| |

ÂN SỦNG
và T̀NH THƯƠNG
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
2009
Đức Gioan Phaolô II
Chứng Từ Chúa T́nh Thương
rong việc loan truyền Ḷng
Thương Xót Chúa, có một sự trùng hợp rất lạ lùng, đó là câu Chúa Giêsu
nói với chị Thánh Faustina và đă được chị ghi lại ở Nhật Kư số 1732 rằng
”Từ Balan sẽ vót lên một tia sáng để sửa soạn thế giới cho lần đến
cuối cùng của Cha”.
Tất nhiên, theo Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II th́ tia sáng này là chính sứ điệp về Ḷng Thương Xót
Chúa qua chị Thánh Faustina, như ngài đă cho biết trong bài giảng cung
hiến Đền Thờ Chúa T́nh Thương ở Balan ngày 17/8/2002.
Thế nhưng, khi vừa đọc thấy
câu này lần đầu tiên vào năm 1995, th́ đột nhiên và tự nhiên người viết
nghĩ ngay đến trường hợp vị đương kim Giáo Hoàng bấy giờ là Đức Gioan
Phaolô II, một tia sáng bất ngờ xuất phát từ Balan, và là vị Giáo Hoàng
không phải Ư quốc sau 450 năm, vị Giáo Hoàng đă bắt đầu hướng đến Năm
2000, ngay trong bức Thông Điệp đầu tay về “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần
– Redemptor Hominis”, bức thông điệp được ban hành sau khi lên ngôi
Giáo Hoàng 5 tháng, Chúa Nhật I Mùa Chay, 4/3/1979, vị Giáo Hoàng cũng
đă viết bức Thông Điệp thứ mang tựa đề liê n quan tới ánh sáng, “Rạng
Ngời Chân Lư – Veritatis Splendor”, ban hành ngày 6/8/1993, Lễ Chúa
Biến H́nh, vị Giáo
Hoàng đă sống một cuộc đời và đă thực hiện những việc làm phải nói là
liên quan đến Ḷng Thương Xót Chúa.
Trong cả Huấn Từ Lạy Nữ
Vương Thiên Đàng Chúa Nhật II Phục Sinh Lễ Chúa T́nh Thương 30/3/2008,
lẫn trong bài giảng cho Lễ Giỗ 3 năm băng hà của vị tiền nhiệm yêu dấu
Gioan Phaolô II của ḿnh, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đều lập lại một tư
tưởng then chốt cho cả giáo triều của Đức Gioan Phaolô II, đó là câu:
“Nhân loại không có một nguồn hy vọng nào
khác ngoài Ḷng Thương Xót Chúa”:
□
“Như Thánh
Faustina, Đức Gioan Phaolô II cũng đă trở thành một vị tông đồ của ḷng
thương xót thần linh.
Vào đêm Thứ Bảy 2/4/2005 không thể quên được ấy, khi ngài vĩnh
viễn ĺa đời th́ chính là thời điểm lễ vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh
đă được cử hành, và nhiều người nhận định thấy sự trùng hợp đặc thù này,
một sự trùng hợp giữa chiều kích Thánh Mẫu là ngày Thứ Bảy Đầu Tháng và
chiều kích ḷng thương xót thần linh. Thật vậy, giáo triều
lâu dài và muôn mặt của ngài là ở cái cốt lơi chính yếu này; tất cả sứ
vụ của ngài trong việc phục vụ chân lư về Thiên Chúa, về con người và về
ḥa b́nh trên thế giới đều được tóm gọn trong lời tuyên bố này,
như chính ngài đă nói ở Krakow-Lagiewniki năm 2002, khi khánh thành Đền
Thờ Ḷng Thương Xót Chúa: ‘Ngoài t́nh thương của Thiên Chúa sẽ
không có một nguồn hy vọng nào khác cho nhân loại hết’. Sứ
điệp của ngài, như sứ điệp của Thánh Faustina, cho thấy dung nhan của
Chúa Kitô, mạc khải tối hậu của t́nh thương Thiên Chúa. Hăy liên lỉ
chiêm ngưỡng dung nhan này: Đó là gia sản ngài đă để lại cho chúng ta mà
chúng ta hân hoan đón nhận làm của ḿnh”. (Huấn từ 30/3/2008)
□
“T́nh thương
của Thiên Chúa,
như chính ngài nói, là then chốt đặc biệt cho việc hiểu được giáo
triều của ngài. Ngài muốn sứ điệp về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa
được phổ biến tới tất cả mọi người nam nữ, và ngài kêu gọi tín hữu hăy
trở thành chứng nhân cho sứ điệp này
(Cf. Homily at the dedication of the Shrine of Divine Mercy, Aug. 17,
2002.). Đó là lư do ngài đă muốn nâng lên bàn thờ Nữ Tu Faustina
Kowalska, một tu sĩ khiêm hạ đă được ư nhiệm thần linh biến đổi thành vị
sứ giả tiên tri của ḷng thương xót thần linh. Người Tôi Tớ Chúa Gioan
Phaolô II đă biết được và bản thân đă trải qua những thảm họa của thế kỷ
20, và ngài đă tự hỏi ḿnh trong một thời gian dài cái ǵ có thể ngăn
chặn được bước tiến của sự dữ. Câu trả lời chỉ có thể t́m thấy nơi t́nh
yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ có t́nh thương thần linh mới có
thể hạn chế sự dữ; chỉ có t́nh yêu toàn năng của Thiên Chúa mới có thể
lật đổ việc thống trị của những kẻ dữ và quyền lực hủy hoại của cái tôi
và hận thù. V́ lư do ấy, trong chuyến viếng thăm Balan lần cuối cùng
của ḿnh, khi trở về quê hương xứ sở của ḿnh, ngài đă nói rằng: ‘nhân
loại không c̣n hy vọng nào khác ngoài t́nh thương của Thiên Chúa’.
(Bài giảng 2/4/2008)
Nếu
quả
thật
đêm
ngày 2/4/2005, thời
điểm
Thứ
Bảy
Đầu
Tháng vọng
Chúa Nhật
Lễ
Chúa T́nh Thương
3-4, cũng
là thời
điểm
vĩnh
viễn
ĺa đời
về
với
Chúa của
vị
Giáo Hoàng Thánh Mẫu
Totus Tuus, có thể
nói, căn
cứ
vào lời
Chúa Giêsu ngầm
tiết
lộ
cho chị
Thánh Faustina và
được chị
viết
trong Nhật
Kư của
chị
ở
số
1732 ngày 26/5/1938, Lễ
Chúa Thăng
Thiên, như
“ánh sáng xuất
hiện
từ
Balan để
sửa
soạn
thế
giới
cho lần
đến
cuối
cùng của
Cha”, th́ ngài quả
thực
là một
Vị
Tông Đồ
của
Ḷng Thương
Xót Chúa. Thế
nhưng,
đâu
là những
minh chứng
cho vai tṛ này của
ngài, vai tṛ Tông
Đồ của
Ḷng Thương
Xót Chúa?
Thật
ra, nếu
chiều
kích Thánh Mẫu
của
Đại
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
được
nổi
bật
qua tước
hiệu
Totus Tuus của
ngài, cũng
như
qua những
biến
cố
xẩy
ra trong giáo triều
của
ngài liên quan tới
Thánh Mẫu
Fatima, như
ngài bị
ám sát năm
1981 vào ngay ngày kỷ niệm
Mẹ
Maria hiện
ra ở
Fatima lần
đầu
tiên 13/5, và sau đó
ngài đă
cùng hàng giáo phẩm
Công Giáo hoàn vũ
chính thức
và công khai hiến
dâng toàn thể
loài người,
trong đó
có ngầm
nói đến
Nước
Nga, vào ngày Lễ Mẹ Thai Lời
25/3/1984, ngày bế mạc Năm Thánh (1983-1984) Cứu Chuộc 1950 năm,
và nhất
là việc
ngài cho tiết
lộ
Bí Mật
Fatima phần
thứ
ba qua Thánh Bộ
Tín Lư Đức
Tin ngày 26/6/2000, th́ chiều
kích Ḷng Thương
Xót Chúa của
ngài lại
là những
ǵ cần
phải
chú ư nhận
định
mới
thấy
được.
Thật
thế,
chiều
kích Ḷng Thương
Xót Chúa của
Đức
Gioan Phaolô II, ngoài những
lời huấn từ di chúc cuối cùng của ngài cho Chúa Nhật II Phục Sinh Kính
Ḷng Thương Xót Chúa 3/4/2005,
có thể
nói c̣n được
thể
hiện
qua những
việc
ngài làm, chẳng
hạn
như 15 sự kiện sau
đây:
(tiếp)
1)
Ban hành bức
Thông Điệp
về
Chúa Cha mang tựa
đề
và nội
dung “Giầu
Ḷng Thương
Xót – Dives in Misericordia”
ngày 30/11/1980, bức
thông điệp
thứ
hai trong giáo triều
của
ngài:
“7-
Thập giá
ở đồi Canvê, thập giá mà trên ấy Đức Kitô đă thực hiện một cuộc đối
thoại cuối cùng với Cha, phát xuất từ chính tâm điểm của t́nh yêu
mà con người, được dựng nên theo h́nh ảnh và tương tự như Thiên Chúa, đă
được ban cho như một tặng ân, theo dự án đời đời của Thiên Chúa.
Thiên Chúa, như Đức Kitô đă mạc khải về Ngài, không chỉ
gắn liền với thế giới như một Hóa Công và như một nguồn mạch tối hậu của
việc hiện hữu. Ngài cũng là Cha: Ngài gắn liền với con người,
thành phần mà Ngài đă kêu gọi vào thế giới hữu h́nh này, bằng một liên
hệ c̣n thân t́nh hơn cả mối liên hệ tạo thành nữa. Đó là
t́nh yêu, một t́nh yêu chẳng những tạo nên sự thiện mà c̣n ban cho nó
được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh
Thần. V́ Ngài là Đấng yêu thương muốn ban chính bản thân ḿnh…….
“Tin
vào Người Con tử giá tức là 'thấy Cha' (Jn.14:9), tức là
tin rằng t́nh yêu hiện diện trong thế giới này, và t́nh yêu này mạnh hơn
bất cứ một loại sự dữ nào vây bọc cá nhân, loài người hay thế giới. Tin
vào t́nh yêu này là tin vào t́nh thương. V́ t́nh thương là một chiều
kích không thể nào tách rời của t́nh yêu; nó thực sự như là một danh
hiệu thứ hai của t́nh yêu, đồng thời, là một thể thức đặc biệt cho t́nh
yêu tỏ ḿnh ra và tác dụng ngược lại với thực tại của sự dữ trong thế
giới đang chi phối và bủa vây con người, đang thấm vào tận tâm can họ và
có khả năng khiến cho họ bị 'tử vong trong Hỏa Ngục'
(Mt.10:28)".
2)
Ban hành
Tông Thư
“Đau
Khổ
Cứu
Độ
– Salvifici Doloris”
ngày
11/2/1984,
trong đó ngài đă dẫn
Giáo Hội vào tận thâm cung của mầu nhiệm đau khổ, ở 3 đoạn tiêu biểu
sau đây:
“1- Khi
loan báo về quyền năng của khổ đau cứu độ, Vị Tông Đồ Phaolô viết: ‘Tôi
hoàn tất nơi xác thịt của tôi những ǵ c̣n thiếu nơi những cuộc khổ nạn
của Chúa Kitô phải chịu v́ thân thể của Người là Giáo Hội’ (Col 1:24)
“…Vị Tông Đồ này chia sẻ việc khám phá của ḿnh và hân hoan với việc
khám phá đó v́ tất cả những ai việc khám phá này có thể giúp hiểu được –
như nó đă giúp cho ngài – ư nghĩa cứu độ của khổ đau”.
“3- Đề tài đau khổ là những ǵ cần phải đặc biệt đối diện trong bối cảnh
của Năm Thánh Cứu Chuộc, và sở dĩ như thế, trước hết là v́ Việc
Cứu Chuộc được hoàn tất nhờ Thập Giá của Chúa Kitô, tức là, nhờ khổ đau
của Người. Đồng thời, trong Năm Cứu Chuộc, chúng ta cũng nhắc
lại sự thật được diễn tả trong bức Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần,
đó là, nơi Chúa Kitô, ‘hết mọi người trở thành đường lối cho Giáo
Hội’ (khoản 14,18,21,22). Có thể nói rằng, con người đặc
biệt trở thành đường lối cho Giáo Hội khi khổ đau xẩy ra cho cuộc sống
của họ”.
“12. Đó
là một
khía cạnh
rất
quan trọng
của
khổ
đau.
Nó được
bắt
nguồn
sâu xa nơi
tất
cả
Mạc
Khải
Cựu
Ước,
nhất
là Tân Ước.
Khổ
đau
cần
phải
giúp cho việc
hoán cải,
tức
là, cho việc
tái thiết
sự
thiện
hảo
nơi
chủ
thể,
một
chủ
thể
có thể
nhận
ra t́nh thương
thần linh trong tiếng
gọi
thống
hối.
Mục
đích
của
việc
hối
cải
ăn
năn
đó
là để
chế
ngự
sự
dữ,
một
sự
dữ
qua những
h́nh thức
khác nhau ẩn
nấp
nơi
con người.
Mục
đích
của
nó cũng
để
củng
cố
sự
thiện
hảo
cả
nơi
chính bản
thân con người
lẫn
nơi
các mối
liên hệ
của
họ
với
những
người
khác, nhất
là với
Thiên Chúa.
“13. Thế
nhưng,
để
nhận
thấy
được
câu giải
đáp
thực
sự
cho vấn
đề
‘tại
sao’ của
đau
khổ,
chúng ta cần
phải
nh́n tới
mạc
khải
của
t́nh yêu thần
linh, nguồn
mạch
tối
hậu
cho ư nghĩa
của
hết
mọi
sự
hiện
hữu.
T́nh yêu cũng
là nguồn
mạch
phong phú nhất
cho ư nghĩa
của
khổ
đau,
thứ
khổ
đau
bao giờ
cũng
vẫn
là một
mầu
nhiệm:
chúng ta biết
được
cái thiếu
hụt
và bất
toàn nơi
những
lời
dẫn
giải
của
chúng ta. Chúa Kitô khiến
chúng ta tiến
vào mầu
nhiệm
này và khám phá ra
‘cái lư do tại sao’
của
đau
khổ,
bao lâu chúng ta có thể
thấu
hiểu
được
tính cách siêu vời
của
t́nh yêu thần
linh.
“Để
khám phá được
ư nghĩa
sâu xa của
đau
khổ,
căn
cứ
vào lời
mạc
khải
của
Thiên Chúa, chúng ta cần
phải
mở
rộng
bản
thân ḿnh trước
vấn
đề
nhân loại
nơi
khả
năng
đa
dạng
của
họ.
Trước
hết
chúng ta cần
phải
chấp
nhận
ánh sáng Mạc
Khải
chẳng
những
v́ ánh sáng này
cho thấy lănh giới
siêu việt
của
công lư mà c̣n chiếu
tỏ
lănh giới
này bằng
T́nh Yêu, như
là một
nguồn
mạch
tối
hậu
của
hết
mọi
sự
hiện
hữu.
T́nh Yêu cũng
c̣n là nguồn
mạch
trọn
vẹn
nhất
của
giải
đáp
cho vấn
đề
ư nghĩa
của
khổ
đau.
Câu giải
đáp
này được
Thiên Chúa cống
hiến
cho con người
nơi
Thánh Giá của
Chúa Giêsu Kitô.
“31. Đó
là ư nghĩa
của
đau
khổ,
một
ư nghĩa
thực
sự
có tính cách siêu nhiên và
đồng
thời
cũng
có tính cách nhân loại
nữa.
Nó có tính cách siêu nhiên v́ nó
được
bắt
nguồn
sâu xa nơi
mầu
nhiệm
thần
linh của
việc
Cứu
Chuộc
thế
giới,
đồng
thời
nó cũng
có tính cách nhân bản,
v́ nơi
nó con người
khám phá ra bản
thân ḿnh, nhân tính của
ḿnh, phẩm
vị
của
ḿnh, sứ
vụ
của
ḿnh.
“Mầu
nhiệm
Cứu
Chuộc
thế
giới
có một
liên hệ
chặt
chẽ
một
cách lạ
lùng với
khổ
đau,
và khổ
đau
này ngược
lại
t́m thấy
nơi
mầu
nhiệm
Cứu
Chuộc
điểm
tựa
tối
hậu
và vững
chắc
nhất
của
nó”.
3)
Lập
Ngày Thế
Giới
Bệnh
Nhân ngày 13/5/1992
để
cử
hành vào Lễ
Mẹ
Lộ
Đức
hằng
năm
11/2.
Năm 2004, năm
kỷ niệm 150 năm
Tín Điều Thánh Mẫu Vô Nhiễm (1854-2004), Ngày Thế Giới Bệnh Nhân được
tổ chức tại ngay Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức như lần đầu tiên năm 1993, và
là năm học hỏi cùng suy niệm chủ đề
“Việc Hoài
Thai Vô Nhiễm và Vấn Đề Chăm Sóc Sức Khỏe theo những căn gốc Kitô Giáo ở
Âu Châu”. Sau đây là một số
đoạn
tiêu biểu từ
sứ
điệp của ĐTC GPII cho Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 11/2/2004, đặc
biệt liên quan tới ư nghĩa việc chữa lành ở Lộ Đức và đau khổ của con
người.
”1. Ngày Thế Giới Bệnh Nhân, một biến cố được tổ chức hằng năm ở một Lục
Địa khác nhau, có một ư nghĩa đặc biệt trong lần này. Thật vậy, nó sẽ
diễn ra ở Lộ Đức, Pháp Quốc, địa điểm hiện ra của Đức Trinh Nữ vào ngày
11/2/1858, một địa điểm từ đó đă trở thành mục tiêu của nhiều người hành
hương. Nơi miền đồi núi này, Đức Mẹ đă muốn bày tỏ t́nh yêu từ mẫu
của ḿnh, nhất là đối với thành phần khổ đau và bệnh nạn.
Kể từ khi ấy, Mẹ tiếp tục hiện diện bằng ḷng quan tâm của ḿnh….
Đền Thánh Mẫu này được chọn là v́ năm 2004 là năm kỷ niệm mừng 150 năm
việc công bố Tín Điều Hoài Thai Vô Nhiễm….
“Bởi thế,
việc Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội là rạng đông hứa hẹn cho một ngày
quang sáng Chúa Kitô, Đấng đă phục hồi trọn vẹn mối ḥa hợp giữa Thiên
Chúa và nhân loại bằng cuộc tử nạn và Phục Sinh của Người.
Nếu Chúa Giêsu là nguồn sống chiến thắng tử thần th́ Mẹ Maria là
người mẹ quan tâm đến để đáp ứng các nhu cầu của con cái ḿnh, bằng việc
giúp họ chiếm được sức khỏe phần hồn cũng như phần xác. Đó là sứ điệp
được Đền Thánh Mẫu Lộ Đức liên lỉ lập lại cho thành phần sùng mộ cũng
như cho các người hành hương. Đó cũng là ư nghĩa ẩn nấp bên trong các
cuộc chữa lành về thân thể và tinh thần xẩy ra tại hang động Massabielle.
”Tại địa điểm này, từ ngày hiện ra với Bernadette Soubirous, Mẹ
Maria đă ‘chữa lành’ đau thương và bệnh nạn, bằng cách phục hồi sức khỏe
phần xác cho nhiều người con nam nữ của ḿnh. Tuy nhiên,
Mẹ đă thực hiện những phép lạ lạ lùng hơn nữa nơi linh hồn các tín hữu,
sửa soạn cho họ gặp gỡ Chúa Giêsu Con Mẹ là giải đáp thực sự cho những
mong đợi sâu xa nhất của tâm can con người. Chúa Thánh
Thần, Đấng đă bao phủ Mẹ vào lúc Lời Nhập Thể, biến đổi linh hồn của vô
số bệnh nhân chạy đến với Mẹ. Ngay cả khi họ không nhận được ơn về sức
khỏe phần xác, họ cũng có thể lănh nhận được một ơn khác c̣n quan trọng
hơn thế nữa, đó là ơn hoán cải tâm hồn, nguồn mạch của sự an b́nh và
niềm vui nội tâm. Tặng ân này biến đổi đời sống của họ và làm cho họ trở
thành những tông đồ của Thập Giá Chúa Kitô, biểu hiệu của hy vọng, cho
dù ngay giữa những con thử thách dữ dội nhất và khó khăn nhất.
”4. Trong Tông Thư ‘Salvifici Doloris’, Tôi đă nhận định rằng đau
khổ là những ǵ thăng trầm của con người nam nữ trong suốt gịng lịch sử
mà họ cần phải biết chấp nhận và thắng vượt nó (cf. No. 2: [11
February 1984]; L'Osservatore Romano English Edition [ORE], 20 February,
p. 1). Tuy nhiên họ làm sao có thể thực hiện được điều này nếu
không nhờ Thập Giá Chúa Kitô?
”Nơi cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đấng Cứu Chuộc, khổ đau của nhân
loại t́m thấy được ư nghĩa sâu xa nhất của ḿnh cùng với giá trị cứu độ
của nó. Tất cả mọi gánh nặng của khổ ải và đau đớn của nhân loại được
tóm lại nơi mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa, khi mặc lấy bản tính loài
người, đă ‘trở thành tội lỗi… v́ chúng ta’ (2Cor 5:21) một
cách nhục nhă. Trên Golgotha Người đă gánh lấy tội lỗi của hết
mọi con người tạo sinh, và Người đă kêu lên cùng Chúa Cha trong nỗi tủi
thân và niềm phó thác là ‘Tại sao Cha lại bỏ rơi con?’ (Mt 27:46).
”Từ cái
mâu thuẫn của Thập Giá đă phát xuất ra câu giải đáp cho những vấn đề rắc
rối nhất của chúng ta. Chúa Kitô đă chịu khổ v́ chúng ta. Người
đă mang lấy nơi bản thân Người các thứ khổ đau của hết mọi người và cứu
chuộc chúng. Chúa Kitô chịu khổ với chúng ta, cho chúng ta được
thông phần đau khổ của chúng ta với đau khổ của Người. Liên kết với đau
khổ của Chúa Kitô, đau khổ của nhân loại trở thành phương tiện cứu độ;
đó là lư do tại sao tín hữu có thể cùng với Thánh Phaolô nói rằng ‘Giờ
đây tôi v́ anh em vui mừng chịu đựng đau khổ của ḿnh, và tôi hoàn tất
nơi xác thịt của ḿnh những ǵ c̣n thiếu nơi những đau thương của Chúa
Kitô phải chịu v́ thân thể của Người là Giáo Hội’ (Col 1:24). Được
chấp nhận bằng đức tin, đau đớn trở thành cửa ngơ tiến vào mầu nhiệm khổ
đau cứu chuộc của Chúa Kitô; một khổ đau không c̣n làm mất đi sự b́nh an
và hạnh phúc v́ nó được chiếu tỏa bởi ánh quang của Cuộc Phục Sinh.
”5. Đứng dưới chân Thập Giá, Mẹ Maria, trở thành mẹ của loài
người, âm thầm chịu đựng, thông phần khổ đau của Con Mẹ, sẵn sàng cầu
bầu để hết mọi người được ơn cứu độ (cf. John Paul II, Apostolic
Letter "Salvifici Doloris" [11 February 1984], n. 25; ORE, 20 February
1984, p. 6).
”Ở Lộ Đức, thật là dễ dàng hiểu được việc Mẹ Maria đặc biệt tham dự vào
vai tṛ cứu độ của Chúa Kitô. Ơn lạ Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội nhắc
nhở tín hữu về một sự thật nồng cốt, đó là tín hữu có thể đạt được ơn
cứu độ chỉ cần bằng việc chân thành tham dự vào dự án của Chúa Cha, Đấng
muốn cứu độ thế giới bằng cuộc tử nạn và Phục Sinh của Người Con duy
nhất của Ngài. Nhờ Phép Rửa, tín hữu trở nên thành phần của dự án cứu độ
này và được giải thoát khỏi nguyên tội. Bệnh nạn và chết chóc, mặc
dù hiện diện trong cuộc sống trần gian này, sẽ mất đi ư nghĩa tiêu cực
của chúng, và theo ánh sáng đức tin, cái chết về phần xác, bị cuộc tử
nạn của Chúa Kitô khắc chế (x Rm 6:4), trở thành một cửa
ngơ cần thiết để tiến vào sự sống viên măn vĩnh cửu”.
4)
Khởi
xướng
chiến
dịch
giảm
nợ
nần
quốc
tế
cho các nước
nghèo chậm
phát triển
trong thời
gian dọn
mừng
Đại
Năm
Thánh 2000 qua Tông Thư
“Ngàn Năm
Thứ
Ba Đang
Đến
– Tertio Millennio Adveniente” ban hành ngày 10/11/1994, như sau:
“51- Theo quan điểm này,
nếu chúng ta nhớ lại rằng Chúa Giêsu đến ‘để rao giảng tin mừng cho
người nghèo khó’ (Mt.11:5; Lk.7:22), th́ làm sao chúng ta lại có thể bỏ
qua không nhấn mạnh hơn về việc Giáo Hội quan tâm đặc biệt đếán kẻ nghèo
nàn và kẻ vô loài? Thật vậy, cần phải nói rằng, cuộc dấn thân cho công
lư và ḥa b́nh trong một thế giới như của chúng ta đây, một thế giới bị
ghi dấu bởi quá nhiều giằng co, với những t́nh trạng thiếu quân b́nh về
xă hội cũng như về kinh tế không thể nào chấp nhận được, là một điều
kiện cần thiết cho việc sửa soạn và cử hành cuộc mừng kỷ niệm này.
Bởi thế, theo tinh thần của Sách Lêvi (25:8-12), Kitô hữu cần phải
lên tiếng thay cho tất cả mọi người nghèo trên thế giới, lấy
cuộc mừng kỷ niệm này như một thời điểm thích thuận, để đưa ra ư tưởng,
cùng với các điều khác, về việc giảm bớt thật nhiều, nếu không
hoàn toàn hủy bỏ, số nợ quốc tế (international debt) là cái hằng đe dọa
tương lai của nhiều quốc gia một cách trầm trọng”.
5)
Đẩy
mạnh
vận
động
chống
án tử
h́nh trên thế
giới
bằng
Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống được ban hành ngày 25/3/1995,
Lễ Mẹ Thai Lời liên quan đến sự sống.
Thật vậy, tất
cả những biến động và vận động pḥ sự sống và chống án tử ấy đă được
bùng lên từ vị giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ở chỗ, trong khi Cuốn Sách
Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo, ở khoản số 2266, vẫn chấp nhận cho phép thi
hành án tử trong những trường hợp vi phạm tội ác cực kỳ trầm trọng, vị
giáo hoàng “vui mừng và hy vọng” Gioan Phaolô II này đă c̣n đi đến độ
hoàn toàn chống lại việc thi hành án tử h́nh nữa. Đúng thế, trong Thông
Điệp Phúc Âm Sự Sống, một thông điệp mà, lần đầu tiên trong lịch sử Giáo
Hội, một vị giáo hoàng đă chính thức long trọng lấy quyền ḿnh công khai
tuyên bố những vấn đề về luân lư (chứ không phải tín lư như các tín điều
Thánh Mẫu), như việc sát nhân nói chung (khoản số 57), cách riêng việc
phá thai (khoản số 62), và triệt sinh an tử (khoản số 65), là những hành
động hoàn toàn vô luân rất nặng, vị giáo hoàng là người đầu tiên sử dụng
thành ngữ “văn hóa sự chết” này đă đặt vấn đề hủy bỏ án tử ở khoản số
27, 55 và 56 như sau.
“Có
những dấu hiệu cho thấy việc công chúng càng ngày càng tỏ ra chống lại
án tử h́nh, cho dù án tử h́nh ấy được coi như là một thứ ‘tự vệ hợp lư’
về phía xă hội. Xă hội tân tiến thực sự có cách để chế ngự
tội ác một cách hiệu nghiệm, bằng việc trừng phạt thành phần phạm tội ác
một cách vô hại khi không vĩnh viễn từ khước họ cơ hội để hoán cải….
“Không được lấy làm lạ lùng ở đây là việc sát hại một con người phản ảnh
Thiên Chúa là một tội hết sức trầm trọng. Chỉ có một ḿnh Thiên
Chúa mới làm chủ sự sống mà thôi!...
“Đó là bối cảnh cần phải đặt ra vấn đề án tử h́nh. Về vấn đề này
đang có một khuynh hướng gia tăng, trong cả Giáo Hội lẫn ngoài xă hội
dân sự, yêu cầu là cần phải áp dụng một cách rất hạn chế, thậm chí tới
chỗ hoàn toàn hủy bỏ nó đi. Vấn đề này cần phải được quan niệm
trong mối tương quan của một hệ thống công lư trừng phạt càng ngày
càng phải hợp với phẩm giá con người hơn, tức là với dự án của Thiên
Chúa đối với con người và xă hội. Mục đích chính yếu của việc
trừng phạt được xă hội thực hiện là ‘để sửa lại những ǵ lệch lạc gây ra
bởi việc vi phạm’ (GLGHCG, 2266). Công quyền cần phải sửa lại việc
vi phạm đến các quyền lợi của cá nhân và xă hội, bằng việc áp đặt trên
thành phần vi phạm một h́nh phạt xứng đáng về tội ác gây ra, như điều
kiện cho kẻ vi phạm sửa sai việc hành sử tự do của ḿnh. Nhờ đó, thành
phần thẩm quyền cũng làm trọn được mục đích bênh vực trật tự chung và
bảo đảm được t́nh trạng an toàn của dân chúng, đồng thời cũng hiến cho
kẻ vi phạm một thứ phấn khích và hỗ trợ giúp họ đổi thay hành vi cử chỉ
của họ mà được phục hồi (cùng nguồn vừa dẫn).
“Vẫn biết là để đạt được những mục đích ấy, th́ bản chất và mức độ của
h́nh phạt cần phải được cẩn thận thẩm lượng và quyết định, và không được
đi đến chỗ cực đoan trong việc hành quyết phạm nhân, trừ trường hợp
tuyệt đối cần thiết: nói cách khác, đó là khi không c̣n thể dùng cách
nào khác để bênh vực xă hội được nữa. Tuy nhiên, ngày nay, với thành quả
của những tiến triển liên tục nơi tổ chức về đường lối trừng phạt, những
trường hợp như thế rất ư là hiếm có, nếu không muốn nói là không có.
“Dầu sao th́ nguyên tắc được nêu lên trong Cuốn Giáo Lư Giáo Hội Công
Giáo mới vẫn đúng: ‘Nếu phương tiện không đổ máu là những ǵ đủ để
bênh vực sự sống con người chống lại thành phần tấn công và bảo vệ được
trật tự xă hội cùng t́nh trạng an toàn của dân chúng, th́ công quyền
phải hạn chế ḿnh vào những phương tiện ấy, v́ họ đáp ứng tốt đẹp với
với những điều kiện cụ thể của công ích và hợp với phẩm vị của con người
hơn” (số 2267).
6)
Cử
hành Ngày Ḥa Giải
13/2
xin lỗi và
thứ lỗi
trong
Đại
Năm
Thánh 2000.
Sau Thánh Lễ
của Ngày Tha Thứ 12/3/2000 này trong Đền Thờ Thánh Phêrô, ở Huấn Từ
Truyền Tin trưa hôm đó tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vị giáo hoàng của
Ḷng Thương Xót Chúa dẫn giải thêm về ư nghĩa của tác động xin lỗi và
thứ lỗi như sau:
“1. Trong
tinh thần đức tin của Đại Năm Thánh, hôm nay, chúng ta đang cử hành
Ngày Tha Thứ. Sáng hôm nay, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, tôi đă
chủ sự một hành động thống hối cảm kích và long trọng. Vào Chúa
Nhật Thứ Nhất Mùa Chay này, các Vị Giám Mục và các Cộng Đồng Giáo Hội ở
các phần đất khác nhau trên thế giới đă qú xuống trước nhan Thiên Chúa,
nhân danh toàn thể dân Kitô giáo, nài xin Ngài thứ tha.
“Năm
Thánh này là thời gian thanh tẩy: Giáo Hội là thánh, v́ Chúa Kitô là Đấu
và là Phu Quân của Giáo Hội; Thần Linh là hồn sống của Giáo Hội; Trinh
Nữ Maria và các thánh là hiện thân đích thực nhất của Giáo Hội. Tuy
nhiên, con cái của Giáo Hội cảm nhận được tội lỗi, thành phần làm cho
Giáo Hội trở nên mờ tối, mất đi vẻ đẹp của Giáo Hội. V́ lư do ấy Giáo
Hội không thôi nài xin Chúa thứ tha cho những tội lỗi của con cái ḿnh.
“2. Đây
không phải là một phán đoán về trách nhiệm chủ quan của những
người anh chị em chúng ta đă ra đi trước chúng ta: phán đoán này chỉ
thuộc về một ḿnh Thiên Chúa mà thôi, Đấng, không giống như nhân loại
chúng ta, ‘thấy được tâm trí’ (x Jer 20:12). Tác động của ngày hôm
nay là việc thành tâm nh́n nhận tội lỗi gây ra bởi con cái của Giáo Hội
trong quá khứ xa gần, và là một việc khiêm tốn xin Chúa thứ tha.
Tác động này làm cho lương tâm bừng tỉnh lại, giúp cho Kitô hữu có thể
tiến vào ngàn năm thứ ba một cách cởi mở hơn trước Thiên Chúa và dự án
yêu thương của Ngài.
“Trong
khi chúng ta xin lỗi chúng ta cũng hăy thứ lỗi. Đó là những ǵ
chúng ta hằng ngày nói khi chúng ta đọc kinh Chúa Giêsu dạy: ‘Lạy Cha…
xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’ (Mt
6:12). Đối với tất cả mọi tín hữu, chớ ǵ hoa trái của Ngày Thánh
này là sự tha thứ lẫn cho nhau!
“Việc
ḥa giải xuất phát từ sự tha thứ. Đó là niềm hy vọng của chúng ta đối
với hết mọi Cộng Đồng Giáo Hội, với tất cả mọi tín hữu trong Chúa Kitô
cũng như đối với toàn thể thế giới.”
7)
Phong
Hiển
Thánh cho Nữ Tu Maria Faustina, Sứ Giả của Ḷng Thương Xót Chúa,
ngày 30/4/2000 và
chẳng những
chính thức tuyên bố ngay trong bài giảng về việc ngài thiết lập
Lễ Kính Ḷng Thương Xót Chúa vào Chúa Nhật I sau Phục Sinh, mà
c̣n đích thân loan truyền sứ điệp Ḷng Thương Xót Chúa được
chị thánh viết trong tập Nhật Kư của chị nữa, như ngài đă
minh nhiên làm điều này, nhất là trong bài giảng Lễ Phong 4 Tân Chân
Phước của Balan, những vị tông đồ của Ḷng Thương Xót Chúa, Chúa
Nhật 18/8/2002 như sau (cũng như ở sự kiện thứ 10 dưới đây):
“3.-
Từ khi bắt đầu hiện hữu, Giáo Hội, qua việc bày tỏ mầu nhiệm Thập Giá và
Phục Sinh, đă rao giảng t́nh thương Chúa, một bảo chứng hy vọng và là
nguồn mạch cứu độ con người. Tuy nhiên, hôm nay đây chúng
ta dường như được kêu gọi đặc biệt để loan báo sứ điệp này trước thế
giới. Chúng ta không thể lơ là với sứ vụ này, nếu chính Thiên Chúa đă
kêu gọi chúng ta thực hiện sứ vụ này qua chứng từ của Thánh Nữ Faustina.
”Thiên Chúa đă chọn thời đại của chúng ta cho mục đích này.
Có lẽ v́ thế kỷ 20, mặc dù có những thành đạt không thể chối căi về
nhiều lănh vực, cũng đă bị ghi dấu một cách đặc biệt bởi mầu nhiệm lỗi
lầm ‘mystery of iniquity’. Chúng ta đă tiến vào ngàn năm mới với di sản
vừa thiện vừa ác này. Những chân trời mới trong việc phát triển đang mở
ra trước nhân loại, kèm theo đó có cả những cái nguy hiểm chưa từng có.
Con người thường sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, thậm chí đặt
ḿnh vào vị thế của Thiên Chúa nữa. Họ tự cho ḿnh quyền hành của một Vị
Tạo Hóa trong việc can thiệp vào mầu nhiệm sự sống con người. Họ muốn
định đoạt sự sống con người bằng cách léo lái việc truyền giống cũng như
muốn thiết định giới hạn sự chết. Khi loại trừ lề luật thần linh và
những nguyên tắc luân lư, họ công khai tấn công cơ cấu gia đ́nh. Bằng
những cách thức khác nhau, họ cố gắng làm cho Thiên Chúa phải im hơi
lặng tiếng nơi tâm can của con người; họ muốn làm cho Thiên Chúa “hoàn
toàn khuất bóng” nơi văn hóa và lương tâm các dân tộc. ‘Mầu nhiệm lầm
lỗi’ tiếp tục đánh dấu cái thực tại của thế giới này.
”Cảm nghiệm được ‘Mầu nhiệm lầm lỗi’ ấy, con người mới sống trong nơm
nớp lo sợ về tương lai, lo sợ về t́nh trạng trống rỗng, lo sợ phải khổ
đau, lo sợ bị hủy diệt. Có lẽ chính v́ lư do này mà Chúa Kitô, qua
việc sử dụng chứng từ của một Nữ Tu thấp hèn, đă đến với thời đại của
chúng ta để tỏ cho chúng ta thấy một cách rơ ràng nguồn mạch sống khuây
khỏa và hy vọng ở nơi t́nh thương đời đời của Thiên Chúa.
”Sứ
điệp t́nh yêu nhân hậu cần được vang vọng một cách mạnh mẽ một lần nữa.
Thế giới cần đến thứ t́nh yêu này. Đă đến thời giờ
cần phải mang sứ điệp của Chúa Kitô đến cho mọi người: cho các
kẻ trị v́ và thành phần bị áp bức, cho những ai có bản tính và phẩm vị
bị tiêu ma trong mầu nhiệm lỗi lầm. Đă đến thời giờ sứ điệp Ḷng
Thương Xót Chúa có thể làm cho các tâm hồn tràn đầy hy vọng và trở nên
tia sáng cho một nền văn minh mới, một nền văn minh yêu thương”.
8)
Tha thứ
cho kẻ
sát hại
ḿnh nhất
là xin ân xá cho anh ta trong năm
2000 và anh ta đă được
ra khỏi tù chung thân ngày 14/6/2000 theo ân xá của Tổng Thống Ư quốc:
Thật thế,
tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vào lúc 5 giờ chiều ngày 13/5/1981, ngay
trước buổi triều kiến chung Thứ Tư hằng tuần, đă đột nhiên vang tiếng
súng……, thật ra là mấy tiếng súng chứ không phải một, những tiếng súng
vang lên chỉ cách chiếc giáo hoàng xa của Đức Gioan Phaolô II có 20 bộ
(hay 6 thước), khi ngài ở trên chiếc xe đang chạy chung quanh quảng
trường này theo thường lệ để chào tín hữu đang qui tụ chờ ngài bấy giờ.
Hậu quả là viên đạn phát ra từ ṇng súng lục tự động 9 ly ấy đă xuyên
vào thân thể của vị Giáo Hoàng này, trúng bao tử của ngài, cùi trỏ bên
cánh tay phải của ngài và ngón tay trỏ bên trái của ngài. Ngài đă được
cấp tốc đưa vào bệnh viện, và chỉ khi tới bệnh viện ngài mới hoàn toàn
bất tỉnh nhân sự. Cuộc giải phẫu cứu mạng ngài đă kéo dài 5 tiếng 20
phút, và thân thể ở vào tuổi gần 61 của ngài bấy giờ đă bị mất đi tới
60% lượng máu loang chảy trong ḿnh. Tuy nhiên, kể từ biến cố bị ám sát
hụt ấy, sức khỏe của con người vốn yêu chuộng thể thao này đă trở nên
suy kém, cho tới ngày ngài qua đời 24 năm sau bởi một cơn kịch bệnh cuối
cùng, kết thúc cuộc đời gần 85 tuổi đời của ngài (18/5/1920-2/4/2005).
Trong tác
phẩm cuối đời của ḿnh, Hồi Niệm và Căn Tính, ở phần phụ trương cuối
sách, (ấn bản Anh ngữ trang 161), Đức Gioan Phaolô II đă cho biết những
ǵ xẩy ra sau đó, sau tiếng súng nổ và sau khi ngài được đưa vào bệnh
viện thế này: “Tôi đă không tỉnh dạy cho đến ngày hôm sau, vào
khoảng buổi trưa”. Cũng trong phần phụ trương này, (ở trang
163-164), ngài c̣n cho biết thêm về con người ra tay ám sát ngài như
sau:
“Vào
khoảng Giáng Sinh năm 1983, tôi đă thăm kẻ tấn công tôi đang bị nhốt
trong tù. Chúng tôi nói chuyện lâu giờ. Aĺ Agca, ai cũng đều biết, là
một tay sát thủ chuyên nghiệp. Tức là cuộc tấn công này không phải bởi
sáng kiến riêng tư của anh ta, mà là từ ư nghĩ của một người khác; một
người nào đó đă sai khiến anh ta thực hiện điều này. Trong cuộc nói
chuyện của chúng tôi, Aĺ Agca vẫn c̣n tỏ ra lấy làm ngạc nhiên không
hiểu tại sao một cuộc cố t́nh ám sát như vậy mà lại có thể bất thành cho
được. Anh ta đă rất ư là thận trọng xếp đặt mọi sự, chú ư tới từng chi
tiết nhỏ một. Thế mà nạn nhân được nhắm tới của anh ta lại thoát chết.
Làm sao có thể xẩy
ra như thế được cơ chứ? Cái hay là ở chỗ t́nh trạng bối rối của anh ta
đă dẫn anh ta tới vấn đề về đạo giáo. Anh ta muốn biết về bí mật Fatima,
và bí mật này thực sự là ǵ. Đó là mối quan tâm chính của anh ta; anh ta
muốn biết điều này hơn bất cứ một cái ǵ khác. Có lẽ những vấn nạn dai
dẳng đă cho thấy rằng anh ta đă nắm được một điều ǵ đó thực sự là hệ
trọng. Aĺ Agca có lẽ đă cảm thấy được rằng có một quyền lực cao cả,
vượt trên cả quyền lực của anh ta, trên cả khả năng bắn giết nữa. Bởi
vậy anh ta đă bắt đầu t́m kiếm quyền lực cao cả này. Tôi hy vọng và cầu
xin cho anh ta t́m thấy quyền lực cao cả ấy”.
Vị giám đốc
văn pḥng báo chí ṭa thánh, sau buổi ra mắt tác phẩm ấy của ĐTC, đă cho
các phóng viên truyền h́nh biết nhận định của ḿnh về con người ám sát
ngài như sau: “Chúng là những cơn mê sảng, một thứ ám ảnh đă từng đeo
đuổi Ali Agca nhiều năm trời”. Vị giám đốc văn pḥng báo chí ṭa thánh
c̣n cho biết tay sát nhân này chưa hề lên tiếng xin lỗi ĐGH,
dù có được ngài đến viếng thăm và xin chính phủ Ư ân xá cho, và
yêu cầu của ngài đă được chấp nhận để rồi tay sát thủ này đă được chính
phủ Ư ân xá vào ngày 14/6 trong Đại Năm Thánh 2000, nhưng anh tạ
lại bị chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ giam giữ 19 năm v́ hai trọng tội phạm khác.
Trong lời kết của cuốn sách, ĐGH đă nhận định về giây phút bị ám sát như
sau: “Tất cả đều là những ǵ chứng tỏ cho thấy ân sủng thần linh:
Agca đă biết bắn ra sao và chắc chắn anh ta bắn là phải chết.
Dường như có ai đă làm lệch đi viên đạn được bắn tới.
Tôi có cảm giác rằng tôi sẽ sống sót: Tôi cảm thấy đớn đau, tôi
đă có lư để lo sợ, nhưng tôi đă có cảm giác tin tưởng lạ lùng này. Tôi
nói với Don Stanislaw là thư kư riêng của tôi rằng tôi tha thứ cho
kẻ tấn công tôi”.
9)
Ban Sứ Điệp Ḥa B́nh
ngày 1/1/2002 với chủ đề
“Ḥa
B́nh Không Thể Thiếu Công Lư, Công Lư Không Thể Thiếu Thứ Tha”
“3- Trong những
hoàn cảnh hiện nay, chúng ta làm sao có thể nói đến công lư và thứ tha
như là nguồn gốc và là điều kiện để tạo lập ḥa b́nh đây? Cho dù
có khó khăn đến mấy đi nữa, chúng ta cũng có thể nói và phải nói đến
những vấn đề này… Thứ tha phản ngược lại với uất hận và trả thù,
chứ không phải với công lư. Thật vậy, ḥa b́nh thực sự là ‘việc
của công lư’ (Is 32:17).
“Bởi thế ḥa b́nh đích
thực là hoa trái của công lư, một nhân đức luân lư và là một bảo toàn về
pháp lư đưa đến chỗ biết hoàn toàn tôn trọng quyền lợi và nghĩa vụ của
con người, cũng như đưa đến việc phân phối công bằng cả về những thiện
ích lẫn gánh nặng. Thế nhưng, v́ công lư của loài người luôn mỏng
ḍn và bất hảo, lệ thuộc hẳn vào những giới hạn và cái tôi của con người
cũng như của phái nhóm, mà nó phải cần đến ḷng thứ tha và cần phải thực
hiện bằng một tấm ḷng thứ tha, một ḷng thứ tha hàn gắn chữa lành và
tái thiết những mối liên hệ trần thế bị trục trặc tận căn gốc của chúng.
Điều này đúng là như thế, ở những hoàn cảnh lớn nhỏ, ở tầm mức riêng tư
hay bao rộng, ở cả ngay lănh vực quốc tế nữa. Thứ tha không thể
nào phản ngược lại với công lư, như thể thứ tha là bỏ qua nhu cầu cần
phải sửa lại những ǵ sai quấy. Trái lại, nó là tầm mức trọn vẹn của
công lư… Công lư và thứ tha đều là những ǵ thiết yếu cho việc hàn gắn
ấy.
“8- Tuy nhiên, thứ
tha ở đây thực sự nghĩa là ǵ? Và tại sao chúng ta cần phải thứ tha?
“Trước hết, thứ tha
là một việc chọn lựa riêng tư, là một quyết định của cơi ḷng muốn đi
ngược lại với bản năng tự nhiên trong việc lấy ác báo ác. Quyết định này
được căn cứ vào t́nh yêu Thiên Chúa, Đấng đă kéo chúng ta lại với Ngài
bất chấp tội lỗi của chúng ta.
“Bởi thế, thứ tha
có một nguồn gốc và tiêu chuẩn thần linh. Điều này không có
nghĩa là tính cách quan trọng của nó không thể hiểu được theo lập luận
trần gian… Tất cả mọi người đều mong ước là ḿnh có thể bắt đầu lại từ
khởi sự, và không muốn ḿnh cứ măi măi bị bế tắc trong những lầm lẫn và
tội lỗi của ḿnh.
“9.- Bởi
thế, là một tác động hoàn toàn nhân bản, thứ tha trước hết là một
khởi động của cá nhân. Tuy nhiên, cá nhân là những hữu thể chính yếu của
xă hội … Do đó, cả xă hội nữa thật sự cũng cần phải biết thứ tha…
Khả năng tha thứ bắt nguồn sâu xa từ tư tưởng về một xă hội mai hậu, một
xă hội làm nên bởi công lư và t́nh đoàn kết. Ngược lại, việc không biết
thứ tha, nhất là đối với một cuộc xung khắc lâu dài, sẽ phải trả một giá
hết sức đắt đỏ đối với việc phát triển của con người. Những nguồn lợi
được sử dụng cho việc chế tạo các thứ vũ khí thay v́ cho việc phát triển,
ḥa b́nh và công lư.
“10.-
Tha thứ… dầu sao… cũng là một sứ điệp nghịch thường.
Thật vậy, thứ tha bao giờ cũng bao gồm một h́nh thức thua thiệt ngắn
hạn để cho một lợi lộc dài hạn thật sự. Bạo lực th́ hoàn toàn ngược lại;
chọn làm một việc bề ngoài có lợi ngắn hạn lại bao hàm cả một mất mát
thực sự và vĩnh viễn. Thứ tha là việc xem ra có vẻ hèn yếu, song nó lại
đ̣i phải có một sức mạnh về tinh thần cao cả cũng như phải có một tấm
ḷng can đảm về luân lư, cả hai điều này cần phải có trong việc thực
hiện thứ tha cũng như trong việc chấp nhận được tha thứ.
“Vai tṛ thừa tác
của Tôi trong việc phục vụ Phúc Âm đă thúc buộc Tôi, đồng thời cũng cho
tôi sức mạnh, để Tôi lập lại việc cần phải thứ tha này. Hôm nay
đây, một lần nữa, Tôi xin nhắc lại điều này, hy vọng làm khơi dậy việc
nghiêm chỉnh và chín chắn suy nghĩ về vấn đề ấy, để nhờ đó thực hiện một
việc quật khởi xa tầm tay đối với tinh thần con người, nơi con tim của
từng người cũng như trong mối liên hệ giữa các dân tộc trên thế giới với
nhau”.
10)
Long trọng
hiến dâng loài người cho Ḷng Thương Xót Chúa khi cung hiến
Đền
Thờ
Ḷng Thương
Xót Chúa ở
Balan
ngày Thứ
Bảy
17/8/2002:
“5.- ‘Lạy
Cha hằng hữu, v́ tội lỗi của chúng con và của toàn thế giới, con xin
dâng lên Cha Ḿnh Máu, Linh Hồn và Thiên Tính của Con Cha yêu dấu là
Chúa Giêsu Kitô; v́ những sự khốn khó của Cuộc Người Khổ Nạn, xin Cha
thương đến chúng con và toàn thế giới’ (Faustina - Nhật Kư,
476). Thương đến chúng con và toàn thế giới… Thế giới ngày nay cần
đến t́nh thương của Thiên Chúa biết bao! Nơi hết mọi lục địa, từ
vực sâu khốn khổ của loài người, tiếng kêu cầu xót thương dường như đang
vang dậy. Nơi nào thù hằn và đ̣i rửa hận thống trị, nơi nào chiến tranh
mang lại đau thương và chết chóc cho thành phần vô tội, th́ ở đó cần đến
ân sủng t́nh thương để ổn định ḷng trí con người và tạo lập ḥa b́nh.
Nơi nào thiếu hụt ḷng trọng kính sự sống và phẩm vị con người th́ ở đó
cần đến t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng mà trong ánh sáng của
Ngài, chúng ta thấy được giá trị khôn tả của hữu thể con người.
Cần phải có t́nh thương để bảo đảm rằng hết mọi bất công trên thế giới
này sẽ được kết thúc trong chân lư rạng ngời.
”Thế nên,
hôm nay đây, tại Đền Thánh này, Tôi xin long trọng kư thác thế
giới cho Ḷng Thương Xót Chúa. Tôi làm như vậy với một ḷng
thiết tha mong ước thấy sứ điệp của t́nh yêu nhân hậu Thiên Chúa, được
loan báo nơi đây qua Thánh Faustina, cũng được tất cả mọi dân tộc trên
thế giới biết đến và làm cho ḷng họ tràn đầy niềm hy vọng. Chớ ǵ sứ
điệp này, từ nơi đây, chiếu tỏa ra cho quê hương thân yêu của chúng ta
cũng cho khắp thế giới. Chớ ǵ lời hứa quyết của Chúa Giêsu được nên
trọn, ở chỗ, từ nơi đây phải chiếu giăi ra ‘tia sáng sửa soạn thế
giới cho lần đến cuối cùng của Cha’ (x Nhật Kư, 1732).
”Tia sáng
này cần phải thắp lên bởi ân sủng của Thiên Chúa. Ngọn lửa t́nh thương
này cần phải được chuyền đi cho thế giới. Trong t́nh thương của
Thiên Chúa thế giới mới t́m thấy ḥa b́nh và nhân loại mới t́m thấy hạnh
phúc! Tôi kư thác công việc này cho Anh Chị Em thân mến, cho
Giáo Hội ở Krakow và ở Balan, cũng như cho tất cả mọi người sùng mộ Ḷng
Thương Xót Chúa đến đây từ Balan hay từ khắp nơi trên thế giới. Chớ ǵ
anh chị em là những chứng nhân cho t́nh thương!
”6.- Lạy Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nơi Con của Cha là Đức Giêsu
Kitô, Cha đă mạc khải t́nh yêu của Cha ra và đă tuôn đổ t́nh yêu Cha
xuống trên chúng con trong Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi. Hôm nay đây
chúng con xin kư thác cho Cha vận mệnh của thế giới cũng như của hết mọi
con người nam nữ.
“Xin
Cha hăy cúi ḿnh xuống trên tội nhân chúng con, hăy chữa lành nỗi yếu
hèn của chúng con, hăy chiến thắng tất cả mọi sự dữ, và hăy ban cho tất
cả mọi dân tộc trên thế giới được cảm nghiệm thấy t́nh thương của Cha.
Chớ ǵ họ luôn t́m thấy nguồn hy vọng nơi Cha, Thiên Chúa Ba Ngôi.
”Lạy Cha Hằng Hữu, v́ Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Con Cha, xin
Cha thương đến chúng con và toàn thế giới! Amen”.
11)
Kêu gọi loan truyền
Ḷng Thương Xót Chúa cho thế giới ngày nay
trong bài giảng tuyên phong 4 tân
chân phước Balan Chúa Nhật 18/8/2002 tại
Blonie
Park ở Krakow.
3.- Từ khi
bắt đầu hiện hữu, Giáo Hội, qua việc bày tỏ mầu nhiệm Thập Giá và Phục
Sinh, đă rao giảng t́nh thương Chúa, một bảo chứng hy vọng và là nguồn
mạch cứu độ con người. Tuy nhiên, hôm nay đây chúng ta dường như
được kêu gọi đặc biệt để loan báo sứ điệp này trước thế giới.
Chúng ta không thể lơ là với sứ vụ này, nếu chính Thiên Chúa đă kêu
gọi chúng ta thực hiện sứ vụ này qua chứng từ của Thánh Nữ Faustina.
Thiên Chúa đă chọn thời đại của chúng ta cho mục đích này.
Có lẽ v́ thế kỷ 20, mặc dù có những thành đạt không thể chối căi về
nhiều lănh vực, cũng đă bị ghi dấu một cách đặc biệt bởi mầu nhiệm lỗi
lầm “mystery of iniquity”. Chúng ta đă tiến vào ngàn năm mới với di sản
vừa thiện vừa ác này. Những chân trời mới trong việc phát triển đang mở
ra trước nhân loại, kèm theo đó có cả những cái nguy hiểm chưa từng có.
Con người thường sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, thậm chí đặt
ḿnh vào vị thế của Thiên Chúa nữa. Họ tự cho ḿnh quyền hành của một Vị
Tạo Hóa trong việc can thiệp vào mầu nhiệm sự sống con người. Họ muốn
định đoạt sự sống con người bằng cách lèo lái việc truyền giống cũng như
muốn thiết định giới hạn sự chết. Khi loại trừ lề luật thần linh và
những nguyên tắc luân lư, họ công khai tấn công cơ cấu gia đ́nh. Bằng
những cách thức khác nhau, họ cố gắng làm cho Thiên Chúa phải im hơi
lặng tiếng nơi tâm can của con người; họ muốn làm cho Thiên Chúa “hoàn
toàn khuất bóng” nơi văn hóa và lương tâm các dân tộc. “Mầu nhiệm lầm
lỗi” tiếp tục đánh dấu cái thực tại của thế giới này.
Cảm nghiệm được mầu nhiệm ấy, con người mới sống trong nơm nớp lo sợ về
tương lai, lo sợ về t́nh trạng trống rỗng, lo sợ phải khổ đau, lo sợ bị
hủy diệt. Có lẽ chính v́ lư do này mà Chúa Kitô, qua việc sử dụng chứng
từ của một Nữ Tu thấp hèn, đă đến với thời đại của chúng ta để tỏ cho
chúng ta thấy một cách rơ ràng nguồn mạch sống thanh thản và hy vọng ở
nơi t́nh thương đời đời của Thiên Chúa.
Sứ điệp t́nh yêu nhân hậu cần được vang vọng một cách mạnh mẽ một
lần nữa. Thế giới cần đến thứ t́nh yêu này. Đă đến thời
giờ cần phải mang sứ điệp của Chúa Kitô đến cho mọi người: cho
các kẻ trị v́ và thành phần bị áp bức, cho những ai có bản tính và phẩm
vị bị tiêu ma trong mầu nhiệm lỗi lầm. Đă đến thời giờ sứ điệp
Ḷng Thương Xót Chúa có thể làm cho các tâm hồn tràn đầy hy vọng và trở
nên tia sáng cho một nền văn minh mới, một nền văn minh yêu thương.
4.- Giáo Hội muốn không ngừng loan báo sứ điệp này, không phải chỉ
bằng những lời thuyết phục, mà c̣n bằng việc sẵn sàng lúc nào cũng thực
hành t́nh thương nữa…
12)
Quằn
quại
với
bệnh
nạn
từ
ngày bị
ám sát thoát chết,
nhất
là vào những
ngày cuối
đời
từ
ngày 1/2/2005:
Trong bài Huấn Từ Truyền
Tin Chúa Nhật 2/4/2006 kỷ niệm đúng một năm băng hà của vị tiền nhiệm
Gioan Phaolô II, ĐTC Biển
Đức XVI đă chia sẻ về những ngày cuối đời của ngài như sau:
“Vào ngày
2/4 năm ngoái, một ngày như hôm nay đây, Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
yêu dấu của chúng ta đă sống vào những giờ phút như thế này đoạn
hành tŕnh cuối cùng của đời ngài, một cuộc hành tŕnh đức tin, đức mến
và đức cậy, một cuộc hành tŕnh đă để lại một nét đậm nơi lịch sủa Giáo
Hội cũng như của nhân loại. Cuộc khổ nạn và cái chết của ngài giống như
một giai đoạn kéo dài của Tam Nhật Phục Sinh.
“Tất cả
chúng ta vẫn c̣n nhớ các h́nh ảnh về cuộc Đi Đường Thánh Giá cuối
cùng của ngài hôm Thứ Sáu Tuần Thánh: V́ không đến được Hí Trường
Colosseum, ngài đă theo dơi đường thánh giá từ nguyện đường riêng của
ngài, tay ôm cây thập giá. Thế rồi, vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngài đă ban
phép lành ‘urbi et orbi’, song không thể nói lên lời nào, mà chỉ lấy tay
ra dấu mà thôi. Đó là một phép lành đớn đau và cảm kích được
ngài lưu lại cho chúng ta như chứng từ cao cả nhất về việc ngài cương
quyết hoàn thành sứ vụ của ngài cho tới cùng…..
“Trong
những năm cuối cùng của ngài, Chúa đă dần dần tước lột ngài khỏi tất cả
mọi sự, để làm cho ngài hoàn toàn nên giống Người. Và khi ngài không c̣n
tông du được nữa, sau đó thậm chí không c̣n bước đi được nữa, sau cùng
đến nỗi không c̣n nói được nữa, th́ cử chỉ của ngài, việc loan báo của
ngài được biến thành những ǵ thiết yếu, đó là việc ban tặng bản thân
ḿnh cho đến cùng….”
13)
Sống
đời khổ nạn bằng tinh thần toàn hiến cho Chúa
Kitô và như Chúa Kitô.
Trong bài giảng cho Lễ
giỗ 3 năm của vị tiền
nhiệm, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă nhận định như sau:
“Những lời
‘đừng sợ’ của vị thiên thần của biến cố Phục Sinh này đă ngỏ cùng những
người phụ nữ trước ngôi mộ trống mà chúng ta vừa nghe đă trở nên
một mẫu tâm niệm trên môi miệng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, từ
những giây phút long trọng khởi đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của
ngài. Ngài đă lập lại những lời ấy vào các trường hợp khác nhau với Giáo
Hội cũng như với thế giới trong cuộc hành tŕnh tiến tới năm 2000, và
sau khi đă trải qua thời điểm lịch sử đó, cũng như sau này, vào lúc mở
màn cho một tân thiên kỷ. Ngài đă luôn luôn nói đến những lời này một
cách vững mạnh, đầu tiên bằng việc giơ chiếc gậy được đính thập giá của
ngài lên, và sau đó, khi sức lực của ngài bị yếu kém đi, ngài đă gắn
liền với cây gậy thập giá này, cho đến Ngày Thứ Sáu cuối cùng, một ngày
mà ngài đă tham dự Đường Thánh Giá ở nguyện đường riêng của ngài, bằng
hai cánh tay ôm lấy cây thập tự giá.
“Chúng ta
không thể nào quên được chứng từ yêu mến Chúa Giêsu của ngài cuối cùng
thầm lặng ấy. Cảnh tượng hùng hồn của khổ đau nhân loại với niềm tin
tưởng này, trong Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy, cũng cho tín hữu cùng thế
giới thấy cái bí quyết sống của hết mọi cuộc đời Kitô hữu. Cái ‘đừng sợ’
ấy không phải là những ǵ dựa vào sức lực của loài người, cũng như vào
những thành đạt chiếm đươc, trái lại, chỉ vào lời Chúa, vào thập giá và
vào việc phục sinh của Chúa Kitô. Nơi mức độ mà ngài bấy giờ bị tước lột
hết mọi sự, cuối cùng, cho đến chính cả những lời nói của ngài nữa, th́
việc hoàn toàn phó ḿnh cho Chúa Kitô của ngài lại càng được sáng tỏ.
”Như đă xẩy ra cho Chúa Giêsu, cũng xẩy ra nơi trường hợp của Đức Gioan
Phaolô II, những lời thốt ra vào lúc tận tuyệt của hy tế tối hậu, của
việc trao tặng bản thân ḿnh. Và cái chết là ấn tín của một cuộc sống
hoàn toàn hiến dâng cho Chúa Kitô, nên giống ngài thậm chí về cả thể lư
với những đặc tính khổ đau và hoàn toàn phó ḿnh vào tay Cha trên trời.
‘Nào tôi đi về nhà Cha’, những lời này – được những ai ở bên cạnh
ngài bấy giờ cho biết – là những lời cuối cùng của ngài, lời hoàn thành
của một cuộc sống hoàn toàn hướng về việc nhận biết và chiêm ngưỡng dung
nhan Chúa”.
14.
Phát hành tác phẩm cuối đời “Hồi Niệm
và Căn Tính” liên quan đến sự dữ và Ḷng Thương Xót Chúa ngày
22/2/2005,
trong đó, Ngài nói đến t́nh h́nh thế giới với những sự dữ hủy hoại
nhân loại, nhất là trong thế kỷ 20, cùng với nguyên nhân sâu xa của
nó phát xuất từ Thời Minh Tri và chủ nghĩa Minh Tri từ
thế kỷ 17 ở Âu Châu, nhưng ngài xác tín và trấn an thế giới rằng sự
dữ không phải là phán quyết tối hậu mà là Ḷng Thương Xót Chúa.
Trong bài
giảng Thánh Lễ An Táng Thứ Sáu 8/4/2005, tại quảng trường Thánh Phêrô,
một lễ an táng lớn nhất lịch sử loài người, với cả mấy triệu người tại
Rôma và cả tỉ người trên khắp thế giới theo dơi qua truyền h́nh, Đức
Hồng Y Joseph Ratzinger, trưởng Hồng Y Đoàn, cũng đă chia sẻ nhận định
của ḿnh về vị giáo hoàng đă luôn muốn đức hồng y giữ vai tṛ là tổng
trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, như sau:
“Ngài đă giải thích cho
chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của ḷng thương xót
Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của ḿnh, ngài đă viết: ‘Cái giới
hạn áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Ḷng Thương Xót Chúa’ (Hồi
Niệm và Căn Tính, trang 60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống
ngài bị cố sát, ngài đă nói: ‘Trong việc hy hiến ḿnh cho tất cả
chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa mới, mở ra một
chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu thương… Chính cái
đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu thương và
rút ra ngay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’
(cùng nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhăn quan ấy, vị Giáo
Hoàng này đă chịu đựng khổ đau và đă yêu quí việc hiệp thông với Chúa
Kitô, nên đó là lư do tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc
thinh lặng của ngài là những ǵ thật là sống động và hiệu năng”.
15.
Di Chúc cho Giáo Hội về
việc chiêm ngưỡng và loan truyền Ḷng Thương Xót Chúa cho một thế
giới đáng thương.
Trong
huấn từ Chúa Nhật II Phục Sinh ngày 3/4/2005, vị Giáo Hoàng Thánh
Mẫu Totus Tuus của Ḷng Thương Xót Chúa vừa qua đời vào đêm hôm
trước đă nhắn nhủ như sau:
“Chúa
Kitô phục sinh đă hiến ban cho nhân loại, một nhân loại có
những lúc dường như bị lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, cái
tôi và sợ hăi, tặng ân t́nh ngài yêu thương, một t́nh yêu
tha thứ, ḥa giải và phục hồi tinh thần hy vọng. Đó là một t́nh
yêu hoán cải tâm can và ban phát an b́nh. Thế giới này cần phải
hiểu biết và chấp nhận Ḷng Thương Xót Chúa biết bao!
“Lạy
Chúa, Đấng đă tỏ t́nh yêu thương của Chúa Cha qua Cuộc Tử Nạn và Phục
Sinh của Chúa ra, chúng con tin tưởng vào Chúa và tin tưởng lập lại cùng
Chúa hôm nay rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin
thương xót chúng con và toàn thế giới.
“Phụng
vụ trọng thể của Lễ Truyền Tin là lễ sẽ được cử hành ngày mai, đưa chúng
ta đến việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm vĩ đại của t́nh yêu nhân hậu
xuất phát từ Thánh Tâm Chúa Giêsu này bằng ánh mắt của Mẹ Maria.”
Tóm lại,
có thể nói, cuộc sống của Đức Gioan Phaolô II là một lễ toàn thiêu cho
Ḷng Thương Xót Chúa.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă
cho thấy nhận định này của ḿnh về vị Tiền Nhiệm trong bài giảng lễ đầy
năm tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày Thứ Hai 3/4/2006 như sau:
“Chữ ‘lễ toàn thiêu’ (Wis
3:6) ám chỉ sự hy sinh nạn nhân bị toàn thiêu, bị thiêu rụi đi bởi lửa;
nhờ đó, nó là một dấu hiệu hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa. Lời diễn
đạt này của Thánh Kinh nhắc nhở chúng ta về sứ vụ của Đức Gioan Phaolô
II, vị đă biến cuộc đời của ḿnh thành một tặng vật dâng lên Thiên Chúa
cùng hiến cho Giáo Hội, và nhất là trong việc cử hành Thánh Thể, ngài đă
sống trọn chiều kích hy hiến theo thiên chức linh mục của ngài.
“Trong số những lời kêu cầu
được ngài yêu thích đó là lời xuất phát từ ‘Litanie de Gesù Cristo
Sacerdote e Vittima’ ngài đă chọn cho vào phần kết của tác phẩm của
ḿnh, Tặng Ân và Mầu Nhiệm, xuất bản nhân dịp mừng 50 năm chịu
chức linh mục của ngài (xem các trang 113-116): ‘Iesu,
Pontifex qui tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam –
Ôi Giêsu, Vị Thượng Tế đă hiến ḿnh cho Thiên Chúa như lễ vật và
thí vật, xin thương xót chúng con’. “

|
|