|


 
THIÊN
CHÚA & TRẦN THẾ
Joseph
Ratzinger
Biển-đức XVI.
Thiên Chúa và Trần Thế
Tin và Sống trong thời đại ngày nay
Trao đổi với Peter Seewald
Phạm Hồng-Lam chuyển ra Việt ngữ
CHƯƠNG II
ĐỨC
GIÊ-SU KI-TÔ
14 THÁNH
GIÁ
Thường
người ta có thói quen trốn chạy đau khổ bằng mọi cách. Và không có ǵ
gây bực tức cho xă hội mạnh hơn, là quan điểm ki-tô giáo cho rằng phải
chấp nhận, chịu đựng và ngay cả sẵn sàng đón nhận đau khổ, để nhờ đó
thắng vượt nó. Giáo chủ Gio-an Phao-lô II tin rằng “đau khổ là một ẩn số
của con người”. Tại sao?
Nhân loại
ngày nay đang t́m cách đẩy đau khổ ra khỏi thế gian. Đối với từng cá
nhân, điều đó có nghĩa là phải làm sao tránh bị đau khổ. Nhưng người ta
cũng phải thấy rằng, như vậy th́ thế giới sẽ hoá ra rất lạnh lẽo, rất
khó sống. Đau khổ là một thành tố của kiếp người. Và ai thực sự muốn
diệt đau khổ, người đó tất cũng phải huỷ t́nh yêu; không có đau khổ th́
chẳng có t́nh yêu, bởi v́ t́nh yêu luôn đ̣i hỏi từ bỏ một phần chính
ḿnh, bởi v́ t́nh yêu, tuỳ theo tâm tính mỗi người và mức độ t́nh huống,
cũng luôn kéo theo với nó sự từ bỏ và đau khổ.
Nếu ta biết
con đường t́nh yêu – cuộc xuất hành, ra đi khỏi ḿnh – là con đường thật
để thành người, th́ ta cũng hiểu rằng đau khổ là tiến tŕnh trưởng
thành. Ai sẵn sàng chấp nhận đau khổ, người đó trưởng thành hơn, hiểu
người khác hơn, là người hơn. Ai trốn tránh đau khổ, kẻ đó không hiểu
tha nhân, sẽ trở nên vị kỉ, tàn bạo.
Chính t́nh
yêu là một cực h́nh, một chịu đựng. Thoạt tiên tôi cảm nghiệm được trong
nó nỗi sung sướng, tôi kinh nghiệm được hạnh phúc thật. Mặt khác, đối
lại, tôi cũng phải bước ra khỏi sự yên lành thoải mái của tôi, và phải
chấp nhận ḿnh thay h́nh đổi dạng. Nếu ta bảo, đau khổ là mặt trái của
t́nh yêu, th́ ta cũng hiểu được việc học đau khổ quan trọng là
dường nào – và ngược lại, cũng hiểu được tại sao việc tránh đau khổ làm
cho con người mất khả năng sống. Trường hợp này, đời ta chỉ c̣n là trống
rỗng, rồi có thể chỉ c̣n lại bực tức, khước từ, hết c̣n trưởng thành,
hết c̣n biết sẵn sàng chấp nhận.
Việc ǵ sẽ
xẩy ra, nếu đức Ki-tô không xuất hiện và không chết trên thánh giá?
Không có Ngài th́ thế gian đă ra tiêu tan từ lâu rồi phải không?
Điều đó
không thể nói được. Nhưng ta có thể nói được, là nếu không có Ngài, con
người không thể đến được với Thiên Chúa. Con người lúc đó chỉ c̣n biết
t́m Ngài trong lần ṃ đứt đoạn. Và rốt cuộc họ chẳng c̣n biết Thiên Chúa
là ai hay là ǵ nữa.
Dĩ nhiên,
cũng có đôi chút ánh sáng thiên chúa loé lên trong các tôn giáo lớn,
song đấy cũng chỉ là những đốm sáng rời rạc hay cũng chỉ là những câu
hỏi. Vả, nếu như câu hỏi về Thiên Chúa không có câu trả lời, nếu con
đường dẫn tới Ngài bị tắc nghẽn, nếu không có sự thứ tha – sự thứ tha do
chính Thiên chúa uỷ quyền -, th́ cuộc sống con người trở thành một cuộc
thí nghiệm vô nghĩa. Như vậy là chính Chúa đă kéo mây đen ra khỏi một
khoảnh bầu trời, Ngài thắp lên ánh sáng, rọi chiếu mở ra cho ta một con
đường, con đường chân lí, con đường giúp ta sống, và đường đó chính là
sự sống.
INRI – CUỘC
KHỔ NẠN CỦA CHÚA KI-TÔ
Một người
như đức Giê-su hẳn đă khiến cho dư luận lưu tâm ghê gớm và đă khiêu
khích mọi tập thể. Vị tiên tri ở Na-da-ret đó không chỉ được người đương
thời hoan hô, mà c̣n bị nhạo báng và truy nă. Giới cầm quyền coi Ngài và
giáo huấn của Ngài là mối nguy cho quyền lực họ, phía Pha-ri-sêu và và
các thượng tế bắt đầu t́m cách giết Ngài. Rơ ràng cuộc khổ nạn đă là một
phần của sứ điệp Ngài, bởi v́ chính đức Ki-tô đă cho các môn đồ biết
trước về khổ nạn và cái chết đó. Ngài nói thế này vào ngày lễ vượt qua,
trong hai ngày nữa “Con Người sẽ bị nộp và bị treo trên thánh giá”.
Đức Giê-su
đă chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ, để họ hiểu rằng, đấng Thiên Sai sẽ
không xuất hiện như một kẻ giải phóng, hay như một kẻ uy quyền vinh
quang sẽ đưa Is-ra-el trở lại với quyền lực huy hoàng của thời xưa cũ.
Ngài đă không tự gọi ḿnh là Thiên Sai, nhưng là Con Người. Con đường
của Ngài, trái lại, chỉ là con đường vô quyền và chấp nhận cái chết, bị
nộp cho người ngoài đạo, như Ngài đă nói, và bị họ treo lên thánh giá.
Ngài muốn các môn đệ phải hiểu Nước Chúa sẽ đi vào trần gian bằng con
đường đó, chứ không bằng con đường nào khác.
Bức họa nổi
tiếng của Leonardo da Vinci,
Bữa Tiệc Li, vẽ lại cảnh bữa ăn chia tay giữa đức Giê-su và các tông đồ.
Trong chiều tối hôm đó, Ngài đă làm cho các tông đồ ngỡ ngàng thất vọng,
khi Ngài cho hay sẽ có sự phản trắc. Sau đó Ngài lập ra phép Thánh thể,
phép mà từ đó tới nay đă gần hai ngàn năm vẫn được ki-tô hữu cử hành mỗi
ngày.
Tin Mừng
viết, “Trong bữa ăn, đức Giê-su cầm lấy bánh và đọc lời chúc tụng; rồi
Ngài bẻ bánh, đưa cho các tông đồ và nói: Hăy cầm lấy mà ăn; đây là ḿnh
thầy. Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời ca tụng, đưa cho các tông đồ và
nói: “Hăy cầm lấy mà uống, đây là máu thày, máu của giao ước mới, sẽ đổ
ra để anh em và nhiều người được tha tội. Hăy làm việc này để nhớ đến
thày”. Có lẽ đây là những câu cho tới ngày nay được lặp đi lặp lại nhiều
nhất trong lịch sử. Chúng xem ra như một công thức thánh.
Chúng là
một công thức thánh. Nghĩa là những câu nói vượt ra hẳn ngoài mọi sự
thường t́nh, mọi chờ đợi, mọi suy tính. Đó là những câu chứa đựng kho
tàng vô giá và í nghĩa thâm sâu. Muốn biết đức Ki-tô, tốt nhất nên suy
niệm những câu đó và cùng cử hành sự hiện diện của chúng, những lời đă
trở thành bí tích. Phép Thánh thể là một tổng kết về đức Ki-tô.
Ở đây, đức
Ki-tô lấy lại những sợi chỉ nền tảng của Cựu Ước. Một mặt, Ngài dựa vào
việc lập Giao ước cũ ở núi Si-nai, và cho thấy rơ rằng, sự việc khởi đầu
ở Si-nai giờ đây lại xẩy ra một cách mới: Giao ước mà Thiên Chúa đă lập
với con người, giờ đây đă thật sự hoàn thành. Bữa tiệc li là biến cố
thành lập Giao ước mới. Khi Ngài giao ḿnh cho con người, lúc đó một
cộng đoàn máu mủ giữa Thiên Chúa và con người thành h́nh.
Mặt khác, ở
đây lời của tiên tri Jê-rê-mi-a tiên báo về việc lập Giao ước mới cũng
được nhắc tới. Cả hai ṿng cựu ước (lề luật và tiên tri) tan biến vào
trong sự thống nhất này và đồng thời h́nh thành nên một hành vi bí tích.
Trong đó thập giá đă được hé mở cho thấy trước. Bởi v́ nếu như đức Ki-tô
cho đi thịt máu Ngài, cho đi chính Ngài, th́ điều kiện đặt ra là Ngài
phải cho thực sự. Như vậy th́ những lời trên cũng là hành động nội tại
của thập giá, hành động đó nói lên rằng, Chúa đă biến bạo lực bên ngoài
đối với Ngài thành ra một hành động tự tặng ḿnh cho nhân loại.
Và ở đây,
có một điểm nữa cũng đă được nói ra trước, đó là phục sinh. Không thể
cho người ta ăn thịt chết, thân xác chết. Chỉ v́ Ngài sẽ phục sinh, nên
thịt và máu của Ngài trở nên mới. Và không phải ăn uống kiểu con người,
nhưng là sự kết hợp với đấng Phục sinh hằng sống.
Xem thế,
chỉ trong mấy lời trên, ta thấy chứa đựng cả một tổng hợp lịch sử tôn
giáo, một tổng hợp lịch sử đức tin của Is-ra-en cũng như chính cuộc sống
và công tŕnh của đức Giê-su, và cuộc sống và công tŕnh của Ngài này
cuối cùng đă trở thành bí tích và hiện diện luôn măi.
Các môn đệ
cùng Ngài lên núi Cây dầu. Tại đây, Phê-rô khẳng định sẽ chẳng bao giờ
phản bội thầy ḿnh. Đức Giê-su muốn vào vườn Giệt-sê-ma-ni để cầu
nguyện. Ngài bị cảm kích mạnh và bị cám dỗ tấn công. Buồn và sợ xâm
chiếm Ngài. “Tâm hồn thầy lo buồn đến chết”, Ngài nói với hai môn đệ,
“hăy ở lại và thức với thầy”. Hai môn đệ vừa bước khỏi mấy bước th́ Ngài
sấp ḿnh xuống đất. Ngài cầu nguyện và có lẽ cũng khóc thầm. Hai môn đệ
nghe tiếng Ngài “Cha ơi, nếu được th́ xin cất chén này khỏi con. Nhưng
không theo í con, mà tuỳ í Cha muốn”.
Đây là một
trong những đoạn cảm động và gây xúc động nhất của Tân Ước. Bí ẩn về cơn
lo sợ của Chúa Ki-tô luôn là nội dung mới mẻ để ta suy gẫm, cũng như các
bậc thánh lớn đă hằng suy gẫm.
Ở đây, tôi
thấy như có một cuộc vật lộn giữa tâm hồn con người và tâm hồn thiên
chúa trong đức Giê-su Ki-tô. Ngài thấy toàn bộ vực thẳm xấu xa và kinh
hăi của kiếp người, mà Ngài phải mang trên ḿnh và phải trải qua. Ngài
thấy nỗi kinh hoàng của gánh nặng đang tới với Ngài. Không chỉ cái sợ
của giờ phút bị hành h́nh mà thôi, mà đó là cuộc đối diện với toàn bộ
kinh hoàng và vực thẳm của vận mạng con người mà Ngài gánh trên ḿnh.
Cảm nhận đó của Ngài vượt xa những ǵ ta có thể cảm nhận. Cả ta nữa cũng
có thể khiếp hăi, lúc đứng trước nỗi kinh hoàng của lịch sử con người,
lúc nh́n vào vực thẳm huỷ diệt con người khi họ chối từ Thiên Chúa.
Nhà thần
học người Hi-lạp Maximus Confessor đă có một lối diễn tả biến cố cầu
nguyện trên núi cây dầu thật đặc biệt. Ông bảo, đă có một “phản ứng hoá
học về hiện hữu”. Nghĩa là, lúc đó í muốn của đức Giê-su đă trở thành
một với í muốn của Chúa Con, và như vậy làm một với í muốn của Chúa Cha.
Toàn bộ sự đối kháng của bản tính con người chống lại sự chết và những
ǵ khiếp hăi, đă toát lên trong lời cầu nguyện. Đức Giê-su phải thắng
vượt bản tính đối kháng của con người chống lại Thiên Chúa. Ngài phải
thắng vượt cơn cám dỗ làm trái í Thiên Chúa. Ở đây, cơn cám dỗ đă đạt
tới cao điểm, và rồi nó sẽ bị bẻ gẫy để đưa tới tiếng xin vâng. Cuối
cùng, í Chúa và í người hoà tan vào nhau làm bật lên lời xin: “Nhưng
đừng theo í con, mà theo í Cha”.
Các môn đệ
xem ra mệt mỏi. Khi thầy trở lại, th́ các ông đă ngủ. Đức Giê-su thất
vọng: “Các anh không thể thức với thầy được một giờ sao”?
Vâng, Ngài
thất vọng. Và ki-tô hữu mọi thời đều thấy câu nói của đức Giê-su trong
giây phút đó đă vang vọng vào dọc dài lịch sử giáo hội. Các môn đệ của
Ngài luôn ngủ. Luôn luôn xẩy ra chuyện con cái Ngài ngủ, khi việc nhà
Chúa đang ở trong t́nh thế nguy kịch. Ngài đưa họ tới gần Ngài, để họ
chia sẻ bớt gánh nặng cô đơn của Ngài, nhưng rơ ràng đă chẳng ai cảm
được nỗi kinh hoàng của giây phút đó.
Và đức
Ki-tô c̣n nói: “Hăy tỉnh thức và cầu nguyện, để đừng bị sa chước cám dỗ.
Tâm trí th́ sẵn sàng, nhưng xác thịt th́ yếu đuối”.
Câu đó làm
ta liên tưởng tới lời Chúa nói sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ là
xác thịt, yếu đuối, cần được tha thứ và thương xót”. Như vậy, cuối cùng,
nỗi thất vọng của Ngài đă tan biến vào ḷng thương xót.
Giu-đa dẫn
theo một đám đông lính vơ trang. Ông bước tới đức Giê-su và hôn Ngài. Đó
là mật hiệu. Quân lính vừa xấn tới đức Giê-su th́ Phê-rô bước ra, rút
gươm và chém đứt tai một anh tay sai của thượng tế. Đức Giê-su chỉ
Phê-rô nói: “Hăy xỏ gươm vào vỏ, v́ ai dùng gươm th́ sẽ chết v́ gươm”.
Phê-rô muốn
minh chứng điều ḿnh đă hứa là thật, ông sẵn sàng chết với Thầy. Dĩ
nhiên Phê-rô rồi cũng phải hiểu ra rằng kiểu can đảm kia chẳng đi tới
đâu cả, v́ nó chẳng giải quyết được ǵ.
Nhưng đây
là điều đức Giê-su cũng muốn nói cho toàn bộ lịch sử. Ngài cảnh cáo:
Việc nhà Chúa không thể bảo vệ được bằng gươm giáo, như người ta, tiếc
thay, vẫn luôn cố làm. Ai muốn dùng bạo lực để bảo vệ Chúa, người đó
chống lại Ngài.
Sau khi
Thầy bị bắt, các môn đệ bỏ chạy hết, không sót một ai. Người ta dẫn Ngài
tới thượng tế Cai-pha để tra khảo. Nhưng bản luận tội của Cai-pha thiếu
thuyết phục, các lời chứng đều là chuyện bịa đặt. Cuối cùng họ đă t́m ra
được một tội: Nhạo báng Thiên Chúa. Thượng tế ép Ngài: “Ngươi hăy thề
trước Thiên Chúa hằng sống, có phải ngươi là Thiên Sai, là Con Thiên
Chúa không”? Và đức Giê-su đă thẳng thắn trả lời: “Đúng như điều ông
nói”.
Là thầy cả
thượng tế, Cai-pha có trách nhiệm về mặt đức tin cho cả Is-ra-en. Hẳn
nhiên Cai-pha thật sự không muốn ra án tử cho Con Thiên Chúa. Ông biết
Giê-su là người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, đây là tâm điểm đức tin
của giáo lí do-thái giáo; cái tội của Giê-su, theo ông, là đă dám xưng
ḿnh là Con Thiên Chúa. Dĩ nhiên ông đă không nh́n ra được ǵ khác, v́
đức tin nơi ông đă bị bó rọ trong công thức. Song ta cũng không nên phán
xét ông một cách hời hợt, v́ dù sao th́ ông cũng phải hành động theo
trách nhiệm tôn giáo của ḿnh.
Cuộc khổ
nạn bắt đầu. Các thầy luật và trưởng lăo là những người đầu tiên nhổ vào
mặt đức Giê-su. Họ lấy khăn chụp vào đầu Ngài và vả Ngài: “Mày là Thiên
Sai, là tiên tri, hăy nói cho chúng tao biết ai đánh mày?” Phê-rô lúc đó
đang luẩn quẩn trong sân, ông bị nhận diện và đă chối Thầy. Nhưng khi
ông nhận ra hành động ḿnh, ông bỏ ra ngoài, bật khóc cay đắng. Cả
Giu-đa cũng chẳng sung sướng ǵ về việc làm của ḿnh, ông rất hối hận.
Ông vứt tiền vào Đền thờ và tự tử.
Ở đây,ta
thấy con người yếu đuối một cách thảm hại:Thoạt tiên Phê-rô chạy trốn,
nhưng rồi quay lại để xem chuyện ǵ xẩy ra.Theo cái nh́n của ông, việc
chối Thầy chỉ là một lời nói dối nhỏ nhặt, chẳng qua để khỏi bị nhận
diện để được gần Thầy mà thôi.Nhưng dưới cái nh́n của đức Giê-su, đó là
một hành vi hèn nhát bỏ cuộc.
Cái thích
thú đối với tôi là phản ứng khác nhau của hai kẻ có tội. Một người nhận
ra con đường ăn năn và nhờ đó được đón nhận lại. Người đó sẵn sàng nhận
thứ tha, không thất vọng, i đau khổ, quay ra ăn năn và trở về. Người kia
quá hoảng hốt về việc phản bội của ḿnh và chẳng c̣n tin vào sự tha thứ
nữa.
Khác biệt
là đó. Hai loại ăn năn, tự lên án ḿnh. Người này không rơi vào hư vô,
nhưng để ḿnh được đón nhận trở lại. Người kia chẳng c̣n tin vào sự tha
thứ, để ḿnh tự hủy diệt và v́ thế không c̣n chấp nhận con đường đổi mới
đang mở ra.
Tôi tin đây
là một bài học đầy í nghĩa cho những ai bị vấp ngă, cho mọi thứ í thức
tội lỗi và mọi cách vượt thắng tội lỗi. Sự tự lên án quá đà và sai lầm,
để cuối cùng dẫn đến việc chối bỏ ḿnh hoàn toàn, không phải là phương
cách đúng đắn để giải quyết tội lỗi ḿnh.
Đức Giê-su
bị lôi tới tổng trấn người Rô-ma tên là Pontius Pilatus. Pilatus nhạo
Ngài: “Ông là vua dân Do-thái? Đức Giê-su trả lời: “Vâng, tôi là vua,
nhưng vương quốc của tôi không ở trong thế giới này. Tôi được sinh ra để
làm vua và có mặt trong thế gian này để làm chứng cho sự thật. Ai ở
trong sự thật, kẻ đó nghe tiếng tôi”. Pilatus không thể hiểu được câu
trả lời, nhưng hỏi lại đức Giê-su một cách nghi hoặc: “Sự thật là ǵ”?
Thoạt tiên
đức Giê-su bị xét xử và kết án trước toà án do-thái. Nhưng không hiểu
tại sao các thế lực do thái lại không thi hành bản án, mà lại chuyển
sang toà án của chính quyền Rô-ma. Tại đây, người ta chẳng c̣n tố Ngài
bổ báng Thiên Chúa nữa, mà kết tội Ngài là một tay chính trị muốn lật đổ
nền cai trị của Rô-ma, nghĩa là từ án tôn giáo biến thành án chính trị.
Pilatus có lẽ chẳng thích thú ǵ về việc luận tội này.
Bản án
không vững, và ông quan toà Rô-ma này là một người vô liêm sĩ, lúc đầu
ông chẳng thú vị ǵ làm anh đao phủ cho người Do-thái. H́nh ảnh Pilatus
này xem ra thật tân thời. Khi đức Giê-su nói về chân lí, câu trả lời của
ông đúng là của một kẻ hoài nghi chính hiệu: Như thế là sự thật ư? Vậy
th́ tay này quả đúng là người gàn, hắn ta quả quyết ḿnh là chứng nhân
cho sự thật và sẵn sàng chết cho sự thật đó.
Ông toàn
quyền Rô-ma tuyên bố với đám đông, ông thấy Giê-su không có tội ǵ.
Nhưng theo thói quen tha tội nhân vào những dịp lễ lớn, ông để cho họ
chọn giữa Giê-su và tay bạo hành Barabas. Đám đông nhao lên: “Tha
Barabas!” “C̣n Giê-su?” “Đóng đinh vào thập giá”! Pilatus trao vật tế
cho đám đông, nhưng rửa tay trước mặt họ để nói lên sự vô tội của ḿnh.
Đoạn này
cũng cho ta một bài học về đám đông. Trong đám đông có lẽ cũng có những
người trước đó vô hại, những người đă mến và hoan hô Giê-su. Ta thấy đám
đông có thể huỷ hoại lương tâm đến thế nào. Nó có thể làm cho chính con
người trở nên vong thân và biến họ thành dụng cụ của sự dữ.
Như trước
đó các thầy cả đă làm, giờ đây các tay lính cũng bỡn cợt với tù nhân. Họ
lột áo, khoác lên ḿnh Ngài một tấm vải đỏ và đội lên đầu Ngài một mũ
gai. Đưa cho Ngài một cây gậy thay vương trượng, và rồi cả đám quỳ xuống
mà rằng: “Này vua Do-thái, hăy tự cứu mày đi”. Rồi họ nhổ vào mặt Ngài,
giật gậy và đánh vào đầu Ngài. Cũng lại là Pilatus, trước cảnh tượng đó,
ông đă kêu gọi ḷng thương hại: “Ecce homo – hăy xem, một người như
thế”.
Tất cả
những đoạn đó rất thâm sâu. Chúng dẫn ta bằng nhiều lối tới cả một chuỗi
sự kiện, từ nỗi tầm thường của sự dữ cho tới nét khiêm tốn của quyền lực
và của t́nh yêu thiên chúa. Trước hết, ta thấy sự vô tri của đám đao
phủ, đối với họ độc ác đă trở thành chuyện thường t́nh. Nhưng có lẽ c̣n
có cái ǵ thẳm sâu hơn nữa đàng sau những diễu cợt kia. Bởi v́ chính kẻ
đội vương miện bị nhạo báng đó là vua thật của thế giới. Kẻ đội vương
miện bằng gai kia, nghĩa là đội lấy nỗi đau đớn của thế giới, là vua
thật. Câu nói của Pilatus vô t́nh chứa đựng một nội dung vượt lên trên
nghĩa chữ. Một cách nào đó ông đă nói: “Vâng, cái đó là người”,
một con bọ thảm thương. Đồng thời ông chỉ vào con người thật, con
người mang h́nh ảnh Chúa trong đau khổ.
Đám lính
dẫn kẻ nhục h́nh với mũ gai trên đầu về Gôn-gô-ta, đến “núi sọ”. Đức
Giê-su vác thập giá nặng, Ngài đổ mồ hôi máu. Ba lần Ngài gục ngă v́
gánh nặng. Chị Vê-rô-ni-ca trao cho Ngài tấm khăn để lau mặt tạm, những
phụ nữ khác khóc, nhưng tuyệt đối không có ai đứng hai bên đường sẵn
sàng vác đỡ cho Ngài. Có lẽ v́ sợ Ngài chết dọc đường không đến được nơi
hành h́nh, đám lính đă bắt một người tên là Si-mê-on ở Xi-rê-nê vác đỡ
cho Ngài một đoạn.
Ḷng sùng
mộ ki-tô giáo đă lấy con đường thánh giá, con đường ngày nay ta có thể
đi lại ở Giê-ru-sa-lem, làm nguyên biểu tượng cho bước đường đau khổ của
con người. Một số biến cố trong đó đă trở thành nội dung suy gẫm, chẳng
hạn như ba lần Chúa ngă hay h́nh tượng Vê-rô-ni-ca. Đó là những cảm nhận
của con tim khi bước theo con đường đó. Đường thánh giá và
chuỗi mân côi là kinh cầu quan trọng được h́nh thành do ḷng sùng mộ
của tín hữu phương tây trong thời trung cổ. Đó không những là chứng liệu
quan trọng về sự trưởng thành tâm hồn và về ḷng đạo đức, nhưng thực tế
là một trường học của nội tâm và của những an ủi. Đó cũng là trường học
dạy ta xét ḿnh, giúp ta trở về, giúp tâm hồn biến đổi và dạy ta cách
cùng đau khổ với tha nhân – không phải chỉ cảm nhận cái đau khổ của
người mà thôi, mà đó c̣n là một cái ǵ thôi thúc ta phải nhận chân con
người ḿnh và sửa ḿnh nên tốt hơn.
H́nh ảnh
Xi-mê-on dĩ nhiên cũng quan trọng không kém. Thế giới ki-tô hữu nh́n
thấy trong đó một nhiệm vụ không bao giờ dứt. Có thể nói đức Ki-tô vác
thập giá đi suốt toàn bộ lịch sử. Ngài mong chờ những bàn tay của
Vê-rô-ni-ca hay của Xi-mê-on sẵn sàng chia sẻ gánh nặng thánh giá.
Không thể
tưởng tượng được việc đám lính hành hạ đức Giê-su. Tất cả những thù hận,
những ǵ muông thú,
xấu xa nhất mà con người có thể gây cho nhau, đều được chúng đổ lên
đầu Ngài.
Đức Giê-su
là một nạn nhân điển h́nh của bạo lực. Chúng ta vừa chứng kiến con người
trong thế kỉ 20 đă có thể man rợ tới chừng nào; họ đă tự sỉ nhục và phá
huỷ chính khuôn mặt ḿnh, qua việc phá huỷ bộ mặt tha nhân. Trước sự
kiện con “Chiên Thiên Chúa” đă phải gánh thay vào ḿnh tất cả những nhục
nhă đó, chúng ta một mặt phải rúng động về sự dă man của con người, phải
đặt lại vấn đề với chính ḿnh về việc đă tỏ ra hèn nhát hay câm lặng
đứng nh́n, cũng như chính ḿnh đă đồng loă với tội ác. Mặt khác chúng ta
phải sửa đổi ḿnh để Chúa được vui. Chúa đă đứng về phía những người vô
tội và những người đau khổ, và Ngài cũng muốn thấy ta cùng đứng ở phía
đó.
Trên thập
giá đức Giê-su c̣n bị chế nhạo. Lính đưa cho Ngài rượu có trộn mật đắng.
Họ c̣n treo trên thập giá tấm bảng viết:
Giê-su
Na-da-ret, vua Do-thái (INRI). Các thượng tế và thầy luật la lên:
“Mày muốn phá Đền thờ rồi xây lại trong ba ngày ư? Nếu là con Thiên Chúa
th́ hăy cứu ḿnh và xuống khỏi thập giá đi.” Nhưng đức Giê-su đă không
rời thập giá. Ngài chẳng nói ǵ. Chẳng nói ǵ cả. Từ giờ thứ sáu tới giờ
thứ chín trời đất bỗng tối sầm. Vào khoảng giờ thứ chín Ngài kêu lên:
“Eli, Eli, lema sabachtani”. Một câu thật lạ, v́ nó mang nghĩa: “Chúa
ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ con?”
Về việc
trao thức uống, Tin Mừng kể lại hai cách. Mat-thêu nói đó là rượu trộn
mật đắng, và người ta trao cho Ngài lúc bắt đầu đóng đinh, có lẽ đó là
một thứ thuốc tê. Nhưng Ngài đă từ chối, v́ Ngài muốn chịu đựng nỗi đau
với tất cả cảm giác. Mac-cô, Lu-ca và rơ hơn Gio-an bảo đó là giấm, và
người ta đă trao cho Ngài khi sắp tắt thở. Rơ ràng các thánh sử muốn
liên tưởng tới câu Thánh Vịnh: “Thay v́ của ăn chúng đưa cho tôi thuốc
độc và giấm” (Tv 69,22). Một vài chỗ trong sách tiên tri cũng viết: Ta
đă trồng một vườn nho và nó đă đưa cho ta giấm – một lời than trách vẫn
luôn đúng cho hoàn vũ ki-tô giáo.
Rồi ta nghe
những nhạo báng đổ lên đức Giê-su. Sách Khôn ngoan trong Cựu Ước có
viết: “Những kẻ bất lương nhạo báng người công chính”. Chúng đưa Ngài
tới chỗ chết và nói: Này là lúc hăy tỏ cho chúng tao thấy mày có phải
Thiên Chúa hay không. Đó là lối thử nghiệm của họ. Đó là giây phút chiến
thắng, mà những người pha-ri-sêu, có thể một số trong họ trước đó đă bị
cắn rứt lương tâm, giờ đây thấy ḿnh có lí và quay ra nhạo báng Ngài.
Như vậy là họ thông đồng với nỗi tầm thường của sự dữ, như nó đă được
thể hiện nơi đám binh lính.
Tin Mừng
cho hay đức Giê-su trên thập giá đă thốt ra bảy lời tất cả. Lời nhắc đến
trên kia có tầm quan trọng bản lề. Đó và câu đầu của Thánh Vịnh 21, bài
bi ca lớn của dân Is-ra-en, cho thấy trong lịch sử, cứ mỗi lần dân này
bị áp bức và bị dồn vào đường cùng, đều kêu lên: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao
Ngài bỏ rơi tôi?”. Dùng Thánh Vịnh 21 để cầu nguyện, là đức Giê-su muốn
đồng hoá ḿnh với dân tộc đau khổ Is-ra-en, và muốn nhận vào Ngài số
phận của dân này.
Nhưng ta
không được quên, đó cũng là một lời cầu nguyện. Trong tiếng la nguy kịch
đó Ngài đă hướng về Thiên Chúa. Đức Giê-su chết như một người cầu
nguyện, như một người làm theo lời dạy của điều răn thứ nhất, là luôn
cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh Vịnh đưa ta vào một nỗi tín thác lớn,
nó tiên tri về phép Ḿnh Thánh và chấm dứt với câu: “Người nghèo được ăn
uống no nê”. Từ thập giá tuôn ra Manna mới làm cho kẻ nghèo được no nê.
Khi Ngài
tắt thở, khăn Đền thờ bị xé đôi. Động đất, đá tảng vỡ ra, ta c̣n đọc
thấy là mồ mả mở tung. Bao nhiêu thế kỉ, các nghệ sĩ cố gắng bằng mọi
cách diễn tả cảnh tượng đó. Tôi nhớ đặc biệt tới một tấm h́nh: Kẻ bị
đóng đinh gục đầu hơi nghiêng về một bên vai, mắt nh́n thẳng vào người
xem. Mũ gai ấn mạnh vào sọ. Máu tuôn đầy người. Nước mắt Ngài chảy ra.
Nhưng dù bị khổ nạn, ánh mắt hé mở và không bị hây hấn ǵ của Ngài vẫn
toát ra nét b́nh an. Dù có đủ lí do để than thở, nhưng kẻ bị nạn vẫn mỉm
cười với người xem. Chẳng có một nét ǵ gọi là trách cứ trên khuôn mặt
đó, đức Giê-su trông như đă được giải thoát và hoàn toàn thanh thoải.
Càng nh́n Ngài lâu, quái lạ ta càng nhận ra rơ nét an ủi bên cạnh nét u
sầu.
Chỉ trong
suy niệm, chỉ khi hồn ta qua cầu nguyện đồng hoá làm một với đức Ki-tô
chịu đóng đinh, khi đó ta mới có được những h́nh ảnh chịu nạn đích thực,
lớn và thuần khiết. Chúng vừa nói lên nỗi khát khao, cơn túng quẫn, nỗi
đau đớn và sự tra tấn man rợ nhất, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự b́nh
an trong câu nói cuối cùng: “Con phó linh hồn trong tay Cha. Sự việc đă
hoàn tất”.
Đức Giê-su
gục đầu và tắt thở. Ngài trút tinh thần và trao nó lại cho Cha Ngài, và
sự b́nh an đă chói rạng lên từ câu nói cuối cùng của Ngài. H́nh chịu nạn
không bao giờ được phép chỉ nói lên khía cạnh man rợ mà thôi, v́ như thế
chúng không diễn tả hết được cái bí ẩn của đức Ki-tô. Nếu chúng chỉ muốn
nhắm tới việc thoá mạ con người không thôi, th́ chính chúng lại trở nên
đích cho người ta diễu cợt.
PHỤC SINH
Trong ṿng
24 tiếng đồng hồ, khắp Giê-ru-sa-lem nhận ra sự kiện phục sinh. Người
trong thành sáng hôm đó ai nấy đều sửng sốt. Lại có động đất, cuộc động
đất hai ngày trước đó đă làm rung chuyển Đền thờ, rồi suốt trong ba giờ
liền băo cát nổi lên, tiếp đó lại động đất. Khi các bà là những người
đầu tiên tri hô lên không c̣n thấy xác, người nghe coi đó là chuyện
nhảm. Nhưng đến chiều tối th́ chẳng c̣n ai ngờ ǵ nữa, nhất là trong đám
môn đệ. Đức Giê-su đă hiện ra với hai trong số các môn đệ trên đường đi
Ê-mau và đă tỏ ḿnh cho họ biết. Lịch sử đạo Ki-tô như là lịch sử của
một niềm tin khởi đầu từ giây phút này.
Giê-ru-sa-lem đă biết đến sự kiện sớm hay muộn, ta không rơ. Ta chỉ biết
qua kết luận của Mat-thêu rằng, cả sau cuộc hiện ra cuối cùng của Chúa
trên núi Si-nai – Đấng bị đóng đinh đă sống lại và nói: “Mọi quyền năng
đă được trao cho Ta” – th́ vẫn c̣n có những kẻ không tin. Sứ điệp phục
sinh luôn gặp phải ngờ vực và chối bỏ, cho dù nó là một sứ điệp chiến
thắng, sứ điệp vượt thắng hoài nghi.
Đức Ki-tô
đă ra khỏi thế gian và ra khỏi cuộc sống thế gian để mặc lấy một thân
xác mới. Thân xác này không c̣n bị lệ thuộc bởi các quy luật vật lí; nó
thuộc về thế giới thiên chúa, từ thế giới đó Ngài tỏ ḿnh ra cho con
người và mở ḷng họ, để họ nhận ra và đụng chạm được Ngài. Chúng ta luôn
được mời gọi, cùng với “tông đồ không tin” Tô-ma, sờ vào Ngài và nhận ra
cái hiện tại sống động mà Ngài luôn tỏ ḿnh ra một cách mới trong lịch
sử.
Biến cố
phục sinh là một cái ǵ mới đi vào trần thế, và từ đó Giáo hội đă có thể
h́nh thành. Và trong thực tế, phục sinh là cộng đoàn của những người tin
vào đức Ki-tô, cộng đoàn của Dân thiên chúa mới.
Thập giá,
biểu tượng linh thiêng nhất của vũ trụ, như Guardini đă nói, đă trở
thành dấu chỉ của ki-tô hữu. Thập giá với một người bị đóng đinh – là
một biểu tượng gây khó chịu, tạo chống đối. Ngay Phao-lô đă phải cảnh
giác: Đừng làm cho thập giá trở nên vô nghĩa, đừng đặt ngang hay dựng
đứng nó, đừng biến cái hơn của Chúa ra cái kém của thế giới.
Thật ra đó
là một câu chuyện có một không hai. Thập giá không những là nơi kết thúc
sứ điệp và chính thân xác thịt máu của đức Giê-su. Chính nó đă trở thành
biểu tượng cứu độ, biểu tượng không phải của sự chết, mà là sự sống. “Gỗ
của sự sống thật” thánh An-rê ở Giê-ru-sa-lem đă hát lên như thế. Điều
trớ trêu: Qua thập giá tới cứu độ.
Những bức
ảnh chịu nạn xưa mô tả người bị đóng đinh đồng thời cũng là kẻ sống lại,
là vua. H́nh người trên đó mở mắt, để cho thấy bản chất không chết của
Thiên Chúa, nhưng Ngài sống măi và trao tiếp sự sống. Như vậy, từ một
công cụ hành h́nh xấu xa của người Rô-ma, thập giá đă trở nên dấu chỉ
chiến thắng của Con Người. Dấu chỉ đó sẽ không chỉ đến với ta trong ngày
sau hết, nhưng nó đă tới, qua việc Ngài đến với ta như một kẻ chiến
thắng và mang ta đi. Cùng với Ngài ta lên đường tiến về Thiên Chúa hằng
sống; qua nỗi đau khổ của Ngài ta thấy niềm an ủi của t́nh yêu thiên
chúa, t́nh yêu này mạnh hơn đau khổ.
Như vậy,
thập giá thật sự đă trở thành một dấu chỉ cứu độ, dấu chỉ vắn gọn của
đức Giê-su Ki-tô, qua đó chúng ta nối kết với Ngài.
Các môn đệ
ở Giê-ru-sa-lem quả đă bị một cú xốc lớn: Đấng Thiên Sai, Đấng đă có thể
chữa lành người mù và khiến kẻ chết sống lại, bỗng dưng hiện thân như
một kẻ bị sỉ nhục, bị dày đạp và bị đám tay sai quyền lực treo lên thập
giá. Điều tuyệt đối không thể giải thích được: Tại sao Thiên Chúa lại
phải đau đớn và chết, mới cứu được tạo vật của Ngài?
Đó là bí ẩn
của Thiên Chúa: Ngài không đi vào trần thế để cải tạo công bằng xă hội
bằng quyền lực. Ngài đă v́ ta hạ ḿnh và để cùng đau khổ với ta.
Ta sẽ không
bao giờ hiểu hết được bí ẩn đó. Và dù vậy, cái tích cực nhất mà ta biết
được về Chúa, là Ngài không đơn giản cai trị bằng quyền lực. Thiên Chúa
có lối sử dụng quyền lực riêng, không như lối của con người. Quyền lực
của Ngài là sức mạnh cùng yêu và cùng khổ, và khuôn mặt thật của Ngài tỏ
lộ ra chính trong đau khổ. Thiên Chúa mang nỗi bất công của thế giới
trong đau khổ, nhờ đó chính trong những giờ phút đen tối ta có thể chạy
tới cùng Ngài là kẻ gần với ta nhất.
Thiên Chúa
trở nên bé nhỏ, để ta có thể nắm bắt được Ngài. Để cho con người học
được nguyên tắc sống chống lại thói kiêu căng và muốn làm trời của họ.
Ngài tới như một người sờ đúng trái tim ta.
(c̣n tiếp
nhiều kỳ)
|