GIÁO HỘI HIỆN THẾ

_______

 THỨ HAI 26/6/2006

 TUẦN XII THƯỜNG NIÊN

 

?  Hướng Về Ngày Họp Thế Giới Các Gia Đình ở Tây Ban Nha 8-9/7/2006: Bài 7.- Nền Tảng Xã Hội

?  Tháng Sáu Kính Thánh Tâm Chúa với Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu:  Bài 7 - "Cha sẽ dùng tình yêu để kiềm chế những quyền lực của sự dữ, vì Cha vô cùng tốt lành, toàn năng và trung tín".

?  'Mặt Trời Khổ Ải' - Đức Gioan Phaolô II; 'Vinh Quang Oliu' - Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài 5 - Bốn điều trùng hợp thiên định giữa nhị vị Giáo Hoàng.

 

 

 

? Hướng Về Ngày Họp Thế Giới Các Gia Đình ở Tây Ban Nha 8-9/7/2006: Bài 7.- Nền Tảng Xã Hội

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

Gia Đình: Khởi Điểm Hôn Nhân 

 

N

ói đến hôn nhân là nói đến tình yêu phái tính và cuộc sống vợ chồng, cuộc sống lứa đôi. Thế nhưng, nói đến gia đình là nói đến một đơn vị bao rộng hơn nữa, nói đến một cộng đồng, một trung tâm yêu thương và sự sống, bao gồm chẳng những vợ chồng mà cả con cái, và vợ chồng không phải chỉ sống với nhau bằng tình yêu phái tính mà sống với cả con cái bằng tình phụ mẫu với vai trò làm cha làm mẹ, mang quyền hạn và nhiệm vụ đối với hoa trái của tình yêu hôn nhân.

 

Đó là lý do nơi thân xác nam nữ của mình, hai con người vợ chồng đã có sẵn mầm mống sự sống, có sẵn những cơ phận tiếp nhận và nuôi dưỡng sự sống. Thật ra, tự bản chất, hôn nhân là nền tảng của gia đình, và đã được gọi là gia đinh rồi. Do đó, người Việt thường đồng nghĩa giữa việc "thành hôn" với việc "đi lập gia đình".

Thế nhưng, vì hôn nhân, bắt nguồn từ tình yêu phái tính lại hướng về sự sống con người, mà gia đình, bởi bất cứ lý do nào, chỉ có hai người nam nữ vợ chồng sống với nhau, thì thật là thiếu hụt, không trọn. Có những cặp vợ chồng cảm thấy tình trạng thiếu thốn nơi gia đình mình như vậy, vì bất lực trong vấn đề truyền sinh, đã tìm kiếm để nhận con nuôi. Bằng không, họ cũng cố nuôi một con chó hay con mèo trong nhà thay cho con cái, như chúng ta thấy không thiếu những trường hợp như vậy trong xã hội văn minh Âu Mỹ ngày nay. Thậm chí những cặp vợ chồng tìm cách có con một cách vô luân, như bằng việc cấy thai, dầu sao cũng chứng tỏ họ cảm thấy gia đình cần phải có con cái nữa mới đầy đủ và trọn vẹn.

 

Tôi đã cảm thức được cái khác biệt phần nào giữa hôn nhân và gia đình này nhiều lần. Thế nhưng, đặc biệt nhất là lần cả gia đình chúng tôi đi sang Hawaii vào trung tuần tháng Bảy năm 2002. Bởi vì, 19 năm trước đó, tức vào tháng Tám năm 1983, tôi sang Hawaii để hưởng tuần trăng mật với người vợ mới cưới của tôi.

 

Thế mà, 19 năm sau, tôi sang địa điểm của tuần trăng mật này với ba con người mới nữa, hai trai một gái, đứa trai lớn nhất 18, đứa trai thứ hai 16 và đứa gái út 12. Tại đây, hai vợ chồng chúng tôi cũng đã ngắm lại danh lam thắng cảnh tuyệt vời của nơi du lịch có bầu trời lúc nào hầu như cũng trắng xanh sáng tỏ, khí hậu mát mẻ như mùa thu dù đang giữa mùa hè nóng nẩy ở các nơi khác. Chúng tôi đã thăm lại di tích lịch sử của Trận Trân Châu Cảng - Pearl Harbor bên Honolulu thuộc đảo O'ahu, cũng như đã đến chính địa điểm Núi Lửa ở Big Island hay ở đảo lớn Hawaii là Kilauea, một núi lửa năng động nhất trái đất, nhất là từ năm 1983, năm chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật 19 năm về trước.

 

Nhưng lần này chúng tôi còn đến hai nơi nữa ở bên đảo O'ahu, đó là Polynesian Cultural Center và North Shore: Ở Polynesian Cultural Center, chúng tôi xem trình diễn văn hóa của các sắc dân hải đảo - islanders như Hawaii, Samoa, Tahiti, Tonga, Marquesas, Fiji, New Zealand, những sắc dân nổi bật nhất với những điệu vũ ngoáy mông trong màn Canoe Pageant trên thuyền ban ngày, cũng như trong màn Đại Trình Diễn ban đêm. Còn ở North Shore, chúng tôi tắm giữa những tảng đá ong ở sát bờ biển, gần giống như ở đảo Cù Lao Xanh ngoài Ghềnh Ráng ở Thị Xã Qui Nhơn Việt Nam.

 

Tóm lại, lần sang Hawaii này, chúng tôi thích nhất là thấy các con chúng tôi, sau những đêm thức khuya làm bài, sáng dậy sớm ăn uống vội vàng rồi chở nhau đi học, cuối tuần bận bịu với đủ mọi thứ sinh hoạt đoàn thể, bấy giờ hào hứng bơi lội dưới giòng nước biển trong xanh nhìn thấy cả chân của mình trên cát, ngủ nghỉ thoải mái, ăn uống ngon lành, mua quà thỏa thích. Trong chuyến đi tour du hành trên chuyến xe Polynesian của chúng tôi ở bên Đại Đảo Hawaii ngày Chúa Nhật 28/7, có một cặp vợ chồng lập gia đình với nhau 21 năm, đã gửi hai đứa con 10 tuổi và 8 tuổi ở nhà với chị em của mình để đi chơi riêng vợ chồng. Cho dù họ có cảm thấy việc chăm sóc con cái là một cái job nặng nề, giống như nghề nghiệp sinh sống của họ, nhưng nếu việc họ cần phải nghỉ ngơi mới có sức tiếp tục chu toàn trách nhiệm của mình thì cũng tốt thôi.

 

Phần chúng tôi, gia đình không phải là một thứ thêm thắt, một thứ "add on" vào đời sống hôn nhân vợ chồng, một thứ burden nặng nề cần phải tạm quẳng gánh lo đi mà vui sống. Trái lại, gia đình chính là tầm vóc viên mãn của hôn nhân. Chính vì thế, chưa bao giờ vợ chồng con cái chúng tôi cảm thấy gia đình sống hạnh phúc bên nhau bằng ba ngày bên Đại Đảo Hawaii cuối tháng Bảy năm 2002. Vì ở đây, từ căn condominum hai phòng ngủ ở lầu một của khách sạn Kona By The Sea, tuy nóng hơn ở bên Honolulu, song yên tĩnh thanh lặng hơn, ngay sát bờ biển, ngồi trong phòng họp mặt gia đình, đứng ở bếp, nằm trong phòng ngủ, hay đứng ở ngoài hàng hiên, nhìn qua rặng dừa lưa thưa mọc trên bãi cỏ nhỏ ngay trên bờ đá, chúng tôi đều có thể ngắm được cảnh rạng đông lên, chiều tà xuống và màn đêm phủ mênh mông của biển cả, đều có thể nghe thấy những cơn sóng ầm ầm liên lỉ xô vào bờ ngay trước mắt, nhưng xa xa vẫn là chân trời phẳng lặng và thẳng tắp nối liên trời nước bao la...

 

Vợ chồng chúng tôi thực sự cảm thấy hạnh phúc hơn thuở ban đầu chỉ có hai đứa lúc mới lấy nhau ấy, một niềm hạnh phúc tuy rất tốn kém về vật chất song lại hết sức viên mãn, có thể nói hầu như không gì có thể mua được những giây phút gia đình bên nhau ấy, những giây phút ngọc ngà của gia đình có vợ chồng con cái bố mẹ vui chơi bên nhau như thế, những giây phút mà mấy đứa em làm ăn thương mại 7 ngày một tuần và 12 tiếng một ngày, của chúng tôi rất thèm nhưng không làm được cho tới mấy năm gần đây.

 

Vợ chồng chúng tôi từ ngày có con cái phải thú nhận là không có nhiều giờ cho nhau như thuở ban đầu nữa, nhưng chúng tôi lại cảm thấy đã luôn luôn gắn bó với nhau hơn bao giờ hết, và yêu thương nhau hơn bao giờ hết, ở chính việc mỗi người một phận vụ và khả năng lo lắng và phục vụ con cái về mọi mặt.

 

Không kể về phương diện tinh thần và luân thường đạo lý, quan tâm đầu tiên của chúng tôi là phải làm sao tạo nên được một cảnh sống gia đình thuận lợi cho việc giáo dục, chẳng những về phương tiện sống, như nhà cửa, xe cộ, làm sao cho rộng rãi, mà còn về cả sinh hoạt thường xuyên sinh động của gia đình nữa, để làm sao cho con cái của chúng tôi cảm thấy gia đình của chúng nó thực sự là một mái ấm yêu thương, là một nơi đi đâu cũng không bằng ở nhà, chứ không phải là một chốn ngục tù, cần phải vượt thoát hay mong sao cho chóng tới tuổi 18 thì liền xổ lồng cao bay xa chạy, như chiều hướng con cái trong xã hội trọng quyền làm người hơn tình làm người tại Mỹ Quốc hiện nay.

 

Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố gắng tránh tạo ấn tượng cho con cái của mình là chỉ có gia đình mình là nhất, chỉ sống cho gia đình mà thôi, ngoài ra không còn biết đến gì nữa, không cần biết đến nhân quần xã hội. Trái lại, gia đình chúng tôi, kể cả cha mẹ lẫn con cái, cần phải có một tâm hồn cởi mở và hiệp thông, như hôn nhân hướng đến sự sống thế nào, gia đình cũng phải vươn tới xã hội như vậy, gia đình phải như cửa ngõ cho con người vào đời, như sông ngòi chảy ra biển cả như vậy. Đó là ý nghĩa gia đình là nền tảng xã hội.

 

Gia Đình: Mái Ấm Yêu Thương

 

Để đạt được mục đích lưỡng diện mang tính cách có vẻ tương khắc của gia đình này, một mặt thì lấy gia đình là trọng yếu, là tâm điểm, mặt khác lại coi gia đình là đường lối, là cửa ngõ để vào đời, chúng tôi đã thực hiện những cuộc đi hè hằng năm chung cả gia đình. Những cuộc đi chơi hè hằng năm này chẳng những rất quan trọng đối với chung gia đình chúng tôi, vì nhờ đó chúng tôi có giờ với nhau hơn, sống đời với nhau hơn, mà còn đối với riêng con cái của chúng tôi nữa, vì nhờ đó, chúng cởi mở và chiêm ngưỡng những kỳ công thiên nhiên của tạo hóa, chứng kiến thấy những di tích hùng hồn của lịch sử, thông cảm với nhân tình và hòa hợp với văn hóa, thưởng thức các kỳ công nhân tạo do văn minh kỹ thuật loài người tạo nên, củng cố và thắt chặt hơn tình thân nghĩa với họ hàng thân thuộc cũng như với thân hữu của gia đình ...

 

Trước hết, về mục đích làm sao để tạo cho gia đình thực sự trở thành một tổ ấm, chúng tôi để ý tới việc cố gắng làm sao cho vấn đề nhà cửa và xe cộ được rộng rãi, tránh chật chội bao nhiêu có thể, nhờ đó chẳng những tránh ảnh hưởng tâm lý tranh giành nơi các con chúng tôi, mà còn tập cho chúng biết tự lập và tổ chức. Tuy nhiên, chúng tôi cũng vẫn đề phòng để chúng không vì thế mà chiều theo tính chiếm hữu và cá nhân hóa mọi sự.

Trong thời gian 15 tháng đầu của cuộc đời hôn nhân, hai vợ chồng chúng tôi đã sống với nhau và cho nhau, có nhiều giờ bên nhau, dẫn nhau đi chơi đây đó, như đi Las Vegas, sang Mễ Tây Cơ, đi Grand Cayon ở Arizona. Đi đâu cũng có nhau. Thậm chí tôi đi học part time vào buổi tối sau khi đi làm về, vợ tôi cũng mang bầu theo tôi đi học cho vui. Thật là hạnh phúc. Có thể nói, vợ chồng chúng tôi bấy giờ chẳng những đã hưởng tuần trăng mật ở Hawaii mà còn hưởng trọn 15 tháng trăng mật tại một chung cư studio - độc thân, phòng ngủ chính là phòng khách, ở South Gate, một trong những khu nghèo của Los Angeles County.

 

Tôi nhớ là trong khu chung cư của hai vợ chồng chúng tôi ở bấy giờ có một cặp vợ chồng sống trong căn chéo diện với căn của chúng tôi. Họ đi đâu cũng có nhau như chúng tôi vậy. Người vợ nhỏ con và coi cũng xinh xắn. Còn người chồng có một thân xác to con hơn vợ. Đầu tóc và áo quần rất đàng hoàng tử tế rất xứng đáng là một đấng phu quân. Cho đến một hôm chúng tôi mới biết người chồng là một "con đàn ông", một "thằng đàn bà", như chúng tôi thỉnh thoảng vẫn tếu táo nhắc với nhau về họ như vậy. Họ là một cặp vợ chồng đồng nữ tính - lesbian mà chúng tôi lần đầu tiên được gặp từ năm 1983. 

 

Cho đến khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chỉ còn một tháng nữa ra đời, chúng tôi mới dọn sang một chung cư có một phòng ngủ đàng hoàng, cũng ở gần đó. Đó là tổ ấm đầu tiên của gia đình chúng tôi. Để rồi, sau khi có đứa thứ hai, căn chung cư một phòng ngủ này lại trở nên chật chội. Đứa lớn ngủ chung giường với bố mẹ, còn đứa nhỏ ngủ trong một cái crib bên cạnh. Bởi thế, chúng tôi đã bắt đầu nghĩ đến mua nhà có ba phòng ngủ đàng hoàng và có sân chơi rộng cho con cái. Thời gian đi tìm nhà cũng rất vui. Cứ cuối tuần là vợ chồng con cái rủ nhau chạy đi tìm nhà, nhất là ở những khu nhà mới đang xây thuộc những vùng đang phát triển.

 

Thế nhưng, vì lợi tức công chức của hai vợ chồng chúng tôi cũng không khá lắm, thêm vào đó trong trương mục tiết kiệm cũng chẳng có là bao, nên việc kiếm nhà đã kéo dài cả sáu tháng trời. Chúng tôi đi coi nhà quen đến nỗi không cần vào bên trong, chỉ cần xem bên ngoài cũng biết giá nhà thời ấy bao nhiêu tiền. Còn hai đứa con chúng tôi thì vào căn model home kiểu  mẫu mới nào cũng thích, cũng nhẩy lên giường nằm liền, cũng hô lên giành phòng này của con, phòng kia của con, con thích phòng này, con thích phòng kia v.v.

 

Cuối cùng chúng tôi đã bất ngờ mua được một căn nhà hoàn toàn như ý, vừa túi tiền của mình, tuy vẫn ở trong một khu không sang trọng gì, khu Pomona cũng thuộc Los Angeles County. Năm chúng tôi dọn về đó trùng vào dịp thành phố hầu hết là người Mỹ đen và Mễ này kỷ niệm 100 năm. Gia đình chúng tôi sống ở đây hoàn toàn hạnh phúc. Cho tới khi đứa thứ ba ra đời, chúng tôi lại thấy trong nhà bắt đầu chật hơn, tuy ngoài vườn vẫn rộng rãi cho cả chục đứa nhỏ chơi. Ngoài ra, cả xe cộ nữa, với chiếc Toyota Corolla và Toyota Tarcel đều 4 máy, cả nhà chở nhau đi đâu cũng không thoải mái gì. Thế là chúng tôi lại nghĩ đến việc đổi xe và đổi nhà.

 

Về việc đổi nhà, vì hai vợ chồng làm xa nhà, đều trên 30 dặm một vòng - one way chứ không phải round trip - vừa đi vừa về, mà dọn đến gần chỗ làm thì nhà vừa cũ, vừa chật, vừa cổ, vừa xấu lại vừa mắc. Do đó, chúng tôi quyết định mua nhà xa hơn chỗ làm thêm cả chục dặm nữa, ở Rancho Cucamonga, bên San Bernadino County, một khu đang phát triển, nhà vừa mới, vừa đẹp, vừa rộng, lại vừa rẻ. Thế nhưng, mãi đến cuối năm 2000 chúng tôi mới được toại nguyện về nhà cửa.

 

Tuy nhiên, trong thời gian từ khi có ý định move nhà cho tới dọn đến nhà mới, chúng tôi đã cố gắng ngăn nhà ra thêm một phòng nữa cho con cái mỗi đứa một phòng. Vì phòng thêm này giành cho cháu lớn nhất, bấy giờ mới 14 tuổi, do đó, cháu đã hì hục cộng tác với bố để mua đồ và giúp bố ngăn phòng cho mình. Trong việc ngăn phòng này, chúng tôi mới biết cháu nhanh nhẹn và rất tháo vát. Trong dịp này, cháu gái út 8 tuổi của chúng tôi bấy giờ cũng lăng xăng giúp bố và anh làm bất cứ việc gì được sai bảo. Còn về việc đổi xe, khi đứa con gái út của chúng tôi chào đời được hơn bốn tháng thì chúng tôi mua chiếc Mini Van Mazda 1991. Và chiếc xe này là phương tiện để chúng tôi thực hiện mục tiêu thứ hai của gia đình, đó là mục tiêu biến gia đình thành cửa ngõ và đường lối vào đời cho con cái của chúng tôi.

 

Gia Đình Cửa Ngõ Vào Đời

 

Theo dự định, vợ chồng chúng tôi sẽ dùng chiếc xe Mazda này để cả nhà đi chơi hè hằng năm, trước hết là để đi thăm thân quyến và thân hữu, thứ hai là để đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh thiên nhiên trời đất, thứ ba là để đi đến những trung tâm giải trí nổi tiếng về kỹ thuật tối tân hiện đại, và thứ bốn để xem sinh hoạt của dân tình xã hội khắp nơi, nhất là để thăm những di tích lịch sử của văn hóa loài người.

 

Và chúng tôi đã thực hiện ý định này mùa hè 1991, ngay sau khi mua chiếc xe Mazda, bằng chuyến đi thăm ông bà, chú thím, chú cô, anh chị em họ bên nội của các cháu ở Houston, Texas. Thế rồi, từ sau năm đó, năm nào cả nhà cũng lái xe nhà đi hè hết nơi này đến nơi khác, chẳng hạn những lần tuần tự sau đây. Năm 1992 chúng tôi đi Hành Hương Missouri, và trên đường về ghé Grand Canyon ở Arizona chơi, ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ của những thung lũng đá sâu xuống tận giòng sông Colorado cả chục dặm, nơi vợ chồng tôi cũng đã xuống sâu hai dặm khi nàng đang cưu mang đứa thứ nhất được ba tháng. Năm 1994, chúng tôi đi Denver Colorado, lái xe lên đỉnh Rocky Mountain, nơi vẫn còn tuyết dù đang giữa mùa hè, và ghé Garden of God ở Colorado Springs chơi, nơi là một vườn đầy những tảng đá khổng lồ đủ thứ kiểu sừng sững đứng bên nhau. Năm 1995, chúng tôi ghé thăm bạn bè ở New Orleans, Louisiana, được đãi ăn thả cửa món crawfish ở đây, được dẫn đi qua chiếc cầu dài 24 dặm, và ghé thăm khu chợ như kiểu chợ Bến Thành ở Việt Nam, nơi có quán Café du Monde nổi tiếng. Năm 1996, chúng tôi đi Disney World ở Florida cho các cháu chơi những trò chơi giống ở Nam California, như Disney Land, Hollywood Studio, Sea World v.v.

 

Năm 1998, chúng tôi đã thực hiện một chuyến đi dài nhất, trên 8000 dặm.

 

Trước hết từ Nam California, tới North Corolina, từ cực Tây sang cực Đông của Mỹ Quốc, để thăm gia đình người em vợ và tiện ghé thăm các thắng cảnh ở vùng bờ biển Myrtle Beach nổi tiếng về ngành chơi banh quật.

 

Sau đó chúng tôi lên Virginia thăm một người bạn của tôi và tiện ghé thăm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, nơi có các tòa nhà vĩ đại của chính phủ bằng đá rất kiên cố vững vàng, nơi chúng tôi đã thăm Tòa Nhà Quốc Hội, thăm Các Bảo Tàng và Thư Viện Quốc Gia, và thấy được địa điểm được gọi là Viet Nam Memorial, nơi ghi danh các chiến sĩ Hoa Kỳ tử nạn trong trận Chiến Việt Nam.

 

Bỏ Hoa Thịnh Đốn, gia đình chúng tôi lên Nữu Ước thăm một người em vợ khác và tiện thăm thành phố Nữu Ước lần đầu tiên, nơi chúng tôi thấy người ta đi lại như trẩy hội, xe cộ chen nhau mà đi, nhiều khi bị cả người đi bộ băng ngang qua đường lấn át, có lẽ vì thế mà đi đâu người ta cũng hầu như đi bằng xe lửa ngầm, người người từng lũ chui lên từ hầm đất ngay giữa thành phố nổi tiếng nhất Mỹ Quốc, ngoài ra chúng tôi cũng được nhìn thấy tận mắt Tháp Đôi trước khi nó bị sụp vào ngày 9/11 năm 2001, được ra đảo Nữ Thần Tự Do.

 

Hành trình của chúng tôi tiếp theo là ghé sang thăm họ hàng bên vợ ở Philadelphia, và tiện ghé thăm Liberty Bell lịch sử của Mỹ Quốc, và vào tận Sảnh Đường là chỗ Quốc Hội Mỹ Quốc đã ký bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776.

 

Sau khi ghé Spencer gần Boston, Massachussetts thăm một thân hữu, chúng tôi tiếp tục tiến lên miền tây bắc của tiểu bang Nữu Ước, để ngắm cảnh thác Niagara, rồi sang Canada thăm thành phố Toronto, thích nhất là mua các trái cây giống như ở Việt Nam xưa, như dừa nước, roi, na, chôm chôm, mảng cầu, măng cụt v.v., những thứ không hề có ở khu Little Sài Gòn, Nam California.

 

Trên đường về lại Los Angeles, chúng tôi còn ghé thăm một người bạn của tôi ở Greendale Milwaukee, nơi chúng tôi được dẫn đi thăm cảnh thiên nhiên của miền bắc lạnh lẽo này, như cảnh hang động thiên nhiên giữa trời nước là Wisconsin Dell, (có lẽ hơi giống nhưng không đẹp bằng Vịnh Hạ Long ở Việt Nam quê hương ta), sau đó, chúng tôi ghé thăm thành phố Chicago, lên cao ốc đệ nhất Mỹ Quốc và ngắm cảnh Ngũ Đại Hồ.

 

Chặng ghé cuối cùng của gia đình chúng tôi là Oklahoma City, Oklahoma, để thăm một người bạn khác của tôi, cũng tiện ghé thăm địa điểm tòa nhà Liên Bang bị nổ bom sập mấy năm trước.

 

Năm 1999, chúng tôi thực hiện một cuộc đi chơi khác cũng hơn kém 6000 dặm.

 

Thật vậy, sau khi ghé thăm thân quyến ở Houston và Dallas Texas, chúng tôi tiến thẳng lên tiểu bang Wyoming, tiểu bang ít dân nhất Nước Mỹ, để ngắm thắng cảnh nổi tiếng Yellow Stone, một thắng cảnh thiên nhiên với đủ mọi cảnh vật, bao rộng một diện tích mà nếu nhẩn nha chiêm ngắm từng nơi cũng phải mất mấy ngày đi xe mới hết, như các suối nước, thác ghềnh, rừng núi, biển hồ, thung lũng đá, nhất là còn được thấy nước tự động phun lên từ lòng đất ở nơi được gọi là Old Faithful, đặc biệt là còn được tận mắt thấy những con hươu cao cổ ngơ ngác giữa cánh đồng, và cả con tê giác lực lưỡng, mình giống con trâu nước song xừng có nhiều nhánh hơn, đứng trong khu rừng thưa gần đường xe chạy, những con vật chúng tôi hình như chưa bao giờ thấy, dù ở sở thú ngoài trời ở San Diego California hay ở Spingfield Missouri.

 

Bỏ Yellow Stone, chúng tôi ghé xuống Salt Lake City, thủ phủ của Đạo Mormon, ghé thăm một thân hữu của nhà tôi và đến tắm ngoài đảo Salt Lake, một biển hồ dù không biết bơi thân mình cũng nổi nếu cứ bơi.

 

Sau đó, chuyến hành trình của chúng tôi xuống tới Lake Tahoe ở miến Bắc California, không phải để chơi bài mà là để ngắm cảnh biển hồ rất đẹp, bằng cuộc du thuyền về sáng với bữa điểm tâm trên tầu.

 

Chưa hết, chúng tôi còn ghé một thắng cảnh tuyệt vời nữa ở Bắc California, đó là Yosemite, nơi chúng tôi được chứng kiến cảnh hùng vĩ chưa từng thấy của những núi đá thẳng băng trùng trùng điệp điệp vây quanh một thung lũng, một cảnh bên dưới thung lũng thì có suối nước, thác ngềnh, bên trên đỉnh núi thì có những thác nước tuôn xuống, có chỗ nước thay vì đổ xuống thì lại bị gió thổi tốc lên trông giống như cái voan của cô dâu đang bay về phía sau, bởi đó, thác này được mang tên là Bridal Veil. Con đường núi non ngoằn nghèo dẫn tới thắng cảnh Yosemite có thể nói còn hiểm trở hơn đường Đèo Ngoạn Mục ở Việt Nam nữa.

 

Chặng cuối cùng của chuyến du ngoạn hè 1999 này là thắng cảnh Golden Gate ở San Francisco, nơi chúng tôi đã đi qua chiếc cầu nổi tiếng này, rồi lái xe lên đồn cao ở bờ bên kia, để nhìn xuống toàn cảnh biển hồ cùng với chiếc cầu đang bị mây mù vây phủ bên dưới, thật là tuyệt vời.

 

Năm 2000, cả gia đình chúng tôi đã thực hiện một chuyến xuất ngoại để kỷ niệm thời điểm mở màn cho một tân thiên niên kỷ, (nếu thời gian được tính từ số zerô). Chúng tôi đã sang Âu Châu và Trung Đông.

 

Ở Âu Châu, chúng tôi đã ghé thăm Rôma, thăm di tích của một đế quốc lâu nhất và lừng danh nhất lịch sử, đã để lại biết bao dấu tích cho nền văn minh Âu Châu, và thăm cả Paris nữa, thăm Khải Hoàn Môn, lên Tháp Effet, và đi du thuyền về đêm trên giòng sông Seine, giòng huyết mạch của thành phố Balê.

 

Nếu ở Âu Châu, chúng tôi chứng kiến những di tích văn minh Tây Phương, thì ở Trung Đông, chúng tôi cũng được chứng kiến những di tích tôn giáo như vậy, những di tích linh thiêng của Thiên Chúa Giáo, những di tích của cả Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo, di tích tiêu biểu nhất là Thành Thánh Giêrusalem.

 

Ngoài ra, tại Thánh Địa của Thiên Chúa Giáo này, chúng tôi còn được tắm ở Biển Chết - Dead Sea, nơi nước có nồng độ mặn đến nỗi chẳng những "đắng cay" không thể tưởng tượng nổi, nếu chẳng may bị nước biển bắn vào miệng hay vào mắt, mà còn làm cho thân xác con người chỉ cần nằm ngả người xuống nước như nằm trên giường là tự động nổi lềnh bềnh trên mặt nước, chứ không cần phải xoải người ra bơi mới nổi như ở Salt Lake City tiểu bang Utah Hiệp Chủng Quốc.

 

Năm 2003, chúng tôi dự tính đi xe lửa từ Los Angeles dọc theo bờ biển West Coast lên thăm tiểu bang Washington, rồi sang Vancouver Canada chơi.

 

Chúng tôi cũng có dự định về Việt Nam khi nào thuận tiện, để chính bản thân vợ chồng chúng tôi thăm lại quê hương dân tộc sau cả 30 năm xa cách, cũng như để cho ba đứa con chúng tôi biết được nguyên quán của chúng, nơi xuất thân của cha mẹ chúng, nơi chúng được gọi là người Việt Nam, dù chúng được sinh ra tại Mỹ.

 

Gia Đình: Kỷ Vật Một Đời

 

Vì chủ trương vừa đi vừa ngắm cảnh, do đó, chúng tôi thích lái xe mỗi khi đi chơi hè, dù vất vả và tốn giờ. Thế nhưng, có thế, trên đường đi, vợ chồng con cái chúng tôi mới được dịp nói đủ thứ chuyện với nhau. Trưa thì ghé vào ăn fast food đâu đó. Nhiều khi ăn đồ nhà mang theo ở dưới một gốc cây hay ở một trạm xăng. Tối ghé hotel ngủ, thường chỗ nào có hồ bơi và free continental breakfast, vì mấy đứa con chúng tôi thích như vậy. Trong các cuộc đi chơi từ đầu đến 2002, trên 10 năm trời, chúng tôi có ba kỷ niệm không bao giờ quên được.

 

Kỷ niệm thứ nhất đó là lần lái xe đêm tới Whiteville, North Carolina vào mùa hè năm 1998 để thăm gia đình dì của các cháu. Đêm hôm đó, trên xa lộ 95, gia đình chúng tôi không thấy gì hai bên đường, đằng trước, đằng sau hoàn toàn không có một bóng xe, không có một tí ánh sáng nào cả. Chúng tôi như đang đi trong một đường hầm tối om. Tôi nghĩ đến hồi ở Việt Nam trước năm 1975 mà rợn người. Thằng nhỏ thứ hai của chúng tôi lại kể truyện ông bố của danh thủ bóng rổ Michael Jordan, nhà ở Wilmington, North Carolina đã bị giết trên trên quãng xa lộ này cách đó không lâu. Thật ra chúng tôi đã dốc lòng không bao giờ đi đêm như vậy nữa, song hôm ấy, sau khi đi qua khúc núi quanh co và ăn tối, thấy không còn bao xa nữa thì tới, chúng tôi mới dám đi như thế, không ngờ quá nửa đêm  mới tới.

 

Kỷ niệm thứ hai đó là lần đi đến Yellow Stone ở tiểu bang Wyoming năm 1999, nơi cả nhà chúng tôi phải ngủ trong xe đêm hôm đó, sau khi đã kiếm hơn mấy chục hotel trong vùng đều "no vacancy". Do đó, chúng tôi đã phải giành phòng ngủ cho đêm hôm sau trước khi lái về Salt Leke City. Thế rối, tối hôm sau, chiếc xe của chúng tôi từ Yellow Stone về địa điểm quán trọ, đã phải băng qua một rặng núi thuộc bên tiểu bang Idaho, vòng lại một rặng núi khác bên tiểu bang Wyoming, để đến địa chỉ của khách sạn chúng tôi đã reserved. Trời càng tối, chúng tôi càng đi qua các miền hẻo lánh thưa nhà, rồi tiến lên dốc, càng lúc càng cao. Đi mãi chẳng thấy gì, chúng tôi tự hỏi khách sạn gì mà lại ở trên núi, hẻo lánh thế này. Trời tối mịt, gần chín giờ đêm rồi cũng chưa tới. Bóng đèn pha của xe chúng tôi chiếu về phía trước đã hai lần thấy có mấy con bò còn lang thang bên đường rừng núi về đêm. Chúng tôi nhất định đi thêm một quãng nữa xem sao. Cuối cùng mới tới được một khách sạn ở gần đỉnh núi, nơi họ cũng đang tổ chức tiệc cưới, và chúng tôi cũng mừng đúng ngày kỷ niệm 16 năm thành hôn của hai vợ chồng chúng tôi tối hôm ấy, tại khu resort trù mật trên gần đỉnh cao sơn này.

 

Kỷ niệm thứ ba đó là vụ mất trộm hôm 26/7/2002 tại North Shore, tức bờ biển ở phía bắc của đảo O'ahu Hawaii. Sau khi cả nhà xuống tắm lúc trời hơi mưa khoảng 12 giờ 30, trở lên xe để sửa soạn đi ăn trưa vào lúc 2 giờ chiếu, thì mới khám phá ra là, chiếc xe Grand Am mướn ở hãng Avis còn khóa nguyên, và không hề có dấu đập phá hay cậy cửa gì cả, nhưng một số đồ để lại trong xe tự nhiên biến mất, như ví của tôi, giấy tờ của vợ tôi, back pack của người con thứ hai, purse của người con gái út, tất cả đều có tiền mặt và quà tặng, tổng cộng chúng tôi mất gần 200 bạc cash, 300 bạc đồ đạc và gần 100 bạc quà tặng, không kể giấy tờ tùy thân, thẻ ATM và tín dụng, cả hand phone. Không ngờ, trong chiều hướng gia đình vươn ra xã hội, chiều hướng đưa con cái chúng tôi vào đời qua những cuộc đi chơi thưởng ngoạn này, những cuộc tiếp xúc xã hội này, chẳng những chúng gặp những cái hay nơi kỳ công nhân tạo của văn hóa, như những món quà tặng mỹ thuật tinh diệu, như đồ ăn thức uống và phục sức khác biệt, hoặc của văn minh, như những kiến trúc kỹ thuật tân kỳ, mà còn cả những cái dở, cái xấu nữa, như sự vụ trộm cắp tài tình hôm nay. Do đó, trên xe về lại khách sạn, tôi nói với con tôi rằng: thôi, nếu những gì mình mất có lợi cho người khác cũng không sao; kể như mình giúp đỡ cho một người anh chị em nghèo khó của mình vậy, những người anh chị em mà nếu họ có thành thực xin đồ của mình, mình cũng không cho họ tất cả những gì họ đã muốn lấy đi của mình như thế; hãy bỏ qua cho họ.

 

Bấy giờ trong ví người con lớn nhất, để trong trunk xe, không bị mất, còn được 12 Mỹ kim, đủ để ghé mua bữa trưa cho 3 anh em ở đồn điền dứa lớn nhất thế giới trên đường về lại khách sạn. Trước khi mua, các con tôi có để ý đến chúng tôi, nói với nhau phải mua cả cho bố mẹ ăn nữa. Chúng tôi cám ơn chúng, vì biết rằng với số tiền bằng ấy thì chỉ đủ mua cho mỗi đứa một cái Hot Dog (3.25 Mỹ kim each) và một ly nước Soda uống chung là cùng. Buổi tối hôm đó, sau khi cựa quậy làm sao cho có tiền mặt để tiếp tục xài cho đến hết cuộc đi chơi mới được một nửa thời gian, chúng tôi dẫn các con đi ăn đồ Việt Nam ở tiệm Sài Gòn Express trong khu International Market Place ở Honolulu. Đang khi cả nhà đi bách bộ đến địa điểm ấn định, chúng tôi thấy ở ngoài trời của một khách sạn lớn bên đường có tiếng ầm ầm đàn hát và người ta đang tuốn vô, vì có tấm biểu ngữ quảng cáo all you can eat crab and steak. Vợ tôi hỏi tôi: Hay là để cho các con vào đây đi? Nhưng cả ba đứa đều nói: Thôi cứ đến ăn đồ Việt Nam. Dù chúng chưa ý thức được những gì liên quan đến văn hóa dân tộc chúng vừa phát biểu, nhưng chúng có biết đâu rằng cha mẹ của chúng cảm thấy rất hài lòng về sự kiện con cái của mình sinh ra ở Mỹ lại chuộng đồ ăn Việt Nam hơn ngoại quốc, cũng như rất hãnh diện vì con cái mình chứng tỏ sống hòa đồng nhưng không chịu đồng hóa.

 

Sau bữa tối cuối cùng tại Honolulu trước khi bay sang Hawaii Big Island vào trưa ngày Thứ Bảy, chúng tôi đi bộ kéo nhau đến khách sạn Reef Tower, cách chỗ chúng tôi đang ở một dặm, nơi vợ chồng chúng tôi hưởng tuần trăng mật 19 năm trước để các con tôi quay phim chụp hình kỷ niệm cho chúng tôi. Chúng tôi đã chụp ảnh riêng với từng đứa con, cũng như với chung cả ba đứa ở đây, những con người mới đã vào đời góp mặt với chúng tôi, để biến cuộc hôn nhân lứa đôi của chúng tôi thành một mái ấm yêu thương gia đình, một gia đình của 5 con người ruột thịt, trong biết bao nhiêu tỉ tỉ người từ khi có loài người cho tới tận cùng lịch sử, 5 con người hoàn toàn không hề biết nhau tí nào 25 năm trước, thế mà giờ đây đã trở thành một mái ấm yêu thương, một cộng đồng sự sống. Tạ ơn trời. Tạ ơn đời. Xin cho gia đình nhỏ bé chúng tôi, tràn đầy vui mừng và hy vọng, tiếp tục cuộc hành trình vào đời, vượt sóng gió thử thách của lịch sử thăng trầm, để thẳng tiến ra khơi, hướng về chân trời tương lai của một xã hội loài người sống trong văn minh yêu thương, trong văn hóa sự sống!

 

(Bài ngày mai: Vai Trò Làm Chồng)

 

 

TOP

 

 

 ? Tháng Sáu Kính Thánh Tâm Chúa với Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu:  Bài 7 - "Cha sẽ dùng tình yêu để kiềm chế những quyền lực của sự dữ, vì Cha vô cùng tốt lành, toàn năng và trung tín".

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

Mầu nhiệm tạo dựng ở tại tình yêu của một Thiên Chúa đối với loài người mà Người đã dựng nên theo hình ảnh của Người. (6-9-1967)

 

Bóng tối xua đuổi ánh sáng.

Thế nhưng Ánh Sáng chiếu soi. Và bóng tối biến mất trước ánh sáng  rạng ngời. (20-9-1967)

 

(Lễ Chúa Kitô Vua) Sự cao cả của Cha lớn lên cho đến tầm mức trọn vẹn trong những con tim yêu mến của các hồn nhỏ, những người con thật nhỏ bé của Cha, những người mà Cha hân hoan ở cùng và qua họ mà Cha chiếu tỏa trên thế giới. (29-10-1967)

                       

Nhờ ôn Cha, những hy sinh nhỏ bé của con trở thành những hạt giống thánh thiện. (11-11-1967)

 

Mẹ của Cha là mối giây liên kết giữa Trời và đất. (16-11-1967)

 

Thời giờ con sống trong những khoái lạc hão huyền là thời giờ Cha đợi chờ con. (17-11-1967)

                       

Hỡi đứa con nhỏ của Cha, ân sủng là kết quả của việc linh hồn sẵn sàng để cho mình được dẫn dắt.

Người ta không nhiều thì ít trở nên như điều mà họ mong muốn, tùy theo mức độ của lòng họ mong muốn.

Việc các linh hồn bất thuận phục làm ngăn cản tác động chiếm đoạt và thanh tẩy của ân sủng.

Cha hỏi con nhé, Cha có thể dùng sức mạnh để mở cửa các cói lòng đóng kín vì cố chấp theo sự dữ được chăng?

Lòng nhân ái và bạo lực không thể nào sống chung đụng với nhau được cả.

Tình Yêu bò khinh chê và nhạo báng vào những lúc hận thù và ô nhục này đây.

Cha mệt nhọc vì những xỉ nhục và xúc phạm lắm rồi.

Nếu họ trở về cùng Cha, Cha sẽ đè nén côn thònh nộ của Cha xuống.

Để rồi, Cha sẽ nhớ lại họ là công cuộc của bàn tay Cha.

Cha của họ trên trời sẽ giang tay ra chờ họ, như chờ những đứa con hoang đàng ăn năn hối cải lỗi lầm của mình. (26-2-1968)

 

Cha sẽ dùng tình yêu để kiềm chế những quyền lực của sự dữ, vì Cha vô cùng tốt lành, toàn năng và trung tín.

Hỡi đứa con nhỏ của Cha, hãy nhận biết giá trò của chứng cớ này và hãy cảm tạ hết mọi sự.

Con hãy tin vào Cha và hãy trông mong bình minh của ngày phục sinh các linh hồn.

Tiếng của Cha phải làm sao vang lên trên thế giới, và thế giới buộc phải lắng nghe và đón nhận lấy nó.

Cha sẽ dùng tình yêu để mở tung cửa lòng của các linh hồn. (9-4-1968)

 

Con biết rằng, không có gì thực hiện được mà lại không có Cha.

CHA LÀ, và con chỉ là phưông tiện của Cha thôi.

Tình yêu từ Cha mà đến.

Tình Yêu là Chính Cha.

Bởi thiếu tin tưởng vào lòng nhân lành của Cha mà linh hồn bò thụt lùi và kém sốt sắng đi. Những lỗi lầm nhỏ mọn nhất cũng trở nên trầm trọng nôi linh hồn ngờ vực, vì chúng sẽ dẫn đến những lỗi lầm khác nặng nề hôn.

Cha đã bị và còn bị bạc đãi.

Họ đã biến Cha chịu khổ đau thành một tạo vật đê hèn.

Cha đã cúi đầu trước những lời nhạo báng của họ.

Mà Cha lại là Thiên Chúa!

Hỡi đứa con gái của Cha ôi, hãy suy niệm bài học khiêm nhượng mà Cha dạy cho con.

Con hãy biết rằng con cần phải luôn luôn chế ngự bản thân mình. Đó là một cuộc thiện chiến. Cha là phần thưởng. (22-4-1968)

 

(Tiếng của Chúa Cha)

Nơi ngôi vị Con Yêu Dấu của Cha, Cha mong muốn gặp gỡ các con, các con là loài người mà Cha đã tạo dựng nên, và đã làm cho sống động bằng tình yêu của Cha.

Tất cả các con lại không thuộc về Người sao?

Cha lại đã chẳng yêu thưông hết thẩy các con bằng cùng một tình yêu như nhau ư?

Nhưng, các con hãy biết rằng, Cha không nhớ đến các con nếu các con không ở trong Người.

Nếu các con không nhận biết Người, thì Cha cũng sẽ không nhận biết các con đâu.

Nếu Người không ước mong được ở lại cận kề với các con trong Thánh Thể, thì thế giới tệ bạc này đã không còn tồn tại từ lâu rồi.

Tình Yêu ở với các con. đây là lúc các con phải nhớ lại điều này' đồng thời cũng nhớ lại rằng, ở những nôi nào có Sự Hiên Diện thật sự, các con phải thăm viếng và tôn kính hôn nữa. (20-5-1968)

 

Hỡi đứa con nhỏ của Cha, thế giới cần phải cấp thời tìm thấy mức quân bình của nó một lần nữa...

Tình yêu của Cha ôm ấp cả thế giới.

Hãy nới rộng quan niệm yêu thưông cho đúng với tầm mức của nó... (2-6-1968)

 

Hãy hiệp nhất nỗi yếu đuối của con với nỗi yếu đuối của Thiên Chúa con đối với các tạo vật đáng thưông của Người.

Đứa con nhỏ của Cha bò 'cái tôi' của mình chi phối quâ sức.

Nhưng Cha thừa hiểu nó rồi.

Cha cũng tỏ ra yếu đuối như con, song Cha chỉ bò chi phối bởi giá trò và lợi ích do Hy Tế của Cha, bởi ôn cứu chuộc Cha mang lại cho thế gian.

Tuy nhiên, nhân tính của Cha đã chòu khổ khủng khiếp.

Đó là lý do, hỡi cái vô thể nhỏ bé ôi, tại sao Cha lại quá hiểu con.

Tặng ân của khổ đau thì cao qúi.

Hỡi linh hồn yêu dấu ôi, con còn sợ gì chớ?

Thế thì, không phải là do đức tin của con quá yếu kém, đến nỗi, con không thể làm sao cho đỡ khổ bằng đức tin của mình hay sao?

Hy vọng là kho tàng của con đó.

Có những trạm dừng chân thoải mái trên con đường về Trời mà con. (30-10-1968)

 

(còn tiếp cho tới hết Tháng Thánh Tâm)

 

 

TOP

 

 

?   'Mặt Trời Khổ Ải' - Đức Gioan Phaolô II; 'Vinh Quang Oliu' - Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Bài 5 - Bốn điều trùng hợp thiên định giữa nhị vị Giáo Hoàng.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Tóm lại, sở dĩ loạt bài viết về nhị vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Biển Đức XVI, là bởi, sau một năm một vị băng hà một vi đăng quang, người viết thấy được có một cái gì đó trùng hợp và liên tục giữa hai vị Giáo Hoàng này, như dấu chỉ thời đại cho thấy một chân trời lịch sử nhân loại sắp sửa xẩy ra, có thể tóm gọn như sau:

 

Thứ nhất, nếu Đức Gioan Phaolô II thuộc Đông Âu (ở một nước Balan bị trị bởi cả Đảng Nazi Đức Quốc lẫn Cộng Sản Liên Sô) được sai đến để làm cho Bức Tường Bá Linh ngăn cách Âu Châu sụp đổ, thì Giáo Hoàng Biển Đức XVI thuộc Tây Âu (ở một quốc gia Đức Quốc gây ra hai Thế Chiến I và II) được sai đến để tiếp tục làm cho Âu Châu hiệp nhất, một Âu Châu đang mất căn tính Kitô Giáo của mình chỉ có thể Hiệp Nhất một khi Kitô Giáo hiệp nhất ở Âu Châu, nhờ đó, Âu Châu theo Văn Hóa Kitô Giáo mới có thể “Hồi Niệm (lấy lại) Căn Tính” của mình, để trở thành một lực lượng chẳng những có thể chống lại Hiện Tượng Khủng Bố của những thành phần Hồi Giáo quá khích hiện nay chính yếu nhắm vào Tây Phương, mà còn làm cho Do Thái nhận thấy Đấng Thiên Sai của họ nơi Kitô Giáo, hầu trở về với Người là Đấng sẽ trở lại trong vinh quang để cứu độ những ai trông đợi Người và vĩnh viễn thiết lập Vương Quốc của Người trên trần gian. 

 

Thứ hai, nếu Đức Gioan Phaolô II liên quan tới Biến Cố Đông Âu nhờ lực lượng Công Đoàn Balan thế nào, thì Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng liên quan tới tình trạng Hiệp Nhất Âu Châu bằng lực lượng Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức Quốc như vậy, (nơi đã xuất phát ra phong trào Thệ Phản Tin lành từ năm 1517), một lực lượng đã thực hiện bản tuyên ngôn chung với Giáo Hội Công Giáo về Tín Lý Công Chính Hóa vào ngày 31/10/1999.

 

Thứ ba, nếu chuyến tông du hồi hương Balan lần đầu tiên của Đức Gioan Phaolô II vào tháng 6/1979 là chuyến tông du lịch sử liên quan tới Biến Cố Đông Âu sụp đổ sau đó 10 năm (1989) thế nào, thì chuyến tông du hồi hương Đức Quốc đầu tiên của Giáo Hoàng Biển Đức XVI vào tháng 8/2005 cũng liên quan tới tình trạng Hiệp Nhất Âu Châu như vậy, vào thời điểm có thể vào năm 2017, thời điểm kỷ niệm đúng 500 năm phong trào Thệ Phản Tin Lành và 100 năm Biến Cố Fatima, thời điểm liên quan tới hai biến cố lịch sử trùng hợp này lại được gói ghém trong danh hiệu Giáo Hoàng Biển Đức, một danh hiệu Giáo Hoàng trở về với Thời Điểm Fatima, và là một danh hiệu Giáo Hoàng liên quan tới vị Thánh Biển Đức là đệ nhất Quan Thày của Âu Châu, vị Thánh đã khởi công phát triển văn minh Âu Châu cũng là văn minh Tây Phương.

 

Thứ bốn, nếu Đức Gioan Phaolô II đã thâm tín rằng việc chiến thắng của Chúa Kitô cần phải được thực hiện qua Mẹ Maria thế nào (xin xem lại trang 171-178), thì Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng chủ trương Mẹ Maria là phương thế cứu vãn tình hình khủng hoảng tôn giáo và văn hóa của thế giới văn minh ngày nay như vậy (cũng xin xem lại trang 297-301), và những nhận thức Thánh Mẫu này của hai vị Giáo Hoàng rất ăn khớp với những gì được Thánh Long Mộng Phố (Louis Montfort) tiên báo trong cuốn Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria (từ đầu thế kỷ 18), ở đoạn 49, như sau:

 

·        Vào lần đến thứ hai của Chúa Giêsu Kitô, Mẹ Maria phải được Thánh Linh nhận biết và tỏ hiện để, qua Mẹ, Chúa Giêsu Kitô cũng được nhận biết, yêu mến và phục vụ”.

(còn tiếp nhiều kỳ)

 

TOP

 

GIÁO HỘI HIỆN THẾ