GIÁO HỘI HIỆN THẾ

_______

 THỨ TƯ 18/1/2006

 

?   Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm từ ngày 18 tới 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại

?  Với Các Vị Lănh Đạo Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách Thứ Bảy 7/1/2006

?  Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giáo Lư về Thánh Vịnh 143 (144): 1-8 cho Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư 11/1/2006: “Con người là chi mà Chúa để ư chăm lo?

 

 

?   Tuần Lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo hằng năm từ ngày 18 tới 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại

 

Các bản văn suy tư và nguyện cầu cho năm nay được soạn thảo bởi một nhóm đại kết ở Dublin Ái Nhĩ Lan, là nhóm được chọn bởi Hội Đồng Ṭa Thánh Về Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo cũng như bởi Ủy Ban Về Đức Tin Và Phẩm Cấp Thuộc Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội.

 

Chủ đề cho năm này là câu Phúc Âm Thánh Mathêu: “Đâu có hai ba người hợp lại v́ danh Thày th́ Thày sẽ ở giữa họ”. Tuy nhiên, mỗi ngày trong tuần lại có một đề tài riêng như sau:

 

Ngày 18: Liên kết bởi sự hiện diện của Chúa Kitô. “Chỉ có một Chúa, một Đức Tin, một Phép Rửa” (Eph 4:5,6).

 

Ngày 19: Xây dựng mối hiệp nhất Kitô Giáo với Chúa Giêsu ở giữa chúng ta – vấn đề đại kết hằng ngày. “Các con cũng phải rửa chân cho nhau nữa” (Jn 13:14)

 

Ngày 20: Cùng nhau nguyện cầu nhân danh Chúa Giêsu. “Chúa đợi chờ để ban ân giáng phúc cho các người” (Is 30:18)

 

Ngày 21: Từ quá khứ đến tương lai – việc thứ tha và chữa lành kư ức. “Thày nói cho các con biết không phải là 7 lần mà là bay mươi bảy lần bảy” (Mt 18:22)

 

Ngày 22: Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta: một tiếng gọi sống an b́nh. “Chúa ở cùng chúng ta” (Ps 46)

 

Ngày 23: Sứ vụ nhân danh Chúa Giêsu. “Cha các con trên trời không muốn một trong những trẻ nhỏ này bị hư đi” (Mt 18:14)

 

Ngày 24: Nh́n nhận và đón nhận việc hiện diện của Thiên Chúa nơi người khác v́ danh Chúa Giêsu. “Ai đón nhận một trẻ nhỏ nào như thế này v́ danh Thày là đón nhận Thày” (Mt 18:5)

 

Ngày 25: Hiệp nhất trong hy vọng. “Vào ngày ấy các con sẽ biết rằng Thày ở trong Cha Thày và các con ở trong Thày, và Thày ở trong các con” (Jn 14:20)

 

Mặc dù giai đoạn truyền thống cử hành tuần lễ cầu nguyện cho việc Hiệp Nhất Kitô Giáo này được cử hành trong Tháng Giêng, song ở nam bán cầu, đôi khi các Giáo Hội t́m các dịp khác để cử hành thay thế, chẳng hạn như vào thời điểm Lễ Hiện Xuống, một Lễ đặc biệt tiêu biểu cho mối hiệp nhất của Giáo Hội, và là thời điểm được gợi ư bởi phong trào Đức Tin Và Phẩm Cấp vào năm 1926.

 

Tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành, vào lúc 5 giờ 30 chiều Thứ Tư 25/1, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ chủ sự Phụng Vụ Giờ Kinh Chiều để kết thúc Tuần Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô Giáo năm 2006 này.

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 17/1/2006

 

 

TOP

 

 

?  Với Các Vị Lănh Đạo Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách Thứ Bảy 7/1/2006

 

Quí Bạn thân mến,

 

Vào lúc mở màn cho năm mới đây, tôi đón mừng quí bạn, những vị lănh đạo của Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách, nhân dịp quí bạn viếng thăm Vatican. Tôi tri ân nhớ lại việc hiện diện của những vị Đại Biểu thuộc Thế Giới Liên Minh này ở cả lễ an táng vị tiền nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng như ở lễ đăng quang cho thừa tác vụ giáo hoàng của tôi. Qua những dấu hiệu tỏ ra tương kính và thân hữu này tôi cảm thấy vui mừng thấy được một thứ hoa trái tốt đẹp xuất phát từ việc đối thoại và hợp tác huynh đệ đă được thực hiện trong 4 thập niên qua, và là một dấu hiệu cho thấy niềm hy vọng vững chắc trong tương lai.

 

Thật vậy, trong tháng vừa qua, tháng đánh dấu 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, một Công Đồng đă ban hành Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio. Cuộc Đối Thoại giữa Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Cải Cách, một cuộc đối thoại xẩy ra sau đó ít lâu, đă là một đóng góp quan trọng cho công việc cần thiết để suy tư về thần học và nghiên cứu về lịch sử là những ǵ bất khả châm chước để thắng vượt những chia rẽ thảm thương xuất phát từ nơi Kitô hữu trong thế kỷ thứ 16. Một trong những kết quả của cuộc Đối Thoại này đó là việc cho thấy những lănh vực qui hợp quan trọng giữa việc Chư Giáo Hội Cải Cách hiểu về Giáo Hội như là Creatura Verbi với việc Giáo Hội Công Giáo hiểu về Giáo Hội như là một Bí Tích nồng cốt để Thiên Chúa tuôn ban ân sủng xuống trong Chúa Kitô (xem Ánh Sáng Muôn Dân, 1). Nó là một dấu hiệu phấn khởi để giai đoạn đối thoại hiện thời tiếp tục đào sâu vào tính cách phong phú và bổ xung của những thứ kiến thức này.

 

Sắc Lệnh về Đại Kết xác nhận rằng “không có một cuộc đại kết nào xứng với danh xưng của ḿnh nếu không thực hiện việc thống hối nội tâm” (đoạn 7). Vào lúc mở màn cho Giáo Triều của ḿnh, tôi đă nói lên niềm xác tín của ḿnh là “việc hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi tiến bộ về đại kết” (Homily in the Sistine Chapel, 20 April 2005), và nhắc lại gương của vị tiền nhiệm ḿnh là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị thường nói về nhu cầu cần phải “thanh tẩy kư ức” như cách thức mở ḷng ra để lănh nhận tất cả sự thật của Chúa Kitô. Vị cố Giáo Hoàng này, nhất là vào dịp Đại Năm Thánh 2000, đă cống hiến một động lực mănh liệt cho nỗ lực này của Giáo Hội Công Giáo, và tôi cảm thấy vui mừng khi thấy rằng có một số Chư Giáo Hội Cải Cách là phần tử của Tổ Chức Thế Giới Liên Minh này cũng đă thực hiện tương tự như thế. Những cử chỉ như vậy là những tảng đá xây dựng cho một mối liên hệ sâu xa hơn là những ǵ cần phải được nuôi dưỡng trong chân lư và yêu thương.

 

Quí bạn thân mến, tôi nguyện cầu để cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay đây tự nó sẽ sinh hoa kết trái nơi việc dấn thân mới mẻ cho hoạt động hiệp nhất tất cả mọi Kitô hữu. Con đường trước mắt chúng ta đ̣i chúng ta phải thực hiện việc nghiên cứu và trao đổi khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại. Chớ ǵ chúng ta bắt đầu bằng một niềm tin tưởng mới, bằng việc tuân phục Phúc Âm và bằng niềm hy vọng mănh liệt nơi lời Chúa Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội của Người, nơi t́nh yêu của Chúa Cha và nơi quyền năng của Chúa Thánh Thần (cf. Unitatis Redintegratio, 24).

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20060107_alliance-reformed-churches_en.html

 

TOP

 

 

? Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giáo Lư về Thánh Vịnh 143 (144): 1-8 cho Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư 11/1/2006: “Con người là chi mà Chúa để ư chăm lo?

 

1.         Cuộc hành tŕnh của chúng ta qua Sách Thánh Vịnh được sử dụng cho Phụng Vụ Giờ Kinh Tối giờ đây đưa chúng ta tới một bài thánh ca vương giả, bài Thánh Vịnh 143 (144), bài thánh vịnh có phần đầu đă được công bố: Đúng thế, phụng vụ cho đọc bài thánh ca này bằng cách chia bài ấy thành hai phần.

 

Phần thứ nhất (x câu 1-8) là phần rơ ràng ôn lại đặc tính về văn chương của bài này, ở chỗ, Thánh Vịnh gia sử dụng những lời trích dẫn từ các bản văn của những Thánh Vịnh khác, nối kết lại cho khít khao thành một bài thánh ca và nguyện cầu mới.

 

Nếu bài thánh vịnh này thuộc về một giai đoạn nào sau đó th́ dễ thấy rằng vị vua được tôn tụng không có những tính chất của vương triều Đavít, v́ chế độ hoàng vương Do Thái đă bị chấm dứt từ cuộc lưu đầy Babylon vào thế kỷ thứ sáu trước Chúa Kitô Giáng Sinh, mà là những tính chất về h́nh ảnh rạng ngời hiển vinh của Đấng Thiên Sai, vị mang lại một cuộc chiến thắng không phải là một biến cố về chính trị quân sự mà là một cuộc can thiệp để giải phóng khỏi sự dữ. “Vị thiên sai”, từ ngữ nơi tiếng Hy Lạp có nghĩa là “vị được xức dầu”, được thay thế chính xác bằng chữ “Đấng Thiên Sai”, Đấng theo văn chương Kitô Giáo có dung nhan Đức Giêsu Kitô, “Con Vua Đavít, con Abraham” (Mt 1:1).

 

2.         Bài thánh vịnh này bắt đầu bằng một lời ngợi khen, tức là bằng một tiếng kêu chúc tụng dâng lên Chúa, được cử hành như là một thứ kinh cầu gắn gọn liệt kê các danh hiệu cứu độ như: Ngài là đá tảng vững chắc kiên cố, Ngài là ân sủng ưu ái, Ngài là thánh lũy hộ tŕ, là nơi nương náu chở che, là sự giải phóng, là khiên thuẫn chống đỡ mọi cuộc tấn công của sự dữ (câu 1-2). Cũng có cả h́nh ảnh quân sự về Thiên Chúa là Đấng huấn luyện cho thành phần tín hữu của ḿnh chiến đấu để Ngài có thể đối đầu với những thứ hận thù vây bủa, với các thứ quyền lực tối tăm của thế giới này.

Bất kể phẩm vị vương giả của ḿnh, trước Chúa Toàn Năng, thánh vịnh gia cảm thấy yếu đuối và mỏng ḍn. Bấy giờ ông bày tỏ lời tuyên xưng khiêm tốn được h́nh thành, như ông đă nói, từ những lời lẽ của bài Thánh Vịnh thứ 8 và 38. Ông cảm thấy ḿnh như “một hơi thở”, như “một bóng câu”, bất nhất, ch́m ngập trong gịng thời gian trôi qua, mang đặc tính hạn hữu của một loài tạo vật (x câu 4).

 

3.         Vậy vấn đề được đặt ra là: Tại sao Thiên Chúa lại quan tâm tới một tạo vật rất ư là khốn nạn và hư đốn như thế? Để trả lời cho vấn nạn này (x câu 3) là việc xuất hiện thần linh cao cả, được gọi là cuộc thần hiển là những ǵ được kèm theo bằng một cuộc diễn hành của những yếu tố trong vũ trụ cùng với các biến cố của lịch sử, hướng tới việc chúc tụng về siêu việt tính nơi Vị Vua cao cả của hữu thể, của vũ trụ và của lịch sử.

 

Bởi thế mới đề cập tới các thứ núi non phun khói từ những cuộc bùng phát núi lửa (câu 5), về những thứ sấm chớp phát ra như những mũi tên phóng vào thành phần hành ác (câu 6), về “nhiều” “gịng nước” đại dương là biểu hiệu cho các thứ xáo động đă được quyền năng của bàn tay thần linh ra tay giải cứu vị vua này khỏi bị ch́m ngập (câu 7). Nơi bối cảnh của những ǵ được dĩ6n tả trên đây là những kẻ thù lạ mặt, thành phần “nói năng gian dối” và là thành phần “có bàn tay hữu giơ lên làm chứng dối” (câu 7-8), một tiêu biểu cụ thể, theo lối diễn tả của ngôn ngữ Trung Đông, về ngẫu tượng, về t́nh trạng trụy lạc luân lư, về sự dữ thực sự chống lại Thiên Chúa cũng như chống lại thành phần tín hữu của Ngài.

 

4.         Trong việc suy niệm của chúng ta, giờ đây chúng ta dừng lại một chút xíu về việc tuyên xưng khiêm hạ được thánh vịnh gia bày tỏ và chúng ta sẽ sử dụng những lời lẽ của Origin, vị có những lời dẫn giải về bài thánh vịnh của chúng ta đây qua bản dịch Latinh của Thánh Giêrônimô. “Thánh vịnh gia nói về cái mỏng ḍn của thân thể và của thân phận con người”, như thể v́ thân phận của nhân loại mà con người chẳng là ǵ cả. “Hư vô trên hết hư vô; tất cả mọi sự chỉ là hư vô”, Sách Giảng Viên nói như thế. Vấn đề ngỡ ngàng và tri ân một lần nữa lại tái xuất: “Lạy Chúa, con người là chi mà Chúa để ư chăm nom?... Con người thật là hạnh phúc nhận biết Đấng Tạo Dựng của ḿnh. Nơi điều này mà chúng ta khác biệt với các loài hoang thú và các thứ thú vật khác, v́ chúng ta biết chúng ta có một Đấng Hóa Công, trong khi chúng chẳng biết ǵ cả”. 

 

Thật là đáng suy niệm trong chốc lát những lời này của Origin, vị thấy cái khác biệt nồng cốt giữa con người và loài thú ở sự kiện là con người có thể nhận biết Thiên Chúa là Đấng Hóa Công của ḿnh, nơi sự kiện là con người có khả năng về chân lư, về một thứ kiến thức trở thành một mối liên hệ, một mối thân hữu. Ở thời đại của chúng ta đây, vấn đề quan trọng là trong kiến thức khác chúng ta có quá nhiều trong lúc này chúng ta đừng quên mất Thiên Chúa! Thứ kiến thức này trở này rắc rối – đến độ nguy hiểm – nếu kiến thức căn bản này không cống hiến ư nghĩa và hưnớg đi cho tất cả mọi sự, nếu kiến thức về Thiên Chúa Hóa Công bị hụt hẫng.

 

Chúng ta hăy trở lại với Origen. Ông nói rằng: “Ngài sẽ không thể nào cứu được t́nh trạng khốn nạn này, tức là cứu được con người, nếu chính Ngài không vác họ trên vai của Ngài. ‘Ôi Chúa, xin uốn các tầng trời xuống và xin hăy đến’. Những con chiên bị bỏ rơi của Ngài sẽ không thể nào tự chữa lấy cho ḿnh được nếu Ngài không mang vác chúng trên vai… Những lời lẽ này được ngỏ cùng Người Con: ‘Ôi Chúa, xin uốn các tầng trời xuống và xin hăy đến’…. Ngài đă đến, Ngài đă uốn các tầng trời xuống và Ngài đă giang tay ra từ trời cao, rồi Ngài đă đoái thương mang vác xác thịt của con người trên vai của Ngài, nên nhiều người đă tin tưởng vào Ngài” (Origen-Jerome, "74 Omelie sul Libro dei Salmi," Milan, 1993, pp. 512-515).

 

Đối với Kitô hữu chúng ta, Thiên Chúa, như trong triết lư trước Kitô Giáo, một lư thuyết nhưng cũng là một thực tại, không c̣n là vị Thiên Chúa “uốn cong các tầng trời xuống và đă đến”. Chính Ngài là trời và đă đến giữa chúng ta. Với lư trí, Origen thấy nơi dụ ngôn con chiên lạc được người mục tử vác trên vai là dụ ngôn về việc Nhập Thể của Thiên Chúa. Nếu, trong việc Nhập Thể, Ngài đă đến và đă mang vác xác thịt chúng ta trên vai của Ngài th́ Ngài cũng mang vác chúng ta trên vai Ngài nữa. Như thế, kiến thức về Thiên Chúa trở thành một thực tại, trở thành t́nh thân hữu, thành mối hiệp thông. Chúng ta hăy tạ ơn Chúa, v́ “Ngài đă uốn tầng trời xuống và đă đến”, đă mang lấy xác thịt của chúng ta trên vai của Ngài và đă dẫn dắt chúng ta trên các nẻo đường của cuộc đời chúng ta.

 

Bài thánh vịnh, được mở đầu bằng việc khám phá ra rằng chúng ta yếu hèn và bị mất đi ánh quang thần linh, cuối cùng kết thúc bằng tác động thần linh đầy ngỡ ngàng này: đó là Vị Thiên Chúa Emmanuel ở cùng chúng ta, vị Thiên Chúa đối với Kitô Giáo có một dung nhan yêu thương nơi Đức Giêsu Kitô, Vị Thiên Chúa hóa thân làm người, làm một người trong chúng ta.

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Bài giáo lư hôm nay chú trọng tới bài Thánh Vịnh 143, bài thánh vịnh mặc h́nh thức của lời Vị Vua nguyện cầu cho chiến thắng và b́nh an. Nó được mở màn bằng những lời chúc tụng Thiên Chúa, những lời chúc tụng được bày tỏ bằng một kinh cầu liệt kê các tước hiệu cứu độ, nhắc nhở Chúa là thành lũy, là khiên thuẫn và là chốn náu thân.

 

Bất kể phẩm vị vương giả của ḿnh, Vị Vua này cảm thấy nỗi yếu hèn và mỏng ḍn của ḿnh, và nh́n nhận đời sống của ḿnh “tàn phai như bóng câu”. Trong khiêm cung vua đă ngẫm suy rằng: Lạy Chúa, con người là chi mà Chúa để ư chăm nom? Vấn nạn của vua đă khơi lên đầy giẫy những h́nh ảnh về việc can thiệp của Thiên Chúa, chứng tỏ cho thấy siêu việt tính của Vị Vua tối cao này của Vũ Trụ đă cứu nhân loại khỏi ngẫu tượng, khỏi t́nh trạng bại hoại về luân thường đạo lư và khỏi sự dữ.

 

Suy tư về bài thánh vịnh này, Origen đă làm cho chúng ta chú trọng tới hạnh phúc cao cả chúng ta được nhờ việc nhận biết Đấng Hóa Công của chúng ta. Thật vậy, chính kiến thức này làm cho chúng ta khác biệt với các tạo vật khác. Thiên Chúa – là Vị Thiên Chúa ở cùng chúng ta! Chúng ta hăy hân hoan ở đặc ân chúng ta được trong việc nhận biết Chúa và trong việc gặp gợ dung nhan yêu dấu của Ngài!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/1/2006

 

TOP

 

 

GIÁO HỘI HIỆN THẾ