SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

CHU KỲ CHÚA NHẬT NĂM B VÀ NGÀY THƯỜNG NĂM CHẴN

 

Mùa Phục Sinh

 

Tuần Bát Nhật

 

"Thày là sự sống lại"

Dẫn Nhập:

 

Theo phụng niên của Giáo Hội có hai mầu nhiệm được cử hành ở bậc Lễ trọng thể nhất, có tuần bát nhật trước cũng như sau chính đại lễ, đó là Mầu Nhiệm Giáng Sinh và Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vì hai mầu nhiệm này đều cử hành vào nửa đêm: Đêm Giáng Sinh và Đêm Phục Sinh. Bởi Ngôi Lời giáng sinh vào nửa đêm và Chúa Kitô cũng phục sinh vào nửa đêm. Tại sao vậy?

 

Tại vì, nơi Mầu Nhiệm Giáng Sinh, "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Gioan 1:5), "chiếu soi trong tăm tối" (Gioan 1:5) là thế gian nơi "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14), như để xua tan bóng đêm tội lỗi và sự chết gây ra bởi nguyên tội trên thế gian và nơi loài người, như lấy lành thắng dữ lấy thiện báo oán.

 

Và vì, nơi Mầu Nhiệm Phục Sinh, Chúa Kitô "là ánh sáng thế gian... ánh sáng ban sự sống" (Gioan 8:12), đã đi từ bóng tối ra ánh sáng, như muốn biến dữ thành lành, biến án thành thiện, ở chỗ, Người đã để cho sự dữ tội lội và sự chết chụp bắt, nơi thân xác khổ nạn và tử giá của Người, để nhờ đó, cũng bằng thân xác của mình, một thân xác đã thực sự bị chết đó, Người đã biến sự chết thành sự sống và tội lỗi thành ân sủng.

 

Đó là tất cả Sứ Điệp Phục Sinh (Chúa Nhật Phục Sinh, đầu Tuần bát Nhật) cũng là Sứ Điệp của Lòng Thương Xót Chúa (Chúa Nhật II Phục Sinh, cuối Tuần Bát Nhật Phục Sinh).

 

Nếu trong Mùa Chay, nhất là từ Tuần Thư 4 trở đi, bao gồm cả Tuần Thánh, chủ đề chính yếu của phụng vụ Lời Chúa là Mầu Nhiệm Vượt Qua, hướng về (Mùa Chay) và cử hành (Tam Nhật Thánh) biến cố khổ giá và phục sinh của Chúa Kitô, tột đỉnh mạc khải thần linh của Thiên Chúa, thì trong Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ, chủ đề của phụng vụ Lời Chúa phản ảnh đúng như lời Chúa Kitô đã tuyên bố về bản thân Người "Thày là sự sống lại và là sự sống", một chủ đề có 2 phần: phần 1 "Thày là sự sống lại" cho Tuần Bát Nhật Phục Sinh, và phần 2 "Thày là sự sống" cho 6 tuần lễ còn lại của Mùa Phục Sinh (rồi chúng ta sẽ thấy).

Thật vậy, chủ đề của phụng vụ Lời Chúa cho Tuần Bát Nhật Phục Sinh, kể từ ngày đầu tiên là Chúa Nhật Phục Sinh (ở Thánh Lễ ban ngày, chứ không phải Thánh Lễ Đêm Vọng Phục Sinh) đến ngày thứ 8 là Chúa Nhật thứ 1 sau Phục Sinh là chính Lễ Lòng Thương Xót Chúa, toàn là những bài Phúc Âm (bao gồm toàn bộ 4 cuốn, nhưng chính yếu là Phúc Âm Thánh ký Gioan có 4 trong 8 bài mà 2 bài chính vào 2 Chúa Nhật đầu và cuối Tuần Bát Nhậtđược Giáo Hội cố ý chọn đọc về các lần Chúa Kitô sau khi sống lại từ trong cõi chết hiện ra khác nhau theo thứ tự thời gian, như sau:

Trong các bài Phúc Âm đều cho thấy việc Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra là để chẳng những chứng thực Người đã sống lại đúng như Thánh Kinh và lời Người đã báo trước, mà còn để trở thành sứ vụ loan báo của thành phần chứng nhân tiên khởi là các tông đồ nữa, đúng như lời Chúa Giêsu đã tiên báo về mối liên hệ mật thiết bất khả phân ly giữa Ngài và Giáo Hội Truyền Giáo: "Thần Chân Lý từ Cha mà đến và là Đấng chính Thày sẽ sai đến từ Cha, Ngài sẽ làm chứng về Thày. Các con cũng phải làm chứng về Thày, vì các con đã ở với Thày ngay từ ban đầu" (Gioan 15:26-27). 

Đó là lý do bài đọc 1, trong suốt Mùa Phục Sinh, không trích từ Cựu Ước, mà toàn là Sách Tông Vụ, thứ tự được Giáo Hội trích đọc từ đầu đến cuối (trừ Chúa Nhật Phục Sinh ở đoạn 10 là đoạn được coi là tổng hợp), và cuối lại là đầu (với biến cố Hiện Xuống vừa kết thúc Mùa Phục Sinh vừa mở màn Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh), một cuốn sách có thể nói là Phúc Âm về Thánh Linh liên quan đến Sứ Vụ Truyền Giáo của Giáo Hội. 

 

Nếu "Thày là sự sống lại", như đã được Người đích thân chứng thực nhất là với các tông đồ là những kẻ đã được Người tuyển chọn cách riêng để "ở với Người", nhờ đó tin vào Người với sứ vụ được Người "sai đi để rao giảng tin mừng" nữa (xem Marco 3:13-14), cho "toàn thế giới" (Marcô 16:16), nhưng bắt đầu cho chính dân Do Thái là thành phần dân tuyển chọn của Thiên Chúa vẫn hằng mong đợi Đấng Thiên Sai của họ.

Đó là lý do, thành phần tông đồ đoàn toàn là người Do Thái, bao gồm cả chính bản thân của Đấng Thiên Sai và Người Mẹ của Người: "Ơn cứu độ (salvation) xuất phát từ những người Do Thái" (Gioan 4:22) là thế. Ơn cứu độ ở đây bao giờ cũng có tính chất Vượt Qua bất khả phân ly, đó là vượt qua sự chết mà vào sự sống, như chính Chúa Kitô Thiên Sai đã khổ giá và phục sinh vậy. 

Tuy nhiên, khổ giá còn có tính chất lịch sử trước mắt mọi người, kể cả giáo quyền Do Thái lẫn chính quyền Roma, còn phục sinh hoàn toàn là một mầu nhiệm thần linh hơn là biến cố lịch sử dù xẩy ra trong lịch sử. Không một ai, kể cả đệ nhất tạo vật về ân sủng là Mẹ Maria, đã được tận mắt thấy Chúa Kitô sống lại từ trong cõi chết, nhưng sự thật Người sống lại từ trong cõi chết là những gì đã được Thánh Kinh cũng như chính Người báo trước. Những lần Người hiện ra với các tông đồ là để chứng thực Người đã sống lại thật, và vì thế, chứng cớ về sự thật Chúa Kitô Phục Sinh chính là các tông đồ và ở nơi các tông đồ, và vì thế các ngài cần phải làm chứng cho Đấng Vượt Qua, bằng chính chứng từ máu đổ và giáo huấn của các ngài,

như được Sách Tông Vụ thuật lại về sứ vụ truyền giáo của chung các ngài, cho cả thành phần Do Thái giáo, nhất là cho muôn dân như được Tông Đồ Phaolô thực hiện!

 

Vì thế nên Sách Tông Vụ đã được Giáo Hội chọn đọc trong suốt Mùa Phục Sinh nói chung và Tuần Bát Nhật Phục Sinh nói riêng. Do đó, trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, xin chỉ trích lại những chi tiết về chứng tá của các tông đồ thôi, nghiã là những chi tiết chính yếu liên quan đến Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ thôi.

 

 

Chúa Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 10, 34a. 37-43

"Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Ðáp: Ðây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. - Ðáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Cl 3, 1-4

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.

Ðó là lời Chúa.

 

Hoặc đọc: 1 Cr 5, 6b-8

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, anh em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Ðức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật.

Ðó là lời Chúa.

 

Ca Tiếp Liên

(Ðọc trong Chúa Nhật Phục Sinh, còn các ngày khác trong tuần Bát nhật thì không buộc đọc)

Các Kitô hữu hãy tiến dâng

lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.

Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:

Ðức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha.

Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ,

tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.

Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe

bà đã thấy gì trên quãng đường đi?

Tôi đã thấy mồ Ðức Kitô đang sống

và vinh quang của Ðấng Phục Sinh,

thấy các thiên thần làm chứng,

thấy khăn liệm và y phục.

Ðức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh,

Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.

Chúng tôi biết Ðức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết!

Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

 

Alleluia: 1 Cr 5, 7b-8a

Alleluia, alleluia! - Lễ Vượt Qua của chúng ta là Ðức Kitô đã hiến tế vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 1-9

"Người phải sống lại từ cõi chết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

Cho dù trong bài Phúc Âm của ngày thứ 1 trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh hôm nay vẫn chưa thấy Thánh ký Gioan thuật lại rõ ràng Chúa Kitô hiện ra lần đầu tiên về thể lý trước mắt các môn đệ của Người như các lần sau này, nhưng vị Thánh ký này đã cho thấy một Chúa Kitô quả thực đã sống lại rồi trước con mắt đức tin của ngài là một người môn đệ được Người yêu đã trung kiên với Người cho đến cùng ở dưới chân cây thập tự giá

 

 

 


"Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó... Ông thấy và ông tin... theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết".

 

Phải chăng hai môn đệ chạy ra mồ đây, Phêrô và Gioan, là hai người môn đệ tiêu biểu cho hai thần đức quan trọng, đó là đức tin và đức mến?

 

Có thể nói môn đệ Phêrô tiêu biểu cho đức tin, ở chỗ vị môn đệ này đã đại diện cho tông đồ đoàn tuyên xưng đức tin: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), và là người môn đệ chối bỏ đức tin nên đã được Thày cầu nguyện cho để có thể hoàn thành sứ vụ củng cố đức tin cho anh em của mình (xem Luca 22:31-32).

 

Nếu môn đệ Phêrô tiêu biểu cho đức tin thì môn đệ Gioan tiêu biểu cho đức mến, ở chỗ, người môn đệ được ngả vào ngực của Thày trong Bữa Tiệc Ly (xem Gioan 13:24-25), và là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gioan 19:26, 20:2, 21:7,20), nhờ đó chỉ có người môn đệ này mới cảm nghiệm được "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8,16) và mới nhấn mạnh đến đức ái trọn hảo trong Thư của ngài theo tinh thần của giới răn mới của Thày là "các con hãy yêu thương nhau như Thày yêu các con" (Gioan 13:34; 15:12).

 

Chính vì môn đệ Gioan tiêu biểu cho đức ái, liên quan đến con tim cảm xúc của con người, bao giờ cũng bén nhậy hơn đức tin là thần đức liên quan đến trí khôn hiểu biết cần đến suy luện và lý lẽ của con người, mà môn đệ Gioan chẳng những, về thể lý, đã "chạy nhanh hơn" môn đệ Phêrô, mà còn, về tinh thần, tin tưởng nhanh hơn môn đệ Phêrô, ở chỗ "thấy và tin", cho dù môn đệ Gioan này vào trong mồ sau môn đệ Phêrô, trong khi môn đệ Phêrô tiến vào mồ trước mà vẫn còn chưa hoàn toàn tin tưởng, ở chỗ, theo Thánh ký Gioan cho biết thì ngài quan sát hiện tượng ở trong mồ bấy giờ, và theo Thánh ký Luca thì sau khi quan sát ngài "cảm thấy lạ lùng về những gì đã xẩy ra" (Mathêu 24:12), thế thôi.

 

Ngoài sự kiện môn đệ Gioan "chạy nhanh hơn" môn đệ Phêrô, như được suy diễn trên, còn một sự kiện khác nữa đáng chú ý, đó là môn đệ Gioan dù tới mồ trước nhưng vẫn không tự động bước vào bên trong trước, mà chờ cho tới khi môn đệ Phêrô vào rồi mới vào theo. Bởi vì, đức mến, được tiêu biểu nơi môn đệ Gioan, cần phải có nền tảng đức tin chứ không phải chỉ thuần tác hành và phản ứng theo cảm xúc tự nhiên của con người. Ở đây chúng ta thấy hai yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly của Giáo Hội, đó là yếu tố phẩm trật (quản trị) nơi môn đệ Phêrô là vị lãnh đạo tông đồ đoàn với vai trò là một chủ chiên, và yếu tố đặc sủng (nội tâm) nơi môn đệ Gioan là vị được những ơn đặc biệt (xem Gioan 21:21-23), như các thị kiến huyền nhiệm về dự án thần linh đặc biệt liên quan Giáo Hội được ngài thuật lại trong sách Khải Huyền.

 

 

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: 'Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết".

 

 

Những ai tin vào Chúa Kitô, đã lãnh nhận Phép Rửa, tức đã cùng Vượt Qua với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, nhờ đó đã trở nên chi thể của Người nơi Giáo Hội, nghĩa là đã trở thành nhân chứng vượt qua của Người, phải sống làm sao để cho thế gian thấy họ thật sự đã Vượt Qua, hay Chúa Kitô đã thực sự Vượt Qua nơi họ, như những gì được Vị Tông Đồ Dân Ngoại khuyên nhủ giáo đoàn Colose ở Bài Đọc 2 hôm nay:

 

"Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang".

 

Chỉ có thành phần sống mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, thành phần chứng nhân trung thực và sống động cho về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế mới có tâm tình của bài Thánh Vịnh 117 ở Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở".

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. .

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta.

 

Thánh ISIDORO
Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (+636)

 

ĐTC Biển Đức XVI: Thánh Isidore of Seville

Ngày 04-04 Thánh ISIDORO Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (+636) | Giáo Phận Bà  Rịa

 

 

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Thánh Isidore, quê tại Séville theo truyền khẩu, sinh khoảng năm 560 tại Andalousie (Tây Ban Nha) từ một gia đình gia giáo lành thánh: các anh em là hai giám mục Léandre và Fulgence, còn Florentine là chị gái. Người kế vị anh Léandre trên ngai giám mục thành Sévilla năm 601.

Trong nhiệm kỳ giám mục khá lâu dài, người rao giảng chống lại những kẻ theo bè Ario và những người lạc giáo được gọi là nhóm “vô thủ lĩnh”. Họ không chấp nhận Đức Kitô có hai bản tính. Gần Sévilla, ngài thành lập một ngôi trường – sau này rất nổi tiếng – để đào tạo các linh mục và giáo dân; ngài cũng là giảng viên tại chính ngôi trường này. Tại Công đồng Tolède lần thứ IV năm 633, ngài yêu cầu Giáo Hội phải thành lập các trường tương tự: đó là nguồn gốc các trường của Hội Thánh và Đan Viện, xuất hiện trước khi có các đại học.

Là một nhà văn lớn, một học giả uyên thâm về nền văn học ẩn sĩ Đông Phương và rất sùng mộ Origène, thánh nhân đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm, trong đó: tập Luận đề (Sentences) và ba quyển sách dọn đường cho các “Tổng Luận” thời Trung Cổ để trau dồi kiến thức lẫn tâm linh cho các linh mục, đan sĩ và giáo dân. Nhưng tuyệt tác phẩm của người vẫn là cuốn sách mang tựa đề tiếng La Tinh Etymologiae (dịch sang pháp ngữ: Étymologies sur l’origine de certaines choses– nguồn gốc các từ đầu ngành,): đó là một loại từ điển bách khoa (hai mươi quyển) bao gồm mỹ thuật, kỹ thuật, luật, y học, các khoa học tự nhiên, tôn giáo...

Là sử gia (lịch sử dân Goths), là thi sĩ và nhà Phụng Vụ (bộ Sách Lễ và Kinh Nhật Tụng, được cho là của thánh nhân, là cốt lõi cho Phụng Vụ tương lai mozarabe); ngài còn là luật gia (Regula monachorum), nhà thần học và mục tử, nên ngài truyền bá truyền thống Công Giáo và chuyên cần tổ chức Hội Thánh. Năm 633, với tư cách là một vị chủ trì Công Đồng Quốc Gia lần thứ IV tại Tolède, ngài ấn định một nền Phụng Vụ thống nhất cho toàn Tây Ban Nha và miền Gaule narbonaise. Người ta cho rằng ngài soạn lời nguyện Adsumus đọc trong mọi Công Đồng.

Isidore de Séville chiếm vị trí hàng đầu trong suốt thời Trung Cổ; vào thời này, các tác phẩm La Tinh của thánh nhân được nhiều người đọc và sao chép nhiều nhất. Đối với Bède Khả Kính (thế kỷ VIII), thánh nhân là tác giả được ưa chuộng nhất sau Thánh Kinh.

Qua đời tại Séville năm 636, sau 25 năm làm giám mục và được tôn kính như một vị hiển thánh trong toàn cõi Phương Tây từ thế kỷ IX; ngài được Đức Giáo Hoàng Innocent XIII tôn phong làm tiến sĩ Hội Thánh năm 1722. Thi hài thánh nhân được sùng kính tại Léôn (Tây Ban Nha). Nghệ thuật ảnh tượng thường biểu hiện hình ảnh ngài cầm bút lông, với đàn ong vây quanh hay bên cạnh tổ ong.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện riêng biểu dương thánh Isidore làm bậc “tôn sư về linh đạo”, gợi lại tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh của ngài.

a. sau khi là một người học sinh tầm thường, Isidore chuyên cần học tập, cống hiến cả đời mình để nghiên cứu và giảng dạy. Dưới mắt người đương thời, thánh nhân “phản ảnh kiến thức văn hóa La-Hi cổ xưa”. Ngài đóng vai trò quan trọng trong các thế kỷ về sau cho đến thời các nhà kinh viện nổi tiếng.

Nhưng trên hết, Isidore là mục tử hơn là nhà nghiên cứu; kiến thức văn hóa uyên thâm của người chỉ phục vụ con người, Hội Thánh và Đức Tin. Phụng Vụ Thánh Lễ trình bày cho chúng ta dụ ngôn các nén bạc (Mt 25, 14-30) để nhấn mạnh tính chuyên cần học hỏi của thánh nhân nhằm phục vụ Hội Thánh và anh em hữu hiệu hơn.

b. Bài đọc một trong Thánh Lễ (1 Cor 2, 1-10) tập trung vào lẽ khôn ngoan: Đó chính là lẽ khôn ngoan mà chúng ta loan báo... được tiền định cho những ai yêu mến Thiên Chúa.

- Trong Hội Thánh Tây Ban Nha, nhiệm kỳ giám mục khá lâu dài của thánh Isidore dường như thể hiện lẽ Khôn Ngoan hằng thích thú “giao lưu với con cái loài người” (lời đáp trong các bài đọc Kinh Sách). Với tư cách là nhà văn, nhà thuyết giáo, và giảng dạy, ngài sáng lập các học viện để giáo huấn và đào tạo giới trẻ, thánh nhân đã định hướng mọi việc nhằm đạt được lẽ khôn ngoan đích thực. Ngài thường nhắc nhở: “Hãy yêu mến khôn ngoan, con sẽ được khôn ngoan tán dương ca tụng, nếu con cùng khôn ngoan gắn bó, khôn ngoan sẽ đem vinh dự lại cho con” Nhưng làm sao đạt được lẽ khôn ngoan ? Bài đọc - Kinh sách trích dẫn, một đoạn trong các luận đề của thánh Isidore: “Mọi sự tiến bộ điều do đọc Sách Thánh và suy niệm ... Không ai có thể biết được ý nghĩa Sách Thánh nếu không làm quen nhờ năng đọc”.

- Lời cầu nguyện chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống Kitô hữu vì nhờ cầu nguyện chúng ta được thanh tẩy; nhờ đọc Sách Thánh, chúng ta được dạy dỗ.Vì thế “nếu làm được cả hai thì tốt, còn nếu không, thì cầu nguyện tốt hơn là đọc Sách Thánh. Ai muốn được luôn ở với Thiên Chúa phải năng cầu nguyện và năng đọc Sách Thánh nữa, bởi lẽ khi chúng ta cầu nguyện là chính chúng ta nói với Thiên Chúa, còn khi chúng ta đọc Sách Thánh thì Thiên Chúa nói với chúng ta” (các Bài Đọc - Kinh Sách).

Enzo Lodi

https://www.kath-vietnamesen.de/phung-vu-2/04-04-thanh-isidoro-giam-muc-tien-si-hoi-thanh-khoang-560-636-le-nho-tuy-chon/ 

Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB

Trong 76 năm cuộc đời của thánh Isiđorô là thời kỳ tranh chấp cũng như phát triển của Giáo hội Tây Ban Nha. Người Visigoth xâm lăng phần đất này trong một thế kỷ, và trước đó nửa thế kỷ trước khi thánh Isiđorô chào đời thì họ đã thiết lập một thủ đô khác cho chính họ. Ðó là những người theo Ariô – Họ cho rằng Ðức Kitô không phải là Thiên Chúa. Do đó, Tây Ban Nha bị chia làm đôi: Một dân tộc (người Công giáo La Mã) phải chiến đấu với dân tộc khác (người Gôtích Ariô). 

Thánh Isiđorô là người hợp nhất Tây Ban Nha, giúp quốc gia này trở nên một trung tâm văn hóa và học thuật cũng như một khuôn mẫu cho các quốc gia Âu châu khác, mà các nền văn hóa ấy đang bị đe dọa bởi sự xâm lăng của những dân man di. 

Có thể nói thánh Isiđorô sinh trong một gia đình thánh thiện của thế kỷ thứ sáu ở Tây Ban Nha. Hai người anh của ngài, Leander và Fulgentius, và người chị, Florentina, đều là các thánh được sùng kính ở Tây Ban Nha. Ðây cũng là một gia đình lãnh đạo và tài giỏi với các vị Leander và Fulgentius đều làm Giám mục và Florentina làm mẹ bề trên. 

Là một người tài giỏi về học thuật, đôi khi thánh Isiđorô được gọi là “Sư phụ của thời Trung cổ” vì cuốn bách khoa ngài viết, tên là “Etymology” (Từ nguyên học), đã được dùng như sách giáo khoa trong chín thế kỷ. Ngài còn viết các sách về văn phạm, thiên văn, địa lý, sử ký, và tiểu sử cũng như thần học. 

Kế vị anh mình là Ðức Leander, Isiđorô làm Giám mục Seville trong 37 năm, ngài đặt ra các mẫu mực cho một chính quyền đại nghị ở Âu châu [tức chính quyền có Quốc hội Lập pháp là đại diện của nhân dân], đồng thời ngài tẩy chay các quyết định độc đoán và chủ trì các công đồng quốc gia (national coumcil) để thảo luận về đường hướng của Giáo hội Tây Ban Nha. Ngài yêu cầu mỗi một giáo phận đều phải có chủng viện, ngài viết quy luật cho các dòng tu và thành lập các môn học thuộc đủ mọi ngành. Thánh Isiđorô viết rất nhiều sách, kể cả một cuốn tự điển, một bộ bách khoa, một cuốn sử người Gôtích và một cuốn sử thế giới bắt đầu từ khi Thiên Chúa tạo thành trời đất! Ngài hoàn thành bộ phụng tự Mozarabic mà ngày nay vẫn còn được sử dụng ở Toledo, Tây Ban Nha.  

Ý thức rất rõ là sự phồn thịnh thiêng liêng và vật chất của quốc gia lệ thuộc hoàn toàn vào việc hấp thụ và liên kết các yếu tố ngoại lai, thánh Hisidorô đã thành công trong việc kết lại  toàn thể đám dân chúng hỗn tạp thành một đất nước thuần nhất tạo thành vương quốc Gôtích Tây Ban Nha. Ngài đã biết sử dụng các tiềm năng tôn giáo và giáo dục để đạt đến mục tiêu này. Ngài đã hoàn toàn thành công. Chủ nghĩa Ariô là hình thức Kitô giáo nguyên thủy giữa những người Visigoth là thành phần lãnh đạo Tây Ban Nha xuất phát từ cuộc xâm nhập Visigoth từ Đức vào Âu châu xưa, đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một Kitô giáo chính thống. Các tà giáo khác cũng bị dập tắt ngay khi vừa mới được thai nghén. Kỷ luật tôn giáo được củng cố khắp nơi. Ngay khi 80 tuổi, ngài vẫn sống khắc khổ. Trong sáu tháng sau cùng của cuộc đời, ngài gia tăng lòng bác ái đến độ, từ sáng đến tối, nhà của ngài lúc nào cũng đầy người nghèo. Ngài từ trần năm 636 và được Giáo hội tuyên xưng là Tiến sĩ Hội Thánh. 

http://loichua.donboscoviet.org/ngay-4-thang-4-thanh-isidoro/

 

Thánh Isidorô được coi như vị thánh tiến sĩ lừng danh nhất của Giáo hội Tây Ban Nha. Ngài chào đời tại Carthagena trong một gia đình thật đặc sắc, có cha mẹ đạo đức và và cả bốn anh em đều được tôn phong lên hàng hiển thánh . Các anh Ngài là hai thánh giám mục Leanger và Fulgentio. Chị Ngài là thánh nữ Florentina. Như vậy thánh Isidôrô thật có phúc vì được sinh ra sống giữa các vị thánh.

Cha mẹ mất sớm, người anh cả lãnh nhiệm vụ hướng dẫn đứa em út Isidorô. Một bức thư của thánh Leander viết cho em gái là thánh Florentina làm chứng điều đó: – “Anh xin em hãy nhớ đến anh trong kinh nguyện và đừng quên chú út Isidorô. Cha mẹ đã ký thác em cho chúng ta và đã trở về với Chúa mà không phải e sợ gì, bởi vì các Ngài đã trao cho em một người chị và hai người anh săn sóc”.

Dù rất thương em. Nhưng Leander đã phải dùng biện pháp mạnh là cây roi để sửa trị tính nhu nhược của đứa em biếng nhác. Một lần kia vì sợ đòn và chán học, Isidorô đã bỏ nhà trốn đi. Cậu chạy nước rút mau hết sức cho tới khi ngã quỵ bên một bờ giếng. Mơ màng trong lúc lấy hơi, cậu nhìn thấy vách đá bên thành giếng có một đường rãnh. Một phụ nữ đến kín nước giải thích cho cậu biết rằng, đá cứng đến đâu đi nữa nhưng sợ giây thừng cọ sát liên tục cũng soi mòn được. Hiện tượng này khiến cậu phải suy nghĩ: “Với thời gian sợi giây thừng và những giọt nước đẽo được cả đá, còn tôi lại không thể học hành để gọt giũa tâm hơn sao ?”

Thật là một bài học lạ lùng đối với Isidorô. Ngài lấy lại can đảm bắt tay và làm việc không còn biết mệt mỏi. Nỗ lực không ngừng đã biến Ngài thành nhà thông thái nhất thời đó. Còn thanh xuân, Ngài đã thông hiểu triết học, đã nghiên cứu các tác phẩm về luật. Nhà chép sử Arevalo đã phải thán phục ghi nhận nói Ngài một sự cao siêu như Platon, sự thông hiểu của Aristote, tài hùng biện của Cicéron, sự uyên bác của Origenê, sự thận trọng của thánh Hiêronimô, giáo thuyết của thánh Augustinô và sự thánh thiện của thánh Gregoriô. Người ta còn nói rằng khi đọc một bức thư của Isidorô, thánh Grêgoriô đã thốt lên lời đầy tính chất tiên tri: – “Đây là một tiên tri Daniel, một người còn trổi vượt hơn cả Salomon”.

Isidorô thụ phong linh mục và theo anh là Leander đang làm giám mục Seville, tham dự các công đồng. Dầu có cuộc bách hại của nhà vua theo phái Ariô và đã trục xuất hai anh của Ngài, thánh nhân vẫn công khai chống lại lạc giáo. Ngài đã thay anh cai quản giáo phận lúc người anh bị lưu đày. Năm 600, khi Đức Cha Leander từ trần, Ngài đã được cử lên kế vị. Đức giáo hoàng Grêgoriô cả còn đặt Ngài làm vị tổng đại diện cho mình ở Tây Ban Nha.

Dầu không bao giờ là tu sĩ, thánh Isidorô đã viết một bộ luật dòng tu. Ngài giải thích, khai triển và hệ thống hoá phung vụ Mozarabic. Ngài nỗ lực tiêu diệt tàn tích của phái Ariô, và đánh bại lạc thuyết của Acephali, một ngành của lạc giáo Nhất tính thuyết ở Tây Ban Nha. Hơn nữa thánh nhân còn lập nhiều trường học để giáo dục con dân của Ngài. Có ảnh hưởng lớn tại triều đình, Ngài cũng giữ phần sáng chói trong cộng đồng Toleđô năm 610, chủ tọa công đồng Seville II năm 618 hay 619 và công đồng Tôleđo IV năm 633.

Nhưng trách vụ của Đức giám mục không ngăn cản công việc trước tác phong phú của thánh Isidorô. Ngài đã viết một từ điển các tiếng đồng âm, một khảo luận về thiên văn địa lý, tiểu sử của các vĩ nhân và các nhân vật trong thánh kinh, một cuốn lịch sử xứ Goth. Tác phẩm ảnh hưởng nhất của Ngài là Bộ bách Khoa từ điển ETYMOLOGIES tóm lược những hiểu biết của thời đại Ngài.

Sau 36 năm nhọc mệt trong chức giám mục, thánh Isidorô phải chịu đựng mọi yếu đau của tuổi già. Bệnh tật có thể nghiền nát thân xác, nhưng lại không thể làm giảm thiểu được nhiệt tâm của Ngài. Trong sáu tháng cuối đời, Ngài tăng thêm việc bác ái đến nỗi một đoàn dân nghèo đến với Ngài tấp nập từ sáng đến chiều và cuối cùng chính Ngài cũng lâm cảnh nghèo túng. Biết rằng sắp kết thúc được đời Ngài mời hai giám mục phụ tá đến thăm, Ngài theo họ tới nhà thờ. Ơ đó một vị giám mục mặc áo nhặm cho Ngài, một vị giám mục bỏ tro lên đầu Ngài. Giơ tay lên trời Ngài lớn tiếng xin Chúa thứ tha tội lỗi, rước lễ. Xin mọi người cầu nguyện cho, khuyên nhủ dân chúng sống bác ái, phân phát hết tiền của còn lại. Trở về nhà, Ngài qua đời trong an bình của Chúa ngày 04 tháng 04 năm 636.

Theo lời yêu cầu của thánh nhân, thi hài Ngài được mai táng với thánh Leander và Florentina. Nhưng về sau Vua Ferdinand di chuyển hài cốt về Leon. Đức Giáo hoàng Benedictô XV tôn phong thánh Isidorô lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh.

Nguồn: gxdaminh.net

https://www.giaophanbaria.org/phung-vu/hanh-cac-thanh/2017/04/03/ngay-04-04-thanh-isidoro-giam-muc-tien-si-hoi-thanh-636.html

 

 

 

Thứ Hai Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 2, 14. 22-32

"Thiên Chúa đã cho Ðức Kitô phục sinh, và tất cả chúng tôi làm chứng về Người".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, xin hãy nghe những lời này:

"Ðức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ, mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng, Ðavít đã nói về Người rằng:

'Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông; vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Ðấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi tràn đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'.

"Hỡi anh em, xin cho phép tôi được bạo dạn nói với anh em về tổ phụ Ðavít rằng: ngài đã băng hà, đã được an táng và lăng tẩm của ngài còn nằm giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì ngài là tiên tri, và biết Thiên Chúa đã thề hứa với ngài sẽ cho một người trong dòng dõi ngài ngồi trên ngai vàng của ngài, nên thấy trước, ngài đã nói về việc Chúa Kitô phục sinh, vì Người không phải bị bỏ rơi trong cõi chết, và xác Người không bị huỷ diệt. Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng về điều ấy".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11

Ðáp: Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa; con thưa cùng Chúa: "Ngài là chúa tể con. Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con". - Ðáp.

2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. - Ðáp.

3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ: ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát. - Ðáp.

4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 117, 24

Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 28, 8-15

"Hãy đi nói với anh em đến Galilêa mà gặp Ta ở đó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta".

Ðang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: "Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu". Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

 

Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Tuần Bát Nhật có những bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc để chứng tỏ "Thày là sự sống lại", chủ đề của chung Tuần Bát Nhật Phục Sinh, mà chúng ta sẽ thấy, theo thứ tự thời gian về những lần Chúa Giêsu hiện ra, trong suốt Tuần Bát Nhật này. Hôm nay, Thứ Hai trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, Giáo Hội chọn bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu thuật lại lần hiện ra đầu tiên của Chúa Kitô Phục Sinh, không phải là với chính các tông đồ mà là với các phụ nữ thuộc thành phần môn đệ đi theo phục vụ Người khi Người còn sống.

 

Thật vậy, theo bộ Phúc Âm Nhất Lãm thì có một số phụ nữ theo Chúa Kitô khi Người còn sống, bao gồm cả Mai Đệ Liên, những người phụ nữ đơn sơ chất phác đạo hạnh này đã ra mồ từ sáng sớm, nhưng chỉ thấy ngôi mồ trống, rồi lại vừa thấy và vừa nghe thiên thần báo tin rằng Chúa Kitô đã sống lại, cần phải báo tin cho các môn đệ của Người. Thế nhưng có duy Thánh ký Mathêu mới thuật lại sự kiện Chúa Kitô phục sinh lần đầu tiên hiện ra, và hiện ra với các bà như sau:

 

 

 

 


 

"Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: 'Chào các bà'. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: 'Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta'".

 

Trong biến cố Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra lần đầu tiên với các người nữ này chúng ta thấy mấy điều đặc biệt như sau:

 

Trước hết, các bà quả thật là quá dễ tin. Vừa thấy Chúa và nghe Chúa nói "chào các bà" "các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy", trong khi đó, các tông độ là thành phần được tuyển chọn làm chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, thành phần được Người tỏ mình ra cho hơn các người phụ nữ này nhiều, ấy thế mà, như các bài Phúc Âm cuối Tuần Bát Nhật Phục Sinh này cho thấy, các vị rất khó tin Người sống lại, cho dù Người có tỏ tường hiện ra với các vị, băng qua cửa đóng kín, cho các vị thấy các dấu tích của Người, ăn uống trước mặt các vị, và lấy Thánh Kinh minh chứng về Người. Các vị chỉ tin sau khi được Chúa Kitô Phục Sinh soi lòng mở trí cho mà hiểu Thánh Kinh mà thôi (xem Luca 24:45).

 

Chính vì tình trạng các tông đồ khó tin như thế mà chúng ta mới thông cảm được hiện tượng vùi dập đức tin của thành phần lãnh đạo Do Thái giáo bấy giờ khi được chính đám lính do họ đích thân sai đến canh mồ đề phòng môn đệ của người chết lấy trộm xác đi (xem Mathêu 27:62-66) báo cho biết rằng xác của người chết đã biến mất thì họ mua chuộc đám lính canh này mà phao tin bậy để đánh lạc hướng dân chúng cho tới bây giờ, như chính Thánh ký Mathêu thuật lại ở đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay.

 

Thánh thi (Giờ Kinh Phụng Vụ Ban Mai Các Chúa Nhật trong Mùa Phục Sinh - bản của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh)

 

Vầng Ðông dậy, ánh hồng gieo rắc

Chốn thiên cung nhã nhạc vang hòa,

Dưới trần khắp cõi âu ca

Quỷ trong địa ngục kêu la hãi hùng.

 

Ấy Vua Cả oai phong lẫm liệt

Cõi âm ty: hủy diệt tiêu tan,

Chân Người dẫm nát tử thần

Tù nhân đau khổ ân cần đưa lên.

 

Ngoài cửa mộ ngày đêm lính gác

Tảng đá to đã lấp lối vào.

Chúa từ cõi chết thẳm sâu

Hiệu kỳ chiến thắng phất cao khải hoàn.

 

Ðã im bặt câu than tiếng khóc,

Ðã hết rồi cảnh ngục thê lương,

Sứ thần áo trắng vui mừng

Loan tin Chúa đã oai hùng phục sinh.

 

Xin cho mọi lòng thành hoan hỷ

Mãi muôn đời mừng lễ Vượt Qua

Tái sinh ơn nghĩa chan hòa

Vang vang khúc khải hoàn ca reo hò.

 

Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái

Ðấng lừng danh đánh bại tử thần,

Ngàn đời hiển trị muôn dân.

Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.

 

Sau nữa, trong sứ điệp nhắn gửi các môn đệ của Người qua các bà, Chúa Giêsu muốn các bà nói với các vị là thành phần bấy giờ Người gọi là "anh em Ta" "phải trở về Galilêa gặp Ta ở đó". Tại sao vậy? Tại sao các môn đệ giờ đây, sau khi Người sống lại, trở thành "anh em" của Người, còn hơn là "bạn hữu" của Người trước đó nữa (xem Gioan 15:15), phải chăng là vì nhờ việc phục sinh của Người mà họ "được tái sinh bởi trên cao" (Gioan 3:3) hay "được tái sinh bởi nước và Thánh Linh" (Gioan 3:5), một Thánh Linh chính Người sẽ thông ban cho các vị khi hiện ra với các vị lần đầu tiên vào tối ngay thứ nhất trong tuần sau đó cùng ngày (xem Gioan 20:22).

 

Còn về sứ điệp Chúa Kitô Phục Sinh muốn các "anh em" của Người gặp lại Người ở "Galilêa" là vì Galilêa là nơi xuất phát của Người, không phải là vùng đất có quê quán Nazarét của Người mà còn là vùng đất có nhiều dân ngoại chung sống với dân Do Thái, vùng đất Người xuất hiện như ánh sáng chiếu trong u tối được Thánh ký Mathêu là tác giả của bài Phúc Âm hôm nay đã ghi nhận như vậy (4:15-16), nơi Người bắt đầu lời rao giảng tiên khởi của Người: "Hãy hoán cải đời sống! Nước Trời đã đến" (Mathêu 4:17). Nghĩa là Chúa Kitô muốn các "anh em" của Người "về nguồn" để từ đó Người ban lệnh truyền giáo cho các vị là "Hãy đi tuyển mộ các môn đồ ở khắp mọi dân nước..." (Mathêu 28:29).

 

Thật ra, trong lệnh truyền truyền giáo trước khi Chúa Kitô Vượt Qua thăng thiên (xem Tông Vụ 1:8), Người hoàn toàn không đề cập gì đến "Galilêa", trong khi Người lại bao gồm tất cả mọi nơi khác: "từ Giêrusalem cùng khắp Giuđêa và Samaria cho tới tận cùng trái đất". Phải chăng "Galilêa" là vùng đất chính Người đã chẳng những đích thân tỏ mình ra mà còn sai các tông đồ và môn đệ đi rao giảng, cả Thày lẫn trò đều "cho con chiên lạc Israel" (xem Mathêu 10:6,15:24), và chính thành phần con chiên lạc nhà Isarael này, theo Thánh Ký Luca, đã kéo theo đồng hành với Người trong cuộc hành trình tiến về Giêrusalem?

 

Tuy các tông đồ quả thực có về Galilêa, như Thánh ký Mathêu chứng nhận (xem 28:16), như để nhận lệnh truyền giáo của Chúa Kitô Phục Sinh ở ngay tại nơi xuất phát truyền giáo của Người, nhưng công cuộc truyền giáo của các vị, theo Thánh ký Luca ghi nhận lời của Chúa Kitô Phục Sinh phải được bắt đầu từ Giêrusalem (xem Luca 21:49; Tông Vụ 1:8) là giáo đô của Do Thái giáo và là nơi Chúa Kitô hoàn thành cuộc Vượt Qua của Người, nơi Người Thăng Thiên (ở Bêthany xem Luca 21:50) và là nơi Người từ Cha sai Thánh Thần xuống trên các tông đồ vào Ngày Lễ Ngũ Tuần (xem Tông Vụ 2:1-4), như chúng ta sẽ thấy qua các bài đọc Lễ Thăng Thiên (Thứ Năm Tuần VI Phục Sinh) và Hiện Xuống (Chúa Nhật kết Mùa Phục Sinh và mở màn Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh).

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: ... 'Hỡi anh em, xin cho phép tôi được bạo dạn nói với anh em về tổ phụ Ðavít rằng: ngài đã băng hà, đã được an táng và lăng tẩm của ngài còn nằm giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì ngài là tiên tri, và biết Thiên Chúa đã thề hứa với ngài sẽ cho một người trong dòng dõi ngài ngồi trên ngai vàng của ngài, nên thấy trước, ngài đã nói về việc Chúa Kitô phục sinh, vì Người không phải bị bỏ rơi trong cõi chết, và xác Người không bị huỷ diệt. Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng về điều ấy'".

 

 

 

Thánh Vinh-Sơn Ferrier 5-4

 

St. Vincent Ferrer - Sermon Translations

 

Lời Tiên Tri Thánh Vincent Ferrer

Thánh (Vinh Sơn/Vicentê) sinh tại Valencia, nước Tây-ban-nha (Spain) vào ngày 23 Tháng giêng Năm 1350, là con thứ ba của ông William Fêrrêr và bà Cônstânce Mìguêl là con gái của chính khách naval, có họ hàng với Giám Mục của Valencia lúc bấy giờ, một gia đình Công giáo đạo đức truyền thống.

Vào một đêm kia, ông William nằm mơ thấy mình đi vào nhà thờ thánh Đaminh tại Valencia, bỗng có một vị thuộc phần tử Dòng Thuyết Giáo từ trên bục giảng phía trên cung thánh, xoay nhìn ông nói rằng,

“Cha chào mừng con, William. Trong mấy ngày nữa con sẽ có một cháu trai, trẻ này sau sẽ được phúc học hành uyên thông và thánh thiện.

Cháu sẽ thành đại sự làm rạng danh nhà con. Thế gian sẽ vang vọng âm thanh huy hoàng của cháu; cháu sẽ được ngập tràn phúc sủng thiên đàng còn địa ngục phải khiếp run. Cháu sẽ mang tu phục như cha đang mặc đây, và sẽ được tiếp nhận vào Hội Thánh với niềm vui của toàn thể vũ hoàn như đối với một vị tông đồ tiên khởi.”

Những người nghe biết chuyện đều hết thảy lớn tiếng chúc tụng – cám đội ơn Chúa với tin mừng bất ngờ này. Riêng ông William vui khôn xiết tả, liền đi thuật lại đầu đuôi câu chuyện với vị giám mục họ hàng.

Bà Cônstânce kể thêm, lúc có thai Vincent thì có hai điềm lạ xảy ra; bà không hề đau đớn khi mang thai Vincent so với những lần mang thai bình thường khác; và gần đến ngày sinh trẻ Vincent, thì bà nghe trong bào thai phát ra tiếng khóc như tiếng sủa của một con chó con-gần giống như giấc mơ của chân phước Jane de Aza Mẹ thánh Đaminh vậy.

(Bà Aza mơ thấy mình sanh ra một con chó ngậm bó đuốc chạy đi thiêu đốt khắp các thành thị). Vị giám mục ngầm hiểu rõ ngay đây là một dấu chỉ màu nhiệm và nói với họ rằng,

“Anh chị hãy vui mừng Trong Thiên Chúa; đứa trẻ mà anh chị đang mang vào thế gian đây, sẽ trở nên người con xứng đáng của thánh Đaminh, cháu sẽ là một trong số những người được kêu gọi để làm nhiều điều thiện lành vô kể bằng vào sự giảng truyền của cháu. Hãy chăm sóc cháu cách đặc biệt cẩn thận và giáo dục cháu nên người thánh thiện, để mai ngày cháu không phụ tình Thiên Chúa đối với các tặng sủng mà Ngài đã ban cho cháu.”

Vincent được Thiên Chúa phú bẩm cho ơn làm phép lạ ngay từ khi chưa lọt lòng mẹ. Một buổi nọ, bà Cônstânce đi thăm một phụ nữ mù theo thói quen đi làm việc bác ái - bố thí hàng tháng, và bà nói với chị ấy,

“Con ơi, hãy cầu xin Chúa cho thai nhi mà mẹ đang cưu mang đến ngày sinh được bằng an nhé.”

Người phụ nữ mù liền cúi áp đầu vào bụng bà Cônstânce rồi nói với thai nhi,

“Xin Thiên Chúa chúc ban phúc lành cho em.”

Lập tức, chị được khỏi mù, và lòng trí trở nên minh mẫn sáng láng, liền thốt lời tiên tri rằng, “Thưa bà, quả là một thiên thần bà đang cưu mang, bởi chính em đã chữa lành nỗi khổ đau cho con.”

Giống như một thai nhi Gioan Tẩy-giả khác, thai nhi Vincent tỏ ý bằng lòng với lời cầu chúc từ miệng người phụ nữ nghèo, đến nỗi nhảy mừng trong lòng mẹ bằng dấu lạ chữa chị khỏi mù.

Ấu Thơ

Khi trẻ Vincent chào đời, được ba mẹ ẵm lên nhà thờ để chịu Phép Rửa Tội, thì những người bà con họ hàng ai cũng muốn lấy tên mình mà đặt cho, khiến vị linh mục chủ sự phải can thiệp mà đặt tên là Vincent, có nghĩa là kẻ thắng trận, một cái tên chưa hề có trong dòng họ bao giờ.

Trẻ Vincent rất dễ tính, đặt đâu nằm đó, không có quấy khóc như mọi trẻ khác, với miệng cười tươi, cặp mắt tròn to mở lớn, khiến ai nấy cũng đem lòng thương mến.

Lên năm tuổi, Vincent, đă chữa lành một đứa trẻ hàng xóm đau nặng được khỏi bệnh. Trong đám trẻ nhỏ hàng xóm, bạn Vincent có một đứa lười học lắm, một hôm, cậu tới rủ nó đi học thì nó đã chết. Mẹ nó đang vật vã khóc lóc cách thảm thiết. Thấy thế, Vincent nói,

“Con bác không chết đâu, nó lười học nên mê ngủ đó.”

Nói đặng, Vincent cầm lấy tay bạn bảo:

“Dậy đi học với tôi mau, kẻo trễ rồi.”

Đứa trẻ đã chết liền bật mình sống dậy đi học với Vincent. Một lần khác, khi cậu đang chơi bên cạnh giếng nhà mình thì đánh rơi giầy, cậu liền quỳ xuống bờ giếng mà cầu nguyện, thì liền đó nước giếng dâng lên vừa đúng tầm tay đặng cậu có thể lấy lại giầy.

Không những thế, Vincent còn thường xuyên hội tụ các bạn nhỏ lại, rồi tự mình đi tìm các chỗ cao đứng giảng cho chúng nghe những gì cậu đã được nghe cha xứ giảng vào ngày Chúa Nhật vừa qua ở nhà thờ. Có một hôm, thấy người đầy tớ đang định chặt một trong các cây ở trong vườn, Vincent liền tới cản lại bảo,

“Xin khoan đã, đừng chặt cây đó! Vì mai mốt người ta sẽ dùng cây này mà khắc tượng cháu đó.”

Cậu còn làm nhiều điều lạ khác nữa. Vincent bắt đầu đi học vào năm tám tuổi. Cậu thuộc làu các kinh, học hành xuất sắc, năm 12 tuổi cậu đã sớm biết ăn chay vào các ngày thứ tư vào thứ sáu trong tuần chỉ bằng bánh mì và nước lã.

Mười bốn tuổi Vincent học thần học, cậu năng nguyện gẫm, nhất là rất sùng kính cuộc khổ hình, thương khó của Chúa Giêsu và có lòng biệt kính Mẹ Maria cách riêng, và sống bác ái với mọi người. Nên xóm giềng ai cũng đem lòng thương mến cậu và thường gọi là “Vị thánh tý hon.”

Thiếu Niên Dũng Trí

Mười tám tuổi, Vincent xin vào “Dòng Thuyết Giáo Thánh Đaminh - Dominican Order of Preacher (O.P)” nơi thành phố cậu đang cư ngụ. Từ khi chọn sống đời tu, thầy Vincent quyết chí noi gương thánh Đaminh để tiến tới đường trọn lành.

Thầy siêng năng đọc Thánh Kinh - suy gẫm Lời Chúa tựa như cơ thể sống động không thể thiếu các mạch máu chính và li-ti vậy. Thầy sống khổ chế và thánh thiện trong mọi lời nói cũng như hành động.

Vì đó, quỷ dữ căm ghét và thường xuyên quấy phá – cám dỗ và gây đau khổ cho thầy đủ điều. Đến độ cha mẹ của thầy khuyên nên bỏ nhà dòng trở về làm một cha xứ (linh mục triều) bình thường thôi. Nhưng thầy Vincent vẫn vững một lòng trông cậy Chúa, ra sức cầu nguyện nhiều hơn, đặc biệt là thầy van nài - khẩn nguyện với Mẹ Maria và thiên thần bổn mạng cứu giúp. Sau bao nhiêu khốn khó, thầy Vincent đã vượt thắng tất cả mọi cam go và hoàn tất giai đoạn tập sinh.

Thầy Vincent lãnh mặc tu phục dòng Đaminh ngày 2 tháng 2 Năm 1363, và khấn trọn đời năm 1368. Kế đến, thầy Vincent tiếp tục 18 năm theo học các; khoa Thánh Kinh, học tiếng Dothái và học rất nhanh. Trong ba năm đầu, thầy Vincent chỉ đọc Sách Thánh Kinh và sách của các Thánh Giáo-phụ đến độ thuộc lòng, đồng thời thông hiểu hết toàn bộ Sách Thánh. Sau đó không lâu, thầy được chỉ định học Triết học, mãn khóa học, Vincent cho ra trình làng cuốn “khảo luận về giả thuyết biện chứng pháp...” (Treatise Dialectic Suppositions), lúc ấy thầy chưa tròn hai mươi bốn tuổi. Sau đó, Vincent được gửi đến Bárcêlôna tiếp tục học chuyên khoa Thánh Kinh. Tuy bận rộn với việc học hành, nhưng cùng thời gian đó, thầy không ngừng rao giảng Lời Chúa và đã mang lại nhiều kết quả lạ thường tuyệt vời không ngờ. Thầy giống hệt như thánh Đaminh vừa là học trò, đồng thời vừa là giáo sư, và vừa là nhà thuyết pháp tài ba vậy.

Vào năm 1378, ở tuổi hai mươi tám, chính tay Đức HồngY Peter De Luna trao bằng tiến sĩ thần học cho thầy Vincent (Hồng Y Phêrô De Luna - người sau này trở thành Giáo hoàng Bênêđíctô thứ XIII, nhưng không chính thức giữa thời kỳ Giáo hội có cuộc “Đại Ly Giáo” bị hủng hoảng và phân rẽ vì chiến tranh lan rộng khắp Tây Âu, mới đầu chỉ có hai rồi có tới ba Đức Giáo hoàng: Đức Urban VI ngự điện tại Rôma, Đức Clêmentê VII ngự điện tại Avignon, Pháp Quốc.

Thánh Catherine thành Siena ủng hộ Đức Urban VI ở Rôma, còn thánh Vincent thì cho ngài là bất hợp pháp …trong lúc phục vụ Hồng Y Peter De Luna, Vincent cùng lúc tích cực thuyết phục dân Tây Ban Nha theo Đức Clêmentê, sau khi Đức Clementê băng hà, thì Hồng Y Luna được bầu làm Giáo Hoàng tại Avignon, lấy hiệu là Đức Bênêđíctô thứ XIII ), Hồng Y Peter lúc ấy đại diện cho Đức Giáo hoàng Clêment VII, đang ngự điện tại Avignon, bên Pháp, đồng thời cũng là người thụ phong linh mục cho Vicent tại Bárcêlôna năm 1379. Không bao lâu sau khi chịu chức linh mục, cha Vincent liền được chọn làm bề trên tu viện Thánh Đaminh tại Valencia.

Đức Bênêđíctô XIII triệu Cha Vincent về làm việc trong bộ xá giải tông truyền và như là một Trưởng Điện Tông Tòa. Nhưng tân giáo hoàng không chịu từ chức trong khi tất cả các ứng viên hồng y trong mật nghị viện đều nhất loạt truất phế. Thế nhưng dẫu cho hầu hết các hồng y và vua nướp Pháp phế bỏ, ngài vẫn ngoan cố bất chấp không chịu từ chức. Nên cha Vincent vỡ mộng trở bệnh nặng, nhưng sau cùng ngài đảm nhận việc “rao giảng Chúa Kitô cho thế giới.”

Vào những năm 1408 đến 1415, cha Vincent cố gắng thuyết phục người bạn cũ (Beneđíctô 13) từ chức nhưng bất thành. Sau cùng ngài kết luận rằng Bênêđíctô không phải là đức giáo hoàng thật. Mặc dầu đang lâm bệnh nặng, ngài cũng ráng hết sức lên tòa giảng ngay trước mặt giáo đoàn mà Bênêđíctô đang chủ sự mạnh mẽ tố giác người đã tấn phong linh mục cho ngài. Bênêđíctô vội vã bỏ trốn khỏi những người trước đây đã từng hỗ trợ mình. Có điều kỳ lạ, là cha Vincent không phải thuộc phần tử của Công Đồng Constance (Công Đồng Constance năm 1414 đến năm 1418 do Hoàng đế Segismunđô triệu tập: nhằm bãi nhiệm 3 Đức Giáo Hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt tình trạng ly giáo ở Tây Phương, lên án Wiclef và Huss. Công Đồng bầu chọn Tân Giáo Hoàng Martinô V), thế mà đã góp phần chấm dứt cuộc ly giáo, bất kể thời ấy trải qua cuộc canh tân nào trong Giáo Hội đều tùy thuộc vào sự hàn gắn ly giáo. Cha Vincent sống cho tới ngày chứng kiến bầu chọn Đức tân giáo hoàng Martin V.

Đời Linh Mục

Vincent là một nhà thuyết giảng hăng say và tài ba, suốt 20 năm cuối đời, ngài giảng truyền Tin Mừng Phúc Âm khắp cõi Miền Nam Âu Châu; Tây ban nha, Pháp, Ý, Đức, Belgium, Úc, Thụy điển, Lombardy và các vùng phụ cận. Giống như một Gioan Tẩy Giả khác được mệnh danh là một thiên sứ thần thông lướt băng qua hoang địa tội lỗi, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, run sợ ngày công phán, dọn đường ngay thẳng để đón Chúa, nếu không có lý do nào khác, hầu hết các tội nhân mới đầu lắng nghe các bài giảng của ngài đều thống hối từ bỏ tội lỗi và yêu mến Thiên Chúa. Ngài còn xác nhận rằng ngài chính là “Thẩm Phán Thiên Thần – Angel of the Judgment,” được nhắc tới trong Sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông Đồ (Kh 14:6-7), nếu dân chúng không chịu ăn năn cải thiện đời sống thì cuộc chung thẩm sắp xảy ra tới nơi.

Việc thuyết giảng của ngài thực lạ lùng nhưng sinh hiệu quả kỳ diệu đến độ mỗi lần thánh Vincent lui tới đâu thuyết giảng, lập tức thu hút khá đông dân chúng hàng vạn, hàng ngàn, và ít nhất có tới 10,000 người, 50 linh mục lũ lượt di hành theo từ nơi này qua nơi khác, thậm chí ngay cả những người ở cách xa đó cả ngàn dặm hay tin cũng tấp nập rủ nhau tới nghe ngài giảng, đến nỗi các nhà thờ chưa kịp mở cửa đã có sẵn đám đông dân chúng túc trực chật ních ở ngoài từ bao giờ, dẫu nhà thờ có rộng lớn bao nhiêu mấy cũng không đủ chỗ chứa họ. Cộng đoàn linh mục hát Kinh Thần Vụ, hát Lễ hằng ngày, và cử hành các bí tích cho những người đã hoán cải nhờ nghe cha Vincent thuyết giảng.

Từng đoàn người nam - nữ khác biệt từ khắp nơi vừa di hành chân không vừa đánh tội cầu nguyện râm ran từ hết đường phố này sang tới thành phố khác. Họ dạy giáo lý khi cần thiết, thành lập các nhà thương - bệnh xá, và làm sống lại một đức tin vốn có trước kia nhưng đã bị tắt rụi vào thời kỳ mắc nạn dịch bệnh. Tương tự như Tiên Tri Giôna cảnh báo thành Ninivê, dân chúng liền cải thiện đời sống, và thế giới được tha rồi tồn tại đến hiện nay ra sao - phần lớn cũng nhờ vào một trong những vị ngôn sứ này! Thế nhưng, ngày nay ít có mấy người biết đến hoặc chưa hề nghe nói tới thánh Vicentê Fêrrê!

Thể theo sự thỉnh cầu của hàng giáo mục, giáo sĩ và dân chúng Valencia, ngài được triệu hồi về bản quốc, tiếp tục đôi việc của ngài là giảng dạy và thuyết pháp với danh tiếng lẫy lừng như thế, chứng tỏ cho thấy người tham dự cùng được chung hưởng phép lành của Đấng Toàn Năng, mà ngài tôn thờ khắp đất nước vượt trên những gì có thể tưởng tượng ra được. Để thử đức khiêm nhượng, Thiên Chúa cho phép một đồng bọn của satan đến quấy phá cám dỗ ngài phạm tội nhục thể, và vây phủ lấy ngài những tư tưởng xấu xa dơ bẩn bất chính. Những vũ khí mà thánh nhân chống lại quỷ dữ là ăn chay, cầu nguyện và ngài tỉnh thức không ngừng mỗi khi bốc cơn mê dục.

Phải nói là một khi càng thăng tiến trong nhân cách thì trông ngài càng đẹp và rạng rỡ thêm ra, phản ánh vẻ đẹp của một tâm hồn ngập lút tình thương Thiên Chúa. Cả khi về già vẻ đẹp rạng rỡ này cũng không hề tàn phai. Tuy vậy, mỗi khi ngài thuyết giảng về Mẹ Thiên Chúa hay các niềm vui Thiên Đàng. Ngài đặc biệt tỏ ra Say mê và hoan hỷ như một trẻ thơ biệt sùng Mẹ Maria vậy, nhất là vào lúc mà các tín hữu nguyện kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.

Tâm hồn của ngài luôn luôn hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện liên lỉ trong công việc bổn phận, trong lao nhọc, và trong mọi hành động. Những thao tác của ngài tương tự như trong tập sách để lại cho mọi Kitô Hữu với nhan đề, KhảoLuận về Đời Sống Thiêng Liêng, ngài viết như sau: “Con có muốn học hỏi để có lợi cho con không? Con hãy tôn vinh (Chúa) khi học hỏi và nên học ít đi để nên thánh chứ không phải học để thành người uyên bác..”

Thử suy gẫm một số câu văn (tư tưởng) trong tập sách tuyệt diệu này. “Công đức không phải vì con người nghèo khổ nhưng một khi họ (ở trạng thái) nghèo khổ mà lại yêu mến đức khó nghèo “Một câu hỏi vô bổ chỉ nên đáp lại bằng yên lặng… Cho nên con hãy học yên lặng một thời gian; anh em con sẽ cảm phục con và sự yên lặng sẽ dạy con lên tiếng khi cần phải lên tiếng.” “Con hãy tự coi mình là dơ bẩn và hèn hạ trước mặt Chúa vì tội lỗi của con hơn bất cứ người tội lỗi nào, bất kể tội của họ là gì đi nữa... và hãy suy nghĩ thật kỹ càng rằng bất cứ một ân sủng hay một khuynh hướng tốt lành nào hoặc một sự ham muốn sống nhân đức, thì đó không phải là do tự con mà có mà do lòng thương xót duy nhất của Chúa Kitô mà thôi.” “Con nên nhìn nhận rằng bất cứ một tội nhân nào đã phạm những tội tầy đình cũng có thể phụng sự Chúa tốt hơn con nếu họ cũng nhận được những ân sủng như con.” “Một khi thủ đắc được khiêm nhượng, thì đời sống bác ái sẽ đến - lửa sốt mến sẽ thiêu đốt hết những thói hư tật xấu và tâm hồn con sẽ đầy tràn đức mến chẳng còn chỗ cho phù vân giả trá.”

 

https://hddaminhthanhlinh.net/a650/thanh-vincent-ferrer-tuc-la-thanh-vincente-lam-phep-la

 

 

Đối với tín hữu Việt Nam, thánh Vincentê Ferriô đã thường được khấn như vị thánh hay làm phép lạ. Cuộc đời của vị tông đồ Âu Châu, vinh quang của Giáo hội, vinh dự của dòng giảng thuyết này cũng rất lạ lùng, Ngài chào đời tại Valentia nước Tây Ban Nha ngày 23 tháng 01 năm 1350. Mặc dầu gia đình giàu có, nhưng thân mẫu thánh nhân đã muốn tự mình nuôi dưỡng con.

Lên sáu tuổi, Vincentê cắp sách đến trường và đã tỏ ra có nhiều ân huệ đặc biệt. Còn là một con trẻ ngây thơ nhưng Ngài đã có sức hấp dẫn lạ lùng.

Bạn trẻ thường vây kín quanh Ngài để tham dự một trò chơi diễn lại bài giảng ở nhà thờ. Vincentê luôn diễn giảng chính xác và hùng hồn một cách đáng ngạc nhiên.

Mười hai tuổi thánh nhân theo môn triết học, mười bốn tuổi Ngài học thần học. Người ta kể rằng vào lúc này, đã một lần thánh nhân làm cho một đứa trẻ đã chết sống lại. Câu chuyện xảy ra khi những đứa bạn xấu bày trò chết giả và xin Vincentê thương giúp.

Nhưng đứa giả chết lại chết thật làm chúng phải kinh hoàng. Đáp lời van xin khẩn thiết của chúng, thánh nhân đã cầu nguyện rồi cầm tay đứa chết cho nó sống lại.

Lên mười bảy tuổi, Vincentê đã được các giáo sư coi như ngang hàng với mình. Đây là lúc Ngài phải quyết định hoặc làm giáo sư tại Roma và lập gia đình, hoặc là theo đuổi lý tưởng tu dòng. Thánh nhân đã quyết định gia nhập dòng thánh Đaminh. Đầy xúc cảm và hãnh diện, ngày 05 tháng 02 năm 1367, ông thân sinh đã dẫn Ngài tới cha bề trên dòng Đaminh ở Valentina.

Nhưng chưa được một năm, thân mẫu Ngài lại luyến tiếc tương lai rực sáng của con, và đã cố gắng đưa con trở về lại thế gian. Thoạt đầu Vincentê có cám dỗ, nhưng sau đó Ngài đã thốt lên câu nói làm đà tiền cho suốt cuộc đời:

- Lạy Chúa, con chọn Chúa mãi mãi.

Ngài được đưa về Barcelona và năm1370 đã trở thành giảng viên triết học tại dòng Đaminh ở tại Lerida. Năm 1373, khi trở lại Barcelona để học tiếng Ả rập và Do thái Ngài đã trở thành nhà giảng thuyết lừng danh.

Năm 1377, Vincentê được gọi sang Toulouse để học thêm. Mới đây Ngài kéo được sự chú ý của đức hồng y Pedro da Luna, vị đại diện của phản giáo hoàng tương lai ở Avignon. Từ năm 1385 tới năm 1930 thuyết giảng thần học ở nhà thờ chính toà Valentina và sau đó vào nhóm với Hồng Y Pedro Da Luna.

Ngài nhiệt tâm rao giảng nhất là cho dân Do thái và dân Mô (Maures). Ngài đã cải hóa được một thày Rabbi ở Valladolid, người sau này trở thành giám mục Phaolô miền Burgos và cùng với thánh nhân can đảm trong nỗ lực cải hoá người Do thái ở Tây Ban Nha.

Từ năm 1391 Yolanda ở Aragon. Thời kỳ này, Ngài bị tra vấn vì rao giảng sự thống hối. Pedro Da Luna, người đã được chọn làm giáo hoàng Benedictô XIII ở Avignon đã cứu Ngài khỏi bị xử án và mời Ngài về giáo triều làm cha linh hướng và cha giải tội.

Tỉnh ngộ trước những nỗ lực nhằm hàn gắn sự phân rẽ giữa Roma và Avignon, thánh Vincentê được thị kiến thấy Chúa Giêsu ở giữa thánh Phanxicô và thánh Đaminh sai đích danh Ngài đi rao giảng sự thống hối. Tháng 11 năm 1399 được Đức Bênêdictô XIII cho phép làm việc này, Ngài đã rao khắp miền Tây Âu để rao giảng cho tới ngày lìa trần. Từng đoàn hối nhân từ 3000 tới 10.000 người theo Ngài và đánh tội.

Năm 1416, Ngài rút lại sự ủng hộ của mình và của vương quốc Aragon đối với Đức Bênêdictô XIII vì vị phản giáo hoàng ở Avignon không nghiêm chỉnh để hàn gắn sự phân rẽ khi từ chối đòi hỏi thoái vị công đồng Constance đưa ra. Quyết định của thánh Vincentê có ảnh hưởng tới việc thoái vị của Đức Bênedictô và giúp dễ dàng chấm dứt sự phân rẽ.

Thành quả thánh Vincentê thực hiện được thật lớn lao. Đối lại, thánh nhân đã phải chịu biết bao nhiêu là đau khổ thử thách. Chúng ta đã nói đến thử thách buổi đầu khi Ngài chọn đời sống hiến dâng. Lời vu oan đuổi theo từng bước chân Ngài và các tội nhân cứng lòng tìm hết cách để tiêu diệt Ngài. Chúng ta nhắc lại đây hai trường hợp:

Một phụ nữ dâm dật lẻn vào phòng Ngài, nhưng thánh nhân thay vì chiều theo những đề nghị của chị ta, đã giảng giải cho chị biết rõ sự nguy hiểm bị hư mất đời đời, khiến chị ta quỳ gối dưới chân Ngài xin lỗi rồi rút lui vào một tu viện để đền tội.

Một phụ nữ khác giả bệnh để mời Vincentê đến. Vừa thấy Ngài tới phòng, chị ta không một chút hổ thẹn đã tỏ rõ ý định của mình. Thánh nhân lập tức rút lui. Giận dữ chị ta vu cáo rằng: thánh nhân đã dám xâm phạm tiết hạnh chị. Nhưng về sau chị đã thú nhận tất cả và công khai đền tội.

Vượt qua được những thử thách, thánh Vincentê còn có những bí quyết để thành công, chẳng hạn trong việc học hành Ngài cho biết: - "Muốn thành công trong việc học hành hãy tham khảo thánh kinh hơn là sách vở. Hãy khiêm tốn xin Chúa ơn được thông hiểu điều bạn đọc, học hành làm mệt trí và làm khô cứng cõi lòng. Bạn thường xuyên đến dưới chân Chúa Giêsu để phục hồi sinh lực".

Thực hiện lời khuyên của mình, thánh nhân dọn bài giảng dưới chân thánh giá, kèm theo những hành vi sám hối cực khổ. Khi nói với dân chúng Ngài lại quỳ trước thánh giá như thể mọi vinh dự chỉ thuộc về Chúa Kitô mà thôi.

Cuộc đời luôn ướp đặm trong tình yêu Chúa, khiến Ngài được ví như thiên thần Chúa trong buổi lễ Hiện xuống: để trả lời cho đám đông dân chúng nhiều miền khác nhau ngạc nhiên vì hiểu được Ngài, Ngài nói: - Tôi nói tiếng mẹ đẻ của tôi, thứ tiếng độc nhất mà tôi biết với một ít tiếng Latinh và tiếng Do thái. Vậy chính Thiên Chúa thân hành giúp các bạn hiểu được.

Các thôn xóm nào đông mỗi khi nghe tin thánh Vincentê sắp đến: công nhân nghỉ việc, thương gia đóng cửa tiệm buôn, thầy dạy bãi khóa... để đi nghe giảng bất kễ trời mưa hay nắng. Thánh nhân nhiệt tâm nói về sự chết và hỏa ngục.

Nhiều tiếng khóc than nức nở cắt ngang lời Ngài khiến Ngài cũng phải khóc theo. Người ta nói rằng nhiều tội nhân nghe lời giảng của Ngài đã ngã chết vì đau đớn rồi hiện về cho biết lòng thống hối đã làm cho họ đáng được hưởng Nước thiên đàng.

Chấm dứt bài giảng, thánh nhân tiếp tục ngồi tòa để phục sinh các tâm hồn.

Hay nói về sự chết và hỏa ngục nhưng thánh nhân cũng thường dùng tính hài hước để sửa dạy các tâm hồn. Ngày nay người ta còn nhắc lại mãi câu chuyện của một phụ nữ. Nàng đau buồn nhiều vì tính nóng nảy của chồng, nhưng không biết dẹp tính bép xép của mình. Thánh nhân khuyên nhủ nàng:

- Đây là phương thế có thể sửa đổi tính nóng của chồng chị. Ra về chị hãy xin thày giữ cửa một bình kín ở giếng nhà dòng. Mỗi khi chồng về nhà, chị hãy uống một ngụm, nhưng đừng đừng nuốt ngay và ngậm càng lâu càng tốt. Giữ mãi được như vậy, chồng chị sẽ hiền lành như một con chiên.

Sau một thời gian kết qủa thật khả quan. Người chồng hoàn toàn thay đổi và người phụ nữ tới cảm ơn thánh nhân, vì phương dược thần hiệu đã tiêu diệt được mọi cuộc cãi vã. Phương ngôn Tây Ban Nha còn nói: - Hãy uống nước Thày Vincentê

Một người trong cơn thù hằn đã không muốn tha thứ cho người thợ đóng giày. Thánh nhân bảo:

- Hãy tha thứ cho chính mình. Ông đang gậm nhấm lòng mình vì không quan tâm đến linh hồn hư mất trong khi vẫn ăn uống và phí phạm thời gian.

Người đó đành thú nhận:

- Vâng, tôi hiểu rằng: ghen ghét như vậy là khùng.

Ngoài nhiệt tình và tài hùng biện đã mang lại thành công cho thánh Vincentê, còn phải kể đến những phép lạ mà Chúa đã làm qua tay thánh nhân. Ngài đã làm vô số những phép lạ. Chỉ nguyên việc điều tra ở Avignon và một vài thành phố khác cũng ghi lại được hơn 860 phép lạ thánh nhân đã làm. Chúng ta ghi một vài sự kiện:

Ở Morella, thánh Vincentê đã cứu sống một đứa trẻ mà người mẹ nó trong một cơn điên, đã giết rồi đem nướng.

Ở Pampeluna Ngài đã dạy một người bị xử tử oan uổng nói lên sự thật.

Ở Vannes Ngài đã bảo một em bé da đen mới sinh nói rõ ai là cha mình, để giải tỏa nỗi lòng đau khổ của người mẹ vì bị chồng nghi ngờ... tuy nhiên chính cuộc sống của thánh Vincentê đã là một phép lạ với những chuyến đi khắp nơi bất kể thời tiết và với việc ăn chay, cuộc sống khắc khổ không ngừng.

Năm 1417 bá tước miền Bretanghe mời thánh nhân tới lãnh điạ của mình. Giữa cuộc tiếp rước long trọng, Ngài đã yếu đuối khó đứng vững nổi, nhưng mỗi khi làm việc, một sinh lực mới khiến Ngài hăng hái hoạt động như hồi thiếu niên, để rồi khi xong việc sức lực Ngài lại tàn tạ như cũ. Ròng rã hai mươi tháng như vậy, thánh nhân đã nỗ lực cải hoá miền Bretagne và

Normandie.Cuối cùng Ngài mới trở về Valentia. Nhưng tới Valentia Ngài kiệt sức và qua đời ngày 05 tháng 04 năm 1419.

http://www.cdcgtphero.de/hanhcacthanh.php?A=4/vinhson

 

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Vinxentê Phêrê (tiếng Tây Ban Nha: Vicente Ferrer), sinh tại Valence (Tây Ban Nha) năm 1350. Ngài vào Dòng Đa Minh lúc mười bảy tuổi. Sau khi học xuấc sắc triết học và thần học, ngài được thụ phong linh mục năm 1378 và đỗ tiến sĩ thần học tại Lérida. Sau vài năm giảng dạy và thuyết giảng tại Valence, kể từ năm 1399, ngài sống đời thuyết giáo, chu du khắp Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Sĩ, Ý và Ái Nhĩ Lan... Chỉ cái chết mới chấm dứt một đời rong ruổi. Châu Âu lúc đó bị xâu xé bởi cuộc chiến Trăm Năm (1337 – 1453). Cuộc chiến đã khiến Pháp và Anh đối đầu nhau; Hội Thánh bị phân hóa do cuộc đại ly giáo ở Tây Phương (1378 – 1417); cuộc Đại Ly khai với hai rồi ba Giáo Hoàng cạnh tranh nhau, cho đến khi Công Đồng Constance (1414 – 1418) chấm dứt cuộc ly giáo, nhờ bầu được Đức Giáo Hoàng Martin V vào năm 1417.

Vào thời đại quá nhiễu nhương, Vincent Ferrier đi khắp châu Âu kêu gọi sự hoán cải và hòa giải. Tài hùng biện, sự thánh thiện, các phép lạ và danh tiếng của ngài lan tràn khắp nơi, tất cả đã làm rung chuyển lục địa này. Nhiều đoàn dân theo người, vì thế các “tu hội” được thành lập như: Dòng “Anh Em Đánh Tội – les Flagellants”. Họ mang áo đen và trắng vừa hành xác vừa hát lời ca này: “Vinh danh sự thương khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta và lạy Chúa, xin dủ lòng thương xót, xóa các tội lỗi chúng con !”

Người ta gọi Vincent là “Thiên Sứ thời phán xét” vì vào thời tao loạn ấy, thánh nhân xuất hiện như nhà thuyết giảng về ngày thế tận. Từ đó, thánh nhân đã chinh phục vô vàn người trở lại, kể cả người Do Thái, người Maures và các người lạc giáo. Sau cùng, ngài mang hòa bình khi giữ vai trò trung gian trong cuộc chiến Trăm Năm. Ngài đóng góp công sức vào việc giải quyết cuộc đại ly giáo ở Tây Phương, khi tham dự Công Đồng Constance.

Vincent Ferrier qua đời vào tuổi bảy mươi, tại Vannes miền Bretagne, lúc đang thi hành nhiệm vụ sau chuyến đi giảng Mùa Chay. Ngài được Đức Giáo Hoàng Calixte III phong hiển thánh năm 1455 và nhận tước hiệu là vị Tông Đồ của Châu Âu. Người Tây Ban Nha và Pháp tranh chấp về di hài của thánh nhân.

2. Thông điệp và tính thời sự

Đức Giáo Hoàng Calixte III, khi phong Vincent Ferrier lên bậc hiển thánh, đã ví người như một Thiên sứ đang bay lượn và gieo vãi Tin Mừng khắp nơi. Vì thế nghệ thuật ảnh tượng đôi khi biểu hiện ngài với đôi cánh và tay cầm Thánh Giá.

a. Lời nguyện đầu lễ trong ngày kính nhớ thánh Vincent nêu rõ nhiệm vụ rao giảng của ngài là loan báo Đức Kitô lại đến như “vị thẩm phán”. Cũng thế, tin mừng Thánh Lễ (Lc 12,35-40) gợi lại cuộc quang lâm của Đức Kitô: ...Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn... Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. Tuy nhiên, đối với ai hỏi ngài về các dấu chỉ của cuộc phán xét sau cùng ấy, ngài trả lời rằng không có dấu chỉ nào hơn lòng bao dung của Thiên Chúa ban cho chúng ta.

b. Trong khảo luận về đời sống thiêng liêng, xuất bản khoảng năm 1410, thánh Vincent kêu gọi các nhà mục tử tâm hồn nên có một tấm lòng tràn đầy dịu dàng và thương xót. Ngài viết: “Khi giảng dạy khuyên lơn, bạn hãy dùng lời lẽ đơn sơ... hãy nói thế nào cho người ta thấy lời lẽ của bạn không phát xuất từ một tính khí kiêu căng giận dữ, nhưng do một tấm lòng yêu thương đầy tình phụ tử. Hãy nên như người cha đau đớn vì con cái mắc tội ... người cha ấy sẽ ấp ủ nó như một bà mẹ. Lúc giải tội cũng thế: nhẹ nhàng khích lệ kẻ nhút nhát, lúc nào bạn cũng hãy tỏ ra là một người đầy yêu thương trìu mến...” (các bài đọc Kinh Sách). Như thế, thánh Vincent hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu “Thiên Sứ của ngày phán xét” và đã nhận được sự khôn ngoan cùng vinh dự khi chỉ cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đang đến “xét xử” trần gian, nhưng để cứu trần gian, như bài đọc trong Thánh Lễ đã nêu lên: Đây là lời của vị chứng nhân trung thành và chân thật...: Này đây ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy ... Ai thắng, Ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta. (bài đọc một: Kh 3,14 ...22). Vincent có nghĩa là “người chiến thắng”; để làm kẻ chiến thắng chỉ cần đứng bên cửa và lắng nghe tiếng gõ. (xem thêm bài tin mừng Thánh Lễ: Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay ... (Lc 12,35-40).

Enzo Lodi

https://www.kath-vietnamesen.de/phung-vu-2/05-04-thanh-vixente-phere-linh-muc-1350-1419-le-nho-tuy-chon/

 

Thứ Ba Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 2, 36-41

"Anh em hãy ăn năn sám hối và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Kitô".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô nói với những người Do-thái rằng: "Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết rằng: Thiên Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng Kitô". Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: "Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?" Phêrô nói với họ: "Anh em hãy ăn năn sắm hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em sẽ nhận lãnh Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến!"

Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ rằng: "Anh em hãy cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này". Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 32, 4-5. 18-19. 20 và 22

Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. - Ðáp.

2) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. - Ðáp.

3) Linh hồn chúng con mong đợi Chúa, chính Ngài là Ðấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 8

Alleluia, alleluia! - Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để ở cùng các con luôn mãi. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 11-18

"Tôi đã trông thấy và Người đã phán với tôi những điều ấy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi: "Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!"). Chúa Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con".

Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy".

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

Nhân vật chính trong các phụ nữ ra thăm mộ Chúa Kitô từ sáng sớm là Mai Đệ Liên, có thể chị là người đầu tiên rồi các bà khác ra sau nhập bọn, và chị là người cuối cùng ở lại bên mộ Chúa để tìm cho bằng được xác của Vị Sư Phụ vô cùng kính mến của chị, thế mà, khi chị được chính Người hiện ra và tai của chị nghe được rõ tiếng của Chúa mà chị lại cứ tưởng là người làm vườn nào đó, cho tới khi chị được chính Người gọi đích danh của chị:  

 

 


"
Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi: "Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!"). Chúa Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con". Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy". 

 

Thánh thi (Giờ Kinh Sáng trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh - bản của Nhóm Phiên Dịch Phụng Vụ Giò Kinh)

 

Gió sớm lâng lâng quyện sáng về,

Trong bình minh nhuốm sắc pha lê,

Thấp thoáng bóng chân người thôn nữ,

Viếng mồ chẳng ngại dẫm sương khuya.

 

Vội vã dầu thơm đặt cạnh mồ,

Nhưng kìa ai lật tảng đá to?

Khăn liệm xếp đây: sầu tuyệt vọng!

Xác Người đã lạc mất phương mô?

 

Buồn ngấm hàng mi lệ ứa trào

Hương lòng thờ kính gửi trời nao?

Tín đồ mất Chúa, ôi cô quạnh!

Mỏm đất trơ vơ, cả huyệt sầu.

 

Thoạt đâu gió đẩy đất rung rinh,

Thôn nữ sầu tan vội ngoảnh nhìn:

Hai người xiêm áo in màu tuyết

Reo vang: "Con Chúa đã phục sinh!"

 

Thôi cả trào vui ngập biển lòng,

Thả buồn cho gió cuốn mông lung;

Xăm xăm quay gót băng đồng nội,

Thôn nữ vui mừng vượt nắng trong.

 

Ôi Chúa phục sinh, phút rợn trời,

Thảo nào đêm dậy ánh sao tươi,

Gió đàn, hương ngát trăng kiều diễm

Hòa tấu lừng uy đón đợi Người!

 

 

 

Tuy nữ nhân vật Mai Đệ Liên được bộ Phúc Âm Nhất Lãm liệt kê vào số những người phụ nữ ra mồ vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, như thể các bà suốt đêm không ngủ, chỉ chờ đến sáng, qua ngày hưu lễ, để ra thăm mộ của Đấng các bà kính mến và thương quí, nhưng, căn cứ vào các chi tiết được thuật lại ở cả bộ Phúc Âm Nhất Lãm cũng như Phúc Âm Thánh ký Gioan thì Mai Đệ Liên dường như là người ra mộ sớm nhất, đi một mình chứ không đi chung với các bà kia.

 

Bởi thế, theo Phúc Âm Thánh Gioan của chính Chúa Nhật Phục Sinh Lễ Rạng Đông thì Mai Đệ Liên đã chạy về báo tin ngay cho các tông đồ và vì thế 2 môn đệ đại diện là Phêrô và Gioan đã chạy ra mộ (xem Gioan 20:1-10). Còn các bà kia ra sau cũng chạy về báo tin cho các tông đồ, như Phúc Âm Thánh Luca thuật lại ở Lễ Vọng Phục Sinh Chu Kỳ Năm C, thì bấy giờ chỉ có môn đệ Phêrô chạy ra mồ (chắc lần thứ hai) và lần thứ hai này có thể đã làm cho người môn đệ ấy "cảm thấy lạ lùng" hơn lần thứ nhất.

 

Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay cho thấy lần hiện ra thứ hai của Chúa Giêsu, sau khi hiện ra cho chung các bà trong bài Phúc Âm hôm qua, cho riêng một mình Mai Đệ Liên, người phụ nữ ra mồ sớm nhất và đã chạy về báo cho các tông đồ, nhưng sau khi hai môn đệ Phêrô và Gioan từ mộ trở về thì chị vẫn tiếp tục ở lại mồ để "khóc" vì không thấy xác của Đấng chị đã từng được diễm phúc xức dầu thơm hai lần (xem Luca 7:37-38; Gioan 12:3) khi Người còn sống, và nhất định tìm cho bằng được thi thể vô cùng cao trọng của Người: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người".

 

Ở đây chúng ta mới thấy rằng cái tiền thức về Chúa Kitô là một con người đã chết và cái niềm tin về người chết chỉ sống lại vào ngày tận thế (xem Gioan 11:24) chứ không phải trước ngày tận thế đã hoàn toàn chi phối chính bản thân của một con người hết sức thiết tha kính mến Chúa Kitô, tha thiết tìm kiếm Người, nên chắc chắn có một cảm giác rất bén nhậy về Người, như "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" là Gioan, thế mà khi nghe thấy tiếng của Người, chị vẫn không nhận ra ngay lập tức, mà lại "tưởng là người giữ vườn". Cho đến khi, phải, cho đến khi chị nghe Người gọi đích danh tên của chị: "Maria".

 

Đúng thế, Thiên Chúa thường tỏ mình ra cho chung con người, nhưng đồng thời Ngài cũng tỏ mình ra cho từng người nữa, để họ cảm nghiệm thần linh về Ngài như Ngài tỏ mình ra cho họ, nhờ đó họ có thể trở thành chứng nhân trung thực của Ngài và cho Ngài. Cách thức Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người khiến họ dễ nhận ra nhất và cảm kích nhất đó là chạm đến đời tư của họ, như Chúa Kitô đã chạm đến đến tư của người phụ nữ Samaritanô sống với 6 người đàn ông không phải là chồng của chị (xem Gioan 4:16-18).

 

Ở đây, Chúa Kitô đã chạm tên gọi của chị Mai Đệ Liên, khiến chị nhận ngay ra Người và trở thành chứng nhân của Người và cho Người: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy". Đó là "Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con". Chị đã làm chứng trước mặt các tông đồ là thành phần được chính Chúa Kitô tuyển chọn để làm các chứng nhân tiên khởi của Người và cho Người. Và vì thế, vì chị đã được Chúa Kitô Phục Sinh tuyển chọn để về báo tin cho các tông đồ và làm chứng về sự kiện Người đã sống lại thật như thế mà chị đã được gọi là "tông đồ của các tông đồ / the apostle of apostles". Và đó cũng là lý do Vị Giáo Hoàng Thương Xót Phanxicô này đã nâng Lễ Thánh Mai Đệ Liên 22/7 từ bậc lễ nhớ (memorial) lên bậc Lễ Kính (feast), ngang với lễ của từng vị tông đồ, một lễ buộc phải làm (chứ không buộc làm như bậc lễ nhớ), bao gồm các bài đọc kèm theo lời cầu nguyện riêng về vị thánh này, có cả Kinh Vinh Danh long trọng nữa. 

 

Hình như chỉ có những ai đã từng có một cái gì đó tiêu cực mới được Chúa gọi đích danh. Điển hình nhất có "Matta"  (Luca 10:41) lo lắng bối rồi nhiều chuyện nên ghen với Maria em mình, hay viên trưởng ban thu thuế lùn "Giakêu" trước khi thống hối ăn năn (Luca 19:5), hoặc "Simon" (Luca 22:31) để báo trước cho vị môn đệ sắp chối Thày 3 lần, hay "Philiphê" (Gioan 14:8) là người môn đệ xin Thày tỏ cho biết Cha trong khi chính Thày là hiện thân của Cha, hoặc "Saulê" (Tông Vụ 26:14) khi nhân vật Pharisiêu nhiệt thành này đang hung hăng bắt bớ Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô, hay "Lazarô" là một tử thi chết đã 4 ngày, tiêu biểu cho hậu quả tội lỗi của con người cần được cứu độ. Riêng chị Mai Đệ Liên ở trong bài Phúc Âm này,Chúa Kitô không gọi tên của chị khi chị đang sống cuộc đời bê tha tội lỗi mà là vào lúc chị đã trung thành theo Chúa cho đến cùng.

 

Ở đây chúng ta còn thấy rằng những lời Chúa Kitô phán về thành phần mẹ của Người và anh chị em của Người, mà bấy giờ Người chỉ vào thành phần các môn đệ của Người (xem Mathêu 12:49-50), nay đã được ứng nghiệm nơi lời Người phán với chị Mai Đệ Liên: "Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con". Bởi vì, Người sống lại để ban cho họ sự sống, sự sống thần linh của Thiên Chúa, qua Thánh Thần Người thông truyền ra cho các vị (xem Gioan 20:22), nhờ đó các vị được hiệp nhất nên một với Người, "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21). 

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô nói với những người Do-thái rằng: 'Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết rằng: Thiên Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng Kitô'. Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: 'Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?' Phêrô nói với họ: 'Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em sẽ nhận lãnh Thánh Thần...'"

 

 

 

 

 

Thứ Tư Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 3, 1-10

"Có cái này tôi cho anh, là nhân danh Ðức Giêsu, anh hãy đứng dậy mà đi".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, vào giờ thứ chín, là giờ cầu nguyện, Phêrô và Gioan lên đền thờ. Lúc bấy giờ có một anh què từ lúc mới sinh, hằng ngày được người ta khiêng đến cửa đền thờ, gọi là Cửa Ðẹp, để xin những người vào đền thờ bố thí cho. Khi thấy Phêrô và Gioan tiến vào đền thờ, anh liền xin bố thí. Phêrô và Gioan nhìn anh và nói: "Anh hãy nhìn chúng tôi". Anh ngước mắt chăm chú nhìn hai ngài, mong sẽ được hai ngài cho cái gì. Nhưng Phêrô nói: "Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!" Rồi Phêrô nắm tay mặt anh mà kéo dậy, tức thì mắt cá và bàn chân anh trở nên cứng cát; anh nhảy ngay lên mà đứng và đi được; anh cùng hai ngài tiến vào đền thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân chúng đều thấy anh đi và ngợi khen Chúa. Họ nhận ra anh chính là kẻ ngồi ăn xin ở Cửa Ðẹp đền thờ, nên họ bỡ ngỡ sửng sốt về việc xảy đến cho anh.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 104, 1-2. 3-4. 6-7. 8-9

Ðáp: Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui (c. 3b).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Ngài, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Ngài, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. - Ðáp.

2) Hãy tự hào vì danh thánh của Ngài, tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. - Ðáp.

3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những người được Ngài kén chọn. Chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu. - Ðáp.

4) Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề với Isaac. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 117, 24

Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 24, 13-35

"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".

Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.

Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

"Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra". Và tâm tình chia sẻ có vẻ tiêu cực và bi quan của hai vị đã được vị khách lạ trấn an bằng những lý lẽ Thánh Kinh, khiến các ông cảm thấy an lòng và ấm lòng, cho đến khi, qua cử chỉ quen thuộc của Người, họ mới nhận ra vị khách lạ vừa biến khuất khỏi mắt họ đó chính là Chúa Kitô.

 


"Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất". 

 

Theo thứ tự thời gian thì đây là lần hiện ra thứ ba của Chúa Kitô sau khi Người sống lại từ trong cõi chết. Cả 3 lần, kể cả lần ngày mai là thứ 4, đều xẩy ra vào cùng một ngày, ngày thứ nhất trong tuần. Hình như ba lần đầu, hiện ra có vẻ lẻ tẻ với thành phần môn đệ, cả nữ lẫn nam, không phải là chính các tông đồ, Chúa Kitô như muốn dọn đường hay dọn lòng cho các tông đồ để các vị khỏi quá bỡ ngỡ bàng hoàng khi gặp lại Người ở một dạng thức khác, và nhờ đó dễ tin vào người hơn.

 

Riêng trong lần hiện ra thứ ba với hai môn đệ đang đi về làng Emmau ở bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn trấn an các vị là thành phần môn đệ nam, thành phần mà, theo phái tính, vốn nghiêng về lý trí hơn tình cảm và trực giác như nữ giới, như hai trường hợp xẩy ra cho phái nữ ở hai bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia, nên Người cần phải lấy chính Thánh Kinh để nói chuyện với thành phần môn đệ phái nam này.

 

Tuy nhiên, họ vẫn không nhận ra người khách lạ mặt có vẻ chẳng biết gì về biến cố cả thể xẩy ra làm náo động cả Giêrusalem lên như thế, mà lại là một người khách lạ thông thuộc và nắm vững Thánh Kinh đến độ lấy chính Thánh kinh để chứng thực cho các vị về sự kiện sống lại không thể nào không xẩy ra của Đấng các vị trông đợi như một Đấng Thiên Sai: "Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel".

 

Đúng thế, chính vì niềm hy vọng không hoàn toàn xác thực này mà các vị nói riêng và thành phần môn đệ của Chúa Kitô nói chung đã cảm thấy quá ư là "buồn bã", đến độ chán chường thất vọng hình như hai người môn đệ này đã có ý định bỏ cuộc mà trở về quê quán Emmau của mình. Thật ra, chính vì niềm hy vọng của họ có tính cách chủ quan cố hữu thiên về chính trị mà họ đã không thể nào không tuyệt vọng khi thấy Đấng mà họ đầy lòng tin tưởng và trông mong, nhất là khi Người vinh quang khải hoàn tiến vào Thành Thánh Giêrusalem, lại chính là Đấng không thể xuống khỏi thập tự giá, đã bị giết chết và được mai táng trong mồ như bất cứ một phàm nhân nào, và đến ngày thứ ba rồi mà vẫn chưa thấy chẳng thấy bóng dáng Người đâu:

 

"Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".

 

Để củng cố niềm tin cho hai môn đệ hình như nản chí nhất này, đến độ họ đã dám ra khỏi căn phòng khóa kín là nơi thành phần môn đệ của Đấng đã bị giết chết một cách dã man tàn ác đang cùng nhau trú ngụ một cách sợ sệt, họ như không còn biết sợ hãi thành phần sát hại Đấng mà họ theo đuổi nữa, vì nếu họ có bị nhóm này chặn lại thì họ chỉ cần trả lời rằng "chúng tôi không còn thuộc về nhóm của kẻ chết nữa", thế là xong, chắc chắn họ sẽ không bị làm khó dễ hay bách hại.

 

Thế nhưng, họ đâu có ngờ rằng, chính lúc họ tuyệt vọng và bỏ về như thế họ lại gặp được ngay Đấng họ tưởng rằng họ không bao giờ còn được gặp lại trên trần gian này nữa. Và giây phút họ nhận ra Người là lúc họ thấy được cử chỉ thân quen của Người vẫn làm trước mắt các môn đệ, đó là: "Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông". Rõ ràng là lần hiện ra thứ ba này, mục đích của Chúa Kitô là để củng cố đức tin cho 2 môn đệ ấy: "Mắt họ sáng ra và nhận ra Người".

 

Để rồi, cho dù Người không sai phái các vị phải trở về loan báo tin vui cho các tông đồ, như hai lần hiện ra trước với thành phần nữ giới, nhưng một khi đã gặp được Người thì tác dụng thần linh bất khả chống cưỡng của cuộc gặp gỡ thần linh bao giờ cũng thúc đẩy con người phải loan truyền tất cả sự thật liên quan đến những gì họ đã thấy và đã nghe: "Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. ...Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào".

 

Đoạn Phúc Âm hôm nay không phải là đoạn đã trở nên mẫu thức cho Phụng Vụ Thánh Lễ, bao gồm 2 phần là phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể, mà còn trở thành một đường lối lắng nghe Lời Chúa và cảm nghiệm Lời Chúa nữa. Ở chỗ, nếu hai môn đệ này không mời Vị Khách Lạ ở lại với họ thì họ đã không nhận ra Người, nghĩa là Người không được dịp tỏ hết mình ra cho họ, mà chỉ qua vai trò là một người khách đồng hành với họ thôi.

 

Kitô hữu chúng ta cũng thế, đọc Lời Chúa hay nghe Lời Chúa, bao gồm cả việc nghe giảng Lời Chúa hay nghe tĩnh tâm v.v., đôi khi chúng ta cảm thấy hay, nhưng rồi nếu chúng ta không mời Lời Chúa ở lại với tâm trí chúng ta, bằng việc lắng đọng cầu nguyện sâu xa thấm thíá hơn, nhờ đó Lời Chúa trở thành cảm nghiệm của chúng ta, tỏ mình ra chúng ta một cách tỏ hiện và sống động hơn như Bánh Sự Sống làm cho chúng ta trở thành chứng nhân cho Đấng tỏ mình ra cho chúng ta, như hai môn đệ sau khi gặp Đấng Phục Sinh đã tự động lên đường, băng qua đêm tối, để về làm chứng cho Người với các vị tông đồ....

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Phêrô và Gioan nhìn anh và nói: 'Anh hãy nhìn chúng tôi'. Anh ngước mắt chăm chú nhìn hai ngài, mong sẽ được hai ngài cho cái gì. Nhưng Phêrô nói: 'Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!' Rồi Phêrô nắm tay mặt anh mà kéo dậy, tức thì mắt cá và bàn chân anh trở nên cứng cát; anh nhảy ngay lên mà đứng và đi được; anh cùng hai ngài tiến vào đền thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân chúng đều thấy anh đi và ngợi khen Chúa". 

 

Related image

 

 

Thánh Gioan Lasan 7-4

 

Ngày 7/4: Thánh Gioan Baotixita Lasan

 

 

Gioan Lasan ( Jean Baptiste de Lasalle) chào đời ngày 30/4/1651 tại thành Rheims_Pháp, trong một gia đình trưởng giả. Cha là thẩm phán tòa án thành Rheims, mẹ là con gái nhà quý tộc. Ngay từ thưở thơ ấu Gioan đã thích những việc đạo đức.

Lên 10 tuổi Gioan bắt đầu học lớp đệ lục tại Rheims. Năm 1662, Gioan nhận phép cắt tóc được chính thức công nhận là ứng sinh gia nhập vào hàng ngũ giáo sĩ. Chưa đầy 16 tuổi Gioan đã lãnh nhận chức Kinh Sĩ và lãnh bằng M.A hạng tối ưu, kết thúc quãng đời học sinh năm 1669 ( 18 tuổi)
Gioan học đại học Rheims được một năm, đến tháng 10/1670 thì theo học tại đại chủng viện Sulpice ( Xuân Bích) do các linh mục tu hội Xuân Bích điều khiển.

Năm 1671, được tin mẹ mất và chưa đầy 9 tháng sau, cha của Gioan cũng qua đời. việc học vì thế bị gián đoạn, Gioan trở về nhà chăm lo việc gia đình. Năm 1672, Gioan lãnh nhận chức phụ phó tế trong nhà nguyện Đức TMG tại Cambrai. Mùa thu năm 1673, công việc trôi chảy nên Gioan tiếp tục việc học. Tháng 8/1675 Gioan lấy được bằng cử nhân thần học. một năm sau lãnh nhận chức phó tế và ủy quyền giám sát các em của mình lại cho ông cậu. đến năm 1678, Gioan được thụ phong linh mục trong dinh Đức TGM thành Rheims đồng thời nhận bằng tiến sỹ thần học năm 1680.

Những năm đầu đời linh mục, Gioan đã gặp khó khăn trong việc thương thuyết xin chính quyền công nhận hội dòng “các chị em Chúa Giêsu Hài Đồng” chuyên giáo dục những em gái nghèo do cha Nicolas trao phó cho Gioan trước khi ngài mất. cha Gioan đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, cha thường đến dâng lễ và giúp về phần thiêng liêng cho các chị em. Cha Gioan ngày ngày dâng lễ với cung cách trang nghiêm sốt sắng nên thu hút được nhiều người và cảm hóa nhiều người khô khan nguội lạnh.

Ngày 15/4/1679 trường Kitô đầu tiên dành cho con trai nghèo được thành lập cùng bao khó khăn thiếu thốn. đến khoảng cuối năm 1679 thêm hai trường nữa được thành lập và rất thành công. Tuyn nhiên người quản lý các trường là ông Nyel không lo huấn luyện các thầy giáo nên về sau các thầy giáo trở nên cẩu thả, học sinh ngày càng khó trị và vô kỉ luật. Tất cả những gì tốt đẹp xây dựng bấy lâu sắp tan thành mây khói. Cha Gioan quyết định đưa các thầy giáo về sống trong nhà mình để có thêm thời gian lo cho các thầy giáo và huấn luyện họ trở thành một cộng đoàn cùng chung ý hướng và tôn chỉ. Mặc cho gia đình phản đối cha vẫn giữ nguyên quyết định thực hiện, từ bỏ thế giới sung túc để sống trong thế giới của người nghèo. Xây dựng trường học, huấn luyện các thầy giáo, tiến hành cải cách nền giáo dục Kitô cho trẻ em nghèo…Cha Gioan đã gặp không biết khó khăn, gian nan trong việc thành lập hội dòng, mở rộng các trường học khắp các miền thành Rhiems, Paris, Vaugirard…Cha đã vượt qua tất cả sự chống đối, nhục mạ và kiện tụng, có những lúc rơi vào tình trạng khủng hoảng tưởng chừng như hội dòng sắp tiêu tan…

Có thể nói Cha Gioan đã hi sinh tất cả để chăm lo cho các em trường Kitô và hội dòng trong suốt quãng thời gian từ năm 1680 đến năm 1719. Công lao sáng lập, gây dựng của Cha thật lớn lao cho một nền giáo dục nhân bản và Kitô.

Về phần mình Cha Gioan luôn sống khắc khổ, ăn chay, hãm mình. Mặc cho đau ốm bệnh tật suýt chết, cha vẫn khó nghèo trong luật lệ do chính mình soạn thảo ra, sống hết mình, vâng phục để làm vinh danh Chúa theo khả năng mình và theo thánh ý Người.

Về cuối đời. cha Gioan sống trong bệnh tật khắc nghiệt, phải chịu nhiều đau đớn nhưng cha vẫn trung thành với Chúa cho đến cùng. Khi đang trong cơn đau sắp chết vì một số hiềm khích lúc trước mà có người hại Gioan, kết cuộc Gioan bị treo chén. Đây là tủi nhục cuối cùng mà Gioan phải đón nhận. như bao lần trước ngài vẫn cất tiếng: “ Xin chúc tụng Chúa” vào thứ 6 tuần thánh, ngày 7/4/1719 Gioan trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 68 tuổi.

Đến 5/1840 hồ sơ phong thánh của người được nộp cho Tòa Thánh. Các sách vở người viết được nộp cho Tòa Thánh cứu xét. Ngày 12/1/1852, Tòa Thánh công nhận các bản văn này phù hợp với tín lý của Giáo Hội. Ngày 1/11/1887, Toà Thánh công nhận 3 phép lạ do lời chuyển cầu của Ngài và Ngài được Đức Thánh Cha Leo XIII nâng lên hàng Á Thánh ngày 19/2/1888. Sau đó Tòa Thánh công nhận thêm 2 phép lạ nữa do Ngài cầu bầu giúp. Ngày 25/4/1900, Đức Thánh Cha nâng ngài lên hàng các thánh và được chọn làm quan thầy các nhà giáo dục trên toàn thế giới vào ngày 15/5/1950.

Công trình cả đời Ngài thâm tín là “ việc của Chúa – Domine, Opus Tuum” vẫn được tiếp tục bởi nhưng người nối gót theo Ngài dấn thân cống hiến cho trẻ, đặc biệt là con em người nghèo và lao động, một nền giáo dục nhân bản KiTô trong hơn 300 năm qua ở hơn 80 quốc gia trên thế giới.

 

http://lasanbmt.com/tin-tc/tin-tc-la-san/598-tiu-s-thanh-gioan-lasan.html

 

Trong một thế kỷ ham chuộng tóc giả, phấn son cùng y phục xa hoa; ai là người để ý tới kẻ săn sóc đám lê dân? Trong khi mà vua Louis thứ XIV oai phong lẫm liệt giữa triều thần trong cung điện Versailles; trong khi mà Giám mục Bossuet hấp dẫn mọi người chung quanh giảng đài của ông; trong khi chiến thắng oanh liệt của hai ông Turenne và Condé vang dội châu Âu; trong khi mà thi kịch gia Corneille,Racine,La Fontaine chói lọi trên văn đàn; hỏi ai là người đếm xỉa tới một Linh mục chạy ngược xuôi tổ chức các trường từ thiện?

                                                                                                                       Đucmagnificat

Đám trẻ nhỏ không có ai dạy dỗ

Đi lang thang chập choạng bước lạc loài

Gặp Lasan, kẻ đã được Chúa sai

Như ngọn lửa bừng lên trong đêm lạnh.

            Vâng, giữa lúc các trường công nước Pháp cấm dạy đạo, Chúa Quan Phòng đã cho xuất hiện một vị Thánh chuyên lo giáo dục trẻ, khai mở các trường Công giáo, vừa dạy chữ, dạy nghề, vừa huấn luyện đạo lý. Đó là Thánh Gioan Baotixita La-san linh mục mà chúng ta mừng kính hôm nay.

            Thánh Gioan Lasan sinh ngày 30.4.1651 tại thành Reims(Pháp) trong một gia đình giàu có, sang trọng và đạo đức. Người theo học tại chủng viện Sulpice và thụ phong linh mục vào năm 1678. Nhờ ơn Chúa soi sáng, Ngài thấy được con đường lý tuởng của Ngài. Đó là “đào tạo giáo viên và mở trường dạy học”; một con đường với đầy những khó khăn, gian khổ và đau thương ngập tràn khiến Ngài đã từng phải thốt lên rằng: “Nếu tôi biết trước được công việc sẽ dẫn tôi đến đâu, thì tôi sẽ không bao giờ đụng ngón tay vào…”Thế nhưng, từng bước một và một cách tế nhị, kín đáo, Chúa dẫn đưa Người dần dần tới chỗ lo cho việc giáo dục trẻ nghèo, một nhu cầu cấp bách của xã hội đương thời.

            Người đã thấy được hai thực thể:một thực thể tối thượng là Thiên Chúa;và một thực thể thấp hèn là con em giới lao động.

            Người đã nhận thức được hai sự thật: một là Thiên Chúa luôn luôn muốn cứu sống hết mọi người; hai là trong khi ấy con em giới lao động lại sống quá xa ơn cứu độ.

Và Thánh Gioan Lasan đã quyết định đem ơn cứu độ đến trong tầm tay của trẻ hay nói đúng hơn là để bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa Quan phòng cứu sống trẻ.

            Chính vì thế, Người bán hết của cải, phân phát cho kẻ nghèo, tới sống chung với một số giáo viên. Người đứng ra khai mở nhiều trường Công giáo, dạy văn hoá, huấn luyện nghề nghiệp nhất là hướng dẫn Giáo lý cho học sinh. Ngài ưu tiên cho học sinh nghèo, miễn phí cho họ. Chính vì đó mà Ngài gặp hết khó khăn này đến khó khăn khác. Các trường khác chống đối Ngài vì trường họ mất học sinh, nhất là vấn đề học phí. Họ tố cáo Ngài, tổ chức cướp phá trường của Ngài. Chính quyền ra lệnh cấm Ngài dạy miễn phí trong thành phố Paris. Nhưng Thánh nhân vẫn không ngã lòng.

Trên hai vai nặng trĩu gánh học đường

Cha vững bước trong niềm TIN sắt đá,

Chén gian truân Cha nào đâu có sá,

Uống cạn ly vì hai chữ NHIỆT THÀNH.

            Và thế là Ngài tiếp tục mở trường dạy miễn phí ở các nơi khác.

            Lần lần với kinh nghiệm, ngài thấy rằng muốn cho công cuộc giáo dục đạt kết quả tốt, chẳng những là phải có một đội ngũ giáo viên có học thức cao mà cần nhất là đào tạo đức gương mẫu. Với ngưòi, nghề gõ đầu trẻ không còn là một kế sinh nhai mà là một nghề cao quý, và hơn nữa còn là một sứ mạng thiêng liêng.

Gõ đầu trẻ, một cái nghề bất hạnh

Sống qua ngày cho trọn kiếp tầm tơ

Nhưng này đây: một sứ mạng đang chờ

Cùng với Chúa dựng xây nhà Hội Thánh.

            Vì thế, Ngài cầu nguyện với Chúa và quyết định biến đổi nhóm giáo viên của Ngài thành một cộng đoàn tu sĩ chuyên lo việc giáo dục đào tạo. Đó là Dòng Các Sư Huynh trường Kitô mà chúng ta thấy hiện có mặt khắp các nước trên thế giới. Để giới hạn hội dòng riêng cho công trình giáo dục, Ngài đã định không một sư huynh nào được làm linh mục. Vì nếu làm linh mục thì các sư huynh phải lo việc mục vụ, không đủ thời gian lo cho việc dạy dỗ giới trẻ. Chính Ngài đã chăm lo huấn luyện đạo đức và nghiệp vụ cho các Sư huynh.Ngài thường nhắn nhủ: “Anh em hãy suy nghĩ điều tông đồ Phaolô đã nói:Thiên Chúa đã đặt trong Hội thánh có các tông đồ,các tiên tri và các tiến sĩ.Bây giờ anh em cũng sẽ thâm tín rằng chính Chúa cũng đã đặt anh em trong chức vụ đang ở.Về điều đó,chính vị Thánh ấy đã cho anh em một bằng chứng khi nói: có nhiều tác vụ và nhiều công việc nhưng chỉ có một Thánh Thần biểu thị trong mỗi ơn như vậy, để làm ích chung cho toàn thể tức là cho cả Hội thánh.

            Do đó, anh em không được nghi nan gì về ơn mà anh em đã được, là giáo dục thiếu niên, rao giảng Tin mừng cho chúng và huấn luyện chúng trong tinh thần đạo đức. Đó là ơn cao cả Thiên Chúa đã ban cho anh em. Người đã gọi anh em đến chức vụ Thánh này. Vậy trong toàn bộ việc giáo dục của anh em, anh em phải làm cho lớp thiếu niên mà anh em có phận sự coi sóc, nhận thấy anh em chính là thừa tác viên của Thiên Chúa,khi anh em chu toàn phận sự với tình thương không giả dối và với sự chuyên cần chân thật. Hơn nữa, anh em còn phải dấn thân vào chức vụ không phải chỉ là thừa tác viên của Thiên Chúa mà còn là thừa tác viên của Đức Kitô và Hội thánh nữa.

            Anh em hãy thao thức làm cho thiếu niên đi vào cơ cấu của ngôi đền thờ này là Hội Thánh, để một ngày kia chúng xứng đáng đến trước toà Đức Giêsu đầy vinh quang, không tì tích, không nhăn nheo hay xấu xa hầu chứng tỏ cho các thế hệ mai sau thấy các sự giàu sang phong phú của ơn Thánh mà Thiên Chúa đã ban cho chúng, khi cho chúng trợ giúp về giáo lý, lúc trao chúng cho anh em dạy dỗ và giáo dục để chúng được phần gia nghiệp nước Thiên Chúa và của Đức Giêsu Kiô,Chúa chúng ta”.

            Cuộc đời của Gioan Lasan đầy gian truân thử thách và chịu nhiều áp lực của thế quyền cũng như giáo quyền, nhưng Người vẫn luôn tin tưởng và phó thác vào bàn tay Chúa Quan Phòng. Người mất ngày thứ sáu Tuần Thánh 07.04.1719,tại Saint-Yon,thọ 68 tuổi. Lời cuối cùng của Người nói lên được thái độ thâm sâu của Người trước cuộc đời: “Tôi thờ lạy Thánh ý Chúa trong mọi sự đối với tôi”.

            Chỉ bấy nhiêu việc cũng đủ ghi danh Người vào sử sách nhưng Người còn làm hơn nữa, Người đã dựng cho các trường tiểu học một hệ thống giáo dục mà nhiều điểm còn tồn tại tới ngày nay cho nên Người đã được coi là Vị gầy dựng nên trường tiểu học. Các sử gia phải lấy làm kinh ngạc khi thấy những nguyên tắc giáo khoa tân tiến ngày nay đã được Người áp dụng cách đây hơn hai thế kỉ.

            Gioan Lasan không còn nữa nhưng hệ thống giáo dục, những công trình Ngài đã lao công vất vả để gầy dựng cũng như hội dòng Các Sư huynh trường Kitô vẫn sống mãi theo thời gian. Vì lý do rất đơn giản: Còn giới trẻ-Còn giáo dục;Còn giáo dục-còn các Sư huynh Lasan.

            Chính vì thế,ngày 19.02.1888 Đức Giáo hoàng Léon XIII đã tôn phong Người lên bậc Chân phước và lên bậc Hiển Thánh ngày 24.05.1900.

            Ngày 15.05.1950 Đức Giáo hoàng Piô XII tôn phong Người làm Quan Thầy các nhà giáo dục Kitô trên toàn thế giới.        


Và công trình của Thánh Gioan Lasan,một công trình mà ANH luôn thâm tín là việc của Chúa-Domine,opus tuum-vẫn còn tiếp tục

            qua các Sư huynh Lasan, con cái của ANH,

            qua Chị em Lasan, con cháu của ANH,

            qua các nhà giáo dục,những người thông dự vào đoàn sủng Lasan,

            đang nối gót ANH

            dấn thân cống hiến cho giới trẻ, đặc biệt con em giới nghèo và lao động,

            một nền giáo dục nhân bản và Kitô,

            trong gần 350 năm qua trên 84 quốc gia trên thế giới.

Lasan
(Theo Dòng Lasan VN)

https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1172

 

Tinh Thần Đức Tin Giúp Gioan La San Vượt Qua Khó Khăn Thử Thách

Là tu sĩ La San, là thành viên gia đình La San, là những người cảm nhận mình đang bước trên hành trình phục vụ giáo dục nhân bản và Kitô cho giới trẻ và trẻ nghèo, chúng ta có chung một niềm từ hào về Cha Gioan La San, Đấng Sáng Lập Dòng La San. Một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời Cha Thánh Gioan La San đó là tinh thần đức tin quả cảm của ngài.

Những suy trong bài này quy chiếu vào tinh thần đức tin của thánh Gioan La San, nó không phải là một khảo luận nhưng chỉ là một suy tư dựa trên các tư liệu của Dòng.

Nội dung bài suy tư này gồm 3 điểm chính: thứ nhất thánh Gioan La San đã minh chứng một đức tin hùng hồn khi Ngài từ bỏ hết mọi sự để theo Chúa. Tiếp đến, Ngài đã thể hiện niềm tin đó trong một cộng đoàn liên kết cùng nhau thực thi thánh ý Chúa. Sau cùng, bài suy tư bàn đến một đức tin rất quả cảm của thánh Gioan La San, không lùi bước trước khó khăn thử thách.

1/ Từ Bỏ Mọi Sự Để Theo Chúa: Mình Chứng Một Đức Tin Hùng Hồn.

Kể từ lúc đến sống chung với các thầy giáo năm 1682, Gioan La San đã nhận thấy một thực trạng không mấy sáng sủa: Cộng đoàn không có tài sản để bảo đảm cho tương lai, một số người bị cám dỗ không tiếp tục ở lại. Cha Gioan La San đã khuyên họ tin tưởng vào Chúa Quan Phòng. Nhưng tất cả lý do để đưa ra không thể nào thuyết phục được họ. Thật khó cho cha Gioan La San, lời nói giờ đây đối với họ chỉ như “nước đổ đầu vịt” họ cần một cái gì khác, bởi họ nhận ra trong lời cha nói và cuộc sống tiện nghi của Cha có một hố sâu cách biệt. Họ cần một con người bằng xương bằng thịt làm gương hơn là một lý thuyết xa xôi trong sách vở, dù cho đó là lời lẽ trong Phúc Âm.

Phải trở nên nghèo như họ. Đó là ý tưởng đã không ngừng thách đố cha Gioan La San khi ngài suy nghĩ, tự vấn bản thân về lời lẽ các thầy đã từng nói: “Cha đâu thiếu thốn gì…. Chúng tôi là những kẻ không tài sản[1].

Sau khi đã suy nghĩ kỹ, cầu nguyện và đặc biệt xin ý kiến của cha linh hướng, cha Gioan La San đã quyết định “từ bỏ mọi sự” để theo Chúa Kitô khó nghèo, làm gương cho các thầy bằng cách lột bỏ hết mọi bám của cải trần tục để chỉ còn bám víu vào Chúa Quan Phòng mà thôi. Nếu không có tinh thần đức tin vững mạnh, cha Gioan La San đã không thế quyết định từ bỏ ngoạn mục như thế được.

Chúng ta có thể theo dõi những khắc khoải của người cha đáng kính của chúng ta khi quyết định dùng tài sản mà cha đã thấy rằng tài sản đó không còn thuộc sở hữu của ngài nữa. Lời cầu nguyện trong khắc khoải của ngài như sau:

“Chúa con ơi, con biết phải làm sao đây, nên hay không nên đầu tư vào ngân hàng để kiếm tiền lời cho trường học. Việc lập các cộng đoàn đâu phải chuyện con; con thực cũng đâu biết cách thức lập cộng đoàn. Chỉ mình Chúa mới biết chuyện này, và chỉ chính Chúa mới biết cách thực hiện như thế nào vừa ý Chúa. Con không dấm lập cộng đoàn và cũng chẩng dám đầu tư, vì con không biết Chúa muốn gì. Thôi, con không đầu tư đâu. Nếu Chúa đầu tư kiếm tiền cho trường, trường sẽ có tiền; nếu Chúa không làm thì trường sẽ không có quỹ. Chúa ơi, con van xin Ngài tỏ cho con biết thánh ý”[2]

Thế là cha Gioan La San đã quyết định trao lại cho Chúa tất cả tài sản của cha bằng cách phân phát hết tất cả cho người nghèo. Thật lạ lùng! Cho đến hôm nay, các sư huynh vẫn còn hưởng được tài sản mà Cha Gioan La San đã ký gửi vào ngân hàng của Chúa.

Song song với việc từ bỏ tài sản, cha Gioan La San cũng từ bỏ chức kinh sĩ, để từ giây phút đó, cha chỉ còn làm “công việc của Chúa”. Chúa nuôi cha, chăm lo cho cha, cha chẳng thiếu thốn chi. Quả thật, đức tin của cha Gioan La San thật tuyệt vời!

Một khi đã trao lại cho Chúa tất cả tài sản và việc “quản trị” công cuộc của Dòng, Cha Gioan La San vững tin rằng, Chúa sẽ lo liệu mọi thứ. Ngài không sợ hãi! Ai không thích hợp với ơn gọi mới này của cha, cha sẵn sàng mở rộng đường cho họ đi. Không bao giờ cha sợ thiếu người làm việc của Chúa trong Hội Dòng.

2/ Liên Kết Cùng Nhau Làm Việc Của Chúa: Một Đức Tin Dũng Mãnh.

Anh em La San chúng ta mãi mãi mang trong lòng ký ức về Lời Khấn Anh Hùng năm 1691 mà cha Gioan La San cùng với anh Nicolas Vuyard, và Gabriel Drolin tuyên khấn.

Cha Gioan La San đang đứng trước những khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”, những khó khăn theo sự tường trình của tác giả Blain[3]. Sự thành công của các trường La San ảnh hưởng đến “nồi cơm” của các Trường Nhỏ. Tháng 2 năm 1690 họ gửi đơn kiện cha La San vì trường của cha xâm phạm đến quyền lợi của họ. Ngoài khó khăn từ bên ngoài này,còn có khó khăn từ bên trong,. Tại Reims, 8 trong số 16 anh em ở trong căn nhà Neuve bỏ đi vì sự cứng rắn của anh bề trên Jean Henrry. Tại Paris, 2 anh em đã ở đó trước đây chống đối cha Gioan La San vì ngài đặt một anh mới đến sau làm bề trên cộng đoàn  của họ trên đường Princesse.

Khó khăn càng lúc càng làm cho cha Gioan La San buồn thảm, vì một mặt những khó khăn do các vụ kiện cáo từ các trường bên ngoài, mặt khác con số anh em trong các cộng đoàn lại giảm sút, công việc xem ra không tiến triển tốt. Nhưng không một thử thách hay đau khổ nào có thể đánh gục được lòng tin tưởng mãnh liệt của cha Gioan La San vào Thiên Chúa.

Với lòng lòng say mê cầu nguyện, ăn chay hãm mình, năng tìm thánh ý Chúa, cha Gioan La San đã đi đến quyết định mà cha tin rằng đó là thánh ý Chúa. Vì thế, để bảo đảm cho tương lai của cộng đoàn La San, cha đã cùng với anh Nicolas Vuyard và Gabriel Drolin đã khấn Lời Khấn Anh Hùng vào ngày 21.11.1691.

Lời khấn Anh Hùng này liên kết các thành viên lại với nhau để “tận hiến hoàn toàn cho Chúa”, tự ràng buộc họ vào sự sống còn của Dòng, bằng tất cả lòng nhiệt thành dấn thân. Ngay cả chỉ còn lại 3 người cùng khấn lời khấn này trong Dòng  mà thôi, thậm chí chỉ “sống bằng bánh mì mà thôi”.

Với lời Khấn Anh Hùng này, riêng với cá nhân cha Gioan La San, đây là một quyết định tối quan trọng cho sự sống còn của công cuộc mà cha tin rằng chính Chúa đã thiết lập. Đây chính là một quyết định dấn thân và phó thác toàn vẹn cho Thiên Chúa, một quyết định dứt khoát của niềm tin. Quyết định này nêu lên ý chí dũng mãnh của cha Gioan La San trong niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng Quan Phòng công cuộc mà cha được mời gọi cộng tác vào.

3/ Không Sợ Hãi Khi Gặp Khó Khăn: Một Đức Tin Kiên Trì.

Vào khoảng năm 1702, một âm mưu được lập ra để chống đối cha  Gioan La San từ phía các linh mục, các nhà biên niên gọi tên những người ấy là “những kẻ thù của tôi tớ Chúa[4]. Họ tìm cách làm cho các Đức Hồng Y De Noiailles[5], Tổng Giám Mục Paris tỏ ra khó chịu đối với Gioan La San.  Thừa dịp có 2 tập sinh than phiền về các khó khăn của họ trong cộng đoàn trên đường Princesss nơi họ thực tập, cha Chétardie[6] chánh xứ Saint-Sulpice đã viết một lá thư báo cáo lên Đức Hồng Y. Trong thư báo cáo, cha này vu oan cho cha Gioan La San là “con người bướng bỉnh về tình cảm, tự mãn, cứng rắn, không nhân từ với anh em, nghiêm khắc phạt các lỗi nhẹ nhất và không tha thứ gì cho sự yếu đuối của con người[7].

Vì là người độc tài, lại là giám đốc Đại Chủng Viện Xuân Bích, cha Chétardie muốn “nắm đầu” các sư huynh để điều khiển Hội Dòng theo ý mình. Để làm được việc này, cha Chétardie đã sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của “người tôi tớ Chúa” là Gioan La San. Vì là một nhà lý luận cố chấp. nên một khi cha Chétardie muốn hạ bề Gioan La San, cha tìm đủ cách để thuyết phục Đức Hồng Y Noiailles dù kết quả của lần điều tra đầu tiên có thuận lợi hay không.

Cha Pirot là Tổng Đại Diện được giao nhiệm vụ điều tra hiện tình của bảng cáo trạng Gioan La San. “Cha Pirot chất vấn từng sư huynh và chỉ nghe thấy những lời ca ngợi Gioan La San[8]. Kết quả cuộc điều tra, cha Pirot rất có ấn tượng tốt với các sư huynh. Tuy nhiên điều đó không đủ để thay đổi tình thế, Đức Hồng Y vẫn quyết định đặt cha Bricot làm bề trên của các sư huynh, thay thế cha Gioan La San. Làng sóng phản đối việc bổ nhiệm vị bề trên mới bắt đầu dâng lên trong cộng đoàn các sư huynh. Mặc dù cha Gioan La San đã “quỳ gối năn nỉ”

Tỉnh hình trở nên rất phức tạp vì: các sư huynh không chấp nhận vị bề trên mới, nhưng cha Gioan La San lại không muốn anh em mình chống lại phán quyết của giáo quyền. Giải pháp nào đây, thật là khó! Đó là kể đến chuyện nỗi khó khăn do cha Gioan La San bị vu oan bởi “kẻ thù” là cha xứ Saint Sulpice. Thêm vào đó, Cha Gioan La San có thể lãnh hậu quả là bị cách chức và bị lưu đây, theo lời nói của cha Pirot Tổng Đại Diện Giáo Phận Paris.

Đứng trước nổi khó khăn này, Cha Gioan La San vẫn luôn giữ thái độ bình thản. Cầu nguyện là phương thuốc duy nhất cha Gioan La San dùng để chữa trị mọi nỗi âu lo và thử thách. Thế là, cha Gioan La San đã cùng với anh em “cầu nguyện suốt đêm ngày, không ăn, không uống, xin Chúa nâng đỡ trong lúc âu sầu xao xuyến”[9].  Cuối cùng giải pháp để giải quyết khó khăn cũng xuất hiện, cha Tổng Đại Diện và cha chánh xứ Saint-Sulpice đã thương lượng với anh em một giải pháp: là đặt cha Bricot là vị tân bề trên của anh em trên danh nghĩa, và cha Gioan vẫn tiếp tục ở lại với anh em. Qua việc này, đúng thật là có bàn tay can thiệp của Chúa để bảo vệ những con người đang làm việc của Ngài khỏi sóng gió cuộc đời.

Nếu không có tinh thần đức tin vững mạnh, lòng kiên trì tín thác vào Chúa, cha Gioan La San và anh em khó có thể vượt qua cơn đau khổ như thể mà vẫn để lại trong lòng những người chống đối lòng cảm phục sâu xa.


[1] Henri Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô: Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,

[2] Sh Fortunat Trần Trọng An Phong, Góp Nhặt, Nội Bộ, 19

[3] Henri Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô: Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ, 120 -122

[4] Henri Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô: Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ, 167

[5] Đức Hồng Y De Noiailles thuộc phái Jeanséniste xem Jean Pungier FSC, Một Linh Đạo Dành Cho Các Giáo Viên và Các Nhà Giáo Dục, Nội Bộ, 11

[6] Cha Chetardy không phải là người mời các sư huynh đến mở trường tại xứ Saint Sulpice. Cha Barmondière trước đó 1 nhiệm kỳ mới là người mời.

[7] Henri Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô: Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ, 167

[8] Charles Lapierre (1992), Cứ Theo Ta - Ngài La San, Bản Việt Ngữ, Nội Bộ, Tỉnh Dòng LSVN, 95

[9] Henri Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô: Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ, 176

Thiên Văn FSC
 https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1492


“Thiên tài Sư Phạm”.

Quyển “Prions en Eglise” phổ biến khắp các nước nói tiếng Pháp, để các tín hữu sử dụng trong Thánh Lễ hàng ngày, đã in trong những trang đầu một bài tóm tắt nét độc đáo cuộc đời Thánh Gioan La San mang tựa đề “Génie pédagogique” xin tạm dịch là “Thiên tài Sư Phạm”.

Để được người thời nay gọi “Thiên Tài Sư Phạm”, để được Đức Giáo Hoàng tôn phong là Quan Thầy các Nhà Giáo dục, Gioan La san đã để các thầy giáo đầu tiên chất vấn về quy chế và lời nói của Ngài. Trong một trang rất ngắn, tác giả mô tả cuộc đời của Thánh Lập Dòng chúng ta và làm nổi bật sự phó thác nơi Chúa Quan phòng của Gioan La San, không phải bằng lời rao giảng suông mà bằng thực tế. Tôi xin tạm chuyển ngữ và chia sẻ cùng anh em là những người nối nghiệp Gioan La San trên con đường giáo dục cho người trẻ và đặc biệt người nghèo. 

Làm sao để lời rao giảng có thể đáng tin, về tinh thần nghèo khó và phó thác cho Chúa Quan Phòng, khi mà mình sống trong sung sướng và trong an toàn? Trong rất nhiều tháng, câu hỏi nầy dày vò người kinh sĩ Gioan La San, kẻ thừa kế một gia đình giàu có ở xứ sâm banh. Một thời gian ngắn sau khi Ngài chịu chức linh mục vào năm 1678, cũng có hơi tình cờ, Ngài phụ giúp cho một nhóm người sẽ trở thành những giáo viên của một trường miễn phí ở thành Reims. Lo lắng về tương lai của mình, các thầy giáo khiêm tốn nầy một ngày kia chất vấn thẳng thắn Gioan La San, về sự mâu thuẩn nầy, giữa cái quy chế của Ngài và những lời nói của Ngài. Gioan La San đã cầu nguyện rất lâu giờ , bị chao đảo vì những bất an của Ngài. Sau khi đã nhận được lời khuyên, Ngài từ bỏ phận vụ có lợi tức của chức kinh sĩ  và sau đó phân phát tất cả gia tài cho người nghèo. Một việc hy sinh thật khó hiểu, một sự vấp phạm đối với gia đình Ngài cũng như  đối với người dân trong môi trường của Ngài!

Nhưng Gioan La San đã quyết định hiến mình trọn vẹn, không đem về cho mình bất cứ điều gì có thể, đối với dự tính mà Thiên Chúa đã kêu gọi Ngài, đó là: giáo dục nhân bản và Ki-tô cho trẻ em nghèo, và đào tạo các thầy có khả năng dạy dỗ chúng. Vì l‎y’ do đó mà Dòng Anh Em Trường Ki-tô ra đời, mà Vị Sáng Lập và các môn đệ của Ngài đã dấn thân bằng “Lời Khấn Anh hùng”, để duy trì bằng bất cứ giá nào, cho dù phải vì đó mà “buộc phải đi ăn xin và chỉ sống bằng bánh mì mà thôi”.

Những ngôi trường miễn phí cho con trai được mở ra tại thành Reims, rồi Rethel, Guise, Laon…Và sau đó là đến Paris mà tại đó không biết bao nhiêu là thử thách xảy đến với Gioan La San. Sự độc đáo về sư phạm và sự thành công của những sáng kiến của Ngài gây nên sự ghen tuông, cáo gian và chống đối dẫn đến cả việc kiện tụng! Vị Sáng Lập phải lánh đi Rouen, nơi đó Ngài tiếp tục công việc của mình cho đến lúc qua đời vào năm 1719.

“Thiên tài Sư Phạm” như Chân Phước Gioan Phao Lô II đã gọi, Gioan La San được phong hiển thánh vào năm 1900 và được tôn phong là Quan thầy các nhà giáo dục vào năm 1950. Theo dấu chân của Ngài, các Anh Em Trường Ki-tô, hay “La San” cố gắng là “anh em với nhau, là anh em với những người trưởng thành, và anh cả của những người trẻ được trao phó cho các ngài” (hiện nay có 5000 sư huynh hiện diện trên 80 quốc gia).

Xavier Lecoeur, Sử gia và phóng viên

Nhật Nhật Tân FSC (chuyển dịch)

https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1172

 

 

Thứ Năm Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 3, 11-26

"Ðấng ban sự sống thì anh em đã giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, khi người què được chữa lành cứ theo sát Phêrô và Gioan, toàn dân bỡ ngỡ chạy đến hai ngài đang ở hành lang gọi là hành lang Salômôn. Thấy vậy Phêrô liền nói với dân chúng rằng: "Hỡi các người Israel, tại sao anh em ngạc nhiên về việc đó và nhìn chúng tôi như là chúng tôi dùng quyền năng hay lòng đạo đức riêng mà làm cho người này đi được? Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta, đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô trong khi Philatô xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng. Và bởi đã tin vào danh Người, nên danh Người đã làm cho kẻ mà anh em thấy và biết đây, được vững mạnh, và lòng tin vào Người chữa anh này hoàn toàn lành mạnh trước mặt hết thảy anh em.

"Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Ngài dùng miệng các tiên tri mà báo trước rằng Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ, như thế để Thiên Chúa ban cho anh em thời kỳ thư thái, và sai Ðức Giêsu Kitô, Ðấng mà Chúa đã phán hứa cùng anh em trước, Ðấng phải về trời cho đến thời kỳ phục hồi vạn vật, như Chúa đã dùng miệng các thánh tiên tri Ngài mà phán từ ngàn xưa. Môsê đã nói rằng:

"Vì Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ cho xuất hiện giữa anh em các ngươi một tiên tri như ta, các ngươi hãy nghe tất cả những điều Ngài sẽ nói với các ngươi. Vậy, tất cả những ai không chịu nghe theo vị tiên tri đó, thì sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.

"Và tất cả các tiên tri, từ Samuel và các vị kế tiếp, đều đã nói và tiên báo về ngày này. Anh em là con cháu các tiên tri và con cháu của giao ước mà Chúa đã thiết lập với các tổ phụ chúng ta, khi Người phán cùng Abraham rằng: "Chính nơi dòng dõi ngươi, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc". Chính vì anh em trước tiên mà Thiên Chúa đã cho Con của Ngài xuất hiện và sai đi chúc phúc cho anh em, để mỗi người từ bỏ tội ác".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 8, 2a và 5. 6-7. 8-9

Ðáp: Lạy Chúa, lạy Chúa chúng con, lạ lùng thay danh Chúa khắp nơi hoàn cầu (c. 2a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Lạy Chúa, lạy Chúa chúng con, lạ lùng thay danh Chúa khắp nơi hoàn cầu! Nhân loại là chi mà Chúa để ý chăm nom? - Ðáp.

2) Chúa dựng nên con người kém thiên thần một chút, Chúa trang sức con người bằng danh dự với vinh quang, Chúa ban cho quyền hành trên công cuộc tay Ngài sáng tạo, Chúa đặt muôn vật dưới chân con người. - Ðáp.

3) Nào chiên, nào bò, thôi thì tất cả, cho tới những muông thú ở đồng hoang, chim trời với cá đại dương, những gì lội khắp nẻo đường biển khơi. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 117, 24

Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 24, 35-48

"Ðấng Kitô phải chịu thương khó như vậy, rồi mới được tôn vinh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Mọi người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: "Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ". Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: "Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây". Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: "Ở đây các con có gì ăn không?" Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: "Ðúng như lời Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh". Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: "Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy".Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

"Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Mọi người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: 'Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ'".

 


Thánh ký Luca, qua đoạn trên đây, đã thuật lại sự kiện lần đầu tiên Chúa Kitô hiện ra với chung các tông đ sau khi Người từ trong cõi chết sống lại. Tuy nhiên, Đấng Phục Sinh vẫn còn phải chứng thực Người quả thật là Thày của các vị và là Đấng đã thực sự bị đóng đanh nữa, bằng cả các dấu hiệu bề ngoài là chân tay của Người và ăn uống trước mặt các vị, lẫn soi sáng tâm trí bề trong của các vị để các vị nhờ đó mới có thể chân nhận rằng những lời Thánh Kinh về Người đã được hoàn toàn ứng nghiệm:

 

"Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: 'Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây'. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: 'Ở đây các con có gì ăn không?' Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: 'Ðúng như lời Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh'. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh".

 

Ở đây chúng ta thấy các tông đồ có khác, là nam nhân thiên về lý trí và lý sự nên khó tin hơn thành phần nữ giới tự bản chất sống theo cảm tình và trực giác, thành phần đã chẳng cần phải chứng minh gì cả đã tin ngày Đấng hiện ra với mình là Chúa Kitô, như trong bài Phúc Âm Thứ Hai (với chung các phụ nữ) và Thứ Ba (với riêng Chị Mai Đệ Liên) Bát Nhật tuần này cho thấy.

 

Đối với các vị nam nhân tông đồ này, Chúa Giêsu đã chẳng những cho các vị "xem tay chân Thày" mà còn "ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ" (nghĩa là ăn thật nên còn dư), mà còn mở lòng mở trí cho các vị hiểu được Thánh Kinh do chính Người dẫn chứng về Người nữa. Nhờ đó, các vị mới có thể làm chứng về Người, bằng một đức tin không phải thuần lý hay thuần thiêng có vẻ duy tín hay cuồng tín một cách dị đoan hoặc hoang đường nhưng có chứng cớ cụ thể hiển nhiên đàng hoàng không thể chối cãi.

 

Đó là lý do ở cuối bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã bảo các tông đồ được Người hiện ra chứng thực rằng Người cho dù đã bị chết nhưng sống lại rằng "các con là chứng nhân về những điều này", nghĩa là về những gì các vị được Người tỏ ra cho thấy, và vì thế chứng tỏ những gì chính các vị đã thấy và đã nghe về Người, cả trước và sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết.

 

Chúa Kitô khổ nạn, tử giá và được mai táng trong mồ vào chiều Thứ Sáu ấy đã hiện ra với chung các môn đệ và riêng các tông đồ lần đầu tiên này không phải chỉ để chứng thực về bản thân Người là Đấng đã bị bàn tay hận thù sắt máu của con người giết chết nhưng Người đã sống lại, hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và sự chết, mà còn để sai các vị đi "bắt đầu từ Giêrusalem, khắp Giuđêa và Samaria" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng về Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, và đi "cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng cho Người là Đấng Cứu Thế của toàn thể nhân loại:


"P
hải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy". Phải chăng Bí Tích Hòa Giải (xem cả Gioan 20:21 cùng với Bí Tích Rửa Tội - xem Mathêu 28:19) được Chúa Giêsu thiết lập sau khi Người phục sinh từ trong kẻ chết mà theo luật Giáo Hội hằng năm Kitô hữu Công giáo buộc phải "xưng tội một năm ít là một lần trong Mùa Phục Sinh" chứ không phải trong một mùa nào khác, cho dù là Mùa Chay vốn được coi là mùa thống hối ăn năn hoán cải?

 

Nếu trong biến cố khổ nạn và tử giá, Chúa Kitô đã chứng thực mình quả là Đấng Thiên Sai, đến không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Cha là Đấng đã sai Người, đến độ cho dù có thể Người vẫn không xuống khỏi thập giá, trái lại, "mặc dù là Con, Người đã biết tuân phục nơi những gì Người chịu" (Do Thái 5:8), thì trong biến cố phục sinh, Chúa Kitô được Chúa Cha, Đấng mà Người phó thần trí của Người cho trước khi chết (xem Luca 23:46), qua quyền năng của Thánh Thần là Đấng đã làm cho Người sống lại từ kẻ chết (xem Roma 8:11), chứng thực Người đúng là "Chúa và Thiên Chúa" (Gioan 20:28).

 

Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan thuật lại lần hiện ra với chung các tông đồ lần đầu tiên này còn cho biết thêm các chi tiết sau đây:

 

1- Sau khi nhận ra Chúa căn cứ vào tác động tự chứng của mình (như Phúc Âm Thánh Luca hôm nay thuật lại), "các môn đệ hoan hỉ khi thấy Chúa" (Gioan 20:20);

 

2- Được các môn đệ nhận biết rồi Chúa Kitô Phục Sinh mới sai phái các vị ra đi như Người để tiếp tục sứ vụ của Người và thay Người: "Như Cha đã sai Thày thế nào, Thày cũng sai các con như thế" (Gioan 20:21);

 

3- Sau cùng, để các vị có thể thực hiện sứ vụ thừa tác viên được chính Chúa Kitô Phục Sinh sai phái như thế, sứ vụ "rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân", như trong bài Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, Người đã phải thông Thánh Linh của Người cho các vị bằng hơi thở từ chính thân xác phục sinh tràn đầy Thánh Linh của Người: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh" (Gioan 20:22).

 

Vì chỉ có nhờ Thánh Linh, các vị mới có thể trở thành chứng nhân trung thực và sống động của Người và cho Người, khi các vị có cùng một tâm tình, ngôn từ, tác hành và phản ứng như chính Chúa Kitô, Đấng "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư trầm" (Luca 19:10). Chính vị Thánh ký Luca này cũng là tác giả của Sách Tông Vụ, trình thuật lại hoạt động của Thánh Linh qua chứng từ truyền giáo của các tông đồ nói chung và của vị tông đồ dân ngoại Phaolô nói riêng, như chúng ta đọc thấy trong suốt Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ ở Bài Đọc 1 được Giáo Hội cố ý sắp xếp như vậy. 

 

 

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Thấy vậy Phêrô liền nói với dân chúng rằng: 'Hỡi các người Israel, tại sao anh em ngạc nhiên về việc đó và nhìn chúng tôi như là chúng tôi dùng quyền năng hay lòng đạo đức riêng mà làm cho người này đi được?... Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng. Và bởi đã tin vào danh Người, nên danh Người đã làm cho kẻ mà anh em thấy và biết đây, được vững mạnh, và lòng tin vào Người chữa anh này hoàn toàn lành mạnh trước mặt hết thảy anh em".

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 4, 1-12

"Ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, đang lúc Phêrô và Gioan giảng cho dân chúng (sau khi chữa lành người què), thì các tư tế, vị lãnh binh cai đền thờ và các người thuộc nhóm Sađốc áp tới, bực tức vì các ngài giảng dạy dân chúng và công bố việc Ðức Giêsu từ cõi chết sống lại. Họ ra tay bắt các ngài và đem tống giam vào ngục cho đến hôm sau, vì lúc đó đã chiều tối rồi. Nhưng trong số những kẻ nghe giảng, có nhiều người tin, và nguyên số đàn ông cũng đã tới năm ngàn người. Ðến hôm sau, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ ở Giêrusalem, có cả Anna thượng tế, Caipha, Gioan, Alexanđê, và tất cả những người thuộc dòng tư tế, nhóm họp. Họ cho điệu hai ngài ra giữa mà chất vấn rằng: "Các ông lấy quyền hành và danh nghĩa nào mà làm điều đó?"

Lúc bấy giờ Phêrô được đầy Thánh Thần đã nói: "Thưa chư vị thủ lãnh toàn dân và kỳ lão, xin hãy nghe, nhân vì hôm nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm cho một người tàn tật, về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi, xin chư vị tất cả, và toàn dân Israel biết cho rằng: Chính nhờ Danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng tôi, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây. Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 117, 1-2 và 4. 22-24. 25-27a

Ðáp: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường (c. 22).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.

2) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Ðáp.

3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu độ; thân lạy Chúa, xin ban cho đời sống phồn vinh. Phúc đức cho Ðấng nhân danh Chúa mà đến; từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa và đã soi sáng chúng tôi. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 117, 24

Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 21, 1-14

"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: Simon Phêrô, Tôma cũng gọi là Ðiđymô, Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: "Tôi đi đánh cá đây". Các ông kia nói rằng: "Chúng tôi cùng đi với ông". Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: "Này các con, có gì ăn không?" Họ đồng thanh đáp: "Thưa không". Chúa Giêsu bảo: "Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được". Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: "Chính Chúa đó". Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.

Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: "Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây". Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách.

Chúa Giêsu bảo rằng: "Các con hãy lại ăn". Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: "Ông là ai?" Vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Ðây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

"Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến". Theo thứ tự thời gian, như được các bài Phúc Âm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh thuật lại, thì đây là lần hiện ra thứ 6 của Chúa Giêsu sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết: lần 1 với các phụ nữ (Phúc Âm Thứ Hai); lần 2 với một mình Chị Mai Đệ Liên (Phúc Âm Thứ Ba); lần 3 với hai môn đệ về làng Emmau (Phúc Âm Thứ Tư); lần 4 với chung các môn đệ nhất là các tông đồ (Phúc Âm Thứ Năm); lần 5 với chung các môn đệ một lần nữa vào ngày thứ tám (Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lòng Thương Xót Chúa kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh); lần 6 với 7 tông đồ ở bờ biển Tibêria (Phúc Âm Thứ Sáu).

 

Chính Thánh ký Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay thuật lại lần hiện ra thứ 6 này của Chúa Kitô Phục Sinh, nhưng ngài xác định "đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại". Lần thứ hai Người "hiện ra với môn đệ" được Giáo Hội chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật thứ 1 Phục Sinh, kết Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Lễ Trọng Kính Lòng Thương Xót Chúa. Còn lần thứ nhất Người "hiện ra với môn đệ" đã được Giáo Hội chọn đọc trong bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Lễ Phục Sinh Ban Ngày.

Trong lần hiện ra thứ 3 với chung các môn đệ chính yếu là các tông đồ này, cho dù chỉ có 7 vị, vẫn được kể là với chung các vị, một lần hiện ra ít là có hai điều khác lạ: trước hết là không phải xẩy ra ở trong Nhà Tiệc Ly kín mít nữa, mà là ở ngoài trời, ở trên bờ hồ Tibêria, và vì thế, sau nữa, Người cũng không còn chúc "bình an cho các con" như lần đầu nữa, bởi các vị đã tin rằng Người đã sống lại nên mới dám lò mò đi ra ngoài sinh hoạt đánh cá trở lại. 

 

Thế nhưng hình như vào buổi chiều tối thôi, cũng có vẻ còn lén lút chứ chưa hoàn toàn công khai trước mặt dân chúng. Bởi thế, thâu đêm các vị cũng chẳng bắt được con nào, cho đến "lúc rạng đông", nghe lời của một vị đứng trong bờ bảo sao làm vậy thì nhóm 7 vị tông đồ, hầu như toàn là những tay lành nghề đánh cá, mới bắt được một mẻ cá lạ lùng, nhờ đó các vị (mà đầu tiên là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu") đã nhận ra Đấng Phục Sinh: "Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: 'Ông là ai?' Vì mọi người đã biết là Chúa".

 

Biến cố những tay lành nghề đánh cá như các tông đồ đã từng hành nghề trước khi theo Chúa Kitô mới 3 năm trước đó, như thành phần các môn đệ được Thánh ký Gioan liệt kê trong bài Phúc Âm hôm nay, bao gồm Phêrô, Giacôbê và Gioan, Toma và Nathanael (hay Botholomew) cùng "hai môn đệ nữa" không được kể đích danh, song có thể đoán được là môn đệ Anrê là em của Phêrô và Philiphê là bạn của Nathanael (xem Gioan 1:40-50), nhưng thâu đêm cả 7 vị vẫn chẳng bắt được gì, như đã từng xẩy ra hầu như 3 năm trước, khi 2 cặp anh em thuyền chài thân hữu là Phêrô - Anrê + Giacôbê - Gioan nhờ mẻ cá lạ lần thứ nhất ấy đã bỏ mọi sự mà theo Chúa (xem Luca 5:1-11).

 

Cũng như lần đầu, mẻ cá lạ đã tái diễn một lần nữa, và chính mẻ cá lạ ấy là dấu hiệu khiến cho "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" là Gioan, vị môn đệ tiêu biểu cho đức mến, bén nhậy nhất trong việc nhận ra Chúa Kitô: "Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: 'Chính Chúa đó'. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay".

 

Con số "lưới đầy cá lớn - 153 con " được kể đến ở đây nghĩa là gì? Tại sao phải có chi tiết nhỏ nhặt con số rõ ràng như thế? "Cá lớn" chứ không phải cá nhỏ, và nhiều cá chứ không phải ít cá. Nếu "cá" liên quan đến con người ta hay phần rỗi của con người, và bắt cá hay chài lưới người đây là mang ơn cứu độ của Chúa Kitô Vượt Qua đến cho phần rỗi của nhân loại, thì "cá lớn" đây tiêu biểu cho quyền năng phục sinh của Chúa Kitô (xem Mathêu 28:18), Đấng đã làm cho tử thi Lazarô chết đã xông mùi (tiêu biểu cho thứ "cá lớn" là thành phần đại tội nhân) hồi sinh (xem Gioan 11:39-44).

 

Con số "153" đây phải chăng tiêu biểu cho 1 Thiên Chúa chân thật duy nhất là Cha ở trên trời (theo ý nghĩa những lời Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với các phụ nữ ở bài Phúc Âm Thứ Hai và với Chị Mai Đệ Liên ở bài Phúc Âm Thứ Ba), 5 Dấu Thánh của Chúa Kitô khổ nạn và tử giá (như Chúa Kitô Phục Sinh đã tỏ cho các tông đồ thấy khi hiện ra với các vị ở bài Phúc Âm hôm qua Thứ Năm hay trong Bài Phúc Âm Chúa Nhật II Phục Sinh sắp tới), và 3 Ngôi Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần (như Chúa Kitô Phục Sinh truyền cho các tông đồ rửa tội cho muôn dân trong Bài Phúc Âm Thăng Thiên Năm A)?

 

Như thế, có thể nói, con số "153" con cá trong mẻ cá lạ mà các tông đồ bắt được theo lời chỉ dẫn của Chúa Kitô Phục Sinh đây là tiêu biểu cho thành phần các linh hồn tin vào chứng từ của Giáo Hội qua các phần tử tông đồ của Giáo Hội, bắt đầu từ các vị tông đồ chứng nhân tiên khởi, thành phần chài lưới người hay đánh cá người, tức làm cho con người nhận biết và tin tưởng mà được sự sống đời đời, được hiệp thông thần linh với thiên Chúa, một con số 153 tượng trưng cho Ba Ngôi Thiên Chúa: Ngôi Cha ở nơi số 1 - một Thiên Chúa chân thật duy nhất, Ngôi Con ở nơi số 5 - năm dấu thánh của Chúa Kitô tử giá cứu chuộc, và Ngôi Thánh Thần ở nơi con số 3 - Ngôi Ba là chính mối hiệp thông thần linh Cha - Con, cũng là Đấng làm cho con người được hiệp thông thần linh "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21).

 

Con số "153" huyền diệu này là tóm kết tiêu biểu cho câu định nghĩa của Chúa Kitô kết Bữa Tiệc Ly về "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất (được tiêu biểu nơi số 1) và Giêsu Kitô Cha sai (số 5 tiêu biểu cho Đấng Thiên Sai tử giá vì vâng lời cho đến chết trên thập giá và vì thể đã mang 5 dấu thánh)" (Gioan 17:3), một sự sống được thông ban cho những ai tin nhờ Thánh Thần Ngôi Ba (được tiêu biểu nơi số 3) "là Đấng ban sự sống".

 

Nếu suy đoán này không sai thì có nghĩa là những ai lãnh nhận Phép Rửa (thường vào Lễ Vọng Phục Sinh) là thành phần được "ban cho quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), một Thiên Chúa chân thật duy nhất đã tỏ tất cả mình ra qua Lời Nhập Thể của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã tỏ Cha là Đấng đã sai Người ra trên Thánh Giá với 5 Dấu Thánh, để nhờ đó chẳng những cứu chuộc con người khỏi tội lỗi và sự chết còn thông ban cho con người, qua cuộc phục sinh của Người, sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần.

 

Lần đầu tiên khi Chúa Kitô hứa biến 2 cặp anh em môn đệ đầu tiên là Phêrô - Anrê và Giacôbê - Gioan thành những tay bắt "cá người" xẩy ra vào buổi sáng và trên bờ biển thế nào thì lần cuối cùng này cũng vào: "Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển", thế nhưng lại vào thời điểm sau khi Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng hiện đến với các vị để dọn sẵn món ăn cho các vị ở trên bờ: "Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh... Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy lại ăn'.... Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế".

 

Mẻ cá lạ lần thứ hai này đã xẩy ra sau khi Chúa Kitô Phục Sinh hỏi các môn đệ: "Các anh có gì ăn không?" và được các vị trả lời là "thưa không", chứ không phải "các con có bắt được gì không" và các vị "thưa không". Tại sao vào chính lúc các môn đệ không có gì ăn Chúa Giêsu lại chỉ chỗ cho các vị  bắt được mẻ cá lạ lùng như thế, nếu không phải "" là món ăn chính của các vị, và các vị cần phải đói khát "" là con người ta thì các vị mới "trở thành những tay bắt cá người" (Luca 5:10) và mới có thể bắt được nhiều "" người như mẻ cá lạ trong bài Phúc Âm hôm nay.

 

Và tại sao Chúa Giêsu bảo các môn đệ '"các anh hãy mang cá mới bắt được lại đây" , rồi sau khi các môn đệ làm theo như thế thì Chúa Giêsu mới mời các vị ăn và còn tận tay mang đến tận nơi cho các vị nữa: "Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy lại ăn'... Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế", nếu không phải là sau khi các vị đã tận lực hoàn thành sứ vụ bắt "cá người" được úy thác cho các vị, các vị được chính Người khoản đãi chính món "" do Người đích thân nướng cho các vị thưởng thức. Chính Người đã khẳng định về thành phần đầy tớ khôn ngoan tỉnh thức và trung thành của Người rằng: "phúc cho đầy tớ ấy... chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ" (Luca 12:37).

 

"Bánh" và "" ở đây là hai thứ đã được chính Chúa Kitô sử dụng trong hai lần Người hóa bánh ra nhiều để đám đông nuôi dân chúng (lần đầu 5 ngàn lần sau 4 ngàn) theo nghe Người giảng dạy (xem Mathêu 14:17-21 với chiếc bánh và 2 con cá & 15:34-38 với 7 chiếc bánh và ít cá). Nếu "" biểu hiệu cho con người hay phần rỗi của con người, thì "bánh" biểu hiệu cho Chúa Kitô, cho Thánh Thể, cho sự sống thần linh Thiên Chúa muốn thông ban cho nhân loại qua Con Ngài là Chúa Kitô, Lời Nhập Thể Vượt Qua.

 

Cử chỉ Chúa Kitô Phục Sinh đích thân sửa soạn và mang đến tiếp cho các tông đồ ở đây có nghĩa là chính Người (biểu hiệu nơi "bánh") đã hy mình làm giá chuộc cho nhiều người được rỗi (biểu hiệu nơi ""), như Người đã khẳng định trong Phúc Âm Thánh Mathêu (20:28), giờ đây, Người trao tất cả ("bánh" là bản thân Người hay sự sống thần linh của Người đã phục sinh, lẫn "" là phần rỗi các linh hồn) cho các tông đồ là thành phần thừa tác viên chính thức của Người để các vị có thẩm quyền và năng quyền thực sự thay Người (nhân danh Người) mà ban phát cho thế gian với tư cách là "những tay chài lưới người" (Luca 5:10) cho đến khi Người lại đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

 

Nhưng vấn đề quan trọng và cần thiết ở đây là các tông đồ phải luôn hưởng ứng và đáp ứng tác động của ân sủng, ở chỗ: trước hết, các vị phải hưởng ứng ân sủng, ở chỗ, thả lưới theo hướng dẫn của một con người xa lạ đứng trên bờ lúc bấy giờ, nhưng lại là một con người có một quyền lực phục sinh vô đích, đến độ từ xa đã có thể khiến cho lòng trí của các tay chuyên nghiệp đánh cá như các vị trở nên mềm mại lạ thường, nhất là sau khi các vị đã từng gặp Người vào hai lần hiện ra trước.

 

Sau nữa, các vị phải biết đáp ứng ân sủng, ở chỗ, mang hết tất cả đánh được nhờ được hướng dẫn đến cho chính vị hướng dẫn bảo hãy đem đến cho Người: "Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây", như một tác động trả về cho Người những gì do chính Người bắt được qua các vị, bằng không, không trả về cho Đấng đã sai mình và điều khiển hoạt động tông đồ truyền giáo của mình, các vị, cũng như các vị thừa sai hoặc các nhân chứng hậu sinh chúng ta, chắc chắn sẽ không được hoan hưởng bữa tiệc cá nướng với bánh do chính Thiên Chúa đích thân phục vụ để tặng thưởng cho chúng ta, như cho các vị tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay.

 

 

 

 

 


Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Lúc bấy giờ Phêrô được đầy Thánh Thần đã nói: 'Thưa chư vị thủ lãnh toàn dân và kỳ lão, xin hãy nghe, nhân vì hôm nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm cho một người tàn tật, về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi, xin chư vị tất cả, và toàn dân Israel biết cho rằng: Chính nhờ Danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng tôi, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây. Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ'".

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 4, 13-21

"Chúng tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ nhận thấy Phêrô và Gioan kiên quyết, và biết hai ngài là những kẻ thất học và dốt nát, nên lấy làm lạ; và còn biết rằng hai ngài đã ở cùng Ðức Giêsu; họ thấy kẻ được chữa lành đứng ở đó với hai ngài, nên họ không thể nói gì nghịch lại được. Họ mới truyền lệnh cho hai ngài ra khỏi hội nghị, rồi thảo luận với nhau rằng: "Chúng ta phải làm gì đối với những người này? Vì toàn dân cư ngụ ở Giêrusalem đều hay biết, phép lạ hai ông đã làm rõ ràng quá chúng ta không thể chối được. Nhưng để sự việc không còn loan truyền trong dân nữa, chúng ta hãy đe doạ, cấm hai ông không được lấy danh ấy mà giảng cho ai nữa". Họ liền gọi hai ngài vào và cấm nhặt không được nhân danh Ðức Giêsu mà nói và giảng dạy nữa. Nhưng Phêrô và Gioan trả lời họ rằng: "Trước mặt Chúa, các ngài hãy xét coi: nghe các ngài hơn nghe Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe". Nhưng họ lại đe doạ hai ngài, rồi thả về, vì không tìm được cách nào trừng phạt hai ngài, họ lại còn sợ dân chúng, vì mọi người đều ca tụng Thiên Chúa về việc đã xảy ra.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 117, 1 và 14-15. 16ab-18. 19-21

Ðáp: Tôi cảm tạ Chúa vì Chúa đã nhậm lời tôi (c. 21a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Ðấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân:Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.- Ðáp.

2) Tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên, tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. Chúa sửa trị, Chúa sửa trị tôi, nhưng Người đã không nạp tôi cho tử thần. - Ðáp.

3) Xin mở cho tôi các cửa công minh, để tôi vào và cảm tạ ơn Chúa. Ðây là ngọ môn của Chúa, những người hiền đức qua đó tiến vào. Tôi cảm tạ Chúa vì Chúa đã nhậm lời tôi, và đã trở nên Ðấng cứu độ tôi. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 117, 24

Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 16, 9-15

"Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Người, nhưng họ không tin. Sau đó, Chúa lại hiện ra dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy. Sau hết, Chúa hiện ra với mười một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại. Rồi Người phán: "Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài".

Ðó là lời Chúa.

 

Cảm Nhận Lời Chúa

 

Hôm nay, ngày áp cuối cùng của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Giáo Hội sử dụng Phúc Âm của Thánh ký Marco chưa được đọc đến một tí nào trong suốt cả tuần, để gọi là tổng liệt kê các lần Chúa Kitô Phục Sinh đã thứ tự hiện ra khác nhau, (như đã được các Phúc Âm thuật lại trong tuần này), nhưng không chỉ riêng với các tông đồ, như 2 bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan, mà còn bao gồm các người khác nữa, kể cả thành phần môn đệ lẫn nữ giới:

Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Người, nhưng họ không tin (bài Phúc Âm Thánh Gioan Thứ Ba Bát Nhật Phục Sinh). Sau đó, Chúa lại hiện ra dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy (bài Phúc Âm Thánh Luca Thứ Tư Bát Nhật Phục Sinh). Sau hết, Chúa hiện ra với mười một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại (bài Phúc Âm Thánh Luca Thứ Năm Bát Nhật Phục Sinh). Rồi Người phán: "Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài".

 

Trong bài Phúc Âm tóm gọn 3 lần hiện ra tiêu biểu này của Chúa Kitô Phục Sinh, Thánh ký Marco không bao gồm lần hiện ra đầu tiên với các phụ nữ (như Phúc Âm Thánh Mathêu cho Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh thuật lại), cũng như lần thứ 5 và thứ 6 với chung các môn đệ vào 8 ngày sau lần thứ nhất và với 7 vị ở ngoài bờ biển Tibêria sau 8 ngày (như được thuật lại trong Phúc Âm Thánh Gioan cho Thứ Năm và Thứ Sáu Tuần Bát Nhật Phục Sinh).

 

Trong bài Phúc Âm ngắn ngủi về 3 lần hiện ra tiêu biểu này của Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta thấy thành phần được Người hiện ra hay tỏ mình ra sau khi Người từ kẻ chết sống lại không phải chỉ duy các thánh tông đồ (ở lần hiện ra thứ ba) là thành phần chứng nhân tiên khởi của Người, thành phần được gọi thuộc về hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội, mà còn cả thành phần môn đệ (ở lần hiện ra thứ hai) tiêu biểu cho những ai sống đời tận hiến tu trì, và thành phần giáo dân (ở lần hiện ra thứ nhất) được tiêu biểu nơi Chị Mai Đệ Liên. 

 

Trong 3 lần hiện ra với 3 thành phần khác nhau được Phúc Âm Thánh Marcô thuật lại hôm nay còn cho thấy cách thức  Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với từng thành phần và cách thức Người tỏ mình ra cho từng trường hợp: Trước hết, về cách thức hiện ra: với nữ giáo dân Mai Đệ Liên, Người hiện ra ở đằng sau chị; với hai môn đệ trên đường về Emmau, Người hiện ra bên cạnh họ; và với chung các tông đồ, Người hiện ra thẳng mặt, diện đối diện. Sau nữa, về cách thức tỏ mình ra: với Mai Đệ Liên, Người gọi đích danh của chị, liên quan đến bản thân chị, có tính cách thân mật; với hai môn đệ hành trình Emmau, Người sử dụng cả lời Chúa lẫn việc bẻ bánh, liên quan đến phụng vụ, có tính cách cộng đồng, một cộng đồng tu trì; và với các tông đồ, Người khiển trách các vị và sai các vị đi rao giảng tin mừng phục sinh, liên quan đến phẩm chức và sứ vụ của các vị thuộc hàng giáo phẩm.

 

Một điểm rất quan trọng cần chú trọng đến  ở chỗ này nữa, cho dù bài Phúc Âm của Thánh Marcô hôm nay không nhắc tới, nhưng đã có ở các bài Phúc Âm Thánh Gioan cho Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh liên quan đến Chị Mai Đệ Liên, và Phúc Âm Thánh Luca cho Thứ Tư Tuần Bát Nhật Phục Sinh liên quan đến hai môn đệ về Emmau, đó là hai thành phần này không thuộc về hàng giáo phẩm có thẩm quyền quản trị, giảng dạy và thánh hóa, mà tất cả những gì họ đã được tỏ ra bởi Chúa Kitô, đều phải được tường trình với thẩm quyền của các vị tông đồ là nền tảng của Giáo Hội.

 

Ngoài ra, nếu Giáo Hội là đàn chiên của Chúa Kitô, Đấng "là mục tử tốt lành đến cho chiên được sự sống và là sự sống viên trọn" (Gioan 10:10) thì Giáo Hội cần được chăn dắt bởi các vị mục tử là hàng giáo phẩm, tức bởi phẩm trật có thẩm quyền của Giáo Hội. Nhưng, nếu Giáo Hội là nhiệm thể của Chúa Kitô, có "Chúa Kitô là Đầu" (Epheso 5:23), thì hết mọi phần tử trong Giáo Hội, kể cả đầu, đểu được tác động bởi hồn sống duy nhất là Thánh Linh, bằng những đặc sủng của từng phần tử được Thánh Thần tác động để phục vụ và xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô. Mai Đệ Liên và 2 môn đệ về Emmau cũng được Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, nghĩa là, nhờ cuộc hiện ra của Người, cũng được ban Thánh Thần của Người, Đấng đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, nên cả hai trường hợp đều được đặc sủng riêng để phục vụ Giáo Hội, nên cả hai đều quí về Giáo Hội nơi các vị tông đồ bấy giờ.

 

Cũng qua bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta còn thấy chẳng những toàn thể mọi thành phần trong Giáo Hội, (như được đề cập đến trên đây), đều phải trở thành chứng nhân cho Chúa Kitô khi được Người tỏ mình ra cho, mà còn bao gồm cả những ai bê tha tội lỗi, như trường hợp của Chị Mai Đệ Liên "đã được Chúa đuổi bảy quỷ", hay những ai cảm thấy chán chường tuyệt vọng bỏ cuộc, như trường hợp của hai môn đệ bỏ về làng Emmau, hoặc những ai cứng lòng tin dù được loan truyền như trường hợp của các môn đệ tông đồ của Chúa. Có nghĩa là dù ai chăng nữa, Chúa Kitô Phục Sinh cũng đều có thể biến đổi họ để họ trở thành chứng nhân của Người.

 

Lần hiện ra với chung các tông đồ, Chúa Kitô Phục Sinh chẳng những "khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại" mà còn sai các vị đi truyền giáo nữa "Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài". Nhất là bằng chứng từ của các vị, chứng từ chẳng những ở ngôn từ và việc thuyết giảng, mà nhất là còn bằng hành động bác ái yêu thương như dấu hiệu đích thực chứng tỏ các vị thuộc về Người (xem Gioan 13:35). 

 

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

 

"Trong những ngày ấy, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ ... gọi hai ngài vào và cấm nhặt không được nhân danh Ðức Giêsu mà nói và giảng dạy nữa. Nhưng Phêrô và Gioan trả lời họ rằng: 'Trước mặt Chúa, các ngài hãy xét coi: nghe các ngài hơn nghe Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe'. Nhưng họ lại đe doạ hai ngài, rồi thả về, vì không tìm được cách nào trừng phạt hai ngài, họ lại còn sợ dân chúng, vì mọi người đều ca tụng Thiên Chúa về việc đã xảy ra".

 

 

 

 

 

Chúa Nhật II Phục Sinh Năm C

 

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Cv 5, 12-16

"Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các Tông đồ làm nhiều phép lạ và nhiều việc phi thường trong dân, và tất cả mọi người tập họp tại hành lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhập bọn với các tông đồ. Nhưng dân chúng đều ca tụng các ngài. Số những người nam nữ tin vào Chúa ngày càng gia tăng, đến nỗi họ mang bệnh nhân ra đường phố, đặt lên giường chõng, để khi Phêrô đi ngang qua, ít nữa là bóng của người ngả trên ai trong họ, thì kẻ ấy khỏi bệnh. Ðông đảo dân chúng ở những thành phụ cận Giêrusalem cũng tuôn đến, mang theo bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Mọi người đều được chữa lành.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 117, 2-4. 22-24. 25-27a

Ðáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.

2) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, nên chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Ðáp.

3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu độ; thân lạy Chúa, xin ban cho đời sống phồn vinh. Phúc đức cho Ðấng nhân danh Chúa mà đến; từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa và đã soi sáng chúng tôi. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Kh 1, 9-11a, 12-13. 17-19

"Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời".

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan, anh em của chư huynh, đồng phần chia sẻ sự gian truân, vương quyền và kiên nhẫn trong Ðức Giêsu Kitô, tôi đã ở đảo Patmô vì lời Chúa và vì làm chứng Ðức Giêsu. Một Chúa Nhật nọ, tôi xuất thần và nghe phía sau tôi có tiếng phán lớn như tiếng loa rằng: "Hãy viết những điều ngươi thấy vào sách và gởi đến bảy giáo đoàn ở Tiểu Á". Tôi quay lại để xem coi tiếng ai nói với tôi. Vừa quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa bảy chân đèn bằng vàng đó tôi thấy một Ðấng giống như Con Người, mặc áo dài và ngang lưng thắt một dây nịt bằng vàng. Vừa trông thấy Người, tôi ngã xuống như chết dưới chân Người; Người đặt tay phải lên tôi và nói: "Ðừng sợ, Ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau cùng, Ta là Ðấng hằng sống; Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời. Ta giữ chìa khoá sự chết và địa ngục. Vậy hãy viết những gì ngươi đã thấy, những điều đang xảy ra và những điều phải xảy ra sau này".

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 19-31

"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!"

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Ðó là lời Chúa.

Cảm Nhận Lời Chúa

 

"Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: 'Bình an cho các con'".

Theo Thánh ký Gioan thì lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra này là lần hiện ra thứ hai của Người với chung các tông đồ, và lần này cũng là lần duy nhất trong cả Tuần Bát Nhật Phục Sinh được Phúc Âm cho thấy phản ứng tích cực và chủ động của chung tông đồ đoàn qua vai trò đại diện của Tông Đồ Tôma. Để đáp lại lời trắc nghiệm về lòng tin tưởng của các tông đồ về căn tính "Thày là ai?", Tông Đồ Phêrô đã đại diện tuyên xưng "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian" (Mathêu 16:16) thế nào, thì giờ đây, Tông Đồ Tôma cũng đại diện tông đồ đoàn tuyên xưng như thế: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" 

 

 


 

 

Câu tuyên xưng của Tông Đồ Tôma sau khi Chúa Kitô Phục Sinh, về hình thức có vẻ khác lạ với câu tuyên xưng chính yếu của Tông Đồ Phêrô: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con", nhưng về nội dung cũng chất chứa những gì cốt lõi trong lời tuyên xưng của Tông Đồ Phêrô về căn tính của Người: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". "Chúa" và "Thiên Chúa" nơi lời tuyên xưng của Tông Đồ Tôma đây, trước hết, "Chúa" ám chỉ nguồn gốc thần linh của "Thày là Đức Kitô" Thiên Sai, và "Thiên Chúa" ám chỉ bản tính thần linh của "Con Thiên Chúa hằng sống". 

Câu tuyên xưng của Tông Đồ Tôma vào Chúa Kitô Phục Sinh còn có một ý nghĩa làm nên chính Mùa Phục Sinh nữa: "Thày là sự sống lại và là sự sống". Bởi vì, nếu Thày không phải là "Chúa" thì Thày đã không "sống lại", nhưng nay vì Thày đã thật sự "sống lại" nên Thày quả thực là "Thiên Chúa" hằng sống, là chính "sự sống" vậy. 

Câu Chúa Giêsu phán sau lời tuyên xưng chính xác của vị tông đồ không còn hoài nghi này là "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin":

 

Trước hết, không phải là Người hoàn toàn phủ nhận đức tin không cần chứng từ, bằng không đức tin Kitô giáo sẽ dễ trở thành hoang đường, chỉ thuần linh, nhất là thiếu chứng cứ lịch sử, không hợp với tầm mức lập luận của trí khôn và cảm nhận của tâm linh, phản lại với đường lối nhập thể của Người.

 

Bởi thế , dù “thấy” không còn là “tin” và “tin” không phải là “thấy”, vì “thấy” là thấy những gì về chất thể, còn “tin” là tin những gì về bản thể, thì “thấy” một Nhân Vật Giêsu Nazarét, “thấy” chứng cớ phục sinh, nhưng chưa chắc đã “tin” Nhân Vật Giêsu Nazarét đó là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, và đã “tin” chứng cớ mộ trống, thiên thần và khăn liệm là các dấu hiệu cho thấy Người đã sống lại từ trong cõi chết.

Câu Chúa Kitô Phục Sinh phán: "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin" còn hiểu rằng, không một ai, kể cả Mẹ Maria, được tận mắt chứng kiến thấy thân xác tử giá của Chúa Kitô sống lại cách nào, như thế nào và vào lúc nào, nghĩa là hoàn toàn "không thấy" những gì hữu hình hợp với giác quan tự nhiên bao gồm sự kiện phục sinh, và vì thế cũng "không thấy" xác của Người đâu, nhưng chính sự kiện "không thấy" đó mới đưa các vị đến một thực tại thần linh siêu nhiên, đối tượng của chính lòng "tin", đó là mầu nhiệm phục sinh, nhất là đến chính sự thật của mầu nhiệm này, đó là Đấng bị loài người giết chết đã sống lại từ trong kẻ chết chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), như Tông Đồ Phêrô đã tuyên xưng khi Người còn sống, "là Chúa và là Thiên Chúa", như Tông Đồ Toma đã tuyên xưng sau khi Người phục sinh.

Thực tại thần linh và sự thật về Đấng khổ nạn và tử giá bị loài người giết chết vào chiều hôm Thứ Sáu Tuần Thánh đó nay đã sống lại và tỏ mình ra cho các môn đệ được tuyển chọn làm chứng nhân tiên khởi của Người và cho Người, thành phần Người đã báo trước về cuộc Vượt Qua của Người 3 lần, nhất là lời tiên báo trong Bữa Tiệc Ly: "Thật vậy, Thày đi (ám chỉ về cuộc khổ nạn và tử giá của Người) để dọn chỗ cho các con, sau đó Thày sẽ trở lại (ám chỉ về cuộc phục sinh của Người) để mang các con đi với Thày, để Thày ở đâu các con cũng ở đó" (Gioan 14:3, và xem Gioan 21:19 là chỗ Chúa Kitô phục sinh kêu gọi tông đồ Phêrô theo Người đi chịu chết như Người và với Người cho chiên). Quả thực Người phục sinh đã hoàn toàn ứng nghiệm lời Người đã khẳng định và tiên báo: "Tôi tự bỏ mạng sống mình đi (nơi cuộc khổ nạn) rồi lấy nó lại (nơi cuộc phục sinh)" (Gioan 10:17) để làm cho các môn đệ tin vào Người cũng như cho phần rỗi của những ai tin vào người qua chứng từ của các vị.

Sau nữa, khi khẳng định "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin", Chúa Kitô Phục Sinh muốn nhấn mạnh đến chính cốt lõi của đức tin, đến thực tại thần linh của đức tin, như chính lời tuyên xưng của Tông Đồ Tôma, vị tông đồ không tuyên xưng: "Vâng, giờ đây con đã tin rằng Thày đã sống lại từ trong cõi chết", mà là "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con", vì biến cố phục sinh, cho dù là yếu tố then chốt của Mầu Nhiệm Vượt Qua và làm nên Mầu Nhiệm Vượt Qua, một mầu nhiệm cho thấy tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa, vẫn là một phương tiện hay một đường lối hơn là cùng đích, là mục tiêu, vì biến cố phục sinh cần phải có và không thể nào không xẩy ra để Vị "Thiên Chúa là thần linh" (Gioan 4:24) và "vô hình" (Colose 1:15) chứng tỏ Ngài thực sự là "Chúa" và là "Thiên Chúa".

Sau hết, khi tuyên phán "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin", Người muốn ám chỉ đến chung Giáo Hội, một Giáo Hội có nền tảng là các tông đồ (xem Epheso 2:20), tiêu biểu nhất có thể nói là Tông Đồ Gioan, "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" cũng là người môn đệ duy nhất đứng dưới chân thập giá của Người với Mẹ của Người và được Người trao phó cho Mẹ của Người và muốn phải noi gương bắt chướng Mẹ của Người (Gioan 19:25-27), một người môn đệ, như Mẹ Maria, đã tin Người sống lại rồi, cho dù chưa được Người thực sự hiện ra như với Mai Đệ Liên (xem Gioan 20:8, 13-17).

Tông Đồ Gioan và nữ môn đệ đặc biệt Mai Đệ Liên là 2 nhân vật trung kiên theo Chúa Kitô cho đến cùng, cho đến khi đứng dưới chân thập giá của Người đấy. Thế nhưng, cả hai đều thấy chứng cớ phục sinh trước khi Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra: Nữ môn đệ Mai Đệ Liên thấy trước, thấy tảng đá đã được chuyên rời (xem Gioan 20:1), thậm chí còn nhìn thấy và nghe thấy hai thiên thần ở bên trọng ngôi mộ (xem Gioan 20:12-13), đến độ "nhìn thấy Chúa Giêsu đứng đó" (Gioan 20:14) mà vẫn chưa tin..., trong khi đó, Tông Đồ Gioan, chỉ cần chứng từ các tấm khăn liệm trong ngôi mộ trống là đủ: "Ông đã thấy và đã tin" (Gioan 20:8).

Như thế cả Tông Đồ Gioan cũng "thấy" rồi mới "tin" thì có hơn gì Tông Đồ Tôma hay Nữ Môn Đệ Mai Đệ Liên đâu? Đúng thế nhưng mà vấn đề ở đây là Tông Đồ Gioan đã "tin" trước khi được Chúa Kitô hiện ra, nghĩa là cho dù Người có hiện ra hay không thì Người quả thực đã sống lại, vì đối với Tông Đồ Gioan, như với Mẹ Maria đầy ơn phúc, Vị thậm chí không cần phải tận mắt thấy chứng cứ như Tông Đồ Gioan nữa, Chúa Kitô đã thực sự là "Chúa" và là "Thiên Chúa" rồi, nên Người không thể nào chết mà không sống lại, trái lại, chính vì Người là "Chúa" và là "Thiên Chúa" mà Người phải sống lại và chắc chắn phải sống lại để chứng tỏ lời Người đã tự xưng thực tại thần linh của Người và loan báo trước về thực tại thần linh của Người: "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25). Câu "phúc cho ai không thấy mà tin" đây phải chăng Chúa Giêsu ngầm khen tặng Người Mẹ sống đức tin của Người!?! 

Phúc Âm không hề thuật lại bất cứ lần nào Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với người mẹ của mình. Tuy nhiên, cho dù Người có âm thầm hiện ra với Mẹ của Người chăng nữa, vào một lúc nào đó, mà thường là ngay sau khi Người sống lại từ trong cõi chết vào nửa đêm Thứ Bảy rạng Chúa Nhật, lúc mọi người đang yên giấc, nhất là đám phụ nữ là thành phần sẽ thức dậy sớm ra mộ sang hôm sau, thì không phải là để chứng tỏ Người thực sự sống lại đúng như Lời Thánh Kinh và lời Người đã tiên báo, cho bằng để đáp ứng lòng Mẹ tin tưởng tràn đầy hy vọng vào cuộc vinh thắng của Người, đồng thời cũng để tưởng thưởng cho Mẹ cũng như bù đắp cho Mẹ về tất cả những khổ đau đến cùng tận mà Mẹ đã hiệp nhất nên một với Người trong việc đồng công cứu chuộc nhân loại, nhờ đó Người đã biến nỗi thống khổ sầu thương của Mẹ thành niềm chất ngất hân hoan (xem Gioan 16:21-22)

Đức tin tông truyền của Giáo Hội là ở chỗ đức tin này được tuyền lại từ chính các tông đồ. Kitô hữu hậu sinh hay thậm chí ngay từ thời các tông đồ tuy không được tận mắt “thấy” Chúa hiện ra(ngoại trừ đặc biệt Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, vị nhận lãnh đức tin vừa nhờ tông truyền vừa bằng cảm nhận bản thân – xem 1Corinto 15:3-4 và 8), hay được diễm phúc sống với Người, được diễm phúc mắt thấy, tai nghe, tay sờ vào Người như các tông đồ (xem 1 Gioan 1:1), nhưng có cùng một đức tin như chính các vị, những con người có phúc được “thấy” nhưng vẫn phải “tin”, không phải chỉ "thấy" rằng quả thực có một nhân vật Lịch Sử Nazarét, đã chịu tử giá và đã phục sinh, vào thời điểm lịch sử của các vị, mà còn "tin" rằng nhân vật Lịch Sử Nazarét, đã chịu tử giá và đã phục sinh ấy chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), "là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) để sấp mình xuống tôn thờ Người: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con", trước khi có thể làm chứng về Người: “chúng tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe” (Tông Vụ 4:20, bài đọc 1 Thứ Bảy Bát Nhật Phục Sinh).

Lời Chứng (ngôn từ) và Dấu Chứng (hành động) về Người Con Thiên Chúa Nhập Thể Vượt Qua Thiên Sai Cứu Thế của các tông đồ ở Bài Đọc Sách Tông Vụ:

"Lúc bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung. Các tông đồ dùng quyền năng cao cả mà làm chứng việc Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, sống lại. Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ".

 

Bài Đọc 2 hôm nay, Sách Khải Huyền của Thánh Gioan cũng đề cập đến vai trò chứng nhân của Chúa Kitô Phục Sinh, một chứng nhân đã chịu khổ vì Người và với Người, Đấng được ngài thị kiến thấy rạng ngời vinh hiển và quyền uy ở Đảo Patmo như sau:

"Tôi là Gioan, anh em của chư huynh, đồng phần chia sẻ sự gian truân, vương quyền và kiên nhẫn trong Ðức Giêsu Kitô, tôi đã ở đảo Patmô vì lời Chúa và vì làm chứng Ðức Giêsu. Một Chúa Nhật nọ, tôi xuất thần và nghe phía sau tôi có tiếng phán lớn như tiếng loa rằng: 'Hãy viết những điều ngươi thấy vào sách và gởi đến bảy giáo đoàn ở Tiểu Á'. Tôi quay lại để xem coi tiếng ai nói với tôi. Vừa quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa bảy chân đèn bằng vàng đó tôi thấy một Ðấng giống như Con Người, mặc áo dài và ngang lưng thắt một dây nịt bằng vàng. Vừa trông thấy Người, tôi ngã xuống như chết dưới chân Người; Người đặt tay phải lên tôi và nói: 'Ðừng sợ, Ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau cùng, Ta là Ðấng hằng sống; Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời. Ta giữ chìa khoá sự chết và địa ngục. Vậy hãy viết những gì ngươi đã thấy, những điều đang xảy ra và những điều phải xảy ra sau này'".

The Things Past (Rev 1:9-20) | Pictures of jesus christ, Bible pictures,  Jesus pictures

Thánh Thi (Giờ Kinh Sách Các Chúa Nhật Mùa Phục Sinh - theo bản của Nhóm Phiên Dịch Phụng Vụ Giờ Kinh)

 

Hôm nay chính là ngày của Chúa

Ánh hồng thiêng rực rỡ tỏa lan

Khi dòng Máu Thánh tuôn tràn

Rửa muôn tội lỗi thế gian bao đời.

 

Nguồn hy vọng nuôi người nản chí

Ánh hào quang soi kẻ mù lòa

Nghe tên trộm được thứ tha

Ai còn sợ sệt ai mà chẳng yên?

 

Thiên thần cũng ngạc nhiên bỡ ngỡ

Ðang thấy y chịu khổ ngoài thân,

Một lời hối cải ăn năn

Bỗng đâu Chúa hứa chung phần thiên cung.

 

Ôi huyền diệu lạ lùng khôn ví:

Muốn chữa lành dịch tễ chúng nhân,

Chính thân thể Ðấng Cao Tôn

Ðền thay tội lỗi của muôn xác phàm!

 

Ôi mầu nhiệm suy làm sao thấu,

Tội chờ lòng nhân hậu tha cho,

Ân tình xua đuổi âu lo

Chết đi mới được thiên thu trường tồn!

 

Giêsu hỡi, chúng con nài nỉ

Ðược muôn đời mừng lễ Vượt Qua,

Tái sinh ơn nghĩa chan hòa

Vang vang khúc khải hoàn ca reo hò!

 

Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái

Ðấng lừng danh đánh bại tử thần,

Ngàn đời hiển trị muôn dân

Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.

 

Tổng tóm về Tuần Bát Nhật Phục Sinh

 

Qua phụng vụ Lời Chúa của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Chúa Nhật thứ 1 sau Phục Sinh, Giáo Hội chẳng những muốn cho con cái của mình, qua các bài phúc âm trong 8 ngày này, thấy được sự thật Chúa Kitô đã sống lại từ trong cõi chết, và qua Sách Tông Vụ, thấy được sứ vụ chứng nhân của thành phần môn đệ Chúa Kitô cho phần rỗi của nhân loại. 

Vì: thành phần chứng nhân phục sinh bất khả thiếu này, theo bài đọc 2 của Chúa Nhật Phục Sinh, được trích từ Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Colose (3:1-4): "đã sống lại với Đức Kitô", và theo bài đọc 2 của Chúa Nhật thứ 1 sau Phục Sinh, được trích từ Thư Thứ 1 của Thánh Gioan (5:1-6), họ đã được "sinh bởi Thiên Chúa" bởi "tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô"

Nếu theo bài đọc 2 của Chúa Nhật Phục Sinh, "khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang", thì quả thật, đúng như bài đọc 2 của Chúa Nhật 1 Phục Sinh đã khẳng định: "những gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận thế gian, là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa?", đúng như những gì đã xẩy ra cho các tông đồ chứng nhân ở bài đọc 1 Thứ Bảy trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh vậy. 

"Trong những ngày ấy, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ nhận thấy Phêrô và Gioan kiên quyết, và biết hai ngài là những kẻ thất học và dốt nát, nên lấy làm lạ; và còn biết rằng hai ngài đã ở cùng Ðức Giêsu; họ thấy kẻ được chữa lành đứng ở đó với hai ngài, nên họ không thể nói gì nghịch lại được...".


Đúng thế, không một quyền lực thế gian nào, thậm chí cả quyền lực sự chết hỏa ngục (xem Mathêu 16:18) có thể khống chế được chứng từ về Chúa Kitô Phục Sinh nơi thành phần nhân chứng tông đồ của Người, ngay từ ban đầu lịch sử của Giáo Hội.

Trái lại, lạ lùng thay, càng bị bách hại, bị tận diệt, liên lỉ, ở khắp mọi nơi và mọi thời, lịch sử lại càng chứng thực Kitô giáo càng phát triển, Giáo Hội, một quốc gia nhỏ bé nhất về cả địa dư và dân số trên thế giới, quả thực chẳng khác nào như một hạt cải nhỏ bé nhất đã thực sự càng trở thành một cây vĩ đại sừ
ng sững vững bền cho tới nay, trong khi các thế lực đối nghịch đều đã bị tiêu tan. Điển hình nhất là một đế quốc Rôma đã từng hung tàn dã man tàn sát Công giáo suốt 3 trăm năm đầu giờ đây chỉ còn lại một số di tích lịch sử tàn rụi ở Rôma, trước một Giáo Hội Công Giáo Rôma vẫn trường tồn và trở thành tâm điểm của thế giới về tinh thần và luân lý.

Sự hiện diện, tồn tại, phát triển và ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo Rôma nói riêng và Kitô giáo nói chung trên thế giới trong lịch sử loài người từ khi Thiên Chúa Giáng Thế Làm Người và Vượt Qua không phải là những gì chứng thực chẳng những Chúa Kitô "là sự sống lại" mà còn là chính "sự sống" hay sao, một "sự sống" là chủ đề cho 6 tuần còn lại của Mùa Phục Sinh chúng ta sẽ cùng nhau cảm nghiệm. 

Thánh Thi (Giờ Phụng Vụ Ban Tối các Chúa Nhật trong Mùa Phục Sinh - theo bản của Nhóm Phiên Dịch Phụng Vụ Giờ Kinh)

 

Ðoàn áo trắng mau chỉnh tề hàng ngũ,

Ðã vượt qua Hồng Hải thật diệu huyền,

Hãy tiến vào dự yến tiệc Con Chiên

Dâng lên Ðức Kitô lời ca ngợi!

 

Cùng nếm thử, nào anh em ta hỡi

Thánh Thể Ngài trên thập tự hiến dâng

Uống cho say ly bửu huyết đỏ hồng

Ðể ta sống cho Chúa Trời mãi mãi.

 

Ôi phúc cả ! Ðêm dài Vượt Qua ấy

Lúc thiên thần chinh phạt khắp dân Ai,

Bỗng vùng lên đoàn dân thánh của Ngài

Thoát xiềng xích Pharaô độc dữ.

 

Chiên Vượt Qua là Kitô Ðức Chúa

Ðổ máu đào vô tội cứu sinh linh

Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành

Hồn trinh trắng khỏi sa vòng tục lụy.

 

Ôi Tế Vật từ trời cao giáng thế,

Duy mình Ngài phá vỡ ngục âm ty

Bao tù nhân, Ngài giải phóng đưa về

Rồi ân thưởng phúc trường sinh bất diệt!

 

Tử thần hỡi, từ đây ngươi đã chết

Lúc Con Người ra khỏi mộ hiên ngang,

Chúa phục sinh khi mở cửa thiên đàng

Ðã ra lệnh giam ngươi vào ngục tối!

 

Ôi Giêsu, chúng con hằng mong mỏi

Ngài trở thành niềm hoan lạc Vượt Qua

Ðã tái sinh thì xin lượng hải hà

Cho gia nhập đoàn hùng binh chiến thắng!

 

Muôn vinh hiển, dâng lên tòa cao sáng

Kính tôn Cha và Thánh Tử phục sinh

Hằng trị vì cùng với Chúa Thánh Linh

Từ muôn thuở đến thiên thu vạn đại.

 


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

Xin xem thêm

Làm thế nào để biết / chứng minh Chúa Kitô thực sự phục sinh?