BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Bí Tích Thứ Hai Phục Vụ Mối Hiệp Thông

(các số 1601-1679)



CẢM NGHIỆM NHÂN SINH


Không phải trào lưu “pro choice” (pḥ chọn lựa), trào lưu phản lại pro life (pḥ sự sống), chỉ có trong vấn đề phá thai, một vấn đề được chính thức hợp thức hóa từ thập niên 1970, (như tại Hoa Kỳ vào năm 1973), mà c̣n xẩy ra cả trong vấn đề ly dị nữa, một vấn đề đă được hợp thức hóa từ thập niên 1960, (như tại Nữu Ước vào năm 1966). Trào lưu pro choice trong vấn đề ly dị đó là, như ư thức hệ của con người văn minh tân tiến theo khoa học và kỹ thuật chủ trương, nếu tôi có quyền chọn lựa người vợ hay người chồng của tôi và cho tôi, th́ tôi cũng có quyền bỏ họ một khi tôi cảm thấy không c̣n hợp với tôi nữa, nghĩa là tôi có quyền chọn lựa người bạn đường cho tới khi hoàn toàn vừa ư mới thôi. Đó là lư do có những nơi luật pháp đă cho phép ly dị đơn phương, chỉ cần một người muốn là đủ và chỉ cần không hợp nhau là xong, chứ không cần phải cả hai đồng ư như lúc lấy nhau và không cần phải v́ một bên đă ngoại t́nh (xem Mt 19:9).

Trong một xă hội đang bị phá sản khủng khiếp cái kho tàng văn hóa nhân bản đích thực như thế, ở chỗ, con người coi hôn nhân như một thứ tṛ chơi chứ không phải là một ơn gọi, và v́ thế cũng đă coi con cái như một món đồ chơi chứ không phải là một tặng ân, là “ánh sáng thế gian” (Mt 5:14), “Giáo Hội trong thế giới tân tiến” (nhan đề của hiến chế mục vụ về Giáo Hội của Công Đồng Chung Vaticanô II) đă thực sự tỏ ra “rạng ngời chân lư” (nhan đề của bức thông điệp của ĐTC Gioan Phaolô II về Luân Lư của Giáo Hội) trước bóng tối mịt mùng của bầu trời “văn hóa tử vong” này, rạng ngời điển h́nh nhất nơi Hội Nghị về Dân Số ở Cairô Ai Cập (9/1994) và Hội Nghị về Nữ Giới ở Bắc Kinh Trung Cộng (9/1995). Thật thế, căn cứ vào Mạc Khải Thần Linh, Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo bao giờ cũng chủ trương tính cách “bất khả phân ly” của hôn nhân (GL số 1614, 1643-1644), bởi v́: “Giao ước hôn nhân thiết lập mối tương giao trọn đời giữa hai người nam nữ, tự bản chất của ḿnh, hướng đến thiện ích của đôi phối ngẫu và đến việc sinh sản cùng giáo dục con cái; giao ước này giữa hai người lănh nhận phép rửa đă được Chúa Kitô nâng lên phẩm vị của một bí tích” (GL số 1601). Vậy:

1. Hôn nhân theo ư định của Thiên Chúa như thế nào?
2. Bí tích hôn nhân được cử hành ra sao và có những công hiệu nào?

 



KIẾN THỨC ĐỨC TIN


1. HÔN NHÂN THEO Ư ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA NHƯ THẾ NÀO?

Theo Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, hôn nhân theo ư định của Thiên Chúa được thể hiện nơi việc tạo thành, rồi bị ảnh hưởng của tội lỗi, sau đó chịu chi phối bởi lề luật Cựu Ước, sau hết được kiện toàn trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội.

Được thể hiện nơi việc tạo thành:

• “... Ơn gọi hôn nhân được viết lên ở nơi chính bản tính của con người nam nữ khi họ xuất hiện từ bàn tay của Đấng Tạo Thành. Hôn nhân không phải là một cơ cấu thuần nhân loại... Mặc dù giá trị của cơ cấu này không được sáng tỏ như nhau ở mọi nơi mọi chốn, ư nghĩa về tính cách cao cả của mối hiệp nhất hôn nhân vẫn được thấy hiện diện nơi tất cả mọi nền văn hóa...”. (số 1603)

• “Thiên Chúa, Đấng đă v́ yêu thương dựng nên con người cũng kêu gọi họ yêu thương – một ơn gọi căn bản và bẩm sinh của hết mọi người. V́ con người được dựng nên theo h́nh ảnh và tương tự Thiên Chúa là chính t́nh yêu (x Gen 1:27; 1Jn 4:8, 16). Bởi Thiên Chúa đă dựng nên con người có nam có nữ, t́nh họ yêu thương nhau trở nên h́nh ảnh của t́nh yêu tuyệt đối tín trung Thiên Chúa đă yêu thương con người... T́nh yêu được Thiên Chúa chúc phúc này là để sinh hoa kết trái và thể hiện trong công cuộc trông coi thiên nhiên tạo vật (x Gen 1:28, x. 1:31)”.(số 1604)

• “Thánh Kinh xác nhận là con người nam nữ được dựng nên là để sống cho nhau: ‘Con người sống một ḿnh không tốt’ (Gen 2:18). Người nữ, ‘thịt bởi thịt của con người’, tức là liên hệ của con người, là tương đẳng của con người, là thân cận nhất của con người trong tất cả mọi sự, được Thiên Chúa ban cho con người như một ‘trợ hữu’; thế nên người nữ mới là tiêu biểu cho Thiên Chúa, Đấng nhờ Ngài chúng ta được trợ giúp (x Gen 2:18-25). ‘Bởi vậy, người nam ĺa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ ḿnh và họ trở nên một xác thịt’ (Gen 2:24). Chính Chúa Kitô cho thấy sự kiện này nói lên mối hiệp nhất bất khả phân ly nơi đời sống của họ, bằng việc gợi lại những ǵ Đấng Tạo Thành đă ấn định ‘từ ban đầu’: ‘Vậy họ không c̣n là hai song là một xác thịt’ (Mt 19:6)”. (số 1605)

Bị ảnh hưởng của tội lỗi:

• “Hết mọi người đều cảm thấy sự dữ ở chung quanh ḿnh cũng như ở trong chính bản thân ḿnh. Cảm nghiệm này cũng xẩy ra nơi cả các mối liên hệ giữa người nam và người nữ. Mối hiệp nhất của họ luôn luôn bị đe dọa bởi nỗi bất ḥa, bởi tinh thần thống trị, bởi ḷng bất trung, ghen tương, cùng với những xung khắc đưa đến hận thù và phân tán...” (số 1606)

• “Theo đức tin, t́nh trạng lệch lạc chúng ta nhận thấy hết sức đau thương này không phát xuất từ bản tính của con người nam nữ hay từ bản chất của việc họ liên hệ với nhau mà là từ tội lỗi. V́ tách khỏi Thiên Chúa, nguyên tội đă gây ra hậu quả trước tiên là cảnh đổ vỡ nơi mối hiệp thông nguyên thủy giữa người nam và người nữ. Những liên hệ của họ bị méo mó bởi những ǵ họ cáo buộc lẫn nhau (x Gen 3:12); tính chất hấp dẫn nhau, tặng ân riêng được Tạo Hóa ban cho, bị biến thành mối liên hệ chiếm đoạt và nhục dục (x Gen 2:22, 3:16b); và ơn gọi tuyệt vời của con người nam nữ trong việc sinh sôi nẩy nở và làm chủ trái đất bị đè nén bởi cảnh mang nặng đẻ đau và làm việc khổ cực (x Gen 1:28, 3:16-19)”. (số 1607)

Chịu chi phối bởi lề luật Cựu Ước:

• “... Trong Cựu Ước việc đa thê của các tổ phụ và vua chúa chưa được minh nhiên loại bỏ. Tuy nhiên, lề luật ban bố qua Moisen vẫn có mục đích bảo vệ người vợ khỏi bị người chồng độc tài đè nén, mặc dù, theo lời Chúa Kitô, nó vẫn c̣n những dấu vết cho thấy ‘ḷng cứng cỏi’ của con người khiến Moisen cho phép nam nhân ly dị vợ ḿnh (x Mt 19:8; Deut 24:1)”. (số 1610)

• “Khi thấy được việc Thiên Chúa giao ước với Yến Duyên nơi h́nh ảnh của một t́nh yêu phu thê duy nhất và tín trung, các vị tiên tri đă sửa dọn cho lương tri của Dân Tuyển Chọn một kiến thức sâu xa hơn về mối hiệp nhất và bất khả phân ly của hôn nhân (x Hos 1-3; Is 54, 62; Jer 2-3, 31; Ezek 16, 23; Mal 2:13-17). Sách Bà Rút và Ông Tobia đă cho thấy một cách cảm kích ư nghĩa cao cả của hôn nhân cũng như cho thấy ḷng trung thành và tha thiết của vợ chồng. Truyền thống luôn luôn nh́n thấy nơi cuốn Diễm T́nh Ca của Sôlômôn một diễn đạt độc đáo của t́nh yêu nhân loại, phản ảnh trung thực của t́nh yêu Thiên Chúa – một t́nh yêu ‘mạnh như sự chết’ đến nỗi ‘các gịng nước cũng không thể dập tắt được’ (Song 8:6-7)”. (số 1611)

Được kiện toàn trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội:

• “Giao ước phu thê giữa Thiên Chúa và Yến Duyên dân Ngài đă dọn đường cho giao ước mới vĩnh viễn là giao ước Con Thiên Chúa, bằng việc hóa thành nhục thể và hiến mạng sống ḿnh, đă hiệp nhất chính bản thân ḿnh một cách nào đó với toàn thể nhân loại được Người cứu độ, nhờ đó sửa soạn cho ‘lễ cưới của Con Chiên’ (Rev 19:7, 9; x hiến chế Gaudium et Spes, 22)”. (số 1612)

• “Mở màn cho cuộc sống công khai của ḿnh, Chúa Giêsu đă làm phép lạ đầu tiên tại một bữa tiệc cưới theo lời yêu cầu của Mẹ ḿnh (x Jn 2:1-11). Giáo Hội đă gán cho việc Chúa Giêsu hiện diện ở tiệc cưới Cana một tầm mức hết sức quan trọng. Giáo Hội thấy đó là việc xác nhận tính cách thiện hảo của hôn nhân và đó cũng là việc cho thấy hôn nhân trở thành một dấu hiệu thực sự của việc Chúa Kitô hiện diện”. (số 1613)

• “... Khi đến để phục hồi lại trật tự nguyên thủy của tạo vật đă bị tội lỗi làm lũng đoạn, chính Chúa Kitô ban sức mạnh và ân sủng để sống hôn nhân theo một chiều kích mới mẻ của Triều Đại Thiên Chúa. Chính nhờ theo gương Chúa Kitô, trong việc từ bỏ chính ḿnh và vác thập giá ḿnh, mà vợ chồng mới có thể ‘hưởng được’ ư nghĩa nguyên thủy của hôn nhân và sống ư nghĩa này theo ơn trợ giúp của Chúa Kitô (x Mt 19:11). Ơn sống hôn nhân Kitô giáo này là hoa trái của thập giá Chúa Kitô, nguồn mạch của tất cả đời sống Kitô hữu”. (số 1615)

• “Đó là những ǵ Thánh Tông Đồ Phaolô đă làm sáng tỏ khi ngài viết: ‘Hỡi các người chồng, hăy yêu thương vợ ḿnh, như Chúa Kitô đă yêu thương Giáo Hội và hiến ḿnh cho Giáo Hội, để Người có thể thánh hóa Giáo Hội’, liền đó ngài thêm: ‘V́ lư do này người nam ĺa bỏ cha mẹ ḿnh mà gắn bó với vợ và cả hai sẽ nên một. Đây là một mầu nhiệm cao cả mà theo tôi có liên quan đến Chúa Kitô và Giáo Hội”. (số 1616)

• “Toàn thể đời sống Kitô hữu đều mang dấu vết yêu thương phu thê giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Ngay nơi Phép Rửa, cửa ngỏ gia nhập Dân Chúa, đă là một mầu nhiệm phu thê rồi; nói được rằng nó là bể tắm phu thê diễn tiến trước tiệc cưới Thánh Thể. Về phần ḿnh, hôn nhân Kitô giáo trở thành một dấu hiệu thực sự, một bí tích của giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. V́ biểu hiệu và thông ban ân sủng mà hôn nhân giữa các người đă được rửa tội thực sự là một bí tích của Tân Ước (x DS 1800; Giáo Luật khoản 1055.2)”. (số 1617)


2. BÍ TÍCH HÔN NHÂN ĐƯỢC CỬ HÀNH RA SAO VÀ CÓ NHỮNG CÔNG HIỆU NÀO?

Theo Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, bí tích Hôn Nhân thường được cử hành trong Thánh Lễ (x GL số 1621) và đôi tân hôn chẳng những phải tham dự khóa dự bị hôn nhân (GL số 1632) mà c̣n phải được dọn ḷng xứng đáng bằng bí tích Ḥa Giải (x GL số 1622), v́ đôi tân hôn, theo Giáo Hội Latinh, chính là thừa tác viên ban bí tích Hôn Nhân cho nhau qua việc họ nói lên ḷng ưng thuận lấy nhau trước sự chứng kiến của Giáo Hội (x GL số 1623). Bởi thế, để bí tích Hôn Nhân thành hiệu, việc đôi tân hôn tỏ ḷng ưng thuận lấy nhau là “yếu tố không thể thiếu để làm nên hôn nhân” (GL số 1626), v́ nó liên quan đến tính cách bất khả phân ly của giao ước hôn nhân, một giao ước được sống động, tồn tại và kiện toàn bởi ơn bí tích Hôn Nhân.

Việc đôi tân hôn tỏ ḷng ưng thuận lấy nhau:

• “’Tự do’ nghĩa là không bị ép buộc; không bị ngăn trở bởi bất cứ luật tự nhiên hay luật giáo hội nào” (số 1625). “Việc đôàng ư lấy nhau hệ tại ‘tác động con người được đôi bạn tỏ ra muốn hiến thân cho nhau’, ở chỗ, ‘Anh nhận em làm vợ’ – ‘Em nhận anh làm chồng’ (Hiến Chế Gaudium et Spes 48.1; Nghi Thức Hôn Phối 45; x Giáo Luật khoản 1057.2). Việc đồng ư lấy nhau liên kết đôi phối ngẫu lại với nhau này được nên trọn nơi việc hai người ‘trở nên một xác thịt’ (Gen 2:24; x Mk 10:8; Eph 5:31)” (số 1627). “Việc ưng thuận lấy nhau phải là một tác động của ư muốn nơi mỗi người kết hôn, không bị áp lực hay lo sợ trầm trọng bề ngoài chi phối (x Giáo Luật khoản 1103). Không một quyền lực nhân loại nào có thể thay thế cho việc ưng thuận lấy nhau này (x Giáo Luật khoản 1057.1). Nếu không có tự do th́ hôn nhân bất thành”. (số 1628).

• “Linh mục (hay phó tế), vị giúp vào việc cử hành hôn nhân, nhân danh Giáo Hội thừa nhận việc ưng thuận lấy nhau của đôi phối ngẫu và ban phép lành của Giáo Hội cho họ. Việc hiện diện của vị thừa tác viên Giáo Hội (cũng như của các người làm chứng) nói lên một cách tỏ tường sự kiện hôn nhân là một thực tại của Giáo Hội” (số 1630). “Đó là lư do tại sao Giáo Hội thường buộc tín hữu thành hôn theo thể thức của Giáo Hội...” (số 1631).

• “Theo qui luật hiện hành của Giáo Hội Latinh, để hợp lệ, một cuộc hôn nhân hỗn hợp cần phải được phép rơ ràng của thẩm quyền giáo hội (x Giáo Luật khoản 1124). Trong trường hợp bất đồng về đạo giáo cần phải được chuẩn chước rơ ràng cho khỏi ngăn trở này để hôn nhân được hiệu thành (Giáo Luật khoản 1086). Việc cho phép và chuẩn chước này đ̣i cả hai bên kết hôn với nhau phải thừa nhận và không được loại trừ các mục đích chính yếu và đặc tính của hôn nhân, cùng với những bó buộc cần có nơi thành phần Công Giáo liên quan đến việc rửa tội và giáo dục con cái theo Giáo Hội Công Giáo (Giáo Luật khoản 1125)”. (số 1635)

Tính cách bất khả phân ly của giao ước hôn nhân:

• “’Một cuộc hôn nhân hiệu thành làm phát sinh mối ràng buộc giữa đôi phối ngẫu, một mối ràng buộc vĩnh viễn và dứt khoát theo bản chất của nó; hơn nữa, nơi hôn nhân Kitô giáo, đôi phối ngẫu c̣n được kiên cường và thực sự được thánh hiến để thi hành những nhiệm vụ và phẩm vị của bậc ḿnh bằng một bí tích đặc biệt nữa’ (x Giáo Luật khoản 1134)”. (số 1638)

• “Việc đôi tân hôn tỏ ra ưng thuận hiến thân cho nhau và chấp nhận lẫn nhau được chính Thiên Chúa đóng ấn (x Mk 10:9). Giao ước của họ đă tạo nên ‘một cơ cấu, được xác nhận bởi lề luật thần linh, ... ngay cả bởi xă hội nữa’ (Hiến Chế Gaudium et Spes, 48.1). Giao ước giữa hai người phối ngẫu được ḥa hợp với giao ước giữa Thiên Chúa và con người: ‘T́nh yêu hôn nhân chân chính được đưa đến t́nh yêu thần linh’ (cùng hiến chế vừa dẫn, 48.2)”. (số 1639)

• “Như thế, mối ràng buộc hôn nhân đă được chính Thiên Chúa thiết lập, đến nỗi, một cuộc hôn nhân đă hoàn tất và kết thúc giữa hai người lănh nhận phép rửa không bao giờ có thể bị tiêu hủy. Mối ràng buộc do tác động tự do của con người phối ngẫu cũng như bởi việc hôn nhân thành tựu của họ này là một thực tại nên không thể văn hồi, đồng thời cũng làm phát sinh một giao ước được bảo đảm bởi ḷng trung thành của Thiên Chúa. Giáo Hội không có quyền ǵ trong việc đi ngược lại với việc sắp xếp của đức khôn ngoan thần linh này (x Giáo Luật khoản 1141)”. (số 1640)

• “’V́ hoàn cảnh sống và bậc sống của ḿnh, (vợ chồng Kitô hữu) nhận được những tặng ân riêng biệt nơi Dân Chúa’ (Hiến Chế Lumen Gentium, 11.2). Ân sủng xứng hợp với bí tích Hôn Nhân này là để kiện toàn t́nh yêu phu thê và kiên cường sự hiệp nhất bất khả đứt đoạn của họ. Nhờ ân sủng ấy, họ ‘giúp nhau đạt tới sự thánh thiện trong đời sống hôn nhân cũng như trong việc đón nhận và giáo dục con cái của ḿnh’ (Hiến Chế Lumen Gentium, 11.2, x cùng hiến chế khoản 41)”. (số 1641)


TÓM LẠI:


Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo cho thấy hôn nhân theo ư định của Thiên Chúa được thể hiện nơi việc tạo thành (GL số 1603-1605), rồi bị ảnh hưởng của tội lỗi (GL số 1606-1607), sau đó chịu chi phối bởi lề luật Cựu Ước (GL số 1610-1611), sau hết được kiện toàn trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội (GL số 1612-1613, 1615-1617). Theo Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, bí tích Hôn Nhân thường được cử hành trong Thánh Lễ (x GL số 1621) và đôi tân hôn chẳng những phải tham dự khóa dự bị hôn nhân (x GL số 1632) mà c̣n phải được dọn ḷng xứng đáng bằng bí tích Ḥa Giải (x GL số 1622), v́ đôi tân hôn, theo Giáo Hội Latinh, chính là thừa tác viên ban bí tích Hôn Nhân cho nhau qua việc họ nói lên ḷng ưng thuận lấy nhau trước sự chứng kiến của Giáo Hội (x GL số 1623). Bởi thế, để bí tích Hôn Nhân thành hiệu, việc đôi tân hôn tỏ ḷng ưng thuận lấy nhau (x GL số 1625, 1627-1628) là “yếu tố không thể thiếu để làm nên hôn nhân” (x GL số 1626), v́ nó liên quan đến tính cách bất khả phân ly của giao ước hôn nhân (x GL số 1638-1640), một giao ước được sống động, tồn tại và kiện toàn bởi ơn bí tích Hôn Nhân (x GL số 1641).



THÂM TÍN SỐNG ĐẠO


1. “’T́nh yêu phu thê bao gồm tất cả toàn thể yếu tố làm nên con người, cần đến cả xác thân và bản năng, khả năng cảm nhận và t́nh tứ, khát vọng tâm linh và ư muốn. Nó nhắm đến mối hiệp nhất sâu xa của bản vị, một mối hiệp nhất vượt trên cả mối hiệp nhất làm nên một xác thịt để tiến đến việc làm nên một tâm trí và một linh hồn; nó đ̣i phải có tính cách bất khả phân ly và cần đến ḷng trung thành dứt khoát hiến thân cho nhau; và nó hướng về việc sinh sản…’(Tông Huấn Familiaris Consortio về Gia Đ́nh, 13)”. (số 1643)

2. “Tự bản chất của ḿnh, t́nh yêu phu thê đ̣i phải có ḷng trung thành triệt để của hai vợ chồng. Đây là kết quả của việc họ trao tặng bản thân ḿnh cho nhau. T́nh yêu cần phải dứt khoát; nó không thể nào lại là một cuộc sắp xếp ‘cho tới khi báo lại’. Việc ‘hiệp nhất thân t́nh của hôn nhân, ở chỗ hai người trao ban cho nhau cũng như ở lợi ích của con cái, đ̣i hai vợ chồng phải hoàn toàn trung thành và liên lỉ hiệp nhất với nhau’ (Hiến Chế Gaudium et Spes, 48.1)” (số 1646). “Lư do sâu xa nhất của vấn đề này được t́m thấy nơi ḷng trung thành của Thiên Chúa đối với những ǵ Ngài giao ước cũng như nơi ḷng trung thành của Chúa Kitô đối với Giáo Hội Người. Bởi bí tích Hôn Phối, hai vợ chồng được trở nên biểu hiệu cho ḷng trung thành này và làm chứng nhân cho ḷng trung thành ấy. Nhờ bí tích này, việc bất hóa giải của hôn nhân có một ư nghĩa mới mẻ và sâu xa hơn” (số 1647).

3. “Tuy nhiên, trong một số trường hợp, v́ lư do nào đó, thực tế cho thấy vợ chồng không thể nào sống chung với nhau được. Trong những trường hợp như vậy, Giáo Hội cho phép vợ chồng ly thân với nhau và sống riêng rẽ. Đôi phối ngẫu vẫn không thôi là vợ chồng trước nhan Thiên Chúa và v́ thế không được tự do tiến đến việc thành hôn khác. Trong hoàn cảnh khó khăn này, nếu có thể th́ việc giải quyết hay nhất đó là làm ḥa với nhau…” (số 1649)

4. “Ngày nay có đông người Công Giáo ở nhiều xứ sở đem nhau ra ṭa đời ly dị và lập hôn ước mới. Trung thành với những lời của Chúa Kitô – ‘Ai ly dị vợ ḿnh mà kết hôn với người khác th́ đối với vợ là phạm tội ngoại t́nh; và nếu vợ ly dị chồng ḿnh mà cưới người khác cũng phạm tội ngoại t́nh’ (Mk 10:11-12) - Giáo Hội xác nhận là hôn ước mới không thành hiệu nếu cuộc hôn nhân đầu vẫn c̣n hiệu lực. Trường hợp người ly dị tái hôn theo ṭa đời là họ, theo khách quan, ở trong t́nh trạng đi ngược lại với lề luật của Thiên Chúa. Do đó, họ không được Rước Lễ bao lâu c̣n ở trong t́nh trạng này. V́ vài lư do, họ không được thi hành một số phần nhiệm của giáo hội. Việc ḥa giải nơi bí tích Thống Hối chỉ ban cho những ai hối lỗi v́ đă vi phạm đến dấu hiệu của giao ước cũng như của ḷng trung thành đối với Chúa Kitô, và những ai dứt khoát sống hoàn toàn tự chế”. (số 1650)

5. “Tự bản chất của ḿnh, cơ cấu của hôn nhân cũng như của t́nh yêu hôn nhân hướng về việc truyền sinh cùng việc giáo dục con cái, và chính ở nơi những việc này mà cơ cấu ấy được rạng ngời vinh quang’ (Hiến Chế Gaudium et Spes 48.1, 50)” (số 1652). “Hoa trái của t́nh yêu phu thê bao gồm cả hoa trái của đời sống luân lư, tâm linh và siêu nhiên được cha mẹ truyền đạt lại cho con cái của ḿnh bằng việc giáo dục. Cha mẹ là những nhà giáo dục chính yếu và đầu tiên của con cái ḿnh (x Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo, 3). Theo ư hướng này th́ công việc căn bản của hôn nhân và gia đ́nh là để phục vụ cho sự sống (x Tông Huấn Familiaris Consortio, 28)” (số 1653)

6. “Trong thời đại của chúng ta đây, ở một thế giới thường xa lạ, thậm chí thù nghịch với đức tin, th́ những gia đ́nh tín hữu giữ một vai tṛ quan trọng cần thiết như là những trung tâm sống đức tin rạng ngời. V́ lư do này, bằng việc sử dụng cách diễn đạt xưa kia, Công Đồng Chung Vaticanô II đă gọi gia đ́nh là Giáo Hội tại gia (Hiến Chế Lumen Gentium, 11; x Tông Huấn Familiaris Consortio, 21). Cha mẹ ở giữa gia đ́nh là ‘những vị đầu tiên rao giảng tin mừng đức tin cho con cái ḿnh bằng lời nói cũng như bằng gương sáng. Họ phải khích lệ chúng theo ơn gọi xứng hợp với mỗi một đứa con, nhất là đặc biệt nâng đỡ ơn kêu gọi tu tŕ’ (Hiến Chế Lumen Gentium, 11)” (số 1656).

7. “Chính ở nơi đây mà người cha trong gia đ́nh, người mẹ, con cái và tất cả mọi phần tử của gia đ́nh thi hành thiên chức tư tế của một người đă lănh nhận phép rửa một cách đặc biệt, ‘bằng việc lănh nhận các bí tích, nguyện cầu và tạ ơn, bằng chứng từ của một đời sống thánh thiện, cũng như bằng việc bỏ ḿnh và hoạt động bác ái’ (Hiến Chế Lumen Gentium, 10). Như thế, gia đ́nh là học đường đầu tiên của đời sống Kitô Giáo và là ‘một học đường thăng tiến nhân bản‘ (Hiến Chế Gaudium et Spes, 52.1). Ỏ nơi đây, người ta học biết chịu đựng và vui thích làm việc, yêu thương huynh đệ, quảng đại thứ tha cho dù có phải lập đi lập lại nhiều lần, nhất là học biết tất cả những ǵ tôn thờ thần linh qua việc cầu nguyện và hiến dâng cuộc sống của ḿnh” (số 1657).

 

Trắc Nghiệm

Xin đọc bài Giáo Lư lược tóm tổng ôn dưới đây, rồi dùng các chữ ở cuối trang để điền vào những chỗ gạch trống các câu Sách Giáo Lư vừa học hỏi cho đúng nguyên văn ư nghĩa của nó. Trong ṿng 10 phút.

Qua bài Giáo Lư 27 về Bí Tích Hôn Phối, Giáo Hội Công Giáo đă cho con cái của ḿnh thấy những điểm chính sau đây: Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo cho thấy hôn nhân theo ư định của Thiên Chúa được thể hiện nơi việc tạo thành (GL số 1603-1605), rồi bị ảnh hưởng của tội lỗi (GL số 1606-1607), sau đó chịu chi phối bởi lề luật Cựu Ước (GL số 1610-1611), sau hết được kiện toàn trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội (GL số 1612-1613, 1615-1617). Theo Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, bí tích Hôn Nhân thường được cử hành trong Thánh Lễ (x GL số 1621) và đôi tân hôn chẳng những phải tham dự khóa dự bị hôn nhân (x GL số 1632) mà c̣n phải được dọn ḷng xứng đáng bằng bí tích Ḥa Giải (x GL số 1622), v́ đôi tân hôn, theo Giáo Hội Latinh, chính là thừa tác viên ban bí tích Hôn Nhân cho nhau qua việc họ nói lên ḷng ưng thuận lấy nhau trước sự chứng kiến của Giáo Hội (x GL số 1623). Bởi thế, để bí tích Hôn Nhân thành hiệu, việc đôi tân hôn tỏ ḷng ưng thuận lấy nhau (x GL số 1625, 1627-1628) là “yếu tố không thể thiếu để làm nên hôn nhân” (x GL số 1626), v́ nó liên quan đến tính cách bất khả phân ly của giao ước hôn nhân (x GL số 1638-1640), một giao ước được sống động, tồn tại và kiện toàn bởi ơn bí tích Hôn Nhân (x GL số 1641).

1. “... Ơn gọi hôn nhân được viết lên ở nơi chính __________ của con người nam nữ khi họ xuất hiện từ bàn tay của Đấng Tạo Thành. Hôn nhân không phải là một cơ cấu thuần __________... Mặc dù giá trị của cơ cấu này không được sáng tỏ như nhau ở mọi nơi mọi chốn, ư nghĩa về tính cách cao cả của mối hiệp nhất hôn nhân vẫn được thấy hiện diện nơi tất cả mọi _____________...”. (số 1603)
2. “Thiên Chúa, Đấng đă v́ yêu thương dựng nên con người cũng kêu gọi họ ___________ – một _________ căn bản và bẩm sinh của hết mọi người. V́ con người được dựng nên theo h́nh ảnh và tương tự Thiên Chúa là chính t́nh yêu. Bởi Thiên Chúa đă dựng nên con người có nam có nữ, t́nh họ yêu thương nhau trở nên __________ của t́nh yêu tuyệt đối tín trung Thiên Chúa đă yêu thương con người... T́nh yêu được Thiên Chúa chúc phúc này là để _______________ và thể hiện trong công cuộc trông coi thiên nhiên tạo vật”.(số 1604)
3. “V́ tách khỏi Thiên Chúa, nguyên tội đă gây ra hậu quả trước tiên là cảnh đổ vỡ nơi mối ___________________ giữa người nam và người nữ. Những liên hệ của họ bị méo mó bởi những ǵ họ _________ lẫn nhau; tính chất hấp dẫn nhau, tặng ân riêng được Tạo Hóa ban cho, bị biến thành mối liên hệ ___________ và nhục dục; và ơn gọi tuyệt vời của con người nam nữ trong việc _____________ và làm chủ trái đất bị đè nén bởi cảnh ______________ và làm việc khổ cực”. (số 1607)
4. “Toàn thể đời sống Kitô hữu đều mang dấu vết yêu thương phu thê giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Ngay nơi Phép Rửa, cửa ngỏ gia nhập Dân Chúa, đă là một mầu nhiệm __________ rồi; nói được rằng nó là bể tắm phu thê diễn tiến trước tiệc cưới Thánh Thể. Về phần ḿnh, hôn nhân Kitô giáo trở thành một dấu hiệu thực sự, một bí tích của giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. V́ biểu hiệu và thông ban ân sủng mà hôn nhân giữa các người đă được rửa tội thực sự là một ___________ của Tân Ước”. (số 1617)
5. “Như thế, mối ràng buộc hôn nhân đă được chính Thiên Chúa thiết lập, đến nỗi, một cuộc hôn nhân đă hoàn tất và kết thúc giữa hai người lănh nhận phép rửa không bao giờ có thể bị __________. Mối ràng buộc do tác động tự do của con người phối ngẫu cũng như bởi việc hôn nhân thành tựu của họ này là một thực tại nên không thể __________, đồng thời cũng làm phát sinh một giao ước được bảo đảm bởi ḷng trung thành của Thiên Chúa. Giáo Hội không có quyền ǵ trong việc ____________ với việc sắp xếp của đức khôn ngoan thần linh này”. (số 1640)

(đi ngược lại, bản tính, nhân loại, văn hồi, tiêu hủy, nền văn hóa, yêu thương, bí tích, phu thê, ơn gọi, h́nh ảnh, mang nặng đẻ đau, sinh sôi nẩy nở, sinh hoa kết trái, hiệp thông nguyên thủy, chiếm đoạt, cáo buộc)