Cha Giuse Maria NGUYỄN VĂN THÍCH (1891–1978)

Hai cụ thân sinh

Cậu ấm Nguyễn Văn Thích chào đời ngày 22-9-1891, tại Phủ lỵ An Nhơn, tỉnh B́nh Định, là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, người làng Niêm Pḥ cũng là làng Kẻ Lừ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Cụ Nguyễn Văn Mại (1858–1945) đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn (B́nh Định), làm quan đến chức Thượng thư. Cụ Thượng Mại đă từng làm Chánh chủ khảo các khóa thi Hương, thi Hội và Quản giáo môn Hán tự tại trường Quốc Học. Cụ đă tháp tùng vua Khải Định qua Pháp với tư cách là một danh sĩ của Triều đ́nh. Trước khi về hưu, Cụ được thăng tước Hiệp Tá Đại học sĩ.

Cụ bà là Thân Thị Vỹ (1862–1946), họ Thân Trọng, ở làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, một ḍng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như Cụ Thân Trọng Huề, Thượng thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.

Trường Ḍng Pellerin

Trường Pellerin gọi là “Trường Ḍng”, ở Huế, do các sư huynh Lasan ( Saint Jean Baptiste de La Salle) điều khiển và giảng dạy.  

Trường này được thành lập năm 1904 và cậu học sinh Nguyễn Văn Thích thuộc thế hệ đầu tiên được các sư huynh truyền dạy kiến thức cả đời lẫn đạo. Nơi đây cậu ấm được học hỏi, trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lư Kitô giáo.

Tháng 2-1911, với bằng cao đẳng Tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tại tỉnh Khánh Ḥa.

Bốn tháng sau, ngày 29 tháng 6 năm 1911, tại nhà thờ B́nh Cang, xă Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, cha Charles Eugène Saulcoy, tên Việt là Cố Ngoan, đă ban phép Thánh Tẩy cho thầy giáo Thích với tên thánh là Giuse Maria.

Được tin sét đánh này, cụ Thượng thư Bộ Lễ, vốn thâm nho, không cầm nổi tức giận, dùng roi gậy đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Mấy chục năm về sau, nhân ngày mừng lễ thất tuần “Anh Thích”, bà em gái là Thiếu Hải thuật lại:

Trong nhà dùi, gậy, ba toong,

Rút ra đánh hết, chẳng c̣n cái mô!

Chị em, ai nấy sững sờ,

Lính tráng, vú bơ, không ai rờ đến cơm…

Thụ phong linh mục

Khi cơn “gia biến” dịu dần với thời gian, Cụ Thượng thân phụ nghĩ đến việc lập gia đ́nh cho con trai đă 26 tuổi. Cụ mời Đức cha Allys (Cố Lư) đến nhà, xin Đức cha can thiệp làm mai mối với con gái Cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con ḿnh yên bề gia thất, không c̣n gây thêm tai biến nữa. Nào ngờ đâu, khi được “hung tin” nầy, người môn đệ của Chúa Giêsu quyết định từ giă gia đ́nh quư tộc…

Một đêm thanh vắng tháng 9-1917, thầy giáo Giuse Maria Nguyễn Văn Thích cải trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi, trực chỉ đến Tiểu chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Một trường hợp chưa từng có: muốn được nhận vào Tiểu chủng viện thường là 12 đến 14 tuổi, nhưng thầy Thích đă 26 tuổi th́ phải làm sao đây? May mắn là Đức cha Lư (Allys) nắm rơ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo nầy, vừa học tiếng Latinh và chương tŕnh đào tạo linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh.

Sau 2 năm tu tập vừa làm tṛ vừa làm thầy nơi đây, thầy giáo “tiểu chủng sinh” được gửi vào Đại chủng viện Phú Xuân, Huế, và 6 năm sau được thụ phong linh mục ngày 18-12-1926.

Một nhà giáo xuất chúng

Linh mục Nguyễn Văn Thích là một nhà giáo từ khi c̣n tuổi đôi mươi cho đến lúc ngoài 80. Ngài đă dạy tiểu học ở Khánh Ḥa, rồi Huế (1911–1917), Ḍng Thánh Tâm Huế (1927–1933), trường Providence Huế (1933–1937), Tiểu chủng viện An Ninh Quảng Trị (1937-1942), Tuyên úy trường Pellerin lần I và giáo sư Trung Học Khải Định (nay là Quốc Học) (1942–1946). 30-4-1946: quản xứ Kim Long, Huế. giáo sư Quốc Học và các trường tư thục Công Giáo Huế (1950–1958).

Từ 1958, cha dạy Đại Học Đà Lạt, Huế, Saigon. 1959–1970: Tuyên úy trường Pellerin lần II. Từ năm 1959, cha dạy Hán văn và Triết Đông tại Viện Hán Học Huế. Năm 1963, cha mở một nhà trẻ ở Việt Nam (có lẽ là nhà trẻ đầu tiên ở đây), với tên gọi là Hương Linh, trong khuôn viên trường B́nh Linh (Pellerin). Ngoài ra, cha cũng rất quan tâm đến việc giáo dục thanh thiếu nữ.

Một nhà thơ, một nhà báo lỗi lạc

Linh mục Nguyễn Văn Thích đă sáng tác thi ca, được sưu tập trong “Sảng Đ́nh Thi tập”, gồm 153 bài thơ Việt văn, Hán văn và Pháp văn. Thơ của cha rất đa dạng, từ những câu vè 4 chữ, những câu thơ lục bát, tứ tuyệt và thơ Đường, đến những bài Thánh ca, Thánh thi ca tụng Đức Mẹ. Biệt hiệu Sảng Đ́nh của cha. Sảng: là sáng, đẹp. Đ́nh: đền thờ. Sảng Đ́nh: có thể hiểu là ánh sáng đẹp của Nhà Thờ.

Cha c̣n là sáng lập viên tuần báo “V́ Chúa”, xuất bản từ 1936, với tam ngữ Việt-Hán-Pháp, với nhiều cộng tác viên như cụ Ưng Tŕnh, cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn… Ngoài ra, cha c̣n cộng tác với báo “Nguồn Sống”, tạp chí Đại Học Huế, hay “Cổ Học Quí San”…

Họa sĩ và nhạc sĩ thời danh

Cha Thích có biệt tài về cổ họa. Một vài bức họa trong báo V́ Chúa, được in lại trong Sảng Đ́nh Thi Tập, như bức “Thác Lớn Bạch Mă” rất tinh vi điêu luyện, bức tự họa “Trầm ngâm chiếc bóng dựa bên tường”, các bức “Đức Từ Mẫu” (Mater Misericordiae: Ṭa Tổng Giám Mục Huế hiện c̣n trưng bày bức họa này), “Chân dung Thánh Gioan Vi-a-nê”, “Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu”...

Về âm nhạc, cha Thích sử dụng thành thạo các nhạc khí dân tộc như đàn nhị, đàn c̣, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn t́ bà… kể cả các nhạc cụ Tây phương.

Về thánh ca, bài “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (Magnificat) hiện vẫn c̣n được dùng hát trong phụng vụ; bài “Lạy Đức Mẹ La Vang” không mấy ai không biết; ...

Linh mục tuyên úy Hướng đạo sinh

Từ 1941, cha sinh hoạt với Hướng đạo ở Huế, đến năm 1949, Bản quyền giáo phận Huế bổ nhiệm ngài làm Tuyên úy Hướng đạo Công Giáo Huế. Vào giữa năm 1953, ngài làm Tổng Tuyên úy Hướng đạo Toàn quốc. Ngài đă đóng vai tṛ tích cực và uyển chuyển giữa nhiều khuynh hướng khác nhau của các Huynh trưởng và Tuyên úy ba miền Trung, Nam, Bắc.

Một tâm hồn nghèo khó và yêu thương

Cha Thích làm giáo sư lâu năm, dạy đại học nhiều nơi, với lương bổng rất cao, nhưng ngài không giữ lại chút ǵ cho ḿnh. Khi nhắm mắt ĺa đời, ngài chỉ có vài bộ áo đă sờn cũ.

Viện Dục Anh nuôi trẻ mồ côi ở Huế luôn được cha quan tâm và trao nhiều tiền bạc cho các nữ tu phụ trách. Cha c̣n là Tuyên úy Pellerin và Viện Bài Lao. Cha thường đến bệnh viện dâng Thánh lễ, luôn đem tiền và quà đến cho bệnh nhân.

Bao nhiêu năm làm giáo sư, cha vẫn đi một chiếc xe đạp duy nhất. Một hôm, cha đạp xe đạp nhà xứ Kim Long đến dạy học tại Đại chủng viện Kim Long, t́nh cờ bắt gặp một người đàn ông áo quần xơ xác đang chặt trộm buồng chuối của chủng viện. Thấy cha, ông ấy hoảng hốt toan bỏ chạy. Cha ôn tồn gọi người đó lại, móc túi đưa thêm ít tiền rồi nói: “Bác có muốn ăn chuối non nầy th́ phải thêm cái ǵ để nấu ăn chứ. Bác cầm lấy chút tiền nầy mua tôm tép ǵ thêm vào cho đủ vị”. Vừa nói, cha vừa đưa tiền rồi đi vào dạy học.

Một chuyện xảy ra làm rúng động thành phố Huế: Năm 1950, một bác sĩ tổ chức hội chợ từ thiện, với sự cộng tác của cha Thích. Giữa mấy gian hàng bày tṛ chơi lại có một ṣng bạc thu hút nhiều khách. Cha Thích phản đối: “Cờ bạc không thể đi đôi với việc từ thiện”. Trưởng ban tổ chức không chịu nghe, cha Thích liền lấy micro khuyến cáo dẹp ṣng bạc đó. Bác sĩ tổ chức giật micro trong tay cha. Trong lúc giằng co, bác sĩ tát vào má cha. Hồn nhiên và khiêm tốn, cha liền đưa má kia và nói: “C̣n má này nữa, xin ngài hăy đánh cho đỡ giận”. Mọi người vây quanh đều sửng sốt ngỡ ngàng. Có người đă thốt lên: “Phải là một đấng thánh mới làm được như vậy!” Cuối cùng, ông trưởng ban tổ chức đă cúi đầu xin lỗi cha.

Tất cả v́ Chúa

“V́ Chúa” không phải chỉ là tên tuần báo nổi danh ở cố đô Huế do cha sáng lập, mà chính là châm ngôn cuộc sống của cha, với tôn chỉ:

Suy tư v́ Chúa,

Ngôn luận v́ Chúa,

Hành động v́ Chúa.

V́ Chúa, ta gắng công,

Ta thẳng lên v́ Chúa! (Số 1, ngày 18-9-1936).

Ra đi êm ái

Ngày 10-12-1978, linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích với tuổi hạc 87, giă từ trần thế để về cơi trường sinh, về với Thiên Chúa, Đấng mà cha đă hiến thân phục vụ đến trọn đời.

Giáo Hội Việt Nam, Giáo phận Huế đă dâng lên Thiên Chúa một người con chí hiếu, một linh mục gương mẫu, một nhân tài sáng giá, một hiền nhân hiếm có.

 
TGP Huế