ĐTC Biển Đức XVI Tông Du Tiệp Khắc 26-28/9/2009
Tình Hình Giáo Hội Công Giáo Ở Cộng Hòa Tiệp Khắc
“Thành phần thiểu số sáng tạo là thành phần quyết định tương lai”
"Hãy tái nhận thức các truyền thống Kitô giáo từng làm nên văn hóa của mình"
“Trách nhiệm cao quí trong việc khơi dậy khả năng chấp nhận sự thật và sự thiện thuộc về tất cả mọi vị lãnh đạo – tôn giáo, chính trị và văn hóa”
“Anh chị em quá rõ là thậm chí cho đến ngày hôm nay vẫn không dễ gì sống và làm chứng cho Phúc Âm”.
“Kitô hữu buộc phải liên kết với những ngưồi khác trong việc nhắc nhở Âu Châu về những cội gốc của nó”
“Một chuyến hành hương thực sự và đồng thời cũng là một sứ vụ ở ngay tâm điểm của Âu Châu”
Tông Du Tiệp Khắc - “Tình Yêu Chúa Kitô là Sức Mạnh của chúng ta”
Tình Hình Giáo Hội Công Giáo ở Cộng Hòa Tiệp Khắc
Theo VIS của Tòa Thánh ngày Thứ Ba 22/9/2009 thì tình hình Giáo Hội Công Giáo ở Cộng Hòa Tiệp Khắc cho tới ngày 31/12/2008 theo Văn Phòng Thống Kê Trung Ung của Giáo Hội như sau:
Cộng Hòa Tiệp Khắc có tổng dân số là 10.380.000, trong đó có 3.200.00 (31.7%) Công giáo, với 9 giáo phận, 2.576 giáo xứ và 70 trung tâm mục vụ, có 20 vị giám mục, 1.956 linh mục, 1.725 tu sĩ, 160 giáo dân thuộc các tu hội đời và 1.109 giáo lý viên, 7 tiểu chủng sinh và 184 đại chủng sinh.
Có tất cả 15.977 trẻ em và thanh thiếu niên tham dự 79 trung tâm giáo dục Công giáo, từ mẫu giáo tới đại học. Các cơ sở tổ chức khác thuộc về Giáo Hội hay được điều hành bởi các vị linh mục hoặc tu sĩ nam nữ bao gồm 50 nhà thương, 98 bệnh xá, 134 nhà cho người già hay tàn tật, 59 cô nhi viện, 58 trung tâm hướng dẫn về gia đình và phò sự sống, 170 trung tâm giáo dục và phục hồi xã hội, và 28 tổ chức các loại khác.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, trích dịch
“Thành phần thiểu số sáng tạo là thành phần quyết định tương lai”
Họp Báo trên chuyến bay Tông Du Tiệp Khắc 26/9/2009
Cha Federico Lombard (Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh): Tâu Đức Thánh Cha, chúng con rất lấy làm biết ơn vì một lần nữa Đức Thánh Cha ban cho chúng con ít phút và một số giải đáp cho những vấn nạn được thu thập để sửa soạn cho chuyến đi này, và nhờ đó Đức Thánh Cha cũng cống hiến cho chúng con một cơ hội để nguyện chúc Đức Thánh Cha được có một chuyến đi tốt đẹp.
Vấn: Như ĐTC đã nói sau Kinh Truyền Tin Chúa Nhật vừa rồi, Cộng Hòa Tiệp Khắc là quốc gia nằm ở tâm điểm của Âu Châu chẳng những về địa dư mà còn về cả lịch sử nữa. ĐTC có thể giải thích thêm cho chúng con biết về “tính cách lịch sử” này và cho chúng con biết chuyến đi này vì sao và ra sao có một ý nghĩa đối với toàn thể châu lục này, ở đường lối văn hóa, thiêng liêng và có thể cả về chính trị trong việc xây dựng Khối Hiệp Nhất Âu Châu?
ĐTC đáp: Ở mọi thế kỷ, Cộng Hòa Tiệp Khắc, lãnh thổ của Cộng Hòa Tiệp Khắc, đã từng là một nơi cho cuộc gặp gỡ của các nền văn hóa. Chúng ta hãy bắt đầu từ thế kỷ thứ 9: Một mặt, ở Moravia chúng ta có việc truyền giáo của Thánh Cyril và Methodius, những vị mang văn hóa Byzantine từ Đế Quốc Byzantium, thế nhưng lại tạo nên một nền văn hóa Slavic, với kiểu chữ Cyrillic cũng như với một thứ phụng vụ theo ngôn ngữ Slavic; mặt khác, ở Bohemia, có những giáo phận sát biên giới Regensburg và Passau lại mang Phúc Âm bằng tiếng Latinh tới, và với mối liên hệ với văn hóa Latinh Rôma, hai nền văn hóa đã gặp nhau. Mỗi cuộc gặp gỡ đều gặp khó khăn, nhưng cũng sinh hoa kết trái. Sự kiện này có thể dễ dàng được chứng thực nơi trường hợp điển hình này.
Một bước nhẩy vọt xẩy ra là vào thế kỷ 12, Vua Charles IV thiết lập ở Prague này một đại học đường đầu tiên ở Trung Âu. Đại học đường tự mình là nơi gặp gỡ các nền văn hóa; nơi trường hợp này nó còn trở thành một nơi gặp gỡ giữa nền văn hóa nói tiếng Slavic và Đức. Như trong thế kỷ và thời điểm của phong trào Cải Cách, chính ở nơi lãnh thổ này, những cuộc gặp gỡ và xung khắc đã trở nên quyết liệt và to lớn là những gì đã xẩy ra đều được tất cả chúng ta biết tới.
Giờ đây tôi đi ngay vào thời điểm của chúng ta: trong thế kỷ vừa qua, Cộng Hòa Tiệp Khắc đã chịu đựng một chính sách độc tài cộng sản đặc biệt dã man, thế nhưng cũng có cả cuộc chống cự mạnh mẽ của Công giáo và trần thế. Tôi nghĩ tới các bản văn của Vaclav Havel, của Hồng Y Vlk, tới một hình ảnh như Hồng Y Tomasek, vị đã cống hiến cho Âu Châu một sứ điệp về ý nghĩa của tự do và về cách thứcc chúng ta cần phải sống động và hoạt động trong tự do. Và tôi nghĩ rằng từ cuộc gặp gỡ của các nền văn hóa qua các thế kỷ, và chính từ giai đoạn phản ảnh khổ đau cuối cùng này – nhưng không phải chỉ giai đoạn này –đối với một thứ quan niệm mới về tự do và về xã hội tự do, mà nhiều sứ điệp quan trọng đang cống hiến cho chúng ta là những gì có thể và cần phải sinh hoa kết trái đối với việc xây dựng Âu Châu. Chúng ta thật sự cần phải rất chú ý tới sứ điệp của xứ sở này.
Vấn: Đến nay chúng ta trải qua 20 năm sau cuộc sụp đổ của các chế độ cộng sản Đông Âu; Đức Gioan Phaolô II, khi thăm viếng các xứ sở khác nhau thoát khỏi cộng sản, đã khuyến khích họ sống cách hữu trách quyền tự do được họ phục hồi. Đâu là sứ điệp của Đức Thánh Cha muốn nhắn gửi các dân tộc Đông Âu ngày nay trong giai đoạn lịch sử mới này?
ĐTC đáp: Như tôi đã nói, các xứ sở này thật sự quằn quại dưới chính sách độc tài, thế nhưng, trong đau khổ, những quan niệm về tự do đã phát triển đang được thịnh hành và giờ đây cần phải được trau chuốt và hiện thực hơn nữa. Chẳng hạn, tôi nhớ một bản văn của Vaclav Havel có câu: “Những chính sách độc tài căn cứ vào những thứ dối trá và nếu cái dối trá bị chế ngự, nếu không ai dối trá nữa và nếu sự thật được sáng tỏ thì tự do sẽ xuất hiện”. Và đó là cách thức ông đã giải thích cho biết về mối liên hệ giữa sự thật và tự do, một thứ tự do không phóng đãng, tùy ý, nhưng gắn bó với và khuôn đúc bởi những thứ giá trị cao cả của sự thật và yêu thương, của tình đoàn kết và sự thiện hảo nói chung. Vậy tôi nghĩ rằng những quan niệm này, những ý tưởng đã từng được nung nấu dưới chế độ độc tài ấy không được mất đi: Giờ đây chúng ta cần phải trở về với chúng!
Và, trong thứ tự do thường là một thứ trống rỗng nho nhỏ nào đó và chẳng có những thứ giá trị nào, một lần nữa hãy nhìn nhận rằng tự do và các thứ giá trị, tự do và sự thiện, tự do và sự thật là những gì đi với nhau: Bằng không, cả tự do nữa cũng bị hủy diệt. Đối với tôi dường như đó là sứ điệp xuất phát từ những xứ sở ấy và là những gì cần phải hiện thực vào lúc này đây.
Vấn: Tâu Đức Thánh Cha, Cộng Hòa Tiệp Khắc là một xứ sở bị tục hóa rất nhiều, nơi Giáo Hội Công Giáo là một thiểu số. Trong tình hình như thế, Giáo Hội làm thế nào có thể hiệu nghiệm góp phần cho công ích của xứ sở này?
ĐTC đáp: Tôi muốn nói rằng bình thường thì những thành phần thiểu số sáng tạo là thành phần quyết định tương lai, và như thế Giáo Hội Công Giáo cần phải tự hiểu mình là một thành phần thiểu số có một gia sản của các thứ giá trị không phải là những gì của quá khứ mà là một thực tại rất sống động và hiện đại. Giáo Hội cần phải hành động, cần phải hiện diện trong cuộc công khai tranh luận, trong việc chúng ta tranh đấu cho một quan niệm thực sự của tự do và hòa bình.
Nhờ đó Giáo Hội mới có thể đóng góp vào các lãnh vực khác nhau. Điều tôi muốn nói ở đây đầu tiên chính là cuộc đối thoại giữa thành phần bất khả thần tri và tín hữu. Mỗi bên đều cần đến nhau: người bất khả thần tri không thể mãn nguyện ở chỗ chẳng cần biết Thiên Chúa có hiện hữu hay chăng, nhưng cần phải tìm kiếm và cảm thấy được cái gia sản cao cả này của niềm tin; người Công giáo không thể mãn nguyện có được đức tin, nhưng cần phải tìm kiếm Thiên Chúa hơn nữa, và trong cuộc đối thoại với người khác họ tái nhận thức Thiên Chúa một cách sâu xa hơn. Đó là mức độ thứ nhất, mức độ đối thoại về tri thức, đạo lý và nhân bản.
Tiếp theo là lãnh vực giáo dục, Giáo Hội phải làm nhiều thứ cho vấn đề đào luyện. Ở Ý quốc chúng ta nói về việc khẩn trương giáo dục. Nó là vấn đề chung cho toàn khối Tây phương: ở đây một lần nữa Giáo Hội cần phải hiện thực hóa, cụ thể hóa, mở tung ra cái gia sản lớn lao của mình cho tương lai.
“Yêu thương” là lãnh vực thứ ba. Việc Giáo Hội trợ giúp người nghèo, trở thành khí cụ yêu thương bao giờ cũng là dấu hiệu cho thấy căn tính của Giáo Hội. Ở Cộng Hòa Tiệp Khắc, Yêu Thương đã thực hiện nhiều sự ở các cộng đồng khác nhau, nêu gương trách nhiệm cho những người khác, về tình đoàn kết quốc tế là những gì vẫn là một điều kiện cho hòa bình.
Vấn: Tâu Đức Thánh Cha, bức thông điệp vừa rồi của Đức Thánh Cha là “Yêu Thương Trong Sự Thật” đã gây ra một biến động trên khắp thế giới. Đức Thánh Cha thẩm định về sự kiện này ra sao? Đức Thánh Cha có lấy làm vui hay chăng? Đức Thánh Cha có nghĩ rằng thực sự cuộc khủng hoảng toàn cầu gần đây là một cơ hội giúp nhân loại dễ suy nghĩ về tầm quan trọng của những giá trị luân lý và thiêng liêng, để đương đầu với những vấn đề lớn lao nơi tương lai của họ? Và Giáo Hội sẽ tiếp tục chỉ dẫn họ theo chiều hướng này?
ĐTC đáp: Tôi rất vui mừng với cuộc bàn luận lớn lao này. Quả thật mục đích là ở chỗ khuyến khích và tác động một cuộc bàn luận về những vấn đề ấy, chứ không để cho những sự việc cứ tiếp tục xẩy ra như thế, nhưng tìm kiếm những kiểu mẫu mới cho một nền kinh tế hữu trách, dù ở trong các xứ sở riêng hay nơi toàn thể nhân loại hợp lại.
Ngày nay dường như hiển nhiên cho thấy rằng vấn đề đạo lý không phải là cái gì đó ở bên lề kinh tế, những gì có thể được cho rằng tự hành sự như là một loại kỹ thuật, nhưng lại là một nguyên tắc nội tại đối với kinh tế, một thứ kinh tế không hành sự nếu nó không chú trọng tới những giá trị nhân bản của tình đoàn kết, của những thứ trách nhiệm hỗ tương, và nếu nó không hội nhập đạo lý vào việc xây dựng chính nền kinh tế: Đó là một thách đố cả thể trong thời điểm này. Tôi hy vọng, với bức thông điệp ấy, đã góp phần vào cái thách đố này.
Cuộc tranh luận đang diễn tiến này dường như làm cho tôi cảm thấy phấn khởi. Thật sự là chúng tôi muốn tiếp tục đáp ứng những thách đố vào lúc này đây và trợ giúp để cho cảm quan về trách nhiệm trở thành mãnh liệt hơn là ý muốn lợi lộc, để trách nhiệm đối với người khác mạnh mẽ hơn là chủ nghĩa vị kỷ; theo chiều hướng ấy, chúng tôi muốn tiếp tục góp phần cho một nền kinh tế nhân bản cả trong tương lai nữa.
Vấn: Để kết thúc, xin có một câu hỏi có tính cách riêng tư nữa với Đức Thánh Cha, đó là mùa hè vừa rồi cổ tay của Đức Thánh Cha đã bị thương nhẹ. Đức Thánh Cha có nghĩ rằng giờ đây nó hoàn toàn khá hơn chăng? Đức Thánh Cha đã có thể tiếp tục các hoạt động của mình hoàn toàn lại chưa, và Đức Thánh Cha có thể thực hiện phần thứ hai của tác phẩm về Chúa Giêsu như Đức Thánh Cha mong muốn hay chưa?
ĐTC đáp: Nó chưa hoàn toàn lành, nhưng anh chị em có thể thấy rằng tay phải của tôi đang làm việc và tôi có thể thực sự cầm nắm, tức là tôi có thể vận chuyển nó, nhất là tôi có thể viết lách. Tư tưởng của tôi nẩy nở nhất là lúc tôi đang viết; bởi thế, đối với tôi, thật là bất tiện, một bài học nhẫn nại, khi tôi đã không thể viết lách gì trong sáu tuần lễ. Tuy nhiên, tôi có thể làm việc, đọc sách, làm những thứ khác và tôi cũng đã thực hiện được một chút tiến bộ cho tác phẩm này. Thế nhưng tôi vẫn còn nhiều điều phải viết. Tôi nghĩ rằng, với danh mục và những gì chưa xong, “Deo adiuvante” (nhờ ơn Chúa giúp), tôi có thể hoàn tất vào mùa xuân năm tới. Thế nhưng chỉ hy vọng vậy thôi!
Cha Federico Lombard: Chúng con xin cám ơn Đức Thánh Cha thật nhiều, và một lần nữa, chúng con xin dâng lên Đức Thánh Cha những lời chúc tốt đẹp nhất cho chuyến đi này, ngắn ngủi nhưng rất gay go, và như Đức Thánh Cha đã cắt nghĩa cho chúng con, nó cũng rất ý nghĩa nữa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/9/2009
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
"Hãy tái nhận thức các truyền thống Kitô giáo từng làm nên văn hóa của mình"
Lời Mở Đầu tại Phi Trường Quốc Tế Stará Ruzyně Thủ Đô Prague Thứ Bảy 26/9
Pane presidente,
milí páni kardinálové a bratři biskupové,
Vaše Excelence,
dámy a pánové!
Mám velikou radost, že mohu dnes být v České republice, a jsem hluboce vděčný vám všem za srdečné přivítání.
(Ngài Tổng Thống, Chư Hồng Y, Chư Huynh Giám Mục, Chư Vị, Quí Bà và Quí Ông thân mến,
Thật là vui mừng được ở cùng anh chị em hôm nay đây tại Cộng Hòa Tiệp Khắc, và tôi hết lòng cám ơn tất cả anh chị em về sự nồng hậu tiếp đón tôi).
(ĐTC ngỏ lời chào và cám ơn rõ ràng tên của những vị liên hệ...) Tôi đặc biệt cảm kích trước cử chỉ của một cặp vợ chồng trẻ mang đến cho tôi những tặng vật tiêu biểu cho văn hóa của quốc gia này, cùng với chút đất của quê hương anh chị em. Tôi được nhắc nhở về nền văn hóa sâu xa của Tiệp Khắc được thấm nhuần Kitô giáo, vì như anh chị em biết, những thứ bánh và muối này có một ý nghĩa đặc biệt nơi hình ảnh của Tân Ước.
Vì toàn thể nền văn hóa Âu Châu đã được hình thành sâu xa bởi gia sản Kitô giáo của mình mà điều này cũng đặc biệt thực sự xẩy ra ở mảnh đất Tiệp Khắc này, bởi chính nhờ công khó truyền giáo của hai vị Thánh Cyril và Methodius vào thế kỷ thứ chín, mà ngôn ngữ Slavonic bắt đầu được thành văn. Các vị tông đồ của những sắc dân Slavic này và là những sáng lập viên cho nền văn hóa của họ, thực sự đáng được tôn kính như là các vị Quan Thày của Âu Châu. Tuy nhiên, cũng đáng nhắc lại là hai vị đại thánh này của truyền thống Byzantine đã gặp gỡ ở nơi đây các nhà thừa sai từ Tây phương Latinh. Qua giòng lịch sử của mình, lãnh thổ nằm ở tâm điểm châu lục này, ở giao điểm giữa bắc và nam, giữa đông và tây, đã từng là điểm gặp gỡ cho các dân tộc, truyền thống và văn hóa khác nhau. Không thể phuỉ nhận là điều này đôi khi đã gây ra tình trạng va chạm, thế nhưng, về lâu về dài nó lại cho thấy là một cuộc gặp gỡ tốt đẹp. Thế nên, phần quan trọng được mảnh đất Tiệp Khắc này thực hiện trong lịch sử về tri thức, văn hóa và tôn giáo của Âu Châu – đôi khi như là một bãi chiến trường nhưng thường là một chiếc cầu nối.
Những tháng ngày tới đây sẽ chứng kiến thấy cuộc kỷ niệm 20 năm Cách Mạng Velvet, một cuộc cách mạng may mắn được kết thúc một cách an lành cho một thời điểm đặc biệt khốn khổ đối với xứ sở này, một thời điểm mà luồng gió của các tư tưởng cùng với các ảnh hưởng về văn hóa bị nghiêm ngặt kiểm soát. Tôi muốn hiệp cùng anh chị em và các quốc gia lân bang của anh chị em dâng lời cảm tạ về cuộc giải phóng này của anh chị em khỏi những chế độ đàn áp ấy. Nếu việc sụp đổ của Bức Tường Bá Linh đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử thế giới, thì nó càng như thế đối với những quốc gia ở Trung Âu và Đông Âu này, khi giúp cho họ có thể ở vào đúng chỗ của mình như là thành phần diễn viên chủ quyền trong cuộc hòa tấu của chư quốc.
Tuy nhiên, không được coi thường cái giá phải trả cho 40 năm bị đàn áp về chính trị. Cái thảm cảnh đặc biệt đối với mảnh đất này là việc nỗ lực một cách tàn nhẫn của Chính Quyền thời bấy giờ trong việc bịt miệng của Giáo Hội. Trải suốt giòng lịch sử của mình, từ thời Thánh Wesceslaus, Thánh Ludmila và Thánh Adalbert cho tới thời Thánh John Nepomuk, đã từng có những vị tử đạo can trường mà tấm lòng trung thành với Chúa Kitô của các vị đã vang tiếng còn mạnh mẽ hơn và hùng hồn hơn tiếng nói của những kẻ hành xích. Năm nay đánh dấu 40 năm cái chết của Người Tôi Tớ Chúa là Đức Hồng Y Josef Beran, Tổng Giám Mục Thủ Đô Prague. Tôi muốn kính viếng ngài cũng như vị thừa kế ngài là Đức Hồng Y František Tomášek, vị bản thân tôi được hân hạnh quen biết, về chứng từ Kitô giáo bất khuất trước cuộc bách hại. Các vị, và vô số các linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ đã giữ cho ngọn lửa đức tin được sống động nơi xứ sở này. Giờ đây quyền tự do tôn giáo ấy đã được phục hồi, tôi kêu gọi toàn thể công dân của nước Cộng Hòa này hãy tái nhận thức các truyền thống Kitô giáo từng làm nên văn hóa của mình, và tôi mời gọi cộng đồng Kitô hữu hãy tiếp tục lên tiếng như là một quốc gia để giải quyết những thách đố của thiên kỷ mới này. “Không có Thiên Chúa, con người không biết đàng nào mà đi, thậm chí cũng chẳng hiểu mình là ai nữa” (Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, 78). Sự thật của Phúc Âm là những gì bất khả châm chước cho một xã hội lành mạnh, vì nó hướng chúng ta về niềm hy vọng và giúp chúng ta có thể khám phá ra phẩm vị bất khả tước đoạt làm con cái Thiên Chúa của chúng ta.
Thưa Tổng Thống, tôi biết rằng ngài muốn thấy vai trò mạnh mẽ hơn nữa đối với tôn giáo trong các sự vụ của quốc gia này. Lá cờ đang bay phất phới trên Dinh Prague loan báo câu tâm niệm “Pravda Vítězí – Sự Thật chiến thắng”: niềm hy vọng tha thiết nhất của tôi đó là ánh sáng chân lý sẽ tiếp tục hướng dẫn quốc gia này, một quốc gia được chúc phúc qua giòng lịch sử của mình nhờ chứng từ của các vị đại thành và tử đạo. Trong thời đại khoa học này, cần phải nhắc lại tấm gương của Johann Gregor Mendel, một Đan Viện Phụ Dòng Âu Quốc Tinh ở Monravia, vị thực hiện việc tìm kiếm tiên phong đã đặt nền tảng cho khoa di truyền học tân tiến. Không phải là giành cho ngài mà lời trách móc của thánh quan thày ngài là Âu Quốc Tinh đã than tiếc rằng có rất nhiều người “quan tâm tới các sự kiện thán phục hơn là tìm kiếm những căn nguyên của chúng” (Epistula 120:5; cf. John Paul II, Diễn Từ Tưởng Niệm Đan Viện Phụ Gregor Mendel Đệ Nhất Bách Niên Qua Đời, 10/3/1984, 2). Việc tiến bộ đích thực của nhân loại có ích lợi nhất chỉ nhờ ở việc tổng hợp sự khôn ngoan của đức tin và những minh thức của lý trí. Chớ gì nhân dân Tiệp Khắc luôn hoan hưởng những lợi ích của cái tổng hợp phúc hạnh này.
Zbývá mi jen zopakovat: díky vám všem, a říci, že jsem se opravdu dlouho těšil na tyto dny mezi vámi v České republice, kterou hrdě nazýváte „země česká, domov můj“. Srdečné díky.
(ĐTC lập lại lời cám ơn chung và kết thúc). Xin cám ơn rất nhiều.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2009/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20090926_welcome-praga_en.html
“Trách nhiệm cao quí trong việc khơi dậy khả năng chấp nhận sự thật và sự thiện thuộc về tất cả mọi vị lãnh đạo – tôn giáo, chính trị và văn hóa”
Với Các Thẩm Quyền Chính Trị và Ngoại Giao Đoàn tại Dinh Tổng Thống ở Prague Thứ Bảy 26/9/2009
Cùng Quí Vị,
Quí Bà và Quí Ông,
(ĐTC trước hết ngỏ lời chào và cám ơn)
Chuyến viếng thăm mục vụ của tôi ở Cộng Hòa Tiệp Khắc trùng với dịp kỷ niệm 20 năm cuộc sụp đổ của các chế độ độc tài chuyên trị ở Trung Âu và Đông Âu, và cuộc “Cách Mạng Velvet” để phục hồi nền dân chủ cho quốc gia này. Sau đó là tình trạng thảnh thơi được thể hiện nơi quyền sống tự do. Hai thập niên sau những đổi thay sâu xa về chính trị lướt qua châu lục này, tiến trình chữa lành và tái thiết đang được tiếp tục, giờ đây đang xẩy ra trong một bối cảnh rộng lớn hơn của mối thống nhất Âu Châu cũng như trong một thế giới càng ngày càng trở nên toàn cầu hóa. Những ước vọng của người công dân và những mong đợi ở nơi các chính quyền là những gì cần đến những mẫu thức mới cho đời sống dân sự và tình đoàn kết giữa các quốc gia và chư dân, mà nếu thiếu vắng chúng thì cái tương lai công lý, hòa bình và thịnh vượng được mong ước từ lâu sẽ vẫn mong manh khó nắm bắt. Những ước muốn ấy tiếp tục xoay vần tiến triển. Ngày nay, nhất là nơi giới trẻ, vấn đề này lại hiện lên một lần nữa liên quan tới bản tính của quyền tự do chiếm được. Tự do được hành xử với mục đích như thế nào? Đâu là những tiêu chuẩn thực sự của nó?
Hết mọi thế hệ đều có có phận sự tham gia một cách mới mẻ vào việc gắng gỏi tìm kiếm đường lối chính đáng trong việc hướng dẫn những sự vụ của con người, tìm cách để biết sử dụng thích đáng quyền tự do của con người (cf. Spe Salvi, 25). Và cho dù nhiệm vụ củng cố “những cấu trúc của tự do” là những gì quan trọng nhưng vẫn chẳng bao giờ đầy đủ hết, vì các ước vọng của con người là những gì vượt ra ngoài bản ngã, ra ngoài những gì được bất cứ thẩm quyền chính trị và kinh tế nào cung ứng, hướng tới một niềm hy vọng rạng ngời (cf. ibid, 35) được bắt nguồn ở ngoài bản thân chúng ta nhưng lại gặp nhau ở bên trong, như là sự thật, sự mỹ và sự thiện. Tự do là những gì tìm kiếm mục đích: nó cần phải có niềm xác tín. Tự do chân thực là những gì bao gồm việc tìm kiếm chân lý – tìm kiếm sự thiện đích thực – và vì thế đạt được tầm vóc viên trọn của mình chính ở nơi việc biết và làm những gì là đúng đắn và chính đáng. Nói cách khác, sự thật là qui chuẩn hướng dẫn cho tự do, và sự thiện là tầm mức toàn hảo của tự do. Aristote đã định nghĩa sự thiện như là “những gì được tất cả mọi sự nhắm tới”, và tiếp tục nêu lên rằng “cho dù đối với một người đích điểm này đáng chiếm lấy, nhưng đối với một quốc gia hay những quốc đô thì việc chiếm đạt nó vẫn là những gì tốt đẹp hơn và thần thiêng hơn” (Nicomachean Ethics, 1; cf. Caritas in Veritate, 2). Thật vậy, trách nhiệm cao quí trong việc khơi dậy khả năng chấp nhận sự thật và sự thiện thuộc về tất cả mọi vị lãnh đạo – tôn giáo, chính trị và văn hóa, tùy theo cách thức của mỗi người. Chúng ta cần phải cùng nhau liên kết trong cuộc tranh đấu cho tự do và việc tìm kiếm chân lý là những gì cùng nhau sánh bước hay cùng nhau bị tiêu vong một cách thê thảm (cf. Fides et Ratio, 90).
Đối với thành phần Kitô hữu thì sự thật có một danh xưng đó là Thiên Chúa. Và sự thiện có một diện mạo đó là Chúa Giêsu Kitô. Đức tin của Kitô hữu, từ thời các Thánh Cyril và Methodius và các vị thừa sai ban đầu, thực sự đã đóng một vai trò quyết liệt trong việc hình thành gia sản thiêng liêng và văn hóa của xứ sở này. Nó cũng cần phải làm như thế trong hiện tại và tương lai nữa. Cái gia sản phong phú về các giá trị thiêng liêng và văn hóa, mỗi thứ được thể hiện nơi nhau, chẳng những đã giúp vào việc hình thành căn tính của quốc gia này mà còn cung cấp cho nó một nhãn quan cần thiết để thực hiện vai trò liên kết ở ngay tại tâm điểm của Âu Châu. Qua các thế kỷ, lãnh thổ này đã từng là tụ điểm giữa các dân tộc khác nhau, truyền thống khác nhau và văn hóa khác nhau. Như tất cả chúng ta đều biết, nó đã trải qua những trang sử đau thương và mang những dấu vết của các biến cố thảm thương gây ra bởi hiểu lầm, chiến tranh và bách hại. Tuy nhiên, cũng đúng nữa, đó là những gốc rễ Kitô giáo của nó đã nuôi dưỡng một tinh thần đặc biệt của sự thứ tha, hòa giải và hợp tác là những gì đã giúp cho nhân dân của đất nước này có thể tìm thấy tự do và mở ra một khởi điểm mới, một tổng hợp mới, một niềm hy vọng mới. Tinh thần này không phải là chính những gì Âu Châu hiện đại đang cần hay sao?
Âu Châu còn hơn là một châu lục nữa. Nó là một ngôi nhà! Và tự do tìm thấy ý nghĩa sâu xa của nó nơi một quê hương thiêng liêng. Hoàn toàn tôn trọng cái khác biệt giữa lãnh giới chính trị và lãnh giới tôn giáo – một lãnh giới thực sự bảo trì quyền tự do của người công dân trong việc bày tỏ niềm tin tôn giáo và sống theo niềm tin này – tôi muốn nhấn mạnh tới vai trò bất khả thay thế của Kitô giáo đối với việc hình thành lương tâm của từng thế hệ và việc cổ võ một thứ đồng tâm nhất trí về đạo lý căn bản giúp ích cho hết mọi người nhận châu lục này là “nhà”! Trong tinh thần này, tôi ghi nhận tiếng nói của những ai hôm nay đây, ở khắp xứ sở này và châu lục đây, tìm cách áp dụng đức tin của mình một cách tôn trọng nhưng quyết liệt ở lãnh vực công chúng, mong thấy các tiêu chuẩn và những chính sách xã hội được truyền đạt bởi ước muốn sống theo sự thật giải phóng hết mọi người (cf. Caritas in Veritate, 9).
Việc trung thành với nhân dân được anh chị em phục vụ và làm đại diện đòi anh chị em trung thành với một sự thật là bảo đảm duy nhất cho tự do và việc phát triển toàn vẹn con người (cf. ibid., 9). Việc can đảm nói lên sự thật thực sự giúp cho tất cả mọi phần tử trong xã hội, ở chỗ chiếu sáng cho con đường tiến bộ của nhân loại, nêu lên những nền tảng về đạo lý và luân lý của nó, và bảo đảm là chính sách dân sự được xuất phát từ kho tàng khôn ngoan của con người. Không bao giờ được che lấp đi nhậy cảm tính đối với sự thật phổ quát bởi những lợi lộc riêng biệt, dù chúng quan trọng mấy chăng nữa, vì như thế chỉ dẫn tới những trường hợp mới của tình trạng phân mảnh hay kỳ thị xã hội là những gì được những nhóm tỏ ra hết sức quan tâm và vận động muốn thắng vượt. Thật thế, việc theo đuổi chân lý chẳng những không đe dọa tới việc chấp nhận những khác biệt hay tính chất đa văn hóa mà còn làm cho vấn đề đồng tâm nhất trí trở thành khả dĩ, giúp cho cuộc tranh luận chung được hợp lý, chân thực và khả tín, cũng như bảo đảm mối hiệp nhất mà những quan niệm mập mờ về vấn đề hòa nhập không thể nào với tới. Tôi tin rằng các phần tử thuộc cộng đồng Công giáo – cùng với những phần tử của những Giáo Hội khác, các cộng đồng giáo hội và các tônh giáo khác – theo chiều hướng của truyền thống Giáo Hội về lòng yêu thương trần thế, tri thức và thiêng liêng, sẽ tiếp tục theo đuổi các mục đích của việc phát triển có được một thứ giá trị nhân bản và nhân bản hóa ở cả quốc gia này lẫn ở bên ngoài nó (cf. ibid., 9).
Các bạn thân mến, sự hiện diện của chúng ta ở thủ đô tráng lệ này, một thủ đô thường được nói như là tâm điểm của Âu Châu, khiến chúng ta đặt vấn đề “tâm điểm” này là ở chỗ nào. Dù không có câu trả lời giản dị nào cho vấn đề ấy, chúng ta chắc hẳn cũng thấy được cái đầu mối của nó ở nơi những thứ trang sức về kiến trúc tô điểm cho thành phố này. Vẻ đẹp thu hút nơi những thánh đường của nó, những lâu đài thành quách của nó, những công viên quảng trường của nó và những cây cầu nhịp nối của nó đều lôi kéo tâm trí chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Vẻ đẹp của chúng là những gì bày tỏ niềm tin; chúng là những thứ hiển linh của Thiên Chúa, những gì thực sự khiến chúng ta ngẫm nghĩ về những kỳ công vinh hiển được thành phần tạo vật chúng ta tỏ ra khao khát, khi chúng ta bày tỏ con người sâu thẳm của chúng ta ra trước những chiều kích mỹ lệ và minh tuệ. Thê thảm biết bao nếu người ta thấy được những thứ mỹ lệ như thế, mà lại bỏ qua mầu nhiệm siêu việt chúng chất chứa. Cuộc gặp gỡ sáng tạo của truyền thống cổ điển và Phúc Âm đã làm xuất phát một nhãn quan về con người và về xã hội chú trọng tới việc Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta. Trong việc hình thành gia sản về văn hóa của châu lục này cần phải nhấn mạnh là lý trí không kết thúc với những gì mắt thấy mà còn được lôi kéo tới những gì trổi vượt, những gì chúng ta sâu xa mong ước khát khao, chúng ta có thể nói, đó là Thần Linh của Việc Sáng Tạo.
Ở giao điểm hiện tại của nền văn minh, một nền văn minh rất thường được đánh dấu bằng một thứ tách biệt xáo trộn về mối hiệp nhất của sự thiện, sự thật và sự mỹ, cùng với cái khó khăn bởi đó mà ra trong việc tìm được một chấp nhận cho những thứ giá trị chung, thì hết mọi nỗ lực cho việc tiến bộ của con người cần phải lấy cảm hứng từ cái gia sản sống động này. Âu Châu, trung thành với những cội gốc Kitô giáo của mình, có một ơn gọi đặc biệt trong việc đề cao nhãn quan siêu việt này nơi những khởi động của mình để mang lại công ích cho cá nhân, cộng đồng và các quốc gia. Một vấn đề đặc biệt quan trọng đó là việc khẩn trương đào luyện thành phần Âu Châu trẻ trung biết tôn trọng và nuôi dưỡng khả năng Trời ban của họ để họ vượt lên trên chính những giới hạn đôi khi được cho đánh bẫy chúng. Trong các môn thể thao, các thứ nghệ thuật sáng tạo và việc theo đuổi học vấn, giới trẻ đón nhận cơ hội trong việc trổi vượt. Cũng không đúng hay sao một khi họ được cho thấy những lý tưởng cao cả họ sẽ khát vọng nhân đức luân lý và một đời sống thương cảm và thiện hảo? Tôi thiết tha khuyến khích thành phần cha mẹ và lãnh đạo cộng đồng có thẩm quyền hãy cổ võ những thứ giá trị hòa hợp những chiều kích tri thức, nhân bản và thiêng liêng của một nền giáo dục lành mạnh xứng với những khát vọng nơi giới trẻ của chúng ta.
“Veritas vincit”. Đây là khẩu hiệu nơi lá cờ của Tổng Thống Cộng Hòa Tiệp Khắc: Cuối cùng chân lý mới là cái chiến thắng chứ không phải bằng võ lực, mà là bằng thuyết phục, bằng chứng từ anh hùng của những con người nam nữ sống theo nguyên tắc vững vàng, bằng việc chân thành đối thoại vượt ra ngoài tư lợi tới những đòi hỏi của công ích. Niềm khát khao sự thật, sự mỹ và sự thiện này, một niềm khát khao được Thiên Chúa gieo trồng nơi tất cả mọi con người nam nữ, là những gì nhắm đến chỗ lôi kéo con người lại với nhau trong việc tìm cầu công lý, tự do và hòa bình. Lịch sử đã mạnh mẽ chứng tỏ rằng sự thật có thể bị phản bội và mạo dụng cho cnhững ý hệ sai lạc, cho việc đàn áp và bất công. Thế nhưng, những thách đố mà gia đình nhân loại đang đối diện không kêu gọi chúng ta hãy phóng tầm nhìn của chúng ta vượt ra ngoài những thứ nguy hiểm này hay sao? Vì cuối cùng, còn gì phi nhân hơn và hủy hoại hơn là cái tính chất yếm thế chối bỏ sự cao cả của việc chúng ta tìm cầu chân lý, và hơn là thứ chủ nghĩa tương đối làm tiêu hao đi chính những giá trị phấn khích việc xây dựng một thế giới hiệp nhất và huynh đệ? Trái lại, chúng ta cần phải tái thích ứng niềm tin tưởng vào tính chất cao sang và bao rộng của tinh thần con người nơi khả năng của nó trong việc nắm bắt chân lý, và hãy để cho niềm tin tưởng này hướng dẫn chúng ta trong việc nhẫn nại làm chính trị và ngoại giao.
Thưa Quí Bà và Quí Ông, với những cảm thức này, tôi gửi đến những lời chúc nguyện tốt đẹp để việc phục vụ của quí vị được tác động và nâng đỡ bởi ánh sáng của sự thật là phản ảnh Đức Khôn Ngoan vĩnh hằng của Thiên Chúa Hóa Công. Tôi thân ái cầu xin muôn vàn ân phúc thần linh xuống trên quí vị và gia đình của quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
“Anh chị em quá rõ là thậm chí cho đến ngày hôm nay vẫn không dễ gì sống và làm chứng cho Phúc Âm”.
Với Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ, Chủng Sinh và Các Phong Trào Giáo Dân trong Giờ Kinh Tối Thứ Bảy 26/9/2009 tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Vitus, Wenceslaus và Adelbert ở Prague.
Anh Chị Em thân mến,
(lời chào hỏi chung mở đầu tới các thành phần hiện diện)
Chúng ta qui tụ lại vào tối hôm nay ở một nơi thân thương với anh chị em, một nơi là dấu hiệu hữu hình cho thấy quyền năng của ân sủng thần linh nơi cõi lòng của các tín hữu. Vẻ đẹp của ngôi thánh đường ngàn năm này thực sự là một chứng từ sống động về lịch sử đức tin và truyền thống Kitô giáo phong phú của nhân dân anh chị em: một lịch sử được sáng soi đặc biệt bởi lòng trung thành của những con người đã niêm ấn việc gắn bó của mình với Chúa Kitô cũng như với Giáo Hội bằng máu tử đạo. Tôi đang nghĩ đến Thánh Wenceslaus, Thánh Adalbert và Thánh John Nepomuk, những mấu chốt nơi lịch sử Giáo Hội của anh chị em, những vị chúng ta có thể thêm vào với cả tấm gương của vị Thánh Vitus trẻ trung, vị đã chọn cái chết tử đạo hơn là phản bội Chúa Kitô, cùng với những tấm gương của vị Thánh đan sĩ Procopius và Thánh Ludmila. Ở thế kỷ 20, tôi nhớ lại những cảm nghiệm xẩy ra cho hai vị Tổng Giám Mục ở Giáo Hội địa phương này, đó là các vị Hồng Y Josef Beran và František Tomášek, cũng như của nhiều vị Giám Mục, linh mục và tu sĩ nam nữ cùng giáo dân, thành phần đã chống lại cuộc bách hại của Cộng sản bằng lòng can trường uy dũng, thậm chí hy sinh mạng sống mình. Những người bạn can trường này của Chúa Kitô đã tìm thấy sức mạnh của họ ở đâu nếu không phải từ Phúc Âm? Thật vậy, họ được thu hút bởi Chúa Giêsu là Đấng đã phán: “Ai muốn theo Thày thì phải bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo Thày” (Mt 16:24). Trong giây phút thử thách, họ đã nghe thấy lời khác của Chúa Giêsu vang dội trong họ rằng: “Nếu họ bắt bớ Thày thì họ cũng sẽ bách hại các con” (Jn 15:20).
Lòng anh hùng của những chứng nhân cho đức tin này nhắc nhở chúng ta rằng chỉ nhờ mối thân tình riêng tư và mối liên hệ sâu xa với Chúa Kitô mới có thể kín múc được sức sống thiêng liêng cần thiết để sống ơn gọi Kitô giáo cho trọn vẹn. Chỉ duy tình yêu của Chúa Kitô mới có thể làm công hiệu việc tông đồ, nhất là trong những lúc khó khăn và thử thách. Tình yêu đối với Chúa Kitô cũng như đối với những con người nam nữ đồng loại của mình cần phải là tiêu chuẩn của hết mọi Kitô hữu và hết mọi cộng đồng. Trong Sách Tông Vụ, chúng ta đọc thấy rằng “cộng đồng những người tin tưởng chỉ có một lòng trí” (4:32). Ông Tertullian, một văn sĩ thời Giáo Hội sơ khai, đã nhận định rằng những người ngoại đạo cảm phục trước tình yêu thương liên kết các Kitô hữu lại với nhau (cf. Apologeticum XXXIX). Anh chị em thân mến, hãy noi gương bắt chước Vị Thày thần linh là Đấng “đã đến không phải để được hầu hạ mà là để phục vụ và hiến mạng sống mình cho nhiều người” (Mk 10:45). Chớ gì tình yêu chiếu tỏa nơi từng giáo xứ và cộng đồng của anh chị em, cũng như nơi các hiệp hội và phong trào khác nhau. Theo hình ảnh được Thánh Phaolô sử dụng, chớ gì Giáo Hội của anh chị em là một thân mình được cấu trúc vững chắc với Chúa là Đầu, trong đó hết mọi phần tử tác hành một cách hòa hợp với toàn thể. Hãy nuôi dưỡng tình yêu của anh chị em đối với Chúa Kitô bằng nguyện cầu và lắng nghe lời của Người; hãy nuôi dưỡng bởi Người nơi Thánh Thể, và nhờ ân sủng của Người, hãy trở thành những kiến thiêt viên hiệp nhất và hòa bình ở bất cứ nơi nào anh chị em hiện diện.
Hai mươi năm trước đây, sau mùa đông dài của chế độ Cộng sản độc tài chuyên chế, các cộng đồng Kitô hữu của anh chị em một lần nữa bắt đầu được tự do bày tỏ nhân dân của anh chị em lấy lại được quyền tự do của mình, nhờ những biến cố được bùng nổ bởi cuộc biểu dương của sinh viên ngày 17/11/1989. Tuy nhiên, anh chị em quá rõ là thậm chí cho đến ngày hôm nay vẫn không dễ gì sống và làm chứng cho Phúc Âm. Xã hội tiếp tục chịu đựng từ những vết thương gây ra bởi ý hệ vô thần, và nó thường bị lôi cuốn bởi tâm thức tân tiến của chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc giữa một cuộc khủng hoảng nguy hiểm về các thứ giá trị nhân bản và tôn giáo cùng với một chuyển hướng gia tăng theo chủ nghĩa tương đối về đạo lý và văn hóa. Trong bối cảnh này rất cần phải có một nỗ lực mới khắp Giáo Hội để củng cố những giá trị thiêng liêng và luân lý trong xã hội ngày nay. Tôi biết rằng các cộng đồng của anh chị em đã chủ động dấn thân vào một số việc tiên phong, nhất là nơio hoạt động bác ái, được thực hiện dưới sự bảo trợ của tổ chứ cCaritas. Hoạt động mục vụ của anh chị em nơi lãnh vực giáo dục các thế hệ mới cần phải được thực hiện bằng một nhiệt tình mới. Các học đường Công giáo phải nuôi dưỡng lòng tôn trọng con người; phải chú trọng tới việc chăm sóc mục vụ cho giới trẻ ở ngoài môi trường học đường, nhưng vẫn không bỏ bê các nhóm tín hữu khác. Chúa Kitô được giành cho hết mọi người! Tôi thành thực hy vọng rằng sẽ có được một mối hòa hợp hơn nữa với các tổ chức khác, cả công cộng lẫn tư nhân. Bao giờ cũng đáng lập lại rằng Giáo Hội không tìm kiếm đặc ân mà chỉ làm sao để có thể được tư do phục vụ tất cả mọi người theo tinh thần Phúc Âm.
Anh chị em thân mến, xin Chúa theo lòng nhân lành của Người làm cho anh chị em nên như muối được nói đến trong Phúc Âm, một thứ muối cống hiến mùi vị cho sự sống, nhờ đó anh chị em có thể là những người thợ trung thành trong vườn nhỏ của Chúa. (ĐTC sau đó ngỏ lời kêu gọi từng thành phần tham dự bấy giờ).
Anh Chị Em thân mến, với lòng biết ơn Chúa, chung ta sẽ đánh dấu một số số những cuộc mừng kỷ niệm trong năm nay: 280 năm phong thánh cho Thánh John Nepomuk, 80 năm cung hiến Vương Cung Thánh Đường Thánh Vitus, và 20 năm phong thánh cho Thánh Agnes ở Bohemia, một biến cố báo trước cuộc giải phóng quê hương của anh chị em khỏi cuộc đàn áp của chủ nghĩa vô thần. Tất cả những cuộc mừng kỷ niệm này là những lý do tốt đẹp cho việc kiên trì theo đuổi cuộc hành trình đức tin một cách hân hoan và nhiệt thành, dựa vào lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, cùng tất cả các vị Thánh Quan Thày của anh chị em. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Bài Giảng Thánh Lễ Chúa Nhật 27/9/2009 tại Tuřany Airport, Brno (Video)
Anh Chị Em thân mến,
“Hãy đến với Tôi tất cả những ai cảm thấy cực nhọc và mệt mỏi, Tôi sẽ bồi dưỡng cho các người” (Mt 11:28). Chúa Giêsu mời mỗi người môn đệ của mình hãy bỏ giờ ra sống với Người, để tìm niềm ủi an, nâng đỡ và canh tân trong Người. Lời mời gọi này được ngỏ một cách đặc biệt với cộng đồng phụng vụ của chúng ta đây, một cộng đồng, theo lý tưởng trong giáo hội, qui tụ toàn thể Giáo Hội địa phương của anh chị em với Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. (ĐTC ngỏ lời chào các thành phần hiện diện).
Các bạn thân mến, về tính chất của cộng đồng phụng vụ hôm nay, tôi hân hoan ủng hộ quyết định được vị Giám Mục của anh chị em đề cập trong việc đọc các bài Thánh Kinh cho Thánh Lễ theo đề tài hy vọng: Tôi ủng hộ nó khi quan tâm tới nhân dân của mảnh đất yêu dấu này cũng như đến Âu Châu và toàn thể nhân loại, đang thực sự khao khát một cái gì đó làm nền tảng cho một tương lai vững chắc. Trong bức Thông Điệp thứ hai của tôi là Niềm Hy Vọng Cứu Độ, tôi đã nhấn mạnh rằng niềm hy vọng “chắc chắn” và “khả tín” duy nhất (cf, khoản 1) là niềm hy vọng được dựa vào Thiên Chúa. Lịch sử đã chứng thực những cái ngu xuẩn làm cho con người bại hoại khi họ loại trừ Thiên Chúa ra khỏi chân trời của những gì họ chọn lựa và tác hành, và khó khăn biết bao trong việc xây dựng một xã hội được tác động bởi những giá trị của sự thiện hảo, công lý và tình huynh đệ, vì nhân loại là loài có tự do và quyền tự do của họ lại là những gì mong manh mỏng dòn. Quyền tự do là những gì liên lỉ được chiếm đoạt vì lý tưởng thiện hảo, và việc thiết tha tìm kiếm “đường ngay nẻo chính để thi hành các sự vụ của con người” là việc thuộc về tất cả mọi thế hệ (cf ibid,24-25). Các bạn thân mến, đó là lý do tại sao lý do trước hết của chúng ta ở đây đó là lắng nghe, lắng nghe một lời cho chúng ta thấy đường lối dẫn tới niềm hy vọng; thật vậy, chúng ta đang lắng nghe lời duy nhất có thể cống hiến cho chúng ta niềm hy vọng vững chắc, vì đó là lời của Thiên Chúa.
Trong bài đọc thứ nhất (Is 61:1-3a), vị Tiên Tri nói như là một người mang sứ mệnh loan báo cuộc giải phóng, niềm an ủi và hân hoan cho tất cả những ai đau khổ và nghèo khổ. Chúa Giêsu chấp nhận đoạn sách này và áp dụng vào bản thân Người liên quan tới việc rao giảng của Người. Thật vậy, Người đã minh nhiên nói rằng lời hứa được vị tiên tri nói tới đã được nên trọn nơi Người (cf Lk 4:16-21). Nó hoàn toàn được nên trọn khi Người giải thoát chúng ta khỏi cảnh làm tôi cho vị kỷ và sự dữ, cho tội lỗi và sự chết, bằng cái chết trên thập giá và sống lại từ trong kẻ chết. Và đó là sứ điệp của ơn cứu độ, cũ kỹ nhưng hằng mới mẻ, được Giáo Hội loan báo từ đời nọ đến đời kia: Chúa Kitô tử giá và phục sinh là Niềm Hy Vọng của nhân loại!
Lời cứu độ này vẫn còn mạnh mẽ vang dội hôm nay đây, nơi cộng đồng phụng vụ của chúng ta đây. Chúa Giêsu ưu ái tự ngỏ lời với anh chị em là những người con trai con gái của mảnh đất yêu dấu này, một mảnh đất chất chứa hạt giống Phúc Âm được gieo vãi hơn cả ngàn năm. Xứ sở của anh chị em, như các quốc gia khác, đang trải qua những điều kiện về văn hóa thường trở thành một thách đố gay go đối với đức tin và vì thế với cả niềm hy vọng nữa. Thật vậy, trong một thời đại tân tiến này thì cả đức tin lẫn đức cậy đều từng phải chịu đựng một cuộc “đổi dời”, vì chúng đã bị đẩy vào một xó thuộc lãnh vực riêng tư và thế giới khác, trong khi đó trong sinh hoạt hằng ngày, chỉ có niềm tin tưởng vào mức tiến bộ về khoa học và kinh tế là được chấp nhận thôi (cf. Spe Salvi, 17). Tất cả chúng ta đều biết rằng thứ tiến bộ này là những gì mập mờ bấp bênh: nó hướng tới những tiềm năng cho cả thiện lẫn ác. Những thứ phát triển về kỹ thuật và việc cải tiến về các cơ cấu xã hội là những gì quan trọng và chắc chắn cần thiết, thế nhưng chúng vẫn không đủ để bảo đảm tình trạng phúc hạnh về luân lý của xã hội (cf. Ibid. 24). Con người cần được giải thoát khỏi những đàn áp của vật chất, thế nhưng sâu xa hơn, họ cần phải được cứu cho khỏi những sự dữ chi phối tinh thần. Và ai có thể cứu họ ngoài Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu và đã mạc khải dung nhan của Ngài như Cha toàn năng và nhân hậu nơi Chúa Giêsu Kitô? Niềm hy vọng vững vàng của chúng ta do đó là Chúa Kitô: trong Người, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta cho tới tận cùng và đã ban cho chúng ta sự sống dồi dào (cf. Jn 10:10), một sự sống mà hết mọi người, cho dù không biết tới, đều mong mỏi chiếm hữu.
“Hãy đến với Thày, tất cả những ai cảm thấy cực nhọc và mệt mỏi, Tôi sẽ bồi dưỡng cho các người”. Những lời này của Chúa Giêsu, được viết bằng những chữ lớn bên trên cổng vào Vương Cung Thánh Đường ở Brno này, giờ đây Người cũng ngỏ cùng mỗi một người chúng ta, rồi Người còn nói thêm rằng: “Hãy học cùng Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, thì linh hồn các người sẽ cảm thấy thảnh thơi” (Mt 11:29-30). Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng lạnh lùng trước tình yêu thương của Người? Ở đây, cũng như ở các nơi khác, nhiều người đã phải chịu đựng trong các thế kỷ qua vì muốn trung thành với Phúc Âm, và họ không bị mất đi niềm hy vọng; nhiều người đã hy sinh bản thân mình để phục hồi phẩm giá cho con người và tự do cho các dân tộc, khi tìm thấy nơi việc quảng đại gắn bó với Chúa Kitô sức mạnh để xây dựng một nhân loại mới. Trong xã hội ngày nay, nhiều hình thức nghèo khổ xuất phát từ tình trạng cô lập, từ tình trạng bị hất hủi, từ việc loại trừ Thiên Chúa và việc thu mình hết sức khép kín một cách thê thảm nơi con người là thành phần tin vào tình trạng cho rằng tự mình đầy đủ, hay chỉ là một dữ kiện tầm thường nhất thời; trong thế giới này của chúng ta là thế giới đang trở nên xa lạ “khi đặt quá nhiều tin tưởng vào nguyên những dự án của con người” (Thông Điệp Yêu Thương Trong Sự Thật, 53) thì chỉ có một mình Chúa Kitô mới là niềm hy vọng vững chắc của chúng ta mà thôi. Đó là sứ điệp mà Kitô hữu chúng ta được kêu gọi để truyền bá hằng ngày bằng chứng từ của chúng ta.
(ĐTC kêu gọi từng thành phần dân Chúa sống đạo theo ơn gọi của họ trong việc nơi gương bắt chước các vị tháng của đất nước họ). Chớ gì anh chị em luôn được đồng hành và chở che bởi Đức Mẹ, Mẹ Chúa Kitô là Niềm Hy Vọng của chúng ta. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
“Cần phải phục hồi ý nghĩ về một nền giáo dục toàn vẹn, dựa trên mối hiệp nhất của kiến thức bắt nguồn từ chân lý”.
Với Các Phần Tử thuộc Cộng Đồng Hàn Lâm Chúa Nhật 27/9/2009 tại Vladislav Hall in the Prague Castle
Cùng Ngài Tổng Thống,
Chư Tôn Vị Viện Trưởng và Giáo Sư,
Qúi Sinh Viên và Các Bạn,
Cuộc họp của chúng ta vào tối hôm nay cống hiến cho tôi một cơ hội tiếp đón để bày tỏ niềm quí trọng của tôi đối với vai trò bất khả thiếu trong xã hội của các đại học đường và các tổ chức cao học. Tôi cám ơn người sinh viên đã ân cần chào mừng tôi thay cho anh chị em, cám ơn những phần tử trong ca đoàn đại học về việc trình diễn hay ho của họ, và vị tôn Viện Trưởng của Đại Học Charles là Giáo Sư Václav Hampl, về lời bày tỏ ý nghĩa của ông. Việc phục vụ của những ngành hàn lâm, bằng việc phát động và đóng góp cho những giá trị về văn hóa và thiêng liêng của xã hội, làm phong phú gia sản tri thức của quốc gia và củng cố những nền tảng cho việc phát triển mai này của quốc gia. Những thay đổi lớn lao quét ngang qua xã hội Tiệp Khắc 20 năm trước đây đã xẩy ra mau chóng là do bởi không phải là ít các phong trào cải cách xuất phát từ đại học đường và môi trường sinh viên. Việc tìm cầu tự do ấy vẫn tiếp tục hướng dẫn công việc của các vị học giả mà việc phục vụ – diakonia cho sự thật của họ là những gì bất khả thiếu cho tình trạng phúc hạnh của bất cứ quốc gia nào.
Tôi ngỏ lời cùng anh chị em như là một người đã từng là một giáo sư, quan tâm đến quyền tự do của hàn lâm và trách nhiệm đối với việc đích đáng sử dụng lý trí, và giờ đây là một Giáo Hoàng, trong vai trò là Mục Tử, vị được nhìn nhận như là một tiếng nói cho lý lẽ về đạo lý của nhân loại. Nếu có một số người lập luận rằng những vấn đề được nêu lên bởi tôn giáo, đức tin và đạo lý là những gì không có chỗ đứng trong phạm vi hiệu lực của lý trí tập thể, thì quan điểm này không thể nào tự nó là đúng. Quyền tự do là những gì làm cơ sở cho việc hành sử lý trí – cả ở đại học đường hay trong Giáo Hội – đều có một mục đích, ở chỗ, nó qui hướng về việc theo đuổi sự thật, và vì thế đã cho thấy đại học đường thực sự được xuất phát từ chủ trương của Kitô giáo. Quả thực niềm khao khát của con người muốn hiểu biết đã thúc đẩy hết mọi thế hệ nới rộng quan niệm của lý trí và uống ở các nguồn mạch đức tin. Chính cái gia sản khôn ngoan cổ điển phong phú này, được thấm nhuần và mang ra phục vụ Phúc Âm, mà những vị thừa sai Kitô giáo đầu tiên đã mang tới những mảnh đất này và thiết lập như là nền tảng cho một mối hiệp nhất về thiêng liêng và văn hóa là những gì còn kéo dài cho tới ngày nay. Cũng với tinh thần này đã dẫn vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Clement VI thiết lập Đại Học Đường Charles nổi tiếng vào năm 1347, một đại học tiếp tục thực hiện việc đóng góp quan trọng vào phạm vi hàn lâm, tôn giáo và văn hóa của chung Âu Châu.
Quyền tự lập thich đáng của một đại học đường, hay thực sự của bất cứ cơ cấu giáo dục nào, tìm thấy ý nghĩa của mình nơi tính cách khả tín của nó đối với thẩm quyền của chân lý. Tuy nhiên, quyền tự lập ấy có thể bị trở ngại ở những cách thức khác nhau. Truyền thống đạo luyện cao cả, hướng tới siêu việt thể là những gì là nền tảng cho các đại học đường khắp Âu Châu, ở đất nước này, cũng như các nơi khác, đã bị lật đổ một cách có phương pháp bởi ý hệ suy giảm của chủ nghĩa duy vật, bởi việc kiềm chế tôn giáo cũng như bởi việc đàn áp tinh thần con người. Tuy nhiên, vào năm 1989, thế giới đã chứng kiến thấy xẩy ra một cách thê thảm tình trạng sụp đổ của một thứ ý hệ chuyên chế bị thảm bại và cuộc chiến thắng của tinh thần con người. Nỗi khát vọng tự do và chân lý là yếu tố bất khá tách rời của chung nhân loại chúng ta. Nó không bao giờ có thể bị loại trừ; và, như lịch sử cho thấy, nó bị chối bỏ ở ngay nơi chính cái hiểm họa của nhân loại. Niềm tin tôn giáo, các thứ nghệ thuật khác nhau, triết lý, thần học và các ngành khoa học khác, theo phương pháp riêng của mình, cả về lãnh vực suy tư theo khuôn phép lẫn lãnh vực của một thứ tập tục lành mạnh, đã tìm cách đáp ứng chính niềm khát vọng này.
Tôn Vị Viện Trưởng và Giáo Sư, cùng với việc nghiên cứu của quí vị, còn một khía cạnh thiết yếu hơn nữa trong sứ vụ của đại học đường liên quan tới quí vị, đó là trách nhiệm soi sáng tâm trí của những con người trẻ nam nữ ngày nay. Nhiệm vụ nặng nề này dĩ nhiên không phải là những gì mới mẻ. Từ thời của Plato, vấn đề giáo dục không phải chỉ là việc gia tăng tích lũy kiến thức hay khả năng, mà còn là paideia, tức việc huấn luyện con người bằng những kho tàng của một truyền thống tri thức hướng tới một đời sống đạo hạnh. Dù các đại học đường lớn xuất hiện khắp Âu Châu trong thời trung cổ tin tưởng nhắm đến lý tưởng của một tổng hợp tất cả mọi kiến thức, bao giờ nó cũng phục vụ cái humanitas chân thực, cái trọn hảo của cá nhân trong mối hiệp nhất của một xã hội thứ tự lớp lang. Ngày nay cũng thế, một khi kiến thức về tầm vóc toàn vẹn và mối hiệp nhất của sự thật nơi con người trẻ được thức tỉnh, họ cảm thấy thích thú khám phá thấy rằng vấn đề về những gì họ có thể biết được đều hướng tới cuộc phiêu lưu rộng lớn liên quan tới cách thức họ phải là và những gì họ phải làm.
Cần phải phục hồi ý nghĩ về một nền giáo dục toàn vẹn, dựa trên mối hiệp nhất của kiến thức bắt nguồn từ chân lý. Nó giúp đối đầu với khuynh hướng, hết sức hiển nhiên trong xã hội đương đại, hướng tới một thứ phân mảnh về kiến thức. Theo đà gia tăng ào ạt về tín liệu và kỹ thuật còn có khuynh hướng tách rời lý trí ra khỏi việc theo đuổi sự thật. Tuy nhiên, bị tách khỏi chiều hướng nền tảng của con người đối với sự thật, lý trí bắt đầu trở nên lạc hướng, ở chỗ, nó tàn tạ đi, một là dưới bộ mặt hòa nhã, thỏa mãn với những gì chỉ là từng phần hay nhất thời, hai là dưới chiêu bài ăn chắc, nhấn mạnh tới việc chiều theo những đòi hỏi của những ai bừa bãi gán ghép cho hết mọi sự một thứ giá trị ngang nhau trong thực hành. Hậu quả kèm theo là một thứ chủ nghĩa tương đối với lớp ngụy trang dầy đặc có thể ẩn nấp bên trong những thứ đe dọa mới cho quyền tự lập của các cơ cấu hàn lâm. Cho dù giai đoạn chi phối của chủ nghĩa chuyên chế độc tài về chính trị đã qua đi, không phải hay sao đang xẩy ra trường hợp là thường xuyên trên khắp thế giới việc hành sử lý trí và nghiên cứu hàn lâm – một cách tinh quái hay không quá tinh quái – bị cúi mình trước những áp lực của những nhóm chủ trương ý hệ cũng như trước cái hấp dẫn của những mục đích thiết thực hay thực dụng ngắn hạn? Những gì sẽ xẩy ra nếu nền văn hóa của chúng ta xây dựng mình chỉ trên những lập luận thời trang, ít qui chiếu về truyền thống tri thức lịch sử, hay trên những quan điểm được ầm ĩ phát động nhất và được tài trợ nhiều nhất? Những gì sẽ xẩy ra nếu trong mối lo âu của mình trong việc kiên trì với một thứ chủ nghĩa trần thế triệt để, nền văn hóa của chúng ta tách khỏi những cội rễ ban sự sống của nó? Các xã hội của chúng ta sẽ chẳng những không trở thành hợp lý hơn hay nhân nhượng hơn hoặc đáp ứng hơn, trái lại, chúng sẽ trở nên dòn mỏng hơn và ít toàn bộ hơn, và chúng sẽ càng ngày càng gặp khó khăn trong việc nhận thức những gì là chân thực, cao quí và thiện hảo.
Các bạn thân mến, tôi muốn khuyến khích các bạn trong tất cả những gì các bạn làm để đáp ứng lý tưởng và lòng quảng đại của giới trẻ ngày nay, chẳng những bằng những chương trình học hỏi để giúp họ vươn lên, mà còn bằng một cảm nghiệm về những lý tưởng chung và về việc tương trợ trong công việc khổ công học hỏi. Những khả năng phân tích và những khả năng cần để có được một giả thuyết, cộng với nghệ thuật khôn ngoan nhận thức, là những gì cống hiến một thứ giải độc hiệu nghiệm cho những thái độ mải mê với chính bản thân mình, tách rời và thậm chí xa lạ là những gì đôi khi xẩy ra trong những xã hội thịnh vượng của chúng ta, và là những gì đặc biệt có thể ảnh hưởng tới giới trẻ. Theo chiều hướng của một thứ nhãn quan nhân bản trổi vượt về sứ vụ của đại học đường ấy, tôi muốn vắn tắt đề cập tới việc sửa chữa của tình trạng chia lìa giữa khoa học và tôn giáo, một tình trạng đã là mối quan tâm chính yếu của vị tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Như các bạn biết, ngài cổ võ một kiến thức trọn vẹn hơn về mối liên hệ giữa đức tin và lý trí như là hai cánh giúp cho tinh thần con người nâng lên chiêm ngưỡng chân lý (cf. Fides et Ratio, Nhập Đề). Cái này nâng đỡ cái kia và mỗi bên đều có lãnh vực hoạt động tiêng (cf ibid, 17), tuy nhiên, vẫn có những người muốn tách cái này khỏi cái kia. Những đề xuất có tính chất thực chứng loại trừ thần linh ra khỏi tính chất phổ quan của lý trí này chẳng những phủ nhận những gì là một trong những xác tín sâu xa nhất của thành phần tín hữu đạo hạnh, họ còn cản trở chính cuộc đối thoại của các nền văn hóa được chính họ đề ra. Một thứ kiến thức về lý trí điếc lác với thần linh và đẩy tôn giáo vào lãnh giới của hạ tầng văn hóa, là những gì không thể nào tiến vào cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa mà thế giới của chúng ta hiện rất ư là cần đến. Tận cùng thì “trung thành với con người đòi phải trung thành với chân lý là những gì duy nhất bảo đảm cho tự do” (Caritas in Veritate, 9). Niềm tin tưởng vào khả năng của con người trong việc tìm kiếm chân lý, trong việc tìm thấy chân lý và trong việc sống theo chân lý là những gì nền tảng cho các đại học đường lớn của Âu Châu. Chắc chắn ngày nay chúng ta cần phải tái khẳng định điều này để mang lại sự can trường cho các lực lượng tri thức cần thiết đối với việc phát triển một tương lai nẩy nở nhân bản đích thực, một tương lai thực sự xứng với con người.
Với những chia sẻ này, các bạn thân mến, tôi muốn gửi tới các bạn những nguyện chúc tốt đẹp của tôi về công việc gay go của các bạn. Tôi cầu xin để công việc của các bạn luôn được soi động và hướng dẫn bởi một đức khôn ngoan nhân bản thực sự tìm kiếm thứ chân lý giải phóng chúng ta (Jn 8:28). Tôi xin phúc lành hân hoan và bình an của Thiên Chúa xuống trên các bạn và gia đình của các bạn.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
“Kitô hữu buộc phải liên kết với những ngưồi khác trong việc nhắc nhở Âu Châu về những cội gốc của nó”
Với Cuộc Gặp Gỡ Đại Kết Chúa Nhật 27/9/2009 ở Throne Hall of the Archbishop's House of Prague
Chư Vị Hồng Y thân mến
Các Vị Giám Mục,
Anh Chị Em trong Chúa Kitô,
Tôi xin tạ ơn Thiên Chúa Toàn Năng đã cho tôi có cơ hội để gặp gỡ anh chị em là thành phần hiện diện nơi đây đại diện cho các cộng đồng Kitô hữu khác nhau ở đất nước này. Tôi cám ơn Tiến Sĩ Černý, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Kết Chư Giáo Hội ở Cộng Hòa Tiệp Khắc, về những lời lẽ đón tiếp tốt đẹp ngỏ cùng tôi thay cho anh chị em.
Các bạn thân mến, Âu Châu tiếp tục trải qua nhiều thay đổi. Khó có thể tin rằng chỉ mới có hai thập niên qua đi từ cuộc sụp đổ của các chế độ trước đây đã mở lối cho một cuộc chuyển tiếp khó khăn nhưng hiệu quả hướng tới những cấu trúc chính trị có tính cách tham dự nhiều hơn. Trong giai đoạn này, các Kitô hữu cùng nhau liên kết với những người thiện chí khác trong việc giúp tái thiết một trật tự chính trị chân chính, và ngày nay họ tiếp tục dấn thân vào cuộïc đối thoại để mở những con đường mới hướng tới việc hiểu biết nhau, cộng tác với nhau cho hòa bình và thăng tiến của công ích.
Tuy nhiên, những cố gắng trong việc cho ra rìa ảnh hưởng của Kitô giáo trên đời sống quần chúng – đôi khi dưới chiêu bài là những giáo huấn của Kitô giáo là những gì thiệt hại cho tình trạng phúc hạnh của xã hội – đang xuất hiện những hình thức mới. Hiện tượng này khiến chúng ta dừng lại để suy nghĩ. Như tôi đã đề nghị trong bức Thông Điệp của tôi về niềm hy vọng Kitô giáo, việc tách biệt Phúc Âm ra khỏi đời sống tri thức và công cộng cần phải thúc đẩy chúng ta dấn thân vào một cuộc hỗ tương “tự kiểm về tính chất tân tiến” và “tự kiểm về Kitô giáo tân tiến”, nhất là liên quan tới niềm hy vọng được mỗi vế hy vọng cống hiến cho nhân loại (cf. Spe Salvi, 22). Chúng ta có thể tự hỏi mình rằng Phúc Âm cần phải nói gì với Cộng Hòa Tiệp Khắc và thật sự là với toàn thể Âu Châu ngày nay trong một giai đoạn được đánh dấu bằng việc nẩy nở nhanh chóng các quan điểm về thế giới?
Kitô giáo cần phải cống hiến nhiều về phương diện thực hành và đạo lý, vì Phúc Âm không bao giờ thôi tác động con người nam nữ đặt mình vào việc phục vụ anh chị em mình. Một ít người sẽ cự lại điều này, tuy nhiên, những ai gắn mắt vào Chúa Giêsu Nazarét bằng ánh mắt đức tin đều biết rằng Thiên Chúa cống hiến một thực tại sâu xa hơn nhưng vẫn không tách rời khỏi “công cuộc” của đức ái đang hoạt động trong thế giới này (cf. Caritas in Veritate, 2): Người cống hiến ơn cứu độ.
Chữ này chất chứa đầy những ý nghĩa, tuy nhiên nó bày tỏ một cái gì đó nồng cốt và phổ quát về lòng khát vọng của con người muốn được phúc hạnh và viên trọn. Nó ám chỉ một ước muốn thiết tha được hòa giải và hiệp thông tự động bộ