến nơi đây.

Những nỗ lực này cần phải được thực hiện theo chiều hướng của những ǵ đă được đề cập tới trong bản tường tŕnh “Được Quyền Tự Do Hơn” của vị tổng thư kư, một bản tường tŕnh có lư để thôi thúc việc chấp nhận một quan niệm tổng quan hơn về vấn đề an ninh chung, một vấn đề sẽ ngăn cản những mối đe dọa mới cũ và sẽ giải quyết những mối quan tâm về an ninh của tất cả mọi quốc gia, v́ các mối đe dọa chúng ta đang đối diện hiển nhiên là có liên hệ với nhau. Những mối đe dọa đối với thành phần nghèo chắc chắn sẽ gây tổn thương cho thành phần giầu thịnh nữa.

Việc áp dụng một thứ thẩm định như thế cho vấn đề đang bàn đến đây không phải là vấn đề khó khăn. Các nỗ lực quốc tế trong việc kiểm soát vấn đề giao thương bất hợp pháp các loại vũ trang nhỏ hoàn toàn hợp với nhận định của vị tổng thư kư là sẽ “không thế nào có phát triển nếu thiếu an ninh và cũng không thể nào có an ninh nếu thiếu phát triển”.

Việc giao thương bất hợp pháp về những thứ vơ trang nhỏ và những loại khí giới nhẹ là một mối đe dọa rơ ràng đối với ḥa b́nh, phát triển và an ninh. Đó là lư do tại sao Ṭa Thánh góp tiếng nói với lời kêu gọi thực hiện một đường lối chung, không những đối với vấn đề giao thương bất hợp pháp về các loại vơ trang nhỏ mà c̣n liên quan đến những hoạt động, như nạn khủng bố, một tội ác có tổ chức, và như việc buôn người, đó là chưa kể đến vấn đề giao thương thuốc phiện hay các hàng hóa có lợi khác. 

Hơn nữa, như trong việc lưu ư tới vấn đề cung cấp bất hợp pháp các thứ vơ trang, chúng ta cũng cần phải để ư tới các động lực của nhu cầu cần vơ trang nữa. Cũng cần phải thực hiện việc nghiên cứu hơn nữa về khía cạnh này, và cần cộng đồng quốc tế thực hiện một nỗ lực chung và nghiêm chỉnh trong vấn đề cổ vơ một thứ văn hóa ḥa b́nh giữa tất cả mọi phần tử thuộc các xă hội đương đại.

Tuy nhiên, vẫn c̣n một khía cạnh khác được Ṭa Thánh cho là quan trọng đó là những nhu cầu đặc biệt của trẻ em bị ảnh hưởng bởi cuộc xung đột vơ trang, như được diễn tả trong Dự Án Hành Động. Trẻ em cần phải được lưu ư tới trong các chương tŕnh về vấn đề giải giới, giải ngũ và tái hội nhập (DDR: disarmament, demobilization and reintegration), trong các trường hợp hậu chiến, trong việc bảo vệ ḥa b́nh và xây dựng ḥa b́nh, cũng như trong các chương tŕnh phát triển, nhờ những đường lối thuộc cộng đồng.

Theo chiều hướng ấy th́ Ṭa Thánh ủng hộ những nhận định của vị tổng thư kư trong bản tường tŕnh Tháng Hai về các loại vơ trang nhỏ và các thứ vũ khí nhẹ, bản tường tŕnh mà ông đề nghị rằng DDR cũng cần phải giải quyết những nhu cầu của thành phần chiến đấu trước đây, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, cùng những cộng đồng nhận lănh.

Cũng cần phải phát triển những biện pháp dài hạn, những biện pháp có mục đích ngăn chặn tai họa của việc leo thang các loại vơ trang nhỏ và các thứ vũ khí nhẹ, để cổ vơ ḥa b́nh và an ninh, cả trong lẫn ngoài. Ṭa Thánh tin rằng việc đầu tư vào vấn đề ngăn ngừa, thực hiện ḥa b́nh, ǵn giữ ḥa b́nh, và kiến thiết ḥa b́nh có khả năng cứu được hằng triệu triệu mạng sống con người.

Sau hết, cộng đồng quố ctế sẽ thực hiện một cách tốt đẹp khi lưu tâm một cách nghiêm chỉnh đến cuộc bàn căi về việc thực hiện một bản thỏa ước giao thương các thứ vơ trang, căn cứ vào những nguyên tắc đẹp nhất về luật quốc tế liên quan tới nhân quyền và luật nhân đạo. Một phương tiện như thế có thể góp phần vào việc nhổ tận gốc rễ việc giao thương bất hợp pháp các loại vơ trang, trong khi đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của các quốc gia trong việc củng cố bản Dự Án Hành Động được bàn đến hôm nay đây.

Cám ơn Ông Chủ Hội

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 12/7/2005

TOP

Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Giảm Nợ Nần Quốc Tế

Hôm Thứ Sáu 1/7/2005, tại “cuộc họp cao cấp” của Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội LHQ ở Nữu Ước, vị quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh là ĐTGM Celestino Migliore đă đại diện Ṭa Thánh nói riêng và Giáo Hội Công Giáo nói chung bày tỏ nhận định và nguyện vọng của ḿnh liên quan tới đề tài của cuộc họp này: “Việc Chiếm Đạt Những Mục Tiêu Phát Triển Được Quốc Tế Đồng Thuận, Bao Gồm Những Mục Tiêu Chất Chứa Nơi Bản Tuyên Ngôn Ngàn Năm, cũng như Việc Áp Dụng Những Thành Quả của Các Cuộc Họp Chính cũng như Các Thượng Nghị của Liên Hiệp Quốc: Tiến Bộ Đạt Được, Các Thách Đố và Những Cơ Hội”.

Thưa ông Chủ Tịch,

Ṭa Thánh hân hoan liên kết ḿnh với những ai ủng hộ thỏa ước đạt được ở Luân Đôn mới đây của các vị bộ trưởng tài chính G8 trong việc hủy nợ nần cho 18 quốc gia nặng nhợ nhất (HIPC: heavily indebted poor countries). Trong những thập niên qua, Ṭa Thánh đă từng ở vào số thành phần biện hộ thẳng thắn nhất về vấn đề này, một vấn đề được bày tỏ bởi Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị thường lên tiếng mong muốn thấy được việc hủy bỏ nợ nần cho các xứ sở nghèo khổ nhất trên thế giới.

V́ giờ đây, thỏa ước Luân Đôn này vẫn chỉ là một dự thảo mà thôi. Các v ị lănh đạo G8, gặp nhau ở Gleneagles (nước Tô Cách Lan) vào thời khoảng 6-8/7/2005, cần phải chú ư tới những đ̣i hỏi của dân ḿnh cũng như của xă hội dân sự, và đưa ra trước những vị lập pháp đương nhiệm của ḿnh những dự luật có thể dẫn tới chỗ thực sự hoàn thành được những lời hứa hẹn của thỏa ước ấy. Để củng cố những thành đạt này cũng như để biến chúng thành một thứ lót đường chúng ta cần phải nh́n xa trông rộng về chúng.

Không thể nào bỏ qua vấn đề là trong khi các quốc gia đang mau chóng bênh vực và phát động bất cứ những ǵ được nhận thấy có ích lợi cho ḿnh, th́ cũng thường xẩy ra một sự tương phản đáng kể với các biện pháp về tài chính quốc tế đối với các quốc gia nghèo khổ nhất thế giới. Cũng cần phải nh́n nhận rằng tổng số tiền thực sự ở đây là những ǵ khiêm tốn nhất so với việc chi phí về quân sự khổng lồ khắp thế giới cũng như với những khoản tiền trợ cấp được các quốc gia kỹ nghệ hóa chi phí cho các lănh vực kinh tế của ḿnh, khi mà chính các khoản trợ cấp ấy thường phải chịu trách nhiệm về những cái méo mó trầm trọng ở các quốc gia nghèo khổ nhất thế giới.

Bản Tường Tŕnh của Vị Tổng Thư Kư LHQ Về Quyền Tự Do Nhiều Hơn và bàn thảo tuyên ngôn cho cuộc thượng nghị tới đây của thành phần lănh đạo các quốc gia vào Tháng 9/2005 đều nhắc nhở là việc bảo đảm thực sự của nền an ninh thế giới là ở chỗ phát triển các quốc gia nghèo khổ nhất thế giới cũng như ở chỗ phát triển các thành phần sống bên lề xă hội nơi những quốc gia ấy. Nói cách khác, nó là vấn đề của hoạt động ở cả lănh vực bất quân b́nh ở từng xứ sở cũng như t́nh trạng bất quân b́nh giữa các Quốc Gia khác nhau.

Biện pháp tha nợ nần mà người ta hy vọng thấy nó được chấp thuận một cách tốt đẹp bởi những cơ cấu tài chính đa phương chỉ là bước khởi đầu của con đường ấy, trước hết là v́ biện pháp này vẫn cần phải được bao gồm cả khoảng 38 xứ sở HIPC nữa. Tiếp đến, nếu việc tha nợ được áp dụng bằng việc làm trệch đi các nguồn tài chính khỏi những chương tŕnh viện trợ khác, và nếu không thực hiện việc gia tăng đáng kể nơi ODA thực sự, th́ thế giới này cuối cùng cũng sẽ chạm trán với một t́nh trạng c̣n tệ hơn cả trước khi những biện pháp ấy được chuẩn nhận ở Gleneagles nữa.

Cuộc thượng nghị G8 cần phải tỏ cho thế giới thấy tính cách hào hiệp và bao rộng nơi nhăn quan của các nhà lănh đạo cuộc thượng nghị này, một điều ǵ đó có thể phục vụ như là một nền tảng vững chắc và hiệu năng đối với việc đồng thuận rộng răi ở cuộc thượng nghị Ngàn Năm + 5 vào Tháng 9 tới đây.

Năm nay cũng sẽ diễn ra hội nghị lần thứ sáu của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO sẽ diễn ra tại Hồng Kông vào Tháng 12. Việc tha nợ và việc gia tăng ODA cần phải được bổ túc bằng việc thiết lập một tổ chức thương mại quốc tế ít nhất là có thiện cảm với các quốc gia nặng nợ nhất theo chiều hướng được phác họa ở Doha. Về phần ḿnh, trách nhiệm cần phải đảm nhận của các quốc gia rất nghèo hay có những yếu kém trầm trọng về cơ cấu tổ chức cần phải trở nên uyển chuyển hợp với việc cổ vơ tại quốc vấn đề phát triển kinh tế hoàn toàn đáp ứng với những đ̣i hỏi về xă hội ở địa phương. Bởi thế, những xứ sở kỹ nghệ nhất, cùng với những nền kinh tế đang lên và những quyền lực kỹ nghệ mới lên, không được lưỡng lự trong việc ban cho, thậm chí ủng hộ, những thứ nhượng bộ và đặc ân đối với các xứ sở bần cùng nhất.

Sau hết, khi nói về việc tài trợ phát triển, người ta không thể nào không đề cập tới việc thiếu hụt trong vấn đề tài trợ cho việc nghiên cứu về khoa học cũng như cho việc phát triển về kỹ nghệ sản xuất thuốc men trong vấn đề chiến đấu với những bệnh tật chính của vùng nhiệt đới như sốt rét, cũng như việc thiếu nhiên cứu giúp cho vấn đề canh nông ở những vùng nghèo khổ. Vấn đề dường như không c̣n cần phải chần chờ trong việc chờ đợi vấn đề tài trợ riêng tư để đầu tư vào những lănh vực ấy, v́ đó là những vấn đề không trực tiếp liên quan tới quần chúng của những quốc gia có các nguồn tài chính này. Điều cần thiết đó là việc dồi dào cung cấp tiền bạc công cộng, như Ngân Quĩ Thế Giới chẳng hạn, để ủng hộ nhiều dự kiến hiện nay, trong việc cổ vơ việc tham dự dồi dào và rộng răi vào những tổ chức nghiên cứu khoa học thế giới.

Những biến cố chính trị đa phương của hạ bán năm nay, bắt đầu với cuộc họp ECOSOC này, có thể trở thành một khúc quanh thế giới, trong đó, việc tài trợ cho vấn đề phát triển quốc tế biến thành một đệ nhất ưu tiên quốc tế, nếu các vị lănh đạo thế giới có thể vận động chính quyền và nhân dân của ḿnh. Như thế, tất cả mọi quốc gia, phát triển và nghèo nàn như nhau, có thể thực hiện vai tṛ thực sự của ḿnh trong việc chiếm đạt những mục tiêu của ngàn năm MDG.

Xin cám ơn ông Chủ Tịch

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 4/7/2005

TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI: Sứ Điệp gửi cho UNESCO, Cơ Quan LHQ đặc trách về Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa

Hôm Thứ Năm 2/6/2005, sứ điệp của ĐTC Biển Đức XVI gửi cho ĐHY Jean-Louis Tauran, vị đại diện cho Ṭa Thánh ở Paris tham dự cuộc hội luận về chủ đề “Văn Hóa, Lư Trí và Tự Do” để tưởng niệm 25 năm Đức Gioan Phaolô II viếng thăm Cơ Quan Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) của Liên Hiệp Quốc.

Trong sứ điệp gửi cho vị thủ văn khố và thủ thư viện của Giáo Hội Rôma này, ĐTC nhận định là “việc công nhận cả thể nhờ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị mà với kinh nghiệm bản thân và về văn hóa của ḿnh, bao giờ cũng nhấn mạnh đến, trong các giáo huấn của ngài vị thế chính yếu bất khả thay đổi của con người cũng như của phẩm giá cốt yếu của họ, nguộc gốc của tất cả mọi quyền lợi bất khả tước đoạt của họ. 25 năm trước đây, v́ Giáo Hoàng này đă tuyên bố ở tổng hành dinh UNESCO là ‘về lănh vực văn hóa, con người bao giờ cũng là đệ nhất: con người là sự kiện nguyên khởi và nồng cốt của văn hóa’”.

Thế rồi Đức Giáo Hoàng đương kim đă âm vang những lời của Đức Gioan Phaolô II vào hôm ấy, khi mà, ở UNESCO, ngài đă nhắc nhở thành phần đối thoại của ḿnh về trách nhiệm của họ: “Hăy xây dựng ḥa b́nh bằng việc bắt đầu từ nền tảng, ở chỗ, tôn trọng tất cả mọi quyền lợi của con người, những quyền lợi liên hệ tới chiều kích thể lư và kinh tế của họ cũng như những quyền lợi liên quan tới chiều kích thiêng liêng và nội tại nơi cuộc sống của họ ở trên đời này”.

Ngài cũng cắt nghĩa lư do tại sao Ṭa Thánh là một quan sát viên thường trực ở UNESCO, một cơ quan cần phải được coi như là “Công Đường của Những Thứ Tri Thức và Lương Tâm”: “Cái thách đố Giáo Hội hằng gặp phải đó là việc loan truyền tính cách mới mẻ có khả năng giải phóng của Phúc Âm cho hết mọi người, là nâng cao mức sống của họ lên trong hết mọi sự làm nên việc họ hiện hữu cũng như thể hiện nhân tính của họ”.

“Sứ mệnh này, một sự mệnh Giáo Hội lănh nhận từ Chúa Kitô, chi phối sâu xa tới dự án của quí vị và chứng thực rơ ràng sự kiện là Ṭa Thánh bao giờ cũng mong muốn, qua sự hiện diện của vị quan sát viên thường trực, tham gia vào việc suy tư và dấn thân của quí vị”.

Giáo Hội Công Giáo sẽ tiếp tục “vận dụng năng lực của ḿnh, những năng lực trên hết có bản chất thiêng liêng, để cộng tác vào thiện phúc của con người về tất cả mọi chiều kích của cuộc sống họ”.

Lập lại mối quan tâm của Ṭa Thánh đối với cũng như việc tham gia của Ṭa Thánh vào hoạt động của UNESCO, qua vị quan sát viên thường trực của ḿnh tại cơ quan này, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nói tiếp: “Trong một thế giới vừa triển phát vừa phân rẽ, mà thường chiều theo những đ̣i hỏi mănh liệt của việc toàn cầu hóa về các mối liên hệ kinh tế, nhất là các mối liên hệ tín liệu, th́ ở những tầm cấp cao nhất cần phải vận động những năng lực về tri thức để các quyền lợi về giáo dục và văn hóa được nh́n nhận, nhất là ở các quốc gia nghèo khổ nhất. Trong một thế giới mà con người cần phải họ chỏi hơn nữa để nh́n nhận và tôn trọng anh chị em ḿnh, th́ Giáo Hội muốn góp phần của ḿnh vào việc phục vụ cộng đồng nhân loại, trong lúc cho thấy… mối liên hệ ràng buộc mỗi người với Đấng Hóa Công của tất cả mọi sự sống và là nguồn mạch của phẩm giá bất khả tước đoạt của mỗi người, từ khi được thụ thai cho tới khi tự nhiên kết liễu cuộc sống.

Những cuộc họp hội luận này được chủ tọa bởi vị viện trưởng Học Viện Công Giáo Paris, cũng như bởi Đức Ông Francesco Follo, vị quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở UNESCO. Đức Ông này đă cho biết rằng trong chuyến viếng thăm cơ quan này của ḿnh, ĐTC GPII đă đọc bài diễn văn nói rằng “có thể xây dựng một tân thế giới với t́nh trạng phát triển và kinh tế mang dung nhan con người và những quyền lợi của con người cùng với luật lệ quốc tế được chi phối bởi lư lẽ của bác ái và đoàn kết”.

TOP

 

Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Giải Giới Nguyên Tử

Hôm Thứ Tư 4/5/2005, ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước đă tŕnh bày nhận định và quan điểm của Giáo Hội Công giáo về vấn đề giải giới nguyên tử ở Hội Nghị Kiểm Thảo lần Thứ 7 của Các Thành Viên Quốc Gia về Hiệp Ước Ngưng Leo Thang Các Vũ Khí Nguyên Tử NPT (Non-Proliferation of Nuclear Weapons), nguyên văn như sau:

Thưa Ông Chủ Tịch,

Ṭa Thánh đă hết sức đồng ư với Bản Hiệp Ước về Việc Ngưng Leo Thang Các Thứ Vũ Khí Nguyên Tử được kư kết ngày 25/2/1971, v́ tin tưởng rằng đó là một bước tiến quan trọng trong việc thiết lập một đường lối giải giới tổng quan và toàn vẹn dưới sự kiểm soát hiệu nghiệm của quốc tế, một điều chỉ có thể khả thi nếu hoàn toàn được tuân giữ cả về chi tiết lẫn toàn bộ của hiệp ước này.

Sau 35 năm, bản hiệp ước này đă trở thành nền tảng cho môi trường an ninh toàn cầu, v́ dầu sao nó cũng đă giúp vào việc làm chậm lại cuộc thi đua vơ trang. Sự kiện hiệp ước này đă nhận được con số rất cao chấp thuận với 188 quốc gia cho thấy tầm quan trọng của nó trước cộng đồng quốc tế. Điều này có được là nhờ ở 3 trụ cột, đó là việc ngăn cản vấn đề phổ biến và leo thang vũ khí nguyên tử, việc cổ vơ việc cộng tác trong việc sử dụng về ḥa b́nh của nguyên tử lực, và việc theo đuổi mục tiêu giải giới nguyên tử với dụng ư dẫn đến chỗ hoàn toàn tổng giải giới. Thật vậy, bản hiệp ước NPT này đă hứa hẹn một thế giới loại trừ vũ khí nguyên tử và việc truyền bá vấn đề hợp tác về kỹ thuật để phát triển.

Bởi thế Hội Nghị Kiểm Điểm hiệp ước NPT là thời gian xem xét tiến bộ của cộng đồng quốc tế về vấn đề đạt được các mục đích của bản hiệp ước này. Khi bản NPT dứt khoát được nới rộng vào năm 1995 th́ các quốc gia có vũ khí nguyên tử đă hợp với tất cả mọi quốc gia khác để thực hiện 3 hứa quyết này nơi bản hiệp ước: sẽ thực hiện, cùng lắm vào năm 1996, một bản hiệp ước cấm thử toàn diện vũ khí nguyên tử; những cuộc thương thảo về một bản hiệp ước cấm sản xuất chất liệu phóng xạ cho các thứ vũ khí nguyên tử sẽ được “kết thúc sớm”; và sẽ thực hiện “những nỗ lực có cơ cấu và tiến bộ toàn cầu” để loại bỏ các thứ vũ khí nguyên tử. Trong năm 2000, tất cả mọi quốc gia phần tử đă “thực hiện một cách dứt khoát” việc loại trừ các thứ vũ khí nguyên tử bằng một chương tŕnh 13 Việc Làm Cụ Thể. Tuy nhiên, tiêu bản sửa soạn cho Hội Nghị Kiểm Điểm này đă không đạt được sự đồng thuận về các bản văn kiện giờ đây cần phải được chấp thuận, làm cho người ta quan tâm tới thành quả của cuộc hội nghị này.

Trong thập niên 1970, khi bản hiệp ước NPT bắt đầu có hiệu lực th́ đồng thời cũng xẩy ra những đổi thay sâu xa về xă hội và địa dư chính trị. Người ta bắt đầu ư thức được sự tương liên và liên thuộc chặt chẽ giữa nền an ninh quốc gia và quốc tế, khi xẩy ra những thách đố mới, như nạn khủng bố xuyên quốc gia và nạn làn tràn bất hợp pháp các thứ chất liệu chế tạo các thứ vũ khí đại công phá. Đó là hai hiện tượng, trong số những hiện tượng khác, trực tiếp đặt vấn đề về khả năng của hiệp ước NPT trong việc đáp ứng những thách đố quốc tế mới. Về vấn đề này, Ṭa Thánh coi việc Tổng Hội Đồng chấp thuận Bản Hiệp Ước Quốc Tế về Việc Diệt Trừ Những Hoạt Động Khủng Bố Nguyên Tử là một bước tiến quan trọng. Đă đến lúc cần phải chú trọng tới tầm quan trọng của việc tuân giữ NPT về cả chi tiết cũng như tổng quan của vấn đề này.

V́ bản hiệp ước này chỉ là phương tiện về pháp lư đa phương duy nhất có trong tay, có mục đích mang lại một thế giới phi vũ khí nguyên tử, bản hiệp ước này không được phép suy yếu đi. Nhân loại cần đến việc tất cả mọi quốc gia trọn vẹn hợp tác về vấn đề quan trọng này. Ṭa Thánh kêu gọi là những vấn đề khó khăn và phức tạp của Hội Nghị Kiểm Điểm cần phải được giải quyết một cách công bằng. Những biện pháp được thực hiện ở Cuộc Hội Nghị Kiểm Điểm này, mặc dù chỉ là một bước tiến nhỏ bé, cũng cần phải theo chiều hướng chung của các mục tiêu của bản hiệp ước. Hội Nghị Kiểm Điểm này không được thụt hậu bằng cách quên đi những quyết tâm trong quá khứ; nó cần phải làm tiến triển tính cách hiệu năng của bản NPT.

Thế giới có lư quan tâm đến vấn đề leo thang các thứ vũ khí nguyên tử cùng với những nỗ lực lèo lái các thứ kỹ thuật về nguyên tử cùng các thứ nhiên liệu để được sử dụng vào mục tiêu chế tạo các thứ vũ khí nguyên tử thay v́ mục tiêu ḥa b́nh. Cần phải củng cố phương diện cấm leo thang của NPT bằng việc gia tăng quyền lực của Cơ Quan Nguyên Tử Lực Quốc Tế IAEA (International Atomic Energy Agency) trong việc khám xét bất cứ việc sử dụng sai lầm nào của những loại nhiên liệu nguyên tử. Cũng cần phải củng cố cả những biện pháp tuân hợp bản hiệp ước này nữa.

Thế nhưng, việc chỉ tập trung vào những biện pháp không leo thang mà thôi là những ǵ làm méo mó ư nghĩa của bản hiệp ước này. Việc tuân hợp với các khoản giải giới nguyên tử của bản hiệp ước này cũng đ̣i hỏi là vấn đề không leo thang và giải giới nguyên tử là những vấn đề liên thuộc và củng cố lẫn nhau. Bởi thế, Ṭa Thánh kêu gọi các quốc gia có vũ khí nguyên tử hăy đóng vai tṛ lănh đạo can trường và trách nhiệm chính trị trong việc bảo toàn chính tính chất nguyên vẹn của bản NPT, cũng như trong việc kiếm tạo nên một bầu khí tin tưởng, minh bạch và thực sự hợp tác, nhắm đến chỗ hiện thực cụ thể một thứ văn hóa sự sống và ḥa b́nh là những ǵ sẽ phát động việc phát triển toàn vẹn các dân tộc trên thế giới. Như thế, trong nỗ lực đặt ưu tiên và thứ tự của các giá trị vào trúng chỗ của chúng, cần phải thực hiện nhiều nỗ lực chung hơn nữa trong vấn đề vận dụng các phương tiện hướng đến việc phát triển về luân lư, văn hóa và kinh tế, nhờ đó nhân loại có thể loại trừ việc thi đua vơ trang.

Đă qua đi rồi thời gian t́m cách để “cân bằng t́nh trạng khiếp sợ”; đă đến thời gian tái xét toàn bộ sách lược về việc ngặn chặn nguyên tử. Khi Ṭa Thánh bày tỏ việc chấp nhận hạn chế của ḿnh về vấn đề ngăn chặn nguyên tử trong thời Chiến Tranh Lạnh, Ṭa Thánh đặt điều kiện rơ ràng là việc ngăn chặn này chỉ là đường lối duy nhất để tiến đến chỗ tiến hành việc giải giới nguyên tử. Ṭa Thánh không bao giờ khuyến khích việc ngăn chặn nguyên tử như là một biện pháp vĩnh viễn, kể cả ngày nay đi nữa, khi mà chứng cớ cho thấy việc ngăn chặn nguyên tử lại thúc đẩy việc phát triển các thứ vũ khí nguyên tử mới hơn bao giờ hết, do đó đă làm ngăn cản việc giải giới nguyên tử thực sự.

Ṭa Thánh, một lần nữa, nhấn mạnh rằng ḥa b́nh chúng ta đang t́m kiếm trong thể kỷ 21 này không thể đạt được bằng việc cậy dựa vào các thứ vũ khí nguyên tử. Thế kỷ này đă mở ra bằng một cuộc bùng nổ khủng bố toàn cầu, thế nhưng, mối đe dọa này không được trở thành những ǵ làm suy yếu đi những qui phép của lề luật nhân đạo quốc tế là những ǵ được xây dựng trên những nguyên tắc chính về vấn đề hạn chế và đối xứng. Chúng ta bao giờ cũng cần phải nhớ rằng việc sử dụng các thứ vũ khí không được làm phát sinh ra những thứ sự dữ và những khủng hoảng trầm trọng hơn là sự dữ cần phải bị loại trừ. Các thứ vũ khí nguyên tử, cho dù là những thứ vũ khí được gọi là ít hại cũng gây nguy hiểm cho tiến tŕnh sự sống và có thể dẫn đến cuộc cung đột nguyên tử rộng lớn.

Các thứ vũ khí nguyên tử tấn công sự sống trên trái đất này, chúng tấn công chính trái đất này, và khi làm như thế là chúng tấn công tiến tŕnh phát triển liên tục của trái đất. Việc bảo tŕ Hiệp Ước Thôi Leo Thang đ̣i hỏi một quyết tâm dứt khoát thực hiện việc thực sự giải giới nguyên tử.


Bởi vậy, Ṭa Thánh mong đợi tất cả mọi quốc gia phần tử kư kết vào bản hiệp ước NPT này hăy tôn trọng tính cách nguyên vẹn của bản hiệp ước này. Tất cả mọi Phần Tử cần phải góp phần vào việc thành đạt của Hội Nghị Kiểm Điểm này, bằng cách bảo tŕ và củng cố tính cách uy tín của bản hiệp ước, nhờ đó, nó có thể gây tác dụng và vững bền. Có thế, nền văn hóa ḥa b́nh mới có thể tiến triển và thứ văn hóa chiến tranh mới bị suy giảm, cho lợi ích lâu dài của toàn thể nhân loại.

Xin cám ơn ông Chủ Tịch.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 5/5/2005

 

TOP

 

Ṭa Thánh Vatican tại Liên Hiệp Quốc nhân dịp Kỷ Niệm 60 Năm Chấm Dứt Thế Chiến Thứ Hai

 

Tổng Hội Đồng LHQ đă giành hai ngày 8-9/5/2005 như là ngày tưởng niệm và ḥa giải 60 năm chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai. ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở LHQ tại Nữu Ước đă tŕnh bày quan điểm của Ṭa Thánh trước Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc trong dịp này nguyên văn như sau:

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Ṭa Thánh lấy làm biết ơn những người bảo trợ cho Quyết Nghị 59/26 về dịp chính thức kỷ niệm 60 năm kết thúc Thế Chiến II. Chắc chắn nó là một cuộc xung đột kinh hoàng, và cần phải vừa chào mừng vừa buồn thương nhắc lại rằng nó là trong những tai họa toàn cầu bất thiết do con người gây ra tệ hại nhất làm cho thế kỷ 20 trở thành một nỗi xót xa nhất loài người đă phải trải qua.

 

Đại biểu tôi xin đón mừng việc LHQ tuyên bố giành ngày 8-9/5 là ngày tưởng nhớ và ḥa giải. Nhiều tiếng nói đă có lư để khuyên chúng ta đừng quên ngày này, nhưng lại là những tiếng nói không đặt vấn đề lỗi lầm trước mắt các thế hệ của ngày hôm nay; chúng đ̣i hỏi trách nhiệm, một trách nhiệm được chứng tỏ bằng việc nhận biết lầm lỗi quá khứ, cũng như trách nhiệm, căn cứ vào những tai họa trước ấy, đ̣i phải có những quan tâm nào đó.

 

Quan tâm thứ nhất đó là, trong số những căn nguyên của Thế Chiến Thứ Hai đó là việc tôn thăng quốc gia và ṇi giống, và niềm tự măn kiêu mạn của con người về việc mạo dụng khoa học, kỹ thuật và quyền lực. Qui luật không c̣n là một phương tiện để áp dụng công lư nữa, khi dạy chúng ta rằng, khi con người không c̣n khát vọng siêu việt th́ họ mau chóng biến ḿnh cùng người khác thành một thứ đồ vật, một con số, thậm chí một thứ sản phẩm thuần túy.

 

Quan tâm đó là, cho dù chúng ta có chấp nhận rằng, ở một số trường hợp nào đó, việc sử dụng vơ lực một cách giới hạn và nghiêm ngặt không thể tránh để chu toàn trách nhiệm bảo vệ mọi quốc gia và cộng đồng thế giới, chúng ta cũng được kêu gọi hăy thực tế mà nh́n nhận rằng những giải pháp ôn ḥa vẫn là những ǵ khả dĩ và không được bỏ qua một nỗ lực nào để thực hiện những giải pháp ấy.

 

Loài người đă từng cân nhắc về thứ luân lư chiến tranh và tư cách đạo lư của thành phần chiến đấu. Bản tường tŕnh “Về Quyền Tự Do Bao Rộng Hơn” của vị tổng thư kư đă thôi thúc Hội Đồng Bảo An chấp thuận quyết nghị về tính cách hợp lư và tính cách pháp lư của việc sử dụng vơ lực. Việc nh́n nhận bản chất thê thảm và tàn hại của chiến tranh, cũng như trách nhiệm chung về những cuộc xung đột trong quá khứ và hiện tại, buộc chúng ta phải đặt vấn đề chẳng những liên quan tới việc chiến tranh có thể hợp pháp và hợp lư, mà đặc biệt vấn đề chiến tranh là những ǵ có thể tránh được. Đó là lư do những chương khác nhau trong bản tường tŕnh của vị tổng thư kư cần phải được coi như toàn bộ. Sẽ chỉ đạt được ḥa b́nh và an ninh toàn cầu nếu cộng đồng quốc tế tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, và dấn thân hoạt động cho việc phát triển xă hội và kinh tế cho hết mọi quốc gia, cho hết mọi người nam nữ và trẻ em.

 

Quan tâm thứ ba đó là, Thế Chiến Thứ Hai, cũng như tất cả mọi cuộc chiến tranh của thế kỷ 20, cho thấy những chính sách dứt điểm và việc hoạch định hoạt động hậu chiến là những ǵ thiết yếu nhắm đến mục đích phục hồi công lư và ḥa b́nh cũng như việc bảo vệ. Trong quá khứ người ta đă chú trọng nhiều đến vấn đề ‘ius ad bellum’, tức là đến những điều kiện cần thiết để biện minh cho việc sử dụng vơ lực, cũng như đến vấn đề ‘ius in bello’, những giới hạn về pháp lư của hành động đạo lư trong cuộc chiến. Căn cứ vào những sự tàn phá về luân lư của Thế Chiến Thứ II và bản chất của chiến tranh từ đó, th́ giờ đây đă đến lúc chú trọng đến và khai triển một chiều kích thứ ba của luật chiến tranh, tức là ‘ius post bellum’, hay làm cách nào để đạt được một cách nhanh chóng và hiệu nghiệm việc thiết lập một nền ḥa b́nh chân chính và bền bỉ, một nền ḥa b́nh là một mục tiêu duy nhất có thể chấp nhận cho việc sử dụng vơ lực.

 

Như thế, những phương tiện về pháp lư quốc tế hiện nay bao gồm tư cách và những hoạt động sau cuộc chiến là những ǵ cần phải được củng cố và nới rộng liên quan tới thời điểm đổi thay nhanh chóng của chúng ta đây, trong khi đó cũng cần phải để ư tới những giới hạn về đạo lư được lương tâm và cảm quan tân tiến khai triển, như việc ḥa giải, để giúp cho mọi bên dính dáng tới những mối liên hệ chặt chẽ về t́nh thân hữu và tính cách lân bang; tới việc bảo đảm an ninh và ổn định hóa các quốc gia ra khỏi ṿng chiến; tới t́nh liên đới quốc tế trong tiến tŕnh tái thiết về kinh tế xă hội nơi cơ cấu của các xă hội ấy; tới việc phục hồi môi sinh sau khi cuộc chiến đă chấm dứt; và tới nền công lư ở mọi cấp trật, v́, nếu quyền lực được sử dụng v́ công lư th́ công lư chắc chắn cần phải chi phối hết mọi khía cạnh của tiến tŕnh xây dựng ḥa b́nh.

 

Quan tâm thứ bốn đó là, gần đây, vai tṛ của LHQ như là một nhà xây dựng ḥa b́nh đă được tái nhấn mạnh đến. Ṭa Thánh chia sẻ mối quan tâm của vị tổng thư kư là guồng máy LHQ là guồng máy hoàn toàn giải quyết cái khó khăn trong việc giúp các quốc gia chuyển ḿnh từ chiến tranh sang ḥa b́nh bền vững, và một lần nữa Ṭa Thánh muốn bày tỏ việc hoàn toàn ủng hộ vấn đề thiết lập một ủy ban xây dựng ḥa b́nh liên chính quyền.

 

Bởi thế, việc tưởng niệm này là một nhắc nhở đáng kể về chính “lư do hiện hữu” của LHQ. Mặc dù ngày nay nó hành sử các trách vụ của ḿnh ở những lănh vực rộng răi khác nhau, những hoạt động ấy cũng không được tách chúng ta khỏi cái “sine qua non” của việc tổ chức này hiện hữu, tức là nền ḥa b́nh nơi các quốc gia.

 

Xin cám ơn ông Chủ Tịch.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 10/5/2005

TOP

 

Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc về vấn đề Ngăn Ngừa Tội Ác và Xử Lư Tội Ác

 

Hôm 25/4/2005, ĐTGM Salvatore Pennacchio, vị khâm sứ ṭa thánh ở Thái Lan đă đại diện ṭa thánh bày tỏ nhận định và lập trường của Giáo Hội Công Giáo trong Hội Nghị XI của LHQ về vấn đề Ngăn Ngừa Tội Ác và Xử Lư Tội Ác, một bài diễn văn được VIS, và qua Zenit, phổ biến hôm 28/4/2005 nguyên văn như sau:

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Tôi xin có lời chúc mừng ông về vai tṛ chủ tọa khóa họp này cũng như muốn bày tỏ cùng chính phủ Thái Lan về ḷng tri ân của tôi đối với việc chính phủ này điều hành Hội Nghị XI này của LHQ về vấn đề Ngăn Ngừa Tội Ác và Xử Lư Tội Ác. Ngoài ra, với tư cách lănh đăo phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh, xin cho tôi được gửi lời tri ân sâu xa đến vị tổng thư kư cùng tham dự viên hội nghị đă ưu ái giành một phút thinh lặng để kính nhớ đến cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào lúc khai mạc hội nghị này.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Phái đoàn đại biểu Ṭa Thánh chúng tôi muốn bày tỏ ḷng biết ơn đối với Liên Hiệp Quốc trong việc tổ chức hội nghị này về vấn đề khẩn trương nhất liên quan tới việc ngăn ngừa tội ác và xử lư tội ác. Tội ác không phải chỉ là mối đe dọa cho ḥa b́nh và trật tự, c̣n cho cả nhân phẩm con người nữa. Thật vậy, khi xẩy ra một tội ác th́ nhân phẩm của cả nạn nhân lẫn phạm nhân đều bị ảnh hưởng và vi phạm. V́ những điều kiện thuận lợi tối tân tiến của vấn đề truyền thông mà việc ngăn ngừa tội phạm không c̣n là vấn đề được giải quyết có tính cách địa phương nữa; trái lại, nó được bàn luận đến ở những cuộc diễn đàn quốc tế, và đại biểu tôi đây xin có lời ca ngợi văn pḥng thư kư về những nỗ lực của ḿnh theo chiều hướng này cũng như về phẩm chất của văn kiện được soạn dọn cho hội nghị này, nhất là bản Hướng Dẫn Bàn Luận cùng với đường lối đa khía cạnh của nó.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Ṭa Thánh xin nói lên một số vấn đề được chất chứa trong Bản Tuyên Ngôn Vienna, nhất là qua Hội Đồng Công Lư và Ḥa B́nh của Ṭa Thánh. Ngoài ra, có những cơ quan khác của Giáo Hội Công Giáo, như Ủy Ban Công Giáo về Việc Chăm Sóc Mục Vụ cho Các Trung Tâm Cải Huấn, cũng là những cơ quan hết sức dấn thân phục vụ trong lănh vực này. Trong bối cảnh đó, tôi muốn tŕnh bày một số vấn đề được Ṭa Thánh đặc biệt quan tâm và là những ǵ liên quan tới vấn đề ngăn ngừa tội ác và xử lư tội ác.

 

1.         Trước hết là vấn đề buôn chuyển con người. Cái tai họa này thường chịu trách nhiệm về việc cướp mất niềm hy vọng hướng đến một tương lai xứng đáng của thành phần dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là nữ giới và trẻ em. Tội ác này một phần có liên quan tới vấn đề t́nh trạng suy giảm cơ hội được di dân b́nh thường là những ǵ đi song song với tính cách khẩn trương của một thị trường dịch vụ di dân ngoại lệ. Để đương đầu với hiện tượng càng ngày càng phát triển này, các hệ thống công lư tội ác của quốc gia và quốc tế rất cần phải t́m ra chẳng những thành phần phạm tội ác mà c̣n cả thành phần nạn nhân của việc buôn chuyển này nữa.

 

2.         Điểm thứ hai, một điểm đă từng là mối quan tâm nghiêm trọng của Ṭa Thánh, mối quan tâm trong lănh vực sử lư tội ác và ngăn ngừa tội ác, đó là việc bán và chiếm hữu những thứ vũ khí. Vấn đề này có liên hệ chặt chẽ tới việc xây dựng ḥa b́nh và là một yếu tố chính cho t́nh trạng phát triển thực sự khả đạt về kinh tế và xă hội. Hiển nhiên là có một mối liên hệ giữa tội ác với việc buôn chuyển vũ khí là những ǵ châm mồi cho nạn khủng bố ở cả lănh vực quốc gia lẫn quốc tế. T́nh trạng giảm thiểu nơi vấn đề thuận lợi của các thứ vũ khí sẽ làm cho dễ dàng hóa việc thiết lập ḥa b́nh và an ninh. Nó cũng góp phần vào vấn đề chuyển tiền bạc cho việc buôn chuyển vũ khí vào các chương tŕnh phát triển.

 

3.         Điểm thứ ba cần phải quan tâm liên quan tới vấn đề băng hoại. T́nh trạng băng hoại là những ǵ tấn công những giá trị căn bản của xă hội, tấn công qui luật và công lư. Nó làm suy yếu những mục tiêu của các quốc gia yêu chuộng dân chủ và ḥa b́nh. Nơi lănh vực công cộng, t́nh trạng băng hoại là những ǵ thách đố việc quản trị giỏi. Nó cần phải được quan niệm theo một chiều kích quản trị bao rộng hơn, bao gồm cả thành phần công dân trong việc kiềm chế t́nh trạng băng hoại. Bởi thế, cần phải cộng tác với những phần vụ chính yếu của lănh vực chính trị và pháp luật, với xă hội dân sự và truyền thông, trong việc chiến đấu chống nạn băng hoại.

 

Trong thế giới thương vụ, t́nh trạng băng hoại là những ǵ làm méo mó tính cách tranh thủ và thị trường, trong khi đó lại gia tăng đau khổ cho người nghèo. Nơi nào được dịp lan truyền, t́nh trạng băng hoại gây ra một mối đe dọa trầm trọng cho tính cách bền vững và an toàn của những cơ cấu nội tại, để rồi dần dần, làm suy yếu nhiều quốc gia. Tuy nhiên, nó cũng là một hiện tượng quốc tế nữa, và thường phản ảnh cho thấy một thứ môi trường xă hội bất ổn làm ngăn trở cho việc phát triển khả thủ.

 

4.         Các thứ tội ác, trong những trường hợp hậu xung khắc, là những điều thứ tư cần phải quan tâm. Những thứ tội ác này có một quyền lực rất ư là tai hại cho đến khi phục hồi hệ thống pháp luật, cho đến khi có những vị quan ṭa có khả năng và nhân viên cảnh sát sẵn sàng, cho đến khi các hệ thống ṭa án và nhà tù hoạt động cách trọn vẹn và những nhu cầu căn bản của dân chúng được đáp ứng. Các thứ tội ác ở những trường hợp hậu xung khắc làm lung lạc và biến đổi niềm hy vọng và tin tưởng của dân chúng thành ngờ vực, thất vọng và ảo vọng. Một hiện tượng đang lo ngại, đôi khi được thấy nơi những xă hội hậu xung khắc, đó là cơn lốc xuống dốc. Thay v́ ổn định và củng cố kinh tế th́ nó lại dung dưỡng t́nh trạng băng hoại hơn nữa và có những liên hệ chặt chẽ giữa tổ chức tội ác và chính trị. Ḷng tin tưởng của quần chúng nơi các cơ cấu tổ chức, nơi các đảng phái chính trị và thậm chí nơi các vị lănh đạo bị yếu kém đi một cách mau chóng. T́nh trạng phát triển tội ác gây ra vấn đề khủng hoảng về công ăn việc làm, làm yếu kém đi hệ thống an ninh của xă hội vốn đă bấp bênh, cùng với những cơ cấu về sức khỏe và giáo dục. T́nh trạng này đưa đến vấn đề gia tăng nghèo khổ và làm suy yếu vấn đề xây dựng nền dân chủ hóa về cơ cấu.

 

5.         Một khía cạnh khác được chúng tôi quan tâm liên quan đến vấn đề ngăn ngừa tội ác và xử lư tội ác đó là việc hiệu nghiệm áp dụng các qui tắc được LHQ ấn định liên quan tới vấn đề đối xử một cách chính đáng với thành phần tù nhân và vị thành niên. Về vấn đề này, cũng cần phải lưu ư đến những dự thảo đă được tung ra một số lần về việc soạn thảo tỉ mỉ một Bản Hiến Chương về Các Thứ Quyền Lợi Căn Bản của Thành Phần Tù Nhân. Trong văn kiện này, cần phải chú trọng đặc biệt tới vấn đề đối xử với thành phần tù nhân, vấn đề đối xứ với tù nhân cần phải đặc biệt chú trọng, ở chỗ hoàn toàn tôn trọng phẩm giá con người cũng như việc tái hội nhập vào xă hội.

 

Ṭa Thánh tha thiết hy vọng rằng Hội Nghị Băng Cốc sẽ giúp giải quyết những thách đố được đề cập đến trên đây, giúp nâng cao nhận thức và phát động những chính sách cùng những việc làm tốt nhất trong việc ngăn ngừa tội ác, trong khi tăng bổ việc cải tiến vấn đề xử lư tội ác, làm cho nó càng ngày càng trở nên hữu hiệu hơn trong việc bảo toàn trật tự và t́nh trạng bền vững ở cả lănh vực quốc gia lẫn quốc tế.

 

Xin cám ơn Ông Chủ Tịch.

 

TOP

 

Ṭa Thánh tại LHQ về Những Vấn Đề Phi Châu


Hôm Thứ Năm 10/3/2005, Đức Ông Foutunatus Nwachukwu, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh tại LHQ ở Geneva, đă đại diện ṭa thánh bày tỏ chủ trương và nhận định của Giáo Hội Công giáo về các vấn đề Phi Châu trong cuộc họp lần thứ 32 của Tiểu Ban Đặc Trách của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Tị Nạn. Sau đây là nguyên văn bài nói của ngài:


Thưa ông trưởng tiểu ban, t́nh trạng tị nạn ở Phi Châu vẫn là một vế sẹo lớn trên gia đ́nh nhân loại khắp nơi. Điều kiện bấp bênh và thảm thương của hằng triệu triệu người này đă buộc họ phải rời bỏ làng nước quê quán của họ là những ǵ kêu gọi phải có những quyết định cụ thể và cấp thời hầu làm giảm bớt nỗi đau thương của họ và bảo vệ các quyền lợi của họ. Cộng đồng quốc tế không được tŕ hoăn một đáp ứng đă lỡ làng. Cuộc tŕ hoăn này bao hàm việc chấp nhận một tiêu chuẩn hai ḷng nơi t́nh đoàn kết mà thành phần không có tiếng nói và bị hất hủi nhất phải chịu thiệt tḥi.


Có một số những dấu hiệu tích cực trong năm qua khi việc hồi hương tự nguyện có tổ chức của các người tị nạn đă bắt đầu thực hiện để b́nh thường hóa cho cả hằng chục ngàn người. Tuy nhiên, tất cả tiến tŕnh này hiện nay vẫn bị bao phủ bởi t́nh trạng thiếu ngân quĩ cũng như bởi việc trở nên tồi bại hơn về t́nh trạng bạo loạn và việc đối xử tàn tệ với thành phần di tản ở Darfur, nơi t́nh h́nh nhân đạo đang bị nguy ngập. Những cuộc tấn công có tổ chức vào các thành phần dân sự, việc hủy diệt các hạ tầng cơ sở và tất cả các làng mạc cùng diệt trừ súc vật lẫn hoa mầu là những ǵ khiến cho dân chúng càng phải sống trong cảnh di tản. Những cuộc tấn công tàn nhẫn và dữ dội và những cuộc vi phạm nhân quyền xẩy ra hằng ngày. Nữ giới là thành phần nạn nhân đặc biệt bởi bị hăm hiếp và những h́nh thức hạ nhục khác. Một tai ương về môi sinh đang được tạo nên là những ǵ cần phải mất nhiều năm mới lấy lại được.

Những bản tường tŕnh khác nhau của LHQ là những ǵ rất rơ ràng và mạnh mẽ, cho thấy nhiều biến cố như là những tội ác phạm đến nhân loại và/hay những tội ác chiến tranh, “không kém phần trầm trọng và tàn ác như tộỉi diệt chủng” (Report of the International Commission of Inquiry on Darfur to the United Nations Secretary-General. Pursuant to Security Council Resolution 1564 of 18 September 2004. Geneva, 25 January 2005).

Nếu ai đó may mắn được tị nạn ở vùng bên kia biên giới trong một trại tị nạn ở Chad th́ mới được bảo vệ và tương đối an toàn. Trường hợp cá nhân nào hay gia đ́nh nào chậm chân th́ họ đi đến chỗ ở vào một trong những thành phần bị lưu lạc ở nội quốc đông nhất trên thế giới, thường gặp nhiều nguy hiểm và là nơi không bảo đảm an ninh. Thành phần thanh tra quân đội thuộc Khối Liên Hiệp Phi Châu vẫn không đủ số người và thiếu hụt việc được nâng đỡ về hậu cần và khó có thể thấy được sự hiện diện của họ. Những vị thẩm quyền Sudan dường như không thể hay chủ trương bảo vệ quyền lợi nhân dân của họ.

Người ta phải kết luận là việc bảo vệ nhu cầu cho dân chúng c̣n ở Darfur khó có thể thực hiện, bất chấp sự hiện diện can trường và hỗ trợ của UNHCR, của các cơ quan LHQ và nhiều cơ quan Không Thuộc Các Chính Phủ NGO (Non-Goverments Organizations). Vẫn không thể nào tiến tới được với tất cả mọi thành phần nạn nhân và bị lưu lạc.

Thưa ông trưởng ủy ban, đương đầu với một t́nh trạng phức tạp như thế, rất cần phải thực hiện một vai tṛ lănh đạo LHQ mạnh mẽ và việc điều hợp chung của một cơ quan duy nhất trong việc trợ giúp ở ngoài nước cũng như trong việc bảo vệ những trại của các người di tản trong nước IDP (internally displaced persons) cùng những nơi tập trung khác của họ.

Đó là trách nhiệm quốc tế trực tiếp đối với chúng ta, đối với gia đ́nh chư quốc của nhân loại. Cần phải nêu lên vấn đề rộng lớn hơn một lần nữa, đó là cơ cấu nào sẽ phải chịu trách nhiệm về tổ chức đối với việc bảo vệ thành phần IDP? Là một cộng đồng quốc tế, chúng ta cần phải phác họa một tổ chức đáng kể để hữu hiệu bảo vệ những ai đang sống trong xứ sở của họ nhưng di tản khỏi nhà cửa của họ.

Đại biểu Ṭa Thánh khích lệ thực hiện việc phát triển hơn nữa một hệ thống rơ ràng hơn về trách nhiệm đối với thành phần IDP, trong khi công nhận rằng việc dấn thân bảo vệ cũng như vấn đề các thứ nhân quyền đ̣i hỏi những nguồn nhân lực và tài chính rộng lớn hơn, nhất là ư muốn chính trị trong việc tác hành, trong việc can thiệp và tước đoạt khí giới khỏi tay của thành phần tấn công. Càng chậm trễ hành động càng thêm nguy hiểm cho thành phần mất quê cha đất tổ và bị lạm dụng cũng như cho việc làm suy yếu đi những hiệp ước ḥa b́nh khó đạt.

Con đường trước mặt đó là chặn đứng việc tuôn các thứ vũ khí vào cuộc xung đột, là bắt các cá nhân phải trả lẽ về các tội ác chiến tranh và các tội ác phạm đến nhân loại, là rat ay hành động lúc này đây để mang lại niềm hy vọng cho Phi Châu cũng như cho tất cả mọi người tị nạn.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được mạng điện tốn tồn cầu Zenit phổ biến ngày 14/3/2005

 

TOP

 

 

Ṭa Thánh tại LHQ về Thân Vị Nữ Giới 10 năm sau Hội Nghị Nữ Giới Quốc Tế ở Bắc Kinh 1995

 

Hôm Thứ Hai 7/3/2005, tại Ủy Ban Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội ở LHQ, áp ngày thế giới phụ nữ (được LHQ phát động từ năm 1975), 3/8/2005, vị chủ tịch Giáo Hoàng Học Viện về Các Khoa Xă Hội là bà Mary Ann Glendon đă phát biểu nhận định và chủ trương của Ṭa Thánh về Thân Vị của Nữ Giới ngày nay, sau 10 năm Hội Nghị Quốc Tế về Nữ Giới ở Bắc Kinh năm 1995, một hội nghị chính bà cũng đă lănh đạo phái đoàn đại biểu của Ṭa Thánh bấy giờ đến tham dự và đă tỏ ra cương quyết đối đầu với trào lưu nữ giới quá khích đă bị thất bại ở Hội Nghị Quốc Tế về Dân Số ở Cairô năm 1994 trước đó liên quan đến vấn đề pháp chế toàn cầu hóa vấn đề ngừa/phá thai v́ quyền lợi của nữ giới. Sau đây là nguyên văn bài diễn từ của bà trong dịp kỷ niệm 10 năm hội nghị quốc tế về nữ giới.

 

Thưa Bà Ủy Ban Trưởng,

 

1.         Trong năm 2005, LHQ sẽ đánh dấu những cuộc kỷ niệm của năm thời điểm lịch sử là những thời điểm được gia đ́nh chư quốc khích lệ và đẩy mạnh việc nữ giới theo đuổi vấn đề công nhận phẩm vị và quyền lợi b́nh đẳng của họ. Thời điểm đầu tiên và cũng là thời điểm tác hiệu nhất đă xẩy ra cách đây đúng 60 năm. Đó là vào mùa xuân năm 1945, khi các vị thành lập Liên Hiệp Quốc đă làm cho nhiều người phải bàng hoàng ngỡ ngàng khi tuyên bố về việc các vị ấy “tin tưởng vào phẩm vị và giá trị của con người” cũng như “vào các quyền lợi b́nh đẳng của con người nam nữ”.

 

Bấy giờ không có một quốc gia nào trên thế giới cho thấy nữ giới được hoàn toàn hưởng quyền b́nh đẳng về xă hội và pháp lư. Bằng việc nâng cao một quan niệm khác nơi Bản Hiến Chương LHQ này, những con người nam nữ nh́n xa trông rộng ấy đă tăng gia tốc cho một tiến tŕnh sớm mang lại những cơ hội chưa từng thấy cho nữ nhân trên thế giới này. Là một tiến tŕnh đă lấy được đà, 4 cuộc hội nghị của LHQ về nữ giới, ở Thành Phố Mễ Tây Cơ, ở Copenhagen, ở Nairobi và ở Bắc Kinh, đă tạo cơ hội vào những giai đoạn chính yếu để thẩm định mức tiến bộ và phác họa những đường hướng mới. Ngày nay, nguyên tắc b́nh đẳng chính thức được chấp nhận khắp nơi trên thế giới, và đă càng ngày càng mang lại sức sống cho những môi trường xă hội khác nhau.

 

Tuy nhiên, ngay khi chúng ta đang mừng vui trước những thành đạt lớn lao ấy th́ nữ giới lại đang đối diện với những thách đố mới. V́ chính những năm cho thấy những tiến bộ lớn lao cho nhiều người phụ nữ lại là những năm mang lại những h́nh thức nghèo khổ mới cho nhiều người nữ khác, cùng với những đe dọa mới cho sự sống và phẩm giá của con người.

 

2.         Việc nhắc nhở nghiệt ngă về cuộc hành tŕnh của nữ giới vẫn c̣n xa vời tiến bước ấy là sự kiện ¾ dân số nghèo khổ trên thế giới ngày nay là nữ giới và trẻ em. Ở thế giới đang phát triển th́ có cả hằng trăm triệu người phụ nữ và trẻ em thiếu thích đáng trong vấn đề dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh và việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu. Và ngay cả trong các xă hội thịnh vượng đi nữa th́ những gương mặt nghèo khổ phần đông vẫn là gương mặt của nữ giới và trẻ em, v́, như Bản Tuyên Cáo Bắc Kinh đă nhận định, có một mối tương liên mạnh mẽ giữa t́nh trạng đổ vỡ gia đ́nh và việc phụ nữ hóa trong vấn đề nghèo khổ. Những giá phải trả cho t́nh trạng gia tăng nhanh chóng vấn đề ly dị và vấn đề làm phụ huynh đơn độc đều do nữ giới g̣ lưng gánh vác, và nhất là đối với những người phụ nữ đă từng hy sinh bản thân để chăm sóc cho con cái cũng như cho các phần tử khác trong gia đ́nh.

 

3.         10 năm trước đây, Bản Tuyên Cáo Bắc Kinh đă công nhận là “yếu tố đưa nữ giới và giá đ́nh của họ thoát khỏi cảnh nghèo khổ đó là vấn đề giáo dục”. Ṭa Thánh, với cuộc dấn thân lâu dài trong việc giáo dục nữ giới và các nữ nhi, bởi thế quan tâm nhận định rằng những thứ cải tiến tiên khởi này vốn là những ǵ tŕ chậm, với những em nữ nhi vẫn làm nên đa số của hơn 100 triệu trẻ em thuộc tuổi sơ cấp vẫn chưa được ghi danh ở học đường (A World Fit for Children," Report of Second World Summit for Children, paragraph 38 [2002]). Cho đến khi thiết lập được những điều kiện cho hết mọi em nữ nhi phát triển tất cả khả năng con người của ḿnh, th́ chẳng những t́nh trạng tiến bộ của nữ giới bị trở ngại, mà nhân loại cũng bị hụt hẫng mất một trong những nguồn lợi lớn lao nhất chưa được khai thác về tri thức và sáng tạo.

 

4.         Ngoài ra, nh́n về phía trước, chúng ta thấy một bóng tối mới đă buông xuống trên bước đường của nữ giới, bởi cái cấu trúc thay đổi về tuổi tác nơi dân số trên thế giới. Việc bao gồm vấn đề sống lâu hơn, giảm số sinh xuất, tăng giá việc chăm sóc sức khỏe, và thiếu người chăm sóc đang gây ra những căng thẳng giữa thế hệ trẻ và thế hệ già. Việc xoay vần nơi những tỉ số lệ thuộc ấy đang làm phát hiện những vấn đề trầm trọng về t́nh trạng phúc hạnh sau này của thành phần già yếu, nhất là của thành phần nữ giới vốn sống lâu hơn, đang hiện lên một cách bất quân b́nh nơi thành phần lăo thành cần nương tựa và càng có thể bị nghèo khổ. Trong một thế giới từng coi thường một cách nguy hiểm đối với vấn đề bảo vệ sự sống con người ở vào giai đoạn mềm yếu ban đầu và cuối cùng của nó th́ thành phần phụ nữ lớn tuổi có thể đặc biệt sẽ gặp phải nguy cơ.

 

5.         Nơi Bản Tuyên Bố Cuối Cùng ở Hội Nghị Bắc Kinh, Ṭa Thánh đă bày tỏ nỗi lo âu là các phần trong những văn kiện của Hội Nghị Bắc Kinh liên quan đến t́nh trạng nữ giới sống nghèo khổ vẫn c̣n là những lời hứa hẹn rỗng tuyếch, trừ phi được hỗ trợ bởi những chương tŕnh chín chắc cùng những dấn thân về tài chính. Ngày nay, với t́nh trạng chênh lệch càng gia tăng về sự giầu thịnh và cơ hội, chúng tôi buộc ḷng phải nêu lên mối quan tâm ấy một lần nữa. Những ǵ đă được khám phá thấy mới đây nơi  Dự Phóng Ngàn Năm của LHQ, cũng như những nhận định trực tiếp của trên 300 ngàn cơ quan Công giáo về vấn đề giáo dục, sức khỏe vụ và cứu trợ, phục vụ chính yếu thành phần bị bỏ rơi nhất, xác nhận là các mối lo âu được chúng tôi bày tỏ năm 1995 vẫn c̣n là những ǵ rất đúng.

 

6.         Thưa Bà Ủy Ban Trưởng, điều làm cho cái khốn khổ trên thế giới nơi thành phần nữ giới bất hạnh nhất trở thành gương mù và thảm trạng đó là sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử, nhân loại cuối cùng đă có được phương tiện để chế ngự t́nh trạng đói khổ và nghèo khổ. Những chương tŕnh hoạt động thiết thực, chẳng hạn như những chương tŕnh được đề ra ở Những Mục Đích Phát Triển Ngàn Năm, đă phác họa những đường lối mà nếu thực hiện có thể cứu trên 500 triệu người khỏi t́nh trạng cực bần cùng vào năm 2015. Thế nhưng vấn đề biến chuyển tiến đến mục tiêu ấy đă tụt xuống dưới cả các mục tiêu được ấn định. Rơ ràng là các mục tiêu cùng với những dự án hoạt động vẫn là những ǵ chưa đủ. Điều cần thiết, như mới đây được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vạch ra, đó là “một cuộc vận động rộng lớn về luân lư nơi quần chúng…. Nhất là nơi những xứ sở đang hoan hưởng một tiêu chuẩn sống đầy đủ hay thậm chí dồi dào” (Address to the Diplomatic Corps, January 2005, No. 6).

 

Thưa Bà Trưởng Ủy Ban, theo chiều hướng ấy, Ṭa Thánh muốn lợi dụng cơ hội này để tái xác nhận những việc dấn thân lâu đời của ḿnh cho vấn đề giáo dục và sức khỏe của nữ giới và các em nữ nhi, và hứa tắng bội nỗ lực của ḿnh để đánh động lương tâm của thành phần may mắn.

 

7.         Sau hết, Thưa Bà Trưởng Ủy Ban, v́ cuộc hành tŕnh của nữ giới đang tiến tới, chúng tôi muốn nêu lên một vấn đề khác vẫn chưa có một xă hội nào t́m thấy được giải đáp thỏa đáng. Việc áp dụng nguyên tắc b́nh đẳng vào những hoàn cảnh cuộc sống thực tế của đa số phụ nữ, những bà mẹ và những người coi trọng vai tṛ chăm sóc, vẫn tiếp tục là một thách đố. Vấn đề ḥa hợp các ước vọng của nữ giới trong việc được hoàn toàn tham phần vào sinh hoạt xă hội và kinh tế với các vai tṛ của họ trong sinh hoạt gia đ́nh là một vấn đề chính nữ giới hoàn toàn có thể giải quyết được. Thế nhưng, vấn đề sẽ không được giải quyết nếu không có những đổi thay chính yếu, có thể nói là sâu xa, trong xă hội.

 

Trước hết, thành phần lập pháp cần phải chú trọng hơn nữa đến các vấn đề riêng của nữ giới liên quan tới những ǵ quan trọng đối với họ, hơn là đến những nhóm có khuynh hướng đặc biệt muốn tranh đấu cho nữ giới song lại thường không ôm ấp các thiện ích của nữ giới. Thứ đến, vấn đề chăm sóc, ăn lương hay không, cần phải được tôn trọng xứng đáng như là một trong những h́nh thức quan trọng nhất của hoạt động nhân bản. Và sau hết, vấn đề làm việc có lương cần phải được ấn định làm sao để nữ giới không cần phải trả cho vấn đề an sinh và thăng tiến của ḿnh bằng giá của những vai tṛ làm cho cả hằng trăm triệu người trong họ được viên trọn nhất (Thông Điệp "Laborem Exercens," No. 19). Tóm lại, vấn đề sẽ không được giải quyết cho đến khi các thuư giá trị nhân bản được coi trọng hơn các thứ giá trị về kinh tế.

 

Thưa Bà Ủy Ban Trưởng, không ai có thể phủ nhận được rằng những đường lối ấy cần đến những đổi thay sâu xa nơi thái độ cũng như tổ chức (John Paul II, Message to Gertrude Mongella, 5). Thế nhưng, nó chẳng là ǵ khác ngoài việc biến đổi sâu xa về văn hóa đă được các vị thành lập LHQ viễn kiến 60 năm trước, lúc các vị mạnh mẽ công bố về quyền b́nh đẳng của nữ giới và nhấn mạnh cũng cương quyết không kém đến việc bảo vệ đời sống gia đ́nh, vai tṛ làm mẹ và thân phận con cái (U.N. Universal Declaration of Human Rights of 1948, Articles 1, 2, 16 and 25). Nó chính là một cuộc biến đổi sâu xa về văn hóa được các vị viễn kiến khi các vị quyết tâm nâng cao “những tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với nhiều tự do” cho tất cả mọi con người nữ nam (U.N. Universal Declaration of Human Rights, Preamble). Cho đến nay chúng ta đă từng hướng đến chỗ làm cho viễn ảnh ấy thành hiện thực, th́ chẳng lẽ giờ đây chúng ta lại không đủ can đảm để thực hiện viễn ảnh này cho đến cùng hay sao?

 

Xin cám ơn Bà Trưởng Ủy Ban.



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được mạng điện tốn tồn cầu Zenit phổ biến ngày 8/3/2005

 

 

TOP

 

 

Ṭa Thánh tại Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Phát Triển

 

Sau đây là bài diễn văn của ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở Liên Hiệp Quốc, tŕnh bày tại LHQ ở Nữu Ước hôm Thứ Ba 22/2/2005 liên quan đến bản tường tŕnh của Ủy Ban Cao Cấp về Bản Tường Tŕnh về Các Mối Đe Dọa, Các Thứ Thách Đố và Việc Đổi Thay cũng như về bản tường tŕnh về Dự Án Ngàn Năm 2005 của Liên Hiệp Quốc.

 

Thưa Ông Chủ Tịch,

 

Hai Bản Tường Tŕnh về Các Mối Đe Dọa, Các Thứ Thách Đố và Việc Đổi Thay cũng như về Dự Án Cụ Thể Để Đạt Đến Các Mục Tiêu Phát Triển Ngàn Năm (MDGs: Millennium Development Goals) bổ khuyết cho nhau, trong đó chúng lưu ư chúng ta đừng phác họa những qui chế phát triển một cách thiển cận hay chỉ căn cứ vào viễn tượng an ninh mà bỏ qua những mối đe dọa nhỏ thuộc tầm mức rộng lớn hơn cùng với những thứ cấp thiết âm thầm.

 

Đối với chính Dự Án Cụ Thể, nó đă có nhiều điều khuyên dụ và cho thấy nhiều nỗ lực dấn thân cho thành phần nghèo khổ trên thế giới là những ǵ tôi hết sức vui mừng ca ngợi.

 

Về 10 điều khuyến dụ chính, Ṭa Thánh xin bày tỏ sự ủng hộ đặc biệt của ḿnh về điều khuyến dụ thứ 7, đó là điều khuyến dụ chính thức hỗ trợ việc phát triển ODA (official development assistance) cần phải được căn cứ vào các nhu cầu thực sự, hơn là vào những mục tiêu được ấn định. Việc thôi thúc gần đây đối với vấn đề thực hiện phân phối vốn được thỏa thuận lâu dài về 7% tổng sản lượng quốc gia cho t́nh trạng phát triển là những ǵ rất phấn khởi. Thật là hy vọng khi vấn đề tiền bạc mới mẻ thực sự này sẽ được nhắm vào mục đích phát triển.

 

Nhiều chuyên gia tán thành là t́nh trạng cực bần cùng và đói khổ xuất phát phần lớn từ mức độ bất quân b́nh một đàng về vấn đề phân phối lợi tức và một đàng về vấn đề hiển nhiên hưởng thụ quá trớn. Nhiều nơi cảm thấy bất an về tính cách sinh tồn của các mẫu thức phát triển. Những giải quyết về kỹ thuật đang củng cố những thứ mẫu thức này, thay v́ kích thích tăng trưởng th́ đôi khi lại làm tăng thêm nghèo khổ và chênh lệch. Mặc dù như thế, nhiều giải quyết được phác họa vẫn có khuynh hướng trở thành một thể chế kỹ thuật cao độ.

 

Đó là lư do vai tṛ đại biểu tôi đây mạnh mẽ tin tưởng rằng toàn thể hệ thống của t́nh liên kết cần phải được tái h́nh thành; ODA cần phải được tăng thêm, chứ không phải chỉ chi tiêu khá hơn; và nhất là cần phải tiếp tục các chính sách nhổ tận gốc rễ t́nh trạng nghèo khổ để tập trung chẳng những vào “cái ǵ” hay “cách nào” mà trước hết vào “ai đó”. Ư tưởng rơ ràng về ai là người nghèo, được thể hiện bằng việc trợ giúp cụ thể, trực tiếp và riêng tư cho họ bằng các chính sách nhắm vào con người bao giờ cũng cần phải được ôm ấp trong ḷng. Chỉ khi nào biết chú trọng như thế mới có thể nâng đỡ người nghèo như là một con người thục sự, v́ nó là một thứ chú trọng được phát xuất từ phẩm vị của hết mọi con người nam, nữ và trẻ em, hơn là dựa vào các thứ chính sách có khuynh hướng coi thường giá trị làm người của họ.

 

Ṭa Thánh vui mừng nghiêng về những vị đại biểu ủng hộ một chính sách xă hội hàm chứa việc công bằng phân phối. Những chính sách này cần phải được trở thành một phần trọn vẹn cho cuộc thảo luận về vấn đề phát triển, nhờ đó chúng trở thành thước đo tầm mức phẩm chất và mức độ phát triển.

 

Như tôi đă nói, thưa Ông Chủ Tịch, “người nào” cần hơn là “cái ǵ”. “Người nào” đầu tiên chính là thành phần nghèo khổ: họ có quyền được hưởng sự trợ giúp cũng như trách nhiệm giành cho họ. “Người nào” thứ hai đó là tất cả những ai mang trách nhiệm đối với t́nh trạng nghèo khổ và chênh lệch gia tăng cũng như đối với việc từ từ giải quyết t́nh trạng này. Liên Hiệp Quốc, một tổ chức cần phải được tác động bởi công ích chung, không được sợ thực hiện một cuộc thẳng thắn đối thoại, để giải quyết điểm quan trọng nhất của vấn đề trong công lư, hơn là qui trách.

 

Để Dự Án Cụ Thể được thành công, chúng tôi tin rằng cần phải nhấn mạnh đến những thứ đầu tư vào việc làm tăng quyền lực thêm cho thành phần nghèo khổ, nhất là cho nữ giới, bằng những cách thức tôn trọng ư muốn cá nhân và đừng đặt những điều kiện bất khả chấp trên tự do của những ai lănh nhận việc trợ giúp. Như thế chính thành phần nghèo khổ mới được phục vụ, thay v́ những vấn đề khác chẳng hạn như những cách thức bất khả chấp trong việc kiểm soát dân số thế giới. Chính sách dân số khôn ngoan và nhân bản là chính sách tỏ ra tôn trọng thành phần nó phục vụ để xây dựng một nhân loại tốt đẹp hơn. Chính sách này cũng chú trọng cả tới vấn đề phát triển thực sự và dự phóng của nhân loại nữa.

 

Tóm lại, thưa Ông Chủ Tịch, chúng tôi tin tưởng là MDGs, và v́ vấn đề này, những quyết tâm thực hiện ở hội nghị Copenhagen, chỉ có thể đạt thành nếu những chính sách nhổ tận gốc rễ nghèo khổ nhắm thẳng tới thành phần nghèo khổ như là những con người có giá trị b́nh đẳng; nếu sự tiến bộ thật sự được thực hiện bằng việc quản trị tốt đẹp và chiấn đấu chống lại t́nh trạng bại hoại; nếu hoàn toàn thực hiện việc cải cách về tài chính và mậu dịch để làm cho các thị trường hoạt động thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển; nếu những lời hứa quyết về 0.7% tổng sản lượng quốc gia thực sự được tôn trọng trong công chính và kết đoàn; và nếu nợ nần được hủy bỏ nơi tất cả những trường hợp có thể áp dụng được.

 

Xin cám ơn Ông Chủ Tịch.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

Từ tài liệu được phổ biến bởi mạng điện toán toàn cầu Zenit ngày 24/2/2005

 

TOP

 

 

Ṭa Thánh tại LHQ nhân dịp Kỷ Niệm 60 Năm Giải Tỏa Các Trại Giam của Đảng Nazi

ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên thường trực của Ṭa Thánh ở LHQ đă ngỏ lời cùng Tổng Hội Đồng LHQ hôm Thứ Hai 24/1/2004 nhân dịp kỷ niệm 60 năm Lực Lượng Đồng Minh giải tỏa các trại giam của Đảng Nazi.

Thưa Ông Chủ Tịch,

Đại biểu tôi nhiệt liệt hoan hô sáng kiến thực hiện phiên họp đặc biệt này của Tổng Hội Đồng để tưởng niệm 60 năm việc Lực Lượng Đồng Minh giải tỏa các trại giam của Đảng Nazi.

Nó tạo cho chúng ta một dịp nữa để long trọng nhớ đến các nạn nhân của một quan điểm chính trị phi nhân bản phát xuất từ một ư hệ cực đoan. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về những thứ căn nguyên hiện hữu của chính tổ chức đây, về những mục đích cao quí của nó cũng như về ư muốn chính trị vẫn c̣n cần thiết để ngăn ngừa không cho tái diễn những điều kinh hoàng khiếp đảm như thế nữa.

Hôm nay đây chúng ta đang thấy được những hậu quả của thái độ bất khoan nhượng, khi chúng ta nhớ đến tất cả những người đă trở thành mục tiêu cho những thứ mánh khóe về chính trị và xă hội của Đảng Nazi, những mánh khóe được tạo ra ở một mức độ rộng lớn và sử dụng đến việc cố t́nh tàn bạo theo mưu đồ của ḿnh. Những ai bị coi là không xứng với xă hội, trong đó có dân Do Thái, các chủng tộc Slavonic, dân Rôma, thành phần tật nguyền, thành phần đồng tính, đều được liệt vào sổ đen bị tận diệt; những ai dám chống lại chế độ bằng lời nói và việc làm, chính trị gia, các vị lănh đạo tôn giáo, những người công dân tư nhân, thường phải trả giá bằng mạng sống của họ. Những điều kiện được ấn định như thế là để làm cho con người mất đi phẩm giá chính yếu của họ và tước lột đi hết mọi tính cách tao nhă cùng với cảm kiến của họ.

Những trại tử thần cũng đă chứng kiến thấy một dự án chưa từng có về mưu đồ cố t́nh tận diệt cả một dân tộc là dân Do Thái. Một số lần Ṭa Thánh hết sức cảm thương nhớ lại những khổ đau của người Do Thái bởi thứ tội ác ngày nay gọi là Shoah. Diễn ra trong một giai đoạn đen tối nhất thế kỷ 20, nó là một tội ác duy nhất làm hoen ố lịch sử nhân loại và lương tâm của tất cả mọi người.

Trong cuộc viếng thăm trại Auschwitz vào năm 1979, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói rằng chúng ta cần phải để cho tiếng kêu của thành phần tử đạo ở đó làm cho thế giới được biến đổi nên tốt hơn, bằng cách rút ra được những kết luận chính đáng nơi Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền.

Thưa Ông Chủ Tịch,

Trong một thế kỷ được đánh dấu bằng những tai ương do con người gây ra, những trại tử thần Nazi đặc biệt là một nhắc nhở sáng suốt về “thái độ vô nhân bản của con người đối với con người”, cũng như về khả năng làm ác của họ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhớ rằng nhân loại cũng có khả năng làm việc đại thiện, khả năng tự hy hiến và vị tha. Khi xẩy ra tai họa cho nhân loại, như chúng ta được thấy mấy tuần vừa rồi, dân chúng tỏ ra hết sức gắn bó với xă hội loài người, bằng t́nh đoàn kết và huynh đệ, đôi khi bằng việc hy sinh bản thân ḿnh nữa. Trong chiều hướng tưởng niệm hôm nay, chúng ta chỉ cần nghĩ đến những con người can trường thuộc mọi tầng lớp xă hội, mà nhiều người trong họ được công nhận là “Thành Phần Chính Trực nơi Các Quốc Gia”. Tất cả mọi dân tộc trên thế giới này đều có khả năng làm việc đại thiện, một việc thường đạt được nhờ giáo dục và vai tṛ lănh đạo về luân lư. Ngoài ra, chúng ta cần thêm cả chiều kích thiêng liêng là chiều kích mà, v́ nó không mang lại niềm hy vọng giả tạo hay những ư nghĩ loáng thoáng, sẽ là những ǵ giúp cho chúng ta giữ ḿnh khiêm tốn, biết phối trí và giải quyết khi đối diện với những biến cố kinh hoàng.

Đó là lư do vai tṛ đại biểu tôi đây hoan hô cơ hội tưởng nhớ đến việc giải tỏa các trại tập trung của Nazi, để nhân loại không quên được những ǵ là kinh hoàng con người có thể gây ra; không quên được những sự dữ của chủ nghĩa cực đoan chính trị ngạo cuồng và việc mưu mẹo về xă hội; cũng như không quên được nhu cầu cần phải xây dựng một thế giới an b́nh hơn, lành mạnh hơn cho hết mọi con người nam, nữ và trẻ em có thể sinh sống.

Chớ ǵ tất cả mọi con người nam nữ thiện tâm, bất kể khuynh hướng chính trị của ḿnh, nắm lấy cơ hội trọng đại này mà nói rằng: “Không bao giờ được tái diễn” những tội ác như thế, nhờ đó, tất cả mọi quốc gia, cũng như tổ chức này đây, thực sự tôn trọng sự sống, tự do và phẩm giá của hết mọi con người. Với ư muốn chính trị thật t́nh, các phương tiện về luân lư và thiêng liêng của con người chắc chắn sẽ có thể, một lần vĩnh viễn, biến đổi các thứ văn hóa hiện đại của chúng ta, để tất cả mọi dân tộc trên thế giới biết quí trọng sự sống và cổ vơ ḥa b́nh.

Cám ơn Ông Chủ Tịch.


Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, dịch từ tài liệu của Zenit ngày 25/1/2005
 

TOP