| |

MỌI
CON ĐƯỜNG ĐỀU DẪN VỀ RÔMA.
KỂ
CẢ NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TỪ CHÂU Á
Đó là điều ông đại sứ
Nhật Bản đă giải thích với các nhà ngoại giao của 16 quốc gia Châu Á họp
nhau tại Vatican để nghiên cứu chính sách quốc tế của Toà Thánh. V́ Toà
Thánh (quốc gia giáo hoàng) cũng là “một cường quốc”, dù nó đặc biệt.
Sau đây là văn bản chưa công bố của hội nghị.
Sandro Magister
(Roma 22.05.2009)
Khoá nghiên cứu kết thúc vào ngày 23.05 với việc trao chứng chỉ cho 17
nhà ngoại giao thuộc 16 quốc gia Châu Á. Khoá học bắt đầu từ ngày 11.05
tại Đại học Giáo Hoàng Grêgôriana và tiếp theo là các kỳ họp trong dinh
Vatican, với các diễn giả là những đại diện xuất sắc nhất cho nền chính
trị của Toà Thánh. Chủ đề được nghiên cứu là: “GIÁO HỘI CÔNG GIÁO và
CHÍNH SÁCH QUỐC TẾ CỦA TOÁ THÁNH”.
Trong khoá học năm
2007, khoá đầu tiên thuộc loạt nầy, các học viên đến từ 19 quốc gia Hồi
giáo vùng Địa Trung Hải và Trung Đông. Năm ngoái, học viên đến từ 22
quốc gia Châu Phi. Năm nay, đến lượt Châu Á với các nhà ngoai giao đến
từ Afghanistan, Úc, Bangldesh, Cambodge, Đông Timor, Indonesia, Nhật Bản,
Hàn quốc, Lào, Malaysia, Miến Điện, Phi Luật Tân, Sri Lanca, Đài Loan,
Thái Lan, Việt Nam. Những quốc gia khổng lồ không hưởng
ứng lời mời : Ấn Độ và Trung Quốc. Pakistan cũng không có mặt. Nhưng các
nhà tổ chức - ở hàng đầu là Cha Ḍng tên Franco Imoda, nguyên viện
trưởng Đại học Grêgôriana – cũng thấy hài ḷng. Trong các học viên có
đại diện các quốc gia không sáng chói về tôn trọng tự do tôn giáo và cả
không có quan hệ ngoại giao với Vatican, nhưng đều thấy cần thiết nghiên
cứu đề tài nầy ngay tại nguồn, ở tổng hành dinh Đạo Công giáo thế giới.
Khoá học do Hội
Grêgoire và Viện Quốc Tế Jacqué Maritain tổ chức, với sự hậu thuẫn của
bốn đại học : ĐH Giáo Hoàng Grêgôriana ở Roma; ĐH Georgetown ở
Washington; ĐH Tự Do Đức Mẹ Mông Triệu ở Roma và ĐH Sophia ở Tokyo. Tất
cả dưới sự bảo trợ của Toà Thánh.
Phần nhập môn khoá
học diễn ra ở Roma và phần kết thúc ở Turin, thành phố ngành công nghiệp
xe hơi, nơi sinh sống của những vị đại thánh “xă hội” như Thánh Gioan
Bosco. Các học viên có thể viếng thăm ở đó những việc Giáo Hội Công giáo
thức hiện trong các lănh vực hết sức đa dạng, như Cottlengo để trợ giúp
những người khuyết tật và Xưởng Vũ Khí Hoà B́nh. Ngày cuối cùng, họ đi
dă ngoại tại tu viện Bóe và gặp Đức Viện Phụ Enzo Bianchi.
Châu Á là lục địa
khí thâm nhập nhất với Kitô giáo, vốn chỉ hiện diện số đông trong những
chỗ rất bị hạn giới, trong khi ở những nơi chốn khác, Kitô giáo bị chống
đối mạnh mẽ.
Chương tŕnh rất dày
đặc, gồm một thảo luận của đại sứ Nhật Bản bên cạnh Toà Thánh, ngài
Kagefumi Ueno, một nhà tư tưởng theo Phật giáo và Thần giáo, nhận nhiệm
sở từ 11.2006 . Bài thuyết tŕnh của ông diễn ra ở ĐH Giáo Hoàng
Grêgôriana ngày 15.05 được tường thuật gần như đầy đủ dưới đây. Bài
thuyết tŕnh rất thú vị v́ phản ảnh cái nh́n về Toà Thánh và của quốc
gia giáo hoàng, của đại diện một đất nước mà nền văn hoá cũng như các
truyền thống khác xa cách Kitô giáo .
CHÂU Á và TOÀ
THÁNH
(Đại sứ Nhật Bản
Kagefumi Ueno)
Ở Á Châu, nơi các tôn giáo như Phật giáo, Ấn giáo, Đạo Lăo, Thần giáo và
Hồi giáo lấn át, th́ Kitô giáo thường được nh́n như “ngoại quốc” và các
Kitô hữu là những người thiểu số, trừ các ngoại lệ. Ở Nhật, chẳng hạn,
con số tín hữu Công giáo ít hơn 0,5% dân số và rất có thể con số nầy sẽ
tăng trong một tương lai gần.
Trong những điều kiện
nầy, các quốc gia Á Châu không dành ưư tiên về quan hệ ngoại giao với
Toà Thánh (hoặc với Vatican, từ ngữ mà tôi sẽ dùng trong bài nói). Rất
nhiều các nước trong đó chỉ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Vatican
trong các thập niên gần đây. Nhật Bản là một trong các quốc gia đầu tiên,
vào năm 1942. Vatican đă có một đại diện ở Nhật 23 năm trước đó, vào năm
1919, song chỉ là về các vấn đề tôn giáo, như trường hợp ngày nay với
Malaysia, Miến Điện, Brunei và Lào. Hơn nữa, nhiều quốc gia Châu Á duy
tŕ quan hệ ngoại giao với Vatican lại không có đại diện ở Vatican. Họ
giao việc liên hệ với Vatican cho các đại sứ của họ trong các nước gần
kề như là Thuỵ Sĩ hoặc Đức. Một số qưốc gia Châu Á chưa hề thiết lập
quan hệ ngoại giao, như Malaysia, Miến Điện, Việt Nam, Lào. Và trong các
quốc gia có một đại diện ở Roma, th́ vị trí nhiệm sở đại sứ bên cạnh Toà
Thánh thuộc loại ít được mong muốn nhất.
Để hiểu các quan hệ
giữa Châu Á và Vatican, không thể tránh né việc phân tích những dị biệt
tôn giáo và văn hoá. Cố Hồng Y Hamao, một người Nhật, đă nhấn mạnh cách
nay ít năm, rằng giữa Châu Á và Toà Thánh có một khoảng cách lớn không
chỉ về vật lư mà c̣n về mặt tinh thần. Khoảng cách nầy có thể vượt qua
được chăng? Tôi cho rằng ít có khả năng cảm nhận về khoảng cách nầy có
thể giảm đi một cách về căn bản trong tương lai gần, bởi v́ cả hai bên
đều đại diện cho những nền văn minh rất cổ xưa và không thấy động cơ
thay đổi chúng một cách cấp thiết. Như vậy vấn đề là cần xem có chính
đáng với dân Á Châu để làm cho các quan hệ ngoại giao của họ với Vatican
được thêm ưu tiên hơn chăng, biềt rằng cảm giác xa cách về tôn giáo giữa
hai bên xem ra khó ḷng lấp đầy chỉ trong một thời gian ngắn.
Câu trả lời của tôi
là: “Có. Và chính đáng”. Tôi sẽ xin nói tại sao.
V̀ SAO TÔI ĐĂ ĐẾN VATICAN
Trước khi vào vấn đề,
tôi xin nói một chút về tôi. Vào thời kỳ 10 hoặc 15 năm gần đây nhất,
tôi đă viết khá nhiều bài báo và luận văn đăng các nhật báo và tạp chí,
thường là để so sánh các nền văn hoá và văn minh, và tôi đă tham gia các
hội nghị và hội thào ở Nhật và ở nước ngoài. Cách chung các bài thuyết
tŕnh của tôi đặt nền tảng trên triết lư Phật giáo và Thần giáo của tôi.
Tôi nghiên cứu các
nền văn hoá bởi v́ tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta không biết các dị biệt về
văn hoá và nhất là các tôn giáo vốn có một ảnh hưởng thực chất trên các
quan hệ quốc tế, th́ chúng ta, các nhà ngoại giao, sẽ không có khả năng
hiểu những đất nước mà chúng ta đang làm việc trong đó.
Cách nay ba năm, tôi
đă phát hành một cuốn sách nghiên cứu soi sánh về những “nền văn minh đa
thần” và “những nền văn minh độc thần’, trong đó tôi giữ ư kiến cách
chung, rằng cái nh́n tôn giáo có một ảnh hưởng không thể lơ là được trên
chính trị và ngoại giao.
Bằng một triển khai
tự nhiên cuốn sách của tôi, tôi đă mong thảo luận về các đề tài về văn
minh với hàng giáo sĩ Giáo Hội Công giáo, tốt nhất là ở Vatican. V́ vậy
mà tại sao, cách đây ba năm, tôi đă xin chính phủ Nhật gửi tôi đến Roma.
“Ông chắc chứ?”, vị thứ trưởng mà tôi yêu cầy, đă ngạc nhiên hỏi lại tôi.
Tôi đă trả lời : “Hoàn toàn chắc chắn”. Một tháng sau đó, tôi được bổ
nhiệm.
Khi đă nhận nhiệm sở.
cứ mỗi lần gặp một người phụ trách ở Vatican, tôi nói với vị ấy về ước
ao của tôi được đối thoại về các vấn đề văn minh với những người của
Giáo Hội. Một ngày nọ, một vị hồng y đă nói với tôi : ” Ngài đại sứ thân
mến, ngài ở đúng nơi rồi, v́ chính chúng tôi là những người đă tạo nên
văn minh phương Tây”. Trong bốn mươi năm làm ngoại giao, đây là lần đầu
tiên tôi gặp một người nói ra với sự thẳng thắn như thế.
Hai năm rưỡi tiếp
theo, tôi đă có những cuộc thảo luận về các đề tài văn minh với các nhân
vật của Giáo Hội, ở Roma. Tôi đă trả lời các cuộc phỏng vấn, viết những
khảo luận, dạy những khoá về tôn giáo và văn hoá. Tôi hài ḷng về những
việc nầy. Nhưng có một vấn nạn. Tôi không có đủ giờ để viết và nghiên
cứu., Tại sao?
NGẠC NHIÊN.
VATICAN LÀM BẬN
TÂM HƠN LÀ NGƯỜI TA NGHĨ.
Lư do là Vatican đưa ra và thực hiện hàng loạt hoạt động mà Tokyo cần
được thông tin, đến nỗi tôi bận rộn ngoài những ǵ tôi lường trước. Tôi
không nói về các hoạt động tôn giáo, mà là các hoạt động ngoài tôn giáo.
Hơn nữa với tư cách là đại sứ một quốc gia không phải Kitô giáo, tôi
không thấy cần thiết phải theo dơi các vấn đề tôn giáo, mà chỉ là các
vấn đề ngoài tôn giáo mà thôi. Dù vậy, tôi luôn phải bận rộn v́ Đức giáo
hoàng thường xuyên tiếp kiến các nguyên thủ quốc gia và lănh đạo chính
phủ, những người cầm đầu càc cơ quan quốc tế. Rất nhiều trong số họ đến
từ các nước không phải là Kitô giáo. Do vậy tôi phải làm bản tường tŕnh.
Trong ba năm gấn đây nhất, chẳng hạn, tất cả các nguyên thủ quốc gia và
chính phủ các nước G8 đă được Đức giáo hoàng triều yết, ngoại trừ thủ
tướng Nhật. Những cuộc gặp gỡ của họ với Đức giáo hoàng là đối tượng
khai thác tối đa của các phương tiện truyền thông quốc tế, chưa kể đến
các phương tiện truyền thông quốc gia, quảng cáo vốn đến lượt nó cổ vũ
các nguyên thủ khác đi đến gặp Đức giáo hoàng. Về quan điểm nầy,Vatican
có một hấp lực mạnh mẽ, là trung tâm hành động quốc tế và là trung tâm
ngoại giao. Vài tháng sau khi nhận nhiệm sở, tôi xác tín rằng Vatican là
một nhân tố hành động quan trọng trong cộng đồng quốc tế, ngay cả khi bỏ
sang một bên những khía cạnh tôn giáo.
BỐN LƯ DO ĐỀ
MỘT QUỐC GIA CÓ NHỮNG NHÀ NGOẠI GIAO Ở VATICAN
Theo kinh nghiệm của
tôi, có ít nhất 4 lư do để nghĩ rằng vai trỏ quốc tế của Vatican được
nâng cao và rất có ư nghĩa, điều đó cho thấy v́ sao các quốc gia không
Kitô giáo lại có các nhâ ngoại giao có nhiệm sở ở đây, tại Rôma. Tôi xin
tŕnh bày thứ tự các lư do nầy.
NHÂN TỐ 1 : QUYỂN
LỰC TINH THẦN
Đầu tháng giêng 2007,
mấy tháng sau khi tôi đến đây, tất cả các nhà ngoại giao, trong đó có
tôi và vợ tôi, đă được Đức giáo hoàng mời nghe diễn văn đầu năm của
Người về t́nh h́nh quốc tế., trong đại sảnh dinh giáo hoàng, nơi mà ba
đại diện trẻ người Nhật đă gặp Đức giáo hoàng Grêgôriô năm 1595, chưa
đầy 10 năm trước khi Nhật Bản cấm Đạo Kitô. Trong Đại Sảnh nầy, theo
thông lệ hằng năm, Đức giáo hoàng đọc diễn từ bằng tiếng Pháp với các
nhà ngoại giao, kéo dài khoảng 45 phút. Gần như mọi vấn đề quan trọng
đều được đề cập đến, từ những đề tài toàn cầu như nghèo đói, giải trứ vũ
khí, hành động hoà b́nh, dàn xếp các xung đột, quyền con người, các dân
tộc thiểu số, di cư, thay đổi khí hậu, cho đến những vấn đề các vùng
miền ở Châu Phi,Trung Đông, Nam Á, vân vân. Đức giáo hoàng đă đề cậo đến
khoảng 45 đề tài quan trọng. Ngày hôm sau,thông điệp của Người được
truyền đi khắp thế giới, với một ảnh hưởng đối với xă hội quốc tế, trong
khi các ban ngành của tôi thảo một báo cáo chi tiết cho Tokyo.
Qua thông điệp của
Người, tôi đă nh́n thấy ư chí của Người muốn đóng một vai tṛ “bảo vệ xă
hội quốc tế. Nếu người ta nghe bài diễn văn của Người mà không biết
người đọc, th́ người ta có thể nghĩ rằng tác gỉa là tổng thư kư LHQ.
Đúng vậy, hai nhân vật có một vai trỏ giống nhau, theo nghĩa Đức giáo
hoàng và tổng thư kư LHQ đều giữ một vai tṛ quan trọng “bảo vệ tinh
thần quốc tế”.
Dĩ nhiên, các diễn
văn của Đức giáo hoàng làm cả thế giới chú ư, bởi v́ Người đại diện cho
hơn 1,1 tỹ tín hữu Công giáo. Nhưng căn bản hơn, người ta cho rằng quyền
lực tinh thần của Người và thẩm quyền đạo đức của Người được tăng cường
củng cố kể từ lúc, vào năm 1870, Vatican đă mất gần như toàn bộ đất đai
lănh thổ. Cho tới thời kỳ ấy, các phần đất Toà Thánh sở hữu trải rộng
một nửa nước Ư và cùng với điều ấy, nó là một quyền lực trần thế như Tây
Ban Nha và nước Pháp. Với tư cách ấy, Toà Thánh có những quan tâm và lợi
ích tài chính mà nó phải bảo vệ. Toà Thánh [lúc ấy] có bổn phận bảo vệ
công dân và lănh thổ. Nó có những quyền lợi quốc gia phải coi sóc. Nhưng
việc mất đất đai đă giải phóng Toà Thánh khỏi các lợi ích quốc gia. Khi
người ta nghe Tổng thống Hoa Kỷ hoặc tổng thống Ấn Độ nói, người ta hiểu
diễn văn của họ đương nhiên là có liên quan đến các lợi ích quốc gia.
Nhưng khi Đức giáo hoàng phát biểu về các vấn đề quốc tế, người ta không
c̣n hiểu các diễn văn nầy như là che dấu những lợi ích quốc gia của
Vatican nữa. Điều đó cho phép Toà Thánh nói về các vấn đề quốc tế theo
một quan điểm nhân bản, đạo đức, luân lư, tinh thần. Một cách nghịch lư,
khi bị mất quyền lực trần tục, Vatican đă gia tăng quyền lực tinh thần
của ḿnh
Nếu tính đến sự việc
bài diễn văn của Đức giáo hoàng được các phương tiện truyền thông phổ
biến ở quy mô thế giới, th́ người ta cũng có thể nói Đức giáo hoàng là
một trong những “người hướng dẫn dư luận” quan trọng và hiệu qủa nhất.
Các thông điệp của
Đức giáo hoàng có gây sự chú ư của các cường quốc và của những nhân tố
quốc tế giữ vai tṛ quan trọng khác chăng? Tiếng nói của Người có một
ảnh hưởng nào với họ chăng? Câu trả lời của tôi là cả có và không. Là
“không” ở ngắn hạn và “có” trong một viễn cảnh dài hơn. Người ta biết
rằng Đức Gioan-Phaolô II đă quyết liệt bày tỏ phản đối tổng thống Bush
trước khi ông nầy quyết định tấn công Iraq vào năm 2003. Ngay lúc ấy,
lời kêu gọi của Đức giáo hoàng không được Hoa Kỳ lấy làm đều, nhưng điều
đó không làm giảm giá trị của những lời nói và hành động của Đức giáo
hoàng. Thực tế, sự việc Đức giáo hoàng đă đưa ra một ư kiến mà Hoa Kỳ
lại không muốn nghe theo, cho thấy vai tṛ quan trọng của Toà Thánh. Tôi
xác tín rằng cộng đồng quốc tế cần có một người bảo vệ tinh thần như
Người hoặc như tổng thư kư LHQ. Không một ai khác có thể thay thế Người
trong vai tṛ nầy. Trong chiều hướng nầy, Đức giáo hoàng phải được coi
như một nguồn tài nguyên, một tài sản chung quốc tế, không phải v́ Người
là thủ lănh Gíao Hội Công giáo, mà bởi v́ Người có khả năng loan đi khắp
nơi những thông điệp nhân đạo, tinh thần.
Tháng 03.2009, chính
phủ Nhật đă mời ĐGM Mamberti, bộ trưởng ngoại giao Vatican [đúng ra Ngài
phụ trách quan hệ các quốc gia.BTGH] tới nước Nhật. Ngài đă trao đổi hai
giờ rưỡi với bộ trưởng ngoại giao Nhật, ngài H.Nakasone, người đă đề cập
đến hầu hết tất cả các vấn đề quốc tế quan trọng. Sau cuộc trao đổi,
Nakasone nói với tôi rằng ông đă đánh giá rất cao và yêu thích đối thoại
với Vatican, mà ông đă thấy bộc trực thẳng thắn và hơi khác với những
đối thoại với các quốc gia thế tục. Đặc biệt, ông bị đánh động v́ nhăn
quan của Vatican về khủng hoảng kinh tế thế giới, theo đó cuộc khủng
hoảng nầy bị gây nên và bị làm cho thêm trầm trọng v́ các môi trường tài
chính đă chỉ lo quyền lợi của ḿnh, mà bỏ sang một bên mọi quan tâm suy
xét đạo đức. Cuộc thăm viếng của ĐGM Mamberti càng thêm quan trọng v́ đó
là cuộc thăm viếng chính thức đầu tiên của một bộ trưởng ngoại giao
Vatican đến nước Nhật kể từ khi hai nước thiết lập bang giao cách nay 67
năm.
NHÂN TỐ 2 : QUYỀN LỰC
CHO LƯU HÀNH CÁC THÔNG ĐIỆP
Vào tháng 11.2006,
tôi tŕnh quốc thư của hoàng đến Nhật lên Đức giáo hoàng. Trong khoảng
một phần tư tiếng đông hồ Tôi có cuộc trao đổi hết sức dễ chịu thoải mái
với Người trong thư viện riêng của Đức giáo hoàng. Cuộc trao đổi của
chúng tôi về việc phi nguyên tử hoá bán đảo Triều Tiên. Cũng ngày hôm ấy
và ngày hôm sau, một phần lớn các phương tiện truyền thông trên thế giới,
quốc gia và quốc tế, lớn hoặc nhỏ, đều nói về cuộc trao đổi của chúng
tôi, tất nhiên là coi trọng các đề xuất của Đức giáo hoàng hơn. Ở Hàn
quốc, đó là đề tài mở của các báo h́nh buổi chiều, với vợ chồng tôi
trong y phụ kimono. Các bản tin của truyền h́nh Hàn quốc được truyền
h́nh Nhật phát lại.
Tin tức nầy đă được
phổ biến không chỉ bởi các phương tiện truyền thông lớn, mà c̣n bởi rất
nhiều phương tiện truyền thông Công giáo thuộc các nước trên toàn thế
giới, ở Châu Á, ở Bắc và nam Mỹ, ở Châu Âu,v..v..
Tiếp sau đó, tôi đă trả lời phỏng vấn của tờ nhật báo Toà Thánh,
”Osservatore Romano” và cho các nguồn như Zenit, ”Bên Trong Vatican”
(Inside The Vatican) và EWTN. Lần nữa, tôi nhận xét rằng các cuộc phỏng
vấn tôi đồng ư thực hiện ở Roma được gợi lại và phổ biến ở rất nhiều nơi
thuộc mỗi lục địa do các phương tiện truyền thông Công Giáo mỗi nước mỗi
vùng. Chẳng hạn, mạng lưới truyền h́nh EWTN được kết nối với hàng trăm
kênh ở Hoa Kỳ và Nam Mỹ. V́ vậy, một tuyên bố trên EWTN sẽ bay tới nhiều
nơi ở các Bắc và Nam Mỹ.
Từ quan điểm nầy, tôi
đă khám phá ra rằng Vatican có những lư do tốt để các nhà ngoại giao
Châu Á “lưu ư”
NHÂN TỐ 3 : QUYỀN LỰC TRÍ THỨC
Một khía cạnh gây
ngạc nhiên nữa là tần số lần tổ chức các cuộc hội nghị và hội thảo
chuyên đề do các cơ quan và tổ chức khác nhau của Vatican, với sự tham
dự của các bộ năo toàn thế giới.
Chẳng hạn, viện hàn
lâm giáo hoàng về khoa học tổ chức hội nghị các nhà nghiên cứu của nó
hai năm một lần. Vào tháng 11 vừa qua, Viện đă tổ chức một khoá họp
khoáng đại về “tiến hoá vũ trụ và con người”, trong đó những nhà bác học
lỗi lạc từ nhiều quốc gia đă thảo luận về đề tài nầy trong bốn ngày theo
những quan điểm khoa học khác nhau. Được tham dự vào một vài buổi họp,
tôi thật sự bị ấn tượng. Sau lễ khai mạc, Đức giáo hoàng đă trao một huy
chương cho khoảng 12 thành viên mới, trong đó có một nhà nghiên cứu
người Nhật và ba hoặc bốn người đă đoạt giải Nobel.
Hai năm gần đây nhất,
những hội thảo đă làm tôi quan tân liên quan đến Hồi giáo, quyền con
người, thuyết Darwin, chăm sóc trẻ em, thuyết ưu sinh,vv…
Tóm lại,Vatican có
được một hệ thống giúp cho Đức giáo hoàng tiếp cận với ư kiến của những
bộ năo tài năng và tốt nhất thế giới, là những điều làm cho các thông
điệp của Người thêm phong phú và tăng cường các quyền lực tinh thần của
Người.
Trong ư hướng nầy,
Vatican không chỉ là một quốc gia. Đó c̣n là một tổng thể “những nhóm
chuyên gia cố vấn”, chính họ tạo thành mạng lưới với nhiều “nhóm chuyên
gia cố vấn” lỗi lạc khác trên toàn thế giới. Toà Thánh vận hành như một
ngă tư gặp gỡ của các nhà trí thức, cho những người nầy cơ hội thảo luận
và trtao đổi các quan điểm. Trong bối cảnh nầy nữa, Vatican tạo nên
những công ích.
Ở vấn đề nầy, có một
khó khăn phải được giải quyết, nhất là trong những ǵ liên quan đến các
nhà ngoại giao Châu Á : nhiều cuộc hội thảo chỉ bằng tiếng Ư, hiếm khi
băng tiếng Anh. Điều ấy làm nản ḷng một số nhà ngoại giao Châu Á khi
tham dự. Nếu có thay đổi trong hệ thống nầy, th́ nhiều người trong số họ
sẽ tới dự.
NHÂN TỐ 4. QUYỀN LỰC
THÔNG TIN
Bởi v́ Giáo Hội Công giáo hiện diện gần như khắp thế giới với tư cách là
Gíao Hội hoàn vũ (Công giáo) và có linh mục, nữ tu gần như khắp nơi,
Giáo Hội Công giáo nói chung và Vatican như ‘cái trục trung tâm’ - nhận
được thông tin về những ǵ xảy ra quan trọng trên thế giới.
Nhiều vị đại sứ nhận
nhiệm sở ở đây cho rằng đây là một ‘trạm nghe’. Chẳng hạn, Hoa Kỳ thiết
lập bang giao với Toà Thánh năm 1984. Không phải là 1984! Bất luận thế
nào, nagy giữa thế kỷ 19 người ta tranh luận sôi nỗi ở Washington để
biết liệu có nên có hoặc không những quan hệ chính thức với Vatican.
Những người ủng hộ khẳng định rằng ở Vatican, nếu người ta dự các bửa ăn
tối và tiếp tân mọi buổi tối, th́ người ta có thể có thông tin về t́nh
h́nh Châu Âu. Đa số người Tin Lành phản đối. Phải mất thêm 130 năm trước
khi các quan hệ chính thức được thiết lập.
Cũng tương tự ở Nhật
Bản. V́ Vatican đă có một đại diện ở Tokyo phụ trách các vấn đề tôn giáo
vào năm 1919, người ta đă bắt đầu thảo luận để biết có nên hoặc không
nên thiết lập quan hệ ngoại giao với Ṭa Thánh. Những người ủnh hộ đoan
chắc là đúng lúc và thuận lợi, v́ Vatican được cho là một nguồn tin tức
dồi dào. Nhưng các nhà lănh đạo tôn giáo Phật giáo và Thần giáo chống
lại. Phải chờ thêm 23 năm để cuối cùng cũng đă thiết lập bang giao.
Nhưng ngay cả nếu
Vatican có những “đôi tai khổng lồ”, điều đó không bảo đảm rằng mọi
người có thể tiếp cận được các thông tin của nó. Các nhà ngoại giao
Vatican giống với mô tả mà nhiều vị đại sứ nói về họ : trầm tĩnh, kín
đáo, thận trọng,nhưng nhất là rất cảnh giác. Phải khéo léo lắm mới có
thễ làm cho họ nói ra một điều ǵ đó quan trọng.
KẾT LUẬN
Thưa các đồng nghiệp,
một vị đại sứ người phương Tây đă nói với tôi :”Về kích cở th́ Vatican
nhỏ bé như Công quốc Monaco, nhưng ảnh hưởng của nó lại to lớn như Trung
Quốc”. Một vị đại sứ khác đă mô tả Vatican như “cường quốc nhỏ nhất
trong các cường quốc”. Nếu tính đến những điều ấy, th́ các nước Châu Á
chưa có quan hệ ngoại giao với Toà Thánh hoặc những quốc gia không có
đại sứ ở Roma được mời nghiên cứu những lợi thế cư ngụ ở đây, bên ngoài
khoảng cách tôn giáo và văn hoá chia tách họ.
Người ta có thể phản
đối tôi rằng bỏ qua các yếu tố tôn giáo của Vatican là quá giả tạo.
Nhưng tôi tin chắc rằng cách nh́n của tôi có thể cho thấy là có tính
thuyết phục, theo nghĩa nó cho phép chứng minh rằng sẽ thuận lợi nếu
Vatican có quan hệ với các quốc gia Châu Á, không phải với tư cách là
tổng hành dinh của Đạo Công giáo, mà là với tư cách người hoạt động
ngoại giao quan trọng.
Tóm lại, tầm vóc quốc
tế cao lớn của Vatican là một “thực tế của hiện tại”. Cho tới nay, nhiều
nước Châu Á dường như đă lơ là hoặc đánh giá thấp nó. Họ nên để mắt đến
thực tại nầy một cách mang tính chiến lược hơn và có bước tiến rơ rệt vế
phía trước.
Người ta hoàn toàn có
thể nói như vậy về Vatican. Vai tṛ quốc tế ngày càng tăng của nhiều
quốc gia Châu Á cũng là một “thực tế của hiện tại”, rằng Vatican dường
như vẫn c̣n hơi lơ là cho tới nay. Có thể là v́ Vatican hơi quá lấy Châu
Âu làm trung tâm, mặc dù vẫn nói ḿnh là hoàn vũ. Sự hiện diện yếu ớt và
tính chất đại diện mờ nhạt của các nhà ngoại giao Châu Á có nhiệm sở ở
đây có một phần nguyên do ở sự chú ư hạn chế (tôi muốn nói là sự chú tâm
về ngoại giao) mà Vatican dành cho lục địa nầy tới nay. Một ví dụ tượng
trưng là sự kiện ở khoá học dành cho các nhà ngoại giao Châu Á nầy,
không có mặt đại sứ của New Delhi hoặc của Bắc Kinh. Trong nhiều diễn
đàn quốc tế khác, những người Châu Á hiện diện đông hơn.
Về việc nầy, mong
rằng Vatican sẽ đưa ra những sáng kiến để mời các nhà ngoại giao Châu Á
nối t́nh thân hữu với nhau. Sẽ tốt đẹp nếu Vatican hành động nhiều hơn
để làm tăng và kích thích sự quan tâm của người Châu Á về Vatican trong
những năm tới đây. Nhưng làm thế nào?
Có hai lănh vực trong
đó, theo ư tôi, Vatican có thể mạnh dạn tăng cường bước tiếp cận và nhờ
đó, làm tăng sự quan tâm mà nó gây cảm hứng cho người Á Châu
Yếu tố ch́a khoá đầu
tiên, ấy là phải hiểu ngày càng sâu sắc hơn các năo trạng người Châu Á,
bằng việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá của họ, như A.Valignano, một tu
sĩ thừa sai Ḍng Tên người Ư gốc ở Chieti, đă làm ở Nhật Bản cách nay
hơn bốn thế kỷ.
Yếu tố thứ hai là một
điều kiện tối thiểu, ít là nên đưa vào trong môi trường ngoại giao :
chuyển từ tiếng Ư sang tiếng Anh như là ngôn ngữ lảm việc ưu tiên nơi
đây, ở Roma. Sử dụng tiếng Ư mà thôi có thể làm nản ḷng các nhà ngoại
giao Châu Á khi t́m kiếm tiếp xúc với Vatican, trong khi sử dụng tiếng
Anh sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Tóm lại, nếu Toà
Thánh không có những mối tương quan mạnh mẽ hơn với Châu Á, th́ không
thể thực sự là ‘công giáo” (hoàn vũ = ‘universal’)
Sau khi nói ra điều nầy, tôi không cho rằng nỗ lực để tăng cường và củng
cố các quan hệ chỉ nói một chiều về Vatican mà thôi. Những sáng kiến
hành động của Châu Á cũng không thể thiếu được. Phải có một sự đối xứng
các sáng kiến. Rút cuộc, các quan hệ chỉ có thể thêm sâu sắc,thêm rộng
lớn và thầm gần gũi khi cả hau bên, Dân Châu Á và Vatican, - chứ không
phải chỉ có một bên - cố gắng nhiều hơn để tăng cường và cải thiện các
quan hệ của họ.
Một lưu ư cuối cùng
trước khi kết thúc. Nếu tôi đă không tham chiếu những cuộc đối thoại
liên tôn do Vatican và các cơ quan Công giáo khác thực hiện - những cuộc
đối thoại tự chúng đă là hết sức giá trị - đó là v́, để phác thào một
kiểu mẫu đơn giản và dễ hiểu nằm ngoài Vatican, tôi đă cho rằng sẽ hợp
lư hơn nếu lạoi bỏ đi những nhân tố tôn giáo và tập trung duy nhất vào
những khía cạnh ngoài tôn giáo.
-
HẾT –
|
|