“Con Người, Trọng tâm của Ḥa B́nh”
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Sứ Điệp cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới năm thứ 40, 1/1/2007
1. Mở màn cho tân niên này, tôi muốn gửi những lời nguyện chúc tốt đẹp đến các Chính Quyền, các vị lănh đạo quốc gia cùng tất cả mọi con người nam nữ thiện tâm. Tôi đặc biệt cầu xin ḥa b́nh cho tất cả những ai đang trải qua đớn đau và khổ đau, những ai đang sống trong t́nh trạng bị đe dọa bởi bạo động và bạo lực, và những ai đang đợi chờ được giải phóng về nhân bản cũng như về xă hội, với nhân phẩm làm người của họ đang bị chà đạp. Tôi cầu xin ḥa b́nh xuống cho các trẻ em, thành phần, nhờ bản chất vô tội của ḿnh, đang làm phong phú hóa sự thiện hảo và niềm hy vọng cho nhân loại, cũng như nhờ những nỗi khổ đau của họ, đang thúc đẩy tất cả chúng ta hăy hoạt động cho công lư và ḥa b́nh. Từ mối quan tâm về trẻ em ấy, nhất là những em có một tương lai mờ mịt bởi việc khai thác và sự hiểm ác của thành phần người lớn thiếu hạnh kiểm, tôi muốn nhân dịp Ngày Thế Giới Ḥa B́nh này để khuyến khích hết mọi người hăy suy nghĩ về đề tài: ‘Con Người, Trọng Tâm của Ḥa B́nh’. Tôi tin rằng việc tôn trọng con người là những ǵ cổ vơ cho ḥa b́nh, và trong việc xây dựng ḥa b́nh th́ cần phải có một nền tảng trọn vẹn thực sự về nhân bản. Có thế mới sửa soạn một tương lai vững chắc cho các thế hệ mai hậu.
Con người và ḥa b́nh: tặng ân và tác vụ
2. Thánh Kinh khẳng định rằng ‘Thiên Chúa đă dựng nên con người theo h́nh ảnh của Ngài, theo h́nh ảnh Thiên Chúa, Ngài đă dựng nên họ; Ngài đă dựng nên họ có nam có nữ’ (Gen 1:27). V́ người ta được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa mà mỗi một cá nhân con người có được phẩm vị của một con người; họ nam hay nữ cũng không phải chỉ là một cái ǵ đó mà là một con người nào đó, có khả năng tự thức, tự sở hữu, tự hiến thân và hiệp thông với người khác. Đồng thời, nhờ ân sủng, mỗi người được kêu gọi tới việc giao ước với Đấng Hóa Công, được kêu gọi để đáp ứng Ngài bằng niềm tin yêu là những ǵ không một thụ tạo nào khác có thể thay thế được họ (Cf. Catechism of the Catholic Church, 357). Theo quan điểm siêu nhiên ấy, người ta có thể hiểu tác vụ được ủy thác cho con người trong việc trưởng thành về khả năng yêu thương cũng như trong việc góp phần vào t́nh trạng tiến bộ của thế giới, canh tân thế giới trong công lư cũng như trong ḥa b́nh. Bằng một câu tổng luận mạnh mẽ, Thánh Âu Quốc Tinh đă dạy rằng: Thiên Chúa đă dựng nên chúng ta không cần việc trợ giúp của chúng ta; song Ngài không muốn cứu chúng ta nếu chúng ta không phụ giúp” (Sermo 169, 11, 13: PL 38, 923). Bởi thế mà tất cả mọi con người đều có nhiệm vụ phải vun trồng ư thức đối với chiều kích lưỡng diện về tặng ân lẫn tác vụ này.
3. Cũng thế, ḥa b́nh vừa là tặng ân vừa là tác vụ. Nếu thực sự ḥa b́nh ḥa b́nh giữa cá nhân và giữa các dân tộc - một khả năng sống với nhau và xây dựng các mối liên hệ trong công lư và kết đoàn – là những ǵ đ̣i phải không ngừng dấn thân về phía chúng ta, th́ cũng thực sự, thực sự hơn như thế nữa, ḥa b́nh là tặng ân Thiên Chúa ban. Ḥa b́nh là một khía cạnh nơi hoạt động của Thiên Chúa, được biểu lộ cả nơi việc tạo dựng nên một vũ trụ thứ tự lớp lang và ḥa hợp, cũng như nơi việc cứu chuộc một nhân loại đang cần được phục hồi từ t́nh trạng lệch lạc của tội lỗi. Như thế, việc Tạo Dựng và việc Cứu Chuộc cống hiến một yếu tố giúp chúng ta bắt đầu hiểu được ư nghĩa của đời sống chúng ta trên thế gian này. Vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, khi ngỏ cùng Tổng Hội Đồng Liên Hiêä Quốc ngày 5/10/1995, đă nói rằng: ‘chúng ta không sống trong một thế giới vô tri hay vô nghĩa… có một thứ lư lẽ về luân lư được cài đặt nơi đời sống của con người và là cái có thể giúp thực hiện việc có thêåđối thoại với nhau giữa cá nhân với nhau cũng như các dân tộc với nhau’ (đoạn 3). Cái ‘văn phạm’ siêu việt này, tức là bộ qui luật cho tác hành của cá nhân cũng như cho các mối liên hệ hỗ tương giữa con người với nhau theo công lư và t́nh đoàn kết, là những ǵ được ghi khắc nơi lương tâm của con người, nơi phản ảnh dự án khôn ngoan của Thiên Chúa. Như mới đây tôi đă có dịp tái khẳng định: ‘chúng ta tin rằng bắt đầu hết mọi sự có Lời Hằng Hữu là Lư Trí chứ không phải là Vô Tri’ (Homily at Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006). Bởi thế ḥa b́nh cũng là một tác vụ đ̣i hỏi hết mọi người phải tự đáp ứng hợp với dự án của Thiên Chúa. Qui luật thúc đẩy thực hiện việc đáp ứng này chỉ có thể ở nơi thái độ tôn trọng ‘thứ văn phạm’ được Đấng Hóa Công thần linh viết trong tâm can của con người.
Theo quan điểm ấy, không được coi các chuẩn định của luật tự nhiên như là những chỉ thị áp đặt ngoại tại, như là những ǵ hạn chế tự do của con người. Trái lại, cần phải đón nhận chúng như là một tiếng gọi trung thành thực hiện dự án thần linh phổ quát được ghi khắc nơi bản tính của con người. Theo những chuẩn định ấy, tất cả mọi dân tộc – qua các nền văn hóa riêng biệt của ḿnh – có thể tiến tới một mầu nhiệm cao cả nhất, đó là mầu nhiệm về Thiên Chúa. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, việc nh́n nhận và tôn trọng luật tự nhiên là những ǵ tiêu biểu cho nền tảng của một cuộc đối thoại giữa thành phần tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau cũng như giữa thành phần tín đồ và vô tín ngưỡng. Là một điểm hội tụ lớn lao, nó cũng là một tiền ước nồng cốt cho nền ḥa b́nh chân thực.
Quyền sống và tự do tôn giáo
4. Nhiệm vụ tôn trọng phẩm vị của mỗi một con người, một phẩm vị tự bản chất phản ảnh Đấng Hóa Công mà bởi đó có nghĩa là con người không thể bị sử dụng tùy nghi theo ư muốn. Tất cả những ai có quyền hành hơn về chính trị, kỹ thuật hay kinh tế không được sử dụng quyền hành này để phạm tới các quyền lợi của những người khác mang thân phận thấp kém hơn. Ḥa b́nh được căn cứ vào việc tôn trọng các quyền lợi của tất cả mọi người. Ư thức được như thế, Giáo Hội tranh đấu cho các thứ nhân quyền căn bản của mỗi một người. Giáo Hội đặc biệt cổ động và bênh vực việc tôn trọng sự sống và tự do tôn giáo cho hết mọi người. Việc tôn trọng quyền sống ở mọi giai đoạn của nó thực sự làm nên một nguyên tắc có một tầm quan trọng quyết liệt, ở chỗ, sự sống là một tặng ân không hoàn toàn tùy thuộc vào việc sử dụng của chủ thể. Cũng thế, việc xác định quyền tự do tôn giáo là những ǵ liên kết con người với một nguyên tắc siêu việt kéo họ ra khỏi tính cách thất thường của con người. Quyền sống và quyền tự do bày tỏ niềm tin tưởng của cá nhân đối với Thiên Chúa không phải là những ǵ lệ thuộc vào quyền bính của con người. Ḥa b́nh đ̣i phải thiết lập một biên giới rơ ràng giữa những ǵ thuộc quyền sử dụng của con người và những ǵ không, nhờ đó, mới tránh được những thứ xâm nhập bất khả chấp vào gia sản của những thứ giá trị chuyên biệt của con người.
5. Đối với quyền sống, chúng ta cần phải vạch trần việc vi phạm lan tràn của nó trong xă hội của chúng ta: ngoài những nạn nhân của các cuộc xung đột vơ trang, nạn khủng bố và những h́nh thức bạo đôäg khác, c̣n có những cái chết âm thầm gây ra bởi đói khổ, bởi phá thai, bởi việc thí nghiệm phôi thai bào con người và bởi việc triệt sinh an tử. Làm sao chúng ta lại không thấy nơi tất cả những thứ ấy cuộc tâá công ḥa b́nh chứ? Việc phá thai và việc thí nghiệm phôi thai bào con người lạ một thứ trực tiếp chối bỏ thái độ chấp nhận người khác như là những ǵ bất khả châm chước để thiết lập những mối liên hệ ḥa b́nh bền vững. Liên quan tới việc tự do bày tỏ niềm tin cá nhân, một triệu chứng phiền nhiễu khác gây ra t́nh trạng thiếu ḥa b́nh trên thế giới được thấy nơi những khốn khó mà cả Kitô hữu và những tín đồ thuộc các tôn giáo khác thường gặp phải khi công khai và tự động tuyên xưng các niềm tin tưởng về đạo giáo của ḿnh. Đặc biệt về Kitô hữu, tôi cảm thấy khổ tâm khi phải lên tiếng nói rằng họ chẳng những có những lúc bị ngăn cản làm như thế; mà ở một số Quốc Gia, họ thực sự c̣n bị bách hại, thậm chí người ta c̣n thấy được cả những trường hợp thê thảm mới đây gây ra bởi việc bạo lực tàn ác. Có những chế độ áp đặt một tôn giáo duy nhất trên moọ người, trong khi các chế độ trần thế thường không dẫn tới chỗ có nhiều cuộc bách hại dữ dội cho b ằng tới việc nhạo báng theo chiều hướng văn hóa các niềm tin tôn giáo. Trong cả hai trường hợp, nhân quyền căn bản của con người đều không được tôn trọng, gây ra hậu quả trầm trọng đến cuộc chung sống thuận ḥa. T́nh trạng này chỉ có thể cổ vơ một thứ tâm thức và văn hóa không lợi ích ǵ cho ḥa b́nh cả.
Quyền B́nh Đẳng Tự Nhiên giữa Tất Cả Mọi Người
6. Nguồn gốc của nhiều thứ căng thẳng đe dọa tới ḥa b́nh chắc chắn là những t́nh trạng thiếu quân b́nh một cách bất công vẫn c̣n thê thảm xẩy ra trên thế giới của chúng ta. Đàng khác, cái đặc biệt oái oăm trong số những thứ bất quân b́nh này đó là t́nh trạng bất quân b́nh trong việc có thể được hưởng dụng những sản vật thiết yếu như thực phẩm, nước nôi, cư trú, sức khỏe; ngoài ra, c̣n có những thứ bất quân b́nh liên lỉ giữa nam nhân và nữ giới trong việc hành sử các quyền lợi căn bản của con người nữa.
Một yếu tố nồng cốt cho việc xây dựng ḥa b́nh đó là việc nh́n nhận cái quyền b́nh đẳng thiết yếu của con người xuất phát từ phẩm giá siêu việt chung của họ. Sự b́nh đẳng về phương diện này là sự thiện thuộc về tất cả mọi người, một sự thiện được ghi nhận nơi một ‘thứ văn phạm’ có thể suy diễn từ sự án thần linh của việc tạo dựng; nó là một sự thiện không thể bị coi thường hay khinh thường nếu không muốn gây ra những hậu quả trầm trọng nguy hại tới ḥa b́nh. T́nh trạng cực kỳ thiếu thốn đang hành hạ nhiều dân tộc, nhất là ở Phi Châu, nguyên nhân sâu xa đưa đến những phản ứng bạo động và v́ thế gây tổn thương nặng nề cho ḥa b́nh.
7. Tương tự như thế, việc không quan tâm đầy đủ đến t́nh trạng của nữ
giới là những ǵ góp phần vào t́nh trạng bất ổn định nơi cơ cấu xă hội. Tôi nghĩ
tới việc khai thác nữ giới, thành phần bị đối xử như là những đồ vật, cũng như
tới nhiều cách thức thiếu tôn trọng đối với phẩm giá của họ; tôi cũng nghĩ tới –
ở một bối cảnh khác – tâm thức kéo dài nơi một số văn hóa, nơi phụ nữ vẫn c̣n bị
lụy thuộc một cách mạnh mẽ vào những quyết định độc đoán của nam giới, gây ra
những hậu quả trầm trọng cho phẩm giá riêng tư của họ cũng như cho việc họ hành
sử các quyền tự do căn bản của họ. Một nền ḥa b́nh bảo đảm chắc chắn chỉ là ảo
tưởng cho tới khi những h́nh thức kỳ thị này cũng được chế ngự nữa, v́ chúng làm
tổn thương đến phẩm vị riêng tư được Đấng Hóa Công ghi khắc nơi hết mọi người
(Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the
Catholic Church on the collaboration of men and women in the Church and in the
world [31 May 2004], 15-16. ).
“Cái Môi Sinh của Ḥa B́nh”
8. Trong bức Thông Điệp ‘Bách Niên’ của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viết: ‘Thiên Chúa chẳng những ban trái đất cho con người, thành phần cần phải trân trọng sử dụng nó v́ mục đích tốt đẹp nguyên thủy mà nó được ban cho họ, mà cả con người nữa c ũng là tặng ân Thiên Chúa đă ban tặng cho con người nữa. Bởi thế họ cần phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lư mà họ đă được ban cho (khoản 38)". Nhờ việc đáp ứng trách nhiệm này, được Hóa Công ủy thác cho ḿnh, con người nam nữ mới có thể hiệp nhau mang lại một thế giới ḥa b́nh. Cùng với môi trường thiên nhiên, cũng có cả những ǵ được gọi là một thứ môi trường ‘con người’ nữa, một môi trường ngược lại cần đến một thứ môi trường ‘xă hội’. Tất cả những điều này có nghĩa là nhân loại, nếu thực sự muốn ḥa b́nh, cần phải gia tăng ư thou về những mối liên hệ giữa môi sinh tự nhiên, hay tôn trọng thiên nhiên, và môi sinh con người. Kinh nghiệm cho thấy rằng việc bất kể môi trường bao giờ cũng tác hại tới việc chung sống của con người, hay ngược lại. Càng trở nên hiển nhiên hơn nữa nơi cái liên hệ bất khả phân ly giữa t́nh trạng ḥa b́nh với thiên nhiên và ḥa b́nh nơi con người. Cả hai thứ ḥa b́nh này bao hàm t́nh trạng ḥa b́nh với Thiên Chúa. Bài thi nguyện của Thánh Phanxicô, đưoơc biết đến như là bài ‘Ca Vịnh Anh Mặt Trời’, là một thí dụ tuyệt vời và hằng hiện đại về thứ môi sinh đa diện của ḥa b́nh này.
9. Cái liên hệ chặt chẽ giữa hai thứ môi sinh này có thể hiểu được ở nơi t́nh trạng bị trục trặc trầm trọng gia tăng về vấn đề cung cấp năng lượng. Trong những năm gần đây, các quốc gia mới đă hăng say nhập cuộc vào việc sản xuất về kỹ nghệ, bởi đó mới gia tăng nhu cầu năng lượng của họ. Điều này đă dẫn đến một cuộc chạy đua chưa từng có đối với các nguồn liệu sẵn có. Trong khi đó th́ một số nơi trên trái đất này vẫn ở trong t́nh trạng tụt hậu, và việc phát triển thực sự bị ngăn cản, một phần v́ vấn đề gia tăng giá cả về năng lượng. Những ǵ sẽ xẩy ra cho những dân tộc ấy? T́nh trạng khan hiếm nơi những nguồn cung cấp năng lượng sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển hay không phải triển của những dân tộc ấy ra sao? Cuộc chạy đua đối với các nguồn năng lượng này sẽ gây ra những thứ bất công và xung khắc như thế nào? Và đâu là phản ứng của những ai bị hất ra khỏi cuoọc chạy đua này? Những vấn nạn ấy cho thấy việc tôn trọng đối với thiên nhiên liên hệ chặt chẽ tới nhu cầu cần phải thiết lập, giữa cá nhân với nhau và giữa các quốc gia với nhau, các mối liên hệ chú trọng tới phẩm giá của con người cùng với khả năng đáp ứng thỏa đáng các nhu cầu chân thực của họ. Việc hủy hoại môi trường, việc sử dụng không thíc h đáng hay vị kỷ, và việc giành giật tích trữ các nguồn nhiên liệu của trái đất này là những ǵ gây ra các t́nh trạng bất b́nh, xung khắc và chiến tranh, chính v́ chúng là thành quả của một quan niệm phi nhân nơi việc phát triển. Thật vậy, nếu vấn đề phát triển được thu hẹp vào chiều kích kinh tế kỹ thuật, không đếm xỉa ǵ tới chiều kính tôn giáo luân lư, nó sẽ không phải là một thứ phát triển trọn vẹn về nhân bản, mà là một thứ méo mó một chiều, sẽ tiến tới chỗ làm bùng nổ các thứ khả năng hủy hoại của con người.
Những quan niệm giảm thiểu về con người
10. Bởi vậy mà ngay trong cấu trúc của các thứ khó khăn và căng thẳng quốc tế hiện nay, rất cần phải thực hiện một cuộc dấn thân cho một thứ môi sinh nhân bản hướng về cuộc tăng trưởng ‘cây ḥa b́nh’. Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải có một nhăn quan về con người không bị lây nhiễm bởi các thứ thành kiến về ư hệ và văn hóa, hay bởi những thứ khuynh hướng lợi lộc về chính trị và kinh tế là những ǵ có thể gây ra hận thù và bạo động. Vẫn biết rằng các thứ quan niệm về con người là những ǵ khác nhau tùy theo văn hóa. Tuy nhiên, điều không thể chấp nhận được ở đây là việc gieo rắc các quan niệm về nhân loại học chất chứa các mầm mống hận thù và bạo lực. Cũng không thể chấp nhận được các quan niệm về Thiên Chúa phấn khích thái độ bất dung nhượng và việc sủ dụng bạo lực chống lại kẻ khác. Đó là vấn đề cần phải minh nhiên tái xác quyết, ở chỗ, chiến tranh nhân danh Thiên Chúa bao giờ cũng là những ǵ bất khả chấp! Khi một quan niệm nào đó về Thiên Chúa là nguyên nhân gây ra các hành động tội ác th́ nó là dấu hiệu cho thấy rằn g quan niệm đó đă trở thành một thứ ư hệ rồi vậy.
11. Tuy nhiên, ngày nay, ḥa b́nh chẳng những bị đe dọa bởi t́nh trạng xung khắc giữa những quan niệm giảm thiểu về con người, nói cách khác, giữa những thứ ư thức hệ. Ḥa b́nh cũng c̣n bị đe dọa bởi thái độ dửng dưng coi thường đối với những ǵ tạo nên bản tính thực sự của con người nữa. Nhiều người đương thời của chúng ta thực sự chối bỏ sự hiện hữu của một bản tính con người đặc biệt và bởi đó mở đường cho những dẫn giải quá trớn nhất về những ǵ thiết yếu cấu tạo nên con người. Cả ở đây nữa cũng cần phải làm sáng tỏ vấn đề, đó là một quan niệm ‘yếu kém’ về con người, một quan niệm dọn chỗ cho hết mọi quan niệm, ngay cả quan niệm kỳ quái nhất, chỉ là quan niệm thiên về ḥa b́nh một cách bề ngoài vậy thôi. Thực ra nó cản trở việc đối thoại đích thực và mở đường cho những thứ áp đặt độc đoán, cuối cùng biến con người thành mất khả năng tự vệ, với hậu quả là con người trở thành một mồi ngon cho áp bức và bạo lực.
Các thứ nhân quyền và tổ chức quốc tế
12. Một thứ ḥa b́nh thực sự và bền vững bao hàm việc tôn trọng các thứ nhân quyền. Tuy nhiên, nếu những thứ nhân quyền này đưoơc bắt nguồn từ một quan niệm yếu kém về con người, th́ làm sao những thứ nhân quyền ấy lại không trở thành những ǵ suy yếu chứ? Ở đây chúng ta có thể thấy cái hụt hẫng trầm trọng là chừng nào của một thứ quan niệm tương đối về con người. Cái vấn đề khó khăn ở đây đă là những ǵ hiển nhiên, đó là các thứ quyền lợi được cho là tuyệt đối, tuy nhiên, cái nền tảng nâng đỡ những thứ quyền lợi này lại chỉ là những ǵ tương đối. Có thể chúng ta nghĩ rằng, trước những đ̣i hỏi ‘bất thuận lợi’ của thứ quyền này hay quyền khác, có người sẽ đặït vấn đề với thứ quyền lợi ấy hay sẽ dứt khoát là cần phải loại trừ quyền lợi này đi? Chỉ khi nào chúng được dựa vào những đ̣i hỏi khách quan của một bản tính con người được Hóa Công ban cho, th́ những thứ quyền lợi được qui cho họ mới có thể được xác nhận mà không sợ bị xung khắc mà thôi. Ngoài ra, cũng không thể nào không đề cập tới là các thứ nhân quyền đều bao hàm cả những thứ nhiệm vụ tương hợp nữa. Về vấn đề này, ông Mahatma Gandhi đă nói một cách khôn ngoan rằng: ‘Những Băng quyền lợi xuất phát từ Núi Hy Mă Lạp Sơn nhiệm vụ’. Cần phải làm sáng tỏ những thứ bao hàm căn bản này, nếu muốn bênh vực một cách thỏa đáng các thứ nhân quyền ngày nay đang liên tục bị tấn công. Không minh bạch như thế th́ ‘các thứ nhân quyền’ cuối cùng sẽ đi đến chỗ lệ thuộc vào việc tùy nghi quyết định c ủa các chủ thể khác nhau: có những trường hợp th́ con người mang một phẩm giá cùng những quyền lợi tồn tại bao giờ cũng có giá trị ở mọi nơi và đối với mọi người, có trường hợp con người có một phẩm vị được đôåi thay cùng với những quyền lợi liên tục được mặc cả, tùy theo nội dung, thời điểm và địa điểm.
13. Việc bảo vệ các thứ nhân quyền là những ǵ liên tục được qui cho những cơ cấu quốc tế, và, đặc biệt là Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, một tổ chức lănh trách nhiệm nống cốt là cổ vơ các thuư nhân quyền được qui định trong Bản Tuyên Ngôn Chung năm 1948. Bản Tuyên Ngôn này được coi như một thứ quyết tâm về luân lư được thực hiện bởi toàn thể nhân loại. Có một sự thật sâu xa ở đây, đặc biệt là nếu các thứ quyền lợi được diễn tả trong Bản Tuyên Ngôn này được tuân giữ trên căn bản không phải chỉ v́ chúng là những quyết định được chuẩn nhận bởi một hội đồng, mà là những ǵ căn cứ vào chính bản tính của con người và phẩm giá bất khả chuyển nhượng của họ như là một con người được Thiên Chúa dựng nên. Bởi thế, điều quan trọng là các cơ quan quốc tế đừng làm mất đi cái nền tảng tự nhiên về nhân quyền này. Nó sẽ giúp cho họ có thể tránh khỏi nguy cơ, bất hạnh thay luôn xẩy ra, trong việc trơn theo một thứ dẫn giải thuần thực chứng về những quyền lợi này. Nếu điều này xẩy ra th́ các cơ cấu quốc tế sẽ đi đến chỗ thiếu thẩm quyết cần thiết để thi hành vai tṛ của ḿnh như là thành phần bênh vực các thứ quyền lợi nồng cốt của con người cũng như của các dân tộc, thiếu lư do chính đáng chính yếu cho chính sự hiện hữu cùng hoạt động của họ.
Luật nhân đạo quốc tế và luật lệ nội tại của các Quốc Gia
14. Việc nh́n nhận rằng các thứ nhân quyền bất khả chuyển nhượng của con người liên hệ với bản tính chung của con người đă dẫn đến chỗ thiết lập một bộ luật nhân đạo quốc tế được các Quốc Gia quyết tâm tôn trọng, ngay cả trong trường hợp xẩy ra chiến tranh. Tiếc thay, không kể đến những trường hợp trong quá khứ, điều này vẫn không được nhất trí áp dụng nơi một số trường hợp c hiến tranh mới đây. Điển h́nh cho trường hợp như thế đă xẩy ra trong cuộc xung đột mấy tháng trước đây ở miền nam Lebanon đó là việc hầu như tỏ ra coi thường nhiệm vụ ‘bảo vệ và giúp đỡ các nạn nhân vô tội’ để tránh t́nh trạng liên quan tới thành phần dân chúng. T́nh trạng đau ḷng này ở Lebanon và việc h́nh thành mới những cuộc xung đột, nhất là từ khi mối đe dọa khủng bố hoàn toàn tung ra những h́nh thức mới bạo động, buộc cộng đồng quốc tế phái tái khẳng định luật nhân đạo quốc tế, và áp dụng nó vào tất cả mọi trường hợp xung đột vơ trang hiện nay, bao gồm cả những luật nhân đạo hiện luật quốc tế không có. Ngoài ra, nạn khủng bố đ̣i phải sâu xa suy nghĩ về những giới hạn đạo lư hạn chế việc sử dụng các phương pháp tân thời trong việc bảo đảm t́nh trạng an ninh nội bộ. Càng ngày càng xẩy ra những trận đánh không tuyên chiến, nhất là khi những trận chiến này được khởi động bởi các nhóm khủng bố quyết tâm chiếm được mục đích của ḿnh bằng bất cứ phương tiện nào trong tầm tay. Trước những biênácố đáng lo ngại trong những năm gần đây, các Quốc Gia không thể nào không nhận thấy nhu cầu cần phải thiết lập các qui luật rơ ràng hơn trong việc đương đầu một cách hiệu nghiệm với t́nh trạng tệ hại gần đây đang xẩy ra trước mắt chúng ta. Chiến tranh bao giờ cũng cho thấy cái thất bại của cộng đồng quốc tế và cái thiệt hại nặng nề đối với nhân loại. Bất chấp mọi nỗ lực, một khi chiến tranh bùng nổ th́ ít là phải bảo đảm được những nguyên tắc thiết yếu của nhân loại cùng với những giá trị căn bản nơi tất cả cuộc chung sống về dân sự, phải ấn định những qui chuẩn tác hành có thể hạn chế lại t́nh trạng thiệt hại bao nhiêu có thể, và giúp vào việc làm giảm bớt đau thương cho dân chúng cũng như cho các nạn nhân của các cuộc xung đột (In this regard, the Catechism of the Catholic Church indicates strict and precise criteria: cf. 2307-2317).
15. Một vấn đề đáng lo ngại nữa là gần đây có một số Quốc Gia tỏ ra muốn có được các thứ vũ khí nguyên tử. Điều này càng làm gia tăng hơn nữa bầu khí đang lan tràn về một thứ bất ổn và lo sợ có thể xẩy ra một tai biến nguyên tử. Chúng ta cản thấy như thụt lại thời đầy những lo âu của giai đoạn ‘chiến tranh lạnh’. Khi cuộc chiến tranh lạnh này kết thúc, người ta hy vọng rằng mối nguy hiểm về nguyên tử đă được hoàn toàn thắng vượt và nhân loại cuối cùng đă được thở phào một cách nhẹ nhàng thoải mái. Về vấn đề này th́ c̣n ǵ hợp thời cho bằng lời cảnh giác của Công Đồng Chung Vaticanô II là ‘hết mọi hành động chiến tranh nhắm đến việc hủy hoại hằng loạt toàn diện các thành phố hay những miền đất rộng lớn cùng với dân cư ở đấy là một tội ác phạm đến Thiên Chúa và nhân loại, đáng bị mạnh mẽ và cương quyết lên án (Pastoral Constitution "Gaudium et Spes," 80). Tiếc thay, những đám mây đe dọa vẫn tiếp tục tụ lại ở chân trời nhân loại. Đường lối để bảo đảm một tương lai ḥa b́nh cho hết mọi người chẳng những ở nơi các bản thỏa ước quốc tế về vấn đề thôi leo thang các thứ vũ khí nguyên tử, mà c̣n ở cuộc dứt khoát dấn thân t́m cách giảm bớt chúng và cuối cùng giải giới chúng. Chớ ǵ hết mọi nỗ lực được thực hiện để qua việc thương thảo đạt tới những mục tiêu ấy! Vận mệnh của toàn thể gia đ́nh nhân loại đang bị hiểm nguy!
Giáo Hội bảo đảm cho tính cách siêu việt của con người
16. Sau hết, tôi muốn khẩn trương kêu gọi Dân Chúa: hết mọi Kitô hữu hăy dấn thân cho việc không ngừng đi làm ḥa b́nh cũng như cho việc nhiệt thành bênh vực cho phẩm giá của con người cùng những quyền lợi bất khả chuyển nhượng của họ.
Với ḷng biết ơn Chúa là Đấng đă gọi ḿnh thuộc về Giáo Hội của Người, một Giáo Hội là ‘dấu hiệu và là bảo đảm cho chiều kích siêu việt của con người (cùng nguồn vừa dẫn, đoạn 76) trên thế gian này, Kitô hữu sẽ không ngừng nài xin Chúa ban cho sự thiện ḥa b́nh sâu xa, một sự thiện có một tầm quan trọng thực sự nơi đời sống của mỗi một con người. Ngoài ra, họ cũng sẽ cảm thấy hănh diện được dấn thân hoạt động cho ḥa b́nh, rat ay giúp đỡ anh chị em của ḿnh, nhất là những ai, ngoài việc chịu đựng nghèo khổ và thiếu thốn, cũng bị hụt hẫng cả sự thiện quí báu này nữa. Chúa Giêsu đă tỏ cho chúng ta biết rằng ‘Thiên Chúa là t́nh yêu’ (1Jn 4:8), và ơn gọi cao cả nhất của hết mọi người là yêu thương. Nơi Chúa Kitô, chúng ta có thể thấy được lư do tối hậu trong việc trở thành những đối thủ hào hùng cho phẩm vị con người và là những kiến trúc viên can trường xây dựng ḥa b́nh.
17. Vậy hết mọi tín hữu hăy không ngừng góp phần vào việc phát triển một thứ nhân bản trọn vẹn đích thực hợp với các giáo huấn của những bức Thông Điệp ‘Populorum Progressio’ và ‘Sollicitudo Rei Socialis’, những bức thông điệp chúng ta sửa soạn mừng kỷ niệm 40 và 20 năm vào năm nay. Tôi xin kư thác cho Nữ Vương Ḥa B́nh là Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, Đấng là ‘ḥa b́nh của chúng ta’ (Eph 2:4), lời nguyện cầu thiết tha của tôi cho toàn thể nhân loại vào đầu năm 2007 này, một đầu năm chúng ta đang hướng về với tràn đầy hy vọng, bất kể những hiểm nguy và khó khăn đang vây bủa chúng ta. Xin Mẹ Maria tỏ cho chúng ta thấy, nơi Con của Mẹ, Đường Lối ḥa b́nh, và soi sáng cho quan niệm của chúng ta, để chúng ta có thể nhận ra dung nhan của Chúa Kitô trên khuôn mặt của hết mọi con người là tâm điểm của ḥa b́nh!
Tại Vatican ngày 8/12/2006
Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được
Zenit phổ biến ngày 17/12/2006
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/messages/peace/documents/hf_ben-xvi_mes_20061208_xl-world-day-peace_en.html
“Con Người – Trọng Tâm của Ḥa B́nh”
Sứ Điệp Ḥa B́nh 1/1/2007 của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
Phân tích học hỏi và chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn c ầu của Ṭa Thánh V atican
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/messages/peace/documents/hf_ben-xvi_mes_20061208_xl-world-day-peace_en.html
“Con Người Là Trọng Tâm Của Ḥa B́nh” là Sứ Điệp Ḥa B́nh của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, kư từ ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 8/12/2006, cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới lần thứ 40, một biến cố chất chứa mối liên hệ chặt chẽ giữa tôn giáo và thế giới kể từ Sứ Điệp Ḥa B́nh đầu tiên của Đức Thánh Cha Phaolô VI ngày 1/1/1968.
Ngay ở đoạn mở đầu, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă cho biết về nguyên nhân và mục đích của việc ngài chọn Sứ Điệp Ḥa B́nh 2007 “Con Người Là Trọng Tâm Của Ḥa B́nh”, đó là v́ nỗi khổ của giới trẻ hiện tại và cho các thế hệ mai sau. Thế rồi trước khi bàn giải về 7 chủ điểm thiết yếu và khẩn trương trực tiếp liên quan tới chủ đề của sứ điệp, ở đoạn 2 và 3 ngài đă đặt nền tảng của chủ đề sứ điệp ḥa b́nh 2007 “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” trên niềm xác tín: cả con người lẫn ḥa b́nh đều vừa là tặng ân vừa là tác vụ.
Căn do và mục đích chọn chủ đề: V́ nỗi khổ của trẻ em hiện nay và cho tương lai của các thế hệ mai hậu
· Tôi cầu xin ḥa b́nh xuống cho các trẻ em, thành phần, nhờ bản chất vô tội của ḿnh, đang làm phong phú hóa sự thiện hảo và niềm hy vọng cho nhân loại, cũng như nhờ những nỗi khổ đau của họ, đang thúc đẩy tất cả chúng ta hăy hoạt động cho công lư và ḥa b́nh. Từ mối quan tâm về trẻ em ấy, nhất là những em có một tương lai mờ mịt bởi việc khai thác và sự hiểm ác của thành phần người lớn thiếu hạnh kiểm, tôi muốn nhân dịp Ngày Thế Giới Ḥa B́nh này để khuyến khích hết mọi người hăy suy nghĩ về đề tài: ‘Con Người, Trọng Tâm của Ḥa B́nh’. Tôi tin rằng việc tôn trọng con người là những ǵ cổ vơ cho ḥa b́nh, và trong việc xây dựng ḥa b́nh th́ cần phải có một nền tảng trọn vẹn thực sự về nhân bản. Có thế mới sửa soạn một tương lai vững chắc cho các thế hệ mai hậu.
Nền tảng của chủ đề: Cả con người lẫn ḥa b́nh đều chẳng những là một tặng ân mà c̣n là một tác vụ
Về khía cạnh con người chẳng những là một tặng ân mà c̣n là một tác vụ, Đức Thánh Cha nhận định ở đoạn 2 thế này:
Con người chẳng những là một tặng ân, ở chỗ phẩm giá làm người:
Con người c̣n là một tác vụ, ở chỗ sống yêu thương và hiệp thông:
Về khía cạnh ḥa b́nh cũng thế, như con người, ḥa b́nh cũng chẳng những là một tặng ân mà c̣n là một tác vụ, Đức Thánh Cha cũng tiếp tục phân tích vấn đề này ở đoạn 3 như sau:
Ḥa b́nh chẳng những là một tặng ân, nơi việc tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa:
Cái ư nghĩa của đời sống chúng ta trên thế gian này, xuất phát từ việc Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc đấy, theo Đức Thánh Cha, trong cùng đoạn sứ điệp 3, được thấy nơi cái lư lẽ như là một thứ ‘văn phạm’ về luân lư bẩm sinh trong con người. Ngài nói:
Ḥa b́nh c̣n là một tác vụ, ở chỗ dự án thần linh nơi việc tạo dựng và cứu chuộc được ghi khắc nơi bản tính của con người cần phải được đáp ứng một cách tương xứng, như đoạn sứ điệp 3 cho biết tiếp:
· Ḥa b́nh cũng là một tác vụ đ̣i hỏi hết mọi người phải tự đáp ứng hợp với dự án của Thiên Chúa. Qui luật thúc đẩy thực hiện việc đáp ứng này chỉ có thể ở nơi thái độ tôn trọng ‘thứ văn phạm’ được Đấng Hóa Công thần linh viết trong tâm can của con người. Theo quan điểm ấy, không được coi các chuẩn định của luật tự nhiên như là những chỉ thị áp đặt ngoại tại, như là những ǵ hạn chế tự do của con người. Trái lại, cần phải đón nhận chúng như là một tiếng gọi trung thành thực hiện dự án thần linh phổ quát được ghi khắc nơi bản tính của con người.
Theo Đức Thánh Cha, trong cùng đoạn 3 của sứ điệp, nhờ tôn trọng luật tự nhiên mà con người chẳng những mới có thể đi sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa mà c̣n có thể đối thoại cả với nhau nữa, như ngài đă cảm nhận và khẳng định như sau:
· Theo những chuẩn định ấy, tất cả mọi dân tộc – qua các nền văn hóa riêng biệt của ḿnh – có thể tiến tới một mầu nhiệm cao cả nhất, đó là mầu nhiệm về Thiên Chúa. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, việc nh́n nhận và tôn trọng luật tự nhiên là những ǵ tiêu biểu cho nền tảng của một cuộc đối thoại giữa thành phần tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau, cũng như giữa thành phần tin tưởng và những người vô tín ngưỡng. Là một điểm hội tụ lớn lao, nó cũng là một giả định nồng cốt cho một nền ḥa b́nh chân thực.
Sau khi chẳng những đă cho biết căn do và mục đích của việc chọn chủ đề cho Ngày Thế Giới Ḥa B́nh lần thứ 40 là “Con Người - Trọng Tâm Của Ḥa B́nh”, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI của chúng ta c̣n đặt Sứ Điệp chủ đề của ngài trên một nền tảng nhân loại học siêu nhiên hết sức vững chắc, liên quan tới dự án thần linh trong việc tạo dựng và cứu chuộc, một dự án vốn được bẩm sinh ghi khắc sâu xa nơi bản tính tự nhiên của con người, ngài mới từ đó tiếp tục khai triển và diễn giải sứ điệp ḥa b́nh của ḿnh, về cả lư thuyết lẫn thực tiễn, với 7 chủ điểm quan trọng được ngài nhấn mạnh đặc biệt thứ tự sau đây:
1) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” nên con người có quyền sống và quyền tự do tôn giáo;
2) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” nên tất cả mọi người đều bẩm sinh b́nh đẳng với nhau;
3) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ cần phải kiến tạo ‘Môi Sinh Ḥa B́nh”;
4) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ không thể bị quan niệm một cách lệch lạc;
5) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà các quyền lợi của họ mới cần được những tổ chức quốc tế bảo vệ;
6) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ cần đến những luật nhân đạo quốc tế và luật Quốc Gia;
7) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ được Giáo Hội bảo đảm tính cách siêu việt của họ.
(Biệt chú: 7 tiểu đề dài ḍng cho rơ ràng mạch lạc ăn khớp với nhau trên đây được dựa theo các tiểu đề ngắn gọn hơn của chính Sứ Điệp; c̣n các số dẫn đầu của những đoạn được trích dẫn hoàn toàn đúng như trong Sứ Điệp, nếu để ư sẽ thấy các số chẵn nói về nguyên tắc của mỗi chủ điểm c̣n số lẽ về những ǵ thực tiễn của từng chủ điểm).
1) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” nên con người có quyền sống và quyền tự do tôn giáo:
4. Nhiệm vụ tôn trọng phẩm vị của mỗi một con người, một phẩm vị tự bản chất phản ảnh Đấng Hóa Công mà bởi đó có nghĩa là con người không thể bị sử dụng tùy nghi theo ư muốn. Tất cả những ai có quyền hành hơn về chính trị, kỹ thuật hay kinh tế không được sử dụng quyền hành này để phạm tới các quyền lợi của những người khác mang thân phận thấp kém hơn. Ḥa b́nh được căn cứ vào việc tôn trọng các quyền lợi của tất cả mọi người. Ư thức được như thế, Giáo Hội tranh đấu cho các thứ nhân quyền căn bản của mỗi một người. Giáo Hội đặc biệt cổ động và bênh vực việc tôn trọng sự sống và tự do tôn giáo cho hết mọi người. Việc tôn trọng quyền sống ở mọi giai đoạn của nó thực sự làm nên một nguyên tắc có một tầm quan trọng quyết liệt, ở chỗ, sự sống là một tặng ân không hoàn toàn tùy thuộc vào việc sử dụng của chủ thể. Cũng thế, việc xác định quyền tự do tôn giáo là những ǵ liên kết con người với một nguyên tắc siêu việt kéo họ ra khỏi tính cách thất thường của con người. Quyền sống và quyền tự do bày tỏ niềm tin tưởng của cá nhân đối với Thiên Chúa không phải là những ǵ lệ thuộc vào quyền bính của con người. Ḥa b́nh đ̣i phải thiết lập một biên giới rơ ràng giữa những ǵ thuộc quyền sử dụng của con người và những ǵ không, nhờ đó, mới tránh được những thứ xâm nhập bất khả chấp vào gia sản của những thứ giá trị chuyên biệt của con người.
5. Đối với quyền sống, chúng ta cần phải vạch trần việc vi phạm lan tràn của nó trong xă hội của chúng ta: ngoài những nạn nhân của các cuộc xung đột vơ trang, nạn khủng bố và những h́nh thức bạo động khác, c̣n có những cái chết âm thầm gây ra bởi đói khổ, bởi phá thai, bởi việc thí nghiệm phôi thai bào con người và bởi việc triệt sinh an tử. Làm sao chúng ta lại không thấy nơi tất cả những thứ ấy cuộc tấn công ḥa b́nh chứ? Việc phá thai và việc thí nghiệm phôi thai bào con người là một thứ trực tiếp chối bỏ thái độ chấp nhận người khác như là những ǵ bất khả châm chước để thiết lập những mối liên hệ ḥa b́nh bền vững. Liên quan tới việc tự do bày tỏ niềm tin cá nhân, một triệu chứng phiền nhiễu khác gây ra t́nh trạng thiếu ḥa b́nh trên thế giới được thấy nơi những khốn khó mà cả Kitô hữu và những tín đồ thuộc các tôn giáo khác thường gặp phải khi công khai và tự động tuyên xưng các niềm tin tưởng về đạo giáo của ḿnh. Đặc biệt về Kitô hữu, tôi cảm thấy khổ tâm khi phải lên tiếng nói rằng họ chẳng những có những lúc bị ngăn cản làm như thế; mà ở một số Quốc Gia, họ thực sự c̣n bị bách hại, thậm chí người ta c̣n thấy được cả những trường hợp thê thảm mới đây gây ra bởi việc bạo lực tàn ác nữa. Có những chế độ áp đặt một tôn giáo duy nhất trên mọi người, trong khi các chế độ trần thế thường không dẫn tới chỗ có nhiều cuộc bách hại dữ dội cho b ằng tới việc nhạo báng theo chiều hướng văn hóa các niềm tin tôn giáo. Trong cả hai trường hợp, nhân quyền căn bản của con người đều không được tôn trọng, gây ra hậu quả trầm trọng đến cuộc chung sống thuận ḥa. T́nh trạng này chỉ có thể cổ vơ một thứ tâm thức và văn hóa không lợi ích ǵ cho ḥa b́nh cả.
2) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” nên tất cả mọi người đều bẩm sinh b́nh đẳng với nhau:
6. Nguồn gốc của nhiều thứ căng thẳng đe dọa tới ḥa b́nh chắc chắn là những t́nh trạng thiếu quân b́nh một cách bất công vẫn c̣n thê thảm xẩy ra trên thế giới của chúng ta. Đàng khác, cái đặc biệt oái oăm trong số những thứ bất quân b́nh này đó là t́nh trạng bất quân b́nh trong việc có thể được hưởng dụng những sản vật thiết yếu như thực phẩm, nước nôi, cư trú, sức khỏe; ngoài ra, c̣n có những thứ bất quân b́nh liên lỉ giữa nam nhân và nữ giới trong việc hành sử các quyền lợi căn bản của con người nữa.
Một yếu tố nồng cốt cho việc xây dựng ḥa b́nh đó là việc nh́n nhận cái quyền b́nh đẳng thiết yếu của con người xuất phát từ phẩm giá siêu việt chung của họ. Sự b́nh đẳng về phương diện này là sự thiện thuộc về tất cả mọi người, một sự thiện được ghi nhận nơi một ‘thứ văn phạm’ có thể suy diễn từ dự án thần linh của việc tạo dựng; nó là một sự thiện không thể bị coi thường hay khinh thường nếu không muốn gây ra những hậu quả trầm trọng nguy hại tới ḥa b́nh. T́nh trạng cực kỳ thiếu thốn đang hành hạ nhiều dân tộc, nhất là ở Phi Châu, nguyên nhân sâu xa đưa đến những phản ứng bạo động và v́ thế gây tổn thương nặng nề cho ḥa b́nh.
7. Tương tự như thế, việc không quan tâm đầy đủ đến t́nh trạng của nữ giới là những ǵ góp phần vào t́nh trạng bất ổn định nơi cơ cấu xă hội. Tôi nghĩ tới việc khai thác nữ giới, thành phần bị đối xử như là những đồ vật, cũng như tới nhiều cách thức thiếu tôn trọng đối với phẩm giá của họ; tôi cũng nghĩ tới – ở một bối cảnh khác – tâm thức kéo dài nơi một số văn hóa, nơi phụ nữ vẫn c̣n bị lụy thuộc một cách mạnh mẽ vào những quyết định độc đoán của nam giới, gây ra những hậu quả trầm trọng cho phẩm giá riêng tư của họ cũng như cho việc họ hành sử các quyền tự do căn bản của họ. Một nền ḥa b́nh bảo đảm chắc chắn chỉ là ảo tưởng cho tới khi những h́nh thức kỳ thị này cũng được chế ngự nữa, v́ chúng làm tổn thương đến phẩm vị riêng tư được Đấng Hóa Công ghi khắc nơi hết mọi người (Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic Church on the collaboration of men and women in the Church and in the world [31 May 2004], 15-16).
3) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ cần phải kiến tạo ‘Môi Sinh Ḥa B́nh”:
8. Trong bức Thông Điệp ‘Bách Niên’ của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viết: ‘Thiên Chúa chẳng những ban trái đất cho con người, thành phần cần phải trân trọng sử dụng nó v́ mục đích tốt đẹp nguyên thủy mà nó được ban cho họ, mà cả con người nữa cũng là tặng ân Thiên Chúa đă ban tặng cho con người nữa. Bởi thế họ cần phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lư mà họ đă được ban cho (khoản 38)". Nhờ việc đáp ứng trách nhiệm được Hóa Công ủy thác cho ḿnh ấy, con người nam nữ mới có thể hiệp nhau mang lại một thế giới ḥa b́nh. Cùng với môi trường thiên nhiên, cũng có cả những ǵ được gọi là một thứ môi trường ‘con người’ nữa, một môi trường lại cần đến một thứ môi trường ‘xă hội’. Tất cả những điều này có nghĩa là nhân loại, nếu thực sự muốn ḥa b́nh, cần phải gia tăng ư thức về những mối liên hệ giữa môi sinh tự nhiên, hay giữa việc tôn trọng thiên nhiên, và môi sinh con người. Kinh nghiệm cho thấy rằng việc bất kể không màng chi tới môi trường bao giờ cũng tác hại tới việc chung sống của con người, hay ngược lại. Càng trở nên hiển nhiên hơn nữa nơi cái liên hệ bất khả phân ly giữa t́nh trạng ḥa b́nh với thiên nhiên và ḥa b́nh nơi con người. Cả hai thứ ḥa b́nh này bao hàm t́nh trạng ḥa b́nh với Thiên Chúa. Bài thi nguyện của Thánh Phanxicô, được biết đến như là bài ‘Ca Vịnh Anh Mặt Trời’, là một thí dụ tuyệt vời và hằng hiện đại về thứ môi sinh đa diện của ḥa b́nh này.
9. Cái liên hệ chặt chẽ giữa hai thứ môi sinh này có thể hiểu được ở nơi t́nh trạng bị trục trặc trầm trọng gia tăng về vấn đề cung cấp năng lượng. Trong những năm gần đây, các quốc gia mới đă hăng say nhập cuộc vào việc sản xuất về kỹ nghệ, bởi đó mới gia tăng nhu cầu năng lượng của họ. Điều này đă dẫn đến một cuộc chạy đua chưa từng thấy đối với các nguồn liệu sẵn có. Trong khi đó th́ một số nơi trên trái đất này vẫn ở trong t́nh trạng tụt hậu, và việc phát triển thực sự bị ngăn cản, một phần v́ vấn đề gia tăng giá cả về năng lượng. Những ǵ sẽ xẩy ra cho những dân tộc ấy đây? T́nh trạng khan hiếm nơi những nguồn cung cấp năng lượng sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển hay không phải triển của những dân tộc ấy ra sao? Cuộc chạy đua đối với các nguồn năng lượng này sẽ gây ra những thứ bất công và xung khắc như thế nào? Và đâu là phản ứng của những ai bị hất ra khỏi cuộïc chạy đua này? Những vấn nạn ấy cho thấy việc tôn trọng đối với thiên nhiên liên hệ chặt chẽ tới nhu cầu cần phải thiết lập, giữa cá nhân với nhau và giữa các quốc gia với nhau, các mối liên hệ chú trọng tới phẩm giá của con người cùng với khả năng đáp ứng thỏa đáng các nhu cầu chân thực của họ. Việc hủy hoại môi trường, việc sử dụng không thích đáng hay vị kỷ, và việc giành giật tích trữ các nguồn nhiên liệu của trái đất này là những ǵ gây ra các t́nh trạng bất b́nh, xung khắc và chiến tranh, chính v́ chúng là thành quả của một quan niệm phi nhân nơi việc phát triển. Thật vậy, nếu vấn đề phát triển được thu hẹp vào chiều kích kinh tế kỹ thuật, không đếm xỉa ǵ tới chiều kính tôn giáo luân lư, nó sẽ không phải là một thứ phát triển trọn vẹn về nhân bản, mà là một thứ méo mó một chiều, sẽ tiến tới chỗ làm bùng nổ các thứ khả năng hủy hoại của con người.
4) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ không thể bị quan niệm một cách lệch lạc:
10. Bởi vậy mà ngay trong cấu trúc của các thứ khó khăn và căng thẳng quốc tế hiện nay, rất cần phải thực hiện một cuộc dấn thân cho một thứ môi sinh nhân bản hướng về cuộc tăng trưởng ‘cây ḥa b́nh’. Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải có một nhăn quan về con người không bị lây nhiễm bởi các thứ thành kiến về ư hệ và văn hóa, hay bởi những thứ khuynh hướng lợi lộc về chính trị và kinh tế là những ǵ có thể gây ra hận thù và bạo động. Vẫn biết rằng các thứ quan niệm về con người là những ǵ khác nhau tùy theo văn hóa. Tuy nhiên, điều không thể chấp nhận được ở đây là việc gieo rắc các quan niệm về nhân loại học chất chứa các mầm mống hận thù và bạo lực. Cũng không thể chấp nhận được các quan niệm về Thiên Chúa phấn khích thái độ bất dung nhượng và việc sủ dụng bạo lực chống lại kẻ khác. Đó là vấn đề cần phải minh nhiên tái xác quyết, ở chỗ, chiến tranh nhân danh Thiên Chúa bao giờ cũng là những ǵ bất khả chấp! Khi một quan niệm nào đó về Thiên Chúa là nguyên nhân gây ra các hành động tội ác th́ nó là dấu hiệu cho thấy rằn g quan niệm đó đă trở thành một thứ ư hệ rồi vậy.
11. Tuy nhiên, ngày nay, ḥa b́nh chẳng những bị đe dọa bởi t́nh trạng xung khắc giữa những quan niệm giảm thiểu về con người, nói cách khác, giữa những thứ ư thức hệ. Ḥa b́nh cũng c̣n bị đe dọa bởi thái độ dửng dưng coi thường đối với những ǵ tạo nên bản tính thực sự của con người nữa. Nhiều người đương thời của chúng ta thực sự chối bỏ sự hiện hữu của một bản tính con người đặc biệt và bởi đó mở đường cho những dẫn giải quá trớn nhất về những ǵ thiết yếu cấu tạo nên con người. Cả ở đây nữa cũng cần phải làm sáng tỏ vấn đề, đó là một quan niệm ‘yếu kém’ về con người, một quan niệm dọn chỗ cho hết mọi quan niệm, ngay cả quan niệm kỳ quái nhất, chỉ là quan niệm thiên về ḥa b́nh một cách bề ngoài vậy thôi. Thực ra nó cản trở việc đối thoại đích thực và mở đường cho những thứ áp đặt độc đoán, cuối cùng biến con người thành mất khả năng tự vệ, với hậu quả là con người trở thành một mồi ngon cho áp bức và bạo lực.
5) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà quyền lợi của họ cần được những tổ chức quốc tế bảo vệ:
12. Một thứ ḥa b́nh thực sự và bền vững bao hàm việc tôn trọng các thứ nhân quyền. Tuy nhiên, nếu những thứ nhân quyền này đươc bắt nguồn từ một quan niệm yếu kém về con người, th́ làm sao những thứ nhân quyền ấy lại không trở thành những ǵ suy yếu chứ? Ở đây chúng ta có thể thấy cái hụt hẫng trầm trọng là chừng nào của một thứ quan niệm tương đối về con người. Cái vấn đề khó khăn ở đây đă là những ǵ hiển nhiên, đó là các thứ quyền lợi được cho là tuyệt đối, tuy nhiên, cái nền tảng nâng đỡ những thứ quyền lợi này lại chỉ là những ǵ tương đối. Có thể chúng ta nghĩ rằng, trước những đ̣i hỏi ‘bất thuận lợi’ của thứ quyền này hay quyền khác, có người sẽ đặït vấn đề với thứ quyền lợi ấy hay sẽ dứt khoát là cần phải loại trừ quyền lợi này đi? Chỉ khi nào chúng được dựa vào những đ̣i hỏi khách quan của một bản tính con người được Hóa Công ban cho, th́ những thứ quyền lợi được qui cho họ mới có thể được xác nhận mà không sợ bị xung khắc mà thôi. Ngoài ra, cũng không thể nào không đề cập tới là các thứ nhân quyền đều bao hàm cả những thứ nhiệm vụ tương hợp nữa. Về vấn đề này, ông Mahatma Gandhi đă nói một cách khôn ngoan rằng: ‘Những Băng quyền lợi xuất phát từ Núi Hy Mă Lạp Sơn nhiệm vụ’. Cần phải làm sáng tỏ những thứ bao hàm căn bản này, nếu muốn bênh vực một cách thỏa đáng các thứ nhân quyền ngày nay đang liên tục bị tấn công. Không minh bạch như thế th́ ‘các thứ nhân quyền’ cuối cùng sẽ đi đến chỗ lệ thuộc vào việc tùy nghi quyết định của các chủ thể khác nhau: có những trường hợp th́ con người mang một phẩm giá cùng những quyền lợi tồn tại bao giờ cũng có giá trị ở mọi nơi và đối với mọi người, có trường hợp con người có một phẩm vị được đôåi thay cùng với những quyền lợi liên tục được mặc cả, tùy theo nội dung, thời điểm và địa điểm.
13. Việc bảo vệ các thứ nhân quyền là những ǵ liên tục được qui cho những cơ cấu quốc tế, và, đặc biệt là Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, một tổ chức lănh trách nhiệm nống cốt là cổ vơ các thuư nhân quyền được qui định trong Bản Tuyên Ngôn Chung năm 1948. Bản Tuyên Ngôn này được coi như một thứ quyết tâm về luân lư được thực hiện bởi toàn thể nhân loại. Có một sự thật sâu xa đặc biệt ở đây đó là các thứ quyền lợi được diễn tả trong Bản Tuyên Ngôn này được tuân giữ trên căn bản không phải chỉ v́ chúng là những quyết định được chuẩn nhận bởi một hội đồng, mà là những ǵ căn cứ vào chính bản tính của con người và phẩm giá bất khả chuyển nhượng của họ như là một con người được Thiên Chúa dựng nên. Bởi thế, điều quan trọng là các cơ quan quốc tế đừng làm mất đi cái nền tảng tự nhiên về nhân quyền này. Nó sẽ giúp cho họ có thể tránh khỏi nguy cơ, bất hạnh thay luôn xẩy ra, trong việc chiều theo một thứ dẫn giải thuần thực chứng về những quyền lợi này. Nếu điều này xẩy ra th́ các cơ cấu quốc tế sẽ đi đến chỗ thiếu thẩm quyết cần thiết để thi hành vai tṛ của ḿnh như là thành phần bênh vực các thứ quyền lợi nồng cốt của con người cũng như của các dân tộc, thiếu lư do chính đáng chính yếu cho chính sự hiện hữu cùng hoạt động của họ.
6) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ cần đến những luật nhân đạo quốc tế và luật Quốc Gia:
14. Việc nh́n nhận rằng các thứ nhân quyền bất khả chuyển nhượng của con người liên hệ với bản tính chung của con người đă dẫn đến chỗ thiết lập một bộ luật nhân đạo quốc tế được các Quốc Gia quyết tâm tôn trọng, ngay cả trong trường hợp xẩy ra chiến tranh. Tiếc thay, không kể đến những trường hợp trong quá khứ, điều này vẫn không được nhất trí áp dụng nơi một số trường hợp c hiến tranh mới đây. Điển h́nh cho trường hợp như thế đă xẩy ra trong cuộc xung đột mấy tháng trước đây ở miền nam Lebanon đó là việc hầu như tỏ ra coi thường nhiệm vụ ‘bảo vệ và giúp đỡ các nạn nhân vô tội’ để tránh t́nh trạng liên quan tới thành phần dân chúng. T́nh trạng đau ḷng này ở Lebanon và việc h́nh thành mới những cuộc xung đột, nhất là từ khi mối đe dọa khủng bố hoàn toàn tung ra những h́nh thức mới bạo động, buộc cộng đồng quốc tế phái tái khẳng định luật nhân đạo quốc tế, và áp dụng nó vào tất cả mọi trường hợp xung đột vơ trang hiện nay, bao gồm cả những luật nhân đạo hiện luật quốc tế không có. Ngoài ra, nạn khủng bố đ̣i phải sâu xa suy nghĩ về những giới hạn đạo lư hạn chế việc sử dụng các phương pháp tân thời trong việc bảo đảm t́nh trạng an ninh nội bộ. Càng ngày càng xẩy ra những trận đánh không tuyên chiến, nhất là khi những trận chiến này được khởi động bởi các nhóm khủng bố quyết tâm chiếm được mục đích của ḿnh bằng bất cứ phương tiện nào trong tầm tay. Trước những biến cố đáng lo ngại trong những năm gần đây, các Quốc Gia không thể nào không nhận thấy nhu cầu cần phải thiết lập các qui luật rơ ràng hơn trong việc đương đầu một cách hiệu nghiệm với t́nh trạng tệ hại gần đây đang xẩy ra trước mắt chúng ta. Chiến tranh bao giờ cũng cho thấy cái thất bại của cộng đồng quốc tế và cái thiệt hại nặng nề đối với nhân loại. Bất chấp mọi nỗ lực, một khi chiến tranh bùng nổ th́ ít là phải bảo đảm được những nguyên tắc thiết yếu của nhân loại cùng với những giá trị căn bản nơi tất cả cuộc chung sống về dân sự, phải ấn định những qui chuẩn tác hành có thể hạn chế lại t́nh trạng thiệt hại bao nhiêu có thể, và giúp vào việc làm giảm bớt đau thương cho dân chúng cũng như cho các nạn nhân của các cuộc xung đột (về vấn đề này Sách Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo đă ấn định những qui tắc ngặt nghèo và chi tiết ở các số 2307-2317).
15. Một vấn đề đáng lo ngại nữa là gần đây có một số Quốc Gia tỏ ra muốn có được các thứ vũ khí nguyên tử. Điều này càng làm gia tăng hơn nữa bầu khí đang lan tràn về một thứ bất ổn và lo sợ có thể xẩy ra một tai biến nguyên tử. Chúng ta cản thấy như thụt lại thời đầy những lo âu của giai đoạn ‘chiến tranh lạnh’. Khi cuộc chiến tranh lạnh này kết thúc, người ta hy vọng rằng mối nguy hiểm về nguyên tử đă được hoàn toàn thắng vượt và nhân loại cuối cùng đă được thở phào một cách nhẹ nhàng thoải mái. Về vấn đề này th́ c̣n ǵ hợp thời cho bằng lời cảnh giác của Công Đồng Chung Vaticanô II là ‘hết mọi hành động chiến tranh nhắm đến việc hủy hoại hằng loạt toàn diện các thành phố hay những miền đất rộng lớn cùng với dân cư ở đấy là một tội ác phạm đến Thiên Chúa và nhân loại, đáng bị mạnh mẽ và cương quyết lên án (Pastoral Constitution "Gaudium et Spes," 80). Tiếc thay, những đám mây đe dọa vẫn tiếp tục tụ lại ở chân trời nhân loại. Đường lối để bảo đảm một tương lai ḥa b́nh cho hết mọi người chẳng những ở nơi các bản thỏa ước quốc tế về vấn đề thôi leo thang các thứ vũ khí nguyên tử, mà c̣n ở việc dứt khoát dấn thân t́m cách giảm bớt chúng và cuối cùng giải giới chúng. Chớ ǵ hết mọi nỗ lực được thực hiện để qua việc thương thảo đạt tới những mục tiêu ấy! Vận mệnh của toàn thể gia đ́nh nhân loại đang bị hiểm nguy!
7) V́ “con người là trọng tâm của ḥa b́nh” mà họ được Giáo Hội bảo đảm tính cách siêu việt của họ:
16. Sau hết, tôi muốn khẩn trương kêu gọi Dân Chúa: hết mọi Kitô hữu hăy dấn thân cho việc không ngừng đi làm ḥa b́nh cũng như cho việc nhiệt thành bênh vực cho phẩm giá của con người cùng những quyền lợi bất khả chuyển nhượng của họ.
Với ḷng biết ơn Chúa là Đấng đă gọi ḿnh thuộc về Giáo Hội của Người, một Giáo Hội là ‘dấu hiệu và là bảo đảm cho chiều kích siêu việt của con người (cùng nguồn vừa dẫn, đoạn 76) trên thế gian này, Kitô hữu sẽ không ngừng nài xin Chúa ban cho sự thiện ḥa b́nh sâu xa, một sự thiện có một tầm quan trọng thực sự nơi đời sống của mỗi một con người. Ngoài ra, họ cũng sẽ cảm thấy hănh diện được dấn thân hoạ