Bài Giáo Lư số 2
KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI
TRONG VIỆC NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA
(các số 26-49)
CẢM NGHIỆM NHÂN SINH
Sống trong không gian và thời gian, con người “linh ư vạn vật”, vừa hữu h́nh lại
hữu hạn, luôn hướng về và t́m kiếm những ǵ vô h́nh và vô hạn. Điển h́nh nhất là
lúc con người gặp tai biến, sắp nguy hại đến tính mạng, mà lại hoàn toàn bó tay
bất lực sau khi đă tận lực để vượt thoát. Chẳng hạn như thiên tai bất ngờ xẩy ra
ngoài sức đề pḥng và chống chọi của họ, con người thường tin tưởng vào một
quyền lực cứu vớt nào đó, như cầu cùng thần mưa, thần gió, thần lửa v.v. Kể cả
khi tuyệt vọng, con người cũng vẫn tỏ ra tin tưởng vào số mạng, nghĩa là nếu tới
số th́ họ mới chết, bằng không họ sẽ không hề hấn ǵ, nhất là một khi đă ăn ngay
ở lành, th́ họ tin tưởng rằng “ở hiền gặp lành”, “cây ngay không sợ chết đứng”
v.v.
Như thế, con người vốn tin có một thế giới siêu h́nh, một quyền lực thần linh,
vượt trên thân phận bất toàn và bất lực của ḿnh. Thế nhưng, phải chăng tất cả
những ǵ con người duy tín (fidelism) ngày xưa tin tưởng đều hiện hữu và có
thật, hay ngược lại, tất cả những ǵ con người duy nghiệm (empiricism) hoặc duy
lư (rationalism) ngày nay phủ nhận đều không bao giờ có? Vậy căn cứ vào đâu để
biết được là ḿnh đúng?? Có một thực tại thần linh hay chăng, nếu có th́ phải
quan niệm thực tại ấy như thế nào??? Vậy Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo chủ
trương như thế nào đối với những vấn đề sau đây:
1. Con người là loài hữu h́nh và hữu hạn có khả năng nhận biết Thiên Chúa là
Thần Linh và là Đấng vô h́nh được chăng? Nếu có là v́ lư do ǵ và bởi những yếu
tố nào?
2. Nếu con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa th́ họ nhận biết Thiên Chúa
bằng cách nào?
3. Thế nhưng, theo lư luận và tâm lư tự nhiên, phải là ḿnh mới biết r được
chính ḿnh thế nào, vậy nếu con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa th́ phải
chăng họ cũng là chính Thiên Chúa? Mà nếu họ thực sự không phải là và không thể
nào là Thiên Chúa, th́ phải chăng thật ra họ không có khả năng nhận biết Thiên
Chúa, hay khả năng nhận biết Thiên Chúa của họ có giới hạn?
KIẾN THỨC ĐỨC TIN
1. CON NGƯỜI LÀ LOÀI HỮU H̀NH VÀ HỮU HẠN CÓ KHẢ NĂNG NHẬN
BIẾT THIÊN CHÚA LÀ THẦN LINH VÀ LÀ ĐẤNG VÔ H̀NH ĐƯỢC CHĂNG?
Như đă xác định ở bài giáo lư số 1, Kitô Giáo là đạo được mạc khải và do mạc
khải mà có. Bởi thế, tất cả những ǵ Kitô hữu tin tưởng và tuân giữ đều bởi
trời, nên không thể nào sai lầm, v́ không phải do trí tưởng tượng hay óc chủ
quan của con người vốn mang tính chất lầm lẫn mà ra. Và một trong những lư do để
xác tín mạc khải không sai lầm đó là, Chúa Kitô, tột đỉnh mạc khải và là tất cả
mạc khải của Thiên Chúa, là Đấng đă đến không phải để phá hủy lề luật và lời các
tiên tri, trái lại, Người làm cho chúng nên trọn (x.Mt.5:17). Tức là, mạc khải
hay Lời Chúa tỏ cho con người biết (về tín lư) và dạy con người sống (về luân
lư), nghĩa là về những thực tại và đường lối mà tự ḿnh con người không thể nghĩ
tới hay biết được, chẳng những không phản khắc hay hủy hoại nhân bản, (như phản
với lư trí và phạm đến hoặc làm suy hạ phẩm giá của con người), mà c̣n làm nhân
bản được kiện toàn và nên trọn hảo nữa.
Chẳng hạn, dựa vào quan sát và cảm nghiệm sống của ḿnh, con người cũng có thể
suy luận ra, (theo phương pháp qui nạp – reduction method), việc Thiên Chúa hiện
hữu như sau: nếu mọi sự không thể nào tự ḿnh mà có, th́ chắc chắn phải có một
nguyên ủy của tất cả mọi sự, tự ḿnh có và hằng có, đó là một Đấng Tối Cao, là
Thượng Đế, là Ông Trời, là Thiên Chúa; và nếu đă là nguồn gốc của tất cả mọi sự,
Đấng Tối Cao, Thượng Đế, Ông Trời, Thiên Chúa này không thể nào lại bất toàn và
bất lực như những ǵ phải được dựng nên mới có, trái lại, Ngài phải là một Đấng
Toàn Năng, làm được mọi sự, và là một Đấng Toàn Thiện, hoàn toàn, tuyệt đối trọn
hảo.
Căn cứ vào Mạc Khải trong Thánh Kinh của ḿnh, Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo cũng
công nhận con người có khả năng nhận ra Thiên Chúa hiện hữu; và lư do tại sao
hay yếu tố làm cho con người có khả năng nhận ra Thiên Chúa hiện hữu, cũng như
có thể chấp nhận mạc khải của Ngài, đă được Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo đă xác
nhận là nhờ trí khôn và ḷng muốn của họ, v́ họ được dựng nên theo h́nh ảnh
Thiên Chúa:
“’Giáo Hội, người mẹ thánh của chúng ta, tin tưởng và dạy rằng Thiên Chúa,
nguyên lư đệ nhất và là cùng đích của tất cả mọi sự, có thể được nhận biết một
cách chắc chắn từ thế giới tạo sinh bằng ánh sáng tự nhiên của lư trí con người’
(Công Đồng Chung Vaticanô I, Dei Filius 2: DS 3004; Công Đồng Chung Vaticanô II,
Dei Verbum 6). Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mạc khải của
Thiên Chúa. Con người có khả năng này là v́ họ được dựng nên ‘theo h́nh ảnh
Thiên Chúa’ (Gen.1:27)”. (số 36)
“Khát vọng Thiên Chúa được viết ở trong ḷng trí con người, v́ con người
đă được dựng nên bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa; và Thiên Chúa lúc nào cũng
lôi kéo con người đến với ḿnh. Con người sẽ chỉ gặp được chân lư và hạnh phúc
mà họ không ngừng t́m kiếm nơi một ḿnh Thiên Chúa mà thôi”. (số 27).
2. NẾU CON NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA TH̀ HỌ
NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA BẰNG CÁCH NÀO?
Theo Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, con người có thể căn cứ vào thế giới bên
ngoài là thiên nhiên tạo vật, cũng như vào thế giới bên trong là chính bản thân
ḿnh, để có thể nhận ra Thiên Chúa hiện hữu.
“Được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa và được kêu gọi để nhận biết và
yêu mến Ngài, con người đi t́m kiếm Thiên Chúa khám phá ra được những đường lối
để nhận biết Ngài. Những đường lối này cũng được gọi là những cách chứng minh về
việc hiện hữu của Thiên Chúa, không phải theo nghĩa chứng minh trong các khoa
học tự nhiên, mà là theo nghĩa ‘những lư luận am hợp và có sức thuyết phục’
(biệt chú của người biên soạn: chẳng hạn như định luật nhân quả) giúp chúng ta
đạt đến niềm xác tín về sự thật. Những ‘đường lối’ tiến đến với Thiên Chúa căn
cứ vào tạo vật như thế có một khởi điểm lưỡng diện từ cả thế giới vật chất cũng
như từ con người ta”. (số 31)
“Thế giới cũng như con người đều chứng tỏ cho thấy rằng tự ḿnh không phải
là nguyên lư đệ nhất hay cùng đích của chính ḿnh, mà chỉ tham dự vào chính sự
vô thủy vô chung là Sự Hữu thôi. Như thế, bằng nhiều cách khác nhau, con người
có thể nhận ra được rằng chỉ có một thực tại là nguyên lư đệ nhất và là cùng
đích của tất cả mọi sự, một thực tại mà mọi người gọi là ‘Thiên Chúa’ (St.
Thomas Aquinas, S th I,2,3)”. (số 34)
“Theo xu hướng t́m kiếm sự thật và sự mỹ, theo cảm thức của ḿnh về sự
thiện luân lư, theo niềm tự do và tiếng lương tâm nơi bản thân ḿnh, cùng với
những nỗi khát mong về ci đời đời và hạnh phúc, con người thắc mắc hỏi ḿnh về
việc hiện hữu của Thiên Chúa. Trong tất cả các điều ấy, con người thấy được nơi
ḿnh dấu hiệu của một linh hồn thiêng liêng. Là một ‘hạt giống trường sinh nơi
bản thân chúng ta, không thể giảm xuống thành một thứ vật chất thuần túy’
(Gaudium et Spes: 18.1; xem 14.2), linh hồn chỉ được bắt nguồn từ một ḿnh Thiên
Chúa mà thôi” (số 33).
3. TUY NHIÊN, THEO LƯ LUẬN VÀ TÂM LƯ TỰ NHIÊN, PHẢI LÀ
M̀NH MỚI BIẾT R ĐƯỢC CHÍNH M̀NH THẾ NÀO, VẬY NẾU CON NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT
THIÊN CHÚA TH̀ PHẢI CHĂNG HỌ CŨNG LÀ CHÍNH THIÊN CHÚA? MÀ NẾU HỌ THỰC SỰ KHÔNG
PHẢI LÀ VÀ KHÔNG THỂ NÀO LÀ THIÊN CHÚA, TH̀ PHẢI CHĂNG THẬT RA HỌ KHÔNG CÓ KHẢ
NĂNG NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA, HAY KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA CỦA HỌ CÓ GIỚI HẠN?
Thật vậy, theo Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo, dù con người có khả năng nhận ra
Thiên Chúa hiện hữu và có thể chấp nhận mạc khải của Ngài đi nữa, kiến thức của
con người về Thiên Chúa cũng chỉ là một kiến thức tương đối và lệ thuộc vào thứ
ngôn ngữ hạn hẹp của loài người mà thôi:
“V́ kiến thức của chúng ta về Thiên Chúa hạn hẹp, nên ngôn từ của chúng ta
về Thiên Chúa cũng bị giới hạn nữa. Chúng ta chỉ có thể xưng gọi Thiên Chúa bằng
cách căn cứ vào tạo vật, cũng như xưng gọi Thiên Chúa hợp với những kiểu cách
hiểu biết và suy tưởng hạn hẹp của nhân loại”. (số 40)
“Phải công nhận rằng, khi nói về Thiên Chúa như thế, ngôn ngữ của chúng ta
sử dụng các cách thức diễn đạt loài người; tuy nó thực sự là diễn đạt về Thiên
Chúa song vẫn không thể diễn đạt được tính chất vô cùng đơn thuần của Ngài. Cũng
thế, chúng ta phải nhớ rằng ‘không thể nào diễn đạt tương đồng giữa Tạo Hóa và
tạo vật mà không chứa đựng một bất đồng c̣n hơn thế nữa’ (Công Đồng Chung
Latêranô IV: DS 806); và phải nhớ rằng ‘đối với Thiên Chúa, chúng ta không thể
thấu hiểu được cái Ngài là, mà chỉ hiểu được cái Ngài không là, cũng như chỉ
hiểu được các hữu thể khác liên quan đến Ngài ra sao thôi’ (St. Thomas Aquinas,
SCG I, 30)”. (số 43)
Bởi thế, ở đây Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo chỉ công nhận con người có khả năng
nhận ra Thiên Chúa có mà thôi, c̣n khả năng nhận ra Thiên Chúa là, như Ngài biết
ḿnh Ngài để có thể sống sự sống của Ngài, th́ con người không thể nào có được,
ngoại trừ họ được chính Thiên Chúa vừa tỏ ḿnh ra cho họ biết bản thân Ngài lại
vừa ban ơn cho họ để họ có thể chấp nhận mạc khải của Ngài:
“Các khả năng của con người khiến họ có thể nhận ra việc hiện diện của một
Thiên Chúa cá thể. Thế nhưng, để con người có thể thực sự đi sâu vào mối thân
t́nh với Ngài, Thiên Chúa cần phải vừa mạc khải chính ḿnh ra cho con người vừa
ban cho họ ơn để họ có thể đón nhận mạc khải này bằng đức tin. Tuy nhiên, những
minh chứng về việc Thiên Chúa hiện hữu cũng dọn đường cho người ta tiến đến với
đức tin, và làm cho người ta thấy rằng đức tin không tương phản với lư trí. (số
35)
TÓM LẠI:
V́ được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa với một hồn thiêng, con người có khả
năng khao khát và nhận biết Thiên Chúa hiện hữu (xem SGL số 36), qua việc quan
sát thế giới bên ngoài cũng như nơi chính bản thân con người ḿnh (xem SGL số
31, 33, 34). Tuy nhiên, muốn biết được chính bản tính của Thiên Chúa, tức biết
được Ngài là ai và muốn ǵ, nghĩa là biết được mầu nhiệm về Thiên Chúa, Mầu
Nhiệm Thần Linh, con người cần phải được chính Ngài mạc khải ra cho và ban ơn
cho họ thấu hiểu được những ǵ Ngài mạc khải (xem SGL số 35, 40, 43).
THÂM TÍN SỐNG ĐẠO
1. “Khát vọng Thiên Chúa được viết ở trong ḷng trí con người, v́ con người đă
được dựng nên bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa; và Thiên Chúa lúc nào cũng lôi
kéo con người đến với ḿnh. Con người sẽ chỉ gặp được chân lư và hạnh phúc mà họ
không ngừng t́m kiếm nơi một ḿnh Thiên Chúa mà thôi” (Giáo Lư số 27). Bởi thế,
cuộc sống trần gian của con người thực sự là một cuộc trở về nguồn cho tới khi
nhắm mắt ĺa đời, nghĩa là cho tới khi, theo quan niệm tin tưởng của Kitô Hữu,
con người được hoàn toàn trở về cùng Thiên Chúa là nguyên thủy và là cùng đích
của ḿnh.
2. “Theo xu hướng t́m kiếm sự thật và sự mỹ, theo cảm thức của ḿnh về sự thiện
luân lư, theo niềm tự do và tiếng lương tâm nơi bản thân ḿnh, cùng với những
nỗi khát mong về ci đời đời và hạnh phúc, con người thắc mắc hỏi ḿnh về việc
hiện hữu của Thiên Chúa. Trong tất cả các điều ấy, con người thấy được nơi ḿnh
dấu hiệu của một linh hồn thiêng liêng. Là một ‘hạt giống trường sinh nơi bản
thân chúng ta, không thể giảm xuống thành một thứ vật chất thuần túy’ (Gaudium
et Spes: 18.1; xem 14.2), linh hồn chỉ được bắt nguồn từ một ḿnh Thiên Chúa mà
thôi” (Giáo Lư số 33). Nếu linh hồn được bắt nguồn từ Thiên Chúa th́ nó tự nhiên
vốn hướng về Thiên Chúa, như kim địa bàn luôn chỉ về phía bắc, và chính v́ thế,
trước khi linh hồn trở về cùng Chúa qua cái chết phần xác, việc con người nhận
biết Ngài qua thiên nhiên tạo vật, qua biến cố cuộc đời v.v. là con người thực
sự về nguồn của ḿnh là Thiên Chúa vậy.
Trắc Nghiệm
Xin đọc bài Giáo Lư lược tóm tổng ôn dưới đây, rồi dùng các chữ ở cuối trang để
điền vào những chỗ gạch trống các câu Sách Giáo Lư vừa học hỏi cho đúng nguyên
văn ư nghĩa của nó. Trong ṿng 10 phút.
Qua bài Giáo Lư 2 về Khả Năng Của Con Người Trong Việc Nhận Biết Thiên Chúa,
Giáo Hội Công Giáo đă cho con cái của ḿnh thấy những điểm chính yếu sau đây: v́
được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa với một hồn thiêng, con người có khả năng
khao khát và nhận biết Thiên Chúa hiện hữu (xem SGL số 36), qua việc quan sát
thế giới bên ngoài cũng như nơi chính bản thân con người ḿnh (xem SGL số 31,
33, 34). Tuy nhiên, muốn biết được chính bản tính của Thiên Chúa, tức biết được
Ngài là ai và muốn ǵ, nghĩa là biết được mầu nhiệm về Thiên Chúa, Mầu Nhiệm
Thần Linh, con người cần phải được chính Ngài mạc khải ra cho và ban ơn cho họ
thấu hiểu được những ǵ Ngài mạc khải (xem SGL số 35, 40, 43).
1. “Giáo Hội, người mẹ thánh của chúng ta, tin tưởng và dạy rằng Thiên Chúa,
nguyên lư đệ nhất và là cùng đích của tất cả mọi sự, có thể được ________ một
cách ________ từ _________ tạo sinh bằng ánh sáng tự nhiên của _________ con
người”. Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mạc khải của Thiên
Chúa. Con người có khả năng này là v́ họ được dựng nên “theo h́nh ảnh Thiên
Chúa”. (số 36)
2. Khát vọng Thiên Chúa được viết ở trong _________ con người, v́ con người đă
được dựng nên bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa; và Thiên Chúa lúc nào cũng lôi
kéo con người đến với ḿnh. Con người sẽ chỉ gặp được __________ và hạnh phúc mà
họ không ngừng t́m kiếm nơi một ḿnh __________ mà thôi. (số 27).
3. Những “đường lối” tiến đến với Thiên Chúa căn cứ vào tạo vật như thế có một
khởi điểm lưỡng diện từ cả thế giới _________ cũng như từ ___________ . (số 31)
4. Thế giới cũng như con người đều chứng tỏ cho thấy rằng tự ḿnh không phải là
nguyên lư đệ nhất hay cùng đích của chính ḿnh, mà chỉ tham dự vào chính sự vô
thủy vô chung là Sự Hữu thôi. Như thế, bằng nhiều cách khác nhau, con người có
thể nhận ra được rằng có một thực tại là nguyên lư đệ nhất và là cùng đích của
tất cả mọi sự, một thực tại mà “mọi người gọi là ‘___________’”. (số 34)
5. “Theo xu hướng t́m kiếm sự thật và sự mỹ, theo cảm thức của ḿnh về sự thiện
luân lư, theo niềm tự do và tiếng lương tâm nơi bản thân ḿnh, cùng với những
______________ về ci đời đời và hạnh phúc, con người thắc mắc hỏi ḿnh về việc
hiện hữu của Thiên Chúa. Trong tất cả các điều ấy, con người thấy được nơi ḿnh
dấu hiệu của một ____________ thiêng liêng. Là một ‘hạt giống trường sinh nơi
bản thân chúng ta, không thể giảm xuống thành một thứ vật chất thuần túy’,
__________ chỉ được bắt nguồn từ một ḿnh Thiên Chúa mà thôi” (số 33).
6. Các khả năng của con người khiến họ có thể nhận ra việc hiện diện của một
Thiên Chúa cá thể. Thế nhưng, để con người có thể thực sự đi sâu vào mối thân
t́nh với Ngài, Thiên Chúa cần phải vừa ____________ chính ḿnh ra cho con người
vừa ban cho họ _________ để họ có thể đón nhận mạc khải này bằng ______________.
Tuy nhiên, những minh chứng về việc Thiên Chúa hiện hữu cũng dọn đường cho người
ta tiến đến với _____________ , và làm cho người ta thấy rằng ____________ không
tương phản với lư trí. (số 35)
(đức tin, nhận biết, chắc chắn, đức tin, đức tin, thế
giới, lư trí, ơn, mạc khải, ḷng trí, chân lư, linh hồn, linh hồn, Thiên Chúa,
vật chất, nỗi khát vọng, Thiên Chúa, con người)
Nghiên Soạn: Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh,
BVL