TIÊU CHUẨN PHÁN ĐOÁN CỦA VỊ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC

 

 

Trong chương 10 thư thứ II gửi giáo đoàn Côrintô thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu biết sâu xa hơn gương mặt của vị tông đồ đích thực của Chúa Kitô. Trong 11 câu đầu, sau khi chứng minh cho thấy sự vững vàng của vị tông đồ, từ các câu 11-18 thánh Phaolô tŕnh bầy một nét đặc thù khác trong gương mặt của vị tông đồ: đó là tiêu chuẩn phán đoán của vị tông đồ đích thực. Có bốn từ ch́a khóa hướng dẫn văn bản. Trước hết là hai động từ ”tự khoe khoang” (kaukhaomai) ”tự gửi gắm” (synístemi-synistánô). Tiếp đến là cặp danh từ ”thước đo” (tó métron) và ”đơn vị đo lường” (ho kanon) và từ ”tư cách pháp lư-phê chuẩn” (dokimê).

 

 Như đă biết, bối cảnh lá thư biện minh này của thánh Phaolô là sự kiện hồi thế kỷ thứ I có một nhóm thừa sai kitô gốc do thái nói tiếng hy lạp len lỏi vào cộng đoàn Côrintô. Họ cạnh tranh với thánh Phaolô và t́m cách hạ uy tín thánh nhân trước mặt tín hữu, bằng cách vu khống ngài nhiều chuyện và đưa ra các lời xét đoán và thẩm định gía trị con người của thánh nhân theo mực thước và các tiêu chuẩn của họ. Họ lấy các đặc sủng siêu việt nhận lănh được, đặc biệt là đặc sủng xuất thần, cũng như sự kiện tùy thuộc truyền thống do thái giáo làm tiêu chuẩn đo lường tính chất xác thực của sứ mệnh tông đồ. Họ tố cáo thánh Phaolô là một người mạo hiểm không có một ủy nhiệm thư đáng tin cậy nào chứng minh cho thấy là tông đồ của Đức Kitô. V́ không có quy chế mực thước hay điều lệ nào để khoe khoang ḿnh là tông đồ, nên Phaolô đành phải tự loại ḿnh ra khỏi cuộc chơi.

 

 Nói cách khác, nhóm thừa sai kitô gốc do thái nói tiếng hy lạp tố cáo thánh Phaolô chỉ là một người rao giảng Tin Mừng tự ư, bất hợp pháp (adókimos). Và dĩ nhiên là thánh Phaolô phản ứng và phản ứng mạnh mẽ, với các lư cớ rất vững vàng và cứng rắn. Trước hết ngài tấn công nhóm thừa sai đang cạnh tranh ảnh hưởng và chơi đ̣n hèn hạ t́m cách hạ uy tín ngài (c.12). Thánh nhân khẳng định rằng họ chỉ là những người tự gửi gắm chứ không được ai giới thiệu. Thánh nhân tố cáo họ là những người tôn thờ cá nhân thần tượng, kiêu căng và phạm tội khoe khoang lớn lối. Nói cách khác, họ tự nâng họ lên làm mẫu mực và tiêu chuẩn xét đoán người vật. Nhưng khi làm như thế là họ tỏ ra không hiểu biết ǵ về bản chất đích thực của sứ mệnh tông đồ theo tinh thần kitô. Về phần ḿnh thánh Phaolô từ chối không để bị lôi kéo vào lănh vực đối kháng này. Ngài viết: ”Dĩ nhiên, chúng tôi đâu dám nâng ḿnh lên ngàng hàng hay so sánh với những người tự giới thiệu ḿnh”. Phaolô nói như thế không phải v́ ngài không có tiêu chuẩn phán đoán, nhưng tiêu chuẩn phán đoán của ngài khác tiêu chuẩn xét đoán của nhóm thừa sai nói trên. Do đó, ngài không để ḿnh bị lôi kéo dùng cùng một thứ thước đo như họ, có cùng một kiểu suy tư lư luận như họ, kiểu suy tư lư luận ”mèo khen mèo dài đuôi”, ”mẹ hát con khen hay”.

 

 Không biết thánh Phaolô có ư giễu nhóm thừa sai hợm ḿnh và kênh kiệu nói trên hay không, nhưng kiểu nói của ngài xem ra châm biếm. Nói là không dám nâng ḿnh lên ngang hàng và so sánh với họ, nhưng thật ra là để nói rằng ngài không dùng thứ tiêu chuẩn qúa ư trần tục hạ cấp của họ. Thật ra tiêu chuẩn mà thánh Phaolô và các cộng sự viên của ngài trung thành áp dụng là tiêu chuẩn do Thiên Chúa xác định: ”Chúng tôi trái lại, chúng tôi không khoe khoang qúa giới hạn, nhưng chỉ theo mực thước mà Thiên Chúa đă ban cho chúng tôi làm tiêu chuẩn, khi cho chúng tôi đến với anh chị em” (c.13). Nghĩa là thánh Phaolô đề cập tới sự hiện diện của Thiên Chúa trong hoạt động rao truyền Tin Mừng của ngài. Chính sự kiện ngài đă đến Côrintô rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn kitô tại đây làm chứng và bảo đảm cho sứ mệnh tông đồ đích thực của thánh nhân. V́ thế Phaolô có thể khoe khoang về sự hữu hiệu này trong công tác rao giảng Tin Mừng của ngài. Sự khoe khoang hănh diện của ngài không phải là một yêu sách qúa đáng. Nó sẽ qúa đáng và lố bịch, nếu ngài không phải là người cha đă sinh ra tín hữu tại đây trong ḷng tin. Nhưng giáo đoàn Côrintô là hoa trái hiển nhiên nảy sinh từ bao công lao khó nhọc của Phaolô và các cộng sự viên. Ngài có hănh diện khoe khoang th́ cũng là điều tự nhiên dễ hiểu thôi. Nếu có điều ǵ không tự nhiên và không hiểu được, th́ chính là thái độ khoe khoang tự măn của nhóm thừa sai mới tới, trơ trẽn nhận vơ công khó của Phaolô làm công khó của ḿnh. Như thế là ăn cướp công của người khác và vô liêm sỉ (cc.14-15a).

 

 Tuy nhiên, tiêu chuẩn mà thánh Phaolô dùng để đo lường tính chất xác thực của sứ mệnh tông đồ không chỉ bao gồm các sự kiện cụ thể rành rành trước mắt không thể chối căi được đó. Nó c̣n cao hơn thế nữa, bởi v́ nó đồng hóa với đơn vị đo lường tông đồ (ho kanon). Đó là ơn Chúa gọi ngài làm tông đồ. Thiên Chúa đă gọi Phaolô và đặt ngài làm tông đồ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, tức cho các anh chị em không thuộc do thái giáo. Chính v́ thế thời gian ngài sống tại Côrintô mới sinh hoa trái phong phú như thế, đến độ làm phát sinh ra giáo hội tại đây. Nhưng bây giờ Phaolô đang nh́n xa hơn thế nữa. Ngài đang hướng mắt về những chân trời khác, vượt qúa ranh giới của nước Hy Lạp. Một khi đă củng cố xong ḷng tin của tín hữu giáo đoàn Côrintô, thánh nhân hy vọng sẽ đạt chiều kích lớn lao hơn trong sứ mệnh tông đồ mà Chúa đă trao phó cho ngài. Đó là đến rao giảng Tin Mừng của Chúa tại những vùng đất chưa có thừa sai nào đặt chân tới khai phá (c.15b-16). Thật ra ngay từ ban đầu thánh Phaolô đă luôn luôn là người đi tiên phong khai phá những vùng đất mới. Thánh nhân t́m đến những nơi chưa có bóng dáng các tông đồ và các môn đệ của Chúa để gieo văi hạt giống Tin Mừng. Xem ra Phaolô đang hướng cái nh́n về Roma, để qua thủ đô của đế quốc Roma hướng về các biên giới tận cùng trái đất, lúc bấy ǵơ là Tây Ban Nha. Đó là điều ngài sẽ tŕnh bầy ít lâu sau đó trong chương 15,14-29 thư gửi giáo đoàn Roma.

 

 Phaolô kết thúc đoạn tŕnh bầy tiêu chuẩn phán đoán của vị tông đồ đích thực này bằng cách khẳng định hai nguyên tắc tổng quát lồng khung cuộc đối chất của ngài với nhóm thừa sai kitô gốc do thái nói tiếng hy lạp, đồng thời cũng gói ghém cuộc sống của các tín hữu (cc.17-18). Nguyên tắc thứ nhất, nếu có muốn khoe khoang hănh diện, th́ lư cớ hănh diện khoe khoang duy nhất phải t́m là trong Chúa, chứ không phải nơi chính ḿnh. Điều duy nhất mà tín hữu có thể khoe khoang hănh diện là khoe khoang hănh diện về hoạt động quyền năng của ơn thánh Chúa Kitô hiện diện trong cuộc đời ḿnh. Nghĩa là mọi sự chúng ta làm được đều do ơn thánh trợ giúp của Chúa, chứ không phải do tài khéo hay khả năng riêng của chúng ta. V́ nếu phân tích cho cùng, tất cả những ǵ chúng ta có, bắt đầu từ sự sống, đều là ơn nhưng không Chúa ban. Nguyên tắc thứ hai gắn liền với nguyên tắc thứ nhất khẳng định rằng tư cách pháp lư kitô và tông đồ không do một giấy chứng mà đương sự có thể tự ban cho chính ḿnh, nhưng tùy thuộc nơi Chúa Giêsu là Đấng duy nhất có thể ban cho con người các ủy nhiệm đó.

 

 Nếu muốn lượng định câu trả lời của thánh Phaolô, chúng ta phải khẳng định rằng thánh nhân muốn gắn liền chức vụ tông đồ cũng như kinh nghiệm của mọi tín hữu với ơn thánh của Chúa. Tiêu chuẩn mà thánh nhân nêu lên ở đây giúp tín hữu có được mực thước phán đoán và lượng định giá trị đúng đắn đối với mọi thái độ kiêu căng tôn giáo. Sự kiện nhóm thừa sai kitô gốc do thái xây đài danh dự cho cái tôi của họ, phô trương các đặc tính siêu phàm và thiêng liêng lạ lùng của họ, viện cớ họ thuộc truyền thống do thái chính truyền vv... tất cả đều chỉ là tự gửi gắm giới thiệu và khoe khoang vô ích, không có gía trị đích thực nào, và lại càng không bảo đảm cho tính chất pháp lư của sứ mệnh tông đồ của họ. Ngoài ra, ơn thánh nói trên của Thiên Chúa vừa là lư cớ khiến cho sứ mệnh của vị tông đồ được thực sự hợp pháp, vừa là sức mạnh giúp vị tông đồ quy tụ cộng đoàn dân Chúa dưới dấu chỉ vâng phục Đức Kitô (10,5). Nghĩa là ơn thánh Chúa không chỉ bảo đảm cho tính chất pháp lư hay đặc sủng bề ngoài của người rao giảng Tin Mừng, mà c̣n bảo đảm cho sự hữu hiệu của lời rao giảng đâm rễ sâu trong sự hiện diện của ơn thánh Chúa. Nói cách khác, chính công tác phục vụ Tin Mừng hợp thức hóa vị thừa sai và người rao giảng Lời Chúa trong giáo hội, chứ không phải con người của vị thừa sai hay người rao giảng Tin Mừng hợp thức hóa hoạt động của họ.

 

Đức Ông Linh-Tiến-Khải